Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:29:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tên anh chưa có trong danh sách  (Đọc 44678 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #80 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:07:47 am »

Cái chết cứ bò dần từ chân lên người anh từng ngày. Bây giờ thì anh không lê đi được nữa, anh ngồi dậy rất khó khăn, nhưng vẫn tiếp tục tập thể dục với một ý chí ngoan cường. Anh không chấp nhận sự thua cuộc và tím cách chiến đấu với cái chết đang lan trên người mình từng ly một

-          Nếu mình rên, cậu hãy đánh thức mình dậy. Nếu mình không thức dậy, cậu hãy bắn cho mình một phát.
- Nói nhảm gì vậy, chuẩn uý?
- Mình không có quyền rơi vào tay bọn Đức, thậm chí cả khi chết. Mình không đời nào cho chúng được hưởng niềm vui ấy.
- Chúng không được hưởng niềm vui thú ấy đâu - đột nhiên Xêmisnưi kéo Plugiơnhicốp lại gần mình – không bao giờ chịu từ bỏ những gì thiêng liêng. Dù chết cũng không được bỏ.
- Tôi không hiểu. Điều thiêng liêng là cái gì chứ?
- Khi cần, mình sẽ bảo cậu. Và từ giờ đến lúc đó, cậu phải nghe mệnh lệnh mình như mệnh lệnh của thượng đế. Hãy tin ở mình. Mình không nói trên danh nghĩa cá nhân mình đâu. Thôi nhé, nghỉ ngơi rồi chứ? Hãy cầm lấy súng và đi lên đi. Hãy lên trên kia đi, trung uý ạ! Hãy cho chúng biết là pháo đài này vẫn sống. Hãy làm cho chúng sợ, thậm chí sợ cả những người đã chết. Hãy để cho chúng bảo cho con cái chúng, cháu chắt chúng không được đụng vào nước Nga!
Plugiơnhicốp hiểu rằng chuẩn uý Xêmisnưi đang đứng trên bờ vực của sự mất trí. Những cơn đau giận dữ xảy ra thường xuyên, mỗi lần như vậy anh lại nhẫn tâm thúc giục Plugiơnhicốp lên khỏi hầm. Trung uý không cãi lại. Từ lâu ở trong anh không còn cảm giác nào ngoài lòng căm thù, nhưng lòng căm thù của anh khác với Xêmisnưi ở chỗ anh bình tĩnh và có tính toán.
Ngày mồng một đầu năm 1942 thật may mắn cho anh. Sau vài cốc rượu mừng năm mới, bọn Đức không còn để ý gì cả, những tên mới đến thì chưa được học bài học cảnh giác đối với những ngóc ngách trong pháo đài đã chết này. Dẫu sao, Plugiơnhicốp cũng đã giết được hai tên Đức từ một nơi ẩn nấp kín đáo. Sau đó, anh chạy qua dãy hầm ngầm, vượt khỏi cuộc săn đuổi và trốn thoát nhờ một trận bão tuyết phủ kín mọi dấu chân của anh, thậm chí cả loại chó tinh khôn cũng chịu.
Anh kéo bọn Đức đuổi theo rời xa khu vực hầm của anh đến tận cổng Khôlmxki. Đến đấy, bọn Đức đã mất hết dấu vết. Chúng vừa đuổi vừa hò hét và bắn theo, nhưng cuối cùng phải trở về tay không. Anh nằm trong một hốc tường kín đáo cho đến tối rồi sau đó trở về chỗ chuẩn uý Xêmisnưi để báo cho anh biết hai tên Đức nữa đã đền tội.
Anh rất muốn làm cho chuẩn uý vui vì trong những ngày gần đây, anh ấy đã yếu đi nhiều. Anh ấy thường xuyên mê sảng, kêu thét một cách đau đớn, khi tỉnh lại người cứ run cầm cập và mồ hôi hột ứa ra đầy máu. Chỉ có một ý chí rất sắt đá vẫn giữ cuộc sống mong manh trên cái cơ thể đang lụi tàn của anh.
- Mình không sống lâu hơn được nữa – sau một cơn ngất xỉu, tỉnh lại, anh cất giọng buồn bã – Nhưng cậu thì phải làm điều đó.
- Để làm gì?
- Khi nào sắp tắt thở, mình sẽ nói. Thế nào, chiến tranh đã chấm dứt rồi à?
- Không có dấu hiệu nào như thế cả.
- Vậy cậu ngồi đây làm gì? Có đạn chứ?
- Có – Plugiơnhicốp ra khỏi hầm và lại dấn thân vào trận bão tuyết của buổi sáng đầu năm.
Bây giờ đã là buổi tối, anh vội vã mang tin vui về cho con người đang chết dần chết mòn ấy. Nhưng khi còn đứng ngoài hành lang, chưa bước vào cửa, anh đã nghe thấy những tiếng kêu ú ớ. Xêmisnưi đang la hét ầm ĩ, thậm chí cả nền cát dày cũng không chặn được tiếng kêu của anh.
Plugiơnhicốp vội vã chui vào, anh sờ soạng trong bóng tối dày đặc để tìm mẩu nến và thắp lên. Anh không đánh thức Xêmisnưi vì cho rằng anh sắp chết, thế là lại một con người gần gũi và thân yêu nữa sắp rời bỏ anh. Anh tìm một miếng giẻ, lau những giọt mồ hôi trên trán chuẩn uý và ngồi xuống bên cạnh, không nhúc nhích. Anh không cần biết bọn Đức có nghe thấy tiếng kêu thét hay không, anh đã quá mệt mói vì cảnh mất mát, mệt mỏi vì chiến đấu và mệt mỏi vì tìm cách sống.
Tiếng thét của Xêmisnưi bỗng ngừng bặt, Plugiơnhicốp nghĩ rằng anh tắt thở. Nhưng chuẩn uý lại mở mắt ra:
- Mình vừa quát tháo phải không?
- Phải.
- Sao cậu không lay mình dậy? – Plugiơnhicốp không nói gì cả, Xêmisnưi thở dài – Rõ ràng cậu thương mình phải không? Nhưng chúng ta có quyền gì để thương mình khi gót giày quân xâm lược đang giày xéo lên đất mẹ chúng ta…
Xêmisnưi nói rất khó nhọc, anh thở hổn hển, tiếng nói đã lắp bắp. Cái chết đã lên đến tận cổ, hai tay anh liệt hẳn, chỉ có đôi mắt anh là còn sống.
- Chúng ta đã thực hiện nhiệm vụ một cách trung thành và không nghĩ đến sinh mạng. Phải tiếp tục như vậy cho đến phút cuối cùng. Cậu không được để chúng giết trước khi cần chết. Phải như vậy. Nhất thiết phải như vậy, anh bạn ạ. Phải lấy cái chết để đánh bạt cái chết. Nhất thiết phải như vậy.
- Tôi đã kiệt sức, Xêmisnưi ạ - Plugiơnhicốp khẽ nói – Tôi không còn sức nữa.
- Không còn sức à? Cậu sẽ có. Mình sẽ tiếp sức cho cậu. Hãy cởi cúc áo quân phục của mình ra. Rồi chứ? Thọc tay vào ngực đi. Cậu có cảm thấy sức mạnh của tôi chưa? Cảm thấy chưa?
Plugiơnhicốp ngần ngại mở cúc áo bông và áo quân phục của chuẩn uý ra mà chả hiểu gì cả. Anh luồn tay vào trong ngực chuẩn uý. Những ngón tay lạnh cóng của anh sờ thấy mảnh vải cờ bằng lụa lành lạnh và mượt mà trên ngực chuẩn uý.
- Mình đã mang nó từ ngày đầu tiên - Chuẩn uý Xêmisnưi nói, giọng run run, nhưng cố kìm nén – đây là lá cờ của trung đoàn, trung uý ạ. Với danh nghĩa người cầm cờ, mình ra lệnh cho cậu. Cũng với danh nghĩa ấy mình đã sống và đẩy lùi cái chết cho đến giây phút cuối cùng. Bây giờ đến lượt cậu. Cậu chết nhưng không được để bọn Đức cướp nó. Đây không phải là danh dự của cậu hay mình. Đây là danh dự của Tổ quốc. Đừng bao giờ làm hoen ố nó, trung uý ạ!.
- Không bao giờ.
- Hãy nhắc lại theo tôi: Xin thề…
- Xin thề! – Plugiơnhicốp nói theo.
- … dù sống hay chết…
- …cũng không cho kẻ thù cướp lá cờ…
- Lá cờ…
- …của Tổ quốc tôi – Liên bang cộng hoà x_ã hội ch_ủ nghĩa Xô viết.
- Của Tổ quốc tôi – Liên bang Cộng hoà x_ã hội ch_ủ nghĩa Xô viết – Plugiơnhicốp nhắc lại, anh quỳ xuống và hôn lên lá cờ lụa đỏ thẫm nằm trên bộ ngực lạnh giá của chuẩn uý.
- Lúc nào mình chết, cậu hãy quấn cờ vào người cậu – Xêmisnưi tiếp – Nhưng từ giờ cho đến lúc ấy, cậu đừng động vào nó. Tôi đã sống với nó và sẽ chết bên nó.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #81 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:08:28 am »

Hai người im lặng, một thứ im lặng trang nghiêm và buồn thảm. Cuối cùng, Plugiơnhicốp nói:
- Hôm nay tôi diệt được hai tên. Ngoài trời có bão tuyết, rất thuận lợi.
- Chúng ta đã không nộp pháo đài cho bọn Đức - chuẩn uý nói - nhất định không nộp.
- Không, chúng ta không nộp – Plugiơnhicốp khẳng định – và tôi cũng không bao giờ nộp.
Một giờ sau chuẩn uý Xêmisnưi qua đời. Anh ra đi không nói thêm một lời nào nữa. Plugiơnhicốp ngồi lặng đi rất lâu bên cạnh anh và cứ nghĩ rằng anh ấy còn sống, mình mới là người đã chết.
Anh lấy lá cờ ra khỏi người chuẩn uý, cho vào người mình và quấn chặt lại. Mặt vải lụa lành lạnh đã được người anh làm ấm lên và anh luôn luôn cảm thấy một hơi ấm đặc biệt, hơi ấm gây xúc động của nó. Trong suốt thời gian chôn cất Xêmisnưi, và sau đó nằm vào giường, đắp mấy tấm áo lên người, anh đều cảm thấy điều đó.
Anh nằm im và bình tĩnh nghĩ rằng anh đã không sợ gì hết: những tên Đức, cái chết và giá rét. Anh không còn cảm thấy cái “tôi†của mình nữa. Anh cảm thấy có một cái gì đó cao hơn cái “tôiâ€, đó là nhân cách của mình. Nhân cách của tổ quốc anh, mà một mảnh nhỏ của nó đang sưởi ấm lồng ngực anh bằng mảnh vải lụa cờ cao quý. Anh thầm lặng ý thức rằng nhân cách đó có tên gọi là gì, đã sống ở đâu, đã yêu ai và đã hy sinh như thế nào sẽ là điều không quan trọng đối với bất cứ ai và bất cứ lúc nào. Chỉ có một điều duy nhất quan trọng: là sao cho cái mắt xích đó nối liền quá khứ và tương lai thành một chuỗi móc xích liên tục của thời gian. Sao cho cái mắt xích đó bền vững. Và anh biết chắc chắn là nó bền vững và vĩnh cửu.
Bão tuyết đang quay cuồng ở bên trên. Một tấm thảm trắng đã phủ kín hầm trú ẩn và đường sá, đè nặng xuống những làng mạc vắng tanh, xuống những đống tro tàn, và cuốn dọc theo những dãy phố im lìm trong các thành phố hoang tàn.
Nhưng lửa trại ở các khu du kích đang bùng cháy, và dưới sự che chở của bão tuyết, những con người như Plugiơnhicốp không chịu khuất phục, đang tìm đến với ánh sáng của những ngọn lửa đó. Bọn Đức canh giữ những ngôi nhà và những con đường giao thông rất sợ bóng tối, sợ bão tuyết và sợ cả dân tộc khó hiểu này.
Chưa có cuộc thảm sát ở Khatưn và Bêlôruxia chưa mất một phần tư dân số. Nhưng một phần tư dân số đã nổ súng. Họ đã bắn, và miền đất này đã biến thành địa ngục của quân đội phát xít, tấm cửa của cái địa ngục ấy chính là pháo đài Brét.
Bảo tuyết kéo dài suốt từ Brét đến Mátxcơva. Nó chôn vùi xác quân Đức và số vũ khí bị gãy nát. Và có những người trung uý khác chỉ huy đồng đội tiến lên đập nát kẻ thù rồi tiến về phía Tây, tiến về phía Plugiơnhicốp, một người con bất khuất của một Tổ quốc bất khuất

Vào một buổi sáng sớm tháng Tư, Ruvim Xvitxki – nguyên là nghệ sĩ vĩ cầm, nguyên là một con người trước đấy – đang cúi đầu bước thoăn thoắt trên con đường ngầu bẩn đầy vết bánh xe và bánh xích. Một đoàn xe Đức nối đuôi nhau chạy về phía ông, những tia nắng vui vẻ nhảy nhót trên kính chắn gió.
Nhưng Xvitxki không nhìn những tia nắng đó. Ông không dám ngước mắt lên vì ông đeo trước ngực và sau lưng ngôi sao màu vàng sáu cạnh to tướng. Với dấu hiệu đó, bất cứ ai cũng có thể xỉ vả ông, đánh đập ông, thậm chí có thể bắn chết ông ngay bên rãnh nước. Ngôi sao màu vàng đó đè xuống người ông như một tai ương, như một khối nặng, đôi mắt của nhà vĩ cầm mờ đục, đôi tay dài tuyệt diệu buông thõng, tấm lưng tròn trĩnh còng xuống, chờ đợi một quả đấm, một cú đá, hoặc một viên đạn vào bất cứ giây phút nào.
Bây giờ ông không kéo vĩ cầm nữa mà đang phải sống trong một khu Do Thái cùng với hàng ngàn người Do Thái khác và xẻ gỗ trong một trại tù binh chiến tranh. Những ngón tay mềm mại của ông trở nên thô ráp, hai tay ông run lẩy bẩy và âm nhạc đã chết lặng trong lòng ông từ lâu. Sáng sáng, ông vội vã đi làm và tối tối lại vội vã quay về.
Một chiếc ô tô phanh kít bên cạnh ông. Đôi tai nhạy cảm và to của ông bảo ông rằng đấy không phải là loại xe tải, nhưng ông không nhìn nó. Không được nhìn ngó, không được nghe ngóng, ông vẫn tiếp tục bước, đôi giày rách bươm của ông làm nước bắn tung toé.
- Jude!
Ông ngoan ngoãn ngoảnh lại, bỏ mũ xuống và kéo sát hai gót chân vào nhau. Một viên thiếu tá Đức ló đầu qua cánh cửa xe đã mở, hỏi:
- Nói được tiếng Nga chứ?
- Được ạ, thưa ngài thiếu tá!
- Lên xe!
Xvitxki ngoan ngoãn ngồi xuống mép ghế sau. Có người đã ngồi ở đấy. Ông không dám nhìn, nhưng qua khoé mắt, ông thấy một tên tướng Đức nên càng cố ép sát vào một góc.
Chiếc xe phóng nhanh. Xvitxki không dám ngẩng đầu lên, mắt dán xuống sàn xe, nhưng ông vẫn biết chiếc xe đã rẽ vào phố Kastanôvaia và biết chúng đang chở ông đến pháo đài. Chẳng hiểu sao ông cảm thấy sợ hơn mặc dù những tưởng đã sợ đến thế thì còn sợ hơn làm sao được. Ông rùng mình, thậm chí khi xe dừng lại ông vẫn không dám động đậy, nhúc nhích.
- Đi ra!
Xvitxki vội vàng xuống xe. Cái xe màu đen của tên tướng Đức dừng giữa các đống gạch đổ nát. Xvitxki trông thấy cái hốc ăn thông xuống nơi nào đó. Bọn lính Đức đang vây quanh cái hốc ấy, có hai cái xác nằm xa hơn một quãng được đậy bằng áo khoác, hai đôi ủng Đức to xù thòi ra ngoài. Xa hơn chút nữa, sau hàng rào lính và hai xác chết là một toán phụ nữ đang xếp gạch. Bọn lính gác đang mải nhìn chiếc xe đen, quên cả việc giám sát toán phụ nữ.
Có tiếng hô khẩu lệnh, bọn lính vội đứng đuỗn người ra, một tên trung uý trẻ tuổi bước đến chỗ tên tướng Đức và báo cáo. Hắn nói to, qua lời báo cáo của hắn, Xvitxki biết ở dưới hầm có một anh lính Nga: sáng nay anh lính ấy đã bắn chết hai tên lính tuần tra Đức và do bị đuổi gấp, anh đã chui xuống căn hầm không có lối ra này. Viên tướng Đức nghe báo cáo xong, nói nhỏ điều gì đó với gã thiếu tá.
- Jude!
Xvitxki bỏ mũ ra. Ông đã đoán được công việc bọn Đức cần ông làm.
- Dưới hầm có một tên Nga cuồng tín. Mày chui xuống và bảo hắn tình nguyện nộp vũ khí, nếu mày ở lỳ dưới ấy với hắn thì cả hai chúng mày đều sẽ bị thiêu cháy bằng súng phun lửa. Nếu mày chui ra một mình thì mày sẽ bị xử bắn. Đưa cho hắn cái đèn pin.
Vừa vấp ngã, Xvitxki vừa chậm chạp trèo qua đống gạch được chất cao để chui xuống hầm. Ánh sáng nhạt dần nhưng độ dốc chấm dứt và ông đi men theo một hành lang lổn nhổn gạch vỡ. Ông bấm đèn pin và từ trong tối có người nói vọng ra:
- Đứng lại, tôi bắn!
- Đừng bắn! – Xvitxki kêu lên và dừng lại – Tôi không phải là quân Đức! Xin đừng bắn! Chúng bắt tôi xuống đây!
- Hãy chiếu đèn vào mặt xem.
Xvitxki nâng đèn pin lên và chớp mắt trước anh sáng chói loà.
- Bước thẳng đến đây. Chỉ được chiếu đèn xuống chân thôi.
- Xin đừng bắn! – Xvitxki van nài, ông chậm chạp dò dẫm theo hành lang – Chúng bắt tôi xuống bảo anh lên. Chúng sẽ thiêu chết anh nếu anh không lên và chúng sẽ bắn tôi nếu anh từ chối…
Ông dừng lại và cảm thấy tiếng thở nặng nề của người nào đó ngay bên cạnh mình.
- Tắt đèn đi!
Xvitxki thả nút đèn, ánh sáng tắt ngấm, bóng tối dày đặc bao bọc lấy ông.
- Ông là ai?
- Tôi là người Do Thái.
- Là phiên dịch hở?
- Tôi làm nghề gì thì có quan trọng đâu? – Xvitxki thở dài thườn thượt – Tôi là ai phỏng có gì quan trọng? Tôi đã quên tôi là người Do Thái, nhưng chúng bắt tôi phải nhớ. Tôi là người Do Thái, chỉ có thế thôi. Rồi chúng sẽ thiêu chết anh và bắn chết tôi.
- Chúng lừa tôi vào bẫy - giọng nói chua xót – Tôi không nhìn rõ ở chỗ có ánh sáng và chúng đã lừa tôi vào bẫy.
- Bọn chúng đông đấy.
- Dẫu sao tôi cũng không còn viện đạn nào cả. Quân ta đang ở đâu? Ông có nghe gì về quân ta đang ở đâu không?
- Anh hiểu cho, có nhiều tin đồn đại – Xvitxki hạ thấp giọng, gần như thì thào – Có tin rất phấn khởi là bọn Đức bị đánh bại gần Mátxcơva. Thiệt hại nặng lắm.
- Nhưng Mátxcơva vẫn thuộc về ta chứ? Bọn Đức không vào được Mátxcơva chứ?
- Không vào được! Không vào được! Điều này tôi biết chắc chắn đấy. Chúng bị đánh tan nát ở gần Mátxcơva. Gần Mátxcơva, anh hiểu không?
Tiếng cười bất ngờ vang lên trong bóng tối. Tiếng cười khản đặc nghe hoan hỉ và trang trọng khiến Xvitxki rùng mình vì tiếng cười ấy.
- Bây giờ tôi có thể lên được rồi. Tôi phải lên để nhìn rõ mặt chúng vào giây phút cuối cùng này. Giúp tôi với, đồng chí!
- Đồng chí! - Từ cổ họng Xvitxki bật ra tiếng nấc nghẹn ngào – Anh vừa gọi tôi là đồng chí phải không?… Ôi, thượng đế, tôi cứ tưởng sẽ không bao giờ được nghe hai tiếng đó nữa!
- Đỡ tôi một tay. Chân tôi có gì không ổn, đi đứng chật vật lắm. Tôi sẽ vịn vào vai đồng chí.
Bàn tay xương xẩu bám lấy vai người nghệ sĩ vĩ cầm. Xvitxki cảm thấy những tiếng thở nặng nề và không đều phả vào má mình.
- Chúng ta đi lên. Đừng bật đèn. Trong bóng tối, tôi nhìn rõ hơn.
Họ lê từng bước chậm chạp dọc theo hành lang. Qua những tiếng thở hổn hển, Xvitxki hiểu rằng mỗi bước đi là một cố gắng rất lớn của con người này.
- Hãy nói với quân ta – Con người không quen biết ấy cất giọng dịu dàng – Khi nào họ trở về thì hãy nói với họ là tôi ẩn nấp… - Anh dừng lại đột ngột – Không phải như thế. Ông nói với họ rằng tôi không nộp pháo đài cho bọn Đức. Cứ mặc cho chúng tìm kiếm. Cứ mặc cho chúng sục vào tất cả các ngách hầm. Pháo đài không đầu hàng. Pháo đài không đầu hàng, nó chỉ đổ máu chứ không gục ngã. Tôi là giọt máu cuối cùng của dòng máu ấy… Hôm nay là ngày mấy nhỉ?
- Mười hai tháng Tư.
- Hai mươi tuổi – Con người không quen biết ấy mỉm cười – Tôi tính nhầm mất bảy ngày…
- Ai hai mươi tuổi?
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #82 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:08:51 am »

Con người không quen biết ấy không trả lời, và suốt chặng đường, họ chỉ lẳng lặng bò lên mặt đất. Khó khăn lắm họ mới trèo qua được đống gạch và bò ra khỏi lỗ hổng. Sau đó con người không quen biết bỏ tay ra khỏi vai Xvitxki, đứng thẳng người lên và khoanh tay trước ngực. Nhà nghệ sĩ vĩ cầm lật đật bước ra bên cạnh, ông nhìn quanh và lần đầu tiên ông trông thấy rõ con người ông vừa dẫn từ hầm tối lên.
Đứng bên cạnh lối ra vào là một người gầy yếu đến mức khó tưởng tượng và không có tuổi. Anh không đội mũ, mái tóc bạc dài rũ xuống vai. Bụi gạch màu đỏ nâu đã bám chặt vào chiếc áo độn bông được nai nịt chặt chẽ. Những vết máu dài đã khô bám trên đầu gối có thể trông thấy rõ qua tấm quần rách tả tơi. Những ngón chân sưng tây, tê cóng thò ra ngoài mũi giày rách trông đến quái dị. Anh đứng thẳng người, đầu ngẩng cao, đăm đăm nhìn vầng mặt trời bằng đôi mắt ngời sáng. Và từ đôi mắt trừng trừng không chớp đó, những giọt nước mắt trào ra không sao cưỡng lại được.
Tất cả đều im lặng. Những tên lính Đức và bọn chỉ huy đều im lặng, tên tướng Đức im lặng. Cả toán phụ nữ bên kia cũng ngừng tay đứng im lặng và bọn lính gác cũng thế. Tất cả đều nhìn vào con người nghiêm nghị, đứng bất động như một tượng đài kỷ niệm. Một lát sau, tên tướng Đức khẽ nói gì đó.
- Anh cho biết tên và chức vụ - Xvitxki phiên dịch lại.
- Tôi là lính Nga.
Giọng nói vang to hơn mức cần thiết. Con người ấy đã phải câm lặng suốt thời gian dài, nên giờ đây anh không làm chủ được giọng nói của mình nữa. Xvitxki dịch lại câu trả lời và tên tướng Đức lại hỏi gì đó.
- Ngài tướng quân đây tha thiết đề nghị anh cho biết tên họ và chức vụ…
Giọng Xvitxki nấc lên, ông không sao kiềm chế được tiếng khóc nghẹn ngào và sau đó đưa cánh tay run run lên lau những giọt nước mắt trên gò má hốc hác.
Con người vô danh ấy từ từ ngoảnh đầu lại và cái nhìn trừng trừng không chớp ấy chiếu thẳng vào mặt tên tướng Đức. Bộ râu rậm rạp của anh khẽ rung rung trong tiếng cười lạ lùng và trang trọng.
- Vâng, thưa ông. Bây giờ chắc ông biết một dặm Nga dài bao nhiêu bước rồi chứ ạ?
Đó là câu nói cuối cùng của anh. Xvitxki dịch thêm mấy câu hỏi nữa của tên tướng Đức, nhưng anh im lặng, mắt vẫn nhìn vào vầng mặt trời mà anh không thấy được.
Một chiếc xe cứu thương chạy đến, viên bác sĩ và hai người khiêng càng vội vã nhảy ra. Tên tướng Đức hất đầu. Viên bác sĩ và hai người khiêng cáng chạy đến trước mặt con người vô danh ấy. Cáng được mở ra, bác sĩ nói gì đó, nhưng con người vô danh ấy lặng lẽ đẩy anh ta ra và bước đến chỗ chiếc xe cứu thương.
Anh thẳng người bước từng bước nghiêm trang, tuy không nhìn rõ, nhưng vẫn đi đúng hướng nhờ có tiếng máy nổ. Mọi người đều đứng nguyên tại chỗ, anh đi một mình, lê đôi chân sưng phù, lạnh cóng.
Đột nhiên, tên trung uý Đức hô lệnh như trong cuộc duyệt binh. Bọn lính Đức giập hai gót giầy lại đứng nghiêm bồng súng và cả viên tướng Đức, sau một lúc do dự, cũng đưa tay lên vành mũ để chào.
Còn anh, người lính Nga ấy quay người bước từng bước chậm chạp qua hàng quân của kẻ thù đang kính cẩn chào anh. Anh không thấy rõ, và cho dù có thấy đi nữa, thì đối với anh, chẳng sao cả. Anh còn cao hơn cả mọi nghi thức có thể làm được, cao hơn cả niềm vinh quang, cao hơn cả mọi cuộc sống và cao hơn cả mọi cái chết.
Đám phụ nữ bắt đầu gào khóc thảm thiết như có người chết. Họ lần lượt quỳ trên lớp bùn giá lạnh tháng Tư. Vừa nức nở, họ vừa chống tay cúi rạp trước mặt anh, người chiến sĩ bảo vệ cuối cùng của pháo đài không đầu hàng giặc.
Anh đi về phía có tiếng máy nổ, lúc vấp, lúc trượt chân và lê từng bước chậm chạp, một bên ủng tuột mất đế và một vết máu loang dài sau bắp chân trần trụi của anh. Nhưng anh vẫn chập chững bước, lưng ưỡn thẳng đầy kiêu hãnh như anh đã sống, và chỉ gục ngã khi đến đích.
Cạnh chiếc xe.
Anh ngã ngửa trên mặt đất, hai tay dang rộng, đôi mắt không trông rõ mở to hướng về phía mặt trời. Anh ngã xuống nhưng vẫn được tự do khi cuộc sống đã trôi đi, anh lấy cái chết để đẩy lùi cái chết.

Đoạn kết.
Pháo đài Brét đứng sừng sững trên biên giới miền cực Tây của Liên Xô. Từ Mátxcơva đến đây không xa lắm, đi tàu hoả không đến một ngày đêm. Không riêng gì khách du lịch và tất cả những người khi ra nước ngoài hoặc trên đường về nước đều đến thăm pháo đài này.
Ở đây người ta không nói to: những ngày tháng của năm một nghìn chín trăm bốn mốt vô cùng vang động và những tảng đá ở đây đã ghi nhớ rất nhiều. Những người hướng dẫn điềm tĩnh đưa những tốp người qua những nơi chiến địa, người ta có thể chui xuống dãy hầm ngầm của trung đoàn 333, sờ tay vào những viên gạch bị súng phun lửa làm cho cháy sém, đi qua cổng Têretxpôn và cổng Khôlmxki, hoặc đứng lặng lẽ trước ngôi nhà thờ cũ.
Đừng vội vã. Hãy nhớ lại tất cả. Hãy cúi đầu mặc niệm.
Trong nhà bảo tàng pháo đài người ta cho bạn thấy những khẩu súng có lần đã nhả đạn và những đôi giày nhà binh được buộc vội vã trong buổi sáng ngày 22 tháng 6. Bạn sẽ được cho xem những vật dụng cá nhân của những chiến sĩ bảo vệ pháo đài, và sẽ được kể cho nghe chuyện những chiến sĩ ấy đã phát điên như thế nào vì khát nước trong khi phải dành toàn bộ số nước cho trẻ em và súng máy. Bạn sẽ được đứng bên cạnh lá cờ, lá cờ duy nhất vừa mới được tìm thấy dưới căn hầm, bây giờ người ta vẫn tiếp tục tìm các lá cờ vì pháo đài không đầu hàng và bọn Đức không lấy được lá cờ chiến đấu nào.
Pháo đài không gục ngã. Pháo đài chỉ đổ máu thôi.
Những nhà viết sử không thích những truyền thuyết nhưng chắc bạn sẽ được nghe kể về một chiến sĩ vô danh bảo vệ pháo đài, người mà bọn Đức chỉ có thể bắt được vào tháng thứ mười của cuộc chiến tranh. Tháng thứ mười, vào tháng 4 năm 1942. Người chiến sĩ đó đã chiến đấu gần một năm. Một năm chiến đấu không biết tin tức, không có đồng đội bên cạnh, không được giao mệnh lệnh, không có hậu phương, không được cung cấp, không được tiếp ứng và không nhận được lá thư nào của gia đình. Thời gian đã không cho ta biết tên và chức vụ của anh, nhưng chúng ta biết rõ: anh là người lính Nga.
Trong nhà bảo tàng pháo đài có nhiều hiện vật. Những hiện vật ấy không thể trưng bày hết được, phần lớn được bảo quan trong các kho của bảo tàng. Nhưng nếu được phép xem kỹ những hiện vật ấy, bạn có thể tìm thấy trong số đó một chiếc chân giả bằng gỗ, bé nhỏ và một chiếc giày phụ nữ còn sót lại. Chúng được tìm thấy tại một hố bom không xa hàng rào của toà Điện Trắng như những chiến sĩ bảo vệ pháo đài đã gọi toà nhà của ban công binh.
Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày 22 tháng 6, pháo đài Brét lại trọng thể và buồn rầu kỷ niệm ngày mở đầu của cuộc chiến tranh. Vào những ngày ấy, những chiến sĩ bảo vệ pháo đài còn sống sót lại đến đặt vòng hoa tại pháo đài và thay nhau làm hàng rào danh dự, đứng nghiêm không động đậy.
Ngày 22 tháng 6 hàng năm, một phụ nữ đã già lại đáp chuyến tàu sớm nhất đến ga Brét. Bà không vội vã rời khỏi khu ga nhộn nhịp và cũng chưa lần nào đặt chân đến pháo đài. Ra khỏi cửa ga, bà bước đến quảng trường, nơi có một tấm đá cẩm thạch được gắn vào bức tường nằm cạnh cửa ra vào:

TỪ NGÀY 22 THÁNG 6
ĐẾN NGÀY 2 THÁNG 7 NĂM 1941
DƯỚI SỰ CHỈ HUY CỦA
TRUNG UÝ NIKÔLAI
(không rõ họ)
VÀ CHUẨN UÝ
PAVEN BAXNÉP
BỘ ĐỘI VÀ CÔNG NHÂN HOẢ XA
ĐÃ BẢO VỆ THẮNG LỢI NHÀ GA.


Suốt ngày hôm ấy, người phụ nữ già đã nhẩm đọc hàng ghi trên bia đá. Bà đứng cạnh bên cạnh nó như một người lính gác danh dự. Bà đi để rồi sau đó quay trở lại với một bó hoa. Bà lại đứng và lại đọc. Đọc cái tên có bảy chữ:

“NIKÔLAIâ€


Khu ga này vẫn tấp nập trong nhịp sống vui tươi thường ngày của nó. Những con tàu đến rồi lại đi, những người trực ban nhắc nhở hành khách đừng quên vé, những khúc nhạc vang lên hoà giữa những tiếng cười vui vẻ. Nhưng người phụ nữ ấy vẫn đứng lặng cạnh tấm bia đá cẩm thạch.
Không cần thiết phải giải thích cho bà điều gì cả. Những người con của chúng ta yên nghỉ ở nơi nào, điều đó không thực sự quan trọng. Điều quan trọng là họ đã hy sinh vì mục đích gì.

HẾT
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM