Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:20:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam  (Đọc 109466 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #150 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 08:11:07 pm »


Ngày 29/2, khi Tổng thống tới dự buổi lễ chia tay của tôi tại Lầu Năm Góc, chúng tôi cùng vào thang máy lên Văn phòng tôi. Khi đang lên, cầu thang bị kẹt và dừng ở giữa các tầng nhà. Trung sĩ điều khiển thang gọi điện khẩn cấp cho bộ phận bảo dưỡng qua điện thoại cấp cứu. Người thợ bảo dưỡng hỏi lại: “Chỗ ông quá tải à?”. “Chúng tôi chắc thế”, viên trung sĩ đáp lại. Chúng tôi bị kẹt ở đó tới 10 hoặc 15 phút. Chẳng cần phải nói, Bộ phận mật vụ vô cùng hoảng hốt. Cuối cùng, một mật vụ trèo lên qua nóc thang máy và giải thoát cho chúng tôi.

Sau đó, chúng tôi đi tới sân duyệt binh trước lối vào River của Lầu Năm Góc. Dù chẳng có ai thấy không khí hội hè vì chúng ta đang có chiến tranh, nhưng thủ tục lễ tân vẫn phải được chấp hành. Bên quân đội tổ chức một lễ tiễn đầy đủ thủ tục, có đủ diễn văn, dàn nhạc, đội danh dự, bắn đại bác chào và diễu hành của các máy bay phản lực của không quân và hải quân. Dường như rất đúng lúc, buổi lễ lại diễn ra trong bão tuyết và mưa nên buộc phải huỷ việc trình diễn của các máy bay và cắt ngắn chương trình. Mọi người ra về rét run và ướt như chuột.

Ngày hôm trước, tại phòng phía Đông của Nhà Trắng, Tổng thống Johnson đã trao tặng tôi Huân chương Tự do, trước sự họp mặt của gia đình, bạn bè và các viên chức ở Washington. Bảy năm trước, cũng chính trong căn phòng này tôi đã tự hào tuyên thệ nhậm chức. Là một người được coi là lãnh đạm nhưng đã nhiều lần tôi cũng bị xúc động. Hôm đó cũng vậy. Khi đến lượt lên phát biểu, tôi nhìn vào Tổng thống và mở đầu: “Hôm nay tôi không thể tìm được lời để bày tỏ những gì trong trái tim tôi”. Sau đó tôi chẳng thể nào nói được gì hơn khi nén lại những tình cảm lẫn lộn giữa tự hào, biết ơn, tuyệt vọng, buồn bã và thất bại. Giá mà có thể nói được thì tôi sẽ nói thế này:

Hôm nay, tôi kết thúc 1558 ngày giao tiếp thân mật nhất với những người rắc rối nhất mà tôi từng biết. Nhiều người trong phòng tin rằng Lyndon Johnson là một người thô lỗ, kém cỏi, hay thù oán, nhiều mưu mẹo và giả dối. Có lẽ có những lúc ông đã thể hiện những cá tính này. Nhưng ông ấy còn có nhiều, nhiều hơn thế. Tôi tin rằng trong những thập kỷ tới, lịch sử sẽ đánh giá ông đã làm được nhiều hơn thế.

Ví dụ như qua việc ban hành những luật như Luật về quyền dân sự; Luật về quyền bầu cử và pháp chế về một Xã hội vĩ đại nhằm cảnh tỉnh chúng ta phải có trách nhiệm đối với những người nghèo khó, tàn tật và những nạn nhân của định kiến chủng tộc. Ông đã làm được nhiều hơn bất cứ một lãnh tụ chính trị nào khác ở thời đại chúng ta. Nhưng với Việt Nam - một cuộc chiến tranh mà ông thừa kế - và phải thú nhận là cả ông lẫn chúng ta đều không quản lý được một cách khôn khéo, chúng ta sẽ còn phải cùng nhau giải quyết lâu dài những vấn đề đó.

Mười ba năm sau, vào ngày 16/1/1981, tôi quay lại phòng phía Đông cùng với Marg. Lần này chính bà là người được hưởng vinh dự, còn tôi là người chứng kiến. Tổng thống Carter trao tặng bà Huân chương Tự do vì đã có công trong việc thành lập Hội Đọc sách là nền tảng, một chương trình nhằm khuyến khích những người tàn tật trẻ đọc sách. Marg đang ở giai đoạn cuối của cuộc chiến đấu đằng đẵng chống lại bệnh ung thư. Mười bảy ngày sau buổi lễ đó, khi bà chết, trên toàn quốc, tổ chức của bà đã có tới 70.000 người tình nguyện tham gia.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #151 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2009, 08:05:05 pm »


11

NHỮNG BÀI HỌC VIỆT NAM


Việc dính líu của tôi tới Việt Nam đã kết thúc sau khi tôi rời Phòng họp phía Đông. Còn cuộc chiến tranh tất nhiên còn kéo dài thêm bảy năm nữa. Đến khi Mỹ, cuối cùng, rút khỏi Nam Việt Nam năm 1973, chúng ta đã mất 58.000 người cả nam lẫn nữ, nền kinh tế của chúng ta đã bị tàn phá bởi những chi phí cao và bất hợp lý cho cuộc chiến tranh trong nhiều năm liền; và sự thống nhất chính trị của xã hội chúng ta bị tan nát và hàng thập kỷ sau vẫn không khôi phục được.

Liệu những cái giá quá cao đó có được biện minh hay không?

Các ông Dean Rusk, Walt Rostow, Lý Quang Diệu và nhiều nhà địa - chính trị trên toàn cầu tới ngày hôm nay đều đưa ra câu trả lời khẳng định. Họ kết luận rằng nếu không có sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam thì sự bành trướng của cộng sản - cả Liên Xô và Trung Quốc - có thể đã lan rộng hơn ra Nam và Đông Á, bao gồm sự kiểm soát cả Inđônêxia. Thái Lan và có khả năng cả Ấn Độ. Có người còn đi xa hơn và cho rằng Liên Xô đã có thể đi tới chỗ mạo hiểm hơn, mở rộng ảnh hưởng ở những nơi khác trên thế giới như ở Trung Đông, nơi họ có thể đã tìm cách không chế các nước sản xuất dầu lửa. Những điều nay có thể đúng, nhưng tôi thật sự nghi ngờ các đánh giá đó.

Cho đến khi các hồ sơ lưu trữ của Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam được mở ra cho các học giả, thì chúng ta sẽ được biết thêm về ý đồ của những nước này, nhưng dẫu sao nếu không có những thông tin đó thì chúng ta cũng biết rằng trong suốt bốn thập kỷ chiến tranh lạnh, nguy cơ xâm lược của cộng sản là có thực và rất đáng kể. Mặc dù trong những năm 1950, 1960, 1970 và 1980, phương Tây đã thường nhận thức sai và do đó đã cường điệu hoá sức mạnh của phương Đông và khả năng thực hiện sức mạnh đó, nhưng việc không tự bảo vệ được mình trước sự đe doạ đó thật là điên rồ và vô trách nhiệm.

Ngày nay tôi thường hỏi liệu hành động và ảnh hưởng của Liên Xô hoặc Trung Quốc trong những năm 70 và 80 có khác không nếu Mỹ không dính líu vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương, hay nếu chúng ta rút khỏi Việt Nam từ đầu và giữa thập kỷ 60. Nếu vậy thì rõ ràng hai điều kiện làm cơ sở cho quyết định của Tổng thống Kennedy đưa các cố vấn quân sự Mỹ sang Nam Việt Nam đã không được đáp ứng và quả thực đã không thể đáp ứng được: đã không có ổn định chính trị và có vẻ không bao giờ đạt được điều đó; và người Nam Việt Nam, ngay cả khi có sự giúp đỡ về huấn luyện và hỗ trợ về hậu cần, cũng đã không có khả năng tự bảo vệ mình.

Với những số liệu này - và đó cũng là thực tế - tôi tin chúng ta đã có thể, và lẽ ra đã nên rút khỏi Nam Việt Nam hoặc là cuối năm 1963 - giữa tình hình hỗn độn sau khi Diệm bị ám sát, hoặc là cuối năm 1964 hay đầu năm 1965 - trước tình trạng suy yếu về chính trị và quân sự của Nam Việt Nam. Và như bảng dưới đây cho thấy, ít nhất đã có ba cơ hội khác để rút lui.

Tôi không tin rằng sự rút lui của Mỹ và bất cứ một trong những thời điểm này, nếu được giải thích hợp lý cho người Mỹ và cho thế giới, lại làm cho Tây Âu phải đặt câu hỏi về sự hỗ trợ của chúng ta dành cho NATO và thông qua đó là sự đảm bảo của chúng ta đối với an ninh của họ. Tôi cũng không tin là Nhật Bản lại coi các hiệp ước an ninh của chúng ta kém tin cậy. Ngược lại, có thể chúng ta đã nâng cao được uy tín của mình bằng việc rút khỏi Việt Nam và bảo tồn sức mạnh cho những cuộc chiến khác ở một nơi nào đó.


(*) Bảng này cùng tất cả các số liệu do Trung tâm Lịch sử Quân sự của Quân đội Mỹ (U.S Army Center for Military History), Wasington, D.C. cung cấp

(**) Tính đến 31/12/1968, số lính Mỹ bị chết trong giao tranh ở Việt Nam tổng cộng là 30.568 người.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #152 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2009, 08:06:46 pm »


Có lúc người ta nói là thế giới sau chiến tranh lạnh sẽ khác nhiều với thế giới của quá khứ đến nỗi những bài học Việt Nam không còn tính thực tiễn hoặc không còn liên quan gì đến thế kỷ XXI cả. Tôi không đồng ý. Nếu chúng ta muốn học từ kinh nghiệm của mình ở Việt Nam, trước tiên chúng ta phải chỉ ra những thiệt hại của chúng ta. Có 11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của chúng ta tại Việt Nam:

    1. Từ đó tới nay, chúng ta đã đánh giá sai các ý định địa - chính trị của đối phương (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt cộng được Trung Quốc và Liên Xô ủng hộ) và chúng ta đã thổi phồng những nguy cơ đối với nước Mỹ trước những hành động của họ.

    2. Chúng ta đã đánh giá nhân dân và các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam theo kinh nghiệm của chính chúng ta. Chúng ta đã nhìn thấy ở họ niềm khao khát và quyết tâm chiến đấu giành tự do và dân chủ. Chúng ta đã đánh giá hoàn toàn sai các lực lượng. chính trị trong nước.

    3. Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt cộng) đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó, và cho đến nay, chúng ta vẫn tiếp tục đánh giá thấp chủ nghĩa dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới.

    4. Những đánh giá sai lầm của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hóa và chính trị của nhân dân trong vùng, và về nhân cách, thói quen của các nhà lãnh đạo. Chúng ta có thể đã có những sai lầm tương tự đối với Liên Xô trong những cuộc đối đầu như Berlin, Cuba và Trung Đông chẳng hạn, nếu chúng ta không có những lời khuyên của Tommy Thompson, Chip Bohlen và George Kennan. Các nhà ngoại giao lâu năm này đã dành hàng chục năm để nghiên cứu đất nước, con người và các nhà lãnh đạo Liên Xô, tại sao họ lại hành động như vậy và họ sẽ phản ứng với hành động của chúng ta như thế nào. Những lời khuyên của họ rõ ràng là vô giá trong quá trình hình thành các đánh giá và quyết định của chúng ta. Không có đối tác nào ở Đông Nam Á để các quan chức cấp cao tham khảo ý kiến khi đưa ra những quyết định về Việt Nam.

    5. Khi đó chúng ta đã không nhận ra được những hạn chế của các thiết bị quân sự kỹ thuật cao và hiện đại, lực lượng quân sự và học thuyết quân sự trong khi đối đầu với những phong trào nhân dân được thúc đẩy cao và không bình thường. Chúng ta cũng đã không điều chỉnh được chiến thuật quân sự của chúng ta cho phù hợp với nhiệm vụ chinh phục trái tim và khối óc của người dân thuộc một nền văn hoá hoàn toàn khác.

    6. Chúng ta đã không thể lôi kéo được Quốc hội và nhân dân Mỹ vào một cuộc thảo luận đầy đủ và chân thành về những cái lợi và những cái hại của một cuộc dính líu quân sự quy mô lớn của Mỹ ở Đông Nam Á trước khi chúng ta bắt đầu hành động.

    7. Sau khi hoạt động bắt đầu được tiến hành và các sự kiện không lường trước đã đẩy chúng ta xa khỏi hướng đi ban đầu, chúng ta đã không duy trì được sự ủng hộ của công chúng, một phần vì chúng ta đã không giải thích được đầy dủ việc gì đang diễn ra và tại sao chúng ta lại hành động như vậy. Chúng ta đã không chuẩn bị cho công chúng hiểu được những sự việc phức tạp mà chúng ta gặp phải và làm thế nào để có phản ứng tích cực đối với việc cần thay đổi hướng hành động khi dân tộc đối mặt với những đại dương chưa khám phá và một môi trường xa lạ. Sức mạnh sâu thẳm nhất của một dân tộc không nằm ở mũi nhọn quân sự mà ở sự đoàn kết của dân tộc. Chúng ta đã không duy trì sự đoàn kết đó.

    8. Chúng ta đã không nhận ra rằng cả nhân dân lẫn lãnh đạo của chúng ta đều không sáng suốt. Khi nền an ninh của chúng ta không bị đe doạ, những đánh giá về những gì là lợi ích tốt nhất của nhân dân và đất nước khác của chúng ta cần phải được thử nghiệm trong một cuộc thảo luận cởi mở trên diễn đàn quốc tế. Chúng ta không có quyền tối cao để định hình mọi dân tộc theo hình ảnh của chính chúng ta, hoặc theo hình ảnh mà chúng ta chọn.

    9. Chúng ta đã không thco nguyên tắc là các hoạt động quân sự của Mỹ - ngoài những hoạt động nhằm đáp lại những mối đe doạ trực tiếp tới nền an ninh của chính chúng ta - cần được thực hiện chỉ khi có sự phối hợp với các lực lượng đa quốc gia và được cộng đồng quốc tế hoàn toàn ủng hộ.

    10. Chúng ta đã không nhận ra rằng trong những công việc quốc tế cũng như trong những khía cạnh khác của đời sống, có những vấn đề mà không có một giải pháp tức thời nào có thể giải quyết được. Đối với những người đã dành cuộc đời mình cho một niềm tin và cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn thì điều nói trên thật khó chấp nhận. Nhưng đôi khi, chúng ta buộc phải sống trong một thế giới chưa hoàn chỉnh và lộn xộn.

    11. Đằng sau rất nhiều lỗi lầm này, có sự thất hại của chúng ta trong việc tổ chức một đội hình hàng đầu các chi nhánh điều hành để giải quyết có hiệu quả những vấn đề chính trị và quân sự cực kỳ phức tạp, có liên quan đến những rủi ro to lớn và các chi phí, mà nhất là những thiệt hại về người khi dùng các lực lượng quân sự trong những điều kiện ràng buộc trong một khoảng thời gian dài. Chúng ta sẽ phải trả giá đắt cho sự yếu kém về tổ chức nếu như đây là khó khăn duy nhất đặt ra cho Tổng thống và các cố vấn. Nhưng không phải chỉ có vậy. Sự yếu kém về tổ chức lại cùng tồn tại với một loạt những khó khăn trong nước và quốc tế mà chúng ta gặp phải. Do đó, chúng ta đã thất bại trong việc phân tích và thảo luận một cách tích cực và cẩn thận về các hoạt động của chúng ta ở Đông Nam Á - những mục tiêu, rủi ro và chi phí nếu chọn cách khác để giải quyết và sự cần thiết phải thay đổi đường lối khi thất bại đã trở nên rõ ràng - kiểu phân tích và thảo luận đó chính là những nét đặc trưng cho các thảo luận của Ủy ban điều hành trong thời gian khủng hoảng tên lửa Cuba.

Tóm lại, đó là những thất bại chính của chúng ta. Mặc dù chúng xuất hiện rời rạc nhưng ở một mức nào đó, chúng có liên quan với nhau: thất bại ở một khía cạnh này lại góp phần hoặc tạo nên thất bại ở khía cạnh khác. Mỗi thất bại đó, đến lượt mình, lại trở thành một mớ bòng bong.

Khi chỉ ra những sai lầm này, chúng ta có thế viết nên bài học Việt Nam và giúp chúng ta có thể áp dụng chúng trong thế giới sau chiến tranh lạnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #153 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2009, 08:19:25 pm »


Có những bằng chứng rõ ràng cho thấy từ khi chiến tranh lạnh kết thúc vào giữa những năm 80, các quốc gia trên toàn thế giới rất chậm xem xét lại các chính sách đối ngoại và quốc phòng, một phần bởi họ chưa nhìn thấy rõ những gì nằm ở phía trước.

Khi Irắc xâm lược Côoét, cuộc nội chiến ở Nam Tư cũ và các thảm hoạ ở Chechnya, Xômali, Haiti, Xuđăng, Burundi, Acmênia và Tatgikixtan đã rõ ràng, thế giới của tương lai chắc chắn sẽ không thể không có chiến tranh, giữa những nhóm riêng biệt của một dân tộc và lan rộng qua cả biên giới quốc gia. Những căng thẳng về sắc tộc, tôn giáo và chủng tộc sẽ vẫn còn tồn tại. Chủ nghĩa dân tộc vẫn sẽ là một lực lượng mạnh mẽ trên toàn thế giới. Các cuộc cách mạng chính trị sẽ nổ ra như những bước tiến của thời đại. Các tranh cãi về lịch sử xung quanh vấn đề biên giới chính trị sẽ còn kéo dài. Sự chênh lệch về kinh tế giữa các quốc gia sẽ ngày công lớn vì công nghệ và giáo dục sẽ phổ biến không đồng đều trên thế giới. Những nguyên nhân ẩn sau cuộc xung đột của Thế giới thứ ba đã tồn tại trước khi chiến tranh lạnh kết thúc vẫn còn. Những nguyên nhân ấy sẽ còn được bổ sung thêm bởi những xung đột tiềm tàng giữa các nước thuộc Liên Xô và những căng thẳng thường xuyên ở Trung Đông. Chính những căng thẳng đó trong 45 năm qua đã gây ra 125 cuộc chiến tranh làm 40 triệu người chết ở Thế giới thứ ba1.

Về phương diện này, thế giới của tương lai cũng sẽ không khác gì thế giới của quá khứ - các cuộc xung đột trong nội bộ và giữa các quốc gia sẽ không mất đi. Nhưng quan hệ giữa các nước sẽ thay đổi đáng kể. Trong những năm sau chiến tranh, Mỹ đã có quyền lực và Mỹ đã sử dụng quyền lực đó để định hình thế giới theo như ý chúng ta chọn lựa. Nhưng sang thế kỷ tới, điều đó sẽ không thể có được.

Nhật Bản rốt cuộc sẽ đóng vai trò ngày càng to lớn lên trường quốc tế, sử dụng quyền lực về chính trị và kinh tế lớn hơn và người ta hy vọng nó sẽ đảm nhận vai trò về chính trị và kinh tế lớn hơn. Cũng có thể nói như vậy về các nước Tây Âu. Năm 1993, Tây Âu đã đi một bước đáng kể nhằm tiến tới sự hoà nhập kinh tế. Có thế tiếp theo sẽ là sự thống nhất về chính trị (tuy có những ý kiến phản đối Hiệp ước Maastricht) và điều đó sẽ củng cố cho thế lực của châu Âu trong nền chính trị thế giới.

Giữa thế kỷ tới, một số nước mà trước đây ta vẫn gọi là Thế giới thứ ba sẽ phát triển mạnh về cả dân số lẫn sức mạnh kinh tế để trở thành những lực lượng chủ yếu trong các mối quan hệ quốc tế. Ấn Độ có thể có số dân lên tới 1,6 tỷ, Nigeria: 400 triệu, Brazil: 300 triệu. Nếu Trung Quốc đạt được những mục tiêu kinh tế đầy tham vọng của năm 2000, vẫn duy trì mức tăng trưởng kinh tế khá nhưng không đặc biệt cao trong 50 năm tới, thì 1,6 tỷ người Trung Quốc sẽ có thu nhập bằng thu nhập đầu người của Tây Âu vào giữa thế kỷ XX. Tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ, Tây Âu, Nhật hoặc Nga. Thực sự Trung Quốc sẽ là một cường quốc đáng được tính tới. Những con số này tất nhiên còn mang tính chất dự đoán nhưng tôi cứ đưa chúng ra để nhấn mạnh quy mô của những thay đổi trước mắt.

Trong khi còn là một trong những quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, Mỹ sẽ vẫn sống trong một thế giới đa cực và chính sách đối ngoại cùng các chương trình quốc phòng cần phải được điều chỉnh theo hiện thực đó. Trong một thế giới như vậy, rõ ràng cần phải phát triển các quan hệ mới giữa các cường quốc - trong đó có ít nhất là năm quốc gia và khu vực: Trung Quốc, châu Âu, Nhật, Nga và Mỹ, và quan hệ giữa các cường quốc với các quốc gia khác.
____________________________________
1. “Thế giới sau chiến tranh lạnh và các gợi ý của nó trong chi phí quân sự tại các nước đang phát triển” của Robert S. McNamara, Hội nghị của Ngân hàng Thế giới về phát triển kinh tế, Washington, D.C., 25/4/1991, tr. 33.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #154 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2009, 08:20:14 pm »


Rất nhiều nhà lý luận chính trị - đặc biệt là những người thuộc nhóm “hiện thực” - dự đoán sẽ có sự quay trở về nền chính trị quyền lực truyền thống. Họ lập luận rằng việc không có cạnh tranh về tư tưởng giữa Đông và Tây sẽ thúc đẩy việc quay trở lại các mối quan hệ truyền thống dựa trên những yêu cầu về kinh tế và lãnh thổ, tức là Mỹ, Nga, Tây Âu, Trung Quốc, Nhật và Ấn Độ sẽ tự tìm cách đi của mình trong khu vực, trong khi vẫn ganh đua để thống trị những nơi khác có điều kiện tốt hơn trên thế giới. Quan điểm này được ông Michael Sandel, giáo sư Trường đại học Harvard, diễn đạt như sau: “Chiến tranh lạnh kết thúc không có nghĩa là cuộc cạnh tranh có quy mô toàn cầu giữa các siêu cường đã hết. Một khi phương diện hệ tư tưởng đã phai nhạt đi thì cái còn lại không phải là hoà bình và hoà hợp, mà là một nền chính trị toàn cầu kiểu cũ dựa trên những cường quốc thống trị giành ảnh hưởng và theo đuổi những lợi ích nội hộ của họ1.

Henry Kissinger, một người thuộc trường phái hiện thực, cũng có một kết luận tương tự.

“Chiến thắng trong chiến tranh lạnh đã đẩy nước Mỹ vào một thế giới có nhiều điểm tương đồng với hệ thống nhà nước của châu Âu ở thế kỷ XVIII, XIX... Không có sự de doạ về tư tưởng hay chiến lược làm cho dân tộc tự do theo đuổi các chính sách đối ngoại dựa trên các quyền lợi trước mắt của dân tộc. Trong một hệ thống quốc tế được đặc trưng bởi năm hay sáu cường quốc chủ yếu và nhiều quốc gia nhỏ khác, phải có trật tự như trật tự trong những thế kỷ trước của thế giới, kể từ khi chúng ta tránh và cân bằng được những quyền lợi dân tộc cạnh tranh nhau”2.

Quan niệm của Kissinger và Sandel về quan hệ giữa các quốc gia trong thế giới sau chiến tranh lạnh đã được hình thành vững chắc về mặt lịch sử, nhưng theo tôi, chúng sẽ không phù hợp với thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau của chúng ta. Không một quốc gia nào, kể cả Mỹ, có thể đứng một mình trong một thế giới mà trong đó các quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau về kinh tế, môi trường và an ninh. Hiến chương Liên hợp quốc đưa ra một khuôn khổ hợp lý hơn cho các mối quan hệ quốc tế trong thế giới như vậy so với mô hình của học thuyết về chính trị dựa trên sức mạnh đưa ra.

Không phải chỉ có mình tôi nghĩ vậy. Carl Kaysen, nguyên Giám đốc Viện nghiên cứu nâng cao ở Princeton có nói: “Hệ thống quốc tế dựa trên việc sử dụng sức mạnh quân sự quốc gia như sự bảo đảm tối hậu cho nền an ninh và dựa trên việc đe doạ sử dụng lực lượng quân sự làm cơ sở của trật tự thế giới đó, không phải là hệ thống duy nhất có thể có. Để tìm kiếm một hệ thống khác (dựa trên an ninh tập thể)..., không còn là theo đuổi một ảo tưởng mà là một nhu cầu cần thiết để cố gắng đạt được mục tiêu”3.
___________________________________
1. Trích dẫn trong New York Times, 31/12/1989.
2. Henry Kissinger, Nền ngoại giao (New York: Simon và Schuster, 1994), tr. 805.
3. “Phải chăng chiến tranh đã lỗi thời?” của Carl Kaysen, An ninh quốc tế, t.14, số 4 (mùa xuân năm 1990), tr. 63.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #155 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2009, 08:21:06 pm »


Và George F. Kennan, trong lễ kỷ niệm sinh nhật thứ 90 tổ chức tại Ủy ban Đối ngoại ngày 15/2/1994 đã nhận xét rằng, lần đầu tiên trong nhiều thế kỷ, không có cuộc xung đột tiềm tàng nào giữa các cường quốc đe doạ nền hoà hình thế giới. Chính nền hoà bình giữa các cường quốc - ít nhất là trong thời gian ngắn - làm cho chúng ta có thể theo đuổi tầm nhìn của mình về thế giới sau chiến tranh lạnh, và đồng thời ngăn chặn thất bại bằng cách duy trì khả năng tự bảo vệ và bảo vệ quyền lợi của chúng ta, nếu thế giới quay lại với thời kỳ đối địch giữa các siêu cường.

Duy trì được khả năng đó không có nghĩa là chi phí quốc phòng vẫn phải được giữ ở mức quá cao như hiện nay. Ví dụ, ở Mỹ, chi phí quốc phòng trong năm tài chính 1993 tổng cộng là 291 tỷ đôla - nhiều hơn năm 1980 là 25 % tính theo đồng đôla đã được điều chỉnh theo lạm phát. Hơn nữa, Chương trình quốc phòng 5 năm của Tổng thống Clinton trong các năm tài chính 1995 - 1999 dự định giảm chi phí dần dần từ mức của năm 1993. Chi phí quốc phòng năm 1999 ước tính sẽ chỉ thấp hơn 3% so với thời Nixon, thời kỳ giữa cuộc chiến tranh lạnh, nếu tính theo đồng đôla đã điều chỉnh theo lạm phát1. Mỹ chi phí cho quốc phòng nhiều gần bằng tổng chi phí của tất cả các nước trên thế giới cộng lại.

Một chương trình quốc phòng như vậy không phù hợp với quan điểm của tôi về thế giới sau chiến tranh lạnh hoặc với chương trình tài chính trong nước, một chương trình cũng không kém phần thiết yếu đối với an ninh. Giả sử rằng trong những cuộc xung đột nằm ngoài khu vực NATO, ví dụ như ở Irắc, Iran hay bán đảo Triều Tiên, chúng ta sẽ hành động đơn phương không có sự giúp đỡ quân sự của các cường quốc khác; và giả sử rằng chúng ta phải sẵn sàng đón nhận đồng thời hai cuộc đối đầu như vậy. Tôi cho những giả thiết này có thể được tranh cãi.

Trước khi các quốc gia có thể phản ứng theo kiểu tối ưu đối với kết thúc chiến tranh lạnh, họ cần có một tầm nhìn - một mô hình khái niệm - về một thế giới không bị thống trị bởi sự thù địch Đông - Tây đã định hình các chương trình đối ngoại và quân sự trên toàn thế giới trong hơn 40 năm qua. Trong thế giới mới đó, tôi tin các mối quan hệ giữa các quốc gia phải được hướng tới năm mục đích sau:

    1. Bảo đảm cho các quốc gia không bị ngoại xâm, các biên giới sẽ không bị thay đổi bằng vũ lực.

    2. Thể chế hoá các quyền của các nhóm dân tộc thiểu số trong các quốc gia, chẳng hạn như người Cuốc ở Iran, Irắc và Thổ Nhĩ Kỳ, và trao cho họ phương cách để đền bù những thiệt hại của họ mà không dùng đến bạo lực.

    3. Xây dựng một cơ chế để giải quyết các xung đột khu vực và xung đột trong nội bộ các quốc gia mà không có hành động đơn phương của các cường quốc.

    4. Tăng sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chính cho các nước đang phát triển để giúp họ đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội.

    5. Bảo đảm giữ gìn môi trường thế giới như một nền tảng cho sự phát triển bền vững cho mọi người.

Tóm lại, chúng ta cần phấn đấu để xây dựng một thế giới trong đó quan hệ giữa các nước sẽ dựa trên các quy định của luật pháp, một thế giới mà an ninh quốc gia sẽ được hậu thuẫn bởi một hệ thống an ninh tập thể. Việc ngăn chặn xung đột, giải quyết xung đột, các chức năng gìn giữ hoà bình cần thiết để hoàn thành các mục tiêu kể trên sẽ do các cơ quan đa phương, một Liên hợp quốc được tổ chức và củng cố lại cùng các tổ chức khu vực mới và được mở rộng, thực hiện.
____________________________________
1. Ngân sách quốc gia Mỹ: Các bảng có liên quan tới lịch sử năm tài chính 1995 (Washington: Văn phòng in ấn của Chính phủ Mỹ, 1994), tr. 86.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #156 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2009, 08:21:49 pm »


Đó là cách nhìn của tôi về thế giới sau chiến tranh lạnh*.

Cách nhìn như vậy nói ra thì dễ chứ để đạt được thì khó. Mục tiêu là rõ ràng; nhưng làm thế nào để đạt được nó thì lại là cả một vấn đề. Tôi không có một công thức diệu kỳ, cũng chẳng có lộ trình nào, dù là đơn giản, để đạt được thành công cả. Tôi biết rằng sẽ chẳng thể nào có được cách nhìn như vậy trong vòng một tháng, một năm hay thậm chí cả một thập kỷ. Chỉ có các lãnh tụ cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp với tính kiên trì, bền bỉ, mới đạt được nó một cách chậm chạp, tiến dần từng bước nhỏ. Vậy nên tôi xin tự động viên rằng hiện nay chúng ta đang tiến lên theo hướng này.

Trong thế giới sau chiến tranh lạnh, để đối phó với các cuộc xung đột không thể tránh khỏi xảy ra giữa các dân tộc, trong khi cần phải giảm đến mức tối thiểu nguy cơ sử dụng lực lượng quân sự cũng như thương vong dù sự dính líu ở mức thấp nhất, có thể đòi hỏi phải có các nhà lãnh đạo. Phụ thuộc vào vấn đề trước mắt, vai trò lãnh đạo có thể được chuyển giao giữa các quốc gia. Thường là Mỹ sẽ là nước nắm giữ vai trò này. Tuy nhiên, Mỹ phải chấp nhận quyết định chung của tập thể trong một hệ thống an ninh tập thể và điều này sẽ gây khó khăn cho chúng ta. Tương tự như vậy, nếu như hệ thống này sẽ tồn tại thì các quốc gia khác (ở đây là Đức và Nhật) bắt buộc phải chịu chia sẻ những chi phí và mạo hiểm về chính trị, giá phải trả về tài chính, cũng như mối đe dọa về thương vong và đổ máu - và điều này sẽ rất khó khăn đối với họ.

Nếu nước Mỹ và các cường quốc chủ chốt khác tuyên bố rõ cam kết của họ đối với một hệ thống an ninh tập thể như vậy, và nếu họ cũng đã tuyên bố sẽ bảo vệ các quốc gia chống lại các cuộc tiến công, thì việc Irắc xâm lược Côoét năm 1990 có thể đã không xảy ra. Tương tự nếu Liên hợp quốc hay NATO đã hành động khi xung đột ở Nam Tư nổ ra vào đầu những năm 90, thì cuộc tàn sát hàng chục ngàn nạn nhân vô tội đã có thể bị chặn lại. Tuy vậy, đến nay tôi sợ rằng Bosnia đã rơi vào một dạng vấn đề mà hiện chưa tìm được một giải pháp nào có thể chấp nhận hoặc ít nhất là không có một giải pháp phi quân sự nào.

Trong thế giới sau chiến tranh lạnh, nước Mỹ cũng cần làm rõ được rằng nó sẽ phải sử dụng lực lượng quân sự ở đâu và như thế nào. Điều này đòi hỏi có một tuyên bố rõ ràng về các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Bốn chục năm qua, mục đích của chúng ta thật rõ ràng: kiềm chế một nước Liên Xô bành trướng. Tuy nhiên, hiện nay đó có thể không còn là mục tiêu cho những nỗ lực của chúng ta nữa; chúng ta đã mất đi kẻ thù của mình. Vậy chúng ta phải đặt cái gì vào chỗ của nó bây giờ? Ngày 27/9/1993 Tổng thống Clinton đã nói tại Đại hội đồng Liên hợp quốc rằng: “Mục tiêu hàng đầu của chúng ta là phải mở rộng và tăng cường cộng đồng các nền dân chủ của thế giới dựa trên cơ sở kinh tế thị trường”. Ngay trong tuần đó, Anthony Lake, cố vấn an ninh quốc gia đã lặp lại điều này và tuyên bố rằng: “Kế tục của học thuyết kiềm chế sẽ phải là một chiến lược mở rộng - mở rộng cộng đồng của các nền dân chủ có kinh tế thị trường tự do trên thế giới”1. Việc thiết lập một cách khái quát như vậy những mục liêu của chúng ta là chưa đủ.
____________________________________
* Viện Brookings vừa xuất bản một công trình nghiên cứu do Janne E. Nolan làm chủ biên, Trật tự thế giới: Hợp tác và An ninh trong thế kỷ XXI (1994), trong đó 20 nhà hoạch định chính sách và học giả khai thác hệ thống địa-chính trị tương tự như tôi đã trình bày ở đây.
1. Bill Clinton, “Đối đầu với thách thức của thế giới bao la”, Đại hội đồng Liên hợp quốc, New York, 27/9/1993; và Anthony Lake, “Từ ngăn chặn tới mở rộng”, Trường Nghiên cứu Quốc tế cấp cao thuộc trường Đại học Tổng hợp Johns Hopkins, Washington, D. C., 21/9/1993.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #157 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2009, 08:23:39 pm »


Nước Mỹ rõ ràng là không thể và không cần thiết phải can dự vào mọi cuộc xung đột đang tăng lên với nguyên nhân là do một quốc gia - nào đó đang cố gắng tiến tới nền dân chủ tư bản - chẳng hạn, chúng ta đã tỏ ra thực sự đúng đắn khi không ủng hộ bằng quân sự cố gắng của Eduarđ Sevardnadze nhằm dựng lên một nền dân chủ ở Georgia. Chúng ta cũng không thể dùng quân sự để cố gắng ngăn chặn mọi cuộc tàn sát những người dân vô tội. Hiện có hơn một chục cuộc chiến đang lan nhanh trên khắp thế giới: ở Bosnia, Burundi, Georgia, Irắc, Kashmir, Rwanda, Sudan và Yemen, đó mới chỉ là tên một số ít trong số các cuộc chiến. Sắp tới đây có thể còn có các cuộc xung đột nghiêm trọng nổ ra tại Kosovo, Lesotho, Macedonia và Zaire. Nếu như tất cả những cuộc xung đột này nổ ra thì chúng ta nên can thiệp vào đâu. Cả nước Mỹ lẫn mọi cường quốc khác đều không thể có một câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi này? Các câu trả lời chỉ có thể trở nên rõ ràng sau khi đã trải qua các cuộc tranh luận căng thẳng qua nhiều năm, trong quốc gia của chúng ta, giữa các nước lớn và trong các Hội đồng của những tổ chức quốc tế.

Chúng ta phải đặt ra những tiêu chí rõ ràng quy định nước ta hoặc các quốc gia khác sẽ sử dụng lực lượng quân sự như thế nào. Những nguyên tắc chỉ đạo việc đánh trả cuộc xâm lăng vượt qua biên giới quốc gia có thể là tương đối đơn giản và rõ ràng. Tuy nhiên, khi sự việc có liên quan tới các cố gắng nhằm duy trì hoặc khôi phục lại trật tự chính trị và ngăn chặn cuộc tàn sát hàng loạt trong các quốc gia, chẳng hạn trong nội bộ Rwanda năm 1994, các nguyên tắc đó còn xa mới quy định cho điều này.

Đang có nhiều vấn đề then chốt được đặt ra như: con người phải chịu khổ đau đến mức nào thì chúng ta mới có phản ứng? Theo một hiệp định của Liên hợp quốc năm 1989 đã được chính thức hoá thành hiệp ước toàn cầu và trở thành luật quốc gia của chúng ta năm 1989, Mỹ đã đồng ý tham gia vào việc ngăn chặn nạn diệt chủng. Nhưng diệt chủng là gì? Tháng 6/1994, trong khi công nhận việc giết hại hơn 200 nghìn người Rwanda là “những hành động diệt chủng”, Chính phủ Mỹ từ chối không công nhận việc giết người này nằm trong các điều khoản của hiệp định1. Liệu có những trường hợp nào khác không phải diệt chủng mà vẫn minh chứng được là cần thiết phải can thiệp không? Chúng ta cần phải can thiệp ở điểm nào, khi ngoại giao phòng ngừa thất bại và nạn giết người rất có thể xảy ra, hay chỉ can thiệp khi việc tàn sát đang leo thang? Chúng ta cần phản ứng ra sao khi những quốc gia dính líu vào các cuộc xung đột, như trường hợp Nam Tư chẳng hạn, kêu ca rằng sự can thiệp từ bên ngoài này rõ ràng xâm phạm vào chủ quyền của họ? Chúng ta đã từng thấy Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU) và Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) đã nhiều lần không ủng hộ việc can thiệp kiểu như vậy.

Vượt lên trên tất cả, các tiêu chí quy định việc can thiệp cần phải công nhận rằng: như chúng ta đã học được ở Việt Nam, lực lượng quân sự chỉ có khả năng hạn chế, nhằm tạo cơ sở thuận lợi cho quá trình xây dựng quốc gia. Lực lượng quân sự tự nó không thể khôi phục lại một “quốc gia đã thất bại” được.

Cần phải làm cho nhân dân Mỹ thấy rõ rằng: dù cho có nhiều may mắn lắm thì các câu hỏi như vậy cũng đòi hỏi nhiều năm mới có thể giải đáp được. Tuy vậy, chúng ta cũng cần phải thúc đẩy cuộc tranh luận trong lòng đất nước chúng ta và trong khuôn khổ các diễn đàn quốc tế. Một số vấn đề có thể không bao giờ được giải quyết: cũng có thể có những khi chúng ta phải thừa nhận chúng ta không thể nào sửa chữa được tất cả mọi lỗi lầm. Không thể chắc chắn rằng những kết luận của chúng ta về việc sử dụng vũ lực để duy trì trật tự trong một thế giới không hoàn hảo thế này là thích hợp. Do vậy, chúng phải được xem xét lại nhằm chống lại những mong muốn của các quốc gia khác có quyền lợi tương tự muốn tham gia vào quyết định này nhằm giúp thực hiện nó và chia sẻ những cái giá phải trả của nó - đây lại là một bài học khác nữa về Việt Nam.

Có những khi, việc Mỹ can thiệp quân sự sẽ được biện minh không phải do lòng nhân đạo hay gìn giữ hoà bình, mà để bảo vệ nền an ninh quốc gia. Rõ ràng là, một khi xuất hiện mối đe doạ đối với Tổ quốc, chúng ta cần phải và sẽ hành động đơn phương sau khi đã có các cuộc tham khảo thích hợp với Quốc hội và nhân dân Mỹ. Nếu như mối đe doạ đó ít trực tiếp nhưng vẫn có sự nghiêm trọng tiềm tàng, chẳng hạn, tình trạng xung đột ở Kosovo hoặc Macedonia, có thể làm bùng nổ một cuộc xung đột lớn hơn trên bán đảo Bancăng, lôi kéo theo Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, và có thể cả Italia tham gia, thì trong trường hợp đó, đối sách của chúng ta sẽ như thế nào? Tôi xin nhấn mạnh rằng, chúng ta sẽ chỉ hành động theo một quyết định đa phương đã được thông qua và gánh nặng đó phải chia sẻ - đây lại là một bài học nữa về Việt Nam.
________________________________________
1. Xem The Washington Post, 11/6/1994, tr. A1.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #158 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2009, 08:24:13 pm »


Những cuộc chiến tranh trên thế giới mà chúng ta tham gia sau chiến tranh lạnh dường như xảy ra thường xuyên hơn là “những cuộc chiến tranh hạn chế” giống như ở Việt Nam. Tại Hội nghị ở Thư viện Lyndon Baines Johnson tháng 3/1991, Tướng Westmoreland đã đưa ra lời bình luận về Việt Nam rất phù hợp với trường hợp này. Đề cập những điểm đã bó buộc cuộc chiến tranh Việt Nam trong tình trạng hạn chế, ông nói: “Vào thời điểm đó, tôi cảm thấy chúng tôi bị trói tay”, mặc dầu vậy “chúng tôi vẫn buộc phải tán thành việc Tổng thống Johnson không cho phép mở rộng tầm địa lý của cuộc chiến tranh (nhấn mạnh trong nguyên bản)1. Chắc chắn Việt Nam đã dạy cho chúng ta hiểu được là khó khăn kinh khủng đến thế nào khi phải chiến đấu trong các cuộc chiến tranh hạn chế để dẫn tới những vết thương trong lòng nước Mỹ trong suốt các giai đoạn dài. Tuy nhiên, nơi nào cuộc chiến tranh hạn chế được ưa thích hơn chiến tranh không hạn chế thì những tình trạng khó khăn kiểu như vậy sẽ tăng lên. Trước khi dính líu vào các cuộc xung đột như vậy, nhân dân Mỹ cần phải hiểu được những khó khăn mà họ sẽ phải đương đầu; giới quân sự Mỹ cũng phải biết và chấp nhận những giới hạn mà họ sẽ phải tuân theo; còn các lãnh tụ và những người dân của chúng ta cũng phải được chuẩn bị tinh thần để giảm bớt tổn thất và rút quân nếu như tình hình cho thấy các mục tiêu có hạn của chúng ta không thể đạt được với những hiểm nguy ít hơn và cái giá phải trả có thể chấp nhận được.

Chúng ta cũng phải rút kinh nghiệm từ bài học Việt Nam về việc: làm cách nào chỉ huy các cuộc chiến tranh hạn chế một cách có hiệu quả. Nguyên nhân chính của sự thất bại nằm trong việc chúng ta đã không lập ra được bộ máy các quan chức dân sự và quân sự ở cấp cao có khả năng điều hành công việc. Chúng ta đã liên tục thất bại trong việc giải quyết một loạt các vấn đề cơ bản, như câu chuyện sửng sốt của tôi về quá trình hoạch định chính sách đã tiết lộ; sự thất bại của chúng ta trong việc xác định những vấn đề đó đã không được thừa nhận; và những bất đồng sâu sắc giữa các cố vấn của Tổng thống về cách thức thực hiện đã bị ỉm đi và không được tháo gỡ.

Như tôi đã nói, điều này một phần là do sự thất bại của chúng ta trong việc tổ chức một cách quy củ. Không có một quan chức cấp cao nào ở Washington chuyên theo dõi về Việt Nam. Trong khi Tổng thống, các bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng, Cố vấn an ninh quốc gia, Chủ tịch Hội đồng liên quân và những người cộng sự của họ đang phân tán tư tưởng bởi một loạt các vấn đề rối ren và cấp thiết khác, một vài những khiếm khuyết của chúng ta - chẳng hạn như chúng ta đã không thường xuyên thảo luận các tình huống rất cơ bản - là điều có thể hiểu được. Lẽ ra, để tránh điều này, chúng ta phải thành lập một cơ quan chuyên trách ở cấp cao nhất - như Churchill từng gọi là Hội đồng chiến tranh - chỉ để theo dõi vấn đề Việt Nam mà thôi, ít ra, cơ quan này phải bao gồm các Thứ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng, Cố vấn An ninh quốc gia, Chủ tịch Hội đồng liên quân và Giám đốc CIA. Cơ quan này phải có cuộc họp hàng tuần với Tổng thống vào thời gian nhất định để bảo đảm các cuộc thảo luận đủ dài và không bị ngắt quãng. Các cuộc họp hàng tuần này phải được mở rộng thành các cuộc họp hàng tháng với sự tham gia của Đại sứ Mỹ và Tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam. Các cuộc họp phải mang tính cởi mở và thẳng thắn trong thảo luận giống như Ủy ban điều hành từng có trong thời kỳ khủng hoảng tên lửa ở Cuba - điều đã góp phần ngăn chặn xảy ra tai hoạ. Công việc tổ chức tượng tự cần phải được thiết lập để điều hành tất cả các hoạt động quân sự trong tương lai.

Cuối cùng, tôi phải thừa nhận rằng rất khó tiên đoán và kiểm soát được kết quả của các cuộc tham chiến bằng quân sự với quy mô lớn - nhất là trong thời đại của các loại vũ khí hủy diệt rất hiện đại. Bởi lẽ đó, cần phải tránh các cuộc tham chiến như vậy, chỉ trừ khi nền an ninh quốc gia của chúng ta bị đe doạ một cách công khai và trực tiếp. Đây là những bài học Việt nam. Cầu Chúa chúng ta tiếp thu được.
_____________________________________
1. Trích dẫn trong Thời đại Johnson của Gittinger, tr. 76.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #159 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2009, 08:25:10 pm »


Tôi muốn thêm lời kết về Việt Nam.

Cho phép tôi được bày tỏ một cách chân thành và thẳng thắn. Tôi muốn mình được hiểu rõ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã chiến đấu ở Việt Nam trong suốt tám năm vì những điều được tin rằng là đúng đắn và chính nghĩa. Bằng cuộc chiến này, các chính quyền của cả hai đảng tìm cách bảo vệ nền an ninh của chúng ta, ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản độc tài và thúc đẩy nền dân chủ chính trị với quyền tự do cá nhân. Các chính quyền của Kennedy, Johnson và Nixon đã đưa ra các quyết định, và bằng các quyết định đó kêu gọi sự hy sinh, cống hiến và, đúng là, đã gây ra sự đau khổ ghê gớm dưới danh nghĩa của các mục đích và giá trị đó.

Sự nhận thức sau rõ hơn sự nhận thức trước. Câu ngạn ngữ này một thời được nhắc đến trong các hành lang, đúng với mọi người, trong mọi hoàn cảnh, ở mọi thời gian. Người ta là những con người: họ có thể phạm sai lầm. Tôi thừa nhận với sự thật đau xót và trái tim nặng trĩu rằng câu ngạn ngữ đó đúng với tôi và với giới lãnh đạo Mỹ thuộc thế hệ tôi liên quan đến Việt Nam. Mặc dù trong sự nhận thức, chúng tôi đã cố gắng hành động đúng - và đã từng tin rằng chúng tôi hành động đúng - sự nhận thức sau này đã chứng tỏ chúng tôi sai. Chúng tôi đã đánh giá quá cao tác động của việc để mất Việt Nam đối với nền an ninh của phương Tây và đã không tuân thủ nguyên tắc cơ bản là xét cho cùng, nếu người Nam Việt Nam muốn được cứu vớt thì họ phải thắng cuộc chiến bằng chính bản thân họ. Đi trệch khỏi sự thật cơ bản này, chúng ta đã tập trung công sức ngày một nhiều hơn trên một nền tảng vốn đã mất ổn định. Lực lượng quân sự bên ngoài không thể thay thế cho sự ổn định và trật tự chính trị mà chỉ có thể do người dân tự lập ra cho chính họ.

Cuối cùng, tôi muốn đề cập đến số phận của những người lính Mỹ đã chiến đấu ở Việt Nam và không bao giờ trở về. Có phải sự thiếu khôn ngoan trong việc can thiệp của chúng ta đã vô hiệu hoá nỗ lực và sự hy sinh của họ? Tôi nghĩ là không. Họ không làm ra những quyết định. Họ là những người đáp theo tiếng gọi của dân tộc, ra đi chiến đấu. Họ đã đi tới nơi chết chóc nhân danh cho dân tộc. Và họ đã cống hiến cuộc sống của mình cho Tổ quốc và những lý tưởng của Tổ quốc họ. Sự thiếu khôn ngoan trong các nỗ lực của chúng ta ở Việt Nam không làm cho sự cống hiến, hy sinh của họ giảm bớt đi tính cao cả. Đó mãi mãi là tấm gương cho tất cả chúng ta. Chúng ta hãy học từ sự cống hiến, hy sinh của họ, và như thế tăng giá trị và danh dự cho hành động của họ.

Khi tôi kết thúc cuốn sách, tôi nhớ tới một đoạn từ bài thơ “Lâu đài” của Rudyard Kipling. Tôi đọc bài thơ này lần đầu tiên cách đây ngần 60 năm. Lời thơ của Kipling ngày càng có ý nghĩa lớn lao trong suốt cuộc sống của tôi. Giờ đây chúng vẫn ám ảnh tôi.

Khi tôi là Vua và cũng là Thợ nề -
Là chủ nhân chân chính, tài hoa
Dọn đất, san nền tôi xây cung điện
Có khác gì những bậc vua cha.

Tôi xuống chiếu, đào xuống tầng tôi muốn
Chẳng bao lâu đã qua lớp phù xa.
Chợt bắt gặp một cung đình đổ nát,
Đấng quân vương đã xây tự bao giờ.

Chẳng đáng giá chút nào về kiểu cách.
Cũng chẳng hề có thiết kế thông minh.
Rải rác, ngổn ngang và không mục đích
Là tàn dư những chân móng vô tình.

Trong gạch vữa, phũ phàng, bề bộn
Nét chữ trên từng phiến đá hằn sâu:
“Đến sau ta là một Người xây dựng,
Nói với hắn rằng, ta đã biết từ lâu...”

Tôi thoăn thoắt trong đường hào mới mở
Nơi công trình từng ấp ủ sẽ mọc lên.
Đập những mảng tường, nhặt từng viên đá
Cắt gọt, sửa sang, tôi xếp lại cho liền.

Lấy đá của người xưa nung thành vôi,
Rồi hoà với nước, tôi đem quét.
Chọn những món quà của người đã khuất.
Với tâm hồn sung sướng vô biên.

Chẳng coi thường và cũng không kiêu hãnh
Khi tách rời mỗi thứ một nơi.
Tôi đọc được trên móng nền đổ nát
Tình cảm trong tim người xây dựng lâu đài.

Tưởng như anh đứng lên và nài nỉ.
Và dường như tôi đã hiểu qua rồi.
Những hình bóng trong mơ anh từng theo đuổi,
Dẫu chỉ là những gì dự định mà thôi.

      *
   *      *

Khi là Vua và cũng là Thợ nề
Trên đỉnh cao rực rỡ nhất trong đời,
Tôi nghe thấy những lời từ sâu thẳm.
Gọi thì thầm, nói với riêng tôi:

“Kết thúc là một điều cấm kỵ”
“Lễ nghi kia đã được thực hiện rồi”
“Cung điện này rồi cùng chung số phận”
“Triều đại sau cũng sẽ phá đi thôi”.

Tôi gọi lính về từ đường hào, mỏ đá,
Từ bến cảng xa xôi, từ những con tàu.
Tất cả những gì đã làm xong đều bỏ lại.
Cho niềm tin vào những năm vô vọng mai sau.

Tôi chỉ khắc sâu vào trong thớ gỗ,
Và chạm lên trên đá rắn một câu:
“Đến sau ta là một người xây dựng,
Nói với hắn rằng ta đã biết từ lâu!”


Mỗi một con người sống với những ước mơ chưa được thực hiện và những mục đích chưa hoàn thành. Lẽ dĩ nhiên tôi cũng vậy. Nhưng giờ đây, khi mà một thế kỷ của sự xung đội đẫm máu sắp kết thúc, chúng ta có cơ hội nhìn vào tương lai với niềm hy vọng mới: chiến tranh lạnh đã kết thúc. Trước mắt chúng ta là những bài học Việt Nam - những bài học đó có thể được nghiên cứu và áp dụng. Chúng ta phải nhận thấy rõ hơn những hiểm hoạ của một thế giới chứa đựng hàng ngàn loại vũ khí hạt nhân, và chúng ta phải có những hành động cần thiết để tránh thảm hoạ hạt nhân. Chúng ta đã có sự hiểu biết hơn về những khả năng - và cả những hạn chế - của các Tổ chức đa phương trong việc hạn chế và giảm bớt những cuộc xung đột trong nội bộ các dân tộc và giữa các dân tộc. Bởi vậy, lẽ nào chúng ta lại không có cơ sở để tin rằng thế kỷ XXI, dẫu vẫn chưa là thế kỷ của sự bình yên, sẽ không còn chứng kiến sự giết hại thêm 160 triệu người nữa do chiến tranh? Tất nhiên, đó không những là niềm hy vọng của chúng ta, niềm mơ ước của chúng ta, mà còn là mục tiêu kiên định của chúng ta nữa. Ai đó có thể cho rằng lời tuyên bố như vậy là ngây thơ, đơn giản hoá, lí tưởng hoá và viển vông. Nhưng là những con người, những công dân của một cường quốc lớn có khả năng tác động đến các sự kiện trên thế giới, liệu chúng ta có thể sống trong hoà bình mà không quyết tâm đạt được nó?
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM