Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:36:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam  (Đọc 109372 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #80 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:32:11 am »


Trong khi đó, các Tham mưu trưởng liên quân, CINCPAC, Westmoreland và tôi, tất cả vẫn giải quyết các sự vụ trên cơ sở từng ngày mà nhẽ ra chúng tôi, đặc biệt là tôi, với tư cách là Bộ trưởng, phải mạnh mẽ hơn nữa trong việc xây dựng một chiến lược quận sự và một kế hoạch lâu dài cho cơ cấu quân lực cần thiết để triển khai.

Ngày 6/4, CIA thông báo cho Tổng thống Johnson là Hà Nội đã chuyển một tiểu đoàn quân đội Bắc Việt Nam vào cao nguyên miền Trung và các đơn vị quân chính quy gần Đà Nẵng. Các Tham mưu trưởng đã đáp lại những diễn biến này bằng cách yêu cầu điều tới Nam Việt Nam thêm hai lữ đoàn nữa (khoảng 8.000 quân), Westmoreland đã tán thành đề nghị của họ nhưng Max thì không. Chỉ được biết về đề nghị này sau khi nó đã được đưa ra, nên Max đã tức giận gửi ngay một bức điện tới Nhà Trắng nói rằng: “Đề nghị này cho thấy sự ngần ngại dấn vào một cuộc chiến tranh trên bộ rõ hơn điều tôi đã bày tỏ ở Washington trong chuyến đi gần đây của tôi”1.

Cùng với tình hình ngày càng xấu đi và cảm giác là cần phải làm thêm điều gì đó, Tổng thống đã ngả theo hướng thông qua đề xuất của các Tham mưu trưởng. Tuy nhiên, do mối lo ngại của Max mà Tổng thống đã yêu cầu tôi gặp Max và các quan chức cấp cao khác ở Honolulu để xem xét yêu cầu triển khai thêm quân.

Ngày 20/4/1965 chúng tôi đã gặp nhau. Ngồi quanh một chiếc bàn hội nghị lớn dưới một hàng đồng hồ tại Sở chỉ huy Thái Bình Dương, chúng tôi bắt đầu bằng việc thảo luận chương trình ném bom Bắc Việt Nam. Một vài ngày trước, Max đã bày tỏ ý kiến của mình khi ông ta đánh điện cho Dean: “Không một mức độ bắn phá nào... sẽ buộc được Hà Nội ngừng các hành động của họ... mà cũng không có tiến triển thực sự trong việc chống Việt cộng ở Nam Việt Nam. Phải làm cho Hà Nội tin là Việt cộng không thể thắng được ở đây”.

Hoàn toàn đơn giản, ý ông ta nói rằng chỉ riêng ném bom thôi thì không thể làm được gì. Lúc đó tôi cũng đồng ý với kết luận này, tôi vẫn tiếp tục giữ ý kiến này trong suốt thời gian làm Bộ trưởng còn lại, và như sau này tôi sẽ bình luận, những năm sau tôi đã chẳng nhìn thấy gì, đọc được gì và nghe thấy gì cả để thay đổi ý kiến của mình. Mặc dù một, hai người trong Hội đồng Tham mưu trưởng không đồng tình với tôi (và quan điểm của tôi sau này đã gây ra tranh cãi gay gắt), nhưng mọi người tại cuộc họp – Max, Westmoreland, Bus, Oley, Bill Bundy và John McNaughton - đồng ý rằng ném bom không thôi không phải là giải pháp.

Do vậy, chúng tôi đã chuyển sự chú ý của mình vào điều có thể làm được ở miền Nam. Có sự nhất trí chung về việc cần tăng thêm quân Mỹ để giữ cho Sài Gòn khỏi sụp đổ. Nhưng bao nhiêu? Theo đuổi chiến lược gì? Với kết quả gì? Ở đây đã xuất hiện bất đồng đáng kể. Bus, Oley và Westmoreland lại nhắc lại đề nghị thêm hai sư đoàn cộng với hai lữ đoàn mà Max đã phản đối; và họ thêm các yêu cầu về lực lượng hỗ trợ hậu cần. Tổng số quân tham chiến đã lên tới xấp xỉ 60.000. Với sự ủng hộ của Max, tôi đã bác bỏ việc thêm hai sư đoàn vì không có giải trình rõ ràng về việc họ sẽ được sử dụng như thế nào, nhưng tôi đồng ý ủng hộ các yêu cầu khác. Điều này có nghĩa là một mức tăng đáng kể về lực lượng Mỹ ở Việt Nam, từ 33.000 lên 82.0002.

Tôi trình những kiến nghị của tôi lên Tổng thống trong một cuộc họp tại Phòng họp nội các ngày 21/4. Tôi thúc giục Tổng thống ngay lập tức thông qua con số triển khai quân để hỗ trợ Nam Việt Nam chống lại một cuộc tiến công theo dự đoán của cộng sản trong khi ngăn chặn “sự thất bại của Chính phủ Việt Nam (Nam Việt Nam) hay của quân đội Mỹ”. Tôi biết rằng số quân lớn như vậy cùng với nhiệm vụ chiến đấu mới của quân đội có nghĩa là sẽ không tránh khỏi con số thương vong cao và sự chú tâm sát sao hơn của công chúng tới cuộc chiến tranh. Cho nên, tôi đã giục Tổng thống Johnson thông báo cho các nhà lãnh đạo Quốc hội về cả “các cuộc triển khai quân dự tính” và “thay đổi gần đây- về nhiệm vụ của quân đội Mỹ ở Việt Nam”3. Nhưng Tổng thống không muốn làm như vậy và khi gửi điện cho Max thông báo về quyết định thông qua các kiến nghị ở Honolulu, ông đã viết: “Không phải chúng ta có ý định tuyên bố toàn bộ chương trình vào lúc này, nhưng sẽ công bố các cuộc triển khai riêng vào những thời điểm thích hợp”. Ngay sau đó, vào đầu tháng 5, Tổng thống đã trình bày một đề nghị bổ sung riêng trước Quốc hội với nội dung: “Đây không phải là một sự lạm dụng thông thường... Mỗi một nghị sĩ Quốc hội ủng hộ đề nghị này cũng sẽ bỏ phiếu tán thành nỗ lực của chúng ta nhằm chặn đứng sự xâm lược của cộng sản ở Nam Việt Nam”. Dự luật này đã được thông qua với số phiếu thuận 408-7 ở Hạ nghị viện và 88-3 ở Thượng nghị viện4.
________________________________________
1. Embtel 3248 (Sài Gòll), Taylor gửi Rusk, 7/4/1965, “T.32”, CF, Việt Nam, Hộp số 16, NSF, LBJL.
2. Xem John McNaughton, “Những phút giây ngày 20/4/1965 - cuộc họp ở Honolulu”, trong “McNaughton XV - Tạp văn, 1964- 1966”, Hồ sơ John McNaughton, Tài liệu của Paul Warnke (viết tắt là PPW), Hộp số 7, LBJL.
3. Báo cáo gửi Tổng thống, 21/4/1965, “Việt Nam 2EE, 1965-67” CF, VN, Hộp số 74/75, NSF, LBJL.
4. Xem Phác thảo của Rusk gửi Taylor, 22/4/1965, “T. 32”, CF, VN, Hộp số 16, NSF, LBJL; phác thảo cuối cùng có bổ sung, Deptel 2397, Rusk gửi Taylor, 22/4/1965, “NODIS-LOR, t.2(B)”, CF, VN, Hộp số 45/46, NSF, LBJL; và các cuộc họp báo của Tổng thống, 27/4/1965, Tài liệu công khai: Lyndon B. Johnson, 1965, q 1 tr. 448-456.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #81 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:33:16 am »


Phản ứng trước các kiến nghị được đưa ra tại Honolulu, George Ball, người cùng tham gia cuộc họp ngày 21/4, lập luận rằng chúng ta, “không nên mạo hiểm lao vào mà không khai thác các khả năng của một giải pháp”. Tổng thống trả lời: “Được, George ạ! Tôi cho anh, đến ngày mai phải lên cho tôi một kế hoạch về giải pháp. Nếu anh làm được, tôi sẽ hoàn toàn ủng hộ anh”1.

Đêm đó, Ball đệ trình lên Tổng thống một kế hoạch giải pháp. Ball bắt đầu bằng cách nói rằng: “Chúng ta phải trong tư thế sẵn sàng khi có một giải pháp xuất hiện trước khi đạt được cái đích mà chúng ta đã nói công khai, nhưng giải pháp đó vẫn phải đáp ứng các mục tiêu cơ bản của chúng ta (nghĩa là một Nam Việt Nam độc lập không bị cộng sản kiểm soát)”.

Không một ai trong chúng tôi - Tổng thống, Dean, Mac và tôi - bác bỏ quan điểm đó. Nhưng một lần nữa, tài liệu của Ball vẫn không nói được là làm thế nào để đạt được các mục tiêu chúng tôi cần có.

George nói chúng ta không nên chấp nhận một chính phủ liên hiệp kiểu của Lào, nhưng nên để cho đại diện của Việt cộng tham gia vào các cuộc bầu cử tự do. Ông nói thêm: “Tất nhiên, chúng ta không thể đồng ý về bất cứ một giải pháp nào về các điều khoản đó mà không đòi hỏi rằng các đơn vị Việt cộng ở miền Nam phải bị giải tán và Việt cộng phải hoà nhập vào đời sống dân tộc của đất nước này”. Tổng thống, Dean, Mac và tôi cũng đồng ý với điều này. Nhưng George không làm rõ được là làm thế nào đạt được các cuộc “bầu cử tự do” nếu Bắc Việt Nam khăng khăng đòi một giải pháp phải “phù hợp với chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”. Ông ta cũng không nói được phải làm thế nào để đạt được các mục tiêu khác mà ông ta đã nêu ra2.

Điều mà George đã thực sự đề nghị - mà có lẽ chúng tôi đã không làm được một cách cụ thể - là nhờ các nước trung gian (như Thuỵ Điển, Liên Xô, 17 nước không liên kết) nói rõ với Hà Nội rằng chúng tôi chấp nhận lập trường mà ông đã nêu ra. Trong vài tuần sau đó, chúng tôi có liên hệ với một đại diện của Bắc Việt Nam tại Paris. Chúng tôi đã cố gắng có được nhiều cuộc gặp gỡ khác trong ba năm tiếp theo. Nhưng chúng tôi đã không sử dụng hết các kênh tiếp xúc có thể có và đã không truyền đạt được rõ ràng lập trường của chúng tôi.

Mấy ngày sau, tôi bảo John McNaughton soạn thảo một đề nghị ngừng ném bom một tuần. Tôi hy vọng đề nghị đó sẽ dẫn đến việc Hà Nội ngồi vào thương lượng và giảm sự ủng hộ đối với quân nổi dậy, qua đó tăng cường sự ủng hộ ở trong nước và quốc tế đối với chính sách của chính quyền Mỹ. Giống như mọi đề nghị ngừng ném bom sau này của tôi, nó đã gây ra những tranh cãi đáng kể trong nước. Nhiều vị chỉ huy quân sự cao cấp phản đối vì họ e rằng Bắc Việt Nam sẽ lợi dụng đề nghị đó để tăng cường thâm nhập. Một số cố vấn của Tổng thống sợ rằng Hà Nội sẽ lừa chúng ta vào tròng bằng cách chấp nhận đàm phán nếu Mỹ tiếp tục ngừng ném bom, từ đó Bắc Việt Nam sẽ duy trì, thậm chí tăng cường ủng hộ Việt cộng với sự bảo đảm không có ném bom. Còn số khác sợ rằng cánh hữu ở Mỹ sẽ cho đây là một hành động yếu kém và đòi ném bom nhiều hơn nữa nếu như nó không nhanh chóng đem lại kết quả.

Nhưng trong mấy tuần gần đây, những lời chỉ trích chính sách Việt Nam của Tổng thống Johnson nổi lên đáng kể trong các nghị sĩ Quốc hội và các nhân sĩ tự do, và Tổng thống Johnson phiền muộn phải tìm cách trả lời và làm dịu những lời chỉ trích đó. Chính điều này, chứ không phải một niềm tin cá nhân rằng ngừng ném bom ở giai đoạn này sẽ dẫn đến đàm phán, đã dẫn Tổng thống đến việc chấp nhận đề nghị của tôi.

Dẫu sao thì một cuộc ngừng ném bom không tuyên bố đã bắt đầu ngày 13/5. Cùng ngày hôm đó, Đại sứ Mỹ tại Matxcơva, Foy Kohler nhận được chỉ thị chuyển thông điệp cho Đại sứ Bắc Việt Nam tại đây. Bản thông điệp viết “Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã xem xét các ý kiến... của các đại diện của Hà Nội là sẽ không có hoà bình nếu còn các trận oanh kích vào Bắc Việt Nam... Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sẽ rất thận trọng xem xem liệu trong thời gian ngừng ném bom này phía Hà Nội có giảm đáng kể các hoạt động quân sự của Việt cộng và Bắc Việt Nam hay không”3. Đại sứ Hà Nội từ chối không gặp Kohler. Tối hôm đó, một quan chức ngoại giao Mỹ cấp thấp hơn đã gửi tay bức thông điệp đến Đại sứ quán Bắc Việt Nam. Bức thông điệp không một lời nhận xét được nhét trong một phong bì màu trắng toát, bên ngoại ghi “Đại sứ quán Mỹ” được gửi trả lại vào sáng hôm sau.

Bị cự tuyệt và lo ngại cánh hữu chỉ trích, Tổng thống nói ông dự định nối lại các cuộc ném bom khi họp nội các vào ngày 16/5. Tôi nài xin Tổng thống khoan hãy làm như vậy, và cho rằng chúng ta phải theo kế hoạch ban đầu ngừng ném bom trong bảy ngày để Hà Nội có thời gian suy nghĩ cách trả lời. Nhưng Tổng thống nghĩ rằng nếu Hà Nội quan tâm thì họ đã phải trả lời rồi. Cuối cùng, chúng tôi thoả hiệp là ngừng ném bom sáu ngày. Chiến dịch ném bom tiếp tục vào ngày 18/5.
_______________________________________
1. Trích dẫn của Johnson trong Quá khứ có thêm dạng mới: Các hồi ký, George W. Ball, (New York: Norton, 1982), tr. 393.
2. Ball gửi Johnson, 21/4/1965, “Các tài liệu về đường lối chính trị, 4/65”, CF, VN, Hộp số 213, NSF, LBJL.
3. Xem Hoạt động ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam: Văn kiện hội đàm trong tài liệu của Lầu Năm Góc, do George C. Herring hiệu đính (Austin: Nhà xuất bản Trường Đại học Tổng hợp Texas, 1983), tr. 57-58.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #82 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:34:33 am »


Ba tuần tiếp theo đó là quãng thời gian đầy lo âu và thất vọng của Tổng thống và chúng tôi, những cố vấn của ông. Tình hình bất ổn định chính trị ở Nam Việt Nam trở nên trầm trọng hơn – nếu có khả năng. Những người Thiên chúa giáo và Phật giáo trong và ngoài quân đội âm mưu chống lại chính quyền quân sự của Phan Huy Quát. Một cuộc đảo chính vừa thất bại thì tiếp theo là một cuộc đảo chính khác do các sĩ quan trẻ thực hiện đã thành công. Họ lập tướng Nguyễn Văn Thiệu, 42 tuổi làm người đứng đầu nhà nước và tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ, 35 tuổi làm Thủ tướng. Phó Đại sứ Mỹ Alex Johnson mô tả Kỳ như là “một tên lửa không điều khiển”. Ông ta là con người như vậy. Ông ta uống rượu, đánh bạc và chơi gái khủng khiếp. Ông ta ăn mặc rất phô trương; thường tôi thấy ông ta mặc một bộ quần áo bay mầu đen có khoá kéo, dây lưng có hai khẩu súng lục cán khảm trai. Ông ta còn có những câu nói thái quá: khi được hỏi ông ngưỡng mộ ai nhất. Ông ta trả lời: “Tôi ngưỡng mộ Hítle... Chúng ta cần bốn hoặc năm Hítle ở Việt Nam”. Bill Bundy sau này,nhận xét Kỳ và Thiệu là “những kẻ trống rỗng, hoàn toàn trống rỗng”1.

Trong khi đó, tính kém hiệu quả của việc ném bom làm tăng thêm sức ép mở rộng chiến tranh trên bộ. Ngày 3/6, Max điện về Washington: “Chúng ta phải thấy rõ rằng chúng ta không tin là bất cứ một khối lượng bom nào tự bản thân nó có thể ngăn được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (DRV) chấm dứt và từ bỏ hoạt động quân sự của họ ở miền Nam. Một sự thay đổi như vậy trong thái độ của DRV chỉ có thể xảy ra khi ở phía họ cũng có sự nhận thức rằng thủy triều đã hoặc sẽ cuốn trôi họ ở miền Nam”2.

Hai hôm sau; anh ta lại gửi một bức điện nữa mô tả quân đội Nam Việt Nam mắc căn bệnh trầm trọng do sự chỉ huy tồi, tệ đào ngũ và trượt nhanh trên con đường sụp đổ. Là người nhiều tháng qua chống lại việc đưa quân Mỹ vào chiến đấu ở miền Nam, giờ đây Max rút lui ý kiến của mình, viết rất cần thiết phải có lực lượng bộ binh Mỹ chiến đấu trên chiến trường”3.

Chiều thứ bẩy, ngày 5/6, Dean, Mac, Bill, George, Tommy Thompson và tôi họp tại văn phòng của Dean để thảo luận về bức điện của Max. Đột nhiên và ngoài dự kiến, Tổng thống bước vào. Rõ ràng là Tổng thống đi có một mình. Bà Bird đi vắng. Tổng thống nói, ông đến để kiếm vài người đi cùng. Nhưng cái mà ông được lại là một gáo nước lạnh.

Càng đọc điện của Max, ông càng lo lắng. Dean cố tỏ ra còn hy vọng, nhưng tôi nói: “Chúng ta không tìm thấy gì ngoài sự bế tắc ở miền Nam, chúng ta có thể chiến thắng trong cuộc chiến này không? Tôi không biết. Cộng sản vẫn luôn nghĩ rằng họ đang thắng”.

Tổng thống lắng nghe. Ông tỏ ra bồn chồn và lo lắng. Ông kết luận một cách đen tối: “Điều nguy hiểm nhất là ngày nào chúng ta cũng sẽ vớ được một vấn đề rất lớn”4.

Tổng thống đã rất đúng.

“Quả bom” đã nổ vào ngày 7/6, Hôm đó, Westy đã gửi một bức điện về Lầu Năm Góc, nói rằng:

“Cuộc chiến ở Đông Nam Á đang trong quá trình tiến đến một mức độ cao hơn. Một số lực lượng PAVN (Bắc Việt Nam) đã vào Nam Việt Nam (SVN) và có thể còn rất nhiều lực lượng đang trên đường vào... Cho đến nay, Việt cộng chưa sử dụng hết khả năng của họ trong chiến dịch này... Trái lại, lực lượng ARVN (quân đội Nam Việt Nam) đã nếm mùi thất bại khi phải đương đầu với sức mạnh bổ sung của Việt cộng. Tỷ lệ quân đào ngũ cao quá mức. Thiệt hại trên chiến trường cao hơn nhiều so với dự kiến... Do đó, quân đội Nam Việt Nam (ARVN) bắt đầu có biểu hiện lừng chừng không muốn tiến công và trong một số trường hợp thật đáng nghi ngờ khả năng cầm cự của họ trong các trận giao tranh... Tỷ lệ quân số tiếp tục có lợi cho Việt cộng... Chính quyền Nam Việt Nam không thể đứng vững trước một sức ép như vậy nếu không có sự chi viện... Tôi không thấy chúng ta có một giải pháp nào trừ việc tăng thêm các nỗ lực của chúng ta ở Nam Việt Nam, bằng cách tăng thêm quân Mỹ hoặc quân đội của nước thứ ba khác càng nhanh càng tốt trong những tuần quyết định tới… Mục đích cơ bản của việc triển khai thêm quân là nhằm tạo cho chúng ta khả năng tiến công có sức đánh mạnh trên chiến trường để cho Việt cộng thấy rằng họ không thể tháng được”.

Westy nói, trước mắt, ông ta cần thêm 41.000 quân chiến đấu và sau đó cần thêm 52.000 quân, đưa tổng số quân Mỹ từ 82.000 quân lên 175.000 quân. Đoạn cuối của bức điện viết “Cần phải tiếp tục nghiên cứu và lên các kế hoạch khi nào cần triển khai thêm nhiều quân hơn nữa”. Yêu cầu của ông ta có nghĩa là một sự dính líu quân sự mạnh mẽ không có đoạn kết của Mỹ5.

Trong số hàng ngàn bức điện, tôi nhận được trong vòng bảy năm ở Bộ Quốc phòng, đây là bức điện làm tôi lo lắng nhất. Chúng tôi bị ép phải ra quyết định. Chúng tôi không thể trì hoãn lâu hơn nữa quyết định lựa chọn con đường nào phải đi. Trong bảy tuần liền, vấn đề này treo lơ lửng trên đầu chúng tôi như một đám mây đầy hăm doạ.
______________________________________
1. Kỳ phỏng vấn Brian Moynahan, đăng trên Tấm gương Chủ nhật (London), 4/7/1965, tr. 9; và bản tốc ký, Phỏng vấn Lịch sử truyền miệng William Bundy, 29/5/1969, do Paige E. Mulholand thực hiện, mục 2, tr. 30, LBJL.
2. Embtel 4035 (Sài Gòn), Taylor gửi Rusk, 3/6/1965, “T. 2(A), 3/65-9/65”, CF, VN, Hộp số 45/46, NSF, LBJL.
3. Embtel 4074 (Sài Gòn), Taylor gửi Rusk, 5/6/1965, “Triển khai”, t. 4, các mục 258-280, NSCH, Hộp số 41, NSF, LBJL.
4. Xem Tài liệu của McGeorge Bundy, LBJL; và WB, VNMS, Chương 26, tr.3-6.
5. MACV 19118, Westmoreland gửi Sharp và Wheeler, 7/6/1965, “Triển khai”, t.4, các mục 258-280, NSCH, Hộp số 41, NSF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #83 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:35:32 am »


Sáng hôm sau, chúng tôi bắt đầu họp phân tích trong Phòng Bầu Dục.

Nam Việt Nam tỏ ra suy sụp nhanh chóng, mà phương thuốc duy nhất là sự nhảy vào ồ ạt của quân Mỹ. “Chúng ta đang ở trong một mớ bòng bong”, tôi nói với mọi người. Nhưng cũng giống như họ, tôi không biết làm sao thoát ra được1.

Cuộc thảo luận tiếp tục vào ngày 10/6. Có một người - tôi không nhớ là ai - bắt đầu cuộc thảo luận bằng cách nói “Nhân dân Mỹ cảm thấy chúng ta bưng bít tin tức”. Tôi cũng nghĩ như vậy. Từ lâu chúng ta đã lẩn tránh dư luận.

Tổng thống hỏi chúng tôi một cách dồn dập các câu hỏi khác nhau, như:

Hỏi: Liệu có còn cần tăng số lính Mỹ lên hơn con số 175.000 không?

Trả lời: Đó có vẻ là khả năng tối ưu để có thể ngăn chặn thành công của ARVN.

Hỏi: Chúng ta làm cách nào để tự giải thoát mình?

Trả lời: Hy vọng về một giải pháp làm tê liệt Việt cộng và luôn gây sức ép với Bắc Việt Nam.

Hỏi: Mục đích của chúng ta là gì?

Trả lời: Có người nói là làm tê liệt. Có người coi mục đích của chúng ta là quyền tự quyết của Nam Việt Nam.

Hỏi: Liệu có điều gì mà chúng ta đã không đả động đến trên mặt trận đàm phán?

Trả lời: Mở mối liên lạc với Việt cộng. Nhưng điều này có nguy cơ là một đòn mạnh giáng vào tinh thần của Sài Gòn và không hứa hẹn nhiều hy vọng thành công. Dean tin rằng thương lượng với Việt cộng thực sự là một đảm bảo cho thất bại.

Hỏi: Cuộc ngừng ném bom tháng 5 có tạo ra ảnh hưởng xấu không?

Trả lời: ở Sài Gòn thì ít. Nó đã loại trừ một điểm mà các nhà phê bình sử dụng. Nhưng sự phản đối cả trong nước lẫn ngoài nước vẫn còn là: chúng ta đang hướng tới đâu? Mac và tôi đã gợi ý giải thích thêm, thúc giục Tổng thống làm rõ điều mà ông dự định làm thông qua một bài phát biểu quan trọng.

Trong cuộc họp, Tổng thống đã chỉ thị phải hỏi Westmoreland xem tiếp sau sẽ là chiến lược và chiến thuật quân sự nào; Việt cộng và Bắc Việt Nam sẽ đáp lại như thế nào; Mỹ sẽ phải chịu con số thương vong cao đến đâu; sẽ có những hành động trả đũa nào đối với các hành động của Mỹ và khi nào thì điều đó sẽ xảy ra. Việc không có lời giải đáp cho những câu hỏi này đã hạn chế việc ra quyết định của chúng tôi trong những tháng tới2.

Các sự kiện đã làm tôi lo lắng về mức độ dính líu của chúng tôi. Trong một cuộc nói chuyện qua điện thoại với Tổng thống Johnson tối hôm đó, tôi nói với ông ta: “Trong thâm tâm, tôi thấy có một sự hạn chế rất rõ ràng về cam kết quân sự của chúng ta, nhưng tôi không nghĩ là các Tham mưu trưởng cũng có cùng ý kiến này. Thực ra, tôi biết là họ khống đồng tình”.

Tổng thống hỏi: “Ông có cho là đề nghị của Westmoreland là nấc thang tiếp theo không?”.

Tôi trả lời: “Đúng. Họ hy vọng là họ không phải đi tiếp nữa. Nhưng trong bức điện của mình, Westmoreland vạch ra bước tiếp theo vượt khỏi giới hạn đó. Và ông ta không nói đó là bước cuối cùng”3.
_____________________________________
1. Tài liệu của McGeorge Bundy, LBJL.
2. Sách đã dẫn.
3. 10/6/1965, 6 giờ 40 chiều, Mục 6506.02, Chương trình Số (viết tắt là PNO) 8, PR, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #84 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:37:32 am »


Giữa lúc tình hình còn chưa rõ ràng và đang rối loạn này, ngày 16/6, tôi gặp gỡ với giới báo chí. Khi được hỏi: “Ngài có dự đoán trước là sẽ có sự gia tăng về quân số từ 70.000 đến mức 75.000 quân không?”. Tôi trả lời: “Ngài Bộ trưởng Ngoại giao và tôi và cả Tổng thống, đã nhiều lần nói rằng chúng ta sẽ làm tất cả những gì cần thiết để đạt được mục tiêu của chúng ta ở Nam Việt Nam. Tôi chỉ có thể trả lời như vậy đối với câu hỏi của ông”. Khi được hỏi: “Chiến lược tổng thể của Hoa Kỳ là gì?”, tôi trả lời: “Mục tiêu của chúng ta, chiến lược của chúng ta là làm cho người Bắc Việt Nam tin rằng hoạt động du kích được cộng sản xúi giục, chỉ đạo và hậu thuẫn nhằm lật đổ chính quyền đã được lập nên ở miền Nam là không thể thực hiện được và sau đó là đàm phán với chúng ta về hoà bình và an ninh của đất nước này trong tương lai”1.

Cùng ngày, Andy Goodpaster đã tới trang trại Gettysburg của Eisenhower theo chỉ thị của Tổng thống Lyndon Baines Johnson để trình bày với vị cựu Tổng thống này về yêu cầu sử dụng quân lính của Westy. Lời khuyên của Ike đơn giản và thẳng thắn: hiện nay Hoa Kỳ đã “sử dụng đến vũ lực” ở Việt Nam, và vì vậy, “chúng ta phải chiến thắng”. Yêu cầu sử dụng quân lính của Westy cần phải được đáp ứng.

Chiều ngày hôm sau, Tổng thống Johnson đã xem xét kết quả cuộc thăm dò dư luận cho thấy dân chúng ủng hộ cho việc có hành động mạnh mẽ hơn nữa. 65% dân chúng tán thành cách xử lý cuộc chiến tranh của ông. 47% dân chúng ủng hộ gửi thêm quân tới Nam Việt Nam. Con số này gấp đôi con số những người trả lời “không chắc chắn” (23%); và gấp hai lần rưỡi số người “muốn giữ nguyên quân số hiện nay” (19%); và gấp hơn bốn lần số người muốn rút quân khỏi Việt Nam (11%)2.

Nhưng Tổng thống biết rõ dư luận sẽ thay đổi nhanh như thế nào. Ngày 21/6 ông nói với tôi:

Tôi nghĩ rằng sẽ đến lúc... tình thế sẽ trở nên khó khăn đối với chúng ta khi theo đuổi một cuộc chiến tranh ở xa nước Mỹ với các sư đoàn chúng ta hiện có và đặc biệt là các sư đoàn quân sẽ có mặt tại đó. Điều đó đã khiến cho tôi trăn trở một tháng trời nay và tôi cảm thấy rất buồn phiền về nó, vì tôi không thấy chương trình nào của cả Bộ Quốc phòng lẫn Bộ Ngoại giao có thể đem lại cho tôi hy vọng làm được gì đó ngoài việc cầu nguyện và cố gắng cầm cự được trong suốt mùa mưa và hy vọng rằng cộng sản sẽ từ bỏ mục tiêu của họ. Và tôi không tin là có lúc nào đó họ sẽ từ bỏ. Và tôi không thấy... chúng ta có một kế hoạch nào giành thắng lợi cả về mặt quân sự hay ngoại giao... Russell* cho rằng chúng ta phải sử dụng một trong những lần thay đổi (chế độ) này để rút khỏi Nam Việt Nam. Tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể rút khỏi nơi đó với thoả thuận của chúng ta như hiện nay và với tất cả những gì chúng ta đã nói. Tôi cho rằng việc rút chạy sẽ làm mất mặt chúng ta trên thế giới, và tôi rùng mình khi nghĩ về những gì mà họ sẽ nói khi đó3.

Tổng thống cảm thấy đau đớn. Tôi cảm nhận được điều đó, và những người khác cũng cảm thấy như vậy. Henry Graff, một nhà sử học của Trường Đại học tổng hợp Columbia, người đã phỏng vấn Johnson trong những ngày đó, sau này đã viết rằng: Tổng thống nói với ông rằng Tổng thống đã nhiều đêm mất ngủ chỉ nghĩ về việc ông sẽ cảm thấy như thế nào, “nếu Tổng thống của tôi nói với tôi rằng những đứa con của tôi phải sang Việt Nam trong một đại đội lính thủy đánh bộ... và có thể sẽ chết”4.

Lyndon Johnson thường hay cường điệu hoá để gây ấn tượng và những người yếm thế hay hoài nghĩ sẽ cho rằng những câu nói của ông phản ánh cách cư xử đó. Nhưng họ đã những nói ra như vậy. Không có một vị Tổng thống nào mà tôi được biết lại sử dụng quân lực của mình để đưa quân Mỹ đến chỗ bị tổn hại có thể suy nghĩ khác thế. Tôi chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ này của Tổng thống.

Các quyết định bị trì hoãn lại vì chúng tôi còn phải mò mẫm tìm kiếm một phương cách khả dĩ để thực hiện. Trong khi cuộc tranh cãi đang quyết liệt thì các nhà báo đã phỏng vấn Tổng thống Johnson về yêu cầu gần đây của Thượng viện đòi hỏi phải có những hoạt động tiếp theo của Quốc hội, vượt lên trên phạm vi của Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, trước khi ông triển khai thêm lính Mỹ ở Nam Việt Nam. Ông đã đánh lạc hướng những người phỏng vấn mình bằng cách nói rằng “Những người được đọc Nghị quyết đó” có thể thấy nó cho phép Tổng thống “thực hiện tất cả - tất cả - tất cả - những biện pháp cần thiết” mà ông cho rằng cần phải làm trong tình hình đó5.

Những lời bình luận đó của Tổng thống được đưa ra sau khi ông nhận được những lời khuyên của Thượng nghị sĩ Mansfield (người chống lại việc tăng thêm quân) và Thượng nghị sĩ Dirksen (người ủng hộ việc tăng thêm quân). Cả hai người đều thuyết phục ông không nên đưa vấn đề này ra trước Quốc hội, vì cả hai đều lo ngại rằng nó sẽ làm chia rẽ nước Mỹ; bất kể là cuộc bỏ phiếu sẽ diễn ra thế nào đi chăng nữa thì nó cũng làm phương hại tới những cố gắng của chúng ta trong cuộc chiến này. Đó chính là câu trả lời mà Johnson muốn nghe, nhưng đó lại là câu trả lời sai. Không hề có một thời điểm “thích hợp” nào để giành sự đồng tình của công chúng đối với một hành động quân sự thông qua một cuộc bỏ phiếu ở Quốc hội. Cuộc thảo luận sẽ chỉ luôn luôn xoay quanh vấn đề là phải làm thế nào và khi nào thực hiện điều đó. Thực tế là điều đó cần phải được thực hiện, dù rằng một cuộc bỏ phiếu gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ, có thể đưa đến nguy cơ sẽ trợ giúp và làm yên lòng đối thủ của chúng ta. Chúng ta đã không làm điều này, và chúng ta phải vất vả mới học được rằng một chính phủ cần phải chấp nhận nguy cơ đó để có thể đưa một đất nước đoàn kết vào cuộc chiến tranh và duy trì sự ủng hộ đối với nó. Thay vì hướng tới sự thống nhất, chúng ta đã chọn việc che giấu cuộc thảo luận có thể gây ra rắc rối dưới tấm thảm của Phòng Bầu Dục. Liệu ngày nay chúng ta có thông minh hơn không?
_______________________________________
1. Họp báo, Lầu Năm Góc, l6/6/1965, PSRSM, 1965, t.5, tr. 1794 và 1800.
2. Xem A. J. Goodpaster, “Báo cáo về cuộc họp với Tướng Eisenhower, 16/6/1965, Tổng thống Eisenhower,” Hồ sơ Tên, Hộp số 3, NSF, LBJL; và Nghiên cứu bí mật của Louis Harris gửi Tổng thống, 17/6/1965, “ND 19/CO 312 VIETNAM (Tình hình các năm 1964- 1965)”, Hồ sơ Mật, Hộp số 80, NSF, LBJL.
* Richard B. Russel (đảng Dân chủ - bang Georgia), một cố vấn cũ giàu kinh nghiệm trong Thượng viện của Tổng thống Johnson và là Chủ tịch đầy quyền uy của Ủy ban quân lực của Thượng viện Mỹ.
3. 21/6/1965, 12 giờ 15 trưa, Mục 6506.04, PNO 18, PR, LBJL.
4. Trích dẫn trong bài “Johnson đã ra chính sách đối ngoại như thế nào” của Henry F. Graff, Tạp chí New York Times, 4/7/1965, tr. 18-20; và Nội các ngày thứ Ba: Sự cân nhắc và quyết định về hoà bình và chiến tranh dưới thời Lyndon B. Johnson (Englewood Cliffs: Nhà xuất bản Người học nghề, 1970), tr. 53-55.
5. Họp báo của Tổng thống, 17/6/1965, Tài liệu công khai, Lyndon B. Johnson, 1965, q. 2, tr. 669-685.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #85 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:38:31 am »


Chúng tôi ở trong tình trạng náo động triền miên trong khoảng từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 7. Cứ cách vài ngày, chúng tôi lại nhận được điện của Max hay Westy gửi về báo cáo về tình hình ngày càng xấu đi ở Sài Gòn hay trình bày những lý lẽ để đưa thêm quân sang. Chúng tôi dự hết cuộc họp này đến cuộc họp khác. Tôi thảo luận hết giờ này đến giờ khác với các Tham mưu trưởng liên quân về các kế hoạch chuyển đổi và đề nghị của Westy. Bill Bundy và các cộng sự của mình không ngừng xem xét các khả năng ngoại giao. Và gần như hằng ngày, Tổng thống nghiên cứu từng mặt của vấn đề phức tạp và khó khăn này với các cố vấn cao cấp của ông.

Ngày 18/6, George Ball gửi cho Tổng thống một giác thư nữa với lời lẽ hùng hồn. Cũng giống như trong giác thư của ông ta hồi tháng 10/1964, lần này cũng vậy, bức giác thư này không hề được các quan chức của Bộ Ngoại giao hay Bộ Quốc phòng bàn luận tới. Ban đầu nó chỉ được gửi tới cho Tổng thống và Dean, trừ Ngoại trưởng, không một ai trong Bộ Ngoại giào có được một bản sao của nó, thậm chí cả Bill Bundy. George thuyết phục Tổng thống hạn chế việc triển khai thêm quân dưới mức 100.000 người - gần giống với mức 95.000 quân mà tôi đã nêu hôm 10/6. Tuy vậy, những tổn thất chồng chất của quân đội Việt Nam Cộng hoà Nam Việt Nam) và đề nghị của Westy đã nhanh chóng đẩy Dean và chúng tôi đến quyết định vượt mức 100.000 quân. Vì vậy, khi George trong cuộc họp hôm 23/6 đề nghị giữ ở mức 100.000 quân và nếu như việc này làm cho chúng ta buộc phải rút quân khỏi Nam Việt Nam thì sẽ rút sang Thái Lan và cố gắng trụ lại ở đó, Dean và tôi đã phản đối kịch liệt. Chúng tôi nghi ngờ liệu Thái Lan có thể đứng vững không nếu như Nam Việt Nam sụp đổ. Tôi thúc giục để đề nghị tăng quân của Westy được thông qua, nhưng đồng thời cũng tăng cường các cố gắng đàm phán hơn so với trước đây.

Trước sự bất đồng ý kiến như vậy, Tổng thống yêu cầu George và tôi xây dựng một đề xuất chi tiết của riêng từng người. Ông cho chúng tôi một tuần để làm điều đó1.

Chúng tôi ngay lập tức bắt tay vào thực hiện. Trong khi làm như vậy, George đã có một bước chuyển biến lớn: cho tới lúc này, ông vẫn chủ trương hạn chế nhưng không từ chối triển khai thêm quân; xem xét, nhưng không thúc đẩy rút ra. Nhưng giờ đây ông không nghĩ như vậy nữa. George bây giờ đi đến kết luận rằng, thay vì chỉ hạn chế trong phạm vi hoạt động ở miền Nam, chúng ta cần phải giảm bớt các thiệt hại của mình càng nhanh càng tốt bằng cách làm tất cả những gì có thể được đối với Bắc Việt Nam, Bill Bundy không thể chấp nhận được điều này và bắt tay vào thảo ra một kế hoạch thứ ba, trong đó đưa ra một giải pháp dung hoà - đó là giữ nguyên quân số ở mức hiện nay với khoảng 85.000 lính Mỹ.

Trong khi soạn thảo kế hoạch của mình, tôi nhận được một bức điện đầy lo ngại của Westy. Bức điện nêu tới khả năng một cuộc chiến lâu dài và tốn kém, đòi hỏi số lượng quân Mỹ tham chiến ngày càng tăng, trong đó có việc tăng đáng kể số lính Mỹ trong năm 1966 so với gợi ý trước đó của ông. Sau khi bàn bạc với Bộ Tổng tham mưu, vào ngày 26/6, tôi đưa ra một dự thảo kế hoạch, tổng hợp cả các ý kiến của Westy mà tôi đã chuyển cho Dean, Max, George và Bill, và đề nghị họ cho ý kiến nhận xét.

Kế hoạch của tôi tập trung vào quan điểm cho rằng sức mạnh quân sự của Mỹ và Nam Việt Nam cần phải được tăng cường tới mức “đủ để chứng minh cho Việt cộng thấy rằng họ không thể chiến thắng, và vì vậy, sẽ đẩy lùi nguy cơ bùng nổ cuộc chiến tranh”. Westy tính toán là sẽ cần phải đưa tổng số quân lên tới 175.000 trong năm 1965 (và một con số nhiều hơn nữa chưa được quyết định trong năm 1966). Vì thế, tôi đã nêu ra con số này. Tôi nêu ra con số này cùng với đề nghị mở rộng các hoạt động quân sự chống lại Bắc Việt Nam và các sáng kiến ngoại giao nhằm mở đường đối thoại với Hà Nội, Bắc Kinh và Việt cộng. Tôi kết luận với một “dự kiến sẽ thắng lợi” như sau:

Thành công của chương trình này về mặt quân sự tuỳ thuộc vào việc liệu những cố gắng ngày càng tăng đó có ngăn chặn được một làn sóng mở rộng cuộc chiến ở Nam Việt Nam hay không; điều đó lại phụ thuộc vào hai vấn đề - liệu quân đội Việt Nam Cộng hoà có giữ vững được con số và tinh thần chiến đấu không, và liệu quân Mỹ có thể hoạt động có hiệu quả trong vai trò là lực lượng dự bị phản ứng nhanh không, một vai trò mà họ chưa được thử nghiệm bao giờ. Số lượng lính Mỹ quá ít để có thể đem lại một thay đổi gì đáng kể trong công thức vốn có xưa nay là 10:1 giữa quân chính phủ và quân du kích nhưng con số đó cũng không phải là quá nhỏ để có thể đem lại thay đổi đáng kể trong kiểu chiến tranh đang phát triển ở Việt Nam - một... cuộc chiến tranh thông thường, trong đó rất dễ dàng xác định, tìm ra và tiến công kẻ thù2.
__________________________________
1. Xem WB, VNMS, Chương 26, tr. 22-23.
2. Dự thảo Báo cáo gửi Tổng thống, 26/6/1965, “T. 3, Mục 35, 7/27/65, Triển khai thêm quân ở Việt Nam”, NSCMF, Hộp số 1, NSF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #86 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:39:44 am »


Kế hoạch này của tôi đã làm Mac vô cùng kinh ngạc và ông ta đã đáp lại bằng một tài liệu “nhằm nêu ra các câu hỏi chính và không phải là để trả lời”. Và ông đã nêu ra các câu hỏi. Ông viết: “Phản ứng đầu tiên của tôi là tự hỏi liệu kế hoạch này (tăng gấp đôi lực lượng quân Mỹ hiện có ở Nam Việt Nam, tăng gấp ba lần các hoạt động không quân chống lại Bắc Việt Nam, và một kế hoạch mới và rất quan trọng là phong toả bằng hải quân) có phải là thiếu suy nghĩ và không khôn ngoan hay không?”. Ông ta nêu ra một câu hỏi đầy tính tiên tri mà sau này cho thấy là rất cơ bản: “Liệu có triển vọng thực tế là các lực lượng quân chính quy của Mỹ có thể tiến hành các chiến dịch chống du kích, sẽ là vấn đề cốt lõi ở Nam Việt Nam?”. Ông nhắc đến tuyên bố của Tổng thống Eisenhower rằng chính viễn cảnh của một cuộc tiến công hạt nhân đã đem lại sự đình chiến ở Triều Tiên, và đề nghị chúng tôi “ít nhất thì cũng xem xét xem liệu có thể có cách đe doạ thực tế nào về một hành động mạnh mẽ hơn của chúng ta để bắn tin cho Hà Nội hay không?” Ông kết thúc với câu hỏi: “Liệu chúng ta có muốn dùng 200.000 quân để che đậy một cuộc rút lui mà rút cục sẽ phải xảy ra không? Liệu chúng ta có thể không làm điều đó hay không?”1.

Bất chấp lời nhắc nhở của Mac về các vũ khí hạt nhân và lời nói bóng gió rằng chúng ta phải xem xét việc đe doạ sử dụng chúng, tôi chia sẻ tất cả mọi quan điểm và mối quan tâm của ông. Nhưng vấn đề thách thức là việc đưa ra các câu trả lời - chứ không phải chỉ có các câu hỏi. Ba bản kế hoạch (của George, của Bill và của tôi) được gửi tới Nhà Trắng vào đêm ngày 1/7. Nhưng tôi, và tôi tin rằng cả George và Bill, đều không biết là ngoài chúng ra còn có một bản kế hoạch khác nữa.

Như tôi đã trình bày Dean rất ít khi viết gì để trình lên Tổng thống, và tôi chưa hề thấy ông ta làm như vậy trong các vấn đề liên quan đến quân sự mà không thông báo cho tôi biết. Trong trường hợp này, ông đã làm điều đó, để bày tỏ lòng tin tưởng sâu sắc và nỗi lo sợ lớn nhất của mình mà rõ ràng ông không tin rằng George đã nêu ra trong kế hoạch của mình. Tôi muốn trích dẫn nguyên văn những lời của Dean, vì quan điểm của ông là nếu chúng ta mất Nam Việt Nam, chúng ta sẽ làm tăng nguy cơ của cuộc Chiến tranh thế giới thứ III - đã tác động tới những người khác trong chúng tôi ở những mức độ khác nhau. Ông viết:

“Tính toàn vẹn của những cam kết của Mỹ là trụ cột cơ bản của hoà bình trên thế giới. Nếu cam kết đó trở nên không tin tưởng được, thế giới cộng sản sẽ đi đến kết luận mà sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chúng ta và hầu như chắc chắc dẫn đến một cuộc chiến tranh bi thảm. Khi mà quân Nam Việt Nam đang sẵn sàng chiến đấu để tự bảo vệ, chúng ta không thể bỏ rơi họ mà lại không xảy ra thảm hoạ đối với hoà bình và các lợi ích của chúng ta trên thế giới (nhấn mạnh thêm)”2.

Bạn đọc có thể cho là không thể hiểu được rằng tại sao Dean lại nhìn thấy trước được những hậu quả kinh khủng của sự sụp đổ của Nam Việt Nam, nhưng tôi không thể nói quá lên về tác động mà những kinh nghiệm của thế hệ chúng ta đã gây ra cho ông (và, ít hay nhiều, lên tất cả chúng ta). Chúng ta đã sống qua thời kỳ nhân nhượng ở Munich, nhiều năm làm các nhiệm vụ quân sự trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ II, chống lại cuộc xăm lăng ở châu Âu và châu Á; việc Liên Xô giành được ảnh hưởng ở Đông Âu; những đe doạ lặp đi lặp lại đối với Berlin, gồm cả mối đe doạ vào tháng 8/1961, cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba năm 1962, và gần nhất là những tuyên bố của Trung cộng rằng cuộc xung đột ở Nam Việt Nam là thí dụ tiêu biểu của “những cuộc chiến tranh giải phóng”, mà họ cho là đang lan ra trên phạm vi toàn cầu. Tài liệu của George đã không đề cập những mối quan ngại bên trong đó, và nó đã bị Tổng thống Johnson bác bỏ.

Mac đệ trình bốn bản kế hoạch nói trên lên Tổng thống và kèm theo kế hoạch của chính mình. Trong bản kế hoạch này. Ông đã thay đổi quan điểm so với những suy nghĩ ông bày tỏ với tôi hôm trước. Ông viết: “Tôi có linh cảm, Ngài muốn xem kỹ kế hoạch của George Ball và sau đó là phản đối đề nghị của ông ta. Nếu đúng là như vậy thì cuộc thảo luận có thể sẽ chỉ còn là sự lựa chọn hẹp giữa kế hoạch của anh, tôi và của McNamara”3.

Chúng tôi gáp Tổng thống vào ngày hôm sau. Trông ông có vẻ như bị giằng xé sâu sắc về việc sẽ phải làm gì. Sau một hồi lâu tranh cãi, ông kết thúc cuộc họp bằng yêu cầu tôi sang thăm Sài Gòn một lần nữa để đánh giá nhu cầu về tăng cường quân sự với Max và Westy. Ông cử Averell Harriman đi Mátxcơva để thăm dò việc nối lại Hội nghị Geneva (một công việc mà tôi ủng hộ mạnh mẽ). Và ông chỉ thị cho George xem xét việc mở ra cuộc tiếp xúc trực tiếp với đại diện của Hà Nội ở Paris (một động thái khác hướng tới đàm phán mà tôi cũng ủng hộ)4.

Cuộc tiếp xúc sau đó, mang tên mật mã là XYZ, được mở ra vào tháng 8 và gồm các cuộc thảo luận bí mật ở Paris giữa cựu quan chức ngoại giao Mỹ Edmund Gulliton và ông Mai Văn Bộ của Bắc Việt Nam. Gulliton đã thăm dò ý nghĩa của những tuyên bố công khai và bí mật của Hà Nội để xét xem liệu có khả năng đàm phán thực sự không. Sau khi nhiệt liệt hoan nghênh việc sớm tổ chức các cuộc đàm phán, Bắc Việt Nam bất thình tình đóng cửa kênh tiếp xúc này trong tháng 9.
____________________________________
1. McGeorge Bundy gửi McNamara, 30/6/1965, “Triển khai” t.6, các mục 341-356, NSCH, Hộp số 43, NSF, LBJL.
2. Rusk gửi Tổng thống, 1/7/1965, sách đã dẫn, các mục 357-383.
3. McGeorge Bundy gửi Johnson, 1/7/1965, Sách đã dẫn.
4. Xem WB, VNMS, Chương 27, tr. 13.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #87 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:40:29 am »


Giữa lúc đang diễn ra các cuộc tranh cãi trong tháng 7, Tổng thống đưa tới Washington một nhóm các chính khách cao tuổi thuộc hai đảng phái chính trị, những người về sau này được nhắc tới như những nhà thông thái. Ông hay họp bàn với họ. Thành phần nhóm này thường xuyên thay đổi giữa các cuộc họp. Nhân dịp này, ông đề nghị họ đánh giá những tiến triển của cuộc chiến và cố vấn cho ông về việc cần phải tiếp tục như thế nào?

Những nhà thông thái tập hợp thành một nhóm người rất gây ấn tượng bằng sự hiểu biết, kinh nghiệm và uy tín của mình. Trong nhóm lần này có Dean Acheson, một kiến trúc sư chính tạo nên chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong suốt thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh lạnh với cương vị là Bộ trưởng Ngoại giao của Tổng thống Truman, Tướng năm sao đã về hưu, Omar Bradley, là một thành viên khác trong danh sách phản ánh tính cách nhà nghề không ồn ào mà điềm tĩnh của ngành quân sự Hoa Kỳ; John Cowles, chủ tờ báo Minneapolis Star and Tribune và tạp chí Look, một người của đảng Cộng hoà theo phái tự do, người tiêu biểu cho chủ nghĩa quốc tế hoá những tờ báo và tạp chí hàng đầu ở Mỹ; chuyên gia pháp lý và nhà ngoại giao Arthur Dean, người đã từng tham gia trong các cuộc đàm phán về đình chiến ở Triều Tiên dưới thời Eisenhower, cùng chung quan điểm về chủ nghĩa tự do cộng hoà và chủ nghĩa quốc tế với hai đảng của Cowles; Ros Gilpatric là biểu tượng của sự kế tục của việc điều hành các công việc về an ninh quốc gia từ chính quyền Kennedy đến chính quyền Johnson; nhà triệu phú công nghiệp Paul Hoffman, người đứng đầu kế hoạch Marshall, điển hình của việc khai thác các hoạt động trong lĩnh vực chính sách đối ngoại của Mỹ; nhà hoá học xuất sắc của Trường Đại học Harvard George Kistiakowsky là hiện thân của mối liên hệ đan xen lẫn nhau giữa khoa học và chính trị trong thời đại hạt nhân: giáo sư luật học của Trường Đại học tổng hợp Duke, Arthur Larson, người đã từng phục vụ dưới nhiều đời Tổng thống kể từ năm 1933, biểu tượng của mối liên minh giữa giới học thuật và quan chức chính phủ đã được rèn giũa trong Chiến tranh thế giới thứ II, ông Robert Lovett đã từng phục vụ trên cương vị là Thứ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Tổng thống Truman; người bạn đồng nghiệp của Lovett trong Chiến tranh thế giới thứ II và là Thống đốc Hoa Kỳ tại vùng lãnh thổ Đức bị chiếm đóng, John McCloy, kết thúc bảng danh sách đầy ấn tượng này. Tất cả những nhân vật này tạo nên lòng quyết tâm, sự tin tưởng và lòng tự tin của một thế hệ bị ảnh hưởng bởi những thắng lợi của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II và thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh lạnh.

Một số người trong nhóm kể trên - gồm Bradley, Gilpatric, Kistiakowsky, Larson và McCloy đã họp với Dean, Tommy, Bill và tôi vào buổi sáng ngày 8/7. Chúng tôi đã thông báo tất cả cho họ, trả lời các câu hỏi của họ và đề nghị họ nói ra những suy nghĩ thẳng thắn của mình cho tất cả mọi người trong nhóm. Tất cả, trừ Larson, đã khuyên nên đưa bất cứ lực lượng nào mà chúng ta thấy cần thiết vào cuộc chiến để ngăn chặn Nam Việt Nam sụp đổ dưới sự kiểm soát của cộng sản. Vài người, trong thực tế, đã chỉ trích những hành động trước đây của chúng tôi là “quá dè dặt”.

Về sau, trong ngày hôm đó, họ đã trình bày quan điểm của mình cho tất cả nhóm. Tất cả nhóm, trừ Hoffman, đều hoàn toàn nhất trí. Đặc biệt, Acheson và Arthur Dean còn phản đối mạnh mẽ lời kêu gọi đàm phán của Hoffman; Arthur Dean nói rằng đây không phải là thời gian để “chuyển giao chính sách về Viễn Đông của chúng ta cho Liên hợp quốc” hay bất cứ ai khác. Thay mặt cho cả nhóm. McCloy đã nói với Dean Rusk và tôi: “Chúng ta sắp sửa làm cho mũi mình chảy máu, nhưng các anh cần phải làm như vậy. Các bạn phải đưa quân vào Việt Nam”.

Buổi tối ngày hôm đó, Acheson, Bradley, Cowles, Arthur Dean, Lovelt và McCloy tới gặp Tổng thống ở Văn phòng Nội các. Vài ngày sau đó, Acheson đã báo cáo lại với cựu Tổng thống Truman rằng sau khi nghe Johnson phàn nàn về những vấn đề của mình, “tôi đã mất bình tĩnh và nói với ông ta... rằng ông ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến... Điều đó đã dẫn đến việc là các đồng nghiệp của tôi lớn tiếng phát biểu công kích giống như buộc tội Scots Greys ở Waterloo... Bob Lovett, thường rất thận trọng, đã nói ra hết ý kiến của mình, và dĩ nhiên, Bradley đã thể hiện rõ rằng ông luôn luôn ở bên cạnh tôi. Tôi nghĩ... chúng tôi đã ghi điểm”. Nhưng họ đã không “ghi được điểm” trong niềm tin mà họ đã bày tỏ một cách mạnh mẽ với Dean Rusk và tôi, rằng chính phủ phải giải thích đầy đủ cho dân chúng Hoa Kỳ về tình hình quân sự, và sự cần thiết của việc gửi thêm quân lính sang Việt Nam. Cả Cowles và Lovett đều chê trách Tổng thống vì đã “vẽ một bức tranh có quá nhiều màu hồng” về cuộc chiến tranh1.
____________________________________
1. Xem William Bundy, “Nhóm Việt Nam” phác thảo 10/7/1965), “Triển khai”, t.7, các các mục 401-420, NSCH, Hộp số 43, NSF, LBJL; WB, VNMS, Chương 27, tr. 15-21; Acheson gửi Truman, 10/7/1965, “Tài liệu của Acheson (1964-1971),” Hồ sơ tên sau Tổng thống, Thư viện Harry S. Truman; và Walter Isaacson và Evan Thomas, Những con người khôn ngoan: sáu người và thế giới do họ tạo ra (New York: Simon và Schuster, 1986), tr. 650
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #88 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:41:22 am »


Vào thời gian này, những người bảo thủ trong Quốc hội bắt đầu gây sức ép đòi tăng chi phí quốc phòng để hỗ trợ cho kế hoạch bổ sung đang được thực hiện và những nỗ lực hơn nữa trong tương lai. Các nghị sĩ Gerald Ford và Melvin Laird đã thúc giục việc thông qua một khoản chi phí quốc phòng bổ sung từ một đến hai tỷ đôla và gọi khoảng 200.000 quân dự bị. Thượng nghị sĩ Dirksen còn thúc giục Tổng thống phải tìm kiếm “thêm quyền lực và thêm tiền - một khoan tiền lớn”1. Trong khi đó, chương trình Xã hội vĩ đại lại bước vào một thời kỳ gay go: Thượng nghị viện cuối cùng đã thông qua đạo luật về y tế và nó sẽ được đưa ra bàn bạc: còn việc ban hành luật về các vấn đề khác thuộc chương trình Xã hội vĩ đại, trong đó có việc cải cách chế độ nhập cư, chương trình chống đói nghèo, viện trợ cho Appalachia, và đạo luật về môi trường không khí sạch còn phải tiếp tục xem xét. Tổng thống Johnson tin rằng việc tăng chi phí quốc phòng sẽ giết chết đề xuất của ông về việc cải thiện phúc lợi xã hội lớn nhất kể từ thời Chính sách mới (New Deal). Ngày nay, chúng ta nhìn nhận những hành động của ông trong chính trị, kinh tế, xã hội là sự lẩn tránh - cái vẫn thường được gọi là sự lừa dối - nhưng trong lúc đó có lúc chúng ta không nhận thấy mong muốn sâu sắc của ông trong việc giải quyết các vấn đề xã hội của chúng ta.

Vào ngày 14/7/1965, khi tôi chuẩn bị bay sang Sài Gòn, Johnson đã gặp chủ bút báo Newsweek, ông James Cannon. Cannon đã phỏng vấn ông về mục tiêu cao nhất mà ông phấn đấu với cương vị là Tổng thống. Ông trả lời: “Làm cho cuộc sống của tất cả nhân dân chúng ta tốt đẹp hơn, sung sướng hơn và có ý nghĩa hơn”. Khi Cannon hỏi ông sẽ làm như thế nào để thực hiện được điều đó với một số lượng kỷ lục các nghị sĩ ngày càng bảo thủ hơn, ông nói: “Tôi biết rõ hơn về các vấn đề của nhiều người hơn trước đây. Tôi nhậy cảm hơn với những bất công mà chúng ta đã đối xử với người da đen chẳng hạn, bởi vì hiện nay tôi gặp gỡ và nói chuyện với họ nhiều hơn. Tôi đã bớt ích kỷ đi một chút, và không nghĩ về mình quá nhiều... Trong trường hợp này bạn không thể đi xa hơn nữa và việc duy nhất bạn muốn làm là những gì đúng đắn”2.

Khi đọc những dòng này, nhiều người có thể cho rằng đây là một cuộc tuyên truyền cho bản thân, một nỗ lực của một diễn viên quá thành thạo nhằm làm cho dân chúng nhìn anh ta khác đi so với con người thật của anh ta! Tôi không tin trường hợp này lại là như vậy. Người ta nói rằng chính những cố gắng thường xuyên của Johnson để che đậy bản thân đã làm tổn hại đến uy tín của ông, điều mà ông cảm thấy đúng từ những sai lầm đã làm nhiều người trong chúng ta đau khổ.

Tổng thống Johnson dành tất cả mọi phút giây không ngủ của ông để thực hiện các kế hoạch của mình, bất kể kế hoạch đó có liên quan đến vấn đề nhân quyền, chương trình Xã hội vĩ đại, hay là cuộc chiến tranh Việt Nam. Vào một buổi tối mùa hè năm đó, trong thời gian có cuộc thảo luận tại Quốc hội về đạo luật quyền bầu cử. Marg và tôi cùng ăn tối với Tổng thống và phu nhân (Bà Bird) trong khu nhà dành cho các gia đình ở Nhà Trắng. Bốn chúng tôi ngồi xung quanh một chiếc bàn nhỏ, vừa ăn vừa nói chuyện. Bỗng nhiên Tổng thống cúi xuống, cầm ống nghe điện thoại treo bên dưới chỗ của ông ta, đặt lên bàn và gọi người nhân viên trực tổng đài Nhà Trắng: “Cho tôi nói chuyện với Ev Dirksen”.

Vị lãnh tụ phe thiểu số của Thượng nghi viện có mặt bên điện thoại ngay lập tức. Tôi chỉ có thể nghe được một nửa cuộc nói chuyện này, nhưng nó diễn ra như sau: “Ev”. Tổng thống nói và dừng lại để nhấn mạnh, “anh đã thất bại trong cuộc bỏ phiếu chết tiệt ngày hôm nay”. Ông đang nhắc đến một cuộc bỏ phiếu có tính chất thủ tục quan trọng có thể quyết định thất bại hay thành công cuối cùng của dự luật đó. Tôi nghe thấy Dirksen nói lắp bắp: “Quỷ tha ma bắt, anh nói tôi bị thất bại nghĩa là thế nào? Những người dân chủ ở miền Nam chết tiệt của anh đã bỏ mặc anh rồi”.

Tổng thống kiên nhẫn nghe, sau đó nói một cách trơn tru: “Ev, tôi biết là những người dân chủ ở miền Nam đang chuẩn bị bỏ rơi tôi. Tôi hoàn toàn dựa vào anh để tạo ra đủ số người cộng hoà để bù đắp lại điều đó”. Họ quay sang nói đùa trong với phút nữa. Cuối cùng Johnson nói: “Này Ev, có một thứ mà anh muốn. Đó là gì? Tôi muốn nói với anh rằng có một thứ mà tôi muốn - đó là đạo luật về quyền bầu cử”. Sau đó, họ trao đổi để thoả thuận với nhau về cuộc nói chuyện tiếp theo trên điện thoại. Đó chính là Tổng thống Johnson, người đã làm việc không ngừng để theo đuổi các mục tiêu lập pháp của mình - mà trong trường hợp này, là nhằm đạt được một trong những đóng góp to lớn nhất cho sự hoà hợp các chủng tộc trong thế kỷ này.

Vào một dịp khác, ông yêu cầu tôi cùng với ông gặp gỡ với các vị lãnh đạo giới kinh doanh và lao động tại Văn phòng Nội các. Cuộc gặp này không liên quan gì tới vấn đề quốc phòng - ông muốn giành được sự ủng hộ của họ đối với dự luật về quyền dân sự - nhưng, như tôi đã nói, ông thường kéo tôi vào các vấn đề không hề có liên can gì đến phận sự chính của tôi. Trong suốt một tiếng đồng hồ ông thuyết phục các vị khách của mình, gây áp lực với các nghị sĩ Quốc hội của họ để bỏ phiếu cho dự luật này. Dường như ông đã đạt được không mấy kết quả. Cuối cùng, trong tâm trạng thất vọng hoàn toàn, ông nói: “Các bạn, chắc các bạn đều biết Zephyr”. Tôi nghi ngờ việc ngoài tôi ra, trong số những người có mặt trong phòng lúc đó còn có ai nữa biết rằng cô ta là người đầu bếp da đen lâu năm của Johnson. “Mùa hè năm ngoái, khi cô ta, Bird và tôi đi qua bang Mississippi trên đường trở về Washington từ trang trại, Bird nói: “Lyndon, liệu ông có thể dừng xe lại ở trạm xăng gần đây nhất không? Tôi muốn đi vệ sinh”. Tôi trả lời: “Dĩ nhiên là có”. Sau đó chúng tôi dừng lại, đi vệ sinh rồi trở lại xe và tiếp tục đi được một lúc thì Zephyr nói: “Thưa Tổng thống, liệu ông có thế dừng lại ở bên lề đường được không?”. “Vì sao cô muốn dừng lại?”, tôi hỏi, “Tôi muốn đi vệ sinh”. “Quỷ tha ma bắt, tại sao cô không đi vệ sinh ở trạm xăng khi Bird và tôi đi?”, “Bởi vì họ sẽ không cho phép tôi làm như vậy, cô ta trả lời”. Kể xong, Johnson đấm tay xuống bàn và nói bằng giọng đau đớn: “Các bạn, đó có phải là đất nước mà các bạn muốn không? Đó không phải là cái tôi muốn”. Ai đó có thể nói rằng đó là một rạp kịch. Còn tôi thì biết rằng không phải như vậy.

Cũng như vậy, nhiệm kỳ Tổng thống của Johnson được phán xét phần lớn là về Việt Nam. Nhưng tôi tin rằng những nhà sử học tương lai, ít chịu ảnh hưởng của sự chia rẽ, bất hoà của cuộc chiến tranh, sẽ đưa ra đánh giá công bằng hơn, công nhận ông với hai cống hiến lớn về luật pháp: đạo luật về quyền dân sự năm 1964 và đạo luật về quyền bầu cử năm 1965. Nếu không có hai văn bản pháp luật này, đất nước chúng ta hôm nay chắc chắn đang ở trong biển lửa, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tôi cho rằng lịch sử sẽ ghi nhận chúng trong số các thành tựu về chính trị to lớn nhất của thế kỷ này. Và tầm nhìn sâu rộng của Lyndon Johnson về tương lai của chúng ta - chương trình Xã hội vĩ đại - vẫn mãi là một mục tiêu để phấn đấu. Phải đau buồn nhận thấy rằng nó vẫn chưa được thực hiện, dù đã 30 năm trôi qua kể từ khi ông đặt ra vấn đề đó.
________________________________
1. Trích dẫn có trong Tin tức nước Mỹ và thế giới, 26/7/1965, tr. 45.
2. James Cannon và Charles Roberts phỏng vấn Tổng thống, 14/7/1965, in lại trong Newsweek, 2/8/1965, tr. 20-21.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #89 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2009, 12:42:17 am »


Trước khi rời Washington vào đêm 14/7, tôi gọi điện cho Tổng thống Johnson để bàn về nhiệm vụ của tôi ở Sài Gòn và ở Việt Nam nói chung. Chúng tôi nói về việc chúng tôi đã bước vào thời điểm này như thế nào, và những gì chúng tôi cần phải làm trong những ngày gay go sắp tới.

Tổng thống (TT): Bản thân chúng ta biết trong tiềm thức của mình rằng, khi chúng ta đề nghị đưa ra Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, chúng ta không hề có ý định gửi đi nhiều... lính bộ binh như thế này.

Mc Namara (Mc): Đúng vậy.

TT: Và bây giờ chúng ta đang làm như vậy, và chúng ta biết rằng nó sẽ trở nên tồi tệ. Vấn đề là ở chỗ: phải chăng chúng ta chỉ muốn làm điều đó một cách đơn phương?

Mc:... Nếu chúng ta làm như tôi đã đề nghị trong bản kế hoạch của mình - tức là gửi quân sang Việt Nam - thì chúng ta phải gọi thêm quân dự bị... Gần như là chắc chắn, nếu như chúng ta gọi thêm quân dự bị, Ngài sẽ muốn đề nghị Quốc hội trao cho thêm quyền. Đây sẽ là phương tiện để giành được sự ủng hộ. Bây giờ có thế là Ngài sẽ nói: “ờ được, nhưng điều đó cũng có thể dẫn tới một cuộc tranh luận kéo dài và những tuyên bố mâu thuẫn với nhau”. Tôi cho rằng chúng ta có thể tránh được điều đó. Tôi thực sự nghĩ rằng, nếu chúng ta đến... và nói với họ: “Nào, đây chính là tình thế của chúng ta, chúng ta không thể chiến thắng với số quân của chúng ta hiện có ở đó, chúng ta phải tăng thêm quân nếu như chúng ta muốn chiến thắng theo cách hạn chế này mà chúng ta định nghĩa là “chiến thắng”. Nó đòi hỏi phải đưa thêm quân sang Việt Nam. Cùng với hành động đó, chúng ta đang tiếp tục các sáng kiến chính trị nhằm thăm dò khả năng đàm phán về một giải pháp hợp lý ở đây. Và chúng tôi đề nghị các vị ủng hộ chúng tôi trong hoàn cảnh này”. Tôi cho rằng Ngài sẽ giành được sự ủng hộ của họ trong hoàn cảnh này. Và đó là một phương tiện để Ngài vừa giành được quyền gọi quân lính dự bị, vừa lôi kéo được họ vào kế hoạch này.

TT: Ờ, điều đó nghe cũng có lý.

Mc: Tôi không biết rằng Ngài có muốn đi xa như vậy không, và tôi cũng sẽ không thúc giục Ngài làm điều đó. Theo tôi, Ngài cần phải làm như vậy. Nhưng sự đánh giá đó của tôi ở đây có thể là sai.

TT: Nói chung, Rusk có đồng ý với anh không?

Mc: Có. Ông ấy hoàn toàn đồng ý. Ông ấy là một nhân vật cứng rắn xét về việc ông ấy không muốn mất Nam Việt Nam trong bất cứ hoàn cảnh nào – kể cả nếu như điều đó có nghĩa là đi tới một cuộc chiến tranh tổng hợp. Hiện nay, ông ấy không nghĩ là chúng ta phải tiến hành một cuộc chiến tranh tổng hợp nữa; ông ấy cho rằng chúng ta phải cố gắng tránh nó. Nhưng nếu đó là những gì phải làm để giữ được Nam Việt Nam, thì ông ấy sẽ tiến hành cuộc chiến tranh tổng hợp này1.

Tôi gặp Westy ở Sài Gòn vào ngày 16-17/7/1965. Những, cuộc họp này làm tăng thêm những lo ngại và nghi ngờ xấu nhất của tôi. Westy nói là cho đến cuối năm ông ấy cần 175.000 quân. và thêm 100.000 quân nữa trong năm 1966. Với nỗi hoài nghi rằng liệu các cuộc tiến công bằng không quân có thể làm giảm được số lượng người và vật chất của miền Bắc gửi vào miền Nam xuống dưới mức cần phải có để áp đảo quân Nam Việt Nam và quân Mỹ hay không, cho nên tôi đã thăm dò Westy và các cộng sự của ông ta về hiệu quả của cuộc ném bom. Những điều mà tôi nghe được hoàn toàn không làm giảm được sự hoài nghi của tôi. Sau khi thảo luận một hồi lâu, cuối cùng tôi nói:

Đây là những kết luận của tôi, nhưng tôi muốn các bạn chứng minh được rằng tôi sai:

1. Việt cộng (và Bắc Việt Nam) có thể huy động được thêm rất nhiều người (quân) so với hiện nay. Chúng ta, vì vậy, cần phải sẵn sàng tăng cường sức mạnh của mình.

2. Việt cộng không hề nhận được nhiều viện trợ trong quá khứ và hiện tại. Và, tôi không nghĩ rằng, họ sẽ được viện trợ nhiều trong tương lai.

3. Vì Việt cộng không được cấp nhiều viện trợ như vậy, nên những cuộc tiến công bằng không quân sẽ không đem lại tác dụng phá hoại đối với ngành hậu cần của Việt cộng. Tôi không nói rằng chúng ta phải chấm dứt các cuộc công kích. Tuy vậy, tôi nói rằng chúng ta sẽ cần phải có thêm nhiều quân lính ở miền Nam để đối phó một cách có hiệu quả với vấn đề này trên mặt đất2.
____________________________________
1. 14/7/1965, 6 giờ 15 chiều, Mục 6507.02, PNO 22, PR, LBJL
2. “Biên bản các câu hỏi và trả lời tại cuộc họp giữa Bộ trưởng McNamara cùng các cộng sự của ông với Đại sứ Taylor cùng nhân viên của ông ta, và COMUSMACV và nhân viên của ông ta, 16 (và 17) tháng 7/1965”, Westmoreland - tài liệu CBS, Lưu trữ Quốc gia.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM