Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:59:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồ Quý Ly  (Đọc 65530 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #140 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:19:40 am »

- Ông ơi? Tại sao ta phải thắp hương ở miếu ngoài vườn?

- Tại vì... cây ngọc lan.

- Sao lại thế?

- Cây lan thơm quá... thành thử những vong linh thiêng liêng hay về tụ hội ở đó.

- Những vị thần hở ông?

- Ừ! Thần đất... có người bảo lắm khi... cả những hồn ma.

- Cây ngọc lan nhà mình có ma sao?

- Ông chưa trông thấy ma ở đấy bao giờ.

Những tín ngưỡng thơ ngây dân dã ấy, khi lớn lên làm tôi tự cười thầm, nhưng đã làm đẹp thời ấu thơ của tôi rất nhiều. Đêm ấy, tôi trằn trọc và im lặng nghĩ ngợi: ông tôi chưa hề thấy, nhưng riêng tôi đã từng trông thấy con ma Ngọc Lan. Điều này tôi chẳng nói với ai, và cứ thầm hứa với mình sẽ gìn giữ bí mật ấy mãi mãi. Tôi ghen tuông mà gìn giữ, bởi vì chẳng có ai, ngay cả ông ngoại tôi, cũng chưa bao giờ nhìn thấy. Riêng một mình tôi thấy, vậy đó là đặc ân trời đã riêng ban cho tôi. Cái đặc ân độc nhất trên đời - Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ như vậy - Nếu như ai ở trên đời này không có một bí mật riêng tư, dù cho điều đó bị coi là ngớ ngẩn, thì chắc chắn người đó là kẻ bị thiệt thòi, thậm chí có thể nói là bất hạnh. Tổ tiên, khí sông khí núi đã gửi riêng cho ta điều linh thiêng kỳ bí đó... tôi cứ tưởng như đó là vật gia bảo được xưa truyền lại... nó như muốn dạn dò tôi để làm kế tiếp một điều gì đó rất mơ hồ, ta khó bao giờ xác định rõ rệt. Con người cứ như thể bị quỷ ám, cứ đinh ninh mình phải làm một điều gì đó, một điều có thể nhỏ bé thôi, nhưng là số phận, mà có khi cả cuộc đời vật lộn cam go mới có thể tìm ra.

Con ma Ngọc Lan của tôi hình thù thế nào? Cứ nhớ mãi một đêm mùa hạ năm tôi trạc chừng bẩy, tám tuổi - tôi cũng ngồi ở thềm nhà nhìn ra góc vườn, chỗ cây ngọc lan. Hương lan ngát trời. Hương lan đượm vào vườn cây thuốc, đượm vào lùm cây bưởi. để man mác theo ngọn gió đến đánh thức cái hồn mơ màng ở chỗ sâu kín trong tôi, vẫy gọi nó thoát xác, để ra nô đùa dưới trăng hè. Tôi như bị thứ mê hồn hương ấy vừa ru rím, vừa rủ rê đi vào cuộc xuất thần. Trong giấc ngủ ngồi chập chờn, đột nhiên, tôi rùng mình. Rùng mình, bởi vì hồn tôi hay chính là tôi chợt trông thấy cái vòm lá thẫm của cây ngọc lan đang lắc lư. Cảm giác cái cây như một con người đang cựa quậy muốn gắng hết sức... lột xác Rồi cây lan bỗng run bần bật. Toàn bộ không gian quanh vùng cũng nức lên, ngút ngát hương thơm. Không gian được ướp hương hay là cây lan đang vắt mình phun ào ạt thứ mê hồn hương kỳ lạ, để tặng cho người. Chính phút ấy, từ bóng sẫm, tôi trông thấy con ma Ngọc Lan lững thững bước ra ánh trăng. Thế là tôi choàng tỉnh dậy, và không tin ở mắt mình nữa. Tôi dụi mắt. Đúng là tôi đang thức.

Chính đôi mắt tôi đã trông thấy hồn ma. Những con ma của người đời, của hầu hết mọi người, thảy đều xấu xí, đều làm ta rùng mình sởn gáy, trái lại, con ma Ngọc Lan của tôi lại là một giai nhân. Một cô gái đẹp, rất trẻ, đội nón thúng quai thao, mạc áo mớ ba, bên trong áo lụa bạch, ở giữa áo hồ thuỷ, bên ngoài áo là mầu cánh gián. Cô bước đi làm mớ váy lụa, trong trắng ngoài đen sột soạt; mớ thắt lưng mầu hoa đào và hoa lý phất phơ. Đôi chân cô đi hài cườm, lướt trên đầu ngọn cỏ tựa đang bay. Còn thêm một điểm khác nữa: con ma của người đời đều độc ác, chúng hiện hình như chỉ để doạ nạt, chỉ để báo một điều dữ, làm cho con người phải đẫm mồ hôi lạnh toát. Riêng con ma Ngọc Lan của tôi lại hiền lành, cô con gái nón thúng quai thao ấy đứng giữa vườn hoa thuốc, nở nụ cười với tôi, vẫy nón, rồi thủng thỉnh quay về gốc hoa lan, và... hoà tan trong vũng tối góc vườn, để cho tôi ngơ ngẩn trông theo. Cũng không hiểu sao, trong thâm tâm, tôi cứ đinh ninh rằng đó là một điềm lành đã xuất hiện ở lúc rạng đông cuộc đời mình. Rồi nhiều buổi chiều khác, tôi cứ ngồi ở thềm ngôi nhà cổ, chờ đợi, rình gặp lại cái phút kỳ diệu mà một lần tôi đã thoáng thấy, nhưng phút đó không bao giờ tái hiện. Hay, nói cho đúng hơn, điều kỳ diệu ấy chỉ tái hiện trong giấc mơ tôi. Cô gái Ngọc Lan, hay cô ma xinh đẹp ấy, trong cuộc đời tôi, thỉnh thoảng lại về trong mộng; đó là những lúc, trong những cơn bão tố cung đình, lòng tôi mang nhiều phiền muộn...

*
*   *

Hôm nay, trong cái chập choạng, tôi lại ngồi ở thềm ngôi nhà cổ nghĩ xa nghĩ gần. lòng buồn man mác, nghĩ tới số phận của những người thân đang bị cuốn theo, không cưỡng nổi, những cơn co giật cuồng nộ của sóng thịnh suy. Khu vườn này, ngày xưa, chẳng đã in dấu chân của Thánh Ngẫu, của Thuận Tôn... đó sao, chẳng đã từng nghe tiếng cười giòn giã sung sướng của những đứa em tôi đó sao; nhưng nay Thánh Ngẫu lúc nào cũng khóc, nó đã trở thành bà thái hậu u buồn; còn Thuận Tôn, sau khi làm lễ truyền ngôi cho Thái tử An, chắc lúc này đã ra tới Hải Đông, lên núi cao, ngồi tĩnh toạ, để tìm giấc mơ tiên... trong khói núi, sương chiều. Tôi muốn chối bỏ tất cả. Mà phút mơ màng trở về thủa ấu thơ lúc này cũng là cách chối bỏ. Bây giờ, tôi đã quá lớn để có thể đốt nén hương, nhen một ngọn lửa trong cái hốc ở gốc cây ngọc lan, nhưng chắc chắn trong lòng tôi vẫn còn bí ẩn leo lét ngọn lửa ấm áp của ngày xưa.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #141 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:20:39 am »

Ông ngoại tôi đã lên Yên Tử từ lâu. Khu trại đã bỏ hoang, nhưng vườn thuốc vẫn còn đó. Ông già Lặc vẫn chăm sóc vườn thuốc nhưng chẳng để làm gì cả. Ông ngoại, người thày thuốc từ tâm đã bỏ lên núi, hỏi còn ai biết xử dụng những cây cỏ lạ lùng đó nữa. Vườn thuốc không còn hữu dụng, nhưng nó vẫn còn là một vườn hoa, một vườn hoa ắp đầy kỷ niệm. Bụi bìm bìm tím mọc ở góc sân, leo lên cây bưởi, những ngọn của nó cong cong vươn ra không trung để nhảy múa với gió. Tôi chợt giật mình, nhớ tới chuyện ông ngoại dạn một bài thuốc lúc cụ đi tu:

- Phải nhớ lấy cây bìm bìm. Hạt của nó tên gọi “Khiên ngưu tử”, có thể chữa được bệnh rồ dại. Mà dòng giống nhà cháu vốn có chứng rồ dại.

- Ai rồ dại? Cha tôi? Hán Thượng? Hay bà hoàng Thánh Ngẫu? Cũng có khi, kẻ rồ dại ấy chính là tôi? Bởi vì đã nhiều đêm tôi mất ngủ. Bởi vì có một nỗi sầu dằng dặc vẫn ám ảnh tôi, mà tôi đã cố chôn vùi vào trong chén rượu. Bởi vì trong hồn tôi mang nhiều ảo ảnh. mà cô gái xinh đẹp nón thúng quai thao kia cũng là một ảo ảnh.

Dòng nghĩ miên man lang thang ấy bỗng nhiên chững lại, như bánh xe lăn vấp phải viên đá giữa đường. Hồn tôi sẽ lạnh, rùng mình. Tôi chợt ngẩng đầu nhìn ra vườn thuốc, rồi bàng hoàng... Từ xa xa, trong bóng mờ, dưới những tán cây hòe, có bóng một người con gái bước ra. Cô ta bước ra từ đám lau sậy, hay từ bóng những cây cổ thụ nhập nhoạng? Trăng non mùa xuân chẳng biết đã lên tự lúc nào... Không có bóng tráng. Biết trăng lên vì trời mầu trắng sữa. Trăng dãi lên người cô gái như khoác lên một tấm sa trắng mờ mờ, để làm nhoà khuôn mặt, nhưng lại càng làm tăng thêm vẻ kiều diễm. Tôi giật mình, tự nhủ thầm: hồn ma Ngọc Lan. Nhưng, cô Ngọc Lan đêm nay không đội nón thúng quai thao. Cô vấn khăn, tóc bỏ đuôi gà.

Những tà áo mớ ba đỏ trắng nâu và bộ thắt lưng hồng lý bạch được gió thổi tung phơ phất. Đúng! Cô ta đã hiện về? Tôi khẩn cầu cho hồn ma bước lại gần tôi. Người con gái mờ ảo đó tiến về phía tôi thật. Cô ta cười. Và hai tay lại dâng lên ngang mày một cây đàn nguyệt. Ô hay! Hồn ma đêm nay cũng muốn cùng ta say một khúc nguyệt cầm? Tôi đứng lên, mừng rỡ.. Người con gái mà ta đã gặp từ thủa ấu thơ, người con gái vẫn nhiều đêm đi về an ủi tôi trong giấc mơ, hôm nay, lại hiện ra bằng xương bằng thịt cùng với cây nguyệt cầm... Tôi như trong mộng, khi nghe thấy tiếng ríu rít như lạ... mà lại rất quen:

- Chàng thẫn thờ gì thế?

Tôi kính cẩn cúi đầu thi lễ.

- Ô hay!

- Đúng là nàng! thật hay mơ?

- Ô kìa? Chàng chẳng nhận ra em?

Tôi càng bàng hoàng hơn, khi nhận thấy giọng nói... quá ư quen thuộc...

- Chàng sao thế? Chàng nghĩ đi đâu vậy? Em đây mà? Thanh Mai đây mà.

Tiếng nói chợt kéo tôi về cuộc sống thật. Và, thế là tôi bừng tỉnh... à! Ra thế! Thực và ảo?... Ở đây ảo với thực hoà tan. Thì ra, cô gái Ngọc Lan, người đàn bà nón thúng quai thao, mà tôi đã gặp từ thủa xa xưa, nay đã hiện thân ra thành Thanh Mai. Thảo nào! Tôi cứ cảm thấy gương mặt của nàng rất quen thuộc... Hoá ra, một tiền duyên? Có thể nàng đã quen tôi từ một kiếp khác... Và hồn nàng đã về ẩn dưới gốc hoa cao quý để bây giờ hồn và xác, mơ và thực, nhập với nhau làm một, hoá thành cô gái bằng xương bằng thịt: Thanh mai, biến thành cô kỹ nữ, với tiếng đàn làm mê hồn cả đất Thăng Long.

Tôi cười, bảo nàng:

- Có lẽ em không phải ở cõi đời này!

Thanh Mai cười giòn:

- Chàng quá khen... thành mơ. Chẳng phải em là xương là thịt hay sao?

Chúng tôi trò chuyện, vui vầy thâu đêm. Trong lúc ái ân, tôi ngạc nhiên nhìn đôi mắt long lanh ánh trăng của nàng, nhìn mớ tóc mượt mà xoã tung của nàng, sao chúng đen láy và linh động đến thế, và gương mặt nàng lúc trang nhễ nhại lúc hồng hào, sao chúng đổi sắc màu nhanh đến thế, cứ như thể tôi vừa mới thổi cho chúng một cái hồn mang nhiều âm điệu. Giọng ríu rít của nàng nói vào tai tôi:

- Chưa bao giờ em sung sướng như đêm nay.

Tôi chợt nhớ đến lời một người bạn: Chỉ có người đàn ông thông minh mới đem lại được sự vui vầy thoả thích cho người đàn bà trong cuộc giao duyên. Không hiểu câu nói đó có chút nào kiêu ngạo không? Tôi cứ tự cười thầm, tự chế nhạo thầm trong lòng, nhưng chắc chắn nó là một niềm hãnh diện và hạnh phúc. Cũng không hiểu ảo ảnh về con ma Ngọc Lan có ảnh hưởng gì đến cuộc ái ân đêm đó không, mà bỗng dưng, lúc ở cạnh nàng, tôi bỗng thấy sực nức mùi hoa vương giả, phải chăng mùi hương được lan toả từ da thịt nồng nàn, ấm áp và quấn quýt của nàng.

Và chính đêm ấy, tôi mới chợt hiểu một điều: Thanh Mai là người đàn bà độc nhất mà tôi đi tìm kiếm từ bấy lâu nay. Đó là người đàn bà ẩn dấu luôn ám ảnh tâm tưởng con người, người đàn bà tôi muốn gặp mà chưa hề thấy mặt. Lúc thì nàng biến hình ra một bóng ma, một ảo ảnh. Lúc thì biến thành một cây hoa, một hồn hoa. Người đàn bà đầy nhục cảm, đầy sự sống. Người đàn bà xinh đẹp lại có một tâm hồn. Gặp được nàng, đó là niềm vui lớn, đó là cuộc tìm kiếm lớn của đời người.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #142 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:22:07 am »

Phần XII - Chương 2

Đêm hôm đó, Thanh Mai kể với tôi về cuộc đời nàng: Gia đình em làm nghề chài lưới ở một vùng hạ lưu sông Hồng. Khúc sông bát ngát. Ký ức chẳng còn gì nhiều lắm chỉ còn nhớ được những bãi lau ven sông thu về trắng xoá. Hoặc nhớ những cánh đồng xanh mướt thẳng cánh cò bay, đó là quang cảnh vùng quê mỗi khi theo mẹ mang cá lên chợ bán. Chàng biết không? Hầu như người lái đồ nào cũng hát hay; bố mẹ em và cả em nữa đều hát hay cả. Những buổi chiều, cơm nước xong, bố em vừa kéo nhị vừa hát; hát chán lại gõ mạn thuyền mà hò ô, bố hò câu trước, mẹ tiếp câu sau; giọng bố trầm, giọng mẹ cao quấn quýt với nhau. Đời người lái đò chỉ có thể mà vui...

Năm ấy, em chừng mười ba tuổi, quân Chiêm Thành theo Chế Bồng Nga tràn ra cướp phá nước ta. Những năm đó, người lái đò là người chịu khổ trước nhất vì giặc Chiêm, chúng thường theo đường biển xâm chiếm vùng châu thổ vào mùa gió nồm. Mùa gió đông - nam. Các gia đình sông nước đều biết điều đó, nên cứ đến vụ gió nam là nơm nớp lo sợ. Khốn nỗi. vụ nam đối với dân chài lại là chính vụ. Cá tôm trên sông nhiều ê hề. Có khi tung lưới chỉ vài canh giờ đã đầy thuyền tôm cá. Bán không hết đem phơi khô để dành. Nguồn sống quanh năm nhờ vào vụ cá nam là chính. Do vậy, dù sợ giặc, các gia đình chài vẫn phải bám mặt sông. Giặc đến, người ta gõ thanh tre vào mạn thuyền theo nhịp ngũ liên báo động. Thuyền nọ truyền tới thuyền kia. Cứ như vậy, tiếng ngũ liên truyền suốt dọc sông, rồi truyền đến cả những xóm làng trên bờ. Các thuyền vừa gõ vừa nhanh chóng cặp bờ, trốn giặc. Mọi người đã tay nải sẵn sàng, thoắt một cái, phải lủi nhanh vào những bãi lau sậy ven sông.

Em đã nhiều phen chui lủi trốn giặc như vậy, nhưng có một lần gia đình đã bị giặc bắt. Bị bắt vì quá mải mê theo một đàn cá ra tận cửa sông, xa rời các bạn thuyền. Mặt nước mênh mông, chẳng biết tìm đâu chỗ trốn. Cha em bị giặc giết ngay. Quân Chiêm có lệnh tuyệt diệt tất cả dàn ông. Còn mẹ em, vì có chút nhan sắc nên được một viên tì tướng Chiêm Thành bắt làm thiếp. Vì thương con, nên mẹ em đành nhẫn nhục. Năm ấy, em mười ba tuổi, vừa xinh đẹp vừa có giọng hát hay nên bị xung vào đội ca múa của vua Chế Bồng Nga. Đầu tiên, em phải học múa hát, do một bà cung nữ già truyền dậy. Người Chiêm múa rất khéo mà hát cũng lạ và hay. Chỉ một năm sau. em đã tinh thông mọi ngón đàn ca của họ. Cha em, xưa kia là trai cầy hết vụ nông lại cùng bè bạn họp thành gánh hát, lang thang khắp vùng châu thổ sông Hồng, sau gặp mẹ em cô gái thuyền chài có giọng hò làm mê mẩn lòng người, cha di theo mẹ và trở thành dân chài. Chính vì thế nên dù học hát người Chiêm, em vẫn không quên các làn điệu của người Việt. Thỉnh thoảng, em vẫn hát giọng Việt cho người Chiêm nghe. Nhưng phải nói, em đã bị lây giọng Chiêm rất nhiều. Người Chiêm thích giọng hát buồn. Mà đời em nào có ra gì, nên giọng em càng buồn hơn. Do đó, người Chiêm Thành rất thích nghe em hát...

Kể tới dây, Thanh Mai ngồi nhỏm dậy, lấy cây đàn nguyệt. Trong đêm thanh vắng, tiếng đàn của cô chợt vang lên não nùng. Cô nhấn, cô luyến, cô láy chậm rãi như một tiếng thổn thức. Cô hát lên khe khẽ:

Con ngựa Hồ?
Ơ con ngựa Hồ?
Mi ăn cỏ phương Nam
Uống nước dòng sông Thu Bồn...
Đêm đêm hí trăng,
Hí về phương Bắc
Mày nhớ con sông màu đỏ.
Mày nhớ bờ lau xám buồn
Mày nhớ ai da diết ngày đêm..
.

- Nàng làm bài hát đó ư? Sao mà sầu thảm đến thế? - Tôi khẽ khàng hỏi.

- Không phải của em. Bài hát của mẹ em đấy. Khi bị bắt làm vợ người ta, vì nhớ cha em, nhớ con sông Hồng, mẹ đã hát như thế. Hát theo một điệu hát ngày xưa của bố, rồi mẹ héo hon mà ốm. Mẹ bỏ ăn hàng tháng trời mới chết nơi đất khách quê người.

Thanh Mai treo cây nguyệt cầm lên tường, ngồi thừ ra hồi lâu mới hết xúc động. Nàng kể tiếp:

- Chế Bồng Nga là một ông vua vũ dũng, nhưng rất thích múa hát. Sau công việc triều chính, tối nào ông cũng xem múa hát. Ngay cả khi đi chiến trận, ông cũng mang theo đội ca vũ. Có một đêm, ngồi xem, ông ta bỗng để ý tới em. Chế lại gần, nhìn cham chằm vào mặt em; ông đi vòng quanh ngắm, rồi lật chiếc mũ nhọn dát vàng trên đầu em ra, ngắm nghía mớ tóc. Ông hất hàm hỏi:

- Tóc này, không phải tóc người Chiêm?”

- Em quỳ xuống, tâu bày. Ông trầm ngâm gật đầu, rồi từ đó em được chuyển làm thị tì cho vua Chiêm. Hầu hạ, xoa bóp mỗi khi Chế mệt nhọc... đội đèn hầu tiệc. Công việc thật nhục nhã tuy không vất vả. Mỗi khi có tiệc em mặc chiếc khố dát vàng, đôi vú cũng bịt bằng hai chiếc chóp vàng. Hai tay giơ lên đỡ chiếc khay vàng đội trên đầu, trên khay đặt những cây bạch lạp.

Em gần như trần truồng đội đèn. Thân hình em đẹp. Khách khứa vừa ngắm em vừa cười đùa ăn uống. Bà vũ nữ già người Chiêm đã dặn: “Đức vua Chế Bồng Nga không thích người đội đèn lại khóc. Muốn khóc thì khóc trong lòng”.

Để cho bữa tiệc đặc biệt, vua Chiêm bắt em hát những bài hát Việt.

Em cầm cây đàn nguyệt, càng nén mối sầu bao nhiêu, thì tiếng đàn của em càng não nùng bấy nhiêu...
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #143 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:23:45 am »

...Ơ con ngựa Hồ?
Mày nhớ con sông màu đỏ
Mày nhớ bờ lau xám buồn
Mày nhớ ai da diết ngày đêm...


Đến phút ấy, em không còn nén nổi lòng mình nữa, em đã khóc lã chã, song càng khóc hát càng hay. Hay đến nỗi Chế Bồng Nga, con người sắt đá cũng phải phá lệ tha cái tội khóc trong bữa tiệc của em.

Đêm ấy, vua Chiêm say lắm. Khi khách khứa về hết, ông đến bên em, khẽ khàng gỡ hai chiếc chóp vàng bịt đôi vú. Ông vuốt ve chúng, đắm say nhìn chúng, trong khi em run lên bần bật. Ông đặt em nằm xuống, gỡ nốt chiếc khố vàng ròng, và chiếm đoạt thân xác em. Em mê man sợ hãi, người như khúc gỗ. Em hét lên. Chao ôi! Nóng bỏng và đau đớn đến tê dại cả tâm hồn. Ông ta hung hãn chiếm đoạt; còn em thì rúm ró khiếp hãi. Không hiểu sao, như thế mà ông ta lại cảm thấy khoái lạc. Chế nói:

- Tốt đấy? Nhưng nhà người phải nhớ lấy điều này, nếu ngươi mang thai, thì phải biết tự xử trí...

Ông ta nói thế nghĩa là gì? Em ngồi lên, hàm răng còn thấy lập cập. Máu chảy loang đùi. Bà già cung nữ đến lau cho em, khoác áo cho em, đút cháo cho em. Rồi bà vào rừng, tìm những thứ lá đang ngắt, nấu cho em uống. Bà già thì thầm vào tai:

“Uống để triệt thai”.

Chế Bồng Nga không thích có con lai. Con của ông ta không thể mang một chút dòng máu Việt. Em rung lên cầm cập khi bà già cho em biết “tự xử trí” nghĩa là thế nào.

Có thể nói Chế Bồng Nga vừa thích em vừa căm thù em. Ông ta xâm chiếm cơ thể em như để trả thù. Có lần, sau lúc thoả mãn, ông nói.

“May mắn cho nhà người! Ta đã ngủ với nhiều con gái Việt; nhưng không một người đàn bà Việt nào được ngủ với ta đến lần thứ hai”.

Nghĩa là mỗi lần chiếm đoạt xong, ông ta đều sai giết chết những người đàn bà xấu số ấy. Điều đó càng làm em lo sợ hơn. Chẳng chóng thì chầy, sẽ đến lúc ông ta chán, lúc đó số phận em lại như những người đàn bà xấu số kia. Có một lần, ông ta lại nói:

“Ta không muốn câu chuyện “Huyền Trân công chúa” khi xưa lại tái diễn”.

Như vậy số phận em đã được định đoạt. Em đã sống những ngày buồn thảm căng thẳng nhất của đời. Đã có lúc em muốn chết. Em đã chuẩn bị lá độc. Bà già cung nữ biết được bèn bảo:

- “Nghiệp là thế. Thôi thì sống cho hết nghiệp của mình. Chết cũng chẳng trách được nghiệp. Nó còn theo đuổi mình sang kiếp khác. Chi bằng cứ cắn răng lại mà trả nợ. Hết nghiệp là xong. Nhanh chóng lắm... Ta lại nhẹ tênh. Đằng nào cũng đã khổ, nỗi khổ đã thành chai gánh nhẹ hơn... “

Sao lại thành chai? Sao lại nhẹ gánh? - Em thầm nghĩ - Mỗi lần ông vua Chiêm đến chiếm đoạt, em lại trải qua những phút run rẩy kinh hoàng. Những cuộc giao duyên đó đều như những cuộc xử tội. Đó là những trải nghiệm của riêng em mà ít có người đàn bà nào biết, vì người đời chỉ mới biết một điều: chuyện giao duyên là hoan lạc...

Nào ai biết cảnh những phút em phải hét lên vì đau đớn... và kỳ lạ thay, em càng đau đớn, ông vua kia càng thích thú...

Mãi sau này em mới hiểu: Chế Bồng Nga thích nỗi đau của người Việt. Kẻ thù càng đau, tâm hồn ông càng sảng khoái. Ông đem cả sự hận thù vào trong cuộc hành lạc. Cũng may cho em, vì còn biết cảm nhận đau đớn, không biến thành chai sạn. Nỗi đau làm cơ thể xinh đẹp em mỗi lần lại méo mó đi một cách khác... nên nó vẫn gây được khoái cảm cho ông... Em thoát chết phần nào nhờ được còn biết đau đớn...

*
*   *

Mùa gió nam đã đến đem đến nỗi lo sợ khắc khoải cho người dân châu thổ sông Hồng. Riêng Chế Bồng Nga hân hoan. Ông ta nói với em:

“Nước Việt của ngươi đã đến hồi mạt vận. Nhà ngươi hãy cầu trời khấn Phật đi. Hãy cầu cho ta đại thắng. Phen này, nếu ta tiêu diệt xong nhà Trần, tất cả bọn đàn ông người Việt, ta sẽ làm cỏ; nhưng bọn đàn bà, ta tha. Khi khải hoàn trở về, ta sẽ chính thức lấy nàng vào cung... “

Thế quân Chiêm như chẻ tre. Đánh vào Thanh Hoá, Quý Ly thua, Nguyễn Đa Phương mang quân rút chạy, tôn thất Trần Nguyên Diệu đầu hàng. Thày chùa Phạm Sư Ôn chiếm Thăng Long ba ngày. Chế Bồng Nga cười ha hả.

“Trời giúp ta rồi! Trời đã chiều ta? Phạm Sư Ôn chẳng qua là bầy giặc cỏ, triều đình nhà Trần còn không giữ nổi kinh đô, huống hồ là năm vạn quân hùng mạnh của ta. Trời giúp ta rồi? Ha ha? Ta sẽ phong cho Trần Nguyên Diệu làm An nam vương, và nước Việt phải hàng năm triều cống Chiêm Thành. Trời đã chuyển gió bạc ư? Không cần! Bọn tư đồ, Thái bảo, đại thần nhà Trần chả bí mật gửi thư đến cầu xin ta mau tiến quân giúp đỡ họ ư? Phen này, ta sẽ ăn tết ở Thăng Long.
Bên bờ sông Lương, Thanh Hoá, vua Chiêm cho mở tiệc khao quân, để khích lệ muôn lòng tướng sĩ, trước khi tiến quân vào sông Hoàng Giang, vào châu thổ sông Hồng.

Trong bữa tiệc ấy, chính em là người vũ nữ mà Ba Lậu Kê, tên quân hầu của Chế Bồng Nga, định cưỡng đoạt, và đã gây nên cơn giận lôi đình của vua Chiêm. Khi Chế Bồng Nga tát tên lính hầu, bàn tay ông ta lăm lăm sờ vào đốc kiếm. Sự thịnh nộ ấy nằm ngoài lẽ thường. Ba Lậu Kê không thể hiểu được tại sao một vị vua oai hùng như thế lại có thể bảo vệ một con tù binh nô lệ, thứ người mạt cấp, thứ chiến lợi phẩm rẻ tiền.

Theo đúng lẽ, vua Chiêm thiếu gì gái đẹp, thiếu gì những người đàn bà cao quý, còn thứ đàn bà mạt cấp như em thường chỉ để dành cho bọn binh lính; nếu như em là một quận chúa một phu nhân nhà Trần, điều đó có thể hiểu được, đang này... Ba Lậu Kê, mắt tròn xoe, lủi vào bóng tối... Ông vua oai hùng đứng đó, chau mày nhìn em... còn em cố lấy mấy mảnh vải rách che thân, đứng run rẩy dưới ánh sáng cây bạch lạp...
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #144 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:24:44 am »

Rồi Ba Lậu Kê bỏ trốn, quân Chiêm từ biển dong thuyền vào sông Hoàng Giang. Cũng may, từ hôm xảy ra chuyện ấy, em bị Chế Bồng Nga đuổi sang thuyền khác. Cũng nhờ thế, em không hề gì, khi Ba Lậu Kê chỉ điểm và quân cung nỏ của thượng tướng Khát Chân bắn như mưa vào thuyền vua Chiêm và giết chết Chế Bồng Nga.

Thanh Mai dừng kể, vì xúc động, hơn nữa chắc để sắp xếp, nhớ lại những tình cảm, những diễn biến đã qua của đời mình. Một lát sau, nàng mới tiếp:

... Mấy ai hiểu được sự tủi nhục, nỗi đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần của một cô gái ngây thơ trong phút chốc cuộc sống bỗng tan nát, mất cả cha lẫn mẹ, sống một cuộc sống thấp hèn của một con vật, của kiếp người nô lệ đàn bà, chung quanh lúc nào cũng ngút trời khí hận thù, lúc nào cũng nơm nớp như con cá năm trên thớt...

Hiểu được nỗi đau ấy, mới biết được tâm trạng của em khi được vị anh hùng Trần Khát Chân cứu thoát...

- Huynh hiểu. Tướng Trần Khát Chân, như một người cha, đã sinh ra nàng lần thứ hai.

- Vâng! Em đã khóc rưng rức, quỳ rạp dưới chân ngài, hôn lên đôi ủng chiến trận của ngài. Em không nói được thành lời chỉ biết khóc như mưa như gió. Mọi người khuyên giải mãi mới nguôi. Ngài đỡ em đậy. Em nói:

“Xin đức ông cho tiện nữ được lập bàn thờ, thờ sống ngài. Tấm thân hèn hạ này nhờ tướng công mới được tái sinh. Xin làm thân trâu ngựa để đền bù. Hôm sau, trong quân mở tiệc mừng công. Em ôm đàn ra hát. Lúc đầu hát bài “Lạc khúc báo thiên”, sau sang “Thanh bình điệu”. Tướng quân nói:

“Ta nghe vua Chiêm vẫn thích nghe một bài hát Việt do nàng làm ra, hay lắm”.
“Dạ! Đó là bài “Con ngựa Hồ!” do mẹ thiếp làm lúc sắp lâm chung. Nhưng sợ rằng nó quá u sầu... “

“Không sao? Bây giờ chiến tranh đã dứt. Vả lại, hát bài xưa buồn để ghi nhớ nỗi khổ trong lòng tướng sĩ cũng là điều nên làm”.

Em đành phải vâng lời:

Con ngựa Hồ?
Ơ con ngựa Hồ?
Mi ăn cỏ phương Nam
Uống nước dòng sông Thu Bồn...
Đêm đêm hí trăng,
Hí về phương Bắc
Mày nhớ con sông màu đỏ.
Mày nhớ bờ lau xám buồn
Mày nhớ ai da diết ngày đêm...
Ơ con ngựa Hồ


Người ngồi nghe đều biết thân phận của em, nay lại được nghe tiếng đàn tiếng hát của chính người trong cuộc cho nên tướng sĩ dự tiệc không mấy người không sa nước mắt. Tướng công gọi đến, bảo:

“Con hát hay lắm. Có muốn ta tiến cử xung vào đội nữ nhạc trong cung?”

Em đa tạ và từ chối.

“Hay là ta sẽ tìm nơi tử tế gả chồng cho con?”

Có lẽ không ai biết được nỗi khiếp hãi đàn ông của em. Sự cưỡng đoạt tàn nhẫn của vua Chiêm đã ghi lại một vết hằn sâu trong óc. Cứ nghĩ tới những phút bên vua Chiêm, em lại rùng mình... Em quỳ xuống trả lời:

“Tấm thân kẻ tiện dân nay đã vấy bùn. Không dám nghĩ đến việc gia thất. Ý nguyện của con lúc này chỉ muốn được xin về nơi thôn dã sống yên ổn, lập bàn thờ, thờ vong linh cha mẹ và cầu nguyện trời Phật hộ trì cho tướng quân ngày thêm rạng ngời công đức. Thế là đã thoả nguyện lắm rồi”.

Tướng công nghe vậy liền bảo:

“Sao lại vấy bùn? Con đừng nghĩ sai lệch. Con là một người trong trang nhất mà ta đã gặp. Ta có người thuộc hạ hiền lành trung trực, đã goá vợ. Ta muốn con có nơi có chốn. Ta muốn coi con như con gái của ta. Ta không muốn trông thấy con đến già...”

Em càng sợ hãi, một mực khăng khăng chối từ.

“Con đội ơn sâu. Đức ông đã cải tử hoàn sinh cho con. Nhưng việc gia thất... quả thực con đây không dám...”

Thượng tướng nhìn nét mặt tái mét của em, người rất ngạc nhiên. Ngồi im lặng hồi lâu, rồi gật gật đầu.. Có lẽ gương mặt và thái độ của em làm cho người hiểu được một điều gì chăng. Nhưng từ đây người không bao giờ đả động đến chuyện đó nữa...

Thượng tướng không cho em về quê. Người cho em một khu vườn ở phường Hà Khẩu, chu cấp tiền bạc để em lập nghiệp ở đất Thăng Long. Từ đó, thượng tướng đã thật sự coi em như con gái, nhưng không vì thế mà em lạm dụng lòng tốt của người. Em cố gắng tự lập. Trời đất đã phú cho em giọng hát. Số phận đã đưa đẩy em làm nghề ca hát từ lúc còn trẻ; vậy tại sao em lại không tiếp tục làm nghề ca hát. Xưa kia, giọng hát của em chỉ dành riêng cho vua chúa và triều đình Chiêm Thành, bây giờ em muốn đem tiếng hát ấy cho người Thăng Long. Nghĩ thế, nên em lại tiếp tục làm nghề ca hát. Người dân kinh đô rất lấy làm lạ sao em còn trẻ và đẹp, lại có thượng tướng đỡ đầu lại không lấy chồng. Nào ai có biết cho chuyện riêng tư, nỗi khiếp sợ đàn ông mà Chế Bồng Nga còn để lại cho em. Và cứ thế, em đinh ninh rằng từ nay đến sau này sẽ chẳng còn có người đàn ông nào có thể làm tan nỗi khiếp sợ trong lòng em”.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #145 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:25:52 am »

Tôi mỉm cười, không khỏi cảm thấy một chút kiêu hãnh. Trong bóng tối nàng đâu có nhìn thấy nụ cười trên môi tôi cớ sao nàng lại rúc đầu vào ngực tôi như để trốn tránh một sự ngượng ngùng đầy thi vị. Và Thanh Mai hỏi.

- Chàng có nhớ những ngày mới gặp nhau?

- Quên sao được cái đêm đầu tiên trong vườn mai.

- Kỳ lạ thật! Tại sao em sợ đàn ông đến thế mà sau cái đêm ở Tị Huyên Đình, sau khi cùng chàng hát bài “Hương lan” hay “Ai xui câu hát nghiêng nghiêng” gì đó, em bỗng chợt nhận thấy niềm xác tín trong lòng từ trước đến nay bỗng lung lay.
Tôi sung sướng nói:

- Còn huynh, mới gặp muội, huynh cũng bồn chồn...

Và xúc động. Rồi tự nói với mình: cô ấy là người đàn bà hiền dịu đã trải qua nhiều đau khổ. Cô ấy trong trắng, cô ấy có một tấm lòng cao cả, chịu bao nhiêu cay đắng như thế mà không hận thù...

- Chàng đừng nói thế. Em hận thù chứ. Tại sao bị ngược đãi như thế mà em không tự vẫn? Vì lòng hận thù đấy. Lòng hận thù đã tiếp sức cho em, dậy cho em biết cắn răng lại để sống sót. Ngày xưa em cứ tự nhủ: “Rồi các người sẽ biết tay ta”. Sự nhục nhã quá chừng làm em thù hận chẳng phải riêng gì Chế Bồng Nga quân Chiêm. Hình như nó mơ hồ được mở rộng với tất cả đàn ông... Khi được giải thoát, sự vui sướng lên đến quá mức làm em quên đi được một thời gian...

Nhưng sau hôm gặp mặt chàng, ở vườn mai. em bàng hoàng. Tình yêu đã thức dậy trong em nhưng không phải không kèm theo sự hận thù. Nó biểu lộ ở chỗ, trong lòng vẫn có sự nghi ngờ, sự dày vò, sự ngập ngừng. Em tự bảo: tin gì được con người như chàng. Người cao sang tột bậc. Ta là kỹ nữ. Chẳng qua... một cuộc đùa chơi gió thoảng.

- Trải qua nhọc nhằn như nàng, có những ý nghĩ ấy là chuyện tất nhiên.

- Không phải! Chàng đã quá rộng lượng. Em chưa nói hết. Còn nhiều chuyện khác. nếu nói ra chàng có thể khinh thường... cứ thử nhớ lại mà xem... Tại sao thời gian đầu chàng cảm thấy như em cố tình lẩn tránh...

- Không nhớ... Không hiểu... à? đúng rồi. Huynh nhớ lại lúc đầu, đã có lúc thất vọng... uống rượu say... rồi nằm ở bãi sông...

- Đúng... Hôm ấy chàng đến nhà em... đến phường Hà Khẩu... Chàng gọi cửa... rồi buồn rầu quay ra bãi sông... Về sau em nói dối là em không có nhà, chỉ khi về mới bắt gặp chàng tuý luý nằm gục trên bờ ruộng. Thực ra, lúc đó em có nhà. Em ở trong nhà. Em nghe tiếng chàng mà không mở cửa... Bởi vì...

- Vì sao.

- Vì thực ra lúc đó em vừa yêu chàng đồng thời hình như lại hận thù chàng. Em cũng xấu xa chứ đâu như chàng tưởng.

- Muội nói, huynh hoàn toàn không hiểu.

- Bởi vì... bởi vì em không muốn dối trá.

- Huynh vẫn chưa hiểu.

- Bởi vì... em đã thật sự dối trá...

- Em không dối trá.

- Thật ra... Giọng Thanh Mai trở nên bình tĩnh đến lạnh băng khi nàng thốt ra những lời từ lâu vẫn chôn chặt trong lòng - Thật ra, em đã nhận lời với thượng tướng Khát Chân, rằng sẽ giả vờ yêu chàng, nhưng thực ra để dò xét tình hình.
Nói xong Thanh Mai hai tay ôm lấy mặt. Tôi nhẹ nhàng cầm lấy tay nàng:

- Nhưng nàng đã không dò xét?

Tay Thanh Mai run lên. Sự thổ lộ thành thực đã làm nàng xúc động. Tôi ôm lấy nàng. Thanh Mai phải ngừng một lúc mới trở về bình tĩnh để nói tiếp:

- Sau khi về phường Hà Khẩu, và em đã nổi danh về tài đàn ca ở đất Thăng Long, thượng tướng Khát Chân liền nảy ra một ý định. Ông biết rõ chàng là người phong lưu, nên muốn em tiếp kiến chàng, rồi sau đó... Chàng hiểu rõ em đã chịu ơn quan thượng tướng ra sao, hơn nữa nguyên nhân sự sa sút điên đảo của đất nước, ở Thăng Long người nào mà chẳng nói đều do vì thái sư khuynh đảo triều chính.

Nàng chợt nắm chặt lấy tay tôi. Còn tôi vẫn thản nhiên lặng lẽ. Bóng tối cũng giúp đỡ để nàng nói ra được những lời tự đáy lòng, và làm cho tôi cũng dễ nghe

- Em chẳng biết gì những chuyện đại sự, nhưng đó là ý dân. Còn em, cũng chỉ là một dân thường nên cũng có những ý ấy. Thế là em hăm hở thi hành mưu kế của thượng tướng. Nhưng khi gặp chàng ở vườn mai, những ý nghĩ trong lòng em bỗng trở nên nghiêng ngả. Em bỗng bàng hoàng, bồn chồn trong dạ. Công việc của em là phải lừa dối chàng, nhưng em lại không muốn lừa dối. Em vừa muốn đến gần, lại vừa muốn lánh xa - Cái đêm chàng đến phường Hà Khẩu, em phải cắn răng lại để mặc chàng thất thểu đi ra bãi dâu. Nhưng khi bước chân chàng rời xa, lòng em lại thấp thỏm. Em mở cửa bước ra, nấp sau những bụi cây, cho đến lúc chàng li bì nằm bên dòng nước.

Em đem chàng vào nhà. Trong lúc lên cơn sốt, mê sảng, chàng vẫn luôn nhắc đến Thanh Mai. Em bật khóc. Và từ phút ấy, em hiểu mình sẽ chẳng bao giờ xa chàng được nữa. Cũng từ phút ấy, nỗi sợ đàn ông, nỗi hận thù đến độ mê muội, lòng biết ơn đi đến chỗ quá khích trong em cũng được điều hoà hơn. Em ra vườn hái một cành mai đã kết trái cắm trong chiếc lọ đầu giường và chờ chàng thức dậy. Em tự nhủ: người đàn ông mình đợi chờ từ bao lâu nay đã đến rồi. Lúc này, tất cả những việc khác, với ta, đều không quan trọng nữa. Em đã đến gặp quan thượng tướng:

“Tâu đức ông. Con xin chịu tội cùng đức ông. Con không thể làm hại chàng được”.

“Con đã yêu?”

“Vâng? Con đã thương chàng”

“Ta đâu muốn bảo con làm hại Nguyên Trừng. Ta cũng rất quý trọng con người ấy”.

“Nhưng, con không thể dối trá với chàng được”.

Đức ông Khát Chân ngồi lặng lẽ, suy ngẫm rất lâu, lơ đãng đến nỗi bỏ mạc em quỳ rạp mãi trên mặt đất. Rồi ông thở dài, cúi xuống đỡ em lên:

“Thôi? Đứng dậy đi con. Ta đã giải lời nguyền cho con rồi đó”.

Tôi rung động, chẳng nói thành lời. Tôi nắm hai bàn tay nồng ấm, mềm dịu của Thanh Mai. Những lời nàng nói không làm tôi ngạc nhiên. Đêm đầu tiên gặp nhau ở Vườn Mai, tôi hầu như đã hiểu tất cả. Song, tôi không hé răng nói một lời, bởi vì tôi nhìn vào mắt nàng, tôi đã tin. Niềm tin ấy thực sự đã được đền đáp. Ông trời quả không phụ lòng tôi.

Đó là chuyện xảy ra đêm trước khi chúng tôi sửa soạn lên đường đi Yên Tử. Có lẽ, trước khi đến đất Phật, Thanh Mai muốn lòng mình được hoàn toàn thanh thản, bởi vì nơi chúng tôi sắp đến là miền tịnh độ và dù một vết gợn nhỏ trong tâm cũng phải rửa sạch làu.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #146 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:27:35 am »

Phần XII - Chương 3


Nguyên Trừng, Thanh Mai ngồi trên bành con voi trắng. Ông già Lặc ngồi trên đầu voi điều khiển. Lộ trình của họ dài và quanh co. Đường đi phải qua nhiều núi cao, suối sâu, rừng rậm, vì vậy nên phải đi bằng voi; chỉ có voi mới có sức chịu đựng dẻo dai, leo dốc cũng được, lội suối cũng được, mà thức ăn là lá cây, trên rừng vốn sẵn.

Địa điểm đầu tiên hai người đến là núi Đạm Thuỷ vùng Đông Triều.

Như đã nói, Trần Thuận Tôn từ lâu đã chán cảnh bon chen trần thế. Quý Ly đã ngầm sai đạo sĩ Nguyễn Khánh nói với vua:

- Cõi tiên thanh nhã, thơm tho, khác hẳn cõi phàm trần. Các tiên đế bản triều ta đều thờ Phật, chưa ai từng theo chân tiên. Bệ hạ ở ngôi tôn quý nhưng khó nhọc muôn việc, chi bằng nhường ngôi cho thái tử để theo tiên tu đạo.

Vua Trần Thuận Tôn đã làm đạo quán trong vườn ngự uyển, quyết tâm tu đạo. Sau đó làm chiếu nhường ngôi cho con là thái tử An. Lúc đầu vua tu ở cung Bảo Thanh vùng núi Nhồi Thanh Hoá. Nơi đó cung điện nguy nga, vẫn gần triều đình, chưa phải nơi thanh tịnh. Vùng Đông triều vốn là căn cứ của nhà Trần, làng mộ tổ tiên nhà Trần cũng ở đó. Hơn nữa ở đấy có nhiều danh sơn, phong cảnh như gấm như hoa. Mấy năm trước, vua đến núi Đạm Thuỷ thăm mộ cha thấy có quán Ngọc Thanh, hang động, cỏ hoa tươi tốt, hình như trong lòng đã thầm hẹn ước. Vì vậy, Thuận Tôn quyết định dứt bỏ hoàn toàn với thế gian. Vua rời Thanh Hoá về tu ở quán Ngọc Thanh trên núi Đạm Thuỷ.

*
*   *

Núi Đạm Thuỷ là một danh sơn của vùng Đông Triều lộ Hải Đông. Thời xưa ở các danh sơn người ta hay xây chùa, bởi vì danh sơn thường phong cảnh đẹp, hơn nữa lại là những đỉnh chóp cao, nơi đất chạm mây, nơi khí thiêng đất trời tụ hội. Người ta hành ở đó có thể xử dụng được khí thiêng sông núi để cho mình chóng thành chính quả. Theo cách nghĩ đó, trên núi Đạm Thuỷ người ta dựng quán Ngọc Thanh; chỉ có khác, nơi đây tu tiên chứ không tu Phật.

Để đón Trần Thuận Tôn về tu đạo, người ta đã cho sửa sang lại đạo quán. Ngôi quán tám mái, ngói đỏ au. nằm cheo leo sườn núi, toà lâu đài của tiên ẩn hiện trong những làn mây trắng. Có cả lầu chuông, lầu khánh. Chiếc khánh bằng đả xanh ngân nga mỗi buổi chiều về. Tiếng khánh đá trầm khua lanh canh như tiếng người nức nở, đó là đặc điểm riêng vùng này, mỗi khi khách qua đây đều nhận thấy.

Ở phía bên phải, quán dẫn tới một hang đá, có dây leo làm mành che. có khóm trúc vàng làm bình phong, có tảng đá nhẵn làm bàn trà ẩm, Thuận Tôn sung sướng vô cùng, từ đó an tâm ẩn tu ở chốn thần tiên. Một con đường mòn nhỏ đi xuống chân núi, nơi đây có một chiếc ao trên đá, nước trong suốt nhìn đến tận đáy Một đàn cá chép đỏ sống ở đây; mỗi chiều Thuận Tôn vẫn cho cá ăn. Ao đó tên gọi ao Tích Lịch. Người ta kể khi xưa, một đêm mưa to gió lớn, sét đã đánh xuống núi, đã hõm xuống và tạo thành cái ao nước trong vắt, ngọt ngào. Cũng vì dòng nước lạ lùng này nên có tên núi Đạm Thuỷ.

Vùng Đông Triều, xã Yên Sinh chính là quê gốc của họ Trần. Tiên tổ nhà Trần vốn người Yên Sinh, sau mới dời đến ở hướng Tức Mặc phủ Thiên trường; điều này có ghi trong bia thầu đạo của xã. Cũng chính vì vậy, nên khi chết các vua nhà Trần đều chôn ở Yên Sinh hoặc vùng quanh đó. Lăng Tự Phức là lăng tẩm của Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông. Tháp cổ trên núi Yên Tử là nơi để xá lị của Trần Nhân Tôn. Ta còn thấy lăng Đồng Thái, lăng Đồng Mục, lăng Ngải Sơn, lăng Phụ Sơn, đó là những mộ của Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dục Tông. Hầu hết tất cả các vua Trần trở về với tổ tiên, đều gửi nắm xương tàn ở vùng Yên Sinh. Vua Nghệ Tôn cha của Thuận Tôn cũng không ra ngoài thông lệ. Sau khi ông mất, Thuận Tôn đưa cha về chôn ở chân núi Đạm Thuỷ. Trần Nghệ Tôn đã tự đặt tên trước cho lăng mộ của mình: lăng Đồng Hy. Ta có thể hiểu khi Thuận Tôn trở về tu tiên ở quán Ngọc Thanh trên núi Đạm Thuỷ; cũng chỉ vì ông muốn chăm sóc cho phần mộ của cha mình tổ tiên mình. Và trong thâm tâm ông cũng dự kiến: nếu chết sẽ được chôn bên cạnh cha.

Từ khi trở về núi Đạm Thuỷ, Thuận Tôn như thấy lòng mình vơi nhẹ hơn nhiều. Suối rừng, hoa cỏ đã an ủi được ông. Ông sợ sự huyên náo, sự xao động. Mỗi lần nó đến lòng ông lập tức chao đảo. Lại thấy nôn nao như muốn lên cơn rồ dại. Do vậy, ông cấm các quan lại địa phương không được đến thăm viếng. Ở nơi ông ẩn tu, chỉ có một chú tiểu đồng và con vượn nhỏ. Từ ngày trở về rừng, con vượn nhỏ cũng tươi tỉnh hẳn lên. Nó quấn quýt đi theo ông suốt ngày. Buổi sáng, sau khi tĩnh toạ, ông xuống núi thắp hương ở Hy Lăng, mộ cha. Sau đó ra ao Tích Lịch thả những hạt cơm, vui vầy cùng đàn cá chép đỏ, và để tự ngắm mình dưới nước. Ông để tóc, để râu, nên mới hai mươi tuổi trông đã như một người già, râu dài trước cằm, tóc búi trên chỏm đầu. Mặc chiếc áo đạo sĩ mầu xanh, trông ông rất tiên phong đạo cốt, giống như một vị tiên. Chỉ có điều, một ông tiên buồn.

Thanh Hư đạo trưởng trước kia đã nói với ông: bao giờ con ngắm mình dưới nước, thấy nét mặt hết buồn, và lòng hết giận, lúc đó con đã trai lòng. tức là đã đắc đạo. Hôm nay, tự ngắm mình trong ao Tích Lịch, ông nhủ thầm: lòng ta đã lặng, nhưng vẫn không hết phảng phất một nét tư lự. Con vượn nhỏ đứng bên cạnh, từ lúc nãy cứ lồng lộn tỏ vẻ sốt ruột. Thuận Tôn vuốt ve đầu nó và hỏi.

- Con làm sao thế? Sao con lại kêu lên những tiếng xáo xác? Hay con đói? Con không đói ư?... Con muốn trở về? Về làm gì? Trời cao lắm. Sẽ chẳng có mưa sớm. Trời quang... mây tạnh... thày trò ta ngồi đây đùa vui cùng đàn cá... chẳng thích lắm sao... Ôi? Con vẫn muốn về Chẳng lẽ... hay là ta có khách?
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #147 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:28:46 am »

Ông vua đạo sĩ đứng lên. Con vượn hết quạu cọ, nó tươi tỉnh lại, nhảy phóc lên cành cây, rồi chuyền ra lối mòn trở về quán Ngọc Thanh trên núi. Ông sung sướng nhìn con vật. Nó là người bạn trung thành nhất mà ông từng thấy. Đêm, con vật bé bỏng ấy nằm trong lòng ông. Có đêm, nhớ tới hoàng hậu Thánh Ngẫu và thái tử An, ông đã khóc thầm, khóc không ra tiếng. Đang ngủ, con vật cũng vùng tỉnh dậy. Có lẽ nó nghe được tiếng thổn thức của trái tim ông. Nó áp bộ lông mượt vào má ông để lâu khô những giọt nước mắt. Vừa nghĩ, ông vừa leo dốc. Đến trước quán, ông ngồi trên tảng đá nghỉ cho hết mệt. Chợt con vượn nhỏ từ trên cành cây nhảy xuống, kéo tay ông đi. Ông muốn nghỉ nhưng con vật không nghe. Nó bắt ông đứng dậy bằng được, để dắt ra đứng trước bức tường quét vôi trắng, trên đó còn tươi những nét chữ của một bài thơ vừa mới viết sáng nay:

Thơ rằng:

Lâu đài phủ tía dựa non cao
Xuân quang tươi tốt đến thăm chào
Hoa tùng rụng đất, đàn xưa lặng
Đạo viện thâm sâu, khánh biếc reo
Đỉnh vàng nấu thuốc, tiên đâu tá
Mộng tỉnh kê vàng, dạ nao nao
Vượn sầu hạc oán tình khôn xiết
Đêm lạnh bên rừng trúc lao xao.
..

Cùng lúc đó, tiểu đồng bước ra thưa:

- Ban sáng, lúc nguyên quân xuống núi thắp hương, có một nho sinh đến vãn cảnh, anh ta dáng trầm tư bồn chồn đi lại trước quán hồi lâu. Sau lại ngồi trên tảng đá buồn rầu suy nghĩ, rồi làm bài thơ đề trên vách. Bảo rằng: Vì không tiện quấy quả, làm rối sự u tĩnh, làm bận lòng nguyên quân, nên xin cáo từ, chỉ để lại bài thơ này gửi tặng...

Thuận Tôn đọc lại bài thơ, rồi thở dài:

- ý người này có nhiều đồng cảm. Chỉ tiếc rằng hơi u buồn... Nhưng mà... Cảnh này, người này, tình này... đúng là buồn thơ mới hay... Thế nhà ngươi có hỏi họ tên? Hình dáng anh ta ra sao?

- Đệ tử có hỏi. Nho sinh tên là Nguyễn Trãi. Tuổi trạc đôi mươi. Dáng người gầy gò, thanh tú.

- Nguyễn Trãi... Nguyễn Trãi... Thế ngươi có hỏi gia thế anh ta?

- Bẩm nho sinh ấy là cháu của Băng Hồ tướng công.

Ông vua đạo sĩ ngồi xuống tảng đá. lặng lẽ suy nghĩ:

... Thảo nào? Ta hiểu. Trãi là cháu ngoại quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Họ ngoại nhà Trần. Đứng về thế thứ Trãi gọi ta bằng bác... Thảo nào? Cháu đến thăm ta... nhưng sợ ta buồn... Nó gửi thơ tặng ta... Thì ra... Ở đời vẫn còn người cảm thương tới số phận của ta. Mấy tháng ở rừng hầu như xoá dần quá khứ. nhưng chỉ đọc một bài thơ, nhưng xót xa cay đắng lại giật mình thổn thức trong ông.
Đêm hôm ấy, Thuận Tôn tỉnh giấc lúc quá nửa đêm. Ngoài rừng, có tiếng nai kêu thảm thiết. cả tiếng những con khỉ tíu tít gọi nhau, rồi tiếng những con chim vô cánh xào xạc... Tất cả như muốn báo hiệu có loài thú ác đương lởn vởn. Sau đó lại im ắng. thứ im ắng lạnh tanh đến sởn tóc gáy. Từ phút đó, Thuận Tôn không ngủ lại được. Chợt lại suy nghĩ miên man, dẫn tới một nỗi buồn mênh mang không tài nào chịu nổi. Ông ngồi dậy, và không thể nào xoá được nỗi phiền muộn trong lòng; chỉ còn một cách ngồi tĩnh toạ, đọc kinh, đọc những câu thần chú, cố thoát xác, cố đưa mình vào cõi hư vô. Sự cố gắng thoát vượt số phận ấy làm người ông dần dần như đông cứng lại. Hơi nóng dần toả đi. chỉ còn để lại một thân xác lạnh băng. Con vượn nhỏ vẫn trung thành ngồi bên. Nhìn gương mặt buồn bã với đôi mắt nhắm nghiền của thầy, con vật có vẻ sửng sốt. Sờ vào bàn tay lạnh ngắt của thầy, con vật chừng như lo lắng. Nó kêu lên khe khẽ và ngả đầu vào lòng ông, nhưng khí lạnh ở người ông toát ra làm nó giật mình kêu tíu tít. Nó chạy vòng quanh ông vua bạc phận, ngó nghiêng. Nó tưởng ông chết rồi chăng? Nhưng ông vẫn ngồi trơ trơ ở tư thế tĩnh toạ thế kia, bộ óc thô sơ chắc cũng mách bảo nó rằng ông chưa chết. Thế là, với bản năng của loài động vật, nó nhẩy lên ngực ông, giơ hai cánh tay bé nhỏ ôm chặt cổ ông, áp má vào má ông, áp ngực vào ngực ông, rồi dùng đôi chân quặp chặt quanh người ông, như tư thế mà nó vẫn còn nhớ được khi ngày xưa nó vẫn ôm lấy mẹ. Bằng cách áp chặt người như vậy, nó đã che chở được trái tim ông, giữ cho chút hơi nóng cuối cùng khỏi tan đi và truyền được một chút hơi ấm áp vào tấm thân mong manh kia đang dần dần chuyển vào cõi hư vô. Chính lúc đó, Thuận Tôn như thấy mình thoát ra khỏi cái hình hài gầy guộc, ông lơ lửng trên cao, nhìn xuống con người thảm thương đang ngồi dưới đất. Giá lúc dó chẳng có bóng con vật nhỏ bé đang ôm lấy thân xác ông, dáng xót thương trìu mến, giá lúc đó chẳng có chút hơi ấm nhỏ nhoi của con vật truyền vào trái tim ông... có lẽ linh hồn trên cao của ông đã bay thẳng đi xa vào cõi khôn cùng. Chợt thấy thương mình, thương tất cả ông chưa ra đi được. Còn phải ở lại mà chịu hết cái cộng nghiệp mà toàn thể dòng họ nhà Trần của ông đã để lại cho ông. Một dòng họ hiển hách với bao công đức cho non sông. Nhưng phúc, tổ tiên ông đã hưởng hết rồi phần gia tài mà ông được hưởng nay chỉ còn chút dư hương thê thảm... Nhưng, nghĩ cho cùng, số phận của những hậu duệ cuối cùng của một triều đại bao giờ chẳng thế. Như ông Lý Huệ Tôn, bà Lý Chiêu Hoàng ngày xưa chẳng đã được các bậc tiên tổ nhà Trần dành cho những số phận thê thảm hay sao?... Nghĩ như thế, nên linh hồn ông bỗng thở dài. Thuận Tôn đã quay trở về với thân xác mình để hưởng cho hết những nghiệp quả, dù cho nó đắng cay.

Da thịt ông từ từ nóng ấm trở lại.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #148 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:29:42 am »

Khi nội tẩm học sinh Nguyễn Cẩn tới núi Đạm Thuỷ nhà vua không hề ngạc nhiên. Thuận Tôn tự nhủ với mình: “Đến rồi đấy”. Nguyễn Cẩn quỳ dưới đất làm lễ, ông vua đạo sĩ nói:

- Đêm qua, khi tĩnh toạ, ta nhìn thấy trong tâm tưởng có những con người đi theo những lối mòn trong rừng tiến tới núi Đạm Thuỷ. Ta còn nhớ một dáng người rất giống ông. Ta tự nhủ thầm: Nguyễn Cẩn đến gặp ta, chẳng biết đã có chuyện gì xảy ra?

Vị quan trẻ sau khi được phép ngồi dậy, kính cẩn thưa:

- Tâu thái thượng nguyên quân, thần được sai đến để tấu trình về lễ đăng quang của thái tử... lễ được cử hành rất trọng thể ở Tây Đô... Dạ, hoàng cung Tây Đô đã hoàn thành... rất nguy nga tráng lệ... Lễ được cử hành ở điện Minh Đạo... Lúc đầu triều đình có chút lo lắng, thái tử còn nhỏ tuổi quá, sợ có điều gì sơ suất, mà lễ đăng quang là một đại lễ ảnh hưởng lâu dài tới cả triều đại. Nhưng khi tân hoàng đế xuất hiện giữa hai con rồng đá thì... mọi người thở phào nhẹ nhõm. Bởi vì mới ba tuổi thôi nhưng người đã rất đĩnh đạc. Bẩm, hoàng thái hậu Thánh Ngẫu định dắt tay người bước lên thềm rồng, nhưng tân vương đã buông tay thái hậu, một mình chững chạc bước lên từng bậc. Riêng chỉ lúc làm lễ quỳ lạy trước bàn thờ ở thái miếu, hoàng thái hậu phải ngồi kề bên, hoàng hậu làm lễ thế nào, tân vương nhất nhất làm theo giống hệt...

Thuận Tôn thở dài:

- Nghi lễ làm lâu suốt buổi... Thế... Con ta có bị ốm không?

- Dạ, tân vương có mệt chút ít, đêm ấy phải dỗ ngài đi ngủ sớm... Nhưng sáng hôm sau đã hoàn toàn tỉnh táo. Tướng quân Trần Khát Chân vào vấn an, hoàng thượng còn bắt thượng tướng cõng mình trên lưng... ngài cười như nắc nẻ.

Thuận Tôn im lặng hồi lâu, rồi hỏi:

- Ta nhớ trong tâm tưởng đêm qua, còn nhìn thấy cả một đoàn người ngựa.

- Dạ. Chúng thần đi một đoàn, nhưng sợ làm kinh động đến sự thâm u của nơi tu hành thanh tịnh... Đức nguyên quân lại cấm người đến viếng thăm... nên thần đã bố trí họ ở trong làng gần đây...

Nguyễn Cẩn dâng quà biếu của thái sư gồm các thứ thuốc quý, sâm, nhung, quế phụ, cả trà ngon, đồ cống của các tù trưởng miền biên viễn.

Tiểu đồng pha trà tuyết, dùng nước trong lấy từ nguồn nước ao Tích Lịch. Ông vua đạo sĩ vốn chẳng ưa Nguyễn Cẩn nhưng vì không có ai trò chuyện lâu ngày, nên Thuận Tôn vẫn nói chuyện với vị học sĩ suất một buổi ròng. Nguyễn Cẩn vốn tinh ý, ông ta khôn khéo đưa đẩy. Chẳng phải những chuyện tâm sự, cũng chẳng phải những chuyện trọng đại, chỉ là những điều vụn vặt. Ví dụ, chuyện người thợ đá làng Nhồi, tạc đôi rồng đá ở Tây Đô, có lẽ đó là đôi rồng đá tuyệt đẹp chưa từng thấy. Ví dụ, cổng Nam của thành mới nhìn thẳng vào núi Đún, đó cũng là cái cổng đá hùng tráng lớn chưa từng thấy. Cũng có lúc họ nói sang chuyện sách vở

- Lúc còn ở ngôi, ta có đọc “Nhật tân thập nhị sách” của khanh - Thuận Tôn vừa nói vừa nhìn thẳng vào mắt Nguyễn Cẩn - Đọc xong bài sách, ta nghĩ bụng: Con người này đáo để đây, một con người cuồng nhiệt với chuyện cách tân - Nói tới đây cựu vương cười giòn - Vả lại ta cũng là người cách tân. Việc thoái vị của ta chẳng là một việc cách tân hay sao?

- Thưa nguyên quân, thần trộm nghĩ, việc người theo lẽ tuỳ thời, đó là điều đáng kính.

- Ta chẳng muốn bàn về chuyện đó. Chỉ xin hỏi ngươi một điều: Trong thập nhị sách kế sách, ngươi đặt lên hàng đầu là sĩ sách; Ngươi luận bàn nhiều về kẻ sĩ; có một điều ngươi không bàn tới, bậc quân vương có phải là kẻ sĩ không?

Nguyễn Cẩn ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:

- Nên chia các bậc vua chúa ra làm ba loại: hôn quân, hiền quân, và minh quân. Khỏi cần nói tới hôn quân, còn lại hai bậc hiền quân và minh quân. Thần run sợ mà xin luận bàn...

- Ngươi cứ thành thật, bạo dạn mà nói - Ở nơi rừng núi này, nào ai còn có thể bắt tội nhà ngươi. Thực ra, vua là người cầm đầu kẻ sĩ trong thiên hạ, xử dụng kẻ sĩ, điều hành kẻ sĩ, nếu không phải là một kẻ sĩ, thì đó là điều bất hạnh cho dân. Biết tôn trọng một kẻ sĩ làm thầy mình. Làm bạn mình, điều đó chỉ có được ở một ông vua mắt biếc.

- Ta biết, ông vua bích nhãn là đấng minh quân.

- Thực ra, trong sử sách thấy hiếm khi ghi lại một ông vua nào là kẻ sĩ. Nhưng một bậc minh quân bao giờ cũng là một kẻ sĩ lớn. Không những bích nhãn mà còn thiên nhãn. Nhìn thấy rất xa, mà cũng nhìn thấy rất gần. Thấy được cái bất biến mà cũng thấy được cả cái hằng biến...

- Còn bậc vua hiền?

Mắt Nguyễn Cẩn chợt sáng lên. Ông ta đã nhập cuộc vào những ý tưởng thường nung nấu. Bao nhiêu dồn nén bỗng được bung ra. Hầu như Cẩn đã quên mất trước mắt mình là một ông vua mới thoái vị; hoặc giả ông còn nhớ, nhưng đó là một vua thoái vị sa cơ; hoặc giả ông không có tâm địa coi thường, nhưng trong lòng Cẩn lúc này ý tưởng đang sục sôi, chúng cần bộc lộ:

- Ông vua hiền ư? Có thể đôi khi cũng là kẻ sĩ, nhưng thứ kẻ sĩ bất túc. Bởi lẽ, thông thường họ chỉ biết đến cái lý nhu yếu. Lúc nào trên cửa miệng cũng chỉ có câu: nhu nhược thắng cương cường. Những con người của thời rủ áo, toạ hưởng kỳ thành. Đất nước ta cũng chẳng thiếu... các vị vua hiền... kiểu như vậy.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #149 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2009, 05:30:27 am »

Nhưng tại sao đất nước vẫn rơi vào loạn lạc? Vua không thương dân ư? Thương chứ! Vua giảm cả sự xa hoa, yến tiệc của riêng mình, sao nơi hang cùng ngõ hẻm vẫn vang lên lời kêu than đói khát? Bởi vì các ông vua đó không biết tới sự sấm ran chớp giật; nói đến chuyện thay da đổi thịt là xám ngoét, run rẩy. Non sông, qua một thời gian dài trơ ỳ, đã trở nên cứng quèo, thối rữa. Hồn núi sông như ngủ mơ trên đống vàng. Tất cả trở nên ù lỳ, hèn yếu; đâu đâu cũng bốc lên mùi xác rữa. Cần phải lột xác. Non sông gấm vóc cần phải hồi xuân, dù phải qua máu lửa, chết chóc, tàn phá, lụi tàn...

Lúc đó chiến tranh sẽ tới, bão tố sẽ tới. Sự tàn khốc thổi ngọn cuồng phong trải khắp núi sông. Chỗ nào cũng đầu rơi máu chảy. Tiếng than khóc vang tận chín tầng mây... Nhưng sự thay da đổi thịt ấy là cần thiết, nó cũng có cái hay. Nếu non sông đứng vững, nó sẽ tươi trẻ lại, những thứ thối rữa bị cuốn trôi đi, chỉ còn để lại những mầm sống mạnh mẽ. Qua thời lột xác, non sông sẽ bừng tỉnh dậy... Thế đấy! Bi thương lắm! Trong cuộc đổi đời, biết bao nhiêu người bị cơn bão cuốn phăng, bị ném vào lửa không thương xót... Cũng chính vì vậy, nên lúc này, ta cần có một minh quân. một ông vua đại trí.

Những lời nói của Cẩn tưởng như bâng qươ, nhưng chúng như những mũi kim đâm vào lòng ông vua đạo sĩ Cẩn đang tự trấn an cho mình, hay ông ta đang đọc một bản án. Thuận Tôn thở dài, lời nói của Cẩn không phải không mang nhiều sự thực, nhưng nó đầy nét bi thảm. Nó tôn vinh sự cương cường, hạ nhục sự mềm yếu thậm chí nó kết án tất cả những ai yếu đuối, ném tất cả vào lò lửa để cho cái nóng địa ngục, tôi luyện, để lúc ra lò ai không chịu được sẽ tan biến đi, nhường chỗ cho những mầm sống tinh khôi... thức dậy... Chả trách, Cẩn được thái sư dùng làm người tâm phúc. Ông ta đầy nhiệt huyết tới mức mê cuồng... Nhưng mà ngày mai khi tất cả đã tinh khôi.. Cẩn sẽ thành người ra sao?... Liệu sự nhiệt tâm của Cẩn sẽ biến đổi thành cái gì? Dù là cái gì nữa, thì đó cũng là chuyện ngày mai; còn ngày hôm nay ta là kẻ mềm yếu, thậm chí còn là vật cản trở... Số phận của ta thế nào? Cẩn đã báo cho biết rồi đấy ông vua hẩm hiu thầm nghĩ như vậy trong lòng. Đoạn cuối những lời nói của Cẩn. Thuận Tôn bị những ý nghĩ riêng của mình kéo đi, nên không nhớ được. Song. cần gì nữa. Cái chính đã được tỏ lộ...

Lúc này Nguyễn Cẩn lấy ra một chiếc liễn nhỏ, ủ trong chiếc ấm giỏ sơn son thiếp vàng.

- Đây là canh hồng sâm. Vua mới lên ngôi nhà Minh nhân các sứ thần sang mừng, đã ban cho các vua ngoài cõi mỗi người một hộp sâm quý. Thái sư dặn phải nấu cho đúng cách, dâng lên nguyên quân. Sợ rằng tiểu đồng trên núi quê mùa, thô lậu, không biết nấu, làm hỏng vật quý, nên thần đã đem viên ngự thiện từ Thăng Long tới đây, chuẩn bị nấu từ đêm hôm qua, để dâng lên mời nguyên quân thưởng thức.

Thuận Tôn chợt nhìn chằm chằm vào liễn canh sâm. Ông đã hiểu. Ông gật đầu mỉm cười, đỡ lấy bát canh còn nóng hổi được múc ra toả hương thơm nức. Ông nói:

- Ngửi mùi đã thấy ngon lắm? Để ta ăn ngay món quý ta đã quên mùi nó từ lâu. Ta nghe nói ăn thứ sâm này sẽ sống lâu... trăm tuổi.

Rồi vừa cười, ông vừa húp sụp soạt một cách ngon lành. Trong khi đó, con vượn nhỏ rối rít chạy quanh và rên lên những tiếng lạ lùng. như lo sợ, như vừa thấy một chuyện bất thường đã xảy ra. Nguyễn Cẩn mắt tươi lên. Ông ta kính cẩn quỳ lạy, rồi mới quay xuống núi. Sau lưng, trong động đá, con vượn nhỏ vẫn cuống quýt kêu ầm ĩ.

Sáng hôm sau, Nguyễn Cẩn lại leo lên quán Ngọc Thanh. Ông ta trằn trọc suốt đêm qua, cứ luôn nghĩ tới bát canh sâm. Và hôm nay lên núi, Cẩn có vẻ nóng lòng. Cẩn sộc ngay vào điện thờ không thấy Thuận Tôn, vội rẽ sang động đá. Ông ngạc nhiên khi thấy con vượn nhỏ đang đánh đu trên đám giây leo thả mành trước hang. Cẩn càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy ông vua đạo sĩ đang thanh nhàn uống trà trên sập đá. Thấy viên học sĩ sững người đứng nhìn, Thuận Tôn lên tiếng gọi:

- Nhà ngươi đến thật đúng lúc. Trà thái sư biếu ngon làm. Thứ nước Đạm Thuỷ ở ao Tích Lịch pha với trà này rất hợp. Thứ nước từ giữa lòng núi tuôn ra không một chút bợn nhơ. Trà thơm. nước thanh tịnh, uống một chút tâm thần thấy hoàn toàn nhẹ nhõm. Ông vua đạo sĩ rót một chén trà mầu hổ phách đưa cho Cẩn. Viên học sĩ cầm chén nước ngẫm nghĩ. Sở dĩ Cẩn ngạc nhiên ngẫm nghĩ, bởi vì bát canh sâm hôm qua có pha thuốc độc. Thứ thuốc độc này không mùi vị, không gây đau đớn, người uống phải nó chỉ buồn ngủ, sẽ nằm xuống đánh một giấc dài, và không bao giờ thức dậy.

Thế mà sáng nay Thuận Tôn lại ngồi ung dung uống trà, có vẻ còn tỉnh táo hơn cả sáng qua.

Không phải Cẩn là người sắt đá đến nỗi chẳng còn trái tim. Giá như lúc này, trước mắt ông là ông vua đạo sĩ hiền hoà, mắt nhắm nghiền, nằm dài trên sập đá, chắc chắn Cẩn sẽ có chút mủi lòng, thương cảm; bởi vì suy cho cùng, có hận thù gì với ông ta đâu, hoàn cảnh buộc ông ta phải chết, cái lý tuần hoàn, bão tố thời cuộc buộc ông ta phải chết... Nhưng, lúc này, Thuận Tôn lại ngồi uống trà... Ông ta không dương dương tự đắc, nhưng sự ung dung tự tại của ông vua như chọc vào mắt Cẩn, biến đổi cảm nhận của Cẩn, làm ông thấy bối rối và bực bội. Cái lý của kẻ quyền sinh quyền sát mà. Tại sao ông ta không sợ sệt? Nếu không sợ sệt cũng phải lo lắng chứ. Tại sao ông ta không như một người thường? Khối cơ hội đấy, sao không trốn chạy? Hay Thuận Tôn nghĩ rằng ông ta thoái vị đi tu là đủ. Dù sao ông cũng là con rể thái sư Quý Ly. Nhưng lòng dân lại cứ hướng về nhà Trần. Bọn quan trong triều lại cứ muốn dựng một lá cờ đại nghĩa vì ông. Mấy đám giặc cỏ, thanh thế chẳng có gì, cũng phất cờ phò Trần, chúng mọc lên như nấm ở khắp nơi... Thái sư buộc phải muốn ông ta chết.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM