Hai Ruộng
Thành viên

Bài viết: 1275
|
 |
« Trả lời #297 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2009, 12:49:27 am » |
|
TP HỒ CHÍ MINH , Ngày 9 tháng 6 năm 2009 Kỹ niệm 30 năm những tháng ngày truy đuổi địch . Hai Ruộng xin chào các bạn ! Ăng ko Thom và Ăng ko watt là một quần thể đền đài , thành quách của đế chế Ăng ko . Tiếng Việt Nam chúng ta gọi là đế Thiên , đế Thích . Ăng Ko dịch ra tiếng Việt có nghĩa là thành , Ăng ko Thom có nghĩa là thành lớn , Ăng Ko watt có nghĩa là thành chùa (ngôi đền để thờ cúng ) . Đền Ăng ko Thom nằm ở phía bắc đền Ăng ko watt . Ăng ko Thom được sử dụng cho mục đích quân sự , còn Ăng ko watt dùng để sử dụng cho mục đích lễ nghi , thờ cúng . Thành Ăng ko Thom được xây dựng theo nguyên tắc phòng thủ bốn cạnh , kết hợp với lũy cao –hào sâu , thành hình vuông , mỗi cạnh 3km , bốn cửa giữa thành nằm theo bốn hướng , đông tây nam bắc , Mỗi cổng thành là một cái tháp bằng đá chắc chắn , cửa phía tây còn lại cả hai cánh cửa bằng đá , lọai đá được lấy từ trên núi Hồng ( phnum Kulên ) nằm phía đông đông bắc cách Ăng Ko trên 40 km . Xung quanh thành có bờ đê trồng tre làm rào cản giặc , sau đó là hào sâu , rộng khỏang 10 mét , bốn cửa thành đều có cầu bằng đá khối bắc qua hào sâu để vào cổng thành , vách thành xây thẳng đứng , làm bằng khối đá ong , kích thước mỗi khối (1,5x0,8x0,8 m3 ) được xây xếp chồng lên nhau , trên bờ thành xây hình răng cưa mà ta thường thấy ở các dạng thành cổ , bên trong thành đổ đất tạo thành như dãy đồi dọc theo thành , có độ thấp dần , để quân lính bên trong lên mặt thành dể dàng . Khác với vạn lý trường thành ở điểm này , vạn lý trường thành , quân lính bên trong thành cũng như bên ngòai muốn lên thành hay xuống thành rất khó . Còn ở đây nhờ bờ thành phía bên trong lài như vậy , nên binh lính bên trong thành muốn lên mặt thành chổ nào cũng được , trên mặt hành bố trí các lọai công cụ phòng thủ và súng thần công . Bên trong khu trung tâm của thành được xây hòan tòan bằng đá , nơi ngủ nghỉ của vua ,quan , có hồ dùng tắm ngựa , có hồ chưa nước tòan được xây bằng đá , góc phía tây nam , các cụ già bảo còn có hầm bí mật thông ra ngòai thành . Từ cửa tây có con đường dài về phía tây ,\hình cánh cung , đi đến biên giới Thái , cứ cách một khỏang chừng 3km có xây một tháp canh , gọi là Pa Sát , mỗi Pa Sát cũng xây bằng đá , xung quanh cũng có hào sâu , nơi đây chính là một đồn lính , cứ như vậy rải dài cho đến biên giới Thái . Phía nam cánh cung nầy sát với thành Ăng Ko là hồ nước nhân tạo tên là hồ Ba Rai ( ba rai có nghĩa là hồ nước ) . Hồ nầy rộng 1,5 km hình chữ nhật dài 7km , là nơi chứa nước ngọt khi thành bị vây và cũng là công trình thủy lợi dùng để tưới tiêu cho đồng ruộng phía nam thành . Hướng bắc cũng tương tự , có con đường và các hệ thống đốn lính kéo dài từ đến Ăng Ko cho đến Bành Tê Srây . Hai con đường tạo thành hai cánh cung hướng về phía Thái và biên giới Lào ,tạo thành mặt trận phòng ngự vững chắc . Trong khu vực cánh cung nầy mỗi một tên phum đều gắn liền với một câu chuyện lịch sữ của dân tộc Kam pu Chia . Chẳng hạn như phum Péc sa N eng gắn liền với câu chuyện như sau : Trong triều đại vua Ang ko có một vị vua thích săn bắn và trồng dưa , ông ta lập rẩy dưa ở khu vực gần núi Liếp , ông ta cử một người để trông rẩy và cho phép người nầy có quyền bắn chết ( bắn cung ) bất cứ người nào dám trộm dưa của vua . Một hôm nhà vua đi săn khi gần đến rẩy dưa , ông ta bèn cải trang vào trộm thử dưa của mình , ông ta máng áo mão vào cành cây , và vào trôm dưa , người giữ dưa không biết là nhà vua bèn bắn chết . Triều đình xét xử thấy người giữ dưa không có tội mà lại thực hiện nghiêm túc lệnh của nhà vua , nên tôn người giữ dưa lên làm vua . Nơi nhà vua máng áo mão sau nầy thành phum gọi là phum Péc Sa neng ( péc có nghĩa là máng vào , Sa neng có nghĩa là áo mão ) . Còn tên phum Fluông có nghĩa là vấp té ( giống như Gò Vấp của bác Ăng co Krao ấy ) , Khi nhà vua bị bắn lầm chết , quân lính khiêng về đến phum Fluông thì vấp té , sau nầy thành phum Fluông ( Gò té ) . Vì sao thành Ăng ko kiên cố như vậy mà thất thủ được , tôi được một bà má ở Phum Péc sa neng ( nhà bà ở gần trường học gần cầu , bà má không có con , nhà má có chiếc máy khâu , HR sửa được máy khâu cho má nên má thương HR như con ) kễ cho nghe : Quân Siêm (Thái Lan ) sau khi công thành nhiều lần bị thất bại , họ mới tìm hiểu nguyên nhân đánh không được là do bờ tre gai , thêm với thành cao , hào sâu nên rất khó đánh . Họ thay đổi cách đánh , họ dùng mũi tên bịt vàng để bắn vào hàng rào tre gai , khi dân Kam pu chia phát hiện được mũi tên có bịt vàng bèn súm nhau chặt phá tre để tìm vàng , dần dần bờ tre bị phá sạch ( âm mưu diễn biến hòa bình đấy các bạn ) . Một mặt họ cho lính pháo binh ( súng thần công ) trá hàng quân Ăng Ko rồi dần dần tạo uy tín . Khi nhà vua Ăng ko tin tưởng cho biên chế vào pháo binh của nhà vua , đến giờ G thay gì bỏ thuốc súng vào súng thần công , họ trộn đất cát vào , vì vậy súng bắn không nổ , hàng rào tre thì dân tự phá sạch vì vậy mà kinh thành Ăng Ko thất thủ . Nghe dân họ bảo ngày xưa đến Ăng ko được vát bằng vàng , nhưng chúng tôi không thấy vàng đâu nữa , chúng tôi chỉ thấy những người dân đi đãi vàng . Họ tìm những nơi có dòng nước chảy đọng lại họ đải đất để tìm vàng , hạt vàng như hạt cát nhỏ li ti . Còn đền Ăng ko Watt thì nhỏ hơn , cạnh hình vuông chỉ dài 1km , xung quanh đào hào trồng sen . Đền nầy chỉ có hai cửa , cửa phía tây là cửa chính . Con đường vào rộng thênh thang lát bằng đá khối , được mài nhẳn bóng , đầu đường là chiếc cầu đá bắc qua hào nước trồng sen , hai bên đừơng chạm hai con rắn chín đầu , đầu rắn ở cổng vào to bằng người ôm , hai con rắn đá dài dọc hai bên con đường dài hơn hai trăm mét dùng làm rào cản an tòan . Mỗi một cọc hàng rào là pho tượng người lính bằng đá , trong cã trăm pho tượng người lính mỗi pho tạc hình một người có nét mặt khác nhau không ai giống ai cã . Qua hào sâu là vòng rào đầu tiên , Gồm dãy nhà có chỗ nằm của quân lính tòan bằng đá , dãy nhà lợp nóc cũng bằng đá , hàng cột thẳng băng không sai lêch một ly , tất cã lắp ráp với nhau bằng phương pháp đục lỗ , khắc mọng , cửa vào cho mỗi lớp rào là ngọn tháp có chạm các nàng ÁP SARA thân hình căng đầy nhựa sống . Những cột đá tròn vo theo hình chuổi như tiện , cột nào giống như cột nấy . Tôi cứ thắc mắc mãi thời đó máy tiện ở đâu ra mà họ tiện cây cột tròn vo . Sau nầy khi nhìn dân Kam pu Chia tự chế tạo bánh xe bò tôi mới phát hiện ra phương pháp tiện cột đá . Người xưa tiện bằng phương pháp đục hai đầu khối đá cho có lỗ sau đó dùng gỗ chống tâm vào đó , vài ba người dùng chân lăn cho khối đá quay , một người thợ cầm cây đục tỳ vào khối đá , cứ như vậy tùy thuộc vào sự khéo tay của người thợ mà cây cột đá được tiện ra .Trong vòng rào nầy còn có một hồ sen ,có rất nhiều cá , hồ sen cạnh ngôi chùa cổ Vào khu đền phía trong , được lát đá cao hơn ngôi đền ngòai , trên vách tường đá chạm trổ các bức tranh , có nội dung nói lên lịch sữ hình thành đất nước Kam Pu Chia , những bức tranh thể hiện nền văn minh có trình độ cao dần của dân tộc Kam pu chia ,. Đầu tiên gần như thời đại ăn lông ở lỗ , dần dần có quần áo , xe ngựa , vua quan , có áo bào võng lọng . Những bức tranh mô tả các trận đánh , các tù binh bị bắt đem về làm nhân công , để xây dựng đền ăng ko . Nhưng đến vách phía nam có một đọan chưa hòan thành , sau nầy được khắc chạm thêm bằng xi măng , chứng tỏ rằng việc xây dựng Ăng ko wat chưa xong thì đã bị giặc chiếm . Khu đền trung tâm cao hơn hết , lên trên đó nhìn rõ sân bay Siêm Riệp , nằm về phía tây cách đền khỏang 5km . Giữa đền là ngọn tháp cao nhất có tượng thần bốn mặt , cao đến nổi chúng ta cách đền 60km nhìn thấy tượng thần cao sừng sửng trên nền rừng xanh thẳm . Những người lính F317 chúng tôi may mắn được chiêm ngưỡng vẽ đẹp của kỳ quan thế giới xếp hàng thứ bảy nầy gần hai năm . Đây cũng là niềm tự hào về nền văn minh của dân tộc bạn . Đất nước Kam pu chia những người lính chúng tôi trên bước đường chinh chiến gần như đi trọn từ biên giới Việt Nam cho đến biên giới Thái , chúng tôi tìm hiểu và làm quen từ giọng nói cho đến tính tình của người dân từng vùng , có vùng giọng nói nghe rất nặng như vùng Kam pong Thom , những vùng nói gịong không chuẩn như Sòai Riêng , PHNom Pênh và các vùng phía đông KPC , còn người dân Siêm Riệp là dân cố đô nên giọng nói họ rất chuẩn theo chữ viết của họ . Dân vùng Siêm Riệp cũng có trình độ hiểu biết về lịch sữ dân tộc họ cao hơn nơi khác , cho nên khi nói chuyện với những cụ già ở đây rất là thú vị . Chúng tôi trao đổi với họ về lịch sử dân tộc Việt Nam bốn ngàn năm giữ nước . Có những đêm khi về dưỡng quân , ngồi trên nhà sàn , bên bình trà nóng được gữi từ Việt Nam sang do anh em về phép , cùng với đường thốt nốt , nói chuyện với chủ nhà là thầy giáo , chủ và khách say xưa trao đổi với nhau những nét văn hóa của dân tộc mình . Bạn hỏi Việt Nam có thành nào to và vững chắc như thành Ăng ko không . Tôi trả lời rằng lịch sữ ông ,cha chúng tôi giữ nước không phải bằng thành lũy , mà giữ nước bằng cách đánh , khi tiến khi thì lui , khi thì bỏ thành , khi thì công thành , tùy cơ ứng biến . Tôi đưa ra ý kiến , thành ăng ko nguy nga tráng lệ mà thất thủ là do ông ,cha các bạn quá phung phí sức dân , sức lính vào việc xây thành , làm cho đất nước kiệt quệ , dân quân ngao ngán . như vây làm sao mạnh được , họ gậc đầu chấp nhận . Chúng tôi trao đổi với nhau về chế độ Pôn Pốt . Dân vùng Siêm Riệp là dân kháng chiến của Cách Mạng KPC cho nên họ hiểu về Bác Hồ , họ hiểu nguồn gốc của Pôn Pốt . Nói chuyện với họ nhiều khi cũng thú vị lắm . Họ kễ về Pôn Pốt như sau : Pôn Pốt , Iêng sa Ry , Khiêu săm Phon không phải là người vô học , Những người nầy đều du học và tốt nghiệp đại học ở Pari . Họ nhìn thấy sự lỗi thời , lạc hâu thời SIHANÚC . Thời SIHA NÚC , KPC thịnh vượn nhưng không phải do chính sức mạnh của người KPC , mà do nguồn sửa từ bên ngòai bơm vào , khi thì khối Công Sản , khi thì khối Tư Bản . SIHANÚC giống như người làm xiếc đi dây , bên nào bơm vào mạnh là ngã về bên đó . Vì vậy SIHANUC đổ là phải . họ dẫn chứng cã đất nước KPC giàu có như vậy mà nền công nghiệp gần như không có , các nhà máy cao su đều do pháp làm chủ cả , trường đại học thì chỉ có trường sư phạm , trường y , trường hành chánh học ra để làm quan . Còn trường kỹ thuật , trường nông nghiệp thì không có , không ai quan tâm . Thanh niên cứ tới tuổi lao động là đi tu , tạo nên thói lười biếng , ỷ lại . Đa số trong xã hội chỉ có công chức , người làm công cho nước ngòai , người thành thị là giàu có , còn đa số người dân thì nghèo khổ . Tình hình đất nước như vây có cuộc cách mạng là cần thiết , Nhưng khi làm cuộc cách mạng thì Pôn Pốt lại sai lầm hơn , vì nghiêng về phía quá cứng rắn . Sau khi KHMER Đỏ giải phóng PHNOM PÊNH , các thành phần xì ke , matúy , gái điếm , cướp giật , là bắn tại chổ không cần tóa án , không cần xét xử. Ăng ca cho rằng thành phần đó là cặn bả của xã hội . Chùa chiền phá sạch , nhà sư phải hòan tục vì cho rằng nhà sư tu hành không lao động . Xóa chợ búa , xóa đi thành phần bốc lột , tất cã phải lao động hết . Xóa bỏ gia đình , xáo trộn các thành phần trong gia đình , đặt lại tên mới cho mỗi người , biên chế theo độ tuổi lao động , nam theo nam , nữ theo nữ , trẻ con theo trẻ con , già theo già , tất cả xã hội theo đội ngủ xóa bỏ gia đình . Chia dân ra làm ba lọai , trí thức và nhưng người đi lính , hoặc theo LÔNNÔL đều bị giết . Càng ngày Pôn Pốt càng gây tội ác . Còn bộ đội Việt Nam thì hiền , nhưng tin thì họ chưa tin , họ nói khéo với tôi rằng : trong tự điển KPC có câu châm ngôn << người dân khmer đừng quên nổi mất nuớc của dân tộc Chàm >> . Như vậy rỏ ràng là bộ đội Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế không phải dễ dàng đâu các bạn ạ! Họ sợ Mình xâm lược . Vào thời điểm đó làm sao họ hiểu được vì tình thế bắt buộc nên muốn giữ bình yên cho đất nước chúng ta , bọn mình phải làm nhiệm vụ quốc tế . Hai Ruộng xin cảm ơn các bạn theo dõi trang viết nầy . Còn tiếp
|