Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:36:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sài Gòn sụp đổ  (Đọc 53727 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #20 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 07:35:03 pm »

PHẦN BA
CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN
(Tháng 3 năm 1975)


16
CUỘC TIẾN CÔNG LỚN BÙNG NỔ TỪ TÂY NGUYÊN


Mọi việc bắt đầu từ ngày 9 tháng 3 năm 1975, tại Buôn Ma Thuộc

Đó là một thị xã 178.000 dân trên cao nguyên Trung phần, cách Sài Gòn ba trăm năm mươi kilômét và phía Bắc-Đông-Bắc.

Một thời gian dài sau trận đánh, một chủ đồn điền gốc Ý là ông Delfante, định cư ở đây từ nhiều năm và trở thành lãnh sự danh dự của nước Pháp kể lại cho tôi nghe đầu đuôi câu chuyện như sau:

- Thị xã bị đánh chiếm chỉ trong hai tiếng đồng hồ. Bộ tham mưu quân đội Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ trước cuộc tiến công nhanh chóng này. Tuy nhiên những người chiến thắng cũng bị bất ngờ. Họ cứ tưởng rằng để giải quyết được cái vì trí được phòng thủ vững chắc này thì có lẽ phải mất từ mươi lăm đến hai mươi ngày tiến công.


Để giải thích rõ tình hình Buôn Ma Thuộc phải điểm qua số cư dân trên địa bàn Tây Nguyên. Tại đây có tới mười lăm sắc tộc chính, là hậu duệ còn lại của đám dân bản địa rất cổ xưa. Chính tại đây, từ nhiều năm trước, đã xuất hiện phong trào FULRO tên gọi tát "Mặt trận thống nhất giải phóng các giống nòi bị áp bức”.
Fulro được sự ủng hộ của Mỹ. Trong suy nghĩ của chính quyền Mỹ, Tây Nguyên phải trở thành một kiểu Nhà nước tự trị trong khối Liên hiệp Việt Nam. Mọi người đều nghĩ rằng các dân tộc Tây Nguyên sẽ liên kết với chính quyền Thiệu. Trên thực tế, đây là những dân tộc rất độc lập, cho tới khi họ đứng về phía Việt cộng.


Cái chết của Paul Léandri

Bạn đồng nghiệp của tôi là Paul Léandri, chỉ vì bị coi là phóng viên đầu tiên đã gửi điện báo tin Buôn Ma Thuộc thất thủ về hãng tin AFP của Pháp, đã bị gọi đến Tổng nha cảnh sát Sài Gòn. Những nhà chức trách nói với Léandri, họ muốn biết anh có được nguồn tin này từ đâu.


Léandri phải ngồi đợi nhiều giờ trước khi bị chất vấn chỉnh thức. Anh nóng ruột. Thấy trời đã tối mịt, anh tự động bỏ về. Vừa ngồi lên xe và mới bắt đầu nổ máy Léandri đã bị một viên cảnh sát nổ súng bắn. Anh chết ngay tại chỗ. Đó là dựa theo thông báo chính thức. Còn nhiều nhân chứng lài nói khác:

- Chúng tôi có những lý do để nghĩ rằng Léandri đã bị đánh chết ngay tại phòng hỏi cung rồi sau đó người ta bày ra chuyện anh chạy trốn nên bị bắn.

Để rõ sự thật, cần phải hỏi những nhân vật đứng đầu ngành cảnh sát của Thiệu. Tôi quen một người. Ông ta khẳng định có biết một quan chức cảnh sát có dính líu vào vụ giết hại Léandri và người này đã "thú tội". Sau khi Sài Gòn thất thủ viên chức cảnh sát này rao bán câu chuyện rùm beng và có giá trị tiền nong này với một trong số các bạn đồng nghiệp của tôi. Nhưng anh ta đã bị tống ra khỏi cửa, không kịp có thời gian thương lượng ngã giá món hàng.


Sai lầm của tướng Thiệu

Fulro, trái với sự mong đợi của Sài Gòn, đã bỏ rơi Thiệu và hàng phục Việt cộng. Họ làm việc này, rõ ràng không phải xuất phát từ ý thức tư tưởng chính trị mà chính vì những lý do kinh tế đã thúc đẩy họ chống lại chính quyền Sài Gòn. Đám dân miền núi này sống khổ cực trên sườn núi dốc phía dưới đồng bằng là những người trồng trọt giàu có.


Thật ra, Fulro thù địch nhiều với chính quyền Sài Gòn hơn là có cảm tình sâu sắc với Chính phủ Cách mạng lâm thời. Nhưng phía Cách mạng biết khai thác khôn khéo bằng những lời hứa hẹn. Chính vì vậy Fulro đã liên minh với Mặt trận dân tộc giải phóng.


Buôn Ma Thuột là nơi đặt sở chỉ huy của tướng Phạm Văn Thứ, đứng đầu sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn. Nhiều tuần trước ngày 8 tháng 3 năm 1975, các tin tình báo của Thứ đã phát hiện nhiều sự di chuyển của địch. Nhưng Sài Gòn cho rằng địch sẽ tiến công Kon Tum ở phía Bắc. Đúng là ngày 8 tháng 3 có những trận đụng độ ở hướng Kon Tum, gần Plây Cu. Tướng Thiệu quyết định đưa một lực lượng lớn tới điểm đang xảy ra giao tranh, coi đó là "hợp lý".


Không một lúc nào Thiệu nghĩ rằng đã phạm sai lầm khi rút bớt quân khỏi Buôn Ma Thuột, chỉ để lại đây có hai đại đội.


“Hãy ngừng những trận ném bom vô ích"

Tờ mờ sáng ngày 9 tháng 3 năm 1975, quân đội Bắc Việt và Việt cộng bắt đầu trận đánh. Lúc này Thứ muốn đưa những trung đoàn đang tản mát về Buôn Ma Thuột thì không kịp nữa. Các công binh cộng sản đã chặt đứt nhiều đoạn đường chung quanh thị xã. Từ khắp mọi nơi, dân chúng lũ lượt kéo nhau di tản, tràn ngập cả những đơn vị xe cơ giới của Sài Gòn. Đội quân do Mỹ trang bị lúc này mới đột ngột cảm thấy tính chất dễ bị tổn thương của bản thân. Một trăm chiếc xe bò do trâu kéo có thể chặn đứng không cho một đại đội xe tăng đi tới mục tiêu. Vài chục du kích trang bị bằng súng rốc két vác vai, có thể kìm chân cả một binh đoàn xe cơ giới trong một khu rừng cao su. Chỉ một lò xo bị gẫy là cả bộ máy phức tạp lập tức ngừng hoạt động. Một người lính, xuất thân từ nông dân, mặc bộ đồ như xơ mướp từ rừng rậm chui ra có thể chiến thắng một người lính kỹ thuật trang bị máy móc tối tân hiện đại. Những vũ khí thô sơ nhưng mạnh mẽ trong tay các chiến binh quyết đánh quyết thắng, vượt lên trên cả một đạo quân có xe bọc thép, xe gắn súng máy, xe tăng mà Mỹ trang bị cho Thiệu.


Chỉ có một đơn vị còn chiến đấu ở sân bay Buôn Ma Thuột cách trung tâm thị xã mười hai kilômét. Nhưng rồi đơn vị này cũng phải ngừng chiến đấu. Thế là, từ ngày 12 tháng 3, máy bay Sài Gòn bắt đầu ném bom thị xã. Bom không rơi trúng bất cứ một mục tiêu quân sự nào. Ngược lại, khắp mọi nơi, máy bay gieo rắc tàn phá, chết chóc.


Linh mục Mai đưa cho một đại tá chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng một bản kêu gọi, nhờ chuyển tới Chính phủ Sài Gòn. Lời kêu gọi này vẻn vẹn chỉ có một câu: "Hãy ngừng những trận ném bom vô ích đang giết hại và làm bị thương nhiều dân thường”.


Ngày 27 tháng 3, nhân ngày lễ Thánh, linh mục Mai tổ chức tại nhà thờ Buôn Ma Thuộc lễ chào đón một linh mục mới từ Phan Thiết đến. Thật ngạc nhiên! Việt cộng cũng tới dự.


Tại Roma, Italy, ngày 2 tháng 4 nhân dịp lễ Pâques, giáo hoàng Paul VI liên tưởng tới thảm cảnh ở Việt Nam và kêu gọi các con chiên cầu nguyện cho các linh mục, các thầy dòng, các con chiên và tất cả dân chúng Huế, Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Đà Lạt. Giáo hoàng nói thêm:

- Hỡi các con, những con trai con gái của dân tộc Việt Nam rất đáng yêu, ít nhất hãy cảm nhận từ nơi này tinh thần đoàn kết của Nhà thờ với niềm đau khổ của các con. Chúng ta cầu nguyện cho các con, gia đình các con và cả những người láng giềng Campuchia, với niềm thương cảm sâu sắc.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #21 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 07:36:17 pm »

17
LỆNH RÚT LUI

Giữa trận đánh, lại xảy ra những sự cố trầm trọng

Ngày 14 tháng 3, tướng Thiệu bất ngờ tới Cam Ranh, trong một chuyến đi kiểm tra tình hình. Tư lệnh các quân khu được triệu tập. Thiệu cùng các tướng lĩnh nghiên cứu tình hình. Cuối cùng, ông ta quyết định bí mật di tản toàn bộ phần lãnh thổ phía Bắc của Nam Việt Nam.

Lý do chính thức là: nhằm rút ngắn các tuyến phòng ngự.

Lý do thực tế là: Thiệu biết rõ quân đội của mình tại Tây Nguyên kém hẳn đối phương về số lượng và chất lượng. ông muốn rút các đơn vị xuất sắc về đóng tại phía Nam, để bảo vệ Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long.

Ít lâu sau đó, một viên tướng Nam Việt Nam nói với tôi:

- Ông Thiệu đã đột ngột quyết định mà không cân nhắc các hậu quả. Đối với mọi quân đội, chiến đấu trong rút lui là khó khăn nhất.

Ngày 17 tháng 3, tin rút quân bắt đầu lan tới Sài Gòn. Những thành viên chính phủ đã nói đến chuyện "di tản chiến lược" và "dự liệu trước".

Lập tức, nguồn tin này loang khắp mọi nơi. Dân chúng hoảng hốt rời bỏ các thành phố ngay khi vừa mới nhìn thấy quân đội rút đi. Những người lánh nạn này đi đâu? Đi xuống phía Nam, đi tới vùng bờ biển. Bản thân họ cũng không rõ. Họ chỉ có một ý nghĩ: chạy trốn cộng sản vì chính quyền Sài Gòn luôn nhắc đi nhắc lại: cộng sản là dịch hạch.

Trong những trường hợp này, Thiệu đã tỏ rõ những hạn chế về tầm chiến lược. Ngồi ở vị trí cao nhất, viên tướng - tổng thống, tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang đã hành động như một hạ sĩ quan thiển cận.

- "Tôi đã nói mà!'... "Chỉ còn có cách"... "Tôi không muốn biết"...

Quyết định này đã làm nản lòng tướng Pháp Vannuxem, năm đó sáu mươi mốt tuổi, là một trong những viên tướng cũ của De Lattre, hiện đang nghỉ hưu tại một vùng ngoại ô Paris. Hồi Pháp thuộc, Thiệu là học trò của "Vanu” và ngày nay Vang vẫn coi Thiệu như học trò. Vài tuần sau khi Thiệu quyết định rút quận, tướng Vannuxem đã bay tới Sài Gòn để lại “cầm tay dìu dắt” Thiệu. Hết ngày này qua ngày khác, Vannuxem cố động viên Tổng thống Thiệu, giải thích là chiến tranh còn có cơ hội để thắng lợi thậm chí còn khuyên Thiệu gặp bước đường cùng hãy kêu gọi Đài Loan đưa quân giúp!

Buổi tối hôm đó, tại nhà hàng Majestic ở Sài Gòn, tướng Vannuxem say sưa kể lại những chiến dịch cũ do mình chỉ huy tại Đông Dương trước kia.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #22 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 07:37:41 pm »

18
TOÀ LÂU ĐÀI BẰNG GIẤY ĐỔ SỤP

Lệnh lui quân đã ném tung các sư đoàn mà Bộ Tư lệnh cao nguyên Trung phần có được trên những ngả đường. Trong số này, có những đơn vị thiện chiến, như sư đoàn dù và sư đoàn lính thuỷ đánh bộ.

Dù là những đơn vị hảo hạng hoặc ít hảo hạng binh lính cũng bị tê liệt vì phải di tản trong lớp sóng triều của những người dân chạy nạn.

Các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng tận dụng luôn thời cơ đó để đẩy mạnh tiến công. Họ cắt đứt đường xá tràn vào các trung tâm dân cư quan trọng, tăng cường sức ép tại các mục tiêu quân sự.

Và các thành phố cứ thế bị rơi rụng hết lớp này đến lớp khác như những tấm các-tông hình chữ nhật của những quân bài xây dựng toà lâu đài.

Không địa điểm nào có giao tranh thật sự. Ngoại trừ vài trận chiến đấu muộn mằn ở nơi này nơi khác, cuộc rút quân biến thành cuộc tháo chạy tán loạn.

Quảng Trị thất thủ ngày 20 tháng 3 năm 1975.

Ngày 24, bộ đội cộng sản tiến đến bờ biển Quảng Ngãi và Tam Kỳ. Miền Nam Việt Nam bị cắt đôi, Huế và Đà Nẵng bị cô lập. Cố đô Huế sụp đổ ngày 26 tháng 3.

Đà Nẵng chịu chung số phận vào ngày 29.

Các sư đoàn Bắc Việt và Việt cộng hoàn thành việc chiếm đóng Trung phần. Quân đội Sài Gòn tại Đà Lạt, một thành phố còn trôi nổi vài kỷ niệm của cựu hoàng Bảo Đại, thực hiện di tản vào ngày 2 tháng 4.

Trong thời gian đó, những đơn vị khác của cộng sản đã thọc nhanh xuống phần phía Nam bằng xe tăng và bộ binh cố giải phóng hết tốc độ. Cũng trong ngày 2 tháng 4, những đơn vị này tới Nha Trang.


Đó là khung cảnh thuần tuý quân sự của cuộc tiến công chớp nhoáng dưới sự chỉ huy của tướng Pháp.
Võ Nguyên Giáp, người đã chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954 hiện nay như lời đồn đại thì đang mệt mỏi, ốm yếu ở tuổi sáu mươi ba. Nhưng, quả những cuộc tiến công được điều khiển rất thông minh về chiến lược cũng như rất khôn khéo về chiến thuật, ai là người không nhận thấy nghệ thuật chỉ huy của nhân vật có thể coi như Napoleon Bonaparte của xứ Bắc kỳ?

Và những học trò của ông, các viên tướng trẻ của quân đội Bắc Việt, đang tiến theo bước đường của ông.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #23 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 07:39:25 pm »

19
THẢM HOẠ NHA TRANG


Khía cạnh nhân đạo của cuộc chiến tranh đang vận chuyển này còn ngao ngán hơn cả việc vạch những mũi tên trên bản đồ tham mưu. Trên những đường xá, hàng trăm ngàn dân thường đang đói, đang khát. Trẻ nhỏ chết dần. Cụ già kiệt sức ngã gục. Bom và đạn pháo không chừa đàn bà và trẻ con. Nam Việt Nam chỉ còn là một mảng khổng lồ của đau thương lan toả trong vùng đất bốc lửa.

Về thảm cảnh ghê gớm này không ai tả xúc động hơn bạn tôi là Georges Herbouze đặc phái viên hãng tin Pháp AFP trong bài phóng sự gửi đi từ Nha Trang vài giờ trước khi quân Việt tới.

Được anh cho phép, tôi ghi lại đây bài phóng sự đã được truyền đi vòng quanh thế giới.

“Mảnh đất Nam Việt Nam đang trống rỗng vì cuộc tổng tháo chạy khỏi toàn bộ các thành phố.

Thứ Ba trước là Nha Trang, một thành phố làm mồi cho hoảng loạn, cảm thấy đang bị rơi vào cạm bẫy, đã có cảnh tượng một thành phố điên loạn có thể ví như Đà Nẵng trước khi sụp đổ, theo lời kể của những nhân chứng tại chỗ.

Những người được hỏi về địa điểm định di tản tới, bằng tất cả những gì có thể chuyển bánh được, nghĩ một hồi lâu vẫn không thể trả lời. Họ không biết sẽ đi đâu. Tất cả những gì họ muốn, đó là chạy khỏi thành phố này, nơi họ đang hoảng sợ, một số người dự tính sẽ chạy đến đảo Hòn Tre, một hải đảo đất cằn, không cây cối trồng trọt, cách thành phố Nha Trang ba kilômét, đứng trên đất liền có thể nhìn thấy hình dáng đảo ở phía chân trời. Nhưng họ sẽ không thể sống ở đó được. Mặc dù vậy họ vẫn cứ đi tới đó nghĩ rằng sẽ quay trở về trong vài ngày. Họ nói: “Chúng tôi tới đó tránh đạn”. Những người khác chạy theo con đường đi Cam Ranh, cách Nha Trang sáu chục cây số về phía Nam.


Những người còn lại cuống cuồng ngơ ngác chạy đi rồi lại đứng lại chuyển sang hướng khác, rõ ràng đã mất hết sự tự chủ của bản thân.

Trên thực tế, sự hoảng loạn của họ có thể giải thích như sau: từ tối thứ Hai, khi những binh sĩ từ Tây Nguyên thực hiện rút chạy, và những binh lính khác từ Đà Nẵng rút về Nha Trang theo đường biển, đổ bộ lên thành phố, súng lăm lăm cầm tay, vẻ mặt cau có, cướp bóc, đập phá vô cớ. Từ tối thứ Hai các chủ hiệu buôn đã phải đóng sập cửa hàng. Hoạt động buôn bán trong thành phố hoàn toàn không còn nữa. Điện thoại cũng tắt ngấm và không thể nào moi được một thông tin nào.


Chính các sĩ quan và viên chức cấp cao nêu gương trước bằng cách, nếu họ chưa ra đi thì cũng đã cho gia đình vợ con về Sài Gòn.

Sáng thứ Ba, sự hoảng loạn lên tới đỉnh cao. Phó lãnh sự Pháp Henri Siralheim, tổng lãnh sự Mỹ Moncrieff Spear đều trả lời: “Từ nay, chúng tôi không còn chịu trách nhiệm gì nữa"


Người Pháp di tản bằng máy bay tư nhân do sứ quán Pháp thu xếp.

Trong thành phố, những cửa ngục đã mở tung. Phạm nhân chạy ùa ra trong khi không loạt đạn bắn đuổi theo.

Những tin tức lo ngại được truyền đi từ miệng này sang miệng khác:

- “Đức Mỹ, một căn cứ Mỹ cách đây năm mười kiiômét đã bi tiến công”.

Rõ ràng đây là một tin nhảm vì tiểu khu này vẫn yên tĩnh. Nhưng ai nghe cũng tin.

- “Cộng sản lấy dây thép xuyên qua tay con gái”.

Thế là nháo nhào chạy trốn.

- “Thiệu đã bán đứt Nha Trang cho địch".

Sự hoảng loạn càng lớn hơn. Những, có hàng trăm thông tin khác rất đúng sự thật: tối hôm thứ Hai, lính thuỷ đánh bộ định rút xuống tàu tháo chạy đã bắn vào lực lượng an ninh bến cảng. Nhiều người chết và bị thương.


Mãi tới lúc này, thành phố Nha Trang vẫn được nắm giữ chặt chẽ trong tay viên đại tá tỉnh trưởng thì trong hai mươi bốn giờ qua đã làm mồi cho toán lính hỗn loạn đập phá. Những binh lính trong cơn điền loạn, phần lớn do quá khiếp sơ, đã nổ súng bắn lung tung vào bất cứ ai, bất cứ đâu.


Cảnh hỗn loạn diễn ra ngay sát trụ sở tổng lãnh sự Mỹ: hàng trăm người đánh nhau để len vào bên trong, hi vọng sẽ được máy bay lên thẳng đậu trong sân chở đi.

Đó là cách tốt nhất để tới sân bay, vì lính không cho ai đi cả. Thẻ nhà báo của tôi được chính quyền Sài Gòn chứng nhận, cũng trở thành vô hiệu khi tôi giơ cao cố vượt qua hàng rào để kiếrn một chỗ trên máy bay.

Tôi bị một tên lính trẻ đập một báng súng mạnh vào người rồi bắn một loạt đạn sát mang tai, chỉ cách vài mét, để cảnh báo cho tôi biết đây là nghiêm lệnh.

Từ nay, chỉ cơ quan tổng lãnh sự Mỹ có thể là cơ quan - duy nhất cho tôi thoát khỏi Nha Trang.

Trong sân toà lãnh sự đông nghịt người, tôi gặp lại hai quan chức người Pháp chưa kịp di tản. Đó là ông André Chantelange giám đốc nhà máy điện và ông Jean Paul Sarasín, giám đốc trung tâm văn hoá.

Cũng như mọi người nước ngoài khác, họ để lại tất cả mọi tài sản chi mang theo một sốt hành lý được phép.

Các máy bay lên thẳng bay cấp tốc như những con thoi giữa toà lãnh sự và sân bay với quyết tâm đến chiều sẽ chở hết những người di tản. Nhưng nửa giờ sau, khi tôi đang đứng trên nền đất rải đá, chờ chiếc máy bay C46 của Công ty Air America bay tới thì các chuyến bay con thoi đột nhiên ngừng hẳn. Lý do là đường băng không an toàn. Chuyến bay này được coi là chuyến cuối cùng.

Tuy khi đó, vẫn còn hàng mấy trăm người đứng đợi ở sân ga bên cạnh tôi.

Chiếc C46 vừa hạ cánh, mọi người vội đổ xô lên cầu thang máy bay. Một người lính bắn một loạt đạn chỉ thiên để ngăn cản đám đông. Một cô tiếp viên kéo tôi vào khoang máy bay. Một thiếu niên Việt Nam ngồi trên đùi tôi rồi khóc nức nở vì không thấy bố mẹ.

Qua cửa sổ máy bay, tôi nhìn một lần cuối cặp mắt thất vọng của những người phải ở lại. Ngồi gần chỗ tôi là một phụ nữ trẻ tuổi người Việt tên là Dương Thị Thu khóc thầm lặng lẽ. Cô đã để lại trên sân bay mười hai người trong gia đình và năm đứa con của cô.

Lãnh sự quán Mỹ hứa với những người bị bỏ lại là sẽ cho máy bay lên thẳng đến đưa họ ra tàu đổ bộ Mỹ đang túc trực ngoài khơi Nha Trang.

Các nhân viên lãnh sự quán, vào khoảng năm chục người, sẽ từ Nha Trang vào Sài Gòn theo con đường đó.
Trong số những người nước ngoài còn ở lại Nha Trang có các nhà tu hành người Pháp: ba linh mục của phái đoàn Thiên Chúa giáo từ Paris tới, các cha cố Marc Lefebvre và Joseph Vist không muốn rời bỏ các tông đồ mà họ đã đưa tới Nha Trang trên con đường di tản. Còn cha Beysselance thì ở lại trong trại tị nạn cách thành phố hai chục kilômét, gồm khoảng một nghìn năm trăm người Thượng.

Nữ tu sĩ Marguerite cũng không muốn rời bỏ hai mươi con chiên người Việt mà bà phụ trách.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #24 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2008, 06:55:31 pm »

PHẦN BỐN
THEN CHỐT CUỐI CÙNG
(Tháng 4 năm 1975)


20
TRẠI LÍNH KiÊN CỐ SÀI GÒN CHỈ LÀ MỘT CÁI RỔ THOÁT NƯỚC

Thứ sáu 11 tháng 4

Chiếc máy bay từ Paris tới đã hoàn thành chuyến hạ cánh kéo dài tới Sài Gòn.

Đột nhiên, ở phía Đông thành phố, chiến tranh lại xuất hiện. Một loạt đám cháy theo hình vành cung bùng lên như những đám cháy rừng ở châu Phi vào mùa hanh khô. Những cột khói màu xám, những lưỡi lửa màu da cam bốc lên từ những nhà mái tranh và những bụi cây đang bốc cháy dọc theo chiến tuyến, nếu có thể gọi được là "chiến tuyến" trong cuộc chiến tranh này.


Một lát sau, máy bay mới có thể đỗ xuống sân bay Tân Sơn Nhất, nơi thời tiết là 32°C trong bóng râm. Từ trung tâm thành phố bốc lên một cột khói đen. Phải chăng đó là dinh Tổng thống của Thiệu đang bốc cháy. Hay là một bồn xăng đang bị thiêu huỷ?

Một viên đại uý trẻ, nói với tôi:

- Không, đó chỉ là một khu nhà ổ chuột.

"Chỉ là"! Thật là một từ ngữ khủng khiếp. Tôi đã từng nhìn thấy những người mẹ bồng con chạy khỏi những đám cháy từ khu nhà ổ chuột. Những người bố cố giật lại trong lửa vài thứ đồ dùng vặt vãnh, nghèo nàn. Những đứa trẻ khóc thầm lặng lẽ, như người ta vẫn thường khóc như vậy, ở Việt Nam.


Một sự yên lặng lạ lùng

Trong thành phố mà vài hôm trước tất cả báo chí đều viết là một thành trì bị vây hãm, thì nay yên lặng lạ lùng.

Cảnh vật chẳng thay đổi gì so với năm trước. Vẫn đám thanh niên vô tư la cà trên đường phố, tụ tập trong các quán cà-phê, chen lấn trước cổng rạp chiếu phim ở trung tâm thành phố. Tất cả đám người này đều mặc những bộ đồ cốt-tông hoặc téc-gan sạch sẽ. Và tất cả bọn họ đều tươi cười. Làm thế nào tin được rằng đất nước này vừa mới trải qua một thất bại quân sự kinh khủng nhất?

Trước trụ sở quốc hội, loa phóng thanh đang phát đi những bản nhạc quân sự. Một kiểu cách thảm hại nhằm cố lên dây cót tinh thần cho dân chúng.

Chỉ có một sự thay đổi đáng kể. Đó là giảm sút những xe có động cơ, chủ yếu là loại xe gắn máy scooter trước kia vẫn như những đàn ong tràn ngập tất cả các đại lộ. Giá xăng ở Sài Gòn ngày nay thuộc loại đắt nhất thế giới.

Xe xích lô cũng đã biến hết, do lệnh của chính phủ. Người ta nói, đó là vì rằng cuộc tổng tiến công hồi Tết Mậu Thân 1968, các chiến binh Việt cộng thường thâm nhập vào thành phố bằng loại xe này. Còn lần này, không biết quân giải phóng sẽ tiến vào đây bằng xe taxi hay đi bộ? Nhưng rõ ràng họ đang bố trí sẵn sàng tại chỗ.


Pháo đài của tướng - tổng thống

Sài Gòn, một lập đoàn cứ điểm? - Hãy nghiêm chỉnh xét đoán: - thành phố này chỉ là một cái chao, một thứ dụng cụ nhà bếp - như cái rổ thoát nước.

Tuy nhiên, trong khu dân cư rộng lớn đông đúc những người lánh nạn và tràn ngập nạn nghèo đói, có hai pháo đài quan trọng.

- Thứ nhất là căn cứ không quân Tân Sơn Nhất với hàng mấy trăm máy bay khu trục, máy bay ném bom, máy bay vận tải, máy bay lên thẳng do Mỹ cho không.

- Thứ hai là dinh tướng - tổng thống ở chính giữa trung tâm thành phố. Chính toà lâu đài này vừa mới bị máy bay ném bom, nhưng từ bên ngoài nhìn vào, không thấy một dấu vết nào1 (Đây là chiến công của Nguyễn Thành Trung, lái máy bay F5, ném bom dinh Tổng thống Thiệu rồi bay ra vùng giải phóng. (ND)). Ngược lại, doanh trại đã tăng thêm quân số, vũ khí. Từ phía ngoài nhìn vào trong vườn, thấy rõ những xe bọc thép gắn súng máy, những xe tăng hạng nặng, những cỗ pháo phòng không bắn nhanh, những ổ trọng liên, những công sự bê-tông.

Những người lái xe tô lau chùi, đánh bóng những chiếc xe Mercedes sơn màu đen.

Phía sau dinh, hai chiếc máy bay lên thẳng đậu trên bãi cỏ chờ đợi. Chờ đợi gì? Chờ lúc Thiệu bay đi không trở về? Phải chăng, tấn thảm kịch sẽ kết thúc theo kiểu đó?


Trong vòng ba ngày, hay ba tháng nữa?

Và đến bao giờ mới kết thúc tấn thảm kịch đã kéo dài tới ba mươi năm rồi? Không ai có thể nói được.

Một người Pháp, định cư lâu năm ở Sài Gòn và biết rõ xứ sở này, đã trả lời câu hỏi của tôi như sau:

- Chắc chắn là đang tới giai đoạn kết thúc rồi. Nhưng sẽ kết thúc trong vòng ba ngày, ba tuần, hay ba tháng nữa? Thành thật, tôi không biết gì hết.

Điều có thể nói được mà không sợ nhầm lẫn, đó là cuộc chiến giành Sài Gòn đã bắt đầu. Trận đánh đã xảy ra dữ dội cách Sài Gòn có vài chục cây số ở mặt phía Đông thành phố. Cả hai bên đều tung ra những lực lượng quan trọng. Từ nhiều tháng nay, phía cộng sản đã tập trung được nhiều loại vũ khí nặng để chuẩn bị cho cuộc tiến công này. Phía quân đội Sài Gòn cũng làm như vậy bởi họ biết đang phải bảo vệ thành trì cuối cùng.

Trong cuộc giao tranh này, tôi đã nhìn thấy trận tuyến khi tới Sài Gòn vào chiều hôm nay. Liền đó, tôi đột ngột được biệt tin, từ nay lệnh giới nghiêm tại Sài Gòn được nghiêm ngặt thực hiện ngay từ chín giờ tối. Thành phố vắng lặng. Mọi người đi ngủ sớm.

Nhưng ngủ yên giấc thế nào được vì từ phía xa vẫn vọng lại những tiếng trọng pháo, như sấm nổ trong cơn dông.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #25 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2008, 06:58:08 pm »

21
NHỮNG BÍ MẬT VỀ CHUYỆN QUÂN ĐỘI SÀI GÒN THÁO CHẠY

Thứ Bảy 12 tháng 4

Số phận Sài Gòn được quyết định tại Xuân Lộc, một thị xã 100.000 dân, cách thủ phủ Nam Việt Nam bẩy mươi kilômét về phía Đông Đông Bắc.

Đó là then cửa cuối cùng.

Trong giờ phút này, binh lính tại Xuân Lộc vẫn còn chống cự rất quyết liệt. Nhưng không ai có thể đoán trước trận đánh có huy động cả xe bọc thép và pháo nặng này sẽ quay ngoặt theo chiều hướng nào. Sau khi Thiệu bị mất tới nửa số quân trong vòng ba tuần, thì mọi việc đều có thể xảy ra.


Viên trung tướng lên làm tổng thống đã có một quân đội rất mạnh. Có thể nói, đây là một trong những đội quân hùng mạnh nhất thế giới. Đội quân này có tới mười một sư đoàn bộ binh, một sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, một sư đoàn dù, mười lăm liên đoàn biệt động, mỗi liên đoàn có ba tiểu đoàn lính, một lữ đoàn dù đặc biệt, và bốn lữ đoàn xe bọc thép. Thiệu có trong tay 160 xe tăng hạng nặng M48, 225 xe tăng hạng trung M41, 700 xe bọc thép chở quân, tổng cộng là 1.085 xe bọc thép các loại. Thiệu cũng có một lực lượng pháo đáng kể: 45 tiểu đoàn pháo 105, 15 tiểu đoàn pháo 155, 3 tiểu đoàn pháo 175. Lực lượng không quân có 370 máy bay khu trục tiêm kích trong đó có 70 chiếc F5E, 60 máy bay vận tải, 400 máy bay lên thẳng hạng trung, 160 máy bay lên thẳng hạng nặng.

Tất cả đã tan rã như băng tuyết dưới ánh nắng mặt trời tháng Tư.


Chuẩn bị cho tổng tiến công

Từ nhiều tháng nay, Bắc Việt Nam chuẩn bị tiến công lớn.

Trước ngày bùng nổ cuộc chiến, khối chủ lực cơ động cộng sản có tới hai mươi sư đoàn và năm mươi nhăm trung đoàn độc lập. Có sáu trăm xe bọc thép do Liên Xô chế tạo gồm các xe tăng hạng nặng T54 và các xe tăng lội nước hạng trung PT76. Lực lượng này được yểm trợ bởi bốn mươi mốt tiểu đoàn pháo binh từ cối 80 đến pháo 130mm.


Tất cả những đơn vị này đã được đưa vào dải đất phía Nam vĩ tuyến 17 trong khu phi quân sự rồi theo đường Hồ Chí Minh qua Lào, Campuchia, sau đó rẽ sang quốc lộ 14 mà cộng sản đã chiếm được dần mòn kể từ ngày ngừng bắn.


Chính thức mà nói, thì không có những đơn vị Bắc Việt ở miền Nam Việt Nam. Nhưng trên thực tế, 85% số sư đoàn cộng sản tham gia cuộc chiến ở Tây Nguyên là từ Bắc Kỳ đưa vào. Trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, 50% số quân chiến đấu là từ Bắc Việt tới.


Những đơn vị này chiến đấu dưới lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng cũng không thay đổi gì tính chất. Dưới vỏ bọc bên ngoài, chính là Bắc Việt đang tiếp tục cuộc chiến tranh "của mình” ở miền Nam.


Một nửa số quân của Thiệu đã biến mất

Để bảo vệ lãnh thổ, chế độ độc tài cảnh sát, Tổng thống Thiệu có một đạo quân chính quy lên tới hơn 300.000 quân. Số quân này lại được tăng cường bởi 300.000 binh lính gọi là địa phương quân và dân vệ.
Lực lượng chủ lực Bắc Việt không phải ràng buộc vào việc giữ đất, có thể tập trung nỗ lực vào bất cứ hướng nào do Bộ chỉ huy đề ra.


Từ tháng 12 năm 1974 và tháng 1 năm nay, lực lượng chủ lực Bắc Việt đã thăm dò chiến trường khu vực Tây Sài Gòn.

Và đến tháng 3 thì trận đánh bắt đầu.

Trong vòng bốn tuần, quân đội Sài Gòn bị tổn thất một nửa quân số và phương tiện chiến tranh.

Để thật chính xác thì phải nói rằng, do muốn thu hẹp tuyến phòng ngự, Thiệu đã để mất:

- Tại khu vực dưới vĩ tuyến 17, ba sư đoàn bộ binh, một nửa sư đoàn lính thuỷ đánh bộ.

- Tại khu vực Tây Nguyên: hai sư đoàn bộ binh, bảy liên đoàn biệt động, một lữ đoàn xe bọc thép.

Trên tổng số quân, Bộ Tư lệnh Sài Gòn chỉ có thể thu hồi được đầy đủ một sư đoàn dù, hai trong bốn lữ đoàn thuộc sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, một trung đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 12 và khoảng từ 3.000 đến 4.000 linh thuộc sư đoàn bộ binh 2.


Nhưng, tất cả phương tiện chiến tranh của các đơn vị này đã bị phá huỷ hoặc bỏ lại chiến trường. Có nghĩa là đã bị mất hai phần ba số xe tăng hạng nặng, một nửa số xe tăng hạng trung, một nửa số xe bọc thép vận tải và vào khoảng ba trăm máy bay và máy bay lên thẳng.


6.000 người Mỹ cần di tản

Khi bắt đầu trận đánh Sài Gòn, Thiệu chỉ có một số quân rất hạn hẹp. Bố trí như sau:

- Ở mặt Bắc đồng bằng sông Cửu Long, sáu sư đoàn bộ binh, một sư đoàn dù, hai lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ, năm liên đoàn biệt động, một lữ đoàn xe bọc thép.

- Ở mặt Nam sông Cửu Long một sư đoàn bộ binh, một lữ đoàn xe bọc thép và các lực lượng địa phương quân.

Tổng cộng, chỉ có 150.000 quân chính quy.

Mỹ mới chỉ thay thế được cho Thiệu một phần rất nhỏ các phương tiện đã bị mất. Những máy bay vận tải khổng lồ Galaxie đã đưa tới Nam Việt Nam hai cụm pháo mặt đất, pháo chống tăng và đạn pháo. Thế là hết.
Vào lúc này, quan tâm lớn của đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin là làm sao di tản thật nhanh khoảng 6.000 công dân Mỹ đang có mặt lại Nam Việt dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau.


Còn đại sứ Pháp thì cho xây một bức tường dày bằng gạch ở chung quanh sứ quán và gia cố thêm cánh cổng sắt ở lối vào sân.

Bên này tăng tốc độ, bên kia tăng tinh thần.

Bắc Việt chưa có đủ thời gian để đưa tất cả những sư đoàn từ miền Bắc vừa đại thắng hồi tháng 3 vào vùng châu thổ Cửu Long. Vì đây là một cuộc hành quân dài gần một nghìn kilômét, đòi hỏi phải có thời gian, chưa tính đến việc chuyên chở binh lính trên xe tô vận tải, việc vận chuyển xe tăng, pháo nặng, và nhất là việc tiếp tế các vật liệu cần thiết.


Hôm qua, tôi được nghe một phát ngôn viên của quân đội Sài Gòn là đại tá Hinh trong cuộc họp báo không biết đã tiến hành tới lần thứ bao nhiêu rồi. Gần ba mươi năm nay, những sĩ quan cấp cao đã tiến hành tại đây những cuộc “hội báo" về tình hình chiến sự. Vì vậy, mọi người chỉ nghe bằng một cái tai lơ đãng.


Hinh cố tránh né trả lời hai câu hỏi quan trọng:

1. Liệu Bắc Việt có tiếp tục tiến quân và đánh chiếm ngay Sài Gòn mà không cần chờ đại quân tới?

2. Liệu Nam Việt có quyết tâm chiến đấu đến cùng sau trận thất bại ở mấy tỉnh phía Bắc?

Cứ theo sự trả lời của Hinh xoay quanh hai câu hỏi này thì cuộc chiến tranh thứ ba tại Đông Dương sẽ kéo dài vài ngày hoặc vài tuần. Giới hạn cao nhất là vài tháng.

Nhưng, bằng cách nào thì Thiệu cũng đã thua rồi.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #26 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2008, 07:00:17 pm »

22
CUỘC CHIẾN GIÀNH KIỂM SOÁT CON ĐƯỜNG LÚA GẠO


Chủ Nhật 15 tháng 4

8 giờ rưỡi sáng. Con đường đi về vùng châu thổ vừa mới được mở trở lại. Một chiếc xe ủi đất hối hả lấp lại các hố đạn pháo. Cột điện đã được sửa chữa. Chỉ có những bụi cây chuối bị đạn bắn xơ xác là còn mang vết tích giao tranh.


Tại đây có một làng lớn tên là Bến Tranh, cách Sài Gòn 50 kilômét về phía Nam, trên đường đi Mỹ Tho. Đây là nơi phần lớn lúa gạo được chở về nuôi thành phố Sài Gòn. Chính vì lẽ đó hết đêm này qua đêm khác, cộng sản liên tục cắt đứt đoạn đường nhằm uy hiếp thành phố.


Cùng trong lúc đó, Việt cộng cùng giữ chân một số đơn vị quân đội Nam Việt tại vùng châu thổ, trong khi cuộc chiến đang diễn ra ác liệt tại Xuân Lộc ở phía Đông Bắc. Trận đánh lớn sẽ liến hành từ phía Đông, hoặc cũng có lẽ từ phía Tây là nơi ít nhất Bắc Việt đã tập trung quân.


Một đại tá và mười bốn tù binh

Sáng nay, tại Bến Tranh, có mười bốn tù binh ngồi xổm trong sân Sở chỉ huy sư đoàn 7 quân đội Nam Việt.
Mười ba tù binh bị còng tay hai người một, hoặc bị trói giật cánh khuỷu bằng dây thừng. Người thứ mười bốn, bị thương vào ngực, nằm trên cáng. Thỉnh thoảng, anh ta lại khe khẽ rên nhẹ nhàng.


Tất cả tù binh đều đeo trên cổ mỗi người một tấm biển ghi rõ họ tên lý lịch do phòng nhì thiết lập. Họ đều từ Bắc Kỳ tới. Một số chưa quá mười sáu tuổi. Về phía quân đội Thiệu cũng có những người lính ít tuổi như vậy.
Đi chân đất, mặc bộ đồ quân phục gồm một áo sơ mi ra trận màu xanh nhạt và một chiếc quần dài màu xanh lơ, họ cúi đầu ngồi trong đám bụi, có bức tường che mát, mệt mỏi vì bị phơi mặt trước ống kính của các phóng viên ảnh. Chỉ có một chính trị viên khoảng hai mươi nhăm tuổi, không đeo quân hiệu, cấp hiệu là ngửng đầu một cách tự hào. Người cán bộ này biết rõ quân đội của anh ta đang chiến thắng.


Đại tá Thành đứng trong góc sân trước tấm bản đồ lớn, trình bày lại diễn biến chiến sự. Bản thuyết trình kết thúc bằng một câu: "Tiến triển tốt".


Truy đuổi một kẻ thù vô hình trong ruộng lúa

Cũng ngay trong làng này, đại tá Thành cho trưng bày một số chiến lợi phẩm tịch thu được trong những trận đánh gần đây nhất: pháo không giật, súng phóng rốc két, súng cối nặng và nhẹ, súng trọng liên bắn máy bay và rất nhiều đạn.


Sau đó, chúng tôi được đi thăm cái mà đại tá Thành gọi là "bãi chiến trường". Mọi người rời khỏi đường cái, rẽ vào đường mòn đầy bụi, đi qua nhiều thôn ấp. Cuối cùng đến một bãi đất gồm toàn đồng ruộng, phía chân trời là những rặng cây dừa, cây xoài, cây chuối. Mấy chiếc xe bọc thép đi kèm chúng tôi tới đây, dàn trận bố trí dưới vòm cây. Lính lái xe vặt lá ở các bụi cây nguỵ trang cho xe.


Chúng tôi tiếp tục đi theo lính bộ binh nối đuôi nhau theo hàng dọc trên các bờ ruộng. Lúa đã gặt xong. Đất ruộng khô nẻ chỉ còn lại những bụi rơm rạ màu vàng, bị liềm hái cắt cụt.


Chúng tôi đi mãi dưới mặt trời nắng gắt. Có tiếng pháo nổ gần. Từ phía xa vụt bốc lên những cột khói sau rặng cây Đó là những quả đạn pháo 105 vừa mới nổ. Phía bên trái, những mái nhà tranh bốc cháy dữ dội.
Trong khi đó, những người nông dân vẫn bình thản cào đất. Trẻ con chạy ra khỏi thôn xóm, núp dưới bóng cây, rồi ùa tới chỗ chúng tôi, reo cười, xin thuốc lá hoặc kẹo cao su.

Kẻ thù vô hình vẫn không tìm thấy.


Một kho đạn phát nổ

Quả là một cuộc chiến tranh kỳ quái, không ai biết nổi. Ngay cả đến các sĩ quan đi kèm chúng tôi, vừa đi vừa liên tục dùng máy bộ đàm liên lạc với các đơn vị, cũng không giải thích nổi.

Chúng tôi đến một làng nhỏ, bên bờ sông. Vẫn không thấy có Việt cộng. Nhưng họ không ở xa, vì đột ngột có tiếng súng máy. Tiếng súng từ bên kia sông bắn tới.

Có một người lính Sài Gòn bị thương, nằm trong một chiếc thuyền đáy bằng. Gần đó là hai người lính Việt cộng, nhắm mắt ngủ vĩnh viễn. Phải chăng, chúng tôi được dẫn tới đây chỉ cất để nhìn thấy cái cảnh thảm hại này?

Chúng tôi lại quay trở về Sài Gòn.

Vừa tới gần khu vực ngoại thành, chợt một cột khói đen khổng lồ bùng lên trước mắt chúng tôi. Sau đó là tiếng nổ. Tiếp liền đó là một loạt những tiếng sấm rền, tiếng nổ đua nhau kêu rất to. Đó là một kho đạn vừa bị rốc két bản trúng.

Từ con đường nhỏ dẫn tới kho đạn này, có một nông dân đi ngược trở lại, gánh hai bao tải to buộc ở hai đầu cây gỗ, đặt trên vai. Có lẽ, anh ta chính là người vừa mới vác trong một chiếc bao tải này, quả mìn đã làm nổ tung kho đạn cũng nên!
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #27 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2008, 07:03:29 pm »

23
TẤN BI KỊCH CỦA NHỮNG NGƯỜI DÂN ĐI LÁNH NẠN

Thứ Hai 14 tháng 4

Từ nhiều năm nay, chiến tranh đã chất đống tại Sài Gòn bất hạnh những đám người bèo bọt: những người bị thương đang phải băng bó hoặc què cụt, bị những vết bỏng trên thân thể, mặt và ngực đầy sẹo bom napalm, những người chột, người mù, người chống nạng, những người chạy khỏi xứ Bắc kỳ từ năm 1 954 nay đang sống trong những mái nhà tranh, những túp lều hoặc trong những hành lang, những ngõ hẻm, ngay giữa những đoạn đường sắt bởi vì đã từ lâu không có xe lửa chạy qua nữa.


Cộng thêm vào nỗi thống khổ thầm lặng đó, là thảm cảnh của những người dân lánh nạn sau khi mặt trận Tây Nguyên đổ vỡ.


Truyện phiêu lưu của Hồng

Họ có bao nhiêu người? 300.000 hoặc 400.000, mà có lẽ là 500.000. Tất cả đều trải qua một cuộc phiêu lưu thảm khốc hoặc bi đát Hồng, một sinh viên 18 tuổi, kể lại:

”Tôi rời Nha Trang trên chuyến tàu thuỷ cuối cùng. Con tàu có sức chứa 2.000 người. Nhưng số thực lề trên tàu là hơn 8.000 người. Người chật lèn, suốt bốn ngày bốn đêm không ngả lưng được. Tất nhiên cũng chẳng có gì ăn. Cuối cùng chúng tôi bị đưa lên đảo Phú Quốc ở tận cùng đất nước. Năm ngày sau tôi tìm cách về được Sài Gòn. Nhưng tôi chỉ còn có một mình. Bố mẹ, gia đình đều ở lại Nha Trang. Tôi không còn lấy một xu. Cũng chỉ còn một bộ quần áo đang mặc trên người. Tôi không biết rồi sẽ ra sao. Tôi muốn trở thành một thầy thuốc. Nhưng tôi rất lo không được tiếp tục chuyện học hành.

Hồng đeo ở cổ một cây thánh giá nhỏ bé bằng vàng. Tôi hỏi:

- Anh đi đạo à?

- Vâng. Nhưng tôi đang lo phải bán cây thánh giá để lấy tiền ăn. Cả chiếc đồng hồ đeo tay này nữa.

Có hàng ngàn người như Hồng, hết ngày này sang ngày khác lượn quanh Sài Gòn tìm một việc làm hoặc một chỗ ở nhưng không sao tìm thấy.

Theo thống kê của chính quyền Thiệu có tới hàng triệu người đang thuộc lớp dân chạy nạn. Chính phủ cách mạng lâm thời cho biết, tại khu vực giải phóng gồm sáu triệu dân do họ kiểm soát, cũng có tới một triệu người lánh nạn.


Hội chữ thập đỏ vào việc

Hội chữ thập đỏ dùng từ ngữ "những người di tản" để chỉ những người chạy loạn. Về mặt pháp lý, danh từ "tị nạn” chỉ được công nhận khi người này đã vượt biên giới, sang sống ở một nước khác.

Uỷ ban quốc tế Hội chữ thập đỏ và một chuỗi hệ thống các tổ chức chữ thập đỏ, hợp tác với nhau rất chặt chẽ, không để mất thời gian. Các tổ chức này đã ra lời kêu gọi quyên góp 35 triệu đô la, tương đương 150 triệu franc Pháp cho Việt Nam và đã nhận được 10 triệu đô la, tương đương 43 triệu franc. Một phần số tiền này đã trao cho chính quyền Cộng hoà Việt Nam ở Sài Gòn, tức là giao cho chế độ Thiệu. Một phần tương đương trao cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, qua đại diện thường trực tại Genève.


Cả hai bên đều đang cần những khoản tiền để mua lều bạt, những tấm nhựa làm mái che chống mưa, sữa hộp, đồ hộp, thuốc men.


Những tàu biển tiếp tục cập bến

Tất cả những mặt hàng cứu trợ bắt đầu tới. Hôm nay một chuyến máy bay của Công ty Belair từ Viên Chăn, Lào đang được chờ đón tại Sài Gòn. Ngày mai, chiếc DC4 từ Na Uy cũng tới Nam Việt Nam. Một máy bay Đông Đức đã tới Hà Nội, với mười lăm tấn lương thực. Hội chữ thập đỏ Nhật Bản đã gửi năm mươi tấn cá hộp tới Hải Phòng.


Đó là chưa kể đến sự trợ giúp của Liên Hợp Quốc, của Quỹ nhi đồng quốc tế gọi tắt làng UNICEF, và của nước Pháp gồm có: thuốc men tăng cường cho bệnh viện Grall ở Sài Gòn và sắp tới sẽ cử một đội ngũ bác sĩ và y tế đến Nam Việt Nam tuỳ theo sử dụng của chính quyền Sài Gòn.


Trong khi đó, dòng người lánh nạn vẫn tiếp lục chảy về Nam Việt Nam, nhất là tại Vũng Tàu là nơi các tàu biển từ miền Trung liên tục cập bến hết ngày này đến ngày khác. Đó là những loại tàu nhỏ, trọng tải yếu, chạy thoát khỏi những vùng biển chưa bị Việt cộng và Bắc Việt chiếm, hoặc những tàu thuyền đánh cá thoát khỏi sự canh phòng của các lực lượng cộng sản vì trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh này Bộ tư lệnh miền Bắc đang tập trung chú ý vào các hoạt động chiến sự.


Lính thuỷ đánh bộ là bọn giặc cướp

Trên boong một chuyến tàu như thế này, đã diễn ra những cảnh tượng khủng khiếp. Khi tàu vừa ra khỏi bến cảng Nha Trang, một số lính thuỷ đánh bộ di tản đã bắt đầu thực hiện kiểu làm luật của chúng. Súng lăm lăm trong tay, chúng đe doạ những người dân, tuần tự tước đoạt của cải từng người. Chúng lục tung vai hành lý của họ, lấy tiền, tước đoạt các thứ trang sức. Những người phản kháng bị chúng đánh đập tàn nhẫn rồi vứt xác xuống biển. Rồi chúng hãm hiếp phụ nữ. Một ông bố vừa mới định bảo vệ con gái đã bị chúng giết hại trước cặp mắt sợ hãi của mọi người.


Một số nhân viên hàng hải không dính líu vào những chuyện ghê tởm này. Họ kịp thời gọi điện về Bộ tư lệnh hải quân ở Vũng Tàu.


Khi tàu cập bến, quân cảnh đã dàn hàng đón đợi. Lính thuỷ đánh bộ định bước xuống nhưng nhận được lệnh phải để cho dân thường xuống trước. Họ được mời đứng xếp hàng trên bờ, nhận diện những kẻ đã hành hạ mình. Khi lính thuỷ đánh bộ bước xuống cầu tàu đã có nhiều ngón tay, chỉ vào mặt, nói: “Chính hắn! Và cả tên này! Cả tên này nữa!" Tổng cộng có hai chục tên lính thuỷ đánh bộ phạm tội.

Chúng đã bị bắt và bị xử bắn trước mặt mọi người.


Vấn đề trẻ mồ côi

Trong những giờ phút này, những người di tản đều được tập trung tại các bãi tắm ở Vũng Tàu và ở đảo Phú Quốc. Tại đây cũng có một trại tập trung cũ giam giữ những tù binh Việt cộng. Những người di tản được đưa về sống trong trại tập trung này, với những điều kiện rất gian khổ, dưới sự trông nom của Hội chữ thập đỏ Việt Nam do ông Trung làm chủ tịch, cùng với sự giúp đỡ của Hội chữ thập đỏ quốc tế và của những người tình nguyện rất hảo tâm ở địa phương.


Về vấn đề đau đớn là cảnh ngộ những trẻ em mồ côi, có vẻ như cũng được giải quyết. Có một phi công Mỹ tên là Ken Healey điều khiển chiếc máy bay của hãng World Airways đã tự nguyện đưa tới trại tị nạn 57 trẻ em không có người thừa nhận, được ủ trong những chiếc chăn.


Sau đó, xảy ra tai nạn khủng khiếp của chiếc máy bay vận tải khổng lồ mang tên Galaxie rơi xuống đất vỡ tan cùng với toàn bộ các trẻ em mồ côi chở trong khoang tàu.


Sau tai nạn này, hình như người ta đã không tiến hành những cuộc chuyên chở như vậy nữa, mặc dù cho đến ngày hôm kia, máy bay Mỹ vẫn còn đưa được 329 trẻ mồ côi từ Nam Việt Nam đến tận Los Angeles bang Califomia Mỹ.

Hội chữ thập đỏ quốc tế đã công bố một bản thông báo như sau:

"Hiện nay, vẫn được phép cho các trẻ em mồ côi người Việt được trú ngụ tạm thời ở Mỹ. Nhưng việc công nhận được nuôi chính thức và vĩnh viễn đám trẻ này vẫn còn bị nghiêm cấm, tuy mọi người đều muốn được mang ẵm trẻ con người Việt".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #28 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2008, 08:56:16 pm »

24
NHỮNG NGƯỜI MỸ RA ĐI

Ngày thứ Ba 15 tháng 4

Anh Ten D.Abbot lộ rõ vẻ không hài lòng, nói:

- Xin thề độc là tôi chưa bao giờ phải kê khai đầy đủ quá nhiều giấy tờ thế này trong đời. Về đến Washington có lẽ hoàn toàn trở thành điên.

Ngồi xổm trong hành lang tổng lãnh sự quán Mỹ tại Sài Gòn, Ten dùng hai đầu gối làm bàn viết để kê khai nốt một loạt giấy tờ hợp lệ nhằm cho phép một cô gái Nam Kỳ, 18 tuổi, tên là Mây, mà anh vừa mới cưới làm vợ, được cùng với anh trở về thành phố Phoenix bang Arizona nước Mỹ.


Terry phải ngồi xổm để viết theo kiểu như vậy, vì từ tám giờ sáng, tất cả bàn ghế trong phòng làm việc và ở ngoài hành lang đều đã bị những người khác chiếm giữ. Hàng mấy chục đồng bào của anh đang đứng nối đuôi nhau trước những ô cửa ghi-sê, đặc biệt là tại những ô cửa dành riêng cho việc làm thủ tục khai báo kết hôn, xin nhận con nuôi, xin làm người đỡ đầu. Theo luật, giấy tờ của Terry đều hợp lệ: anh đã tổ chức đàng hoàng hợp pháp lễ kết hôn với cô Mây tại Chợ Lớn từ 5 tháng trước.


Ở bên ngoài, hàng trăm người khác, phần lớn là những phụ nữ trẻ tuổi đang kiên nhẫn chờ đợi trên lối đi trồng hoa và có bóng mát, có cả một chiếc quạt máy to tướng, nhiều ghế ngồi và một bàn phân phối nước đá giải khát.


6.000 hay 150.000?

Khi tôi tới lãnh sự quán, nhân viên gác cổng - mũ lưỡi trai màu trắng, quần dài màu xanh nước biển có sọc đỏ, đeo huy chương - hỏi tôi đến có việc gì? Tôi trả lời đơn giản:

- Như tất cả mọi người.

Anh ta cho tôi vào.

Mọi người cùng vào.

Vấn đề là xin giấy tờ để ra khỏi Việt Nam.

Đứng trước tôi là một người đàn ông trạc khoảng năm mươi nhắm tuổi rút trong ví ra hai tấm ảnh màu: một tấm chụp hình một thiếu nữ Việt Nam rất trẻ, có vẻ chưa quá mười sáu tuổi. Tấm ảnh thứ hai chụp một đứa bé bụ bẫm đang cười. Ông nói với tôi:

- Tôi đang rất muốn mang tất cả hai đứa này về Los Angeles. Nhưng tụi nhân viên đáng nguyền rủa ở đây cứ tìm cách cậy quyền cậy thế, bởi vì tôi kết hôn không hợp pháp. Ông có thể tìm giúp tôi một vị hoà thượng nào có thể tổ chức cho chúng tôi lễ kết hôn tại một ngôi chùa Phật giáo không?

Tôi trả lời:

- Có một cách đơn giản hơn. Ông nên giải quyết việc này với tổng lãnh sự. Đặt tay lên Kinh thánh, thề một câu, thế là xong.

Ông ta đáp lại:

- Ồ! Không được! Con bé đòi bằng được phải làm lễ thành hôn trước bàn thờ tổ tiên. Tôi không muốn làm nó hờn dỗi. Nó kháu khỉnh lắm.

Có bao nhiêu người Mỹ muốn ra khỏi Việt Nam, đi một mình hoặc cùng với gia đình? Người ta nói, có tới 6.000. Nhưng đến ngày mai cũng phải cho di tản tất cả những người Việt đã "cộng tác” với Mỹ. Con số này có thể lên tới 150.000 người. Mà đây là con số chính thức, do đại sứ quán Mỹ ước tính.


Khởi đầu của sự kết thúc

Trong khi đứng xếp hàng trong gian phòng làm việc có máy điều hoà nhiệt độ chạy hết công suất, tôi nói chuyện với những người bên cạnh. Từng người kể lại cho tôi nghe câu chuyện của họ một cách đơn giản. Đây là một kỹ sư. Ông đến đây để xây những chiếc cầu. Xây xong cái nào lại bị Việt cộng phá sập cái ấy. Còn người kia làm việc trong một công ty hàng không. Một người vừa là giáo sư.


Phần lớn những người này đều đã có vợ ở Mỹ. Họ đang hối hả muốn trở về rất nhanh với gia đình. Những người khác đang làm việc ở đây cùng với vợ, con. Họ cũng đang muốn đưa vợ con về nơi trú ẩn an toàn rất nhanh.


Đêm nay, Sài Gòn bị giật mình thức giấc bởi hai vụ nổ rất to. Vụ nổ thứ nhất xảy ra vào lúc trước nửa đêm. Vụ thứ hai vào lúc hai giờ sáng. Thoạt đầu, mọi người nghĩ đây là đạn rốc két từ xa bắn vào trung tâm thành phố. Nhưng thực tế, có lẽ đây là pháo binh cộng sản nhằm vào kho bom đặt ở cạnh căn cứ không quân Biên Hoà.


Nhưng tất cả mọi người vẫn cho rằng đạn rốc két còn có thể rơi xuống Sài Gòn cũng như Nông Pênh.

Một gã đàn ông tóc màu hung, đứng ở cuối hàng, lên tiếng phỏng đoán:

- Rồi các ông xem, ngày 19 tháng 4 này quân Việt sẽ cho một chầu đạn pháo toé lửa. Vì ngày 19 Hạ viện Mỹ sẽ họp tại Washington xem xét yêu cầu của Tổng thống đề nghị thêm một khoản viện trợ phụ cho Việt Nam.


Hầm cố thủ của đại sứ Mỹ

Khi tôi ra khỏi lãnh sự quán, đoàn người vẫn còn xếp hàng dài dằng dặc. Mặc dù trời rất nóng, vẫn còn tới hàng trăm người đang chờ đợi.

Tin đồn về chuyện người Mỹ ra đi, loang khắp thành phố như một thùng thuốc súng. Mọi người dân đều rất lo lắng, bảo nhau:

- Nếu Mỹ ra đi, thế là đi đứt hết.

Hậu quả đã rõ: giá đô la tăng vọt. Trên hè phố, bọn đổi đô la theo giá chợ đen gạ gẫm mọi người, đổi một đô la lấy 1.800 hoặc 2.000 đồng. Hôm qua tỷ giá chính thứ là 720, giá chợ đen là 1.200.

Và cũng chẳng nên tin vào cái bọn buôn lậu này. Hắn giúi cho anh một tập giấy mệnh giá 1.000 đồng, nhưng chỉ có hai tờ ở bên trên và bên dưới gói tiền buộc dây cao su là tiền thật, còn bên trong chỉ là mớ giấy lộn.
Có một người Mỹ duy nhất sẽ không ra đi. Đó là ngài đại sứ Graham Martin, một nhân vật “bám trụ tới cùng”, thường xuyên gặp Thiệu để lên dây cót tinh thần.

- Hãy giữ vững. Không có gì để mất cả.

Đúng là, hãy còn một pháo đài cuối cùng.

Graham Martin không đi ra ngoài sứ quán được bao bọc bằng một bức tường bê tông, được bảo vệ bởi những cặp mắt điện tử. Hễ bật một tín hiệu báo động dù nhỏ nhất, thì những cánh cổng bằng thép tấm tự động khép chặt. Mái bằng của đại sứ quán đã được sửa lại thành bãi đáp cho máy bay lên thẳng. Ban đêm, đèn đỏ bật sáng. Một đại sứ quán khoa học viễn tưởng.


Bức tranh khủng khiếp

Cách đây vài hôm, ở Sài Gòn chỉ còn lại có đại sứ Graham Martin và số cố vấn thân cận. Tất cả những người Mỹ hậu vệ của đội quân khổng lồ đã từng một thời làm cho người ta ngỡ rằng sẽ đem lại một chiến thắng nhân danh lự do và dân chủ, cũng sẽ ra đi.


Sẽ ra đi, tất cả những cố vấn kỹ thuật, tất cả những quan sát viên, tất cả những "người ký hợp đồng" viện trợ cho các ban tham mưu và các đơn vị chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam.

Sẽ ra đi, những lính gác đội mũ lưỡi trai màu trắng, mặc quần dài màu xanh thẫm có nẹp đỏ.

Sẽ ra đi, những nhân viên CIA, ít nhất là những điệp viên đã quá lộ mặt, mà dân chúng thường nhìn thấy ngồi trong những chiếc xe tô đồ sộ màu xanh da trời đi ngang dọc khắp thành phố.

Chỉ còn lại có ngài đại sứ trong đại sứ quán được mệnh danh là "lâu đài - pháo đài” từ thời người tiền nhiệm là ông Bunker, được gọi theo kiểu chơi chữ là Bunker's Bunker, có nghĩa là boong ke của Bân - cơ.

Có lẽ ngồi trong boong ke này, đại sứ Graham Martin có lần đã nhìn thấy bức tranh vẽ trên tờ Thời báo vừa xuất bản tuần trước. Tranh vẽ một đoàn dài người Việt đi lánh nạn, chạy khỏi một thành phố đã đổ nát. Trong đoàn người di tản này có hai nhân vật cúi đầu ra đi. Đó là Tổng thống Ford và Ngoại trưởng Henry Kissinger. Nhân vật thứ hai cũng xách trong tay một chiếc vai mở tung, bên trong nhìn thấy rõ một mớ giấy lộn.

Hẳn đó là các bản hiệp định ký kết ở Paris.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #29 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2008, 09:00:02 pm »

25
MỘT TU SĨ DÒNG CHÚA CỨU THẾ TUYÊN BỐ CHỐNG THAM NHŨNG


Thứ Tư 16 tháng 4

- Số phận Tổng thống Thiệu đang tính từng ngày. Chỉ vài hôm nữa, ông ta sẽ bị lật đổ bằng một cuộc đảo chính quân sự.

Người vừa mới khẳng định bằng một giọng chắc nịch với chúng tôi câu này là Trần Hữu Thanh, tu sĩ dòng Chúa Cứu thế, chủ tịch "Phong trào đấu tranh chống tham nhũng nhằm cứu nước và cứu vãn hoà bình".
Dù thật hay giả, thì lời tiên tri này cũng thể hiện bầu không khí rất phẫn nộ đối với chế độ Thiệu, đang bốc cao trong các giới đối lập ở Sài Gòn.


Cha Thanh hồi đó trạc khoảng năm chục tuổi, tóc hoa râm, cặp mắt màu nâu tinh anh lấp lánh sau cặp kính gọng vàng, chiếc áo choàng đen mặc vừa khít, cổ cao có lót tấm nhựa mỏng, tiếp đón tôi trong vườn khu nhà tu. Đây là một ốc đảo thanh bình, mát mẻ giữa trung tâm thành phố. Từ lúc rạng đông, tiếng pháo từ Xuân Lộc là nơi Cộng quân mở cuộc tiến công lớn vọng về gấp đôi khi trước.


Cha Thanh rất ghét Thiệu, gọi Thiệu là "một kẻ đích danh tham nhũng". Chính nhằm chống lại sự thối nát của chế độ mà ngày 18 tháng 6 năm 1974 nhà tu hành nhỏ bé này đã độc lực tuyên chiến với tổng thống.


“Các bạn tôi đều đã bị bắt”

Từ bữa đó, phong trào phát triển dưới sự ủng hộ của tổng giám mục Sài Gòn là đức cha Nguyễn Văn Bình vừa mới tham gia phe đối lập. Một uỷ ban được thành lập gồm khoảng hai chục dân biểu, thượng nghị sĩ và những nhân vật tiến bộ, do cha Thanh làm chủ tịch.

Cha Thanh nói với tôi:

- Trong những ngày gần đây, bốn người bạn của tôi đã bị bắt, trong đó có hai luật gia, một cựu tỉnh trưởng và một thẩm phán toà án tối cao. Tôi không biết tình hình của họ hiện nay như thế nào, trừ ông thẩm phán trong một bức thư gửi được về nhà cho vợ, báo tin ông đang tuyệt thực để phản kháng. Nhiều người bạn khác của tôi cứ tối đến là bị cảnh sát đến khám nhà, có người phải đổi chỗ đi nơi khác. Bản thân tôi đi bất cứ đâu cũng bị theo dõi. Ngay tại khu vực Nhà Chung này cũng có hàng chục mật vụ mặc thường phục, thường xuyên theo dõi ở chung quanh.

Linh mục không che giấu sự chán nản do Mỹ gây ra. Đáng lẽ phải tìm mọi cách tống khứ Thiệu thì người Mỹ chẳng làm gì cả. Ông nói tiếp:

- Và đến bây giờ thì Mỹ bỏ đi. Ông có biết không? Mỹ đã gài mìn vào tất cả những trạm ra đa và trạm thu tin của họ, chuẩn bị cho nổ đấy!


Bốn linh hồn của Thiệu đang bị đẩy xuống địa ngục

Theo cha Thanh, Tổng thống Thiệu có bốn linh hồn đáng nguyền rủa vây quanh. Đó là bốn viên tướng hầu cận, biết rất rõ tội trạng của mình đối với đất nước nên đã dùng Thiệu như lấm lá chắn. Vì vậy, họ đã làm bất cứ điều gì có thể làm để giữ Thiệu ở lại ngôi tổng thống.

Bốn linh hồn đáng đầy xuống địa ngục đó là:

- Tướng Quang, cố vấn an ninh của Thiệu, đã từng giữ chức Tư lệnh quân khu 4 tại vùng châu thổ sông Cửu Long. Đây là viên tướng tham nhũng nhất và là một trong những kẻ giàu nhất.

- Tướng Toàn, tư lệnh quân khu 3 sau khi đã làm tư lệnh quân khu miền Trung Việt Nam, bị kết tội tham ô, hủ hoá rồi lại chuyển về quân khu 2 và bị bãi chức vì quá nhiều tai tiếng. Bây giờ thì tướng Toàn được giao chỉ huy binh chủng xe bọc thép, lộng hành ngay tại Sài Gòn.

- Tướng Tấn là một đại tá vừa mới được cất nhắc, đồng loạt với năm sĩ quan cấp cao ngành cảnh sát.

Đây là viên tướng hung ác nhất và cũng là một trong những tên trùm cảnh sát.


“Thiệu chỉ nhường bước khi nào bị dí súng vào thái dương"

Cha Thanh khẳng định:

- Thiệu là một kẻ rất ngoan cố, không thể dùng lý lẽ để thuyết phục được. Thiệu chỉ chịu nhường bước khi nào bị dí súng ngắn vào tận thái dương.

Đó là điều sẽ có thể xảy ra.

Lúc này, chưa thể nghĩ đến một cuộc nổi dậy của dân chúng. Nhưng chúng tôi có thể sẽ được chứng kiến một cuộc đảo chính quân sự. Trong những ngày tới, rất có thể một số đơn vị quân đội sẽ làm một cái gì đó để loại trừ Thiệu. Họ cố đạt được mục đích mà không đổ máu.

 - Cha chắc chắn chứ?

- Tuyệt đối tin chắc. Chỉ vài ngày nữa sẽ xảy ra đảo chính. Và nhất định phải đảo chính vì không còn cách nào khác.

- Rồi sau đó?

- Sau đó, sẽ có một chính phủ thống nhất dân tộc, bao gồm tất cả mọi khuynh hướng, kể cả cánh tả. Chính phủ này sẽ thương lượng với "phía bên kia".


Tôi không phải là nhà chính trị

Cha Thanh tiếp tục nói:

- Cộng quân đang tiến quá nhanh. Vì vậy họ không thể nắm chắc được mười hai triệu dân miền Nam. Họ sẽ còn tiếp tục đánh tiêu hao Sài Gòn một thời gian nữa. Rồi sau đó họ mới thôn tính Sài Gòn một cách hoà bình nhất. Còn chúng tôi, chúng tôi có thể đấu tranh một cách có hiệu quả với cộng sản nếu chúng tôi biết tiến hành một cuộc cách mạng kinh tế, xã hội và thiết lập một chính quyền thật sự của dân.

Qua lời phát biểu của cha Thanh, tôi biết linh mục này cũng chống cộng chẳng kém gì chống Thiệu. Tôi hỏi ông:

- Cha không sợ hay sao?

- Không!

- Không bao giờ sợ?

- Không bao giờ. Tôi không phải là một nhà hoạt động chính trị. Tôi chỉ lao vào hành động vì tình yêu đối với đất nước và lý tưởng tôn giáo.

- Tôi có thể nhắc lại những lời cha vừa nói chứ?

- Nhất định rồi. Đó là những điều mà ở bên Pháp cũng cần biết.

Trong vườn Nhà Chung, có trồng những cây hoa nhài, thỉnh thoảng tiếng pháo lại làm gián đoạn tiếng chim hót.

Tiếng chuông nhà thờ báo đã giữa trưa. Cha Thanh nói:

- Xin lỗi. Đã đến giờ cầu kinh Đức Bà.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM