Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:09:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồ Quý Ly  (Đọc 65330 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #130 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:07:05 am »

Phần XI - Chương 5


Khi bức tượng hoàn thành, Phạm Sinh được thái sư thưởng rất hậu. Lại có lần, quan nội thị Nguyễn Cẩn đến tận nơi ở của Phạm, tức ngôi chùa đổ, mang tặng vải lụa, quà của thái sư, Cẩn nói:

- Thái sư biết anh là học trò có chí. Gắng dùi mài kinh sử, chờ đến khoa thi. Thái sư còn dặn, mà có khi chưa đến khoa thi, có dịp người sẽ cất nhắc.

Phạm Sinh tỏ vẻ cảm động, tạ ơn. Cẩn về, trong lòng Phạm thấy hồi hộp. Anh biết Cẩn là người tâm phúc của Quý Ly; Cẩn đến đây cái chính là để xem xét chàng. Anh thầm nghĩ: như vậy Quý Ly có ý định dùng ta.

Hai mẹ con cô Hạnh, từ ngày về ở tại túp lều hoang bên đầm Vạc, lo việc cơm nước luôn cả cho Phạm Sinh. Hàng ngày, cứ buổi chiều, cô lại mang cơm sang ngôi chùa đổ. Còn bữa trưa, Sinh ăn cơm hàng ngoài chợ Báo Thiên. Trưa hôm ấy, ăn cơm xong Sinh đang lúi húi bên gốc đa nghe thấy tiếng người tíu tít gọi: “Phạm Huynh! Phạm huynh”. Ngẩng đầu lên, thấy cô Hạnh đang rảo bước đi tới. Phạm thầm nghĩ: Hạnh rất hiếm khi xuất hiện ở chỗ đông người, vì sợ lộ hình tích. Sao hôm nay cô ấy lại ra đây? Hạnh đứng trước mặt anh lau mồ hôi trán, má ửng đỏ, vừa nói vừa thở, đôi mắt tươi cười:

- Huynh ơi! Mừng rồi. Mừng quá rồi?

- Nàng nói mừng gì? Sao lại ra đây? Quên cả lời dặn dò mất rồi?

- Huynh ơi? Cha em... Cha em đã về.

- Sao? Nói lại anh nghe.

- Cha em về rồi... Cô gái báo tin vui sung sướng quá đến nỗi hai dòng nước mắt chảy ra. Cha được tha sáng hôm nay... Mẹ bảo mời Phạm huynh về ngay uống rượu với cha em... mừng cho mẹ con em.

Hai người vội vã quay về ngôi chùa đổ. Họ thấy hai ông bà Sử Văn Hoa đang đứng nói chuyện bên cạnh con trâu đá, dưới tán cây nhãn. Hạnh giữ Phạm Sinh đứng lại, thì thầm:

- Ngày xưa cha mẹ em quen nhau ở chỗ con trâu đá ấy.

- Sao?

- Cha bảo, lúc mới ra Thăng Long, cha ở trọ trong chùa đổ. Còn mẹ thỉnh thoảng đến bán rượu, vẫn đặt gánh ở chỗ con trâu đá. Vì ở đó có bóng mát, lại có cái bệ đá dưới chân con trâu, ngồi rất tiện.

Cô gái nói xong cười khúc khích. Phạm cũng cười.

- Thảo nào lúc chạy nạn, đêm hôm đó tối trời đến thế, bác vẫn nhớ đường đến chỗ con trâu đá. Mà này...

- Làm sao?

Cả chúng mình cũng gặp nhau lần đầu tiên ở chỗ con trâu đá... Em không nhận ra ư?... Điều lành đấy... Hạnh đỏ mặt lúng túng, và trông cô càng xinh đẹp. Phạm Sinh đến trước mặt ông già, cúi đầu vái chào. Ông Sử gầy gò lom thom, tươi cười:

- Gia đình tôi được đoàn tụ ngày hôm nay, phải chịu ơn sự cưu mang của công tử nhiều lắm.

Nói xong, ông lễ phép cúi mình vái. Phạm lúng túng không dám nhận lễ. Ông già đi dẫn đầu mọi người vào trong chùa. Ông chỉ một cây đề to, bóng mát toả một vùng:

- Chỗ này xưa kia, người ta xếp giàn củi để thiêu sư Đà La. Sau khi sư chết, có người để tưởng nhớ ông thày chùa từ bi, chết oan uổng, đã trồng một cây đề con vào nơi đó. Thế mà, nay cây đề đã thành đại thụ xum xuê... Còn ngôi chùa thì tiêu điều đổ nát. Nhanh thế đấy - ông nhìn bà và hỏi - Từ dạo ấy đến nay đã bao nhiêu năm rồi nhỉ?

- Từ dạo quân Chiêm đốt phá Thăng Long đến nay đã ngót nghét ba chục năm.
- Nhanh thật! Tôi với bà nay đã thành người già cả rồi.

Ông ngậm ngùi đứng trước pho tượng hộ pháp lở lói:

- Xưa kia, pho ông Thiện đẹp nhất chùa này. Nơi đây vàng son chói lọi. Hương khói không bao giờ tắt. Thế mà ông Thiện nay đã cụt tay.

Cô Hạnh thật khéo. Không biết bằng cách nào đã tìm được một hũ rượu mơ thơm nức. Ông nhấp hớp rượu rồi sáng mắt nhìn vợ:

- Đúng là rượu nhà ta. Những ngày gian truân ấy mà bà vẫn giữ được nó sao?

- Những ngày gần đây, đã thấy nguôi nguôi, chẳng còn ai để ý đến mẹ con tôi nữa. Không hiểu sao tôi cứ tin rằng ông sẽ tai qua nạn khỏi. Tôi bảo con Hạnh: “Nhà mình còn hũ rượu quý chôn ngoài vườn. Con về đào lên. Bố mày sắp về rồi đó...”. Con Hạnh về làng. Nhà mình ở rìa đồng, vang vẻ, không ai để ý...

Ông Sử Văn Hoa tinh ý, đã thấy Hạnh nhìn Phạm mỉm cười và đỏ mặt lên. Ông cũng mỉm cười nói: Con gái tôi mang rượu ngon về, thứ nhất để mừng cha, nhưng thứ hai cũng để tạ ơn Phạm công tử nữa chứ.

Mọi người đều vui vẻ cười ran. Lúc chỉ còn hai người đàn ông bên mâm rượu, ông Sử hỏi:

- Bác nghe em Hạnh nói vừa qua cháu vào hoàng cung làm tượng, được thái sư Quý Ly ban thưởng?

- Bẩm... vâng... thưa bác...

- Nếu ta không lầm... cháu có ý định... đến gàn thái sư.

Phạm nghĩ ngợi, rồi nói:

- Cháu nghĩ... bác là người đã bị ông ta làm cho điêu đứng?

- Đúng vậy. Bác chỉ bị... Ông ta làm cho khổ thôi, còn nhiều người khác bị ông ta cướp đi cả tính mạng.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #131 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:08:41 am »

- Vậy phải làm thế nào? ý đồ của ông ta, hầu khắp mọi người đã biết... Ông ta là một người tài giỏi ư?.. Một kẻ bất trắc ư?... Hay một hôn quân, bạo chúa ngày mai? Phải ủng hộ ông ta hay phải tiêu diệt ông? Cháu là đứa con mồ côi. Ai là người đã giết cha mẹ cháu? Ai là người gây nên sự hôn độn, điêu linh hôm nay? Nhà Trần đã đến thời mạt vận hay sao?... Bao nhiêu câu hỏi cháu đã suy ngẫm, cháu đã thấy lý lẽ của bao nhiêu người và thấy ai cũng có cái lý riêng. Tuy nhiên, chỉ có một điều ai ai cũng thấy, ông ta là một con người quá ư tàn nhẫn...

- Cháu có biết Quý Ly định nay mai đặt quốc hiệu cho nước ta là gì không?

- Cháu chưa được rõ.

Đã có tiếng xì xào ông ta sẽ đặt tên cho nước Đại Việt mình là nước Đại Ngu (Ngu Thuấn). Ông ta có kỳ vọng tạo nên một đất nước rạng rỡ như thời Nghiêu Thuẫn.

- Hồ Quý Ly có niềm say mê quá đỗi. Nó biến ông thành con người việc gì cũng dám làm.

Theo bác tựu trung phải nghĩ tới cái hồn nước cháu ạ. Hồn nước là giấc mơ của người dân. Dân ta mơ như thế nào, ai đi quá giấc mơ ấy cũng không được, chậm hơn cũng chẳng xong. Đi chệch, đi chậm, đi nhanh đều phải thất bại... Hồn nước có cách đi của nó. Có thể vinh quang... tàn lụi.. và máu nữa... Nó chẳng xót thương cho riêng từng người... Ai đi đúng cái đạo nó vạch ra sẽ thành công. Nhưng đạo ấy lại ẩn ngầm... phải tự tìm ra. Chẳng ai có thể thông minh hơn cái hồn của đất nước mình...

- Ý bác định khuyên cháu ra sao?

- Cháu phải tự ngẫm lấy... Những lúc như lúc này có bao nhiêu là gió... Đừng bị cuốn theo các cơn lốc... có khi một cơn lốc mạnh lại dễ làm ta loạng choạng. Môi người một nghiệp. Nghiệp ai người ấy đi. Nghiệp của cháu ra sao? Ma đưa lối quỷ đưa đường... tất nhiên cháu sẽ phải đi theo con đường mà tiền kiếp, quá khứ, gia đình, hoàn cảnh... đã vạch ra cho cháu.. Bác ngăn cũng chẳng được... Ai cản trở cũng chẳng được...

Phạm Sinh mơ màng:

- Cháu đã hiểu... cháu đã mất công toan tính... Cháu như kẻ đi câu... thả miếng mồi thơm... nhử con cá lớn... Cá cắn mồi... và cháu phải giật. Cháu sẽ bắt được cá nhưng cũng có thể.. con cá lớn quá nó sẽ kéo phăng cháu đi...

Phạm Sinh nói xong, anh khẽ mỉm cười.

Một hôm, Sử Văn Hoa đến dinh Trần Khát Chân, thượng tướng hoan hỉ:

- May quá? May quá! Thật mừng cho lão huynh. Trong triều ai ai cũng tưởng thái sư sẽ chẳng tha cho ông.

- Cũng nhờ hồng phúc tổ tiên... Vả lại, tôi bao giờ cũng lấy lòng thành đối đãi với mọi người...

- Lòng thành ư? Cái đức của nó lớn đến mức cảm hoá được cả con người sắt đá như thái sư?

Sử Văn Hoa đem mọi việc, nào chuyện viết sách trong ngục, nào chuyện gặp gỡ Quý Ly kể cho Khát Chân nghe. Quan thượng tướng rất chăm chú; nghe xong ông lặng im không nhận xét, mà chỉ hỏi tới chuyện sau này của Sử. Viên thái sử trả lời:

- Tôi nay đã là người dân thường. Việc sinh kế cũng chẳng đáng lo. Bán mấy mẫu ruộng ở làng đi, mua ít ruộng bên đầm Vạc. Tôi thấy đất chỗ ấy cũng tốt, lại cạnh Đại Hồ, phong cảnh hữu tình. Có thể tôi hứng lên, cắp cái tráp ra tháp Báo Thiên làm nghề tướng số cũng nên. Nghề ấy chắc tôi làm được - ông chợt cười xoà thú vị - Còn chiếc bút lông của tôi nữa chứ. Tôi không làm quan, nhưng có ai cấm tôi chép sử đâu...

Khát Chân cũng cười theo. Ông bảo lão Mai lấy vò rượu quý tặng ông già, rồi ân cần nói:

- Khi nào rỗi rãi lão huynh nhớ ghé chơi - Nhưng thượng tướng chợt sững lại, vẻ buồn rầu - Quên mất một điều. Trong vòng hai tuần trăng nữa, triều đình sẽ đi hết vào Tây Đô. Riêng tôi, một tháng nữa đã phải đi. Tình hình gấp gáp lắm rồi, lão huynh biết không?

Hai người nắm tay nhau lắc lắc, gương mặt xốn xang. Hôm sau, thượng tướng gặp quan Thái bảo, Khát Chân nói:

- Quái lạ! Quý Ly vốn tính đa sát, xưa nay có bao giờ tha chết cho kẻ thù của mình đâu, nhất là khi kẻ ấy đả kích ông ta chính diện... Hay là... Ông ta chỉ tha chết cho những ai đổi hướng.

Nguyên Hàng ngẫm nghĩ:

- Con người ấy đầy mưu mô... Cũng có thể ông ta muốn gây lục đục trong phe đối lập... Thả một người ra, để đối phương nghi ngờ lẫn nhau.

- Dù sao cũng phải giữ ông Sử lại với mình... Sử Văn Hoa là người có uy tín...
Nguyên Hàng im lặng hồi lâu, rồi gật gù.

- Tôi đã có cách.

Cũng thời gian ấy, thái sư nói với Nguyễn Cẩn:

- Phạm Sinh là người có tài - Anh ta có thể là danh hoạ. Không những vẽ giỏi, Phạm còn uyên bác. Chúng ta cần những người trẻ tuổi như vậy. Có bận ta đã ướm hỏi, nói xa xa với anh ta. Phạm bảo: “Thưa đất trời có bao giờ ngừng đắp đổi. Xưa nay, có cái gì vĩnh hằng đâu. Chuyển vần vốn là lẽ thường.” Mấy đêm liền, ta đều mơ gặp phu nhân. Phu nhân khuyên ta liền dùng Phạm... Nhưng
dùng như thế nào? Khoa thi còn lâu mới mở được... Và lòng ta vẫn như... e ngại.

- Bẩm, thái sư e ngại là phải. Sĩ tử đi thi, lai lịch rõ ràng... còn anh ta... quê quán ở đâu, con cái nhà ai... Có xã quan nào biết mà chứng nhận?

Nguyễn Cẩn sai người đi dò tìm gốc gác của Phạm.

Cuối cùng, Cẩn tâu với Quý Ly:
- Bẩm mẹ Phạm là tam bảo nô. Bà ta đã bị bệnh, chết rồi.
- Cha hắn là ai?
- Bẩm, bọn nô tỳ lấy nhau thường chẳng cưới cheo.
Thời gian qua, đánh nhau với quân Chiêm Thành liên miên, rồi lập đồn điền ở Hoá Châu, rồi hạn nô nữa, dân cư xáo trộn, biến động. Vả lại, số đàn ông ở thôn quê vợi đi phân nửa. Các nơi chỉ thấy nhan nhản toàn đàn bà con gái. Rất khó truy tìm tung tích người bố...

- Thầy học của hắn là ai?

- Bẩm, một ông sư già tu hạnh đầu đà, luôn đi du phương, nay đây, mai đó. Ông ta đã già lắm. Không chừng chết ở một xó nào rồi.
Quý Ly ngẫm nghĩ:

- Ngày xưa, Đoàn Nhữ Hài là học trò đã đội biểu quỳ trước cung Trùng Hoa, xin đức thượng hoàng Trần Nhân Tôn tha lỗi cho Trần Anh Tôn. Nhữ Hài không đi thi, cũng trở thành người tài của nhà Trần, Ngày nay, ta thấy Phạm Sinh cũng có cái phong thái của Nhữ Hài... Nhà ngươi nghĩ thử xem có cách nào để ta khỏi mang tiếng bỏ phí người hiền...

Cẩn biết ý thái sư, suy ngẫm rồi nói:

- Bẩm, hạ quan đã nghĩ ra.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #132 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:10:57 am »

Phần XI - Chương 6


Nguyễn Cẩn trở nên thân thiết với Phạm Sinh. Cẩn thường mang rượu đến ngôi chùa đổ, lúc ngắm hoa, lúc ngâm thơ cùng Phạm.

Một đêm, hai người tay xách bình rượu đồ nhắm vai, mang ống sáo, xuống thuyền chơi tráng trên Đại Hồ. Ra khỏi vũng lau sậy, thấy mặt hồ bao la, lóng lánh sóng nước. Cẩn thổi sáo. Tiếng sáo buồn như ngọn gió hiu hiu lan toả khắp mọi nơi. Chợt khói sương từ hòn đảo bồng bềnh giữa hồ lẻn ra, lan toả, giăng mùng trước mắt. Chẳng biết đâu là trời, là nước. Hòn đảo mọc đầy lau lách trước mắt bỗng trở nên mờ ảo, khi ẩn khi hiện. Nhìn lên chẳng thấy bóng trăng, chỉ còn thấy màn sữa đục, loãng và xôm xốp. Tiếng sáo dứt. Vẳng lạng mênh mông. Mấy con vạc, từ khu chùa đổ bay ra cánh đầm, thỉnh thoảng kêu lên vài tiếng buồn tênh. Một cô gái đánh cá đêm ở phía tít xa, hát lên một giọng ca chài không rõ tiếng, nhưng buồn não ruột.

Trông khắp mọi nơi, chợt Phạm thấy trong lòng thổn thức. Bèn gõ khẽ mạn thuyền mà hát rằng:

Sương đêm tim tím,
Đáy nước trăng tà.
Hạc đêm cô quạnh
Góc trời ngân nga.
Gõ mạn thuyền bài hát “Chu trung thính vũ”
Vạn cổ sầu mỗi khúc mỗi tơ vương.
Thăm thẳm dòng xuân tràn khắp ngả,
Đòi đoạn tơ lòng,
Ròng ròng sương nhỏ.
Núi sông ơi! Mưa gió đến bao giờ


Nguyễn Cẩn rót một chén rượu, sung sướng mời Phạm:

- Thật không ngờ, huynh lại có tài ngẫu hứng nhả ngọc phun châu đến vậy. Chả trách...

- Quan huynh? ý quan huynh...?

- Chả trách đã lọt mắt xanh của... thái sư.

Phạm nói giọng tâm sự khéo léo:

- Từ thủa nhỏ kẻ học trò hèn này vốn thích câu ca... nét chữ... chỉ là những thứ tài mọn... Còn như huynh, cái tài giúp đời mới là điều hữu ích...

Mắt Cẩn chợt sáng lên. Giọng dần dần sôi nổi và sảng khoái:.

- Thái sư thật có con mắt tinh đời. Chỉ mới qua nét bút của huynh, người đã nhận ngay ra. Xin có lời mừng cho huynh. Giữa trần ai mà đoán mặt anh hùng; việc ấy thực là.. tài minh chủ. Nói thật lòng, lúc mới gặp huynh, nghe thái sư đoán nhận, ta vẫn có ý không phục, nhưng rồi gần huynh, ta mới hiểu.

- Minh chủ ư?

- Trong lúc như thế này... đất nước rất cần một minh chủ... Trong những năm qua... đã có bao nhiêu người... Và hiện nay... cũng có bao nhiêu người... Nhưng thử hỏi có ai xứng làm minh chủ.. kẻ sĩ... người có chí... cũng phải có con mắt tinh đời... để nhận ra đâu là chân, đâu là giả. Cái độc ác, cái khủng khiếp lắm khi chỉ là cái vỏ... vờ vĩnh... để đằng sau nó ẩn nấp cái chân thiện, mà người đời, kẻ tầm thường không bao giờ nhìn thấy.

- Minh chủ? - Phạm bâng khuâng nghe giọng sôi nổi của Cẩn. Lạ thật Con người như anh ta cũng mang một cái vỏ che dấu ư? Hay ta cũng chỉ là kẻ ngốc nghếch. Có ai nghĩ rằng con người tưởng như chỉ là một kẻ tay sai xoàng xĩnh, một thứ thư lại, lại có những ý nghĩ như vậy. Cẩn không nhìn vào mặt Phạm. Đôi mắt anh nhìn ra mặt hồ bao la, sương khói mù mịt. Giọng anh như thể nói với chính bản thân:

- Minh chủ. Đó là điều quan hệ! Khách đa tình sẵn sàng vứt bỏ tất cả vì một hồng nhan tri kỷ. Người anh hùng sẵn sàng chết vì bạn tri âm. Kẻ sĩ sẵn sàng liều thân vì một minh chủ. Trên đời có mấy ai vừa đại trí... đại đức, lại có đôi mắt xanh?...

Rồi Cẩn đưa sáo lên môi thổi khúc Phượng hoàng mà Hồ Nguyên Trừng lúc say vẫn hát.

Phượng hoàng hề.
Phượng hoàng hề, bay vút trời cao...
Phượng hoàng hề, ngươi ở nơi nao


*
*   *

Thượng tướng Khát Chân, qua Phạm Tổ Thu, gửi đến Phạm Sinh những lời nhận xét về Nguyễn Cẩn:

- Một kẻ thông minh lanh lợi. Anh ta cuồng nhiệt vì ý tưởng Minh Đạo của Quý Ly. Nhiệt tình ấy, những người trung thần nào có thiếu. Cá đã cắn câu nhưng còn lượn lờ qua lại. Cần hết sức thận trọng với Cẩn. Sự thân mật của Cẩn với Phạm sau đêm bơi thuyền trên Đại Hồ, lại thêm phần gắn bó. Có lẽ Cẩn muốn tìm thấy ở Phạm Sinh một tri âm; Cẩn mang ngựa mời Sinh đến chơi nhà mình.

Nguyễn Cẩn dòng dõi Trâu Canh. Trâu Canh, thời vua trần Dụ Tôn, có công chữa bệnh liệt dương cho vua nên được vua yêu. Canh cậy thế làm càn nên phải tội may được tha chết. Trâu Canh có nhiều điều lạ. Đồn rằng: Trâu Canh cải sang họ Nguyễn, vì vậy con trai thành Nguyễn Điền, cháu nội thành Nguyễn Cẩn. Lời đồn đại về Trâu Canh có nhiều điều lạ. Đồn rằng: Trâu Canh bố là Trâu Tôn chết sớm. Ở với mẹ nghèo khó. Hàng ngày, Canh đi mò cua bắt ốc. Một hôm xuống nước, Canh bứt một sợi dây leo bên bờ ao buộc quanh bụng để treo cái rọ. Không ngờ, sau đó con chim của anh ta cứ cương cứng suốt ngày không chịu rũ xuống lúc nào. Hổ thẹn quá, Canh không dám lên bờ, suốt cả ngày ngâm mình dưới nước. Về sau, cởi chiếc giây leo ra, thấy yên ổn. Và Canh hiểu ra, sở dĩ con chim của anh cương cứng lên như vậy là do sợi dây leo. Nó là dây cường dương. Canh mang thứ giây leo ấy về vườn nhà mình và trở thành ông lang giỏi vô địch về chữa bệnh liệt dương. Chữa khỏi bệnh cho vua Dụ Tôn và nhiều vương gia nhà quyền quý khác trong triều đình. Cẩn biết Phạm cũng nghe được lời đồn như thế. Nguyễn Cẩn cười và giải thích cho Phạm về thân thế của mình:

- Cụ nội tôi, Trâu Tôn, là thầy thuốc đi theo quân đội nhà Nguyên, chữa thương cho binh lính. Quân Nguyên thua nhà Trần. Cụ Tôn ở lại Đại Việt, lấy vợ đẻ ra Trâu Canh. Cụ Canh mắc tội đi đầy, may được người con gái họ Nguyễn thương yêu cưu mang nên còn sống, cảm ơn cứu tử, cụ đổi họ Trâu sang họ Nguyễn. Cụ Trâu Tôn giỏi nghề mổ xẻ và có nhiều phương thuốc bí truyền nên mấy đời nay gia đình tôi nổi tiếng ở Thăng Long, nhất là cách chữa bệnh nhanh chóng và quyết liệt.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #133 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:11:58 am »

Phạm nói:

- Có lẽ cụ tổ gia đình huynh làm thày thuốc mổ xẻ nên đẻ ra cách trị bệnh quyết liệt như vậy.

Cả hai cùng cười.

Khu trang trại của gia đình Nguyễn Cẩn khá rộng rãi, đẹp đẽ, nằm cạnh Tây Hồ. Những thửa đất bên hồ trồng hoa, những chỗ xa hồ trồng nhãn. Con đường dẫn vào nhà tiền đường đi giữa vườn hoa muôn sắc hương đó Nguyễn Cẩn đưa bạn đến khu ở riêng của mình.

Phạm nói:

- Đệ muốn làm lễ ra mắt với cụ lang trước đã.

- Thân phụ tôi đang mắc việc bận.

Vợ Cẩn dẫn con ra chào khách. Phạm chợt nhận xét trong bụng: “Sao người đàn bà này buồn làm vậy. Rõ ràng chị ta tươi cười đón khách, nhưng vẻ mặt và đôi mắt mới u buồn làm sao?”. Cẩn dẫn Phạm đi thăm các nơi.

Đặc biệt là khu trại voi. Khi Cẩn và Phạm đến nơi thì những người quản tượng đương cho một chục con voi tập. Những quản tượng mặc áo đỏ nẹp vàng cầm chiếc đòn và chiếc búa điều khiển ngồi trên đầu voi. Thấy Cẩn đến, người chánh quản hô chào. Những quản tượng gõ chiếc búa gỗ theo một nhịp nào đó lên đầu voi. Tức thì những con voi quỳ hai chân trước xuống. Sau đó họ cho voi tiến, lui, chạy rất quy củ.

Cẩn giải thích:

- Voi là một sức mạnh riêng của quân phương nam chúng ta. Phương bắc không có tượng binh. Vừa qua, đội tượng binh của chúng ta rất yếu. Tôi tuân lệnh thái sư củng cố đội voi trận. Tôi tìm hiểu kỹ chuyện này. Phải vào Hoan, ái tìm những quản tượng giỏi, hậu đãi họ, để họ chuyên luyện voi và dạy nghề quản tượng cho bọn trai trẻ. Trước sau, ta cũng phải đối mặt với phương Bắc... Huynh đài có hiểu ý tôi không?

Lúc Cẩn mời Phạm đến nhà, Phạm chưa hiểu ý định của Cẩn, lúc này Phạm mới hơi vỡ lẽ một chút. Anh ta đã tin mình phần nào rồi đây. Nhưng tiếp theo...

Nguyễn Cẩn như cũng đoán được những ý nghĩ của Phạm, anh ta nói:

- Không hiểu sao mới gặp nhau, tôi đã rất tin tưởng ở huynh. Tôi nghĩ: đây là người bạn của ta...

Lời nói làm Phạm ngạc nhiên. Người làm những việc như Cẩn lại mong muốn một tình bạn ư? Hay là... hay là kìa sao gương mặt Cẩn lại rất thành thật? Một lời tâm sự, hay những trá nguỵ? Cũng có thể lắm chứ? ở tít cạnh một ngôi cao... mở mắt ra... chạm tay về tứ phía... lúc nào, chỗ nào cũng lúc nhúc những cạm bẫy và âm mưu. Sống như thế, chắc hẳn phải thấy cô đơn. Anh ta muốn một tình bạn là phải.

Cẩn vẫn tiếp tục:

- Cả huynh nữa, rồi thì... rốt cuộc... huynh cũng sẽ thèm một một người bạn, khi huynh hoàn toàn là người của thái sư... Tôi sẽ dần dần chỉ cho hết, nói cho huynh hết. Trại voi này chỉ là một điều quan trọng, còn nhiều điều khác quan trọng hơn. Hôm nay, chính hôm nay, huynh sẽ biết thêm một điều nữa... một điều cực kỳ bí mật... mà sẽ chẳng ai ngoài huynh được biết.

Về đến nhà, người đàn bà có gương mặt buồn, vợ Cẩn, chạy ra nói:

- Tôi đã chuẩn bị cơm rượu sắp xong. Mời bác và chàng vào nghỉ ngơi, rửa mặt.
Cẩn quay sang Phạm nói:

- Lúc này, cha tôi đã về rồi. Để tôi dẫn huynh sang chào cụ.

Nguyễn Điền, tức Trâu Điền, trạc sáu mươi tuổi, để râu dài, nét mặt quắc thước, đang ngồi trên chiếc tràng kỷ khảm trai. Sau khi chào hỏi, ông Điền đưa ra một câu nói làm Phạm Sinh ngỡ ngàng sửng sốt.

- Có phải đây là vị khách con mời đến để coi thăm “tịnh thân đường” của chúng ta không?

Cẩn trả lời:

- Phạm huynh là người bạn con mới gặp.

Phạm Sinh vẫn chưa hết sửng sốt, anh hỏi ông già:

- Thưa bác, “tình thân đường” có phải... nghĩa là..

Giọng ông già bình thản giải thích:

- Vâng, đúng nghĩa chữ “tình thân” đấy... Làm cho thân ta trở nên chay tịnh... hết những hệ luỵ dày vò. Con người sẽ tập trung được tinh thần vào những việc mà ta ao ước... những việc có thể lưu danh với đời.

Phạm Sinh càng ngạc nhiên hơn khi ông già tiếp:

- Việc “tình thân” là một công việc khó khăn, hệ trọng. Sinh mạng con người đặt vào hai bàn tay này. Có phải như chuyện thiến một con gà đâu? Con người ta phức tạp hơn nhiều. Phải làm thế nào để ít chảy máu. Phải làm thế nào để cho tuyệt nọc. Làm một lần là xong.. sạch sẽ... phải làm thế nào cho thật nhanh và chính xác. Rồi trước khi tịnh thân, sau khi tịnh thân, phải kiêng cữ ra sao? Nhưng, ông tổ tôi đã làm công việc y đức này... Việc bí truyền trong dòng họ... Hầu như chẳng bao giờ sai sẩy... Như hôm nay, tôi vừa tịnh thân cho ba người xong. Ba chàng trai dành cho việc triều cống nhà Minh vào cuối năm nay. Bên Bắc họ kỹ càng lắm. Quan tổng quản thái giám bên ấy cũng biết tiếng gia đình tôi. Ông ta biên thư sang: yêu cầu triều đình ta phải để do chính tay tôi làm...
Ông già nói giọng sang sảng, nhưng vừa tiến hành xong mấy trường hợp phẫu thuật, nên không dấu được vẻ mệt mỏi trên gương mặt. Cẩn và Sinh vội cáo từ, lui về, cho ông già nghỉ ngơi.

Phạm Sinh trở nên ngơ ngác, suy nghĩ câu chuyện này có ý nghĩa gì? Phạm đang đi vào một mảnh đất đầy bí ẩn. Nguyễn Cẩn hay thái sư định trao cho ta làm một việc gì đây? Sao Cẩn lại hé lộ cho ta thấy những điều mà người ta không nên để mắt tới? Phải chăng đây là điều bí mật mà lúc thăm trại voi anh ta đã đả động tới? Cẩn dẫn Phạm đi qua một vườn cây, trông thấy một dãy nhà bên hồ và nói:
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #134 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:12:58 am »

“Tịnh thân đường” của cha tôi đấy. Nhà Minh, đầu năm nay, yêu cầu Đại Việt phải nộp cống hai chục đồng nam, để làm hoạn quan. Tuổi từ mười, đến mười lăm, mười sáu. Khôi ngô tuấn tú, thông minh, biết chữ. Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương là người đa nghi. Ông giết hại công thần, không cho hoạn quan tham dự triều chính. Ông sợ nạn hoạn quan nhưng không thể thiếu hoạn quan. Vì thế cả ông khi còn sống và con ông lúc nối ngôi đều tăng cường dùng hoạn quan người nước ngoài. Dùng cách này có nhiều cái lợi... Trong những điều lợi ấy, nhà Minh có thể mua chuộc, dùng hoạn quan và người nhà của họ làm gián điệp dò xét đất nước ta.

- Đã có dấu hiệu đó?

- Đã có nhiều chuyện rõ ràng về việc dụng gián của họ.

- Tại sao ta không lợi dụng lại đưa người của ta sang...

Nguyễn Cẩn gật đầu:

- ý của huynh thật đúng với ý thái sư.

Hai người đến bên bờ rào khu “nhà thiến” đã được mang cái tên mỹ miều: “Tịnh thân đường”. Những chuyện vừa xảy ra kích thích trí tò mò của Phạm đến cao độ. Nhưng Cẩn không đưa bạn vào đó, anh ta chỉ đứng bên ngoài để giới thiệu:

Người được tịnh thân phải hoàn toàn tự nguyện. Ký giao kèo cam kết bằng lòng, gia đình được trả một món tiền lớn. Ba ngày đầu tiên, họ được nhốt trong căn nhà thứ nhất; mỗi người một phòng riêng, kín gió. Ba ngày đó kiêng ăn uống mọi thứ để sau đó không đại tiểu tiện. Sáng hôm thứ tư, người tịnh thân được uống một thứ rượu thật nặng, uống cho đến say mềm, mê man bất tỉnh. Tiếp đó, đưa họ sang căn nhà thứ hai. Nơi đây chính là y đường, nơi tiến hành việc cắt bỏ. Chỗ sẽ cắt phải tẩm dầu tê. Dao thật sắc, cắt một nhát là xong tất cả cụm, không bỏ sót một tí gì. Cái khó là chọn đúng chỗ. Cắt chệch chỗ có thể chết. Người tịnh thân nằm trên bàn, cái bàn đặt trên một hố vôi bột. Sau khi cắt, họ được đưa sang ngôi nhà thứ ba, ngôi nhà dưới gốc cây mát rượi. Chung quanh bao bọc những vườn hoa. Người tịnh thân xong, nhịn ăn thêm ba ngày, và ở trong nhà kín, kiêng gió nửa tháng...

Nghe Cẩn say sưa nói, một thoáng nghĩ chua chát chợt len lỏi vào trong tâm tưởng Phạm Sinh. Từ trước đến nay, Phạm cứ tưởng mình đã bày đặt sắp xếp cho mọi việc phải xảy ra theo ý riêng mình, hoá ra lại là bị xỏ mũi. Tưởng chủ động hoá ra bị động. Hai người quay trở về lúc trời đã xế chiều. Người đàn bà có gương mặt buồn đã sắp sẵn cơm rượu. Phạm cáo từ định ra về, nhưng Cẩn cố giữ lại.

Đêm nay, huynh phải ở lại. Chúng ta sẽ hàn huyên cho thoả thích. Huynh đã cho tôi bơi thuyền ngắm tràng trên Đại Hồ. Còn tôi, đêm nay sẽ đãi huynh một bữa tiệc trăng thâu đêm suốt sáng trên Tây Hồ. Nguyễn Cẩn sai gia nhân chuẩn bị một con thuyền nửa có mui, sắp sẵn đủ cả chăn màn, đồ nhạc khí, rượu ngon và thức nhắm. Chờ trăng lên mới cho thuyền rời bến.

Lũ gia nhân đẩy mái chèo ra đến giữa hồ, cắm sào, neo thuyền, rồi sang thuyền khác bơi tản vào sương mù, chỉ còn để lại hai người giữa mênh mông sóng nước. Chiếc đèn lồng buộc trên cọc thuyền cao thắp lên, ánh vàng lan toả vào sương đêm, làm cho không gian quanh vùng hồng hồng sắc đỏ, nhưng đưa mắt nhìn đến cuối trời thì lại chỉ thấy một mầu tím ngắt. Phạm Sinh thở dài. Nguyễn Cẩn vội thả đèn xuống, tắt đi, rồi nói:

- Đã lâu lắm tôi chẳng bơi thuyền. Ngày trước hai hoàng thân Nguyên Dận và Nguyên Uyên vẫn thuê thuyền để chơi bời hát xướng trên hồ. Lúc đó, thuyền này chứa được chục người. Đèn lồng treo quanh thuyền toả ánh xanh đỏ xuống mặt nước. Rồi kỹ nữ đàn ca thâu đêm... Rộn ràng, đẹp đẽ như cảnh tiên. Về sau Dận và Uyên, lúc Nghệ Hoàng mất, có ý phản nghịch, bị thái sư xử tội chết. Từ đó, Tây Hồ hết cảnh náo nhiệt. Bọn gia nhân tưởng tôi và huynh cũng như Dận và Uyên khi xưa nên đã thắp đèn lồng... nhưng chỉ thắp thử một chiếc thôi.

Phạm cười vang mặt nước.

- Hoá ra họ có ý thăm dò... tưởng tôi là một công tử, biết đâu rằng chỉ là anh học trò kiết.

Hai người ra đứng ở đầu thuyền, ngắm nhìn đêm Tây Hồ. Trăng lu. Cả một bầu trời pha sữa loãng. Không có gió, chỉ có sương giăng mù mịt và một không gian tịch mịch, vắng cả tiếng chim đêm.Thỉnh thoảng, sương lại vén màn, để mắt ta thoáng nhìn thấy những ngọn đèn chài ở tít xa xa, như những đốm lửa ma trơi lúc phồng to bằng quả bưởi, lúc xẹp nhỏ chỉ như hạt đậu rồi thoắt một cái đã biến mất, chỉ còn để lại dấu tích của chúng ở những tiếng thanh tre gõ cá lách cách vang lên, nhưng rồi cuối cùng cũng mơ hồ, mất tích trong tịch mịch.
Hai người uống rượu, ngâm thơ, đàn hát, lấy làm thoả thích. Nguyễn Cẩn, nhân chén rượu cao hứng, tay đánh đàn miệng hát. Đầu tiên hát bài “Trăng có tự bao giờ?” rồi sang điệu “Hoa say” cuối cùng lại trở về “khúc Phượng Hoàng”.

Phượng hoàng hề
Phượng hoàng hề bay vút trời cao..


Đến bài này, cao hứng đã đến tột độ, giọng chàng cảm khái, vang vang trong đêm, hoà cùng tiếng sóng oàm oạp vỗ thuyền. Nghe hát xong, Phạm gật đầu:
- Thật bi tráng, nhưng phảng phất chút buồn.

Cẩn gật đầu với sự tri âm... chàng lặng lẽ ngồi xuống uống luôn ba chén rượu. Câu chuyện dần dần đi vào tâm sự.

- Người ta sinh ra ở trên đời không gì bằng thoả chí bình sinh...

- Thế nào là thoả chí?

- Thứ nhất: có một người bạn tri âm, đêm xuống thả thuyền mặc trôi trên sông. nghêu ngao hát khúc “Chu trung thính vũ” chẳng là thoả thích hay sao?
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #135 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:13:57 am »

Hai người cười to, chúc nhau cùng uống.

- Thứ nhì: có một tấm hồng nhan, vừa là người đẹp, vừa là bạn tri kỷ, lúc sênh sang thì cùng lên xe xuống ngựa, lúc thất thế sa cơ thì rau cháo không lìa, há chẳng phỉ chí ở đời lắm sao?

- Còn thứ ba?

- Thứ ba là rồng mây gập hội. Kẻ sĩ chỉ là những đám mây trôi nổi trên trời... may ra chỉ hoá thành một cơn mưa, một bóng râm che mát cho đời chốc lát. Mây phải gặp rồng. Có rồng thì mây mới trở thành vần vũ, mới tạo thành chớp giật sấm ran, mới có thể đổi thay thiên hạ, mới có được cái cao vọng nhất trụ kình thiên (trụ chống trời) thay sông đổi núi... Làm cho thiên hạ thành đời Nghiêu Thuần... thái bình.

Phạm Sinh cầm bầu rượu lên tu một hơi dài, chàng không rót ra chén nữa. Và chàng bâng qươ hỏi:

- Nghĩa là phải có biệt nhãn, phải biết nhận ra rồng.

- Phải. đúng là biệt nhãn. Mây phải có biệt nhãn để tìm rồng... mà rồng phải có biệt nhãn để nhận mây. Trên đời mấy ai được phú cho biệt nhãn?

Đến lúc này, họ đã uống tràn cung mây. Họ luân phiên nhau nói, những tiếng nói có lúc là tự nhủ với mình, có lúc lại là lời tâm sự.

- Thật thoả chí bình sinh khi rồng gặp mây. Nhưng đã bao giờ huynh gặp tiên chưa? Tôi nghe nói ở Tây Hồ có vị thuỷ tiên trú ngụ... đêm đêm lúc hoá thành cô gái hái sen, người nức hương, vừa bơi thuyền vừa hát, tiếng hát làm ngát cả một góc trời, có lúc lại biến thành một ông già râu tóc bạc phơ, thổi tiếng tiêu buồn vào đêm tĩnh lặng, ru êm cơ cực trần gian... Như thế cũng chẳng thoả chí lắm sao?

- Con rồng ẩn nay đã hiện hình...

- Tôi hiểu, tôi hiểu ý huynh muốn nói gì...

- Còn chần chờ gì nữa... Thái sư đã nhìn ra tài của huynh.

Cuộc chuyện trò đã quay về đời thực. Cái thực khủng khiếp may nhờ đêm trăng ấp sương, nhờ những hồ lô rượu mịt mù, đã làm giảm bớt sự thô kệch, mài nhẳn những góc cạnh gồ ghề của nó. Chẳng nhớ được rượu nói hay là ai nói nữa?

- Huynh có biết tại sao chúng ta lại uống rượu đêm nay ở một nơi chỉ có trời nước mênh mông và riêng hai chúng ta không?

- Là bởi bài “ Chu trung thính vũ” của tôi hôm xưa. Nó cũng là một câu tâm sự.

- Để tôi kể cho huynh nghe một câu chuyện ngày xưa của nước ta. Ở phường Thái Hoà, bên Hồ Tây, khoảng chỗ kia kìa... thời vua Lý Thánh Tông có một kẻ sĩ tên là Lý Tuấn. Anh ta, ngày học võ, đêm học văn, trở thành người văn võ kiêm toàn, nức tiếng Thăng Long. Tuấn lại có gương mặt khả ái, được bổ vào ngạch thị vệ hầu vua. Lý Thánh Tông rất yêu mới bảo: “Nhà ngươi mặt mày đẹp đẽ, lại có tài, ta muốn hậu dụng. nhược một nỗi không trong hoàng tộc, khó có chức cao. Nếu người bằng lòng “tịnh thân” ta sẽ phong cho chức Hoàng môn chỉ hậu, ngày đêm ở bên ta làm người tâm phúc”. Lúc ấy, Lý Tuấn mới 23 tuổi, mới có vợ, nhưng vì là người có chí lớn, nên bái tạ ơn vua, nhận ba vạn quan tiền, rồi tự hoạn... Ông đã lập bao chiến công hiển hách phá Tống, bình Chiêm, lưu danh trong sử sách đến muôn đời...

- Vâng, Lý Tuấn tức vị đại anh hùng Lý Thường Kiệt...

- Kẻ được người tri âm, nhất là khi người tri âm ấy lại là một đấng minh chủ thì thân ta phỏng có sá gì. Ôi! Đại nghĩa? Vì đại nghĩa, vì người tri kỷ mà Dự Nhượng nuốt than... Này, huynh có để ý đến gương mặt người vợ hiền của tôi không?
- Một gương mặt buồn đến tan nát...

- Thế đấy tôi đâu dám sánh với người xưa... Nhưng một bận thái sư gặp tôi, người bảo: “Ngươi là kẻ có tài, ta rất yêu...”. Còn tôi, tôi đã đọc sách Minh Đạo và phải nói, tôi đã tôn sùng thái sư. Và để tỏ rõ lòng sùng kính, sự tri âm của mình... Tôi đã... tự... tôi... đã để lại một vết thương không chữa nổi trong lòng. trên gương mặt vợ tôi.

- Huynh đã...?

- Vâng... tôi đã làm như vậy...

- Cha huynh có bằng lòng không?

- Cha tôi bảo: “Anh đã có con trai, đã có người nối dõi. Còn chí trai... tuỳ anh quyết định. Ở đời, chẳng có việc lớn nào lại dễ dàng... Làm việc lớn, thân mình có thể tiếc được chăng?...

- Chí lớn! Ha ha... Chí lớn!

Phạm nâng hồ lô rượu lên uống một hơi dài và cười sằng sặc.

- Lý Thường Kiệt đấy? Tư Mã Thiên đấy? Toàn những con người bị thiến hoạn. Ngay cả như huynh... nếu huynh muốn được trọng dụng, cũng không thoát khỏi các thông lệ đó đâu. Ở cạnh một con người kiệt xuất, nếu ta không phải là kẻ bị hoạn hỏi có ai tin? Mà người ta cũng lo liệu cho thấu tình đạt lý... ví dụ huynh sẽ có ba vạn quan tiền... Huynh sẽ mua năm người thiếp... và chờ cho đến khi những người đàn bà ấy đã mang thai... lúc dó.. lúc đó.. sẽ là...

- Ha ha. ta sẽ có năm người thiếp... sẽ có năm đứa con, sẽ là anh quan thị... sẽ thực hành chí lớn...

Phạm và Cẩn uống cho đến li bì quay cuồng trời đất. Họ đếm sao, đếm trăng, nhìn thấy một trăm ông trăng chìm đáy nước. Họ cúi đầu qua mạn thuyền rồi nôn mửa cả vào mặt nước, cả vào những mặt trăng... những mặt trăng vàng úa như những kẻ mác chứng hoàng đản...
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #136 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:15:22 am »

Phần XI - Chương 7

Sáng hôm sau, lúc tỉnh dậy. Phạm ngạc nhiên thấy mình đang nằm trong một phòng ngủ ở trang trại của họ Nguyễn. Người gia nhân vào báo Nguyễn Cẩn có việc gấp phải đến cung Hoạ Lư từ sớm. Trên bàn có một lá thư Cẩn để lại.
Phạm huynh nhã giám.

Đêm hôm qua, đệ đã rút hết tâm can phơi bày cùng huynh. Những lời đề nghị là những lờ tâm huyết, mong huynh suy nghĩ. Rất mong sớm nhận được phúc đáp, trao cho rồng mây gặp hội. Rồng mây gặp hội.

Câu nói đó bỗng làm thức dậy toàn bộ diễn biến của bữa tiệc trăng trên mặt hồ Tây đêm qua. Rồng mây gặp hội! Thế là chuyện thật chứ không phải một giấc mơ, hoặc những lời của rượu. Như vậy, mục đích Nguyễn Cẩn mời ta đến “Tịnh thân đường” nay đã rõ ràng. Hay thật? Để trở thành một người tâm phúc ngày đêm bên cạnh Hồ Quý Ly, ta sẽ phải... tự huỷ hoại thân mình...

Thế là... như kẻ bị ma đuổi, Phạm Sinh tức tốc trở về ngôi chùa đổ. Chàng bồn chồn. ngồi đứng chẳng yên.

Chợt thấy chẳng muốn gặp ai lúc này. Phạm ra bờ hồ, ngồi lên con thuyền nhỏ, bơi thăng ra hòn lau, hòn đảo hoang; ngay thẳng chùa nhìn ra thấy nó nằm dài như một người ngủ mơ trên mặt nước.

Có lẽ từ hàng ngàn vạn năm xưa nơi đây có một dòng sông chảy qua, rồi trải nhiều cuộc dâu bể, đã trở thành hồ nước; còn cái bãi nổi trên sông nay đã trở thành một hòn đảo hoang đầy lau lách, làm nơi trú ngụ cho lũ chồn cáo và nơi trốn lủi cho đám dân manh lệ, sa cơ lỡ bước...

Phạm Sinh cắm sào, lên bờ. Những bãi đất gần mép nước là những nương ngô, còn ở sâu bên trong toàn cây hoang và lau sậy. Trước đây, có mấy lần Phạm đã đi cùng cô Hạnh và bà Sử ra vỡ đất. Anh còn nhớ nương ngô của Hạnh. Ngô xuân mới nhú như tấm thảm mượt. Phạm theo ruộng ngô đi đến túp lều trú nắng mưa. Ở đây có nhiều lều. Người ta chỉ cần dọn một vạt đất nhỏ bằng chiếc chiếu, rồi vít những cây lau chung quanh, buộc túm đầu lại là đã có một cái túp chống nàng. Cẩn thận hơn nữa đánh một chiếc tranh mềm và dài, rồi che vòng quanh trên cao, kiểu như mặc áo tơi, là chiếc túp lại có thể chống mưa.

Cái lều nhà Hạnh, do tay Phạm làm. Anh làm cẩn thận hơn. Phạm kiếm những cây lau, cây sậy già, rót hết lá, rồi cũng buộc túm đầu lại, chân choãi ra, nhưng chung quanh Phạm ken dầy, và đều đạn tạo thành một cái vách tròn kín mít. Sau đó, anh đan gianh, lợp như lợp nhà. Phạm nhớ hôm ấy làm xong, cô Hạnh cứ chui ra chui vào như đứa trẻ thơ, mắt long lanh, miệng cười: Huynh là học trò mà khéo tay thế.

Hạnh kiếm một số bông lau buộc lại như bó hoa, cắm trên đỉnh; chiếc lều càng thêm đẹp.

Lúc Phạm ra hồ lấy thuyền, cái dáng vẻ bồn chồn của anh, từ lúc về, không thoát khỏi con mắt tinh tường của Hạnh. Cô nói với cha chuyện đó. Hôm sau, ông già Sử sai cô chở mình ra đảo lau tìm Phạm. Anh đang nằm co ro trong ổ rơm suy ngẫm. Thấy ông già Sử, anh vội ngồi dậy chào. Sử Văn Hoa bảo:

- Anh mới ra đây một ngày, đã có bao nhiêu người đi tìm. Đêm qua, Tổ Thu và Ngưu Tất hỏi. Biết anh ở ngoài đảo nhưng tôi không nói. Sáng nay lại đến lượt Nguyễn Cẩn. Tôi nghĩ: chắc là có chuyện.

Phạm và ông già Sử, trở thành đôi bạn vong niên từ lúc mới gặp nhau. Khí chất, sự từng trải, nỗi ưu tư của ông già, làm cho anh tin tưởng. Anh chẳng nói nhưng ông Sử hầu như đã hiểu mọi tâm sự của anh. Hôm nay, ông kể cho Phạm một câu chuyện về Nguyễn Cẩn: Cẩn là người thông minh, học giỏi có tiếng ở Thăng Long so với những người đồng trang lứa. Anh ta có người anh song sinh tên Nguyễn Trọng. Cẩn thư sinh còn Trọng quắc thước. Cẩn giỏi văn, còn Trọng giỏi võ. Bộ đôi song sinh này quấn quýt với nhau lắm. Họ đầy triển vọng. Nhưng về sau, Trọng có hiềm khích với con trai một vị vương nhà Trần. Sự hiềm khích chuyển thành xung đột. Trọng giỏi võ, nhưng cậu công tử họ Trần lại đông tay chân. Một lần, bọn nô tì nhà công tử họ Trần vây đánh Trọng một trận nên thân. Họ đánh đòn hiểm. Trọng bị nội thương thổ huyết; mặc dù ông Nguyễn Điền là thầy thuốc giỏi cũng không cứu nổi mạng con trai. Từ khi Trọng chết, Cẩn mắc bệnh trầm tư Hồi về sau. Cẩn luôn luôn nghe thấy một tiếng nói trong đầu. Ông Điền không giỏi về chữa chứng cuồng phải nhờ tay ông lang Phạm, ông ngoại Nguyên Trừng. Hôm Cẩn đến xin thăm bệnh có mặt cả ông Sử vì cụ lang và ông Sử vốn là bạn thân Cụ lang bảo: Công tử phải kể chi tiết cho tôi. Ai nói trong đầu? Nói những gì? Nói vào lúc nào? Công tử đừng ngại... Tôi vốn là người kín đáo.. Vả lại, nếu không rõ... sẽ khó cho việc chữa trị.

Công tử Cẩn ngẫm nghĩ hồi lâu rồi trả lời:

- Cháu chẳng bao giờ nói với ai kể cả thân phụ cháu... sợ những ngộ nhận nhưng thực ra đó là những lời của đức Phật.

- Công tử nghe Phật nói... Nhưng tại sao lại biết chính là đức Phật?

- Dạ, từ khi anh Trọng cháu mất, hằng đêm cháu vẫn đến thắp hương trước điện thờ Phật cầu cho vong linh anh ấy... Rồi sự khẩn cầu được linh nghiệm... Cứ mối tối, đến trước bàn thờ Phật, là tiếng nói của Người bỗng đột hiện trong đầu óc.

Tiếng nói hiền từ... Người khuyên nhủ nên viết ra những điều mà thâm tâm tôi hằng suy nghĩ... Viết ra mới nhẹ người.

- Công tử đã viết chưa?

- Dạ đã viết... Đó là bản: “Nhật tân thập nhị sách”

- Nhật Tân... à, tôi hiểu... tôi hiểu... sau đó ra sao?

- Sau đó thấy bệnh đỡ hẳn nửa phần... Còn bây giờ đức Phật lại khuyên cháu...

“Đã đi, phải đi hết con đường của mình. Sứ mạng của con rất nặng nề”.

- Sứ mạng ấy là gì?
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #137 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:16:09 am »

- Điều này cháu không thể nói với cụ được... Và chính nó đã làm cháu suy nghĩ ngày đêm... Nên hay không nên...

- Việc này... tự công tử phải suy ngẫm... Nhưng tôi chỉ khuyên một điều... Sức người có hạn... Vả lại... cuộc đời vốn có con đường đi theo cái lý của nó... Không vội được! Vội vã sẽ bất cập. Công tử đọc sách phật có để ý đến thuyết “tuỳ duyên” của Trúc Lâm bồ tát chưa? Người đại trí trông cứ tưởng như người ngu... Đói thì ăn, mệt thì nghỉ... Duyên đến đâu. Làm đến đó... Có thể cả đời ta không gặp cái duyên ấy, nhưng sẽ có người khác gặp được, họ sẽ làm thay ta... Còn nếu ta gặp, thì cứ làm... không làm không đặng... Làm xong rũ áo bỏ đi. Cuộc đời thản nhiên. nhi nhiên. Cứ như thế... Đừng quá sức lội ngược... Đừng một mình làm cây trụ chống trời... Bệnh của công tử do suy nghĩ thái quá. Tôi sẽ cắt thuốc điều hoà cho... Nhưng điều chính, công tử phải tự mình giải quyết lấy.
Ít lâu sau, thấy Nguyễn Cẩn khỏi bệnh, và làm người tâm phúc của thái sư. Nghe đến đây, Phạm nói:

- Cháu đã hiểu đoạn sau câu chuyện... Việc này chắc chỉ có mình cháu biết, Nguyễn Cẩn đã đã tự tịnh thân.

- Tự cắt bỏ... mình đi.

- Vâng! Để chiếm được sự tin cậy tuyệt đối của thái sư.

- Và và anh ta đã khuyên cháu.

- Vâng Cẩn đã khuyên cháu.

Ông già viết sử ngậm ngùi:

- Cái giá phải trả đấy? Ta cứ ngẫm nghĩ mãi về cái tâm bệnh của Cẩn. Tiếng nói trong đầu ư? Lời của Phật ư? Chẳng qua cũng vẫn chỉ là giấc mơ cuồng. Nó không phát ra thành hình, thành tượng, trong phút mơ màng. thì phải biết thành lời nói vang vang, nhỏ to trong đầu óc.

Ông già Sử suy ngẫm một lúc lâu rồi chợt nói:

- Đáng lẽ ta cũng chẳng nói ra một chuyện về ta. Nhưng chắc nó sẽ có ích cho cháu... Cháu có biết cách đây ít bữa, một đêm Ngưu Tất chèo thuyền đưa ta đến gặp quan thượng tướng và quan Thái bảo không?

- Cháu có biết.

- Họ định nhờ ta làm cho một việc. Một việc mà Trần Khát Chân bảo hợp với khả năng của ta, mà một kẻ sĩ trung hiếu như ta phải làm lúc này. Ta nhớ hôm ấy, thượng tướng đãi ta rượu “Thập niên cổ mai”, thứ rượu hiếm, không phải lúc nào cũng dám đem ra mời khách. Uống thứ rượu ấy, ta biết có việc quan trọng. Thượng tướng ân cần nắm lấy tay ta: “Đoàn Xuân Lôi đã viết Phi Minh Đạo. Trần Thiêm Bình đã viết Cáo Nạn Biểu, khóc dưới cung khuyết nhà Minh. Và chính ông cũng đã viết Minh Đạo luận để vạch trần tội ác của Quý Ly. Những bài văn ấy xúc động và thức tỉnh lòng người. Nhưng theo ý chúng tôi như thế chưa đủ. Phải viết cả một cuốn sách, vạch ra đủ mọi tội ác, từ cuộc sống tư riêng đến việc triều chính. Phải làm sao biến tên ông ta thành một vết nhơ trong sử sách. Hiện nay cũng có lợi cho chúng ta, sau này cũng có lợi... Ví dụ việc ông ta đầu độc bà công chúa Huy Ninh... Việc ông ta có con riêng với lũ kỹ nữ... Việc ông ta nhục mạ ông lang già, ông bố vợ, làm ông này phẫn chí lên núi Yên Tử đi tu... Việc viết quyển Minh Đạo là một sự nhận vơ... Chính Nguyễn Cẩn đã viết ra cuốn sách đó...”. Ta càng nghe nói càng ngạc nhiên, bởi vì các chuyện đó đều không có. Ta bèn nói: “Việc viết sách là việc tâm huyết của kẻ sĩ. Phải điều tra cho tận tường. Không có thật thì không thể nói. Bởi vì nói vu cáo, kẻ bị hại sẽ không hề gì, mà chính vết nhơ sẽ in lên mặt kẻ sĩ cầm bút”. Trần Khát Chân bảo ta: “Ông không nên câu nệ. Để tỏ rõ lòng trung hiếu, để tiêu diệt kẻ thù, thì ta có quyền làm tất cả, ngay cả dựng nên sự việc...”.

- Chắc bác không viết cuốn sách đó - Phạm Sinh hỏi, song ông già Sử không nói vào việc đó. Giọng ông lúc này chợt buồn bã:

- Thế đấy! Thời nay sao đẻ ra làm kẻ cuồng. Nguyễn Cẩn là một kẻ cuồng tín. Đến cả Khát Chân cũng chẳng ra ngoài một chữ cuồng. Họ đinh ninh với một ý tưởng, rồ dại vì suy nghĩ của mình, không từ một thủ đoạn nào, không dung tha cho một ai trái ý... Có đúng không? Có đáng hy sinh cho những điều như vậy không? Ai cũng rồ dại vì những câu nói khoa trương.

Họ có hiểu đâu được hồn nước mới là điều chính yếu.

Chẳng ai thông minh hơn được hồn của núi sông mình. Ai đúng, ai sai? Khát Chân hay Quý Ly? Vả lại đường đi của hồn núi sông thật là ngoắt ngoéo. Đánh giá thành ư? bại ư? Có khi bại mà mấy trăm năm sau lại là thành. Có khi người đời chỉ vì mê muội mà kéo ánh sáng trở về bóng tối. Sự mơ màng lòe loẹt làm chậm bước chân của hồn núi hồn sông?

Những câu nói của Sử Văn Hoa làm Phạm thấy mình dần dần tỉnh lại. Ông già sau khi nói một hồi dài, cũng thấy như mình được vơi nhẹ nỗi lòng. Cả hai người trở nên ít nói hẳn đi. Ông Sử lấy ra bình rượu mà ông đã mang sẵn bên người. Một già một trẻ nhâm nhi lặng lẽ. Cuối cùng, ông già Sử nói: - Ta đã bị Quý Ly hành hạ nhiều. Nhưng lúc này còn quá sớm để khen chê ông ta. Chỉ biết rằng đất nước mình đang cần lột xác Quý Ly là một người đầy táo bạo. Một kẻ cướp phải có gan: trên đầu nào biết có ai. Ông ta là một con người dám “trên đầu chẳng có ai”. Ta không thích ông ta, nhưng cũng không viết cuốn sách mà thượng tướng đã giao cho. Còn cháu, ta quý cháu như con trai. Nếu cháu thấy lời ta là phải... thì cái Hạnh đấy, ta biết các con thương yêu nhau. Các con hãy mang nhau đi... Đi đi, đi thật xa, đến nơi thôn ổ nghèo nàn không bon chen mà ở... Chốn náo nhiệt này không phải là chỗ của các con đâu.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #138 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:17:15 am »

Ông già lấy một cuốn sách trao cho Phạm:

- Đây là cuốn Trần Sử bác mới phác thảo và chưa hoàn thành. Ta già rồi, vả lại trước mắt có nhiều bất trắc, con hãy mang nó đi và viết tiếp rồi hoàn chỉnh lại nó... Việc này có lẽ là cái duyên nợ cháu phải làm, nó hợp với cháu hơn.

Qua lời ông già. Phạm cảm nhận cứ như một cuộc chia tay. Anh bùi ngùi hỏi:

- Tại sao bác lại nói tới chữ bất trắc?

- Bởi vì... bởi vì.. à quên chưa nói với cháu một điều. Chuyện dạo xưa cháu vẽ chậu hoa cúc, lại nói theo ý bài thơ Cúc của Hoàng Sào. Hoàng Sào là giặc, tại sao cháu có cảm tình với Hoàng Sào? Quan thượng tướng để ý và cho người đi dò la. Cuối cùng, họ đã biết cháu là con trai của Phạm Sư Ôn năm xưa đã chiếm Thăng Long ba ngày, Cháu là kẻ thù của Quý Ly, nhưng cũng là kẻ thù của nhà Trần... Cháu đã hiểu ý bác chưa?

Đến lúc này, Phạm Sinh đã hoàn toàn tỉnh mộng. Anh muốn cả gia đình nhà Hạnh cùng đi với anh. Nhưng ông Sử cho rằng đi bốn người líu ríu rất dễ gặp nguy hiểm. Trong lúc đó cả Nguyễn Cẩn, cả Tổ Thu Ngưu Tất đều đang rất muốn tìm anh.

*
*    *

Phạm Sinh và Thị Hạnh nghe lời cụ Sử Văn Hoa, ngay đêm ấy, bơi thuyền rời khỏi Đại Hồ, đi về phía nam Thăng Long ở nhờ một nhà quen cách kinh đô chừng vài mươi dặm. Cụ Sử hẹn mấy hôm sau cả nhà sẽ đoàn tụ. Nhưng đã mười hôm rồi mà vẫn chưa thấy bóng dáng cụ Sử ông và cụ Sử bà. Hai người lòng nóng như lửa đốt. Không chịu nổi nữa. Phạm Sinh định giả trang trở về Thăng Long nghe ngóng tin tức.

Phạm mới rời chỗ ở một quãng đường, đến một cái chợ, may mắn gặp người quen. Anh ta là một nô tì được giải phóng, không có việc làm, phải lên Thăng Long làm nghề gánh thuê, thỉnh thoảng vẫn đến ngủ đô ở ngôi chùa đổ. Gặp Phạm, anh ta kéo ngay ra chỗ vắng báo tin:

- Huynh chớ có về Thăng Long. Người ta đang vẽ hình truy nã huynh. Giấy dán ngay ở chợ Báo Thiên. Vả lại...

- Tôi muốn hỏi bác tin tức về hai ông bà Sử.

- Thật khổ? Huynh chưa biết tin tức gì sao? Chùa Tiên bị đốt cháy rồi.

- Chùa cháy?

- Cả hai vợ chồng cụ Sử cũng bị chết cháy trong đó...

- Hai cụ Sử đều chết cả rồi sao?

- Thật khổ! Sau khi huynh và cô Hạnh bỏ đi, vợ chồng cụ Sử về ngủ ở toà hậu điện, chỗ huynh ở cũ. Đêm hôm ấy, có một toán người bịt mặt đến chùa. Tôi may mắn hôm ấy không ngủ tại chùa. Nghe nói toán người này rất hung ác, chúng sục sạo khắp chùa, trói gô tất cả ai có mặt, đánh đập dã man, rồi giết tất cả chẳng trừ một ai. Hôm ấy chỉ có ba người thì phải. Ông bà Sử và một thằng bé ăn mày, thằng bé nhỏ người nằm dưới đít ông Thiện hộ pháp. Nó nhìn thấy tất cả. Nó thấy lũ bịt mặt đánh đập ông bà già tra hỏi điều gì đó, thằng bé nhanh nhẹn lẻn được ra khỏi chùa, xuống hồ lặn đi mới thoát chết. Bọn bịt mặt giết hai vợ chồng ông bà già xong, liền phóng hoả đốt chùa. Lửa cháy ngùn ngụt cho đến sáng. Người ta đến thấy xác vợ chồng ông Sử bị cháy đen. Và có một điều rất dã man và rất kỳ quặc.

- Điều gì kỳ quặc?

- Bọn bịt mặt đã dùng dao sắc cắt toàn bộ cụm ngọc hành của cụ Sử Văn Hoa...
Cắt sạch! tại sao lại cắt? tại sao phải dã man như vậy? Là một tín hiệu gì hay một sự đe doạ? Ai đã làm việc này? Cũng có thể họ muốn tìm ta. Cũng có thể cụ Sử đã chửi rủa hoặc làm phật ý một nhóm người nào đó?

Phạm lặng người đi vừa buồn rầu vừa tức giận. Cũng xen lẫn một cảm giác hối hận, vì Phạm nghĩ có thể cụ Sử chết vì người nào đó muốn tra hỏi để tìm anh, vậy anh đã gây ra cái chết của vợ chồng cụ Sử, mà cũng là bố mẹ vợ của anh.
Phạm chợt nghĩ đến một câu nói của cụ Sử cái đêm ngoài túp lều bãi ngô: “Con người có ba thứ quý nhất: khối óc. trái tim và tinh lực. Nếu ở cạnh một quân vương, chắc chắn con người sẽ bị mất một trong ba vật quý ấy “ Phạm liên miên suy ngẫm. Anh lại nhớ xa hơn đến những lời dạy của ông thầy già Sư Tề khi dạy võ Ngọc Trản cho anh. Có ba miếng võ độc thủ: Thượng Ngọc Trản, Trung Ngọc Trản và Hạ Ngọc Trản. Dùng độc chiêu Thượng Ngọc Trản kẻ thù sẽ mất đầu; dùng miếng Trung Ngọc Trản, kẻ thù sẽ bị đâm qua tim, dùng miếng Hạ Ngọc Trản kẻ thù sẽ mất cái sinh khí ở đời.

Phạm không đi sâu vào võ thuật nên không học những thế võ giết người quái quỷ ấy. Song ở đây cụ Sử bị cắt toàn thể bộ sinh thực khí, liệu có gì liên hệ với thế võ Hạ Ngọc Trản kia không? Và như vậy, liệu có liên quan gì tới Tổ Thu và Ngưu Tất hay không?

Tuy nhiên Phạm Sinh vẫn miên man nghĩ tiếp - Cái đêm tâm sự với Nguyên Cẩn trên hồ Tây, rồi chuyện Nguyễn Cẩn đã tự hoạn, rồi Nguyễn Cẩn đã gợi ý cho chính anh... liệu tất cả những cái đó có mối liên hệ nào tới cái chết bi thương và tàn độc một cách quái dị của cụ Sử không?

Sao lại không? Đối với những kẻ cuồng tín tất cả đều có thể.

Vậy thì ai là người đã giết chết Sử Văn Hoa? Ai là người đã đang tâm giết một con người đã cõng một bồ sử trên lưng, leo đèo lội suối, trốn tránh một hôn quân để đi tìm một chân mạng thiên tử? Ai là kẻ đã dã man giết một con người nhân hậu chỉ muốn đi tìm cách giải giấc mộng cuồng ở đời? Ai là kẻ đã mất hết nhân tính đến mức giết một người suốt đời ghi chép sử di tìm hồn của núi sông, dù trong tù ngục vẫn giải một câu đố về sự thái hoà dân tộc?
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #139 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:18:53 am »

Phần XII - Chương 1

Đường Yên tử


Cha tôi nói:

- Anh Trừng? Đã đến lúc cha phải vào Tây Đô. Tình thế lúc này dồn dập. Minh Thái Tổ vừa mới chết. Minh Huệ Đế vừa mới lên ngôi. Lúc này, phương Bắc đang phải lo việc bên trong của họ. Bên mình, thái tử An cũng vừa lên ngôi thay Thuận Tôn. Cháu ta còn nhỏ lắm. Năm nay ta cho tổ chức hội thề tại Tây Đô, trên Đốn Sơn ta sẽ đích thân làm chủ lễ. Trăm quan đều phải có mặt ở hội thề, không ai được phép vắng. Ngày ấy sẽ là ngày chứng tỏ lòng trung trinh của mọi người. Anh Trừng? Chính vì hệ trọng như vậy, nên công việc ngoài biên ải không thể lơi là. Những việc ta giao cho anh...

Tôi trả lời:

- Thưa cha, biên cương phía nam hiện nay không còn là mối lo ngại, nhưng con cũng đã biên thư vào Hoá Châu nhắc nhở bọn Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân vẫn phải cẩn mật theo dõi địch tình. Ngại nhất là biên giới phía Bắc. Mặc dù nhà Minh đang bận. nhưng ý đồ nhòm ngó nước ta của họ ít lâu nay đã rõ. Vậy nên, phía Lạng Sơn con đã nhờ Hoàng Hồi Khanh đi nhắc nhở và thanh sát; còn phía mặt biển, đã cho Đỗ Tử Mãn đem thuỷ binh ra Vân Đồn. Mặc dù vậy, ngày mai con cũng phải lên đường ra Hải Đông thanh sát...

Quý Ly gật đầu:

Như vậy cha mới yên lòng vào Tây Đô. Cha dặn thêm con một điều: Ngoài việc xem xét động tĩnh của phương Bắc, trong khi đi thanh sát, con nên nhớ gặp những nhân sĩ khoa bảng... Cha muốn ngày hội mừng Tây Đô và ngày hội thề phải có đủ mặt các danh sĩ... Cũng nên báo cho cả đám học trò, sắp tới ta sẽ cho mở khoa thi kén người tài ngay tại kinh đô mới... Sĩ tử nên vào sớm ngay từ lúc này là vừa... Ra Hải Đông, con nhớ lên Yên Tử thăm ông ngoại... nếu mời được ngoại vào Tây Đô dự hội mừng kinh đô mới là tốt nhất - Nhưng năm nay ngoại của con đã ngoại tám mươi; không biết người còn đủ sức để đi một chuyến...
Vậy là khi tất cả các gia đình quý tộc Thăng Long lũ lượt kéo nhau vào Thanh Hoá, thì một mình tôi lại chuẩn bị đi một chuyến ngược chiều, vừa ra biển, vừa lên biên giới.

Tôi cưỡi ngựa. trở về Trại Thuốc. Ông già Lặc ra đón. Tôi nói với người lão bộc:

- Cụ vào chuẩn bị hành trang. Nhớ mang cả túi thuốc quý, nhất là những thỏi quế Thanh, những con nhân sâm...

Ông già đưa mắt nhìn tôi. như muốn hỏi lộ trình nơi đến, song lại không dám. Tôi vui vẻ trả lời câu hỏi ẩn ngầm ấy, bởi vì tôi biết câu trả lời sẽ làm ông vui:

- Chuyến này ta lên Yên Tử, đến chỗ ông ngoại tôi.

Quả như tôi dự đoán. mắt ông già mắt chợt sáng lên. Tôi hiểu người lão bộc rất gắn bó với ông tôi. ừ nhỉ? Người già... tuổi già... nỗi cô đơn... tại sao ta lại không nhận thấy ông lão Lặc và ngoại tôi, ngoài thân phận chủ tớ, còn là hai người bạn. Ông Lặc được ông ngoại tôi nhờ cậy giao phó... vì cái nghĩa, ông cụ đã từng ấy năm trời chăm sóc cho tôi. Nhưng còn ông ngoại và nỗi cô đơn của người già nữa... Trong thời ly loạn này, tôi có quyền gì để kéo cái tuổi già vào vòng xoáy? Nghĩ vậy tôi nói:

- Lần này, lên đó, tôi sẽ gửi cụ ở lại với ông ngoại tôi

- Thưa đức ông...

- Ngoại tôi đã già lắm rồi. Và cụ cũng đã trở về già... Tôi nói thực bụng đấy... Hai người cần ở bên nhau lúc tuổi già. Tôi đã vô tâm, đáng trách với ngoại tôi... cả với cụ nữa... nhưng chuyến này, tôi đã quyết...

- Thưa đức ông, cụ nhà dặn, vì đức ông chưa có...

Tôi cười:

- Ngoại tôi lo láng, vì mấy năm nay, từ khi quận chúa mất, tôi chưa chịu tục huyền chứ gì. Cụ đừng lo... Phen này tôi sẽ lấy vợ... mà không chừng, tôi sẽ cưới dăm ba bà ấy chứ.

Chiều hôm ấy, tôi ngồi ở thềm ngôi nhà cổ, ngắm nghía khu vườn thuốc của ông ngoại. Khu vườn thuốc, nhưng đối với tôi lại là một vườn hoa, lúc này đương tiết xuân, nên tưng bừng muôn sắc. Mấy bụi loa kèn trắng, trước sân, vươn cao những giò hoa trắng ngà, toả một vị hương kín đáo, tôi phải nhắm mắt lại mới bắt được thứ hương dìu dịu ngọt của nó. Bóng tối sắp đến, tôi phải mở mắt ra để đón nhận trăm sắc hoa rực rỡ. Chắc ông tôi, lần này, sẽ muốn cháu mình kể lại cho nghe về khu vườn yêu mến, khu vườn mà có lẽ ông sẽ không còn có dịp gặp lại... Ông ơi! Cháu vẫn giữ nguyên vạt vườn cỏ lau ở góc xa xa, nơi ông đã nuôi thứ sâu “đông trùng hạ thảo”. Vẫn còn đó cây lựu, tứ thời, cây lựu già lúc này có hàng trăm bông hoa đỏ chót, cây lựu của ông sao lại nở hoa quanh năm? Vẫn còn tất cả những chậu địa lan, cháu chẳng nhớ tên từng thứ, nhưng cháu nhận thấy có thứ hoa xanh cốm, có thứ hoa ngà ngà, đốm tím bông to, có thứ hoa vàng ươm như một đàn bướm xúm xít...

- Ông ơi! Cây ngọc lan yêu quý của ông vẫn xanh tốt, nhưng lúc này chưa đơm hoa... Ông tôi yêu cây lan, tôi cũng yêu cây ngọc lan không kém. Ngày xưa, phải vạch cỏ dại mới đến được gốc của nó. Ở đó, có một ngôi miếu nhỏ. Nó giống như một thứ cây hương, to hơn mọi cây hương, đằng trước có bậc trèo. Chính ở đây, tôi đã dấu bí mật của thời thơ ấu. Bà mẹ kế của tôi, bà công chúa Huy Ninh kể rằng, cha tôi thời thơ ấu vẫn nuôi một ngọn lửa bí mật trong một hốc đá. Tôi lấy làm ngạc nhiên sao lại có sự trùng hợp như vậy. Tôi cũng đã nuôi một ngọn lửa bằng những que hương ở góc miếu, dưới gốc ngọc lan, và vẫn thường mơ thấy những điều kỳ lạ bí ẩn về cây hoa ngát hương nọ. Có đêm, nằm cạnh ông, nghe tiếng thạch sùng tặc lưỡi trên nóc nhà, tôi vẩn vơ hỏi:
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM