Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:02:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam  (Đọc 109460 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #100 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 11:38:06 pm »


Tôi không nói là tôi chọn phương án nào trong hai phương án khốn khổ này. Nhưng tôi đã nói là nếu các mức độ quân số và các cuộc không kích của Mỹ được gia tăng, thì chúng tôi nên mở đầu bằng việc ngừng ném bom ba đến bốn tuần trước khi tiến hành. Suy nghĩ của tôi đơn giản như tôi đã trình bày với Tổng thống: “Tôi vô cùng lo ngại nếu chúng ta dấn sâu vào một cuộc chiến tranh với mức độ cao hơn đáng kể ở Việt Nam mà lại không thử thông qua ngừng ném bom để kết thúc cuộc chiến tranh, hay ít ra cũng làm cho nhân dân thấy rõ là chúng ta đã làm hết sức mình để chấm dứt cuộc chiến”1.

Phương án thứ nhất tôi trình bày - giữ vững lập trường về quân sự và chấp nhận một giải pháp thoả hiệp chính trị - đã không nhận được sự quan tâm nghiêm túc. Những người khác thì không giải quyết vấn đề còn tôi thì không thúc đẩy vấn đề. Lẽ ra tôi phải làm điều đó, mặc dù tình hình ở Nam Việt Nam cho thấy Chính phủ Sài Gòn khó tồn tại được trước sự thách thức của cộng sản.

Phương án thứ hai - ngừng ném bom - ban đầu chỉ được đón nhận một cách tương đối lạnh nhạt trong chính phủ, nhưng đã nhận được thêm sự quan tâm nhờ hai diễn biến vào tháng 11. Một loạt các cuộc tranh luận giữa Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc mới qua đời Adlai Stevenson và Tổng Thư ký Liên hợp quốc U Thant đã làm cho công chúng chú ý qua một bài báo của Eric Sevareid trên tạp chí Look. Bài báo ám chỉ nước Mỹ không sẵn sàng đàm phán2. Và trong một bữa trưa kín đáo với Mac Bundy ngày 24/11, Đại sứ Liên Xô ở Washington Anatoly Dobrynin đã nói là nếu Mỹ dừng ném bom từ hai đến ba tuần, Mátxcơva sẽ dùng ảnh hưởng của mình làm cho Hà Nội phải đàm phán3. Không nghi ngờ gì nữa, lúc đó ông ta đang hành động theo chỉ thị. Đây là cơ sở cho các cuộc tranh cãi tiếp theo.

Buổi chiều ngày 2/12, cuộc tranh luận bắt đầu với thái độ nghiêm chỉnh khi tôi điện thoại cho Tổng thống Johnson ở trang trại của ông. Tôi nói cho Tổng thống biết là từ khi ở Sài Gòn về, tôi đã “ngày càng tin tưởng là chắc chắn chúng tôi nên nghĩ đến một hành động nào khác chứ không phải hành động quân sự là chương trình duy nhất... Bản thân tôi tin là chúng ta nên tiến về phía trước và tăng ngân sách, tăng cường sức mạnh (và) tăng các cuộc triển khai quân để dần dần đáp ứng những yêu cầu của Westmoreland. Nhưng tôi nghĩ là nếu chúng ta chỉ làm duy nhất có việc đó, thì đó là tự sát và chắc chắn là chúng ta nên kèm theo đó - hay thậm chí, có thể, tiến hành trước đó - một hành động nào khác”. Mối quan ngại của tôi là: “Tôi nghĩ đưa 300.000, 400.000 lính Mỹ tới đó mà không thể đảm bảo được nó sẽ dẫn đến cái gì là một sự mạo hiểm và là một vấn đề kinh khủng”. Tôi đã thúc giục Johnson kèm theo các cuộc triển khai thêm quân trên bộ “với một chương trình chính trị - ngừng bắn hay một sáng kiến nào đó của Tổng thống”. Tổng thống nghe một cách không hứa hẹn4. Tôi cho Tổng thống biết Dean, Mac Bundy và tôi sẽ xem xét các phương án khác trước khi đến thăm ông.

Năm ngày sau đó, chúng tôi đã tổ chức các cuộc tranh luận tập trung ở Washington. Cuối thời gian đó, phần lớn những cố vấn của Tổng thống đều ủng hộ việc thử ngừng ném bom. Tôi chuẩn bị một bản giác thư khác, lần này kiến nghị tăng quân của Westmoreland được thông qua, và đưa ra một phương pháp dần từng bước tiến tới một cuộc ngừng ném bom dài mà tôi hy vọng có thể khởi đầu một phản ứng dây chuyền dẫn tới giải pháp cuối cùng. Ngày 7/12, Dean, Mac và tôi đã đi Texas để bảo vệ ý kiến của mình.

Tổng thống thận trọng nghe, nhưng vẫn hoài nghi. Ông cũng thấy những nguy cơ mà Hội đồng các Tham mưu trưởng liên quân lo ngại - đó là việc tăng cường sự xâm nhập bị hiểu sai là biểu hiệu của sự yếu kém, là trở ngại tiềm tàng của việc nối lại các cuộc ném bom. Một chuỗi những nhận xét cho thấy Tổng thống thất vọng và bối rối: “Kế hoạch nào là tối ưu?”, “Chúng ta đang ngày càng dấn sâu thêm. Xe của tôi đã bị xa lầy. Tôi không muốn có một chiếc máy ủi đến và đưa tôi lên”, “Chúng ta đã ở đâu khi tôi bắt đầu, tôi sẽ quay trở lại chỗ chúng ta đã xuất phát”5.

Tổng thống cân nhắc vấn đề và sau đó, ngày 17/12/1965 đã gọi chúng tôi vào Phòng Nội các để thảo luận hai ngày cuối cùng. Vươn người ra trước cho tới khi ngực tỳ vào chiếc bàn ô van rộng, khai mac phiên họp đầu tiên, Tổng thống nói ông sẵn sàng “liều được ăn cả” nếu có kết quả. Ngày hôm ấy và hôm sau, tôi đã nhấn mạnh ý kiến của mình, đã có lúc nêu lên những quan ngại sâu sắc và những hy vọng mỏng manh của tôi:

McNamara: Giải pháp quân sự cho vấn đề là không chắc chắn, một trong ba hay một trong hai phương án. Rốt cuộc, chúng ta phát tìm ra... một giải pháp ngoại giao.

TỔNG THỐNG: Thế thì dẫu chúng ta có làm gì trên chiến trường đi nữa, vẫn không có được thắng lợi chắc chắn hay sao?

McNamara: Đúng. Chúng ta đã quá lạc quan...

RUSK: Tôi lạc quan hơn, nhưng tôi không thể chứng minh được.

McNamara: Tôi nói: chúng ta có thể không tìm ra được một giải pháp quân sự. Chúng ta cần xem xét các cách khác... Phương pháp hành động quân sự của chúng ta không phải là một con đường dẫn tới một kết thúc thành công... Điều này dường như mâu thuẫn. Tôi đề nghị các ngài về một sự gia tăng lớn ở Việt Nam – 400.000 quân. Nhưng cùng lúc đó, nó có thể dẫn đến việc leo thang và những kết quả không mong muốn. Tôi gợi ý là bây giờ chúng ta xem xét những cách giải quyết khác6.

Johnson rời các cuộc họp, từ chối thử ít nhất là một cuộc ngừng ném bom ngắn, nhưng theo tôi, vẫn chưa dứt khoát. Ngày 22/12, Nhà Trắng và Sài Gòn tuyên bố một cuộc ngừng bắn 30 giờ, kể cả việc ngừng ném bom trên toàn Bắc Việt Nam, bắt đầu từ đêm Giáng sinh. Khi Tổng thống trở về Texas trước Lễ Giáng sinh, tôi tiếp tục hy vọng ông ta sẽ cho phép một cuộc ngừng ném bom dài, vì những nỗ lực đi đến đàm phán. Các vấn đề chững lại ở đó, khi tôi đưa gia đình đi nghỉ ở Aspen, Colorado.
__________________________________
1. Báo cáo cho Tổng thống, 30/11/1965, RSMP.
2. Xem Eric Sevareid, “Những giờ phút khó khăn cuối cùng của Adlai Stevenson”, Cái nhìn, tháng 11/1965, tr. 81-86.
3. Xem WB, VNMS, Chương 33, tr. 18.
4. 2/12/1965, 12 giờ 15 trưa, Mục 6512.01, PNO số 5, PR, LBJL.
5. Xem Ghi chép của George Bundy ngày 7/12/1965, trong tải liệu của McGeorge Bundy, LBJL.
6. Xem Ghi chép của Jack Valenty ngày 17 và 18/12/1965, tài liệu trong MNF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #101 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 11:38:55 pm »


Buổi sáng Lễ Giáng sinh, Tổng thống quyết định kéo dài việc ngừng “có tính chất nghi lễ” thêm một hoặc hai ngày nữa. Khi nhận được tin, tôi đã làm một điều mà trước đó tôi chưa bao giờ làm cả: tôi đã sử dụng sự gần gũi của riêng tôi với Tổng thống để nhanh chóng đạt được sự đồng ý của Tổng thống mà vượt qua mặt các đồng nghiệp của tôi.

Khu Mountain Chalet là một khu nhà nghỉ khiêm tốn nhưng được ưa chuộng ở trung tâm vùng Aspen, tôi còn nhớ là chúng tôi đã trả bốn đôla một đêm cho cái phòng chung cho bọn trẻ. Tối 26/12, từ khu Mountain Chalet, tôi đã gọi điện tới trang trại của Tổng thống. Cú điện thoại của Bộ trưởng Quốc phòng cũng chẳng có mấy riêng tư vì tôi phải gọi Tổng thống của nước Mỹ qua người trực điện thoại. Tuy nhiên, tổng đài của Nhà Trắng đã nhanh chóng nối máy cho tôi nói chuyện với Tổng thống đang ở nhà một người bạn ở Mound Mountain, Texas.

Tổng thống nhanh chóng đồng ý khi tôi xin được đến trang trại một mình để bàn về Việt Nam. Sau đó, tôi gọi cho Lầu Năm Góc và yêu cầu cho một chiếc phản lực của Không quân tới đón tôi ngày hôm sau. Ngày 27/12, một người bạn đã lái xe đưa tôi tới Grand Junction, nơi chiếc máy bay đang đợi. Lúc 6 giờ 30 phút chiều tôi đến trang trại LBJ ở ngoại vi Austin.

Tổng thống và Bà Bird đã đón tôi ở đường băng. Chúng tôi về khu nhà chính của trang trại và ăn tối cùng con gái Luci của họ. Sau bữa tối, Tổng thống và tôi ngồi lại riêng ở phòng khách. Liền ba giờ sau đó chúng tôi đã thảo luận bên lò sưởi về việc ngừng ném bom. Tôi nhấn mạnh nhận định của mình là các cuộc đàm phán nảy lửa có khả năng dẫn đến hoà bình nhiều hơn là những bất lợi quân sự trong việc trì hoãn ném bom trở lại.

Tổng thống chăm chú lắng nghe, cân nhắc những thuận lợi và những khó khăn. Cuối cùng, Tổng thống đồng ý kéo dài lệnh ngừng ném bom vô thời hạn và tăng cường nỗ lực ngoại giao để đưa Hà Nội đến bàn đàm phán. Chúng tôi thoả thuận là tôi sẽ gọi điện cho Dean Rusk và những người khác ở Washington để giải thích Tổng thống muốn điều gì được thực hiện. Mặc dù Dean không ủng hộ kéo dài lệnh ngừng ném bom, nhưng ông ta cũng đồng ý vì ông ta hiểu rằng tôi đã thuyết phục được Tổng thống rồi.

Sau bữa sáng ngày hôm sau, từ văn phòng nhỏ của Tổng thống ở trang trại, chúng tôi đã gọi điện đi nhiều nơi. Tôi đã điện thoại cho Averell Harriman, ông ta đã sốt sắng đồng ý khi Tổng thống đề nghị ông ta thúc đẩy sự hỗ trợ đàm phán ở Đông Âu. Chúng tôi cũng gọi cho George Ball, người được Tổng thống giao trách nhiệm điều phối cuộc tấn công ngoại giao và Arthur Goldberg, người kế nhiệm của Adlai Stevenson làm Đại sứ tại Liên hợp quốc, được Tổng thống chỉ thị phải gặp U Thant và Giáo hoàng.

Đầu giờ chiều, tôi rời trang trại và về Aspen, rất hài lòng với những sự việc vừa qua. Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy một ý thức tội lỗi vì đã qua mặt các bạn tôi để giành chiến thắng cho ý kiến của mình. Đó là lần duy nhất tôi làm như vậy trong bảy năm làm Bộ trưởng Quốc phòng*.
____________________________________
* Vì chuyến đi của tôi đến Trang trại LBJ đã không được nói đến trong những phần viết về nguồn gốc của lệnh ngừng ném bom, tôi bắt đầu nghi ngờ trí nhớ của mình. Do vậy, khi tôi viết những đoạn này, tôi đã đề nghị thư viện Johnson tìm những cuốn nhật ký của Tổng thống, để làm bằng chứng cho những gì tôi có liên quân. Họ đã tìm thấy một bản ghi chép chi tiết các sự kiện, kể cả chi tiết là chúng tôi đã dùng bữa tối có “chim cun cút, cơm, đậu và tráng miệng bằng bánh pudding”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #102 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 11:40:18 pm »


Lệnh ngừng ném bom miền Bắc kéo dài hơn một tháng trên cơ sở từng ngày cho tới cuối tháng 1/1966. Nhưng tranh cãi về các động thái chính trị và các hành động quân sự đã diễn ra suốt giai đoạn này.

Chính quyền đã mở một cuộc tấn công ngoại giao mở rộng và dữ đội. Ngoài những phái đoàn của Harriman và Goldberg, chính quyền đã cử phó Tổng thống Humphrey đến Philippin và Ấn Độ, Trợ lý Ngoại trưởng G. Mennen Williams “Xà phòng” và Thomas Mann tới châu Phi và Mỹ Latinh. Họ đã công bố mong muốn bắt đầu các cuộc hoà đàm của Washington. Dean cũng ban hành một chương trình mười bốn điểm mời Bắc Việt Nam tham gia “các cuộc đàm phán không có các điều kiện tiên quyết”.

Suốt thời gian ngừng ném bom, Hội đồng các Tham mưu trưởng liên quân đã thúc giục ngay lập tức nối lại các chiến dịch chống miền Bắc, quả quyết là việc ngừng ném bom đã đặt quân đội Mỹ “vào thế bất lợi quân sự nghiêm trọng và ngày một tăng”. Tôi đã nói với họ là tôi sẽ khuyên Tổng thống làm việc đó nếu họ có thể cho tôi thấy việc ngừng ném bom đang gây tác hại đối với chúng tôi ở miền Nam1.

Họ đã không trả lời.

Trong khi đó, Mỹ đã tăng cường các cuộc không kích dọc Đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào và các Tư lệnh chiến trường của Mỹ ở Nam Việt Nam đã đẩy mạnh các chiến dịch trên bộ. Đầu tháng giêng họ đã tiến hành cuộc tấn công lớn nhất cho tới lúc đó, nhằm vào Việt cộng gần Sài Gòn, và cuối tháng tổ chức chiến dịch đổ bộ lớn nhất kể từ cuộc đổ bộ Inchon ở Triều Tiên vào tỉnh Quảng Ngãi trên vĩ tuyến 14. Ngày càng có thêm lính Mỹ được đưa đến Việt Nam.

Ngày 10/1, cuộc tranh luận tiếp tục ở Nhà Trắng. Johnson cho rằng lệnh ngừng ném bom đã không đem lại điều gì, nên sẵn sàng bắt đầu ném bom trở lại trong vòng vài ngày. Tôi kiến nghị Tổng thống thêm thời gian cho lệnh ngừng ném bom và cả khả năng bắt đầu đàm phán vì tôi cảm thấy cho tới cuối tháng, không có bất kỳ sự bất lợi quân sự nào đang chờ đợi. Bus không tán thành. Ông ta đã phát biểu thay mặt cho các Tham mưu trưởng: “Mỗi ngày một khác”2.

Ngày 12/1, Oley Sharp đã thúc giục nối lại và tăng cường ném bom, bao gồm cả việc phá huỷ, ngăn chặn các tuyến đường giao thông từ Trung Quốc. Ông ta đưa ra lý lẽ là một chiến địch như vậy sẽ “đưa kẻ thù tới bàn hội nghị hoặc làm cho quân nổi dậy yếu đi do thiếu sự hỗ trợ”. Sáu ngày sau, các Tham mưu trưởng cũng đã thể hiện sự tán thành trong một bản thư báo3.

Tuy nhiên, ngày 18/1/1966, tôi đã nhận được một bản phân tích cho thấy quân đội Bắc Việt Nam mỗi tháng có thể vận chuyển được 4.500 quân cùng với hàng hoá, đủ hỗ trợ cho một cố gắng chiến đấu đáng kể ở Nam Việt Nam, bất chấp chiến dịch ngăn chặn của chúng tôi. Điều này đã cho thấy một mức độ ném bom nặng với khối lượng đã được phản ánh bằng thực tế của tháng 12/1965 là chúng tôi đã thả gấp rưỡi lượng bom đã sử dụng vào tháng cao điểm ở cuộc Chiến tranh Triều Tiên4. CIA khẳng định như vậy trong bản phân tích riêng của mình. Ủy ban Dự đoán quốc gia của CIA đã kết luận là thả thủy lôi ở các cảng và ném bom các mục tiêu bổ sung như các sân bay, các kho dầu, các nhà máy điện theo đề xuất của Oley Sharp và các Tham mưu trưởng cũng sẽ không có ảnh hưởng đáng kể gì đối với hoạt động, chiến đấu của các lực lượng cộng sản ở Nam Việt Nam. Phó Giám đốc Kế hoạch của CIA, Dick Helms đã thẳng thắn nêu quan điểm với Tổng thống tại một cuộc họp ngày 22/1: “Tăng cường ném bom miền Bắc không thể chặn được việc vận chuyển hàng hoá vào miền Nam”5.
_________________________________
1. Xem JCSM16-66, Wheeler gửi McNamara, 8/1/1966; và Ghi chép của Jack Valenty ngày 3/1/1966, cuộc họp tại Nhà Trắng, trong MNF, LBJL.
2. Xem Ghi chép của Jack Valenty ngày 10/1/1966, cuộc họp tại Phòng Nội các, 1 giờ 10 trưa, sách đã dẫn.
3. CICPAC 120205Z, Sharp gửi Bộ Tham mưu liên quân, 12/1/1966; và CSM-41-66, Wheeler gửi McNamara, 18/1/1966, LBJL.
4. Văn phòng Lịch sử Không quân, Căn cứ Không quân Bolling, Washington, D.C.
5. Xem John T. McNaughton, “Vài lời bình về việc ném bom Bắc Việt Nam”, 18/1/1966, trong PPW, LBJL; BNE Báo cáo đặc biệt, trích dẫn trong Chính phủ Mỹ của Gibbons, phần 4, tr. 153; và Ghi chép của Jack Valenty ngày 22/1/1966, cuộc họp tại Nhà Trắng, trong MNF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #103 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 11:41:21 pm »


Cuộc tranh cãi quanh việc liệu ném bom có thể và không thể làm được gì là vòng tranh luận cuối cùng về không lực đã từng theo suốt cả Chiến tranh thế giới thứ II và cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Cuộc tranh luận đã tăng lên suốt hai năm sau và cho tới nay, vấn đề vẫn được bàn cãi.

Dẫu sao, Tổng thống đã gặp phải một quyết định khó khăn. Nhà bình luận báo Walter Lippmann đã nêu tình thế khó khăn của Tổng thống trong một bài đăng giữa tháng giêng. Lippmann viết: “Về bản chất, Tổng thống phải lựa chọn giữa một cuộc chiến tranh lớn hơn hoặc một hoà bình không mấy hấp dẫn”. Richard Russell đã nhắc lại suy nghĩ đó tại Thượng viện: “Tôi cho rằng chúng ta phải quyết định, liệu chúng ta có sẵn sàng có hành động cần thiết để chiến thắng cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đem lại một quyết định cho cam kết của chúng ta hay không. Giải pháp thay thế khác duy nhất mà tôi có thể thấy là rút khỏi Việt Nam và điều này đại đa số người Mỹ không sẵn sàng thực hiện”1.

Sáng 17/1, tôi đã cho Tổng thống Johnson biết những suy nghĩ của tôi. Tôi nói với Tổng thống: “Cảm tưởng riêng của tôi là... chúng ta nên thận trong kéo dài lệnh ngừng ném bom qua Tết (cuối tháng giêng), cho Bắc Việt Nam một thời gian đủ dài để đáp lại một trong những đề nghị tiếp xúc, và để tạo lập vững chắc trong suy nghĩ của công chúng Mỹ và quốc tế là chúng ta đã cho họ một khoảng thời gian hợp lý để đáp ứng”.

Tổng thống đáp: “Tôi nghĩ là ngài biết chỗ dựa của tôi ở đâu và tôi cảm thấy gì về điều đó. Trừ ngài ra, tôi nghi là chúng ta đã đi khá xa và tôi không lấy làm tiếc về việc này. Tôi muôn kiên trì, hiểu biết và có lý; mặt khác, tôi nghĩ là ngài biết khuynh hướng tự nhiên của tôi”2.

Sự ám chỉ đã rõ ràng: Johnson rõ ràng đã tin rằng lệnh ngừng ném bom là một sai lầm và chiến dịch ném bom phải được nối lại. Mặc dù tôi vẫn tin là Hội đồng các Tham mưu trưởng liên quân đã đánh giá quá cao hiệu quả của việc đánh phá ngăn chặn, nhưng lúc đó tôi nhận thấy tiếp tục ném bom là cần thiết. Chúng tôi đã phải nối lại cuộc ném bom để tránh sự chỉ trích rằng việc ngừng ném bom đã đẩy mạnh hơn các cuộc hành quân và để tránh có các tín hiệu sai cho Hà Nội và Bắc Kinh và nhân dân Mỹ. Tuy nhiên, Dean và tôi đều sợ áp lực của cánh hữu đòi tấn công các mục tiêu gần biên giới Trung Quốc như đã từng xảy ra ngay trước khi Bắc Kinh can thiệp vào cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Chúng tôi kêu gọi chương trình ném bom phải được kiểm soát chặt và có hạn chế hơn so với mong muốn của các Tham mưu trưởng để giảm tối đa nguy cơ Trung Quốc can thiệp.

Lúc bấy giờ, Tổng thống tìm kiếm một sự nhất trí chung cho quyết định mà ông có kế hoạch đưa ra. Ngày 28/1, Tống thống cho gọi bốn trong số “những nhà thông thái” (Clark Clifford, Arthur Dean, Allen Dulles và John McCloy). Họ đã thông qua việc nối lại các chiến dịch không quân tiến công miền Bắc và tăng thêm lính Mỹ ở miền Nam. Tại một cuộc họp của Hội đồng an ninh quốc gia hai ngày sau đó Tổng thống quyết định chấm dứt lệnh ngừng ném bom. Một cuộc thăm dò của Harris đưa ra cùng ngày đã ghi nhận là “đại đa số người Mỹ sẽ ủng hộ một cuộc leo thang chiến tranh ngày lập tức, kể cả các cuộc ném bom toàn bộ Bắc Việt Nam, và tăng số lính Mỹ lên 500.000”3.
__________________________________
1. Newsweek, 17/1/1966; và Ghi chép tại Quốc hội, 24/1/1966, t.112, tr. 965-966.
2. 17/1/1966, 9 giờ 15 sáng, Mục M6601.01, PNO số 1, PR, LBJL.
3. Xem Ghi chép của Jack Valenty ngày 28/1/1966, cuộc họp của “Các nhà thông thái”, MNF, LBJL; Ghi chép của Bromley Smith về cuộc họp thứ 556 của NSC, 30/1/1966, NSCMF; NSF, LBJL; và The Washington Post, 31/1/1966.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #104 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2009, 11:42:01 pm »


Việc ngừng ném bom vào dịp Lễ Giáng sinh đã tạo được những ảnh hưởng gì? Một số nhà phê bình cho là tăng cường các cuộc tấn công bằng không quân của Mỹ vào Đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào và các chiến dịch trên bộ ở Nam Việt Nam trong suốt thời gian ngừng ném bom đã ảnh hưởng không tốt tới bất kỳ thông điệp nào mà chúng tôi tìm cách chuyển. Trong bất cứ trường hợp nào, thất bại trong việc tạo ra những kết quả ngoại giao gần như chắc chắn đã làm Tổng thống Johnson chua xót về những cuộc ngừng ném bom quá dài.

Nhiều nhà quan sát đã chỉ trích hình mẫu ngoại giao công khai của chúng tôi là ấu trĩ hay còn tệ hơn thế. Chester Cooper sau đó đưa ra lời bình luận:

Khi cần đến những dụng cụ tinh xảo thì chúng ta lại dùng một chiếc búa tạ. Khi cần có bước đi bí mật và thận trọng thì chúng ta lại bước tới với sự hào nhoáng của cuộc diễu binh ngày 4/7. Khi một đề nghị bất ngờ có thể đã khuấy động sự quan tâm của Hà Nội thì chúng ta lại đưa vào ống kính của công chúng mọi động thái cường điệu. Thay vì tăng tối đa tác dụng của kế hoạch hoà bình trọn gói 14 điểm thì chúng ta lại chôn vùi nó trong các chuyến đi bất ngờ, ầm ĩ và hào nhoáng của những nhân vật quan trọng. Tóm lại, Tổng thống đang hành động như người chỉ đạo một rạp xiếc có ba sân khấu chứ không phải là đầu mối của một cuộc diễn tập về ngoại giao đã được vạch ra cẩn thận1.

Nếu Cooper đúng, thì tất cả chúng tôi, những người cố vấn cho Tổng thống về vấn đề này, phải cùng chịu trách nhiệm.

Chính quyền đã tiến hành một nỗ lực ngoại giao âm thầm. Ngày 29/12 chính quyền đã chỉ thị cho Đại sứ Mỹ tại Mianma” Henry A. Byroade, thông báo cho đối tác Bắc Việt Nam của ông ta là Tổng Lãnh sự Vũ Hữu Bình là lệnh ngừng ném bom có thể được kéo dài nếu Hà Nội đáp lại “bằng những đáp ứng nghiêm túc cho hoà bình”. Vài ngày sau, Đài Hà Nội lên án việc ngừng ném bom là một “sự lừa gạt” và nhắc lại “điểm thứ ba” của mình là “công việc nội bộ của Nam Việt Nam phải được giải quyết... theo chương trình của... Mặt trận Dân tộc Giải phóng” (cánh tay chính trị của Việt cộng). Và ngay sau khi lệnh ngừng ném bom hết hiệu lực, ông Bình đã tới gặp Byroade chỉ để nhắc lại lập trường cứng rắn của Hà Nội đáp lại bức thông điệp mà Byroade đã trao cho ông ta2.

Lệnh ngừng ném bom đã thành công? Rõ ràng là nó đã không ngay lập tức dẫn đến đàm phán. Nhưng vào lúc đó, một số ít người ủng hộ đã nghĩ là nó sẽ làm được điều đó. Chúng tôi coi đó là một bước đi trong một quá trình mà cuối cùng có thể đem lại một giải pháp thương lượng, và từ đó kết thúc chiến tranh.

Có phải đó là một bước đi như vậy không? Nếu không thì có phải nó thất bại vì sự vụng về của chúng tôi hay vì sự không khoan nhượng của Hà Nội, hay vì một sự tổng hợp nào đó của cả hai? Chúng ta sẽ không biết được câu trả lời cho tới khi Hà Nội công khai những hồ sơ của họ.
______________________________________
1. Cuộc viễn chinh thất bại: Mỹ ở Việt Nam của Chester L. Cooper, (New York: Dodd, Mead, 1970), tr. 296.
2. Xem Bản tin Quốc tế tiếng Anh của Thông tấn xã Việt Nam, 4/1/1966, in lại trong Điều trần, tr. 133; và Embtel 394 (Rangoon), Byroade gửi Rusk, 31/1/1966, in lại trong sách đã dẫn, tr. 141 - 142.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #105 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 12:35:07 am »


9

KHÓ KHĂN CÀNG TRẦM TRỌNG
NGÀY 31/1/1966 - 19/5/1967


Khi tôi bắt đầu viết chương này, thì một cuốn sách của George C. Herring, một nhà sử học đã dành sức lực nghiên cứu cuộc chiến tranh Việt Nam hơn một thập kỷ qua, được xuất bản - Ông viết:

Ảnh hưởng của McNamara bắt đầu bị suy giảm sau cuộc tạm ngừng ném bom tháng 12/1965. Ông Bộ trưởng Quốc phòng đã ủng hộ mạnh mẽ việc ngừng ném bom cùng với việc đưa ra sáng kiến hoà bình. Và Johnson, bực tức và đi ngược lại với đánh giá của chính ông, đã thông qua nó. Khi sáng kiến bị thất bại, như Johnson đã tiên đoán trước đó, thì tính luôn luôn đúng đắn của McNamara bị thách thức và Tổng thống đã cho rằng McNamara phải chịu trách nhiệm về một thất bại nghiêm trọng trong chính sách. Sau tháng 12/1965, ông Bộ trưởng Quốc phòng, một thời rất ngoan cường, đã ngày càng nghi ngờ khả năng giành thắng lợi trong cuộc chiến bằng con đường quân sự; và sự hoài nghi của ông đã ngày càng tăng và được thể hiện ngày càng rõ ràng trong các khuyến nghị chính sách của ông ta, và ảnh hưởng của ông càng bị suy giảm hơn. Ở một số thời điểm vào cuối thời kỳ đương nhiệm của ông, ông còn không được tiếp xúc với một số nguồn thông tin, vì tinh thần phản chiến ngày càng tăng của mình và vì mối quan hệ đáng ngờ với Thượng nghị sĩ Robert Kennedy1.

Tôi mong rằng Herring đúng. Ảnh hưởng của tôi - và do vậy trách nhiệm của tôi như là một thành viên chủ chốt trong việc hoạch định chính sách Việt Nam vẫn tiếp tục cho tới khi tôi rời Lầu Năm Góc vào cuối tháng 2/1968. Tôi đã nghi ngờ và ngày càng trở nên nghi ngờ hơn vào khả năng của chúng ta đạt được các mục tiêu chính trị ở Việt Nam bằng các biện pháp quân sự, thế nhưng điều này công làm cho tôi bớt dính líu vào việc hình thành chính sách về Việt Nam.

Trong 15 tháng từ sau cuộc ngừng ném bom nhân dịp Lễ Giáng sinh, cuộc chiến và những thương vong của nó tăng lên mạnh mẽ; những thảo luận về chiến lược mặt đất, bình định, và đặc biệt về ném bom đã gia tăng rất nhiều; và áp lực của cuộc chiến lên chính quyền Johnson, lên gia đình tôi và tôi đã tăng lên dường như hàng ngày. Sự bất hoà có đất để phát triển mặc dù sự ủng hộ của quần chúng thì nhìn chung vẫn còn rất mạnh. Thêm ba cố gắng nhỏ bé và nghiệp dư nữa để thúc đẩy đàm phán bị thất bại, và giai đoạn này kết thúc với việc Tướng Westmoreland lại yêu cầu leo thang chiến tranh. Lần này, ông đề nghị tăng chêm 200.000 quân nữa cùng với việc mở rộng phạm vi địa lý của cuộc chiến tranh. Cả Westy và các Tham mưu trưởng liên quân khác đều cho rằng chương trình này sẽ đòi hỏi phải động viên lực lượng dự bị, cũng như toàn bộ khả năng quân sự của đất nước bao gồm cả khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân. Họ cũng nhận thấy rằng những hành động này sẽ dẫn đến cuộc đối đầu với Trung Quốc hoặc Liên Xô ở Đông Nam Á hay một vùng nào khác, thế nhưng họ cho rằng những biện pháp này là cần thiết để rút ngắn cuộc chiến tranh mà nếu làm khác đi - theo họ tiên đoán - sẽ kéo dài khoảng 5 năm hoặc hơn nữa.

Tất cả điều này cho thấy chính sách của chúng ta đang thất bại. Ném bom và các hoạt động mặt đất đã không có tác dụng và những sáng kiến ngoại giao, như chúng đã có, tỏ ra vụng về và không hiệu quả. Nhưng sự thật tàn nhẫn này đã dẫn tôi đến một kết luận, trong một bản phúc trình đầy kịch tính gửi lên Tổng thống Johnson ngày 19/5/1967, rằng bây giờ đã là lúc chúng ta cần thay đổi mục tiêu của mình ở Việt Nam và phương cách mà chúng ta sử dụng để đạt được những mục tiêu đó. Bản phúc trình đã báo hiệu sự rạn nứt giữa chúng tôi về vấn đề Việt Nam và cuối cùng dẫn đến sự ra đi của tôi.
_____________________________________
1. George C. Herring: LBJ và Việt Nam: Một dạng khác của chiến tranh (Austin: Nhà xuất bản Trường Đại học Tổng hợp Texas, 1994), tr. 11.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #106 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 12:35:52 am »


Năm 1966 bắt đầu bằng một sự kiện gây ấn tượng sâu sắc cho tôi: McGeorge Bundy rời chính quyền. Tháng 11/1965, John McCloy và Henry Ford II, đứng đầu một uỷ ban tìm kiếm một vị chủ tịch cho Quỹ Ford Foundation, đã gặp và đề nghị Mac giữ chức này. Công việc qủa thật là béo bở: Quỹ Ford là một quỹ lớn nhất của nước Mỹ với chi phí khoảng 200 triệu đôla mỗi năm cho việc phát triển tài năng nhân loại trên toàn thế giới.*

Trong thời gian McCloy phỏng vấn Mac vào chức vụ trên. Ông cũng phỏng vấn tôi, mặt dù tôi nghi rằng ông không coi tôi xứng đáng được bằng Mac. Trong trường hợp nào đi nữa, tôi biết rằng tôi không xứng đáng và đã nói với McCloy như vậy. Hơn nữa, tôi cảm thấy mình có trách nhiệm không được rời chính quyền vào thời kỳ này, dù công việc mà Quỹ Ford đang làm rất hấp dẫn tôi.

Sự ra đi của Mac Bundy là một tổn thất to lớn. Mac và tôi không phải lúc nào cũng đồng ý với nhau, tuy nhiên ông đã phục vụ chính phủ với một tư duy có trật tự với chất lượng cao, và với một sự kiên quyết rằng chúng ta phải tập trung vào những vấn đề đối ngoại quan trọng đối với đất nước, dù chúng khó khăn đến đâu. Có thể ông rời chính quyền chỉ bởi vì sự hấp dẫn của công việc ở Quỹ Ford, tuy nhiên tôi nghi ngờ điều đó. Tôi đoán rằng lý do thật sự là ông thất vọng sâu sắc với cuộc chiến. Và tôi tin là ông không chỉ thất vọng vì cách xử sự của Tổng thống mà cả với cách hoạch định chính sách của cấp chóp bu cả ở Washington và Sài Gòn. Tất nhiên, ông có những lý do chính đáng để cảm thấy như vậy.

Walt Rostow đã thay thế Mac làm cố vấn an ninh quốc gia. Ông là một người đặc biệt thông minh với một nhân cách gần gũi và cởi mở với các đồng sự. Thế nhưng Walt rất không coi trọng việc chúng ta dính líu vào Việc Nam, việc tiến hành các hoạt động, và viễn cảnh của việc chúng ta đạt được các mục tiêu chính trị, quân sự ở đó. Với bản chất lạc quan ông có khuynh hướng hoài nghi bất cứ báo cáo nào không thể hiện được rằng chúng ta đang tiến bộ. Nhiều năm sau, tại một hội nghị của thư viện Lyndon Johnson tháng 3/1991, ông vẫn tiếp tục cho rằng việc Mỹ quyết định can thiệp vào Việt Nam, và cách chúng ta tiến hành cuộc chiến là có lợi cho cả dân tộc ta và khu vực1.
____________________________________
* Mọi người có thể nghĩ thế nếu tính đến việc đã huy động 2000 nhà trí thức và phân tích chính sách có khả năng nhất của thế giới (với chi phí 100.000 đôla mỗi người: thù lao, chi phi và nghiên cứu) để tập trung vào những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh gay cấn nhất của nhân loại đang phải đối phó. Như tôi đã rút ra nhận xét sau này sau 17 năm là thành viên của Hội đồng quản trị của Quỹ Ford, Quỹ này đã làm tất cả vì việc đó dưới sự lãnh đạo của Mac. Khi tôi trở thành Chủ tịch của Ngân hàng Thế giới, tôi đã mượn hoặc đánh cắp nhiều ý tưởng của họ liên quan đến kế hoạch hoá dân số, giảm đói nghèo, nghiên cứu nông nghiệp và bảo vệ môi trường - những ý tưởng hết sức bổ ích, cho Ngân hàng Thế giới và cho tôi, trong việc đối phó với những vấn đề của các nước đang phát triển.
1. Xem Thời Johnson: Hội nghị bàn tròn về Việt Nam do Ted Gittinger hiệu đính (Austin: LBJL, 1993), tr. 126-128, 163-176.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #107 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 12:36:39 am »


Khi cuộc ngừng ném bom nhân dịp Lễ Giáng sinh kết thúc vào cuối tháng 1/1966, Tổng thống Johnson hỏi quan điểm của tôi về cuộc chiến ở Việt Nam. Trong bản phúc trình ngày 24/1/1966, tôi đã trình bày với Tổng thống niềm tin của tôi rằng cộng sản đã quyết định tiếp tục tiến hành một cách mạnh mẽ cuộc chiến ở miền Nam. Họ có vẻ tin rằng cuộc chiến sẽ kéo dài, và thời gian sẽ ủng hộ họ, và rằng họ có sức chịu đựng hơn hẳn chúng ta. Họ nhận thấy rằng sự can thiệp ồ ạt của Mỹ năm 1965 là tín hiệu về quyết tâm của chúng ta tránh khỏi bị thất bại và Mỹ sẽ có thể đổ thêm quân vào là điều có thể xảy ra. Tôi lập luận rằng những người cộng sản vì vậy có thể tăng quân bằng cách tăng cường tuyển quân ở miền Nam và gia tăng thâm nhập từ miền Bắc. Các Tham mưu trưởng liên quân và tôi dự tính rằng họ sẽ nâng số tiểu đoàn chiến đấu của họ lên 50% trong năm 1966 và để duy trì lực lượng này phải cung cấp 140 tấn hậu cần một ngày, sử dụng không quá 70% khả năng của đường mòn Hồ Chí Minh.

Để hạn chế sự tăng quân này tôi khuyến nghị tăng thêm 200.000 quân Mỹ (như Westy đã yêu cầu trước đó), đưa tổng số quân Mỹ từ 179.000 lên 368.000 vào cuối năm, và tăng cường các hoạt động không quân theo như kế hoạch. Thế nhưng tôi cảnh cáo rằng những cố gắng tăng cường này không có nghĩa sẽ tạo nên một bức màn chắn ngăn chặn được các hoạt động của kể địch ở Việt Nam, bởi vì bom có thể làm giảm, nhưng không thể ngăn chặn được luồng cung cấp từ Bắc vào Nam.

Điều này dẫn tôi đến một nhận định ảm đạm sau:

Mặc dù những người cộng sản sẽ tiếp tục phải gánh chịu thiệt hại nặng nề vì những hoạt động của bộ binh và không quân của ta, chúng ta cũng chờ đợi họ, sau khi biết được ý đồ của Mỹ muốn tăng quân, họ sẽ tăng lực lượng của mình và thử nghiệm các khả năng và ý chí của Mỹ duy trì xung đột và thương vong ở mức độ cao hơn (số lính Mỹ có thế bị chết trận khi triển khai các hoạt động đã được đề xuất, dự kiến có thể lên tới 1.000 người một tháng)... Vì vậy, nó kéo theo cuộc xung đột thậm chí sẽ cao hơn thế, dù rằng với sự triển khai quân đã được khuyến cáo, đầu năm 1967 chúng ta sẽ phải đối phó với một sự cân bằng về quân sự ở mức cao hơn nhiều, với việc cuộc bình định được thực hiện một cách khó khăn và với yêu cầu triển khai thêm lính Mỹ ở đây.

Triển vọng này củng cố thêm niềm tin của tôi, rằng Mỹ cần tiến hành các cuộc đàm phán dẫn tới một giải pháp ngoại giao cho cuộc xung đột. Tôi hy vọng những nỗ lực ngày càng gia tăng của chúng ta sẽ “đưa Hà Nội tới bàn đàm phán và dẫn tới một kết cục có thể chấp nhận được của cuộc chiến”1.

Trong khoảng giữa năm 1965 đến năm 1967, Westy tăng cường theo đuổi chiến lược làm tiêu hao sinh lực địch nhằm gây cho quân Việt cộng và Bắc Việt Nam bị thương vong nhiều hơn số quân họ có thể thay thế. Nhưng thực tế đã chứng minh khác hẳn. Dù rằng Westy, tôi và nhiều người khác có mong muốn khác hẳn thế nào đi nữa, bằng chứng vẫn cho thấy rằng đối phương của chúng ta - bằng sự kết hợp việc tuyển mộ người ở miền Nam và sự xâm nhập từ miền Bắc - đã tăng mạnh số quân chiến đấu của họ. Quân Việt cộng và quân Bắc Việt Nam tăng mạnh về quy mô trong suốt năm 1966 và cả bước sang năm 1967.

Ngay từ khi chúng ta bắt đầu dính líu vào Việt Nam, quân Nam Việt Nam chỉ cung cấp được cho chúng ta những thông tin tình báo nghèo nàn và những báo cáo không chính xác. Đôi khi những sự thiếu chính xác này lại là những cố gắng có chủ ý nhằm làm cho chúng ta hiểu sai; vào những lúc khác, chúng lại là sản phẩm của chủ nghĩa lạc quan quá mức. Và đôi khi chúng lại chỉ phản ánh tình trạng khó khăn của việc đánh giá các tiến triển của tình hình một cách chính xác.

Nhưng tôi khăng khăng đề nghị rằng chúng ta phải cố gắng đánh giá tiến triển của tình hình. Như tôi đã từng nhấn mạnh, ngay từ những năm còn học ở Trường đại học Harvard, tôi đã tuân theo một quy tắc là việc chỉ nghĩ ra một mục tiêu và kế hoạch để thực hiện nó thôi thì chưa đủ; bạn phải giám sát kế hoạch để xác định xem liệu có đạt được mục tiêu đó không. Nếu như bạn phát hiện ra rằng bạn đang không đạt được mục tiêu thì hoặc là bạn phải xem xét lại kế hoạch, hoặc là bạn phải thay đổi mục tiêu của mình. Tôi tin rằng, trong khi chúng ta không thể tìm kiếm được cái gì rõ ràng như là đường ranh giới mặt trận, chúng ta có thể tìm ra được các biến số có thể chỉ rõ chúng ta thắng lợi hay thất bại. Vì vậy, chúng tôi đã đánh giá các mục tiêu bị tàn phá ở miền Bắc, việc phá hoại giao thông ở Đường mòn Hồ Chí Minh, số người bị bắt giữ, số vũ khí thu được, số xác quân địch chết trận...

Việc thống kê số tử thi quân địch chết trận là một cách xác định tổn thất của đối phương; chúng tôi làm việc đó vì một trong những mục tiêu của Westy là đạt được tới cái gọi là điểm giao nhau mà tại điểm đó các thương vong của quân Việt cộng và Bắc Việt Nam lớn hơn là họ có thể chịu đựng được. Để đạt được điểm đó, chúng tôi cần phải có vài khái niệm về những gì mà họ có thể chịu đựng được và những tổn thất của họ là gì.

Những người chỉ trích nói rằng việc thống kể số tử thi quân địch chết trận là một ví dụ về sự ám ảnh của tôi đối với những con số. “Thằng cha McNamara”, họ nói, “cố gắng đếm số lượng tất cả mọi thứ”. Rõ ràng là, có những thứ bạn không thể đếm được: danh dự và sắc đẹp chẳng hạn. Nhưng với những gì anh có thể đếm được thì anh phải đếm. Tổn thất về người là cái phải đếm khi tiến hành cuộc chiến tranh làm tiêu hao sinh lực địch. Chúng tôi cố gắng dùng việc thống kê số tử khi quân địch như là một thước đo để giúp chúng tôi vạch ra những gì chúng tôi cần phải làm ở Việt Nam để giành thắng lợi trong cuộc chiến trong khi quân lính của chúng ta ít bị rủi ro nhất. Mọi cố gắng nhằm kiểm soát những tiến triển của tình hình ở Việt Nam trong suốt nhiệm kỳ làm Bộ trưởng Quốc phòng của tôi đều nhằm vào những mục tiêu đó, nhưng những báo cáo thường hay đánh lừa tôi.
_____________________________________
1. Báo cáo cho Tổng thống, chủ đề: Tổng quan về tình hình quân sự ở Việt Nam, 24/1/1966, RSMP.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #108 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 12:37:25 am »


Vào mùa xuân năm 1967, Wesly kết luận rằng cuối cùng thì điểm giao nhau đó đã đạt được, số quân địch là ổn định và, có lẽ, đã giảm bớt. Ngược lại, CIA chưa bao giờ đánh giá rằng sức mạnh của quân địch bị giảm sút. Trong một bản báo cáo vào ngày 23/5/1967, các nhà phân tích của CIA đã kết luận: “Mặc dù các cuộc hành quân “Tìm và diệt” ngày càng có hiệu quả... quân cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tăng cường lực lượng chủ lực, bằng cả việc xâm nhập vào từ miền Bắc và tuyển mộ ở ngay địa phương... Có vẻ như những người cộng sản có thể tiếp tục giữ vững được sức mạnh tổng hợp của họ trong những năm tiếp theo (nhấn mạnh của tác giả)”1.

Bất kể đánh giá nào là đúng - của Westy hay của CIA - tôi chỉ cảm thấy yên tâm chút ít, bởi vì quân Việt cộng và Bắc Việt Nam vẫn kiểm soát được phần lớn những thương vong của họ trong cuộc chiến tranh du kích ở địa hình rừng rú bằng cách lựa chọn chiến đấu ở đâu, khi nào và trong bao lâu. Hơn nữa, mùa xuân năm 1967, họ đã có đủ số quân (lực lượng) để ngăn chặn bất kỳ một sự mở rộng trọng yếu nào của chương trình bình định - đặc biệt là ở vùng nông thôn, nơi phần lớn người dân Nam Việt Nam sinh sống.

Sự bất đồng giữa Westmoreland và CIA làm cho chúng ta thất vọng nhưng không ngạc nhiên. Mặc dù chúng ta đã cố gắng đánh giá tiến triển của tình hình một cách thực tế nhưng việc thu thập các số liệu chính xác vẫn còn khó khăn. Những số liệu mà chúng tôi có được đã tạo nên những sự khác biệt lớn trong phân tích, mà sự tranh cãi này là một ví dụ. CIA cho rằng Bắc Việt Nam có một sức chịu đựng lớn hơn nhiều so với chính phủ (và Westy) đánh giá. Hoá ra CIA đã đúng.

Chúng ta sẽ phải quyết định chấp nhận cách giải thích nào? Nhiệm vụ này vô cùng phức tạp khi mà chúng ta thậm chí còn không chắc chắn về tính chính xác của các bản báo cáo mà những cách giải thích này lấy làm cơ sở. Không còn nghi ngờ gì nữa, thỉnh thoảng chúng tôi lại nhận được những báo cáo không đúng. Những năm về sau, điều này dẫn đến một loạt những sự việc đau đớn khi hãng tin CBS đã nhầm lẫn khi miêu tả rằng Westy đã lừa dối Tổng thống và tôi. Vấn đề được nhắc tới là báo cáo của Westy về cái gọi là mệnh lệnh chiến đấu của kể địch - sức mạnh của quân Việt cộng và Bắc Việt Nam trên chiến trường.

Một bộ phim tài liệu “Phóng sự của CBS” năm 1982, nhan đề “Kẻ thù không đếm được: một sự lừa dối về Việt Nam”, đã đưa ra luận điệu rằng Westy ra lệnh cho các sĩ quan tình báo cao cấp của mình nói giảm bớt đi một cách có chủ ý về sức mạnh của quân địch nhằm chứng minh cho những luận điệu của ông ta về những tiến triển trong tình hình quân sự. Thực thế, CBS lý luận rằng bằng cách báo cáo giảm đi một cách có chủ ý về sức mạnh của quân Việt cộng và Bắc Việt Nam ở Nam Việt Nam. Westy đã có thể chứng minh về những tiến bộ thông qua chiến lược làm tiêu hao sinh lực địch của mình lớn hơn so với thực tế đạt được. Tôi nêu vấn đề đó bây giờ để làm rõ rằng, trong khi có sự khác biệt sâu sắc giữa Westy và tôi về tiến trình cuộc chiến ở Nam Việt Nam, (và giữa tôi với Bộ Tham mưu liên quân về cuộc chiến tranh bằng không quân ở Bắc Việt Nam), những sự khác biệt này không hề phản ánh mâu thuẫn cá nhân hay sự thiếu tin tưởng.

Sự dính líu của tôi với bộ phim đó của CBS bắt đầu từ ngày 6/6/1981, một thời gian ngắn trước khi tôi rời khỏi chức vụ Chủ tịch Ngân hàng Thế giới về nghỉ hưu, khi người làm chương trình phóng sự của CBS, George Crile III gọi điện thoại tới phòng làm việc cho tôi. Crile, người mà tôi biết có tính chất xã giao - nguyên là con rể của các bạn tôi Joe và Susan Mary Alsop - nói rằng hãng CBS đang chuẩn bị một chương trình về Việt Nam trong đó anh ta biết là tôi sẽ muốn tham gia. Anh ta nói rằng hãng CBS đã có được bằng chứng rõ ràng, với những chứng cớ của các quan chức thuộc Military Assistance Command, của Việt Nam và CIA cung cấp, chứng minh rằng tướng Westmoreland đã cố tình lừa dối Tổng thống và tôi về “Mệnh lệnh chiến đấu”.

Tôi nói với Crile rằng tôi không tin vào điều đó. Anh ta trả lời rằng những bằng chứng này là rõ ràng không thể chối cãi. Tôi tiếp tục bác bỏ một khả năng như vậy. Cuối cùng Crile hỏi tôi liệu anh ta có thể phác thảo ra và chứng minh những lời buộc tội đó trong một cuộc gặp với tôi hay không. Tôi nói rằng gần như hoàn toàn chắc chắn là tôi sẽ không thay đổi ý kiến của mình, nhưng vì mối quan hệ đã có trước đây với nhau, tôi đồng ý gặp anh ta.

Chúng tôi gặp nhau vào cuối ngày 16/6. Trong suốt cuộc nói chuyện kéo dài 30 phút tại văn phòng của tôi ở Ngân hàng Thế giới và trong lúc ngồi trên xe tô đi về nhà tôi, Crile đưa ra những bằng chứng của mình. Sự việc chung quy lại là thế này: Westy báo cáo lên trên sức mạnh của địch là x, trong khi mà một số sĩ quan tình báo quân sự của ông ta, với sự hỗ trợ của một số nhà phân tích của CIA, dự tính phải là x + y. Hãng truyền hình CBS cho là Westy đã ra lệnh cho các nhân viên dưới quyền của mình đưa những con số thấp hơn vào các bản báo cáo của MACV về các hoạt động quân sự ở Việt Nam gửi Washington.

Một vấn đề về kỹ thuật, rất mơ hồ và thậm chí là khó nắm bắt, cuộc bàn cãi xoay quanh vấn đề đưa ra những nhận định rõ ràng về “kẻ thù”. Mỹ phải đối phó với một lực lượng vô cùng đa dạng của kẻ địch ở Việt Nam - các đơn vị quân đội chính quy của Bắc Việt Nam, bộ đội Bắc Việt Nam thâm nhập vào Nam Việt Nam để lấp chỗ trống, quân du kích Việt cộng được tuyển mộ ở miền Nam và biên chế thành các đơn vị quân sự, và một tập hợp rộng rãi dân quân tự vệ. Những dân quân tự vệ này bao gồm từ những người nông dân được trang bị súng trường và tổ chức thành những đơn vị quân sự không chính thức tới những người dân ở nông thôn mặc quần áo bà ba màu đen, thực hiên các nhiệm vụ phá hoại và thông tin. Vấn đề là ở chỗ phải sử dụng chỉ giới nào khi báo cáo về “sức mạnh của quân địch”. Westy loại trừ các lực lượng phi chính quy nhiều hơn so với một số sĩ quan tình báo của ông ta và một số nhà phân tích của CIA.
___________________________________
1. Báo cáo của CIA cho SC SỐ 01399/67, 23/5/1967, “Tình hình ở Việt Nam: phân tích và đánh giá”, tr. 1-2; “CIA 80-82 (Tài liệu về mệnh lệnh chiến đấu của Việt cộng, tháng 5/1967)”, tài liệu của Capital Legal Foundation, Hộp số 3, LBJL.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #109 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 12:38:07 am »


Sự bất đồng ý kiến - trong nội bộ của MACV và trong giới tình báo ở Washington - trở nên gay gắt hơn. Tình trạng này kéo dài và được giám đốc CIA là Dick Helms, Tổng thống, tôi và các quan chức cao cấp khác của chính phủ biết đến. Nó đã làm dấy lên mối xúc cảm sâu sắc đến tận ngay cả sau cuộc chiến tranh. Một số nhân vật đã từng phản đối sự đánh giá tình hình của Westy đã đồng ý trả lời phỏng vấn của CBS, trong đó họ tuyên bố - hoặc thẳng thắn hoặc ngấm ngầm - rằng ông ta cố tình và trắng trợn lừa dối Tổng thống Johnson và tôi. Trong số này có cả nhân chứng chính của bản kế hoạch đó và là “người buôn bán tin tức” nhà cựu phân tích của CIA Sam Adams.

Khi gặp Crile, tôi đã giải thích cho anh ta tại sao tôi lại cho rằng một lời buộc tội như vậy là thiếu đúng đắn. Anh ta đã không tin tôi. Bộ phim tài liệu đã được chiếu vào tối 23/1/1982. Westy đòi hãng truyền hình này phải xin lỗi và khi hãng này không làm như vậy, ông đã đâm đơn kiện họ về tội bôi nhọ người khác và đòi bồi thường 120 triệu đôla vào mùa thu năm đó.

Mặc dù biết rằng vụ xét xử này sẽ là một cuộc đối đầu kinh tởm, “bẩn thỉu”, nhưng vì lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với những gì mà Westy đã cống hiến cho đất nước chúng ta trong mấy thập kỷ qua, tôi đã tình nguyện làm chứng đứng về phía ông ta vào mùa hè năm 1983.

Luật sư của Westy, ông Dan Burt, người của Cơ quan pháp luật thành phố (Capital Legal Foundation), biết rằng Crile đã bí mật - và không được tôi cho phép - ghi âm lại một số cuộc nói chuyện bằng điện thoại của ông ta với tôi. Tin tưởng rằng những cuốn băng ghi âm này sẽ chứng minh lập luận của Westy là Crile biết trước khi cuốn phim được chiếu, rằng lý do để tin vào những lời buộc tội đó là không có cơ sở, Burt tìm cách lấy được những cuốn băng ghi âm này. Theo lời ông ta, nhóm luật sư của CBS ban đầu đã bác bỏ việc có những cuốn băng này. Một người phụ trách chương trình tin tức của CBS, người đã lập chương trình buổi đó đã nói với Burt rằng thư ký của Crile nói những cuốn băng đó nằm ở dưới đáy ngăn bàn bên trái. Chúng không có ở đó. Về sau người ta tìm thấy chúng trong một chiếc vali ở nhà Crile - nhưng những đoạn băng có ghi lại lời bác bỏ của tôi đối với những lập luận chống lại Westy đã bị xoá sạch1.

Cùng lúc, CBS đề nghị tôi cung cấp bằng chứng. Tôi đồng ý. Ngày 26-27/3/1984, trong khi tôi cung cấp các bằng chứng, luật sư của hãng tin, ông David Boies bắt đầu bằng việc nói ông ta cho rằng tôi sẽ không phản đối việc quay video buổi làm việc này. Khi tôi hỏi liệu việc quay video đó sẽ được sử dụng như thế nào, ông ta trả lời, “bằng bất cứ cách nào mà chúng tôi lựa chọn”. Khi tôi hỏi liệu điều đó có bao gồm việc phát cả trên chương trình TV thương mại không, ông ta trả lời có. Vị luật sư của tôi đã khuyên tôi rằng nếu như tôi không thể nhớ các chi tiết về những sự kiện đã xảy ra cách đây 16 năm, tôi cần trả lời một cách đơn giản rằng “tôi không nhớ”. Tôi có thể hình dung rất rõ tác dụng của việc 20 đến 30 lần lặp đi lặp lại như vậy được truyền đi trên TV trong chương trình “Tin tức buổi tối của CBS”. Vì thế, tôi nói tôi không đồng ý cho quay video buổi làm việc đó. Boies nói bằng một giọng doạ nạt rằng CBS có quyền pháp lý đòi hỏi tôi phải cho phép quay video. Tôi nói, thay vào đó tôi sẽ vào tù. Cuối cùng Boies quyết định tiến hành công việc mà không có quay video nhưng bảo lưu quyền đề cập lại vấn đề sau này. Nhưng ông ta đã không bao giờ đề cập lại nữa. Về sau tôi được biết rằng Dick Helms, cũng được toà án gọi để cung cấp bằng chứng cho vụ xét xử này, và cũng đã từ chối không cho quay video khi ông cung cấp các bằng chứng cho toà. Hãng truyền hình đã đưa ông ra toà. Nhưng sau nhiều tháng và nhiều chi phí lớn về pháp lý Dick đã thắng kiện.

Trong những bằng chứng mà tôi đưa ra và trong phát biểu trước toà vào ngày 6/12/1984, tôi nói rằng Tổng thống và tôi có biết về những ý kiến khác nhau về tình hình của quân địch trong nội bộ MACV và CIA trong năm 1966-1967; rằng tôi thiên về những dự tính toàn bộ hơn (và lớn hơn); rằng Westy đã không hề cố gắng lừa dối chúng tôi; và rằng, cứ cho rằng ông ta đã cố làm như vậy đi chăng nữa - điều mà không ai hiểu được - thì ông ta cũng đã không thể thành công bởi vì chúng tôi có đủ các kênh thông tin để lựa chọn. Boies tìm cách làm mất hiệu lực các bằng chứng mà tôi đưa ra bằng cách lập luận rằng tôi đã trước sau như một trình bày sai về tiến triển của tình hình quân sự ở Việt Nam. Cuộc xử án kết thúc vào tháng 2/1985 bằng việc giải quyết ở bên ngoài toà án, cả hai bên đều cho rằng mình thắng lợi. Nhưng rất buồn là sự kết hợp của việc chiếu cuốn phim này với việc đưa tin rộng rãi trên báo chí về phiên toà xét xử về tội bôi nhọ người khác này đã làm xói mòn lòng tin của nhân dân Mỹ vào sự thống nhất của chính phủ và các vị lãnh đạo của chính phủ này, cả quân sự lẫn dân sự.
__________________________________
1. Xem Vấn đề danh dự của Don Kowet (New York: Macmilan, 1984), tr. 100-101, 276-282.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM