Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:22:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồ Quý Ly  (Đọc 65292 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #80 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:34:39 pm »

Nho sĩ giả cúi xuống tìm trong bọc. Trang Định Vương chàm chằm nhìn theo nho sĩ. Thừa lúc Ngạc bất ý không phòng bị phía sau, bọn lính xông ngay tới ôm chặt lấy Ngạc. Người sư trẻ chưa kịp rút gươm đã bị mấy tên lính khác đâm chết ngay. Mấy người hầu tâm phúc của Ngạc cũng bị một toán lính khác từ khe đá xông ra bắt sống. Bọn lính trói Ngạc đem vào nhà tổ. Ngạc hỏi nho sĩ.

- Anh là ai? Ta trông hơi quen.

- Tôi là Nguyễn Cẩn, làm chức quan nội tẩm học sinh.

- Ta nhớ ra rồi. Có phải anh làm trong phủ thái sư - ông thở dài - Thế thì ta hiểu rồi... Hiểu rồi... Ta đã thua chủ của anh.

Nguyễn Cẩn lặng lẽ, chẳng chút lên mặt, ông nói:

- Thua được là lẽ thường. Đại vương đã rõ, cũng dễ dàng đôi phần cho việc của hạ quan.

- Ta hỏi một câu. Cha ta ra lệnh, hay thái sư ra lệnh cho ngươi?

- Đích thân thượng hoàng ra lệnh.

Ngạc mỉm cười:

- Chắc cha ta chỉ ra lệnh dẫn ta về triều thôi chứ gì. Ha ha... Cha ta cũng bị mắc lừa nốt. Nhưng ta chỉ thắc mắc một điều: Sao các ngươi lại đuổi kịp ta nhanh đến thế?

- Chả có gì khó hiểu. Tôi và tướng quản lĩnh quân Ninh Vệ là Nguyễn Nhân Liệt được lệnh đem quân đi bắt đại vương. Chúng tôi tức tốc phi ngựa chạy suốt ngày đêm ra trấn Vân Đồn. Vần Đồn là nơi biên ải trên biển. Nơi đây trọng yếu nên bộ phận Liêm phóng rất đông. Họ đã chú ý đến ngôi chùa Lấm này từ rất lâu. Họ biết các nhà sư ở đây là quân của Phạm Sư Ôn trốn chạy. Sở dĩ chưa bắt họ ngay vì còn phải tìm hiểu những ai ở bên Bắc quốc về đây rồi chui vào đất liền liên lạc với ai...

Nói đến đoạn này, mặc dù Nguyễn Cẩn vốn là người điềm tĩnh cũng không che dấu được sự đắc ý hiện ra trong ánh mắt. Ngạc thở dài:

- Các ông nhầm rồi, hay chính các ông muốn vu cho ta đã liên lạc với nhà Minh. Ta ra đây cốt chỉ lánh nạn... Và muốn chiêu tập những nghĩa sĩ để chống lại chủ của các ngươi thôi.

- Chính đại vương mới lầm. Sự lầm lạc đáng thương! Bởi vì chính ở nơi đây tổ tiên của nhà Trần đã kiên quyết chống giặc, lập chiến công hiển hách. Nhưng nay nhà Trần đã lụi tàn. Các ông chẳng hiểu thiên thời. Chẳng biết tự mình lặng lẽ rút lui, mà lại cố sống cố chết bám víu, cố hết sức dùng quá khứ để bênh vực cho hiện tại, cứ tưởng như một thời mình đã giỏi là sẽ giỏi mãi. Thậm chí, dùng cả thủ đoạn hàng giặc để bám chặt vào ngai vàng. Chỉ có kẻ ngu xuẩn mới không nhận ra chân tướng các ông.

Nói rồi, Nguyễn Cẩn phẩy tay, bỏ xuống bãi biển, để mặc cho bọn lính dùng gậy tre đực đánh vào đầu Ngạc cho đến vỡ ra.

Chính lúc ấy, ở trong cung, vua Thuận Tôn cũng gào to ôm lấy đầu, ngã làn ra đất. Ông vua con lăn lộn và hét lên:

- Đau quá? Đau quá! Như có kẻ nào đang cầm dao đâm vào óc ta.


Phần VII - Chương 4


Những cơn đau đầu khủng khiếp bỗng dưng ập xuống làm Thuận Tôn choáng váng ngất đi. Ông vua già được tin, vội vã đến ngay. Ông ôm lấy con và nức nở:

- Ngung ơi! Hãy tỉnh lại đi! Con đừng làm cho cha sợ!

Quan thái y vội vã tìm hết mọi cách cấp cứu. Khi Thuận Tôn tỉnh lại, cứ khốc nấc lên. Ngung nói với thái thượng hoàng:

- Cha ơi! Con vừa gặp anh Ngạc trong cơn mê. Người anh con đầm đìa những máu. Anh giang tay ra lảo đảo đi về phía con như muốn cầu cứu, đằng sau có một bóng mờ mờ đuổi theo. Miệng anh cứ mấp máy như muốn nói điều gì, song con nghe không rõ. Chẳng biết đã xảy ra chuyện gì với anh ấy...

- Con hãy yên tâm. Thằng Ngạc có tội, nhưng cha chỉ sai Nguyễn Nhân Liệt đi thuyền ra Vạn Ninh bắt buộc phải về triều đình ngay thôi.

- Vậy tại sao anh con lại đầm đìa những máu?

- Con không nên tin vào chuyện mê sảng.

Hai ngày sau, Nhân Liệt đưa xác Trang Định Vương Ngạc về đến Thăng Long. Thuận Tôn biết tin, khóc rống lên, ngất đi, tỉnh lại mấy lần và cứ đòi vào gặp mặt anh trai. Thái thượng hoàng Nghệ Tôn không nghe vì sợ Thuận Tôn vốn yếu đuối. Nghệ Hoàng liền gọi Nhân Liệt đến hỏi tình hình. Liệt nói:

- Trang Định Vương ra đến Vạn Ninh bị quân lính canh giữ Vân Đồn ngăn không cho thuyền đi, định bắt lại xét hỏi. Trang Định Vương Ngạc vốn có thư của Bắc quốc lại có người của địch dẫn đường nên sợ không dám dừng thuyền, cứ dong buồm chạy. Hai bên giao chiến. Trong lúc hỗn loạn, quân lính không biết ông là ai nên lỡ tay đánh chết.

Thuận Tôn chỉ vào mặt Nhân Liệt:

- Ngươi nói láo. Chính ngươi đã giết anh ta. Đúng là ta đã trông thấy ngươi cầm gậy đuổi theo đại vương. Đúng, bóng ngươi mờ mờ, nhưng ta đã nhận ra ngươi.

Nhận ra thủ phạm giết người trong một cơn mê sảng, thật huyền hoặc. Nghệ Hoàng lưỡng lự. nhưng vì thương con nên phải ra lệnh cho bắt Liệt giam vào ngục tối. Nghệ Hoàng tiếp tục cho gọi Nguyễn Cẩn lên hỏi. Cẩn đáp:

- Hạ thần vâng lời thái sư, sau khi Liệt lên đường truy đuổi đã quá nửa ngày, phải cấp tốc ra ngay vùng đảo Thái sư sợ Nhân Liệt sơ suất, để xảy ra chuyện không hay. Không dè thần tới nơi thì chuyện đã xảy ra rồi. Đúng là bọn lính canh tuần đảo không biết nên đã lỡ tay giết chết Trang Định Vương.

Nghệ Hoàng càng bối rối khi Thuận Tôn xin thẳng tay trừng trị tên giết người. Nghệ Tôn định sẽ trao việc tra xét vụ án cho Thái bảo Trần Nguyên Hàng, nhưng sáng hôm ấy lại được tin Liệt sợ quá đã thắt cổ tự tử trong ngục.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #81 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:34:59 pm »

- Sao lại chết nhanh thế? Nó tự tử bằng gì?

Tâu thượng hoàng, tên Liệt đã xé áo làm giây thừng treo lên xà nhà thắt cổ.

Vụ án qua đi. Nhưng hậu quả nó để lại đã làm cho triều đình đau đầu. Thuận Tôn đã mắc chúng điên. Cả ngày, Thuận Tôn chỉ chuyện trò với con vượn trắng của đạo sĩ Bình Than.

- Ngươi có đi với ta không?

Con vượn nhỏ kêu lên những tiếng chút chít. Đi đâu à? Ta lên rừng hay ta xuống biển. ứ, ta chẳng xuống biển đâu. Ở đó có bọn người hung ác. Chúng giết chết anh Ngạc của ta rồi. Chúng mình lên rừng thôi, ở đó có sư phụ, có bậc chân nhân, có suối, có hoa, có quả...

Con vật như hiểu được tiếng người, nó buồn bã giơ bàn tay xinh xắn như bàn tay trẻ nhỏ lên lau giọt nước mắt đương bò lăn trên gò má của ông vua con.

Thái y cho thuốc, suốt ngay chăm sóc, nhưng Thuận Tôn vẫn không ngừng nói lảm nhảm.

Thái sư dẫn cụ lang Phạm ông bố vợ Quý Ly vào thăm bệnh. Cụ lang tâu với thái thượng hoàng:

- Bệnh của đức vua do thất tình xáo trộn. Cần phải chữa bằng sự tĩnh lạng, tránh hết mọi xúc động. bên mình luôn chỉ thấy sự ân cần âu yếm. Thêm vào đó, thần sẽ cho uống những loại thuốc an thần.

Nghệ Hoàng hỏi:

- Chữa chừng bao lâu mới khỏi?

- Thần không thể biết rõ. Chỉ biết rằng phải mất thời gian dài.

Nghệ Hoàng nói với thái sư:

- Trẫm muốn quan gia phải khỏi trong thời gian ngắn.

Nguyễn Cẩn nói:

- Chỉ còn cách nhờ đến cha của hạ quan. Phụ thân hạ thần vốn ưa sự tốc chiến. Y đạo của ông là như vây. Quý Ly đồng ý. Nguyễn Cẩn đưa Nguyễn Điền vào bắt mạch cho Thuận Tôn. Sau đó, gặp thái thượng hoàng. Ông vua già hỏi:

- Có chữa được không?

- Dạ, có thể.

- Có nhanh không?

- Tâu, y châm của thần là tốc chiến tốc thắng. Từ xưa đến giờ, chữa cho ai, năm ngày không chuyển bệnh, thần sẽ thôi ngay.

- Vậy khanh thử chữa. Mười ngày sau phải có kết quả.

Nguyễn Điền vẫn quỳ mọp, chưa chịu đứng dậy.

- Khanh còn có điều gì?

- Dạ muôn tâu... cách chữa của thần... tuy nhiên có điều khác lạ, cần phải tâu trình cho rõ...

- Sao? Khác lạ thế nào? - Nghệ Hoàng nhíu mày.

- Thần sẽ cho uống... thuốc kích dương.

Ông vua già nẩy người lên:

- Sao lại kích dương?

- Dạ quan gia mới ở mức si ngốc, chưa đến mức điên rồ. Cái lý là uất hoả sinh đờm, đờm làm mê tâm khiếu. Phải giải uất. khai khiếu. Khí dương vượng lên và tụ lại. Tuy nhiên, nó chưa đủ mức. Vậy, phải kích cho nó mạnh hơn nữa... để rồi tìm chỗ thoát ra.

Nghệ Hoàng nhíu mày chưa hiểu. Nguyễn Điền ngẫm nghĩ, sau đó giải thích:

- Tâu, quan gia là người có thể tạng mảnh mai... Tuy đã đến tuổi... nhưng người yếu đuối, lại thêm đầu óc thông tuệ, chỉ chăm đọc sách.. Nay thần thúc thuốc cho quan gia mạnh mẽ lên... Dạ... thần trộm nghĩ... bệnh này chỉ lấy tình nhi nữ... mà an ủi, giải toả.

Ông vua già gật gù cười mỉm và hỏi:

- Ngươi có chắc không?

- Dạ, thần dám chắc đến bẩy tám phần. Nhà thần vốn gia truyền chuyên trị những chứng bệnh tương tự như vậy.

Thái giám mật báo chuyện trong cung với quan Thái bảo Trần Nguyên Hàng. Hàng bàn với thượng tướng Khát Chân. Chân bảo:

- Đây là cơ hội tốt và cấp bách. Thứ nhất: Phải cứu hoàng thượng đang mắc bệnh hiểm nghèo. Lý Huệ Tôn khi xưa cũng chỉ vì mắc bệnh điên rồ, nên đã tạo điều kiện thuận tiện cho ngôi vua rơi vào tay nhà Trần ta. Không thể để hoàng thượng cũng điên rồ, Quý Ly lại có thời cơ lợi dụng. Thứ hai: hoàng thượng tuy đã cưới Thánh Ngẫu làm hoàng hậu, nhưng chưa làm lễ hợp cẩn. Nếu lần này ta kiếm được một người con gái đẹp, thông minh, để gần gũi hoàng thượng... Nếu cô ta được sủng ái, thì chả cần làm hoàng hậu, cũng rất có lợi cho đại nghĩa.

Nguyên Hàng chợt sáng mắt lên:

Tôi đã nghĩ ra rồi. - Nói xong Hàng vuốt râu cười. Nguyên ở cung quan triều có cô cung nữ tên là Trần Ngọc Kiểm. hàng ngày làm việc hầu hạ Thuận Tôn. Tuổi đã đôi tám thông minh lanh lợi. Cô rất xinh đẹp, lại là con gái họ Trần. Gia đình nhà Kiểm thuộc chi họ xa. Bố Kiểm chỉ ở hàng lục phẩm, vốn chịu ơn giúp đỡ của Trần Nguyên Hàng. Hàng đưa Thị Kiểm vào hầu vua từ lúc cô mới mười ba, vốn có ý dành cho chuyện dài lâu.

Ngay tối hôm ấy, Hàng cho mời cô Kiểm đến phủ Thái bảo. Ông cung kính vái nàng và nói:

- Họ Trần nhà ta đến lúc này phải nhờ đến tay cháu. Hoàng thượng đang lâm bệnh hiểm nghèo. Cháu phải đem tấm thân ngàn vàng giúp cho hoàng thượng được trở về minh mẫn...
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #82 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:35:54 pm »

Cô Kiểm quỳ xuống vừa khóc, vừa nhận lệnh. Tiếp đó, quan Thái bảo sai một cung nữ già đến dạy cho nàng đủ các ngón nghề chăn gối. Kiểm ù tai, hai bàn tay ôm lấy mặt thẹn thùng. Bà già cau mày mắng:

- Có phải chuyện chơi đâu. Trăng gió đấy mà chẳng hề trăng gió - Bà thở dài rồi nghiêm nét mặt - Cả cơ đồ nhà Trần lúc này đều trông vào cái tài trăng gió của cô đấy

Sau đó, Hàng vội vã vào mật tấu với thượng hoàng. Ông vua già bằng lòng theo kế của quan Thái bảo. Ông lang Nguyễn Điền cắt thuốc cho ông vua con, toàn những vị đại bổ, những vị kích thích sự sống. Thêm vào đó, ông cắt vài lát thân cây leo đỏ quánh, thứ cây thuốc bí truyền của riêng gia đình ông. Điền nói với Nguyễn Cẩn:

- Cái thứ giây leo này đã một lần làm cho nhà ta vinh hiển, con có biết không?

Cẩn đăm chiêu:

- Xin cha nên cẩn trọng. Con nghe các vị thái y xì xào về cách chữa bệnh của cha.

- Ta biết chứ. Lần này thật khó khăn nhưng con hãy tin cha.

- Lần này, thượng hoàng cần vua khỏi bệnh. Thái sư cũng muốn thế... và cả Trần Khát Chân và Nguyên Hàng cũng vậy... Cha biết không... Cả triều đình đều chăm chú nhìn vào công việc của cha.

- Cha cũng biết cả điều đó...

Vì thế, ông Điền ở luôn trong cung, hàng ngày nấu thuốc. Cứ ba canh giờ lại cho vua con uống một lần. Hôm thứ nhất, ông vua con đã chợp mắt ngủ được một giấc. Hôm thứ hai, Thuận Tôn đòi ăn cơm nhưng vẫn nói lầm bầm. Hôm thứ ba, thứ tư, ngài đã nở nụ cười Hôm thứ năm, ngài ngủ được một giấc dài. Đang đêm bỗng mưa rào. ếch nhái kêu lên inh ỏi làm ngài tỉnh giấc, sau đó không tài nào ngủ lại được. Sáng sớm, thái sư vào thăm vua liền hỏi Điền:

- Sao trông thần sắc đức vua hôm nay không được như hôm trước?

- Bẩm, đêm qua mưa, ở hồ sen canh toà thuý đình, ếch nhái đua nhau kêu thâu đêm. Đức vua lúc này rất cần sự yên tĩnh. Mà trời sầm sịt thế này, chắc đêm nay cũng sẽ mưa - ông lang Điền vò đầu, thở dài, lo lắng - Kẻ tiểu dân này chưa biết làm thế nào với lũ ếch nhái.

Thái sư cười:

- Thì ông hãy bịt miệng chúng lại - Quý Ly an ủi - ông cứ yên tâm lo việc thuốc thang cho hoàng thượng. Còn lũ ếch nhái ta sẽ có cách...

Đêm hôm ấy, Thái sư sai Nguyễn Cẩn dẫn một trăm quân cấm vệ đến cung vua. Trời lại mưa to như đêm hôm trước. Ông lang Điền ngồi bên giường bệnh nghe tiếng mưa rả rích, lòng lo lắng, chỉ sợ tiếng lũ ếch nhái lại đột ngột cất lên. Ông vua con được uống thuốc ngủ đã yên giấc nồng. Không một tiếng ếch nhái chẫu chuộc... Chỉ có tiếng mưa rơi như một khúc đàn tí tách, nó làm vơi nhẹ, xoa dịu: nó kéo con người vào một giấc ngủ sâu, an lành, một giấc ngủ mà một tháng nay ông vua con chưa bao giờ gặp. Ông vua con nào đâu có biết, trong lúc ông cuộn tròn trong chăn ấm, thì trăm người lính phải cởi trần đứng giăng khắp ao sen; tay mỗi người lính cầm một chiếc roi tre nhỏ liên tục đập xuống mặt nước, để nhắc nhở loài ếch nhái phải im lặng, để bắt chúng phải lạn xuống đáy ao sâu. Ngâm mình suốt đêm lạnh lũ lính môi thâm sịt, run rẩy. Nhưng sáng hôm ấy vì ngủ được say suốt đêm Thuận Tôn tươi tỉnh hẳn lên. Bệnh đã khỏi được bảy tám phần. Thái sư thưởng cho lũ cấm quân mỗi người một quan tiền giấy. Ông vua con đã hết điên nhưng vẫn còn ngây. Ông hết nói lảm nhảm. nhưng thần trí như vẫn còn lạc ở đâu đâu. Tuy vậy, triều đình đã thở phào nhẹ nhõm. Và các bánh xe âm mưu lại bắt đầu xoay chuyển. Trong lúc thái sư Quý Ly còn đang bình thản, vì ông nghĩ mọi sự vẫn theo đúng dự tính của mình, thì viên thái giám của phe thủ cựu đã báo cho quan Thái bảo Nguyên Hàng:

- Bệnh tình của hoàng thượng đã ổn.

Ai đã nói vậy?

- Bắt đầu từ đêm nay, ông lang Điền thôi ngủ trong cung.

- Quan thái sư biết chưa?

- Chính thái sư đã cho phép ông ta về nhà ngủ. Mấy hôm nay, thấy bệnh nhà vua gần khỏi, quan thái sư mặt mày tươi tỉnh. Ngài thưởng cho ông Điền trăm lạng bạc.

Khát Chân bảo Nguyên Hàng.

- Chúng ta cần phải nhanh chân; đã đến lúc rồi đấy.

Hàng hỏi tiếp thái giám:

Vậy, ban đêm, ai trông nom hoàng thượng?

- Các cung nữ. Mỗi đêm hai người.

- Ông có thể cử hai người chuyên trách không?

- Dạ được. Quyền đó ở trong tay tiểu nhân.

- Từ nay, ông cắt Ngọc Kiểm và Ngọc Kỵ chuyên làm việc đó.

Tối hôm ấy, cô Kiểm sửa soạn chăn nệm và buông màn cho Trần Ngung đi ngủ. Ngung vẫn còn ngây ngây, cứ ngồi thõng chân xuống giường. Kiểm cởi áo ngoài cho đức vua, dùng nước nóng lau rửa, thay quần áo ngủ mới, rồi bắt đầu bóp vai, bóp tay, bóp chân. Ngung hỏi:

- Cô tên là gì? Sao không thấy mặt bao giờ?

Thần thiếp là Trần Ngọc Kiểm, trước đây vẫn hầu hạ đức vua nhưng làm việc ở phòng ngoài.

- Chị làm việc gì?

Thần thiếp đun nước thơm, pha nước thơm, chuẩn bị nước rửa mặt lúc sáng, nước tắm lúc chiều, và nước ngâm chân lúc sắp đi ngủ.

- Thảo nào, người chị thơm lắm. Đưa tay trẫm xem nào. ừ, ngón tay búp măng đẹp thật... mà cũng thơm nữa... khéo nữa.

Thị Kiểm đã được mụ cung nữ già dậy cho cách xoa bóp. Cô cởi áo cho ông vua con, rồi trùm chăn lên người ông, thò tay vào trong chăn xoa nhẹ lên lưng. véo nhẹ làn da non trẻ, rồi lúc vuốt ve, lúc mơn man truyền làn hơi dịu dàng ấm áp của mình cho Trần Ngung.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #83 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:36:28 pm »

- Ôi! Tay chị Kiểm khéo thật!

- Thiếp chữa bệnh cho đức vua đấy...

- Thật sao? Ta thấy dễ chịu lắm...

- Thế thì bệ hạ hãy ngủ đi, ngủ đi... Thiếp sẽ xoa đầu, xoa làn da mạt... Bệ hạ nhắm mắt lại... Ngủ cho say vào... say vào... Sớm mai, lúc tỉnh dậy... ắt là sẽ khỏi bệnh... ắt là sẽ hoàn toàn mới mẻ...

Giọng Thị Kiểm ngọt ngào như một lời ru. Dưới ánh bạch lạp, Kiểm nhìn vào gương mặt đã mơ màng của ông vua con, vẫn thấy đôi môi nhếch xuống và phảng phất những nét u buồn trên vầng trán thông minh.

Ngung chợt nói trong mơ:

- Đừng bỏ ta! Các người đừng bỏ ta?...

Kiểm chợt thấy mủi lòng. Lòng thương xót của người đàn bà bỗng bùng dậy. Kiểm cúi xuống vô nhè nhẹ lên lưng ông vua con. Bao nhiêu ngón nghề của bà cung nữ già đã dầy công truyền cho, lúc này Kiểm bỗng quên sạch.

- Đừng giết ta! Ta van đấy? Các người đừng giết ta! Thế là Kiểm chẳng còn nề hà gì nữa.

Lúc này Kiểm bỗng hoàn toàn hiện thân như người mẹ khi thấy đứa con yếu đuối của mình đang cần sự che chở. Thị Kiểm ôm lấy Trần Ngung. bế lên lòng.

- Đừng sợ! Bệ hạ đừng sợ! Có thần thiếp đây.

Thuận Tôn mở mắt ra, nhìn thấy Thị Kiểm. Đôi mắt ngơ ngác, ngây dại của chàng bỗng như dịu đi.

- Chị Kiểm đấy ư? Ta sợ lắm.

- Có gì mà sợ? - Kiểm lấy chiếc khăn hồng thấm những giọt mồ hôi trên trán ông vua con.

- Ta vừa nằm mơ thấy có kẻ cầm dao đuổi theo ta...

Nào, bệ hạ nhắm mắt lại... Thiếp sẽ xoa bàn tay lên mặt bệ hạ. Nhà vua hãy cứ nhẩm đọc trong lòng, cứ như đọc thần chú ấy. Đọc rằng: “Bàn tay thơm, đôi bàn tay thơm... “ Vừa đọc vừa nhớ đến thiếp... Thế là hình bóng thiếp sẽ hiện ra... Thiếp sẽ xua đuổi tà ma, xua đuổi những cơn ác mộng...

Trần Ngung nhắm mắt lại, rồi dặn dò như đứa trẻ thơ. - Chị Kiểm đừng đi nhá... Hãy nam lấy tay ta... Có chị, ta không thấy sợ nữa... à, chị nằm xuống đi... Nằm sát bên ta ấy... Thế, như thế đấy...

Cô cung nữ nằm dài bên ông vua con. Cô vòng tay ôm lấy tấm thân trần trụi, đến lúc này vẫn còn run rẩy. Cô cố gắng xua đuổi những tàn dư của cơn mê sảng, lúc này đây còn đập rộn ràng trong trái tim của ông vua cô đơn. Cô vuốt ve mái tóc. Cô vỗ bàn tay nhè nhẹ vào lưng Thuận Tôn. Thị Kiểm chợt thấy muốn hát một bài hát thật buồn. Thế nào nhỉ? Cái bài hát cổ mênh mang như một con đò lênh đênh trên sông bao la... “Ai xui chớp bể mưa nguồn? Để cho con sáo dạ buồn ngẩn ngơ...” Chợt ông vua con thì thào bên tai:

- Chị Kiểm ơi! Chị khóc đấy ư?

- Thiếp có khóc đâu!

Bàn tay của Trần Ngung rụt rè, khẽ khàng sờ lên mi mắt cô, nó ngập ngừng đến đôi gò má, dừng lại ở đấy, để mơn man xoa khô những giọt nước tự nhiên nhưng cũng hữu tình. Rồi cũng chính bàn tay ấy đã dần dần trở nên tinh nghịch. Nó đùa với đôi môi không hề thoa son nhưng lúc nào cũng đỏ chót, đôi môi mọng đỏ, mềm tự hào, một nét son thắm tươi trên gương mặt cô gái. Đôi môi hé ra thơm nhẹ bàn tay. Đôi môi và những ngón tay quấn quýt với nhau, không nỡ rời nhau.

Nhưng đôi môi cũng biết khuyến khích, biết nhắc nhở bàn tay hãy tìm đến cái cổ trắng phau, cái cổ kiêu ba ngấn, ở đó sự nõn nà mời gọi di mau đến cái phập phồng ấm áp của đôi nhũ hoa, cái mềm mại nóng bỏng của người đàn bà... Ông vua con đã đọc bao nhiêu sách thánh hiền. Những quyển sách thâm thuý, đã làm Thuận Tôn trở thành khô héo, làm Ngung chẳng hiểu gì, chẳng để ý gì đến sự sống thực...

Hôm nay, cơn rồ dại, cơn mê sảng, đã làm Thuận Tôn chợt phút chốc quên mất sách thành hiền. Phút mê sảng sợ hãi đầy ơn phước đã hé lộ lần đầu tiên cho chàng biết thế nào là người đàn bà, nhất là một người đàn bà ở độ tràng tròn.

Còn Thị Kiểm cũng đã hoàn toàn quên phắt những thuyết lý của bà cung nữ già.

Đối với cả hai người, đều là bài học đầu tiên. Ông vua con hấp tấp, luống cuống, run rẩy đi vào lòng nàng. Và ngay lập tức, chợt thấy mênh mang, ràn rụa... Trần Ngung rùng mình, co rúm lại, sợ hãi.

Đến lúc này, cô Ngọc Kiểm mới chợt nhớ đến những lời dặn dò của người thầy trăng gió. Cô thì thầm vào tai Thuận Tôn:

- Bệ hạ đừng sợ?... Lần đầu tiên... nó thế thôi...

- Sau thì sao?... Sẽ khác ư?...

- Khác chứ? Lần sau chậm chạp hơn... ngọt ngào hơn...

Thị Kiểm chợt cười khúc khích... Cô đang đóng vai một người thầy, thầy mà cũng mù tịt như trò. Nhưng chẳng hề gì... Bản năng thương yêu sẽ dậy họ. Thị Kiểm nóng bỏng ôm chặt lấy tấm thân gảy gò, non tơ của Thuận Tôn. Còn Thuận Tôn thì đang bơi trên một dòng sông bao la, mà Thị Kiểm là một mảnh ván đôn hậu, biết an ủi, biết xoa dịu lòng chàng. Hai tấm thân non trẻ ấy bám vào nhau tìm về sự sống... Lần này, Trần Ngung đã bình tĩnh hơn, tự tin hơn, cuối cùng chàng trai cũng biết âu yếm hơn... Cùng với thân xác người đàn bà... chàng cũng hiểu mình hơn... ré ra trong con người yếu đuối ấy cũng vẫn có một sức mạnh... Đến lúc đó. cuối cùng hoàn toàn là hạnh phúc.

Cũng chính lúc đó Thuận Tôn đã bắt đầu đi vào hồi phục.

Được biết sự thành công của đêm mây mưa thứ nhất, bà cung nữ già liền truyền dạy cho Ngọc Kiểm những ngón nghề điêu luyện hơn. Người cung nữ già này vốn là thị tì của công chúa Thái Dương, vợ vua Trần Phế Đế. Khi Phế Đế bị Nghệ Hoàng giết, công chúa Thái Dương goá chồng, nàng tằng tịu với Phủ Quân Ty Nguyên Uyên, Chính người cung nữ ấy đã bầy ra trò hoan lạc trên Tây Hồ. Bầy thị nữ và công chúa Thái Dương trần truồng bơi thuyền. Dưới ánh bạch lạp, hồng lạp, Nguyên Uyên đánh trống, công chúa Thái Dương đánh đàn, người cung nữ kia cầm phách hát... Đêm hoan lạc trứ danh ấy, người ta đồn đại khắp Thăng Long và cả trong triều đình. Nghệ Hoàng nổi giận, liền gả Thái Dương công chúa cho Trần Nguyên Hàng. Hàng là em ruột Nguyên Uyên. Bà cung nữ già, gọi là già thực ra mới bốn mươi tuổi, lẽ dĩ nhiên phải theo công chúa về phủ Nguyên Hàng. Người thị tì của một bà hoàng thường cũng là thê thiếp của chồng bà hoàng đó. Như vậy, người cung nữ ấy đã trải qua ba người đàn ông: Phế Đế. Nguyên Uyên rồi Nguyên Hàng.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #84 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:36:56 pm »

Ở cuối thời nhà Trần, sau khi ba lần đánh thắng giặc Nguyên, nước Đại Việt được hưởng hơn một trăm năm thái bình. Nhờ chính sách đắp đê, khai khẩn ruộng bãi hoang nên thóc lúa ê hề trong thiên hạ. Được no ấm, các làng xã đua nhau mở hội, Quân Nguyên thích kịch, trong quân đội cũng có những người diễn trò đi theo. Giặc Nguyên thua, những nghệ sĩ xâm lăng ở lại cung đình và trong dân gian. Hát dân ca vào một tích trò tức là hát tuồng chèo cũng ra đời. Còn ở cung đình, gặp thời thái bình, các ông hoàng bà chúa cũng có điều kiện để sống xa hoa, rồi việc thông thương buôn bán ở cửa biển Vân Đồn, việc hàng năm phải cống sư sãi, gái đẹp, con trai tuấn tú, thái giám giỏi việc sang triều Minh, càng làm cho chuyện học tập cách sống xa hoa của các ông hoàng bà chúa thêm phần tinh xảo. Một trong những sản phẩm xa hoa ấy là người cung nữ đầy kinh nghiệm kia. Nàng đã học được ở người đàn ông thứ nhất cuộc sống mây mưa của bậc đế vương. Mây mưa trong hương thơm, trong yến tiệc, nhung lụa. Học được ở người đàn ông thứ hai: cuộc sống hoan lạc tinh tế. Hoan lạc trong một con đò được mênh mang vỗ sóng đu đưa. Hoan lạc sau một thoáng hương lan, một khúc đàn mưa rả rích, sau một bài thơ có sóng mát đưa tình. Học được ở người đàn ông thứ ba: sự yêu thương rồ dại. Yêu đương sau những cơn say tuý luý, trong những mưu mô cuồng nộ, đem những giọt mật chết người để làm đổ cả những toà lâu đài cao ngất.

Trần Nguyên Hàng rất yêu thích người cung nữ ấy, đãi nàng vào bậc hồng nhan tri kỷ. Người cung nữ bảo Ngọc Kiểm:

- Em đang độ xuân chín. Mỗi người chỉ có một độ xuân. Nhất là người đàn bà trong cung cấm, phải biết nắm lấy tình thế. Gặp thời, một cuộc mây mưa cũng có thể làm lung lay ngai vàng, tung chiếc váy hồng mà làm sáng cả một thời. Em đã gặp may. Hãy bám lấy cái may. Thứ nhất, là để cứu lấy nhà Trần. Thứ nhì, là để lập nghiệp. Người đàn bà trong cung cấm được vua yêu, việc cấp bách: phải nhanh chóng có một đứa con...

Nếu như những cuộc mây mưa đầu tiên là những cơn mưa xuân rả rích, ở đó chồi non bén nụ, ấm áp mát lành; ở đó hai con người chập chững những bước chân đầu tiên trong trường tình; ở đó có xen e ấp run sợ lẫn những khoan khoái còn chưa rõ nét; thì những cuộc mây mưa thứ hai lại là những cơn giông. Ở đợt mưa thứ hai này, người con gái đã nhanh chóng sành sỏi hơn người con trai. Cũng có thể, do bản tính, thể tạng, cô cung nữ Ngọc Kiểm chợt như thức giấc. Đằng sau cuộc mây mưa âm mưu cung đình ấy, cô con gái chợt tìm thấy những khoái cảm ở người đàn ông; cô không biết mệt mỏi khi tìm ra gương mặt lạ lùng của lạc thú. Không còn là những cơn mưa xuân, mà đã là những cơn mưa dầm dề làm chàng quân vương non tơ kia chợt thấy đắm say, nhưng cũng bồn chồn lo lắng. Trong đêm dài, chàng đã nhiều lúc giật mình ngơ ngác.

Người con trai thể tạng yếu ớt ấy, khi thân xác hao mòn đi, thì tinh thần cũng dần dần hồi tỉnh.

Bà cung nữ, người thầy trăng gió, ngoài việc truyền thụ những ngón nghề ân ái, hình như còn dùng những lời nói để khuyến khích, còn đem hết những ẩn ức của mình để truyền thụ, để dồn chuyền đầy ắp những đam mê vào tâm trí Ngọc Kiểm. Bà ngây ngất chiêm ngưỡng thân hình kỳ diệu của nàng.

- Ôi! Con gái của ta? Kẻ nào có thể cưỡng lại nổi sự quyến rũ của con - Đôi bàn tay của con... Con hiểu chưa? Đôi bàn tay búp măng mềm mại? Con hãy nhớ đôi bàn tay là kẻ dẫn đường khôn khéo nhất - Đôi môi mọng đỏ kia nữa! Cái hàm răng hạt na xinh xỉnh kia nữa!

Đó là khởi động của đợt ân ái thứ ba. Ở quãng tình này, đã hết nhưng cơn mưa phùn, đã tạnh những cơn mưa dầm, đã tiến sang bão tố ái ân. Cô cung nữ Ngọc Kiểm như một nữ thần hoan lạc; cô trần truồng, tóc xoã tung trong niềm đam mê. Cô rên rỉ, cô cầu xin, cô đòi hỏi. cô chiếm đoạt... Ở một động tác lạ lùng quái dị của Ngọc Kiểm, bỗng dưng Thuận Tôn giật mình ngạc nhiên nhìn cô gái rồi lại nhìn mình:

- Này... Sao thế này?... Ai thế này?... Và tôi làm gì thế này? - Sự cuồng si của cô gái bỗng làm ông vua con sợ hãi.

- Chàng ơi! Sao bỗng dưng...

- Nàng là ai?...

- Ô hay... Em là Ngọc Kiểm... Bệ hạ quên hay sao...

Từ sợ hãi đến chỗ sực tỉnh cũng rất nhanh.

Thuận Tôn vội vã choàng tấm áo vàng lên người đứng dậy, rời khỏi giường và nhíu mày ngồi trên chiếc đôn sứ. Ông vua con chợt nghe giọng nói run run của cô cung nữ.

- Bệ hạ quên rồi ư... Đã mười hôm nay... đêm nào... thiếp cũng hầu hạ bệ hạ... Thiếp là Ngọc Kiểm... Thiếp vâng lời... đến hầu hạ... đến chữa bệnh cho bệ hạ.

- Nàng nói gì?... chữa bệnh cho ta?

- Vâng... Bây giờ... bệ hạ đã tỉnh cơn mơ... Còn thiếp... lúc nào thiếp cũng xin tận tuỵ... vì bệ hạ...

Cô cung nữ đã choàng chiếc áo hồng lên người. Cô quỳ gục trước mặt Thuận Tôn và cô vẫn nói. Thuận Tôn liếc nhìn cô gái; một gương mặt rất lạ, cũng rất quen. Chợt bao hình ảnh diễn ra trong tâm tưởng. Những hình ảnh lạ lùng, kỳ diệu, nghĩ đến làm ông vua con chợt như đỏ mặt. Nó có thật không nhỉ? Ta đã mơ sao? Sao lại là mơ? Người đàn bà, mà tấm áo quấn hờ gần như loã lồ kia, chẳng ở trước mặt ta sao?... Ta sẽ làm những việc ấy ư?... Có lỗi hay là không có lỗi? Ta đã lỗi với nàng? Ta đã lỗi với ta? Hay ai đã có lỗi với ta?... Người cung nữ trẻ vẫn nói:

- Thần thiếp lúc nào cũng tận tuỵ... vì bệ hạ. Thần thiếp lúc nào cũng tận tuỵ... vì ngôi báu nhà Trần.

- Sao? Còn vì ngôi báu nhà Trần nữa sao?...

Thuận Tôn nhíu mày, ông vua con bỗng thở dài. Ông phẩy tay, nói nhẹ nhàng:

- Thôi... nàng hãy tạm lui ra.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #85 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:38:14 pm »

Phần VIII - Chương 1

Trong vườn ngự uyển

Trần Nguyên Hàng, Trần Khát Chân đã tính sai. Cả bà cung nữ dày dạn kinh nghiệm kia cũng tính sai nốt. Trần Thuận Tôn, sau khi khỏi bệnh, bỗng biến đổi hoàn toàn, khác hẳn dự tính của mọi người. Ông vua con, như ta biết, vốn được hưởng một nền giáo dục rất nghiêm ngặt, rất khổng giáo. Chàng lại còn ham mê sách vở, là con người trầm tư. Về mặt thể tạng, Trần Ngung gầy gò ốm yếu, không phải sinh ra để đam mê những thú vui thể xác.

Căn bệnh hiểm nghèo đã làm chàng, trong một thời gian, quên mất địa vị, thân phận, sách vở và những lời nói vàng ngọc của các bậc thánh hiền cũng tan biến trong cơn rồ dại; những cử chỉ thanh nhã, tế nhị mà cuộc sống cung đình đã vun trồng tạo thành từ bao năm nay bỗng bị lãng quên, nhường chỗ cho những bản năng, những thèm khát như những con thú mơ màng ngủ lịm bỗng chồm thức dậy.

May mắn thay, những con thú đã được xổng xích. May mán thay, những cơn điên rồ đã làm chàng được sổ lồng. Những ràng buộc nghi thức và tinh thần được nới lỏng, làm chàng lạc vào miền lạc thú; và lạc thú đã cứu chàng khỏi bị tù hãm trong xứ hôn mê. Lạc thú đã làm thức dậy sự sống, nó xoa dịu, ru ngủ những đau buồn, thất bại. để đem lại một cân bằng; cuối cùng an hoà ngự trị...
Nhưng một khi tỉnh lại, Thuận Tôn bỗng trở lại như Thuận Tôn khi xưa. Điên rồ ra đi, lý trí trở về. Nó lập tức không cho phép chàng sống như những ngày rồ dại. Dư vị của những ngày ấy nay chỉ còn là những tiếng thở dài, một nỗi luyến tiếc mơ hồ ngọt ngào; có lúc, nó trở thành một niềm xấu hổ, nỗi sợ hãi của một kẻ đã phạm một điều cấm kị. Chắc chắn đó là nôi đày vò của một con người hiền lương - Cũng chắc chắn Thuận Tôn là một con người hiền lương. mà những dấu vết của đạo lý của sách vở, bao giờ cũng là những khuôn mẫu, những vết hàn in đậm trong tâm trí không thể mờ phai.

Chính vì vậy, Thuận Tôn lại lao đầu vào sách vở. Trước đây, Ngọc Kiểm và những đam mê đã cứu chàng, còn lúc này sách vở đã làm phai mờ hình bóng cô cung nữ. Nhưng có phải sách vở đã xoá hình bóng Ngọc Kiểm, hay còn do một nguyên nhân khác, hay còn do một thế lực nào đó đã cố tình xoá mờ hình bóng nàng đi. Cô cung nữ trẻ đã biến mất lúc nào chẳng hay, cứ như thể bốc hơi. Sau những buổi đọc sách, ông vua trẻ cảm thấy một nỗi bâng khuâng khó xác định. Cứ như thấy đánh mất một cái gì đó. Nhưng rồi sách vở lại cuốn hút chàng. Ông vua trẻ có cái tài đọc sách rất tập trung. Đêm hôm đó, Thuận Tôn đọc sách khuya lắm, sau đó chàng mơ một giấc mơ rất đẹp. Và dĩ nhiên chàng dậy muộn vì chân cứ còn muốn nấn ná trong giấc mơ huyền ảo. Lúc chàng tỉnh dậy. Cô cung nữ nhỏ bé xinh xinh đứng bên cạnh giường vội quỳ xuống mừng rỡ:

- Chúc hoàng thượng một giấc mơ đẹp lành.

- Sao ngươi biết ta có một giấc mơ lành và đẹp?

- Bẩm, thần thiếp biết vì... trong lúc ngủ, trên môi người luôn có nụ cười.

- Ừ. Lạ thật? Ta mơ thấy đến một ngôi nhà nhỏ xinh xắn trồng toàn những liễu...
Cô cung nữ nhỏ mủm mỉm cười.

- Sao ngươi lại cười?

- Bẩm, thấy liễu là có hỉ sự. Người xưa nói phận liễu bồ để chỉ người con gái. Chúc mừng bệ hạ sắp có hỉ sự. Lúc này Thuận Tôn mới để ý đến cô gái, liền hỏi:
- Ta chưa thấy ngươi bao giờ? Xem ra nàng rất lanh lợi.

- Tiện thiếp Uyển Nhi là cung nữ của hoàng hậu. Sớm nay có lệnh của thượng hoàng mời bệ hạ đến diện kiến. Hoàng hậu đến...

- Hoàng hậu tới thăm ta?...

- Tâu bệ hạ... Sáng nào hoàng hậu cũng đến thăm đức vua, và sáng nào đức vua cùng ngủ say... hoàng hậu không dám đánh thức, sợ làm kinh động long thể... Sáng nay... hoàng hậu cũng đến... nhưng phải về cung Hoàng Nguyên để chuẩn bị trang điểm... vào chầu...

- Nghĩa là hoàng hậu cũng đến thăm vua cha cùng với ta?

Cô cung nữ giục giã:

- Đã có trống gọi chầu bên cung Thượng hoàng...

Thần thiếp đã cho sắp sẵn nước thơm và quần áo... Xin bệ hạ chuẩn bị để mặc long bào kẻo đức thượng hoàng mong.

Cô cung nữ xinh xinh kia đoán gặp cây liễu tức là gặp hỉ sự, hoá ra lại đúng. Nghệ Hoàng triệu tập thái sư, Thuận Tôn và hoàng hậu Thánh Ngẫu đến nói:

- Ta rất vui vì con đã hoàn toàn khỏi bệnh. Cũng là lúc con đã tròn mười sáu tuổi. Nay, ta cho mở tiệc, ban yến cho bá quan. Triều đình sẽ làm lễ hợp cẩn cho hai con vì các con đã trưởng thành. Thứ nhất để yên bề xã tắc. Ta muốn các con mau chóng sinh hoàng tử. Thứ nhì để ta được vui tuổi già. Xem ra năm nay, ta thấy trong người đã yếu.

Sau bữa tiệc hợp cẩn, vua Thuận Tôn và hoàng hậu Thánh Ngẫu lên thuyền đến khu hành tại Bình Than hưởng tuần trăng mật. Bình Than có rừng núi, sông hồ. phong cảnh hữu tình, được đôi vợ chồng coi trọng như một vườn ngự uyển tự nhiên.

Con vượn trắng, từ khi Thuận Tôn bị ốm, cứ ủ rũ ngồi trên cây bưởi đầu nhà. Thuận Tôn điên rồ đuổi nó: Về đi! Về đi! Về rừng mà ở? Lâu đài cung điện có phải là nhà của ngươi đâu.

Khi Thuận Tôn đắm đuối với nàng Ngọc Kiểm, con vật thù ghét cô cung nữ ra mặt, mỗi lần thấy nàng đi qua, nó lại kêu la ồn ĩ, làm náo động cung vua, bọn lính mang cung tên ra bắn, nó sợ chạy biến vào vườn thượng uyển ẩn náu. Một buổi sáng, khi đã khỏi bệnh, ông vua con đang đứng ngắm hoa bỗng nghe tiếng kêu mừng rỡ của con vật. Thuận Tôn ngẩng đầu lên thấy con vượn trắng vẫn còn như rụt rè sợ hãi. Chàng vẫy vẫy tay:

- Thì ra là ngươi. Mấy hôm nay ta vẫn hỏi thăm. Bọn lính bảo ngươi đã bỏ đi rồi. Thường đêm, lúc ngủ, ta vẫn nghe thấy tiếng động ở đầu nhà. Hoá ra ngươi vẫn ngủ trên cây bưởi cạnh buồng ta. Ngươi vẫn chẳng bỏ ta khi ta điên dại...
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #86 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:39:26 pm »

Con vật nhẩy từ cây bưởi xuống. Thuận Tôn ôm lấy nó, vuốt ve và dồn dập hỏi nó như nói chuyện với một người bạn lâu ngày xa cách.

- Khổ thân? Ngươi gầy thế ư? Hàng ngày ngươi ăn gì? Ngươi ăn trộm hoa quả? Vườn thượng uyển làm gì có quả ở đó chỉ có cây cao và hoa bốn mùa. A? Ta hiểu rồi? Có phải ban đêm ngươi đã lẻn ra phố phường, tìm đến những ngôi chùa, những miếu hoang để ăn trộm đồ lễ. Ngươi ranh ma lắm. Mà ngươi có thay ta đến điện Hoàng Nguyên thăm bà hoàng Thánh Ngẫu không? Trông con mắt ngươi ta biết là có. Nàng cũng yêu quý ngươi lắm. Sao lúc ta ốm ngươi không ở bên cung của nàng - Thở dài - Ta biết ngươi không nỡ bỏ mặc ta - Và nàng nữa? Nàng vẫn hàng ngày đến thăm ta... chuyện ấy bây giờ ta mới biết... Và cả chuyện của ngươi nữa, bây giờ ta mới biết...

Ông vua con, con vượn, bà hoàng hậu trẻ ngồi trên thuyền rồng; và lòng Thuận Tôn cứ miên man nghĩ ngợi. Con thuyền đi trên dòng sông, hai bên bờ trải dài những xóm làng trù phú, những ruộng lúa, ngô xanh mướt rồi tiếp theo đến những đồi cây nhấp nhô, những khu rừng bát ngát.

Con vượn trông thấy rừng, bỗng nhẩy lên mui thuyền và hú lên tiếng hú dài man rợ. Trong cánh rừng, bỗng có tiếng hú đáp lại; rồi từ đỉnh những ngọn cây một đàn chim bay túa lên trời, tạo nên một khung cảnh rất thanh bình ngoạn mục.
Thuyền đến Bình Than, con vượn cuống quýt cầm tay đôi vợ chồng trẻ, quay đầu nhìn vào trong rừng. Thuận Tôn cười:

- Người đến thăm sư phụ trước đi chúng ta sẽ đến sau.

Đêm hôm đó mưa rào.

Xưa kia, Thuận Tôn thường tưởng tượng đêm đầu tiên giao kết của hai người phải là một đêm trăng sáng, nào có biết đâu đêm nay lại là đêm mưa. Mưa rừng, mưa sông!... Ở sau lưng toà đại diện là những đồi thông nối đuôi nhau dẫn tới khu rừng đại ngàn. Mưa không to lắm, nhưng dầm dề, tạo nên một nền âm thanh rì rào không dứt. Thỉnh thoảng, một trận gió lùa vào những tán lá đại thụ làm nước rơi lộp bộp. Nổi lên trên cái nền âm thanh thì thầm ấy là tiếng của muôn vàn loại côn trùng, tiếng con dế gáy ri ri, tiếng con ếch gọi bạn ộp oạp, rồi tiếng chẫu chuộc kêu inh ỏi, tiếng con cóc nghiến răng khó nhọc, tiếng con ễnh ương đều đều buồn tênh. Ở đâu đó, tít tận rừng sâu có tiếng con nai giác, tiếng con nai mừng mưa, hay tiếng mừng mùa cỏ mọc, hay tiếng tha thiết gọi bạn tình...

Thuận Tôn chợt nói khẽ:

- Thánh Ngẫu ơi! Nàng còn thức hay nàng đã ngủ?

- Thiếp vẫn nằm nghe.

- Ta cũng nằm nghe.

- Nghe thấy gì?

- Tiếng rừng hay thật!

- Tiếng mưa cũng hay.

- Tiếng dế, tiếng ếch nhái nghe cũng thích? Đủ giọng... to, nhỏ, bổng, trầm... Nàng thích nhất tiếng gì?

- Tiếng con dế gáy. Chàng có nghe thấy không? Con này gáy rất to. Ở sát đầu giường chúng ta, chắc nơi cửa sổ dưới bụi hoa hồng...

- Thánh Ngẫu ơi! Sao nàng lại cười?

- Thiếp chợt nhớ đến một chuyện lúc bệ hạ đang ôm...

- Chuyện gì? Kể cho ta nghe đi.

Những hôm đầu mới ốm, chàng không ngủ, suốt mấy đêm chỉ đi lang thang, nói lảm nhảm. Đêm đó, ông lang Điền cho uống thuốc ngủ. Nhưng trời mưa, lũ ếch nhái ở ao sen kêu suốt đêm làm chàng giật mình thức giấc. Cha thiếp phải sai một trăm cấm binh ngâm mình dưới ao, cầm roi liên tục vụt xuống nước, bắt lũ ếch nhái côn trùng phải lặng im. Nhờ cơn mưa mát, nhờ không có tiếng động. đêm đó chàng ngủ yên...

- Có chuyện đó thật sao?

- Thật chứ! Mà cũng hay! Cùng một tiếng ếch nhái kêu, đêm xưa sao mà ghét thế Bắt chúng phải im? Còn đêm nay, em cầu mong cho chúng kêu mãi mãi. Nghe tiếng côn trùng kêu mưa, đêm nay sao thiếp thấy hay đến như vậy.

- Ta cũng thấy tuyệt. Lần đầu tiên ta để ý đến chúng.

- Lần đầu tiên, thiếp được nghe cả tiếng nai lẫn vào đó.

- Lần đầu tiên, ta biết thế nào là dế gáy...

Cuộc giao kết đầu tiên của vua Thuận Tôn và bà hoàng Thánh Ngẫu xảy ra như thế đó. Thật khác hẳn cuộc ái ân sôi nổi của Ngọc Kiểm đã hiến dâng cho ông vua nhỏ. Nhưng cuộc ái ân nào chẳng có cái duyên riêng của nó. Có thể Thuận Tôn như kẻ đã được nếm vị ngọt nồng của trái mít, nay bỗng phát hiện được vị thơm mát dịu dàng của trải lê. Cũng có thể, ông vua con suốt ngày tháng vùi đầu vào triết lý vô dật, rồi sau đó ông đã đi ngược lại triết lý khắc kỷ ấy; và dù mới chỉ là một bước nhỏ thôi, cũng đã đủ làm ông áy náy trở về sám hối. Cũng còn có thể, vì thể tạng của Thuận Tôn mong manh, nên ông chỉ hợp với một cuộc tình thanh mảnh. Lại cũng có thể, vì bà hoàng Thánh Ngẫu là người con gái ông yêu quý nhất...

Sáng hôm sau, Thánh Ngẫu và Thuận Tôn theo lối mòn xưa đi đến thung hoa, men dòng suối có những cây sung đỏ ối quả. rồi theo hút đàn chim phường chèo vào rừng thẳm đến thạch am thăm vị đạo sĩ.

Con vượn trắng. từ lúc thuyền cập bến Bình Thanh đã trở về rừng, nay ra đón hai người. Nó cầm tay Thuận Tôn đi về phía động đá. Đạo sĩ đứng ở cửa hang quỳ rạp chào vua và hoàng hậu.

- Con bạch viên cho bần đạo biết hoàng thượng đến từ chiều hôm qua. Bần đạo, vì ốm đau, không xuống núi được để nghênh giá. Thật muôn phần có lỗi.

Nhà vua đỡ đạo sĩ đứng dậy. Sau khi đã phân ngôi chủ khách, Thuận Tôn nói:

- ít lâu nay, có nhiều chuyện xảy ra. lòng ta rất bối rối. Nay muốn đến tham vấn sư phụ.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #87 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:40:57 pm »

Đạo sĩ Thanh Hư nhìn nét mặt nhà vua rồi nhắm mắt lại hồi lâu. sau đó bảo:

- Tâu bệ hạ, đúng là có nhiều điều phức tạp, dễ làm rối lòng người. Nếu giữ không cẩn thận sẽ đi tới mê cuồng.

- Sư phụ nói không sai. Vừa qua có lúc ta đã lâm bệnh, mắc chứng mê sảng.
Đạo sĩ già nhắm mắt lại, giọng ông đều đều:

- Đời người mờ mịt; thoắt đến thoắt đi, biết đâu là phúc, biết đâu là hoạ; biết đâu là thị, biết đâu là phi... Sao chẳng như hơi thở của đất trời, đã không nổi lên thì thôi, đã nổi lên sẽ ra muôn giọng. Gặp hang, gặp rừng rú: gào, gầm thét; gặp hốc, gặp bọng, gặp ao sâu, vũng cạn: nỉ non, rù rì; lúc buồn nức nở lúc thì hiu hiu... Sao chẳng khiến cho hình hài như cây khô, lòng như tro lạnh... Đời người mờ mịt. há phải riêng ai mờ mịt... Ôi thôi! Khó thay? Khó thay... Ai biết nẻo về?... Nẻo về giăng sương...

Thánh Ngẫu chẳng hiểu lời nói của đạo sĩ ra sao, nhưng Thuận Tôn tỏ ra xúc động. Ông đứng trước bàn thờ, thắp nén nhang, cúi lạy. Đạo sĩ lấy một tờ giấy bạch, viết tặng một bài thơ:

Tro lạnh dù tàn đốm lửa
Xin đừng ủ trấu, nhen rơm
Dưới tro nào ai có biết
Đâu là hạt, đâu mầm xanh
Cơ trời nhiệm màu khôn xiết
Thị phi cũng một chữ đồng
.

Lại lấy từ bàn thờ xuống, một tảng đá. Nhìn kỹ, thấy giống hình một ông già râu dài, tay chống gậy trúc, đang ngồi trầm tư. Đạo sĩ nói:

- Một đêm, bần đạo nằm mơ gặp đức Thái thượng lão quân; hôm sau vào một hang núi, thấy tảng đá thiêng này. Nay, xin tặng bệ hạ, để cho trọn cái duyên hữu tình. Bệ hạ trở về, xin cẩn trọng. Một ngày gần đây sẽ gặp nhau.

Con vượn quyến luyến ông đạo sĩ già mãi không nỡ dứt. Ông vuốt ve nó:

- Bạch viên, hãy nghe lời ta. Cuộc vui nào chẳng có lúc tàn. Ngươi hãy hầu hạ đức vua, làm cho người khuây khoả. Hết kỳ hạn, thày trò ta khắc gặp nhau.
Thuận Tôn đem hòn đá thiêng về kinh. ngày ngày thắp hương, và không ngày nào quên đọc sách đạo. Ít lâu sau, hoàng hậu Thánh Ngẫu có tin mừng. Hai vợ chồng vội đi thuyền đến Bình Than, tìm đến Thanh Hư quán để tạ ơn đạo sĩ. Khi đến nơi không thấy bóng dáng ông già đâu cả. Động đá hương tàn khói lạnh. Cây cỏ đã mọc kín gần che lấp cửa hang. Giây leo đã bò lên cả bàn thờ thánh. Rêu xanh đã gần phủ mờ những chữ khắc trên vách đá. Gặp người tiều phu gánh củi, Thuận Tôn hỏi thăm mới biết ông đạo sĩ sau khi gặp đức vua đã bỏ hang đá, đi miết vào rừng sâu, về phía núi Bạch Vân, từ đó không ai gặp nữa.


Phần VIII - Chương 2


Tuần trăng mật Bình Than ấy đã đem lại niềm vui cho cả triều đình. Hoàng hậu Thánh Ngẫu mang thai. Lúc bà lâm bồn, Nghệ Hoàng đang ốm nặng. Khi được tin sinh thái tử An. Ông vua già nhẹ hẳn bệnh, tự ngồi dậy được. Ông sai khênh kiệu đưa ông đến thái miếu, để thắp hương lễ tạ tổ tiên. Ông nói với Thuận Tôn:

- Trời còn phù hộ nhà Trần. Thằng An bây giờ vừa là cháu ta, vừa là cháu Thái sư. Ta có thể yên tâm nhắm mắt được rồi.

Còn Thuận Tôn biết Thánh Ngẫu mang thai. Ông thấy lòng mình thanh thản, như đã trả được món nợ cho hoàng triều, cho dòng họ Trần. Nhưng từ khi ở Bình Than về, lòng ông luôn băn khoăn; có nhiều điều ông không tài nào giải thích được. Tại sao Thanh Hư chân nhân lại đột nhiên bỏ nơi tu hành, trốn vào rừng sâu mất tích. Cả câu thơ “Tro lạnh dù tàn đốm lửa. Xin đừng ủ trấu nhen rơm” nghĩa là thế nào? Ông buồn rầu hỏi con vượn trắng. Nhưng con vật chỉ thẫn thờ nhìn về phương trời xa tít.

Đức vua càng nghĩ càng thấy như hũ nút. Dần dần, Thuận Tôn trở nên tư lự. Triều thần lo lắng. sợ bệnh mê cuồng của nhà vua lại tái phát. Nguyễn Cẩn nói với Thái sư:

- Tại sao không để đức vua đi du ngoạn những nơi phong cảnh đẹp, những nơi non nước hữu tình? Tiểu thần thấy chí ngài ưa những nơi am thanh cảnh vắng.
Thái sư Quý Ly bèn khéo léo dò hỏi ý kiến, đức vua ưng thuận ngay. Từ đó, Thuận Tôn đi hết những danh sơn. Tìm đến núi Na ở Thanh Hoá, vì nghe nói ở đó có bậc chân nhân đã đắc đạo trong một am cỏ. Tìm đến Bạch Vân Sơn, bái yết tượng An Kỳ Sinh nằm trong mây trắng. Tìm đến cửa Thần Phù để dò hỏi dấu vết những vị tiên ngoài hải đảo. Ông không nói ra, nhưng chắc trong thâm tâm, ông muốn đi tìm Thanh Hư chân nhân, con người ông kính trọng ngay từ buổi gặp ban đầu. Nguyễn Cẩn tâu với nhà vua:

- Ở Bạch Hạc có quán Thông Thánh được xây dựng từ mấy trăm năm, nghe nói từ đời nhà Đường. Nghe nói hiện nay có bậc châu nhân tu ở đấy. Sao bệ hạ chẳng lên xem sao?

Thuận Tôn nghe lời, ngược dòng sông Nhĩ Hà đến nơi, quả nhiên quán Thông Thánh là nơi linh thiêng. Quán nằm trên đồi cao, nhìn ra dòng sông Lô hùng vĩ. Bậc chân nhân tu ở đó là đạo sĩ Nguyễn Khánh râu tóc bạc phơ, rõ ràng là bậc tiên phong đạo cốt. Nói chuyện, thấy Khánh tỏ ra thông hiểu lẽ huyền. Nhà vua ở quán ít lâu, lòng quyến luyến không nỡ rời chân.

Những đêm trăng, chân nhân và nhà vua, ngồi dưới rừng thông, nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy dưới chân, bàn về đạo. Nguyễn Khánh giảng giải cho vua nghe:
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #88 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:42:11 pm »

- Tâu bệ hạ, đạo Hoàng Lão đã xâm nhập nước ta khoảng hơn một nghìn năm rồi. Nghe nói từ thời thuộc Hán.

- Vậy là đạo Thần Tiên đã sang nước ta cùng thời với đạo Phật.

- Muôn tâu, đúng như vậy. Đạo Phật nước ta đã có nhiều cao tăng; còn đạo Thần Tiên ở nước ta cũng có những bậc đắc đạo không kém.

- Mong chân nhân hãy nói tỏ tường cho ta nghe, để mở rộng thêm tầm mắt.
Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, Nhạc Thần Công dòng dõi Nhạc Nghị đã học đạo Hoàng Đế - Lão Tử. Bậc chân nhân đắc đạo dậy ông chính là Hà Thượng Trượng Nhân, bậc chân nhân nổi tiếng thời cổ. Hà Thượng Trượng Nhân dậy Yên Kỳ Sinh. Yên Kỳ Sinh dạy Mao Hấp Công. Mao Hấp Công dậy Nhạc Hà Công. Nhạc Hà Công dạy Nhạc Thần Công... Chính Yên Kỳ Sinh thời nhà Hán đã sang nước Nam ta làm lò luyện đan trên núi Yên Tử. Lúc đó chưa có bằng cớ gì để nói đạo Phật đã thịnh hành ở Đại Việt. Về sau đến thời Trần đạo Phật mới dấy mạnh lên nhất là thời đức Trần Nhân Tôn. Vậy, theo sử sách, đạo Thần Tiên còn đến nước ta trước cả đạo Phật.

- Hoá ra vậy - ông vua trẻ tần ngần, thở dài.

Đạo sĩ Nguyễn Khánh đã đoán ra tám chín phần tâm sự của nhà vua. Ông ta lựa lời:

- Cớ sao bệ hạ lại thở dài?

- Ta thở dài, vì tài hèn chí đoản, không theo gót được tổ tiên.

- Bệ hạ là người có căn cốt... Can chi phải nghĩ ngợi nhiều cho thêm hao tổn tinh thần. thần nghĩ có dăm bảy đường nối chí người xưa...

- Thế nào gọi là dăm bảy đường?

- Lập nên chiến công hiển hách rạng rỡ núi sông là nối chí người xưa... Văn đức rạng ngời, làm đất nước ngày càng văn hiến cũng là nối chí người xưa...

- Nhưng riêng ta... có làm được những điều khanh vừa nói đâu...

- Thần nghĩ vẫn còn một cách khác để nối chí tổ tiên... Thần trộm nghĩ, nay việc nước bệ hạ đã có thái sư quốc trượng tài kiêm văn võ đêm ngày phò tá, lo toan hết những đại sự thay cho bệ hạ. Nhà vua chỉ còn việc rủ tay áo, ngồi trên ngai vàng an hưởng thái bình. Tại sao bệ hạ lại chẳng biết tận đụng cái thời gian quý báu ấy.

- Tận dụng ra sao?

- Có một cách nối chí người xưa, nếu bệ hạ làm được. chắc chắn sẽ làm rạng rỡ cho vương triều nhiều lắm. Đó là việc gì?

- Về việc mở tông khai phái, đức Trần Nhân Tôn đã khai lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Cụ trở thành vị bồ tát, đệ nhất tổ. Công đức ấy to lớn lắm. Vậy tại sao bệ hạ vốn là người tướng mạo uy nghi, càn cốt thần tiên thanh tịnh, lại không khai sáng ra một tông phái đạo Thần Tiên. Các bậc tiền nhân khai tông lập phái cho đạo Phật. Còn bệ hạ thì khai tông lập phái cho đạo Hoàng Lão. Thiết tưởng việc đó cũng vẻ vang và tạo nhiều ân đức cho trăm họ lắm.

Gương mặt Thuận Tôn cứ theo lời nói của đạo sĩ mà tươi dần lên. Nguyễn Khánh củng cố thêm quyết tâm cho vua:

- Đạo Phật ngày nay đang suy. Còn đạo Hoàng Lão tuy có mặt ở nước ta đã ngót ngàn năm nhưng chưa có lúc nào cực thịnh. Thế lực vẫn còn nhỏ bé. Đây là cơ hội để bệ hạ thi ân. ý chỉ của đạo huyền chỉ còn chờ bệ hạ ra tay, ngõ hầu cái ánh sáng của Đạo mới tưới trải được đều khắp các hang cùng ngõ hẻm.

Điều lạ lùng, dù ông đạo sĩ Bạch Hạc uyên bác đến thế, đác đạo đến thế, nhưng riêng con vượn trắng lại rất ghét ông. Mới trông thấy mặt đạo sĩ ở xa, con vật đã kêu la ồn ĩ, nhảy nhót loạn xạ, gãi đầu gãi tai, tỏ vẻ tức giận. Thuận Tôn phải cho nó ở ngoài rừng thông, và chiều chiều ra thăm nó. Nhà vua vỗ về nói riêng với nó: Bạch Viên ơi! Ngươi cũng là kẻ tu hành. Cớ sao lại tức giận như vậy? Cái gì đã làm ngươi tức giận? Hay là ngươi ghen ghét, ngươi nhớ chủ ngươi, nhớ Thanh Hư chân nhân và không muốn ta học đạo với người khác. Thôi, ta xin ngươi... Hãy mở lòng...

Con vượn buồn rầu lặng lẽ. Nó không biết thổ lộ những ý nghĩ của nó bằng cách nào...

Thuận Tôn nghe lời đạo sĩ Nguyễn Khánh, ở lại quán Thông Thánh ít lâu để đạo sĩ trực truyền cho cách tĩnh tu, học phép trường sinh cửu thị.

Được ba tháng, đạo sĩ Bạch Hạc hỏi:

- Bệ hạ thấy ra sao?

- Bây giờ tai ta đã thấy dửng dưng với đàn ngọt, mắt ta đã hững hờ với sắc đẹp. Của ngon vật lạ ta nếm cũng chẳng khác chi cơm hẩm tương cà.

- Còn trong lòng thì sao?

- Đạo sĩ hỏi ý ta về lẽ hưng vong ư? thị phi ư?

- Hưng vong thì sao?

- Một chữ đồng Ta đã nhìn thấy phía sau cái sự mất còn.

- Bệ hạ nghĩ gì về lẽ ở - về? Về thôi! Về thôi! Ta đành về thôi! Ta về với Thiên quân.

Đạo sĩ Bạch Hạc hớn hở:

- Bệ hạ thật sáng láng phi thường. Cái mà bệ hạ đạt được sau một tháng, thì kẻ phàm phu phải mất hàng đời. Ngay cả như bần đạo cũng phải mất vài năm. Thời kỳ đầu này vô cùng khó khăn vì ta đang sống trong cõi tục, nó vốn đậm đà, nay phút chốc phải thay đổi chuyển ngược lại, làm sao cho lòng lạt lẽo... Điều đó trong đạo gọi là tâm trai, một điều vô cùng quan trọng cho bậc chân tu, mà cũng rất khó đạt...

- Ước gì ta được như thầy Liệt Ngự Khấu hoà đồng vào cùng trời đất...

- Khi lòng lạt lẽo thì tâm sẽ hư không. Hư không thì sẽ hoà đồng vạn vật. Ta là gỗ đá, mà gỗ đá cũng là ta. Ta là gió mây, mà gió mây cũng là ta. Lúc ấy còn lo gì thân ta chẳng như chiếc lông hồng... còn khó gì cái chuyện đi mây về gió...
Phải nói, vua Thuận Tôn dần dần như mê man đi lao đầu vào việc thấu hiểu Đạo. Cho đến lúc thượng hoàng Nghệ Tôn ốm nặng, nhà vua mới đành lòng rời bỏ quán Thông Thánh trở về kinh đô.

Thái thượng hoàng nằm trên giường bệnh cầm tay con trai hỏi:

- Con nhất định theo đạo ư? Ông vua con cúi đầu nức nở.

- Con nhất định rời ngôi cửu ngũ, từ bỏ cơ nghiệp của nhà Trần chúng ta ư? Thái Thượng hoàng nói xong quay mặt vào tường. Nước mắt ông ứa chẩy, ứa chảy cho đến lúc không còn giọt nước nào để mà khóc. Từ lúc đó người không nói một lời nào nữa. Cũng từ lúc đó người đòi cởi bỏ bộ quần áo triều phục thêu rồng nặng tới vài cân, và chỉ mặc bộ quần áo lụa vàng nhẹ tênh. Người ta bảo lúc hoàng hậu Thánh Ngẫu mang thái tử An vào tiễn biệt đức thượng hoàng, ông già chỉ giơ tay xoa đầu cháu, và lần này ông lại khóc nhưng chỉ ra được hai giọt nước mắt đỏ như máu.

Khi thượng hoàng băng hà. Ông vua trẻ Thuận Tôn hầu như trao toàn bộ việc triều chút vào tay thái sư Quý Ly, để có thì giờ chuyên tâm vào việc tu đạo. Đạo sĩ Bạch Hạc tâu với nhà vua:

- Ở quán Thông Thánh có cung Thái Thanh có quả chuông quý. Quán Thông Thánh cung Thái Thanh dựng được nhờ Chiêu Văn Vuông Trần Nhật Duật và gia tướng của ông là Hứa Tông Đạo. Cả hai người có công đánh giặc Nguyên, và cũng đều là bậc chân nhân của đạo Hoàng Lão. Để nhớ ơn và noi gương tiền nhân, xin bệ hạ cũng cho dựng cung Thái Thanh ở trong vườn ngự uyển. Như vậy bệ hạ vẫn thoả được chí bình sinh học đạo, và luôn luôn ở bên triều đình lo việc cho muôn dân.

Thuận Tôn nghe theo, cho tu sửa lại ngôi quán trong vườn ngự uyển và gọi là cung Thái Thanh.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #89 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2009, 11:44:19 pm »

Phần VIII - Chương 3


Vườn ngự uyển nằm ở phía Bắc hoàng thành, trên một diện tích hàng trăm mẫu ruộng. Dựa trên địa thế tự nhiên, nó được ngăn cách với bên ngoài bằng một cái hồ dài ở phía đông, hai phía tây, bắc là những cánh rừng giới hạn bởi hào và luỹ tre, phía nam liền với hoàng thành. Bên kia hồ là những dinh thự, đình các của các vương hầu soi bóng vàng son nguy nga xuống mặt nước. Bên này hồ là những công trình nhằm phục vụ việc vui chơi giải trí, việc nghỉ ngơi hóng mát của hoàng gia.

Ở thời kỳ đầu nhà Trần, những vị vua anh minh như Trần Thái Tôn, Trần Thánh Tôn, Trần Nhân Tôn... vườn ngự uyển cũng giống như chủ của nó, có vẻ mộc mạc, trang nhã, u tịch. bởi vì các vị vua ấy đều theo đạo Phật không lấy sự xa hoa làm thích. Chỉ cho xây vài cung điện nhỏ làm nơi đọc sách hoặc hóng mát ngày hè, vài khu đình tạ làm nơi uống rượu thưởng tráng, hoặc cùng với những người thân đàm đạo. Điểm xuyết thêm vào, có một am nhỏ thờ Phật, xinh xắn nằm bên cạnh một vườn hoa. Đó là nơi vua Trần Thái Tôn hàng ngày vẫn tụng kinh dâng hương hoa buổi sáng và buổi tối, đó cũng là nơi vua Trần Nhân Tôn học đạo thiền cùng với Tuệ Trung thượng sĩ. Những khu đất còn lại, các vua cho trồng nhiều cánh rừng. Ngoài những cánh rừng hỗn hợp, còn có mấy khu rừng đạc biệt chuyên trồng một loại cây. Cạnh chùa có khu trúc lâm và tùng lâm. Cạnh hồ có khu liễu lâm và quế lâm. Ở rừng liễu thướt tha có dựng toà liễu đình để các nàng công chúa học đánh đàn và làm thơ...

Trứ danh nhất là rừng quế. Tương truyền những cây quế ở đây đã được trồng từ thời nhà Lý. Như vậy, đến lúc câu chuyện này xảy ra, đã có những cây quế được vài trăm năm tuổi, những cây đại thụ quế gốc to người ôm khôn xuể. Thực ra, rừng quế này được phát triển thịnh vượng nhất là vào thời trị vì của vua Trần Minh tôn. Hai bà ái phi họ Lê của Minh Tôn, cô của Quý Ly, vốn quê ở xứ Thanh, quê hương của thứ quế nổi tiếng, mà hàng năm ta vẫn phải cống cho phương Bắc. Khi hai bà được tiến cung, họ đã mang theo những cô cung nữ cùng quê. Những cô gái xứ Thanh này lúc ở nhà vốn làm nghề nông. Khi vào cung, nhiều thời giờ nhàn rỗi, họ bèn ra ngự uyển chăm bón và phát triển rừng quế. Ở quê hương Thanh Hoá, cây quế trồng sau năm năm đã được bóc vỏ thu hoạch, sau đó chặt cây đi. Nhưng ở ngự uyển, người ta không thu hoạch vỏ quế thành ra ngày càng có nhiều quế cổ thụ. Đó là những cây quế vô cùng quý giá, bởi vì quế càng lâu niên, vỏ quế càng giá trị.

Vì hai bà phi yêu thích rừng quế, nên vua Minh Tôn cũng lây thích cây quế. Nhà vua sai làm điện Thanh Thử bên cạnh hồ. trong rừng quế, để mùa hè ra tránh nắng. Quả thực, ngày hè được ở trong điện Thanh Thử thật dễ chịu. Rừng quế toả hương thơm ngan ngát. Gió từ hồ rộng hây hây thổi dễ làm tiêu tan đi những ưu tư cung đình.

Cũng chính tại cung điện Thanh Thử này đã đẻ ra giai thoại về mối tình của nàng công chúa Nhất Chi Mai xinh đẹp và Hồ Quý Ly, và đôi câu đối.

Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế
Quảng Hàn cung lý nhất chi mai
.

Trong cuốn Trần sử, Sử Văn Hoa có ghi lại; mô tả lại khu vườn ngự uyển của Dụ Tôn:

“ Mùa đông, tháng 10, vua Dụ Tôn sai sửa sang đào đắp hồ ở vườn ngự. Bên hồ sai dân phu chở đá quý đá đẹp ở khắp nơi về xếp làm hòn núi cao. Quanh hồ cho khai ngòi làm suối nước chảy từ những hồ đầy nước tới. Cho xây cầu đá chạm trên ngòi. Bên bờ hồ có rừng tùng, rừng trúc và các vườn hoa thơm, cỏ lạ. Lại làm chuồng nuôi những chim quý, thú quý. Ở đó có con voi. trắng, và một con kiến khổng lồ mà vua Chiêm thành Chế Mỗ đem cống. Con Kiến đó dài 1 thước 9 tấc. Lại có những lồng lớn nuôi loài trĩ trắng, loài vẹt đỏ. Phía Đông núi đá nhân tạo, sai đào hồ con, bắt dân lộ Hải đông chở nước biển đổ vào để nuôi đồi mồi san hô cùng các loài cá lạ ngoài biển đông. Lại bắt dân châu Hoá làm một chiếc ao khác, mang cá sấu tận Hoá Châu về nuôi. Thấy khu điện Thanh Thử của vua cha Minh Tôn không vừa ý, Dụ Tôn phá đi cho xây điện Song Quế vì ở hai bên điện có hai cây quế cổ thụ. Sau xét thấy chữ Song Quế tầm thường, bèn đặt tên là điện Lạc Thanh (Tiếng của sự hoan lạc). Âu cũng là cái chí ở đời của nhà vua. Rồi cũng đặt tên luôn cho khu hồ lớn là hồ Lạc Thanh. Kể từ đó, trong khu hồ hoan lạc, đêm nào cũng có thuyền ngự treo đèn kết hoa bơi tung tăng, giữa tiếng đàn sáo du dương và tiếng cười giòn tan của đoàn mỹ nữ. Như thế vẫn chưa đủ, ở dưới chân quả núi nhân tạo còn cho xây lầu tố nữ nguy nga, tám mái, hai tầng, cột sơn son chạm rồng, ngói lưu ly mầu xanh. Riêng khu vườn ngự đó, để hoàn thành, phải dùng hơn vạn dân phu làm ròng rã trong ba năm”.

Đó là sơ lược kể về khu vườn ngự uyển thời Trần. Nó đã biến thiên qua nhiều mầu sắc, từ u mạc thanh tịnh thời Thái Tôn, Nhân Tôn, qua bất định lơ lửng thời Minh Tôn, rồi đến xa hoa đài các thời Dụ Tôn. Khi Dụ Tôn chết, Dương Nhật Lễ tiếm ngôi, rồi Nghệ tôn phục hưng nhà Trần, lúc này nhà Trần đã bước hẳn sang thời kỳ mạt vận.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM