Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:44:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam  (Đọc 109431 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #140 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:00:14 pm »


Ngày 26/7/1967, Aubrac và Marcovich rời Hà Nội và trở về Paris. Họ về đến nơi được một tiếng thì Henry gặp họ và gửi cho chúng tôi ý kiến nhện xét của họ. Tôi đã thảo luận về bức điện của ông với Tổng thống và Dean trong bữa ăn trưa hôm thứ ba, ngày 8/8. Tôi nói: “Đây là bức điện lý thú nhất về vấn đề đàm phán kể từ trước đến nay”1. Tôi được phép thảo những hướng dẫn mới gửi Henry. Ngày hôm sau tôi đọc cho thư ký:

THƯ GỬI TIẾN SĨ KISSINGER

Ông có thể chuyển cho những người liên lạc với ông thông điệp sau đây và đề nghị họ chuyển tới ông Phạm Văn Đồng:

Hoa Kỳ sẵn sàng ngừng ném bom và thả mìn phong toả Bắc Việt Nam nếu việc đó ngay lập tức mang lại những cuộc thảo luận có tính xây dựng giữa đại diện của Hoa Kỳ và DRV (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) để tìm kiếm một giải pháp cho vấn đề giữa hai bên. Chúng tôi cho rằng, trong quá trình thảo luận, dù công khai hay bí mật, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không lợi dụng việc hạn chế hoặc tạm ngừng ném bom. Nếu về phía họ có bất cứ hành động nào như vậy thì rõ ràng sẽ không phù hợp với những hoạt động theo hướng tìm giải pháp cho những vấn đề giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà đàm phán nhằm đạt được...

Hoa Kỳ sẵn sàng có tiếp xúc riêng ngay lập tức với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để thăm dò về cách đề cập trên hoặc bất cứ gợi ý nào mà Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn đề nghị theo hướng đó.

Ngày 11/8, Tổng thống phê chuẩn bức thư và Henry trở về Paris. Ở đó, bắt đầu từ ngày 17/8 ông và Chester Cooper tổ chức hàng loạt những cuộc gặp gỡ với Aubrac và Marcovich. Theo Chet, những người Pháp “liên tục ép chúng ta là bằng cách nào họ có thể thuyết phục Bắc Việt Nam rằng Mỹ thực sự quan tâm đến đàm phán trong khi việc ném bom của chúng ta đã đạt đến mức kỷ lục về độ dữ dội”. Họ hỏi liệu trong chuyến đi Bắc Việt Nam sắp tới của họ, Mỹ có giảm bớt ném bom như là một dấu hiệu cho Hà Nội thấy rằng Mỹ rất coi trọng sứ mạng của họ”. Henry và Chet hứa sẽ nêu vấn đề với Washington, và họ làm thật. Ngày 19/8, Tổng thống đồng ý sẽ ngừng ném bom Hà Nội trong phạm vi bán kính 10 dặm từ ngày 24/8 đến ngày 4/9, để đảm bảo an toàn cho Aubrac và Marcovich, đồng thời chứng minh vai trò có hiệu lực của Henry với tư cách là trung gian hoà giải2.

Có điều chúng tôi không lường trước hoặc là chưa nhạy bén để chặn trước hàng loạt những cuộc tấn công lớn vào Bắc Việt Nam ngay trước khi ngừng ném bom theo kế hoạch. Vì thời tiết Bắc Việt Nam rất xấu nên không quân và hải quân đã xây dựng một kế hoạch dự trữ về các mục tiêu sẽ bị đánh phá. Ngày 20/8, khi trời quang mây, Mỹ đã tiến hành hơn 200 chuyến bay tiêm kích mà trước đó bị hoãn vì thời tiết nhiều hơn bất cứ ngày nào từ trước đến nay. Việc ném bom dữ dội gần Hà Nội, Hải Phòng và vùng gần biên giới Trung Quốc diễn ra liên tục trong hai ngày tiếp theo.

Aubrac và Marcovich đã chẳng bao giờ có dịp nói với Hà Nội. Ngày 21/8, Bắc Việt Nam từ chối đơn xin thị thực của họ với lời giải thích rằng những trận ném bom làm cho việc thăm Hà Nội trở nên quá nguy hiểm. Theo Aubrac kể lại, những người Bắc Việt Nam còn nói thêm một cách châm chọc rằng cho phép họ đến vào thời điểm đó “sẽ làm hại đến uy tín của chúng tôi và cuối cùng là cả các ông”. Một lần nữa chúng ta lại thất bại một cách thảm hại trong việc phối hợp các hoạt động quân sự và ngoại giao3.
_____________________________________
1. Ghi chép tại cuộc họp 8/8/1967. Ghi chép của Tom Johnson về các cuộc họp, LBJL.
2. Cooper, Cuộc chiến chớp nhoáng thất bại, tr. 379.
3. Ngoại giao bí mật do Herring hiệu đính, tr. 745.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #141 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:01:51 pm »


Tuy vậy, cả hai bên vẫn để ngỏ cửa. Ngày 8/9 Marcovich nói với ông Bộ rằng Henry có thể sẽ đến Paris vào ngày 9/9 và ở lại trong khoảng 10 ngày. Ông Bộ nhận xét rằng giá mà không có việc ném bom Hà Nội hồi đó thì “sẽ có cái gì đó diễn ra trôi chảy”. Chúng tôi đảm bảo sẽ không có việc ném bom Hà Nội, nhưng những cuộc tấn công vào các vùng khác vẫn tiếp tục. Trong đó có cuộc oanh kích dữ dội vào Hải Phòng ngày 11/9. Hôm đó, Hà Nội bác bỏ đề nghị ngày 9/9 của chúng ta với thái độ vô cùng tức giận. Tuyên bố của họ có đoạn viết: “Thông điệp của Mỹ được chuyển sau khi leo thang tấn công ( Hải Phòng) và đe doạ tiếp tục tấn công Hà Nội. Rõ ràng là họ muốn tạo ra một tối hậu thư gửi nhân dân Việt Nam... Chỉ khi nào Mỹ ngừng không điều kiện việc ném bom và tất cả các hoạt động chiến tranh chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thì lúc đó mới có khả năng có đàm phán”1.

Bình luận về những phát triển này, trong bức điện gửi về Washington, Henry nói rằng Mỹ có hai lựa chọn: “a) chấp nhận nội dung của thông điệp đó và chấm dứt kênh liên lạc A-M; hoặc b) coi bức thông điệp đó như là bước đi thứ nhất trong một quá trình thoả thuận phức tạp”. Tất cả chúng tôi đồng ý nhưng chưa chuẩn bị sẵn sàng để đưa ra những đề nghị có thể đưa Hà Nội tới bàn đàm phán2.

Hai tuần trước đó, sự thiếu chuẩn bị về tư tưởng của chúng tôi đã bộc lộ rõ trong câu chuyện giữa tôi và Averell Harriman, một viên chức Bộ Ngoại giao được giao nhiệm vụ theo dõi bất cứ cuộc đàm phán nào về Việt Nam nếu có. Averell đã khuyên rằng nếu chúng ta thực sự quan tâm đến đàm phán, chúng ta sẽ phải xác định lại mục tiêu của mình. Ông chỉ rõ rằng những người Bắc Việt Nam sẽ chẳng bao giờ đầu hàng chúng ta không điều kiện. Tôi đồng ý và nói vì thế chúng ta phải “quyết định rằng cách duy nhất để giải quyết vấn đề là thành lập một chính phủ liên hiệp. Chúng ta không thể tránh được điều đó”. Averell đồng ý. Nhưng thật đáng buồn, chẳng ai trong chúng tôi có thể buộc chính phủ thảo luận về vấn đề cơ bản đó, và chẳng có một đề nghị nào như vậy được chuyển cho Hà Nội3.

Ngày 12/9, Tổng thống, Dean và tôi nói chuyện với nhau về bức điện của Henry. Tổng thống nêu vấn đề tại sao chúng ta lại không thể dừng ném bom nếu việc đó nhanh chóng dẫn đến đàm phán. Tôi đồng ý. Nhưng Dean hỏi lại: “Chúng ta sẵn sàng trải qua hàng loạt những cuộc thảo luận mà chẳng có kết quả gì không?”. Chúng tôi nhượng bộ nhau và gửi cho Henry một bức điện để chuyển cho ông Bộ qua Marcovich. Ngày 13/9. máy bay Mỹ lại ném bom xung quanh Hà Nội và Hải Phòng. Henry báo cáo rằng hôm đó khi ông gặp Marcovich, Marcovich đáp lại rằng mỗi lần tôi mang đến một thông điệp, chúng ta lại ném bom vào trung tâm thành phố của Việt Nam. Nếu việc này xảy ra một lần nữa, ông ấy sẽ chẳng còn sẵn lòng đứng ra làm liên lạc nữa”4.

Ngày 20/9, trong bữa ăn trưa ngày thứ ba, chúng tôi lại thảo luận vấn đề này. Nick Katzenbach kiên quyết muốn duy trì kênh này với lý do kể từ tháng 2 đến nay, đây là lần đầu tiên có đối thoại và “giọng điệu trao đổi thông tin đỡ chát chúa hơn trước”. Ông nói thêm: “Điều quan trọng là kéo họ vào nói chuyện, thậm chí với cái giá là không tấn công vào trong phạm vi Hà Nội”.

Walt Rostow phản đối: “Tôi không thấy có gì liên quan giữa ném bom và đàm phán”.

“Tôi không nghĩ chúng ta đang chuẩn bị đạt được đàm phán bằng việc ném bom”. Nick đáp lại gay gắt. Dù ông ta, Dean và tôi đồng ý rằng việc ném bom từng mục tiêu nhất định ở miền Bắc có ảnh hưởng rất nhỏ đối với cuộc chiến, chúng tôi không có khả năng giải quyết theo một phương thức có thể đưa Hà Nội đến bàn đàm phán. Và thế là cuộc thảo luận lại tiếp tục5.
____________________________________
1. Embtel 3070 và 3097 (Paris), trích trong sách đã dẫn, tr. 736-738.
2. Embtel 3143 (Paris), Thư của Kissinger, 11/9/1967, Hồ sơ của Walt W. Rostow, NSF, LBJL.
3. Báo cáo về Cuộc hội đàm với Bộ trưởng McNamara, 22/8/1967, Tài liệu của W. Averell Harriman, Vụ Văn bản viết tay, Thư viện Quốc hội.
4. Ghi chép của Jim Jones tại cuộc chiêu đãi hàng tuần, 12/9/1967, MNF, LBJL; và Embtel 3242 (Paris), của Kissinger, 13/9/1967, Hồ sơ của Walt W. Rostow, NSF, LBJL.
5. Ghi chép của Tom Johnson tại cuộc chiêu đãi hàng tuần, 26/9/1967, Ghi chép tại các cuộc họp, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #142 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:02:37 pm »


Cuối ngày hôm đó, Nick gửi cho Tổng thống một bức thư đề nghị chúng ta tiếp tục mở kênh Pennsylvania. Ông viết rằng đó là quan điểm riêng của ông và không biết liệu Dean có đồng ý không. Bức thư mở đầu: “Tầm quan trọng của hoạt động của Kissinger ở Paris nằm trong thực tế: đó là một việc gần gũi nhất mà chúng ta chưa làm để thiết lập đối thoại với Bắc Việt Nam”. Vì Bắc Việt Nam liên tục nêu vấn đề ném bom leo thang là làm tổn hại đến đàm phán, nên Nick đề nghị Tổng thống “loại bỏ tất cả mọi nghi ngờ có thể xảy ra” về sự chân thành của những cố gắng theo hướng đàm phán của chúng ta. Ông giải thích:

Tôi không tin rằng giờ đây Hà Nội có thể đàm phán nghiêm chỉnh. Nhưng tôi nghĩ rằng điều quan trọng là cả trong hoàn cảnh và quan hệ công khai, chúng ta kiểm nghiệm đầy đủ khả năng đó. Tôi không nghĩ là chúng ta phải trả giá nặng nề trong việc hoãn đánh phá một tỷ lệ rất nhỏ những mục tiêu ở Bắc Việt Nam. Chúng ta biết rằng phá hủy những mục liêu đó trong tuần này hay tuần sau có thể hoàn toàn không có ý nghĩa đối với việc tiến hành chiến tranh. Có những cơ hội bên ngoài có thể có một số tác động đối với việc tìm kiếm hoà bình. Và tôi sẽ sử dụng cơ hội đó - cái mà tôi thừa nhận là rất nhỏ bé - bởi lẽ kết quả lại rất lớn lao1.

Tổng thống miễn cưỡng chấp nhận lời khuyên của Nick. Ngày 29/9 ông đã có bài diễn văn quan trọng ở San Antonio, Texas, dựa trên sáng kiến Pennsylvania, được biết tới với tên gọi “Phương thức San Antonio”. Bài diễn văn đi xa hơn những tuyên bố công khai của Mỹ trước đây qua việc tuyên bố chúng ta sẽ dừng ném bom nếu có sự bảo đảm riêng là điều này ngay lập tức sẽ dẫn tới những cuộc thảo luận thực sự, và trên giả thiết là Bắc Việt Nam sẽ không lợi dụng về quân sự. Có nghĩa là sẽ không tăng dòng chảy của người và hậu cần vào miền Nam.

Bài diễn văn của Tổng thống không làm Hà Nội xúc động. Khi Marcovich gặp ông Bộ hôm 2/10. Tổng lãnh sự Bắc Việt Nam gọi nó là “điều nhục mạ”2.

Hà Nội tiếp tục chỉ trích đề nghị của chúng tôi là có điều kiện và phụ thuộc vào “những cuộc thảo luận tích cực ngay lập tức”. Chúng tôi từ chối không thay đổi về từ ngữ, thậm chí có lần tôi lập luận rằng điều đó không quan trọng như vậy. Nếu chúng ta dừng ném bom, chúng ta cũng có thể tiếp tục bất cứ lúc nào, bất chấp những gì ta đã nói, nếu Bắc Việt Nam không đàm phán thực sự. Cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục trong chính quyền nhưng chẳng đạt được sự thống nhất hơn trước tí nào.

Ngày 18/10, chúng tôi gặp để thảo luận xem có nên từ bỏ kênh Pennsylvania hay không. Với mức độ khác nhau, Dean, Nick, Walt, Max Taylor và Henry kiến nghị cứ giữ kênh này. Các tư vấn của Tổng thống là Abe Fortas, Clark Clifford đòi đóng nó lại. Tôi phản đối mạnh. Tôi tin rằng nếu chúng ta dừng ném bom, sẽ có đàm phán ngay; rằng những khả năng hiện có sẽ dẫn tới một giải pháp; rằng chúng ta phải vận động theo hướng một giải pháp trong vòng 12 tháng tới vì chúng ta không thể duy trì lâu hơn sự ủng hộ của công chúng đối với cuộc chiến. Tổng thống chỉ thị cho Henry thông báo cho Bắc Việt Nam về sự tiếp tục sẵn sàng đàm phán của chúng ta nhưng cũng bày tỏ sự không hài lòng của chúng ta về những kết quả đã đạt được3.
__________________________________
1. Báo cáo gửi Tổng thống của Nicholas deB. Katzenbach, chủ đề: Thương lượng với Bắc Việt Nam, 26/9/19ó7, Hồ sơ của Walt W. Rostow, NSF, LBJL.
2. Xem Herbert Marcovich gửi Henry Kissinger, 2/10/1967, NSF, LBJL.
3. Ghi chép cuộc họp tại Phòng Nội các ngày 18/10/1967, Ghi chép của Tom Johnson về các cuộc họp, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #143 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:03:30 pm »


Ngày 20/10, ông Bộ từ chối gặp Aubrac và Marcovich với lời nhận xét “không có gì mới để nói, tình hình đang xấu đi. Chẳng có lý do gì để nói chuyện nữa”. Điều đó đánh dấu sự kết thúc của Pennsylvania, trừ việc nó đặt cơ sở cho đàm phán trong năm 19681.

Ngày hôm sau, thứ bảy, 21/10/1967, 20.000 người biểu tình chống chiến tranh diễu hành về phía Lầu Năm Góc, quyết tâm đóng cửa toà nhà.

Chúng tôi được biết trước về cuộc biểu tình này rất sớm. Hôm 20/9, Tổng thống gặp tôi và những người khác để thảo luận cách đối phó với nó. Tôi nói với ông rằng chúng ta đang đứng trước một vấn đề khó khăn - khó khăn vì Lầu Năm Góc không có hệ thống phòng thủ tự nhiên. Đó là một toà nhà lớn - lớn nhất thế giới khi nó được xây dựng trong Chiến tranh thế giới thứ II - có đường nhựa và các sân cỏ bao quanh. Bạn có thể đi tới từ cả năm phía.

Chúng tôi quyết định cho quân đội được trang bị súng trường bao quanh ngôi nhà, đứng sát vai nhau ở chính giữa con đường nhựa quanh nhà, bố trí cho cảnh sát đứng giữa binh lính và những người biểu tình. Chúng tôi biết rằng lính đứng một hàng sẽ không thể có khả năng ngăn chặn đám đông hàng nghìn người lao vào toà nhà - trừ khi họ nổ súng, điều mà chúng tôi không có ý định cho phép. Vì thế, tôi và Bus cùng với những viên chỉ huy của ông đồng ý chuyển một lực lượng tăng cường vào trong sân trung tâm của Lầu Năm Góc, đó là một sân cỏ mà các viên chức thích ngồi sưởi nắng trong lúc ăn trưa. Nếu sức ép của đám đông làm vỡ hàng rào lính, những người lính từ bên trong toà nhà sẽ đổ ra để bịt nó lại. Để không gây căng thẳng, chúng tôi quyết định thả lực lượng tăng cường xuống sân bằng máy bay lên thẳng vào ban đêm.

Tôi nói với Tổng thống rằng sẽ không một khẩu súng nào được nạp đạn nếu tôi không cho phép và tôi không có ý định cho phép. Tôi nói thêm rằng Bus, Phó Tổng thanh tra Warren Christopher và tôi sẽ đích thân điều khiển hoạt động từ trong trụ sở của tôi và trên nóc Lầu Năm Góc.

Vào ngày hôm trước cuộc biểu tình, Thứ trưởng phụ trách Lục quân David E. Mc Giffert phân phát cho tất cả binh lính cảnh sát tham gia một bức thư qua Tư lệnh Lục quân. Bức thư nêu rõ đường lối chỉ đạo nhiệm vụ của họ:

Trong việc giúp đỡ chính quyền dân sự, chúng ta phải làm một việc rất khó khăn và tế nhị nhằm giữ vững những quyền được Hiến pháp thừa nhận như tự do hội họp và biểu thị tình cảm, đồng thời cũng bảo vệ những hoạt động và tài sản của chính phủ. Chúng ta không thể tha thứ việc phạm luật, nhưng chúng ta cũng không tha thứ việc can thiệp vào việc thực hiện hợp pháp những quyền được nêu trong Hiến pháp...

Chúng ta phải tránh hành động thái quá hoặc mềm yếu. Chúng ta phải cư xử đúng mực và cứng rắn. Chúng ta phải hành động với phương châm hạn chế đến mức tối thiểu khả năng đổ máu hay thương vong; hạn chế tối thiểu việc sử dụng vũ lực vì nhiệm vụ của chúng ta là bảo vệ các nhân viên (quân sự và dân sự), các hoạt động và tài sản của chính phủ2.

Gần ba thập kỷ sau khi đọc lại những dòng chữ của Dave tôi vẫn cảm thấy vô cùng tự hào về tinh thần nghề nghiệp và trách nhiệm khi quân đội và cảnh sát Mỹ thực hiện một nhiệm vụ tưởng như không thể làm được.

Tờ The Washington Post đưa tin:

Cuộc biểu tình có hai phần riêng biệt.

Phần thứ nhất là đám đông tại Reflecting Pool, nằm giữa tượng Washington và Đài tưởng niệm Lincoln. Phần này đòi tôn trọng nhân quyền và sở thích con người, đám đông ở đây khoảng hơn 50.000 người, rất trật tự và phần lớn là sinh viên các trường cao đẳng. Nhóm thứ hai ở trước Lầu Nam Góc có ít hơn, khoảng 20.000 người, như Lầu Năm Góc cho biết. Những hàng đầu của nhóm này có khoảng 3.000 người, gồm những kẻ gây rối, tạo ra một vết thương sâu cho phong trào chống chiến tranh3.
_______________________________________
1. Xem Embtel 5545 (Paris), 20/10/1967, trong Ngoại giao bí mật của Herring, tr. 769.
2. Báo cáo cho Bộ Tham mưu liên quân, Quân đội Mỹ của David E. McGiffert, 20/10/1967, Biểu tình chống Việt Nam, Tài liệu của Warren Christopher, Hộp số 8, LBJL.
3. “Im lặng tập hợp chống sự xấu xa” của Jimmy Breslin, The Washington Post, 22/10/1967, tr. A-1 và A-10.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #144 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:05:25 pm »


Đúng là ở những hàng đầu toàn là những kẻ gây rối. Chúng dùng mọi phương tiện để khiêu khích những người lính, gây đụng độ. Những phụ nữ trẻ cọ ngực họ vào những người lính đang bồng súng trường đứng nghiêm, và thậm chí kéo cả khoá quần của những người lính, nhưng họ vẫn không xê dịch. Những người biểu tình ném bùn, biển báo, truyền đơn, gậy gộc và đá vào những người lính. Họ vẫn không rời vị trí. Một làn sóng những người biểu tình cố phá vỡ hàng rào, nhưng những người lính tựa lưng vào cánh cửa Lầu Năm Góc và quân tăng cường ở bên trong tràn ra hỗ trợ, cản đám đông lại. Một vài người biểu tình vào được bên trong toà nhà nhưng nhanh chóng bị đẩy ra. Cuối cùng đám đông bắt đầu tan rã. Nhưng vẫn còn hàng nghìn người ở lại đến đêm và đốt lửa trên sân. Những người biểu tình cuối cùng ở lại cho đến tận chiều hôm sau.

Trong bài báo nói về cuộc biểu tình của The Post có đoạn: “Mặc dù rất có khả năng nổ ra bạo lực trong khoảng thời gian suốt từ chiều đến tối, nhưng đã không có tin gì về tiếng súng và không một người nào bị thương nặng”1.

Từ trên nóc nhà và một số điểm quan sát khác, tôi theo dõi toàn bộ sự việc. Nhiều năm sau, một phóng viên hỏi tôi có sợ không. Tất nhiên là tôi sợ. Một đám đông không kiểm soát nổi là một điều đáng sợ nhưng may mắn thay, trong trường hợp này nó đáng sợ nhưng vô hiệu. Trong lúc đó, tôi không thể không nghĩ rằng giá mà những người biểu tình có kỷ luật hơn - như Gandhi - họ có thể đạt được mục tiêu là nhốt chúng tôi ở bên trong. Tất cả điều họ cần làm chỉ là nằm trên vỉa hè quanh toà nhà. Chúng tôi sẽ không thể có đủ thời gian chuyển họ đi để mở cửa Lầu Năm Góc.


Tổng thống Johnson tiếp tục hỏi ý kiến góp ý. Để giúp quyết định cho những gì ông cần thay đổi - nếu có - trong khi tiến hành chiến tranh, Tổng thống nài nỉ Mac Bundy cho biết những đánh giá của mình và yêu cầu Những nhà thông thái (Wise Men) họp mặt lại vào ngày 2/11*.

Ngày 17/10, Mac trả lời bằng một bức thư. Quan điểm của ông ta - được tóm tắt trong tuyên bố “Tôi nghĩ rằng chính sách của Tống thống vẫn đúng và những chứng cớ trên chiến trường là có trọng lượng và đáng khích lệ” - phản ánh rằng ông nhất trí với Những nhà thông thái. Mỉa mai thay, trong cùng bức thư đó Mac khuyên Tổng thống: “Tôi sẽ không quá nghe những ai từ xa đến và chỉ dành có một ngày để xem xét chứng cớ”2. Đáng ra ông có thể viết thêm: “ Đặc biệt là đừng nghe theo một nhóm người, dù có thông thái thế nào, chỉ nghe có một phần của bằng chứng”.

Nhóm người tụ họp quanh chiếc bàn lớn trong Văn phòng Nội các sáng ngày 2/11 có khác một chút so với nhóm người năm 1965. Khi Những nhà thông thái yêu cầu Tổng thống cam kết có một lực lượng cần thiết để giữ cho Việt Nam không rơi vào vòng kiểm soát cộng sản. Paul Hoffman, George Kistiakowsky và Arthur Larson vắng mặt - họ không được mời vì người ta biết họ chống chính sách về Việt Nam của Johnson. Bob Lovett và Jack McCloy cũng vắng mặt; họ có được mời nhưng không thể dự được. Mười một người dự gồm Dean Acheson, George Ball, Omar Bradley, Mac Bundy, Clark Clifford, Art Dean, Doug Dillon, Abe Fortas, Cabot Lodge, cựu quan chức ngoại giao Bob Murphy và Max Taylor.

Khi khai mac cuộc họp, Tổng thống nêu năm câu hỏi:

1. Chúng ta có thể làm gì với những điều ta chưa làm ở Nam Việt Nam?

2. Đối với miền Bắc, chúng ta có nên tiếp tục những việc đang làm, có nên thả mìn phong toả các cảng, phá đê điều hay là chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc?

3. Chúng ta có nên theo đuổi một chính sách thụ động, sẵn sàng đàm phán, nên ráo riết tìm kiếm đàm phán hay là chúng ta nên rút lui?

4. Chúng ta có nên rút khỏi Việt Nam?

5. Chính quyền nên đi những bước tích cực gì để thống nhất đất nước và giữ quan hệ tốt hơn với dân chúng?

Johnson đã đặt ra những câu hỏi đúng. Nhưng, như kiểu chơi poker, ông đã giữ lại những hiểu biết quan trọng mà Những nhà thông thái cần để đưa ra những câu trả lời có thông tin đầy đủ. Đêm trước, họ đã được Bus Wheeler và George Carver, chuyên gia về Việt Nam của CIA. thông báo nên vẫn tiếp tục lạc quan về cuộc chiến. Nhưng họ không hề nhận được một tài liệu viết nào. Đặc biệt, họ không nhận được bản báo cáo có tính phá phách của Thiếu tướng Hải quân La Rocque rằng không có khả năng giành chiến thắng quân sự ở Việt Nam. Họ cũng không được xem bản phân tích của Dick Helms về sự giới hạn và khả năng kiểm soát được của những mạo hiểm trong việc Mỹ rút ra.
______________________________________
1. Richard Harwood, “Hạn chế công việc cho quân đội”, sách đã dẫn.
* Xem chương 7, cuộc họp lần thứ nhất của Những nhà thông thái vào tháng 7/1965.
2. Báo cáo của McGeorge Bundy cho Tổng thống, chủ đề: Bình luận cho cuộc thảo luận về Việt Nam - tháng 10/1967, 17/10/1967, NSF, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #145 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:06:14 pm »


Và, tôi thật thất vọng khi Tổng thống không cho họ biết bức thư tôi đã trình ông hôm trước. Trong thư, tôi trình bày những đánh giá của mình về sự bế tắc mà vì nó chúng ta đã làm đất nước đi chệch hướng cùng với những nhận định của tôi về cách giải quyết bế tắc. Ngay trong trang đầu, tôi đã chỉ rõ thực tế khắc nghiệt mà chúng ta sẽ phải đối phó: “Tiếp tục tiến trình hoạt động hiện nay của chúng ta ở Đông Nam Á sẽ nguy hiểm, phải trả giá bằng sinh mạng và sự bất bình của nhân dân Mỹ”. Không nói dài dòng, tôi chỉ rõ là tôi hiểu Tổng thống sẽ thấy rất khó khăn khi xem xét việc từ bỏ những suy nghĩ cũ về Việt Nam và thay đổi hướng đi. Và tôi kiến nghị như sau: “Bức thư gửi kèm theo phác hoạ một chương trình thay thế (cho chương trình chúng ta hiện đang theo đuổi )”.

Tôi đảm bảo với Tổng thống là “bức thư trình bày quan điểm cá nhân của tôi”, và nói thêm: “Vì những quan điểm này có thể khác với quan điểm của Tổng thống, nên tôi chưa cho Dean Rusk, Walt Rostow hay Bus Wheeler xem. Sau khi đọc, nếu Tổng thống muốn tôi thảo luận với họ những đề nghị của tôi và báo cáo lại cho Tổng thống kiến nghị chung của chúng tôi, thì tôi sẽ làm như vậy”. Tôi hy vọng sau khi nghiên cứu, Tổng thống sẽ cho phép tôi phân phát bức thư này cho các cộng sự dân sự và quân sự để thảo luận kỹ càng và chi tiết hơn. Tôi nhận ra rằng những kiến nghị này sẽ gây tranh cãi và có thể hoàn toàn không khôn ngoan, nhưng nó nêu lên những câu hỏi cơ bản đòi phải có câu trả lời.

Như chúng ta sẽ thấy, điều đó đã không xảy ra.

Tôi bắt đầu bức thư bằng việc xem xét tình hình năm tới. Tôi nhấn mạnh rằng tôi tin chắc chắn là “cứ tiếp tục tiến trình hiện nay của chúng ta thì tới cuối năm 1968 chúng ta vẫn chưa đến gần hơn với thắng lợi, dưới con mắt của công chúng Mỹ, là ngăn chặn việc những người ủng hộ chúng ta dính líu vào Việt Nam ngày càng giảm đi”. Nhưng, trong thời gian đó chúng ta sẽ “phải đối phó với những yêu cầu về tăng cường thêm lực lượng mặt đất, dẫn đến việc tăng cường động viên hoặc gọi thêm lực lượng dự trữ”. Và điều này sẽ dẫn đến việc nâng số thương vong của Mỹ lên gấp đôi vào năm 1968. Tôi trích dẫn những số liệu dự tính chính xác nhất mà chúng ta có: “Thêm khoảng 10.900 đến 15.000 quân Mỹ chết, 30.000 đến 45.000 người nữa bị thương phải vào bệnh viện”.

Tôi nhắc lại là đã nhiều lần tôi nói về việc ném bom: nó sẽ chẳng làm giảm cuộc xung đột ở miền Nam xuống dưới mức hiện nay và cũng không đập tan được ý chí chiến đấu của miền Bắc. Tôi nhấn mạnh:

Không gì có thể phá vỡ ý chí đó ngoài lòng tin rằng họ sẽ chẳng bao giờ thắng. Lòng tin này sẽ chỉ xuất hiện khi họ rút ra kết luận là Hoa Kỳ sẵn sàng ở lại Việt Nam bất kể bao lâu để đảm bảo độc lập của nhân dân Nam Việt Nam. Không thể mong kẻ thù rút ra kết luận đó trước công chúng Mỹ. Và công chúng Mỹ, thất vọng bởi tốc độ chậm chạp của tiến bộ, sợ cuộc leo thang tiếp tục và hoài nghi về sự chân thành của tất cả mọi phương thức hoà bình, không hề tỏ ra có ý chí theo đuổi mục tiêu đó. Chỉ mấy tháng nữa chúng ta sẽ chịu sức ép ngày càng tăng vì mở rộng chiến tranh và không còn sự ủng hộ đối với sự tham gia của Mỹ trong cuộc chiến này. Những lời kêu gọi đòi Mỹ rút quân sẽ ngày càng tăng.

Theo ý kiến tôi, có một câu hỏi rất thực tế là liệu trong những hoàn cảnh như vậy, chúng ta có khả năng duy trì những cố gắng ở Nam Việt Nam trong một thời gian cần thiết để hoàn thành những mục tiêu của chúng ta ở đó hay không.

Tôi nhấn mạnh rằng kiến nghị của các Tham mưu trưởng liên quân là nhanh chóng kết thúc cuộc xung đột. Mở rộng diện của cuộc chiến - về địa lý và tăng cường ném bom - chẳng mang lại hy vọng đáng kể gì trong khi lại tiến hành những cuộc phiêu lưu lớn là mở rộng chiến tranh. Vì vậy, tôi kết luận là cách thức duy nhất có thể thấy được là: “Ổn định các hoạt động quân sự của chúng ta ở miền Nam, cùng với việc tỏ rõ là những trận tấn công bằng không quân của chúng ta vào miền Bắc không cản trở đàm phán dẫn đến một giải pháp hoà bình”. Tôi kiến nghị những bước đi cụ thể:

    * Tuyên bố chính sách duy trì ổn định.

    * Dừng ném bom Bắc Việt Nam vào trước cuối năm để mang lại đàm phán.

    * Xem xét lại những hoạt động trên bộ ở miền Nam để giảm thương vong của Mỹ, chuyển cho người Nam Việt Nam trách nhiệm lớn hơn trong việc bảo vệ an ninh của chính họ và giảm bớt thiệt hại chiến tranh cho Nam Việt Nam.1
_____________________________________
1. Báo cáo cho Tổng thống, chủ đề: Kế hoạch 15 tháng cho các chiến dịch quân sự ở Đông Nam Á, 1/11/1967, RSMP.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #146 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:07:33 pm »


Các nhà thông thái không hề có manh mối về những gì đang diễn ra. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi không có thông tin gì mới, họ trả lời dựa trên những hiểu biết trước đây về tình hình quân sự và chính trị ở Nam Việt Nam. Đối với cuộc chiến trên bộ ở miền Nam, họ nhìn thấy những cải thiện và tiến bộ lớn, yêu cầu Tổng thống tiếp tục chương trình đang thực hiện. Với việc ném bom Bắc Việt Nam, tất cả, trừ George Ball, đồng ý cần phải tiếp tục. Với vấn đề đàm phán, 8 trên 11 người dự đoán cộng sản sẽ chẳng bao giờ đàm phán. Một khi kẻ thù hiểu rằng họ sẽ không bao giờ thắng, họ sẽ dễ dàng giảm thù địch và cuối cùng là từ bỏ. Với việc liệu chúng ta có nên rút ra hay không, tất cả nhất trí nói không nên. Cuối cùng, với việc làm thế nào để thống nhất nhân dân Mỹ, họ khuyên nhấn mạnh “ánh sáng ở cuối đường hầm”, thay cho các cuộc chiến đấu, cái chết và hiểm họa1.

Điều này thể hiện những kiến thức đã được tích luỹ của quá trình lập chính sách đối ngoại của Mỹ. Những người lãnh đạo giàu kinh nghiệm nhất trong lĩnh vực của họ, những người đã dành hai thập kỷ qua để giải quyết - một cách thành công - với những thách thức và hiểm họa của cuộc chiến tranh lạnh. Nếu họ cảm thấy như họ đã làm, Ellsworth Bunker và Westy tiếp tục báo cáo cho Tổng thống những tiến bộ ở chiến trường thì làm sao mong đợi Tổng thống có thể phá bỏ những suy nghĩ đã thành nếp của mình để nhìn thẳng vào những sự thật không mấy thoải mái và những lựa chọn không dễ chịu mà tôi đã trình với ông hôm trước?

Tôi chẳng hề nhận được câu trả lời của Tổng thống về bức thư của tôi*. Mãi sau này, tôi mới được biết là ông đã gửi một bản sao thư đó cho Dean Rusk để xử lý, với chỉ thị là không được cho ai xem. Ông cũng yêu cầu Walt Rostow cho biết nội dung của bức thư nhưng không được lộ tên tác giả cho Nick Kalzenbach, Max Taylor, William Westmoreland, Eusworth Bunker, Clark Clifford và Abe Fortas để hỏi ý kiến.

Mãi đến khi tôi bắt đầu nghiên cứu để viết cuốn sách này, tôi mới phát hiện hoặc biết được phản ứng của họ. Ở một cực là Nick, người bày tỏ sự đồng ý hầu như hoàn toàn. Ở cực khác là Abe Fortas. người nghĩ rằng tác giả của bức thư có thể đã chứng kiến quá nhiều những - cuộc biểu tình phản đối. Ông viết:

“Bản phân tích và những kiến nghị hầu như hoàn toàn dựa trên cơ sở đánh giá của dư luận Mỹ và một giả thiết không nói ra như là tác động mà nó nên có. Tôi hoàn toàn không đồng ý... Tôi không thể nghĩ ra cái gì xấu hơn cái chương trình được gợi ý... Chắc chắn nó sẽ làm nảy sinh ra những đòi hỏi rút quân ở đất nước và, thực tế nó phải được đánh giá về cái mà nó là hiện thân: một bước trong tiến trình rút quân. Và theo ý kiến tôi, nó không phải là sự khuyên giải nội bộ, mà là sự không thừa nhận nội bộ (mà nó xứng đáng được hưởng), nó là một liều thuốc bổ mạnh mẽ đối với hiệu lực của cộng sản Trung Quốc trên thế giới; một bước lùi đối với những con bài domino châu Á (nhấn mạnh trong nguyên bản)2.

Clark Clifford cũng không thích bức thư. Ông viết: “Tôi không đồng ý với những kiến nghị nêu trong thư... Tôi tin là tiến trình hành động được nêu trong đó sẽ làm chậm lại chứ không đẩy nhanh khả năng kết thúc cuộc xung đột”. Đối với đề nghị ngừng ném bom của tôi, ông nói: “Tôi bối rối không hiểu nổi lôgic”. Ông lập luận rằng, ổn định hoá “cần được giải thích chính xác, đúng như tự nó có: một cố gắng uể oải và tuyệt vọng để tìm lối thoát cho cuộc xung đột mà chúng ta đã mất ý chí và quyết tâm”. Ông nói thêm: “Tổng thống và tất cả mọi người xung quanh ông muốn kết thúc chiến tranh. Nhưng tương lai của con cháu chúng ta yêu cầu chúng ta phải đạt được những mục tiêu của mình khi kết thúc cuộc chiến, đó là ngăn cản sự xâm nhập của Bắc Việt Nam được Trung Quốc và Liên Xô viện trợ”3.

Mac Bundy, người mà Johnson không hỏi ý kiến về bức thư của tôi gửi đến cho Tổng thống một bản bình luận tóm tắt về cuộc họp của Những nhà thông thái. Ông yêu cầu Tổng thống tổ chức một cuộc xem xét lại ở cấp cao để “có thể định ra một khuôn mẫu của việc giảm dần chi phí lâu dài trong vòng 5 đến 10 năm. Điều mà tôi nghĩ là hầu hết các quan chức sáng suốt nhất ở Việt Nam có thể dự tính được”. Ông viết tiếp: “Nếu vấn đề này rõ ràng hơn vấn đề khác, thì chúng ta chỉ đơn thuần là không tiếp tục đi với tốc độ hiện nay trong một thời gian dài như vậy”4.

Tại sao Tổng thống Johnson lại không buộc phải thảo luận công khai và đầy đủ về những vấn đề đang làm các cố vấn cao cấp nhất của ông bị chia rẽ một cách rõ ràng và sâu sắc? Có lẽ thất bại này của ông bắt nguồn từ việc ông nhận ra rằng vấn đề Việt Nam rất khó; rằng chẳng có giải pháp nào làm hài lòng, chẳng có cách nào làm cho các cố vấn của ông nhất trí với nhau. Có lẽ ông thấy rõ rằng quyết định về việc thay đổi chiều hướng của cuộc chiến tranh tùy thuộc vào ông, mà tự ông không thể đưa ra quyết định đó.

Bức thư ngày 1/11 của tôi đã làm được một việc: nó đã làm căng thẳng giữa hai người rất yêu mến và tôn trọng nhau - Lyndon Johnson và tôi - đến tan vỡ. Bốn tuần sau, Tổng thống Johnson thông báo về việc tôi được bầu làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới và việc tôi rời khỏi Bộ Quốc phòng vào một ngày chưa cụ thể.
_____________________________________
1. Xem Tóm lược và Ghi chép của Jim Jones tại cuộc họp của Tổng thống với Cố vấn Chính sách Ngoại giao, Thứ Năm, 2/11/1967, MNF, LBJL.
* Thư viện Johnson giữ bức thư của Walt Rostow gửi Tổng thống ngày 4/12/1967. Thư viết: “Đây là thư trả lời của Tổng thống gửi Bộ trưởng McNamara thể hiện sự nhất trí đối với tất cả những lời khuyên gửi cho Tổng thống”. Nhưng Tổng thống Johnson chưa hề gửi cho tôi bức thư đó.
2. Bình luận của Abe Fortas, 5/11/1967, NSF, LBJL.
3. Báo cáo của Clark Clifford, 7/11/1967, sách đã dẫn.
4. Báo cáo của McGeorge Bundy cho Tổng thống, chủ đề: Bình luận cho cuộc thảo luận về Việt Nam ngày 2/11- 2/11/1967, Hồ sơ Chỉ định của Tổng thống, 10/11/1967, LBJL.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #147 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:08:02 pm »


Cho đến ngày nay, tôi không biết là tôi từ bỏ vị trí hay là tôi bị buộc thôi việc. Có lẽ là cả hai.

Đã từ lâu, tôi quan tâm đến các nước đang phát triển. Ngày 18/5/1966, trong một bài diễn văn gây nhiều tranh cãi trước Hiệp hội các chủ bút báo Mỹ tại Montreal, tôi đã nói về chủ đề đó. Tôi nói: “Trong chúng ta... có chiều hướng chỉ nghĩ về vấn đề an ninh của mình hoàn toàn như một vấn đề quân sự”. Tôi không đồng ý. “Một quốc gia có thể đạt đến điểm mà họ không mua an ninh cho chính họ đơn giản bằng việc mua nhiều hàng quân sự hơn, và chúng ta đang đạt đến điểm đó”. Tôi tin là quan hệ giữa chi phí quân sự và an ninh có dạng là một đường cong; trong đó lên đến một điểm mà an ninh tăng cường khi chi phí quân sự tăng. Sau đó đường cong trở nên phẳng, thậm chí có thể đi xuống. Tôi thấy rằng trong năm 1966, Hoa Kỳ nằm trên đoạn phẳng của đường cong đó. Tôi tin là ngày nay chúng ta cũng đang nằm trên đoạn phẳng đó.

Tôi nói với các chủ bút, thay bằng việc tăng chi phí quân sự, chúng ta cần giúp “những nước đang phát triển thực sự cần và yêu cầu chúng ta giúp đỡ, và những nước, với tính cách một tiền đề cần thiết, sẵn sàng và có khả năng tự giúp”. Tôi lưu ý rằng khoảng cách nguy hiểm hiện có giữa các nước giàu và nghèo đang ngày càng rộng ra và sự nghèo khổ trong các quốc gia làm nảy sinh căng thẳng về chính trị và xã hội và thường bùng lên thành xung đột giữa các quốc gia. Tóm lại, tôi tin rằng chúng ta sẽ đạt tới an ninh hơn bằng cách chuyển việc chi tiêu những đồng đôla hạn hẹp cho quốc phòng sang viện trợ nước ngoài.

Người ta không chờ đợi để nghe một bài diễn văn như vậy của một Bộ trưởng Quốc phòng trong thời gian chiến tranh. Nó làm cho phái điều hâu trong Quốc hội tung ra những lời chỉ trích gay gắt và Tổng thống khá đau lòng (với ai thì chưa rõ). Nhưng nó phản ánh niềm tin của tôi. Đó là những niềm tin đã giúp hình thành câu trả lời của tôi cho George Woods vào mùa xuân năm 1967, khi trong bữa ăn trưa ông ta nói với tôi về 5 năm nhiệm kỳ Chủ tịch Ngân hàng Thế giới của ông, kết thúc vào ngày 31/12, và ông mong tôi thay ông. Tôi bày tỏ rất quan tâm, tuy vậy nói thêm rằng tôi đã nói với tất cả những người đã đưa những đề nghị tương tự về công việc, trong đó có một bạn làm ăn ở Wall Street đề nghị trả tôi 2,5 triệu đôla mỗi năm, theo giá đôla năm 1967, rằng tôi sẽ không xem xét tất cả những vấn đề như vậy khi nào Tổng thống còn muốn tôi tiếp tục cương vị hiện nay.

Khi đó tôi đã báo cáo câu chuyện trên cho Tổng thống và không có gì xảy ra. Cho đến khoảng tháng 9 hay tháng 10, trong lúc hoàn toàn bất ngờ, Tổng thống hỏi xem có gì tiến triển thêm không. Tôi nói với Tổng thống là tôi vẫn quan tâm đến đề nghị của George nhưng sẽ tiếp tục ở lại Bộ Quốc phòng tới chừng nào mà Tổng thống vẫn cần.

“Ông xứng đáng được hưởng của chính phủ này những gì ông muốn”, Tổng thống nói. “Nghĩa vụ của tôi là giúp ông và ông có thể có những gì nằm trong phạm vi quyền lực của tôi”.

“Người dân có nghĩa vụ với Tổng thống, chứ không phải ngược lại”, tôi đáp. Chúng tôi bỏ lửng ở đó.

Ngày 8/11, George đến thăm cơ quan tôi và chúng tôi cùng đi xe đến Nhà Trắng vì tôi phải dự bữa ăn trưa ở đó. Ông ta nói Chủ tịch mới của Ngân hàng sẽ được bầu sớm và ông dự kiến nói với Joe Fowler - Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng của Hoa Kỳ, người có nhiệm vụ xem xét những người được giới thiệu - rằng tôi là ứng cử viên của ông. Nhưng mãi nhiều năm sau George mới nói với tôi về những cái mà Joe và Tổng thống đã làm. Trước khi trình tên tôi cho ban giám đốc Ngân hàng, Joe đã trình bày rõ việc tiến cử với Tổng thống. George nói rằng chính Joe cũng đang hy vọng trở thành chủ tịch nên ông ta nói với LBJ rằng theo tập quán phải trình lên tên ba người. Theo cách riêng của mình, Tổng thống đáp lại: “Ôkê, đó là McNamara, McNamara. McNamara”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #148 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:08:45 pm »


Ngày 27/11, tờ Financial Times London đưa một tin đồn về việc đề cử tôi. Hai ngày sau, George và năm giám đốc của Ngân hàng Thế giới đến cơ quan tôi và đề nghị tôi giữ cương vị đó. Tôi nhận lời. Ngày hôm sau, Tổng thống Johnson thông báo tôi sẽ rời Lầu Năm ngóc để sang Ngân hàng Thế giới.

Một trong những điều mỉa mai nhất là tôi không biết liệu bản thân Tổng thống có biết chính xác tại sao và như thế nào mà tôi lại bỏ đi. Ông ta biết rằng tôi trung thành với Tổng thống và với bản thân ông ta. Và, như tôi vừa nói, tôi cũng cảm nhận được những tình cảm mạnh mẽ của ông đối với tôi, dù chúng tôi có bất đồng sâu sắc trong vấn đề Việt Nam. Chắc là ông cho rằng tôi đã nghĩ đến chuyện từ chức, và tôi tin là ông cảm thấy nhẹ nhõm khi tôi đã không làm như vậy. Vậy thì tại sao tôi lại bỏ đi? Không phải vì tôi ốm đau, dù báo chí có đưa những chuyện như vậy và Tổng thống nói với các trợ lý của mình rằng ông lo tôi có thể tự tử, như Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của Truman là James V. Forrestal đã làm. Từ đó có một giả thiết chung là tôi gần như sụp đổ về tinh thần và sức khoẻ. Tôi không làm sao cả. Chắc chắn là tôi cảm thấy căng thẳng. Tôi bất hoà với Tổng thống Hoa Kỳ. Tôi không tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi của tôi, và tôi bị căng thẳng như ở trong địa ngục. Nhưng tôi không phải điều trị thuốc men, không dùng ma tuý, trừ việc thỉnh thoảng dùng mấy viên thuốc ngủ và chưa hề có ý định tự tử.

Sự thật là tôi đã đi đến kết luận và nói thẳng với Tổng thống rằng, chúng ta không thể đạt được mục tiêu ở Việt Nam bằng bất cứ biện pháp quân sự nào; và vì thế chúng ta phải tìm kiếm một mục tiêu chính trị nhỏ bé hơn thông qua đàm phán. Tổng thống Johnson không sẵn sàng chấp nhận điều đó. Điều trở nên rõ ràng với cả hai chúng tôi là tôi sẽ không thay đổi nhận định của mình và Tổng thống cũng không thay đổi ý kiến. Phải nhượng bộ một cái gì đó.

Từ đó đến nay, nhiều bạn bè của tôi đã nói với tôi rằng, tôi đã sai lầm khi không từ chức để phản đối chính sách của Tổng thống. Cho phép tôi giải thích tại sao. Ngoại trừ Phó Tổng thống, Tổng thống là quan chức được bầu duy nhất của ngành hành pháp. Ông chỉ định từng quan chức trong nội các, những người chẳng có cử tri nào khác ngoài Tổng thống. Đó là điều tại sao các quan chức chính quyền là người phải có trách nhiệm với nhân dân. Quyền hành và địa vị pháp lý của một quan chức trong nội các do Tổng thống quy định. Tuy thế, cũng có sự thật là do thường xuyên xuất hiện trước công chúng nên một số quan chức chính phủ có quyền lực không phụ thuộc vào Tổng thống.

Ở mức độ nào đó, tôi có quyền lực như vậy, và một số người nói đáng lẽ tôi nên tận dụng quyền đó bằng cách từ chức, không thừa nhận chính sách Việt Nam của Tổng thống và cầm đầu những người tìm cách buộc phải thay đổi.

Tôi tin là việc đó sẽ là một cuộc xung đột giữa trách nhiệm của tôi với Tổng thống và lời thề bảo vệ Hiến pháp.

Tôi sẽ không bao giờ quên những lời Dean Acheson đã nói với tôi. Dean nói rằng, khi còn làm Thứ trưởng Bộ Tài chính hồi đầu những năm 30, dưới thời Franklin Roosevelt, ông đã thấy mình không thể chấp nhận chính sách tiền tệ của Tổng thống. Do đó ông lặng lẽ từ chức. Roosevell nói với ông rằng ông là quan chức duy nhất mà Tổng thống biết, đã từ chức như Hiến pháp quy định. Tôi chưa hề quên bài học đó*.

Nói một cách đơn giản dù có bất đồng sâu sắc với Lyndon Johnson về vấn đề Việt Nam, tôi vẫn trung thành với Tổng thống và trung thành với Nội các. Tôi cũng cảm nhận được tình cảm mạnh mẽ của ông đối với tôi. Hơn thế nữa, cho đến hôm ra đi tôi vẫn tin là có thể tác động được những quyết định của ông ta. Vì vậy, tôi thấy có trách nhiệm phải ở lại vị trí của mình.
__________________________________________
* Cy Vance cũng làm giống như vậy vào mùa xuân 1980, với tư cách Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Bất đồng với những cố gắng của Tổng thống Carter nhằm cứu những con tin của Sứ quán Mỹ ở Iran và cảm thấy ông không còn có ảnh hưởng đối với những quyết định của Tổng thống, ông nói với Carter ông dự định từ chức - sau khi vụ cứu đó được tiến hành, dù thành công hay thất bại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #149 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:09:58 pm »


Trong thời gian ba tháng, kể từ 29/11 đến khi tôi rời Lầu Năm Góc, cuộc khủng hoảng đã lên đến đỉnh cao: quân đội của Bắc Việt Nam, bao vây căn cứ lính thuỷ đánh bộ ở Khe Sanh, một khu vực ở tận phía Tây Bắc của Nam Việt Nam; ngày 23/1/1968, Bắc Triều Tiên bắt tàu tình báo Pueblo của Mỹ ở vùng biển quốc tế ngoài bán đảo Triều Tiên; một tuần sau Việt cộng đột nhập vào Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, mở đầu cuộc phản công Tết Mậu Thân đẫm máu.

Ngày 27/2/1968, hoạt động chính thức cuối cùng của tôi trong vấn đề Việt Nam là phản đối việc Westy nhắc lại đề nghị đưa thêm 200.000 quân trên cơ sở kinh tế, chính trị và đạo đức. Sau đó, người thay tôi là Clark Cliffod cũng cùng chung ý kiến. Gần đến ngày ra đi, tôi viết bức thư này cho Lyndon B.Johnson:

Ngày 23/2/1968

Tổng thống kính mến:

Tôi không biết nói gì để bày tỏ với Ngài những tình cảm trong trái tim tôi.

Năm mươi mốt tháng trước đây Ngài yêu cầu tôi phục vụ trong Nội các của Ngài. Đời tôi, chưa có thời kỳ nào có nhiều đấu tranh hoặc thoả mãn như vậy. Cuộc đấu tranh có lẽ sẽ gian khổ hơn nhiều và niềm sung sướng cũng nhỏ bé đi nhiều, nếu tôi không nhận được sự giúp đỡ hết lòng của Ngài trong mỗi bước đi.

Chẳng có ai lại không tự hào khi phục vụ trong một chính quyền từng đạt được những tiến bộ như Ngài đã làm trên các lĩnh vực nhân quyền, y tế, giáo dục. Trong chốc lát không thể vượt qua một trăm năm sao lãng. Nhưng Ngài đã đẩy, kéo và thuyết phục cả nước đi vào những cải cách cơ bản mà từ đó con, cháu tôi sẽ được hưởng trong nhiều thập kỷ tới. Tôi biết cái giá Ngài đã phải trả, cả trong đời tư lẫn trên chính trường. Mỗi công dân trên đất nước chúng ta đều mắc nợ với Ngài.

Tôi sẽ không nói lời tạm biệt - Ngài biết là Ngài không thể không gọi và tôi sẽ trả lời.

Thân ái,
BOB1.

Marg cũng đã viết cho Tổng thống và phu nhân Bird và nhận được một bức thư trả lời xúc động của LBJ, trong đó có đoạn:

Cả hai chúng tôi đều cảm thấy trống trải vì sự chia ly này. Bà biết rằng nếu tôi phải đợi một “thời gian thuận tiện” để ra đi cùng với Bob thì chỉ cần khoảng 24 tiếng đồng hồ trước khi tôi rời nhiệm sở. Tôi chưa hề khâm phục hoặc quý ai hơn chồng bà. Còn đối với những ngày tới, đó là những ngày huy hoàng với những điều hứa hẹn như trong thư bà đã viết, chúng ta sẽ không thay đổi. Tôi và phu nhân Bird sẽ không bao giờ thay đổi tình cảm của chúng tôi đối với cả hai ông bà. Những tình cảm này mãi mãi nằm trong sự khâm phục và biết ơn của chúng tôi.

Thân yêu,
LBJ2.

____________________________________
1. Thư gửi Tổng thống, “McNamara, Robert”, Hồ sơ Tên tuổi nổi tiếng của Nhà Trắng, Hộp số 6, LBJL.
2. LBJ gửi Margie McNamara, 7/2/1968, “McNamara, Robert S.”, Hồ sơ Tên, Hồ sơ Trung tâm Nhà Trắng, Hộp số 318, LBJL.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM