chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #70 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2009, 10:33:14 pm » |
|
Max trả lời bằng một bản phân tích gửi từ Sài Gòn về, một phân tích thấu đáo với tư duy sâu sắc nhất mà tôi có được trong vòng 7 năm vật lộn với cuộc chiến tranh Việt Nam:
“Ở Nam Việt Nam này chúng ta đang phải đối mặt với một tình hình ngày càng xấu đi nghiêm trọng bởi sự xáo động chính trị, sự thiếu trách nhiệm và chia rẽ trong quân đội, sự kém hiệu quả trong các chiến dịch bình định, tình cảm chống Mỹ gia tăng, các cuộc khủng bố của Việt cộng gia tăng đánh trực tiếp vào người và căn cứ Mỹ cùng với sự nhụt chí, mất tinh thần trên toàn Nam Việt Nam. Nếu tình hình này không thay đổi bằng cách này hay cách khác, thì chúng ta sẽ sớm đối mặt với... việc thành lập một chính quyền thù địch và chính quyền này sẽ yêu cầu chúng ta đi khỏi đây, đồng thời lại tìm kiếm thoả hiệp với Mặt trận dân tộc giải phóng (chính đảng của Việt cộng) và Hà Nội... Còn rất ít thời gian để tháo ngòi nổ cho tình hình này”.
Tiếp đó, ông chuyển sang vấn đề chiến đấu trên bộ, ông báo động cho Tổng thống rằng thông thường trong quân sự, đánh bại Việt cộng đòi hỏi phải triển khai một lực lượng quân lớn:
“Việc không đảm bảo an ninh cho dân chúng là do những thắng lợi liên tục của hoạt động bạo động lật đổ của Việt cộng. Lực lượng này được hình thành từ những năm 1954-1955 và đến nay có khoảng 100.000 du kích tinh nhuệ. Lực lượng này có được tài sản vô giá là sự cung cấp hậu cần từ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Lào. Tôi không nhớ là trong lịch sử đã có chiến dịch nào chống du kích mà thắng lợi với ưu thế về quân số ta 10, quân du kích 1 và có sự giúp sức từ bên ngoài”.
Max nhấn mạnh rằng tỷ lệ đó ở Nam Việt Nam chưa bao giờ vượt quá con số 5/1 trong vòng hai năm qua và dường như không thể đạt được tỷ lệ mong muốn trong một lương lai gần.
Tiếp đó ông ta lại hỏi câu hỏi muôn thủa: Chúng ta phải làm gì? Chúng ta không thể. - ông nhận xét. “thay đổi đặc tính dân tộc, xây dựng nên giới lãnh đạo ở một nơi không có những con người như vậy, tăng thêm lực lượng GVN hoặc bịt các lỗ dễ rò rỉ của những hàng rào ngăn chặn sự xâm nhập”. Ông cho rằng để đạt kết quả, chúng ta phải sử dụng thêm nhân tố mới và “nhân tố duy nhất có thể tạo cơ hội cho một thắng lợi mong muốn trong một thời gian nhất định là kế hoạch oanh kích từng bước đánh thẳng vào ý chí của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” và phải tạo ra “một tình hình thuận lợi để nói chuyện với Hà Nội”. Ông cũng nhất trí với quan điểm của Tổng thống là không thể thắng chiến tranh du kích bằng không quân. Nhưng đó không phải là mục tiêu của ông. Mà mục tiêu của ông là “gây áp lực đối với ý chí của các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Max kết thúc bức điện dài bằng việc cảnh tỉnh rằng: “Chúng ta hiện đang trên con đường thất bại nên phải dám mạo hiểm tạo ra một sự thay đổi”, bởi vì “không có hành động tích cực nào vào lúc này có nghĩa là chấp nhận sự thất bại trong một tương lai rất gần”1. __________________________________ 1. Các Embtel 2052-2058 (Sài Gòn), Taylor gửi Tổng thống Johnson, 6/1/1965, “Triển khai các lực lượng quân sự chủ lực của Mỹ tại Việt Nam, tháng 7/1965” viết tắt là “Triển khai”), t. 1, Mục 1-10, Lịch sử Hội đồng An ninh quốc gia (viết tắt là NSCH), Hộp số 40, NSF, LBJL.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #71 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2009, 10:34:03 pm » |
|
Nhưng chúng tôi không hề làm gì. Đầu tháng giêng, Việt cộng đã xơi gọn hai đơn vị thiện chiến của Sài Gòn trong những trận đánh lớn. Cùng với tin tình báo cho biết Bắc Việt Nam đã bắt đầu đưa bộ đội chính quy của họ vào miền Nam, những thất bại đó làm gia tăng mối lo sợ của chúng tôi là Hà Nội và Việt cộng đang chuẩn bị một cuộc tiến công tổng lực mà Sài Gòn và quân đội của nó khó có thể chịu đựng nổi. Nam Việt Nam dường như đang trên bờ vực của sự sụp đổ hoàn toàn.
Những sự kiện này buộc tôi đau lòng và miễn cưỡng rút ra kết luận rằng đã đến lúc phải thay đổi chính sách. Ngày 27/1/1965 - chỉ một tuần sau ngày tuyên thệ nhậm chức Tổng thống - Mac và tôi đã gửi cho Tổng thống Johnson một bản báo cáo ngắn nhưng đầy sức công phá. Buổi sáng hôm đó, chúng tôi thảo luận khá lâu với Tổng thống và Dean tại Phòng Điều ước của Chính phủ, nơi trước đây Abraham Lincoln đã từng họp nội các của ông trong cuộc nội chiến. Mac và tôi cho rằng tình hình đang ở mức nguy kịch và chúng tôi muốn Tổng thống hiểu điều đó tác động đến suy nghĩ của chúng tôi như thế nào. Chúng tôi nói với Tổng thống rằng:
Hiện tại cả hai chúng tôi đều tin rằng chính sách hiện nay của chúng ta sắc chỉ dẫn đến thất bại thảm hại. Điều chúng ta đang làm chủ yếu là chờ đợi và hy vọng có được một chính phủ ổn định. Các chỉ thị của chúng ta trong tháng chạp nói rất rõ rằng chúng ta sẽ không mở rộng hoạt động tiến công cộng sản, trừ phi chúng ta đạt được một chính phủ như vậy. Sáu tuần qua, cố gắng đó đã không đem lại kết quả. Bob và tôi cho rằng không hy vọng thành công trong việc lập một chính phủ ổn định, trừ khi và cho đến khi chúng ta thay đổi chính sách và các ưu tiên của chúng ta.
Những khó khăn ở Sài Gòn nổi lên từ những lời khẳng định lan tràn rằng tương lai của lực lượng chống cộng không có hy vọng gì. Ngày càng nhiều người tốt chỉ lo giữ xương sườn của họ và lẩn tránh trách nhiệm thực thi chính sách chống cộng cứng rắn. Những người bạn tốt nhất ít nhiều thất vọng về khả năng yếu kém của chúng ta trong việc đối phó với các cuộc tiến công của cộng sản vào chính các căn cứ của chúng ta. Người Việt Nam biết rõ như chúng ta là Việt cộng đang giành được vùng nông thôn. Trong khi đó, họ thấy sức mạnh to lớn của Hoa Kỳ lại phải chịu nín nhịn và họ không thấy ý nghĩa của chính sách năng nổ và cứng rắn của Mỹ. Họ cảm thấy rằng chúng ta không sẵn sàng mạo hiểm. Trong một nghĩa nào đó, tất cả những điều này là sự lăng nhục xét theo tất cả những gì chúng ta đã làm và tất cả những gì chúng ta sẽ sẵn sàng làm nếu như họ chỉ cần xắn tay áo lên thôi. Nhưng đó là một thực tế - hoặc ít ra cũng là điều mà McNamara và tôi đang nghĩ.
Sự không chắc chắn và một phương hướng lan tràn trong các quan chức Việt Nam, bây giờ cũng xuất hiện ngày càng rõ trong chúng ta, thậm chí cả ở những người trung thành và quyết tâm nhất. Ta có thể nhận thấy những lời ám chỉ thực hiện tâm trạng này trong các bức điện từ Sài Gòn về và trong số các sĩ quan trung thành nhất của chúng ta tại Washington này. Phương châm cơ bản cho thấy rằng chúng ta sẽ không đi xa hơn, cho đến khi có được một chính phủ ổn định và không mấy ai có nhiều hy vọng là sẽ có một chính phủ ổn định nếu chúng ta ngồi yên một chỗ. Kết quả là chúng ta bị cuốn vào một chính sách: trước hết viện trợ cho các nhà chính trị hay tranh cãi nhau và phản ứng thụ động trước các sự kiện mà chúng ta không cố gắng kiểm soát chúng. Hoặc là có vẻ tương tự như vậy.
Bob và tôi tin rằng kế hoạch hành động kém hiệu quả nhất là tiếp tục duy trì vai trò rất thụ động hiện nay mà cuối cùng chỉ dẫn đến thất bại và hãy thoát ra khỏi tình cảnh nhục nhã này.
Chúng tôi thấy có hai giải pháp. Thứ nhất, sử dụng sức mạnh quân sự của chúng ta ở vùng Viễn Đông và buộc cộng sản phải thay đổi chính sách của họ. Thứ hai, triển khai mọi nỗ lực theo hướng đàm phán nhằm cứu lấy những gì ít ỏi nhất có thể bảo vệ được mà không làm tăng thêm các rủi ro quân sự hiện tại của chúng ta. Bob và tôi thiên về phương án thứ nhất, nhưng chúng tôi nghĩ cả hai phương án cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng và các kế hoạch sửa đổi phải được bàn bạc với Ngài.
Hai chúng tôi hiểu rằng bất cứ một quyết định nào đại loại như vậy sẽ tạo ra những vấn đề rất nghiêm trọng. Hai chúng tôi thừa nhận rằng chúng tôi không phải là người chịu trách nhiệm tối cao. Mấy tháng trước, chúng tôi đã hoàn toàn ủng hộ thái độ lưỡng lự của Ngài nhằm thoát ra khỏi giai đoạn giữa. Chúng tôi đồng ý là cần tiếp tục nỗ lực để cải thiện các hoạt động trên bộ và chỉnh đốn giới chức cầm quyền Nam Việt Nam theo hết khả năng của chúng ta. Nhưng chúng tôi tin rằng tất cả những điều này là chưa đủ và đã đến lúc phải lựa chọn biện pháp cứng rắn hơn.
Ngài nên biết là Dean Rusk không nhất trí với chúng tôi. Ông ta không phủ nhận lời khẳng định của chúng tôi là mọi việc đang xấu đi và tình hình đang đảo lộn. Ông ta không chắc rằng có thể chặn đứng tình hình tồi tệ này. Điều ông ta nói là hậu quả của việc leo thang cũng như rút lui xấu đến mức chúng ta đơn giản là phải tìm một cách khác để đem lại hiệu quả cho chính sách hiện nay. Sẽ rất tốt nếu có thể tìm ra được. Bob và tôi không nghĩ điều đó sẽ xẩy ra1.
Sau nhiều tháng bập bênh và thiếu quyết đoán, chúng tôi đã đi đến ngã ba đường. ______________________________________ 1. McGeorge Bundy gửi Tổng thống Johnson, 27/1/1965, “Báo cáo gửi Tổng thống”, t.8, 1/1-2/28/65. Hồ sơ phụ, McGeorge Bundy, Hộp số 2, NSF, LBJL.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #72 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:23:56 am » |
|
7 QUYẾT ĐỊNH LEO THANG NGÀY 28/1 - 28/7/1965 Sáu tháng sau bản giác thư “đứng trước ngã ba đường” của chúng tôi là thời gian đánh dấu giai đoạn then chốt nhất đối với sự dính líu kéo dài 30 năm của Mỹ ở Đông Dương. Đó là thời gian từ 28/1 đến 28/7/1965. Tổng thống Johnson đã phải đối đầu với những vấn đề nêu ra trong bản ghi nhớ và đưa ra những sự lựa chọn số phận, khoá chặt nước Mỹ vào con đường can thiệp quân sự ồ ạt ở Việt Nam, một sự can thiệp cuối cùng đã phá tan địa vị Tổng thống của ông và làm chia rẽ nước Mỹ chưa từng có, kể từ sau cuộc Nội chiến. Trong thời kỳ định mệnh này, Johnson đã khởi xướng cuộc ném bom Bắc Việt Nam và đưa lục quân Mỹ vào Nam Việt Nam, đưa tổng số quân Mỹ từ 23.000 đến 175.000, với khả năng đưa thêm 100.000 quân nữa vào năm 1966 và sau đó thậm chí nhiều hơn nữa. Tất cả mọi chuyện này đều xảy ra mà không có sự công bố hoặc tranh luận công khai đầy đủ, gieo mầm cho sự khủng hoảng lòng tin, điều đã làm suy yếu nước Mỹ về sau này. Chuyện đã xảy ra như thế nào? Tại sao Tổng thống Johnson không tin nhân dân Mỹ? Tại sao chiến lược quân sự của Tướng Westmoreland không được tranh luận đầy đủ? Tại sao chúng ta lại leo thang mà không rút quân giữa lúc tình hình đang xấu đi nhanh chóng? Tại sao chúng ta không đoán trước được hậu quả của hành động của chúng ta? Các lực lượng chính trị nội bộ - đặc biệt là nguyện vọng của Tổng thống về xây dựng “Xã hội vĩ đại” và những sức ép của các lực lượng bảo thủ ở cả hai đảng - đã gây ảnh hưởng tới chính sách Việt Nam của Mỹ như thế nào, nếu có? Những niềm hy vọng, nỗi sợ hãi, quan niệm và sự phán xét gì, dù đúng hay sai, đã chi phối suy nghĩ và quyết định của chúng ta? Đúng vào ngày Tổng thống đọc bản ghi nhớ của chúng tôi, ông đã phái Mac Bundy đi Sài Gòn để đánh giá triển vọng về một chính phủ ổn định ở đó và để cố vấn xem Mỹ có nên tiến hành hành động quân sự chống Bắc Việt Nam hay không? Những người ngả theo hướng ủng hộ hành động này, gồm Mac, Max Taylor và tôi - đều tin là những hành động đó sẽ làm tăng lòng tin của Nam Việt Nam đối với sự sẵn sàng của Mỹ chiến đấu cho Nam Việt Nam, và như vậy sẽ củng cố thêm tinh thần và cơ chế chính trị của Nam Việt Nam. Tình hình ở Sài Gòn đã khẳng định nỗi ghê sợ nhất của Mac: các tướng lĩnh Nam Việt Nam tiếp tục đấu đá lẫn nhau và chống lại các Phật tử; các chính trị gia vẫn hoàn toàn bất lực; các giáo phái kiên trì các cuộc biểu tình và phản đối của mình trên các đường phố. Mac gửi bức điện cho Tổng thống: “Tình hình hiện nay trong các lực lượng phi cộng sản cho thấy mọi dáng vẻ của một cuộc nội chiến trong lòng một cuộc nội chiến” 1. Vào ngày thứ ba trong chuyến đi của Mac, Việt cộng đã dùng mìn và đạn pháo tiến công vào một chỉ huy sở của quân đội Nam Việt Nam và căn cứ không quân Mỹ gần Pleiku, cách Sài Gòn 240 dặm về phía Bắc. Tám quân vụ Mỹ bị chết và trên 100 người khác bị thương. Được Max và Tướng Westmoreland ủng hộ, ngay lập tức Mac đề nghị một cuộc oanh tạc trả đũa bằng không quân chống Bắc Việt Nam đúng như kiểu đang được xem xét tại Washington trong mấy tháng qua. Cuộc tiến công vào Pleiku và phản ứng của chúng ta đã góp phán đáng kể vào cuộc leo thang sau này. Ngay khi Tổng thống nhận được bản kiến nghị của Max, ông đã triệu tập một cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia với sự tham dự của các nhà lãnh đạo Quốc hội tại phòng Nội các. Mặc dù cuộc tiến công miền Bắc đã chứa đựng nguy cơ lớn hơn vì Thủ tướng Liên Xô Alexei Kosygin đang ở thăm Hà Nội, hầu hết mọi người có mặt, kể cả chuyên gia về Liên Xô là ông Tommy Thompson và George Ball, đều thúc giục trả đũa cuộc tiến công của Việt cộng. Chỉ có Thượng nghị sĩ Mike Mansfield đã phát biểu mạnh mẽ chống lại. Nhìn thẳng vào ông Tổng thống đang ngồi phía bên kia bàn, ông lưu ý rằng, kể cả khi Hà Nội chỉ đạo cuộc tiến công thì nó cũng sẽ làm “nhiều người mở mắt ra”. “Dân chúng Nam Việt Nam không đứng đằng sau chúng ta”, Mansfield tuyên bố, “nếu không thì Việt cộng đã không tiến hành cuộc tiến công bất ngờ của họ”. Ông thúc giục Johnson cân nhắc thực tế này cẩn thận, bởi vì cuộc tiến công trả đũa có nghĩa là Mỹ đã đặt cược cao lên trong cuộc chơi này. Tổng thống đã không nghe theo ý kiến của Mansfield; dựa trên quyền lực dành cho mình, trong Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ. Ông đã ra lệnh tiến công 2. _____________________________________ 1. Lời nhận xét của Bundy trong Ghi chép của Bromley Smith gửi Tổng thống, 4/2/1965, “Chuyến công tác McGeorge Bundy - Sài Gòn, t.1, 2/4/65”, Hồ sơ các cuộc gặp gỡ quốc tế và các chuyến công tác, Hộp số 28/29,NSF, LBJL. 2. Bản tóm lược cuộc họp lần thứ 545 của NSC (của Bromley Smith), 6/2/1965, Hộp số 1, MNF, LBJL
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #73 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:24:49 am » |
|
Tối hôm sau, Mac trở về Washington với một bản báo cáo có đoạn viết:
Tình hình ở Việt Nam đang xấu đi và nếu Mỹ không có hành động mới, thì thất bại là tất yếu... Nguy cơ thất bại của Mỹ ở Việt Nam là cực kỳ cao... Uy tín quốc tế của Mỹ, và phần lớn ảnh hưởng của chúng ta, đang đứng trước nguy cơ trực tiếp ở Việt Nam. Không thể có chuyện trút gánh nặng lên chính người Việt Nam, và không thể có chuyện thương lượng đưa chúng ta ra khỏi Việt Nam vì hiện không có bất kỳ khả năng hứa hẹn nào... Một sự rút quân bằng thương lượng hôm nay sẽ có nghĩa là sự đầu hàng từng bước.
Do đó, Mac đã kiến nghị một chính sách ném bom từng bước và kéo dài ở Bắc Việt Nam. Ông ta nêu ra hai mục tiêu: về lâu dài, ông ta hy vọng nó sẽ ảnh hưởng tới ý chí của miền Bắc - khiến họ giảm sự ủng hộ đối với Việt cộng và/hoặc phải thương lượng; trước mắt, ông tin rằng nó sẽ làm tăng mạnh và ngay lập tức tinh thần lạc quan ở miền Nam.
Liệu hướng hành động được kiến nghị ấy có làm thay đổi được điều tiên lượng hay không? Mac đã không hứa rằng nó sẽ như vậy. Ông ta nhận mạnh rằng “triển vọng ở Việt Nam là mờ nhạt”, và rằng “có một loạt vấn đề mà người Việt Nam cần làm tốt hơn”. Nhưng “có một điểm yếu nghiêm trọng trong thế của chúng ta ở Việt Nam trong phạm vi sức mạnh của chúng ta có thể giải quyết được”. - ông ta nêu tiếp “và rất nhiều người tin rằng chúng ta không có ý chí và lực lượng, lòng kiên trì và quyết tâm có những hành động cần thiết và duy trì hướng đó”.
Đoạn cuối cùng của ông ta nhấn mạnh một điểm lớn: “May mắn lắm thì cuộc đấu tranh của chúng ta ở Việt Nam sẽ là lâu dài. Dường như điều quan trọng đối với chúng ta là phải làm rõ thực tế cơ bản này và sự hiểu biết của chúng ta về thực tế đó cũng phải được làm cho chính nhân dân chúng ta hiểu rõ”1. Như tôi sẽ liên hệ lại, chuyện đó đã không diễn ra như vậy.
Mac trình bày báo cáo của ông tại một cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia ngày 8/2/1965, với sự tham gia của các vị lãnh đạo Quốc hội. Tổng thống ủng hộ chương trình ném bom dự kiến nhưng miêu tả nó như một bước để đánh bại xâm lược “mà không leo thang chiến tranh”. Rõ ràng, đây là một tuyên bố không thành thực, hoàn toàn phớt lờ đi tầm vóc của sự thay đổi trong hoạt động quân sự của Mỹ do chương trình đó tạo ra. Johnson biết điều đó, nhưng do sợ ảnh hưởng của nó đối với dư luận, ông đã chọn cách che giấu những bình luận của ông và hy vọng vào những bình luận của người khác: trả lời câu hỏi của Thương nghị sĩ Everett Dirksen rằng ông sẽ nói gì với báo chí, Johnson nhắc ông không được ngụ ý rằng Mỹ đang tìm cách “mở rộng chiến tranh”2.
Mặc dù Tổng thống giữ không cho dư luận biết về sự thay đổi chính sách này, ông đã tìm lời khuyên của một số người có kinh nghiệm ngoài Chính phủ, đặc biệt là cựu Tổng thống Eisenhower. Ông đề nghị Trung tướng Andrew Goodpaster, cựu trợ lý quân sự của Ike, và đồng thời là thành viên của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, báo cáo cho ông cựu Tổng thống. Ông cũng mời Eisenhower gặp ông và các cố vấn cao cấp của ông tại Nhà Trắng.
Tôi đã dự cuộc họp hôm 17/2, Tổng thống, Mac, Bus Wheeler, Andy Goodpaster và tôi – tất cả đều là các sĩ quan trẻ trong Chiến tranh thế giới thứ II - tập trung xung quanh bàn nội các trong hai tiếng rưỡi chiều hôm đó để nghe ý kiến của ông Trung tướng về quyết định ném bom và về Việt Nam nói chung. Ike mở đầu bằng lời phát biểu rằng nhiệm vụ đầu tiên của Johnson là ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Thế rồi ông nói rằng ném bom sẽ giúp đạt được mục tiêu đó. Nó sẽ không chấm dứt sự xâm nhập, nhưng sẽ góp phần làm suy yếu ý chí của Hà Nội muốn tiếp tục cuộc chiến. Vì vậy, ông tin rằng đã đến lúc Tổng thống phải chuyển từ các cuộc tiến công trả đũa sang một “chiến dịch gây sức ép”. Khi có một vị mà tôi không nhớ tên nói rằng cần phải có một lực lượng rất lớn gồm 8 sư đoàn Mỹ để ngăn cộng sản chiếm lại Nam Việt Nam, Eisenhower nói ông ta hy vọng sẽ không cần đến như vậy. Ông nói nếu Trung Quốc hoặc Liên Xô đe doạ can thiệp, thì “chúng ta sẽ chuyển lời tới họ rằng hãy coi chừng, nếu không muốn hậu quả khủng khiếp (ví dụ như tiến công hạt nhân) sẽ xảy ra với họ”3. _______________________________________ 1. McGeorge Bundy gửi Tổng thống, 7/2/1965, “T. 3, MỤC 29, 2/8/65 Tình hình ở Việt Nam, Mục B”, Hồ sơ các cuộc họp của NSC (viết tắt là NSCMF), Hộp số 1, NSF, LBJL và phụ lục A, “Chính sách trả đũa được chấp nhận” (do McNaughton soạn thảo cho Bundy), “McGeorgc Bundy - Bảo cáo gửi Tổng thống, t.8, 1/1-2/28/65”, Hồ sơ phụ, McGeorge Bundy, Hộp số 2, sách đã dẫn. 2. Bản tóm lược cuộc họp lần thứ 547 của NSC, 8/2/1965, “T. 3, - Mục 29, 2/8/65, tình hình ở Việt Nam”, NSCMF, Hộp số 1, sách đã dẫn. 3. Báo cáo về cuộc họp với tổng thống, 17/2/1965 (của Goodpaster), “17/2/1965 - 10 giờ sáng. Cuộc họp với Tướng Eisenhower và những người khác”, Hộp số 1, MNF, sách đã dẫn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #74 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:25:57 am » |
|
Những lời lẽ mạnh mẽ của Ike được nhắc lại trong bản ghi nhớ hiếm có và mạnh mẽ của Dean Rusk gửi Tổng thống. Trong bức thư đó ông ta nói: “Tôi tin rằng sẽ là thảm hoạ cho Mỹ và Thế giới tự do nếu để cho Đông Nam Á bị miền Bắc cộng sản tràn qua”. Ông ta nói thêm: “Tôi cũng tin rằng cần phải làm mọi việc có thể để đẩy lùi cuộc xâm lăng của Hà Nội và Việt cộng, thậm chí dù có mạo hiểm tiến hành leo thang lớn”. Về việc rút quân, Dean viết: “Không thể chấp nhận thương lượng để che đậy cho việc bỏ rơi Đông Nam Á vào tay cộng sản Bắc Việt Nam”1.
Cuối cùng, Tổng thống đã quyết định hôm 17/2 rằng cuộc tiến công thường xuyên miền Bắc sẽ bắt đầu, nhưng ông lại từ chối lời đề nghị của Mac là phải thông báo công khai quyết định này. Lời phán quyết này cuối cùng đã làm cho Tổng thống phải trả giá rất đắt. Vào tháng 2/1965, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy người dân Mỹ ủng hộ mạnh mẽ chính sách Việt Nam của ông. Khi được hỏi “Nước Mỹ nên tiếp tục cố gắng hiện nay của mình ở Nam Việt Nam hay nên rút các lực lượng của chúng ta ra?”, 64% đã ủng hộ “tiếp tục” và chỉ có 18% ủng hộ “rút quân”. Nhưng những con số này thay đổi mạnh trong 3 năm sau, do sự thiếu thành thực liên tiếp của Tổng thống đã làm giảm lòng tin của dân chúng vào tính tin cậy và khả năng lãnh đạo của ông2.
Tại sao Tổng thống Johnson không chịu tin nhân dân Mỹ? Một số người lấy tính kín đáo của ông làm lý do, nhưng câu trả lời thì phức tạp hơn thế nhiều. Có hai nhân tố đặc biệt ảnh hưởng tới ông. Một là, sự lo lắng ám ảnh ông là làm sao để được Quốc hội tán thành và tài trợ cho chương trình nghị sự Xã hội vĩ đại của ông; ông không muốn bất cứ cái gì có thể làm sao nhãng sự quan tâm và giảm bớt nguồn tài lực vào các cuộc cải cách đối nội mà ông ấp ủ. Nhân tố thứ hai là ông rất ngại sức ép của phái bảo thủ của cả hai đảng đòi có hành động quân sự lớn hơn, liều lĩnh hơn, điều đó có thể gây ra các phản ứng, đặc biệt là bằng vũ khí hạt nhân của Trung Quốc và/hoặc Liên Xô. Tổng thống đã đối phó với tình thế tiến thoái lưỡng nan của ông bằng cách che giấu nó đi - một hành động không khôn ngoan, và rốt cuộc mang tính tự hủy hoại mình.
Nỗi sợ thất bại ở Việt Nam đã khiến Tổng thống Johnson chấp nhận ném bom, bỏ qua mọi do dự của ông về tính bất ổn định của Nam Việt Nam*3. Kết quả là, việc ném bom kéo dài của Mỹ chống Bắc Việt Nam được giấu kín dư luận Mỹ, cuối cùng, đã bắt đầu vào ngày 2/3. Hôm đó, hơn 100 máy bay, được phóng từ các tàu sân bay ở biển Nam Trung Hoa và từ các căn cứ không quân ở Nam Việt Nam đã tiến công một kho vũ khí ở Bắc Việt Nam. Chương trình không quân được gọi là chiến dịch “Sấm Rền” đã bắt đầu. Nó kéo dài trong ba năm và khối lượng bom thả ở Việt Nam đã lớn hơn ở toàn châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ II. __________________________________ 1. Dean Rusk gửi Tổng thống, 23/2/1965, “Triển khai”, t.2, các mục 61-87, NSCH, Hộp số 40, NSF, LBJL. 2. Xem George Gallup, “Ném bom Việt Nam đạt được sự đồng ý của 67% dân chúng Mỹ”, Washington Post, 16/2/1965. * Không gì có thể gạt bỏ những nỗi lo sợ đó, kể cả bản ghi nhớ ngày 5/10/1964 của George Ball mà như tôi đã nói, George đã chuyển tới Tổng thống thông qua Bill Moyers ngày 24/2, và Johnson đã đề nghị phải đưa ra bàn ngày 26/2. Trước đó bản ghi nhớ đó đã được thay thế bằng một bản thứ 2 mà George đệ trình ngày 13/2 (Mac, Tommy Thompson và tôi tán thành bản này), chủ trương ném bom như một phương tiện để “tăng thế mặc cả của Mỹ… tới khi có khả năng đạt một giải pháp chính trị thoả đáng”. Theo bình luận của Ike, bản ghi nhớ của Dean và sự thay đổi lập trường của George, thì hậu quả đã được định sẵn trước cuộc họp ngày 26/2. 3. Xem George Ball gửi Tổng thống, 13/2/1965, “Triển khai”, t.1, các mục 42-60, NSCH, Hộp số 40, NSF, LBJL.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #75 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:27:06 am » |
|
Chiến tranh tự tạo đà cho chính nó và tuân theo quy luật, nhưng hậu quả không được lường trước. Việt Nam đã chứng tỏ không phải là trường hợp ngoại lệ. Việc Tổng thống Johnson ra lệnh mở chiến dịch “Sấm Rền” không những chỉ bắt đầu một cuộc kháng chiến, mà còn bất ngờ khơi mào việc đưa quân đội Mỹ vào tham chiến trên bộ.
Trong lúc Mỹ gia tăng việc chuẩn bị oanh tạc bằng không quân vào tháng 2, Westy đã tìm kiếm thêm lực lượng trên bộ để bảo vệ các căn cứ không quân, nơi xuất phát các cuộc oanh tạc. Ông ta bắt đầu đề nghị đưa hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ đến Đà Nẵng. Đề nghị này đã làm Max phải giật mình và cảnh giác. Mặc dù Max thúc giục cuộc không chiến, ông ta vẫn chống lại mạnh mẽ việc triển khai quân trên mặt đất, và ông đã lập tức điện về Washington, bác lại đề nghị của Westy. Sau này Max nói: “Một khi anh đưa người lính đầu tiên cập bến, anh không thể biết được sẽ có bao nhiêu người lính khác sẽ theo sau anh ta”1. Nhưng nhu cầu đã trở nên cấp bách và việc chuyển quân dường như còn hạn chế, và bên cạnh đó, làm sao Tổng thống có thể bác lời vị Tư lệnh mặt trận đề nghị gửi quân trên bộ để bảo vệ sinh mạng của những phi công Mỹ? Johnson đã chấp nhận đề nghị của Westy.
Một số người cho rằng Westy và các Tham mưu trưởng liên quân muốn triển khai quân lớn hơn nhiều - một học giả đã gọi đây là chiến lược “đưa một chân vào trong cửa” - khi họ lần đầu đề nghị đưa lính thủy đánh bộ vào bảo vệ các căn cứ không quân Nam Việt Nam đang phát động các cuộc tiến công “Sấm Rền”. Theo suy luận, những người này cho rằng Westy và Tham mưu trưởng liên quân đã giấu Tổng thống và tôi ý định rõ ràng của họ muốn khởi đầu bằng việc triển khai quân nhỏ và biết chắc rằng điều này tất yếu sẽ dẫn đến nhiều cuộc triển khai quân lớn hơn”2.
Tôi không thấy bị thuyết phục. Tất cả chúng tôi đáng lẽ phải lường trước nhu cầu đưa quân trên bộ tham chiến ngay từ khi chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên bay tới Nam Việt Nam - nhưng chúng tôi đã không làm điều đó. Vấn đề không phải là ở việc cố đánh lừa, mà là ở chỗ không tiên đoán được ảnh hưởng của những hành động của chúng tôi. Nếu chúng tôi làm như vậy, thì chúng tôi cũng đã có thể hành động theo cách khác đi.
Cũng nên lưu ý rằng vào lúc đó ý kiến của các Tham mưu trưởng liên quân bị chia rẽ sâu sắc về chiến lược phù hợp phải theo đuổi ở Việt Nam. Mặc dù họ nhất trí tán thành cuộc không chiến trong bản ghi nhớ ngày 11/2 gửi tôi, Tướng Bruce Palmer (Jr.), lúc đó là Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội, sau này đã nói rằng:
Quân đội Mỹ đã không cho rằng việc ném bom Bắc Việt Nam sẽ mang lại kết quả mong muốn, và Hải quân cũng không chắc về điều này. Chính Không quân và Quân đoàn lính thủy đánh bộ là những người chủ xướng mạnh mẽ việc dùng không lực. Chính Tướng Wheeler đã thuyết phục các Tham mưu trưởng liên quân trình một văn bản đã được thống nhất với lý lẽ rằng nếu chúng ta trình một bản còn có những ý kiến khác nhau, thì điều này sẽ dành cho Bộ trưởng Quốc phòng một sự phán xét quân sự cơ bản và đặt ông ta và Tổng thống vào điểm khó là phải quyết định.
Khi nhận xét những nhà vạch chính sách của quân đội, Palmer nói thêm: “Điểm sai lầm của tôi là đã đồng ý trong một quyết định của Tham mưu trưởng liên quân cho tiến hành và thử những việc này... để xem nó có hiệu quả không”3.
Sau này, Westy cũng đã nói rằng ông đã chống lại việc ném bom kéo dài trước khi đưa Lục quân Mỹ vào Nam Việt Nam. “Thực sự, về nguyên tắc, tôi đã không ủng hộ chiến dịch ném bom cho đến tận năm 1966, khi tôi có đủ quân để tự bảo vệ họ”. Ông tán thành chiến dịch “Sấm Rền” không phải vì ông tin nó sẽ ảnh hưởng đáng kể tới ý chí hoặc khả năng của miền Bắc tái chi viện miền Nam, mà chỉ vì hy vọng nó có thể tăng thêm tinh thần chiến đấu của Nam Việt Nam mà thôi4. _______________________________________ 1. Trích dẫn trong Gốc rễ của sự dính líu: Mỹ ở Việt Nam, Marvin Kalb và Elie Abel (New York: Norton, 1971), tr. 184. 2. George C. Herring đã tranh cãi về điểm này trong văn kiện được giao cho Hội thảo về Việt Nam tại Thư viện Lyndon B. Johnson vào tháng 10/1993. 3. Xem Cuộc chiến tranh lần thứ hai ở Đông Dương do John Schlight hiệu đính (Washington: Văn phòng in ấn của Chính phủ Mỹ, 1986), tr. 154; và Trả lời phỏng vấn của Tướng Bruce Palmer (Jr.), năm 1975, Chuyên viên chính của Chương trình Lịch sử truyền miệng, Viện Nghiên cứu Lịch sử Quân đội và Quân sự Mỹ, Carlisle Barrack, bang Pennsylvania. 4. Sở Nghiên cứu của Quốc hội (viết tắt là CRS), trả lời phỏng vấn của Tướng William C. Weslmoreland, 15/11/1978.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #76 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:28:16 am » |
|
Các sĩ quan cao cấp của quân đội và tư lệnh mặt trận tỏ ra thực tế hơn các tư lệnh không quân cao cấp về tiềm năng của không lực ở Việt Nam. Về phần mình, các tướng lĩnh không quân cao cấp và các đô đốc hải quân có lẽ cũng thực tế như vậy về sự hạn chế của các hoạt động của lục quân.
Mỗi bên đều có thể thấy rõ điểm yếu của bên kia mà không thể nhận ra tính hạn chế của chính mình. Tôi đã chia sẻ sự hoài nghi của cả hai nhóm, nhưng tôi đã không cảm thấy - và tôi cũng không được biết tới sự mâu thuẫn quan trọng đang bộc lộ ra giữa họ với nhau. Vì thế mà những mâu thuẫn đó chưa bao giờ được tranh luận ở cấp cao nhất. Đáng lẽ nên bàn bạc kỹ về chúng.
Tổng thống luôn hoài nghi về những gì mà việc ném bom có thể đạt được. Ông muốn có nhiều tiến bộ trên bộ ở Nam Việt Nam hơn. Ngày 2/3, ông ra lệnh cho Tổng Tham mưu trưởng quân đội, Tướng Harold K. Johnson đi Sài Gòn để đánh giá tình hình và cho ông biết cần phải làm gì thêm.
Tổng thống đã cử đi con người tốt nhất. “HK” Johnson đã từng qua được tháng 3 chết chóc ở Bataan và nếm chịu ba năm thiếu thốn và phải làm tù binh chiến tranh của Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ II. Từ những kinh nghiệm đó, ông ta đã xây dựng một ý chí sắt đá, tinh thần dẻo dai kiệt xuất và một tính cách mạnh mẽ*.
Tướng Johnson đã nghe thấy sự đánh giá ảm đạm khi ông tới Sài Gòn. Max nói với ông ta: “vấn đề cơ bản chưa được giải quyết” là tình hình thiếu an ninh cho người dân Nam Việt Nam; vấn đề này chủ yếu xuất phát từ việc chúng ta không có khả năng giành áp đảo về số lượng thậm chí năm đấu một với Việt cộng, trong khi những chiến dịch chống nổi dậy thành công gần đây như ở Philippin và Malaixia cho thấy sự cần thiết phải áp đảo về số lượng - mười hay thậm chí hai mươi đấu một. Westmoreland kiến nghị Mỹ nên áp dụng “bất cứ biện pháp nào cần thiết để làm hoãn lại mãi mãi ngày sụp đổ”.
Vì vậy, không ngạc nhiên gì khi Tướng Johnson chuẩn bị báo cáo của mình đã cho cả một đề nghị tăng thêm lính bộ binh. Trong số những đề nghị khác, ông đề xuất mở rộng chiến dịch không kích Bắc Việt Nam; thiết lập một đội quân đa quốc gia chống xâm nhập vẫn chuyển dọc Khu phi quân sự (DMZ); và triển khai một sư đoàn của Mỹ gồm khoảng 16.000 quân gần Sài Còn hoặc ở cao nguyên miền Trung ở phía bắc thành phố.
Ngày 15/3 Tổng thống và tôi đã gặp Tướng Johnson và các Tham mưu trưởng khác tại Nhà Trắng để xem xét bản báo cáo của ông ta. Tại cuộc họp, Tướng Johnson đã ước tính là với 500.000 lính Mỹ thì phải mất năm năm mới có thể giành chiến thắng1. Ước tính của ông ta đã làm cho không chỉ tôi và Tổng thống, mà cả các Tham mưu trưởng khác nữa phải sửng sốt. Không ai trong chúng tôi đã từng nghĩ tới những con số như vậy. ________________________________________ * Những đức tính đó đã làm cho ông trở thành tiêu biểu cho những gì tôi chứng kiến và ngưỡng mộ trong rất nhiều nhà lãnh đạo quân sự Mỹ lão luyện khác mà tôi đã có dịp phục vụ như: Max Taylor, Bus Wheeler, Westy Westmoreland, George Brown, Larry Norstad, Dave Shoup, Arleigh Burke, Dave Mac Donald, Andy Goodpaster và nhiều người khác. Những con người đó và những người kế vị của họ hôm nay không phải là những kẻ hiếu chiến thích bóp cò như lối những ai không biết gì về quân sự miêu tả về họ. Chẳng hạn, bộ phim “JFK” mang tính tưởng tượng của Oliver Stone có cảnh trong cuộc tranh cử 1964, Tổng thống Johnson như muốn nói: “Thưa các quý vị, các vị dành lá phiếu bầu cho tôi và tôi sẽ dành cho các vị chiến tranh”. Cảnh như vậy là bất nhã vì tất cả chúng ta nghĩ những người này đã đặt tính mạng của họ và của những con người mà họ có trách nhiệm trước nguy nan và dẫn họ vào trận. Nói rằng những nhà lãnh đạo quân sự muốn chiến tranh là hiểu lầm động cơ của họ. Như tôi nêu rõ trong toàn bộ cuốn sách này, tôi không bao giờ ngại bất đồng ý kiến với các Tham mưu trưởng liên quân khi tôi cho rằng họ đã thiển cận trong tầm nhìn và sai lầm trong phán quyết; nhưng tôi không bao giờ quên rằng họ và những người lính, thủy thủ, phi công thuộc mọi cấp mà họ chỉ huy có một động cơ là lòng mong muốn sâu sắc và cao thượng được phục vụ đất nước mình và sẵn sàng hy sinh tính mạng khi cần để đạt mục tiêu đó. 1. Tướng Andrew Goodpaster trả lời phỏng vấn của CRS ngày 16/11/1978.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #77 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:28:49 am » |
|
Cũng khoảng thời gian này, một sự việc khác xảy ra mặc dù không liên quan tới cuộc chiến tranh, nhưng đã làm rõ một điểm quan yếu, đó là tất cả những người đang đấu tranh với Việt Nam, nhưng chủ yếu là Tổng thống, mỗi ngày gặp phải hàng trăm vấn đề. Ngày 17/3, Mục sư Martin Luther Kinh (Jr.) và các môn đệ của mình đã giành được quyền từ Toà án liên bang cho phép họ tuần hành từ Selma tới Montgomery và Alabama, mà không bị cản trở và không bị quấy rối, để phản đối việc tước quyền bầu cử của người da đen ở miền Nam. Chúng tôi đã nhận được các tin tức tình báo cho biết họ sẽ bị các nhóm bạo lực phân biệt chủng tộc của người da trắng chặn lại. Thống đốc bang Alabama George Wallace đã từ chối sự bảo vệ của bang đối với những người tuần hành, mặc dù ông ta cũng nhận được những tin tức đó.
Tôi nói với Tổng thống Johnson rằng ông ta phải thực thi quyền lực của mình với tư cách là Tổng tư lệnh để liên bang hoá Lực lượng bảo vệ quốc gia của bang Alabama, rồi từ đó tước quyền kiểm soát “không làm gì” của Thống đốc Wallace. Tổng thống đã thẳng thừng từ chối.
Khi tôi kiên quyết phản đối, Tổng thống đã nói: “Bob ạ, đó chính là điều không ổn đối với anh. Đơn giản là anh không hiểu chính trị. Nhiều người dân Alabama sẽ nổi giận trước bất cứ cuộc bạo lực nào do việc Wallace không ra tay, đến nỗi họ sẽ chôn vùi ông ta trong cuộc bầu cử tới đây. Đó là điều tôi mong muốn”.
Tôi nói với Tổng thống: “Tôi cũng muốn chôn vùi thằng cha Wallace như ngài mong muốn vậy, nhưng tôi không muốn thấy hàng chục nếu không phải là hàng trăm người bị thương hay bị giết trong cuộc tuần hành”.
Johnson đã miễn cưỡng nhượng bộ.
Từ ngày 21 đến 24/3/1965 đã diễn ra cuộc tuần hành lịch sử từ Selma tới Montgomery. Quân đội liên bang và cảnh sát Mỹ xếp dọc đường đi đã hạn chế nhiều hành động bạo lực, mặc dầu một người tham gia tuần hành, chị Viola Liuzzo, đã bị bắn chết trên xe hơi.
Đêm sau cuộc tuần hành, khoảng 9 giờ tối, tôi từ Lầu Năm Góc trở về nhà mệt mỏi và đói bụng thì thấy đứa con đầu của chúng tôi, Margy, đang ngồi chờ tôi. Con bé trở về nhà để nghỉ lễ cùng tôi và mẹ nó. Vui mừng vì gặp lại con, tôi hỏi con bé xem chuyến đi về có thú vị không.
Con bé trả lời: “Ôi bố ơi, thật kinh khủng! Con đã ở trên xe buýt 33 giờ đồng hồ”.
Tôi hỏi: “Lạy Chúa, tại sao lại thế?”.
“Con đã tham gia cuộc tuần hành của Martin Luther Kinh từ Selma đến Montgomery”. Lập tức tôi gọi điện thoại cho LBJ và nói: “Thưa ngài Tổng thống, tôi biết ngài đã đau đớn nhường nào về quyết định liên bang hoá Lực lượng bảo vệ bang Alabama. Nhưng vì biết ngài yêu quý cháu Margy, nên tôi chắc giờ đây ngài sẽ nhận thấy mình đã hành động đúng. Con bé là một trong những người tham gia tuần hành!”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #78 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:29:56 am » |
|
Những chia rẽ quanh vấn đề Việt Nam vẫn sâu sắc. Những chia rẽ này được phân ra làm nhiều loại. Một số người vẫn tiếp tục ủng hộ ném bom miền Bắc. Một số khác tin là để giải quyết được cuộc xung đột cần phải có chiến thắng ở miền Nam. Tuy vậy, vẫn có một số người dần dần tin là chúng tôi không thể chiến thắng và do đó, nước Mỹ phải theo đuổi đàm phán. Sẽ là sai lầm nếu quá đơn giản hoá vấn đề bằng cách phân loại những người có quan điểm lúc thế này lúc thế khác, nhưng cũng không sai nếu nói đơn giản là chúng tôi, với tư cách là một chính phủ, đã không quan tâm tới những vấn đề cốt lõi hay giải quyết được vấn đề.
Những hành động của chúng tôi trong mùa xuân và hè năm 1965 đã minh chứng cho quan điểm này khi chúng tôi liên tiếp giải quyết các yêu cầu tăng thêm quân. Ngày 17/3, Westmoreland đã yêu cầu thêm một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ để đảm bảo an toàn cho căn cứ ở Đà Nẵng. Ngày 19/3, Oley Sharp vẫn đòi thêm một tiểu đoàn nữa. Ngày hôm sau, Hội đồng Tham mưu trưởng đã đệ trình kế hoạch của riêng họ. Lo sợ đang thất bại trong cuộc chiến, họ thúc ép triển khai một sư đoàn lính thủy đánh bộ tới các tỉnh phía nam và một sư đoàn lính bộ binh tới cao nguyên miền Trung để tiến hành các chiến dịch tiến công. Một quyết định phủ bóng lên những cuộc triển khai quân lớn mới1.
Ngày 1/4, chúng tôi đã họp tại Nhà Trắng. Dean, Max và tôi đã chất vấn về tính đúng đắn của đề xuất của các Tham mưu trưởng. Tình cảm chống Mỹ đang âm ỷ bên trong miền Nam, việc đưa một số lượng quân Mỹ tới sẽ có nguy cơ làm cho nó bùng lên. Tổng thống đã chấp nhận đánh giá của chúng tôi. Chúng tôi phản đối đề xuất của các Tham mưu trưởng, nhưng chấp nhận đề nghị tăng thêm hai tiểu đoàn của Westmoreland và Oley, và quan trọng hơn là đã nhất trí thay đổi nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho căn cứ của quân lính thủy đánh bộ sang thường trực chiến đấu. Mặc dù chúng tôi cắt giảm triển khai quân, nhưng chúng tôi đã nới rộng đáng kể nhiệm vụ của họ. Lính bộ binh của Mỹ sẽ trực tiếp tham chiến2.
Việc Tổng thống chấp thuận tăng thêm quân Mỹ ở miền Nam và thay đổi nhiệm vụ của họ, mà trong lúc đó lại không tăng cường không kích miền Bắc, đã làm John McCone không thoải mái. Trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia ngày hôm sau (và trong một bức giác thư gửi cho Dean, Mac, Max và tôi), McCone đã mạnh mẽ thúc giục mở rộng chương trình ném bom với lý lẽ là chương trình hiện tại sẽ không buộc được Hà Nội thay đổi chính sách của họ.
Tôi đồng ý là chỉ bằng chương trình ném bom hiện nay, chúng tôi không thể buộc được Việt cộng và Bắc Việt Nam thay đổi chính sách của họ. Chỉ trừ một hai người trong số các Tham mưu trưởng liên quân, số còn lại đều cho rằng chỉ riêng ném bom sẽ không tạo ra được chuyển biến. Họ nhất trí là chương trình ném bom chỉ có hiệu quả nếu đồng thời có các hành động khác ở miền Nam để làm cho Việt cộng thấy rằng họ không thể thắng. Muốn làm được việc này cần tăng thêm lính bộ binh Mỹ để bổ sung cho những cố gắng yếu ớt của Quân đội Nam Việt Nam.
McCone không chấp nhận ý kiến này. Ông ta nghĩ là chúng tôi có thể đem lại một sự thay đổi thông qua chương trình ném bom. Tôi tin chúng tôi không thể làm được nếu không có sự giết chóc mà cả ông ta và những người khác đều không dám gợi ý3. Khi Mac soạn thảo bản chỉ thị thông báo về các quyết định ngày 1/4 của Tổng thống cho các bộ liên quan của Chính phủ, Johnson yêu cầu ông ta phải viết là “phải thận trọng tránh công khai khi chưa chín muồi. Bản thân các hành động không thể được tiến hành theo những cách hạn chế tối đa những chuyển biến đột ngột về chính sách... Mong muốn của Tổng thống là những hành động và thay đổi này phải được hiểu là dần dần và hoàn toàn phù hợp với chính sách hiện hành”4.
Những ngày sau, cả Dean, George, Max và tôi đều ra trước các uỷ ban của Quốc hội để chứng minh. Mỗi chúng tôi đều đảm bảo với các thính giả của chúng tôi rằng Tổng thống Johnson, theo lời George, có “chủ ý giữ mối tư vấn gần gũi nhất với Quốc hội về tất cả những động thái như thế này”. Nhưng những lời nói như vậy chỉ làm cho sự khác biệt về lòng tin vào chính quyền ngày càng lớn. ____________________________________ 1. Xem CINPAC 192207Z và Báo cáo của JCS 204-65, trích dẫn trong PP, t.3, tr. 406. 2. Xem Ghi chép của McGeorge Bundy tại cuộc họp này ngày 1/4/1965 lưu trong tài liệu của McGeorge Bundy, LBJL. 3. Xem “Nội dung cuộc họp NSC ngày 2/4/1965” do Chester Cooper ghi lại ngày 5/4, “T. 3, Mục 33, 4/2/65, Tình hình ở Nam Việt Nam”, NSCMF, Hộp số 1, NSF, LBJL; và McCone gửi Rusk và những người khác, ngày 2/4/1965, “Triển khai”, t.2, các mục 120-140, NSCH, Hộp số 40, LBJL. 4. Xem NSAM 328, 6/4/1965, in lại trong PP, t.3, tr. 702-703.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #79 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:30:54 am » |
|
Khi hành động quân sự của Mỹ tăng lên, một giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn luôn thường trực trong suy nghĩ của chúng tôi. Ngày 6/3, Mac đã báo cáo lên Tổng thống cuộc thảo luận với Dean và tôi đêm hôm trước:
Hai trong ba chúng tôi (ý nói ông ta và tôi) cho rằng những cơ hội của một sự chuyển biến ở Nam Việt Nam vẫn kém ổn định... Vẫn còn một câu hỏi trong tâm trí chúng tôi là chúng tôi nên mở rộng cửa đến chừng nào để sẵn sàng chấp nhận “đàm phán”. Đây là điểm mà Dean và đặc biệt là Bob hết sức quan tâm. Cả hai người, vì những lý do khác nhau, đều cho rằng điều quan trọng là phải thấy rằng chúng ta sẵn sàng đàm phán về Việt Nam luôn theo những điều kiện của chúng ta bằng tất cả các kênh quốc tế thích hợp... Nhưng Bob còn đi xa hơn thế nữa. Ông ta tin là chúng ta nên tìm cách để có được các cuộc đàm phán thực sự tại một hội nghị quốc tế. (Tôi cho rằng mục đích của ông ta là chúng ta sẽ cần một bàn hội nghị nếu tình hình trở nên xấu đi, như ông ta tin như vậy)1.
Mac đã truyền đạt chính xác mối quan tâm của tôi. Đến thời điểm này, năm 1965, tôi đã cho rằng chúng tôi phải tiến hành mọi nỗ lực để làm cho các cuộc đàm phán dẫn tới chỗ kết thúc cuộc xung đột. Đây vẫn là quan điểm của tôi cho tới khi tôi rời Lầu Năm Góc.
Đầu tháng 4 đã có hai đề án đàm phán. Tổng Thư ký Liên hợp quốc U Thant đã đề xuất một cuộc ngừng bắn dọc chiến tuyến giữa Bắc và Nam Việt Nam, và 17 quốc gia không liên kết kêu gọi đàm phán “không có các điều kiện tiên quyết”. Ngày 7/4, trong một bài phát biểu quan trọng tại trường Đại học Johns Hopkins, Tổng thống Johnson đã bác bỏ ý kiến đầu nhưng đáp lại đề xuất sau.
Trong bài phát biểu này, ông ta đã bày tỏ sự sẵn sàng đàm phán vô điều kiện. Đồng thời, Tổng thống nhấn mạnh: “Chúng ta sẽ không bị thất bại. Chúng ta sẽ không trở nên mệt mỏi. Chúng ta sẽ không rút lui hoặc công khai hoặc dưới bóng của một thoả thuận vô nghĩa... Và chúng ta phải chuẩn bị cho một cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn lâu dài”. Để tìm cách dụ Việt cộng và Bắc Việt Nam vào một thoả thuận, sau đó Tổng thống đã vạch ra một kế hoạch phát triển một tỷ đôla cho Đông Nam Á mà theo lời ông ta thì “trong tầm của một nỗ lực hợp tác và kiên quyết”2.
Ngay lập tức, Hà Nội lên án bài phát biểu và đưa ra công thức hoà bình “Bốn điểm” làm cơ sở cho việc hoà giải trong suốt cuộc xung đột. Họ đề nghị chúng tôi công nhận những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, kể cả quyền sống không có quân đội nước ngoài; rằng hai “miền” của Việt Nam tránh các liên minh quân sự với nước ngoài để chờ thống nhất; và việc thống nhất phải do nhân dân ở cả hai miền thực hiện. Tất cả những điều này chúng tôi đều có thể chấp nhận được. Nhưng điểm cuối cùng - “các công việc nội bộ của Nam Việt Nam phải do chính nhân dân Nam Việt Nam giải quyết phù hợp với chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Nam Việt Nam (tác giả nhấn mạnh) - rõ ràng là điểm then chốt của cuộc tranh chấp. Chấp nhận điểm này tức là chấp nhận quyền kiểm soát Nam Việt Nam của cộng sản. __________________________________ 1. McGeorge Bundy gửi Tổng thống, 6/3/1965, “Các báo cáo gửi Tổng thống, t.9, tháng 3-14/4/1965”, Các hồ sơ phụ, McGeorge Bundy, Hộp số 3, NSF, LBJL 2. Phát biểu tại Trường Đại học Tổng hợp Johns Hopkins: “Hoà bình không có xâm lăng”, 7/4/1965, Tài liệu công khai: Lyndon B. Johnson, 1965, q. 1, tr. 394-399.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|