Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:12:53 pm » |
|
Cha tôi mỉm cười, dò xét diễn biến trên nét mặt tôi:
- Con chắc đã biết mặt quận chúa Quỳnh Hoa?
- Con đã gặp hôm đám cưới đưa quận chúa nhà ta về Côn Sơn.
- Thế thì tốt. Con thấy đấy, Quỳnh Hoa rất xinh đẹp tính nết đoan trang, nhu thuận. Quan thái bảo cưng chiều lắm thuê thầy đồ về dậy con gái hơn chục năm nay. Sức học cô ta chẳng kém gì đám con trai tài giỏi. Quỳnh Hoa là con đầu của quan Thái bảo, năm nay đến tuổi trăng tròn.
- Dạ... Thưa cha...
- Sao con ngắt lời ta?... A... ta hiểu... chắc là con sợ... sợ quan thái bảo không đồng ý hả? - Cha tôi lại mỉm cười bí hiểm - Thì cũng phải thử xem sao... Chẳng gì ta cũng là bậc tôn quý nhất triều... ít ra, cũng thử xem thái độ của quan thái bảo đối đãi với ta ra sao... Hà! Ta muốn Quỳnh Hoa phải là con dâu của ta... Ta muốn quan thái bảo phải là thân gia của ta... Ông ta muốn thẳng thừng với ta ư? Thì ông cứ việc thẳng thừng... Ông ta muốn là kẻ trung trinh ư? Thì ông cứ việc là kẻ trung trinh. Ta đâu có muốn và đâu có thể cấm được ai... Chỉ có điều, nhất thiết ông ta phải là thân gia với ta...
Tôi đâu có thể chống lại ý muốn của cha tôi. Những đám cưới cung đình vốn thế. Vả lại, Quỳnh Hoa nức tiếng vừa đẹp người vừa đẹp nết. Đằng nào tôi cũng phải lấy vợ...
Phải nói tôi vừa ngạc nhiên, vừa khâm phục sự lựa chọn con dâu và thông gia của cha tôi. Và tôi nghĩ rằng điều này chắc làm quan thái bảo phải rơi vào tình thế lúng túng. Tôi không tin quan thái bảo từ chối, bởi vì cha tôi đã tính toán kín kẽ và cương quyết. Cha tôi nhờ chính đức thượng hoàng Nghệ tôn làm mối. Ông vua già cũng tán thành vì cho rằng đó là một ràng buộc đối với cha tôi. Hơn nữa, ông vua già cũng quý tôi. Ông hớn hở nói:
- Thật xứng đôi, đẹp lứa. Ta rất vui mừng hai họ lại một lần nữa kết thông gia. Và đám cưới đã xảy ra, nhanh chóng không ai ngờ. Người ta tưởng đám cưới ắt phải được tổ chức linh đình, nhưng cha tôi tâu với đức Nghệ Hoàng:
- Vừa rồi, Hồng Châu lụt lội, dân đói. Thần xin được tổ chức đám cưới cho con trai lớn của thần thật kiệm ước. Xin đem năm ngàn thăng lúa dành cho việc cưới xin để phát chẩn cho dân gặp nạn.
Nghệ hoàng đẹp lòng, lệnh mở kho, đem thêm một vạn thăng lúa nữa để phát chẩn cho dân đói.
Đám cưới trước đấy vài tháng của bà quận chúa, chị hờ của tôi (con riêng bà Huy Ninh) là một đám cưới nổi tiếng kinh thành, đám cưới xa hoa, tưng bừng, khoa trương hết mức. Còn đám cưới của tôi thì giản dị, kiệm ước như cha tôi nói, cũng được dân kinh thành ngợi khen. Tuy nhiên, nó đúng lễ và rất trang trọng; có ông vua già Nghệ tôn đứng ra chủ hôn, một vinh dự hiếm thấy ở triều đình. Đức Nghệ hoàng tặng vợ chồng tôi một đôi ngọc bích.
Thủa còn nhỏ, tôi rất yêu súc vật. Ông ngoại bảo đó là tôi được thừa hưởng của mẹ tôi. Cha tôi không ưa tính đó. Tôi có một con mèo vàng lông xù và một con chó trắng giống miền núi, cao to như một con bê. Năm Tân Hợi. (1371) Chế Bồng Nga đem quân theo đường sông vào đánh Thăng Long lần thứ nhất. Lúc đó tôi khoảng hơn 10 tuổi phải theo Nghệ hoàng và triều đình bỏ kinh thành chạy sang làng Cổ pháp và xứ Bắc lánh nạn. Con mèo vàng và con chó trắng của tôi đã bị người ta chặt đầu. Tôi trở về và đã nhỏ nước mắt thương tiếc hai con vật. Đối với một đứa trẻ, khóc thương một con vật cũng là lẽ thường tình, nhưng điều đó lại làm cha tôi nổi giận. Và cha đã mất rất nhiều thời gian để giảng giải cho tôi về đạo của người quân tử, trong đó có điểm nhỏ nhưng quan trọng là dưỡng tính. Nét mặt của người quân tử không bao giờ biến đổi, trước các lỗi lầm sai trái cũng không được tỏ ra tức giận, trước các mất mát đau thương cũng không được mủi lòng; phải tập từ lúc còn bé, trước phải tập nín nhịn ở nét mặt, sau phải tập nín nhìn ở trong lòng,
Tôi không cho là phải nhưng cũng tập làm như lời cha dạy. Rồi mãi cũng trở thành thói quen. Tuy nhiên, tôi trở nên buồn. Phải chăng nỗi buồn đó là sự phản ứng trong tôi? Nỗi buồn đó càng trở nên sâu đậm vì những diễn biến chung quanh; loạn lạc liên miên nhen lên những đám cháy ở kinh thành, phải chăng những đám cháy ấy cũng có ánh lửa trong tôi? Điều rõ ràng dễ thấy là từ những đám cháy ấy, triều đình cũng bị chia rẽ thành hai phe: phe Tôn thất nhà Trần và phe của cha tôi. Và hậu quả tất nhiên là những sự lôi kéo. Trong đám cưới của tôi, tôi hiểu rằng tôi là một con mồi mà cha tôi quăng ra giữa dòng nước, họ nhà Trần như một con cá lớn đớp lấy tôi, và cha tôi cầm chiếc cần câu. Tôi là kẻ đứng giữa, và hai bên cùng co kéo. Tin tưởng ở tiếng gọi huyết thống, cha tôi chắc chắn tôi sẽ là của ông. Còn họ Trần, có lẽ người ta tin vào tiếng gọi của lòng trung quân. Tôi là người có học, hơn nữa tôi luôn sầu lặng. Sự sầu lặng ấy phải chăng là sự suy tư, sự hối hận, là bước đi chệnh choạng của một linh hồn và đang nghiêng ngả.
Sau lễ cưới, đêm động phòng, tôi nắm lấy tay Quỳnh Hoa, nhìn vào khuôn mặt kiều diễm của nàng và bảo:
- Nàng ơi! Ta với nàng, chúng mình cùng nhau họp làm một phái nhé.
Quỳnh Hoa ngơ ngác, không hiểu ý tôi, nàng đăm đăm nhìn vào mắt tôi, chợt đôi mắt nàng lóe sáng, môi nàng cười mỉm và khẽ khàng bảo:
- Vâng.
Chúng tôi nói với nhau bằng cách nói nửa lời như vậy nhưng tôi cảm thấy hình như chúng tôi đã hiểu nhau. Cho đến lúc hai chúng tôi giao hoà cùng nhau thì tôi đã hoàn toàn hiểu nàng. Nàng nói với tôi ư? Không. Nàng chẳng nói, nhưng im lặng đã nói. Khi người nam và người nữ đã hoàn toàn hiểu nhau thì đó là một sự thái hoà, và lời nói lúc đó trở thành không cần thiết, là dung tục, làn da nói rất nhiều qua hơi ấm, hơi thở cũng có tiếng nói của nó trong sự hoà quyện. con mắt nhìn vào con mắt để ánh mắt trộn lẫn vào nhau; nàng xoã mái tóc trùm kín lên người tôi; để cuối cùng là những rung động, run rẩy xoá tan đi mọi sự ấp úng, bỏ nốt những rào chắn cuối cùng dẫn ta trở về niềm tin cậy, về với sự lột vỏ hoà đồng, xoá sạch mọi giả dối ở đời.
- Chàng ơi? Bao giờ cũng như thế sao?
- Không! Hiếm lắm nàng ơi.
- Nó dành cho ai?
- Cho riêng chúng ta
- Chúng mình giống nhau - Nàng thì thầm.
Tiếng nàng như những giọt mật ngọt, và từ đấy chúng tôi hiểu chúng tôi là những kẻ đồng mưu, những kẻ xa lạ nằm trong tấm lưới cung đình; tấm lưới bủa vây, bây giờ con mồi đặt bẫy không còn là một người mà đã thành hai.
Sáng hôm sau, hai vợ chồng tôi vào xin phép cha mẹ để đi thăm ông ngoại, nhưng cha tôi đã vào triều, còn bà Huy Ninh công chúa cũng đã đi dâng hương ở chùa Báo Thiên từ lúc tờ mờ sáng. Chỉ thấy trong thư phòng có Hán Thương, em trai tôi. Hán Thương đương đọc sách. Quỳnh Hoa hỏi sách gì? Hán Thương vui vẻ giơ quyển sách ra: Minh Đạo. Cuốn sách của cha viết.
- Có phải cuốn sách mà ít lâu nay trong triều các quan xì xào bàn tán.
- Sao lại xì xào? Cái bọn hủ nho ấy chữ nghĩa được mấy nả mà dám xì xào?
Quỳnh Hoa đỏ mặt
- Xin lỗi đã lỡ lời...
- Em không nói chị. Em nói bọn hủ nho trong triều. Thật không thể chịu nổi bọn người hễ thấy cái gì mới lạ là co rúm ngay lại, lên tiếng phản đối ngay không hề suy nghĩ: “Không thể được! Các bậc tiên hiền đời xưa đã dạy thế này...”
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:13:54 pm » |
|
Hán Thương bắt chước điệu bộ và giọng của một ông già khi nói làm Quỳnh Hoa cười rũ. Tiếng cười trong trẻo làm tan ngay sự xa cách, và làm cho Hán Thương đang nghiêm túc, có vẻ tức giận, cũng trở nên thoải mái, dễ dãi:
- Quận chúa ạ. Bây giờ chị đã là người nhà rồi. Mà đã là con trong nhà thì chị phải đọc cuốn sách này. Đó là cuốn sách tâm huyết của cha, chị có hiểu không? - Tôi hiểu, nhưng hôm nay vợ chồng tôi phải sang thăm ông ngoại.
Tôi cũng xen vào:
- Phải rồi! Chú nhớ bẩm với cha và mẹ hôm nay anh chị đến trại thuốc thăm ông ngoại.
Khu trại của ông làm Quỳnh Hoa mê hồn. Chúng tôi đi men theo bờ ao sen, lúc đó đã nẩy những chiếc lá đầu xuân. Những chiếc lá sen mầu cốm, có chiếc còn nằm bồng bềnh trên mặt nước, có chiếc đã như chiếc dù tròn tròn cong cong vươn khỏi mặt hồ, có chiếc thì còn e ấp cuộn lại như những chiếc bút mầu xanh run rẩy chĩa lên bầu trời. Chỉ một vạt lá sen đầu mùa cũng đã đủ để toả ra một mùi hương thoảng ngát để làm thanh sạch tâm hồn, để tạo cho chúng tôi một niềm vui nhè nhẹ chẳng nguyên nhân. Chúng tôi bước dưới hàng hoè, qua cầu đá, đi vào vườn thuốc, gặp mùa xuân đang nở rộ đủ màu hoa, có những loại hoa vàng như hoa cải mà không phải là cải, có những bụi giống như lan tím vươn những cọng hoa dài dài mà chỉ có một cánh bướm trắng nhẹ tênh đậu vào cũng đủ run rẩy. Những con ong to mầu nâu, vòi dài như mỏ chim đang vù vù đôi cánh đứng im thăm dò trước những bông hoa lựu màu đỏ chói...
Mắt Quỳnh Hoa mở to nhìn lũ bướm ong đang đùa với hoa. Ông ngoại tôi đã đứng ở giữa sân, vuốt râu nhìn vợ chồng tôi. Ông không muốn đánh động để cho Quỳnh Hoa tận hưởng cái kỳ diệu của trời đất. Tôi đặt tay vào vai nàng để đánh thức nàng. Quỳnh Hoa lễ phép chào ông. Tôi nhìn vào ánh mắt ông ngoại, bất chợt nhìn thấy vẻ hài lòng trên gương mặt người. Chúng tôi ăn bữa ăn đạm bạc với ông. Ông ngoại lúc đó mới nói những điều mà người đã muốn nói từ lâu: Bây giờ, ông yên tâm rồi. Năm ngoái, ông lên Yên Tử hái thuốc, vị trưởng lão trên đó có ý muốn lập một dược thảo am. Thứ nhất: để chữa bệnh cứu người. Thứ nhì: để đào tạo một số tăng ni muốn học y đạo. Vị trưởng lão đó có ý muốn nhà chùa vừa là một y viện, phải là nơi cứu khổ cứu nạn cho thể xác dân quê...
- Thưa ông...
Ông ngoại vuốt râu mỉm cười, nhìn vào mắt tôi và tôi biết ý người đã quyết. Lúc này, cụ mới chậm rãi nói rõ ý định:
- Bây giờ thì ông yên tâm rồi. Trang trại này ông để lại cho các cháu. Ông đã bàn với cha cháu: không cần phải lấy đất nơi khác lập phủ đệ. Hai cháu sẽ ở đây, ông sẽ khi đi khi về. Ông già Lặc sẽ chăm nom cho các con.
- Cháu nghĩ ông đã nhiều tuổi, cần có người tâm phúc luôn ở bên săn sóc.
- Ông đã nghĩ kỹ. Lão Lặc phải ở với cháu, lão Lặc vốn tận tuỵ trung thành, xưa kia là một võ tướng. Thời buổi bất an như bây giờ, ai dám đoán định thời cuộc sẽ ra sao. Thiếu ông Lặc ở bên vợ chồng cháu, ông yên tâm sao được.
Câu chuyện quyết định vợ chồng tôi lập phủ đệ ở trại thuốc là như vậy.
Quỳnh Hoa có một mái tóc rất đen, và dài. Mỗi lúc nàng ôm lấy tôi, mớ tóc ấy lại choàng kín qua vai tôi như một tấm chăn trùm lấy hai người. Và trong tấm chăn mỏng manh hoang dại, một mùi ngai ngái, thơm thơm ngất ngây, thứ mùi của tóc, của da thịt, của hơi thở; thứ mùi nồng nàn; thứ mùi của hoa lá mà nàng vẫn bỏ vào nồi nước thơm mỗi khi tắm. Ai đã dạy nàng yêu đương như vậy. Có lẽ một cô tiên dịu dàng nào đó đã ghé tai thầm thì với nàng trong giấc ngủ mà nàng chẳng nhớ tự bao giờ. Cũng có thể một bà vú nuôi nào đó đã kể cho nàng nghe câu chuyện về những hồn ma khoả thân đa tình, da trắng như ngà, thả mớ tóc mun dài gội nước trăng sông, đó là những hồn ma sống nương nhờ ở những gốc gạo, những con ma có thân hình đẹp đẽ, và đặc biệt là những mớ tóc.
Những câu chuyện ghê rợn, nhưng quyến rũ lòng người, đã đọng lại trong mớ tóc đen láy mượt mà và thơm ngai ngái, để cuối cùng mỗi đêm nó lại xoà kín đôi vai tôi, che kín lên mình tôi, để những sợi tóc đã gắn kết tình tôi lại với nàng.
- Chúng mình giống nhau - Quỳnh Hoa vẫn thường nói vào tai tôi như vậy.
Còn tôi thì sung sướng:
- Cám ơn trời đã cho ta người ngọc! Ở đất kinh kỳ, người ta vẫn bảo Quỳnh Hoa là người ngọc. Nàng đẹp một cái đẹp mong manh. Nàng trắng muốt, thon thả như một nhành hoa. Đôi mắt lóng lánh, cái mũi xinh xinh, đôi môi đỏ chót, cổ cao và trắng; nhưng đẹp nhất vẫn là mớ tóc vừa đen, vừa mượt, vừa dài của nàng, đó là sức sống của nàng, là hồn của nàng, cái hồn dịu dàng toả ra từ mớ tóc mà ai mới nhìn cũng nhận thấy ngay. Quỳnh Hoa dịu dàng, một sự dịu dàng quá đỗi đến mức nó chuyển thành thói u sầu. Lấy được nàng tức là chiếm được một vưu vật hiếm có ở đời. Nhiều công tử con nhà đại gia ở đất Thăng Long đã ngấp nghé, chỉ riêng tôi là kẻ may mắn nhất. Quỳnh Hoa quá u sầu. Đó là sức mạnh và sức hút của nàng. Nỗi u sầu như thứ rượu cất bằng ngàn thứ nhuỵ hoa, để cho những kẻ đa tình say sưa, huyễn tưởng đi tìm thực trong ảo, muốn ngây ngất tận hưởng, thậm chí tìm đến cái man dại của loài hoa rừng không tên, mà một thứ rắn đêm nào đó đã lén lút nhả nọc độc vào lúc bình minh còn ngái ngủ.
Vợ chồng tôi đắm say như nhau vậy đó.
- Mình ơi! Có phải chúng mình giống nhau không nhỉ?
Đêm đêm, Quỳnh Hoa thường úp mặt vào ngực tôi mà nói như vậy. Câu nói của kẻ hạnh phúc, nhưng không hiểu sao tôi vẫn cảm thấy âm sắc hoảng hốt phập phồng nào đó. Có phải vì chúng tôi là những con mồi, có phải vì chúng tôi đều muốn tách ra khỏi những áp lực đương vây quanh.
Có những lúc chúng tôi thở phào nhẹ nhõm, tưởng chừng những áp lực ấy vì chúng tôi mà được dãn ra. Có vẻ như vậy, từ khi chúng tôi lấy nhau, sự xung đột giữa Thái bảo Trần Nguyên Hàng, cha nàng, và Thái sư Lê Quý Ly, cha tôi, đã bớt hẳn căng thẳng. Xưa kia, quan Thái Bảo luôn bắt bẻ cha tôi đủ mọi điều, nay thì không. Nhưng cha tôi đâu phải loại người đơn giản.
Một hôm ông nói với tôi:
- Thực ra, trong cuộc hôn nhân này, cha chẳng hề muốn dùng con làm kẻ nội gián. Kế sách tầm thường đó không hợp với cha, mà cũng chẳng hợp với con. Cha không bao giờ muốn con bất nghĩa với vợ. Quỳnh Hoa là một dâu hiền. Cha muốn qua cuộc kết thân này, ông ta hãy hiểu cái thực lòng của cha.
Còn cung cách của quan Thái bảo đối với Quỳnh Hoa thì sao? Tôi không bao giờ đả động với nàng về chuyện đó và Quỳnh Hoa cũng đủ tế nhị để không bao giờ nhắc với tôi về chuyện đó. Và có lẽ đó chính là sự khác nhau giữa cha tôi và quan thái bảo.
Quỳnh Hoa vẫn thường về thăm cha mẹ, mỗi tuần trăng một lần. Tôi không biết trong những lần gặp ấy quan thái bảo đã nói gì với Quỳnh Hoa; chỉ biết rằng mỗi lần về nhà mình, sau đó nàng buồn hẳn đi. Và những đêm âu yếm nàng nói với tôi:
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:15:39 pm » |
|
- Thiếp về hầu hạ, chăn gối với chàng, chỉ mong sao các bề trên được thuận hoà yên ấm.
- ý ta cũng vậy.
- Chàng ơi! Thiếp sợ lắm.
Quỳnh Hoa sợ gì? nàng chẳng nói ra. Mà tôi cũng không muốn nàng nói. Có lẽ nàng sợ những cơn giông bão mà con người ốm yếu như nàng rất dễ cảm ứng. Có lẽ lúc đầu mới lấy tôi, Quỳnh Hoa chỉ cảm thấy tủi phận, ngang trái và sợ sệt. Nhưng sau đó, tình yêu đã đến. Kèm theo tình yêu, sự nhu thuận vốn là bản tính nàng, đã làm cho nàng tự dày vò đau đớn. Người ta muốn cuộc hôn nhân của chúng tôi là những toan tính cung đình, còn vợ chồng tôi lại muốn giữ gìn nó tránh khỏi những cơn bão tố âm mưu.
Có bận sau khi về thăm nhà nàng buồn rầu bảo tôi:
- Thiếp khổ tâm lắm.
- Nàng đừng cả nghĩ, chỉ thêm hao tổn tinh thần.
- Chắc là thiếp sẽ chết trước chàng thôi.
- Đừng nói gở.
- Thiếp không dối chàng đâu
- Sao lại thế?
- Thiếp cảm thấy thế. Nhiều đêm, chỉ toàn gặp những cơn ác mộng, lúc thì lửa cháy, lúc thì đất lở, lúc thì nhà sập...
Tôi bịt mồm nàng lại. Quỳnh Hoa thì thầm vào tai tôi:
- Thiếp chỉ mong chàng thề với thiếp một điều.
Nàng muốn thề gì?
- Thề rằng: Hai ta sẽ không bao giờ làm điều gì hại đến cha chàng, cũng như hại đến cha thiếp.
- Ta thề như vậy
- Thiếp cám ơn chàng - Quỳnh Hoa úp mặt khóc nức nở bên vai tôi.
Tôi biết, tôi biết cha nàng đang muốn gì ở nàng và ở tôi Và cũng biết cả ý muốn của cha tôi. Nhưng chúng tôi đã thề rồi. Riêng hai chúng tôi họp thành một phái; Nếu chẳng may, một người trong hai chúng tôi chết đi, thì người còn lại sẽ một mình đứng riêng làm một phái; Quỳnh Hoa ơi? Ta hiểu nàng chứ. Nàng không muốn làm kẻ bất hiếu, cũng không làm phường bất nghĩa. Quỳnh Hoa đã nghĩ ra một cách tiêu cực để tránh né. Nàng kêu mệt và không về nhà thăm cha mẹ. Tối nào nàng cũng một mình thắp hương trước bàn thờ Phật. Nàng cầu mong gì? Sao nàng chẳng nói với tôi? Chỉ biết rằng cái thân thể mảnh dẻ ấy bỗng trở nên đằm thắm, đam mê hơn bao giờ hết. Người đàn bà mong manh ấy bỗng có một sức mạnh hoan lạc mà tôi không bao giờ ngờ tới. Đêm đêm nàng run rẩy trong tay tôi, để rồi tới một hôm nàng tràn trề hạnh phúc thổ lộ:
- Chàng ơi! thiếp đã mang thai.
Nàng sung sướng, cứ như thể nàng là người đầu tiên trên thế gian này biết được điều bí mật lạ lùng của một hạt giống đang hàng ngày, hàng giờ lớn dần lên trong cơ thể mình.
- Chàng có mừng không?
- Rất mừng?
- Có thật không?
Tôi không trả lời mà chỉ ôm chặt lấy cái thân hình mảnh mai ấy, để nghe giọng nói của một hạnh phúc bất ngờ xuất hiện, đẩy lùi những âm mưu như những bóng đen vẫn hằng đêm len lén vào giấc ngủ nàng. Thế là thiếp đã thoả lòng? Từ đó, nàng đóng chặt cửa, không giao tiếp, để chờ ngày đứa con chào đời. Quỳnh Hoa không bao giờ thèm nghe những chuyện triều chính nữa. Cấm ngặt? Thậm chí kẻ tôi tớ cũng không được phép mang những chuyện ngoài đường vào trong nhà. Bây giờ, đối với nàng, chỉ còn những cuộc dạo chơi bên hồ sen, trên đường hoè, dưới gốc hoàng lan, trong vườn hoa thuốc... Tuyệt nhiên nàng không về thăm quan thái bảo, cũng không đi thăm vấn sức khỏe cha tôi, lấy cớ: vì nàng quá ốm yếu. Bà thái bảo gửi nhung, cha tôi cho sâm, nàng cũng chỉ viết giấy tạ ơn. Tôi biết Quỳnh Hoa đang trốn chạy tất cả, vứt bỏ tất cả, ghê tởm tất cả, để sống trọn vẹn với niềm vui riêng.
Nhưng thương thay?
Nàng lâm bồn hết sức khó khăn.
Nàng mảnh dẻ quá. Cơn đau đẻ kéo dài suốt hai ngày đêm. Cả ông tôi, cả những danh y tài giỏi nhất kinh thành Thăng Long cũng không cứu được đứa trẻ. Đứa con của chúng tôi đã chết. Trận băng huyết đã rút gần cạn kiệt máu nàng. Nàng trắng xanh như tờ giấy. Đôi mắt đen của nàng rưng rưng hạt lệ. Tôi ở bên Quỳnh Hoa suất ngày đêm. Tôi hỏi:
- Nàng ao ước điều gì?
- Bế thiếp lên đi!
Tôi nhẹ nhàng ôm lấy tấm thân mảnh dẻ ấy, cố truyền hơi ấm cho nàng. Quỳnh Hoa bảo:
- Thiếp chỉ ao ước được gội đầu bằng lá chanh lá sả. Đám thị tì bưng nước thơm lên. Và tự tay tôi, tôi khẽ khàng thả mớ tóc đen của nàng vào chậu nước ấm. Chỉ còn mớ tóc của nàng vẫn đầy sự sống. Nó vẫn dài, vẫn đen láy, vẫn mượt mà. Nàng lim dim con mắt để ngửi mùi nước thơm ngan ngát. Cô thị tì lấy chiếc gáo bạc nhẹ nhàng đổ nước thơm lên đầu Quỳnh Hoa. Tôi lấy chiếc lược ngà khe khẽ đưa vào mớ tóc. Được tẩm nước, mớ tóc như được chải dầu càng bóng, càng mượt mà, càng mềm. Tôi nhìn vào khuôn mặt hạnh phúc của nàng rồi khẽ mơn man làn da đầu, khẽ vuốt ve vành tai xinh xắn, khẽ kì cọ chiếc cổ ngọc ngà. Rồi tôi ngồi trên chiếc ghế cao, ẵm nàng, để thả mớ tóc mun dài xuống tấm thảm, gần nơi đó đã để sẵn những lò than; lũ thị tì mặc quần áo trắng, cầm những chiếc khăn nõn nà, thơm tho, để thấm và hong cho đến lúc tóc khô. Tôi ngồi ẵm nàng gần như thâu đêm. Nàng vòng tay ôm lấy cổ tôi mà mơ màng, mớ tóc dầy đen ấy xoã trước ngực. Tôi khẽ vỗ về và Quỳnh Hoa nhắm mắt, môi phảng phất nụ cười. Cứ như thế, trên tay tôi, nàng đã như mơ như tỉnh. Tôi ẵm nàng trên tay, nhìn khuôn mặt ấy, nụ cười ấy, mớ tóc ấy. Và khuôn mặt nàng cứ đọng lại mãi trong tâm tưởng tôi suốt cuộc đời còn lại. Lúc sắp tắt hẳn, môi nàng còn mấp máy thì thào:
- Chàng thề với thiếp đi?
Tôi chợt nhớ tới lời thề khi xưa. Tôi cúi xuống sát vành tai nàng và bảo:
- Ta xin thề một mình sẽ đứng riêng làm một phái.
Khuôn mặt thiên thần của Quỳnh Hoa ánh lên niềm thoả mãn, trước khi rơi vào cõi hư vô
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:17:17 pm » |
|
Phần II- Chương 2 Và cũng từ hôm ấy, nỗi u sầu của tôi không có gì có thể chữa nổi. Hoạ chăng chỉ còn những cốc rượu đầy vơi. Từ khi Quỳnh Hoa chết, tôi đắm mình vào rượu. Và tôi có một người bạn rượu, đó là Nguyễn Cẩn. Cẩn là con một gia đình giàu sang. Bố anh là một y sư, trước kia theo vua Duệ Tôn đi chinh chiến. Ông là một thày thuốc giỏi đã có công chữa trị cho nhiều quân sĩ. Không hiểu sao ông không chưa nhận một chức quan triều đình, ông chỉ nhận cái hàm lục phẩm rồi trở về mở một hàng thuốc ở phường Hà Khẩu. Cửa hàng thuốc của ông to lắm. Ông vừa bốc thuốc trị bệnh, vừa bán thuốc. Nghe nói ông có nhiều mối buôn bán tận bên Trung Quốc, những mối buôn bán to. Kho thuốc nhà ông là mấy ngôi nhà lớn, thuốc đổ vào bồ, đặt trên giá xếp chồng cao đến tận nóc nhà. Những thuốc quý hiếm như sừng tê, ngà voi, răng hổ, mật gấu, dạ nhím, sâm, nhung, quế... hiệu nhà ông bao giờ cũng sẵn. Tên ông là Nguyễn Điền, một con người quắc thước, vạm vỡ, mặt vuông chữ điển. Trông ông như một võ tướng, khác hẳn ông tôi, con người tiên phong dạo cốt. Về y thuật, hai người cũng khác hẳn nhau. Ông Điền giỏi về chữa gẫy xương, nhọt bọc; cụ Phạm giỏi về các bệnh của lục phủ ngũ tạng. Tuy khác nhau về y thuật, khác nhau về tuổi tác, khác nhau cả về phong thái, nhưng ông ngoại tôi và ông Điền vẫn rất trọng nhau. Đó là sự lân tài của những người vốn có tài năng lớn. Ông Điền có cậu công tử Nguyễn Cẩn nức tiếng là con người phong lưu, giao du rộng rãi. Cậu ra vào các chốn bạc bài đen đỏ, nhưng chưa ai dám bảo cậu là kẻ ham tiền của. Cậu đi lại chốn hồng lâu kỹ viện nhưng chưa ai dám nói cậu là kẻ ham sắc. Cậu giao du rượu chè thi phú với các nhà danh giá, nhưng chưa ai dám miệt thị cậu là kẻ luồn cúi danh vị. Cậu đẹp trai nổi tiếng người ta dùng mĩ tự “ngà voi vàng ròng” để nhắc thay tên cậu. Một buổi sáng, khi tôi đang độc ẩm trong nhà khách. Ông già Lặc vào bẩm: - Thưa, có cậu Nguyễn Cẩn con ông Điền xin gặp. - Cụ hãy dẫn anh ta vào. Một chàng trai từ dưới thềm bước lên thi lễ: - Kẻ học trò xin kính chào quan kiểm pháp. Tôi ngắm nhìn chàng nho sinh trạc hai nhăm tuổi ăn mặc chững chạc áo ngoài màu tím lam bằng sa mỏng phủ lên trên chiếc áo dài trang; khăn nhiễu đen càng làm nổi bật gương mặt trắng hồng, với đôi môi đỏ như son và đôi lông mày ngài đen sẫm. Quả đúng cậu ta là con người mi thanh mục tú, xứng với cái tên “chàng ngà voi vàng ròng”. Tôi hỏi: - Chẳng hay huynh đài có việc gì cần gặp? Mấy hôm trước, cụ Phạm viết thư sang cha tôi, nói có người mắc chứng cuồng điện, và nhờ cha tôi tìm cho một cái xạ hươu nang để luyện thuốc. Học trò được lệnh cha, mang túi xạ hươu sang quý phủ. Tôi mời Nguyễn Cẩn ngồi: - Hôm nay ông tôi đi thăm bệnh xa. Không biết việc chế biến ra sao nhỉ? - Dạ thưa, người thợ săn mới bắn được ngày hôm qua trên núi Tản Viên, sớm nay đã đem về ngay. Sợ rằng cụ lang Phạm có cách chế biến riêng, nên cha tôi bảo mang túi xạ hươu sang ngay. Nếu cụ lang về hôm nay hay ngày mai, thì cứ để chờ cụ, bằng không... - Xin huynh đài cứ nói cách chế biến. Chắc cụ tôi vài hôm mới về. - Nếu thế, đem túi xạ hươu để lên đĩa, lấy cái bát đậy vào, trát cho kín, lấy một chiếc nồi rang đổ tro vào. Đặt đĩa xạ hươu lên tro, rồi đun nồi rang. Đun nhỏ lửa và đun lâu. Muốn xem nhiệt có nóng quá không, nên đặt một lá trầu không lên trên trôn cái bát đậy, nếu lá trầu héo vàng là quá nóng. Làm như vậy cho đến khi túi xạ hương khô là được... Tôi cười gật đầu: - Té ra huynh cũng chú tâm cả vào y đạo. - Tôi nghe nói quan kiểm pháp cũng là người sành y đạo. Chắc là... - Là sao? - Là quan kiểm sát muốn kiểm tra... Tôi cười giòn, vỗ vai Nguyễn Cẩn. Thế là tôi quen chàng thanh niên kỳ lạ của đất Thăng Long. Anh ta thuộc tất cả các ngóc ngách của đất kinh thành. Cẩn quen đủ mọi hạng người. Tôi ngạc nhiên về sự hiểu biết của anh, sự hiểu biết về sách vở cũng như về con người. Một người tuấn tú như Cẩn, với một vẻ bề ngoài đẹp đẽ, con người “ngà voi vàng ròng” ấy hẳn phải có một tâm hồn cao thượng. Tôi thường tự nhủ mình như vậy. Tôi vô cùng ngạc nhiên, khi trong một bữa rượu, lúc đã ngà ngà say, Cẩn đã thổ lộ với tôi: - Tôi trân trọng cái tâm cao quý của người quân tử, nhưng tôi không tin vào sự cao thượng ở con người. Ai là người cả gan nói rằng mình cao thượng. Chắc chỉ ở mồm những kẻ tiểu nhân vênh vang trâng tráo. Hoặc ở miệng những bậc đích danh quân tử như Mạnh tử, nhưng than ôi! đó chỉ là ảo tưởng. Anh không tin ở cái khí hạo nhiên của con người ư? - Tin chứ. Khí hạo nhiên theo tôi tức là cái chí thay sông đổi núi. Chàng thèm lý gì cái miệng thế tầm thường. Cái khí hạo nhiên tức là dám nói dám làm những công việc lớn. Làm mà không run sợ. Làm mà không hối tiếc. Quen Nguyễn Cẩn độ một năm, bỗng một hôm cha tôi hỏi: - Con có biết anh chàng Nguyễn Cẩn, con ông danh y Nguyễn Điền? - Con có quen anh ta - Chắc quen thân? Thì ra không điều gì lọt khỏi mắt cha tôi. - Nguyễn Cẩn là người ra sao?. - Anh ta rất giỏi y đạo
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:18:39 pm » |
|
Sao lại nói chuyện y đạo ở đây. Cha đã sai nhiều người tâm phúc tìm hiểu anh ta. Bây giờ cha mới hỏi con, ý cha muốn hỏi về cái tâm thuật con người.
- Thì con đang nói về điều đó. Nếu một con người biết y đạo. Xét y đạo sẽ biết được người.
- Ai dậy con vậy?
- Con nghĩ vậy. Một người giỏi nho học chưa chắc đã giỏi y đạo. Nhưng một người giỏi y đạo chắc chắn phải tinh thông nho học.
- Sao vậy? - Cha tôi gật gù.
- Bởi vậy đạo dính líu đến phần tinh tuý nhất của đạo nó dính đến phần hồn của đạo.
- Vậy theo ý con y đạo của Nguyễn Cẩn là gì?
- Đó là bá y chứ không phải vương y. Chắc Nguyễn Cẩn chịu ảnh hưởng cua ông lang Điền. Anh ta chuyên chú vào sức mạnh, vào sự lanh lẹ quyết đoán.
- Sao nữa?
- Anh ta sùng bái cha. Nguyễn Cẩn không tự nói với con điều đó, nhưng con biết. Một thày đồ chép thuê sách cho biết Nguyễn Cẩn đã thuê ông sao chép quyển Minh Đạo của cha.
- Ra thế.
- Nguyễn Cẩn có một nhược điểm. Anh ta thích sự thái quá.
- Sao? Thái quá ư? - Cha tôi bỗng cười to và gật gù vỗ vai tôi - Con tinh đời đấy. Nói thực, cha chưa thấy một con người nào lại say mê tư tưởng của cha đến thế. Anh ta trẻ, có học vấn, lại là con người sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn. Hiếm đấy? Tuy nhiên, cha vẫn còn cần suy nghĩ.
- Vậy là cha đã gặp Nguyễn Cẩn?
- Cha đã nói chuyện một buổi với Cẩn.
- Con thấy cha có cảm tình với anh ta.
- Cha đã nói rồi. Vẫn còn cần suy nghĩ. Này, lúc nãy con nhận xét Cẩn thế nào nhỉ? à... phải rồi, thái quá. Cha nhớ trong lúc truyện trò, Cẩn đã bộc lộ riêng với cha một điều, cái điều mà nói với cha, anh ta còn phải đắn đo mãi... Đúng thế? Cẩn nói thế này: “Thưa thái sư con, hằng đêm, những lúc vắng vẻ, thường nghe được một tiếng nới của ai đó vang lên trong đầu...”.
- Có tiếng nói trong đầu? - Anh ta mắc bệnh mất rồi.
- Không cứ! Có người suy nghĩ thái quá cũng sinh ra như thế.
- Cha có hỏi tiếng nói của ai không?
- Có? Cẩn bảo: “không rõ, có thể là tiếng nói của Phật, của Trời, nhưng điều chắc chắn đó là tiếng nói của một đấng linh thiêng nào đó.
- Tiếng nói ấy nói gì?
- Tiếng nói đó bảo Cẩn phải phù tá cho cha, phải hết lòng xả thân vì nghĩa của cha. Tiếng nói ấy bảo dù có phải nhẩy vào lửa, dù có phải chết, Cẩn cũng phải hết lòng phò tá cha.
Tôi ngẫm nghĩ:
- Cha có tin lời Cẩn không?
- Cha tin có rất nhiều người như thế. Những người thái quá như vậy rất cần cho sự nghiệp trọng đại. Tuy nhiên, cha đã nói rồi, còn cần phải suy nghĩ.
Trong khi cha tôi còn đang suy nghĩ, đột nhiên, Nguyễn Cẩn lăn vào ăn chơi như một kẻ cuồng. Người ta nói Cần có hai cô nàng hầu rất đẹp dấu kín ở một ngôi nhà vườn xinh đẹp nào đó... Người ta nói nhiều lần Cẩn thâu đêm đàn ca rượu chè trong những kỹ viện sang trọng của Thăng Long. Người ta kể có khi mấy ngày liền Cẩn bơi thuyền uống rượu với mấy ả kỹ nữ trên hồ Tây. Say sưa đến mức ngủ mê mệt hai ngày đêm mới tỉnh...
Rồi nửa năm sau, cũng một cách đột ngột như thế, Nguyễn Cẩn biến mất khỏi những chốn ăn chơi. Cứ như thể có phép lạ! Đang là kẻ ăn chơi, bỗng nhiên Cẩn trở thành kẻ chững chạc, ít nói hẳn đi, ai nói đến chuyện chơi bời trước kia, chỉ mỉm cười.
Cùng với sự thay đổi bề ngoài ấy, Cẩn bỗng nhiên được cha tôi xử dụng như một người tin cẩn. ít lâu sau, Cẩn được phong nội tẩm học sinh, người tin cậy nhất của cha tôi. Tôi hỏi cha:
- Cha đã suy nghĩ xong rồi ư? Cha đã hiểu kỹ về Cẩn rồi ư? Những biểu hiện ăn chơi vừa qua của Cẩn là gì? Cẩn có trung thành tuyệt đối với cha không?
Tất cả những câu hỏi ấy, cha tôi chỉ trả lời bằng một nụ cười bí hiểm:
- Cha đã hiểu rất rõ về Nguyễn Cẩn. Có lẽ đối với cha, chẳng có ai trung thành tuyệt đối được như Cẩn. Cha đã suy nghĩ kỹ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:29:17 pm » |
|
Phần II - Chương 3 Trong khi diễn ra hội thề Đồng Cổ, tôi được cha phái đi công cán ở Thanh Đô trấn. Khi trở về đúng vào lúc tan hội. Ngay đêm ấy, tôi vào phủ thái sư để bẩm với cha công việc. Lúc đó, tất cả đều vắng nhà, hình như mọi người đi ăn tiệc ở đâu đó. Tôi vào thư phòng nơi làm việc của cha. Đó là một căn phòng rộng, với đồ đạc bày biện thoáng và giản dị. Một cái sập đặt chính gian giữa, trên đặt một cái kỷ, trên kỷ có ngọn bạch lạp dài đang cháy, bên cạnh là một cuốn sách, ở đầu gian phòng là một tủ sách; phía đầu đối diện trong bóng tối chập chờn là một chiếc ghế dài có đệm dùng làm chỗ ngả lưng khi làm việc mệt. Tôi lại gần chiếc đôn ngọc bích độc nhất để đối diện chiếc sập gụ, và nhìn lên bức tường đằng sau chiếc sập, nơi đó cha tôi vẫn treo một bức tranh do chính tay tôi vẽ. Đó là bức vẽ Núi Yên Tử, ngọn núi cao nằm gần biển đông. Núi cao ngàn trượng có mây trắng vờn quanh sau lưng là trùng trùng điệp điệp những ngọn núi nhấp nhô như muôn vàn con voi đang quỳ phục; dưới chân núi một ông lão chống gậy đi trong rừng tùng mắt nhìn chóp núi nơi có đám mây trắng chờn vờn như một chiếc lọng che, hoặc cũng có thể như một con rồng đang nằm im trong tư thế chuẩn bị bay vút lên không. Cha tôi hỏi: - Ông lão đang mải miết đi đâu vậy? - Chắc ông cụ nghĩ tới đám mây. - Ai vậy? - Đức Trần Nhân Tôn. - Một ông vua lớn nhất của Đại Việt. Ngay cả bốn câu thơ chữ nôm tôi đề ở góc bên trái cha tôi cũng thích: Hồ am trương tán lục Suối trúc phím đàn tranh Ngự sử mai hai hàng chầu rắp Trượng phu tùng mấy chặng phò quanh - Hay! Hay tuyệt! Thơ quốc ngữ mà làm như thế thì hay tuyệt. - Dạ, đó không phải thơ của con. - Của ai vậy? - Bẩm của thiền sư Huyền Quang, Trúc Lâm đệ tam tổ - A, ta nhớ ra rồi. Bốn câu này rút trong bài phú Nôm “Vịnh Yên Tử” Cha tôi bỗng thở dài - Cha rất tiếc phải ra lệnh bắt những ông sư trẻ hồi tục. Nhưng biết làm sao! Phải như thế thôi. Trốn việc quan đi ở chùa. Điều đó làm cho nước ta suy yếu. - Rồi cha bỗng cười giòn - Ta không thích đạo Phật, nhưng ta thích những người như sư Huyền Quang. Và nhất là ta thích bức tranh con vẽ. Nó đẹp lắm. Nó khoáng đạt, tả được cái hùng vĩ của núi sông. Thấy cha tôi ưng, tôi liền đem bức tranh dâng người. Cha tôi quý bức tranh lắm, đem nó treo ngay trên tường sau lưng cái sập, nơi người thường ngồi làm việc để được luôn nhìn thấy nó. Bảo rằng, được nhìn nó sau mỗi lúc làm việc mệt nhọc, bỗng thấy lòng như dịu đi, thấy sự thư thái sảng khoái mau trở lại. Tôi rất ngạc nhiên, vì hiện nay trên mảng tường ấy, không thấy bức tranh Yên Tử mà lại treo một bức màn che bằng vóc hồng. Tôi vội đi vòng quanh sập đến nơi, kéo bức màn che ra; tôi bỗng à lên và chợt hiểu. Thì ra ở chỗ bức tranh cũ của tôi, hiện nay là bốn bức tứ bình vẽ bốn người hiền thần đời xưa. Thứ nhất là tranh Chu Công thời Chu Thành Vương; thứ nhì là đại tư mã Hoắc Quang giúp Hán Chiêu đế, thứ ba là vạn đại quân sư Gia Cát Lượng phò tá Lưu Triệu khi Lưu Bị chết; thứ tư là Thái uý Tô Hiến Thành giúp Lý Long Cán tức Lý Cao Tông. Tất cả bốn ông đều là tể tướng nắm tất cả quyền thiên hạ trong tay, trong khi bốn ông vua được phò tá đều là ấu chúa. Họ đều giữ yên xã tắc, không lạm quyền, cho đến khi các ông vua trẻ thơ đủ. tuổi lớn khôn để giữ việc triều chính. Tôi tự hỏi: Ai đã vẽ những bức hoạ này? Ai đã cho cha tôi những bức tranh này? Tôi nhìn kỹ những bức vẽ. Nét vẽ thật già dặn. Bốn khuôn mặt thông minh và hiền hậu. Sự kiên quyết, cương trực của bốn gương mặt biểu hiện ở bốn đôi mắt thảy dấu sắc sảo. Đôi mắt Chu Công Đán là đôi mắt của nhà hiền triết hóm hỉnh nhìn tôi như muốn xoáy vào tim óc. Đôi mắt của đại tư mã Hoắc Quang thì xếch lên hơi có chút tàn ác. Đôi mắt Khổng Minh thì thông minh, ở mỗi mắt có hai chấm sáng. Đôi mắt của Tô Hiến Thành lại quắc lên như một người cố sức, nó phảng phất nỗi u buồn của một người biết thời đã tận mà vẫn phải gắng công. Tôi đang nhìn vào mắt cụ Tô Hiến Thành bỗng chợt phát hiện ra điều lạ: ba đôi mắt kia hình như cũng đều tập trung vào tôi. Tôi ngạc nhiên nhìn vào bức vẽ thứ nhất của Chu Công Đán ở phía đầu bên kia hàng tranh, lập tức ba đôi mắt kia cũng đổi hướng nhìn theo mắt tôi. Những đôi mắt bỗng làm tôi xao xuyến, tôi vội vàng lùi vào bóng tối nơi đặt chiếc ghế có đệm. Những đôi mắt kỳ dị. Hay là ta mệt mỏi. ừ, có lẽ ta mệt mỏi. Tôi ngả lưng trên chiếc ghế dài vừa ngẫm nghĩ, vừa chờ đợi. Có thể tôi đã rong ruổi mấy hôm liền, vì thiếu ngủ nên tôi rơi ngay vào mơ màng. Tôi thiếp đi không biết bao lâu, chợt thức giấc bởi tiếng của cha tôi. Tôi định ngồi nhỏm dậy lại chợt nghe thấy một tiếng nói khác. Tôi vội vàng nhắm mắt lại. Đó là tiếng nói của Hán Thương em trai tôi. Người ta thường bảo tôi ghét Hán Thương. Tôi cố bào chữa, hai anh em tính khí trái ngược nhau, nhưng rồi tôi tự soát xét lại mình, tôi thấy không nên giả dối, tận thâm tâm, đúng là tôi thấy ghét Hán Thương thật. Mà làm sao không ghét hắn được cơ chứ. Thằng em tôi luôn luôn hãnh diện vì nó có mẹ là bà công chúa Huy Ninh; còn tôi mẹ tôi chỉ là dòng dõi một ông lang. Tôi nhớ rất rõ, lúc chưa sinh nó, bà công chúa rất yêu thương tôi. Bà công chúa là một người đàn bà đẹp, dịu dàng, lại có học. Bà mảnh mai, cái thân hình mảnh mai ấy lại chứa đựng một tâm hồn cực kỳ cao thượng. Có lẽ bà thương thân phận côi cút của tôi, nên khi chưa có con trai, bà đã trút hết tình thương vào tôi. Khi còn rất nhỏ, tôi luôn cảm giác rằng ở bà luôn thường trực một nỗi sợ sệt, một nỗi khắc khoải nào đó (điều này mãi đến khi lớn khôn tôi mới hiểu rõ). Tôi cũng là một đứa trẻ e dè sợ sệt. Cũng vì thế nên bà hợp với tôi. Tôi đã coi bà như mẹ đẻ. Chính bà là người thầy học đầu tiên của tôi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:29:47 pm » |
|
Những ngày bà sinh em Thánh Ngẫu (chị Hán Thương), tôi đã được hưởng một thời gian tràn trề hạnh phúc. Ba mẹ con tôi: bà Huy Ninh, em Thánh Ngẫu, và tôi, suốt ngày chỉ biết tiếng cười. Ba năm sau, khi Hán Thương ra đời, lúc bấy giờ gia đình tôi mới biết đến tiếng khóc. Hán Thương khóc khỏe lắm, nó khóc suốt ngày, suốt đêm. Chậm ăn: khóc. Chậm ỉa: khóc. Chậm chiều ý nó: khóc. Không bằng lòng: khóc. Đông người quá: khóc. Vắng người quá: khóc. Suốt ngày phải có người bế ẵm, cũng không xong. Nó đòi bà Huy Ninh phải ẵm nó. Từ bé nó đã có ý thức: bà Huy Ninh là mẹ riêng của nó. Nó không cho bà bế em Thanh Ngẫu. Nhất là tôi, nó luôn đẩy tôi ra khi tôi sán đến gần bà. Tôi chỉ có quyền đứng xa xa để đón nhận những ánh mắt thương cảm của bà. Càng lớn lên, cái ý thức chiếm hữu riêng người mẹ của nó càng ghê gớm; cứ thoáng trông thấy mặt tôi xuất hiện gần bà Huy Ninh là nó đuổi: Cút? cút đi? Đến nỗi, cuối cùng, cha tôi phải đưa tôi sang ở với ông ngoại. Sự hận thù giữa anh em tôi bắt đầu là như vậy. Lớn lên, được học hành được giáo dục, lẽ dĩ nhiên anh em chúng tôi phải đối xử với nhau xứng với địa vị xã hội cao quý của mình; nghĩa là chúng tôi giữ lễ với nhau, ngọt ngào với nhau, bề ngoài thương mến nhau, nhưng thực ra nỗi hận thù từ thuở ấu thơ vẫn như cục đá tảng, vẫn sừng sững còn đó; chẳng teo nhỏ đi, mà lại càng tấy lên như cục u quý tộc.
Tôi nằm im, lắng tai để nghe cho rõ cuộc đối thoại giữa em tôi và cha tôi. Chắc là cha tôi đang ngồi vắt chân trên cái sập, còn em tôi đứng trước mặt người. Có lẽ cha tôi đã ngồi đấy mơ màng và chờ đợi từ lâu rồi và bỗng choàng tỉnh dậy vì chợt nhận thấy cái bóng người đang đứng xa xa trước mặt người.
- Nguyễn Cẩn đấy ư? Lại đây!
- Thưa cha, con chứ không phải là Cẩn...
- Hán Thương! Con vẫn còn thức sao?
- Con ngủ sao được, khi cha vẫn thâu đêm ngồi bên ngọn bạch lạp. Con ngủ sao được, khi cha vẫn phải từng giờ, từng khắc... chờ đợi.
Giọng cha tôi có vẻ chú ý
- Ta chờ đợi ư? Con cũng biết ta chờ đợi ư? Chờ đợi cái gì?
Dạ thưa cha... Đại sự! Đại sự!
- Đại sự là cái gì?
Hình như cha tôi đã đứng dậy và nhìn vào mắt thằng em trai tôi, một cậu thiếu niên.
- Con xin chúc mừng cha... Đại sự? Đại sự!
- à, à... Cậu con trai tôi hoá ra không còn bé nữa nhỉ?
- Con đã mười sáu tuổi.
- Những mười sáu tuổi cơ à... Con có hiểu nói thế là rất liều lĩnh không? Con có biết lời nói ấy có thể đưa cha con ta, đưa gia đình ta, và nhiều gia đình khác tắm trong máu đỏ?
- Con xin lạy cha tôn kính! Cha còn dấu con làm gì.
- Đại sự! Đại sự sắp đến rồi. Con cũng như cha, ngày đêm con chờ đợi. Và cả đất nước này, người ta chẳng nói ra miệng, nhưng ai ai cũng ngày đêm chờ đợi.
- Có thật thế không nhỉ?.
- Cha là người quân tử đi trước thiên hạ sự.
Tôi nghe tiếng cha tôi cười khục khục trong cổ họng. Tiếng cười ấy như khuyến khích thang em tôi mạnh dạn hơn.
- Cha biết không, đã hàng tháng nay đêm nào con cũng thức, thức để nghe tiếng chân cha gõ bước, thức để chờ đợi, thức để canh phòng cho cha. Cha tưởng rằng con còn thơ trẻ lắm sao, con ngu ngốc lắm sao. Thưa cha, con lo lắng cho cha mỗi khi cha ủ dột; con hoảng hốt mỗi khi bước chân ban đêm của cha bồn chồn gõ nhịp. Cha ăn không ngon, con nuốt cũng chẳng trôi; nhưng mỗi khi mặt cha tươi vui là lòng con lại nhộn nhịp. Con hiểu rằng như vậy là Đại sự đang nhích lại gần. Con khâm phục cha! Con sùng kính cha. Cha thân mật mà tài giỏi? Cha kiêu ngạo mà giản dị! Cha cứng rắn mà dịu dàng. Xin cho con được theo bước chân cha. Xin được gánh vác một chút nhỏ công việc của cha. Dù phải chết con cũng cam lòng.
Cha tôi bỗng cười to:
- Thì ra lâu nay con vẫn dò xét cha từng bước. Đúng. Có nhiều đêm ta cứ bỗng dưng giật mình. Cứ tưởng như có con mắt nào đó đương nhìn vào tận đáy lòng cha. Cứ tưởng như có ai đó đường dò bước bên cha, ngay trong nhà của cha. Cha bực tức, cho thám tử đi dò xét sục sạo chung quanh, nhưng rút cục chẳng thấy gì. Bây giờ cha mới hiểu, thì hoá ra là con. Ha ha... Hán Thương Con đã lớn thật rồi. Lớn thật rồi? Ha, ha! Cha cứ tưởng trên đời này chẳng ai hiểu nổi được cha. Bọn Nguyễn Cẩn, Nguyễn Đa Phương, Phạm Cự Luận, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Đỗ Tử Mãn... là vây cánh của ta, là tâm phúc của ta... thế mà có kẻ còn phản lại ta... Ta đã phải giết chết Nguyễn Đa Phương. Phương là con đẻ của thầy dạy ta, ta cũng đành phải giết. Giết để rồi lại ưu phiền lo lắng... Con có hiểu không, bởi vì ta vẫn rất cần tin người và cần người tin ta... Con có hiểu không... Bởi thế nên ta trằn trọc, ta âu lo. Ta cần, ta muốn, ta thèm được có người hiểu ta. Vây cánh của ta, họ có hiểu ta không? Có lẽ họ mới chỉ hiểu ta ở bề ngoài. Nhưng còn con, liệu con có hiểu được đến thâm tâm của cha không?
- Cha như một con rồng nằm ngủ.
- Ha ha... Cậu con trai của ta... Vậy là cha hiểu con thích loài rồng. Nhưng rồng là - một con vật chưa ai nhìn thấy. Ai cũng sợ rồng, nhưng vì chưa bao giờ nhìn thấy nên thực ra chẳng ai sợ rồng cả.
- Dạ thưa cha: Thực thực hư hư đó là con rồng, bởi vì trong con rồng có hàm chứa con rắn. Mà con rắn thì vừa độc vừa hiểm.
- Vậy tiềm long tức là tiềm xà. Tiềm xà thì đáng sợ thật. Ta hiểu con rồi... Vậy là con thích con rồng; còn anh trai con, con có biết Nguyên Trừng thích gì không?
Thấy hai người bàn đến tôi, tôi vội chăm chú lắng nghe để không sót một lời. Hán Thương suy nghĩ một lát rồi nói:
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:30:10 pm » |
|
- Con không hiểu anh Trừng thích gì nhưng con hay bắt gặp anh hát:
Phượng hoàng hề Phượng hoàng hề bay vút trời cao. Người xưa, mây cũ nay ở nơi nao Chỉ thấy nơi đây lâu đài tàn tạ Chỉ thấy bầu trời vắng trăng sao Phượng hoàng hề Phượng hoàng hề người nơi nao.
à! Đó là bài ca phượng hoàng mà tôi đã phóng tác từ một bài thơ Đường trong một bữa say rượu. Tôi đã phổ nhạc và nghe đâu một số kỹ nữ Thăng Long đã đem ra hát ở những kỹ viện.
Tôi lắng nghe nhưng cha tôi chỉ im lặng, và em tôi cũng im lặng. Tôi nghe thấy em tôi cáo lui về phòng nghỉ. Cuộc nói chuyện sôi nổi ấy kết thúc thật chưng hửng. Lúc này, chỉ còn nghe thấy bước chân cha tôi đi đi, lại lại, rồi dừng bước rồi lại bước đi. Những bước chân làm thức dậy trong lòng con người bao nhiêu suy nghĩ, liên tưởng. Một tính toán? Chờ đợi? Lo lắng? Âm mưu? Hay là nỗi phiền muộn?
Có tiếng chân lạ lại gần. Té ra là chờ đợi. Tiếng cha tôi cất lên trước: “Cẩn đấy ư?” Hoá ra từ chập tối đến giờ cha tôi vẫn chờ Nguyễn Cẩn.
Câu hỏi đầu tiên của cha tôi:
- Tình hình đức thượng hoàng Nghệ Tôn ra sao?
- Thưa đức ông. Bệnh tình thượng hoàng vẫn không thuyên giảm. Người vẫn chẳng ăn uống gì. Đức vua Thuận Tôn ép mãi ngài cũng chỉ húp được ba thìa cháo sâm.
Tôi lắng tai nghe và suy nghĩ: “Hoá ra đêm nay cha ta chờ đợi vì tình hình đã đến phút cao trào. Thái thượng hoàng Nghệ Tôn đang hấp hối”
- Buổi chiều nay, sau khi nói chuyện với ta, thượng hoàng còn nói chuyện với ai?
Chập tối, thấy người cho gọi thượng tướng Trần Khát Chân tới. Sau đó đến Thái bảo Nguyên Hàng. Sau nữa là hai ông Nguyên Uyên, Nguyên Dận.
- Thái độ họ ra sao?
- Người của ta trong phủ thượng tướng nói rằng: Trần Khát Chân ở cung Thượng hoàng về vẫn thắp đèn đi chăm sóc mấy dò quế lan hương đang ra hoa.
- Còn Nguyên Hàng?
- Quan Thái bảo uống rượu suông, ngồi bên dèn thở dài.
- Họ không tụ họp với nhau.
- Chỉ có Nguyên Uyên đến nhà Nguyên Dận. Hai người thì thầm bàn chuyện. Đám tôi tớ chẳng biết họ nói gì. Bởi vì họ đuổi gia nhân ra khỏi nhà khách. Có lẽ đến giờ này họ cũng vẫn đang uống rượu.
- Còn điều gì nữa không?
- Bẩm đức ông, còn một điểm quan trọng nữa là trước khi Trần Khát Chân đến, thượng hoàng còn cho gọi Sử Văn Hoa đến bói dịch.
- Lại cái tên bẻm mép Sử Văn Hoa!
- Thượng hoàng nói:
“Quãng này chỉ có hầu mõm đỏ
Đang lăm le lên lầu gà trắng”
Khanh thử gieo quẻ bói xem có phải con gà trắng này đã đến lúc mệnh tuyệt rồi; và con hầu mõm đỏ đang bước lên lầu?
- Sử trả lời ra sao?
- Ông ta nói: “Tâu thượng hoàng, những bốc sư tài giỏi có thể đoán ngày đoán giờ chính xác; còn hạ thần, tài hèn, chỉ có thể biết được những nét đại cuộc, còn như việc đoán đúng ngày giờ thì...”. Nghệ hoàng thở dài và bảo: “Cho khanh lui”.
Cha tôi im lặng hồi lâu, sau đó bỗng hỏi
- Ngươi đã có tin tức gì về đại công tử chưa?
- Thưa đức ông, công tử Nguyên Trừng chập tối nay đã về tới Thăng Long.
- Ta chưa thấy mặt nó.
- Chập tối, vừa về tới Thăng Long, công tử đã vào quán Đào nương. Quán này mới mở. Nghe nói cô kỹ nữ là người đàn giỏi, hát hay, lại xinh đẹp. Công tử không gập được cô chủ quán, bèn cho tập hợp bọn người hát xẩm, hát thuê ở quanh đó đến mua vui. Xa Thăng Long đã lâu, chắc công từ muốn vui chơi một trận cho thoả trước khi vào gặp đức ông.
Tôi quay lưng lại nên không nhìn được mặt cha tôi, nhưng tôi đoán được nét mặt không vui của người.
Nguyễn Cẩn tiếp:
- Nghe nói công tử uống rất nhiều. Rồi công tử rút kiếm lảo đảo múa điệu “Tửu cuồng”, còn lão Sư Nguyệt đánh đàn và hát
Đại loạn hề, ai say đại loạn Đại loạn hề, chén rượu bên môi Hãy vui đi hề, bất quá một tiếng cười! Để giai nhân chảy dài nước mắt Đêm qua ta khóc, Ta bưng cái đầu lâu máu tràn khuôn mặt
- Ai đã làm bài hát đó?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:31:32 pm » |
|
Bài Tửu cuồng do chính công tử đặt ra
- Thật là nhảm Thật là nhảm
Im lặng. Tôi nghe bước chân cha tôi đi đi lại lại. Một hồi lâu im lặng. Tôi nghe thấy bước chân Nguyễn Cẩn rón rén lui khỏi phòng. Rồi tiếng cửa khép lại. Không thấy tiếng chân bước nữa; chắc rằng cha đã ngồi bên kỷ. Tôi sẽ sàng quay lại, hé mở con mắt. Cha tôi đang ngồi vắt chân chữ ngũ, một tay đặt trên kỷ, một tay chống cằm, đầu rũ xuống. Ngọn bạch lạp lung linh làm cái bóng mờ của cha tôi trên tường di chuyển trong khi cái bóng thật của cha tôi ngồi im bất động.
Một con người quyền uy như cha mà lúc này như thế đấy Tôi chợt thấy dâng lên một niềm thương. Tôi nhỏm dậy, rất nhẹ nhàng, se sẽ bước đến đứng trước mặt người. Tôi nói nhỏ:
- Thưa cha...
Cha tôi ngẩng lên:
- Con đã dậy rồi sao?
- Cha đã biết con nằm ngủ ở đây?
- Cha biết... Cha tôi ngừng lại lúc lâu - Cha biết ngay khi bước chân vào phòng này. Con có hiểu tại sao cha biết không? Chắc con không hiểu... Khi mới bước vào đây, linh tính như mách cha có điều khác lạ. Chẳng hiểu đó là cái gì nhưng cha cảm thấy nó. Căn phòng này chỉ có mình cha ở. Không ai được vào đây, trừ các con và Nguyễn Cẩn. Ai vào rồi ra, cha mở cửa phòng cho hơi lạ bay hết đi, rồi mới đóng cửa lại. Ta không nên để mùi lạ ở bên mình, nó sẽ làm loãng ta đi, và linh giác sẽ kém mẫn cảm... à, ta đã đi xa câu chuyện... ừ, ta vào đây, ta thấy khác lạ. Ta đưa mắt nhìn và ta đã phát hiện ra những bức tranh trên tường, những bức tranh mà ta đã che kín lại, những bức tranh đã chiếm chỗ bức Yên Tử Sơn con vẽ, mà cha rất thích - Cha tôi có vẻ bực tức - Cha không muốn nhìn những bức tranh tứ phụ này.
- Thưa cha, con đã đắc tội với cha.
Cha tôi nói tiếp bằng cái giọng trầm trầm:
- Cha không thích bốn bức tứ phụ này nên đã che kín nó lại. Vậy ai mở nó ra? Nguyễn Cẩn chắc không bao giờ dám vào đây khi cha vắng mặt. Hán Thương ư? Nó là người không bao giờ chú ý đến tranh vẽ. Vậy chắc là con. Cha đoán con đã ở Thanh về. Và cha đã thấy con đang nằm ngủ.
- Sao cha không đánh thức con đậy? Từ xưa, cha đã bảo con không bao giờ cha muốn có hai người có mặt cùng một lúc trong phòng cơ mật.
- Đúng vậy? Việc cơ mật bao giờ cũng chỉ được nói giữa hai người. Không bao giờ được phép để một người thứ ba trực tiếp chứng kiến. Đó là phép tắc của cha. Nhưng trường hợp này, cha cố ý cho con được nghe.
- Thưa cha, con không hiểu.
- Không hiểu ư? Ừ, hay thật? Ai ai cũng biết, nhưng ai ai cũng nói rằng không biết. Lúc nãy, Hán Thương nói đêm đêm vẫn nằm nghe thấy cha thâu đêm dạo bước trong phòng này; còn Nguyễn Cẩn thì suốt buổi tối sai thám tử đi dò xét cho cha biết tin về sự động tĩnh của các đại thần... Lần này, chính tai con đã nghe thấy những điều đó... chứ không phải như tiếng xì xào trong triều đình rằng cha sắp cướp ngôi. Con có biết không? Đó là cái thuật của cha đấy. Cha nghĩ làm mọi chuyện cho người ta nghĩ là cha sắp thoán ngôi, nhưng không ai được phép nói cha sắp thoán ngôi. Tình hình coi như sắp có bão, nhưng không được phép nói ra. Làm thế để cho phe đối lập của cha phải căng đầu óc và bộc lộ thái độ. Ai nói lên, hãy coi chừng... Làm thế cũng để lung lạc tinh thần những kẻ lừng chừng chưa muốn theo cha. Sự căng thẳng làm họ run sợ và họ sẽ im lặng. Từ sự im lặng đến sự ngoan ngoãn theo cha, chỉ là một bước ngắn.
Cha tôi im lặng nhìn tôi, đôi mắt người sáng quắc bỗng dịu lại:
- Nhưng với con lại khác. Đêm nay cha để cho con được ngồi ở đây bởi vì... bởi vì cha muốn con... cha muốn thành thực với con... cha muốn con...
Tôi thấy ánh mắt của cha đang nhìn tôi như cầu khẩn... và tôi chợt nhận ra nỗi cô đơn khủng khiếp của người... bảo là nỗi cô đơn của kẻ thoán nghịch cũng được bảo là nỗi cô đơn của kẻ làm một việc lớn cũng được
Cha tôi đã đứng dậy, người đi đi lại lại và nói:
- Không hiểu sao cha lại nghĩ rằng cha chỉ có thể thổ lộ diều này ra được với con thôi. Này, Trừng! con nghĩ thế nào?...
- Bao giờ con cũng là con của cha.
Cha tôi bỗng chỉ tay vào những bức tranh tứ phụ:
- Con thấy những bức tranh đó ra sao?
- Thưa cha, người thợ vẽ là hoạ sĩ có tài. Những bức tranh có thần.
Đúng người hoạ sĩ có tài. Ta sẽ sai tìm cho ra anh ta. Nhưng cha muốn hỏi con điểm khác cơ. Con có thấy chúng ngớ ngẩn không?
Tôi ngẫm nghĩ rồi trả lời:
- Muốn hiểu ý nghĩa của chúng, phải biết ai là người đã tặng cha.
Cha tôi gật gù:
- Đúng thế! Con biết không, chính ông vua già Trần Nghệ Tôn đã gọi cha đến ngày hôm qua và ban cho cha. Sau ngày hội thề, ông ta ốm.
- Bây giờ con đã hiểu tại sao cha không thích những bức tranh này. Con hiểu cái chí của cha. Cha muốn một cuộc đổi đời, một cuộc đảo lộn trời long đất lở ở xứ sở này. Bởi vậy, cha không thể như bốn vị tứ phụ này, đem thân phò tá bốn ông vua trẻ thơ. Trung thành như Chu Công Khuông phò Chu Võ Vương có thể còn được; chứ đến như Khổng Minh phò Lưu Triệu, Tô Hiến Thành phò Lý Cao Tôn là hai ông vua trẻ con ngu độn, trong lúc triều chính mục ruỗng, thật là ngu trung. Nghệ Hoàng không hiểu cha, không hiểu thời thế...
- Con nói đúng - Mặt cha tôi rạng rỡ - Phải nói, ông ta thật đáng thương... Nhưng biết làm sao được... Ông ta khóc, nắm tay cha và dặn dò hãy khuông phò ấu chúa... rằng nếu xét thấy ấu chúa tối tăm ngu dốt, lúc đó cứ việc nắm lấy ngôi vua... Ôi! Thật nực cười. Việc thịnh suy của cả một đất nước lại giải quyết bằng một sự mủi lòng như vậy sao?... Ông ta làm cha vừa thương, vừa bực bội, vừa khó nói... Cha không muốn nói dối một người sắp chết, nhưng cuối cùng cha đã phải nói dối. Ôi! thật bực bội, ông ta ngớ ngẩn và cũng đẩy cha vào chỗ ngớ ngẩn. Này, nếu cha rơi vào địa vị ông ta, cha sẽ cắn răng lại, lạnh lùng mà chết. Hừ! Lại còn hai chữ thoán nghịch nữa chứ. Đâu đâu người ta cũng xì xào hai chữ đó. Cứ như thể một con ngáo ộp, một vị hung thần để bó tay ta lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên

Bài viết: 305
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 01:32:50 pm » |
|
Thưa cha, con nghĩ đó không phải điều đáng sợ. Nhà Trần đã mục ruỗng. Giặc giã loạn lạc tứ tung. Dân đói khổ. Ai cũng muốn nổi loạn nhưng chẳng ai dám nói. Bọn tôn thất, bọn quan lại cũng đã dự cảm thấy ngày tận cùng của triều Trần, nên chúng tranh thủ vơ vét. Vậy đấy sự đổi đời là điều không thể tránh khỏi. Vả lại, việc thoán nghịch vốn lẽ tự nhiên. Chính nhà Trần lên ngôi vua cũng nhờ vào việc thoán nghịch. Nhà Trần cướp ngôi nhà Lý, máu phải chảy thành sông... Có sao đâu. Sau đó, oán đã thành ân. Con nghĩ đó mới là điều ta đáng suy nghĩ và lo lắng. Cha tôi im lặng, hình như ánh mắt ông mỉm cười và khuyến khích tôi nói. - Con nói lo lắng vì nhà Trần đã tạo được cái ơn sâu dầy cho Đại Việt. Qua bốn đời Trần Thái Tôn, Trần Thánh Tôn, Trần Nhân Tôn, Trần Anh Tôn, nước Đại Việt đã hạnh phúc, đã cường thịnh chưa từng thấy. Hơn một trăm năm văn hiến mở mang, người hiền tài đông đúc, ba lần thắng giặc Nguyên, biên cương mở rộng, thóc gạo ê hề, nơi thôn cùng ngõ hẻm cũng vang tiếng hát... Hơn một trăm năm Đại Việt hùng cường, thật là ơn sâu nghĩa dầy. Nhà Trần hiện nay đã thối ruỗng, đáng lật đổ. Và cha là người duy nhất hiện nay có thể lật đổ nhà Trần dễ dàng. Nhưng ơn sâu của nhà Trần với muôn dân thì cha có lật đổ được không? Cha tôi vẫn im lặng. Tôi lại nói tiếp: - Vả lại, còn nhà Minh ở phương Bắc. Chu Nguyên Chương mới dựng triều đại. Thế của họ là thế đầu con nước, cái thế chẻ tre, thế của chàng trai đương sức. Nếu ta chia rẽ, lục đục, nếu ta suy yếu, mà chắc chắn sẽ suy yếu vì tranh giành quyền bính, vì lòng người còn khảng tảng, họ sẽ không tha chúng ta đâu. Cha tôi nắm chặt bàn tay phải và đập xuống cái kỷ: - Thế nếu để nguyên trạng như hiện nay, Đại Việt ta có suy yếu không? Nếu nhà Trần thối ruỗng như hiện nay, mà nhà Trần tồn tại, so với một triều đại mới được dựng lên, được quét sạch lũ tham quan ô lại, được tổ chức cứng rắn, được hết lời bàn ra tán vào, thì hỏi hai triều đại ấy bên nào tốt hơn, mạnh hơn? Thôi, câu chuyện nên dừng ở đây. Dù sao, cha cũng thấy con là người mà cha mong muốn, tin cậy. Tôi đã nhận được một lời khen hiếm thấy ở miệng cha. Tiếp sau đó, tôi trình bày cho cha nghe về việc điều tra tình hình ở vùng động An Tôn - Thanh Hoá. Cha tôi định xây một khu thành khổng lồ ở đó. Cha bảo phải lập thêm một kinh đô mới, nơi địa thế hiểm trở, nơi ta có thể dựa lưng vào núi rừng... Tôi đã nghiên cứu nhiều về các kinh đô, lại có chút kiến thức về quân sự, về xây dựng, nhất là về thuật phong thuỷ. Việc này tối mật, chưa ai biết. Tôi đưa ra một phác đồ. Cha tôi xem xong, người rất vui ông nói. - Cha rất hài lòng vì con. Đáng lẽ khi cha tôi không nhắc gì đến chuyện rượu chè của tôi và lại khen tôi nhiều lần như vậy, thì tôi phải vui mới đúng chứ. Thế mà tôi lại không vui. Ra khỏi dinh thự của cha, lòng tôi trĩu một nỗi buồn. Phải chăng nỗi buồn của một thời tao loạn. Tôi chợt nhớ đến Quỳnh Hoa. Phần III - Chương 1
Ông Vua già Nghệ Tôn hoàng đế tên huý là Trần Phủ, con thứ ba của vua Trần Minh Tôn; mẹ đẻ là Lê Thị, cô của Lê Quý Ly. Ông lên ngôi lúc nhà Trần suy thoái; đứng trên danh nghĩa, Trần Thuận Tôn, con trai ông là ông vua áp chót triều Trần; nhưng đứng trên thực tế, chính Trần Nghệ Tôn mới là ông vua cuối cùng, bởi vì ông làm vua chỉ có 3 năm nhưng lại làm Thái thượng hoàng 27 năm. Trong 27 năm ấy, dưới tay Thái thượng hoàng có ba ông vua: Trần Duệ Tôn em trai ông, Trần Phế Đế cháu ông, con trai Duệ Tôn và cuối cùng là Trần Thuận Tôn con trai của chính ông. Như vậy, thực quyền suốt 80 năm ròng cuối triều Trần cho đến khi họ Hồ lên ngôi đều nằm trong tay ông. Nghệ Tôn lên ngôi vua trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Thời kỳ đó vào những năm Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất (tức là 1367 - 1370 theo dương lịch), em trai ông là Trần Dụ Tôn làm vua, nhưng ăn chơi xa xỉ hoang dâm vô độ đến nỗi Chu Văn An phải dâng thất trảm sớ rồi theo ấn từ quan. Nhật Lễ cháu ông lên ngôi. Nhật Lễ là con Cung Túc Vương Trần Dục. Trên danh nghĩa, họ Trần, nhưng thực chất Nhật Lễ họ Dương. Mẹ Nhật Lễ là Dương Thị, một cô đào chèo vừa xinh đẹp vừa hát hay, Dương Thị có biệt hiệu Tây Vương Mẫu bởi vì nàng sắm vai Vương Mẫu trong vở chèo hấp dẫn, nàng có chồng họ Dương cũng là một kép hát tài hoa. Cung Túc Vương đi xem hát, bị nàng Tây Vương Mẫu hút hồn, bèn lấy nàng làm vợ, lúc đó cô đào chèo đã có mang cùng chàng kép hát họ Dương. Khi Nhật Lễ ra đời, trong hoàng tộc đã có lời xì xào, nhưng Cung Túc Vương, vì quá yêu nàng Tây Vương Mẫu, vả lại ngày tháng mang thai mập mờ, nên công nhận Nhật Lễ là con. Kể ra nếu Nhật Lễ đàng hoàng chấp nhận họ Trần và có tài năng trị nước, chắc cũng chẳng có gì xẩy ra. Nhưng nàng Dương Thị lắm tham vọng, người đàn bà ấy tưởng rằng việc làm vua cũng dễ dàng suôn sẻ như trên sân khấu. Làm vua ư? Chẳng qua là việc hưởng thụ và có quyền tối thượng trong tay. Vì vậy, Dương Thị đã khuyên con trai đổi triều đại nhà Trần sang nhà Dương, và thẳng tay đàn áp tôn thất họ Trần. Có lẽ trong lịch sử các vua chúa nước Nam, đó là đoạn bi hài nhất. Dân gian gọi cuộc tiếm ngôi quá đơn giản ấy là loạn phường chèo. Kẻ sĩ âu lo cho số phận non sông thì bảo: Vận nước đã suy nên đẻ ra nhiều chuyên quái gở. Nhật Lễ lên ngôi đã bắt chước ông vua tiền nhiệm Trần Dụ Tôn, cũng hoang dâm vô độ, cũng cờ bạc rượu chè. Thiếu uý Trần Ngô Lang là tay cờ bạc nổi tiếng Thăng Long, đã có lúc cùng vua Trần Dụ Tôn chơi những canh bạc, mà mỗi lần đặt cửa bằng một gia tài của người giầu có. Nhật Lễ, lúc chưa lên ngôi, cũng đi lại sòng bạc của Trần Ngô Lang, nên khi lên ngôi đã dùng Trần Ngô Lang làm người thân tín. Trong thời kỳ đầy biến động ấy, Trần Nghệ Tôn giữ chức vụ hữu tướng quốc, rồi thái sư, tức vị quan văn đầu triều. Điều trớ trêu, đứng về phương diện thế thứ gia tộc, ông đồng thời là chú của Nhật Lễ, vừa là bố vợ Nhật Lễ. Con gái của ông làm hoàng hậu. Lúc đó, trong triều có hai vị quan đứng đầu: tả tướng quốc Nguyên Trác và hữu tướng quốc là ông. Nguyên Trác nghe tin Nhật Lễ định đổi họ Trần thành họ Dương, liền âm mưu cùng những người tôn thất, lẻn vào cung, định giết Nhật Lễ. Việc bại lộ, Nhật Lễ bắt những kẻ âm mưu vào tội chết. Trần Phủ tức Nghệ Tôn hỏi Lê Quý Ly là người thủ túc thân tín: - Tình hình hỗn loạn thế này, ta nên đối phó ra sao? Quý Ly rất bình tĩnh thưa: - Hiện nay, quân lính ở Thăng Long đều ở trong tay Nhật Lễ. Tuy đại vương vừa làm thái sư vừa là quốc trượng, nhưng Nhật Lễ vẫn cho người dò xét. Tuy nhiên Nhật Lễ vẫn chưa ra tay vì đại vương có tiếng nhân từ, là quan văn không thích dụng võ. Nhưng cứ nằm ở Thăng Long, nằm giữa đám quan quân ngả theo Nhật Lễ, khác gì cá nằm trên thớt. Chi bằng, hãy thoát khỏi vòng vây, tìm nơi hẻo lánh tạm ẩn trú. Việc lớn ta tính sau. - Ta nên đi đâu? - Theo kẻ học trò này, ta nên đến Trấn Tam Giang. Từ kinh đô tới đó, đi ngựa mất một ngày đường. Nếu Nhật Lễ biết truy đuổi, thì sau lưng là cả một vùng rừng núi bao la Đà Giang, nếu cần ta cũng có đường vào Trấn Thanh Hoa hoặc đến Châu Hồng, Hải Đông. Đang đêm, Trần Phủ, Quý Ly và một số người tâm phúc lẫn lút trốn đến vùng cửa ngõ sông Đà. Quý Ly bàn với Trần Phủ viết thư cho các quan lại và các vương hầu khắp nơi. Được tin Cung định vương Trần Phủ đang ở Tam Giang, các vương hầu vội vã kéo nhau đến. Lúc đó, Trần Phủ ngoài 40 tuổi, Quý Ly mới ngoài 30 tuổi. Phủ bảo Quý Ly:
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|