Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:56:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam  (Đọc 109475 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 10:09:10 pm »


Ví dụ như trong tháng 3/1962, tôi nói với cuộc họp của Hội đồng quảng cáo ở Washington rằng “thắng lợi trong việc chống chiến tranh du kích phụ thuộc phần lớn vào những chương trình và hoạt động về chính trị và kinh tế, chứ không phải vào các chương trình quân sự”. Trong bài trả lời phỏng vấn in trong tờ The Washington Post bảy ngày sau, tôi đã nói: “Đông Nam Á là sống còn đối với an ninh của Thái Bình Dương và Thái Bình Dương là sống còn đối với an ninh của Mỹ, nhưng chỉ dùng lực lượng quân sự không thôi đương nhiên sẽ không đánh bại được những người cộng sản, trừ phi có cải cách nội bộ về kinh tế và xã hội”. Tuy nhiên dưới đây là điển hình của những báo cáo của tôi về hoạt động quân sự của Mỹ.

Ngày 5/2/1962:

Những hoạt động của Chính phủ Nam Việt Nam đang triển khai để chống lại mối đe doạ rất nghiêm trọng là lật đổ, xâm lược, công kích ngầm ở trong nước đang bắt đầu có hiệu quả...

Tôi nghĩ rằng việc kết hợp những hoạt động mà chính họ đưa ra với những hoạt động mà họ yêu cầu chúng ta làm đang cải thiện tình hình, nhưng còn quá sớm để dự đoán kết quả cuối cùng1.

Ngày 23/7/1962:

Viện trợ quân sự của chúng ta cho Việt Nam đã có kết quả. Người Nam Việt Nam đang bắt đầu tiến công vào quân nổi dậy Việt cộng ở những nơi nó bị thương tổn nhất – để lôi kéo dân về phía chính phủ... Quân Việt Nam đang đánh nhau với Việt cộng một cách chủ động và thường xuyên hơn... mốc mới về những vị trí đóng quân là đáng khích lệ và chúng ta hiện đang tìm cách duy trì cái đà này2.

Ngày 9/10/1962:

Tôi nghĩ còn quá sớm để nói rằng con nước đã xoay chiều và để dự tính về kết cục cuối cùng, nhưng trong năm qua chúng ta đã đạt được tiến bộ lớn lao... Chúng tôi vui mừng khi nghe báo cáo về tiến bộ này. Dù có đo bằng tỷ lệ thương vong của quân cộng sản với quân đội Nam Việt Nam thì tến bộ vẫn là rõ ràng3.

Nhìn lại quá khứ, tại sao những nhận xét của tôi về tình hình chương trình ở Nam Việt Nam lại thực tế, trong khi những nhận xét về tiến bộ quân sự lại quá lạc quan? Những báo cáo quân sự phản ánh bức tranh mà các chỉ huy quân sự của chúng tôi đưa ra tại các hội nghị ở Hawaii và Nam Việt Nam. Trong mỗi cuộc họp tôi đều gặp Tướng Paul D. Harkins của COMUSMACV. Harkins là một người cao to, đẹp trai và nói năng mạch lạc. Ông là người được nhà thông thái Max Taylor đỡ đầu. Trong khi ông thiếu tầm vóc tri thức của người thầy của mình, ông ta là một người thẳng thắn và có sức thuyết phục.

Tướng Harkins và các nhân viên của ông báo cáo rằng quân Nam Việt Nam đang đẩy lùi Việt cộng và mở rộng vành đai kiểm soát ở vùng nông thôn. Ví dụ, hôm 23/7/1962, Harkins nói với tôi: “Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta đang ở thế chiến thắng. Nếu chúng ta tiếp tục các chương trình này, chúng ta có thể hy vọng hoạt động của Việt cộng sẽ giảm xuống”4. Lúc đó và ngay cả bây giờ, tôi vẫn không tin điều đó đi ngược lại truyền thống và những gì họ đã được đào tạo, bên cạnh đó, tôi còn có những người báo cáo khác để đối chiếu với những gì giới quân sự nói với tôi, chỉ cần kể ra ba cơ quan, đó là CIA, Bộ Ngoại giao và giới báo chí.

Ở đâu cũng thấy những lý do cho sự lạc quan sai lệnh của họ. Giờ đây, điều trở nên rõ ràng là họ đã nhận được những thông tin rất không chuẩn xác từ những người Nam Việt Nam, những người chủ tâm báo cáo những gì mà họ tin là người Mỹ muốn nghe. Như sau này McCone, Giám đốc CIA đã viết:

Những thông tin mà sứ quán và MACV chuyển cho chúng tôi..., liên quan đến hoạt động của Việt cộng ở một số tỉnh và mức độ đối đầu giữa Chính phủ Việt Nam Cộng hoà (Nam Việt Nam ) với lực lượng Việt cộng là không chính xác, vì thực tế là các sĩ quan ở chiến trường đã được các tỉnh trưởng và quận trưởng Nam Việt Nam thông báo sai hoàn toàn... Các tỉnh trưởng và quận trưởng cảm thấy buộc phải “sáng tạo ra các thống kê” để được chính quyền trung tương chấp thuận5.
_________________________________________
1. Họp báo, Lầu Năm Góc ngày 5/2/1962, Các Tuyên bố trước công chúng của Robert S. McNamara, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (viết tắt là PSRSM), năm 1962, t.2, tr. 735-736.
2. Bản tin, Trại H.M. Smith, Hawaii, 23/7/1962, sách đã dẫn, t.4, tr. 1589.
3. Thông cáo báo chí, Căn cứ Không quân Andrews, Maryland, 9/10/1962, sách đã dẫn, tr. 182.
4. Băng ghi âm các cuộc họp của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thứ sáu, trại H.M. Smith, Hawaii, 23/7/1962, FRUS, 1961-1963, t.2, Việt Nam, 1962 (Washington: Văn phòng in ấn của Chính phủ Mỹ, 1990), tr. 546-566.
5. John McCone gửi Dean Rusk, 7/1/1964, FRUS, 1964-1968, t. 1, Việt Nam, 1964 (Washington: Văn phòng in ấn của Chính phủ Mỹ, 1992), tr. 5.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 10:12:40 pm »


Giống như nhiều người, ở mức độ nào đó, các Tư lệnh Mỹ cũng thích hão huyền. Hơn thế nữa, họ - và cả tôi - đã hiểu sai bản chất của cuộc xung đột. Chủ yếu là họ chỉ xem đó là một hành động quân sự, trong khi trên thực tế đó là một cuộc đấu tranh dân tộc phức tạp và cốt nhục tương tàn.

Tôi luôn buộc các chỉ huy của chúng ta phải dự đoán diễn biến tình hình xem có tiến bộ hay không. Giám sát tình hình - điều mà tôi vẫn coi là nguyên tắc nền tảng cho việc quản lý tốt - được thực hiện rất tồi ở Việt Nam. Cả tôi và các Tham mưu trưởng liên quân phải chịu trách nhiệm về việc này. Do không chắc phải đánh giá như thế nào kết quả của một cuộc chiến không có chiến tuyến, giới quân sự thường chỉ cố đo tiến bộ của nó dựa trên những con số, ví dụ như số lượng thương vong của đối phương (sau trở thành điều ô nhục là công việc đếm xác chết), số vũ khí thu được, số tù nhân bị bắt, số chuyến bay đã  thực hiện... Sau này chúng tôi nhận ra rằng phần lớn những biện pháp này có tính chất đánh lừa và sai lầm. Tôi cố giảm bớt sự lạc quan của giới quân sự về tiến bộ của cuộc chiến trong những lời bình luận công khai, nhưng vẫn chưa đủ.


Tới giữa năm 1962, mục tiêu rõ ràng và được tuyên bố thường xuyên của chính quyền Kennedy ở Việt Nam là huấn luyện cho người Nam Việt Nam tự bảo vệ họ. Với tôi, điều đó có nghĩa là chúng tôi phải đặt ra giới hạn thời gian cho việc Mỹ giúp đào tạo. Tôi lập luận rằng nếu việc huấn luyện tỏ ra thành công thì trong trường hợp đó, chúng ta có thể rút ra, hoặc sau một khoảng thời gian nếu thấy khả năng nó sẽ thất bại, thì trong trường hợp này việc rút ra của chúng ta cũng sẽ được biện hộ.

Với suy nghĩ đó, ngày 23/7/1962, tôi đã hỏi Tướng Harkins ở Honolulu rằng theo ông thì cần bao nhiêu thời gian để tiêu diệt tiềm năng quân sự của Việt cộng. Dự đoán của ông ta đạt khái thế này: một năm sau thì quân đội và lực lượng phòng vệ dân sự Nam Việt Nam có thể tác chiến hoàn toàn và bắt đầu gây sức ép đối với Việt cộng ở tất cả các vùng.
Gắn điều đó cùng với các đánh giá khác, tôi ra lệnh chuẩn bị kế hoạch lâu dài cho việc rút các cố vấn Mỹ theo từng giai đoạn dựa trên giả định rằng sẽ phải mất ba năm để khuất phục Việt cộng. Lúc đó, chúng ta có khoảng 16.000 cố vấn ở Nam Việt Nam1.

Mùa xuân năm sau, vào hôm 29/3/1963, tôi hỏi Ngài Robert Thompson xem có nên giảm số lượng cố vấn. Ông đáp lại rằng nếu duy trì được tiến bộ và có thể quét sạch Việt Nam ở một vùng nhất định của Nam Việt Nam trong mùa hè, thì có thể giảm 1.000 trong số cố vấn của chúng ta2.

Ngày 6/5/1963 tại cuộc họp tiếp sau đó với tôi tại Honolulu, Tướng Harkins vẫn nói là chúng ta đang đạt được tiến bộ trong cuộc chiến. Vì thế tôi chỉ thị cho giới quân sự chuẩn bị kế hoạch rút quân Mỹ theo từng giai đoạn, bắt đầu bằng việc rút 1.000 cố vấn vào cuối năm3.

Vào thời điểm đó, nổ ra cuộc khủng hoảng chính trị và tôn giáo trên toàn Nam Việt Nam. Nổi giận do việc Diệm hạn chế tự do tôn giáo, giới Phật giáo đã tiến hành những cuộc biểu tình phản đối dẫn đến những cuộc trả đũa dữ dội do lực lượng an ninh của Diệm tiến hành. Phản ứng tàn bạo này làm bùng thêm nhiều cuộc biểu tình, trong đó có những vụ tự thiêu ghê người của các nhà sư. Những sự kiện này làm tôi và nhiều người khác ở Washington sửng sốt, kinh hoàng và làm cho sự thống trị của Diệm gặp khó khăn hơn bao giờ hết.

Đến cuối tháng 8, khi các Tham mưu trưởng liên quân đưa kế hoạch rút quân theo yêu cầu của tôi, tình hình vẫn còn hỗn loạn.

Tuy thế, họ tuyên bố rằng họ tin là không nên rút các lực lượng Mỹ cho đến sau khi cuộc khủng hoảng lắng xuống. Họ gợi ý là từ nay cho đến cuối tháng 10, không nên đưa ra một quyết định nào về việc thực hiện kế hoạch rút quân4.

Ý muốn hoãn lại việc quyết định rút quân của các Tham mưu trưởng liên quân làm rõ thêm một bất đồng quan trọng giữa hai phái trong chính quyền. Cả hai phái đều coi sứ mạng của chúng ta là huấn luyện người Nam Việt Nam tự bảo vệ họ. Nhưng một bên tin rằng chúng ta cần ở lại cho đến khi người Nam Việt Nam có được khả năng đó, bất kể thời gian là bao lâu. Còn phái kia nghĩ là chúng ta cần giới hạn việc huấn luyện trong một thời gian nhất định, sau đó rút ra. Nếu Nam Việt Nam vẫn không học được cách tự bảo vệ mình, điều đó có nghĩa là họ là những người không thể đào tạo được. Mối bất đồng tồn tại ngấm ngầm, chưa hề được thảo luận hay giải quyết triệt để. Chính nó sau này đã có ảnh hưởng quan trọng tới một quyết định lớn của Tổng thống ngày 2/10/1963.
__________________________________
1. Băng ghi âm các cuộc họp của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thứ sáu, trại H.M. Smith, Hawaii, 23/7/1962, FRUS, 1961-1963, t.2, Việt Nam, 1962 (Washington: Văn phòng in ấn của Chính phủ Mỹ, 1990), tr. 546-566.
2. Xem Báo cáo các cuộc nói chuyện, Bộ Ngoại giao, Washington, ngày 1/4/1963, FRUS, 1961-1963, t.3, tr. 193-195.
3. Xem Biên bản từ các băng ghi âm cuộc họp của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Honolulu, 6/5/1963, sách đã dẫn, tr. 265-270.
4. Xem Báo cáo của JCS 629-630 gửi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 20/8/1963, sách đã dẫn, tr. 590-591.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:13:28 pm »


3
MÙA THU ĐỊNH MỆNH NĂM 1963
NGÀY 24/8 - 22/11/1963

Xung đột giữa các Phật tử và chính quyền Nam Việt Nam đã âm ỉ suốt mùa hè. Rồi bỗng nhiên ngày 21/8 chính phủ ra tay đàn áp. Với sự đồng ý của Diệm, Nhu đã ra lệnh cho một đơn vị quân đặc biệt tấn công các ngôi chùa Phật giáo vào sáng sớm. Chúng đạp đổ các cánh cửa cản đường và đánh đập các nhà sư có phản ứng chống lại. Vài trăm người đã bị tống vào nhà tù.

Diệm đã hành động bất chấp lời đảm bảo của chính ông ta với Frederick E. Nolting (Jr.), Đại sứ Mỹ sắp hết nhiệm kỳ, rằng ông ta sẽ không có bất kỳ bước đi nào chống lại các Phật tử. Sự trở mặt xấu xa này làm át cả một diễn biến gây bối rối khác có liên quan tới Charles de Gaulle ở Paris. Hồi đầu mùa hè năm đó, chúng tôi đã nhận được thông báo cho biết Diệm, thông qua em mình là Nhu, đã bí mật thiết lập mối liên hệ với Hà Nội. De Gaulle, người vẫn mong muốn gây lại ảnh hưởng của Pháp tại Đông Dương, cũng đã nhận được tin đó theo các nguồn riêng của mình ở miền Bắc và Nam Việt Nam và coi đây là một cơ hội. Ông ta nhanh chóng đưa ra lời kêu gọi thống nhất và trung lập hoá Việt Nam. Lúc đó chúng tôi không chắc là liệu lời đồn đại trên có đúng sự thật không, và chúng tôi băn khoăn không biết liệu có phải Diệm định tống tiền nước Mỹ vì đã buộc ông ta phải nhẹ tay trong việc đối xử với các nhóm chống đối1.

Quả thực Diệm đã chọn đúng thời điểm để tấn công các chùa chiền. Tuần đó, tất cả những nhà hoạch định chính sách chủ chốt về Việt Nam - Tổng thống Kennedy, Dean Rusk, McGeorge Bundy, John McCone và tôi - lần đầu tiên và là lần duy nhất cùng một lúc đều không ở Washington, theo trí nhớ của tôi. Lúc đó Tổng thống đang ở Hyannis Port, còn Marg và tôi thì đang trong một kỳ nghỉ ngắn nhưng rất cần thiết ở Tetons, Wyoming. Mặc dầu ở chỗ chúng tôi đang nghỉ có điện thoại, nhưng tôi lại không mấy khi ở nhà và đã uỷ quyền cho phó của tôi như tôi vẫn làm khi không ở Washington.

Ngày 24/8, khi những tin tức về vụ bạo lực tới Washington, một vài quan chức còn lại ở Washington thấy đây là một cơ hội để loại bỏ chính quyền Diệm. Cuối ngày hôm ấy, nước Mỹ đã sắp đặt cho một cuộc đảo chính quân sự, mà theo tôi thì đây là một trong những quyết định thực sự cứng rắn liên quan đến Việt Nam trong thời kỳ các chính quyền Kennedy và Johnson.

Người đưa ra sáng kiến này là Roger Hilsman (Jr.), người đã kế nhiệm Averell Harriman làm Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách Viễn Đông. Hilsman là một người thông minh, cứng rắn, hay nói, tốt nghiệp trường West Point, đã từng tham gia chiến tranh du kích trong Chiến tranh thế giới thứ II và sau đó trở thành một học giả. Ông ta và các cộng sự của mình tin rằng với Diệm chúng tôi không thể thắng và do vậy phải loại bỏ Diệm. Hilsman bắt đầu bằng việc thảo bức điện gửi Đại sứ mới của chúng tôi tại Sài Gòn, Henry Cabot Lodge (Jr.). Bức điện bắt đầu bằng lời lên án những hành động của Nhu:

Giờ đây sự việc đã rõ ràng là dẫu quân đội có đề xuất việc thiết quân luật hay Nhu đã buộc họ làm việc đó, thì Nhu đã lợi dụng việc thiết quân luật để phá chùa... Cũng rõ ràng là Nhu đã dùng thủ đoạn để giành cho mình vị trí chỉ huy.

Chính phủ Mỹ không thể chịu được khi quyền lực lại nằm trong tay Nhu. Diệm cần phải có cơ hội để thoát khỏi Nhu và những người thân cận của Nhu và thay thế họ bằng những người tốt nhất hiện có trong giới quân sự và chính trị.

Nếu, bất chấp những cố gắng của chúng ta, Diệm vẫn cứng đầu và từ chối, thì chúng ta chắc chắn phải đối mặt với khả năng là không thể giữ Diệm lại được.

Đồng thời, chúng ta cũng cùng một lúc phải báo cho những người đứng đầu giới quân sự biết rằng nước Mỹ sẽ không thể tiếp tục hỗ trợ chính quyền Nam Việt Nam về quân sự và kinh tế được nữa trừ phi... có những hành động ngay lập tức (thả các nhà sư bị bắt giữ). Chúng tôi thấy cần phải loại bỏ gia đình Nhu ra khỏi cuộc. Chúng tôi mong muốn đem lại cho Diệm cơ hội thích hợp để loại bỏ Nhu, nhưng nếu ông ta vẫn không thay đổi, thì chúng ta sẵn sàng chấp nhận tình huống hiển nhiên là chúng ta không thể ủng hộ Diệm hơn được nữa. Ngài cũng có thể thông báo cho các tư lệnh quân đội biết là chúng ta sẽ trực tiếp hỗ trợ họ trong bất cứ giai đoạn chuyển tiếp nào khi cơ chế chính phủ trung ương bị phá vỡ.

Cùng với những việc trên, ngài Đại sứ và đội ngũ nhân viên sở tại nên khẩn trương xem xét giới chức lãnh đạo có khả năng thay thế và lập kế hoạch chi tiết làm thế nào chúng ta có thể thay thế Diệm, nếu điều này trở nên cần thiết2.
____________________________________
1. Xem FRUS, 1961-1963, t.4, Việt Nam, từ tháng 8-12/1963 (Washington D.C.: Văn phòng in ấn của Chính phủ Mỹ, 1991), tr. 89-90, tr. 55 chú thích 7; và Ellen J. Hammer, Cái chết trong tháng 11: Mỹ ở Việt Nam, 1963 (New York, Dutton, 1987, in lại có hiệu đính. New York: Nhà xuất bản Trường Đại học tổng hợp Oxford, 1988), tr. 224-230.
2. Điện tín của Bộ Ngoại giao (viết tắt là Deptel) 243, của Ball gửi Lodge, 24/8/1963, FRUS, 1961-1963, t.3, tr. 628-629.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:15:12 pm »


Sau khi Hilsman soạn xong bức điện vào ngày 24/8. Averell Harriman, vừa trở thành Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách các vấn đề chính trị, đã thông qua. Michael Forestal, con trai của vị Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên và là thành viên của Hội đồng An ninh quốc gia (NSC), ngay lập tức chuyển bức điện đến Tổng thống Kennedy đang ở Hyannis Port, cho biết: “Đang đợi sự đồng ý của Ball (George Ball - Thứ trưởng Ngoại giao) và Bộ Quốc phòng... Gợi ý là Tổng thống cho tôi biết nếu Tổng thống muốn... dừng kế hoạch lại”1.

Những người bảo trợ bức điện quyết định chuyển tới Sài Gòn ngay ngày hôm đó. Họ gặp George Ball ở sân gôn và đề nghị ông ta gọi điện ngay cho Tống thống ở Cape Cod. Khi ông ta gọi điện cho Tổng thống thì Tổng thống Kennedy nói rằng ông đồng ý chuyển bức điện đó đi nếu các cố vấn cấp cao của ông cũng đồng ý. Lập tức George điện thoại cho Dean Rusk ở New York và báo là Tổng thống đã đồng ý. Dean thông qua bức điện mặc dầu không mấy nhiệt tình. Trong lúc đó, Averell đang tìm kiếm sự đồng ý của CIA. Vì John McCone đang vắng mặt nên Averell đã nói chuyện với Richard Helms, Phó giám đốc phụ trách kế hoạch. Helms miễn cưỡng, nhưng cũng như Rusk, đã đồng ý vì Tổng thống đã thông qua rồi.

Trong lúc này, Forestal gọi điện cho Ros Gilpatric và kể hết tất cả: Tổng thống và Bộ trưởng Ngoại giao xem bức điện và đã thoáng qua.

Tôi và Ros cùng có một cảm giác: chúng tôi đều lấy làm buồn trước việc đàn áp của chính phủ Diệm ngày càng tăng, nhưng chúng tôi không biết bằng cách nào chúng tôi có thể thay thế nó bằng một chính quyền vừa ý hơn. Chúng tôi đã nghĩ cách tốt nhất là tìm cách thuyết phục Diệm thay đổi. Những cố vấn, thiết bị và tiền bạc mà chúng tôi lúc bấy giờ đang cung cấp cho quân đội của ông ta đã tạo đòn bẩy tương đối cho chúng tôi, và đối với chúng tôi, đó là chìa khoá cho sự ổn định ở Nam Việt Nam. Bằng cách dọa cắt giảm sự giúp đỡ của nước Mỹ, hay thậm chí giảm thực sự, chúng tôi đã nghĩ là với thời gian, chúng tôi có thể thuyết phục được ông ta thay đổi biểu hiện tiêu cực của ông ta.

Mặc dù có những cảm giác đó trong quá trình thông qua, nhưng Ros rốt cuộc cũng đã thông qua. Tuy nhiên, ông ta trở nên lo lắng về ảnh hưởng của bức điện đến nỗi tuy bức điện đã được gửi đi Sài Gòn đêm thứ bảy nhưng ông ta vẫn gửi cho Max Taylor, cố vấn quân sự của Tổng thống, một bản sao.

Max là nhà địa - chính trị khoác quân phục và là cố vấn an ninh thông thái nhất mà tôi đã từng gặp. Ông ta thuộc thế hệ các sĩ quan quân đội đã bắt đầu sự nghiệp của mình trong những thập niên 1920 và 1930 - thời kỳ mà, như tôi đã nói, đất nước chúng ta đã cho rằng không cần có quân đội và nhìn những người lính với ánh mắt xa lạ, nếu không nói là với ánh mắt công khai khinh bỉ. Max đã từng là một anh hùng chiến tranh, đã từng chỉ huy Sư đoàn Không vận số 101 trong Chiến tranh thế giới thứ II và đã nhảy dù xuống vùng Normandy vào sáng sớm ngày D. Ông cũng từng là một học giả biết sáu hay bẩy ngoại ngữ, kể cả tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên, và ông đã từng viết hai cuốn sách nổi tiếng về các vấn đề quân sự.

Bức điện của Hilsman đã làm cho Max bị sốc - đặc biệt là trước việc bức điện đã được thông qua và gửi đi rồi. Max biết, điều đó cho thấy một sự thay đổi lớn trong chính sách về Việt Nam của chúng tôi; ngoài ra, nó hoàn toàn không phù hợp với điều mà ông ta tin là phương pháp thích hợp. Sau đó, ông đã phát biểu là bức điện đó lẽ ra sẽ không bao giờ được thông qua nếu phái chống Diệm ở Washington đã không làm cái điều mà ông ta gọi là “một quyết định vội vàng quá đáng” trong khi các quan chức cấp cao đang vắng mặt2.

Tổng thống thấy hối tiếc về bức điện. Năm sau, trong một cuộc phỏng vấn về lịch sử, Bobby Kennedy đã nhớ lại anh trai mình coi quyết định đó là một sai lầm lớn. Bobby đã giải thích: “Tổng thống đã thông qua bức điện một cách vội vã trong kỳ nghỉ cuối tuần ở Cape Cod - Tổng thống cứ nghĩ là bức điện đã được McNamara,Taylor và mọi người ở Bộ Ngoại giao thông qua. Thực ra, đó chính là Harriman, Hilsman và Mike Forestal ở Nhà Trắng, và họ là những người ủng hộ mạnh mẽ một cuộc đảo chính”3.

Tôi không đồng ý với Ros coi bức điện là một quyết định vội vàng. Chúng tôi đều biết rằng Hilsman đôi khi đi vượt ra ngoài các kênh chính thức để tìm cách làm cho các ý kiến của mình thắng thế. Sai lầm này thuộc về những người đã không kiểm soát được ông ta và cũng thuộc về chính bản thân Hilsman. Nhưng cái làm cho tôi bị sốc và buồn rầu là hành động cuối cùng dẫn đến việc lật đổ và cái chết của Diệm đã bắt đầu trong khi các quan chức của Mỹ ở cả Washington và Sài Gòn vẫn còn bị chia rẽ sâu sắc về sáng kiến loại bỏ Diệm; tôi và những người khác đã không nghiên cứu và đánh giá cẩn thận những giải pháp khác cho vấn đề Diệm; chúng tôi đã không tìm cách tiếp cận với Diệm ở cấp cao - với chiến thuật “củ cà rốt và cái gậy” thích hợp - để thuyết phục ông ta sửa chữa. Ngoài ra, chúng tôi đã để cho cuộc tranh cãi về vai trò của Diệm che mất đề xuất của De Gaulle. Chúng tôi chưa bao giờ dành cho nó sự cân nhắc mà nó đáng được hưởng. Trước đó một năm, trung lập hoá đã trở thành giải pháp ở Lào - biết đâu Nhu và người Pháp có thể đạt được điều đó ở Việt Nam? Chúng tôi đã thảo luận vấn đề này một cách qua loa. Vấn đề vẫn không được giải quyết.
_______________________________________
1. CAP 63460, Michael Forrestal gửi Tổng thống, ngày 24/8/1963, sách đã dẫn, tr. 627.
2. Maxwell D. Taylor Thanh gươm và lưỡi cày (New York: Norton, 1972), tr. 292.
3. Robert F. Kennedy Lịch sử truyền miệng, 29/2/1964, tr. 122, JFKL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:18:41 pm »


Các sự kiện lần lượt xảy ra sau khi bức điện được gửi đến Sài Gòn. Sau khi nhận được điện, Lodge đã triệu tập một cuộc họp tính toán xem nên tổ chức đảo chính như thế nào. Ông ta quyết định không được để lộ bàn tay chính thức của CIA, và do đó đã giao cho CIA chịu trách nhiệm thực hiện sau khi đã được chỉ thị phải phục tùng mệnh lệnh của Đại sứ. Lodge hiểu rằng bức điện ngày 24/8 chỉ thị cho ông ta thực hiện việc loại bỏ Diệm với tư cách là lãnh tụ của Nam Việt Nam* 1

Vào thời điểm đó, Lodge mới nhậm chức được có hai ngày. Ông ta là cựu Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hoà và ứng cử viên của chức phó tổng thống, và tôi khâm phục tinh thần lưỡng đảng sẵn sàng phục vụ chính quyền đối đầu chính trị ở bang Massachusetts trong một sứ mệnh ngoại giao khó khăn và nguy hiểm. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng ông ta là người lưỡng đảng và tự tin đến mức ngạo mạn.

Khi đến Sài Gòn, ông Đại sứ đã lên tiếng phê phán cái mà ông coi là sự đàn áp người dân một cách vô nhân đạo, được minh hoạ cụ thể bằng việc đàn áp các Phật tử. Lodge cũng lo lắng không kém bởi những lời đồn đại về những cử chỉ thân thiện vụng trộm của Diệm với miền Bắc Việt Nam để đưa đất nước ra khỏi ảnh hưởng của nước Mỹ, tiến tới trung lập. Khi nhận được điện, ông Đại sứ đã hiểu đúng ý định của tác giả bức điện: một mệnh lệnh của Tổng thống Kennedy khuyến khích quân đội Nam Việt Nam tiến hành đảo chính. (Thực ra, như chúng ta đã thấy, bức điện đó không chỉ thị rõ ràng cho Đại sứ phải làm chuyện này).

Trước mệnh lệnh của Lodge, trùm CIA ở Sài Gòn đã không để phí thời gian và cử ngay các nhân viên của mình tới gặp Tướng Trần Thiện Khiêm ở Sài Gòn và Tướng Nguyễn Khánh ở Pleiku. Họ đã cho các vị tướng biết là gia đình Nhu phải ra đi nhưng lại để mặc chuyện bắt giữ Diệm cho họ2.

Trong lúc đó ở Washington, mãi một thời gian sau chúng tôi mới đi vào tranh luận xem liệu có nên ủng hộ một âm mưu quân sự chống Diệm hay không. Đó không phải là cuộc chiến giữa phái diều hâu và những người chủ trương hoà bình, mà là một cuộc tranh cãi về tầm quan trọng của sự ổn định chính trị ở Nam Việt Nam và làm cách nào để đạt được điều đó. Những cuộc tranh luận sôi sùng sục kéo dài hàng tháng trời ở hậu trường. Thật lạ là mặc dù các hãng tin ở Sài Gòn đã liên tục viết các bài phê phán Diệm và ngày càng đặt nhiều các câu hỏi về chính sách Việt Nam của chính quyền, nhưng các phóng viên ở Mỹ chẳng đả động gì đến cuộc chiến của chúng tôi cả.

Kennedy là người đặc biệt nhạy cảm với báo chí. Đây là một trong những điểm cho thấy Tổng thống khác hẳn những người tiền nhiệm của ông. Tổng thống thích cánh nhà báo. Ông ưa những cái đầu cởi mở, giàu trí tưởng tượng, gây phấn khích và đôi khi cả tính bài hước nữa. Tổng thống trân trọng sự thông tuệ và hiểu biết của cánh nhà báo, và cho rằng mình phải luôn tính đến điều đó. Và Tổng thống muốn gây ảnh hưởng với họ vì Tổng thống đã nhận thức và hiểu được tầm quan trọng của họ trong xã hội**.
_____________________________________
* Tuy nhiên những năm sau, Lodge đã thú nhận là ông ta đã bị “sét đánh” bởi bức điện và đã nghĩ là bức điện “không được tham vấn đúng đắn”. Nhưng lúc đó ông ta đã không làm ngược lại. Vào ngày 28/8, bốn ngày sau khi nhận được điện, ông ta đã gọi điện cho Dean: “Bản thân tôi hoàn toàn đồng ý với chính sách mà tôi đã được chỉ thị phải thi hành trong bức điện hôm chủ nhật tuần trước”.
1. Xem Nhiều lý do vì sao: Mỹ dính líu vào Việt Nam, Michael Charlton và Anthony Moncrieff (New York: Hill và Wang, 1978) tr. 95-96; và điện tín của Sứ quán tại Sài Gòn (Viết tắt là Embtel) 375, Lodge gửi Rusk, 29/8/1963, FRUS, 1961-1963, t.4, Việt Nam, Tháng 8-12/1963, tr. 21.
2. Xem Bộ phận Sài Gòn gửi Cơ quan Trung ương CIA, 26/8/1963, FRUS, 1961-1963, t.3, tr. 642.
** Thường thường, Tổng thống vẫn hoà mình với các nhà báo. Điều này đã đưa đến một sự việc tiết lộ quá nhiều về con người Kennedy. Một buốt sáng thứ hai, Dean và tôi theo lịch sẽ gặp Tổng thống vào lúc 9 giờ, sau khi Tổng thống đi nghỉ cuối tuần với Jackie tại nhà mẹ vợ ở Newport, Rhode Island. Như thường lệ tôi tới văn phòng lúc 7 giờ, đọc lướt qua tờ tạp chí Newsweek ở trên bàn và tôi đã phát hoảng lên khi thấy trong đó có một bài về vụ tin tức bị thất thoát tồi tệ nhất. Bây giờ tôi không thể nhớ được nội dung bài báo nói gì, nhưng vào lúc đó chỉ có một số người trong chính phủ - Tổng thống, Dean, tôi và hai, ba phụ tá của chúng tôi - là những người duy nhất biết tin gì được đánh giá là thông tin có tính nhạy cảm cao. Tôi nhanh chóng kiểm tra các cộng sự của tôi và biết được là không ai trong số họ đã để thoát tin đó ra ngoài.
     Khi tôi đến Phòng Nội các vào lúc 9 giờ, Dean đã ở đó rồi. Tôi nói: “Lạy chúa tôi, Dean, anh bảo chuyện gì đã xảy ra nào?”. Anh ta đáp: “Bob, tôi đã kiểm tra tất cả những người biết tin này và rõ ràng là họ không phải là nguồn tiết lộ tin”.
    Đúng lúc đó Tổng thống bước vào. Ông nói: “Dean, thật đáng nguyền rủa, tôi đã cử anh điều hành ở chỗ đó và kết quả là tôi thấy gì đây? Đây là sụ cố để lộ tin trong Chính phủ Mỹ ra ngoài tồi tệ nhất trong bao nhiêu năm nay”.
    - “Thưa Tổng thống”, Dean đáp, “Bob và tôi vừa trao đổi về việc đó. Sáng nay chúng tôi đã tiến hành rà soát ở hai bộ phận của chúng tôi và cùng đi đến một kết luận là không ai ở chỗ chúng tôi đã để lộ tin ra ngoài”.
    - “Tôi không tin”, Kennedy nói với giọng ngày càng thiếu kiên nhẫn. “Anh được giao nhiệm vụ ở đó chỉ vì một mục đích - đưa kỷ luật vào nơi đó”.
    Dean bình tĩnh đáp: “Thưa Tổng thống, trong quá trình điều tra sự việc sáng nay, tôi đã phát hiện là Ben Dradlee (cựu Chánh văn phòng của Newsweek ở Washington và là một người bạn thân của Kennedy) đã rời Newport đêm hôm thứ năm, trước khi số Newsweek mới được phát hành vào ngày thứ sáu”.
    Đó là Kennedy chứ nếu phải một vị Tổng thống nào khác chắc Dean đã bị mắng. Thay vì nói: “Thề có Chúa trời chứng giám, ý ngài định nói gì? Rằng tôi đã để lộ tin đó chắc?”, thì Tổng thống lại nói; “Ôi trời ơi!”.
    Chính vì thế mà tôi đã càng cảm phục con người này.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:25:03 pm »


Những bài báo về các cuộc tấn công vào chùa chiền là điều đầu tiên Kennedy nói tới tại cuộc họp trong Nhà Trắng ngày 26/8, đây là cuộc họp đầu tiên sau khi bức điện được gửi đi. Tổng thống nói là ông nghĩ rằng Diệm và Nhu, mặc dù về một mặt nào đó không được ưa, nhưng đã làm được nhiều việc theo ý chúng ta. Do vậy, chúng ta không nên đi đến loại bỏ họ chỉ vì “áp lực của công luận”. Max nói là ông phản đối một cuộc đảo chính quân sự. Ông chỉ ra rằng cánh quân sự ở Nam Việt Nam đã bị chia rẽ, và trong bất cứ trường hợp nào chúng tôi cũng không nên để cho quan đội lựa chọn người đứng đầu nhà nước.

Sau đó tôi chuyển sự tập trung sang Đại sứ Lodge, một người hoàn toàn mới mẻ với Sài Gòn đến nỗi mà các cuộc gặp gỡ của Đại sứ với Diệm và Nhu chỉ là những cuộc thăm viếng xã giao. Tôi đã đật ra hai câu hỏi cơ bản:

Đại sứ Lodge nên nói gì với Diệm - tức là, chúng ta mong đợi gì ở Diệm nếu chúng ta “cho phép” ông ta vẫn nắm quyền và những áp lực hay những ảnh hưởng nào có thể làm cho ông ta chấp nhận lời đề nghị của chúng ta.

Theo Lodge thì ai sẽ là người có thể thay thế Diệm, rõ ràng là nếu chúng ta đứng ngoài cuộc và để cho một kẻ yếu thế giành được chức Tổng thống, thì “chúng ta sẽ thực sự gặp rắc rối” (nhấn mạnh trong nguyên bản)1.

Không câu hỏi nào nhận được một câu trả lời đầy đủ, và Lodge đã không nhận được chỉ thị gặp Diệm.

Hilsman nhấn mạnh phải hành động ngay. Nhưng Tổng thống nói ông muốn có một cuộc họp nữa vào ngày hôm sau và yêu cầu cựu Đại sứ Nolting cũng có mặt. Hilsman không thích thú gì điều này. Ông ta than phiền là những quan điểm của Nolting đã thay đổi và rằng Nolting đã dính líu vào tình hình theo cảm tính. Tổng thống đáp lại một cách chua chát: “Có lẽ là hợp lý”2.

Cuộc họp ngày 27/8 mở đầu với một bản báo cáo của chuyên gia CIA về Việt Nam. William E. Colby. Ông ta miêu tả tình trạng ở Sài Gòn là yên tĩnh và nói rằng tình trạng lộn xộn đã không lan ra vùng nông thôn. Trả lời một câu hỏi của Tổng thống, Trung tướng Quân đoàn Lính thuỷ đánh bộ Victor H. Krulak (Jr.), trong Hội đồng Liên quân nói rằng ảnh hưởng của những vụ lộn xộn dân sự đối với chiến dịch quân sự chống Việt cộng là rất ít và không có bất cứ sự xuống cấp nghiêm trọng trong khả năng quân sự của Nam Việt Nam. Dean lưu ý là Lodge vẫn còn phải thảo luận với Diệm và Nhu về những vấn đề ở Việt Nam. Ông Nolting nhắc lại lời nhận định của Max ngày hôm trước là các tướng lĩnh thiếu sự đoàn kết và lãnh đạo thực sự.

Điều này đã làm cho Tổng thống phải lên tiếng là ông không thấy có lý do gì để tiến hành một cuộc đảo chính, trừ phi dường như có khả năng thành công và Tổng thống hỏi liệu có hỗ trợ quân sự nào cho một cuộc đảo chính hay không? Nolting nói là ông ta không thấy có bất kỳ sự hỗ trợ nào cả, nhưng ông ta cho rằng điều này có thể thực hiện được vì CIA đã nói là nước Mỹ muốn loại Diệm và Nhu.

Tổng thống nói rằng chúng tôi chưa thực sự bắt đầu nên cuộc đảo chính không thể bị chậm được. Tôi đề xuất là chúng tôi nên yêu cầu Lodge và Tướng Harkins ở Sài Gòn đánh giá xem liệu một cuộc đảo chính có thành công hay không và chúng tôi đề nghị CIA trong lúc đó cứ để mặc các vị tướng lĩnh. Điều đó lại buộc Hilsman phải lên tiếng. Ông ta nói là chúng tôi càng đợi lâu thì càng khó loại bỏ Diệm. Tổng thống bỏ ngoài tai lời nói đó và hỏi Max xem Harkins nghĩ gì về một cuộc đảo chính. Max đáp là Harkins chưa bao giờ được hỏi đến. Tổng thống kết thúc cuộc họp bằng chỉ thị phải gửi một bức điện đề nghị Lodge và Harkins cho ý kiến xem có nên tiếp tục tiến hành cuộc đảo chính hay rút lui3.

Những cuộc bàn cãi của chúng tôi đã ngày càng mang những sắc thái và tính chất khẩn cấp. Ngày hôm sau, 28/8, chúng tôi lại gặp Tổng thống, đầu tiên là vào buổi trưa và sau đó là vào buổi tối. Trong cuộc họp buổi trưa, tôi gợi ý là chúng tôi nên quyết định chắc chắn xem liệu chúng tôi có mong muốn ủng hộ nỗ lực của các tướng lĩnh nhằm lật đổ Diệm và Nhu không. George Ball nói chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc ủng hộ một cuộc đảo chính, và tôi đã đáp lại là chúng tôi không nên tiếp tục như thể là bị thúc đẩy bởi một động lực nào đó. Tổng thống đồng ý là chúng tôi không nên thực hiện tiếp công việc chỉ đơn giản vì chúng tôi đã đi tương đối xa rồi.

Nolting bày tỏ những nghi ngờ sâu sắc về việc đi ngược lại Diệm. Ông ta nói chúng tôi không thể giả thiết là sẽ dễ dàng làm việc hơn với một chính phủ mới và tạo một sơ sở vững chắc để dựa vào đó mà theo đuổi cuộc chiến tranh. George bác bỏ điều đó và đưa ra ý kiến là chúng tôi không thể chiến thắng trong cuộc chiến nếu Diệm vẫn nắm quyền và do vậy mà cần phải loại ông ta ra. Averell Harriman đồng tình nói rằng chúng tôi đã thất bại trong cuộc chiến ở Việt Nam và sẽ phải rút lui nếu không có một cuộc đảo chính. Hilsman nói thêm là lúc này không nên chặn các tướng lĩnh hành động.

Nolting sau đó nhắc lại một câu hỏi cơ bản mà trước đó chúng tôi đã nêu lên nhưng không bao giờ được xem xét hay trả lời một cách đầy đủ. Tình hình Nam Việt Nam sẽ ra sao nếu cuộc đảo chính thành công? Hilsman thừa nhận là chúng tôi chưa nghiên cứu kỹ xem các vị tướng sẽ có kế hoạch điều khiển đất nước như thế nào nếu họ giành được quyền kiểm soát. Nolting nói rằng chỉ duy nhất có Diệm là có thể thu đất nước tan rã đó về một mối.
______________________________________
1. Đoạn trích này được chép lại từ các cuốn băng ghi âm của Tổng thống tại Thư viện Kennedy (viết tắt là PR, JFKL). Vì không còn bản chép tay nào, nên tôi đã đề nghị mượn cuốn băng ghi âm sao chép lại nguyên văn và đã xin được phép của NSC để trích từ bản chép đó vào cuốn sách này.
2. Biên bản để ghi lại buổi họp tại Nhà Trắng ngày 26/8/1963, FRUS, 1961-1963, t.3, tr.638-641; và PR, JFKL.
3. Xem Biên bản cuộc họp với Tổng thống, 27/8/1963, FRUS, 1961-1963, t.3, tr.659-665.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:38:25 pm »


Trước những ý kiến khác nhau đó, Tổng thống dường như buộc phải triệu tập thêm một cuộc họp nữa vào buổi tối hôm ấy1.

Sáu giờ chiều, chúng tôi lại bắt đầu họp tiếp. Trước tiên Tổng thống gặp Dean, Mac, Max và tôi, rồi mới làm việc với tất cả mọi người. Tổng thống ra lệnh cho gửi ba bức điện tới Sài Gòn: một của Max gửi cho Tướng Harkins yêu cầu ông ta đánh giá tình hình và kế hoạch của các tướng lĩnh, một bức của Tổng thống gửi cho Lodge cũng để tìm kiếm sự đánh giá của ông ta. Bức điện thứ ba được gửi tới cả hai người thông báo về cuộc thảo luận buổi trưa của chúng tôi và nói rõ là Kennedy muốn nhận được ý kiến cá nhân của họ xem nên làm gì - chứ không phải là những phản ứng của họ trước những sự việc họ cho là có thể đã được quyết định ở Washington2.

Dean đã có những câu trả lời của Lodge và Harkins trước lúc chúng tôi họp lại vào ngày hôm sau. Họ nhất trí là cuộc chiến không thể thắng lợi được dưới chính quyền Diệm. Nhưng Harkins lại muốn tách gia đình Nhu ra khỏi Diệm, và Nolting đã đồng ý. Ông ta kiến nghị là “thử một lần cuối với Diệm”. Dean thúc chúng tôi nên quyết định xem có phải chỉ thị cho Harkins hỗ trợ cho các cuộc tiếp xúc với giới tướng lĩnh không. Tổng thống hỏi mọi người xem ai còn có những băn khoăn về kế hoạch hành động.

Tôi đã lên tiếng. Tôi đưa ra ý kiến là chúng tôi nên đề nghị Harkins tìm cách thuyết phục Diệm cách chức em trai mình. Ros đồng ý với tôi. Tôi giải thích quan điểm của tôi: “Tôi không thấy có bất cứ sự lựa chọn khả dĩ nào cả. Giới lãnh đạo quân sự lúc này đang nghĩ đến một ông trùm quân sự, và từ những gì tôi biết về bọn họ, tuy ít ỏi - và tôi nghĩ là tôi biết rõ về bọn họ - họ không có khả năng điều hành chính phủ được lâu”3.

Mac nhắc lại rằng John McCone tin là chúng tôi nên thử một lần nữa thuyết phục Nhu từ bỏ. Nolting chỉ ra rằng Lodge vẫn chưa có được một cuộc thảo luận cụ thể nào với Diệm. Điều mà Nolting đã không nói đến - nhưng tôi nghĩ là ông biết - đó là Lodge không muốn một cuộc gặp như vậy và các cấp trên của ông ta ở Bộ Ngoại giao đã không ra lệnh cho ông ta dàn xếp cuộc gặp đó.

Tổng thống cho phép gửi một bức điện đến Lodge nêu lên hai việc: Harkins nên đảm bảo với các vị tướng lĩnh là các bức điện của CIA thể hiện chính sách của nước Mỹ, nhưng nước Mỹ phải được biết kế hoạch của họ trước khi họ có những hành động cụ thể; và việc tiếp cận Diệm lần cuối cùng vẫn chưa được quyết định.

Như là dấu hiệu của sự không chắc chắn mà Tổng thống cảm thấy, bản thân Tổng thống, Dean, Mac và tôi đồng ý là tiếp sau bức điện này phải có một bức điện thứ hai - mà không một ai khác trong Chính phủ được biết. Trong bức điện mật này, Tổng thống Kennedy có nói với Lodge: “Có một điểm trong những trách nhiệm hiến pháp của bản thân tôi với tư cách là Tổng thống và Tổng Tư lệnh mà tôi muốn nói với ngài:... Cho tới chính lúc có dấu hiệu hành động của các vị tướng, tôi phải giành lại một đặc quyền cho phép thay đổi kế hoạch và rút lại những chỉ thị trước đó”. Tổng thống tiếp: “Mặc dù nhận thức được đầy đủ... về những hậu quả của một sự đảo lộn như vậy từ kinh nghiệm của bản thân, tôi biết rằng thất bại mang tính tiêu cực nhiều hơn là sự thiếu quyết đoán. Lẽ dĩ nhiên, tôi sẽ nhận đầy đủ trách nhiệm vì bất cứ một sự thay đổi nào”4.

Việc những người khác cùng chia sẻ sự không chắc chắn của Tổng thống Kennedy đã trở nên rõ ràng tại cuộc họp ngày 31/8 tại phòng hội nghị của Dean Rusk ở Bộ Ngoại giao để xét xem từ đây liệu chúng tôi sẽ đi tới đâu. Dean mở đầu cuộc thảo luận bằng nhận xét rằng suy nghĩ của chúng tôi dường như đã đi trọn một vòng. Chúng tôi đã quay trở lại vị trí trước khi có bức điện ngày 24/8 cho thấy sự ủng hộ của Mỹ cho một cuộc đảo chính.

Dean gợi ý là chúng tôi nên yêu cầu Lodge nói cho Diệm biết là những cuộc đàn áp của ông ta đã đe doạ sự hỗ trợ tiếp tục của nước Mỹ và đề xuất là chúng tôi nên hỏi Đại sứ xem theo ý ông ta thì những nhượng bộ nào Diệm có thể đưa ra về sự an toàn của các Phật tử và việc ra đi của bà Nhu. Tôi hoàn toàn đồng ý và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập lại mối liên lạc giữa Lodge, Harkins và Chính phủ Nam Việt Nam. Rõ ràng, lẽ ra chúng tôi đã phải làm việc này từ trước chứ không phải sau khi có bức điện ngày 24/8. Tuy nhiên cuộc họp đã kết thúc mà các điểm tôi nêu lên không được cân nhắc thêm và không có bất kỳ một chỉ thị nào cho Lodge và các nhân viên của ông ta hành động5.
______________________________________
1. Xem Biên bản cuộc họp với Tổng thống, 28/8/1963, FRUS, 1961-1963, t.4, tr.1-6.
2. Xem Biên bản một cuộc nói chuyện, 28/8/1963, 6 giờ chiều, sách đã dẫn, tr.12-14.
3. PR, JFKL.
4. Xem Biên bản cuộc họp với Tổng thống, 29/8/1963, FRUS, 1961-1963, t.4, tr.26-31; và CAP 63465, Tổng thống gửi Lodge, 9/8/1963, sách đã dẫn, tr.35-36
5. Xem Biên bản một cuộc nói chuyện, Bộ Ngoại giao, 31/8/1963, sách đã dẫn, tr.69-74.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:39:27 pm »


Giữa lúc lộn xộn này thì ngày 2/9, Đài truyền hình CBS đã đánh dấu việc kéo dài chương trình tin tức buổi tối của đài từ mười lăm phút lên ba mươi phút bằng việc giao cho Walter Cronkite phỏng vấn Tổng thống Kennedy ở sân sau khu nhà của gia đình Tổng thống ở Hyannis Port. Cronkite nói: “Thưa Tổng thống, cuộc chiến tranh nóng bỏng duy nhất mà chúng ta đang tiến hành vào lúc này tất nhiên là cuộc chiến ở Việt Nam, và quả rõ ràng là chúng ta đang gặp khó khăn ở đó” Tổng thống đáp: “Tôi nghĩ trừ phi có một nỗ lực to lớn của Chính phủ (Nam Việt Nam) nhằm giành sự ủng hộ của nhân dân thì mới có thể chiến thắng ở cuộc chiến đó. Rốt cuộc đó là cuộc chiến tranh của họ. Chính họ là những người giành chiến thắng hay thất bại. Chúng ta có thể giúp họ, chúng ta có thể cung cấp cho họ phương tiện, chúng ta có thể cử các cố vấn, thế nhưng bản thân họ, người dân Việt Nam, phải tự giành lấy chiến thắng từ tay những người cộng sản. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là giúp đỡ, và chúng ta đang cho thấy rõ điều đó, nhưng tôi không đồng tình với những ai cho rằng chúng ta nên rút lui. Đó sẽ là một sai lầm lớn”1.

Tổng thống đã không thể nói rõ ràng hơn niềm tin của mình là chỉ có người dân Nam Việt Nam mới có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến, và chắc chắn là Tổng thống đã không cho thấy một biểu hiện nào là nước Mỹ sẽ cử quân đội tới để hỗ trợ hay thay thế cho quân đội Nam Việt Nam (Diệm cũng không có biểu hiện hoan nghênh một hành động như vậy).

Tôi trích dẫn lời của Tổng thống Kennedy vì tôi tin là những từ ngữ đó phản ánh những kết luận - cảm nhân sâu sắc của Tổng thống về vai trò của nước Mỹ trong cuộc chiến tranh này.


Tại cuộc họp ngày 3/9, Tổng thống đã dự đoán là nước Pháp tìm kiếm cho Việt Nam cái mà các cuộc đàm phán quốc tế gần đây đã đạt được cho nước Lào láng giềng - trung lập kéo theo việc thành lập một liên hiệp của ba phái tham chiến. Tổng thống tin là trung lập đã không đạt được kết quả ở Lào và nghi ngờ là nó sẽ có kết quả ở nước láng giềng của Lào. Nhưng chẳng phải vào lúc đó mà cũng chẳng phải sau này chúng tôi mới tranh luận kỹ càng về việc một Nam Việt Nam trung lập - nếu có thể đạt được - có thể ảnh hưởng như thế nào đối với nước Mỹ về mặt địa - chính trị. Sở dĩ như vậy, là bởi chúng tôi đã đặt giả thiết là Nam Việt Nam sẽ không bao giờ thực sự trung lập, mà sẽ bị miền Bắc kiểm soát và trên thực tế nó sẽ chứng minh cho thuyết Domino của Eisenhower.

Nhìn lại, chúng tôi đã mắc sai lầm nghiêm trọng vì thậm chí không thăm dò phương án trung lập. Nếu một chính khách phức tạp như De Gaulle đã thấy thích phương án đó, thì ít nhất nó cũng đã xứng đáng nhận được sự chú ý của chúng tôi. Lập trường của chúng tôi đầy rẫy những trái ngược và phi lý. Chúng tôi (đặc biệt là Dean Rusk) e ngại là thế của chúng tôi trong NATO sẽ yếu đi nếu chúng tôi không tôn trọng điều mà ông ta hiểu như là những nghĩa vụ của chúng tôi trong SEATO đối với Nam Việt Nam. Nhưng SEATO gồm Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Thái Lan, Philippin và Pakitxtan chỉ liên kết các quốc gia thành viên để “giải quyết mối nguy hiểm chung” phù hợp với “các quá trình pháp lý của từng nước” và để “tham vấn” nhau. Một nghị định thư riêng đã quy định Campuchia, Lào và Nam Việt Nam là những khu vực mà nếu bị đe doạ sẽ “gây nguy hiểm cho hoà bình và an ninh” của các cường quốc tham gia ký. Nhưng một trong những cường quốc tham gia ký là Pháp đã không chỉ cho là mình không có nghĩa vụ gì theo hiệp ước, mà dường như cho việc Mỹ can thiệp đã đi ngược lại những lợi ích chung của chúng tôi. Nếu Pháp - một thành viên hiến chương của SEATO và nước chính được hưởng sự đảm bảo về an ninh đối với NATO của Mỹ - cho rằng một nước Việt Nam trung lập sẽ không làm cho NATO và an ninh ở Tây Âu suy yếu nghiêm trọng, thì lẽ ra tối thiếu chúng tôi cũng đã phải tranh luận về vấn đề này. Nhưng chúng tôi đã không làm thế.

Cuộc họp kết thúc với một thoả thuận là Lodge phải sớm gặp Diệm để thảo luận những chủ đề được nêu lên tại hội nghị ở Bộ Ngoại giao ngày 31/82.

Nhưng khi chúng tôi họp lại vào ngày 6/9, Lodge không thể lý giải được việc vẫn chưa gặp Diệm. Đến thời điểm này, Bobby Kennedy, người đã quan tâm ngày càng nhiều về Việt Nam từ cuộc tranh cãi về bức điện ngày 24/8, đã bắt đầu tham gia một cách tích cực. Ông ta nêu lên băn khoăn của mình là nếu chúng tôi đã kết luận là với Diệm chúng tôi sẽ thua, thì tại sao “bây giờ chúng ta không đứng ra đương đầu” - bằng cách đó, ông ta có ý dọa rút lui.

Điều này đã báo động cho Dean. Ông ta đáp là đe doạ rút lui sẽ “rất nghiêm trọng”, và nói rằng nếu Việt cộng tiếp quản Nam Việt Nam thì chúng tôi sẽ “gặp rắc rối lớn”. Tiếp sau Dean, Max nhắc chúng tôi nhớ lại là chỉ mới ba tuần trước chúng tôi vẫn còn tin là với Diệm chúng tôi có thể chiến thắng và Hội đồng Liên quân cũng có cùng quan điểm đó. Tiếp theo, Dean miêu tả quan điểm hiện tại của chúng tôi - đàm phán với Diệm - như là bước một. Ông ta lưu ý là sẽ không có bước hai nếu chúng tôi rút lui. Ông ta nói: “Trước khi rút chúng ta có thể còn muốn cân nhắc việc tiến hành một cuộc đảo chính” - như thể là chúng tôi vẫn chưa khởi xướng vậy! Thật mỉa mai là trong suốt cuộc tranh luận chúng tôi vẫn không phân tích được cái lợi và cái hại của cuộc rút lui3.
_____________________________________
1. Tài liệu công khai, John F. Kennedy, 1963 (Washington: Văn phòng in ấn của Chính phủ Mỹ, 1964) tr. 652.
2. Xem Biên bản cuộc họp với Tổng thống, 3/9/1963, FRUS, 1961-1963, t.4, tr.100-103.
3. Xem Biên bản cuộc họp với Tổng thống, 6/9/1963, sách đã dẫn, tr.117-120.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:43:54 pm »


Trong cuộc phỏng vấn ngày 9/9 với hai kỹ thuật viên ghép nối chương trình tin tức buổi tối của Đài truyền hình NBC, Chet Huntley và David Brinkley, suy nghĩ của Tổng thống Kennedy giữa lúc khủng hoảng này được hiểu thấu đáo hơn. Brinkley hỏi: “Thưa Tổng thống, ngài có bất cứ lý do gì để nghi ngờ cái gọi là “học thuyết Domino” cho rằng nếu Sài Gòn sụp đổ thì liệu phần còn lại của Đông Nam Á sẽ khuất phục không?”. Có lẽ là nhớ lại lời cảnh cáo của Eisenhower, Tổng thống đáp: “Không, tôi tin điều đó... Trung Quốc rộng và phủ bóng từ trên cao ngay ở bên kia biên giới đến nỗi là nếu Nam Việt Nam bị mất, thì nó sẽ không chỉ cho bọn họ một vị trí địa lý được cải thiện cho một cuộc tấn công du kích vào Malaixia, mà sẽ còn tạo cảm giác là con sóng của tương lai ở Đông Nam Á là Trung Quốc và những người cộng sản. Do vậy mà tôi tin vào học thuyết đó”1.

Ngày 10/9, những cuộc bàn cãi của chúng tôi lại tiếp tục. Bobby nói chúng tôi nên thảo luận những hành động cụ thể liên quan tới Diệm và Nhu. Tôi đã đáp lại là phương pháp của chúng tôi dường như không thể tồn tại được. Tôi nói: “Chúng ta đang cố lật đổ Diệm, nhưng theo tôi biết, chúng ta lại không có bất cứ một cách nào. Do vậy một mặt chúng ta thấy không thể tiếp tục hợp tác với Diệm và mặt khác chúng ta không xây dựng được một giải pháp thay thế. Chúng ta nên quay trở về với những gì chúng ta thực hiện ba tuần trước đây”.

Averell nóng nảy phản đối. Là một người mà tôi đã ngưỡng mộ sâu sắc, Averell xuất thân từ dòng họ đại diện bởi Nelson Rockefeller và Douglas Dillon, những người được sinh ra trong giàu sang nhưng lại bị cuốn vào ngạch viên chức nhà nước. Ông ta đã từng làm Đại sứ ở Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ II, Trợ lý đặc biệt của Tổng thông Truman và là Thống đốc bang New York vào những năm giữa thập niên 1950. Nhưng ông vẫn muốn trở lại Washington và giúp đỡ vị Tổng thống trẻ sau khi bị thất bại trong cuộc bầu cử thống đốc ở bang New York, đến nỗi mà ở tuổi 65 ông đã chấp nhận chức Đại sứ lưu động chẳng mấy quan trọng trong một chính quyền đầy những người chỉ đáng tuổi con trai ông. Sự hăng hái và những chỉ dẫn của Averell đã nhanh chóng giành được niềm tin của Tổng thống và Tổng thống chỉ định ông làm trưởng phái đoàn Mỹ tại Hội nghị Geneva về Lào, rồi chức Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao phụ trách Viễn Đông và sau này làm Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách các vấn đề chính trị.

Averell không bao giờ che đậy những ý kiến của mình. Ông ta đã tranh cãi không nhân nhượng với tôi về việc loại bỏ Diệm. Ông nói Diệm đã tạo ra một tình thế mà chúng ta không bao giờ có thể đạt được mục tiêu của chúng ta ở Việt Nam khi Diệm còn nắm quyền. Max và John McCone đã đồng ý với tôi. Cuộc họp kết thúc mà bất đồng không được giải quyết2.

Ngày hôm sau, Lodge đã điện cho biết dự đoán của ông ta về tình hình hiện tại ở Nam Việt Nam. Ông ta báo cáo: “Tình hình đang xấu đi nhanh chóng... và đã đến lúc nước Mỹ cần sử dụng những sự trừng phạt hữu hiệu để làm sụp đổ chính phủ hiện tại và thiết lập một chính phủ khác”. Trong cuộc nói chuyện với Dean, Mac có nói là Tổng thống cho là sự đánh giá của Lodgc là sự đánh giá mạnh mẽ nhất về tình hình mà Tổng thống đã từng thấy, trong khi Dean nói là điều làm cho ông ta phiền lòng là Lodge vẫn chưa ngửa bài cho Diệm thấy3.

Vài ngày sau, lại một cuộc họp khác của Bộ Ngoại giao - cuộc họp này có John McCone và hai nhân viên CIA vừa từ Nam Việt Nam trở về tới dự - McCone đã đặt câu hỏi: những ý kiến nào đã làm cơ sở cho kế hoạch đảo chính hiện nay? Các nhân viên CIA đã miêu tả các ý kiến của các tướng lĩnh và nói thêm là: “Cái mà tất cả những ý kiến này còn thiếu là một kế hoạch tiến hành toàn diện”. Sau đó chúng tôi đã thảo luận hai giải pháp cho vấn đề Diệm: phương pháp hoà giải và phương pháp đối đầu. Tôi đề xuất gửi cho Lodge một bức điện nói về phương pháp hoà giải và đề nghị cho biết ý kiến. Dean đồng ý và đã chỉ thị thảo một bức điện như vậy để Tổng thống xem xét4.
_____________________________________
1. Tài liệu công khai, John F. Kennedy, 1963, tr. 659.
2. Xem Biên bản một cuộc nói chuyện, Bộ Ngoại giao, 10/9/1963, FRUS, 1961-1963, t.4 tr.169-171.
3. Embtel 478, Lodge gửi Rusk, 11/9/1963, sách đã dẫn, tr.171-174; và Biên bản cuộc nói chuyện qua điện thoại giữa Bộ trưởng Bộ Ngoại giao với Trợ lý đặc biệt của Tổng thống về các vấn đề an ninh quốc gia, 11/9/1963, sách đã dẫn tr.176
4. Xem Biên bản ghi âm cuộc họp tại Bộ Ngoại giao, 16/9/1963, sách đã dẫn, tr.217-220.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:46:38 pm »


Sau cuộc họp với các cố vấn thân cận của mình vào ngày 17/9, Tổng thống gửi cho Lodge bức điện nêu biện pháp hoà giải, trong đó có đoạn:

CAP 63516. Gửi riêng cho Đại sứ Lodge. Bộ Ngoại giao chuyển ngay. Chỉ chuyển bản sao. Không chuyển cho bất cứ ai khác trong Bộ Ngoại giao. Điện của Tổng thống.

1. Cuộc họp cao cấp nhất ngày hôm nay đã thông qua đề án hành động chung... Chương trình được thiết kế để đạt được những cải cách và thay đổi về nhân sự của Chính phủ Việt Nam (Chính phủ Nam Việt Nam) cần thiết để duy trì sự ủng hộ quan điểm của Việt Nam và Mỹ trong cuộc chiến tranh chống Việt cộng. Bức điện này thông báo về chương trình đó và suy nghĩ của chúng tôi để ngài cho ý kiến trước khi có quyết định cuối cùng...

2. Chúng tôi không thấy có bất kỳ một cơ hội nào để hành động xoá bỏ chính phủ hiện nay trong tương lai gần. Do vậy, như những bức diện gần đây nhất của ngài có gợi ý, lúc này chúng ta phải áp dụng những áp lực sẵn có... Chúng tôi nghĩ rằng sự cải thiện như vậy có thể có ý nghĩa quan trọng, ít nhất là trong tương lai gần. Ngoài ra, một quá trình như vậy là phù hợp với nổ lực lớn hơn khi các phương pháp trở nên có khả năng thực hiện...

3. Chúng ta có cùng quan điểm... rằng việc củng cố vị trí thương lượng tốt nhất của chúng ta trong thời kỳ chuyển tiếp này là bằng chứng rõ ràng là sự giúp đỡ của nước Mỹ chỉ có được khi ngài đồng ý... Ngài được phép trì hoãn bất cứ chuyến giao hàng cung cấp hay chuyển vốn của bất cứ tổ chức nào cho tới khi ngài thấy việc giao hàng là phù hợp với lợi ích của nước Mỹ, luôn nhớ rằng cắt bỏ viện trợ hoàn toàn không phải là chính sách hiện nay của ta... Chúng tôi nghĩ là có thể ngài nên sử dụng thẩm quyền này vào việc hạn chế hay chặn bất cứ và tất cả các hình thức viện trợ và hỗ trợ nào dành cho Nhu, hay thông qua Nhu, hoặc các cá nhân... có liên hệ với ông ta...

4. Theo sự nhận xét và sửa đổi của ngài, bảng liệt kê các hành động có thể có ích của Chính phủ được xếp theo tầm quan trọng tương đối lần lượt như sau:

    a. Làm sạch không khí - Diệm sẽ phải đưa mọi người trở lại công việc và làm cho họ tập trung vào việc giành chiến thắng. Ông ta sẽ phải có đầu óc thoáng hơn và thái dộ của ông ta phải thể hiện sự thông cảm đối với những người đã gặp khó khăn, vì những lý do có thể hiểu được, trong tình hình gần đây để ủng hộ ông ta một cách đầy đủ.

    Một tinh thần hoà giải thực sự có thể làm những người ông ta lãnh đạo phải ngạc nhiên; một thái độ trừng phạt, khắc nghiệt và chuyên quyền có thể chỉ dẫn tới sự phản kháng mới.

    b. Các Phật tử và sinh viên - để mặc họ và không làm phiền họ. Điều này hơn bất cứ điều gì khác sẽ cho thấy sự quay trở lại của một ngày tốt đẹp hơn và tập trung trở lại công việc chính - cuộc chiến tranh.

    c Báo chí - báo chí phải được tự do. Diệm sẽ bị phê phán, nhưng sự khoan dung và hợp tác với báo chí trong nước và ngoài nước vào lúc này chẳng mấy chốc sẽ đem lại lời ca ngợi sự lãnh đạo của ông ta. Mặc dù việc đưa tin có dụng ý gây khó chịu, nhưng việc đàn áp báo chí dẫn đến những rắc rối nghiêm trọng hơn nhiều.

    d. Mật vụ và cảnh sát chiến đấu - hạn chế vai trò của lực lượng này trong các chiến dịch chống Việt cộng và bỏ các chiến dịch chống lại các nhóm chống đối không phải cộng sản, nhờ đó mà cho thấy rõ ràng là một thời hoà giải và ổn định chính trị đã trở lại.

    e. Những thay đổi nội các để tiêm thêm vào dòng máu mới không bị lây nhiễm, xoá bỏ các mục tiêu bất mãn trong nhân dân.

    f. Các cuộc bầu cử - phải được tổ chức, phải tự do và phải được quan sát rộng rãi.

    g. Quốc hội - Quốc hội phải được triệu tập ngay sau bầu cử. Chính phủ phải trình lên Quốc hội các chính sách và phải nhận được sự tin tưởng của Quốc hội...

5. Những cải cách cụ thể dường như ít có ảnh hưởng nếu không có hoạt động có tính chất biểu trưng mạnh mẽ để làm cho người Việt Nam tin rằng cải cách là có thực. Đây là một vấn đề thực tế nên chúng tôi có cùng quan điểm với ngài là việc này có thể đạt được bằng việc giảm rõ rệt ảnh hưởng của những người theo Nhu, những kẻ không bằng lòng với tất cả những gì họ không thích trong Chính phủ Việt Nam. Theo chúng tôi nghĩ, điều này sẽ phải cần đến việc gia đình Nhu rời khỏi Sài Gòn và dĩ nhiên là cả Việt Nam nữa, ít nhất là trong một kỳ nghỉ dài. Chúng tôi nhận ra khả năng là những áp lực này hay những áp lực khác có thể không đem lại được kết quả này, nhưng chúng tôi tin là cần phải thử...

6. Chúng tôi nhận thấy sự miễn cưỡng của ngài trong việc tiếp tục đối thoại với Diệm cho tới khi ngài có nhiều điều để nói, nhưng chúng tôi vẫn tin là các cuộc thảo luận với ông ta tối thiểu cũng là một nguồn tình báo quan trọng và có thể là một cách gây một ảnh hưởng có tính thuyết phục nào đó, thậm chí trong khi ông ta đang có những suy nghĩ như hiện nay... Bản thân chúng ta có thể thấy được nhiều tác dụng trong nỗ lực dùng lý lẽ để thuyết phục thậm chí một người không biết điều khi anh ta đang trên đà đối đầu...

7. Trong lúc đó, nỗi lo ngại ngày càng tăng về những khía cạnh quân sự chặt chẽ của vấn đề, cả về tiến độ thực của các hoạt động và cả về việc cần đưa ra một trường hợp có hiệu quả với Quốc hội để tiếp tục nỗ lực. Để đáp ứng những nhu cầu này, Tổng thống đã quyết định cử Bộ trưởng Quốc phòng và Tướng Taylor tới Việt Nam vào đầu tuần tới. Cần phải nhấn mạnh rằng đây là một phái đoàn quân sự và tất cả những quyết định chính trị đang được giải quyết thông qua ngài với tư cách là người đại diện cấp cao của Tổng thống…1.
_________________________________________
1. CAP 63516, Tổng thống gửi Lodge, 17/9/1963, sách đã dẫn, tr.252-254.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM