Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:28:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam  (Đọc 109403 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #110 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 12:39:04 am »


Mặc dù có những bất đồng trong đánh giá tình hình, Westy và tôi đã cố gắng hết sức mình để cho số quân Mỹ ở chiến trường được cung cấp đầy đủ và bảo vệ chu đáo. Khi cuộc chiến trở nên nóng bỏng, ác liệt hơn và nỗi giận dữ tăng lên, một số người chỉ trích trong chính quyền của Johnson đã lập luận rằng sự thiếu thốn về vật chất đã làm tổn thương tới sự an toàn của quân lính của chúng ta. Nhưng thực tế không phải là như vậy. Như Bus Wheeler viết cho tôi hôm 23/4/1966, “Không hề có sự thiếu thốn trong các nguồn cung cấp cho quân lính ở Việt Nam để đến nỗi gây tác động bất lợi cho các cuộc hành quân chiến đấu hay sức khỏe hoặc phúc lợi của binh lính. Không một cuộc xuất kích bằng không quân nào (một cuộc xuất kích là một chuyến bay tấn công của một máy bay) đã được yêu cầu bị huỷ bỏ. Trên thực tế, sự hỗ trợ về không quân đối với các lực lượng của chúng ta là không gì có thể so sánh được trong lịch sử”1.

Lính Mỹ ở Việt Nam phải đối phó với nhiều trở ngại và các điều kiện cực khổ: một kẻ thù không đội trời chung và khó nắm bắt, các bãi mìn giăng bẫy và các cuộc mai phục, kiến lửa và đỉa, rừng rậm, đầm lầy, và cái nóng ngột ngạt. Ở những nơi có sự tham chiến của các đơn vị lớn, quân Mỹ thường giành thắng lợi. Họ chiến đấu một cách dũng cảm. Họ đáp lại lời kêu gọi của đất nước mình và vượt qua nhiều khó khăn - kể cả “ở đất nước đó” và, thật buồn, là cả sau khi về nước nữa.

Nhưng vấn đề, từng gây tranh cãi không phải là lòng dũng cảm của binh lính Mỹ ở Việt Nam mà là họ phải chiến đấu như thế nào trên chiến trường. Vấn đề này trở thành trọng tâm của sự bất đồng to lớn giữa Westy và lực lượng lính thủy đánh bộ (cùng với một số nhân tố trong quân đội) trong thời kỳ này. Cho rằng chiến lược “tìm và diệt” đang đùa bỡn với sức mạnh của quân Việt cộng và Bắc Việt Nam, những người chỉ trích - đặc biệt là trong lực lượng hải quân - thiên về chiến lược chống chiến tranh du kích xen kẽ, kết hợp việc bảo vệ dân chúng với việc giải phóng dần dần các làng xã mà Việt cộng kiểm soát. Mặc dù bị chia rẽ sâu sắc, giới quân sự chưa bao giờ thảo luận một cách đầy đủ về những bất đồng của họ trong các hoạt động chiến lược hay bàn bạc về chúng một cách cụ thể với tôi. Trên cương vị là Bộ trưởng Quốc phòng, đáng lẽ ra tôi đã phải buộc họ làm cả hai việc đó.

Chiến lược làm tiêu hao sinh lực địch của Westy phần lớn dựa vào sức mạnh bom đạn. Đạn súng cối và bom napan được trút xuống như mưa ở những vùng căn cứ của Việt cộng và quân Bắc Việt Nam ở Nam Việt Nam. Thường là khó phân biệt những người nào là lính chiến đấu và những người nào không phải là lính chiến đấu. Trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1967, lực lượng không quân Mỹ và Nam Việt Nam đã thả hơn 1 triệu tấn bom ở miền Nam, gấp hơn hai lần so với số bom ném xuống miền Bắc2. Chiến sự làm cho số thương vong trong dân thường tăng lên và hàng loạt trại tị nạn bẩn thỉu ra đời. Sự huỷ diệt và nỗi thống khổ ngày càng tăng đổ lên đầu một đất nước mà đáng ra chúng ta phải giúp đỡ, làm cho tôi vô cùng day dứt. Điều đó, cũng phá huỷ, tuy không cố ý nhưng sâu sắc, chương trình bình định được lập ra nhằm mở rộng an ninh tới vùng nông thôn và giành lấy “trái tim và khối óc” của người dân Nam Việt Nam. Và nó làm tổn thương tới bất kỳ cố gắng nào nhằm giành được sự ủng hộ của dân chúng đối với chính quyền Sài Gòn - điều cốt yếu để đánh bại được Việt cộng.

Một chế độ quan liêu thối nát ở Sài Gòn và sự phối hợp kém chặt chẽ giữa quân Nam Việt Nam và quân Mỹ (và ngay cả giữa quân Mỹ với nhau nữa) cũng đã kìm hãm những cố gắng của chúng ta. Những nguồn ngân quỹ được hứa hẹn dành cho nhiều dự án không bao giờ tới được đích của nó, và nhiều quan chức địa phương xem cuộc bình định là một mối đe doạ đối với những bổng lộc và quyền lực của họ. Người dân ở các làng xã bị tổn thương bởi cuộc chiến tranh thường đón nhận những nỗ lực này bằng sự hờ hững và thận trọng. Chúng ta chưa bao giờ trình bày một cách đầy đủ về việc kế hoạch này phải được chỉ đạo tiến hành ra sao và do ai chỉ đạo, đặc biệt là đối với một chính phủ thiếu hiệu quả và thiếu trách nhiệm ở Nam Việt Nam. Khi chúng ta cố gắng thúc đẩy nhanh tiến bộ của các cuộc bình định, chúng ta chỉ càng bị thất bại nhanh hơn.

Vào mùa thu năm 1966, tôi khuyến nghị Tổng thống tổ chức lại việc thực hiện kế hoạch bình định này - lúc đó đặt dưới sự kiểm soát của Đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Tôi thuyết phục để chúng ta đặt cả các cuộc hành quân quân sự lẫn các kế hoạch bình định dưới sự chỉ huy trực tiếp của MACV. Đề nghị này gây ra sự phản đối quan liêu mạnh mẽ ở cả Sài Gòn lẫn Washington, do đó tôi đã thay đổi chiến thuật. Tôi khuyến nghị việc tập trung quyền chỉ huy và làm rõ trách nhiệm, đặt các cuộc hành quân quân sự dưới sự chỉ đạo của Westy và kế hoạch bình định dưới sự chỉ đạo của Phó đại sứ William Porter. Sau một cuộc thử sức, nếu kế hoạch trên không đem lại kết quả, tôi khuyến nghị đặt cả hai hoạt động trên dưới sự chỉ đạo của Westy. Điều này đã không bao giờ được thực hiện, và đó là một sai lầm nghiêm trọng3.
_______________________________________
1. Thông điệp viết tay của Tướng Wheeler, 23/4/1966, tài liệu của Robert S. McNamara, Bộ Quốc phòng.
2. George C. Herring, Cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ: Hoa Kỳ và Việt Nam, 1950-1975, xuất bản lần thứ 2 (New York: Knopf, 1986), tr. 151.
3. Xem Báo cáo của R. W. Komer gửi Tổng thống, 13/9/1966, NSF, LBIL; và báo cáo cho Tổng thống, chủ đề: Đề nghị các hoạt động tại Việt Nam, 14/10/1966, RSMP.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #111 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 12:40:13 am »


Trong khi đó, cuộc chiến tranh bằng không quân được tăng cường. Các cuộc không kích chống lại Bắc Việt Nam tăng lên từ 25.000 vụ năm 1965 lên 79.000 vụ năm 1966 và 108.000 vụ năm 1967, và số lượng bom đạn ném xuống đây tăng từ 63.000 tấn lên 136.000 tấn, rồi 226.000 tấn1. Các cuộc ném bom đã làm cho miền Bắc bị tàn phá; nó hướng việc sử dụng nguồn nhân lực và vật lực, mà lẽ ra có thể đã được sử dụng vào mục đích quân sự, sang hướng khác; nó cản trở việc điều động người và của cho miền Nam. Nhưng cái giá phải trả là nặng nề: các phi công Mỹ bị mất tích; các phi công Mỹ bị bắt đã giúp cho Hà Nội có được những con tin; số thường dân bị thương vong tăng lên gấp bội. Hơn thế nữa, việc một siêu cường liên tục đánh phá một đất nước nhỏ bé đã tạo cho Bắc Việt Nam một công cụ tuyên truyền có sức mạnh. Và, cuối cùng, việc ném bom đã không đạt được các mục tiêu cơ bản của nó: trong khi chiến dịch Sấm Rền được đẩy mạnh, tình báo Mỹ dự đoán rằng số quân xâm nhập vào miền Nam tăng từ khoảng 35.000 quân trong năm 1965 lên 90.000 trong năm 1967, trong khi đó ý chí của Hà Nội tiếp tục cuộc chiến đấu vẫn rất vững chắc2.

Tôi không tin rằng cuộc ném bom chiến lược sẽ đem lại hiệu quả trừ khi nó nhằm vào các mục tiêu là các cơ sở sản xuất, không cho sản xuất ra các sản phẩm cơ bản, và ngăn chặn việc sử cụng các sản phẩm và phương tiện thay thế. Nhưng các cơ sở sản xuất cho Bắc Việt Nam và Việt cộng lại nằm ở Liên Xô và Trung Quốc. Mỹ không thể đánh phá các mục tiêu này trừ phi sử dụng các biện pháp chính trị (chứ không phải là quân sự). Cũng tương tự, tôi cho rằng việc ném bom để ngăn chặn việc gửi người và vật chất cho miền Nam sẽ chỉ có hiệu quả trong những trường hợp đặc biệt. Dường như việc này không thể có được hiệu quả trong trường hợp ở Bắc Việt Nam và Lào, vì đặc điểm địa hình, nhu cầu được cung cấp vật chất thấp, và khả năng thay thế các con đường lựa chọn và các phương tiện cấp phát, đặc biệt là trong môi trường có nhiều sức lao động như ở Bắc Việt Nam. Tất cả những điều này đã đưa tôi đi đến kết luận rằng không một khối lượng bom nào ném xuống miền Bắc - trừ phi là một sự huỷ diệt có tính chất diệt chủng, điều mà không một ai tính tới - có thể chấm dứt nổi cuộc chiến tranh.

Các Tham mưu trưởng liên quân lại nhìn nhận theo cách khác và gây sức ép đòi thực hiện một kế hoạch ném bom nhiều tham vọng hơn trong mùa xuân năm 1966. Họ chủ trương tấn công các kho xăng dầu ở Hà Nội và Hải Phòng với lập luận rằng việc này sẽ giáng cho Bắc Việt Nam một đòn chí tử. Tổng thống và tôi ngần ngại trong việc tấn công những kho này vì nhiều lý do, trong đó có mối nguy hiểm rằng một tàu của Liên Xô ở gần đó có thể vô tình bị trúng bom dẫn đến nguy cơ về một cuộc đối đầu giữa hai siêu cường hạt nhân.*

Cuối cùng, vào cuối tháng 6/1966, chúng tôi đã cho phép thực hiện các cuộc không kích này. Các cơ sở dự trữ xăng dầu bị đánh phá, nhưng thiệt hại chỉ gây trở ngại cho Bắc Việt Nam trong một thời gian ngắn. Họ nhanh chóng thích nghi được với tình hình, phân tán xăng dầu đựng trong những thùng chứa ở dưới mặt đất và dấu những chiếc thùng hình ống có dung tích 55 galông rải rác trên khắp cả nước và bù đắp lại những thiệt hại của các cuộc oanh tạc này bằng việc lấy dầu từ nguồn dầu lửa đã được tăng lên, vận chuyển bằng tàu hoả từ Trung Quốc và bằng việc lấy dầu từ các tàu chở dầu của Liên Xô neo ở ngoài khơi xuống chở bằng xà lan, sau đó các xà lan sẽ vận chuyển số xăng dầu này tới các điểm trung chuyển nằm rải rác dọc theo nhiều cửa sông ở vùng đồng bằng sông Hồng.
_________________________________
1. Herring, Cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ, tr. 146.
2. Sách đã dẫn, tr. 149.
* Mối lo ngại của chúng tôi về nguy cơ của một cuộc đối đầu với Liên Xô đã được minh chứng vào mùa hè sau đó, khi tôi được triệu đến Lầu Năm Góc vào một buổi sáng chủ nhật. Matxcơva phản đối rằng các máy bay của Mỹ đã oanh tạc một trong những chiếc tàu buôn của họ đang neo dậu ở cảng Cẩm Phả, đông bắc Hải Phòng. Nắm chắc sau một cuộc điều tra do Đô đốc Hải quân Oley Sharp tiến hành rằng câu chuyện này không có giá trị, tôi rạ lệnh cho văn phòng phụ trách các vấn đề của dân chúng ra một tuyên bố phản đối gay gắt. Vài tuần sau đó, tư lệnh không quân Mỹ ở vùng Thái Bình Dương, Tướng John D. Ryan, trong một chuyến công du tới Thái Lan, đã biết được rằng 4 máy bay Mỹ đúng thực là đã ném bom trúng chiếc tàu này của Liên Xô trong khi tấn công những trận địa pháo phòng không ở gần đó. Khi những chiếc máy bay này trở về căn cứ ở Thái Lan sau khi hoàn thành nhiệm vụ, 2 trong số 4 phi công nói trên đã báo cáo lại vấn đề này cho viên chỉ huy phi đội của họ, một đại tá, người sau đó đã ra lệnh huỷ cuốn phim chụp các nục tiêu và sửa lại những báo cáo sau trận đánh đó. Viên đại tá này về sau đã bị đưa ra toà án quân sự và phải nộp tiền phạt. Theo tôi được biết, đây là trường hợp duy nhất trong suốt 7 năm tôi làm việc ở Bộ Quốc phòng, một lời nói dối một trăm phần trăm của một sĩ quan quân sự đã tác động đến sự hiểu biết và giải thích về một sự kiện của tôi.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #112 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 12:41:53 am »


Thất bại của các cuộc không kích trong tháng 6 nhằm ngăn cản ý đồ và khả năng của Bắc Việt Nam trong việc tiếp tục hậu thuẫn cho cuộc chiến tranh ở miền Nam đã làm tôi phải tính tới các phương án khác. Vào mùa hè năm 1966, tôi đề nghị một nhóm các nhà khoa học nổi tiếng làm việc theo hợp đồng với khoa JASON của Viện Phân tích các vấn đề về quốc phòng của Lầu Năm Góc - trong đó có George Kistiakowsky, nguyên là cố vấn về khoa học của Tổng thống Eisenhower và Jerome Wiesner, Chủ tịch của MIT - nghiên cứu về vấn đề này. Nhóm này kết luận rằng việc ném bom thực sự không đem lại hiệu quả và khuyến nghị việc lập một “barie” như là một biện pháp thay thế để kiểm soát việc thâm nhập của miền Bắc vào miền Nam. Đây là phương pháp lần đầu tiên tôi đã nghĩ tới vào mùa xuân năm 1966, sẽ gồm việc lập ra một vành đai phức tạp gồm mìn và các máy cảm ứng dọc theo đường giới tuyến quân sự và vùng đất hình cán xoong xuống phía tây của Lào. (Các máy nhạy cảm này sẽ hướng dẫn các máy bay của chúng ta tấn công các lực lượng địch đang di chuyển). Việc dựng lên hàng rào này sẽ phải chi phí tốn kém, nhưng vì việc ném bom tỏ ra không có hiệu quả, tôi đã cho phép lập hàng rào này và cử Trung tướng Alfred D. Starbird giám sát việc thực hiện kế hoạch này. Các Tham mưu trưởng phản ứng một cách lạnh nhạt đối với sáng kiến này nhưng không phản đối mạnh mẽ. Một khi được dựng lên, hàng rào này nhằm mục đích tăng tổn thất của các cuộc thâm nhập từ miền Bắc vào và nó đã làm được điều đó*.

Trong khi đó, các Tham mưu trưởng liên quân lại tiếp tục gây áp lực đòi thực hiện các cuộc không kích ác liệt hơn nữa chống lại miền Bắc trong mùa thu 1966 và bước vào năm 1967. Những bất đồng của chúng tôi được đưa ra ánh sáng trong các cuộc chất vấn ở Thượng viện. Khi Bus Wheeler và tôi phát biểu điều trần trước Uỷ ban về các vấn đề quân sự của Thượng nghị viện vào tháng 1, đã xảy ra một cuộc trao đổi ý kiến như sau:

Bộ trưởng Quốc phòng McNamara: Tôi không tin rằng cho tới nay việc ném bom cũng như bất kỳ một cuộc ném bom nào mà tôi dự tính sẽ thực hiện trong tương lai, sẽ giảm được một cách đáng kể, số người và của cải đang đổ vào miền Nam.

Thượng nghị sỹ Cannon: Các cố vấn quân sự có nhất trí với ông về vấn đề này không?

Bộ trưởng Quốc phòng McNamara: Tôi cho rằng Tướng Wheeler sẽ trả lời câu hỏi này.

Tướng Wheeler: Như tôi đã trình bày, tôi cho rằng việc ném bom miền Bắc của chúng ta đã làm giảm được số người và của đổ vào miền Nam. Tôi không hề làm giảm hiệu quả của việc này xuống mức như một số người khác làm1.

Những tuyên bố trên đây ám chỉ bất đồng đang trở nên sâu sắc giữa Tham mưu trưởng và tôi, sự xích mích tất yếu - và ngày càng tăng - mà nó gây ra.
______________________________________
* Giải thích của tôi về hàng rào chống thâm nhập này (hay như một số người gọi là hàng rào McNamara) chủ yếu dựa vào hồi ức chứ không phải là vào các số liệu thời đó - phần lớn là bởi vì bản kế hoạch JASON tháng 8/1966 còn cần phải chờ để được loại ra khỏi số tài liệu thuộc bí mật quốc gia.
1. Điều trần trước Ủy ban Quân sự và Đánh giá của Thượng nghị viện về bổ sung ngân sách và quyền hạn cho năm tài chính 1967, 23/1/1967, tr. 70.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #113 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:09:30 pm »


Qua nhiều tháng dài thảo luận về chiến lược mặt đất, bình định và ném bom, những nỗ lực khởi động tiến trình dẫn đến một giải pháp thương lượng lại được tiếp tục, tuy nhiên chúng không liên tục, nghiệp dư và không có kết quả.

Các nhà phê bình thường nói rằng chính quyền Johnson không bao giờ làm chủ được một công việc tinh tế là khởi sự hoà bình ở giữa thời kỳ tiến hành chiến tranh có giới hạn. Ba cố gắng ngoại giao thời kỳ này đã cho thấy bằng cớ của những lời buộc tội này: phi vụ Ronning mùa xuân 1966 và hai phi vụ khác có mật danh Marigold vào nửa cuối năm 1966 và Sunflower vào đầu năm1967. Ba phi vụ này đã phản ánh quan điểm chung của chúng ta nhằm giành một giải pháp chính trị ở Việt Nam năm 1966 và đầu năm 1967, và tại sao chúng ta thất bại.

Sau kế hoạch chết yểu ngừng ném bom nhân dịp Lễ Giáng sinh mà các nhà phê bình thường buộc tội là đã dẫn đến sự gia tăng thương vong của Mỹ và tăng sức ép mở rộng ném bom bằng không quân. Tổng thống rõ ràng trở nên do dự hơn về những sáng kiến tiếp theo. Tuy nhiên, điều làm ông khó chịu hơn là chỉ hai tháng sau ông lại phải đối phó với một cố gắng như vậy. Lần này, nó bắt nguồn không phải từ tôi mà từ Thủ tướng Canađa Lester Pearson. Vào tháng 3, một nhà ngoại giao và là một tay nghiên cứu cự phách về Viễn đông của Canađa đã nghỉ hưu - ông Chester A. Ronning đã tới Hà Nội và mang về một thông điệp của Thủ tướng Bắc Việt Nam Phạm Văn Đồng rằng, nếu như Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc “vĩnh viền và không điều kiện, chúng tôi sẽ nói chuyện”1.

Người Canađa xem bức thông điệp này của ông Phạm Văn Đồng là một cử chỉ hoà bình có thiện chí chân thật; đối với họ, đây dường như là một bước tiến vượt ra khỏi lập trường của Hà Nội trước đây khăng khăng đòi Mỹ chấp nhận kế hoạch 4 điểm trước khi có đàm phán. Nhiều người ở Washington không đồng tình như vậy. Họ nghi ngờ những lời chỉ trích công khai trước đây của Pearson và Ronning về chính sách đối với Việt Nam của Washington và cảm thấy rằng những lời lẽ của ông Đồng chứa đựng sự mơ hồ thông minh và có chủ ý - chẳng hạn việc sử dụng từ “nói chuyện” chứ không phải là “đàm phán” dường như chỉ ngụ ý về những cuộc tiếp xúc ban đầu, chứ không phải những cuộc thảo luận thực chất. Hơn thế nữa, Tổng thống ngần ngại ngừng ném bom một lần nữa mà không có một sự nhân nhượng có đi có lại nào từ phía Hà Nội. Vì vậy, chính quyền Johnson đã bác bỏ việc ngừng ném bom lần nữa. Nhìn lại quá khứ chúng ta đã sai lầm khi không đề nghị Ronning ít ra là cũng thăm dò kỹ hơn nữa ý nghĩa những lời lẽ của ông Đồng.
__________________________________
1. Xem Herring, Ngoại giao bí mật, tr. 160.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #114 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:11:18 pm »


Ít tháng sau, vào tháng 6/1966, đai diện của Ba Lan tại ICC*. Januscz Lewandowski, trở về Sài Gòn sau một chuyến công du tới Hà Nội, với cái mà ông gọi là “một đề nghị hoà bình rất dặc biệt”. Ông nói rằng những người Bắc Việt Nam sẵn sàng đi tới một “thoả hiệp chính trị” để chấm dứt cuộc chiến tranh và sẵn sàng “đi một chặng đường dài” đề đạt được điều đó. Lewandowski đã thông báo việc này cho Trưởng đoàn ngoại giao ở Sài Gòn lúc đó, Đại sứ Italia Giovanni D’Orlandi. D’Orlandi thông báo lại cho Đại sứ Henry Cabot Lodge và Lodge đã báo cáo về Washington. Kênh thông tin này được biết đến với biệt danh “cúc vạn thọ” (Marigold)1. Các cuộc thảo luận bí mật diễn ra suối mùa hè giữa Lewandowski và ông Lodge cao gầy lênh khênh ẩn mình ở hàng ghế sau của chiếc xe riêng, đi tới văn phòng hoặc nhà riêng của D’Orlandi để trách bị theo dõi.

Trong tháng 9, Tổng thống uỷ quyền cho Arthur Goldberg đọc một bài diễn văn quan trọng ở Đại hội đồng Liên hợp quốc, trong đó Goldberg thông báo Mỹ sẽ chấm dứt hoàn toàn ném bom Bắc Việt Nam chừng nào mà Mỹ được bảo đảm chắc chắn kín đáo hay công khai, rằng bước đi này sẽ được đáp lại ngay lập tức bằng một cuộc xuống thang tương ứng và phù hợp của phía bên kia”2.

Kể từ cuộc ngừng ném bom nhân dịp Lễ Giáng sinh năm 1965, chúng ta khăng khăng đòi Hà Nội phải giảm các hoạt động trên mặt đất của họ cùng lúc với việc Mỹ ngừng ném bom. Người Bắc Việt Nam có vẻ coi việc này như là một cố gắng nhằm buộc họ xuống thang dưới sự đe doạ của việc tiếp tục ném bom. Họ bác bỏ việc có bất kỳ một sự thay đổi nào dưới sức ép như vậy. Nhằm xóa bỏ hố ngăn cách trong lập trường của hai bên, bấy giờ chúng ta nói một cách thực chất: “Hãy đưa ra cho chúng tôi những đảm bảo bí mật về một cái gì đó hơn là “nói chuyện”, và chúng tôi sẽ ngừng ném bom ngay lập tức sau đó chúng tôi hy vọng rằng các ngài sẽ đáp lại bằng việc giảm các cuộc thâm nhập và các hoạt động quân sự ở miền Nam”. Việc nay được đưa ra để nhằm lấy lại danh dự cho Hà Nội do việc giảm các hoạt động quân sự của họ được biết đến dưới cái tên Công thức giai đoạn A - giai đoạn B.

Dựa trên công thức mới này, vào tháng 11, Lewandowski tuyên bố có sự đảm bảo của Bắc Việt Nam đồng ý gặp gỡ với Mỹ tại Vácsava bắt đầu vào ngày 5/12/1966. Vào ngày 2 và 4/12, máy bay Mỹ oanh tạc các mục tiêu mới ở xung quanh Hà Nội theo kế hoạch đã định sẵn cho ngày 10/11 nhưng bị hoãn lại do thời tiết xấu. Người Ba Lan phản ứng một cách giận dữ việc định trước thời gian không may mắn này, nhưng vẫn thoả thuận tiếp tục như đã định. Đại sứ Mỹ tại Ba Lan John Gronouski đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan Adam Rapacki vào ngày 6/12, phía Bắc Việt Nam không có mặt. Tuy vậy, phía Ba Lan vẫn tiếp tục cố gắng để làm cho hai bên tiếp xúc được với nhau. Gronouski và Rapacki gặp lại nhau vào ngày 13/12. Đúng vào ngày hôm đó (và cả ngày hôm sau đó nữa). Mỹ lại ném bom các mục tiêu ở xung quanh Hà Nội - lần này với cường độ tăng gấp đôi so với các cuộc ném bom hồi đầu tháng 12.

Vì sao một việc như vậy lại có thể xảy ra? Các quan chức cao cấp Mỹ nghi ngờ rằng Hà Nội có thể đã hiểu lầm các cuộc oanh tạc vòng hai này ngay trước các cuộc nói chuyện. Lodge, Gronouski, Thứ trưởng Ngoại giao Nicholas Katzenbach, Tommy Thompson và tôi đã gắng sức thuyết phục Tổng thống hoãn chúng lại. Nhưng Johnson, vẫn còn bị ảnh hưởng bởi những tác động về sau của cuộc ngừng ném bom dịp Lễ Giáng sinh, cảm thấy rằng việc hoãn ném bom có thể sẽ được đánh giá là một sự suy yếu. Và ông đã bác bỏ đề nghị của chúng tôi.

Lập tức có phản ứng. Ngày 15/12. Rapacki thông báo với Gronouski rằng những cuộc ném bom của Mỹ đã chấm dứt các cuộc nói chuyện. Một quan chức Đại sứ quán Liên Xô ở Washington về sau này nói với John McNaughton: Matxcơva tin rằng đã từng có một bầu không khí thuận lợi cho các cuộc đàm phán, nhưng những vụ oanh tạc đó đã “phá hoại bầu không khí này”. Ông nói thêm là có những lực lượng ở Hà Nội muốn thoả hiệp nhưng họ đã không thể “trở nên tích cực được trong một hoàn cảnh mà bom đạn đang rơi xuống Hà Nội”3.
_____________________________________
* ICC là cơ quan được thành lập năm 1954 để giám sát việc thực hiện Hiệp định Geneva, bao gồm đại diện các nước Canada, Ấn Độ và Ba Lan.
1. Embtel 5840 (Sài Gòn), Lodge gửi Rusk, 29/6/1966, phần trích trong sách đã dẫn, tr. 231-239.
2. Xem bài của Goldberg 22/9 trong New York Times, 23/9/1966.
3. Báo cáo về cuộc nói chuyện giữa McNaughton và Bộ trưởng Zinchuk, 3/1/1967, Báo cáo gửi Tổng thống - Walt Rostow, NSF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #115 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:12:02 pm »


Liệu có phải là những vụ ném bom trong tháng 12 ấy đã phá vỡ các cố gắng nghiêm chỉnh dẫn tới hoà bình không? Một quan chức Mỹ, theo dõi những động thái này, Chet Cooper, cho rằng Bắc Việt Nam “ở mức tối đa có thể được... đã giành cho Lewandowski một giấy phép đi săn chứ không phải là một cam kết dứt khoát nào”. Về sau, Nick Katzenbach đã mô tả kế hoạch Marigold là “đồ rởm”.

Có lẽ cả hai người đã đúng hoặc là không ai đúng cả.

Ít tuần sau đó, sáng kiến hoà bình thứ ba (mang tên Hoa hướng dương) đã dẫn đến một thất bại hoàn toàn và lố bịch hơn nữa - một kế hoạch đã có lúc làm căng thẳng nghiêm trọng quan hệ Mỹ - Anh. Sáng kiến này bao gồm ba hướng tiếp xúc riêng biệt... Tiếp xúc trực tiếp với Đại sứ quán Việt Nam ở Matxcơva, một bức thư riêng của Tổng thống Johnson gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh; và một cố gắng của Thủ tướng Anh Harold Wilson thông qua Thủ tướng Liên Xô Alexei Kosygin.

Sáng kiến này được bắt đầu tháng 1/1967, khi người Nga thông báo cho Đại sứ quán của chúng ta ở Matxcơva rằng nếu chúng ta đề nghị gặp đại biện lâm thời của Bắc Việt Nam, các cuộc tiếp xúc ban đầu có thể đạt kết quả và có thể dẫn đến những cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh. Một quan chức cao cấp của Mỹ đang ở Matxcơva lúc đó là John Guthrie, đã gặp quan chức của Hà Nội, ông Lê Trang vào ngày 10/1. Guthrie báo cáo lại rằng ông Trang tỏ ra bối rối, chỉ im lặng nghe và không nói gì. Tuy nhiên, ông ta đã mời Guthrie quay trở lại gặp lần thứ hai. Trong lần gặp gỡ đó, Guthrie đã phác hoạ một kịch bản về việc cuộc chiến tranh sẽ kết thúc như thế nào: một cuộc ngừng bắn, tiếp theo đó là rút quân, tổ chức bầu cử, sự tham gia có tính chất chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, và cuối cùng là thống nhất Bắc và Nam Việt Nam. Ông Trang lại nghe một cách lặng lẽ. Một tuần sau đó, vào ngày 27/1, ông ta mời Guthrie đến một lần nữa. Lần này, ông Trang đón tiếp Guthrie bằng một cuộc luận chiến dài và có tính chất chỉ trích.

Ngày 6/2, Thủ tướng Wilson đón Alexei Kosygin đến thăm chính thức London. Một đợt ngừng ném bom ngắn ngủi nhân dịp Tết cổ truyền của Việt Nam vừa mới được bắt đầu. Wilson và Kosygin bàn về tuyên bố cách đó không lâu của Bộ trưởng Ngoại giao Bắc Việt Nam Nguyễn Duy Trinh rằng cuộc nói chuyện “có thể bắt đầu” nếu như cuộc ném bom được ngừng vô điều kiện. Khi Kosygin không thể, hay là không muốn, đảm bảo rằng các cuộc nói chuyện sẽ bắt đầu sau khi ngừng ném bom. Wilson đưa ra công thức giai đoạn A - giai đoạn B. Những bằng chứng về việc Bắc Việt Nam tăng cường thâm nhập đã làm cho Tổng thống có quan điểm cứng rắn hơn đòi hai bên cùng xuống thang, trong bức thư riêng gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8/2. Mỹ yêu cầu Wilson huỷ bỏ công thức giai đoạn A - giai đoạn B và thay vào đó một công thức mới: Washington sẽ ngừng ném bom nếu Hà Nội ngừng thâm nhập vào miền Nam. Wilson phản ứng một cách tức giận nhưng vẫn chuyển đề nghị đó tới Kosygin.

Sau đó, Mỹ miễn cưỡng chấp nhan đề nghị vào giây phút cuối cùng của Wilson là kéo dài việc ngừng ném bom nhân dịp Tết thêm vài tiếng đồng hồ để Kosygin có thể chuyển công thức mới đó cho Hà Nội. David K.E. Bruce, vị Đại sứ có năng lực của chúng ta tại London và là một người bạn cũ của tôi (sau này tôi là người túc trực bên quan tài trong tang lễ của ông) đề nghị kéo dài thêm 48 tiếng đồng hồ. Tổng thống chỉ đồng ý trong 6 tiếng. Kosygin hứa sẽ làm những gì có thể, nhưng ông tỏ ra giận dữ. Bruce gọi điện thoại cho Dean Rusk nói rằng giới hạn về thời gian này là vô lý; Kosygin không thể liên lạc với Hà Nội và có được trả lời trong một khoảng thời gian ngắn như vậy. Ông yêu cầu Dean gặp Tổng thống và đề nghị kéo dài thêm vài ngày.

Dean từ chối, và có lẽ là ông ta đã đúng. Tôi ở trong Phòng họp nội các và đã lên tiếng ủng hộ Tổng thống khi, trong lúc bực tức, ông nói rằng chúng ta đã kéo dài việc ngừng ném bom hai lần và bác bỏ việc kéo dài thêm nữa. Quyết định này của ông dựa trên bằng chứng là Bắc Việt Nam đã tăng cường các vụ xâm nhập trong thời gian mỗi cuộc ngừng ném bom này, và lời khẳng định của Tổng tham mưu trưởng liên quân rằng điều đó đã làm tăng thêm thương vong của lính Mỹ ở Nam Việt Nam. Thêm nữa, trong trường hợp này, chúng tôi được biết về một cuộc chuyển quân rất lớn của Bắc Việt Nam. Việc ném bom được tiếp tục, thậm chí trước cả khi Wilson có cơ hội nhận được trả lời từ phía Nga.

Hai năm sau, Wilson nói trước một nhóm khán giả truyền hình: “Tôi cho rằng chúng tôi lúc ấy đã đi rất gần tới đích... sau đó tất cả mọi việc đã bị phá hỏng”. Ông nói việc kéo dài ngừng ném bom trong 48 tiếng đồng hồ có thể đã mang lại kết quả. Cùng lúc đó, Tommy Thompson, một lần nữa được cử làm Đại sứ ở Matxcơva, báo cáo rằng viên Đại sứ Liên Xô ở Washington, ông Anatoly Dobrynin đã nói, “Những tuyên bố của Kosygin ở London... không phải là được làm bằng không khí” - nói cách khác, người Nga có lý do để tin rằng Bắc Việt Nam đã sẵn sàng đi tới đàm phán1.

Vậy Wilson và Kosygin có đúng không? Một lần nữa, chúng ta lại không bao giờ có thể biết được. Nhưng tôi biết chắc một điều: chúng ta đã thất bại thảm hại trong việc liên kết và phối hợp các hoạt động quân sự và ngoại giao của chúng ta khi chúng ta tìm kiếm sự kết thúc cho cuộc chiến tranh này.
______________________________________
1. Trích dẫn của Wilson trong The Washington Post, 26/7/1969; và Embtel 5015 (Mátxcơva), Thompson gửi Rusk, 19/5/1967, NSF, LBJL.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #116 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:13:03 pm »


Từ đầu năm 1966 đến giữa năm 1967, sự ủng hộ của công chúng đối với chính sách Việt Nam của chính quyền đáng ngạc nhiên là vẫn mạnh, mặc dù số lính Mỹ thương vong tăng lên và các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng soi xét cuộc chiến một cách kỹ lưỡng hơn. Sau lệnh ngừng ném bom nhân dịp Lễ Giáng sinh, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy khoảng hai phần ba người Mỹ có thái độ trung dung về cuộc chiến tranh. Chẳng hạn ngày 28/2/1966, Louis Harris đã báo cáo: “Hiện nay ở trong nước có sự nhất trí về một điểm đối với cuộc chiến tranh Việt Nam: nhân dân Mỹ mong muốn kết thúc chiến tranh trong danh dự, nhưng tỷ lệ cho rằng chúng ta phải tiếp tục và đi đến cùng là 2-1”. Tuy nhiên Harris cũng cho thấy “trong công chúng Mỹ ngày càng có sự chia rẽ giữa những người tán thành một nỗ lực quân sự tổng hợp để rút ngắn chiến tranh và những người mong muốn đàm phán hơn là mạo hiểm leo thang chiến tranh”. Harris kết luận: “Nếu có sự vận động về quan điểm ở nước Mỹ thì sẽ là theo hướng tìm kiếm một giải pháp quân sự cho cái mà nhiều người cho là sự bế tắc thất vọng”1. Những người tán thành cách đề cập “ráng kết thúc hay rút ra” của Thượng nghị sĩ Richard Russell dường như đang nhận được sự ủng hộ của công chúng.

Sức ép từ cánh tả kêu gọi chúng tôi xuống thang hay rút lui lên đến cực điểm đầu năm 1968 với sự chống đối mạnh mẽ đã đóng góp vào quyết định của Tổng thống Johnson không ra tái cử. Nhưng đó không phải là mối lo ngại chính của chúng tôi trong năm 1966 và hầu hết năm 1967. Tổng thống, Dean và tôi lo lắng nhiều về sức ép của cánh hữu. Phái điều hâu đã buộc tội chúng tôi là đang bắt quân đội chiến đấu mà một tay bị trói sau lưng, và họ đòi chúng tôi tung ra toàn bộ sức mạnh quân sự của nước Mỹ.

Tuy nhiên, chúng tôi tin là trong một thế giới hạt nhân, một cuộc chiến tranh không có giới hạn ở Việt Nam đã đặt ra những nguy cơ hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với nước Mỹ và cả thế giới nữa. Vì thế, theo lời Dean thì “điều có thể giải quyết được một cách có lương tâm thì chúng tôi lại cố làm một cách lạnh lùng”. Bà Bird đã thấy được thế tiến thoái lưỡng nan của chúng tôi khi bà viết trong nhật ký của mình: một luồng không khí khó chịu đang treo lơ lửng trên đầu mọi vật. Khí chất của dân tộc chúng ta dường như là bạn phải hoặc sôi nổi, cuồng nhiệt, chiến đấu và ráng kết thúc, hoặc chúng ta phải rút ra. Đánh một cuộc chiến có giới hạn thì thật khó khăn không thể tin được”2.

Mặc dầu vậy, sự bất đồng chính kiến thể hiện bằng lời và bằng bạo lực của cánh tả bắt đầu tăng lên, đặc biệt là ở các trường đại học. Những người bất đồng thường xuyên nhằm vào tôi như là biểu tượng của “cỗ máy chiến tranh”của nước Mỹ. Trong một tuần vào tháng 6/1966, giáo viên và sinh viên ở hai trường đại học Amherst và New York đã bỏ ra ngoài khi tôi lên nhận học vị danh dự. Trước đó không lâu, những người đứng gác biểu tình đã huýt sáo chế diễu tôi khi tôi phát biểu trước lớp tốt nghiệp của Kathy, con gái thứ của tôi, ở Trường Đại học Chatham.

Tôi tôn trọng quyền bất đồng chính kiến của sinh viên và tinh thần của họ qua hành động như vậy. Tại Chatham tôi đã phát biểu: “Ngày nay trong một số sinh viên đang có sự phản đối nghiêm trọng: Nhưng dù một số cuộc phản đối cực đoan này có thể đem lại sự an ủi gì cho kẻ thù của chúng ta... thì chúng ta vẫn phải hiểu thật rõ các nguyên tắc và những ưu tiên của chúng ta. Đây là một quốc gia mà trong đó, quyền tự do phản đối là hết sức cơ bản”. Một dịp khác tôi đã nói: “Tôi không cho rằng chúng ta lại có thể có dân chủ mà không có tự do bất đồng quan điểm”. Lúc đó tôi đã tin như vậy và cho đến nay tôi vẫn tin3.
______________________________________
1. The Washington Post, 28/2/1966.
2. Nhiều lý do vì sao, Charlton và Moncrieff, tr. 115, và nhật ký ngày 5/1/1967, Bà Bird Johnson, Tập nhật ký của Nhà Trắng (New York: Holt, Rinehart và Winston, 1970), tr. 469.
3. Phát biểu tại lễ trao bằng ở trường Chatham, 22/5/1966, PSRSM, 1966, t.7, tr. 2333.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #117 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:27:24 pm »


Điều làm tôi lo nhất trong các chuyến đi thăm các trường là tôi nhận ra rằng mức độ phản đối chính sách Việt Nam của chính quyền cũng tăng lên cùng danh tiếng của trường và thành tích học tập của sinh viên. Tại Amherst, những sinh viên phản đối sự có mặt của tôi đều đeo băng tay. Tôi đã đếm số lượng và tính tỷ lệ những sinh viên phản đối theo bốn nhóm: sinh viên tốt nghiệp hạng kém, sinh viên tốt nghiệp hạng yếu, sinh viên tốt nghiệp hạng trung bình và sinh viên tốt nghiệp hạng ưu. Tôi bàng hoàng vì các tỷ lệ tăng lên theo mức học vấn xét theo kết quả học tập. Một số trong các cuộc biểu tình lớn nhất và căng thẳng nhất của sinh viên xảy ra ở những trường hàng đầu như Berkeley và Stanford.

Cuộc biểu tình đầu tiên và tồi tệ đã nổ ra tại Trường Đại học Harvard mùa thu năm 1966. Giáo sư Richard Neustadt của Trường Kennedy thuộc Đại học Harvard đã mời tôi đến phát biểu trước một nhóm sinh viên đại học. Cùng thời gian này, Henry Kissinger, người đang giảng bài tại một cuộc hội thảo về quan hệ quốc tế của sinh viên tốt nghiệp của trường Harvard, đã mời tôi đến gặp lớp của ông ta. Tôi đã nhận lời mời của cả hai người và kéo dài chuyến đi của mình để tới thăm cả trường học cũ, Trường Kinh doanh Harvard.

Ngày 7/11 tôi tới Cambridge mà không có các nhân viên an ninh đi kèm, vì đây là thói quen của tôi khi tôi đi bất cứ đâu trên đất Mỹ trong suốt bảy năm là bộ trưởng.*

Người lái xe của tôi, trước đây đã từng lái cho Franklin Roosevelt khi ông ta còn là Trợ lý Bộ trưởng Hải quân dưới thời Tổng thống Wilson, đôi khi cũng có đem theo khẩu súng ngắn, và lúc nào cũng có một ống xịt hơi cay trông giống một cây bút máy ở khoang sau của chiếc limousine. Một hôm, sau khi dự một cuộc họp của gia đình Kennedy để kiểm điểm các kế hoạch cho nơi chôn cất vị Tổng thống bị sát hại, tôi hỏi Eunice Shriver (em gái của Tổng thống Kennedy) xem cô ta có cần đi nhờ xe không. Cô ta nhờ tôi đưa đến khách sạn Wardman Park. Khi tôi và Eunice đang cho xe chạy dọc Đại lộ Connecticut, tôi đã cho cô ta xem ống xịt hơi cay hoạt động như thế nào. Tôi hạ cửa sổ xuống một ít, đặt khẩu súng lên cửa sổ rối ấn. Vì chúng tôi đang phóng rất nhanh nên trong xe có một khoảng chân không, và đã hút luồng khí trở vào trong xe. Eunice, theo kế hoạch, sẽ đọc một bài diễn văn tại Wardman Park, bắt đầu nghẹt thở và thét lên. Đến khi chúng tôi về đến nơi thì cô ta đã bất tỉnh.

Chuyến viếng thăm của tôi tới Trường Kinh doanh Harvard diễn ra một cách trật tự và cuộc trao đổi với sinh viên đại học ở khu Nhà Quincy bên kia sông Charles - mặc dù hết sức sôi động và gần như là cãi nhau - đã làm tôi hứng thú cao độ. Tuy nhiên, rắc rối bắt đầu khi tôi rời Nhà Quincy để đến lớp của Henry Kissinger ở tại Hội trường Langdell chỉ cách nhau có mấy dãy nhà. Nhà Quincy nằm trên Phố Mill, một con đường lát gạch chỉ đủ rộng cho xe hơi. Trường đã cho một chiếc xe và một cảnh sát đưa tôi đến Langdell. Khi tôi bước vào xe thì một đám đông sinh viên đã nhanh chóng quây quanh xe.

Rồi thì chẳng ra trời đất gì nữa. Đám sinh viên bám chặt quanh xe và bắt đầu lắc chiếc xe. Do sợ cả tôi và anh ta cùng bị hại, người lái xc đã cài số thật mạnh và bắt đầu lái xe lao vào đám sinh viên đứng tụ ở phía trước.

Tôi thét lên: “Dừng lại! Anh sẽ cán chết ai đó mất!”

Anh giật cài số lùi và lùi xe lại phía sau. Lúc này đám sinh viên đã tập trung hết ở đằng sau. Tôi nói: “Tôi ra khỏi đây”.

“Ngài không thể làm thế được. Họ sẽ tấn công ngài”. Anh ta cảnh cáo.

Đến lúc này đám đông đã lên tới vài trăm thanh niên đang tức giận. Nếu ai đã từng gặp phải một đám đông bất trị thì chắc biết nó đáng sợ như thế nào. Tôi đẩy cửa, bước ra khỏi xe và dõng dạc nói: “Được rồi, các bạn, tôi sẽ trả lời một hai câu hỏi của các bạn. Nhưng hãy nhớ lấy hai điều: chúng ta ở giữa một đám đông hỗn loạn và ai đó có thể sẽ bị thương mà tôi thì không muốn điều đó. Năm phút nữa tôi có một cuộc hẹn”.

Tôi hỏi ai là người cầm đầu chịu trách nhiệm, và một anh chàng tên là Michael Ansara, Chủ tịch Hội sinh viên dân chủ của Trường Harvard (một nhóm chống đối cấp tiến) đem đến một chiếc micrô. Tôi gợi ý là chúng tôi sẽ đứng lên mui xe để có thể nhìn thấy mọi người và mọi người có thể nhìn thấy chúng tôi.

Tôi bắt đầu: “Trước khi các bạn hỏi, tôi muốn các bạn biết rằng tôi đã từng sống bốn năm hạnh phúc nhất ở Trường Đại học Berkeley, California, tôi cũng đã làm một số điều mà các bạn đang làm hôm nay”.

Lời tôi nói đã được đón nhận bằng những tiếng huýt sáo chế nhạo và đám đông xô đẩy. Nghĩ rằng có thể ngăn chặn được bạo lực bằng cách làm rõ cho đám đông thấy là sự đe doạ của họ sẽ không làm cho tôi sợ nên tôi đã nói thêm: “Khi đó tôi còn cứng rắn hơn cả các bạn và hôm nay tôi còn cứng rắn hơn nữa. Khi đó tôi nhã nhặn hơn và tôi hy vọng là ngày hôm nay tôi còn nhã nhặn hơn thế”.

Sau một vài câu hỏi, điều rõ ràng là mối nguy hiểm chỉ càng tăng lên, cho nên tôi đã kết thúc lời phát biểu, nhảy xuống xe, chạy vội qua chiếc cửa Nhà Quincy mà người lái xe đã mở cho tôi và thấy mình ở trong một đường ngầm chạy dài qua vài dãy nhà và nối liền với một số toà nhà của Harvard. Người đã hộ tống tôi qua đường ngầm rắc rối là Barney Frank, một sinh viên đại học của Harvard sau này đã trở thành hạ nghị sĩ Mỹ của khu vực bầu cử Quốc hội số 4 ở bang Massachusetts. Frank và tôi đã ra khỏi đường ngầm, thoát khỏi đám sinh viên và ngoi lên ở sân trường Harvard. Tôi vẫn giữ lời hứa gặp lớp của Kissinger tuy hơi mất bình tĩnh. Sau đó tôi đã dành nửa giờ trấn tĩnh lại bằng cách đảo qua một trong những cửa hàng sách dễ chịu ở khu Harvard Square.
_____________________________________
* Ba mươi năm qua, thế giới đã thay đổi nhiều: ngày nay, khi chơi quần vợt ở Washington, tôi thường thấy ở các sân gần kề, các quan chức Nội các hay vợ hoặc chồng của họ phải được các nhân viên an ninh bảo vệ, thậm chí ngay cả khi giải trí.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #118 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:28:22 pm »


Sau đó, tôi đã ăn tối cùng Dick Neustadt và những người bạn là giáo viên khác ở Harvard. Cuộc nói chuyện thẳng thắn nhưng thân tình. Tôi tin là lần đầu tiên tôi đã nói lên cảm tưởng của mình rằng, vì chiến tranh đã không diễn ra như người ta hy vọng nên các học giả tương lai chắc chắn sẽ muốn nghiên cứu vì sao. Tôi đã nghĩ là chúng ta nên tìm cách tạo điều kiện cho việc nghiên cứu như vậy nhằm giúp tránh những sai lầm tương tự trong tương lai. Suy nghĩ này cuối cùng đã được ghi vào “Tài liệu của Lầu Năm Góc”.

Ngay sau khi trở về Washington, tôi đã nhận được một bức thư của ông John U. Munro hiệu trưởng Trường Harvard về sự việc đã xảy ra. Ông ta viết:

Tôi hy vọng ngài sẽ chấp nhận lời xin lỗi sâu sắc của chúng tôi về cuộc đối chất bất nhã và ngỗ ngược do các thành viên cộng động của Hội sinh viên trường Harvard gây ra ngày hôm qua. Chúng tôi rất cảm ơn ngài đã vui lòng dành thời gian đi thăm để nói chuyện với các sinh viên, và chúng tôi rất lấy làm buồn phiền về sự việc không vui đã xảy ra. Sự thô lỗ và sự đối đầu như vậy không có chỗ trong trường đại học. Chúng tôi bàng hoàng vì nó lại xảy ra ở Harvard.

Ngày hôm sau tôi đã viết thư cảm ơn ông Hiệu trưởng Munro:

Dẫu sao cũng không cần phải xin lỗi. Đã từng có bốn năm sống sôi động ở Berkeley nên tôi tin là tôi hiểu mối quan tâm sâu sắc của sinh viên đối với những vấn đề sống còn của thời đại chúng ta và mong muốn của họ bày tỏ mối quan tâm đó theo cách gây sự chú ý của công chúng. Đôi khi tất cả chúng ta để cho lòng nhiệt tình vượt cả lý trí, nhưng không nên lấy những thái độ sai trái ấy làm cơ sở để ngăn chặn ý kiến bất đồng. Bất đồng ý kiến vừa là đặc quyền và vừa là biện pháp phòng ngừa của những người tự do ở khắp nơi1.

Tình cảm chống chiến tranh tiếp tục hướng vào tôi từ nhiều phía. Có lúc lại là từ những người tôi yêu quý nhất. Tôi và Marg vẫn rất gần gũi với cả Jackie và Bobby Kennedy, vẫn thường nói chuyện với họ qua điện thoại và tới thăm mỗi khi có thời gian. Bobby đã trở thành một trong những người bạn tốt nhất của tôi. Khi mới gặp lần đầu, anh ta trông có vẻ là một người dạn dày và cứng rắn, luôn tin là trong chính trị mục đích chứng minh cho phương tiện. Nhưng trong tám năm biết nhau tôi thấy anh ta đã trở nên già dặn hơn tới ba mươi tuổi về những giá trị và sự hiểu biết về thế giới.

Một số người trong và ngoài chính quyền ngạc nhiên vì tôi vẫn rất gần gũi với gia đình Kennedy, mặc dù Tổng thống Johnson nghi ngờ họ. Quan hệ căng thẳng giữa Johnson và Bobby ai cũng biết. Nhưng cũng như Henry Ford II đã không quan tâm tới việc liệu tôi có sống ở Ann Arbor hay từ chối quyên góp cho đảng viên Cộng hoà hay không khi tôi làm ra lợi nhuận, Lyndon Johnson chấp nhận mối quan hệ thân thiết của tôi với gia đình Kennedy vì ông hiểu được lòng trung thành của tôi đối với Nội các và với bản thân ông ta. Điều này vẫn đúng ngay cả khi tôi và Tổng thống mâu thuẫn không thể giảng hoà được quanh vấn đề Việt Nam.

Tất nhiên là Jackie không phải là một mối đe doạ đối với Tổng thống như Bobby, nhưng bà cũng có suy nghĩ sâu sắc không kém gì người em chồng về những vấn đề nổi bật lúc bấy giờ. Vào một thời điểm, trong suốt quá trình lâu dài tôi nghi ngờ về sự khôn ngoan trong kế hoạch của chúng tôi, Jackie, người bạn yêu quý mà tôi rất ngưỡng mộ đã hết sức giận dữ và đầy nước mắt, hướng sự phẫn nộ vào tôi. Tôi đã bị áp đảo bởi những tình cảm của bà đến nỗi ngày nay tôi vẫn, nhớ như in sự việc xảy ra.

Marg đang đi xa nên tôi đã đến New York ăn tối cùng Jackie. Ăn xong chúng tôi ngồi trên chiếc tràng kỷ trong thư viện nhỏ của căn hộ của bà ở khu Manhattan trao đổi về tác phẩm của Gabriela Mistral, nhà thơ Chilê và là người giành giải Nobel. Cả hai chúng tôi đều thích bài thơ “Lời cầu nguyện” của bà. Đó là một lời thỉnh cầu Chúa xá tội cho người đàn ông mà Mistral yêu, người đã tự tử. Bài thơ có đoạn: “Người nói anh độc ác? Người quên là con mãi mãi yêu anh... Yêu (như NGƯỜI hiểu rõ) thật đắng cay”.

Quả thực Jackie là một người phụ nữ đẹp tuyệt vời. Nhưng bà cũng hết sức nhạy cảm. Không biết có phải những cảm xúc của bà là do bài thơ hay do tôi đã nói điều gì mà bà đã trở nên rất buồn và rất phê phán cuộc chiến tranh. Dù sao bà cũng trở nên căng thẳng đến nỗi không nói được gì. Bỗng nhiên bà bùng lên. Bà quay sang tôi và bắt đầu đấm vào ngực tôi, theo đúng nghĩa đen, đòi tôi phải “làm một việc gì đó để chấm dứt sự giết chóc!”.
__________________________________
1. Folder “M”, Hồ sơ tài liệu cá nhân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #119 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2009, 11:29:00 pm »


Cuộc đối đầu của tôi với những người phản đối khác ngày càng trở nên gay gắt và khó chịu hơn. Một trong những cuộc đối đầu là vào tháng 8/1966, khi tôi và gia đình đang chờ lên máy bay ở sân bay Seattle, sau cuộc leo núi ở Mount Rainier với Jim và Lou Whittaker (Jim là người Mỹ đầu tiên chinh phục Đỉnh Everest) thì một người đàn ông tiến lại và la lên: “Tên sát nhân!” và nhổ vào mặt tôi. Rồi trong kỳ nghỉ Lễ Giáng sinh, trong khi tôi và Marg đang ăn trưa trong nhà hàng trên đỉnh núi Aspen, một phụ nữ đi tới bàn của chúng tôi và hét to lên đủ để cả phòng nghe thấy: “Kể thiêu sống trẻ em! Máu vẫn còn dính lên tay ngươi đấy!”

Những sự cố đó đương nhiên làm tôi buồn rầu. Đáng buồn hơn là những căng thẳng này đã ảnh hưởng tới gia đình tôi. Marg bị vết loét dạ dày nguy hiểm phải phẫu thuật vào mùa hè năm sau. Craig, con trai tôi, mới đang ở tuổi vị thành niên, một thời gian sau cũng bị một vết loét như vậy.

Đôi khi, một khoảnh khắc thanh thoát lại làm dịu được cơn đau đầu và sự căng thẳng. Tháng 11/1966, một trong những nhà thơ được ưa thích nhất của Liên Xô, Yevgeny Yevtushenko, đã sang thăm Mỹ. Bằng một cử chỉ đặc trưng “vươn rộng cánh tay” mà những người trong gia đình Kennedy thường làm, Bobby đã mời nhà thơ dự buổi dạ tiệc lớn ở nhà mình ở Hickory Hill. Khoảng 2 giờ 30 phút sáng, sau khi tôi và Yevtushenko đã nói chuyện hàng giờ về thơ ca, về chiến tranh lạnh, về Việt Nam và hàng trăm chủ đề khác nữa, tôi hỏi nhà thơ xem ông ta đang ở khách sạn nào và chúng tôi có thể đưa ông ta về được không vì ông ta đã uống nhiều rồi. Ông nhận lời, lái xe của tôi đã đưa ông, Marg và tôi về khách sạn Statler. Khi ra khỏi xe, ông ta quay lại và nói: “Họ nói ngài là một con thú. Nhưng tôi thấy ngài là một con người”.

Cũng cùng thời gian này, đã có một tình tiết thú vị sau một buổi tối với Sam Brown. Trong số các bạn bè của các con tôi, Sam đã từng tổ chức và dẫn đầu các cuộc phản đối lớn của công chúng chống các chính sách của chính quyền ở Việt Nam. Sau một cuộc tuần hành như vậy trước Nhà Trắng, Sam đã đến nhà chúng tôi cùng ăn tối. Ăn xong, cậu ta và tôi đã nói chuyện hàng giờ trong thư viện. Khi đứng dậy ra về cậu ta đã nói những lời chia tay: “Ồ, tôi đoán là không ai yêu thích những ngọn núi như ngài lại có thể hoàn toàn bất lương cả”.*

Mối quan tâm của Quốc hội và dư luận trở nên sâu sắc trong mùa thu năm 1966. Những người thuộc phái tự do và ôn hoà tăng cường đòi hỏi đàm phán, trong khi những người phái bảo thủ đòi có hành động quân sự mạnh hơn nữa. Cùng lúc, các phương tiện thông tin bắt đầu đưa ra những tin tức ngày càng mạnh mang tính hoài nghi về diễn biến của cuộc chiến. Neil Sheehan đã viết một bài cho số tạp chí New York Times Magazine ra ngày 9/10/1966 với đầu đề “Không phải bồ câu nhưng không còn là diều hâu nữa”, trong đó anh ta viết rằng trong chuyến đi Việt Nam đầu tiên với tư cách một phóng viên của UPI (Liên hiệp báo chí quốc tế) trong những năm 1962-1964 anh ta đã từng tin vào những mục tiêu cơ bản của Mỹ. Nhưng sau chuyến đi thứ hai, với tư cách là phóng viên của Times, anh ta nhận ra là mình đã “ngây thơ khi tin là những người Việt Nam phi cộng sản có thể đánh bại cuộc nổi dậy cộng sản và xây dựng được một cơ cấu xã hội lành mạnh và tiến bộ”.
_____________________________________
* Gần ba mươi năm sau, khi Tổng thống Clinton đề cử Sam Browrn làm Đại sứ Mỹ tại Hội nghị về An ninh và Hợp tác ở châu Âu (CSCE), những người bảo thủ trong thượng nghị viện đã phản đối mạnh mẽ vì những hoạt động chống chiến tranh của anh ta. Sam đã nhờ tôi viết một bức thư thay mặt anh ta gửi Uỷ ban Đối ngoài của Thượng nghị viện và tôi đã vui vẻ làm. Nhưng việc đề cử anh ta đã không được thông qua và anh ta đã nhậm chức ở CSCE không phải với hàm Đại sứ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM