Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:12:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Số phận Lữ dù 3 Nguỵ Sài Gòn  (Đọc 149035 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #110 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:19:07 am »

- Tuy nhiên, các em hãy nhớ: trước mắt vẫn phải tập hợp thật nhanh lực lượng, đồng thời chống di tản, phải làm tốt những việc đó, theo chỉ thị của trên. Tôi nghĩ: những việc này có tác dụng rất tốt cho cả sự chuẩn bị các việc khác vừa kể. Tôi phải đi ngay đây! Ngay lúc này. Các em, chắc chắn chiều nay sẽ có thêm chỉ thị mới của các anh ở trên.

- Giáo sư đi ngay lúc này e nguy hiểm! - Hồi lo lắng.

- Tôi phải đi ngay! Tôi cần báo cáo những câu chuyện của ông Hùng với các anh! - Chúng ta hẹn nhau bảy giờ tối nay. Ở nhà ai nào? ở nhà Nhuần nghe!

- Dạ! Chúng em sẽ có mặt! Trời! Tình hình càng ngày càng khẩn trương quá sức! Giáo sư cẩn thận. Dọc đường, chúng em thấy bọn mật vụ vẫn đầy rẫy ...

- Các em cứ bình tâm

Giáo sư khoác vội chiếc áo ngoài. Chúng tôi cũng chui nhanh ra khỏi căn phòng để ra đường lớn trước. Chiếc Hon-da của Hồi lại bay đi khắp các ngả trong thành phố. Công việc quá gấp, không khí hoạt động quá căng thẳng đã làm cho mọi nỗi buồn của tôi hồi chiều qua trước việc Quỳnh phải ra đi, đã giảm bớt, hoặc nói cho đúng hơn, đã bị dẹp lại khá nhiều. Hồi cũng luôn luôn động viên tôi: "Mi hiểu không? Mi phải luôn luôn tỏ ra xứng đáng, ngay cả khi khó khăn, đau khổ nhất. Có vậy Quỳnh mới có thể tin yêu, kính trọng mi chứ". Anh ta nói cứ như Quỳnh vẫn còn ở lại đây vậy! Nghe tức anh ách, nhưng vẫn thấy dầu sao cũng là phải.

Cho tới sáu rưỡi chiều, toàn bộ các sinh viên trong tổ chức của ta đã được báo động; rất nhiều sinh viên có cảm tình với chúng tôi cũng đã được thông báo tình hình và yêu cầu sẵn sàng hưởng ứng mọi công việc của hội đồng đại diện. 

Trong lúc đó, Đài phát thanh Huế và các bộ phận công dân vụ của chánh quyền Sài Gòn đã chính thức hò hét truyền lệnh di tản. Và hàng ngàn tên mật vụ cũng đã được tung đi để phóng ra không biết bao nhiêu lời đồn đại và tin vịt; tất cả đều nhằm khủng bố triệt để tinh thần dân chúng. "Huế sẽ thành biển máu”. "Huế sẽ bị san bằng... ", những luận điệu kỳ cục giật gân ấy đã được nhắc đi nhắc lại công khai và hết sức tràn lan, đến nỗi cả thành phố như bị thiêu đốt cả lên trong những ngọn lửa đe dọa vô hình nhưng xiết bao khủng khiếp.

Tuy vậy, hết sức đáng mừng, chúng tôi đi khắp thành phố, nhận thấy thực tế lũ lượt và hối hả, kinh hoàng ra đi chỉ là những gia đình sĩ quan, những công thương gia loại bự, những tên ác ôn đầy nợ máu. Còn hầu như tất cả những người Huế khác đều ở lại - Họ ở lại cả, mặc dầu thực sự mà nói, trong những giờ phút này, gan ruột họ không phải không có chút nôn nao, xao xuyến phấp phỏng. Nhưng họ đã ở lại! Họ ở lại vì muôn ngàn duyên cớ trực tiếp, gián tiếp lớn lao và nhỏ bé, khác nhau. Nhưng dường như cùng có một cái gì đó rất giống nhau, ấy là một cái ẩn kín, cái sâu xa nhất trong lòng mọi người: niềm tin và hy vọng...

Tôi không phải được sinh ra ở ngay trên thành phố này. Tôi vốn là một dân quê - ở Phú Lộc - Nhưng tôi đã sống với Huế ít nhất cũng đã mười năm có lẻ. Tôi đã quá yêu thành phố của tôi cũng như đã quá kiêu hãnh vì nó. Một thành phố đã có quyền tự hào là: "Chưa bao giờ thực sự và hoàn toàn là một thành phố của Mỹ, ngụy" - Như thế đấy! Tôi đã chứng kiến Huế không phải chỉ một lần đứng lên đấu tranh dưới hình thức này hoặc hình thức khác. Tôi đã từng nom thấy máu Huế chảy tung tóe trên mặt đường nóng bỏng. Tôi đã tận mắt mình thấy Huế bình thản ngồi chắn lối xe tăng Mỹ ... Tôi đã hiểu người dân Huế: dịu dàng hết sức, khéo léo hết sức, kín đáo hết sức nhưng cũng can trường và bền bỉ không biết nhường nào.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #111 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:19:50 am »

Bữa nay, đầu mùa xuân 1975 rung chuyển này. dường như tôi đã thấy được thêm một nét hồng tươi trong trái tim người Huế, ấy là sự sáng suốt trong những giờ phút rối mù, hỗn độn này. Lẽ cố nhiên, tôi cũng biết rất rõ Huế của tôi, của chúng tôi không phải không có những tì vết do bao nhiêu năm sống dưới ách ngoại bang và bọn tay sai bán nước vô lương tâm. Một bông hồng bị nhúng mãi vào dòng nước thối tha, sao khỏi có những cánh gãy rữa, ô nhiễm. 

Thành phố đã lên đèn. Chúng tôi vượt qua cầu Trường Tiền. Cây cầu ban đêm trên sông Hương nom càng đẹp biết bao. Đi trong lòng cầu mới càng thấy vẻ đẹp của nó: các thành cầu, vòm cầu (mà người phương Tây thường gọi là mắt cầu) đều sáng lên như bạc và bên dưới, dòng sông Hương êm đềm lung linh, như có hồn sống.

Tôi nghe nói, xưa kia những con đò sông Hương nổi tiếng với những mái chèo khua dịu dàng như đi trong những giấc mộng với những câu hò mái đẩy, mái nhì kéo dài lướt thướt. Bây giờ các phương tiện giao thông đã thay đổi. Thuyền gắn máy chạy nhanh hơn, những câu hò chậm rãi, nhặt khoan dường như cũng mất đi theo. Với tấm lòng hoài cổ, có lẽ cũng tiếc.

Nhưng chúng tôi là tuổi trẻ. Chúng tôi không hề thấy vì vậy mà dường như người Huế mất đi những nét sâu kín của cội nguồn dân tộc, mất đi lòng yêu nước. Nếu có những cái chi mà người Mỹ vừa qua cũng như người Pháp trước đây làm bẩn, làm hỏng một phần con người ở nơi đây, thì là những cái khác, là xì ke, là ác ôn, là gái điếm, là những lái buôn mại bản giàu sụ, vong bản...

Tới cuối đường Trần Hưng Đạo, Hồi và tôi tạm chia tay. Tôi đi nhanh vô cửa Thượng Tứ để hỏi về nhà mạ nuôi tôi. Mạ vẫn để phần cơm tôi. Bát canh chua, chút món ăn mặn và cay nồng ớt Huế làm cho tôi luôn luôn vui sướng. Tôi ăn xong, lui ra ngôi nhà chùa sau vườn bật đèn lên, ngồi xuống viết ngay một bài báo để kịp mai đưa cho Hồi chuyển cho tổ làm bản tin nội bộ sinh viên. Một bài báo sẽ nảy lửa. Tôi quyết đập thẳng vào chủ trương vét dân đi di tản. Tôi tin chắc tôi sẽ viết với tất cả nỗi đau đớn, lòng hận thù của tôi và nhất là với tình yêu nồng cháy không gì suy suyển đối với Quỳnh.

Tôi đang cặm cụi viết, hết sức say sưa, chợt có tiếng gõ cửa gấp. Tôi ngạc nhiên và không khỏi thoáng một chút lo lắng. Tôi cất vội bản thảo xuống dưới chiếu nằm. Cửa hé mở.

Một viên cảnh sát xung kích hiện ra. Tôi cố trấn tĩnh:

- Thưa... quý ông! Quý ông cần gì? Có lẽ quý ông... lầm nhà.

Viên cảnh sát nhìn tôi chằm chằm. Anh ta còn khá trẻ. Anh ta nói rất nhỏ và rất nhanh, nhưng cũng rất nghiêm nghị: 

- Ông là Nhuần! Tôi không nhầm chi hết, ông nên đi ngay. Một chút nữa, cảnh sát xung kích sẽ tới bắt ông.

Trái tim tôi như đứng lại một giây. Viên cảnh sát tiếp:

- Tôi không muốn hại các ông! Hiện nay cảnh sát xung kích đang đi ráp khắp thành phố. Tất cả những ai có nghi vấn liên quan tới ... "đối phương” đều bị bắt hết. Thôi chào ông. Chúc ông bình an!

Cánh cửa khép lại rất nhanh. Người cảnh sát xung kích biến mất. Tôi vẫn đứng như trời trồng, bàng hoàng. Thế là thế nào? Nhưng rồi tôi cũng có thể hiểu được: đây không phải là một trò đùa bỡn. Trong hàng ngũ địch, đúng như các anh ở trên vẫn nói, thật ra cũng vẫn có một số người chưa mất hết lương tâm, chưa mất hẳn gốc...

Thế là chỉ trong chớp mắt tôi đã băng mình theo một lối nhỏ sau vườn, trườn mình ra một đường phố khác, rồi lẩn vào một xóm có nhiều lối đi ngoắt ngoéo.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #112 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:20:24 am »

Quả nhiên, đúng như lời viên cảnh sát không quen biết vừa tới báo cho tôi biết, trên các đường phố, xe của những toán cảnh sát xung kích đang phóng rầm rầm. Nhiều đội đã tỏa vào trong các phường, khóm. Tôi càng bàng hoàng khi thoáng nhìn thấy trên một chiếc xe, giáo sư Nguyễn Xuân Hoa - ông là tổng thư ký hội nhà giáo yêu nước, người quen khá thân của giáo sư Vĩnh - Giáo sư Hoa đã bị còng chặt cả hai tay. Tôi cắm đầu biến nhanh vào những đám dân Quảng Trị di tản vẫn còn lúc nhúc trên bờ sông Hương. Rồi tôi lại vô xóm Ven hồ tìm Cống. Nhà Cống thật ra không phải là nơi an toàn nhất, tôi biết, nhưng trong những giây phút này, tôi đã có kinh nghiệm: không nên đi lang thang trên đường. Phải nhanh chóng tìm một nơi ẩn náu, dù chỉ là tạm trong một đêm, thậm chí một vài giờ.

Xóm Ven hồ là nơi toàn người nghèo, rất đông người lao động. Như vậy, thông thường có nhiều người tốt. Nhưng một nét có lẽ khá độc đáo của những thành phố dưới thời Mỹ ngụy là: ở những xóm lao động này cũng có không ít những phần tử phức tạp. Bởi vậy tôi tới nhà Cống cũng phải mắt trước mắt sau, và lẻn vào rất nhanh. Cống giấu tôi vào một góc nhà trong cùng. Tôi nói với anh: ngày mai có thể tôi sẽ đi chỗ khác. Và cả Cống cũng nên lánh đi. Cống đồng ý. Nằm trên một chiếc ghế bố, áp mình vào vách gỗ, tôi thao thức không sao ngủ được.

Ở nhà bên trái, tôi biết có một người trẻ tuổi vốn là thiếu sinh quân cũ của ngụy đã ra chiến đấu vài năm, đeo lon hạ sĩ. Bị thương cụt mất mấy ngón tay, anh này trốn lính về đã hai năm. Chui rúc ở nhà như chuột ngày. Sống nhờ vợ. Vợ làm ở Sở Ngân khố. Mới khoảng gần ba mươi tuổi mà đã có năm con. Năm đứa trẻ lúc nhúc. Bình thường anh này đối xử trong xóm không có chuyện gì, chỉ hay khùng, đánh chửi vợ om sòm, có lẽ cũng vì quá túng khổ. Nhưng bây giờ, trong những ngày biến động này, thái độ anh ta ra sao! Tôi chưa thể rõ. Anh ta có bán tin tức về Cống cho mật vụ không? Cống bị bắt đêm nay, cũng có nghĩa là tôi sẽ bị bắt theo.

Bên tay mặt là nhà một ông buôn dầu tràm, nay Huế, mai Đà Nẵng, Hội An. Ông mới hơn năm mươi còn khỏe mạnh. Vợ ông hiện nay là một người giúp việc trong gia đình. Khi bà vợ trước của ông đi theo một lính Phi-lip-pin vô Sài Gòn, ông lấy luôn cô giúp việc này. Cũng từ đó gia đình luôn luôn lục đục. Lũ con bà nhớn đánh bà bé. Ông bênh bà bé. Cha con đập nhau lộn bậy. Luôn luôn như có "đại chiến" trong gia đình. Ông còn hăng hái lấy thêm hai bà nữa như để trả thù. Một bà ở Hội An, một bà ở Đà Nẵng.

Mấy người con lớn ở cả với ông. Một người là lính xe tăng cũ, cao to nhưng nghiện ma túy đã thôi lính được vài năm, ở nhà giúp bố buôn bán. Nhưng khi anh này lên cơn nghiện ma túy, thật đáng sợ. Chính mắt tôi đã trông thấy anh ta dùng cả ngòi bút sắt rất bẩn đâm nát ven để tống xì ke vào. Và khi đã no thuốc, anh ta bủn nhủn, mê dại như một con vật yếu đi nhất, chỉ cần một đứa trẻ đấm cũng ngã... Đối với anh ta: không cần biết cái chi hết, kể cả Tổ quốc, kể cả gia đình. Tất cả là xì ke! Em trai anh ta là một thanh niên rất khỏe, đẹp. May mắn anh này không nghiện mà túy nhưng đã một thời đua đòi làm hip-pi. Bây giờ thất học, anh ta vô công rồi nghề ở nhà chơi tràn.
Anh em anh ta có tốt hay không? Anh em anh ta có thái độ thế nào đây trong lúc này? Làm sao mà tôi hiểu rõ! Cống cũng vậy thôi. Kế bên nữa cũng một gia đình nghèo khổ và kỳ cục khác Chồng là một thanh niên cũng rất khỏe mạnh, rất trẻ, vợ không có việc làm gì cả, chỉ ở nhà nuôi con. Họ có sáu con. Chồng chuyên môn trốn lính. Đó là điều tốt. Nhưng trốn lính cũng phải là tay có bản lĩnh. Anh này có một "bản lĩnh" riêng: anh ta là một tay du đãng trẻ tuổi nhưng cũng vào loại có "hạng". Tôi đã gặp anh ta nhiều lần đi trên đường phố với một lũ đàn em đi sau. Cảnh sát đều biết mặt, biết tên anh ta và cũng đều kiềng cái ngón phóng dao “con chó" và rạch mặt bằng lưỡi dao bào để "cảnh cáo nhà đương cục" của anh ta.

Giờ đây, anh ta thế nào tôi và Cống cũng chịu. Chỉ biết đang có nhiều tiếng cười nói huyên náo từ phía nhà anh ta vọng sang. Một đứa em của Cống chạy về, thì thào: "Họ đang tụ tập chiếu phim con heo, nghe nhạc và ăn nhậu. Có nhiều người mang vũ khí, quá sợ!" ... Xã hội Huế dưới ách Mỹ - ngụy đã có cả những lớp người, những góc đời lộn xộn, đau khổ và ghê gớm như thế đó.

Đại bác vẫn vọng về thâu đêm.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #113 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:21:17 am »

Năm giờ sáng hôm sau, Cống ra phố kiếm cho tôi ổ bánh mì. Anh hớt hải trở về báo tin: Đài phát thanh Huế đã truyền đi lời tuyên bố của tướng Trưởng, viên tướng mặt lấm tấm rô huê, "con người hùng số 1", một trong hai tướng lĩnh "số dách" của Sài Gòn (Trưởng và Nguyễn Văn Toàn) “tôi sẽ chết trên đường phố Huế, Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vô cố đô được". Đồng thời Cống cũng cho biết: anh gặp chính anh thanh niên trốn lính, du đãng ở nhà bên. Anh này nói: lũ đàn em của anh ta, lũ "bụi đời" vừa báo một tin khẩn cấp mà họ lượm được: sáng nay cảnh sát xung kích sẽ lục soát tới xóm Ven hồ này.

Thế là tôi phải đi ngay. Cống nói; anh cũng phải tạm lánh xuống một nhà quen ở An Cựu. Chúng tôi gặp nhau ở đầu cầu Mới. Hồi đồng ý với tôi: phải tạm lánh ít nhất trong ngày hôm nay. Hồi gợi ý cho tôi: nên tiện thể về thăm nhà. Tôi nhảy lên một chiếc xe Lambro. Khoảng gần một giờ sau tôi đã có mặt ở gia đình, giữa sự mừng rơ và cả lo lắng của tất cả cha mẹ, anh em tôi. Nhà tôi ở kế bên quốc lộ 1, cách quận lỵ và chi khu quân sự Phú Lộc không bao xa. Cha tôi làm ruộng, làm thêm cả nghề chữa máy bơm, máy nổ, Hon-da cho bà con quanh đó.

Dọc đường, một lần nữa tôi được chứng kiến những đoàn xe di tản ùn ùn, hối hả kéo nhau trên đường, vô Đà Nẵng - Vẫn những chiếc xe có trọng tải lớn nhãn hiệu Ford hoặc Desoto, với đồ đạc chất cao ngất ngưởng trên mui, với những con người bị nhồi nhét như cá hộp và bám quanh xe như làm xiếc, quá sợ. Vẫn những bộ mặt kinh hoàng và tuyệt vọng. Nhưng dọc đường, tôi cũng được tận mắt thấy những đoàn thiết giáp, hung hãn dường như thí mạng, chạy về phía đường 14, Truồi, Núi Bông - có cả những đoàn quân xa chở đầy thủy quân lục chiến, vũ khí đeo đến "tận răng" 

Không còn nghi ngờ gì nữa. đúng là họ được lệnh quyết giữ Huế. Rõ ràng họ đang bị ném vào những trận đánh đẫm máu, đang diễn ra ở vành đai phòng thủ phía nam. Thêm những đoàn xe cứu thương chở đầy thương binh, tử sĩ, tấp nập từ phía trước chạy ngược lại thành phố, càng như khẳng định thần tất cả mọi điều phỏng đoán của tôi. Tiếng trọng pháo nổ rung chuyển cả mặt đất và từng phi đội A37, F5 đen sì liên tục xuất hiện trên bầu trời phía trước cũng đã làm cho không khí chiến tranh càng thêm nóng bóng sôi sục.

Cha mẹ, anh em tôi đều nhìn về phía những rặng núi chập trùng phía tây, nơi đó là Truồi là núi Bông, nói lên nhưr run rẩy: - Đánh nhau lớn quá! Chưa từng có! Biết bao nhiêu là thủy quân lục chiến và biệt động được đưa thêm vô đó, suốt hai ngày liền rồi ...

Tôi ngồi đứng không sao yên. Tôi cũng luôn luôn hướng về những rặng núi phía tây đang vang rền tiếng trọng pháo, tiếng bom

Ngày hai mươi mốt - Tôi như một nhân chứng bên đường để thấy thêm những đoàn quân xa chở đầy lính, những đoàn xe tăng đồ sộ đầm đìa dầu mỡ, nóng bỏng như những đầu máy xe lửa lao đi rung chuyển cả mặt đường, mờ mịt cát bụi và khói xăng, khói nhớt. Tất cả cứ tuôn đi, dốc đi. Như dốc vào một cái vực không đáy. Sắt thép và sinh mạng ùn ùn kéo vô, để rồi những xe hồng thập tự vội vã chạy ra. Không cần nói nhiều, không cần hỏi thêm ai, tất cả gia đình tôi, tất cả mọi gia đình ven quốc lộ đều thấy rõ quân Sài Gòn như thiêu thân đang lao vào lửa.

Cho tới sáng hăm hai, đang lúc tôi quá ngán, quá mệt, không buồn ra coi nữa, nằm lăn trên một chiếc phản ở trong nhà thì bỗng như có một cơn giông bão, nói cho đúng hơn một trận động đất đột ngột nổi lên. Tiếng súng lớn nổ xé màng tai. Trăm ngàn tiếng nổ như phá tan, phá sập hết trời đất. Tôi chỉ kịp lăn nhào xuống đất, trườn ra núp ở thềm sau nhà nhìn ra quốc lộ thì đã thấy một đoàn chiến xa lạ mắt - Hẳn là của Giải phóng - đang từ các triền núi phía tây tràn xuống, đuổi đánh một đoàn thiết giáp; có rất nhiều xe tăng M.48 của quân ngụy

Trời ! Một cuộc đấu chiến xa mà tôi không ngờ đã được chứng kiến. Toàn thân tôi run lên không phải vì sợ đạn lạc mà vì quá xúc động. Tôi đã nom rõ những chiến xa Giải phóng gầm lên, lao lên, bắn liên hồi và những chiếc xe tăng của quân ngụy trúng đạn nổ bùng, cháy ngất. Tôi nom rõ cả những chiếc đang mở hết tốc lực chạy, bỗng như húc phải núi, gần như dựng đứng lên rồi gục xuống, lửa phun ra phè phè từ khắp các ngóc ngách. Những tên ngụy giơ cả hai tay lên rồi ngã vật ngửa, xác vắt trên tháp pháo. Có một chiếc xe tăng Giải phóng quá ghê gớm. Nó gầm lên, rống lên như hổ vồ mồi, trong chớp mắt nó đuổi kịp bắn gục liền ba chiếc M.48. Lửa cháy ngần ngật suốt một đoạn đường dài. Có những chiếc xe M.113 lăn nhào xuống bên đường, lửa vẫn cháy mà nó vẫn lăn tròn. Lửa và khói. Khói mỗi lúc một mờ mịt. Thấp thoáng đã nom thấy rất nhiều bóng người quân phục bó chẽn, giơ cao tay lên khỏi đầu đi thất thểu trên đường, ngược về phía đoàn thiết xa của Giải phóng ...
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #114 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:21:55 am »

Trận đấu xe kinh hồn đã diễn ra quá sức đột ngột và cũng đã kết thúc gần như bất ngờ. Bất ngờ vì nó quá nhanh chóng. Khi thấy tiếng súng đã im hẳn, tôi mới dám chồm dậy. Vừa đúng lúc một chiếc xe tăng Giải phóng rất to. bỗng đỗ lại xế cửa nhà tôi. Có điều chi hục hại thì phải - Khói lửa vẫn mù mịt khắp trên mặt đường đã ngổn ngang xác xe Mỹ, ngụy. Cửa xe mở, một anh Giải phóng nhanh nhẹn nhảy xuống. Chao ơi ! Anh giải phóng? Tôi chỉ còn thiếu lao tới ôm chầm lấy anh. Anh trẻ quá và sao mà hiền hậu! Đến mức tôi không thể tin anh là chiến sĩ thiết xa nếu như trên đầu anh không có chiếc mũ da kiểu của các chiến sĩ lái xe tăng. Mặt anh đầm đìa mồ hôi, quần áo anh đầy dầu mỡ.

Ôi anh Giải phóng! Anh Giải phóng! - Mậu Thân, khi ấy tôi mới là một thiếu niên, nhưng tôi cũng đã hiểu được ít nhiều, tôi đã nom thấy các anh trên đường phố Huế. Nhưng năm ấy các anh gày, nhỏ hơn, xanh hơn nhiều. Các anh đội mũ tai bèo, mang áo bà ba đen, quần xà lỏn cũng đen, đi dép lốp. Trên tay chỉ một khẩu AK và quanh lưng là mấy trái lựu đạn cùng mấy gói thuốc nổ. Chỉ có ba anh mà chiến đấu trên cả một khu phố đã bị đổ nát khá nhiều vì bom và trọng pháo Mỹ từ hạm đội Bảy bắn vô. Các anh còn bảo vệ và hướng dẫn hàng trăm đồng bào bị kẹt trong khu phố. Khi các anh bảo vô bên ni, y như rằng bên kia bị bom luôn. Khi các anh vẽ chạy nhanh sang bên kia, quả nhiên ngay sau đó, bên ni bị ăn pháo. Rồi một buổi, xe tăng địch áp tới ngã tư Phan Bội Châu. Cả dãy phố đã cháy đen, chúng vẫn bắn vô không ngừng. Một anh cười nói: "Bà con cô bác để tôi ra diệt cái cục sắt kia, nghe!". Thế rồi thoắt cái đã biến vô các dãy nhà đổ. Mấy phút sau một tiếng nổ cất lên dậy đất. Chiếc tăng địch lật nghiêng, phì lửa ra rất dữ. Nhưng rồi bọn Mỹ đã thi nhau dội bom xuống. Cả khu phố như thành mặt trăng. Từ đó, tôi không bao giờ được tận mắt gặp mấy anh nữa ...

- Này, bạn! Nhà ở gần đây ư? Không sợ ư? - Anh nói tiếng Bắc! Anh cười, hàm răng đều và trắng bóng.

Trong khi mấy anh xúm nhau sửa chữa chi ở dưới bụng xe, tôi vẫn đứng ngắm nhìn mấy anh như ngắm những thiên thần. Anh vừa hỏi tôi, thoắt lại ngoái cổ, hỏi tiếp:

- Bạn có còn đi học không? Hay làm nghề gì rồi?

Tôi đáp tôi là sinh viên ở Huế mới trở về. Anh có vẻ chăm chú:

- Bạn ở Huế hả? Vậy có biết bà mẹ dạy thêu, may và gia chánh ở Thượng Tứ không?

Tôi sửng sốt! Trời! Có phải ... anh đấy không? Có đúng là anh không? Lưỡi tôi gần như líu lại. Tôi hỏi:

- Mậu Thân, e anh có vô đánh Huế, ở nhà mạ?

- Phải rồi? Nhưng sao bạn biết? Hồi đó tôi ở bộ binh, sau được chuyển sang xe tăng - Anh cũng không giấu được vẻ ngạc nhiên.

- Dạ! Chính em đang ở nhà mạ! Em là... con nuôi mạ đây!

- Trời ơi ! - Anh kêu lên, đứng phắt dậy.

Tôi lao tới. Hai chúng tôi chỉ còn biết ôm chầm lấy nhau. Sung sướng tới tột độ. Cám ơn, trăm ngàn lần cám ơn sự bát ngờ tuyệt vời đã đưa chúng tôi tới gặp nhau giữa giờ phút lịch sử này.

- Nhuần ơi! Có cách chi nhắn vào thành cho má không? Nói là tôi vẫn còn sống! Chắc chắn tôi sẽ gặp má? Hôm nay Phú Lộc sẽ xong thôi. Mai mốt là tới Huế! Đường Một thế là bị cắt đứt rồi! Pháo ta hôm nay sẽ phong tỏa Phú Bài, Cửa Thuận, Tư Hiền...

Ngay sau khi chiếc xe của các anh tiếp tục ầm ầm lao đi theo đồng đội, tiến về phía quận lỵ và chi khu quân sự Phú Lộc. thì tôi cũng mượn một chiếc xe Hon-da của một gia đình trong xóm, phóng như bay trở lại Huế, bất chấp mọi sự hiểm nguy, bất chấp mọi điều trở ngại ...
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #115 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:23:01 am »

3
Tới Huế tôi đã tìm được cách nhắn tin về anh chiến sĩ xe tăng cho má nuôi tôi ngay tức khắc. Cảnh sát xung kích vẫn đang lùng sục các cơ sở của ta rất gắt, và quân xa vẫn tiếp tục đi xúc từng mảnh gia đình đi. Cho nên tôi vẫn tiếp tục phải lẩn trốn. Suốt buổi chiều đó, tôi đã chuyển chỗ tới hai lần, lúc xuống An Cựu, lúc vô Bãi Dâu. Nhưng ngay trong những giờ phút tạm phải chui lủi ấy chúng tôi vẫn tiếp tục nhận được những tin tức mới nhất: phòng tuyến sông Mỹ Chánh đã bị phá vỡ buổi sáng nay. Quân giải phóng đã tràn qua cả sông Ô Lâu. Thậm chí, ba giờ chiều nay những đơn vị xung kích đầu tiên của ta đã dùng thuyền do nhân dân địa phương giúp vượt qua được bờ nam sông Bồ. Đang có huyết chiến ở đó. Sông Bồ là tuyến phòng thủ cuối cùng của vành đai vững chắc nhất của Huế. Mặt trận đã lan xuống nam sông Bồ.

Như vậy về quân sự mà nói có nghĩa là quân địch ở Huế chỉ còn lại khu tứ giác: Cửa Thuận, Phú Bài, An Lỗ, Tình Thiền! Một khu tứ giác chẳng rộng lớn là bao. Một khu tứ giác lúc nhúc, chặt cứng binh lính, chiến xa và dân tị nạn. Với mật độ khủng khiếp ấy, chúng tôi là những chàng học trò bình thường cũng có thể hiểu được: chỉ chen chân nhau mà đứng cũng không nổi, còn nói chi tới đánh chác ... ?

Vận hội đã tới thật rồi! Bình minh đang hé dậy! Chúng tôi lại muốn reo lên, nhảy cả lên, mặc dầu chúng tôi vẫn tiếp tục phải di chuyển chạy bát nháo khắp nơi trong thành phố để thoát các cuộc vây ráp của địch. Chưa bao giờ, trong lúc bị truy lùng, phải chạy trốn, mà chúng tôi lại thấy vô cùng vui vẻ, sáng suốt, tỉnh táo và hy vọng, như trong những giờ phút rung chuyển, đảo lộn này.

Tối, Hồi và tôi giả làm hai tên lính thủy đánh bộ chạy trốn, thuê một chiếc thuyền chứa gái điếm, đưa ra giữa dòng sông Hương lượn lờ, để cho qua đêm, đợi sáng. Đây cũng là lần đầu tiên trong đời tôi dám bước xuống một con thuyền đĩ điếm. Đặt bước chân xuống sạp thuyền mà cảm thấy toàn thân muốn run lên trong một nỗi ghê ghê, tởm tởm. Hồi bạo hơn tôi - Anh đóng kịch cũng giỏi. Anh đã cất cặp kiếng cận đi, tóc để rối bù. Vì không có kiếng, anh bước chệnh choạng. Nhưng cái vẻ chệnh choạng ấy lại dường như khá phù hợp với vẻ say rượu cộng với nỗi kinh hoàng của một tên lính bại trận, trốn chạy. 

Trong thuyền trang trí tựa một phòng ngủ. Hai cô gái khá to con. nhưng nhìn thịt da đã nhũn nhẽo, đón tiếp chúng tôi một cách dè dặt, cặp mắt đầy ngại ngùng. Hẳn mấy cô đã quá gờm những tên lính thủy đánh bộ.

-  Whisky không mấy em? Bọn anh quá mệt, quá ngán sự đời rồi! Đêm nay kiếm chiếc ghe đi chơi suông thôi! Đừng ngại chi nghe? - Hồi nói lè nhè.

Hai cô gái điếm đáp lí nhí. Vẻ vẫn dè dặt, thăm dò.

- Mấy eng ở mặt về?

- Rõ quá rồi! Phật tổ đã cứu sống mấy anh đó, em!

- Mặt trận mô, mấy eng?

- Sông Bồ.

- Sông Bồ? - Vậy rứa là...

- Vậy là Giải phóng sắp vô Huế, còn chi nữa? Mấy em có sợ không?

Hai đứa gái điếm đưa mắt nhìn nhau, im lặng. Đứa to con có bộ ngực xệ nhất, mặt lấm tấm tàn nhang hỏi tiếp:

- Thế bộ mấy eng ... không giữ nổi sao?

Hồi đập tay xuống ván thuyền làm mặt giận:

- Hỏi chi ngu lạ! Gĩư nổi hay không giữ nổi, can chi tới mấy em?

- Là hỏi vậy ?

- Thôi, cho ghe đi xuôi, cho mát nghe! Bọn anh ngủ đây! Cho mấy em tự do! Mai sớm, sẽ trả tiền minh bạch.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #116 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:23:54 am »

Hai đứa điếm cười: 

- Bọn em có lo chi đâu, mấy anh!

Một đứa lại hỏi:

- Vậy Giải phóng sẽ lấy Huế thiệt sao mấy anh?

- Thiệt chứ bỡn sao? Hỏi chi lạ?

- Vậy mấy eng sẽ đi mô? Răng không chạy vô Đà Nẵng hoặc Sài Gòn?

- Không chạy! Chi mà phải chạy? ở lại với Giải phóng càng tốt chứ sao?

Hai đứa lại nhìn nhau. Một đứa lại hỏi, có phần bạo hơn :

- Vậy mấy eng không sợ Giải phóng giết thiệt chứ?

- Không! Họ sẽ khoan hồng hết ráo. Chi mà sợ!

Đứa nhỏ hơn, mặc bộ áo quần toàn màu hồng hỏi thật thà:

- Khoan hồng cả bọn em nữa chứ hí?

Hồi cười to, cười mãi, rồi nghiêm mặt:

- Bọn mi can chi mà tội? Tội bầy tui đây nè! Bọn mi là những kẻ khốn cùng bởi cái chế độ chó đẻ này. Kiếm sống bằng hai bàn tay không nổi thì phải bán thân! Cuộc sống quá khốn nạn, quá khốn khổ này...

Hai đứa điếm thở dài, cúi mặt. 

Chiếc ghe ra giữa dòng, từ từ xuôi. Tôi nằm im thít từ đầu chí cuối ở sạp thuyền, phía mũi. Mọi câu chuyện giữa Hồi và hai đứa điếm cũng đã im bặt. Tôi được yên tĩnh hơn để ngắm nhìn bầu trời bao la, vời vợi ở phía bên trên cao vút. Chao ôi! Dường như từ tấm bé, xa quê ra Huế, tới nay là lần đầu tiên tôi mới được nằm ngửa mặt ngắm nhìn bầu trời đêm, xiết bao yên tĩnh và trong sạch của Huế, nhưng không thể nào ngờ lại nằm ngắm nhìn bầu trời đẹp đẽ này trên một con thuyền dơ bẩn.

Tôi nhìn sang đôi bờ: Huế của tôi vẫn đang sáng ngời ánh điện thủy ngân cao áp, in bóng lung linh xuống dòng sông đen xanh trầm mặc. Ai có thể hiểu thành phố đang sống trong những ngày bão táp. Ai có thể tin: sắp sửa rồi, ở đây cuộc đời sẽ sang một trang mới. Ôi Huế của tôi, của chúng tôi, thành phố cổ kính này đã phải trải qua biết bao năm ghê gớm. Pháp rồi Mỹ. Những dấu vết nhơ bẩn, những sự kiện hãi hùng đã như những làn sóng đen dữ dội độc địa lúc gầm thét, ào ạt, lúc nhặt khoan nhưng dai dẳng tràn qua đây, trùm lấp qua đây.

Sự đổi thay đang diễn ra, thật gay gắt, căng thẳng, thậm chí đau đớn đối với một số người nào đó. Nhưng làm sao có thể có một sự đổi thay quá êm đềm, quá vui vẻ mà triệt để được? Đối với chúng tôi những lớp người trẻ tuổi, bao giờ cũng cảm thấy dầu sao mình nhẹ nhàng hơn cả, mình sung sướng và trong sạch hơn hết. Bởi vậy chúng tôi, quả thật, thuộc lớp người của bình minh!

Chúc cho bình minh mau dựng dậy! Muôn năm ánh sáng và không khí trong lành tự do! Để làm sao, rồi cũng có những đêm, Hồi và tôi ngồi trên một con thuyền sạch sẽ, với những người bạn gái như Quỳnh, như Bích Hường, những người con gái có nhiều may mắn hơn hai cô gái điếm này, những cô gái trong suốt như pha lê. Chúng tôi cùng nói với nhau về thơ ca về vũ trụ ...

Tôi lại không khỏi nhớ tới cả anh chiến sĩ xe tăng gặp gỡ ở gần Phú Lộc. Tuổi trẻ như anh mới thật là tuyệt vời. Anh sẽ cùng những người chiến sĩ Giải phóng là những người đầu liên đem bình minh lại cho Huế, cho cả dải đất miền Nam quá lộn xộn, thối nát này. Cũng là tuổi trẻ, sao các anh hạnh phúc thế, các anh sung sướng, vĩ đại thế?
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #117 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:24:32 am »

Hôm sau là hăm bốn, một ngày mà có lẽ lịch sử sẽ ghi nhận là ngày rung chuyển nhất của Huế. Các trận đánh đã diễn ra ác liệt nhất, quyết liệt nhất ở ngay tuyến phòng thủ cuối cùng sát chung quanh Huế. Trọng pháo của ta gầm thét gần như suốt ngày. Các cửa kính trong thành phố đều rung cả lên. Nhiều lúc tưởng chừng như đã nghe thấy cả những trung, đại liên nổ liên hồi, cả ở phía nam, cả ở phía tây cố đô. Sân bay Phú Bài đã bị phong tỏa. Tất cả các chuyến bay đã bị hủy bỏ. Đường bộ vô Đà Nẵng đã hoàn toàn bị cắt đứt.

Thành phố tràn ngập binh lính, thương binh, xe cộ, dân tị nạn từ khắp các hướng bị dồn về. Tướng Trưởng ra lệnh: rút toàn bộ lực lượng ra biển, càng sớm giờ nào càng tốt giờ nấy. Con đường ra Cửa Thuận là con đường hy vọng cuối cùng của quân ngụy. Từ mười hai giờ trưa, không biết cơ man nào là xe cộ, ùn ùn kéo nhau chạy ra phía biển. Con đường ra Cửa Thuận thoắt biến thành cả một dòng thác xe tăng, thiết giáp, quân xa. Xe kín đặc trên mặt đường, dài tưởng như vô tận.

- Thế là hết rồi! - Những nhà tư sản ném mũ xuống vỉa hè kêu lên rụng rời! Họ ra sân bay, sân bay bị pháo kích. Đóng cửa tuyệt đối. Trở về thành phố định nhảy lên xe hơi, lao ra Cửa Thuận, thì đường đã kẹt cứng xe nhà binh. Đã có những toán lính nổ súng bắn nhau hỗn loạn để cướp đường chạy trước.

Xế chiều, trên đường Trần Hưng Đạo, tôi và Hồi đang chạy tất tưởi để lại đến gặp giáo sư Vĩnh (anh vừa cho gọi gấp bọn tôi) thì thấy ba chiếc xe tăng ngụy ầm ầm phóng tới; nhưng bỗng cả ba đều đỗ xịch. Và kỳ lạ thay. chưa hề có một quả trái phá nào rót vô thành phố, chưa có một lá cờ Giải phóng nào xuất hiện. Mấy tên sĩ quan và lính xe tăng đã mở tung nắp xe nhảy vọt xuống, rồi cứ thế co giò chạy miết, mặc cho mấy chiếc xe vẫn còn nổ máy kêu rầm rầm đỗ ở giữa đường phố. Mấy tên vừa chạy vừa cởi bỏ áo lính, cứ thế chạy tuột vô các kiệt nhỏ, lủi trốn.

Giáo sư Vĩnh và cả Bích Hường, cả Bạch, cả Cống đứng đợi chúng tôi ở gần bến xe hơi phía đầu cầu Mới. Anh cho biết: phải tạm lánh xuống nhà ông cụ anh ở Phú Vang. Địch đang tổ chức rút lui gấp nhưng chúng vẫn còn hết sức thâm độc muốn vét một mẻ lưới lớn cuối cùng để tiêu diệt các lực lượng của ta trong thành phố.

Cả năm chúng tôi đều dùng Hon-da, luồn lách trong các dòng quân xa, về Phú Vang. Bọn lính luôn luôn tru lên như chó dại khi thấy chúng tôi phóng quá liều. Bọn sĩ quan thì nạt nộ. Nhưng khi thấy chúng tôi khai cũng ra Cửa Thuận để tìm cách ra tàu biển chúng lại cho đi.

Nhà ông cụ đẻ ra giáo sư Vĩnh ở gán quận lỵ Phú Vang. Đó là một ngôi nhà gạch ba gian, xây theo lối cổ. Nhà có vườn và cũng như rất nhiều nhà ở Huế: có một bể non bộ nhỏ ở trước nhà, với nhiều chậu cảnh, cây cảnh trong vườn. Ông cụ đẻ ra giáo sư Vĩnh cắt thuốc nam. Ông cụ gầy khô, tính bẳn gắt và có vẻ lãnh đạm với bọn trẻ. Tuy vậy ông cũng đón tiếp bọn tôi một cách phải chăng. Ông càu nhàu cho biết Nguyễn Hùng (đại tá anh trai Vĩnh) cũng về hôm hai mươi và giục ông di tản. Ông đã chửi cho y một trận nên thân và vác cả ba toong đuổi đi. Hùng sầm mặt lên xe phóng thẳng. Từ bữa đó không thấy trở lại.

- Tau đi là đi mô? Tau sống ở đất Huế, chết cũng đất Huế! Mấy người Giải phóng về, có giết tau, tau cũng vui lòng, có sao mô! Mà chắc đâu họ giết? Giết vì lẽ gì! Bậy! Tau chỉ thấy những người nhà nước này nói bậy hung! Đó, cái chuyện ông lão "muôn hoa" đó? Cách chi lại tuyên truyền ông ấy bị Việt cộng chôn sống? ông còn sống nhăn! Rứa mà nói lấy được. Bậy?

Ông cụ vẫn đầy vẻ tức giận, tưởng chừng như đang mắng cả giáo sư Vĩnh và bọn tôi. Nhưng nói xong, ông bỏ mặc chúng tôi đó, muốn làm chi thì làm, ăn chi thì ăn, ông lại quay vô với cái bàn thờ Phật có rèm vải đỏ che kín phía bên ngoài, bên trong là tượng Phật bà Quan âm với một bát hương lớn, luôn luôn nghi ngút khói. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #118 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:25:11 am »

Chỉ lát sau, giáo sư Vĩnh cho biết cô Lộc, nữ sinh, đảng viên, người giao liên ưu tú của các cơ sở nội thành, cũng vừa mới tạm lánh về đây cùng mấy người nữa. Họ ở một nhà bên. Hồi, Bích Hường, Bạch, Cống và tôi rất mừng, cùng chạy sang. Lộc đang ngồi ở một chiếc ghế nhỏ ở cuối hiên, cô bận một tấm áo dài xanh lơ, mỏng nhẹ càng làm tôn thêm vẻ ngây thơ, dịu dàng của cô.

Bỗng nhiên tôi thầm nhớ tới Quỳnh của tôi và trong lòng lại vô cùng buồn bã. Quỳnh khá giống Lộc, cùng chạc tuổi cùng khuôn mặt nhỏ nhắn, cùng đôi mắt ngây thơ, thoáng rụt rè nhưng hết sức thông minh, cùng nụ cười kín đáo nhưng xiết bao thành thực. Tôi đứng lặng. Giờ này Quỳnh đang ở đâu? Đà Nẵng? Nha Trang? Sài Gòn? hay vẫn còn lênh đênh trên một chiếc xà lan dưới nắng hè chói chang, ngắc ngoải cùng với những người dân tị nạn? ôi? Quỳnh, Quỳnh của tôi! Tại sao em lại đi. Ai bắt em đi? Ai đã làm cho đầu em tăm tối? Anh không tin là thầy. Thầy cũng chỉ là một nạn nhân như em.

Chúng tôi cùng trao đổi ý kiến về tình hình các cơ sở sinh viên, học sinh trong thành phố. Mọi việc đều khá cả. Tất cả mọi người đều đã sẵn sàng. Trời càng tối dần, thì tiếng pháo lớn càng nổ kinh khủng phía Cửa Thuận. Xe cộ trên bộ càng tắc nghẹt, đen đặc. Lính trốn đã tràn vô các xóm, van lạy xin áo quần thường dân để mặc, hoặc xin giấu giếm chúng vô các nơi an toàn, kín đáo.

Bỗng nhiên, có người của chúng tôi từ Huế phóng xe xuống. Lúc đó đã nhọ mặt người, mọi nhà đã lên đèn. Anh bạn, người đẫm mồ hôi cho biết là các anh trên chỉ thị: phải báo ngay cho các cơ sở chuẩn bị gấp chậm nhất sớm ni bộ đội áp tới, nhất tề cùng đồng bào nổi dậy. Vận động đồng bào may gấp cờ Giải phóng, nhất loạt cắm lên, ngay từ đêm nay ... Và chậm nhất 5 giờ sáng mai chúng tôi phải trở lại thành phố...

Chúng tôi cùng siết chặt tay nhau, rồi cùng chia nhau đi vận động bà con ngay trong xóm nơi chúng tôi ở. Và ở nhà một giáo sư trẻ, nơi cô Lộc tạm lánh, một sự kiện độc đáo đã diễn ra. Cô Lộc và chúng tôi cùng may cờ. "Nhưng kiếm đâu ra vải màu?". Tôi la lên. Cô Lộc nhanh nhẹn đứng dậy, cởi luôn tấm áo dài xanh ra và mở sắc lấy một chiếc kéo, thoắt cái, cô đã cắt rời hai vạt áo,

- Nhưng còn vải đỏ?". Vải đỏ mới thật là khó, tôi tiếp

- Để tôi về coi xem! Giáo sư Vĩnh vội nói.

Lát sau, anh trở lại mang theo hai mảnh vải đỏ. Mọi người cùng nhận ra đó là hai tấm màn trên bàn thờ Phật của cha anh. Cũng lúc đó, ông già chống ba toong lục cục chạy vô, nói lớn:

- Lấy mà may, nghe! May cờ thì được quá rồi. Còn phải bàn chi? Cứ may!

"Nhưng còn vải vàng để may sao". Lại một khó khăn nữa. Bạch bỗng reo to:

- Ồ khó chi, có sẵn cờ vàng ba que, ta cắt luôn ra thôi 

Hồi phản đối. Anh nói: cờ ba que quá "bẩn" không dùng được. Nhưng rồi mọi người cùng nhất trí: lúc này, không nên quá câu nệ.

Thế là chỉ khoảnh khắc sau, cô Lộc đã may xong hai lá cờ Giải phóng, tuy chỉ nhỏ thôi, nhưng đẹp vô cùng. Tất cả chúng tôi cùng reo lên, nhảy lên như một lũ trẻ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #119 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:26:05 am »

Và, đúng như chỉ thị của các anh ở trên, mờ sáng hôm sau một trong hai lá cờ đó đã được trao cho các lực lượng võ trang và nhân dân nổi dậy của quận lỵ và chi khu quân sự Phú Vang. Lá cờ tung bay trước tòa nhà hành chính của quận lỵ, giữa muôn ngàn tiếng hoan hô dậy đất của đồng bào từ các xóm, các ấp cuồn cuộn đổ ra, với các tổ du kích, tự vệ mật đã nhất tề cùng tuốt vũ khí đứng dậy.

Chúng tôi không có nhiều thì giờ để lưu lại Phú Vang. Tin cấp báo: bộ đội đã vô tới An Cựu! Chúng tôi, kẻ cưỡi Hon-da, người ngồi xe đạp cùng chở nhau phóng trở về thành phố. Trong lúc đó, trên đường, quân xa địch, xe tăng địch vẫn còn đang ầm ầm chạy trở ra phía Cửa Thuận. Cả tàn binh địch. Chúng chạy bộ. Đầy trên đường. Tơi tả. Lử lả. Chúng cứ chạy ra. Chúng tôi cứ chạy vô, ngược chiều nhau, không bên nào có đủ thì giờ để hỏi bên kia nữa. Mặc! Bọn tôi mặc chúng chạy! bọn chúng cũng kệ, không còn bụng dạ nào chú ý tới bọn tôi.

Phía Cửa Thuận! Pháo ta vẫn bắn long trời chuyển đất. Ở đường chân trời, khói đen vẫn liên tiếp dựng lên. Vậy mà những toán xe, những toán lính địch vẫn cứ lao ra y như điên, không còn hiểu chạy đi đâu nữa?

Trên đường. Ở nhiều quãng, xe cộ kẹt cứng. Có những chiếc xe tăng, chừng cuống quá, đã liều rẽ xuống hai bên ruộng lúa, để tìm đường vượt lên. Nhưng ruộng lầy. Chúng nằm chết lún như những con cua khổng lồ. Cả những chiếc xe Jeep cũng vậy. Có lẽ quá điên lên vì sợ chúng cũng lao bừa xuống. Bánh xe xé bùn ra thành những vệt dài loằng ngoằng, rồi cuối cùng. chúng cũng chìm lún xuống. Có cái bùn ngập tới quá nửa bánh xe. Có cái chỉ còn nhô lên được chiếc kính chắn gió và vành tay lái ... Quang cảnh hỗn độn kinh hoàng đến tột độ.

Chúng tôi vẫn cắm đầu phóng. Không có thể dừng lại dù chỉ là một phút để xem cái quang cánh thất trận cực kỳ bi thảm, cực kỳ dữ dội của cả một đạo quân nhà nghề tay sai do Mỹ huấn luyện và trang bị này.

Chúng tôi đã tới Huế.

Chúng tôi đã nom thấy những đơn vị đầu tiên của quân Giải phóng đang tiến vô thành phố, thành mấy mũi khác nhau. Các anh tiến đẹp quá.

Chúng tôi đã nom thấy cả những chiến xa Giải phóng đang ám ầm lao qua cầu Mới, khói bay mờ mịt phía sau.

Cả thành phố đang mở rộng những cánh tay đón chào các chiến sĩ. Mắt chúng tôi mờ lệ. Trái tim chúng tôi nghẹn ngào.

Tất cả chúng tôi cùng reo lên, gào lên: "Giải phóng rồi! Giải phóng rồi!". Cô Lộc giơ lá cờ lên. Lá cờ bay bay. Một đơn vị giải phóng đã đón nhận lấy lá cờ ấy. Và chỉ lát sau, chúng tôi đã thấy chính lá cờ ấy bay trên đỉnh cột cờ của thành phố trước Phu Văn Lâu.

Lúc ấy là buổi chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975 lịch sử

Một lần nữa chúng tôi cùng la lên, reo lên: "Giải phóng rồi, giải phóng rồi!". Chúng tôi cùng ôm chầm lấy nhau, khóc nức nở vì quá sung sướng, trước khi phân công nhau đi nắm từng tổ anh chị em để làm các công việc dẫn đường và tiếp tế phục vụ cho các đơn vị Quân giải phóng đang tiếp tục tiến vô thành phố. Chúng tôi đều không ngờ, trong đám đông dân chúng đổ ra đường hoan nghênh bộ đội giải phóng có cả "Ông già biển cả". Bữa nay ông ăn vận rất tề chỉnh, đeo cả cà vạt hẳn hoi. Hơn thế nữa, tuy nắng to. Ông cũng dắt cả cô út đi theo.

Trong lúc đó mẹ của Bích Hường đã sắng sở cùng các bác tiểu thương chợ Đông Ba đi lo gạo, lo nồi xoong nấu cơm cho quân ta. Bà to béo, tươi cười - Những người to béo dường như luôn luôn vui tính - Bà đều gọi các anh bằng con. Cả má nuôi tôi nữa, má vẫn ngậm điếu thuốc vấn sâu kèn ở góc miệng, bới tóc cao, mang chiếc áo dài lê thê màu vàng xỉn, chạy ngược chạy xuôi. gặp anh Giải phóng nào má cũng nắm lấy hỏi: "Rứa mấy chú xe tăng ở mô? Tui có thằng con trai ở xe tăng ta! Má nhấn mạnh tiếng ta một cách đặc biệt sung sướng.

Sang qua cầu Trường Tiền, chúng tôi gặp cả cha Cống. Ông già hom hem, có cái cục cổ gần như nhọn hoắt, phóng chiếc xe Hon-da tàng, có cắm một lá cờ Giải phóng. Ông kiêu hãnh la lớn "Bọn bay coi! Giải phóng vô, máy đèn, máy nước vẫn hoàn toàn! Công nhân hai nhà máy đấu tranh kiên quyết suốt đêm qua. Dám chết dưới chân máy. Tuyên bố: thằng giặc nào đem mìn, đem thuốc độc vô, hãy bước qua xác anh em công nhân đã. Anh em công nhân không có nói mép như thằng mặt rỗ" (Ý nói móc lại tên Ngô Quang Trưởng đã từng tuyên bố sẽ chết trên đường phố Huế.).

Cả thành phố cười vui. Bình minh đang rực sáng. 
Tháng 7 năm 1975


Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM