Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:26:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam  (Đọc 109399 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #130 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:47:47 pm »


Từ cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, đường “dây nóng” được thiết lập vào tháng 8/1963 nhưng chưa hề được sử dụng, ngoại trừ việc kiểm tra chất lượng của nó. Tôi thậm chí không biết rằng các mạch điện báo lại nằm trong phòng tôi. Tôi nói với viên tướng: “Chuyển mạch sang Phòng Xử lý tình hình của Nhà Trắng và tôi sẽ gọi cho Tổng thống”.

Tôi biết Tổng thống đang ngủ nhưng tôi vẫn gọi vào chỗ ông. Đúng như tôi dự đoán, một sĩ quan trực bên ngoài phòng ngủ của Tổng thống trả lời điện thoại. Tôi nói với anh ta là tôi muốn nói chuyện với Tổng thống.

Anh ta nói: “Tổng thống đang ngủ và không muốn bị đánh thức dậy”.

“Tôi biết, nhưng cứ đánh thức ông ấy dậy”.

Về sau, tôi mới biết Tổng thống đã được Dean và Walt Rostow thông báo qua điện thoại về cuộc khủng hoảng này vào hồi 4 giờ 30 sáng. Ông nhấc máy: “Điều quái quỷ gì mà anh lại gọi tôi vào giờ này?” - ông ta càu nhàu với giọng ngái ngủ.

“Thưa Tổng thống, Kosygin sử dụng đường dây nóng muốn nói chuyện với Ngài. Chúng tôi phải trả lời thể nào?”

“Chúa ơi, chúng ta nói gì đây” - ông trả lời.

“Tôi đề nghị: tôi sẽ nói với ông ta rằng Ngài sẽ có mặt tại phòng Xử lý tình hình trong vòng 15 phút nữa. Trong thời gian đó, tôi sẽ gọi cho Dean và chúng tôi cùng gặp Ngài ở đó”.

Những ngày tiếp theo, chúng tôi trao đổi các thông điệp với Kosygin qua đường dây nóng. Tình hình trở nên đặc biệt căng thẳng vào ngày 10/6 khi Israel đánh bại Xiry. Có lúc, Kosygin đã nói: “Trên thực tế, nếu các ông muốn chiến tranh, các ông sẽ có chiến tranh”. Tất nhiên, chúng tôi không hề muốn điều đó.

Do đâu mà Thủ tướng Liên Xô lại đi tới kết luận như vậy? Ông ta nói như vậy bởi vì sau khi đánh bại Ai Cập và Gioócđani, Israel dường như chuẩn bị tiến đánh Damascus. Tổng thống Johnson trả lời Kosygin rằng Israel sẽ chấp nhận ngừng bắn một khi cao nguyên Gôlan được đảm bảo an ninh. Đồng thời, Tổng thống cho Hạm đội 6 tiến gần vào bờ biển Xiry để khẳng định với Liên Xô rằng Mỹ sẽ đáp lại mọi hành động của họ trong khu vực này. Trong vòng vài tiếng đồng hồ, Israel và Xiry chấp nhận ngừng bắn và Hạm đội 6 ngừng tiến về phía đông. Việc trao đổi các thông điệp đã làm sáng tỏ tình hình. Nhưng khoảng thời gian ngắn đó đã phản ánh mối quan hệ giữa Mỹ và Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh tế nhị như thế nào. Nó phần nào lý giải tâm trạng của các tướng lĩnh muốn “áp đảo” ở Đông Dương. Và nó phản ánh rằng có rất nhiều vấn đề gay gắt khác mà chúng ta phải đối phó nên không thể tập trung hết vào vấn đề Việt Nam.


Giờ đây, tôi thấy rõ là các chính sách và chương trình của chúng ta ở Đông Dương đã phát triển theo một hướng mà chúng ta đã không lường trước được và cũng không mong muốn như vậy; và sự thiệt hại về người, chính trị xã hội và kinh tế là không thể tưởng tượng được. Chúng ta đã thất bại. Tại sao lại thất bại như vậy? Có thể ngăn chặn được sự thất bại đó không? Bài học rút ra từ kinh nghiệm của chúng ta là gì để những người khác tránh được thất bại tương tự? Càng ngày tôi càng nghĩ là các nhà học giả chắc sẽ muốn tìm hiểu các vấn đề này một khi chiến tranh kết thúc.

Tháng 6/1967, tôi quyết định yêu cầu John McNaughton, trợ lý của tôi về các vấn đề an ninh quốc tế (ISA), thu thập các tài liệu cho các học giả tương lai sử dụng. Tôi bảo anh ta thu thập thật nhiều, kể cả các tài liệu của Bộ Ngoại giao, CIA và Nhà Trắng. Bởi vì tôi muốn công việc được thực hiện càng khách quan càng tốt, nên tôi nói với John là mình sẽ không tham gia vào việc của John. Tôi chỉ thị cho John: “Bảo các nhà nghiên cứu của anh đừng có ngần ngại. Hãy chi vào những chỗ đáng chi”. Có lẽ, xuất phát từ một sự thôi thúc tương tự, tôi phải nói ra điều này: tôi đã không bao giờ nghĩ là mình sẽ nói kế hoạch này cho Tổng thống hoặc Ngoại trưởng biết. Tuy nhiên, nó hoàn toàn không có gì bí mật và nó không thể bí mật được vì liên quan đến 36 chuyên gia nghiên cứu và phân tích.

Việc thu thập tài liệu được tiến hành từ ngày 17/6/1967 - một tháng trước khi McNaughton chết trong một vụ tai nạn máy bay - dưới sự chỉ dạo của Leslie H. Gelb - một thành viên của ISA lúc đó và hiện nay là Chủ tịch Hội đồng Quan hệ đối ngoại. Anh ta cùng nhóm cửa mình tập hợp các bản ghi nhớ, các tài liệu phản ánh quan điểm, các bức điện và các báo cáo chiến sự của 20 năm qua. Mấy năm sau, Leslie nói với một chuyên gia nghiên cứu: “Tất cả những gì tôi đã làm là nhấc điện thoại lên và nói “Ngài McNamara yêu cầu”... tôi đi gặp người này người kia, giải thích về công việc nghiên cứu và nói tôi cần các loại tài liệu như sau... Họ trả lời “Vâng, tất nhiên rồi”... Không ai từ chối một điều gì”1.
_______________________________
1. Trích dẫn trong Tài liệu và tài liệu: Tính toán trong cuộc chiến giữa luật pháp và chính trị quanh những tài liệu của Lầu Năm Góc của Sanford J. Ungar (New York: Dutton, 1972 tr. 20-21).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #131 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:48:10 pm »


Đầu năm 1969, tiếp tục việc thu thập các tài liệu cho các nhà học giả, họ đã hoàn thành công trình nghiên cứu dài 7.000 trang về chính sách của Mỹ đối với Việt Nam từ Chiến tranh thế giới thứ II. Tài liệu này có những hạn chế, một phần do sự hạn chế tự nhiên của lịch sử, viết theo diễn biến của sự kiện, và mộ phần vì Leslie và nhóm của anh không được đọc các tài liệu của Nhà Trắng và một số tài liệu tuyệt mật của Bộ Ngoại giao. Nhưng nói chung công trình thật tuyệt và nó đã đạt mục tiêu của tôi: từ đó trở đi hầu như mọi công tác nghiên cứu về Việt Nam ở các mức độ khác nhau đều dựa vào đó.

Nhưng một tài liệu có nhiều liên quan đến Việt Nam như vậy, ngoài là một cố gắng giúp các học giả, nó còn là một bài học với những hậu quả ngoài mong muốn. Năm 1971, Daniel Ellsberg, một cộng tác viên của Gelb, đã tiết lộ tài liệu này cho tờ New York Times. Các biên tập viên đặt tên là Tài liệu Lầu Năm Góc và bắt đầu đăng các đoạn trích làm mất mặt các quan chức ở cả hai chính quyền Johnson và Nixon. Khi đoạn trích đầu tiên được đăng vào thứ bẩy, 13/6; Bộ Tư pháp của Tổng thống Nixon phản ứng ngay lập tức và sử dụng các phương tiện pháp lý có trong tay để ngăn chặn việc đăng tải thêm.

Mặc dù, đã ra khỏi Bộ Quốc phòng từ lâu, song tôi thấy mình cũng liên quan trực tiếp đằng sau sự kiện. Tối thứ hai, ngày 16/6, Trưởng Văn phòng tại Washington của tờ The Times, James B. “Scotty” Reston và Sally, vợ ông ta, dùng cơm tối với Marg và tôi tại nhà tôi. Điện thoại bỗng đổ chuông, một cú điện cho Scotty và ông nói chuyện điện thoại tại phòng đọc sách. Ít phút sau, ông trở lại, tay cầm một mảnh giấy. Ông nói rằng các biên tập viên và luật sư của The Times đã dự thảo một tuyên bố “từ chối một cách lễ phép” yêu cầu của Viên chưởng lý John Mitchell là hãy ngừng việc công bố thêm tài liệu này. Tiếp đó ông đọc cho chúng tôi nghe dự thảo luyên bố đó và hỏi tôi nghĩ gì. Tôi nói tờ The Times nên tiếp tục đăng bài về tài liệu đó nhưng phải bảo vệ lập trường của mình bằng cách nói rõ rằng The Times sẽ tuân thủ yêu cầu của Toà án Tối cao. Cuối cùng. Toà án Tối cao, tất nhiên, cho phép The Times tiếp tục công việc.

Vì tài liệu này mà những người dính líu vào việc ra các quyết định trong chiến tranh Việt Nam như chúng tôi bị xoi mói và chỉ trích nhiều hơn bao giờ hết. Những lời đồn đại lan tràn được đăng tải trên báo chí là tại sao tôi lại thực hiện tài liệu này. Một bài báo thậm chí còn lập luận rằng tôi làm như vậy là theo lệnh của Robert Kennedy để phá hoại uy tín của Johnson (LBJ) và giúp Bobby trong cuộc tranh cử năm 1968. Điều đó thật vớ vẩn. Nhưng sau này khi Dean hỏi tôi sao không nói cho ông ta và Tổng thống biết về công việc đó, tôi cảm thấy xấu hổ thật sự. Lẽ ra tôi phải nói cho họ biết.

Dean Rusk là một trong những người phụng sự hết sức mình cho nước Mỹ mà tôi từng biết. Cống hiến của ông cho Tổng thống và cho chức vị Tổng thống được thức hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, không chỉ ở thời kỳ mùa hè năm 1967.

Dean gọi điện cho tôi vào một chiều hè nóng nực và hỏi liệu ông có thể đến văn phòng của tôi không. Tôi trả lời ông ta rằng Bộ trưởng Ngoại giao không phải đến văn phòng của Bộ trưởng Quốc phòng, mà ngược lại. “Không, không”, ông nói, “đây là công việc cá nhân”. Tôi nói tôi không cần biết đó là việc chung hay việc riêng, tôi sẽ đến văn phòng của ông trong vòng 15 phút nữa.

Khi tôi đến, ông kéo một chai rượu Uýtxky từ ngăn kéo bàn ra rót uống và nói: “Tôi phải từ chức”. Tôi nói: “Anh điên rồi à, anh nói cái gì vậy?”

Ông nói con gái ông đang định lấy một người bạn học da đen ở Trường đại học Stanford và ông không thể đặt một gánh nặng chính trị như vậy lên vai Tổng thống. Có lẽ bạn đọc ngày nay khó có thể hình dung điều gì đã diễn ra trong đầu ông ấy. Nhưng đối với tôi khi ấy nó cho thấy rất rõ là ông ấy tin rằng vì ông là một người miền Nam, làm việc cho một vị Tổng thống cũng là người miền Nam, thì một cuộc hôn nhân như vậy - nếu ông không từ chức hoặc ngăn chặn nó - sẽ đưa đến bao nhiêu lời chỉ trích cả ông lẫn Tổng thống.

Tôi hỏi ông đã nói việc này với Tổng thống chưa, ông trả lời chưa, ông không muốn Tổng thống phải chịu gánh nặng của ông.

“Chịu gánh nặng của anh, ma quỷ”, tôi nói, “anh sẽ thật sự làm Tổng thống chịu gánh nặng nếu anh từ chức và tôi biết ông ta sẽ không cho phép đâu. Nếu anh không nói cho Tổng thống hay thì tôi sẽ nói”.

Cuối cùng Dean đã nói với Tổng thống và Tổng thống phản ứng như tôi dự đoán - cùng với lời chúc mừng cho đám cưới sắp đến của con gái ông. Theo tôi biết, cuộc hôn nhân hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến Dean và Tổng thống – cả về mặt chính trị lẫn cá nhân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #132 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:49:29 pm »


Đầu tháng 7/1967, Tổng thống cử tôi đi thăm Việt Nam để đánh giá tình hình thêm một lần nữa. Tôi đưa cả Nick Katzenbach và Bus Wheeler đi theo. Đến Sài Gòn, chúng tôi được nghe các báo cáo lạc quan của Tướng Westmoreland và Ellsworth Bunker, một nhà ngoại giao nổi tiếng, người kế nhiệm Lodge làm Đại sứ của Mỹ tại Nam Việt Nam từ tháng 4. Westmoreland nói “Tình hình không phải là bế tắc, chúng ta đang thắng chậm nhưng chắc chắn và nhịp độ có thể tiến nhanh nếu chúng ta củng cố những thắng lợi của mình”. Bunker nói chung cũng lặp lại nhận định đó. Ông ta cũng tin tưởng rằng chúng ta đang chiến thắng, nhưng bổ sung thêm một điều cực kỳ quan trọng (điều cốt lõi trong quan điểm của Tổng thống Kennedy): “Cuối cùng, họ (người Nam Việt Nam) phải tự giành thắng lợi trong cuộc chiến này”. Westmoreland không ủng hộ quan điểm đó và yêu cầu thêm 200.000 quân Mỹ. Tôi không đồng ý với lý do như Bunkcr đã nói1.

Tiến độ chậm chạp của cuộc chiến, thương vong gia tăng và sự chia rẽ trong nước làm Tổng thống hết sức thất vọng và lo lắng. Khi Nick, Bus và tôi báo cáo kết quả cuộc khảo sát chuyến di vào ngày 12/7, Tổng thống hỏi: “Chúng ta có thể thắng được cuộc chiến tranh chết tiệt này không?”

Những báo cáo lạc quan mà tôi nhận được tại Sài Gòn cũng có lúc giảm bớt mối nghi ngờ lâu nay của tôi về tiến triển của cuộc chiến ở Nam Việt Nam. Tôi nói với Tổng thống: “Không có sự bế tắc về mặt quân sự” và nói rằng nếu chúng ta thực hiện đúng kế hoạch, chúng ta sẽ thắng – tất nhiên còn tuỳ thuộc vào hoạt động của Chính quyền Nam Việt Nam. Nhưng tôi vẫn nghi ngờ tính hiệu quả của việc ném bom và tôi nói với Tổng thống là tôi vẫn chống lại yêu cầu đòi tăng thăm quân2. Những diễn biến sau đó lại cũng sống lại và tái khẳng định mối ngờ vực của tôi về cuộc chiến tranh trên bộ.

Đến nay, quan điểm của tôi về việc ném bom Bắc Việt Nam đã trở thành công khai và trở thành vấn đề tranh cãi gay gắt. Những người tự do và ôn hoà chỉ trích Tổng thống Johnson là đã không xuống thang chiến tranh, trong khi những kẻ diều hâu ở cả hai đảng - được sự ủng hộ của các Tham mưu trưởng liên quân - đòi mở rộng cuộc chiến tranh. Nhóm thứ hai này làm Tổng thống, Dean và tôi lo ngại nhất. Các cuộc bỏ phiếu thăm dò cho thấy thái độ của dư luận chuyển theo hướng của nhóm này. Chẳng hạn theo như cuộc điều tra Harris vào giữa tháng 5, số người ủng hộ việc tăng cường sức ép quân sự nhỉnh hơn số người ủng hộ việc rút quân (tỷ lệ 45% - 41%)3.

Sự hiếu chiến đang trỗi dậy được phản ánh chính ngay trong tiểu ban điều tra về khả năng sẵn sàng của Ủy ban quân lực Thượng viện do ông John Stennis (người thuộc đảng Dân chủ, bang Missisipi) làm chủ tịch. Stennis và các đồng sự của ông ta - Stuart Symington (đảng Dân chủ, bang Montana), Henry Jackson (đảng Dân chủ, bang Washington), Howard Cannon (đảng Dân chủ, bang Nevada), Robert Byrd (đảng Dân chủ, bang West Virginia), Margaret Chase Smith (đảng Cộng hoà, bang Maine), Strom Thurmond (đảng Cộng hoà, bang South Carolina) và Jack Miller (đảng Cộng hoà, bang Iowa) có thái độ cứng rắn về việc sử dụng sức mạnh không quân và trong nhiều tháng đã chỉ trích mạnh mẽ chính sách của chính quyền về kế hoạch oanh kích. Khi họ, thông qua các Tham mưu trưởng liên quân, biết được rằng Tổng thống đã chấp thuận khuyến nghị của tôi duy trì việc ném bom hạn chế, thì họ làm dữ hơn. Họ tuyên bố ý định gọi các nhà lãnh đạo quân sự cao nhất và tôi ra điều trần.

Các cuộc điều trần diễn ra vào tháng 8, là nhằm gây sức ép buộc Nhà Trắng phải hủy bỏ kế hoạch ném bom hạn chế. Mặc dù họ không làm được điều đó, song Tổng thống Johnson đánh giá cuộc điều trần này là một thảm hoạ chính trị. Sau đó, Tổng thống nói với Bus: “Các tướng lĩnh của ông đã tiêu diệt chúng tôi bằng các cuộc điều trần của họ trước Uỷ ban của Stennis. Chúng ta đã bị sát hại trong cuộc điều trần đó”4.

Ngay trước cuộc điều trần Tổng thống nhắc nhở rằng tôi sẽ phải đối mặt với sự nóng bỏng của cuộc điều trần. Tôi nói: “Tôi không sợ sự nóng bỏng đó bởi vì tôi biết những gì chúng ta đang làm là đúng đắn”. Ông nhìn tôi không nói thêm câu nào. Tất nhiên, giác quan chính trị của Tổng thống nhạy cảm hơn tôi5.
______________________________________
1. Westmoreland, “Các cuộc họp báo của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, 7-8/7/1967- Ước định của COMUSMACV”, Bộ Ngoại giao, Hồ sơ Lot 70 D 48; và Bunker CF, VN, NSF, LBJL.
2. Harri Middleton, LBJ: Những tháng năm trong Nhà Trắng (New York: Abrams, 1990), tr. 178; và Ghi chép tại cuộc họp ngày 12/7/1967, Ghi chép của Tom Johnson về các cuộc họp, LBJL.
3. New York Times, 17/5/1967.
4. Ghi chép tại bữa trưa thứ ba ngày 17/10/1967, Ghi chép của Tom Johnson về các cuộc họp, LBJL.
5. Ghi chép tại bữa trưa thứ ba ngày 8/8/1967, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #133 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:52:39 pm »


Cuộc điều trần kéo dài bảy ngày, trong khoảng thời gian từ ngày 9/8 đến 29/8, được tiến hành theo các phiên họp hành chính, là một trong những quãng thời gian căng thẳng nhất trong đời tôi. Thượng nghị sĩ Stennis nói rõ quan điểm của mình trong bài phát biểu khai mạc. “Vấn đề đang nổi lên trong quốc hội là liệu có khôn ngoan hay không khi ta đưa quân đến đó và để mặc họ với cuộc chiến tranh du kích mà không cố gắng cắt đứt sự tiếp tế của kẻ địch một cách có hiệu quả… Quan điểm của cá nhân tôi là sẽ là sai lầm khủng khiếp và có lẽ là sai lầm chết người nếu chúng ta không ném bom hoặc chỉ ném bom hạn chế”.

Tiếp đó một loạt các tướng lĩnh hải quân, không quân và lục quân, kể cả tất cả năm Tham mưu trưởng và năm vị chỉ huy cao cấp của chiến dịch ném bom lần lượt phát biểu. Người nào cũng hoàn toàn ủng hộ quan điểm của Stennis. Nội dung chính họ trình bày trước các nghị sĩ là:

    * Một cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bắc là quan trọng và là một phần không thể thiếu trong chiến lược chiến tranh ở miền Nam.

    * Các cuộc ném bom đã gây thiệt hại to lớn cho miền Bắc, ngăn chặn sự xâm nhập về người và sự tiếp tế của miền Bắc, hạn chế con số các lực lượng có thể chống cự ở miền Nam, giảm khả năng của các lực lượng đó tiến hành các trận đánh lớn, giảm số thương vong của lính Mỹ.

    * Nếu không có các cuộc ném bom đó, miền Bắc đã có thể tăng giấp đôi lực lượng của họ ở miền Nam, theo đó chúng ta buộc phải tăng thêm 800.000 quân với chi phí thêm khoảng 75 tỷ đôla.

    * 500.000 người Bắc Việt Nam phải khắc phục thiệt hại do việc ném bom, nếu không họ sẽ được rảnh rang hỗ trỡ trực tiếp cho các cuộc nổi dậy ở miền Nam.

    * Chấm dứt ném bom bây giờ sẽ là một “thảm hoạ”, kết cục là Mỹ thiệt hại nhiều hơn và chiến tranh lan rộng khó có thể xác định được.

    * Các cuộc ném bom kém hiệu quả hơn nhiều so với khả năng - và vẫn còn có thể có hiệu quả cao - nếu các nhà lãnh đạo dân sự quan tâm đến lời khuyên của giới quân sự và từ bỏ sự kiểm soát hạn chế đối với chiến dịch... Nhịp độ chậm chạp của các cuộc oanh kích, việc tập trung ném bom các vị trí quan trọng ở phía nam Hà Nội, Hải Phòng, việc chúng ta không động chạm đến vùng đất thánh của họ ở Campuchia, thất bại trong việc vô hiệu hoá cảng Hải Phòng - những điều này và các quy định khác đã làm cho các cuộc ném bom không đạt được thắng lợi quyết định.

    * “Học thuyết dần dần” và sự trì trệ kéo dài trong việc thông qua các mục tiêu thực sự quan trọng đã tạo cho miền Bắc có thời gian xây dựng hệ thống phòng không vững chắc, gây thiệt hại cho phi công và máy bay Mỹ và để cho Bắc Việt Nam có thể sẵn sành chống trả với các cuộc đánh phá vào các cơ sở của họ (chẳng hạn cơ sở xăng dầu, nhiên liệu) bằng cách xây dựng và phân tán các kho dự trữ1.

Các tướng lĩnh và các đô đốc phàn nàn nhiều nhất về điều mà theo họ là vấn đề cốt lõi: cách thức tiến hành cuộc chiến tranh - thêm nữa lại bị giới dân sự ở Washington cản trở. Theo họ, đây là lý do không giành được thắng lợi và gây thiệt hại cho quân lính. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng chúng ta đang bảo vệ sinh mạng lính Mỹ mà không phương hại đến thành công của chúng ta trong cuộc chiến này.

Cuối cùng, vào ngày 25/8, Tiểu ban mời tôi phát biểu. Tôi chỉ còn một cách để phản biện. Tôi bắt đầu bài điều trần của mình bằng cách lưu ý các nghị sĩ rằng chiến dịch ném bom có ba mục tiêu:

    1. Làm giảm số lượng và/hoặc tăng thiệt hại của sự xâm nhập về người và vật chất tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam.

    2. Nâng cao tinh thần cho người Nam Việt Nam, vì vào thời điểm bắt đầu chiến dịch oanh kích, họ phải chịu những sức ép quân sự nặng nề.

    3. Làm cho các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam thấy rõ rằng chừng nào họ còn tiếp tục xâm nhập miền Nam, họ sẽ phải trả giá tại miền Bắc.
______________________________________
1. Xem PP, t.4, tr. 199.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #134 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:53:47 pm »


Đó là những mục tiêu đặt ra khi chúng ta bắt đầu cuộc ném bom từ tháng 2/1965 và đến tháng 8/1967 mục tiêu của chúng ta vẫn như vậy. Tôi dành cả ngày phân tích một cách kiên nhẫn và có hệ thống các mục tiêu đó cho các nghị sĩ và giải thích về những hạn chế hiện nay của việc ném bom. Tôi nói là chúng ta biết rằng không một quy mô nào của cuộc ném bom – kiểu ném bom huỷ diệt miền Bắc và nhân dân miền Bắc, mà không một người có trách nhiệm nào đề nghị một kiểu ném bom như vậy - có thể làm giảm dòng người và vật chất chi viện vào miền Nam xuống dưới mức đủ để duy trì mức độ hoạt động hiện nay của đối phương. Cũng không một quy mô ném bom hủy diệt nào có thể bẻ gãy ý chí của miền Bắc tiếp tục cuộc chiến tranh. Tôi nhấn mạnh rằng chúng ta không thể thay thế chiến trường miền Nam bằng cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bắc và cái giá chiến thắng bằng không quân không rẻ chút nào đối với chúng ta.

Tôi nói với các Thượng nghị sĩ rằng lý do để ném bom các đường tiếp tế không mang ý nghĩa quyết định, bởi vì Bắc Việt Nam có một hệ thống giao thông rất đa dạng và đầy ý chí quật cường bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường mòn. Trên các con dường này tàu hoả, ôtô, sà lan, thuyền, các loại phương tiện dùng sức người, xe đạp (mỗi loại có thể chở được 500 pound, 1pound=450g). Hệ thống giao thông này rất thô sơ, dễ bảo dưỡng và có thể chịu được hơn gấp nhiều lần khối lượng vận chuyển tiếp tế cho các chiến dịch ở miền Nam. Đó mới là vấn đề. Các nghiên cứu tình báo đánh giá rằng quân địch ở miền Nam chỉ cần 15 tấn/ngày các nhu yếu phẩm không phải thực phẩm được cung cấp từ ngoài vào. Tuyến hậu cần từ Bắc vào Nam, dưới sự oanh kích ác liệt cũng có khả năng vận chuyển 200 tấn một ngày. Tôi chỉ ra rằng cho đến giờ chúng ta đã tiến hành 173.000 phi vụ ném bom vào Bắc Việt Nam, một con số rất lớn so với các cuộc tấn công của quân Đồng minh vào nước Đức trong Chiến tranh thế giới thứ II. 90% số phi vụ đó là nhằm vào các tuyến tiếp tế.

Tiếp đó, tôi quay sang vấn đề các mục tiêu cố định ở miền Bắc: nhà máy, xí nghiệp, nhà máy điện, đê điều và kho tàng. Các mục tiêu này chỉ chiếm 10% các đợt oanh kích. Tôi giải thích rằng chúng tôi ra các quyết định đánh các mục tiêu này trên cơ sở phân tích từng mục tiêu một, cân nhắc giữa tầm quan trọng về mặt quân sự của mục tiêu và thiệt hại sinh mạng của lính Mỹ và người Việt Nam, và tránh nguy cơ mở rộng cuộc chiến tranh. Các tướng lĩnh đã đưa ra 359 mục tiêu, trong số đó có 302 mục tiêu - tức 85% - đã được Tổng thống và tôi đồng ý. Còn 57 mục tiêu còn lại, các tướng lĩnh cho rằng 7 cái có giá trị hạn chế, 9 mục tiêu là các cơ sở xăng dầu loại nhỏ chiếm gần 6% dự trữ của Bắc Việt Nam; 25 mục tiêu không phải xăng dầu, ít quan trọng và nằm trong khu vực phòng thủ vững chắc, theo tôi, những nơi này không đáng để hy sinh sinh mạng Mỹ vào đây. Năm mục tiêu khác nằm sát Trung Quốc; và 11 mục tiêu còn lại đang nghiên cứu.

Tôi cố gắng phân tích rõ là tầm quan trọng mà chúng ta gắn cho các mục tiêu cố định thể hiện nhận thức sai lầm cơ bản về nhu cầu kinh tế đơn giản của Bắc Việt Nam và năng lực tiến hành chiến tranh dựa vào bên ngoài của họ. Mặc dù chúng ta đã vô hiệu hoá 85% công suất sản xuất điện của Bắc Việt Nam, nhưng tổng sản lượng điện của họ chỉ chưa bằng 1/5 sản lượng điện của nhà máy điện Potomac Electric Power Company ở Alexandria, bang Virginia. Hơn nữa, Liên Xô và Trung Quốc, chứ không phải các nhà máy xí nghiệp ở Bắc Việt Nam, cung cấp hầu hết trang thiết bị chiến tranh cho họ.

Tôi chỉ ra rằng các báo cáo hàng tháng mang tên “Đánh giá về các cuộc ném bom Bắc Việt Nam” do CIA và Cục tình báo Quân đội làm và được gửi cho tất cả các quan chức dân sự và quân sự cao cấp và gửi thẳng cho Tổng thống đều kết luận: “Chiến dịch ném bom từng bước đã buộc Bắc Việt Nam phải có những thay đổi lớn trong hệ thống phòng không và phân tán các hoạt động sản xuất. Tuy vậy, Bắc Việt Nam hiện vẫn duy trì được khả năng hỗ trợ cho miền Nam và Lào, hoặc nâng cao khả năng chiến đấu và cơ cấu quân đội”1.
_________________________________
1. Xem, thí dụ như, Báo cáo của CIA/DIA S-2408/AP4AS, Đánh giá việc ném bom Bắc Việt Nam (ngày 18/7/1967), tháng 7/1967, tr.2, CF, VN, NSF, LBJL.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #135 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:54:47 pm »


Tôi nói với các Thượng nghị sĩ rằng nếu chúng ta tiếp tục muốn mở rộng chiến tranh bằng không quân, thì sẽ có một mục tiêu mới có thể ai đó sẽ đề nghị thêm là “ném bom và thả mìn các hải cảng, nhất là cảng Hải Phòng, nhằm ngăn chặn nguồn viện trợ từ bên ngoài vào Việt Nam để cung cấp cho miền Nam”. Nhưng tôi giải thích một cách tỉ mỉ là tại sao điều đó khó có thể thực hiện. Tôi nói có thể sẽ không có vấn đề là các cuộc ném bom như vậy sẽ ngăn cản được nhiều việc nhập vào Việt Nam các trang bị chiến tranh.

“Nhưng khối lượng thấp hơn hiện nay cũng có thể đáp ứng phần quan trọng cho Bắc Việt Nam tiếp tục cuộc chiến chống Nam Việt Nam. Như tôi đã nói, ước tính nhu cầu trung bình cho một ngày là 15 tấn hàng hoá phi lương thực. Con số này có thể lớn hơn gấp năm lần và vẫn là ít vì Bắc Việt Nam thực tế nhập trung bình khoảng 5.800 tấn/ngày. Và khả năng nhập khẩu của họ còn lớn hơn nhiều. Các cảng cùng với đường bộ, dường sắt từ Trung Quốc có khả năng vận chuyển khoảng 14.000 tấn/ngày.

Cảng nhập lớn nhất của Bắc Việt Nam là Hải Phòng. Hàng nhập bao gồm các loại thiết bị phục vụ chiến tranh như xe ôtô, máy phát điện, máy móc xây dựng, nhưng chủng loại này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số hàng biển nhập khẩu. Phương tiện quân sự nhập qua đường biển, nếu có, thường rất ít (theo ước tính của các nguồn tin tình báo, mỗi ngày họ nhập 550 tấn thiết bị quân sự). Hơn nữa, sự phụ thuộc nặng nề vào cảng Hải Phòng vì lý do thuận tiện hơn là sự cần thiết. Hải Phòng là nơi có các phương tiện nhập khẩu dễ dàng nhất và rẻ tiền nhất. Nếu cảng này và các cảng khác bị đóng cửa - theo giả thiết không thực tế là việc đóng cửa các cảng này sẽ cắt đứt mọi hàng nhập qua đường biển - Bắc Việt Nam vẫn có khả năng nhập trên 8.400 tấn một ngày bằng dường sắt, đường bộ và đường sông. Và thậm chí, nếu bị oanh tạc, khả năng vận tải bằng đường bộ, đường sắt, đường sông Hồng có thể giảm xuống còn 50% thì Bắc Việt Nam vẫn duy trì khoảng 70% khối lượng hàng nhập khẩu hiện nay. Vì nhập khẩu hàng ngày các trang thiết bị quân sự và vật dụng phục vụ chiến tranh cộng lại ít hơn con số này rất nhiều, nên dường như rõ ràng là cắt đứt đường nhập khẩu trên biển sẽ không ngăn được Bắc Việt Nam tiếp tục duy trì mức độ hoạt động quân sự hiện nay ở miền Nam...

Bờ biển Bắc Việt Nam dài 400 dặm. Có rất nhiều địa điểm phù hợp cho hoạt động bốc dỡ tại bờ biển. Việc thả mìn cảng Hải Phòng hoặc phá huỷ hoàn toàn cảng này sẽ không thể ngăn được việc bốc dỡ hàng trên các tàu nước ngoài ở ngoài khơi. Chặn đứng có hiệu quả việc chuyên chở bằng sà lan này, thậm chí chấp nhận sự hư hại không tránh khỏi đối với tàu nước ngoài, sẽ chỉ làm cho họ phụ thuộc hoàn toàn vào vận tải bằng đường bộ qua Trung Quốc cộng sản. Biên giới hai nước này dài khoảng 500 dặm tính theo đường chim bay”1.

Lý do chống lại việc mở rộng chiến tranh đã rõ ràng. Tất cả việc phải làm là hãy nhìn vào các con số. Nhưng bài tường trình của tôi đã gây ra một cuộc tranh cãi khá gay gắt.

Thương nghị sĩ Cannon không quan tâm thảo luận các mục tiêu của chúng tôi. Trái lại, ông ta xoáy vào việc tôi không sẵn sàng nghe theo lời khuyên của giới quân sự về việc sử dụng sức mạnh ở Việt Nam. “Cho tới tháng 10/1965”, ông nói, “các mục tiêu này... đã được các Tham mưu trưởng liên quân nhất trí đưa ra. Tôi không rõ là Ngài có tin tưởng các thành viên của liên quân hay không... chỉ vì lí do là những khuyến nghị của họ về các vấn đề và mục tiêu quân sự không được thực hiện”.

Tôi đáp lại rằng “Hiến pháp quy định Tổng Tư lệnh quân đội là một người dân sự, là Tổng thống và tôi tin chắc rằng ông ta sẽ không làm theo một cách mù quáng những lời khuyên của các cô vấn quân sự. Vì vậy Ngài phải thấy rằng theo Hiến pháp, Tổng thống đôi khi hành động ngược lại với các lời khuyên của các cố vấn của mình”.

“Hiến pháp”, tôi nói tiếp, “thừa nhận rằng các nhân tố khác chứ không phải các nhân tố quân sự hạn hẹp phải được Tổng tư lệnh quyết định và tất nhiên thực tế đã diễn ra như vậy. Không hề có chuyện tin tưởng hay không vào các Tham mưu trưởng. Nếu chúng ta không tin tưởng họ thì họ không phải là các Tham mưu trưởng”2.

Từ lúc đó, cuộc thảo luận dịu dần. Cuộc nói chuyện giữa Thượng nghị sĩ Thurmon là tôi trở nên căng thẳng trong phòng điều trần:

“Thưa Ngài Bộ trưởng, tôi vô cùng thất vọng về phát biểu của Ngài, tôi nghĩ đó là một phát biểu xoa dịu cộng sản. Đó là một phát biểu nhân nhượng cộng sản. Đó là một phát biểu không có ý chí”.

Tôi phản ứng một cách mạnh mẽ: “Không có một nhân chứng nào trước Ủy ban này... nói rằng việc thông qua 57 mục tiêu... sẽ rút ngắn một cách đáng kể cuộc chiến tranh”3.

Kết thúc một ngày dài và cố gắng hết sức, tôi đưa ra một kết luận. Nó là lời biện hộ cho lý lẽ:

“Tính chất khốc liệt và kéo dài của cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam tạo ra mong muốn phải thay thế nó bằng một kiểu oanh kích mới chống Bắc Việt Nam. Nhưng dù mong muốn này như thế nào, một sự thay đổi như vậy đối với tôi hoàn toàn là ảo tưởng. Theo đuổi mục tiêu này không chỉ là điều vô vọng mà còn mạo hiểm sinh mạng Mỹ và dân tộc chúng ta, đó là điều tôi không thể kiến nghị”4.
_____________________________________
1. Lời khai của Robert S. McNamara, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, 25/8/1967, “Cuộc chiến tranh trên không chống lại Bắc Việt Nam”, Điều trần trước Tiểu ban tiền điều tra của Ủy ban Quân sự Thương nghị viện Mỹ (Washington: Văn phòng in ấn của Chính phủ Mỹ, 1967), tr. 280-281.
2. Sách đã dẫn, tr. 304-305.
3. Sách đã dẫn, tr. 297
4. Sách đã dẫn, tr. 282.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #136 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:56:47 pm »


Tiểu ban nhất trí đưa ra một báo cáo chỉ trích tôi một cách gay gắt vì làm thu hẹp cuộc chiến tranh. Với lập luận “kiểm soát chặt chẽ và các nguyên tắc hạn chế trong việc sử dụng sức mạnh không quân Mỹ theo một phương cách mang lại hiệu quả hạn chế”, các Thượng nghị sĩ kết luận: “Bằng sự sáng suốt, chúng ta không thể yêu cầu lực lượng mặt đất của chúng ta tiếp tục chiến đấu ở miền Nam, trừ khi chúng ta sẵn sàng tăng cường chiến tranh bằng không quân ở miền Bắc theo phương cách có hiệu quả nhất có thể được... Tính lôgic và sự thận trọng đòi hỏi quyết định này phải đi liền với sự nhất trí trong đánh giá của giới quân sự chuyên nghiệp”1.

Ngay sau cuộc điều trần, có các tin nói rằng lời điều trần của tôi đã gây ra gần như một cuộc nổi dậy trong các Tham mưu trưởng. Mấy năm sau: một nhà báo tên là Mark Perry viết một bài đăng dưới bức ảnh của tôi là Bus đã triệu tập một cuộc họp các Tham mưu trưởng và họ quyết định từ chức tập thể. Tư lệnh lực lượng Hải quân, Tướng Wallace Greene và Tham mưu trưởng lực lượng Hải quân, Đô đốc Thomas Moorer bác bỏ điều này. Tôi cũng nghi ngờ điều đó2.

Nhưng sự khác biệt trong các nhận định đã chia rẽ chúng tôi. Và những mâu thuẫn nảy sinh từ sự khác biệt đó đã gây ra bệnh “Stress” gây tử vong.

Đầu tháng 9, Bus bị một cơn đau tim nặng và cuối cùng ông đã chết vì bệnh này. Nhưng trước cuối năm đó, Bus trở lại làm cố vấn trong các cuộc họp kín và các cuộc điều trần công khai của chính quyền dưới hình thức trực tiếp nhưng không trực diện và lộ liễu, giống như hình ảnh của ông ta tại cuộc điều trần của Stennis.Và tất cả các sĩ quan quân sự cao cấp khác làm việc cùng tôi bảy năm qua vẫn là những người tận tuỵ và trung thành với vị Tổng tư lệnh của họ và với dân tộc họ.

Trong thời kỳ này, những bất đồng sâu sắc về vấn đề Việt Nam trong giới cố vấn của Tổng thống càng trở nên rõ ràng qua hai cuộc liên lạc giữa Giám đốc CIA Richard Helms với Tổng thống Johnson. Hôm 29/8, Dick gửi cho Tổng thống đánh giá của cá nhân ông ta về hiệu quả của việc ném bom miền Bắc, nêu rõ từ tháng 3/1967, mỗi tháng chúng ta đã bay hơn 10.000 chuyến bay công kích ném bom chống lại Bắc Việt Nam - tăng 55% so với cùng thời kỳ này năm 1966. Mặc dù việc leo thang này và “bất chấp những khó khăn gian khổ, những thiệt hại kinh tế, một loạt những vấn đề trong quản lý và hậu cần do cuộc không chiến gây ra”, ông kết luận, “Hà Nội vẫn đáp ứng được nhu cầu của mình và giúp đỡ cho cuộc xâm nhập của họ ở Nam Việt Nam. Con đường giao thông kinh tế và quân sự quan trọng vẫn tiếp tục hoạt động” (nhấn mạnh của tác giả)3.
______________________________________
1. Thông cáo báo chí của John Stennis, Chủ tịch, Tiểu ban tiền điều tra của Ủy ban Quân sự Thượng nghị viện Mỹ, 31/8/1967.
2. Bốn sao của Mark Perry (Boston: Houghton Mifflin, 1989), tr. 163-166.
3. Báo cáo của Richard Helms cho Tổng thống, chủ đề: Hiệu quả của tăng cường chiến tranh trên không chống lại Bắc Việt Nam, 29/8/1967: và Tài liệu kèm theo của Walt W. Rostow gửi Tổng thống, 29/8/1967, 5 giờ 55 chiều, NSF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #137 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:57:37 pm »


Hai tuần sau, vào ngày 12/9, ông gửi cho Tổng thống bức thư thứ hai vô cùng đặc biệt, cùng với một báo cáo dài 33 trang. Những tài liệu này chỉ mới gần đây mới được loại ra khỏi danh mục tài liệu bí mật quốc gia. Trong thư, ông cảnh tỉnh Tổng thống: “Báo cáo kèm theo đây rất nhạy cảm, đặc biệt nếu sự hiện diện của nó bị tiết lộ. Tôi gửi cho ngài trong một phong bì được niêm phong cẩn thận”. Bức thư viết tiếp:

Vì một phần công việc của tôi là nghiên cứu những điều bất trắc và vì sự dính líu của chúng ta ở Việt Nam có rất nhiều khía cạnh, mới đây, tôi yêu cầu một trong những nhà phân tích tình báo có kinh nghiệm nhất của tôi ở Cơ quan dự báo quốc gia (ONE) thử trình bày xem Mỹ sẽ được những gì ở cuộc chiến đó. Phương tiện mà ông ta chọn cho việc đó là một báo cáo về: “Những dấu hiệu của một kết cục không thuận lợi ở Việt Nam”. Tôi tin là Tổng thống sẽ thấy lý thú. Những báo cáo này chưa gửi và sẽ không gửi cho bất cứ quan chức nào trong chính phủ ( nhấn mạnh trong nguyên bản).

Không nêu lý do, người viết đã tham khảo khoảng trên dưới 30 người trong cơ quan này. Ở đây có sự đa dạng đáng kể về quan điểm cũng như về chi tiết và mức độ nhấn mạnh. Nhưng bản báo cáo đã mô tả sự nhất trí hoàn toàn của những người được hỏi ý kiến, vượt xa sự mong đợi khi đề cập một chủ đề khó như vậy.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng báo cáo này được viết ra không phải nhằm tranh luận nên hay chưa nên kết thúc chiến tranh vào lúc này. Chúng tôi không phải là người theo chủ nghĩa thất bại. Báo cáo chỉ có tính chất như một giả thuyết mà tác giả tự đặt ra cho mình, ví dụ như hậu quả của một kết cục không thích hợp như vậy sẽ có tác động như thế nào đối với chính sách và những lợi ích của Mỹ nói chung1.

Helms đã đúng khi nói báo cáo này là một chất nổ chính trị. Sau khoảng hơn hai chục trang báo cáo và phân tích sắc sảo, báo cáo kết luận:

Cuộc thảo luận trước đã bàn rộng rãi tới nhiều lĩnh vực và khả năng. Bất cứ kết luận nào dù rất chính xác hoặc đầy lòng tin cũng không thể hiện được những điều đã được nêu ra và vượt ra ngoài điều mà một đánh giá đúng mức cho phép. Dưới đây là những cảm giác lớn và cần thiết mà báo cáo này muốn thể hiện:

a) Kết quả không thuận lợi ở Việt Nam sẽ là một thất bại lớn đối với uy tín về sức mạnh của Mỹ; nó sẽ giới hạn ảnh hưởng của Mỹ, làm hại tới các lợi ích khác của chúng ta ở mức độ nào đó không thể thấy trước được.

b) Có thể là những tác động chính sẽ không thường xuyên phá hoại khả năng của đất nước ta nhằm đóng vai trò của mình như là một cường quốc thế giới trong vấn đề trật tự và an ninh ở nhiều khu vực.

c) Thiệt hại tiềm tàng xấu nhất có thể là một kiểu tự đánh mình: chia rẽ nội bộ sẽ hạn chế khả năng tương lai của chúng ta dùng sức mạnh và tài nguyên một cách khôn khéo và triệt để, dẫn tới việc mất lòng tin của người khác về khả năng lãnh dạo của Mỹ.

d) Những hậu quả về mất ổn định sẽ vô cùng lớn đối với chính khu vực Đông Nam Á, nơi mà một số quốc gia có thể phải đương đầu với bất ổn định nội bộ và sức ép mạnh mẽ từ bên ngoài và có thể xuất hiện việc co cụm lại với nhau; những tác động tương tự có thể cùng diễn ra hoặc tiềm ẩn ở những khu vực khác nhau.

Bản báo cáo kết thúc với những câu như thế này:

Bất cứ một phân tích trung thực và tỉnh táo nào đều phải kết luận rằng, nếu Mỹ chấp nhận thất bại ở Việt Nam, nó sẽ phải trả một giá nào đó dưới dạng những phiêu lưu mới mà thành công ở đó sẽ loại bỏ. Sự tuyệt vọng của một cường quốc thế giới, một khi đã giao phó các nguồn to lớn và uy tín cho một xí nghiệp quân sự, ở mức độ nào đó phá hoại hệ thống an ninh chung mà nó duy trì. Trong trường hợp Việt Nam, đó dường như không phải là một mẫu số chung cho phép những mạo hiểm cuối cùng được tính toán một cách đáng tin cậy, ngược với cái giá rõ ràng và tức thì của việc tiếp tục cuộc chiến. Dầu rằng những người phải đưa ra những lựa chọn tuyệt vọng đều biết điều đó rồi. Nếu phân tích này có đề xuất một cuộc thảo luận, nó cũng chỉ nhằm gợi ra rằng những cuộc phiêu lưu có thể được hạn chế hơn và dễ kiểm soát được hơn so với những lập luận đã nêu lên trước đây (nhấn mạnh thêm)2.

Trước khi viết cuốn sách này, tôi chưa hề được đọc bức thư đó. Theo chỗ tôi biết Tổng thống Johnson cũng chưa bao giờ đưa cho ai đọc.
_______________________________________
1. Báo cáo của Richard Helms cho Tổng thống, 12/9/1967, CF, VN, Hộp số 259/260, NSF, LBJL.
2. “Gợi ý về việc rút lui không thuận lợi tại Việt Nam”, 11/9/1967, sách đã dẫn.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #138 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:58:30 pm »


Một vài người sẽ nói sự thật này tự nó để lộ ra tính hay giấu giếm, một đặc tính riêng của Tổng thống, không tránh khỏi việc đưa ra những quyết định không hoàn hảo về Việt Nam. Bình luận về nội dung dự thảo trước đó của cuốn sách này, một trong những cố vấn thân cận nhất của ông đã viết rằng tôi đã không nhấn mạnh một cách đúng mức điểm yếu trong cách đưa ra quyết định của LBJ: “Ông ta không thích làm việc theo kiểu quyết định tập thể - ông ta muốn trao đổi với từng người một. Trong bất cứ bối cảnh nào, ông cũng không muốn ai nhìn thấy những nước bài khiếm khuyết của mình. Ví như sự miễn cưỡng trong việc nghiên cứu những “thuật ngữ hoà bình” có thể chấp nhận được đã buộc những lần ngừng ném bom đi đến thất bại. Tóm lại, cách làm ăn của ông là một nhấn tố quan trọng dẫn đến những khiếm khuyết - được thể hiện liên tục trong cuốn sách - trong cách quản lý cuộc chiến của chính quyền”.

Giống như tất cả chúng tôi, Lindon Johnson đôi khi cũng gây khó khăn cho chính mình. Có lần, một cố vấn cao cấp trình cho ông một bức thư nêu vấn đề tiền đề cơ bản dẫn đến việc chúng ta dính líu vào cuộc chiến, và việc không cho phép ông thảo luận với động nghiệp; chắc chắn không phải là cách điều hành chính phủ. Người ta cũng có thể chỉ ra những ví dụ về cái gọi là phong cách chuyên quyền của Johnson. Nhưng tôi nghĩ đơn giản là do thất bại của Tổng thống đối với những nhân tố như vậy. Những người dưới quyền phải tìm cách bù đắp cho những đặc tính riêng trong phong cách của Tổng thống của họ. Trách nhiệm của chúng tôi vẫn là xác định những mâu thuẫn trong chính sách, buộc chúng xuất hiện và tranh luận về chúng. Giá mà chúng tôi làm được như vậy, thì chúng tôi đã có thể thay đổi được chính sách.

Bức thư kín của Dick Helms cho thấy rằng vào mùa thu năm 1967, những nhà phân tích cao cấp nhất của CIA đã tin là đáng lẽ chúng ta có thể rút khỏi Việt Nam mà không làm hại đến Mỹ hoặc an ninh của phương Tây. Trong lúc họ trình bày quan điểm đó, tôi cũng nói với Tiểu ban Stennis về nhận định - được các nhà phân tích CIA/DIA ủng hộ - rằng chúng ta không thể thắng trong cuộc chiến bằng cách ném bom miền Bắc. Trong bức thư ngày 10/5, tôi đã báo cáo rằng chúng ta sẽ tiếp tục gánh chịu những thương vong nặng nề ở Nam Việt Nam mà chẳng có gì bảo đảm rằng chúng ta sẽ chiến thắng ở đó.

Tuy nhiên trước những nhân tố như vậy, người ta sẽ giải thích ra sao về thất bại của chính quyền trong việc đẩy mạnh hơn theo hướng đàm phán và dự tính trước việc rút quân? Câu trả lời là các Tham mưu trưởng liên quân và nhiều người khác trong chính phủ có quan điểm hoàn toàn khác về tiến bộ của cuộc chiến. Các thành viên có ảnh hưởng của Quốc hội cũng như công chúng cũng chia sẻ quan điểm này và những ý kiến của họ cũng làm cho Tổng thống bị ảnh hưởng nặng nề.

Quan điểm chống đối bùng lên tấn công tôi dữ dội trên một cột báo được xếp đặt ngày 7/9. Bài báo viết:

Có những dấu hiệu cho thấy rằng chính quyền đang chán ngấy với những quyết định sai lầm, giả dối và sự hiếu chiến độc tài của Robert Strange McNamara, người chưa bao giờ đúng về Việt Nam hay những vấn đề quân sự khác. Dấu hiệu quan trọng có thể thấy được về lầm lỗi của McNamara trong chính quyền LBJ là sự thực rằng lần đầu tiên những người lính dường như được tự do lên tiếng phản đối McNamara... Sự thực về việc các Tham mưu trưởng đang công khai đấu tranh với ông ta, đối với tôi điều đó chỉ có thể có nghĩa là giờ đây người ta có những hiểu biết nhất định rằng Nhà Trắng đang rút đi một phần sự giúp đỡ1.

Tác giả của bài báo này chẳng phải ai khác ngoài Bary Goldwater.
_____________________________________
1. Barry Goldwater, “Phải chăng McNamara kém nổi tiếng?”, Hiến pháp Atlanta, 7/9/1967.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #139 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 07:59:13 pm »


Trong thực tế, sau những buổi tường trình ở Tiểu ban Stennis, Chính quyền Johnson đang thực hiện những sáng kiến ngoại giao mạnh mẽ với Hà Nội mà họ đã đưa ra. Sáng kiến bí mật được biết với mật hiệu Pennsylvania, được tiến hành trong tháng 7 và kéo dài được ba tháng; giúp mở ra cuộc gặp giữa đại diện của Mỹ và những người Bắc Việt Nam ngày 10/5/1968 tại Paris.

Khoảng giữa tháng 6, khi tôi về văn phòng của mình tại Lầu Năm Góc vào một sáng thứ hai sau mấy ngày vắng mặt, tôi thấy trên bàn mình một tập điện từ khắp thế giới gửi về; trong đó có bản sao bức điện của Henry Kissinger gửi cho Dean Rusk. Lúc đó Henry đang dự Hội nghị Pugwash - Hội nghị quốc tế của các nhà khoa học và trí thức - và ông báo cáo rằng ông đã có một cuộc tiếp xúc mà cuộc tiếp xúc này có thể thu hút sự chú ý của chúng tôi. Ông đã gặp Herbert Marcovich, một người Pháp, sẵn sàng đứng ra dàn xếp cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa Mỹ và Bắc Việt Nam để nghiên cứu những điều kiện cho hoà bình. Một người Pháp thứ hai, Raymond Aubrac, cũng xuất hiện khi Henry bày tỏ sẵn sàng thông báo với Washington vấn đề này. Bây giờ ông hỏi phải trả lời họ thế nào.

Tôi gọi John McNaughton và hỏi xem đã xử lý thế nào với bức điện này. Ông ta trả lời là chưa làm gì cả.

Tôi hỏi theo ông thì cần làm gì.

Ông đáp một cách nghi ngại: “Ông nghĩ thế nào?”

“Tôi hỏi ông trước cơ mà”, tôi nói.

Ông ta nói: “Chúng ta đã có hàng loạt các thử nghiệm chết yểu để mở đàm phán mà không có kết quả và lần này có thể lại là một trong những cái chết yểu đó. Nhưng tại sao chúng ta lại không thăm dò bằng những cách mà chúng ta không phải tốn kém và mạo hiểm?”. Tôi hoàn toàn đồng ý và nói sẽ mang bức điện này tới bữa ăn trưa cùng Dean và Tổng thống vào thứ ba này.

Hôm sau, trong lúc ăn trưa, khi tôi nêu vấn đề này ra, Dean và Tổng thống nói: “Ồ, Bob, đây chỉ là một trong những ngõ cụt tối tăm chẳng dẫn tới đâu cả. Trước đây chúng ta đã thất vọng về chúng rồi. Thôi quên đi”. Họ có đủ lý do để cảm thấy như họ đã làm. Nhưng dù vấn đề này rõ ràng thuộc về trách nhiệm của Bộ trưởng Ngoại giao, cuối cùng tôi cũng thuyết phục họ để cho tôi xử lý. Tôi hứa sẽ làm bằng cách nào đó để cho Mỹ không bị xấu hổ.

Sau đó tôi có hàng loạt cuộc trao đổi với Henry. Bước đi đầu tiên của tôi là tìm hiểu về lai lịch của Aubrac và Marcovich. Hoá ra Aubrac là người xã hội chủ nghĩa cánh hữu và Marcovich là một nhà khoa học. Qua mấy tuần, Aubrac tỏ ra là người khôn ngoan hơn về chính trị. Ông là bạn cũ của Hồ Chí Minh - người đã ở trong nhà Aubrac ở Paris khi sang đàm phán với Chính phủ Pháp năm 1946 và là cha đỡ đầu của con gái Aubrac.

Tôi cũng hỏi Henry xem chúng ta phải tiếp tục như thế nào. Ông đã cho những lời khuyên vô giá về cách tiếp cận với những người Bắc Việt Nam và đáp lại những đề nghị của họ, và tỏ ra là một người đưa tin vô cùng chính xác về những thông điệp giữa hai bên.

Tới đầu tháng 7, chúng tôi đã tới thời điểm mà tôi tin là cần phải đề nghị Aubrac và Marcovich tới Hà Nội. Tôi yêu cầu họ trình bày phương thức giai đoạn A - giai đoạn B, trong đó Mỹ sẽ tạm ngừng hoặc chấm dứt ném bom trên cơ sở Bắc Việt Nam cam kết sẽ có hành động tương tự đáp lại.

Aubrac và Marcovich đến Hà Nội ngày 21/7. Ông Hồ Chí Minh đang ốm nhưng đồng ý gặp ông bạn cũ Aubrac. Sau đó Aubrac và Marcovich gặp và thảo luận rất lâu với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Sau khi họ trình bày, Thủ tướng nói: “Chúng tôi muốn chấm dứt ném bom không điều kiện và nếu điều đó diễn ra thì chẳng còn trở ngại gì đối với đàm phán”. Ông tỏ thiện chí sẵn sàng duy trì kênh này, gợi ý Aubrac và Marcovich tiếp tục gửi tin tức cho ông qua Tổng Lãnh sự Bắc Việt Nam tại Paris Mai Văn Bộ1.

Trong lúc Aubrac và Marcovich ở Hà Nội, tôi nghỉ để chăm sóc Marg. Vết loét của nhà tôi ngày càng đau và rõ ràng là cần phải mổ. Cuộc giải phẫu đã được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Johns Hopkins vào đầu tháng 7 và làm cho nhà tôi rất yếu và vô cùng đau đớn. Vì thế chúng tôi quyết định sẽ đi nghỉ ở Wyoming. Marg, Craig và tôi bay tới Jakson Hole, ở chân dãy Teton thuộc Rockies, một trong những nơi hùng vĩ nhất trên thế giới. Ở đó, trong khi Marg nghỉ ngơi trong một quán nhỏ, tôi và Craig leo lên ngọn Grand Teton. Cùng đi với chúng tôi có hai nhóm nữa của hai bố con ông Stan Resor, thư ký quân đội của tôi và bố con ông Glen Exum, người đã từng đi đầu trên con đường của chúng tôi 30 năm trước. Đó là một chuyến nghỉ ngơi tuyệt vời, kết hợp những vận động cơ thể đến mệt người với vẻ đẹp hùng vĩ của những ngọn núi cao, sự thoả mãn khi hoàn thành một chặng đường gian khổ và đôi khi nguy hiểm, và cảm nhận mạnh mẽ về sự đồng hành gắn bó con người với nhau trong những hoàn cảnh như vậy.

Sau khi leo núi, Craig và tôi thuê một chiếc xe, sáng tạo ra một kiểu giường ở ghế sau cho Marg và đi xuống Aspen, Colorado. Chúng tôi mong được nhìn thấy ngôi nhà nghỉ mà chúng tôi đang xây gần làng Snowmass - và muốn kiểm tra những hư hỏng do những người biểu tình chống chiến tranh gây ra. Họ đã hai lần tìm cách đốt ngôi nhà này. Những năm sau đó, theo như báo cáo của FBI thì còn nhiều lần họ muốn phá. Ví dụ như sau khi Patty Hearst bị bắt vì những hoạt động của “Quân đội giải phóng Symbion” trong những năm 70, mật vụ đã tìm thấy trong nhà xe của nhóm này ở Berkeley sơ đồ nền ngôi nhà ở Snowmass của chúng tôi. Mỗi phòng ngủ của chúng tôi đều được ghi rõ tên người sử dụng. Một buổi chiều, sau một chặng dài đi bộ trong vùng núi Aspen, trên đường trở về ngôi nhà chúng tôi thuê, Craig và tôi thấy ngôi nhà đã bị một đám đông những người biểu tình bao vây. Chúng tôi vội tránh đi ngay. Ngay sau sự kiện này, chúng tôi bỏ dở chuyến đi nghỉ và bay về nhà ở Washington.
_____________________________________
1. Xem Báo cáo của Chester L. Cooper cho Ủy ban Đàm phán, 2/8/1967, trong Herring, Ngoại giao bí mật, tr. 717-725, đặc biệt là tr. 720.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM