Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:15:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồ Quý Ly  (Đọc 65336 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #160 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:02:20 pm »

Sư Vô Trụ ngồi đọc kinh thâu đêm cho đến sáng. Cư sĩ họ Phạm cũng ngồi thiền sau lưng người đồng đạo. Hôm sau, trời tạnh. Vào lúc quá ngọ, khi hai người đang ngồi uống trà. sư tiểu xuống núi trở về dẫn theo hai người một trai một gái. Họ quỳ xuống vái lạy sư Vô Trụ:

- Học trò thật đắc tội. Bao năm nay mới về thăm thầy.

Hoà thượng nhìn chàng trai một lát, nhận ra ngay:

- Phạm Sinh! Con đấy ư? Ta chờ con đã bao lâu nay. Thảo nào, dạo này ta thấy sốt ruột. Đêm qua rừng động, ta chợt nhớ tới con, và cầu xin đức Phật hộ trì cho con. Thì nay, con về thật rồi. Về thật rồi - Sự sung sướng hiệu rõ trên nét mặt ông già mặc dầu ông là người tu hành. Ông chỉ tay vào cô gái đang quỳ bên cạnh - Còn vị này là ai? à, ta hiểu rồi. Có phải là vợ con đó không?

Được biết Thị Hạnh là con gái Sử Văn Hoa, hai ông già ngậm ngùi cho số phận người bạn già tài hoa viết sử ở Thăng Long.

Tối hôm đó, hai thầy trò ngồi dưới hoa trò chuyện. Phạm Sinh nói:

- Thưa thầy, con thật mê muội. Trước kia lòng con lúc nào cũng nung nấu một chí căm thù. Thậm chí ngột ngạt vì nó, có lúc muốn huỷ bỏ cả thân mình vì nó... May mà gặp duyên...

- Ta rất mừng vì con đã về núi, đã rũ thị phi...

- Thưa thầy, con đã gặp được ông ta...

- Ông ta?

- Vâng, ông quan thái sư đó, là người đại chí. Đúng vừa có chí lớn lại vừa đại trí, cũng là con người lạnh lùng như băng. Con căm ghét ông ta đến cùng cực.
Nhưng gặp mặt ông ta, con lại bị hấp dẫn vô cùng. Cứ tưởng đó là loài yêu quái ngậm máu phun người chẳng tanh, nhưng không phải. Ông ta thông minh, có thể nói sâu sắc đến tinh tế, nhưng đầy tham vọng. Nói thế nào cho đúng đây... phải, tham vọng đến độ ngạo mạn. Vì thế cho nên, đầy rẫy những kẻ thù. Và kẻ thù của ông cuồng vọng cũng không phải nhỏ, ý chí cũng không phải vừa. Hai ý chí cuồng nộ gặp nhau... ắt là có máu. Họ chẳng từ một thủ đoạn nào... Nói thế nào nhỉ? Vừa tàn bạo đến cùng cực... nhưng lại vĩ đại vô cùng. Vừa đáng căm giận, lại vừa đáng thương đáng kính... Và bao trùm lên tất cả là một nỗi cô đơn đến kinh hoàng. Thưa thầy, con nói năng thật lộn xộn. Ai cô đơn? Ông ta? Hay kẻ thù của ông ta? Hay chính là con?

Hoà thượng hiền từ trả lời:

- Ta hiểu và ta mừng. Con đang bối rối tức là con đang tìm đến với đạo.

- Hôm chúng con ra đi, nhạc phụ của con giao cho con quyển sách viết giở và cây bút lông?

- Cây bút lông? Quyển sách viết tiếp? Có lẽ con có duyên với việc đó. Thầy chỉ xin tặng con hai câu thơ của người xưa:

Thiên giang hữu thuỷ, thiên giang nguyệt.
Vạn lý vô vân, vạn lý thiên.

(Ngàn sông tràn nước, ngàn trăng sông.
Muôn dặm không mây, trời mênh mông
.)

Phạm Sinh ngẫm nghĩ:

- Thưa thầy, mặt trăng chỉ có một, nhưng ngàn sông có nước nên có ngàn trăng dưới nước. Dù sao cũng chỉ có một mặt trăng mà thôi.

- Con thấy đấy: chân như bất biến, nhưng tuỳ duyên vạn biến.

- Con xin giữ lấy chân như.

- Con hãy cầm lấy cây bút lông của nhạc phụ con. Nhưng mực của con phải là thứ mực đại từ bi của chân như... Hãy vượt qua thị phi... Con hãy nhớ.

Vợ chồng Phạm Sinh ở lại am Hoa cuốc đất, trồng khoai, trồng thuốc. Dạo này, đêm nào hổ cũng gầm gào và về mài vuốt ở cây xích tùng. Những vết móng hổ hàn sâu khắp gốc cây. Sư Vô Trụ nói với ông bạn già họ Phạm:

- Thời tiết của tôi đã đến rồi chăng?

- Nên như thế nào? - Cư sĩ hỏi.

- Sư ngẫm nghĩ rồi bảo:

- Đạo đang ở thời kỳ mạt pháp nhất. Nhưng vua bụt, tổ của chúng ta đã khêu đèn Phật, gieo hạt bồ đề ở khắp đất nước. Những chủng tử ấy nằm ở những ngôi chùa làng. Và khi nào đất nước cần đến. những mầm ấy gặp duyên lại thức dậy che chở cho dân lành. Lúc này chúng ta là những kẻ ẩn cư, giữ mầm lành.

Rung động liên tiếp mấy hôm. Đêm nào cũng có tiếng thú kêu xáo xác trong rừng. và con hổ lạ vẫn về mài móng ở cây xích tùng sau am. Sư Vô Trụ mệt đi trông thấy. Phạm Sinh lo lắng hỏi:

- Thưa thầy, tại sao rừng lại động lâu như thế?

- Ta cũng chưa hiểu... nhưng, ta có nghe...

- Có lẽ nào...

- Các cụ nói rằng những khi có chuyện bất thường, rừng thường nổi giận. Như năm xưa, lúc cha con chiếm Thăng Long, rừng đã nổi giận một lần. Bận ấy. có lẽ cũng dữ dội như lần này. Rồi năm ngoái. quan quân dẹp bọn nổi loạn trốn trong rừng sâu, rừng cũng xáo xác...

- Có lẽ nào...

- Chúng ta có lục căn. Tâm tình lúc xúc động biểu lộ ra bằng tiếng cười. tiếng khóc... Thầy chắc rừng cây muông thú cũng vậy thôi.

- Thưa thầy... con trộm nghĩ như con hổ lạ kia, đêm nào cũng về mài móng ở cây xích tùng... đêm qua, con để ý, thầy ra khỏi am nhưng nó không hề xúc phạm. Đến khi con ra hiên đón thầy vào, cũng chẳng xẩy ra chuyện gì. Khi con đốt lửa sưởi ấm cho thầy, con nghe thấy tiếng cào móng càng lúc càng dồn dập. Nghe cả tiếng rít ư ừ như tiếng kêu thương của một con mèo to lớn mà hiền dịu. Con cảm thấy như nó lo lắng cho thầy...

Hoà thượng cười hiền hậu:

- Ngày xưa, lúc ta còn là một chú tiểu, sư Huyền Quang, thầy khai tâm của ta lúc sắp ra đi, ta sụt sùi khóc, thầy bảo: “sinh tử nhàn như dĩ”... Bây giờ cũng vậy ta biết con thương ta, nhưng ta là người tu hành con đừng nên lo lắng quá... Con là người viết sử... cũng đừng nên để rối cái chân tâm.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #161 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:04:05 pm »

Phạm Sinh ngần ngừ mãi rồi hỏi:

- Bạch thầy, con quyết định viết tiếp sử nhưng còn một điều con băn khoăn mãi vẫn chưa nghĩ ra.

- Con cứ nói.

Thưa thầy. nhạc phụ con thường khi vẫn nhắc tới hai chữ hồn sông hồn núi. Thú thực, con vẫn chưa hiểu rõ hai chữ ấy.

Sư Vô Trụ ngẫm nghĩ hồi lâu mới trả lời:

- Một non sông cũng như một con người, vốn có cái nghiệp của nó. Đó là cái cộng nghiệp của toàn thể người dân. Đức Phật bảo con người có A lại da thức, nơi tàng chứa những chủng tử lành dữ của con người qua nhiều kiếp. Một đất nước cũng vậy, trong tàng thức của non sông có chứa những chủng tử... những mong muốn tốt đẹp những điều văn hiến mà dân tộc ấy đã gieo trồng, chúng biến thành khát vọng, thành hồn của núi sông, rồi từ đời này sang đời khác, khát vọng ấy sẽ hoá thân vào những bậc hiền nhân, vĩ nhân, danh nhân và cả trong những trái tim tốt lành của người dân thường để dẫn dắt dân tộc ấy đi đến đường của Đạo.
Nói đến đây, sư Vô Trụ có vẻ mệt. Cụ lặng im. Phạm Sinh rạp đầu xuống tạ ơn, và để nhận ánh sáng từ bi an lành của thầy toả ra từ bàn tay già đặt lên đầu chàng. Có lẽ đó là sự giao nhận cuối cùng của thầy và trò. Cuối cùng, sư bình tĩnh dặn dò:

- Thời của ta đã đến rồi đấy... Ta nghe rõ trong mình... Từ mai ta sẽ tuyệt cốc không ăn uống. Khi nào ta ra đi hẳn, cứ để xác ta nửa tuần trăng. Nếu không có mùi gì thì để nguyên, bọc lại, táng vào hang núi, lấy đá lấp kín. Còn nếu có mùi khác lạ thì hãy hoả thiêu rồi đem tro vùi ở gần làng Quy Đức. Ta muốn chết còn được nương nhờ bóng mát của tổ Trúc Lâm.

Từ hôm đó, sư ngồi thiền suốt đêm ngày và không ăn uống.

*
*   *

Khi con bạch tượng đưa Nguyên Trừng và Thanh Mai leo đèo vượt dốc, lội qua hàng chục con suối đến chân núi Yên Tử, đã thấy quan lại địa phương và xã trưởng cùng nhân dân bầy hương án sẵn để đón rước. Quan phủ rước đức ông vào nghỉ ở căn nhà tạm mới mọc lên. Người đó thưa:

- Theo lệnh của đức ông, lộ đã sức về phủ, phủ đã sức về huyện, huyện đã sức về xã, mọi thứ đã chuẩn bị sẵn sàng...

Trừng bảo:

- Các ông biết đấy. Tây Đô đã hoàn thành. Năm nay mở hội thề rất lớn trong đó. Nhưng cha ta muốn cả nước đều được tưng bừng, vì vậy cho phép mùa xuân này, các hội quê đều được mở. Tiếng âu ca phải được vang lên khắp nơi. Vả lại, năm qua cả nước được mùa. Ta nghe nói, mấy năm nay Yên Tử không mở hội. Hơn nữa, vừa rồi phủ sở tại đây đã dập tắt được một nhóm nô tỳ kéo nhau tụ tập trong rừng, tuy chưa làm phản nhưng chắc là có chí ấy.

Viên quan sung sướng khúm núm:

- Dạ, quân lính đã chặt được hơn trăm thủ cấp.

- Tôi có nghe an phủ sứ đề nghị thăng thưởng cho ông. Việc võ là cần, nhưng việc văn cũng cần không kém. Vì vậy, tôi muốn ông cho tổ chức ngày hội Yên Tử thật long trọng. Tôi đã dạn thưởng thêm cho phủ trăm lạng bạc, chi vào lễ hội. Ông nên biết, dân rất thèm vui. Mấy năm nay, chẳng hề nghe tiếng trống thì thùng... có hội, lòng dân sẽ vui tươi nô nức...

Đúng lúc Nguyên Trừng đang nói, rừng Yên Tử bỗng rộ lên những tiếng kêu xáo xác của muông thú. Tiếng động ồn lên như một cơn sóng ào ạt xô tới, rồi bỗng dưng bặt lặng. Trừng nhíu mày hỏi:

- Tiếng gì vậy?

- Dạ mấy hôm nay rừng động!

- Sao lại động?

- Dạ, có thể lúc quan quân hàng ngàn người reo lên à à sục sạo trong rừng tìm lũ phản loạn, rồi đang đêm đốt đuốc thổi tù và inh ỏi... nên đã làm lũ muông thú kinh hoàng. Cũng lại có thể, vì con hùm đen - chúa rừng, đã lâu vắng bóng, nay lại xuất hiện ở vùng này... Thật lạ lùng? Nghe nói con vật đó hằng đêm vẫn về mài móng vào thân cây xích tùng ở am Hoa trên núi nhưng lại chẳng hề làm hại tới sự cụ Vô Trụ và những người ở đó.

- Hổ về ư? Chúng đã xâm phạm tới ai chưa? Hổ về làm sao mở hội? Các ông đã có biện pháp gì?

- Xin đức ông chớ lo. Chưa hề xảy ra chuyện. Còn biện pháp, chúng tôi đã theo kinh nghiệm của dân sở tại. Mỗi năm, trước khi mở hội, xã vẫn thịt trâu rồi vứt thịt ra những cánh rừng xa. Hổ có cái ăn no sẽ chẳng động tới dân. Năm nay cũng theo cách ấy, nhưng vì rừng động, nên hạ quan đã ra lệnh thịt ba con trâu, vứt thịt ở các ngả. Lại có thêm hai con khác dự phòng.

Nguyên Trừng nhìn viên quan phủ tinh khôn ấy rồi gật đầu:

- Ông thật khéo. Tôi yên tâm rồi.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #162 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:05:17 pm »

Khi Nguyên Trừng, Thanh Mai, ông già Lặc leo lên núi cũng là lúc hội Yên Tử bắt đầu. Các ngôi chùa Long Động, Giải Oan, Vân Yên... đều gióng chuông từ sớm. Từ các làng quê trong vùng, những người dân nghe tiếng chuông ngân nga, từng đoàn kéo nhau về Yên Tủ. Một lá phướn to, dài mầu vàng treo trên đầu cây bương cao chót vót được chôn ở chân núi trước khi đến suối Giải Oan. Dân quê ngạc nhiên và háo hức bởi vì hội Phật hầu như vắng bóng đến chục năm trời, nay bỗng nhiên được mở, mà lại do chính các quan trên đứng ra đỡ đầu. Hội đông là phải...

Nguyên Trừng đứng trên dốc đá, dưới một gốc tùng già nhìn xuống chân núi, thấy dòng người nô nức đang tiến về phía chùa Giải Oan thấy ngọn phướn uốn lượn trong gió như con rồng vàng đang múa; rồi chợt một hồi chuông chậm rãi từ trên núi vang vang lan toả trên đầu những cây đại thụ, tiếng chuông hiền từ nhưng sao mà buồn đến vậy, ông chợt thở dài, có chút ngậm ngùi... Thực ra, cuộc mở hội này là điều bất chợt ông tự nghĩ ra, đâu có phải ý định của quan thái sư. Trừng đi thăm ông ngoại nên muốn có món quà làm ông vui lòng. Mới đầu, ý nghĩ chỉ giản đơn thế thôi, nhưng khi hội mở, nhìn mặt người dân hớn hở, Nguyên Trừng mới chợt thấy như mình có lỗi với mọi người.

Cụ lang Phạm gặp Nguyên Trừng đã nói ngay:

- Được tin cháu lên thăm, lại được tin mở hội Phật ông biết ngay đây là ý riêng của cháu...

- Cháu chỉ muốn làm ông vui lòng.

- Chẳng những ông vui và người dân cũng cảm ơn cháu. Đã gần chục năm nay, họ vẫn mong một ngày hội Phật. Ông già ngẫm nghĩ rồi hỏi - Làm thế này, cháu không sợ cha cháu phật lòng hay sao?

Nguyên Trừng cười:

- Cả đến ông, cũng không hiểu được lòng cha cháu.

- Không hiểu cha cháu?

- Ông thử nghĩ xem. Khói hương ư? Tụng kinh ư? Lễ hội ư? Cha cháu tại sao lại giận, tại sao lại phản đối?... Chỉ miễn là lòng dân an vui - Trừng mỉm cười - Thậm chí cha cháu còn bảo sau khi thăm ông, cháu phải đến vấn an các thiền sư Yên Tử, và thỉnh các vị về Tây Đô mừng kinh đô mới.

Sư Vô Trụ, không ăn uống, ngồi kiết già đã mấy ngày liền vẫn chưa thị tịch. Hôm Nguyên Trừng theo ông ngoại từ am Dược đến am Hoa viếng thăm, sư đột nhiên bừng mở mắt và sai chú tiểu mời vào. Nguyên Trừng làm lễ vấn an, thiền sư nói:
- Khi đức ông còn nhỏ tuổi, tôi đã có duyên hội ngộ. Đức ông từ khi ấy đã đọc kinh Phật. Vậy là đã có chút duyên với nhà Thiền.

Nguyên Trừng truyền đạt lời mời tới Tây Đô dự lễ. Sư nói:

- Rất tiếc, đã đến thời tiết của lão nạp này rồi.

- Xin thiền sư chỉ giáo đôi lời.

Lão nạp đức mỏng không có lời riêng. Chỉ xin gửi lại đức ông hai câu kệ của đức Nhân Tôn:

Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên.
Cơ tắc xan, hề, khốn tắc miên
...
(ở cõi trần vui đạo, hãy tuỳ duyên
Đói thì ăn, hề, nhọc ngủ liền.
..)

- Tuỳ duyên?

- Vâng... có duyên, chớp mắt mọc vạn lâu đài. Hết duyên, chớp mắt lại tan ngay...

Thiền sư nhắm mắt, từ đó ông không nói gì nữa. Hôm sau, Nguyên Trừng từ giã ông ngoại xuống núi. Nguyên Trừng để Thanh Mai ở lại ít bữa với ông ngoại để giúp đỡ am Hoa, vì sư Vô Trụ sắp ra đi. Nàng và ông già Lặc tiễn chân Trừng xuống chân núi. Hôm đó mở hội phóng sinh và phóng đăng ở suối Giải Oan. Những bè chuối nhỏ đem theo những chiếc đèn hoa bập bềnh trôi theo dòng nước. Những con cá chép từ chậu được thả ra suối trước khi bơi đi xa còn cố ngoi lên mặt nước thả những chuỗi bong bóng như để cám ơn con người. Phạm Sinh và Thị Hạnh mua một lồng chim sáo của bọn trẻ mục đồng, trùm chiếc khăn vuông xưa của bà nô tì lên. Thị Hạnh nhón tay nhấc chiếc khăn để Phạm Sinh mở cửa lồng cho con sáo nhảy ra đậu trên lòng bàn tay chàng. Phạm Sinh nói:

- Bay đi? Hãy trở về với bầu trời!

Con chim bay vút lên cây cao. Đột nhiên trong rừng một bầy chim từ những lùm cây bay túa lên trời kêu xáo xác.

Người quản tượng mới thay ông già Lặc tiến lại gần con voi trắng. Con bạch tượng chợt giậm chân thình thịch như tức giận, khiến người đó không thể nào tiến lại gần. Nó bỗng vươn vòi lên trời, chồm lên, đứng bang hai chân sau và bắt đầu rống. Tiếng rống vang trời, gọi mọi người xúm lại gần. Càng thấy đông, con voi càng nổi cơn giận dữ. Tiếng rống của con bạch tượng chuyển sang giọng man rợ chưa từng thấy. Tiếng nó kêu rung chuyển núi rừng. Tiếng rống xoáy vào rừng sâu kêu gọi, làm rừng tĩnh lặng bỗng nhiên choàng tỉnh. Ở phía xa xa, hình như cũng có tiếng gầm gào đáp lại. Nguyên Trừng thở dài. Đây là lần thứ hai ông thấy con voi giận dữ. Ông nhớ lại lần trước, ở pháp trường Báo thiên, con voi cũng đã gào rống như thế này. Song, lần đó, người ta hát bài hát dỗ voi đã dần dần làm nó nguôi đi. Lần này, ông già Lặc cũng hát:

Ơ con voi rừng!
Ơ con voi hoang!
Nước mắt ròng ròng
Cái vòi ủ rũ
Vểnh tai lên mà nghe ta hát
Vươn vòi lên mà đón nhành hoa...


Nhưng con bạch tượng chẳng chịu nghe lời dỗ của ông Lặc nữa. Nó chẳng cần nhành hoa. Lần này nó điên thực rồi. Nó chỉ còn biết rống lên bằng tiếng kêu thảm thiết, nghe mà rùng mình, giống như tiếng kêu chọc tiết của hàng ngàn vạn con lợn. Có lẽ lần này ở đây là rừng, và tiếng gọi của rừng đánh thức khối óc nhỏ bé của nó đã ngủ lịm từ bao lâu nay. Nó thức giấc và không chịu ngủ lại lần nữa.

Thanh Mai nói với Nguyên Trừng:

- Em xin chàng một đặc ân. Xin chàng hãy thả nó về rừng.

Nguyên Trừng như còn suy nghĩ, Thanh Mai lại tiếp:

- Hôm nay, ngày hội phóng sinh. Sao chàng chẳng phóng sinh cho con bạch tượng?

- Phóng sinh ư?

- Cha chàng, ngài thái sư đã chẳng phóng sinh cho hàng vạn nô tì rồi đó sao?

- Đúng! Phóng sinh. Phóng sinh. Ý nghĩ của nàng thật tuyệt. Đã có bao giờ người ta phóng sinh cho một con voi chưa?

Con voi được tháo xích, nó nhằm thẳng phía rừng già, cắm đầu chạy, vừa chạy vừa rống lên ồ ồ, nhưng đó là tiếng rống mà Nguyên Trừng chưa hề bao giờ nghe thấy. Tiếng kêu của nó dần mất hút trong rừng sâu. Nguyên Trừng lên ngựa ra sông Lục Đầu, trở về Tây Đô Tất cả, ông ngoại, Thanh Mai, ông già Lạc và cả con voi nữa đều ở lại Yên Tử.

Chàng ra đi chỉ có một mình.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #163 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:07:17 pm »

Phần XIII - Chương 1

Hội thề Đông Sơn


Từ sông Bạch Đằng, Nguyên Trừng lên thuyền, căng buồm men theo bờ biển vào Thanh Hoá, rồi ngược dòng sông Mã đến Tây Đô. Đến bến đò, ông lên yên nhằm thẳng núi Đún cho ngựa chạy. Suốt dọc hành trình, lòng ông đeo đẳng một nỗi buồn man mác. Tất cả đã ở sau lưng rồi. Tuy rằng chỉ tạm chia tay Thanh Mai, nhưng ông linh cảm thấy lần chia tay này sẽ là mãi mãi. Hình như Trừng chẳng muốn về Tây Đô, nhưng số phận buộc ông phải tới đó. Mới chỉ vài ngày, ông đã chuyển qua những cõi trời hoàn toàn khác biệt. Ở Yên Tử, đó là núi, suối, là hoa cỏ cây cối, là đi giữa mây trắng, vượt từ cõi ồn ào sang miền tịnh thổ; ở đó đất trời gặp nhau cho ta cảm giác dịu dàng, hiền hoà; ở đó chỉ có sự tốt lành, hết tranh giành, cắn xé. Chẳng ai nói, nhưng Trừng có cảm giác chua xót rằng tất cả hình như đang quay lưng lại với mình. Ông ngoại, Thanh Mai, ông già Lặc, cả con voi trắng nữa, tất cả đều muốn đi hướng khác. Họ muốn về với bình an...

Đứng ở cửa ngõ Tây Đô, dưới chân núi Đún, Nguyên Trừng đã hoàn toàn bước qua một thế giới khác. Đứng ở đỉnh Yên Tử, hòn núi cao nhất vùng, tâm hồn ta như được cởi mở nâng cao lên, khoáng đạt hơn, rộng lượng hơn; tầm mắt nhìn được xa hơn. Còn đứng ở chân núi Đún, trên con đường cát đá dài thẳng tắp, nhìn vào toà thành đá khổng lồ Tây Đô, Nguyên Trừng như thấy mình đang chui vào một cái hòm, một khuôn mẫu, ở đó tất cả là sự ngang bằng sổ thẳng, sự chỉn chu đúng phép của những Đông, Tây, Nam, Bắc, của lễ nghĩa, của quân thần phụ tử.

Hồ Quý Ly là một nhà nho uyên thâm. Kinh thành Thăng Long trải qua hai triều đại Lý Trần tôn sùng đạo Phật đã bị ảnh hưởng thứ tư tưởng khoan dung của đạo Thích trong kiến trúc. Nhiều chùa quá, nào Diên Hựu, Chân Giáo, nào Thần Quốc, Báo Thiên... ngóc ngách nào cũng thấy chùa chiền. Được mấy cái hồ đẹp như những tấm gương, thì chung quanh Hồ Tây cũng nhan nhản những chùa, còn bên Hồ Lục Thuỷ, lại sừng sững soi bóng ngọn tháp cao vút Đại Thắng Tư Thiên của chùa Báo Thiên. Quý Ly sai Nguyên Trừng vẽ bản đồ xây dựng Tây Đô. Ông bảo:

- Thật uyển chuyển, nhưng cái chính là phải cương nghị hùng tráng. Không có bóng dáng một ngôi chùa! Những ngôi chùa dễ làm mềm yếu lòng người. Kinh đô mới phải toát lên hùng khí trang nghiêm, kính cẩn, phép tắc...

Quê hương Quý Ly ở đó, thủa nhỏ ở đó, nên rành địa hình vùng động An Tôn. Ông góp ý, bắt Nguyên Trừng sửa chữa nhiều lần, cuối cùng tạm ưng. Đại thể, đó là một kinh đô quân sự. Quý Ly muốn xây dựng một toà thành khổng lồ, bằng đá, quy mô hùng tráng, to lớn nhất kể từ trước đến nay. Địa thế Tây Đô thực hiểm trở, có sông núi bao quanh. Phía Bắc dựa vào núi Voi, phía Nam có núi Đún che chắn. Phía Tây có dòng sông Mã, phía Đông có núi Hắc Khuyển cùng dòng sông Bái bao bọc.

Tây Đô chia ra làm hai: khu thành nội và khu thành ngoại.

Khu thành nội hình chữ nhật, dài khoảng 2.250 thước ta (900 mét), rộng khoảng 1.760 thước ta (700 mét). Chung quanh có tường thành cao 15 thước ta (6 mét), trên có đường đi rộng khoảng 10 thước ta (4 mét). Tường thành xây bằng những viên đá lớn 2 mét x 1mét x 0,7 mét). Những viên đá quá nặng, phải đắp đất, seo lên mới xây dựng được. Mặt trong thành lèn đất dày như đắp đê. Thành có bốn cửa đều cao to, nhưng to nhất là cửa Nam được gọi cửa Tiền, gồm ba vòm cổng, vòm giữa cao nhất (cao 9,5 mét, rộng 6 mét). Các cánh cổng đều làm bằng gỗ lim phiến dầy, dưới chân có lắp bánh xe bằng đá. Từ cửa nam một con đường lát đá thẳng tắp chạy đến tận chân núi Đún, khá dài (5 ki - lô - mét).

Bao quanh thành nội là khu thành ngoại. Đó là khu dân cư gồm các làng xã, phố phường, nơi mọc lên cả những dinh thự của các quan lại. Phía ngoài thành ngoại đắp một bức thành đất, dưới chân trồng tre dày ken thành luỹ, và ngoài cùng đào một lớp hào sâu như con sông nhỏ vây kín Tây Đô. Từ con sông này lại có lối ăn thông với sông Mã, sông Bái để tiện việc chuyên chở, giao thông cho kinh đô mới.

Kiến tạo một kinh thành vĩ đại đến như thế, đồng thời còn phải xây dựng các cung điện, đài, các trong nội thành thử mà thời gian vẻn vẹn chỉ có ba năm. Thật phi thường. Phải huy động hàng vạn nhân công, hàng vạn thợ giỏi; phải trưng tập hàng ngàn chiếc thuyền, chiếc xe; phải bỏ ra hàng chục kho lương, nhiều kho tiền. Người chết vì lao lực, vì bệnh tật kể tới số vài ngàn. Mất bao nhiêu là máu, nước mắt, mồ hôi? Đứng sững trên con đường đá Đốn Sơn, Nguyên Trừng miên man nghĩ tới những chuyện đó, ông chợt thở dài. Ở xa xa, có tiếng trống thì thùng và tiếng loa vọng lại. Nguyên Trừng lắng tai:

Bàn dân thiên hạ
Hãy nghe cho rõ
Đất nước thái bình
Thái sư lệnh truyền
Mở ngay ngày hội
Cho ngời Minh Đạo
Cho rạng nghĩa nhân
Cho khắp xóm thôn
Vui đời Nghiêu Thuấn
...
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #164 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:08:17 pm »

Từ phía sau Đốn Sơn, ở lưng chừng núi, có một đoàn người Mường đi ra. Họ xếp hàng một. Dẫn đầu là một đoàn con gái váy đen, áo trắng, khăn trắng, tay môi người cầm một chiếc chiêng to nhỏ khác nhau. Các cô vừa đi vừa gõ. Bóng họ in bật trên nền xanh của núi. Tiếng chiêng theo một giai điệu lên bổng xuống trầm nghe rất lạ tai. Những người Mường từ vùng núi cao, nghe vua mở hội ở kinh đô mới, đã xuống núi, vừa dự vui vừa để ngắm một đô thành bỗng dưng lạc tới vùng đất hoang sơ này. Nghe tiếng chiêng của họ, tất cả muôn vật đều như bị thu hút; mọi người đều ngẩng nhìn, lắng nghe; cả đến tiếng trống, tiếng loa cũng đột nhiên im bặt. Tiếng chiêng vang vang trong thung, kéo dài đến tận ngôi thành đá, nó ngân nga như một giọng trầm trầm, thì thầm tâm sự. Tiếng chậm rãi bùng bung, bùng binh, bang bang... như từ chiều sâu thẳm của núi rừng, của thời gian, bị lạc hay bị nhốt hãm từ lâu, nay bỗng xổ lồng bung ra, tràn vào thung lũng. Nó chẳng ồn ào nhưng bỗng làm ta cảm thấy rung động. Đó là tiếng của rừng đại ngàn, tiếng của con suối ngầm rót rách gặp chỗ thoát bỗng ùa ra thành thác; tiếng của những con người trong rừng sâu đêm đêm vây quanh đống lửa, mắt họ ánh lên nôi u buồn của những đêm dài nguyên thuỷ; hay là tiếng của những hồn xưa, của tổ tiên thần linh trở về; cũng có thể đó là tiếng của những con thú bị nhốt trong rừng chập chùng, âm u, tầng tầng lớp lớp, nó phải luồn qua những tầng cây dưới vực thẳm sâu như âm ti, để trườn trên những vách đá cheo leo, cố trồi lên để húp lấy tí ánh sáng hiếm hoi, nó vang vang cất tiếng nhưng gió làm tan loãng, chỉ còn nghe thấy những tiếng u.. u... a...a... Tiếng chiêng buồn nhưng không nức nở, nó tưới đẫm hồn ta, để dần dần thấm sâu vào tận xương tận tuỷ con người, làm ta ớn lạnh.

Nguyên Trừng bứt rứt rời xa tiếng chiêng, cho ngựa bước lộp cộp trên con đường lát đá. Tiếng vó ngựa đẩy lùi tiếng chiêng lại phía sau. Nhưng dù cho ngựa chạy nhanh, dù cho tiếng vó ngựa vang giòn, những thứ đó cũng không thể xua tan tiếng chiêng, nó đeo bám riết ráo sau lưng đến tận toà thành đá.

Chỉ khi đóng sập cánh cửa lim to dầy ở phía sau lưng, Nguyên Trừng mới trút được sự ám ảnh của tiếng chiêng. Tiếng chiêng chỉ còn là một thanh âm mơ hồ, lãng đãng đâu đây trước khi lặng tắt.

Trừng vội vã đến thăm em gái trước tiên. Ông vua tí hon Trần An trong bộ quần áo vàng chóe, đang chơi thơ thẩn ở trước cửa cung điện, thấy Nguyên Trừng, giang tay chạy ùa đến. Nguyên Trừng ôm cháu, bế lên tay. Cậu bé nép đầu vào cổ ông bác. Nó nói nhỏ:

- Bác Trừng ơi? An sợ lắm!

- Nào, nào! Bây giờ cháu là vua rồi. Cháu sợ gì cơ chứ?

- Sợ mẫu hậu khóc.

- Mẹ cháu khóc ư?

- Mẹ khóc cả ngày. Mẹ không cười nữa. Đêm qua, mẫu hậu ôm An, rồi cũng khóc.
Nguyên Trừng lặng im. Chú bé vẫn bi bô:

- An dỗ mẹ, mẹ không nín. Mẹ khóc to hơn.

Rồi ông vua tí hon rón rén, không nói, dẫn ông bác vào trong toà cung điện nguy nga. Thánh Ngẫu ngồi ủ rũ trong chiếc ghế bành trải nệm gấm. Câu hỏi đầu tiên của nàng:

- Có phải huynh vừa từ Yên Sinh về không? Trừng gật đầu. Bà hoàng dồn dập hỏi tiếp:

- Nhà vua... người thế nào?

Trừng như lảng tránh câu hỏi:

- Ông ta đã là một đạo sĩ thật sự?

- Huynh nói thật đi Xin huynh đừng giấu điều gì.

- Sao huynh lại giấu?...

- Em nhìn mắt huynh, sao đôi mắt buồn rười rượi? Và bàn tay nữa? Sao bàn tay lại run run?...

- Em suy nghĩ quá nhiều nên thốt ra những lời mê sảng.

- Sao lại mê sảng? Nhưng, đúng là em mê sảng... Cách đây mươi ngày, đang đêm, bỗng nghe thấy một tiếng động... Mở mắt ra, bỗng thấy một bóng tráng... Đúng là một hồn ma. Hồn ma đứng cúi đầu trước giường, dòng dòng nước mắt... rồi giơ tay ra như muốn xoa mớ tóc của thang An. Môi cái bóng trắng mấp máy như muốn nói mà nói chẳng thành lời... Em choàng dậy... giơ tay ra... thì hồn ma biến mất...

- Em có bệnh rồi. Đúng là một cơn ác mộng mê sảng...

- Không phải mơ đâu... Mấy hôm nay, đêm nào hồn ma cũng hiện về. Em đã nhận ra, đó là hồn Thuận Tôn... Chồng em đã ra sao? Lòng em nóng như lửa đốt. Huynh nói thật đi.

- Thánh Ngẫu? Em đã ốm rồi?

- Tôi không ốm! Tôi cần biết sự thật. Tôi muốn gặp chồng tôi. Thằng An muốn gặp cha nó. Hay là... Phải. Hay là cha chúng ta đã có âm mưu gì?... Hay là cả huynh nữa... các người đã có âm mưu gì?...

Bà hoàng hậu như nổi cơn điên rồ. Nàng đứng lên, mắt long lanh, đôi mắt đau khổ hầu như đã cạn khô nước mắt. Ông vua con chạy tới, nắm lấy tay mẹ.

- Mẫu hậu ơi. Mẹ ơi! An sợ lắm.

Người mẹ cúi xuống, ôm lấy đứa con. Mẹ và con cùng oà lên khóc, dưới con mắt bối rối của Nguyên Trừng. Ông có cảm giác như chính mình đang phạm tội...
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #165 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:09:10 pm »

Điện Minh Đạo hiện ra trước mắt. Nó là bản sao của cung điện Hoạ Lư ở Thăng Long. Hay nói cho đúng hơn, điện Minh Đạo chính là cung Hoa Lư được phát triển đường bệ hơn, nguy nga hơn. Vẫn là kiểu hình chữ tam, nhưng khác với cung Hoạ Lư, toà tiền điện ở đây mới là Chính điện. Toà trung và hậu điện là nơi ở riêng và nơi thờ lại biến thành những kiến trúc phụ. Điện Minh Đạo lấy tên ngay cuốn sách Minh Đạo của thái sư, âu cũng là cách tỏ rõ cái chí. Một điều khác biệt nữa: cung Hoạ Lư chất liệu bằng gỗ, còn điện Minh Đạo chất liệu chủ yếu bằng đá, nhất là toà chính điện. Ở bậc thềm bước lên, ta đã gặp ngay đôi rồng đá to nhất từ trước đến nay. Đôi rồng, mỗi con dài mươi thước, uốn khúc uyển chuyển và hùng dũng như đang bay. Cái tráng khí hào hùng ấy do bàn tay tài ba của phường thợ đá làng Nhồi làm. Quý Ly đã ban thưởng tước cho người thợ cả, điều đó thật hiếm thấy. Hàng cột đỡ hiên là mười chiếc cột đá chạm rồng leo tinh xảo. Đặc biệt nhất là chiếc sập to làm bằng đá phiến nguyên khối đánh bóng lên mới thấy nổi những vân đá đen như rồng, như mây.

Cung Minh Đạo nằm ngay chính tâm toà thành đá Tây Đô. Chính nơi đây sẽ là trung tâm chính trị của đất nước trong những ngày sắp tới.

*
*   *

Viên quan cấm vệ to như ông hộ pháp đứng ngay bên cạnh con rồng đá, kính cẩn cúi chào. Nguyên Trừng dừng lại hỏi:

- Cha ta có trong điện không?

Viên lực sĩ thưa:

- Bẩm đức ông. Đại Vương đang ở bên trong.

Toà đại điện rộng mênh mông, với hai bức đại hoành “Nhật nhật tân” và “Vô dật, nãi dật” giống như ở cung Hoa Lư Thăng Long. Kích cỡ của hai bức đại hoành ở đây to rộng hơn. Hầu như nó choán kín cả vùng tường hậu. Mầu vàng óng của hai bức hoành phản chiếu ánh sáng của khoảng hở giữa hai đợt mái chồng lên nhau, ở trên cao dọi xuống, rồi rải khắp toà đại điện, làm cho không gian như mở rộng thêm, nó oai nghiêm và sáng sủa lạ thường. Tuy nhiên, đó là thứ ánh sáng lạnh, có lẽ lạnh vì ở đây chẳng thấy một bóng người. Nguyên Trừng nhìn quanh, rồi rảo bước đến cửa sau, ông hầu như nghe thấy cả tiếng chân của chính mình. Đến toà trung điện, vào phòng ngủ, sang nơi làm việc, lên lầu đọc sách, ở khắp nơi đều không thấy bóng Quý Ly. Sự lặng lẽ vắng bóng người đã kéo lũ chim sẻ đến đậu trên mái ngói. Chỉ nghe thấy tiếng chim rúc rích càng làm tăng thêm sự cô liêu cho khu cung điện nguy nga và bao la. Quý Ly vốn không thích những bóng người qua lại nhộn nhịp trước mắt mình. Tất cả những kẻ giúp việc: thư lại, vệ sĩ, thể nữ, ngự thiện đều phải ở những căn nhà nằm ngoài khu vực. Bên người ông, luôn đeo một quả chuông vàng; khi cần, ông lắc chuông, và một con người cực kỳ tin cẩn sẽ xuất hiện không biết từ đâu. Sau khi nghe lời ông sai bảo, cái bóng tin cẩn ấy biến ngay lập tức mất tăm, để cho sự vắng tanh lặng lẽ lại ngự trị.

Nhìn quang cảnh, Nguyên Trừng hiểu ngay cha mình đang ở đâu. Ông di đến toà hậu điện, nơi thờ cúng bà Huy Ninh công chúa. Thường thường, thái sư chỉ đến đây vào buổi tối, hôm nay ông lại đến vào giữa ban ngày.

Toà hậu điện được thái sư Quý Ly cho xây dựng trước nhất ông muốn khi ông đến ở, thì nơi thờ phụng bà Huy Ninh đã phải đẹp đẽ khang trang. Vì vậy, ở đây cây cối đã xum xuê. Vẫn có hai cây đại mọc trước nhà, hai cây đại non tơ nhưng đã nở hoa trắng xoá. Những bông hoa trắng ngà, những bông ngọc lan nhà Phật nức hương rải thảm lốm đốm trắng trên chiếc sân gạch đỏ au đã chớm rêu xanh. Trước kia, ở cung Hoa Lư, toà hậu điện gồm cả ban thờ Phật và ban thờ bà Huy Ninh. Nhưng, ở cung Minh Đạo, toà hậu điện chỉ riêng thờ bức tượng đá trắng của công chúa.

Nguyên Trừng mới đến giữa sân đã phải đứng sững lại ông trông thấy cha mình đang ngồi xệp dưới chân pho tượng ở gian giữa nhà, pho tượng ở đây được đặt thấp, từ ngoài nhìn vào cứ tưởng như bà Huy Ninh đang thật sự ngồi đó. Bà ngồi trên ghế bên một chiếc bàn sơn son có đặt bát hương nghi ngút khói. Còn Quý Ly, ông như gục vào lòng người vợ hiền hậu. Nhìn từ xa, không cảm giác thấy hai bàn tay trắng ngà đương đấy ra, mà hình như hai bàn tay ấy đương đặt lên mớ tóc bạc của thái sư để chở che, để vuốt ve an ủi. Còn Quý Ly thì... toàn thân đang rung lên. Hoá ra như vậy? Lần đầu tiên, Trừng bắt gặp cha mình đang khóc. Có lẽ ông già đang thì thầm kể lể cho vợ mình nghe những chuyện ông đã làm. Có thể ông đang nói về số phận của bà hoàng Thánh Ngẫu, đứa con gái cưng của ông bà, đứa con gái kiều diễm mà ông bà đã nâng niu như một nhành hoa quý. Cũng có thể là những lời tâm sự về ông vua bé nhỏ Trần An, đứa cháu ngoại run rẩy ngồi trên ngai vàng. Hay dó là những lời biện bạch về số phận của Thuận Tôn, ông vua của vương triều nhà Trần, đã vĩnh viễn bay về tiên cảnh... Hay có khi ông đang hé cho bà biết những điều vừa vĩ đại vừa khủng khiếp đã và đang xảy ra với núi sông...

Nguyên Trừng nhìn chiếc lưng còng của cha mình đang rung lên từng đợt, Trừng chợt nhớ tới vua Thái Tôn Trần Cảnh của nhà Trần ngày xưa. Ông vua uyên bác và nhân từ ấy đã chẳng từng viết bao nhiêu bài kinh sám hối trong cuốn Khoá Hư Lục: sám hối buổi sáng, sám hối ban trưa, cả sám hối khi đêm xuống. Kẻ mở đầu một vương triều bao giờ chẳng thế! Điều khác biệt đó là Trần Thái Tôn viết ra thành văn điều sám hối, còn Quý Ly, cha ông, lại quỳ dưới chân pho tượng trắng... để thổ lộ với một hòn đá vô tri.

Nguyên Trừng lập tức lùi lại, rồi rón rén quay về toà tiền điện. Ông hiểu, dù mình là con, cũng không nên có mặt trong những phút yếu đuối của một con người đầy khát vọng như cha mình.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #166 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:10:44 pm »

Không lâu sau đó, Hồ Quý Ly đã đến nhà tiền điện. Ông chằm chằm nhìn vào mắt con trai. Lúc này, ông đã là một con người hoàn toàn khác hẳn. Hình như những tia nhìn của ông tỏ ra rằng ông đã biết mọi chuyện. Tia nhìn lạnh băng ấy như quở trách ngầm, Nguyên Trừng vội cúi xuống chào cha. Ông báo cáo tình hình bằng mấy câu nói ngắn gọn:

- Thưa cha, mọi việc cha giao, con đã hoàn thành. Tất cả đều diễn ra như ý định của cha.

Quý Ly gật đầu, rồi ông nhắm mắt lại như để sắp xếp những ý tưởng, trước khi cái giọng trầm trầm của ông cất lên:

- Anh về kịp lúc. Đúng ngày mai, ta cho mở hội mừng tân đô. Dân thèm ngày hội, ta cho ngày hội. Hãy cho người Mường, người Thái... xuống núi mà thi gõ chiêng, đánh trống. Hãy cho những người hát xẩm, những đào nương, những phường chèo đến mà khoe giọng hát. Hãy cho đánh đu, chọi gà, múa rối, đánh vật. Ban đêm cho đốt cây bông, thi đèn cù... Và, cũng có thể cuối cùng mở hội chọi voi cả một ngày ròng... Nói tóm lại, làm mọi cách cho thật tưng bừng trước lúc hội thề.

Ông già chợt cười khẽ:

- Tuy vui, nhưng no bụng vẫn là điều chủ yếu. Anh phải đứng ra thay ta đôn đốc việc mở kho, phát chẩn cho dân nghèo ở những nơi mất mùa. Riêng quanh vùng Đông Đô Thăng Long, và Tây Đô, không cho phép có người dân đói khát. Quan lại những địa phương này nếu không làm tròn trách vụ cần phạt thật nặng.

Bỗng nhiên, đang trò chuyện dân sinh Thái sư lại nhảy ngay sang vấn đề kẻ sĩ:

- Những sĩ phu ở xứ Đông, việc quan trọng tôi dặn anh, nay thế nào?

- Thưa cha, có lẽ khả quan. Con đã bảo phủ, lộ sức xuống các làng xã... đã cho mời các danh sĩ, các nhà khoa bảng... Trên đường đến đây, con nghe ngóng, họ đang lục tục kéo tới Tây Đô.

Thái sư nhắm mắt lại, trầm ngâm một hồi lâu mới lên tiếng:

- Ta đã suy nghĩ rất nhiều. Sang năm, dù thế nào cũng phải mở khoa thi. Nhưng trước mắt, nhân ngày hội, cũng nên mở một cuộc thi làm văn làm phú...

Ông nhắm mắt lại, tiếp tục suy nghĩ rồi mới nói:

Này Nguyên Trừng, con có nhớ Quách Ngỗi người nước Yên thời chiến quốc mua bộ xương con thiên lý mã bằng 500 lạng vàng không?

- Con nhớ. Quách Ngỗi có trả lời khi yên Chiêu Vương tức giận vì nghĩ đã phí vàng: “Ngựa chết còn mua 500 lạng vàng, huống chi ngựa sống”. Dùng ngựa chết để nhử ngựa sống. Dùng một người hiền loại trung để nhử các bậc đại hiền...

- Phải đấy? Chính là cái ý ấy. Vì vậy, nên ta ra đầu đề “Phú con ngựa lá”

- Bài phú về con bọ ngựa ư?

- Vậy sẽ thế này: con hãy viết cho cha một bài bố cáo chữ thật to, ngày mai dán ở lầu Quảng Văn trước cửa thành phía nam; bất cữ già trẻ, không phân biệt sang hèn chức tước, ai làm được bài phú thật hay ta sẽ thưởng trăm lạng bạc. Đích thân ta sẽ làm chánh chủ khảo chấm thi.


Phần XIII - Chương 2

Tây Đô tưng bừng náo nhiệt. Suốt dọc đường lát đá từ cửa Nam đến núi Đún được cắm đầy những lá cờ ngũ sắc. Chót vót trên đỉnh Đốn Sơn treo một lá cờ trên thêu hai chữ Đại Việt rất to. Lá cờ đại hình vuông nhiều mầu.

Các phường trưởng, xã trưởng từ sáng sớm đã bày hương án, thắp hương ở nhà công quán, rồi ra lệnh cho bọn con em đánh trống đánh chiêng thì thùng rộn rã. Cửa Tiền mở rộng. Từ chòi cao trên thành người lính canh đốt một tràng pháo to và dài. Khói pháo tụ thành đám mây trắng. Xác pháo trải khắp cửa Tiền như ai rắc hoa đào. Trăm quan mũ áo cân đai tề chỉnh; theo thứ bậc từ nhất phẩm trở xuống, hàng một nối đuôi nhau tiến vào hai cửa tả hữu đến điện Minh Đạo. Trên lầu Quảng Văn, người lính gọi loa dõng dạc truyền lời mở hội. Hội Đốn Sơn sẽ mở trong năm ngày. Còn trọng đại hơn cả hội thề Đồng Cổ ở đô cũ Thăng Long, bởi vì nước Đại Việt vừa mới xây dựng xong một toà kinh thành vững chãi bằng đá, một toà thành chưa hề thấy trong lịch sử. Ngày thứ năm là ngày hội chính. Sẽ linh đình rước vua từ điện Minh Đạo lên đỉnh Đốn Sơn. Trăm quan đều phải có mặt đầy đủ để ăn thề. Người nào vắng mặt sẽ bị phạt nặng. Người dân kinh đô cũng phải có mặt trong hội. các xã trưởng, phường trưởng phải kiểm soát, và phát cho mỗi nhà một quan tiền giấy.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #167 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:11:53 pm »

Vùng chân núi Đún là tụ điểm chính của Kinh đô mới. Ở đó có chợ Đún, có sông đào ăn thông với con hào thành rồi ra sông Mã. Những con đường cái lớn từ các nơi cũng đổ về chân núi Đún. Việc giao thông thuận tiện đã biến nơi đây thành nơi giao lưu bắt đầu sầm uất Những ngôi nhà lá nhanh chóng mọc lên ở ven các con đường từ trước ngày hội. Những người buôn bán tinh ý đã nhìn thấy tương lai của vùng kinh kỳ mới. Người ta bàn tán với nhau: “Sang năm sẽ mở khoa thi tại đây; các ông lớn bà lớn cũng đã lập dinh cơ chuyển vào đây ở, rồi đi theo là binh lính, nha lại; cả các quan địa phương cũng sẽ nô nức về chầu... Và biết đâu đấy, còn nhiều điều khác lạ sẽ xảy ra. Đất này sẽ làm ăn được”.

Kiếm ăn trước tiên là các hàng quán, nhà trọ. Tại một quán rượu khá sầm uất, có một toán đàn ông người địa phương khác đang ngồi đánh chén. Rượu vào lời ra, họ nói đủ thứ chuyện.

Ở một bàn rượu có ba người đang ngồi: một người đứng tuổi điềm đạm tên gọi là Nhữ. một người râu xồm và một gã cao gầy. Người râu xồm hỏi:

- Thế nào bác Nhữ?

Nhữ nhìn con người hộ pháp râu xồm, ra chừng hiểu ý ông cười:

- Ý của chú về khoản rượu thịt hả. Chú cứ thoả chí, nhưng cấm được say.

Tiếng trống hội tùng rinh tiến lại gần. Một đoàn lính từ cửa Tiền đi trên con đường đá đến dãy phố ở chân Đốn Sơn. Đó là đoàn người mở đầu ngày hội. Đoàn người gồm ba bộ phận. Nhóm đi đầu gồm chũm chọe, trống con và trống lớn, nhóm này có nhiệm vụ khuấy động, tạo không khí tưng bừng, gợi nhắc mọi người đi xem hội bằng một điệu trống rất vui, rất nhịp nhàng; nghe điệu trống hầu như chẳng ai còn yên ổn ở nhà nữa. Nhóm thứ hai dân gian vẫn gọi là các cô đĩ đánh bồng, nói theo chữ thời nay là các cô vũ nữ múa trống cơm; các cô đều mặc áo dài đủ màu, váy chùng sát đất, thắt lưng xanh đỏ phất phơ, ngang lưng đeo một chiếc trống cơm. Đến chỗ đông người, đoàn đứng lại. Cô quản vũ cầm một chiếc trống khẩu ra hiệu lệnh tom tom tom. Tức thì đội trống chiêng đánh vang lên một nhịp điệu rộn ràng, lúc khoan, lúc nhặt. Và các cô đánh bồng bắt đầu múa theo điệu trống chiêng, lúc sang ngang, lúc chạy dọc, lúc nghiêng nghiêng cái đầu, từng cặp đối mặt, lúng liếng con mắt, ve vẩy đôi tay, chân thoăn thoắt tựa bay, những tà áo phất phơ quấn quýt. Nhóm thứ ba là nhóm gọi loa, một ông quan võ, lưng dắt kiếm, cưỡi con ngựa hồng, theo hai bên có hai tên lính cầm loa. Khi đoàn nữ múa xong, tiếng loa vang lên:

Thiên hạ thái bình
Tây Đô khánh thành
Vua truyền mở hội
Tha tù giảm tội
Phóng thích cho nô
Phát chẩn mở kho
Nhà nhà no ấm...


Mọi người trong quán đều chạy ra xem, lúc này chỉ còn ba người khách nói trên vẫn ngồi lì bên bàn rượu. Gã râu xồm, đập bát rượu xuống bàn:

- Hội với chả hè. Sốt ruột! Bày trò thật khéo! Sao mà lắm hội thế? Từ hồi tôi làm người, chưa thấy năm nào được mùa hội hè như năm nay. Tôi vừa đi hội chùa Báo Thiên ở Thăng Long, đến đây lại hội.

Gã cao gầy có vẻ thâm thuý:

- Như tôi thiển nghĩ ở đời có lắm loại hội. Có bữa hội, dự xong ta như được uống rượu tiên, lòng nhẹ tênh đầu óc minh mẫn. Lại có thứ hội, lúc tàn chệnh choạng ra về, đầu óc u u mê mê, như vừa ăn phải bùa ma thuốc quỷ Lại có thứ hội của quan, thứ hội của dân. Có thứ hội đi xem về, tóc ta dựng đứng thấy sởn da gà.
- Quái nhỉ! Bác đọc sách nào thấy nói như vậy?

- Chẳng sách nào hết. Gã gầy cao hứng. Tôi chỉ nhìn trời, nhìn đất. Tôi chỉ hỏi núi, hỏi sông, và nhất là hỏi người giữa chợ...

Quái nhỉ? Chẳng thèm đọc sách mà biết lắm điều hay thật. Thế đất trời, núi sông nói gì với bác?

- Hỏi sông: sông khóc. Hỏi núi: núi giăng mù khăn tang. Hỏi quỷ thần: cười ra nước mắt. Hỏi người giữa chợ: thì được tin vua chết...

- Vua chết ư? Gã râu xồm tròn xoe đôi mắt.

Người đứng tuổi vẫn được gọi là bác Nhữ nghe đến đây bỗng cau mày lại, và đập tay xuống bàn:

- Có câm mồm đi không? Chết cả lũ bây giờ! Đã bảo cấm say cơ mà.

Hai gã vội thu mình im bặt. Hình như người họ Nhữ rất có uy quyền với họ. Nhữ nghiêm sắc mặt, đổ nốt chỗ rượu còn lại ra bát, rồi hất ra sân. Ông dõng dạc nói khẽ:

- Nghe đây này. Ta đi một hướng. Hai người đi một hướng. Cố tìm cho ra tung tích con người ấy. Nhưng nhớ cho kỹ từ lúc này không uống rượu nữa, không được ba hoa một câu nào nữa. Ngậm miệng lại? Mở mắt ra nhìn cho kỹ! Nhớ chưa?

Cạnh chợ Đún có một khu rừng thông mọc trên quả đồi lớn. Thành thử khu chợ có lúc phình ra, lan toả cả lên đồi thông. Hôm ấy, bắt đầu có nắng tháng ba. Cái nắng đầu mùa mà đã rát ràn rạt, vì vậy nhiều hàng quán tản vào ngồi bên những gốc cây.

Hai gã râu xồm, và cao gầy đi một lượt vòng quanh chân đồi, nhưng chỉ thấy các cô hàng xén, cô bán rượu, cô bán nón chào mời đon đả... Không, người bọn họ cần tìm không phải các ả hơ hớ và tíu tít này; một gã đàn ông cơ; không phải dân cầy mà thuộc loại dân thầy... Tìm đâu bây giờ? Thử lên lưng chừng đồi xem sao. Trên này có nhiều đàn ông hơn. Gã bán lợn, gã bán nồi đất, ông hàng thịt chó. anh thợ hoạn lợn... Cũng không phải bọn người này. Chợt hai người trông thấy mấy kẻ đang xúm xít ở gốc thông già trên gần chóp đỉnh đồi. Tới nơi mới biết ở đó có ông thầy tướng đang đoán số.

Có người nông dân vạm vỡ cười nói oang oang. ngồi bệt xuống đất trước mặt ông đạo sĩ. Người đạo sĩ gầy guộc có bộ râu đen dưới cằm, vẻ hiền từ nghiêm trang, sau lưng là một đạo đồng mi thanh mục tú, người nhỏ nhắn dáng thư sinh. Người nông dân có mớ tóc bù xù, chừng đã uống khá nhiều rượu. Giọng ông ta vui vẻ, hài hước:

- Xin chào kẻ ăn mày.
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #168 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:13:08 pm »

Người đạo sĩ bị gọi là ăn mày, mặc quần áo mầu xám, tuy đã cũ, nhưng còn lành lặn, chợt mỉm cười.

- Tôi là kẻ tu hành.

- Thì kẻ tu hành với người ăn mày có khác gì nhau. Ngay cả ông vua với kẻ ăn mày cũng chẳng khác gì nhau.

- Ông nói vậy, bần đạo không hiểu.

- Ông là người có chữ. sao lại không hiểu thời bão nổi can qua. Khi ấy đến vua cũng còn có thể hoá ra ăn mày...

Gã râu xồm vừa mới tới ngứa miệng cũng chêm vào:

- Đến như vua Thuận Tôn vừa qua, đi tu cũng chẳng biết số phận ra làm sao nữa là...

Ông đạo sĩ điềm đạm nhắc mọi người:

- Kẻ tu hành này chỉ đoán số qua ngày. Xin quý vị chớ nói đến những chuyện to tát ấy, kẻo liên luỵ tới người lương thiện.

Người nông dân tóc bù xù cười xoà:

- Ừ, phải? Xin các vị im lặng để tôi xem một quẻ. Tớ đang nóng lòng đây.

- Bác muốn xem gia sự hay... chuyện lương duyên.

- Có gia đình đếch đâu mà xem gia sự. Có đàn bà con gái đếch đâu mà xem chuyện lương duyên.

Gã bù xù nói bổ bã, giọng oang oang. Tất cả cười ồ. Rồi bác ta giơ tay lên, vạch mớ tóc trên trán để lộ ra một chữ nho thích bằng chàm, và vẫn bằng cái giọng to, hồn nhiên, bác nói:

- Này ông ăn mày? Xem cho tớ một quẻ về đường hậu vận. Đừng giận! Tôi quý mới gọi ông là ăn mày. Tôi là nô tì mới được xoá tội. Kẻ thầy tướng, thầy bói chỉ sống nhờ vào bọn nghèo rớt mùng tơi như chúng tớ. Nhà giầu và các quan họ đâu nhờ các ông. Cùng cảnh như ăn mày cả với nhau, khổ như thế, mới thích xem đường hậu vận.

Ông đạo sĩ thắp nén nhang, khấn vái, rồi gieo tiền. Ông nhắm mắt lại, suy ngẫm. Còn người nô tì tóc bù xù vẫn vui vẻ nói:

- Để tôi kể chuyện đời tôi cho nghe, các ông nghe mới hiểu tại sao tôi lại cầu hậu vận. Mới đẻ ra, tôi đã là nô. Bố mẹ tôi làm nô tì cho nhà tướng quân Trần Khát Chân từ đời nào chẳng rõ. Bố mẹ chết, tôi sống sót và lớn lên được là nhờ trời phú cho sức vóc khỏe mạnh. Chỉ có tội hay thích uống rượu. Mà rượu vào, ắt phải say phải quậy phá. Tôi bị đòn roi, bị phạt luôn luôn cũng vì tật ấy. Tướng quân đi đánh giặc Chế Bồng Nga, tôi xin theo và lập được công. Từ đó, tôi càng say sưa khỏe. Có bận say quá, tôi bị giải đến trước mặt thượng tướng. Ông hỏi: “Tại sao nhà ngươi lại say sưa tối ngày như vậy?” Tôi bèn trả lời: “Bẩm, các ngài là quan, còn chức tước, còn ruộng vườn, các quan phải giữ sức khỏe, ít uống rượu là phải. Còn nô tì chúng con, hỏi còn có gì mà chẳng uống rượu...” Thượng tướng chau mày nói: “Có tội thì phải phạt. Lệnh đánh mười roi cho chừa thói rượu chè.” Đánh xong lại bảo: “Nhưng có công phải thưởng. Ta xem sổ quân thấy ngươi không nề nguy hiểm, hăng hái đánh giặc Chiêm Thành. Nay ta đặc cách xoá kiếp nô tì cho ngươi. Từ nay ngươi được tự do”. Tướng quân là bậc đại thần, lại được ban quốc tính, nên không phải theo luật hạn nô của thái sư, nhưng ngài vẫn tha cho tôi. Vì vậy tôi quỳ xuống cảm tạ ngài. Tôi nói rằng: “Bẩm thượng tướng, ơn của ngài con xin ngậm vành kết cỏ. Ngài như sinh ra con lần thứ hai. Con xin ngài đặt tên cho con”. - Làm sao? Đặt tên ư? - “Bẩm, từ nhỏ người ta vẫn gọi con là thằng cu, lớn lên là anh cu rồi sau này là cụ Cu cũng nên... Thưa, con vẫn chưa có tên”.
- “Vậy ta đặt tên cho ngươi là Bình Chiêm”

Mọi người nghe đều cười ồ. Ông đạo sĩ cũng mở mắt ra, mỉm cười nói:

- Tôi xin có lời chúc mừng bác Chiêm.

- Mừng cái đếch gì! Ông biết không, chính vì bây giờ thoát đời nô tì nên tôi đang lúng túng và phải nhờ ông xem quẻ.

- Sao lại lúng túng? Tôi gieo quẻ của bác, thấy đã hết vận bĩ.

- Hết cái đếch gì! Thế này nhé? Bây giờ tôi không có quê mà về, không có gia đình để săn sóc, không có ruộng đất trong tay... Hỏi tôi sẽ di đâu? Nếu tôi đi lang thang, thái sư đã có lệnh hộ khẩu rồi, tôi sẽ bị bắt xung vào quân khai khẩn, đưa vào vùng Hoá Châu, nơi rừng thiêng nước độc, khó thấy ngày về. Hoá ra, thoát khỏi rọ cua, lại chui sang rọ cá.

Mọi người muốn cười, nhưng chỉ nhếch mép lên thôi.

- Hay là tôi xin trở lại kiếp làm nô? Nhưng lúc này đâu đâu cũng hạn nô, ai người ta nhận... Hay là... tôi đi làm giặc? Nhưng làm giặc thì biết đầu quân ở nơi đâu...
Ông đạo sĩ nghiêm trang:

- Bác chớ lo. Bác cứ theo tôi. Chỗ tôi ở là đất rừng, thiếu gì đất cho một con người sức vóc như bác.

Gã râu xồm từ lúc nãy vẫn lặng yên nghe, bỗng nắm bàn tay người nông dân bù xù:

- Theo ông đạo sĩ ư? Hoạ là điên? Họ chỉ giỏi nghề bẻm mép.

Rồi hắn chìa đôi bàn tay chai sạn rắn như thép ra:

- Bác nhìn tay tôi này. Đôi tay này bác đã đủ tin chưa? Bác muốn cày ruộng ư? Bác muốn làm giặc ư? Bác muốn thoải mái, tự do tự tại ư? Chỉ có tôi mới giúp được bác...

Bình Chiêm nhìn vóc dáng gân guốc của gã râu xồm. nhìn đôi bàn tay thô nháp đương chìa ra trước mặt, bác nắm lấy bàn tay ấy rồi cười to:

- Tôi tin vào đôi bàn tay của bác.

Đạo sĩ thở dài. Gã râu xồm rút ở túi ra một tờ tiền giấy mới tinh đưa cho đạo sĩ:

- Đây là tiền công của ông. Mà cho tôi được hỏi ông thêm một điều
Logged
Trịnh Thanh Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 305



« Trả lời #169 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2009, 10:14:51 pm »

- Bác hỏi gì xin cứ nói.

- Tôi muốn tìm một người làm nghề viết chữ... à cả vẽ tranh nữa. Có ai như thế đã đến chợ này?

- Mấy hôm nay, chưa thấy một ông bán chữ, bán tranh nào tới đây...

- Lạ nhỉ? Trước kia hắn ta bán chữ ở chợ Báo Thiên. Tôi tưởng hắn đã từ Thăng Long tới đây rồi.

- Tôi không thấy.

- Hắn ta cao cao, gầy gầy... họ Phạm...

- Bác quen hắn ta?

- Không... à nếu có gặp ai như thế, ông nhắn dùm rằng ông Nhữ đang cần gặp bác Phạm...

Nói xong, gã râu xồm kéo tay Bình Chiêm đi, và bảo:

- Tôi thích bác, chắc ông Nhữ nhà tôi cũng phải thích bác. Theo chúng tớ, bác sẽ tha hồ thoả thích. Nào, trước tiên chúng ta hãy vào quán rượu...

Khi họ đi khỏi, hai thày trò đạo sĩ cũng thu dọn trở về nhà trọ. Đó là hai vợ chồng Phạm Sinh giả trang đến Tây Đô. Vì viết sử, cần phải có mặt ở những nơi có những sự việc quan trọng xảy ra, nên vợ chồng Sinh đã tìm đến kinh đô mới. Sinh bảo Thị Hạnh:

- Về thôi mình ạ. Phải mau mau rời chân khỏi chốn này:

- Cái ông Nhữ nào lại muốn tìm mình nhỉ?

Phạm Sinh bảo:

- Cũng may huynh đã giả trang làm đạo sĩ. Nếu vẫn làm anh bán chữ, phen này ắt rắc rối to.

- Nhữ là ai?

- Cũng là một nho sinh. Cũng viết đẹp, vẽ giỏi. Xưa kia đã gặp huynh ở tháp Báo Thiên. Cũng là con người nghĩa khí...

Phạm Sinh lấy tờ giấy bạc mà gã Râu Xồm vừa mới trả, đưa cho Thị Hạnh:

- Nhữ có tài làm giấy bạc giả y như thật. Em xem, đây là tờ giấy bạc năm tiền. Anh ta vẽ con phượng hoàng có tài tình không. Khác gì tiền thật. Có phần còn đẹp hơn tiền thật.

- Anh ta muốn gặp huynh làm gì?

- Muội chưa biết sao? Nhũ Cái làm giấy bạc giả để phá Quý Ly. Ông ta tung ra nhiều tiền lắm. Làm loạn tiền ở Thăng Long. Thái sư xử tội chết nhưng Nhũ Cái trốn thoát. Nghe tin vua Thuận Tôn băng hà, ông ta bèn chiêu mộ đám người manh lệ, dấy quân nổi loạn ở Đà Giang. Quan quân vùng sông Đáy, sông Đà, núi Tản đều không chống cự nổi. Tướng tá của Nhữ có nhiều người là thủ túc của cha huynh, ông Phạm Sư Ôn. Chắc họ xui Nhũ Cái đến đón huynh. Ông ta kể cũng to gan, dám đến Tây Đô, dám vào hang cọp.

- Trước khi gã Râu Xồm đến, huynh đã thoáng thấy Nhũ Cái cùng đi với Phạm Tổ Thu. Hai người chuyện trò rất tâm đắc. Họ kéo nhau lên núi Đún. Chắc sắp có âm mưu gì to lắm. Người của thượng tướng lại gặp thủ lĩnh đảng loạn là cớ làm sao? Chính vì vậy nên huynh muốn chúng ta phải lập tức rời khỏi nơi này. Cả Thái sư và thượng tướng, bây giờ lại đến Nhũ Cái, tất cả đều không tha huynh.

- Cần phải báo ngay cho chị Thanh Mai. Không biết chị ấy có nên tới đây hay không?


Phần XIII - Chương 3

Đêm thứ ba ngày hội Tây Đô.

Tôi vừa đi dự tiệc trong hoàng cung trở về. Đủ mặt các vị đại thần. Bữa tiệc đầu tiên của triều đình kể từ khi Tây Đô xây dựng xong. Đêm nay cha tôi vui chưa từng có. Tôi như còn thấy gương mặt hớn hở với đôi mắt sáng lóng lánh, và cả cái giọng sang sảng của thân phụ tôi khi ông đọc bài giải nhất cuộc thi phú với đầu đề “Phú con ngựa lá”.

Cha sai tôi viết thông báo để mọi người dự thi ở Quảng Văn Lâu ngoài cửa Tiền. Thực ra, việc làm đó chỉ là nghi thức, bởi vì hầu hết các quan trong triều đã biết chuyện đó, biết đầu đề bài phú, còn biết cả thể lệ cuộc thi ra sao. Nói cuộc thi dành cho tất cả học trò trong nước, nhưng thực ra đó là cuộc thi của các bậc danh sĩ, toàn các bậc đô đạt, tiếng tăm viết bài. Lúc tôi đi công cán ở Yên Tử, cha tôi đã nghĩ ra đầu đề, sao chép ra nhiều bản, gửi đến các ngài khoa bảng và các quan văn trong triều. Cha tôi thật khéo? Như vậy đã buộc các bậc triều thần hay chữ người nào cũng phải viết một bài văn ca tụng Tây Đô. Vả lại, không cứ gì các văn quan mới hay chữ, cả các võ quan cũng thế, tôi nhẩm tính hầu hết các vị tướng trong triều ông nào cũng làm thơ cả; người ta không thích mang tiếng võ biền, ông nào cũng muốn được kể vào hàng văn võ song toàn. Do vậy, một số quan võ cũng nhận đầu đề làm bài phú về con bọ ngựa.

Trong bữa tiệc, cha tôi vui miệng kể cho cả triều đình nghe:

- Khi thượng tướng Khát Chân báo tin mọi công việc xây dựng Tây Đô đều đã hoàn thành tốt đẹp. Tôi rước vua vào kinh đô mới. Kiệu vua đi trên con đường đá thẳng tới cửa Tiền. Gần tới nơi, thấy một đoàn dân chúng già có, trẻ có, bầy hương án và tung hô vạn tuế, phủ phục chào thiên tử. Tôi thay mặt nhà vua ra phủ dụ dân chúng. Một ông già đầu tóc bạc phơ, đại diện các bô lão trong vùng, quỳ xuống dâng lên một chiếc hộp lồng kính. Nhìn vào thấy một con bọ lá có hình dáng giống hệt con ngựa. Không phải là giống bọ ngựa đâu? Khác lắm? Như một con thiên lý mã vậy? Các cụ bảo: đúng lúc kinh đô làm xong, lên Đốn Sơn, thấy hòn đá nứt và thấy trên đó có con bọ lá đẹp đẽ, hiếm hoi, kỳ lạ, liền đánh bạo dâng lên. Tôi đưa cho triều thần mọi người cùng xem. Ai nấy đều trầm trồ, khen là điềm lành. Vì vậy mới nghĩ ra đầu bài: “ - Phú con ngựa lá”.

Nói xong, cha tôi cười khà khà. Đêm nay, cha tôi vui chưa từng có. Còn riêng tôi, vẫn nỗi buồn hôm xưa đeo đẳng. Có phải vì sự chia cách với Thanh Mai? Đêm hôm trước khi chia tay ở Yên Tử. Thanh Mai nói với tôi răng:

- Chàng thật nhiều quyền thế! Nhưng có những điều em muốn, chàng cũng chẳng làm được.

- Nàng muốn gì?

- Ước gì chàng không phải thuộc dòng quyền quý, ước gì chàng chẳng phải một đức ông, ước gì chàng chỉ là người dân thường...

Nhớ lại những lời nói ấy tôi càng buồn thêm. Nó động tới những hố thẳm ngăn cách vô hình mà thực tế đặt ra và con người rất khó vượt qua. Nếu như cuộc tình này chỉ là một cuộc vui chơi thoảng qua, ở địa vị của tôi, người ta vẫn chau mày lại, nhưng còn có thể tha thứ. Nhưng thử hỏi, nếu coi nó là việc nghiêm túc, sẽ ra sao... Tự nhiên, tôi thấy bồn chồn... Đến kinh đô mới này, sao tôi cứ cảm giác như không phải chính quê hương tôi. Vừng Tây Đô là quê hương của họ Hồ. Mồ mả tổ tiên tôi đều nằm ở đây. Cha tôi xây dựng Tây Đô cũng chính vì người muốn trở về nơi chôn rau cắt rốn, muốn tìm sự ủng hộ, tìm sự tin cậy của những người cùng quê. Chả thế, như tôi đã nói, cha tôi đêm nay hớn hở như con cá chợt tìm thấy nước. Còn tôi, sao lòng lại thấy ưu tư, sao lại cảm thấy xa lạ, sao lại như kẻ bị lưu đày trên chính quê hương của mình? Tôi như kẻ mộng du để cho tâm hồn mình chợt lạc về Thăng Long, lại có lúc phiêu diêu trên đỉnh Yên Tử. Cứ như muốn nhận chính những nơi ấy mới là nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Phải chăng vì ở đấy có những ky niệm êm ả, vì ở đấy còn có Thanh Mai; còn ở đây người ta có thể tươi cười hể hả, nhưng lúc nào đầu óc cũng sưng tấy lên tìm những thủ đoạn, những âm mưu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM