Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Kiến thức quốc phòng => Tác giả chủ đề:: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:27:36 am



Tiêu đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:27:36 am
Thiếu tướng Nguyễn Sơn, lưỡng quốc tướng quân

(http://img254.imageshack.us/img254/9563/thieutuongnguyenson.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Sơn (01/10/1908 – 21/10/1956), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu IV Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu” Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Huân Chương Quân công hạng Nhì của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Huân chương Bát nhất hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Có tượng đồng đặt tại Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam (Hà Nội) và Bảo tàng Giải phóng quân Trung Quốc (Bắc Kinh). Tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có 2 con đường mang tên ông - Nguyễn Sơn - viên tướng duy nhất trên thế giới làm tướng của 2 quốc gia.

Thiếu tướng (1948 trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội)


“Tướng quân Hồng Thủy đã có cống hiến rất lớn cho cách mạng Trung Quốc..., nhân dân Trung Hoa mãi mãi nhớ ơn” (Nguyên Soái Bành Đức Hoài, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc)

“- Không chính xác! Đồng chí ấy tham gia quân đội từ thời kỳ Hoàng Phố, liệu xem có thể sửa thành tướng cấp quân đoàn chính quy được không?...” (Chủ tịch Mao Trạch Đông)

“Hồng Thủy quả là một con ngựa bất kham đấy, điều khiển không tốt, không cẩn thận, đồng chí ấy sẽ... đá người khác đấy!” (Chủ tịch Mao Trạch Đông)

‘’Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cộng sản kiên định, một con người có khí phách, có chút ngang tàng, có khả năng về chính trị, về tuyên truyền, về văn nghệ. Anh lại có phong cách rất riêng - rất là Nguyễn Sơn. Anh coi trọng bạn bè, coi trọng con người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ kế cận.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong lòng mỗi người chúng ta, anh vẫn còn sống mãi với hình ảnh một người cộng sản kiên định, một người bạn, người đồng chí, một người chiến hữu thân thiết và rất mực chân thành, suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta và nước bạn.’’ (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)


Thiếu tướng Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, bí danh Lý Anh Tự, Hồng Thủy, quê tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Nguyễn Sơn rời quê hương sang Pháp năm 1923. Năm 1925, ông tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng ông hội, được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Trung Quốc học Trường Võ bị Hoàng Phố.

Tháng 8/1927, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12 năm 1927, ông tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu. Năm 1929, ông tham gia Hồng quân Công nông Trung Quốc, lần lượt giữ các chức vụ; Chính trị viên Đại đội, Chính uỷ Trung đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 34, Quân đoàn 12. Tháng 1/1934, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hoà Xô viết Trung Hoa, Uỷ viên Chính phủ Dân chủ Công nông Xô Viết Trung ương. Từ năm 1934 - 1936, ông tham gia “Vạn lý trường chinh”. Sau đó là Tổng Biên tập báo “Kháng địch” của Biên khu Tấn Sát Ký.

Trong cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc nhằm rút lui, bảo toàn lực lượng, lập căn cứ mới thuận lợi kéo dài hơn một năm, trải dài hai vạn năm ngàn dặm. Lúc đi 72 vạn người, đến nơi còn 7 vạn 2, phải vượt qua núi tuyết, vượt qua đồng cỏ mênh mông hoang vắng. Vậy mà Nguyễn Sơn đi tới 3 lần trên con đường ấy để tiền trạm và giải quyết thương bệnh binh. Gần 2 năm trời hành quân có lúc đi môt mình, lạc đường đến vùng dân tộc thiểu số ông phải giả câm xin chăn dê để có cơm ăn, dưỡng sức tìm đường. Về tới Diên An gầy ốm như một bộ xương, quần áo rách không ai nhận ra. Trong khoảng thời gian ấy ông bị khai trừ Đảng 3 lần vì đấu tranh với những điều sai trái và bị vu cáo là phản động, là gián điệp quốc tế, có lúc suýt bị chặt đầu. Nhưng cấp trên nhận ra sai trái lại khôi phục Đảng tịch cho ông. Năm 1938, ông là giáo viên chính trị Trường Cán bộ quân chính kháng Nhật, Biên khu Tấn Sát Ký.

Tháng 8/1945, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông về nước tham gia lực lượng vũ trang. Tháng 10-1945, Chính phủ quyết định thành lập Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Trên thực tế lúc này Uỷ ban kháng chiến Miền Nam mới chỉ đạo được ở các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Bộ vẫn còn do xứ uỷ Nam Bộ lãnh đạo. Uỷ ban kháng chiến miền Nam do Tướng Nguyễn Sơn được Trung ương phân công làm chủ tịch. Vào cuối tháng 11-1945, trước khi vào Nam công tác, ông đã cùng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái bàn bạc việc thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng hai trường quân sự (Một trường ở miền Bắc và một trường ở miền Nam). UBKC miền Nam Việt Nam lúc ấy được Trung ương chỉ định ông Hoàng Quốc Việt uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng làm chính trị uỷ viên; tướng Nguyễn Sơn làm chủ tịch kiêm Hiệu trưởng trường Trung học lục quân Quảng Ngãi; tướng Nguyễn Chánh làm uỷ viên UBKC miền Nam Việt Nam đồng thời là uỷ viên Trưởng quốc phòng Trung bộ (chủ yếu là các tỉnh phía Nam Trung Bộ), sau này gọi là Liên khu 5.

Tháng 12/1945, thực dân Pháp từ phía Đông Nam Bộ đã đánh lấn lần lượt chiếm các vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai thượng, Daklak, rồi đến Nha Trang, Khánh Hoà và cả Tây Nguyên. Quân đội ta còn non trẻ lại phải đương đầu với một lực lượng mạnh của quân lê dương Pháp, cộng với hàng nghìn quân Nhật thiện chiến. Tuy vậy quân ta vẫn cương quyết chống cự, không cho chúng lấn ra Phú Yên và ở Tây Nguyên, chúng chỉ có thể lập căn cứ An Khê, phía ngoài Pleiku.

Tướng Nguyễn Sơn đã cùng với UBKCMN chủ trương tập trung lực lượng đánh sâu vào vùng địch hậu ở Khánh Hoà, đồng thời tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cho các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận... tăng cường đánh địch. Thế trận ta hoàn toàn chủ động, nhất là sau khi giặc Pháp phản bội hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Tháng 4/1946, Nguyễn Sơn cho mở lớp bổ túc cán bộ Trung đoàn, đồng thời xúc tiến chiêu sinh, mở trường Trung học Quân sự tại Quảng Ngãi do ông làm hiệu trưởng khai giảng vào ngày 19/5/1946.

Tháng 1/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu. Tháng 7/1947, ông là Khu trưởng kiêm Chính uỷ Liên khu 4. Ngày 19/ 1/ 1948, ông được Chủ tịch Chính phủ phong quân hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội theo sắc lệnh số 111/SL.

Tháng 10 năm 1950, ông trở lại Trung Quốc, phụ trách khoa Việt Nam bán Mặt trận thống nhất Trung ương và học tại Học viện Quân sự Nam Ninh. Năm 1954, ông tốt nghiệp loại xuất sắc, được cử đến Bộ Tổng Giám Huấn luyện Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giữ chức Phó cục trưởng Cục Điều lệnh. Sau đó được bổ nhiệm Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu”. Ngày 27/9/1955, ông được Nhà nước Trung Quốc phong quân hàm thiếu tướng. Ông là vị tướng duy nhất của Trung Quốc là người nước ngoài.

Năm 1956, do bệnh tình trầm trọng, ông xin về nước và đã từ trần ngày 21/10/1956. Lễ tang được Nhà nước Việt Nam tổ chức trọng thể và an táng tại nghĩa trang Mai Dịch. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm và bài viết về quân sự và văn học bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc.

Tướng Nguyễn Sơn là một người có tài diễn thuyết và phát biểu trước đám đông. Lý luận của ông có tình, có lí lại không cứng nhắc rất dễ đi vào lòng người. Chính nhờ tài năng này đã giúp ông hoàn thành xuất sắc công tác dân vận suốt cuộc Vạn lý trường chinh ở Trung quốc rồi trong quãng thời gian làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam rồi Tư lệnh quân khu IV.

Tướng Nguyễn Sơn là người có lòng nhân ái, thương yêu cán bộ, chiến sĩ dưới quyền của mình; chan hoà mật thiết với đồng bào, cả những đồng bào tôn giáo luôn tỏ thái độ thân ái, đoàn kết và cởi mở. Các vị cao tăng, linh mục, tu sĩ đều tỏ lòng quý mến. Ông rất giản dị, với bộ quần áo chàm, may theo kiểu áo người dân tộc thiểu số miềm Bắc, miệng luôn ngậm tẩu thuốc, y hệt như người nông dân bình thường, không ai biết đó là vị tướng.

Tướng Nguyễn Sơn còn là một người rất yêu và am tường văn hóa – nghệ thuật, đồng thời biết trân trọng các văn nghệ sĩ. chính Nguyễn Sơn là ngưòi bênh vực, bảo vệ, cho khôi phục các hình thức sân khấu tuồng, chèo vì sau Cách mạng tháng Tám bị những người hữu khuynh toan dẹp bỏ. Ông chi tiền để nhân dân Thanh Hóa dựng lại Hội Múa dân gian cổ truyền. Ông mời Đinh Ngọc Liên - Quản Liên vốn chỉ huy đội kèn Bảo an của Bảo Đại-trao nhiệm vụ khôi phục lại đội kèn, bây giờ là đoàn quân nhạc của quân đội ta. Ông cũng rất khuyến khích phát triển các vốn cổ văn hóa nghệ thuật truyền thống: tuồng, chèo, cải lương, dân ca... Chuyện ông tướng quân sự mà giảng về kịch Lôi Vũ suốt mấy buổi liền vẫn hấp dẫn người nghe. Đến người dịch Lôi Vũ từ tiếng Trung qua Việt ngữ – Đặng Thai Mai – nghe xong cũng phải thốt lên lời khâm phục sự uyên thâm văn học của Nguyễn Sơn.

Tướng Nguyễn Sơn luôn có cái nhìn, cách nghĩ vô cùng nhân văn. Ông không thích những thứ cứng nhắc, khuôn mẫu, gò ép con người…điều này thể hiện rõ qua cái cách mà ông bảo vệ truyện Kiều. Ông phê phán những Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế... đã đành. Ông còn làm giật thót người, tái mặt cả những Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trương Tửu... và cả cụ Huỳnh Thúc Kháng. Phê rằng nghiên cứu Kiều mà đứng trên lập trường chính trị, lấy quan điểm con người thời nay để chê bai Nguyễn Du là “tiêu cực”, là “định mệnh”, là “có hậu” một cách gượng gạo v.v..., thì thật là phi lịch sử... Tướng Nguyễn Sơn không thích nghe những như: “Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường...” hay “Không quân Việt Nam lướt bay rầm trời... bom đạn gầm réo”... bởi theo ông thì “Nó đế quốc quá!”.

Là một người tham gia Việt Nam thanh niên Cách mạng hôi từ rất sớm, lại tham gia cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung quốc nghĩa là ông là một người Cộng sản thực thụ. Nhưng qua những gì ông thể hiện thì ông chỉ là một người chiến đấu giành độc lập, hòa bình cho Tổ quốc, chống lại chiến tranh và xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc. Với ông Tổ quốc là trên hết.


Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân, Báo điện tử Quảng Ngãi.


Tiêu đề: Trung tướng Lê Quang Đạo, vị Chủ tịch Quốc hội là tướng trong Quân đội
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:32:47 am
(http://img573.imageshack.us/img573/3862/trungtuonglequangdao.jpg)

Trung tướng Lê Quang Đạo (8/8/1921 – 24/7/1999), nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2003), Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Huân chương Itxala (Itxala: Nhân dân) của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Thiếu tướng (1959), Trung tướng (1974)


"Yêu anh từ lần gặp đầu tiên. Người ấy đã mang trong mình một sức mạnh làm tôi tin tưởng gửi gắm cả cuộc đời" (Nhà văn Nguyệt Tú, vợ Trung tướng Lê Quang Đạo).

‘’Anh Lê Quang Đạo có đức tính thật quý báu, rất hiếm có của một cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và của quân đội mà không phải nhiều người đều có được. Đức tính quý báu ấy của anh có sức cảm hoá lòng người mà bất kỳ ai, dù chỉ được một lần gặp anh cũng đều có được cái cảm nhận sâu sắc ấy.’’ (Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên).

“Không có sự lựa chọn nào tốt hơn, un choix heureux (một sự chọn lựa thích hợp)” ( Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nói khi Trung tướng Lê Quang Đạo được đề xuất giữ trách nhiệm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)


Trung tướng Lê Quang Đạo tên thật là Nguyễn Đức Nguyện quê tại xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra ông còn các bí danh sau đây : Nho Mẫn, Minh, Miện, Đăng, Trần Hoạt… Năm 1938, ông tham gia phong trào thanh niên dân chủ ở Hà Nội. Năm 1939, ông tham gia phong trào thanh niên Phản đế Đông Dương, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940.

Từ năm 1940-1942, ông là Bí thư chi bộ xã Đình Bảng, Uỷ viên Ban cán sự phủ Từ Sơn, Uỷ viên Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Phúc Yên rồi làm Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc kỳ. Từ năm 1943 đến tháng 5/1945, ông là Bí thư Ban Cán sự Hà Nội, Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ, phụ trách tờ báo “Quyết thắng” và các lớp huấn luyện Việt minh ở Chiến khu Hoàng Hoa Thám. Tháng 8/1945, ông là Chính trị viên Chi đội Giải phóng quân tỉnh Bắc Giang, tham gia lãnh đạo tổng khởi nghĩa ở Bắc Giang.

Từ cách mạng Tháng Tám năm 1945-1948, ông giữ các chức vụ: Bí thư thành uỷ Hải Phòng, Hà Nội, Phó Bí thư Khu uỷ đặc biệt Hà Nội Xứ uỷ viên Bắc kỳ, Bí thư Liên tỉnh uỷ Hà Nội – Hà Đông, Uỷ viên thường vụ Liên khu uỷ Liên khu III, phụ trách công tác tuyên huấn. Năm 1949, ông là Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng.

Từ năm 1950-1976, ông công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam và được giao nhiều trọng trách: Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó Chủ nhiệm Chính trị Chiến dịch Điện Biên Phủ, Phó trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Việt Pháp, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Bí thư Đảng uỷ và Chính uỷ Mặt trận giải phóng Quảng Trị. Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Quân uỷ Trung ương. Năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng. Năm 1978, ông là Phó Bí thư thành uỷ Hà Nội, Chính uỷ Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hà Nội.

Năm 1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, ông được bầu làm Uỷ viên Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng, trực tiếp làm Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. Từ năm 1983-1987, ông giữ các chức vụ: Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách công tác dân vận của Đảng, Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ông tiếp tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 6/1987, tại kỳ họp lần thứ nhất khoá VIII, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Tháng 11/1988, tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ III đã bầu ông vào Đoàn Chủ tịch Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ tháng 8/1994 đến tháng 7/1999, ông làm Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ( khoá IV).

Một con người ‘‘trắng trẻo, nhỏ nhắn, thư sinh, cặp kính cận to dày’’ như Trung tướng Lê Quang Đạo, nếu không nói ra, ít ai nghĩ rằng ông là một vị tướng. Một vị tướng đã từng tham gia hoạt động cách mạng từ những ngày tiền khởi nghĩa. Một vị tướng đã từng tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành chính quyền tại Bắc Giang với tư cách là Chính trị viên Chi đội. Và một vị tướng đã từng tham gia chỉ huy Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Là một người làm công tác Chính trị, một Chính ủy nhưng ông là một người rất uyên bác về Quân sự.

Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Trang thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, nữ tướng của đội quân tóc dài
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:38:43 am
(http://img638.imageshack.us/img638/3497/thieutuongnguyenthidinh.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định (15/3/1920 – 26/8/1992), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy tặng 30/8/1995), nguyên Thiếu tướng Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Giải thưởng Hòa bình Lê-nin, Huân chương Plâya Giron và Huân chương Ana MariaGranajales của Nhà nước Cu-ba.

Thiếu tướng (1974)


"Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị nữ tướng quân như vậy. Thật là vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta" (Chủ tịch Hồ Chí Minh).

"Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thǎm Bà - một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của Bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống Cách mạng Việt Nam" (Giáo sư sử học Christine Whate trường Đại học Tổng hợp Hawai, trong một lá thư gửi Thiếu tướng Nguyễn Thị Định).

“Sự thực là có chị Ba Định ở Bộ Tư lệnh, nhiều việc cụ thể ở chiến trường đã được làm sáng tỏ. Dưới sự chỉ đạo của anh Nguyễn Chí Thanh ở cương vị Chính ủy, chúng tôi được phân công giúp chị nắm những vấn đề cơ bản về chỉ huy và công tác tham mưu quân đội, cũng như công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, đồng thời chúng tôi cũng học tập được ở chị nhiều kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo đấu tranh chính trị và trong công tác xây dựng phong trào quần chúng.

Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về sự thông minh và hiểu biết nhanh chóng của chị về các vấn đề quân sự. Chỉ sau một thời gian không dài, chị đã có nhiều ý kiến đóng góp có giá trị trong việc chỉ huy lực lượng tổng hợp trên chiến trường.

Trong công tác, chị bộc lộ khá rõ sự năng động và tinh thần tích cực, hết mình trong mọi việc. Chị hầu như có mặt trong tất cả các cuộc hội nghị tổng kết về chiến tranh du kích, trong Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua của Miền. Chị đi thăm các sư đoàn, trung đoàn chủ lực, các đơn vị binh chủng không chỉ ở nơi đóng quân mà còn ở mặt trận. Chị quan tâm cụ thể đến việc tổ chức, huấn luyện, tác chiến và cả việc ăn ở, giải trí của chiến sĩ.

Anh em tiếp đón chị với cương vị người chỉ huy, đồng thời như người chị cả thân thương, họ thường gọi chị bằng cái tên “Chị Ba” trìu mến. Anh Nguyễn Chí Thanh có lần nói vui với chị là “Chúng tôi ghen với chị về lòng thương yêu, quý mến của cán bộ, chiến sĩ đối với chị đấy...”. (Thượng tướng Trần Văn Trà)

"Bước vào lán của chị Ba, cái đập vào mắt trước tiên là tấm bản đồ không ảnh toàn miền Nam bằng lụa treo trên vách. Kế đó là chồng sách quân sự. Trên bàn làm việc của chị lúc nào cũng có một quyển đang xem dở. Chị nghiên cứu, chị học ngày, học đêm chiến thuật chiến tranh hiện đại. Nhớ hôm địch tấn công vào căn cứ, Bộ Tư lệnh phải di chuyển đến nơi an toàn, mỗi người ở cách xa nhau trong cự ly một quả bom đìa để hạn chế bom sát thương một lúc hai người. Bên bờ suối hoang vắng, chị vẫn đọc sách...Tôi mời chị đi xem đơn vị diễn tập, chị vui vẻ nhận lời, và tôi đã tổ chức bảo vệ chị đi chu đáo. Chị tham quan diễn tập với cặp mắt và bộ óc của người chỉ huy binh chủng hợp thành. Chị chỉ ra những chỗ cần phải suy nghĩ thêm, khi chiến đấu ở đồng bằng với điều kiện địch chiếm ưu thế tuyệt đối về không quân, pháo binh, xe thiết giáp, đổ bộ trực thăng. Phải công nhận rằng, với bề dày kinh nghiệm lăn lộn đấu tranh nhiều năm qua, chị biết địch biết ta, am hiểu thời tiết, địa hình, chị tiếp thu nghệ thuật tác chiến hiện đại khá nhanh với nhiều hứa hẹn sáng tạo.." (Thiếu tướng Bùi Cát Vũ)

“Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần" (Giáo sư Trần Văn Giàu, trong lời đề tựa cuốn Nhớ chị Ba Định).

Với các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam Thiếu tướng Nguyễn Thị Định luôn được gọi bằng cái tên trìu mến "Cô Ba Định"

Và trong lòng người dân Việt Nam: "Nǎm 1992 Nguyễn Thị Định qua đời sau một cơn đau tim đột ngột, hầu hết các tỉnh, thành Hội phụ nữ trong cả nước đều lập bàn thờ để tưởng nhớ đến Bà, theo triết lý dân gian: "Sống làm tướng chết thành thần". Nhân dân Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Tây nơi thờ Hai Bà Trưng đã rước bát hương thờ Bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà như một vị nhân thần mới. Nhiều địa phương đã đặt tên trường học Nguyễn Thị Định, quỹ hỗ trợ trẻ em nghèo hiếu học mang tên Nguyễn Thị Định". (Theo Phụ nữ Việt Nam)


Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân có 10 người con (bà là con út cho nên thường tên thường gọi lúc nhỏ là Út) ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà sinh ra với thể chất yếu đuối, ốm nhom vì hen suyễn. Đến tuổi đi học, do trường học xa nhà, ở trọ thì tốn kém, bà không được đi học, đành ở nhà học chữ với người anh thứ ba tên là Chẩn. “Người thầy” ấy có ảnh hưởng sâu sắc với cuộc đời cô về nghĩa khí Lục Vân Tiên, về chí hướng đánh Tây, giành độc lập cho đất nước.

Bà tận mắt chứng kiến anh trai tham gia cách mạng, bị bắt, bị đánh đập trong nhà giam ở quận. Bà đứng nhìn, căm thù mà không biết làm gì để cứu anh ra, đành khóc tức tưởi. Từ đó, những câu hỏi về thời cuộc, về cách mạng nảy nở trong đầu bà. Cô hiểu và tin làm cách mạng là việc tốt nhưng là việc rất khó, là con gái chắc không thể làm được. Có thể nói bà đến với Cách mạng trước hết là do sự dìu dắt, hướng dẫn của người anh trai.

Năm 16 tuổi, bà rất đẹp, da trắng, môi đỏ, tóc xoăn, một vẻ đẹp rất đặc biệt. Nhiều gia đình giàu có đánh tiếng dạm hỏi. Tuổi cô thời ấy con gái đã lo lấy chồng nhưng bà không quan tâm đến điều hệ trọng ấy. Bà nói “Nếu lấy chồng, phải là người cách mạng, em mới ưng”. Đó cũng là năm phong trào dân chủ lên cao. Bà say sưa lắng nghe anh trai và các bạn của anh diễn thuyết, rồi tham gia rải truyền đơn, làm giao liên, lo cơm nước cho các anh, tham gia các hội tương tế ái hữu, cổ động báo “Dân chúng"...

Tháng 10 năm 1938, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Được tổ chức Cách mạng và người anh trai mai mối, bà kết hôn với một người Đồng chí của mình tên là Bích. Nhưng hạnh phúc đến với vợ chồng Út Định chưa bao lâu thì giông tố ập đến. Mới sinh con 3 ngày (đây là người con duy nhất của bà tên là Nguyễn Ngọc Minh, tên thường gọi là On. Sau tập kết ra Bắc học ở trường học sinh miền Nam ở Đông Triều, Quảng Ninh. On mắc bệnh nặng rồi nằm lại nghĩa trang Văn Điển), mật thám đến nhà vây bắt chồng bà rồi sau đó bị kết án 5 năm tù và 5 năm đầy đi biệt xứ. Đây là thời điểm sau Nam kỳ khởi nghĩa 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện.

Ngày 19/7/1940, bà bị mật thám vây bắt và đưa về khám Lá ở Bến Tre cùng với con trai. Sau đó, Thực dân Pháp tuyên bố đưa bà đi giam giữ ở "căng" Bà Rá và buộc bà phải gửi con về nhà khi con bà mới có 7 tháng tuổi. Trước khi đưa chồng bà ra Côn Đảo và bà đi Bà Rá, Pháp đưa cả hai người đến một nhà giam ở Sài Gòn. Tuy nhiên, hai vợ chồng bà không hề biết điều này.

Tại Bà Rá bà bị xếp và nhà B, nơi dành riêng cho tù nữ chính trị, ở đây mọi người gọi bà là Ba Bích (theo tên chồng). Tại đây bà tiếp tục hoạt động và là trung tâm đoàn kết của khu nhà B, trước hết là việc đoàn kết tù nhân nữ nhằm chống lại những trò chọc ghẹo của những tên cò Tây. Bà còn bày thêm kinh nghiệm là bọn quản tù hay chụp nắm tóc phụ nữ trước khi đánh. Vì vậy, chị em nên cài ít kim may vào trong búi tóc, để khi chúng chụp vào đầu tóc chị em, tay bị kim đâm, sẽ bỏ ra ngay. Tới lúc đó, chị em có thì giờ để đối phó...

Tên quan ba nổi tiếng tàn ác, có thú tính thích nhìn thấy máu đổ, thích xui chó béc-giê cắn xé tù nhân cho ra máu lai láng, bắt bà bước ra sân, giơ cao vỏ chai đựng rượu làm đích cho hắn bắn. Hắn vừa muốn khoe tài bắn súng vừa "nắn gân" bà “chuyên xách động nữ tù đấu tranh”. Nếu bà không chịu bước ra, không giơ cao chai rượu cho hắn nhắm bắn, hắn sẽ có dịp bêu riếu chị là hèn nhát. Còn nếu thể hiện chí khí, viên đạn của tên quan ba có thể cắm vào cơ thể bà. Bà bình tĩnh bước ra sân rồi giơ cao vỏ chai rượu lên. “Đoàng”. Tiếng súng nổ, vỏ chai vỡ toang. Hắn khoái chí cười khanh khách. Chưa thỏa mãn thú tính, hắn bắt bà tháo chiếc vòng cẩm thạch đang đeo ở tay - kỷ vật chồng chị tặng ngày cưới mà bà rất quý yêu, làm đích cho hắn bắn tiếp. Quá phẫn uất, bà tháo vòng, ném mạnh vào viên gạch gần đó, làm chiếc vòng vỡ tan. Trước sự bướng bỉnh, gan dạ của bà, tên quan ba hơi bất ngờ. Lúc ấy, hắn không làm gì nhưng định bụng sẽ trừng trị bà và các “nữ tù ngoan cố” vào một dịp khác.

Bệnh tim ngày càng trở nặng, bà liên tục bị ngất. Chị em nữ tù đấu tranh quyết liệt với tên sếp Tây. Cuối cùng, chúng đành chấp nhận đưa bà về điều trị tại Nhà thương Biên Hòa. Năm 1943, bà được Thực dân Pháp đưa về quản thúc tại địa phương... Ba tháng sau, vết thương những ngày bị đọa đày trong nhà tù đế quốc chưa lành thì bà nhận được hung tin: chồng bà đã hy sinh ngoài Côn Đảo ngày 12/6/1942. Năm 1944, phong trào Việt Minh lên mạnh, bà bắt được liên lạc với tổ chức. Bà gửi con cho mẹ, lao vào công tác và hoạt động ở huyện Châu Thành. Trong Cách mạng tháng Tám 1945, bà đã cầm cờ dẫn đầu hàng ngàn quần chúng tay dao, tay gậy, cờ, băng, biểu ngữ rầm rộ tiến chiếm thị xã Bến Tre.

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh. Tháng 3 năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện. Đòng đi trên chiếc tàu đánh cá nghi trang, từ cửa biển Bến Tre ra Phú Yên. Rồi từ Phú Yên, họ ngồi xe lửa ra Hà Nội.Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Kết thúc chuyến đi miền Bắc, bà đi thẳng vào Quảng Ngãi - trụ sở của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, nhận súng, tiền và tài liệu của Trung ương mang về cho Xứ ủy Nam Bộ.

Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. bằng lòng quả cảm, trí thông minh, bà lại cùng các đồng chí của mình khéo léo vượt trùng dương đưa được 12 tấn vũ khí chi viện cho miền Nam một cách an toàn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết (7/1954), bà quyết định ở lại miền Nam, chỉ mình con ra Bắc. Khi đó Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà phải giả làm nghề nuôi heo, nuôi gà vịt tại nhà một đồng bào ở giữa cánh đồng vùng giáp ranh ba xã Tân Hòa, Thạnh Phú Đông, Phước Long. Bà đã từng cải trang thành người tu hành, người chăn vịt, người đi mua bán, làm vợ bé, người ở... Đôi chân của bà hết in dấu bên Minh lại về bên Bảo, hết qua An Hóa lại về Châu Thành xây dựng cơ sở, nắm tình hình phong trào. Cái đầu của bà được địch treo giá: “Thưởng 10.000 đồng cho ai bắt được Nguyễn Thị Định".


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, nữ tướng của đội quân tóc dài
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:39:27 am
Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8 (5/1961), Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân vào miền Nam năm 1965, cùng năm này bà nhập ngũ, thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam theo dõi chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị”.

Đó là trận càn lớn nhất của Mỹ - và lính VNCH vào tháng 2/1967, huy động 7 lữ đoàn Mỹ, 2 chiến đoàn VNCH gồm 50.000 tên, 1.100 xe tăng, toàn bộ máy bay nhằm xóa sạch căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Bộ Tư lệnh họp, quyết định bằng mọi giá phải bảo vệ vùng căn cứ; chuyển thế bị động sang chủ động tấn công địch. Bộ Tư lệnh phân công bà Nguyễn Thị Định chỉ đạo các đơn vị văn công, tuyên huấn, du kích các cơ quan, đoàn thể tham gia đánh địch. Bà họp toàn thể anh chị em nói: “Mình có ít người, ít vũ khí, phải chia thành từng tổ nhỏ, đào công sự thật chắc, đón hướng đi của địch, đánh cho chúng những đòn bất ngờ, làm chúng nghi là có quân chủ lực đánh”.

Cuộc chống càn đã diễn ra đúng như kế hoạch đã chuẩn bị. Suốt 2 ngày đêm, quân ta bẻ gãy cánh quân chủ yếu của địch. Địch lại mở trận tấn công đợt 2. Dưới hầm, bà vẫn bình tĩnh chỉ huy trận đánh. Bốn giờ chiều, Bộ Tư lệnh nhận được tin du kích khối cơ quan do “chị Ba” chỉ huy đã bắn cháy một số xe tăng địch. Sau những ngày bị du kích đánh cho mệt mỏi, rã rời, địch phải co cụm lại một nơi. Lúc ấy, các đơn vị chủ lực của ta đánh thẳng vào những cụm đóng quân của địch, diệt được nhiều xe tăng, máy bay. Trận càn Johnson City địch thất bại thảm hại. Rừng Tây Ninh vang tiếng hát chiến thắng, bà Nguyễn Thị Định được cán bộ chiến sĩ rất khâm phục.

Trong đợt Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, bà được Bộ Tư lệnh phân công đi chỉ đạo tỉnh Tây Ninh. Năm 1970, khi Lonnon lật đổ Xihanúc, các căn cứ của ta ở biên giới Campuchia càng gặp nhiều khó khăn. Chăm chú theo dõi tình hình Campuchia, bà Nguyễn Thị Định trao đổi với các đồng chí ở H12 (Trường sơ cấp Quân giải phóng của Bộ tư lệnh Miền), tìm cách đối phó, bảo vệ căn cứ. Bà phân tích: Địch bên sông Vàm Cỏ chỉ cách ta một con sông nhỏ, ta phải gấp rút tập trung thành lực lượng thống nhất đủ sức đối phó, tránh tình trạng phân tán quá nhỏ, hành động rời rạc. Ta phải ngụy trang chu đáo các kho tàng, tổ chức chiến đấu ở mỗi khu vực. Cần phân tán kho lớn, những vũ khí gọn nhẹ như AK, KCK, K63, B40... chia cho các đơn vị giữ và chiến đấu. Bà kiên nghị nói: “Trong lúc chờ chủ trương của Bộ, của Trung ương Cục, tôi sẽ chịu trách nhiệm trước cấp trên và quyết định đánh. Trong lúc này, ta phải dám nghĩ dám làm, bỏ lỡ thời cơ, ta sẽ gặp khó khăn lớn!”. Rất may, Bộ kịp thời gửi điện xuống căn cứ, giao trách nhiệm cho bà Định cùng Sư đoàn 9, tỉnh Tây Ninh đánh địch bảo vệ lực lượng, bảo vệ căn cứ.

Ông Huỳnh Tấn Phát - Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời đến gặp bà, trao đổi: “Ý kiến của trên muốn đưa hai cơ quan về phía Nam, chị nghĩ sao?”. Bà nói: “Nếu đưa cơ quan Chính phủ Cách mạng lâm thời về phía Nam, ta sẽ mắc mưu địch. Nó đang chờ ta để tiêu diệt. Theo tôi, anh cứ tìm chỗ cho cơ quan di chuyển. Tôi sẽ chịu trách nhiệm tổ chức phối hợp chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não của ta”. Ông Huỳnh Tấn Phát đồng ý. Thế là một không khí sôi nổi, khẩn trương diễn ra.

Quân Mỹ cho quân đổ xuống Xóm Giữa, gần trường Lê Thị Riêng, máy bay B.52 liên tục thả bom. Dưới đất, chúng cho từng đoàn xe bao quanh căn cứ dày đặc, quyết tâm tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến. Bà Định cùng Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát nhận trách nhiệm dẫn cơ quan dân vận gồm gần 1.000 người lặng lẽ băng trong rừng, trong mưa. Cuộc hành quân đúng như dự kiến của bà Định. Trong lúc cơ quan di chuyển, các lực lượng vũ trang đã anh dũng chiến đấu, bẻ gãy được cuộc càn. Các mũi quân của địch sục vào khu căn cứ cách mạng bị đánh mìn, bị du kích đánh gây nhiều tổn thất, khiến chúng không dám sục sạo. Kho tàng của ta được bảo vệ; các bệnh viện kịp thời sơ tán, an toàn. Đặc biệt, trường H 12 trong tay chỉ có một trung đội nhưng trong 3 ngày tiêu diệt được 3 xe tăng, 2 trực thăng Mỹ.

Trong thời gian địch càn, vùng căn cứ của ta đón gần hàng ngàn đồng bào và lực lượng cơ quan, cán bộ các phân khu khác dồn về. Lò Gò là một trong những căn cứ chống càn có hiệu quả nhất, thiệt hại rất ít, bảo vệ được vùng giải phóng. Đặc biệt, hai cơ quan Chính phủ Cách mạng lâm thời, cơ quan phụ nữ hầu như không bị thiệt hại gì. Sau này, những người có mặt trong cuộc hành quân dời căn cứ ngẫm lại, giật mình khi đưa ra câu hỏi: “Năm ấy, Trung ương Cục không có Phó tư lệnh Nguyễn Thị Định biết chớp thời cơ, dám chịu trách nhiệm, dám nghĩ dám làm, biết phán đoán tình hình, kiên quyết không di chuyển về phía địch đang chờ sẵn, bà cắt đặt chu đáo quân ứng chiến,... thì cơ quan Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ ra sao?! Tài chỉ huy và óc phán đoán nhạy bén, tinh thần trách nhiệm, sự dũng cảm của bà đã góp phần xoay chuyển thế bị cô lập bao vây thành thắng, từ bị động chuyển sang phòng ngự và chủ động tấn công...

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng (Đại hội IV - 12/1976, Đại hội V - 3/1982, VI - 12/1986), Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ ( Quốc hội khó VI, VII, VIII), Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1980 - 1992), Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (từ tháng 6/1987 đến 1992). Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt, giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.


Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Điện tử tỉnh Bến Tre, Báo Công an Nhân dân


Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, vị tướng ba lần Nam tiến
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:43:09 am
(http://img542.imageshack.us/img542/1617/thieutuonghoangthethien.jpg)

Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (20/10/1922 – 5/9/1995), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều huân huy chương khác. Ông còn được Hội đồng Viện hàn lâm Hermann Gmeiner thuộc tổ chức Làng trẻ em SOS quốc tế trao tặng giải thưởng "Kim vàng Danh dự" do đã có những đóng góp đặc biệt cho tổ chức này.

Thượng tá (1958), Đại tá (1966), Thiếu tướng (1974)


"Đồng chí Hoàng Thế Thiện là một cán bộ cao cấp của Đảng, một vị tướng của Quân đội. Đồng chí đã từng đảm nhiệm những chức vụ quan trọng, suốt đời chiến đấu vì sự nghiệp của Đảng, của Dân tộc. Đồng chí có ưu điểm nổi bật là dù ở cương vị nào cũng là tấm gương đoàn kết và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được đồng chí, đồng đội tin yêu". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

"Anh Thiện có nhiều kinh nghiệm về công tác chính trị và có kiến thức quân sự. Anh chiến đấu rất dũng cảm. Anh Thiện đã cùng anh Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô I trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa Đông năm 1967 ... Điểm đặc biệt của anh Thiện: tuy là Chính ủy nhưng rất chú ý đến quân sự và nghiên cứu về tình hình địch. Một Chính ủy như thế quả là hơi hiếm". (Thượng tướng Hoàng Minh Thảo)

"Anh Hoàng Thế Thiện - Chính ủy là người toàn năng, không chỉ giỏi về chính trị mà còn là người hiểu biết về quân sự, khá sâu những vấn đề có liên quan đến cương vị của mình và rất xứng đáng là nhân vật trung tâm của Sư đoàn" (Thượng tướng Nguyễn Hữu An)

"Tuy là Chính ủy nhưng anh Hoàng Thế Thiện có trình độ cao về nghệ thuật quân sự, về cách đánh của nhiều hình thức tác chiến khác nhau. Vì vậy, anh không chỉ đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị mà anh còn thực sự là một cán bộ chỉ huy quân sự, đi sâu vào tác chiến ... Điều làm gương cho chúng tôi và cán bộ quân sự nói chung là địch tìm mọi cách chống lại ta thì anh luôn tìm cách để đánh thắng địch. Đây là một điểm rất đặc biệt ở anh Thiện, một Chính ủy mà cũng là một nhà quân sự. Địch có cách này thì ta có cách khác hay hơn nó để đánh thắng nó. Đây là điều rất cần thiết trong chiến tranh". (Thiếu tướng Hoàng Đan)


Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện tên thật là Lưu Văn Thi sinh năm 1922 tại Hải Phòng trong một gia đình nghèo yêu nước. Cha ông từng tham gia phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu và tham gia phong trào mặt trận Bình dân, là sáng lập viên đồng thời là Ủy viên Ban trị sự Hội Ái hữu công nhân tư gia thành phố Hải Phòng, cụ từng bị thực dân Pháp bắt giam. Gia đình cụ cũng là cơ sở của nhà Cách mạng Nguyễn Lương Bằng.

Ngay từ khi còn là học sinh Trường Bonnal, Hoàng Thế Thiện đã tích cực tham gia vào các hoạt động yêu nước của phong trào Hướng đạo sinh thành phố Hải Phòng. Đầu năm 1940, ông tham gia Tiểu tổ bí mật do nhà cách mạng Vũ Quý phụ trách, tự động xây dựng lại cơ sở cách mạng bí mật tại thành phố Hải Phòng đã bị địch khủng bố tan rã trước đó. Ông tham gia hoạt động trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ từ năm 1940 và được cử làm Ủy viên Ban Trị sự Hội Truyền bá quốc ngữ thành phố Hải Phòng.

Tháng 1 năm 1942, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc và được giao nhiệm vụ xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh thành phố Hải Phòng, đồng thời phụ trách một cơ sở bí mật trong thanh niên, học sinh thành phố. Sau một đợt đấu tranh treo cờ, phân phát truyền đơn toàn thành phố Hải Phòng có kết quả vào cuối năm 1942, ông được giao nhiệm vụ chuẩn bị thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn thành phố và thống nhất đầu mối chỉ đạo.

Tháng 3 năm 1943, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Ngân hàng Đông Dương và đưa ra xử tại tòa án binh Hà Nội. Ông bị kết án 5 năm tù khổ sai, bị giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), rồi bị đày lên nhà tù Sơn La. Trong tù, mặc dù bị tra tấn, đày ải nhưng ông không nhụt trí đấu tranh. Ông được kết nạp vào nhóm Trung Kiên ở Hỏa Lò và Hội Lao tù Cứu quốc ở Sơn La, được nhà cách mạng Trần Đăng Ninh trực tiếp huấn luyện về công tác bí mật và vận động quần chúng.

Tháng 3 năm 1945, ông vượt ngục tập thể trong nhóm của nhà cách mạng Trần Quốc Hoàn rồi về Thái Nguyên tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 4 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Đội trưởng Đội Vũ trang Tuyên truyền Cứu quốc quân huyện Vũ Nhai. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại thị xã Thái Nguyên. Tháng 10 năm 1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Tháng 10 năm 1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Vĩnh Yên.

Tháng 4 năm 1947, ông được điều vào Quân đội làm Phái viên Chính trị Khu 10, rồi Trưởng phòng Chính trị Liên Khu 10 - Quân khu ủy viên. Tháng 7 năm 1948, ông được cử làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Sông Lô (E209). Tháng 9 năm 1949, ông được Bộ Quốc phòng cử làm Trưởng đoàn cán bộ quân sự vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ, Nam tiến lần thứ nhất. Tháng 7 năm 1950, ông làm Phái viên Kiểm tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Tháng 11 năm 1950, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Tây Đô (Khu 9), Chỉ huy phó các chiến dịch Long Châu Hà II và chiến dịch Sóc Trăng II. Cuối năm 1951, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Cửu Long (Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ). Tháng 10 năm 1952, ông làm Trưởng phòng Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ - Quân khu ủy viên, ủy viên Ban Tuyên huấn và ủy viên Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam.

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc phụ trách Ban Đại diện miền Tây Nam Bộ. Tháng 12 năm 1955, ông làm Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 3 - Quân khu ủy viên. Tháng 7 năm 1956, Ông làm Chính ủy Ban Nghiên cứu Sân bay. Tháng 12 năm 1958, ông được phong quân hàm Thượng tá. Tháng 1 năm 1959, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Cục Không quân.

Tháng 10 năm 1964, ông trở lại chiến trường Nam Bộ trên con tàu "không số" (Đoàn 125) với bí danh là Hoàng Dân tức Tư Dân, Nam tiến lần thứ hai. Lúc này, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng có chủ trương thành lập một sư đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam ở miền Tây Nam Bộ. Ông về thẳng miền Tây để chuẩn bị cho việc thành lập sư đoàn này và đảm nhiệm chức vụ Chính ủy sư đoàn, nhưng vì nhiều lý do khách quan nên sư đoàn này không thành lập được.

Tháng 12 năm 1964, ông làm Phó Chính ủy Quân khu 8 (Trung Nam Bộ). Tháng 7 năm 1965, ông về miền Đông tham gia thành lập Sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam, làm Phó Chính ủy - Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị đầu tiên của Sư đoàn 9. Tháng 2 năm 1966, ông được phong quân hàm Đại tá. Tháng 8 năm 1966, ông về Mặt trận Tây Nguyên (B3) làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 1, Đảng ủy viên Mặt trận B3; ông đã cùng Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng Lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô 1 trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa đông năm 1967. Tháng 1 năm 1969, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 304.

Tháng 7 năm 1970, ông được điều vào tuyến lửa Trường Sơn, làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận 968 Nam Lào rồi tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (tháng 1 năm 1971). Tháng 6 năm 1971, ông làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn (đoàn 559) kiêm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh khu vực 470 (tương đương Sư đoàn). Tháng 5 năm 1973, ông làm Chính ủy - Phó Bí thư rồi Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn.

Ngày 16 tháng 4 năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng theo Lệnh số 21-LCT của Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Tôn Đức Thắng. Tháng 2 năm 1975, ông được điều vào chiến trường B2 (Nam Bộ), Nam tiến lần thứ ba, làm Chính ủy đầu tiên - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 4, Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận phía Đông thuộc Bộ Tư lệnh B2. Ông trực tiếp chỉ huy hướng tiến công Dầu Tiếng - Chơn Thành. Tháng 4 năm 1975, ông tham gia chỉ huy cánh quân hướng Đông - một trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tháng 12 năm 1976, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV. Tháng 4 năm 1977, ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế - Bí thư Đảng ủy Tổng cục. Từ tháng 10 năm 1978 đến tháng 6 năm 1982, ông làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, trưởng Ban B.68 Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Đoàn Chuyên gia Việt Nam toàn Campuchia, Cố vấn cho Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, Phó Tổng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, Phó Tư lệnh Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia kiêm Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia (đoàn 478).

Tháng 7 năm 1982, ông được điều về nước làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội. Tháng 5 năm 1983, ông được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa II. Tháng 2 năm 1987, ông làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tháng 7 năm 1987, ông được nghỉ hưu.

"Có thể nói rằng, chặng đường chiến đấu của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện ở Nam Bộ gắn liền với các đơn vị chủ lực, với quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của lực lượng vũ trang chủ lực ở Nam Bộ, từ trung đoàn đến cấp quân đoàn. Ông có mặt ở hầu khắp các chiến trường Nam Bộ, từ miền Tây, miền Trung lên miền Đông và thành phố Sài Gòn, từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến kháng chiến chống đế quốc Mỹ và những ngày tháng sôi động sau khi đất nước hòa bình, thống nhất. Những gì ông để lại cho lực lượng vũ trang Nam Bộ là hình ảnh một cán bộ chính trị - quân sự kiên trung, tận tụy, sâu sắc, mực thước và dung hậu. Với tư cách một người lính cầm súng, trên dọc đường hành quân đánh giặc, Nam Bộ là nơi ông dừng chân nhiều nhất, cũng là nơi ông dừng lại sau cùng" (Đại tá Hồ Sơn Đài, tiến sĩ Sử học)

"Cuộc đời và sự nghiệp của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện là một tấm gương sáng về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, một vị tướng trưởng thành từ cơ sở, qua nhiều cương vị, là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội đứng mũi chịu sào của nhiều đơn vị. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí đã được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ vào chiến trường Nam Bộ trong những thời điểm khó khăn nhất, nhưng đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trên 50 năm hoạt động cách mạng, gần 40 năm chiến đấu và công tác trong Quân đội, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ chính trị - quân sự trung kiên, dũng cảm, trung thực, liêm khiết, sống gần gũi với đồng chí, đồng bào, nghiêm khắc với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa. Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện đã có nhiều công lao trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Là một vị tướng có uy tín của Quân đội, công lao và thành tích xuất sắc của đồng chí đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội ta ghi nhận. Lịch sử hai cuộc kháng chiến vĩ đại của Dân tộc ta và lịch sử quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng còn mãi mãi ghi đậm hình ảnh và công lao vị tướng có tài tổ chức và chỉ huy chiến đấu, một Chính ủy kiên trung, mẫu mực, một đảng viên ưu tú của Đảng" (Thiếu tướng Trịnh Vương Hồng, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)


Tiêu đề: Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, Tư lệnh Trường sơn và Biên phòng đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:46:11 am
(http://img847.imageshack.us/img847/9347/sanstitrewwg.jpg)

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ (1917 – 1991), nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh 559 (Bộ Tư lệnh Đường Trường Sơn), nguyên Thứ trưởng Bộ Công an.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 15/10/2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.

Đại tá (1954), Thiếu tướng (1955)


"Đồng chí Phan Trọng Tuệ, người Cộng sản kiên trung, một vị tướng, một cán bộ cao cấp của Đảng, của Nhà nước có đức độ và tài năng, hết lòng vì nước vì dân. Đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập Đảng từ năm 1934 lúc mới 17 tuổi, đã 2 lần bị địch bắt, tù đày, tra tấn nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết…với tôi đồng chí là người bạn chiến đấu thủy chung". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

"Anh Phan Trọng Tuệ không chỉ đóng góp cho ngành Giao thông vận tải mà còn có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, đấu tranh thống nhất nước nhà… Anh đã rất xuất sắc trên cương vị Chính ủy và Tư lệnh Đoàn 559 mở đường cơ giới cho ôtô đi sâu vào các chiến trường miền Nam. Anh huy động các lực lượng giao thông vận tải làm hậu cần cho quân đội giành thắng lợi cuối cùng ở Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau khi thống nhất nước nhà, anh đã chỉ đạo nhanh chóng khôi phục đường sắt thống nhất Bắc - Nam vào dịp Đại hội Đảng lần thứ 4 (1976)’’ (Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư Thành ủy Hà nội, nguyên Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hà Nội trong những ngày Toàn quốc kháng chiến)


Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ quê ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây – một vùng đất giàu truyền thống yêu nước. Dòng họ Phan ở Sài Sơn xuất phát từ Thạch Hà, Hà Tĩnh với ông tổ là Danh sĩ Phan Huy Ích. Phan Huy Ích chuyển từ Hà Tĩnh ra định cư tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây và sinh ra Phan Huy Chú, nhà Bác học, Sư học nổi tiếng thời Nguyễn. Tuy nhiên, ông lại sinh ra tại Viên Chăn, Lào. Cụ thân sinh ra ông là Phan Trọng Định, khoảng đầu thế kỷ 20, đã phiêu bạt sang tận Lào, Thái Lan mưu sinh.

Sau khi gây dựng được cơ ngơi tại Viên Chăn, cụ Định về quê đón cụ bà Trịnh Thị Miễn cùng 2 người con gái là Phan Thị Lạng và Phan Thị Nén sang đoàn tụ. Tại vùng đất mới 2 cụ sinh thêm ra các ông bà Phan Trọng Tuệ, Phan Trọng Quang, Phan Thị Sáng, Phan Thị Suốt. Khoảng giữa năm 1930, Viêng Chăn trở thành nơi lưu trú của nhiều chiến sĩ cách mạng sau sự kiện Xôviết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, phải lẩn trốn sự truy lùng của mật thám Pháp. Cụ bà Trịnh Thị Miễn, tuy chỉ là người nội trợ, nhưng cũng là người đứng đầu tổ chức ái hữu, đã vận động bà con Việt kiều che chở, đùm bọc những chiến sĩ cách mạng. Được tiếp xúc với sách báo tiến bộ và những người cách mạng, Phan Trọng Tuệ đã tích cực tham gia các hoạt động xã hội như giúp đỡ người nghèo, chống lại sự hà hiếp, áp bức của bọn chức dịch, tay sai…

Năm 1934, Phan Trọng Tuệ trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1935, Phan Trọng Tuệ tham gia lãnh đạo cuộc mít tinh lớn phản đối thực dân Pháp, nên bị bắt giam 4 tháng. Sự việc này, cùng với ảnh hưởng và những việc làm yêu nước của gia đình họ Phan khiến chính quyền sở tại lo ngại, họ bèn trục xuất cả gia đình về quê gốc Sài Sơn để quản thúc cùng với Nguyễn Văn Thọ và Đào Văn Tiễu. Thời gian này, ông cùng các đồng chí của mình đã nhanh chóng khôi phục hoạt động, tổ chức vận động cách mạng ngay tại quê hương. Tháng 8/1936, "Tổ Cộng sản Đa Phúc" đã được thành lập tại nhà của ông với ba thành viên chủ chốt là Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Thọ, Đào Văn Tiễu. Tổ được ra đời nhằm công việc Tuyên truyền, vận động cách mạng trong quần chúng nhân dân địa phương và tìm cách bắt liên lạc với Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1937 ông trực tiếp phụ trách chi bộ Ðảng ở xã Sài Sơn và liên lạc với Thành uỷ Hà Nội. Năm 1940 ông là Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Sơn Tây. Năm 1941: Bí tỉnh uỷ Hà Ðông, rồi Bí thư liên tỉnh uỷ gồm Hà Nội, Hà Ðông, Sơn Tây, Hà Nam. Cuối năm 1941, ông là Xứ uỷ viên xứ uỷ Bắc Kỳ phụ trách công tác binh vận. Tháng 9/1943, ông bị thực dân Pháp bắt tại Hà Nam và đem giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Cuối năm này ông bị kết án 27 năm tù và đày đi Côn Đảo cùng với hơn mười ‘’tù chính trị nguy hiểm’’ khác trong đó có Trần Văn An, Vũ Xuân Chiêm (sau này là Trung tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Trong tù ông tiếp tục hoạt động cách mạng, là chi ủy viên khối Hà Nội-Sơn La.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông công tác trong Ban trật tự Côn Đảo cho đến ngày 20/9. Ông được Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ cho thuyền ra đón và trở về cửa Mỹ Thanh thuộc Sóc Trăng trong đêm 22/9 cùng với nhiều tù chính trị khác trong đó có Bác Tôn và Lê Duẩn.  Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, các tù chính trị Côn Đảo được phân công đi các tỉnh miền Nam và miền Trung lãnh đạo kháng chiến. Phan Trọng Tuệ được phân công ở lại miền Tây Nam Bộ trên cương vị Thanh tra kháng chiến Hậu Giang, Ủy viên liên tỉnh ủy (gồm 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ). Ngày 23/8/1947, ông được cử giữ chức Chính trị viên Khu 9.

Từ tháng 12 năm 1948 đến năm 1950, ông làm Chính ủy Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Chính ủy Khu VII; Thanh tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông làm Tư lệnh, sau đó Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Từ tháng 8 năm 1954, ông là Đại tá Phó Trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Nam Bộ rồi quyền Trưởng đoàn Đại biểu Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ủy ban liên hiệp đình chiến Trung ương, đồng thời ông cũng giữ vai trò Phó Trưởng đoàn liên hiệp định chiến Trung ương. Năm 1955, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng theo Sắc lệnh 243-SL ngày 3 tháng 11 năm 1955, do Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh kí.

Tháng 3 năm 1957, ông làm Phó Tổng thanh tra Quân đội. Ngày 19/11/1958, các đơn vị bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến và các lực lượng vũ trang khác chuyên trách công tác bảo vệ nội địa và biên phòng, giao cho ngành công an trực tiếp chỉ đạo, lấy tên là Lực lượng Cảnh vệ, ông được cử phụ trách lực lượng này kiêm Thứ trưởng Bộ Công an. Ngày 3/3/1959, Khi lực lượng Công an vũ trang (tiền thân của lực lượng Biên phòng) được thành lập, ông được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Lực lượng Công an nhân dân vũ trang cho đến năm 1961.

Năm 1961 đến năm 1980, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và là Bộ trưởng lâu năm nhất của Bộ này. Thời gian ông làm Bộ trưởng kéo dài suốt cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và thời kì khôi phục cơ sở giao thông, đường sá cầu cống Bắc Nam sau chiến tranh. Từ năm 1965 đến năm 1968, ông được cử vào tuyến chiến lược Trường Sơn, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559 thay cho Đại tá Hoàng Văn Thái đi nhận nhiệm vụ khác. Đây cũng là thời điểm bắt đầu mở đường Trường Sơn cho cơ giới nhằm đáp ứng với đòi hỏi của thực tế chiến trường là quân Mĩ ào ạt đổ bộ vào miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ông vào phụ trách và chỉ đạo công tác bảo đảm giao thông trên địa bàn Quân khu IV nhằm phục vụ cho công tác chi viện cho chiến trường miền Nam, đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Bởi vì, địa bàn Quân khu IV là địa bàn tập trung binh lực, vũ khí, đạn dược…chi viện của miền Bắc trước khi vượt Trường Sơn vào Nam cho nên luôn là trọng điểm đánh phá của giặc Mĩ.

Từ năm 1973 đến năm 1976, ông kiêm chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời gian này ông cùng Phó Thủ tướng Đỗ Mười thay mặt Chính phủ chỉ đạo việc phát triển Đường Trường Sơn thành đường chuẩn Quốc gia. Đây là một vấn đề mang tính chiến lược, góp phần quan trọng tạo thế và lực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Từ cuối năm 1974 đến 1975, ông làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Chi viện giải phóng miền Nam. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III và VI. Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI.

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ là một vị Bộ tưởng có tài quản lý và có tầm nhìn chiến lược đối với sự phát triển của Bộ Giao thông Vận tải, nhằm đáp ứng những đòi hỏi và yêu cầu thực tế của tình hình đất nước. Năm 1961, ngay khi được cử làm Bộ trưởng, ông đã chỉ đạo các cán bộ khoa học kĩ thuật của Bộ nghiên cứu, thiết kế, đóng mới loại tàu cỡ nhỏ của Bộ Quốc phòng. Đây là một công tác bí mật mang tính chiến lược, vì đó chính là những con tàu không số huyền thoại. Ngành đóng tầu Việt Nam hiện nay là một trong những ngành cônng nghiệp trọng điểm rất phát triển, ngành mà chúng ta hoàn toàn có thể tự chủ từ khâu thiết kế đến khâu thi công. Hiếm ai biết được ngay từ năm 1970, chính Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ đã chỉ đạo cán bộ của Bộ thực hiện đề tài “Về chiến lược cần xây dựng Việt Nam thành một quốc gia hàng hải - với nền kinh tế biển phát triển - một hạm đội mạnh - một đội thương thuyền mạnh. Muốn vậy phải xây dựng một nền công nghiệp đóng tàu Việt Nam hiện đại và phát triển”, ông luôn quan tâm đến việc xây dựng lực lượng nghiên cứu thiết kết và lực lượng đăng kiểm.

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ không những yêu khoa học, thích kỹ thuật, mà còn có tư duy khoa học, kỹ thuật rất độc đáo, một con người rất coi trọng trí tuệ và trí thức. Ông luôn luôn quan tâm động viên, khuyến khích các cán bộ khoa học kĩ thuật, tạo điều kiện cho họ hoàn thành nhiệm vụ của mình trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh và đồng thời rất biết tiếp thu những đề suất cũng như những ý tưởng của họ. Ông thường nói “Cán bộ khoa học phải cố làm những gì sản xuất và chiến đấu đang cần với cái gì đang có và sẽ tạo ra với ý chí quyết tâm học hỏi - phàm những việc người khác làm ta cố gắng rồi cũng làm được. Ta đã thắng giặc Mỹ trên mặt trận giao thông vận tải đâu chỉ bằng sức lực mà cả bằng trí tuệ nữa. Trí tuệ Việt Nam có chịu thua kém đâu”. Chính tướng Phan Trọng Tuệ là người gợi ý cho các đề tài khoa học như : ca-nô không người lái dùng để phá thủy lôi, rồi ý tưởng cho ô tô chạy trực tiếp trên dây cáp thông qua kẽ hở vành lốp ô tô – đây chính là cơ sở cho đề tài khoa học ‘’nghiên cứu các biện pháp vượt sông bằng hệ dây đàn hôi’’.



Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Bình, vị tướng có tác phong hảo hán
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:48:37 am
(http://img52.imageshack.us/img52/3236/tuongnguyenbinh.jpg)

Trung tướng Anh hùng (truy tặng) Liệt sĩ Nguyễn Bình (1908 – 29/9/1951), Anh hùng Lực lượng Vũt rang Nhân dân (truy tặng) nguyên Khu trưởng Khu VII, nguyên Chỉ huy trưởng Chiến khu Đông Triều. Ông được phong hàm Trung tướng ngay trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất...

Trung tướng (1948 trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội và đứng thứ 2 sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp).


‘’Bác giao miền Nam cho chú’’ (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

“Thảo có can đảm, vũ dũng hơn người và trung hậu với bạn, trung thành với đoàn thể. Trước Cách mạng Tháng Tám, Thảo lập chiến khu Đông Triều một cách tự động...” (Nhà sử học Trần Huy Liệu)


Nguyễn Bình tên khai sinh là Nguyễn Phương Thảo, quê làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ nhưng sống ở thành phố Hải Phòng. Ông sinh năm 1908 trong một gia đình trung lưu có 5 người con, ông là thứ 4. Năm 17 tuổi đang học năm thứ 2 trường Trung học Hải Phòng, vì những hoạt động yêu nước và bị thực dân Pháp truy lùng, ông trốn gia đình vào Nam giao du với nhà văn giang hồ Vương Sơn. Sau ông kết thân với nhà văn, nhà báo Trần Huy Liệu bấy giờ là Đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng và trở thành Đảng viên tích cực của Đảng này, giữ chức Trưởng ban tổ chức. Năm 1928 Xứ bộ Việt Nam Quốc dân Đảng Nam Kỳ được thành lập, hoạt động với tôn chỉ: “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”. Ông được bầu vào Ban chấp hành Xứ bộ, Trần Huy Liệu giữ chức Bí thư.

Năm 1929 ông và Trần Huy Liệu bị bắt, bị kết án 5 năm tù và đày Côn Đảo. Khi ở tù, được tiếp xúc với những đảng viên cộng sản, ông có thiện cảm với Đảng cộng sản, đường lối đấu tranh của ông bắt đầu ngả sang những người cộng sản. Chính vì vậy mà ông bị bọn cầm đầu Quốc dân Đảng thanh trừng, bị khoét mất mắt trái. Cũng từ đó ông nhận ra rằng khẩu hiệu của chủ nghĩa Tam dân thực chất chỉ là khẩu hiệu suông, còn bọn cầm đầu thì theo mục đích: “Vinh thân thì gia” và không ngần ngại thủ tiêu những đồng đảng khác chính kiến.

Năm 1935 mãn hạn tù, ông trở về quê nhà. Ông tiếp tục hoạt động, bí mật xây dựng chiến khu Đông Triều, ông bị bắt một lần nữa từ năm 1938 đến năm 1942. Tuy bị quản thúc nhưng ông vẫn nuôi ý chí cách mạng, bí mật xây dựng Đông Triều làm căn cứ chống Pháp một cách độc lập. Khoảng năm 1942, ông được tổ chức Đảng và Việt Minh giao cho nhiệm vụ mua vũ khí chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời còn vận động binh lính các đồn Thủy Nguyên, Cửa Ông, thị xã Kiến An cung cấp vũ khí. Nhờ súng đạn nhiều mà Đông Triều trở thành chiến khu vững vàng và chùa Bắc Mã là tổng hành dinh của quân giải phóng chiến khu Đông Triều.

Đêm 12/3/1945 ông tham gia đánh trận đồn Bần Yên Nhân, thu được nhiều thắng lợi. Trận đánh đồn Bần được coi là trận đánh kiểu mẫu ở đồng bằng. Cũng trong tháng 3-1945, ông đã lãnh đạo tổ chức đánh cướp tàu Pháp ở Hạ Lý-Hải Phòng, hạ đồn Đông Triều, diệt đồn Bí Chợ, đánh địch chiếm thị xã Uông Bí. Tháng 4/1945 Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định cả nước chia làm 7 quân khu, Bắc Bộ có 4, ông giữ chức Tư lệnh Đệ tứ quân khu (tức chiến khu Đông Triều gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Hòn Gai, Móng Cái và Lạng Sơn).

Trong tháng 6, tháng 7 năm 1945 ông chỉ huy nhiều trận đánh lớn, thu được nhiều lương thực và vũ khí, như trận phục kích trên sông Kinh Thầy, trận tấn công đồng loạt 5 đồn Thanh Hà, Kinh Môn, Thuỷ Nguyên, Uông Bí, và Bí Chợ, đặc biệt là trận đánh chiếm giải phóng thị xã Quảng Yên, là tỉnh lị duy nhất ở miền Bắc về tay nhân dân trước cách mạng tháng Tám. Trong các trận này thu 600 súng trường, 400 trung liên. Thừa thắng ông mang quân đi yểm trợ cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng, sau đó giải phóng Tiên Yên, Ba Chẽ, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cát Bà.

Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông dẫn gần 100 nghĩa quân tiến theo cờ đỏ sao vàng trên đường 18 hướng tới Đông Triều. Cả đoàn chỉ có một súng trường, còn toàn giáo mác. Cánh tay phải của mỗi người đeo một băng đỏ dính sao vàng. Riêng trên ngực ông có gắn miềng vải đỏ có chữ TCH-tức Tổng chỉ huy…Từ chiến khu Đông Triều, ông đã chỉ huy lực lượng tiến công phối hợp với nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức giành chính quyền ở Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An. Hải Dương là một trong những tỉnh giành được chính quyền đầu tiên trong cả nước, trước khi mệnh lệnh tổng khởi nghĩa về đến. Sau đó, ông được giao làm khu trưởng Khu duyên hải Bắc Bộ, ông là người có công lớn trong bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ ở đây.

Do có biệt tài về quân sự, tháng 9/1945 ông được Hồ Chủ tịch cử vào miền Nam lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang tại chiến trường Nam Bộ. Ông thưa với Bác :
- Thưa Bác, được Bác tin cậy trao cho nhiệm vụ vô cùng lớn lao, vô cùng hiểm nguy và nặng nề, Nguyễn Bình xin bái mệnh, nhưng…
- Chú nhận nhiệm vụ rồi sao còn ‘’nhưng’’ ?
- Thưa Bác, một Nguyễn Bình giang hồ ngang dọc để làm việc nghĩa, một Nguyễn Bình Quốc dân đảng để cứu nước đã thất bại…Nguyễn Bình ly khai Quốc dân đảng bị kết tội phản đảng, họ trị tội bằng cách móc một mắt. Nguyễn Bình không chết đã tìm đến con đường của ‘’Ông Nguyễn yêu nước’’. Giờ đây được Bác tin cậy giao việc lớn cho cháu, nhưng cháu chưa phải là Đảng viên đảng cộng sản…

Bác Hồ mỉm cười :
- Đảng viên cộng sản ử ? Tổ quốc trên hết ! Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Bình ái quốc, ái dân và bình thiên hạ cho an sinh hòa mục…

Tháng 10 năm 1945, ông vào Nam đi theo ngả Tây Nguyên tới thị xã Thủ Dầu Một, ở nhà ông giáo Chương. Sau đó, được ông Võ Bá Nhạc là con rể ông Chương nhường sở cao su Bến Vịnh mà chủ người Pháp giao cho quản lý để ông lập tổng hành dinh. Chính ông Võ Bá Nhạc là chánh văn phòng cho ông từ ngày đầu cho tới lúc hy sinh. Ông được giao giữ chức ủy viên quân sự Nam bộ kiêm khu trưởng khu VII, rồi Tư lệnh mặt trận Nam Bộ với toàn quyền quyết định các việc thuộc lĩnh vực quân sự tại Nam Bộ, theo sắc lệnh số 18/SL ngày 21 tháng 3 năm 1949 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong những ngày đầu kháng chiến, tình hình Nam Bộ hết sức rối ren, phức tạp, có thể ví như thời kỳ “Thập nhị sứ quân” - gồm nhiều Đảng phái, anh hùng hảo hán và phải đối diện với một đội quân viễn chinh hùng hậu. Nguyễn Bình đã tìm mọi cách tập hợp các lực lượng kháng chiến dưới sự chỉ huy chung và nhanh chóng tổ chức một cuộc kháng chiến toàn lực, toàn diện.

Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì trong Nam lúc đó rất nhiều màu sắc chính trị, đảng phái và tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Hải Hồ (do Nhật tổ chức)... Nguyễn Bình tìm được giọng nói thích hợp với từng hạng người. Với tư sản Sài Gòn, ông đề cập tinh thần quốc gia. Với nông dân ông nói về chia ruộng đất các đại điền chủ cấp cho dân nghèo. Với thanh niên ông hô hào lòng dũng cảm vì nước quên mình... Nhưng ông cũng dùng cả hình phạt với những kẻ lợi dụng chiến tranh để làm giàu bằng cách hợp tác với Pháp... Tổng hành dinh của ông ở giữa Đồng Tháp Mười mà lại tiếp giáp cửa ngõ Sài Gòn, nhờ khéo ngụy trang mà không bị quân Pháp tìm thấy. Một bộ máy hành chính, kinh tế và quân sự cực kỳ phức tạp được thiết lập trên khắp Nam Bộ. Tất cả các làng và các phường hộ trong thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn đều có cán bộ lãnh đạo nhân dân, thu thuế và thi hành các bản án dành cho bọn phản động...”.

Vào Nam, tướng Nguyễn Bình đã sử dụng tài đức của mình kể cả tác phong anh hùng mã thượng để thu phục các nhóm của Bảy Môn, Mười Lực, Mười Trí, Bảy Viễn, Tám Mạnh, Ba Dương... Chẳng những thế, tướng Nguyễn Bình còn thu phục được giới trí thức làm việc dưới trướng như giáo sư Phạm Thiều, Đặng Minh Trứ, luật gia Lê Đình Chi, Huỳnh Kim Trương, Huỳnh Văn Nghệ...

Tướng Nguyễn Bình còn tỏ ra vị tướng có bản lĩnh phi thường khi một mình vào Sài Gòn để nghiên cứu tình địch, hay khi làm chánh án xử Ba Nhỏ tử hình, Ba Nhỏ xin ân huệ được dùng súng ngắn của tướng Nguyễn Bình để tự xử. Ông đã bình tĩnh tháo súng sai người đưa cho Ba Nhỏ. Mọi người hồi hộp lo lắng cho ông. Ba Nhỏ đã nhận súng và tự xử trước mặt mọi người. Ông Chánh án Nguyễn Bình và tử tội Ba Nhỏ đều hiên ngang đầy đủ khí phách như nhau trước cái chết và cái còn mạnh hơn cái chết đó là: danh dự.

Những chiến công buổi đầu của quân dân Nam Bộ được gắn liền với tên tuổi Nguyễn Bình, khiến các giới chính trị, quân sự Pháp cũng phải kính nể. Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam. Ngày 25/1/1948 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh phong cho ông hàm Trung tướng. Đây là trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 9/1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi ông bị giặc phục kích, hy sinh tại biên giới Việt Nam - Campuchia.

Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ kỷ luật nghiêm minh, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Ông có công trong việc thống nhất lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ và xây dựng Ban công tác thành (biệt động) Sài Gòn. Tháng 2 năm 1952 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương Quân công hạng nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.

Sau khi ông qua đời, nhiều sách báo đã viết về ông như một hiện tượng đặc biệt về tài năng quân sự những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sử gia người Pháp chuyên về Đông Dương P.Sê-nút đã viết về “Nguyễn Bình-ông tướng một mắt”. Các sử gia người Pháp tặng Nguyễn Bình biệt danh “Lưu Bá Thừa của Việt Nam”-Lưu Bá Thừa là tướng “độc nhãn long” nổi tiếng chuyên về tiến hành chiến tranh du kích của Quân giải phóng Trung Hoa. Sê-nút đã ngợi ca Nguyễn Bình là “Lưu Bá Thừa của Việt Nam” đã ngã xuống cho Nam Bộ đứng lên.

Tuy nhiên ở đây cũng phải nói đến mỗi quan hệ giữa tài năng của Nguyễn Bình và sự tinh tế, mạnh dạn trong cách dùng người của Bác Hồ. Một vị chỉ huy như Nguyễn Bình, sau cách mạng xứng đáng được đứng vào hàng ngũ những người cộng sản mà sao phải đợi đến năm 1946 ! Chắc hẳn không phải Nguyễn Bình là người duy nhất trong số rất ít những người có khả năng đảm đương vai trò của ông vào thời điểm những buổi đầu của Nam Bộ kháng chiến mà Bác chỉ tin tưởng giao phó cho ông ‘’Bác giao Nam Bộ cho chú’’ ! Tất nhiên có rất nhiều lí do, nhưng ta có thể kể đến những lí do có tính chiến lược như : với tình trạng của Nam Bộ thời kì đầu của Nam Bộ kháng chiến, thì việc một người ngoài Đảng cộng sản sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn đối với đông đảo đồng bào Nam Bộ vốn thời kì đó trong tình trạng ‘’cát cứ phân tranh’’ với nhiều màu sắc chính trị, đảng phái, tôn giáo…Mặc khác, vì là người ngoài Đảng cho nên ông sẽ ít bị mật thám Pháp để ý hơn. Thực tế lúc bấy giờ, quân Pháp không biết gì nhiều về ông. Quân Pháp tập trung vào việc tìm hiểu, điều tra các ông Trần Văn Giàu – Trưởng ban kháng chiến Nam Bộ, rồi ông Phạm Ngọc Thạch…mà ít chú ý đến tướng Nguyễn Bình, trong khi chính ông mặc dù chỉ là Ủy viên quân sự nhưng thực tế là người thiết kế, tổ chức kháng chiến…

Năm 2000, Bộ Tư lệnh quân khu VII đã di chuyển hài cốt ông về an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh. Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Tử Bình, nhà ngoại giao quân sự
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:52:07 am
(http://img830.imageshack.us/img830/3060/thieutuongtrantubinhch6.jpg)

Thiếu tướng Trần Tử Bình (1907 – 11/2/1967), nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Tổng thanh tra Quân đội kiêm Phó Tổng thanh tra chính phủ, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Là một trong 9 cán bộ đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí quyết định phong quân hàm Thiếu tướng.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 14.1.2008), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất.

Thiếu tướng (1948 trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội)


“Đồng chí Trần Tử Bình đã hoạt động không mệt mỏi và có những cống hiến quan trọng trong việc tăng cường mối tình hữu nghị chiến đấu anh em giữa nhân dân hai nước Trung - Việt” (Thủ tướng Chu Ân Lai)

“Anh là tấm gương sáng cho các thế hệ hiện nay và mai sau học tập. Tôi mãi mãi giữ những kỷ niệm và ấn tượng tốt đẹp về anh!”. (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

“Là một chương sử thời đại mà ông (Trần Tử Bình) đã sống, đã cống hiến một cách tận tụy và hóa thân cho một sự nghiệp lớn”. (Nhà Sử học Dương Trung Quốc)


Thiếu tướng Trần Tử Bình tên thật là Phạm Văn Phu sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Thiên Chúa tại xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Là một thanh niên công giáo theo học ở trường dòng, thông qua sách báo tiến bộ mà giác ngộ Cách mạng. Cuối năm 1926, vì tham gia phong trào vận động giáo sinh ở Chủng viện Hoàng Nguyên (thuộc giáo phận Hà Đông) để tang cụ Phan Châu Trinh cho nên ông bị đuổi học. Trên đường kiếm sống ông đã gặp nhà cách mạng Tống Văn Trân, đây là bước ngoặt lớn đối với ông, bước ngoặt đưa ông đến với Cách mạng đến với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.

Lãnh đạo Phú Riềng đỏ

Giữa năm 1927, cùng với đoàn người đi phu đồn điền cao su vào Nam bằng tàu biển xuất phát từ cảng Hải Phòng, ông vào làm phu tại Phú Riềng. Ngay trong thời gian tại khu nhà tôn phường Hạ Lý (thành phố Hải Phòng), trong suy nghĩ của những người đi phu, ông đã trở thành người thủ lĩnh bởi tính tình thẳng thắn, hay giúp người và điều đặc biệt ông là người duy nhất trong số họ được học hành.

Tại Phú Riềng, Trần Tử Bình đã vạch trần những thủ đoạn bóc lột của giới chủ Pháp đối với người công nhân đồn điền cao su. Như : lợi dụng họ không biết chữ để dùng các hợp đồng lao động ràng buộc và bóc lột họ, nói một đằng và viết một nẻo. Cai thầu (Phan Tất Tạo) ăn chặn tiền của công nhân, bớt xén khẩu phần của dân phu…Với vai trò là người nêu vấn đề, ông đã phát động phong trào đấu tranh với giới chủ (tuyệt thực…) khiến cai thầu phải nhượng bộ. Trong thời gian này, ông được nhà cách mạng Ngô Gia Tự giác ngộ thêm và kết nạp vào Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Đầu năm 1928, theo chỉ thị của Ngô Gia Tự, Nguyễn Xuân Cừ và Trần Tử Bình đi vào tổ chức quần chúng. Họ đã thiết lập Nghiệp đoàn Cao su Phú Riềng với thành viên là 1/3 tổng số những người lao động tại Phú Riềng.

Tháng 10/1929, chi bộ Cộng sản đầu tiên của Phú Riềng ra đời gồm 6 thành viên và ông chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và là Bí thư chi bộ. Ngày 30/1/1930 (đúng mùng Một Tết Canh Ngọ), dưới sự lãnh đạo của Trần Tử Bình, 5000 công nhân đồn điền đã tiến hành biểu tình và bao vây khu nhà của chủ đồn điền buộc giới chủ phải thực hiện những quyền lợi thiết yếu cho người công nhân. Tiếp đó họ đã chiếm giữ khu trại cưa, tước vũ khí của viên giám thị và viên cai, chiếm nhà máy điện, nhà máy cưa, kho gạo…Phú Riềng đặt trong quyền kiểm soát của công nhân.

Sáng ngày 6 tháng 2, thực dân Pháp huy động xe bọc thép, hơn 300 lính lê dương, 500 lính khố đỏ, do đích thân Thống xứ Nam Kỳ Krauheime, cùng Công sứ Biên Hòa Marty, Phó công sứ Biên Hòa Vilmont và Chánh mật thám Đông Dương Arnoux chỉ huy đã tiến tới khu vực đồn điền Phú Riềng. Sau đó, tuy phong trào đấu tranh của công nhân Phú Riềng bị đàn áp xong giới chủ buộc phải nhượng bộ một số yêu cầu của công nhân. Trần Tử Bình cùng những người lãnh đạo phong trào Phú Riềng đỏ bị bắt. Ông bị kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo. Tại Côn Đảo ông vẫn tiếp tục đấu tranh và học tập nâng cao lý luận cũng như kinh nghiệm hoạt động Cách mạng. Trong thời kì này ở ngoài Côn Đảo có rất nhiều những tù chính trị mà sau này trở thành những lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam như Tôn Ðức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng…

Vượt ngục Hỏa Lò

Do ảnh hưởng của Mặt trận bình dân, năm 1936, ông được trả về đất liền và bị quản thúc ở quê nhà huyện Bình Lục, Hà Nam. Ông tiếp tục bí mật hoạt động và giữ các chức vụ như Bí thư huyện Bình Lục, Bí thư Tỉnh ủy. Năm 1940, ông được bầu vào Xứ uỷ Bắc Kỳ và trực tiếp phụ trách Liên tỉnh C (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) rồi Liên tỉnh D (Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang) vào năm 1941. Thời kì này ông lấy bí danh là Minh.

Tháng 4 năm 1943, do phản bội chỉ điểm, hai ông Hoàng Văn Thụ và Vũ Kỳ bị bắt. Rồi tiếp đến, tháng 9 năm 1943, ông Phan Trọng Tuệ bị bắt, Trần Tử Bình chạy thoát. Tháng 12/1943, ông bị bắt ở Thái Bình. Sau khi vượt ngục không thành tại Hà Nam, thực dân Pháp chuyển ông về giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Tại đây ông bị tra khảo bằng cực hình nhưng vẫn giữ khí phách của người Cách mạng khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ thốt lên ‘’sợ cái gan cộng sản đó !’’.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, cùng với chi bộ nhà tù Hỏa Lò do ông Đỗ Mười lãnh đạo, Trần Tử Bình đã tổ chức thành công hai đợt vượt ngục tập thể cho gần 100 tù chính trị thông qua đường cống ngầm. Đây chính là nguồn lực quan trọng chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám. Sau đó theo phân công ông về tổ chức và xây dựng chiến khu Hòa – Ninh – Thanh.

Tham gia lãnh đạo Cách mạng tháng Tám

Thực hiện chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", ngày 18/8/1945 ông Nguyễn Khang, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Trần Tử Bình, thường vụ Xứ uỷ phụ trách Quân sự, đã quyết định khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội. Cuộc khởi nghĩa kịp thời đã làm thất bại âm mưu của Phát xít Nhật đưa tên Việt gian Nguyễn Xuân Chữ từ Sing-ga-po về thay Phan Kế Toại đã bỏ nhiệm sở từ hôm 17/8.

Ngày 19/8, khi lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện trước mặt tiền Nhà Hát Lớn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng kéo đến Phủ Khâm sai (12 Ngô Quyền) và ngay khi cánh cổng lớn được mở ra, Trần Tử Bình đã xông lên, ra lệnh cho tự vệ bắt Nguyễn Xuân Chữ đưa về an toàn khu của Xứ ủy ở làng Vạn Phúc, Hà Đông. Sau đó hai ông Nguyễn Khang và Trần Tử Bình đã dùng tổng đài điện thoại trong Phủ Khâm sai ra lệnh cho chính quyền tay sai ở các tỉnh, huyện "Phải trao quyền ngay cho Việt Minh". Đêm 19 rạng sáng 20/9/1945, Xứ uỷ quyết định thành lập Chính quyền Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ và cử ông Nguyễn Khang làm Chủ tịch, đóng trụ sở ở Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ). Trần Tử Bình tiếp tục hỗ trợ chỉ đạo các cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng, Hà Đông. Cuộc khởi nghĩa thành công ở Hà Nội đã nhanh chóng thúc đẩy các địa phương nổi dậy giành chính quyền và đưa Cách mạng tới thắng lợi trong cả nước…

Tướng quân Trần Tử Bình

Tháng 9 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính trị uỷ viên Trường Quân chính Việt Nam (sau đổi tên là Trường Cán bộ Việt Nam). Tháng 5 năm 1946, ông nhận nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính uỷ Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Năm 1947, ông được đề bạt làm Phó bí thư Quân uỷ Trung ương, Phó Tổng thanh tra Quân đội. Thu đông 1947, Trần Tử Bình chỉ huy mặt trận Đường số 2 – Sông Lô, đập tan một trong hai gọng kìm của quân Pháp tiến quân lên Việt Bắc hòng bắt giữ cơ quan đầu não kháng chiến.

Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 112/SL phong hàm Thiếu tướng cho đồng chí Trần Tử Bình; ông trở thành 1 trong số 11 vị tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.1950-1956, ông nhận nhiệm vụ Chính uỷ Trường Lục quân Việt Nam tại Trung Quốc.

Là Phó tổng Thanh tra quân đội ông tham gia giải quyết những vụ án lớn như vụ “gián điệp ảo” H122, vụ tham nhũng của đại tá Trần Dụ Châu, Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp… Tháng 2 năm 1951, ông được cử làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam II tại Việt Bắc.

Thời gian 1956-1958, ông nhận nhiệm vụ Tổng thanh tra Quân đội, Phó tổng thanh tra Chính phủ, tham gia củng cố và trong sạch hoá chính quyền thời hậu chiến. Năm 1960, ông được bầu làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng III, và được bầu vào Ban chấp hành Trung ương. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khoá II và khoá III.

Nhà ngoại giao Trần Tử Bình

Năm 1959, cách mạng nước ta đứng trước những thời cơ mới. Nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước anh em, đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô, Thiếu tướng Trần Tử Bình được cử làm Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, và tại Mông Cổ.

Vào những năm 1960, Đại sứ Trần Tử Bình đã góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lãnh Trung Quốc với cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Thập niên 1960 quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và Liên Xô, hai quốc gia bảo trợ cho Việt Nam trong cuộc nội chiến, trở nên rất căng thẳng. Lãnh đạo Trung Quốc đã có những thời điểm thể hiện sự không hài lòng về chính sách của Việt Nam đối với Liên Xô. Đoàn ngoại giao Việt Nam, đứng đầu là Đại sứ Trần Tử Bình, đã rất mềm dẻo và khôn ngoan giàn xếp ổn thoả những bất đồng và qua đó đã giúp cho Việt Nam tiếp tục nhận được sự ủng hộ to lớn từ Trung Quốc cũng như Liên Xô.

Trong một lần tháp tùng Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị thăm Trung Quốc, sau đàm phán, bạn đồng ý viện trợ một số lượng hàng hóa cho Việt Nam; trong đó có 2.000 xe vận tải ba cầu Giải Phóng. Phía Việt Nam đề nghị bạn viện trợ thêm phụ tùng thay thế, do điều kiện chiến tranh ác liệt, hệ thống đường giao thông xấu, thường xuyên bị bom mìn... Phía bạn trả lời: Hiện tại không thể sản xuất kịp số phụ tùng thay thế. Với uy tín và mối quan hệ tốt với các lãnh đạo Trung Quốc, Đại sứ Trần Tử Bình đã thay mặt đoàn vận động bạn và đề nghị: “Vậy các đồng chí viện trợ cho chúng tôi thêm 500 đến 1.000 xe nữa, nếu khó khăn thì có thể cấn trừ vào khoản khác. Khi cần chúng tôi có thể lấy phụ tùng của xe chưa sử dụng thay vào xe hỏng hóc”. Đề nghị này nhanh chóng được phía bạn chấp nhận.

Trong số 11 cán bộ được phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (tháng 1/1948), Thiếu tướng Trần Tử Bình có một tiểu sử khá đặc biệt. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Thiên Chúa, từ con chiên được giác ngộ Cách mạng, từ một học sinh trường dòng tự giác tham gia và trưởng thành trong phong trào công nhân, ông trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng 10/1929) tại Chi bộ Phú Riềng. Có lẽ trường hợp của Thiếu tướng Trần Tử Bình là trường hợp không phải nhiều đối với những người Công giáo.


Tiêu đề: Thượng tướng Nguyễn Hữu An, vị tướng trận mạc
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:55:41 am
(http://img707.imageshack.us/img707/8364/thuongtuongnguyenhuuanl.jpg)

Thượng tướng Nguyễn Hữu An (10/1926 – 9/4/1995) Phó Giáo sư Quân sự, nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên Tư lệnh Quân đoàn II.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.

Thượng tá (1958), Đại tá (1966), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986)


‘’Đó là một vị tướng tài, một vị tướng trung thành, trung thực, trung kiên’’ (Đại tướng Chu Huy Mân)

‘’Vị tướng trận mạc’’ (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

“Bộ đội các ông thật tuyệt vời-một đối phương có sự chỉ huy tuyệt vời ở mọi cấp và có những người lính thiện chiến vì sự nghiệp, không bao giờ được đánh giá thấp...” (Tướng Mỹ Mo-rơ, nói về trận Iađrăng do tướng Nguyễn Hữu An trực tiếp chỉ huy)


Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh ra trong một gia đình dân nghèo yêu nước tại xã Trường Yên, huyện Gia Viễn (Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình - đất kinh đô xưa của hai vị vua có công dẹp loạn cát cứ và chống giặc ngoại xâm (Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn). Tháng 8/1945, ông gia nhập quân đội.

Năm 1949, tại đèo Bông Lau và Lũng Phầy (là hai đèo nối tiếp nhau nối liền giữa hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn), ông đã chỉ huy đơn vị mình (thuộc Trung đoàn 174 do Đặng Văn Việt làm Trung đoàn trưởng) đánh nhiều trận gây nhiều thiệt hại cho quân đội Pháp. Năm 1950, trong chiến dịch Biên Giới, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251 chủ công của Trung đoàn 174 (Trung đoàn Cao Bắc Lạng) đột phá trên hướng chủ yếu tiêu diệt đồn Đông Khê (18/9/1950), mở đầu thắng lợi cho chiến dịch. Đây là trận đánh được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm và trực tiếp động viên bộ đội chuẩn bị và lên đài quan sát xem xét tình hình quân địch vì đây là trận đánh có ảnh hưởng tiên quyết đến chiến dịch Biên Giới do Đông Khê là một cứ điểm quan trọng nhưng địch lại tương đối yếu. Trong khi tại Biên Giới giặc Pháp phòng thủ trên một đường biên giới dài, với lực lượng hạn chế không cho phép bộ đội tấn công trên suốt một chiều dài như vậy. Mất Đông Khê tuyến phòng thủ của Pháp trên đường số 4 sẽ bị cắt đôi. Đây chính là nghệ thuật ‘’Đánh điểm để khống chế diện’’ và ‘’Đánh điểm diệt viện’’Chiến thắng Đông Khê buộc thực dân Pháp phải tung 2 binh đoàn cơ động chiến lược Sác Tông và Lơ Pa-dơ lên cứu viện và bị tiêu diệt. Chiến thắng Biên Giới đã ‘’mở toang’’ biên giới với Trung Quốc nối liền cách mạng Việt Nam với cách mạng trên thế giới.

Sau chiến dịch Biên Giới, ông lần lượt là tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó trong các trận chiến thắng ở Bình Liêu, Vĩnh Phúc, Mộc Châu... Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn chủ công (Trung đoàn 174) của sư đoàn 316, ông đã 3 lần chỉ huy đánh cứ điểm đồi A1. A1 là một cụm cứ điểm vào loại mạnh nhất ở hướng đông, “cánh cửa thép” của phân khu Trung tâm, nơi có sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. A1 đã từng được mệnh danh là “cái đinh” của chiến dịch, cho nên trận đánh gặp khó khăn ác liệt ngay từ đầu, Trung đoàn ông và Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ Đô) đã phải thay nhau đánh, giữ liên tục, kéo dài suốt từ 30-3 đến 7-5. Cuối cùng đã mở được “cánh cửa thép” để lực lượng từ hướng đông tiến công vào phân khu Trung tâm cùng các hướng khác, bắt sống tướng chỉ huy Đờ Cát, giành toàn thắng cho chiến dịch, lúc đó Nguyễn Hữu An mới 28 tuổi.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ông làm nhiệm vụ bảo vệ Tây Bắc. Năm 1962, ông lên đường giúp bạn Lào trong chiến dịch Mường Sinh, Luông Nậm Thà. Năm 1964 trên cương vị Sư đoàn trưởng, ông dẫn Sư đoàn 325 vào miền Nam chiến đấu. Vào đến Tây Nguyên, do khó khăn về bảo đảm hậu cần và tình hình thay đổi, sư đoàn 325 phân tán; hai trung đoàn xuống khu 5, chỉ còn Trung đoàn 101 ở lại mặt trận Tây Nguyên (mang mã hiệu chiến trường B3), ông làm Phó Tư lệnh B3. Ông đã trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy Trung đoàn 101 diệt gọn tiểu đoàn biệt động “Cọp đen”, rồi lại đánh thiệt hại nặng trung đoàn 44 chủ lực quân lực Việt Nam Cộng hòa, diệt trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn này.

Thời kì đó (1964 – 1965) ở chiến trường bắc Kon Tum rất cực khổ, bộ đội thường xuyên thiếu lương thực thực phẩm. Trong điều kiện như vậy, ông đã hạ quyết tâm đánh Tu Mơ Rông, một chi khu lớn của Kon Tum. Tướng Đoàn Khuê lúc đó là Chính ủy B3 lo rằng không đánh nổi, vì trung đoàn Ba Gia nổi tiếng, đã ở chiến trường lâu lúc đó còn chưa dám đánh công kiên một chi khu, Trung đoàn 101 mới vào chưa có kinh nghiệm nên cần phải suy nghĩ thật kỹ. Ông vẫn kiên trì giữ phương án đó và được Đảng ủy mặt trận B3 chấp thuận. Kết quả không những diệt được Tu Mơ Rông mà còn diệt luôn cả chi khu Đắc Tô, và chi khu Đắc Sút. Trong chiến tranh đặc biệt, cả Kon Tum có 5 chi khu và một tỉnh lỵ. Trong tay chỉ có một trung đoàn, đánh suốt năm 1965, quân số, đạn dược không có bổ sung, lương thực thì như vậy mà dám đánh và diệt được 3/5 chi khu của Kon Tum, đánh vỡ tan cả mảng bắc Tây Nguyên. Nếu Mỹ không vào thì Tây Nguyên vỡ rất nhanh.

Năm 1965, Thượng tá Nguyễn Hữu An là Tham mưu phó mặt trận B3 và tại đây, tháng 11 năm 1965, ông đã trực tiếp chỉ huy trận đánh nổi tiếng ở thung lũng Ia Đrăng trong chiến dịch Plây-me (chiến dịch đầu tiên mà Quân đội Nhân dân Việt Nam đụng độ với một số lượng lớn quân chủ lưc Mĩ đó là Lữ đoàn kỵ binh không vận số 3 có sự phối hợp của 1 trung đoàn Nam Triều Tiên, 1 chiến đoàn dù và 1 chiến đoàn thiết giáp Việt Nam Cộng Hòa), với cương vị Phó tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, ông đã cùng Bộ tư lệnh bày mưu, tạo thế, kéo quân Mỹ đến thung lũng Ia-đrăng rồi vận động bao vây tiến công liên tục trong 10 tiếng đồng hồ, tiêu diệt gần hết tiểu đoàn 1 và 1 đại đội của tiểu đoàn 2..., trận đánh phủ đầu và chiến thắng lực lượng kỵ binh bay của Mỹ khi quân Mỹ vừa vào Việt Nam, một trận thắng mà chính các tướng lĩnh của Mỹ phải thừa nhận "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam".

Mùa mưa năm 1966, ông lại trực tiếp đi chỉ đạo đánh lại ở chiến trường bắc Kon Tum. Kế hoạch là vây đồn Tu Mơ Rông (địch đã đóng lại khi Mỹ vào) để diệt viện và sẵn sàng đánh Mỹ vì có tin Lữ đoàn dù 173 Mỹ sẽ tham chiến. Vây đồn Tu Mơ Rông được mấy ngày thì trung đoàn 44 chủ lực Việt Nam Cộng Hòa lên viện, xong cứ thập thò không vào sâu trận địa phục kích, ý kiến của Thường vụ Đảng ủy tiền phương và cơ quan tham mưu là cứ kiên trì diệt một bộ phận trung đoàn 44 cho chắc ăn, rồi sẽ quay lại đối phó với Mỹ. Riêng ông, sau một đêm suy nghĩ, đã quyết tất cả lực lượng vây đồn và diệt viện đều rút về bố trí ở khu tập kết cách trận địa khá xa. Mọi người tin ông, chấp hành, song vẫn thắc mắc, nếu địch không vào thì sao, đánh hết gạo về tay trắng hay sao? Nhưng khi bộ đội vừa bố trí xong, thì Mỹ ào ạt đổ trực thăng xuống. Chúng chắc mẩm, chủ lực ta đang bị hút vào mục tiêu quân ngụy, ở đây toàn là lực lượng hậu cần, nếu bóc hết hậu cần thì quân ta hết gạo, đạn, không đánh cũng tan và sẽ quay lại diệt chủ lực ta sau. Như vậy khác với Ia-đrăng, chúng không đổ thẳng quân vào đội hình quân ta để tìm diệt ngay từ đầu. Nhưng chúng đã lầm, rơi vào ổ kiến lửa, bị tiêu diệt rất nặng, tình cảnh cũng như ở Ia-đrăng.

Năm 1971, ông là Tư lệnh Sư đoàn 308 tham gia chiến đấu và góp phần cùng các đơn vị khác trong chiến thắng ở mặt trận đường 9-Nam Lào. Sau chiến thắng, ông lại được Quân ủy Trung ương điều sang giúp Mặt trận Pa thét Lào chiến đấu lấy lại Cánh đồng Chum, đánh quân Thái Lan và quân phỉ Vàng Pao. Với cương vị Phó tư lệnh thay mặt Tư lệnh mặt trận, trực tiếp chuẩn bị quyết tâm chiến dịch. Ông đã dành hai chục ngày, xuống kiểm tra, giúp đỡ các đơn vị phía trước, nhất là các trận địa phòng ngự cấp trung đội, đại đội. Ông cũng phát hiện ra điểm yếu rất lớn của địch là vận tải, tiếp tế chỉ dựa vào máy bay, thế là ông dùng pháo khống chế sân bay Cánh Đồng Chum, cắt tiếp tế, đẩy địch vào chỗ đói, thiếu, phải chuyển sang phòng ngự. Theo sự chỉ dẫn của ông, bộ đội biết cách tổ chức, xây dựng trận địa, biết đánh bằng nhiều loại hỏa khí, ở nhiều cự li, bằng nhiều cách chuyển từ chỗ nhùng nhằng, bị động, đã giành lại quyền chủ động và đã đánh thắng.

Đến cuối tháng 6 năm 1972, Quân ủy Trung ương lại điều ông chỉ huy Sư đoàn 308 chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị. Năm 1975, trên cương vị Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang), ông đã xuất sắc chỉ huy Quân đoàn của mình trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Trong chiến dịch Huế Đà Nẵng (từ 21/3 đến 29/3 năm 1975), Quân đoàn 2 do ông chỉ huy đã cùng với Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 băm nát đội hình Quân đoàn 1-Quân khu 1 Việt Nam Cộng Hòa, khiến gần 10 vạn quân Việt Nam Cộng Hòa phải tan tác tháo chạy, bỏ cả căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng. Với khí thế tiến công thần tốc, Quân đoàn ông lại ập tới phá vỡ tuyến phòng thủ Phan Rang (16/4/1975), áp sát Xuân Lộc, thọc vào trung tâm Sài Gòn từ hướng Đông-Nam, chiếm và cắm cờ trên Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện (30-4-1975).

Chiến tranh biên giới Tây Nam, ông lại chỉ huy Quân đoàn đi bảo vệ biên giới Tổ quốc, rồi cùng các đơn vị khác tiến vào sào huyệt của chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Cam-pu-chia, cứu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng (7-1-1979)...

Đất nước và biên giới trở lại bình yên, ông rời quân đoàn, đi làm Phó tổng Thanh tra quân đội, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng quân khu, rồi quyền tư lệnh Quân khu 2 (1984-1987). Từ năm 1988 đến cuối đời (1995), ông làm Viện trưởng Học viện Lục quân, rồi Học viện Cấp cao (sau là Học viện Quốc phòng).

Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một vị tướng trận mạc. Ông tham gia trọn vẹn cả ba cuộc kháng chiến: chống Pháp, chống Mỹ và chống chế độ diệt chủng Pôn Pốt xâm lược, trải qua 50 năm làm “Lính Cụ Hồ” - vừa tròn nửa kỉ.Vào bộ đội, ông không được ưu ái gì đặc biệt, chiến đấu, công tác ở 26 đơn vị, qua các chức vụ từ trung đội phó đến quyền Tư lệnh Quân khu, Viện trưởng một học viện lớn nhất toàn quân, với cấp hàm Thượng tướng, Phó Giáo sư Khoa học Quân sự. Ông đã đánh hàng trăm trận và tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quyết định chuyển giai đoạn cho cuộc kháng chiến của dân tộc.

Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một người chỉ huy có tầm nhìn chiến lược, một vị chỉ huy quyết đoán và nhạy bén trong xử lý tình huống thực tiễn của chiến trường, lý luận của ông có sức thuyết phục cao. Ông là một người rất hiểu cán bộ cấp dưới của mình, chính ông cũng là người ‘’cứu’’ Anh hùng Lê Xuân Phôi khỏi ‘’án oan’’ Anh hùng cá nhân. Ông cũng là một vị chỉ huy gan dạ, thấy đúng là làm không hề quan tâm đến miệng lưỡi thiên hạ ‘’ Ai nói kệ họ, mình không nằm xuống vì có hai lý do: thứ nhất chúng mình đã thoát ly công sự, nó ném bom kiểu rải thảm, đứng hay nằm, bị trúng là chết thôi; thứ hai nghe tiếng đồn B52 rất ghê, nay bị đánh lần đầu, mà Tư lệnh đã rúc đầu xuống thì tiếng vang khắp mặt trận, anh em chả ai xông lên nữa đâu. Vì trách nhiệm chính trị mà mình đứng nhìn nó thôi, chứ ai mà chả muốn sống, tớ cũng vợ đẹp, con khôn như cậu”

Chiến tích là thế song ông vẫn sống giản dị, khiêm nhường, trọng tổ chức, trọng tình người, trọng con người và có kỷ luật. Đọc hồi ký của ông, có khá nhiều lần ông khen đồng đội: nào Lã Ngọc Châu là chính ủy trung đoàn giỏi, đã chỉ huy trung đoàn như một trung đoàn trưởng thực thụ..., nào Nguyễn Ngọc Thực là một chủ nhiệm hậu cần quân đoàn có tài năng và trách nhiệm..., nào các mũi tiến công của quân ta đã hiệp đồng tuyệt đẹp và ăn khớp... Rõ ràng với ông, vai trò quyết định tất cả là đơn vị, là “anh em”, là tập thể chỉ huy, trong đó có mình.


Tham khảo: Báo Quân đội Nhân dân.


Tiêu đề: Thượng tướng Vũ Lăng, vị tướng hổ lửa
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 02:58:21 am
(http://img10.imageshack.us/img10/3367/thuongtuongvulang.jpg)

Thượng tướng Vũ Lăng (sinh 4/8/1921 – mất 1988), Giáo sư Khoa học Quân sự, nguyên Viện trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân Đà Lạt, nguyên Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên và Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, nguyên Cục trưởng Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công 2 hạng Nhất 1 hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba.

Thượng tá (1958), Đại tá (1966), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986)


Thượng tướng Vũ Lăng tên thật là Đỗ Đức Liêm, ông sinh ra tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, ngoài thành Hà Nội trong một gia đình yêu nước, sớm giác ngộ Cách mạng. Năm 16 tuổi ông là thợ rồi sau đó là y tá tại Bệnh viện Phủ Lý tỉnh Hà Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử đi học ở Trường Quân chính Việt Nam (khóa 5). Tháng 11 - 1945, theo lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông tham gia đoàn quân Nam tiến vào nam Trung Bộ chiến đấu, được cử làm chỉ đạo viên trung đội, sau đó là Phó ban huấn luyện khu 6, rồi Phó ủy viên quân sự Ninh Hòa. Tháng 6 - 1946, ông ra Bắc, được cử làm đội phó bảo vệ Bắc Bộ phủ (Hà Nội). Trên cương vị mới, ông luôn gương mẫu, lãnh đạo anh em, một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội, ông đã có nhiều thành tích và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) tháng 2 -1947.

Sau cuộc rút lui an toàn không mất một người lính, một khẩu súng nào vào đêm 17 tháng 2 năm 1947 của trung đoàn Thủ đô ra vùng tự do, Vũ Lăng là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 54, trung đoàn Thủ đô (E102), đại đoàn 308. Ông đã chỉ huy tiểu đoàn trong trận hạ đồn Đại Bục, mở màn chiến dịch tấn công vào phòng tuyến sông Thao, đúng ngày sinh nhật của chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1949. Từ năm 1947 đến năm 1954, ông tham gia các chiến dịch Việt Bắc. Sông Thao, Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Từ năm 1953 ông là trung đoàn trưởng trung đoàn 98, đại đoàn 316, đồng thời là tham mưu trưởng Đại đoàn. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy, là một trong các Trung đoàn chủ lực, đã thắng trong trận đánh đồi C1 góp phần quan trọng vào chiến thắng của chiến dịch.

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đầu năm 1956 ông được lựa chọn cử đi học tập tại Học viện cao cấp Bộ Tổng tham mưu (Liên Xô) mang tên Vô-rô-xi-lốp. Ông đã cùng đồng đội hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và trở về nước cuối năm 1959 và được cử làm Cục phó Cục nghiên cứu khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước muôn vàn khó khăn, thử thách, trên các cương vị công tác khác nhau, lúc ở cơ quan tham mưu chiến lược, khi ở các bộ tư lệnh chiến trường, ông luôn thể hiện là một cán bộ quân sự có năng lực tư duy sáng tạo, nhạy bén trong tổ chức chỉ huy và tính quyết đoán chịu trách nhiệm cao trước tập thể, lãnh đạo, chỉ huy cơ quan đơn vị. Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (năm 1965-1967), được Bộ Quốc phòng điều động và làm Phó tư lệnh Quân khu 4. Đến nơi chiến trường đang diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, ông đã cùng với tập thể Bộ tư lệnh quân khu xây dựng phương án tác chiến, đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu, đánh thắng máy bay và tàu chiến Mỹ. Bên cạnh đó, ông còn cùng Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đào tạo được nhiều cán bộ chỉ huy bổ sung cho chiến trường miền Nam.

Thực hiện chủ trương về kiện toàn đội ngũ cán bộ chỉ huy cao cấp trong quân đội và chuẩn bị các phương án tác chiến với quân Mỹ, cuối năm 1967 ông chuyển về Bộ và được cử làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục tác chiến. Trên cương vị công tác ở cơ quan tham mưu chiến lược, với tư duy khoa học, năng động, sáng tạo quyết đoán và dầy dặn kinh nghiệm, ông đã đầu tư trí tuệ và có những đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng các phương án tác chiến, góp phần vào thắng lợi lớn của quân đội ta trên hai miền Nam Bắc.

Năm 1974, theo yêu cầu của chiến trường, Thiếu tướng Vũ Lăng được cử vào giữ chức Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên. Cùng với tập thể Đảng ủy Bộ Tư lệnh mặt trận, ông đã triệt để chấp hành sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương, phát huy tính sáng tạo của mình cùng lãnh đạo mặt trận đề xuất ý kiến với Bộ và tiến hành tốt nhất công tác chuẩn bị và chỉ huy trận mở màn then chốt quyết định Buôn Ma Thuột. Tháng 3 - 1975, ông là Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên và Tư lệnh binh đoàn Tây Nguyên. Ở cương vị mới trên chiến trường ông luôn gương mẫu, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, các chỉ thị mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, luôn đặt lợi ích của cách mạng lên trên, giữ vững tính nguyên tắc của Đảng, cùng tập thể đơn vị xây dựng phương án tác chiến tối ưu, chỉ huy bộ đội chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh binh đoàn Tây Nguyên chỉ huy binh đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, góp phần quan trọng giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Bước vào thời kỳ cả nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, năm 1977, trên cương vị mới là Viện trưởng và Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân, ông đã cùng Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng học viện đi vào nền nếp và ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Với kinh nghiệm về xây dựng quân đội đã tích lũy được trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu đào tạo, bổ túc cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển khoa học quân sự. Ông chỉ đạo biên soạn một hệ thống tài liệu với khối lượng lớn, đáp ứng kịp thời đầy đủ cho công tác huấn luyện của tám chuyên ngành binh chủng lục quân. Những tài liệu được Hội đồng khoa học Học viện thông qua có nhiều ý kiến đóng góp và kết luận rất sâu sắc của ông, góp phần rất quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy ở Học viện và cả các nhà trường Quân đội.

Trong suốt những năm công tác tại Học viện Lục quân, ông đã đem hết khả năng, trí tuệ của mình để cùng với Ban Giám đốc Học viện triển khai nghiên cứu thành công nhiều công trình, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng có tác dụng đối với việc xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Năm 1980, Thiếu tướng Vũ Lăng được thăng quân hàm Trung tướng, năm 1986, được thăng quân hàm Thượng tướng. Thượng tướng Vũ Lăng đã được Nhà nước phong học hàm Giáo sư khoa học quân sự đợt đầu tiên trong quân đội.

Ông là một trong những vị tướng nóng tính của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chính vì vậy mà người ta thường gọi ông là tướng Hổ Lửa. Nóng tính nhưng ông lại rất biết chú ý lắng nghe ý kiến của người khác. Một người có tác phong xuề xòa với đồng cấp và cấp dưới đặc biệt là lính tráng. Thế nên mới có chuyện trong chiến dịch Điện Biên Phủ ông bị Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘’đuổi’’ ra khỏi cuộc họp các Trung đoàn trưởng và Sư đoàn trưởng để ‘’chỉnh đốn tác phong’’ hay có chuyện ‘’lính 2 râu (lính thuộc Trung đoàn 66) sờ râu tư lệnh’’ khi ông được điều vào làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.

Ông là một vị tướng có học vấn cao, kiến thức rộng rất yêu văn nghệ và có năng khiếu làm thơ. Trong lần nhận lệnh vào Chiến trường Tây Nguyên đánh Mỹ ông làm bài thơ ‘’Ta lại ra đi’’ nói về vị tướng đã 50 tuổi vẫn hăng hái lên đường ra trận. “Vào nơi lửa cháy bốn bề. Miền Nam lại gọi ta về, bạn ơi!”. Xem ra, thơ ông còn đầy sức trẻ và khoáng đạt lắm:

“Tám chục tuổi vẫn còn lên ngựa
Múa gươm xung trận giữa ba quân
Tướng quân Thường Kiệt tên lừng lẫy
Giặc kia nghe thấy chạy thục thân.

Ta năm nay mới năm mươi lẻ
Tóc dẫu pha sương lòng còn trẻ
Miền Nam tiếng súng còn chưa ngớt
Luống thẹn mình nghe chuyện người xưa.

Ba lô, gậy cũ lên đường
Vai khoác ba lô lòng trẻ lại
Đầu xanh, đầu bạc kề vai bước
Lại thấy trong ta tuổi đôi mươi”.

Thư của ông những năm tháng ở chiến trường gửi cho bà Hoàng Việt Hoa vợ ông có thể xếp đầy một hòm. Một phần trong số này đã được giới thiệu đăng trong tập ‘’Thơ tình từ chiến hào’’.

Dáng người tầm thước, da trắng và bộ râu quai nón, tướng Vũ Lăng là một trong những tướng ‘’tốt râu’’. Ông là nguyên mẫu của nhân vật Văn Việt trong tác phẩm ‘’Sống mãi với Thủ đô’’ của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Là một chỉ huy tài tình xong ông còn là một người lĩnh dũng cảm. Trong trận chiến đấu ở đồi C1 tại Điện Biên Phủ năm 1954, khi ông chỉ huy Trung đoàn từ chiến hào xông lên đánh giáp lá cà với quân Pháp. Tiếng thét xung phong của ông khiến cho viên chỉ huy Pháp khựng lại, tạo điều kiện cho quân ta xông lên tiêu diệt địch. Thượng tướng Vũ Lăng và Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một cặp bài trùng từ những trận đánh ở Điện Biên Phủ cho đến những trận đánh ở Chiến trường Tây Nguyên rồi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.[/i]

Tham khảo: Báo Quân đội Nhân dân, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Trung tướng Lê Văn Tưởng, lão tướng của Nam Kỳ khởi nghĩa
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:03:37 am
(http://img233.imageshack.us/img233/3538/trungtuonglevantuongeh7.jpg)

Trung tướng Lê Văn Tưởng (Lê Chân, Hai Chân, Hai Lê, 10.1919 - 15h45’ 25.7.2007), nguyên Phó Ban kiểm tra Quân ủy Trung ương Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chính ủy Quân khu 9, nguyên Chính ủy Cánh quân Tây Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nguyên Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Chính ủy Sư đoàn 9.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất Nhì Ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu thành đồng Tổ quốc và nhiều huân huy chương khác.

Thượng tá (1958), Đại tá (1966), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984).


Trung tướng Lê Văn Tưởng sinh tháng 10 năm 1919 tại xã Thạnh Lợi, huyện Thủ Thừa, tỉnh Tân An, nay là huyện Bến Lức tỉnh Long An, trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống yêu nước. Ông nội ông là nghĩa quân Thiên Địa Hội từ trước năm 1930. Cha ông tham gia hội kín của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, về sau gia nhập Đảng Cộng sản. Gia đình không có ruộng. Cha ông liên tục vào tù ra khám. Nhà tới chín người con, là con đầu ông phải sớm lăn lộn cuốc mướn làm thuê, vào rừng hái củi về đổi gạo, phụ giúp mẹ nuôi các em. Truyền thống yêu nước của gia đình cùng những cảnh bất công do cường hào gây ra ở miền sông nước đã nhen nhóm trong lòng Lê Văn Tưởng sự căm hờn và hoài bão phải làm điều gì đó cho người dân nghèo quê hương.

Mười bảy tuổi, ông được giác ngộ và làm liên lạc cho cách mạng trong phong trào Đông Dương đại hội. Nhờ sức vóc vạm vỡ và tính khí can trường, ông nhanh chóng chiếm được niềm tin của những bậc cha chú đi trước và được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Năm 1938, tại một cuộc biểu tình đấu tranh ở Tân An trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông bị thực dân Pháp bắt giam sáu tháng ở khám Mỹ Tho. Ra tù về lại quê tiếp tục hoạt động bí mật trong phong trào Nông hội đỏ, ông tham gia chỉ huy quân sự xã, tháng 6 năm 1940 ông chính thức đuợc kết nạp Đảng Cộng sản.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Ông là thành viên nòng cốt đội du kích xã Thạnh Lợi cùng nhân dân đứng lên cướp chính quyền. Giống như tình hình chung ở toàn Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa ở xã Thạnh Lợi biểu thị được lòng yêu nước, gây tiếng vang, nhưng rồi nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp. Càng ngày chúng càng bao vây, lùng sục, khủng bố dã man. Nhiều chiến sĩ bị bắt thủ tiêu. Nhà của Lê Văn Tưởng cùng mấy chục căn nhà khác ở Thạnh Lợi bị đốt cháy trụi. Gia đình phải bỏ trốn đi nơi khác làm ăn sinh sống. Cả Nam Kỳ chìm trong máu lửa của khủng bố trắng. Ông cùng một số chiến sĩ cộng sản rút vào bưng biền củng cố và xây dựng lực lượng chuẩn bị chiến đấu lâu dài.

Khoảng một tháng sau, đội du kích Thạnh Lợi do ông chỉ huy tổ chức tấn công đồn điền mía Hiệp Hòa ở xã Hòa Khánh, huyện Đức Hòa. Trận công đồn bất ngờ này đã gây tiếng vang lớn cả vùng, du kích đã thu đuợc một khẩu súng ngắn 6,35 ly của tên đồn trưởng. Đây là khẩu súng sản xuất ở Tiệp Khắc do tên đồn trưởng lê dương lấy được trong Chiến tranh thế giới thứ nhất khi sang chiến trường Đông Âu. Ông được đội du kích xã Thạnh Lợi giao sử dụng khẩu súng 6,35 ly chiến lợi phẩm.

Đầu năm 1941, trong một lần ông cùng đội võ trang từ bưng biền về xã Thạnh Lợi công tác, bất ngờ bị tên Hương quản Chánh cùng Hương tuần Tám tấn công. Hương quản Chánh là tên tay sai có nhiều nợ máu ở địa phương sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại. Chính tay ông đã dùng khẩu súng 6,35 ly cướp được ở Hiệp Hòa bắn chết Hương quản Chánh. Sau đó, do một du kích quân đầu hàng địch khai báo về cái chết của Hương quản Chánh, Tòa Áo đỏ (tòa đại hình) của chính quyền thực dân Pháp ở Sài Gòn đã kết án ông "tử hình khiếm diện".

Tháng 4 năm 1945, ông tham gia công tác xây dựng cơ sở huyện Thủ Thừa. Trong Cách mạng Tháng Tám, ông được phân công lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện Thủ Thừa. Sau đó, với tư cách ủy viên quân sự huyện, ông thành lập lực lượng dân quân cách mạng, trang bị bằng vũ khí thu được từ các đồn bót giặc. Đây là lực lượng dân quân cách mạng duy nhất ở tỉnh Tân An sau cách mạng. Quân Pháp núp bóng quân đồng minh tái xâm lược, Nam bộ kháng chiến, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Tân An, tiếp tục tổ chức chỉ huy bộ đội chiến đấu.

Tháng 12 năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Tân An và là Chỉ huy trưởng bộ đội liên quân Chợ Lớn-Tân An. Đầu năm 1946, hai lần thủ lĩnh du kích quân Lê Văn Tưởng đón tiếp Trần Văn Trà - Chính trị viên Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa từ Gia Định xuống Tân An tìm cách thành lập Chi đội 14, rồi xây dựng căn cứ địa Đồng Tháp Mười. Cuộc gặp gỡ này cũng chính là mối duyên kỳ ngộ mở đầu cho tình bạn chiến đấu keo sơn giữa hai vị tướng Tư Chi - Trần Văn Trà và Hai Chân -Lê Văn Tưởng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Lúc Chi đội 14 mới hình thành, ông Trần Văn Trà làm chi đội trưởng, Lê Văn Tưởng và ông Nguyễn Văn Siêu làm chi đội phó, ông Nguyễn Đức Huy làm chính trị viên.

Năm 1949, sau khi ông Trần Văn Trà được Trung ương cử làm Khu bộ trưởng Khu 8, Chi đội 14 chuyển thành Trung đoàn 120. Ông Nguyễn Công Trung, nguyên bí thư Xứ ủy Nam Kỳ được điều về làm trung đoàn trưởng, ông Lê Quốc Sản làm trung đoàn phó, ông làm trưởng ban tác chiến. Trung đoàn 120 đã tổ chức đánh địch nhiều trận và giành nhiều thắng lợi ở Tân An, Mỹ Tho, Gò Công,... Sau đó, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 358, Liên trung đoàn 120-105, Phó Bí thư liên Liên chi và Trung đoàn ủy viên. Từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 9 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tân An, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Đồng Tháp, Huyện đội trưởng Huyện đội Mộc Hóa, Chính trị viên Tiểu đoàn rồi Trung đoàn Mỹ Tho, Trung đoàn Ủy viên. Sau đó, ông giữ chức vụ Trưởng ban tổ chức Phân liên khu miền Đông Nam Bộ.

Cho đến năm 1954, Hiệp định Genève ký kết, chuyển quân ra Bắc, tháng 10/1955, ông làm chính ủy Trung đoàn 556 thuộc Sư đoàn 330, Bí thư Trung đoàn ủy rồi sau đó là chủ nhiệm chính trị sư đoàn. Tháng 3 năm 1957, ông theo học trường Nguyễn Ái Quốc. Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 330, Thường vụ Phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn.

Ngày 7 tháng 5 năm 1961, ông được Quân ủy Trung ương phân công trở về Nam chiến đấu. Đoàn Phương Đông 1 do ông Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ông Trần Nam Trung làm chính ủy, ông làm phó chính ủy và các phó trưởng đoàn là các ông: Trần Đình Xu, Đào Sơn Tây, Nguyễn Vọng, Trần Hoài Pho đã bí mật vượt Trường Sơn, sau ba tháng về đến Mã Đà thuộc Chiến khu Đ. Ông được cử làm Chủ nhiệm chính trị Ban chỉ huy Quân sự miền.

Trong thời gian này, ông là Chính ủy Mặt trận Bình Giã rồi Phó Chính ủy Chiến dịch Đồng Soài. Sau thắng lợi của hai chiến dịch Bình Giã cuối năm 1964 (?) và Phước Long- Đồng Xoài giữa năm 1965, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định xây dựng quả đấm chủ lực cho các lực lượng võ trang để đối phó với quân Mỹ - Ngụy. Sư đoàn 9 - sư đoàn chủ lực đầu tiên của B2 ra đời vào ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1965 bên bờ suối Nhung thuộc địa phận Phước Thành với sự tham dự của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ- Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh- bí thư Trung ương Cục kiêm chính ủy Miền, Trung tướng Trần Văn Trà- tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Sư đoàn 9 trên cơ sở ba trung đoàn, do Hoàng Cầm làm sư đoàn trưởng, Lê Văn Tưởng làm chính ủy, Nguyễn Hòa làm sư đoàn phó, Hoàng Thế Thiện làm phó chính ủy, Nguyễn Thế Bôn làm tham mưu trưởng.

Cuối tháng 9 năm 1965, Sư đoàn 9 triển khai phương án tấn công Dầu Tiếng, một vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam bộ. Tư lệnh Trần Văn Trà đích thân xuống tận sở chỉ huy sư đoàn giao nhiệm vụ và bàn bạc cụ thể cả phương án hai đánh Mỹ- đối tượng tác chiến mới trên chiến trường Đông Nam bộ vừa triển khai ba lực lượng lớn. Đó là Sư đoàn bộ binh số 1 mang biệt danh "Anh cả đỏ" đóng ở căn cứ Lai Khê thuộc tỉnh Bình Dương, với 17.530 quân, phiên chế thành ba lữ đoàn, năm tiểu đoàn pháo binh 105 và 155 ly, một tiểu đoàn và hai đại đội không quân cơ động. Tiếp đến là Sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 biệt danh "Tia chớp nhiệt đới" đóng tại căn cứ Đồng Dù thuộc đất Thép Củ Chi, gồm 17.666 quân phiên chế thành mười hai tiểu đoàn bộ binh cơ giới, ba tiểu đoàn thiết giáp, sáu tiểu đoàn pháo 105 và 155 ly, một tiểu đoàn không quân và nhiều đơn vị hậu cần. Thứ ba là Lữ đoàn dù 173 (cơ động bằng máy bay lên thẳng) đóng ở Biên Hòa, gồm 4.313 quân phiên chế thành bốn tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo 105 ly.

Chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng là trường hợp hiếm hoi, khi một chiến dịch phải chuẩn bị song song hai phương án chiến đấu với hai đối tượng là quân Mỹ và lính ngụy Sài Gòn. Trong lúc Sư đoàn 9 triển khai kế hoạch đánh Dầu Tiếng, thì Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam là tướng Westmoreland đã ra lệnh cho Sư đoàn 1- "Anh cả đỏ" đang đóng tại căn cứ Lai Khê gấp rút mở cuộc hành quân vào Dầu Tiếng để giải tỏa cho quân ngụy ở đây đang bị quân giải phóng uy hiếp, đồng thời "tìm diệt" bộ đội chủ lực là Sư đoàn 9 mà chúng phát hiện đang đứng chân khu vực phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn. Quân Mỹ có hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 1, được tăng cường thêm hai tiểu đoàn xe tăng và thiết giáp, một đại đội pháo hành quân từ Lai Khê lên đóng thành hai cụm ở Đồng Sổ và Bầu Bàng.

Để giữ thế chủ động, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 quyết định tiến hành phương án hai đánh Mỹ ở Bầu Bàng. Sở Chỉ huy sư đoàn dời về suối Đòn Gánh để tiếp cận trận địa. 5 giờ 30 sáng ngày 12 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 1 nổ súng phát hiệu lệnh tấn công. Bộ binh địch bị bất ngờ, co cụm chống trả, phi pháo bắn ra như mưa. Máy bay B.52 đến rải bom dọc đường 13 để dọn đường cho bộ binh vào Dầu Tiếng. Cuộc chiến diễn ra ác liệt kết thúc vào khoảng gần 9 giờ sáng. Lần đầu quân Mỹ bị thiệt hại khá nặng, với hai tiểu đoàn, hai chi đoàn thiết xa vận, gồm 2.000 quân bị loại khỏi vòng chiến, 8 khẩu pháo cùng 39 xe mà phần lớn là tăng và thiết giáp bị phá hủy. Tuy nhiên, phía quân giải phóng cũng tổn thất khá lớn với hơn 100 chiến sĩ hy sinh và gần 200 người bị thương để giành lấy chiến thắng rất có ý nghĩa trong buổi đầu đánh Mỹ, rút ra được nhiều bài học quí báu cho cuộc chiến đấu gian khổ lâu dài. Sau trận đánh này, Sư đoàn 9 anh hùng đã được tặng Huân chương Quân công hạng Nhất.

Sau trận mở màn bằng thắng lợi của chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng, Sư đoàn 9 do Sư trưởng Hoàng Cầm và Chính ủy Lê Văn Tưởng chỉ huy tiếp tục lập nhiều chiến tích qua các trận đánh lẫy lừng: Nhà Đỏ- Bông Trang, Cần Đâm, Cần Lê... và đặc biệt là chống trả cuộc hành quân lớn Junction City của quân Mỹ và chư hầu.

Từ tháng 2 năm 1966, theo chỉ thị của Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy tiền phương thống nhất được thành lập làm nhiệm vụ chỉ huy ba thứ quân chiến đấu ở phía bắc Sài Gòn, bảo vệ an toàn Chiến khu Đ nơi có cơ quan đầu não của ta cùng nhiều kho tàng chiến lược. Hoàng Cầm được cử làm chỉ huy trưởng, Lê Văn Tưởng làm chính ủy, ông Nguyễn Hồng Lâm làm chỉ huy phó, ông Hoàng Thế Thiện làm phó chính ủy, với lực lượng gồm Sư đoàn 9, Tiểu đoàn Phú Lợi, các đơn vị vũ trang tập trung và du kích cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông. Liền ngay sau đó, vào tháng 3 năm 1966, tướng Mỹ Westmoreland lại mở cuộc hành quân mang tên "Thành phố bạc" nhắm đánh phá càn quét vùng đất thánh Chiến khu Đ, với lực lượng huy động gồm Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1- "Anh cả đỏ" và một tiểu đoàn quân Úc. Trước sự chủ động chống trả của quân giải phóng, mà chủ lực là Sư đoàn 9 với các trận tập kích ở sở cao su Phú Lương, dốc Bà Thức trên đường 16 và ở Bầu Sắn, quân Mỹ cũng đã bị nhiều thiệt hại, trong đó có năm máy bay lên thẳng bị bắn rơi...

Khi Sư đoàn 9 được điều lên mở chiến dịch Lộc Ninh thì Sư trưởng Hoàng Cầm được rút về làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền. Chính ủy Lê Văn Tưởng và Tham mưu phó Tạ Minh Khâm được giao trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Nhiệm vụ hoàn thành, Lê Văn Tưởng được điều động về làm thường trực Quân ủy Miền, chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy Bộ Tư lệnh Miền chỉ huy phối hợp toàn chiến trường.

Từ năm 1967 đến năm 1970, ông lần lượt giữ các chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh miền, Ủy viên quân ủy miền kiêm Bí thư, Chính ủy Khu Đông Bắc, Bí thư kiêm Chính ủy Chiến dịch Chen-La 2. Tháng 9 năm 1972, ông là Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh quyết định cử tướng Lê Văn Tưởng làm chính ủy và tướng Lê Đức Anh làm tư lệnh cùng sát cánh bên nhau chỉ huy thống nhất hai cánh quân hướng tây và nam tiến vào giải phóng Sài Gòn, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước...

Tháng 5 năm 1976, ông được cử làm Chính ủy Quân khu 9, Phó Bí thư Quân ủy. Từ tháng 5 năm 1978, ông là Phó trưởng ban Kiểm tra quân sự Trung ương. Tháng 5 năm 1984, ông là Ủy viên chuyên trách Ủy ban kiểm tra Đảng thuộc Tổng cục chính trị. Tháng 1 năm 1986,ông là Ủy viên thường trực Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương đến tháng 11 năm 1987 thì ông về hưu.

Từ một du kích quân tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa, bị địch kết án tử hình vắng mặt, Lê Văn Tưởng đã trở thành một vị tướng chiến trường dày dạn trận mạc, từng giữ nhiều trọng trách: chính ủy Sư đoàn 9, phó chính ủy kiêm chủ nhiệm Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, chính ủy cánh quân Tây Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, chính ủy Quân khu 9, phó Ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương,... Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều huân huy chương công trạng. Cuộc đời gian lao và sôi động của lão tướng Lê Văn Tưởng là một trong những hình ảnh điển hình nhất cho người nông dân Nam bộ yêu nước thế kỷ XX khi Tổ quốc còn chìm đắm trong bóng đen ngoại xâm.

Tham khảo: Báo điện tử Cần Thơ, Báo Nhân dân.


Tiêu đề: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng lâu năm nhất
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:06:26 am
(http://img835.imageshack.us/img835/2343/daituongvantiendungaiz3.jpg)

Đại tướng Văn Tiến Dũng (2/5/1917 – 2002), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1954 – 1978), nguyên Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông là vị tướng chiến lược số hai của Việt Nam, được giới quân sự Thế giới đánh giá cao.

Huân chương Sao vàng (1995), Huân chương Hồ Chí Minh (1979), Huân chương Quân công hạng Nhất – Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Ngoài ra ông còn được tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh (1967), Huân chương Tự do hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huân chương Ăng-co của Nhà nước Căm-pu-chia.

Thiếu tướng (1948 trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội), Thượng tướng (1958), Đại tướng (1974)


""Đồng chí Văn Tiến Dũng là một trong những tướng lĩnh tài năng xuất sắc của quân đội ta, là người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Ông được phong Thiếu tướng ngay trong đợt phong Quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1948), Thượng tướng 1959 – là Thượng tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng năm 1974. Đại tướng Văn Tiến Dũng (Lê Hoài) quê tại xã Cổ Nhuế (xưa gọi là Kẻ Noi), huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông sinh năm 1917, là năm của Cách mạng tháng Mười Nga.

Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, ông theo cha ra Hà Nội sinh sống. Tại Hà Nội, cha ông làm bảo vệ tại nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt – Đức). Đến tuổi đi học, ông trở lại quê theo học tại Đông Ngạc, cách nhà 3 cây số. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó cho nên ông rất cố gắng học hành. Khi 15 tuổi, cha đột ngột qua đời, ông đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may. Dẫu không đến lớp, nhưng Văn Tiến Dũng vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi, mua sách về tự học thêm các môn Lịch sử, Pháp văn, Văn học...

Năm 1935, nhằm bớt gánh nặng cho anh chị, 17 tuổi, Văn Tiến Dũng xin anh cho ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông). Hàng ngày ông phải làm việc 10 giờ bất kể Chủ nhật, có hôm bị chủ bắt làm tới 12 giờ. Cũng chính trong những ngày tháng gian lao, cực nhọc này, Văn Tiến Dũng được giác ngộ và bước chân vào cuộc đời cách mạng, nhanh chóng trở thành một chiến sĩ xuất sắc.

Tháng 11/1937, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1938, ông được cử làm Bí thư chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội. Năm 1939, ông được cử làm Thư ký Ban thường trực Liên đoàn lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.  Năm 1936, ông tham gia phong trào đấu tranh công khai của công nhân Hà Nội. Tháng 12/1936, ông tham gia tổ chức cuộc bãi công đầu tiên của công nhân xưởng dệt Hà Nội.

Tháng 7/1939, ông bị Thực dân Pháp bắt, nhưng do không có bằng chứng nên chúng buộc phải thả ra sau 3 ngày giam giữ. Hai tháng sau, ông lại bị Thực dân Pháp bắt giam, bị kết án 2 năm tù về tội tàng trữ tài liệu, sách báo, tuyên truyền các khẩu hiệu của Đệ tam Quốc tế và gây rối trị an. Tháng 11/1939, ông cùng một số chiến sĩ cách mạng bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Vượt qua mọi gian nguy, hà khắc của nhà tù thực dân, hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, ông đã nhanh trí trốn thoát.

Ngay sau khi thoát nhà tù Thực dân Pháp, ông tìm mọi cách bắt liên lạc với tổ chức mà đại diện là “Anh to đầu” – người thợ in Nguyễn Văn Đáng, tức Trần Đăng Ninh (sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam), một trong những cán bộ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ít lâu sau, ông Trần Đăng Ninh bị bắt và Văn Tiến Dũng bị mất liên lạc hoàn toàn với tổ chức. Không trở về quê vì đang bị Thực dân Pháp truy lùng, ông quyết định rủ Nguyễn Tiến Lãng – Cũng là một chiến sĩ hoạt động tích cực trong thời kỳ 1936 – 1939 (thời kì của Mặt tộc dân chủ), chưa bị lộ tung tích – về Hà Đông để vừa gây dựng phong trào và chờ dịp nối liên lạc với Trung ương.

Cùng với Nguyễn Tiến Lãng, ông sắm vai thợ mộc đi về các làng xóm sửa chữa vặt các đồ gỗ, đồng thời khéo léo tuyên truyền cách mạng. Sau đó ông làm mướn cho một bà cụ chuyên bán hàng ở chợ Nứa (mỗi tháng 6 phiên, làng Đoan Nữ, Mỹ Đức, Hà Tây). Lúc rảnh rỗi, Văn Tiến Dũng rủ con trai bà chủ la cà vào trong xóm kết bạn với trai làng cho đến khi thân thì lựa lời giác ngộ họ. Chẳng bao lâu sau, chi bộ Đảng vùng này được thành lập và lan sang cả làng bên (Vĩnh Lạc). Trong thời gian này, ông còn giác ngộ được Lý Bảng khiến cho gia đình Lý Bảng trở thành một cơ sở của Việt Minh – tên thật là Nguyễn Viết Bảng, lý trưởng làng Vĩnh Lạc, một người có học thức, yêu thơ văn, yêu nước và căm ghét Thực dân Pháp.

Những hoạt động của ông khi làm thuê cho bà cụ chủ hàng bị để ý bởi mật thám, được sự giúp đỡ của Lý Bảng, ông tạm thời xuống tóc đi tu tại ngôi chùa bỏ hoang Bột Xuyên thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây nhằm che mắt mật thám tiếp tục bám cơ sở để tuyên truyền Cách mạng. Lúc này ông 25 tuổi. Tháng 3/1943, ông bắt được liên lạc với Đảng và được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Đông. Tháng 6/1943, ông được chỉ định tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ. Ngày 8/1/1944, ông làm Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. Tháng 4 /1944, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau khi kết thúc một khóa học về Quân sự tại An toàn khu, tháng 8/1944, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 3. 3 giờ sáng ngày 27/12/1944, ông đã dũng cảm vượt ngục. Chỉ ít ngày sau, Tòa án thực dân ở Bắc Ninh đã kết án ông tử hình vắng .

Tháng 4 năm 1945 trong Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Trung ương Đảng triệu tập, ông được cử vào Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ (Bộ tư lệnh miền Bắc Đông Dương) cùng với các ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn. Đồng thời được chỉ thị trong thường trực của Ủy ban hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương Đảng và phụ trách trực tiếp chấn chỉnh tổ chức Chiến khu Quang Trung gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, thành lập các đơn vị Cứu quốc quân, chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền ở các tỉnh kể trên.

Tháng 8/1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa. Sau cách mạng tháng Tám, tháng 11 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến Khu II (gồm 8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc Bộ), làm Chính ủy chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương vừa chỉ đạo một số đơn vị của khu “Nam tiến” đánh Pháp, vừa chỉ đạo các cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) và từ Sầm Nưa (Lào) tiến công vào Lai Châu, Sơn La. Tháng 12/1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Phó bí thư Quân ủy Trung ương. Ngày 25 /1/1948, ông được phong quân hàm thiếu tướng.

Từ tháng 10/1949 đến năm 1950, ông là Chính ủy Liên khu 3, kiêm Tư lệnh liên khu, tham gia Thường vụ Khu ủy Khu 3. Tháng 1 năm 1951, sau chiến dịch giải phóng Biên giới Việt-Trung, ông được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh cử ra thành lập và làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn chủ lực 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) một đại đoàn hoạt động trong vùng địch kiểm soát ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

Tháng 11 năm 1953, sau chiến dịch phản công liên tiếp của quân và dân ta đánh bại cuộc hành quân Hải Âu của quân đội Pháp ra tây nam Ninh Bình kết thúc, ông giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tham gia Tổng quân ủy và là Tổng tham mưu trưởng lâu nhất tính cho đến hiện nay (thay Đại tướng Hoàng Văn Thái). Năm 1954, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Giơ ne vơ.

Từ năm 1954 đến năm 1978, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã cùng các ông trong Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức huấn luyện xây dựng lực lượng vũ trang. Đặc biệt đã xây dựng và chỉ đạo các lực lượng phòng không-không quân, hải quân làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân của ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam.

Ông, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch: Đường 9 Nam Lào (mùa Xuân 1971) đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Mỹ nhằm phá hủy các đơn vị hậu cần dọc biên giới Việt Lào của miền Bắc chi viện cho miền Nam nhằm cắt đường chiến lược Hồ Chí Minh; Trị Thiên (3/1972) tiêu diệt sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự của chúng giải phóng tỉnh Quảng Trị; Điện Biên Phủ trên không (12/1972) đánh bại cuộc tập kích đường không của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam (12/1972) đập tan huyền thoại B52 của Đế quốc Mỹ buộc Mỹ phải ngồi vào phòng đám phán tại Paris 1973 và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam; Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975), trong chiến dịch này ông thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch (Tư lệnh chiến dịch là Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Chính ủy là Đại tá Đặng Vũ Hiệp); Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975), giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những đỉnh cao trong đường binh nghiệp của ông, được giới quân sự trên Thế giới đánh giá cao vì chiến dịch đã giải phóng Sài Gòn trong một thời gian ngắn, trong hiện trạng gần như nguyên vẹn. Trong khi Quân đội Sài Gòn tập trung ở đây một lượng lớn lực lượng cũng như binh khí kĩ thuật. Với kinh nghiệm của một vị tướng đã dạn dày trận mạc, ông đã chỉ đạo những lối đánh táo bạo, thọc sâu, kết hợp vu hồi, đột phá, biết tạo thời cơ, nắm thời cơ, chủ động tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Từ tháng 5/1978 đến năm 1986, ông được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ là, Phó bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương. Tháng 2/1980 đến 1986 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.Từ năm 1984 đến 1986 ông là Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm về quân sự như "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"... Ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (2/1951); Ủy viên Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa III (3/1960); Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (3/1972). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị. Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng từ khóa II (1960) đến khóa VII (1981 – 1986).

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công phụ trách chỉ đạo công tác Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và biên soạn lịch sử Quân đội.

Là Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong một thời gian dài, vị Tổng tham mưu trưởng lâu năm nhất (từ năm 1954 đến năm 1978), tên tuổi của ông luôn gắn liền với những chiến thắng lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông là một trong hai vị tướng chiến lược của Cách mạng Việt Nam được cả Thế giới biết đến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được cử làm Tổng tham mưu trưởng thay Đại tướng Hoàng Văn Thái (khi đó là Thiếu tướng) khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt ở giai đoạn cuối. Sau 9 năm kháng chiến trường kì, Quân đội ta đã trưởng thành vượt bậc. Cách tác chiến của ta không còn là ở ‘Tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập’ nữa mà đã có những binh đoàn chủ lực, có khả năng đọ sức với những đơn vị được trang bị hiện đại Thực dân Pháp cũng như tiến hành những chiến dịch Quân sự trên một diện rộng quy mô toàn quốc. Tuy nhiên việc phối hợp tác chiến và đề ra chiến lược trên một quy mô rộng như vậy làm công tác tham mưu trở lên hết sức phức tạp và đặc biệt khi ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch quyết định thành công của công cuộc kháng chiến 9 năm của cả dân tộc – Đại tướng Văn Tiến Dũng được cử làm Tổng tham mưu trưởng trong một hoàn cảnh như thế. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, mặc dù không trực tiếp ra chiến dịch nhưng ở Căn cứ địa Việt Bắc ông trở thành một trong hai chỉ huy Quân sự cao nhất, tham mưu cho Bộ chính trị mở một loạt các chiến dịch nhằm hỗ trợ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, trên Thế giới ông được biết đến nhiều hơn trong cuộc Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, khi trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch lớn như Đường 9 Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972), Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972), Tây Nguyên (3/1975) và đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975). Trong con mắt của giới quân sự phương Tây thì ông luôn được xem như là một người cộng sự ăn ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tư tưởng và ý đồ quân sự.

Gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, kiên cường, Đại tướng Văn Tiến Dũng trở thành nhà quân sự chiến lược có uy tín của quân đội ta; là một trong những vị tướng chỉ huy xuất sắc; là người lãnh đạo đầy tinh thần cách mạng tiến công, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến tranh nhân dân ta qua các cuộc kháng chiến và đối với nền khoa học nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam.

Chính những năm tháng hoạt động cách mạng của ông cùng với các vị tướng tài ba của quân đội ta là những bước thể nghiệm thành công những vấn đề về lý luận quân sự của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn chiến tranh Việt Nam. Từ lý luận đến thực tiễn và từ thực tiễn bổ sung hoàn thiện thêm lý luận đã được Đại tướng thể hiện thành công qua các tác phẩm hồi ký, luận văn quân sự, những bài viết, huấn lệnh, chỉ thị… có giá trị trong quá trình chỉ đạo đấu tranh và tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự, Báo Tiền phong.


Tiêu đề: Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nhà lí luận quân sự
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:08:55 am
(http://img839.imageshack.us/img839/5116/thuongtuonggshoangminht.jpg)

Thượng tướng, Giáo sư Khoa học Quân sự, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo (25/10/1921-08/09/2008), nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng Việt Nam), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều huân huy chương cao quý khác. Đặc biệt ông được Nhà nước Việt Nam tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình về Nghệ thuật quân sự.

Đại tá (1948), Thiếu tướng (1959), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1984)


Mọi người đều ấn tượng với hình ảnh của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nhất là ở cặp lông mày rậm và xếch ngược lên trên rất hiếm gặp.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, quê tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động (vốn là vùng đất Đăng Châu, Vĩnh Động, Kim Thi xưa). Đây là vùng đất nghèo nhưng giàu truyền thống, là nơi xuất thân của 8 vị tướng lĩnh qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, trong đó có những vị thuộc hàng công thần dựng nước như Đại tướng Nguyễn Quyết, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên…

Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ông phải ra vùng Hòn Gai, Quảng Ninh làm nghề thợ may. Và vùng đất Mỏ là nơi chôn nhau cắt rốn của cậu bé Tạ Thái An. Đầu năm 1930, các đồng chí Quốc dân Đảng tại Quảng Ninh của cha ông bị đàn áp, bắt bớ nhiều. Cha ông đành phải bỏ Hòn Gai đến Lạng Sơn tá túc, còn ông phải theo mẹ về quê. Để nuôi con, mẹ ông hàng ngày cứ sớm tinh mơ là quảy quang gánh đến các vườn rau, mua cất rồi đem đi các chợ bán vất vả, toan lo kiếm miếng cơm. Được vài năm, khi cha ông đã ổn định, Tạ Thái An lên Thất Khê sống với cha và được đi học lại, 10 tuổi ông mới chính thức đi học lại lớp một.

Sau khi hoàn thành lớp nhất (tương đương với lớp 5 hiện nay), Tạ Thái An được cha gửi xuống Hà Nội ở nhờ một người quen ở 29 Hàng Bồ để học tiếp trung học Trường Thăng Long. Cũng trong quãng thời gian này, trong những lần về Lạng Sơn nghỉ hè, ông giác ngộ cách mạng qua những đợt tham gia buổi tuyên truyền của Đảng. Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức. Hồi đó, ông lấy bí danh hoạt động là Tạ Quang, còn cái tên Hoàng Minh Thảo thì mãi đến năm 1945 mới ra đời và gắn bó với ông từ đó cho đến nay.

Năm 1939, ông mới có dịp trở về quê hương lần thứ 2 chịu tang mẹ. Sau khi chu toàn cho mẹ, ông trở lại trường và từ đó cuộc đời ông hoàn toàn được hiến dâng cho cách mạng. Năm 1941, ông tham gia Việt Minh, và là một trong năm người được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Cuối năm 1944, ông tham gia gây dựng cơ sở chính trị và xây dựng lực lượng du kích ở vùng biên giới Lạng Sơn.

Tháng 1/1945, ông tham gia Ban phụ trách công tác biên giới của Tổng bộ Việt Minh, và tháng 5/1945 đảm nhận chức Ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy lâm thời Lạng Sơn. Từ tháng 8/1945 đến năm 1949, ông là phái viên của Bộ Quốc phòng ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng, giữ chức Khu trưởng Chiến khu III – là vị Khu trưởng trẻ tuổi nhất, Phó Tư lệnh Liên khu III. Năm 1948, trong đợt phong quân hàm đầu tiên, ông được phong quân hàm Đại tá của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Cuối năm 1949, ông được đề bạt làm Tư lệnh Liên khu IV. Năm 1950, Đại đoàn 304 Anh hùng (Đoàn Vinh Quang) được thành lập tại Thanh Hóa, ông được cử làm Tư lệnh của Đại đoàn. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đòan do ông chỉ huy là một trong năm Đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch lịch sử này. Từ năm 1954 đến năm 1966, ông là Hiệu phó, rồi Hiệu trưởng Trường Quân sự trung cao cấp, Phó Giám đốc Học viện Quân chính, Giám đốc Học viện Quân sự.

Từ tháng 11/1966, ông đảm đương trọng trách Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, đến năm 1967 là Tư lệnh. Tháng 8/1974, ông là Phó Tư lệnh Quân khu V. Đến tháng 3/1975, ông là Tư lệnh chiến dịch giải phóng Tây Nguyên. Một chiến dịch bậc thầy về nghệ thuật nghi binh. Một cú đấm chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến trường của mùa Xuân 1975. Và đây cũng là đỉnh cao trong sự nghiệp binh nghiệp của ông.

Sau giải phóng, từ tháng 5/1976 đến năm 1989, ông là Viện trưởng Học viện Quân sự trung cao cấp, Viện trưởng Học viện Quân sự cao cấp. Năm 1987, ông kiêm nhiệm chức Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng. Năm 1990 ông giữ chức Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đồng thời là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự, là Ủy viên Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam. Ông được phong hàm Giáo sư khoa học quân sự năm 1986, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 1988...

Là một nhà khoa học, một tướng lĩnh tài năng, GS Hoàng Minh Thảo vừa trực tiếp chỉ huy tác chiến, vừa tổng kết khoa học những vấn đề chiến thuật và chiến lược quân sự để viết thành những cuốn sách có giá trị lớn phục vụ trực tiếp cho chiến đấu, góp phần vào thắng lợi trên nhiều chiến trường. Các công trình của ông đã được các nhà xuất bản như Quân đội nhân dân, Chính trị quốc gia in, phát hành và đã trở thành những tài liệu quý giá không chỉ trong nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự mà còn là tài liệu phục vụ đào tạo, huấn luyện các sĩ quan, cán bộ lãnh đạo quân đội và các nhà nghiên cứu quân sự.

Cụm công trình về nghệ thuật quân sự Việt Nam gồm 8 cuốn sách (chi tiết xem trang 52) của GS Hoàng Minh Thảo đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.

Ông viết cuốn: "Học tập khoa học quân sự Xô viết" - cuốn sách đầu tiên trong Cụm công trình này từ khi là Hiệu trưởng Trường Quân sự trung cao, làm công tác huấn luyện quân sự cho cán bộ quân đội. Cuốn sách thứ hai của ông được xuất bản ngay tại chiến trường Tây Nguyên với tựa đề ‘’Tổ tiên ta đánh giặc’’. Cũng ở chiến trường, trong những năm 1973-1974 ông hoàn thành cuốn: "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa". Còn năm cuốn sau ông viết ở Hà Nội, khi là Viện trưởng Học viện Quốc phòng và Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự. Cụm công trình này được hoàn thành trong vòng hơn 40 năm, từ năm 1958 đến năm 2001.


Tham khảo: Báo Quân đội Nhân dân.


Tiêu đề: Đại tướng Lê Trọng Tấn, tướng trận giỏi nhất hay Zhukov của Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:11:11 am
(http://img803.imageshack.us/img803/390/tuongletrongtan.jpg)

Đại tướng Lê Trọng Tấn (1/10/1914 – 5/12/1986), nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (2007), Huân chương Quân công hạng Nhất hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1980), Đại tướng (1984)


"Người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

‘’Đây có phải là tướng đánh trận giỏi nhất ở Việt Nam không’’ (Chủ tịch Phidel, khi gặp Tướng Lê Trọng Tấn trong lần Chủ tịch ra thăm chiến trường Quảng Trị)

"Trí – Dũng – Nhân – Chính – Liêm – Trung", "Rộng lượng và Hào hiệp", "Tài năng, Cương trực", "Đức độ, Tài ba", "Quyết đoán, Nhân nghĩa", "Người chỉ huy ưu tú, kiên cường, người thủ trưởng có tình thương chân thành, chăm sóc anh em với tình cảm của người anh, người mẹ" (Đây là tất cả những lời tốt đẹp nhất mà các Sĩ quan cao cấp dành cho ông)


Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thận là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây trong một gia đình trí thức có 7 người con (5 trai, 2 gái). Cha ông là một thày đồ nghèo mất khi ông mới lên 7 tuổi, ông trưởng thành nhờ sự tần tảo của người mẹ. Xã Yên Nghĩa là một xã có truyền thống yêu nước cũng như có truyền thống cách mạng, thời kì trước cách mạng, nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng, mà sau này họ trở thành những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn...Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa.

Ham mê bóng đá và võ nghệ từ nhỏ, khi là học sinh của trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An ở Hà Nội) ông đã được tuyển vào Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp. Sau đó, có một thời gian ông là lính khố đỏ. Đại tướng Lê Trọng Tấn tham gia Việt Minh từ năm 1944. Lúc đầu ông được phân công làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai-Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ông là thành viên trong Ủy ban chuẩn bị khởi nghĩa tỉnh Hà Đông được cử về tuyên truyền, tổ chức và xây dựng Lực lượng vũ trang tại Ứng Hòa, La Khê, La Cả (Hà Đông).

Quê ông có 4.593 nhân khẩu, nạn đói năm 1945 làm chết đói gần một nửa. Ông đã tổ chức phá kho thóc, chia gạo cho nhân dân Do Lộ vượt qua nạn đói khủng khiếp. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia vào Ủy ban khởi nghĩa Hà Đông phụ trách Quân sự - bởi những hiểu biết về quân sự có được trong thời gian ông làm lính khố đỏ, ông nhập ngũ từ thời điểm này. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong những ngày toàn quốc kháng chiến mùa Đông năm 1946, ông chỉ huy một tiểu đoàn (Tiểu đoàn 60, Trung đoàn 37 ?) chiến đấu tại mặt trận Hà Đông – một cửa ngõ quan trọng phía Tây Thủ đô. Ông tổ chức diệt bốt Đồng Quan và giành thắng lợi trận đầu tiên.Tháng 12-1945, ông được kết nạp vào Đảng. Những trận đánh hay, thắng lợi giòn giã của Hà Đông đều có ông, tổ chức cho từng trận đánh vừa củng cố, vừa xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh.

Sau Tết Đinh Hợi 1947, Bộ Tổng Tham mưu điều một số đơn vị Vệ quốc đoàn ở các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Hải Phòng… cùng một lực lượng khác thuộc Chiến khu 2 gấp rút lên miền Tây, tăng cường cho khu vực biên giới Việt-Lào để giữ vững hướng chiến lược này. Ngày 27-2-1947, Trung đoàn Tây Tiến (E52) được thành lập gồm 4 tiểu đoàn và ông là một trong những chỉ huy tiểu đoàn cùng với các ông Phùng Thế Tài, Nam Hải, Hoàng Mười…Tiếp theo đó ông lần lượt giữ chức vụ Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng các Trung đoàn Sơn La (E148) rồi Trung đoàn Sơn Tây (E37)

Ngày 23/8/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu trưởng Khu XIII khi đang giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn Tây. Ngày 25/1/1948, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu phó Khu X. Ngày 16-4-1949, Ông tham gia dự buổi lễ thành lập Đội vũ trang đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được thành lập tại Liên khu X cùng với ông Cay-xỏn Phôm-vi-hản (Sau này là Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào). Đây cũng là ngày truyền thống của Bộ đội Pathét Lào. Ông là Chỉ huy trưởng Liên quân Việt - Lào tổ chức đánh các trận ở Thượng Lào, Hạ Lào, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, cánh đồng Chum, giải phóng và xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân Lào.

Năm 1949, theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, trung đoàn 209, chủ lực của Liên khu 10 chuyển thành trung đoàn mạnh, trực thuộc Bộ, mang danh hiệu trung đoàn Sông Lô. Lê Trọng Tấn khi đó là Phó tư lệnh Liên khu 10 được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Từ ngày 19/5 đến ngày 18/7 năm 1949, ông tham gia chỉ huy Chiến dịch Sông Thao. Chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào phòng tuyến sông Thao của Pháp ở khu vực Yên Bái, Lào Cai, nhằm diệt sinh lực, phát động chiến tranh du kích, mở rộng khu căn cứ Tây Bắc. Chiến dịch Sông Thao gồm ba đợt kết thúc thắng lợi đã làm tiêu diệt và bức rút 25 cứ điểm, loại khỏi chiến đấu gần 500 địch, thu hơn 300 súng, phá vỡ một mảng lớn phòng tuyến Sông Thao từ Ba Khe đến Bảo Hà (khoảng 70 km), tạo thế liên hoàn nối liền vùng tự do của ba tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái.

Tháng 11 năm 1949, để mở thông đường liên lạc, vận chuyển từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, 4 đồng thời thu hút lực lượng địch đang tập trung càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch Lê Lợi trên chiến trường tỉnh Hòa Bình. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch đảm nhiệm từ chợ Bờ lên Suối Rút (ông Hoàng Sâm là Tư lệnh chỉ huy từ Hồi Xuân lên Mai Hạ và ông Lê Quang Hòa là Chính ủy). Kết quả Bức tường quân Pháp ngăn chặn giữa Việt Bắc và Liên khu 3, 4 bị đập tan, toàn huyện Mai Châu được giải phóng. Âm mưu lập xứ Mường tự trị bị phá sản.

Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên khi mới 36 tuổi. Tháng 9 năm 1950, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định mở Chiến dịch Biên Giới nhằm khai thông đường liên lạc giữa Việt Nam với hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó tư lệnh chiến dịch đồng thời ông là chỉ huy của trận đánh tiêu diệt Binh đoàn cơ động Sác-tông của Pháp.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là Đại đoàn đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam (Béatrice) (ngày 13 tháng 3 năm 1954) khiến cho thiếu tá Pégrot bị tử thương cùng với toàn bộ sĩ quan trong hầm. Ngày 7/5/1954, trong đợt tiến công cuối cùng, một đơn vị của Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn của ông cùng với một đơn vị thuộc Trung đoàn 174 đã bắt sống tướng Đờ Cát và ban chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1960 ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Đây là thời kì hết sức quan trọng nhằm đào tạo nguồn cán bộ quân sự chi viện cho miền Nam chuẩn bị cho Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ tháng 3 năm 1961 đến năm 1962 ông giữ cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 9 năm 1964, để chuẩn bị đánh Mỹ, cùng với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ông được cử vào Nam nhận nhiệm vụ Phó tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam cho đến năm 1969. Ông là một trong các vị tướng tham gia tổ chức Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Từ năm 1970 đến năm 1971, ông là Đặc phái viên Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạch Bộ chỉ huy Quân Giải phóng nhân dân Lào, tham gia chỉ đạo cánh đồng Chum.

Ngày 30-1-1971, Quân đội Mỹ kết hợp với Quân đội Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, tiến ra đường số 9 và Nam Lào, nhằm đánh chiếm Sê Pôn và chặn phá đường mòn Hồ Chí Minh. Đối phương huy động tới hơn 3 vạn quân chủ lực, 450 xe tăng, 250 khẩu pháo, 700 máy bay, chia làm 3 hướng: cánh quân chủ yếu vượt qua Lao Bảo đến Bản Đông; hai cánh còn lại dùng trực thăng đổ bộ xuống các điểm cao bên đường 9, đồng thời tuyên bố: “Sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn”...Quân ủy Trung ương đã chủ động mở Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (Mật danh 720) để đối phó, khiến cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa từ thế chủ động sang thế bị động phải rút lui. Ngày 7-3-1971, khi nghe báo cáo “Việt Nam Thông tấn xã báo cho Cục Tuyên huấn là ngụy Sài Gòn hủy bỏ kế hoạch đưa phóng viên báo chí phương Tây đến Sê Pôn...”. ông đã nói ngay: “Địch sắp rút”... Và ngay hôm sau, lời kêu gọi của Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận đã được truyền xuống các đơn vị: “Thời cơ chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận đã đến! Diệt và bắt sống thật nhiều địch! Phá hủy thật nhiều phương tiện chiến tranh của chúng! Đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719! Bảo vệ vững chắc con đường mang tên Bác, giành toàn thắng cho chiến dịch”...Mười ngày tiếp đó, từ các mũi, hướng, bộ đội dồn dập tấn công. 18-3-1971, đối phương phải bỏ Bản Đông tháo chạy, và cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã bị đập tan!

Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh chiến dịch Quảng Trị với mật danh anh Trọng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị 1/5/1972. Năm 1973, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1, là Quân đoàn bảo vệ miền Bắc. Tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Đánh tan Quân đoàn I, Quân khu I Việt Nam Cộng hòa khi mà tại căn cứ Liên hợp Quân sự Đà Nẵng họ còn tới gần 10 vạn quân cộng với vũ khí hiện đại. Tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông (gồm quân đoàn 2, quân đoàn 4, sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Chính trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bằng óc phán đoán và đầu óc phan tích chiến lược, ông đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân của mình nổ súng trước giờ G để cho đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên.

Từ năm 1976 đến tháng 2 năm 1977 ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện quân sự cao cấp. Từ tháng 6 năm 1978 đến năm 1986 ông là Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 2 năm 1979 ông chỉ huy các lực lượng vũ trang trong chiến tranh biên giới Tây Nam và đánh quân Khmer Đỏ của Pol Pot ở Campuchia. Mùng 1 tháng 7 năm 1983, 70 tuổi, ông vẫn chỉ huy trận đánh bảo vệ Biên giới phía Bắc. Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 4 và 5 (từ 1976 đến 1986), đại biểu Quốc hội khóa VII.

Ông được mệnh danh là tướng trận, tướng tấn công và thường ví ông như nguyên soái Giucov của quân đội Liên Xô. Các nhà khoa học quân sự và quân đội anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm chiến lược, chiến thuật, kiệt xuất của QĐND Việt Nam. Ông đánh giá đúng tình hình, biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng thể hiện tài năng của người chỉ huy trận mạc. Ông là hình mẫu của quân lệnh như sơn, thẳng thắn, nghiêm túc, bao dung, biết đánh, nhưng cũng biết dừng để bảo toàn lực lượng.

Ông đi đến đâu, chỉ huy chiến dịch nào, mũi tiến công vào đâu, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ của các quân đoàn do ông chỉ huy đều đoàn kết một lòng một dạ tin tưởng, vững tâm vào tài năng, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán cho từng trận đánh. Kẻ thù nghe tin tướng Ba Long chỉ huy chiến dịch nào đều sợ hãi, hoảng loạn, co cụm, bạc nhược và tê liệt sức chiến đấu, đó là uy quyền của một dũng tướng. Thắng lợi trong những trận đánh, tất yếu có sự hy sinh đổ máu. Ông không bao giờ chấp nhận câu nói: “Trận này ta thiệt hại không đáng kể”. Vì đây là sự hy sinh xương máu của các chiến sĩ.

Cuộc đời ông đã có mặt hầu hết ở các chiến trường nóng bỏng và đã chỉ huy hàng trăm trận đánh trên cả 2 miền Nam - Bắc. Dấu ấn 2 mốc son lịch sử của ông năm 1954, ông là Đại đoàn trưởng F312 đã chỉ huy tham gia chiến dịch Điện Biên lịch sử, đánh phía Đông vào Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát. Năm 1975, ông là Tư lệnh trưởng, chỉ huy các binh đoàn đánh phía Đông vào Dinh độc lập, cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, bắt sống tướng Dương Văn Minh, phải đầu hàng vô điều kiện. Hai trận đánh, hai mốc son lịch sử đã kết thúc hai cuộc chiến tranh với quân đội viễn chinh Pháp, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Mở ra kỷ nguyên mới, hòa bình, thống nhất độc lập và tự do của dân tộc. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: Hai trận đánh xứng đáng hai lần anh hùng.

Lê Trọng Tấn, một vị tướng tài năng có kinh nghiệm và kiến thức khoa học quân sự. Chiến dịch giải phóng miền Nam, ông đã chỉ huy vài vạn quân với hàng nghìn xe các loại, hợp đồng ba thứ quân và các binh chủng, vượt qua hàng nghìn cây số, vượt 500 con sông, đến đúng giờ quy định của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần quyết định thắng lợi ngày 30-4-1975. Với chiến thuật đánh chắc thắng chắc, bao vây giỏi, chiếm từng phần, đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, trong đánh ra ngoài đánh vào, khống chế điểm mạnh, đánh điểm yếu của địch, diệt từng phần, chớp thời cơ, tiêu diệt toàn bộ sinh lực của địch. Đã đúc kết được 6 nội dung là: Vây lấn, tấn, phá, triệt, diệt có giá trị cho lịch sử khoa học quân sự Việt Nam.

Không thể kể hết công trạng quá dài của ông, người ta chỉ có thể ghi nhận điều cốt yếu: ông luôn được tin cậy để giao nhiệm vụ gầy dựng nền móng ban đầu cho những công việc hệ trọng và mới mẻ. Không chiến trường nào không lưu dấu chân ông từ Bắc-Nam-Trung, không cuộc chiến tranh nào dù chống Pháp, chống Mỹ, chống bọn diệt chủng Pôn Pốt hay bảo vệ biên giới phía bắc, lại không cần đến tài năng quân sự của ông. Từ vai trò Hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân cho đến Viện trưởng Viện Khoa học quân sự, Giám đốc Học viện chính trị cao cấp Bộ Quốc phòng, ông là người thầy xứng đáng cho những sĩ quan thế hệ sau. Nhưng đáng nói hơn, ông là tướng tư lệnh của tất cả những chiến dịch lớn nhất, quan trọng nhất trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng...; chiến dịch Đường 9 Nam Lào, mặt trận Trị Thiên mùa hè 1972; tư lệnh cánh quân duyên hải, khai sinh sau khi Đà Nẵng giải phóng, đến Sài Gòn sớm nhất vào mùa xuân 1975... 70 tuổi Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận.

"Anh Tấn ơi! Ngơ ngác khắp quân doan
Sáng họp... tối đi... sao vội thế anh?
Đại hội chưa xong... anh lên đường
Như xưa kia Bác Hồ điện gấp
Vẫn như ngày nào suốt đời cập rập
"Chơ vơ dưới cửa ba nghìn khách
Lạnh lẽo trong lòng chục vạn binh"
Sáng như trời sang xuân
Tối như mùa đổi tiết...".
(Đại tá NSND Tào Mạt)

Mưu trí nhưng thận trọng, ông luôn tìm ra cách đánh ít tổn thất nhất cho binh sĩ. Với sĩ quan thuộc cấp, ông chân thành thương yêu nhưng không cho phép sai sót. Ông là vị tướng "biết dùng quân, luyện quân, nuôi quân, chỉ huy quân". Là một vị tướng chiến trường nổi tiếng nhưng ông cũng là một người có đầu óc chiến lược. Một vị tướng chiến lược mà vóc người thanh mảnh, nói năng nhỏ nhẹ như thầy giáo làng quê mà ta thường gặp, rất dễ gần gũi.


Tiêu đề: Trung tướng Cao Văn Khánh, vị tướng tham mưu
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:14:15 am
(http://img37.imageshack.us/img37/236/trungtuongcaovankhanh.jpg)

Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980), nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1974-1980), nguyên Tham mưu trưởng Mặt trận Nha Trang Khánh Hòa (1946), nguyên Khu trưởng Quân sự Khu 5(1946-1949), nguyên Đại đoàn phó (đầu tiên) Đại đoàn Quân tiên phong.

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba...

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980)


Ông sinh năm 1917 tại Thừa Thiên Huế. Sau khi đỗ Cử nhân Luật, ông không đi theo con đường để trở thành quan mà chọn nghề dạy học. Ông dạy trường tư nhưng vì dạy giỏi cho nên cùng với Hữu Ngọc ông luôn được Trường Quốc học Huế và Trường Đồng Khánh tại Huế mời chấm thi. Tham gia phong trào hướng đạo sinh, Cao Văn Khánh là hướng đạo sinh có tài tổ chức và chỉ huy, là một người yêu nước, ông được cách mạng bắt liên lạc và khuyên học Trường Quân sự (Võ bị) Thanh niên tiền tuyến ở Huế.

Trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến Huế tuy do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lập ra nhưng được điều hành bởi những nhà trí thức nổi tiếng như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Luật sư Phan Anh-cả hai đều giữ những chức vụ chủ chốt trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng tháng 8. Học viên của trường hầu hết đều là sinh viên các trường Đại học ở Đông Dương, một số đã là cơ sở của Việt Minh hướng sinh viên theo hướng mặt trận Việt Minh. Nhiều sinh viên xuất thân danh giá như ông Tôn Thất Hoàng con của Thượng thư Tôn Thất Quảng, Đặng Văn Việt (chỉ huy nổi tiếng của Trung đoàn 174, người được mệnh danh là Con hùm xám của Đường số 4 – Đệ tứ quốc lộ đại vương) có bố là Tổng đốc Nghệ An từng ba lần giữ chức thượng thư, ông Võ Sum là con quan án sát Võ Chuẩn, ông Lê Thiệu Huy con trai cụ Lê Thước và là anh em họ với Giáo sư Lê Văn Thiêm, sau sang chiến đấu tại mặt trận Lào làm Tham mưu trưởng liên quân Lào Việt người đã lấy thân mình che đạn cho Hoàng thân Xu-pha-nu-vông khi mặt trận Thà Khẹt bị vỡ và hy sinh trên dòng Mê-kông, ông Hoàng Xuân Bình em ruột Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, ông Nguyễn Thế Lương tức Thiếu tướng Cao Pha là con ruột của một nhà thầu khoán lớn…Nhiều sinh viên của trường đã trở thành những tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như Thiếu tướng Đào Hữu Liêu-Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế, Thiếu tướng Đoàn Huyên-Tư lệnh Bộ đội Tên lửa Phòng không, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Thiếu tướng Mai Xuân Tần-Đại đoàn Quân tiên phong, Thiếu tướng Võ Quang Hồ-Cục phó Cục tác chiến, Thiếu tướng Phan Hàm-Bộ tổng Tham mưu…

Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông cùng với các sinh viên của Trường tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế dưới sự lãnh đạo của ông Phan Tử Lăng (tốt nghiệp thủ khoa khóa quân sự chính quy đầu tiên của Pháp cùng khóa với Dương Văn Minh-Đại tướng Tổng thống Ngụy miền Nam Việt Nam, chỉ huy vệ binh Trung Kỳ, sau này ông là Đại tá Cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam). Sau đó, ông nhập ngũ và tham gia vào Ban chấp hành Giải phóng quân.

Thực dân Pháp trở lại đánh chiếm Nam Bộ (23/9/1946), cùng một đơn vị Giải phóng quân của Thừa Thiên Huế, ông lên đường Nam tiến và được cử làm Tham mưu trưởng mặt trận Nha Trang-Khánh Hòa. Sau đó, ông được cử làm Khu trưởng Quân sự khu 5, Chính ủy là ông Trần Lương (Thượng tướng Trần Nam Trung, Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam). Ngày 19/12/1946, cùng với Tướng Nguyễn Chánh, ông là một trong hai người ra lệnh cho nổ súng ở Đà Nẵng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến ở khu 5.

Năm 1949, Đại đoàn Quân tiên phong (Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam) được thành lập do ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam) làm Đại đoàn trưởng. Cao Văn Khánh được Bộ Tổng tư lệnh điều ra Việt Bắc giữ chức vụ Đại đoàn phó theo sắc lệnh số 57 ngày 18 tháng 6 năm 1949 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông cùng Đại đoàn tham gia nhiều chiến dịch lớn như : 1949-Chiến dịch sông Thao trên cương vị Chỉ huy phó chiến dịch, 1950-Chiến dịch Biên giới…

Năm 1953, Trung ương và Bộ Quốc phòng đã nhìn thấy trước yêu cầu, bộ đội Việt Nam rồi đây sẽ phải tiến công tiêu diệt những tập đoàn cứ điểm mạnh của quân Pháp. Ông cùng với ông Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng), hai người đồng chí gắn bó với nhau trong các chiến dịch sông Thao và Biên Giới, được giao phó trách nhiệm nghiên cứu chuyên đề Tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm.

Đến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), khi Bộ chỉ huy chiến dịch chuyển từ chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc, Đại đoàn 308 dưới sự chỉ huy của Đại đoàn phó Cao Văn Khánh được giao nhiệm vụ đặc biệt: Mở đường hành quân sang đất Lào tiến công địch trên tuyến sông Nậm Hu, đánh phủ đầu để làm mất sức những lực lượng quân Pháp rồi đây sẽ tiếp viện cho quân bị vây hãm ở Điện Biên và bịt trước con đường mà theo dự kiến quân Pháp sẽ đồn trú ở lòng chảo Điện Biên thua trận sẽ tháo chạy.

Ngày 22/5/1954, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Toản (nữ sinh Đồng Khánh năm xưa, là con gái út quan thượng thư Tôn Thất Đản, em vợ Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ. Bà Toản sau này là Đại tá Giáo sư Bác sĩ). Lễ cưới của ông bà được tổ chức ngay trong hầm của tướng Đờ-cát và là một trong năm đám cưới được tổ chức tại đây sau ngày chiến thắng.

Trong kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1964, Cao Văn Khánh đã có mặt tại Quân khu 4, tuyến đầu của miền Bắc chi viện tiền tuyến lớn. Ông vào chiến trường miền Nam cũng rất sớm. Năm 1966, đã cùng bộ đội đóng tại Đắc Tô (Tây nguyên). Từ năm 1966 đến năm 1974, thời kỳ chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất, ông được cử làm Tư lệnh B5 (Trị Thiên Huế) đồng thời Cao Văn Khánh là thành viên Ban Chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng trên cương vị Phó Tư lệnh như : Khe Sanh (1968), Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972), Tây nguyên (1974).

Sau gần 30 năm trực tiếp chỉ huy quân đội tại các chiến trường, năm 1974, Cao Văn Khánh được điều về làm việc tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng. Đây là thời gian khẩn trương chuẩn bị cuộc tổng tiến công và nổi dậy lịch sử năm 1975. Trong mùa xuân đại thắng, cùng với Đại tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất Hoàng Văn Thái, Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh là một trong những trợ thủ đắc lực của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Ngoài các nhiệm vụ khác, Cao Văn Khánh đảm trách phần việc từng ngày, từng giờ nắm chắc tình hình chiến sự, kịp thời báo cáo với Bộ Chính trị và đích thân Tổng tư lệnh. Chính ông là người truyền đạt chính xác, kịp thời mệnh lệnh của tổng tư lệnh đến các cánh quân, các lực lượng trên chiến trường. Đủ thấy công việc không chỉ vô cùng khẩn trương mà còn đòi hỏi ý thức trách nhiệm cao và một trí tuệ sắc sảo.

Trung tướng Cao Văn Khánh mất đột ngột ở tuổi 63 vào năm 1980 do ung thư gan kịch phát bởi di chứng của chất độc màu da cam mà ông mắc phải trong chuyến đi vào huyện A Lưới Thừa Thiên. Theo lời kể của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự thì đoàn có 5 người thì có đến 4 người mất vì căn bệnh ung thư gan, người còn lại duy nhất là ông nhưng có con gái út bị di chứng chất độc da cam.

Hai người con trai của tướng Cao Văn Khánh thì một đã hy sinh trong chiến tranh một cũng ra đi ở tuổi ngoài 30 bởi căn bệnh giống hoàn toàn ông-ung thư gan kịch phát bởi di chứng chất độc màu da cam. Vợ ông Đại tá-Giáo sư-Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản hiện là Ủy viên thường vụ Hội nạn nhân chất độc màu da cam-một tổ chức mà bà là một trong những người đầu tiên vận động thành lập, một người không ngừng đấu tranh nhằm xoa dịu nỗi đau của nạn nhân chất độc màu da cam và đòi chính quyền Mỹ phải bồi thường cho họ.


Tiêu đề: Tướng Nguyễn Chánh, hồn nghệ sĩ trong một vị tướng chiến lược
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:22:29 am
(http://img20.imageshack.us/img20/7505/tuongnguyenchanhb.jpg)

Tướng Nguyễn Chánh (5/8/1914-24/9/1957), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ, Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5. Hội sử học Việt Nam đã trân trọng đúc tượng đồng ông, hiện đặt tại Viện Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 11.12.2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì…


Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) 1954, tướng Pháp Đờ Bô-pho (De Beaufort) nhờ Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho ông ta gặp bằng được người chỉ huy đánh bại chiến dịch At-lan-te trên chiến trường Tây Nguyên năm 1953-1954. Tổng tư lệnh đã đồng ý và sắp xếp một cuộc gặp riêng giữa tướng Đờ Bô-pho và tướng Nguyễn Chánh. Đờ Bô-pho đã không tin rằng ngồi trước mặt mình là "một vị tướng đã làm cho tôi điêu đứng trên chiến trường" - như hồi ký sau này ông ta đã thuật lại.

‘’Anh Nguyễn Chánh là một cán bộ lãnh đạo trung kiên của Đảng, một vị tướng tài của quân đội, đã có cống hiến lớn với cách mạng và kháng chiến. Anh đã đi quá sớm, năm 1957, lúc mới 43 tuổi, tài năng đang độ phát triển.’’ (Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp)

“Cuộc đời một con người mới 43 tuổi mà đã để lại một sự nghiệp như vậy, có thể nói là một cuộc đời thật đẹp: đời của một người cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, một vị tướng có tài và một con người mẫu mực”. (Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp)

“Là một con người thông minh và hiếu học, rất giàu những phẩm chất cao quý của người chiến sĩ cách mạng, mà cũng rất giàu trí tuệ và tài năng. Anh bắt đầu giác ngộ cách mạng và hoạt động cách mạng từ thời rất trẻ, đã vào tù ra tội nhiều lần và suốt đời phấn đấu vì mục tiêu cao cả là độc lập dân tộc và CNXH” (Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng)

Anh Nguyễn Chánh là một con người văn hóa, một nhà văn hoá, theo nghĩa rộng và đẹp nhất của khái niệm đó. Ở anh, không ít đâu, có tinh hoa của văn hoá uyên bác phương Đông và Việt Nam, mà bằng sự thông minh hiếm có, anh đã học được ngay từ nhỏ và gìn giữ, phát triển suốt đời, vận dụng sắc sảo những gì là bản chất tinh tuý nhất, trong công việc cách mạng, trong ứng xử việc lớn việc nhỏ, trong quan hệ với con người. Phần này đến từ gia đình và truyền thống văn hiến quê hương…Anh Nguyễn Chánh đã cho ta hiểu thế nào là một nhà văn hoá, mà chẳng phải “ồn ào văn hoá” chút nào. (Nhà văn Nguyên Ngọc)


Tướng Nguyễn Chánh, tên thật là Nguyễn Hiệp và bà con hàng xóm vẫn thường gọi là Chín do ông là con thứ tám trong nhà, quê tại Thọ Lộc (nay là xã Tịnh Hà) huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi. Quê hương ông đã sinh ra nhiều người có học vị, cử nhân, tú tài nho học. Nhiều nhà yêu nước đứng lên lãnh đạo nhân dân, tổ chức nhiều cuộc bạo động chống thực dân Pháp xâm lược và triều đình phong kiến bán nước. Hàng chục sĩ phu đã bị quân giặc xử chém, bêu đầu, nhưng phong trào vẫn liên tiếp bùng nổ lan rộng. Bản thân quê hương ông cũng là nơi sinh thành của nhiều tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như : Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Nguyễn Đôn, Trung tướng Phạm Kiệt (anh vợ của Tướng Nguyễn Chánh)…

Ông sinh ra ở một trong mười hai cảnh đẹp của Quảng Ngãi (Hà nhai vãn độ). Nơi đây, ngày xưa sát bờ sông là chợ chiều buôn bán tấp nập, bến Biền ghe thuyền qua lại đông vui, xóm làng sầm uất, kéo dài từ sát bờ sông ra phía Bắc giáp đường lộ từ huyện lỵ Sơn Tịnh đi Đồng Ké. Ở đây đào giếng nơi nào cũng mạch nhiều, nước ngọt lịm nên có câu ca:

“Ai xa nhớ trở về quê
Trước sông, sau chợ, giếng kề một bên”

Nguyễn Chánh là con út trong một gia đình có tám con (tám lần sinh nhưng chỉ còn sáu người - bốn trai, hai gái) gia đình chỉ có cái ao sau nhà là tài sản quý giá nhất. Gia đình ông, nhất là về phía mẹ, là một gia đình có truyền thống văn chương, mẹ ông thường ca ngợi cuộc khởi nghĩa do Lê Trung Đình lãnh đạo. Ông sinh ra trên mãnh đất địa linh nhân kiệt, sản sinh nhiều nhà yêu nước, nhiều nhà thơ phú. Bố ông là cụ Nguyễn Hàm Chức, là một thợ xe nước bậc thầy, dân xe nước ở Sơn Tịnh, Quảng Ngãi không ai không biết tới ông. Bến đò xóm Vạn ở Sơn Tịnh từng có một bờ xe nước mang tên cụ. Gia đình cụ tuy không khá giá nhưng rất có uy tín trong làng, bản thân cụ hồi trẻ đã từng tham gia nghĩa quân Lê Trung Đình chống Pháp. Cụ là cơ sở của nhiều nhà Cách mạng tiền bối như Nguyễn Nghiêm, Phan Thái Ất, Tôn Diêm…và sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ngôi nhà tranh của cụ trở thành đại bản doanh của các nhà lãnh đạo khu 5.

Thời thơ ấu, ông là trò giỏi, học rất thông minh, được thầy giáo yêu quý, bạn bè nể phục. Thường thường, tan buổi học, thầy Rôm ra về rồi, ông rủ bạn ở lại ngồi "truy" bài. Ai chưa hiểu ông giảng lại như thầy giáo phụ giảng. Có bạn quá nghèo, ông cho cả vở để viết. Thi sơ học yếu lược (tưong đương lớp 3 tiểu học), vào môn vấn đáp, giám khảo hỏi ông:
- Tại sao người ta lập đền miếu để thờ?

Ông thản nhiên trả lời:
- Thưa thầy, đó là xưa bày, nay làm; chứ con nghĩ không có ma quỷ nào cả.

Thầy giáo ngạc nhiên và cho điểm tốt. Cùng các môn thi khác ông đỗ đầu kỳ thi sơ học yếu lược. Tiếp đó ông còn đi học chữ Hán của thầy Tú Trầm và học phương pháp châm cứu, đốt chữa bại liệt, bốc thuốc bắc của thầy Cừ. Nối nghiệp các bậc ân sư ông đã chữa lành cho nhiều người.

Ngày cụ Phan Chu Trinh về nước, ông thường đi mua sách báo, thơ ca yêu nước rồi tập họp gia đình, chòm xóm lại đọc cho mọi người nghe. Ông đọc các tác phẩm: "Quốc gia huyết lệ", "Nam quốc dân tu trí", "Nữ quốc dân tu trí"...và đọc thơ cách mạng. Từ đó lúc nào ông cũng nói đến độc lập, tự do của dân tộc và căm thù thực dân Pháp xâm lược.

Tướng Nguyễn Chánh sớm giác ngộ và sớm tham gia cách mạng. Năm 1929, khi mới 15 tuổi, qua anh ruột là ông Nguyễn Tải, ông bắt đầu làm cách mạng: liên lạc cho tổ chức Thanh niên Cách mạng ông hội bảo vệ và che giấu cho các đảng viên cộng sản ở khu vực Suối Ngổ. Bước ngoặt quan trọng nhất với Nguyễn Chánh là thời gian ông làm liên lạc cho ông Trương Quang Trọng, nguyên Bí thư Thanh niên cách mạng đồng chí hội năm 1929, trước khi ông Trong hy sinh anh dũng ở nhà ngục Kom Tum. Năm 1930, ông phụ trách tuyên truyền cho Phân khu Bắc Trà (sông Trà Khúc) của Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Sau ngày 1 tháng 5 năm 1931, ông bị bắt trên sông Trà Khúc. Bọn xã giải ngay về huyện để lĩnh thưởng của tri huyện Nguyễn Bính. Trong phòng hỏi cung, ông khai sinh năm 1916 (14 tuổi), trình độ văn hóa sơ học yếu lược, đang lao động chăn trâu ở Suối Ngổ, nơi ông bố vỡ hoang, trồng thuốc lá. Bị bắt phải khai nhận là cộng sản, ông khai đi khai lại cương quyết không nhận kể cả khi tri huyện Nguyễn Bính trực tiếp hỏi cung.

Mấy ngày sau, ông bị chuyển lên nhà lao tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây có tên cai ngục Trần Luận khét tiếng tàn ác. Chúng treo Nguyễn Chánh lên đánh liên tục hai ngày liền, ông vẫn không một lời khai báo. Cuối cùng ông bị kết án 2 năm tù vì tội trốn theo cộng sản. Tại nhà lao Quảng Ngãi, tù chung thân và tù có án tử hình bị nhốt chung. Tù nhân ở đây không chỉ chết vè các đòn tra tấn dã man mà còn chết vì ngạt thở, phù thũng. Cơm tù nấu bằng gạo mục có lẫn mọt sâu. Rau muống luộc với giẻ rách. Ngày nào cũng có xe bò kéo xác tù đi chôn ở núi Bút. Trước tình hình đó, ông tham gia đấu tranh, quyết định tuyệt thực để chống chế độ nhà tù hà khắc. Cuối cùng, địch phải nhượng bộ, cải thiện một phần chế độ ăn uống trong tù. Trong thời gian ở tù, ông được các tù nhân hết sức yêu quý bởi học thức và tính cách, đồng thời ông cũng là thầy đốt, thầy châm cứu chữa lành bệnh cho các tù nhân. Trong nhà lao, ông gặp bà Phạm Thị Trinh (là người ông, người vợ của ông. Bà được kết nạp Đảng năm 1930 và là Đại biểu Quốc hội khóa 1). Cùng năm này, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi hết hạn, ra tù, ông vẫn bị o ép, quản thúc tại nhà.

Từ năm 1935 đến năm 1939, ông là Tỉnh ủy viên thường trực Tỉnh ủy Quảng Ngãi phụ trách đấu tranh công khai rồi sau đó là Bí thư liên tỉnh ủy ba tỉnh Quảng Ngãi-Bình Định-Phú Yên (1939). Năm 1939, ông tổ chức đám cưới với bà Phạm Thị Trinh (mặc dù bố mẹ bà Trinh lúc đầu không đồng ý vì chê tướng Nguyễn Chánh nhỏ và đen). Cùng năm này, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai và giam vào xà lim số 1, xà lim mà ai vào đó thì hoặc là chết hai là tàn tật. Nhưng ông thà chết khống khai, thực dân Pháp kết án ông tù khổ sai và áp giải lên đồn Ba Tơ. Nhận thấy ông vẫn là mối nguy hiểm ở đây, thực dân Pháp lại đưa ông ra Gi-lăng rồi đưa lên Buôn Ma Thuột. Ở đây ông tham gia ban lãnh đạo đấu tranh chống đàn áp tù nhân, tổ chức nhiều cuộc tuyệt thực, làm reo, náo động cả thị xã. Ngoài ra ông cùng còn mọi người tích cực học lý luận Mác Lê-nin, học đường nối chính sách của Đảng, học quân sự, học văn hóa, học tiếng Pháp và làm thơ. Nguyễn Chánh dạy chữ Hán, dạy làm thơ đường luật và chăm chỉ học tiếng Pháp... Càng đấu tranh, tính cách Nguyễn Chánh càng đậm sắc.

Tháng 9 năm 1944, hết hạn tù, lũ tay sai của thực dân Pháp vẫn còn sợ “thả hổ về rừng” lên đưa ông đi an trí trại căng Phú Bài Thừa Thiên. Đây thực chất là nhà tù trung cổ, làm cho tù nhân chết dần, chết mòn. Căng như ấp chiến lược, xung quanh có hào sâu, dây thép gai, hầm chông, cạm bẫy. Tù nhân bị bắt đi làm xâu, vô cùng vất vả, cực nhọc. Họ vào qua một cái cầu treo. Cầu kéo lên, căng bị cô lập với bên ngoài. Lính gác dày đặc trên các chòi canh, sẵn sàng bắn bất cứ ai mà chúng nghi là chạy trốn. Phải đến lúc Nhật đảo chính, ông mới vượt mọi khổ ải từ Căng An Trí Phú Bài trở về quê hương.

Ngày 11/3/1945, khởi nghĩa Ba Tơ thành công dưới sự chỉ huy trực tiếp của các ông Nguyễn Đôn, Phạm Kiệt (sau này đều là Trung tướng). Chi bộ Đảng của Đội du kích Ba Tơ chủ trương rời bỏ đồn chuyển ra rừng xây dựng căn cứ để phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, càng đi vào rừng sâu đội càng gặp nhiều khó khăn, quân số giảm. Trước tình hình này, Nguyễn Chánh được Đảng ủy Tỉnh Quảng Ngãi phân công về lãnh đạo đội du kích Ba Tơ, duy trì và phát triển làm nòng cốt cho mặt trận Việt Minh tại tỉnh Quảng Ngãi, và đây cũng là đội vũ trang đầu tiên, lòng cốt của khu 5 (Nam Trung Bộ) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời cũng là một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đã có chủ trương rất táo bạo, sáng suốt: không để Đội du kích luẩn quẩn trên vùng rừng núi, có chủ trương đưa quân về đồng bằng, dựa vào phong trào quần chúng cách mạng để xây dựng và chiến đấu, đồng thời phát triển dân quân tự vệ và tham gia phát động phong trào cách mạng của quần chúng. Chính do chủ trương đúng đắn, sắc sảo này mà trong một thời gian rất ngắn Đội du kích Ba Tơ từ mười mấy người đã phát triển thành hai đội mạnh (Đại đội Phan Đình Phùng hoạt động ở Nam Quảng Ngãi, Đại đội Hoàng Hoa Thám ở Bắc Quảng Ngãi), cùng với hàng vạn dân quân tự vệ và quần chúng cách mạng, tạo nên cao trào mạnh mẽ.

“Khởi nghĩa Ba Tơ dày chiến tích
Cao muôn trùng điệp gió ngàn ru
Đèo lên mây chạm đầu du kích
Dốc xuống mưa lùa chân chiến khu”
(Đội du kích Ba Tơ-Tướng Nguyễn Chánh)

Ngày 14/8/1945, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông, đội du kích Ba Tơ với khoảng 2000 vệ quốc quân đã trở thành lực lượng nòng cốt hỗ trợ quần chúng tiền hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi từ tay Phát-xít Nhật. Quảng Ngãi là một trong bốn tỉnh giành chính quyền sớm nhất ở nước ta trong Cách mạng tháng 8 (Hải Dương, Hà Giang, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi). Với cương vị là Trưởng ban quân sự, chỉ huy cuộc Tổng khởi nghĩa, Nguyễn Chánh tỏ rõ tài năng chính trị, quân sự song toàn, nhanh nhạy, nắm bắt thời cơ, hành động kiên quyết, kịp thời, đã cùng tập thể đưa cuộc tổng khời nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn.

Kháng chiến toàn quốc 1946, ông là Ủy viên trưởng Quốc phòng của Ủy ban kháng chiến Trung Bộ cho đến năm 1950. Phó bí thư khu ủy khu 5 kiêm Chính ủy Liên khu 5 từ năm 1945 đến năm 1948. Liên khu V có vị trí chiến lược quan trọng, đặc biệt có chiến trường Tây Nguyên, khống chế cả khu vực Nam bản đảo Đông Dương và nối liền hành lang huyết mạch với Nam Bộ. Vì vậy, từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến, ông Phạm Văn Đồng được Trung ương cử vào làm đại diện của Trung ương và Chính phủ ở đây trực tiếp chỉ đạo chiến trường này. Trong thời kỳ đó, quân và dân liên khu V đã lập được kỳ tích: giữa vòng vây của quân thù, vẫn giữ vững vùng tự do gồm bốn tỉnh đồng bằng ven biển liên hoàn - Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Bên cạnh đó chính quyền cách mạng hoàn chỉnh, có kinh tế tự túc ổn định, văn hóa giáo dục phát triển, hệ thống đường giao thông giữa các tỉnh với Nam Bộ. Nam Trung Bộ thực sự trở thành một hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến. Với cương vị là Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V, ông có sự đóng góp quan trọng vào kỳ tích đó.

Từ năm 1949, sau khi ông Phạm Văn Đồng cùng một số lãnh đạo khu 5 khác (Nguyễn Duy Trinh...) được điều ra Việt Bắc, tướng Nguyễn Chánh giữ vai trò chủ chốt ở liên khu 5. Ông lần lượt giữ các chức vụ Phó Bí thư Liên khu ủy V, kiêm Chính ủy Liên khu 5 (1948-1951). Bí thư Liên khu uỷ, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu 5 (1951-1954). Năm 1950, ông ra dự Hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới, ở lại tham gia Đảng uỷ các chiến dịch Đường 18 và Trung Du vào đầu năm 1951 với cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông đã dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 (1951) và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Lúc này, Trung ương đã có ý định giữ ông ở lại làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh để Đại tướng tập trung chuyên về công tác Đảng, nhưng do nhu cầu của chiến trường nên ông lại trở về Liên khu 5.


Tiêu đề: Tướng Nguyễn Chánh, hồn nghệ sĩ trong một vị tướng chiến lược
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:23:11 am
Từ năm 1951 trở đi, phong trào cách mạng và kháng chiến ở Liên khu V không ngừng tiếp tục được giữ vững mà còn có những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh hơn. Là Bí thư Liên khu ủy, ông tỏ ra là một người lãnh đạo toàn diện. Là Chính ủy kiêm Tư lệnh, ông tỏ ra là một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, đồng thời là người chỉ huy kiên quyết có tài năng tổ chức. Vào mấy năm 1951-1952, Liên khu V gặp nhiều vấn đề khó khăn phức tạp: vụ Sơn Hà, nạn đói trầm trọng vì thiên tai, những sai lầm trong chỉ đạo thu thuế nông nghiệp, thực hiện tổng động viên, những vấn đề nẩy sinh trong xây dựng và tác chiến của các lực lượng vũ trang...Nguyễn Chánh một lần nữa lại tỏ rõ tài năng bao quát mọi lĩnh vực, giải quyết dứt điểm từng vấn đề, trên cơ sở một tri thức sâu rộng và đầu óc thực tiễn. Năm 1952, ông ra một quyết định táo bạo là giảm quân của Liên khu V từ 5 vạn xuống còn 3 vạn theo hướng "tinh binh, tinh cán" nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của bộ đội Liên khu.

Năm 1953, ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ quan trọng trong chiến cục Đông-Xuân-Hè 1953-1954. Nhằm phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, thực hiện nghị quyết của Quân ủy Trung ương, ông đã kiên trì đấu tranh, giải thích với mọi ý kiến trái ngược cũng như các thắc mắt của lãnh đạo cũng như bộ đội và đồng bào khu 5 về chủ trương ‘’không bị động đối phó với địch ở vùng tự do mà chủ động đưa lực lượng chủ lực tập trung đánh lên Tây Nguyên, giành lấy địa bàn chiến lược này, đẩy địch vào thế bị động. Đó là cách tốt nhất để giữ vững vùng tự do đồng bằng’’. Bởi nhiều người lúc đó cho rằng nếu làm vậy sẽ mất vùng tự do và muốn dùng chủ lực để giữ vững đồng bằng. Kết quả : một mảng phòng ngự lớn của địch ở Bắc Tây Nguyên đã bị phá vỡ, tỉnh Kon Tum và vùng cả vùng Bắc Tây Nguyên được giải phóng. Sau đó, nhanh chóng phát triển chiến dịch, tiếp tục tiến xuống phía Nam, đánh quân Pháp trên tuyến đường chiến lược số 19, tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động số 100 là một binh đoàn tinh nhuệ vào bậc nhất của quân viễn chinh Pháp vừa rút từ Triều Tiên về; bao vây Plây-cu, thọc sâu vào cao nguyên Đăk lăk, áp sát Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện nối liền với chiến trường Nam Bộ, đồng thời tiến xuống cùng quân và dân địa phương đánh mạnh quân Pháp ở Phú Yên và uy hiếp cả Nha Trang. Ở các chiến trường địch hậu trong Liên khu, thừa thắng quân và dân khu 5 đã tiêu diệt, bức hàng hàng chục đồn bốt, giải phóng những khu vực rộng lớn với hàng chục vạn dân. Phía Nam và Đông-Bắc Campuchia, phối hợp với quân dân bạn giải phóng một vùng rộng lớn. Chiến dịch At-lan-te của địch đã bị đánh bại hoàn toàn, vùng tự do đồng bằng Liên khu 5 được giữ vững và mở rộng. Thế trận ở Tây Nguyên cũng như trên toàn Liên khu lúc này thật đẹp, tạo triển vọng giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, năm 1954, ông tập kết ra Bắc lần lượt giữ các chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng rồi Tổng cục trưởng Tổng cục cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là một trong ba người được đề nghị phong quân hàm Thượng tướng đầu tiên khi cấp bậc này được áp dụng. (Hai người còn lại là Đại tướng Hoàng Văn Thái và Thượng tướng Chu Văn Tấn).

Vợ của tướng Nguyễn Chánh là bà Phạm Thị Trinh cũng là một nữ cán bộ cách mạng kiên cường.Là người vợ đồng thời là ông, đồng hương của ông. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-trước tướng Nguyễn Chánh một năm. Giống như ông, bà bị thực dân Pháp bắt giam 2 lần. Lần đầu vào năm 1939 và lần thứ hai vào năm 1941. Sau ngày cách mạng tháng 8 thành công, bà là Đại biểu Quốc hội khóa 1 và 2.

Anh vợ của tướng Nguyễn Chánh là Trung tướng Phạm Kiệt là một trong những người lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ, ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm cũng từng bị thực dân Pháp bắt và cầm tù tại Ba Tơ, Buôn Ma Thuột…Sau cách mạng tháng 8, ông từng giữ các chức vụ như Cục trưởng Cục Bảo vệ, Tư lệnh của lực lượng Công an vũ trang…Chính ông là người đầu tiên, hiếm hoi trong chiến dịch Điện Biên Phủ đặt nghi vấn về kế hoạch ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp dựa trên sự quan sát của ông về cách bố trí pháo binh của ta và quân Pháp ở Điện Biên Phủ.

Con gái ông là Tiến sĩ Khoa học, Viện sĩ Viện hàn lâm chuyên ngành Bách khoa toàn thư Nga, Nguyễn Tuyết Minh. Là người đầu tiên trong nhóm các nhà khoa học Việt Nam được giao nhiệm vụ biên soạn bộ đại từ điển Việt-Nga 3 tập dày 4000 trang.

Sự phát triển tài năng của tướng Nguyễn Chánh có thể nói là trường hợp khá đặc biệt. Ông không hề được đào tạo qua một trường lớp chính quy nào, ngay cả việc học văn hóa ngay từ nhỏ cũng rất hạn chế. Nhưng là một con người thông minh, có ý chí tiến thủ mạnh, khiêm tốn và ham học hỏi. Những bài học cơ bản về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính là ông đã học từ nhà lao Buôn Ma Thuột, khi những nhà cách mạng bị giam ở đây đã thực hiện “biến nhà tù của đế quốc thành trường học cách mạng” và sau đó trong thực tiễn đấu tranh, ông đã vận dụng hết sức thành công.

Tướng Nguyễn Chánh là một con người có đức tính đoàn kết, tập hợp được cán bộ và chiến sĩ, quân và dân. Trước hết, vì ông luôn toàn tâm, toàn ý vì sự nghiệp lớn của cách mạng, chí công vô tư, có tâm hồn trong sáng và cuộc sống thanh bạch. Ông là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một chỉ huy nghiêm khắc, quyết đoán nhưng cũng lại là một con người cởi mở, nhân hậu, giản dị, biết linh hoạt trong ứng xử, ăn ở thuỷ chung với ông, đồng bào. Ông được cán bộ, chiến sĩ, được nhân dân Liên khu 5 hồi bấy giờ hết sức quý mến và khâm phục.

Tướng Nguyễn Chánh là một con người tài hoa. Trong tài hùng biện của ông-mà tất cả những người từng tiếp xúc với ông đều nhớ và cảm phục trong tài năng tập hợp, thu phục lòng người, kể cả nhiều loại trí thức “có cỡ” mặc dù ông đi học ở trường chưa hết bậc phổ thông, ngay cả trong cách xử trí các tình huống khác nhau của ông ở cương vị một người lãnh đạo cao và một vị tướng, nhìn kỹ đều có in dấu chất tài hoa đẹp đẽ ấy.

Tướng Nguyễn Chánh cũng là người rất quan tâm đến báo chí, ông thường hay qua chỗ toà soạn báo liên khu 5, thăm hỏi từng phóng viên, phát biểu những ý kiến chỉ đạo chung đối với tờ báo và nhiều khi đối với từng bài báo. Những ý kiến của ông thường rất nghiêm khắc, cặn kẽ, chứng tỏ ông rất coi trọng vai trò của tờ báo và ông đọc báo rất kỹ. Nhưng cách nói của ông, ngay khi phê phán, vẫn rất ân cần. Ông thường không “chụp” ngay vào những chỗ khuyết điểm, sai sót của những người làm báo trên báo, mà bằng các câu hỏi nhẹ nhàng, khêu gợi cho họ tự thấy ra, cuối cùng chính tự họ rút ra bài học, kết luận. Ông đặc biệt quan tâm đến lực lượng trẻ, là học sinh mới vào bộ đội từ hoàn cảnh gia đình cho đến công tác và sinh hoạt. Ông định hướng động viên, tạo điều kiện cho họ học tập. Ở ông có một sự hiểu biết sâu, một sự đồng cảm đối với những người cầm bút và giới văn nghệ sĩ. Ông thường căn dặn họ ‘’Làm văn học là công việc rất cao quý, nói là thiêng liêng cũng không quá đáng, phải học hỏi rất nhiều. Học trường, học thầy, học trong sách. Nhưng có một cái học hết sức quan trọng không thể thiếu, đó là học hỏi từng trải ở đời’’.

Ông cũng là một người rất am hiểu và ham mê các loại hình văn hóa dân tộc như hát Tuồng, hát Bội. Nhà văn Nguyên Ngọc kể lại rằng, có một lần ông xin các nghệ sĩ đoàn Tuống liên khu 5 cho ông một vai diễn. Không được chấp nhận, ông xin một chân cầm chầu trong đêm diễn. Người cầm chầu phải là người rất am tường về tuồng tích của vở diễn, thế mà Nguyễn Chánh, không hiểu ông đã thuộc tuồng từ bao giờ, buổi diễn hôm ấy, tiếng trống chầu của ông đã làm cho không ít nghệ sĩ phải ngỡ ngàng!

Trước khi mất, tướng Nguyễn Chánh giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông mất trước khi Nhà nước phong quân hàm cho các tướng lĩnh nên chưa một ngày cầu vai trên áo ông được lấp lánh ngôi sao. Ông là một tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhưng không có cấp bậc cụ thể giống như tướng Phùng Chí Kiên. Ông đã đóng góp một cách xuất sắc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Khu V.


Tham khảo : Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Ngãi, Hội Sử học Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Nam Long, vị tướng tiên phong của Nam tiến
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:25:22 am
(http://img12.imageshack.us/img12/4253/trungtuongnamlong.png)

Trung tướng Nam Long (8/10/1921-1/7/1999), nguyên Phó Giám đốc Học viện lục quân, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, nguyên Tư lệnh Binh chủng Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 19/5/2007, Hội sử học Việt Nam đã trân trọng tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam bức tượng đồng của ông.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất (2) hạng Ba (1), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1981).


“…Đồng chí là một trong những cán bộ chủ chốt của quân đội chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân ta - Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, là một trong những người bảo vệ Bác Hồ ở Việt Bắc cho đến khi Bác về Hà Nội….

…Trung tướng Nam Long là một đảng viên tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng: cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thẳng thắn cương trực, luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân, tinh thần đoàn kết dân tộc và thống nhất Bắc - Trung - Nam. Là một cán bộ lãnh đạo: Trung dũng, Kiên cường, Chân thành, Đoàn kết.

Đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, để lại tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về tài năng lãnh đạo chỉ huy cho các thế hệ đảng viên, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng của chúng ta”. (Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp)

Trung tướng Nam Long tên thật là Đoàn Văn Ưu bí danh là Vũ Nam Long, nhưng đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ vẫn gọi ông một cách trìu mến là tướng Nam Long trước khi ông được phong tướng rất lâu. Ông là người dân tộc Tày quê tại Xã Đề Thám, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Noi gương người anh họ Hoàng Đình Giong, một cán bộ lãnh đạo Đảng ở Cao Bằng thời ấy, ông sớm giác ngộ từ thuở 15, 16. Được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Dân chủ tháng 2 năm 1937, ông làm liên lạc cho Xã uỷ rồi Tổng uỷ đến năm 1941.

Từ năm 1942 đến năm 1944, ông là một trong những thanh niên yêu nước (như Thượng tướng Đàm Quang Trung, Thượng tướng Vũ Lập, Đàm Quốc Chủng, Thu Sơn...) được chọn đi học ở Trường quân sự Hoàng Phố, Liễu Châu (Trung Quốc) để đào tạo cán bộ quân sự chuẩn bị khởi nghĩa giành chình quyền. Lớp do ông Hoàng Văn Thái (sau này là Đại tướng) phụ trách. Từ đây, ông đổi tên là Vũ Nam Long. Cuối năm 1943, ông được cử lên Tĩnh Tây hoạt động và lần đầu tiên ông được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Giữa năm 1944, trong không khí cách mạng sục sôi ở vùng Cao - Bắc - Lạng, ông trở về Cao Bằng tham gia lực lượng vũ trang địa phương. Ông cùng với Mai Trung Lâm, Phạm Vĩnh Tường và một người phụ nữ tên là Lạc dưới sự chỉ huy của ông Lê Quảng Ba - Đội trưởng (sau này là Thiếu tướng) , ông Hoàng Sâm - Đội phó l(sau này là Thiếu tướng Liệt sĩ) àm nhiệm vụ bảo vệ đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Tĩnh Tây - Trung Quốc về Pắc Bó - Cao Bằng, chuẩn bị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân.

Tháng 10/1944, ông được phân công học lớp huấn luyện ngắn ngày do Việt Minh tổ chức do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giới thiệu. Học xong, ông được phân công về Hà Giang công tác nhưng cuối cùng ông được phân công ở lại vì nhiệm vụ quan trọng đó là Thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân theo sự lựa chọn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 12 năm 1944, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời. Ông được điều lên tham gia đội quân chủ lực đầu tiên của Lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là Chính trị viên Trung đội 2 (Trong bức ảnh Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, người đứng bên cạnh ông Hoàng Văn Thái cầm cờ, vai đeo ruột ghé gạo chính là ông). Vinh dự tham gia các trận đánh thắng lợi đầu tiên, ông được đề bạt từ cán bộ Tiểu đội lên chỉ huy Trung đội.

Ngày 5 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia xây dựng phong trào Cách mạng ở Hà Giang. Sau khi tham gia "Phong trào Nam tiến", từ tháng 5 năm 1945, ông được điều về phục vụ Bác Hồ, trực tiếp bảo vệ Bác ở Tân Trào cho đến khi Bác về Thủ đô Hà Nội.

Cách mạng tháng Tám thành công chưa bao lâu thì quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn. Ngày 26/9, một đơn vị Việt Minh tại Hà Nội đã sát nhập với Chi đội 3 và 4 Quân giải phóng từ Việt Bắc về được lệnh Nam tiến đánh giặc. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông nhờ Đại tướng xin cho ông Nam tiến đánh giặc. Vào đến Vinh, ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho làm Chính trị viên Chi đội 3 Nam tiến chi viện cho mặt trận phía Nam thay cho ông Nguyễn Văn Rạng đi làm nhiệm vụ khác. Tới Nha Trang ông gặp người anh họ là ông Hoàng Đình Giong (tức Vũ Đức) (sau này hy sinh trong kháng chiến chống Pháp) và được giao cho đem Chi đội 3 vào thẳng phía Bắc Sài Gòn cùng với ông Phúc Thơ (bí danh của ông Mông Văn Vẩy). Vào đến Sài Gòn, ông Phúc Thơ được cử đi giữ chức vụ Ủy viên Quân sự miền Đông Nam Bộ, tướng Nam Long được cử làm Chính trị viên kiêm Chỉ huy trưởng Chi đội 3. Chi đội 3 Nam Tiến đã lập được nhiều chiến công, đi vào lịch sử, là đội Nam Tiến đầu tiên được nhân dân Nam Bộ yêu mến đặt tên là "Chi đội Nam Long" và cái tên tướng Nam Long cũng bắt đầu từ đó. Do trang bị thiếu thốn, Chi đội lùi ra Xuân Lộc phối hợp với du kích người Thượng chặn quân địch từ Biên Hòa đánh ra. Tiếp theo, chi đội 3 do tướng Nam Long chỉ huy phối hợp với các đơn vị chi viện từ Bắc vào bao vây quân Nhật giải phóng thị xã Phan Thiết. Sau đó, chi đội Nam Long tiến ra phối hợp với một phân đội của tỉnh Quảng Ngãi cùng với du kích người Chăm, Cờ Ho…tấn công quân Nhật giải phóng thị xã Phan Rang (24/11/1946). Sau hơn 1 tháng chiến đấu, chi đội Nam Long được lệnh về Tháp Chàm củng cố rồi lên Tây Nguyên chặn địch không cho đánh nống ra Ninh Hòa, Plây-ku…Ngày 21/1/1946, chi đội Nam Long được tăng cường cối 81mm và pháo binh, mở cuộc tấn công vào Buôn Ma Thuột. Nhưng vài hôm sau, quân Pháp có xe tăng, đại bác và máy bay tổ chức đánh chiếm lại. Đúng 30 Tết (28-1), chi đội về tập kết ở Đồng Bò để củng cố, rồi về đóng ở sông Cầu-Phú Yên, chặn đánh quân Pháp ở đèo An Khê, sau đó phát triển thành nhiều tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực.

Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ngày 6/3/1946 được ký kết, ông nhận lệnh ra Bắc làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tiếp phòng quân ở Hải Dương. Sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông về làm Trung đoàn trưởng Trung doàn 59, Quân khu Việt Bắc. Trung đoàn 59 đã cùng các đơn vị bạn tích cực đánh địch, bảo vệ An toàn khu Trung ương, góp phần làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp.

Tháng 6 năm 1949, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, nhằm đáp ứng yêu cầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông dẫn một đơn vị của Trung đoàn 59 và các đơn vị phối thuộc vượt biên giới Đông Bắc sang Trung Quốc, tham gia chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn dưới sự chỉ huy của ông Lê Quảng Ba (sau này là Thiếu tướng). Suốt 5 tháng trời chiến đấu trong điều kiện khó khăn gian khổ, bộ đội Việt Nam phối hợp với các đơn vị thuộc Biên khu Việt Quế, diệt nhiều quân Quốc dân Đảng, giải phóng hơn 10 thị trấn và thị tứ thuộc huyện Phăng Thành, góp phần vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Trung Quốc vùng biên giới.

Từ cuối năm 1950 đến đầu năm 1953, trong bước chuyển mình từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, ông làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 thuộc Đại đoàn 312. Dưới sự chỉ huy của ông, Trung đoàn đã tiến đánh thắng lợi một số trận nổi tiếng như Ba Huyên (chiến dịch Trung du), Ba Vì (chiến dịch Hoà Bình), Ba Lay (chiến dịch Tây Bắc). Trải qua rèn luyện, Trung đoàn 141 trở thành một trong những Trung đoàn giỏi đánh công sự vững chắc và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chủ công trong trận đánh Him Lam lịch sử.

Từ đầu năm 1953 đến năm 1956, ông lần lượt được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng, Đại đoàn phó rồi Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cương vị Tham mương trưởng, Đại đoàn 304 đã bao vây kiềm chế và tiêu hao quân Pháp ở Phân khu Hồng Cúm, không cho quân Pháp chi viện cho khu Mường Thanh, chặn đường tiếp tế và không cho quân Pháp trốn sang Lào. Đồng thời tiêu diệt và bắng sống toàn bộ 2000 quân Pháp ở Hồng Cúm định tháo chạy về Thượng Lào. Chiến công đó đã góp phần vào sự toàn thắng của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ - một trong những trận tiêu diệt lớn và gọn nhất trong lịch sử chiến đấu của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Miền Bắc được giải phóng, ông được cử sang học tập ở Học viện Vô-rô-si-lốp (Liên Xô cũ) từ năm 1956 đến năm 1959. Từ năm 1959 đến 4/1961 - Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh. Từ tháng 4/1961 đến 4/1962 - Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn. Từ tháng 4/1962 đến 5/1966 - Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu 4. Từ tháng 5/1966 đến 4/1973 - Ông được cử vào chiến đấu ở miền Nam trên cương vị Phó Tư lệnh B4. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông chỉ huy cách quân đánh vào thành phố Huế trong khi người đồng hương của ông là tướng Đàm Quang Trung chỉ huy đánh Quảng Trị.

Tháng 4/1975, với tư cách là Đặc phái viên Bộ Quốc phòng, ông cùng các Quân đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và có mặt ở Dinh Độc Lập vào những giờ phút đầu tiên tiếp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh. Suốt từ năm 1974 đến năm 1986, ông là Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Từ năm 1989, ông được nghỉ hưu. Tham gia Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ nhất năm 1990, ông là một thành viên tích cực, góp phần vào thành công của Đại hội. Từ năm 1994, ông là Trưởng Ban liên lạc truyền thống Cựu chién binh Sư đoàn 304 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Hơn 50 năm hoạt động cách mạng trong đó có đến 45 năm là các bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam từ những ngày đầu thành lập, cuộc đời của tướng Nam Long là một cuộc đời chiến đấu sôi nổi và liên tục. Luôn luôn đi đầu, luôn luôn có mặt ở những nơi chiến sự ác liệt nhất trực tiếp chỉ huy là tác phong quân sự của tướng Nam Long. Hình ảnh tướng Nam Long tại mặt trận Bắc Sài Gòn trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến tại Nam Bộ, mặc chiếc áo đại cán dài bạc màu chiến trận, đầu đội mũ cứng trắng tay cầm ống nhòm trực tiếp quan sát trận địa và chỉ huy chi đội là một hình ảnh đẹp đi vào lòng người đặc biệt là quân và dân Nam Bộ những ngày đầu kháng chiến bằng cách gọi trìu mến ‘’tướng Nam Long’’ và ‘’Chi đội Nam Long’’. Ngay khi quân Pháp theo chân đồng minh tiến vào miền Nam, ông đã chủ động nhờ Tổng tư lệnh xin Bác Hồ cho ông thôi làm bảo vệ Bác vào Nam chiến đấu. Rồi cũng chính ông khi được Bác đồng ý đã theo xe ngay vào ngay Vinh ra nhập đội hình đoàn quân Nam tiến, khi mà quyết định của Tổng tư lệnh mới ở mức độ ‘’lệnh mồm’’, ông đến với đoàn quân Nam tiến trước khi chỉ thị chính thức của Tổng tư lệnh đến với những người chỉ huy Nam tiến tại Vinh . Chính vì vậy, mà ông là một trong những cán bộ quân sự chi viện cho Nam Bộ đầu tiên có mặt tại Sài Gòn những ngày đầu của Nam Bộ kháng chiến. Khi về với cuộc sống bình thường cho đến những năm cuối đời, ông vẫn giữ vai trò đi đầu trong đấu tranh với các tiêu cực trong xã hội.

Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân.


Tiêu đề: Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nhất dạ sinh bá kế
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:30:45 am
(http://img838.imageshack.us/img838/5152/trungtuongdongsinguyenb.jpg)

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (sinh 1/3/1923), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị (1986 – 1991), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 - Đường Trường Sơn huyền thoại (1967 – 1976), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam (1966) kiêm Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung và Hạ Lào, nguyên Chính ủy Quân khu 4, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Việt Minh kiêm Chỉ huy trưởng Bộ đội Quảng Bình, nguyên Đại Biểu Quốc hội khóa 1.

Huân chương Sao vàng (Huân chương cao quý nhất của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) , Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân huy chương khác.

Đại tá (1958), Trung tướng (1974 vượt cấp)


Là một trong hai vị tướng được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng (1974) (vị tướng còn lại là Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Ông cũng là vị Tư lệnh lâu năm nhất của Đường Trường Sơn lịch sử từ năm 1967 đến năm 1976 trong đó thời kì từ 1967 đến 1972 là thời kì chống lại chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mĩ lúc ác liệt nhất nhằm đảm bảo chi viện cho miền Nam và 1973 đến 1976 là thời kì kết thúc chiến tranh lúc Đường Trường Sơn phải đảm bảo vận chuyển một khối lượng lớn người và của phục vụ cho trận chiến cuối cùng.. Là một người luôn được giao những nhiệm vụ quan trọng vào những thời điểm quan trọng. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách Tổng cục Xây dựng Kinh tế Quân đội rồi Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Bộ trưởng Bộ Xây dựng vào thời điểm Việt Nam sau chiến tranh. Năm 1979, khi chiến tranh Biên giới phía Bắc xảy ra ông được gọi lại Quân đội giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô – trái tim thân yêu của Tổ quốc. Ông là một trong các vị tướng của Việt Nam được cả thế giới biết nhiều đến vì tên tuổi của ông luôn gắn liền với Đường Trường Sơn huyền thoại.

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, tên thật là Nguyễn Văn Đồng (chứ không phải là Nguyễn Sĩ Đồng) hay còn gọi là Nguyễn Hữu Vũ sinh tại xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sinh ra trong một gia đình khá giả, cho nên lúc còn nhỏ ông được học cả chữ Quốc ngữ, chữ Hán và cả cả tiếng Pháp. Sáu tuổi bắt đầu đến trường. Bảy tuổi học chữ Hán rồi học chữ quốc ngữ hết bậc tiểu học ở trường huyện, lên tỉnh học tư thục. Là một người có lòng yêu nước, sớm tiếp thu tư tưởng Cách mạng, cho nên khi đang học năm thứ 3 bậc Thành trung tại trường Xanh Ma-ri ở Thị xã Đồng Hới ông bị thực dân Pháp truy nã vì những hoạt động ‘’chống đối’’ và được Xứ ủy Trung Kỳ tổ chức thoát ly sang Thái Lan. Ở Thái Lan, ông tích cực tham gia phong trào của Việt Kiều yêu nước Thái Lào. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939.

Năm 1944, trước tình thế cách mạng mới, phát xít Nhật tấn công Pháp ở Đông Duơng, ông trở về nước hoạt động bí mật phụ trách phủ ủy Quảng Trạch, chủ nhiệm Báo Hồng Lạc và xây dựng Chiến khu Trung Thuần. Trong thời gian này ông còn tham gia huấn luyện quân sự chuẩn bị cho cách mạng tháng tám. Sau cách mạng tháng tám 1945, ông giữ chức Bí thư huyện ủy Quảng Trạch kiêm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình. Tháng 6 năm 1946, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa 1 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Toàn quốc kháng chiến, ông được phân công làm Chính trị viên kiêm Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Quảng Bình. Thời kì này, Quảng Bình là một địa bàn lực lượng của ta tương đối yếu lại xa Trung ương vị trí lại nằm giữa khu 4 và khu 5, thực dân Pháp ra sức bình định. Bên cạnh những hoạt động quân sự, thực dân Pháp còn sử dụng lại chiêu bài Đạo thiên chúa, trước kia người Pháp sử dụng rất thành công khiến triều đình nhà Nguyễn phải đầu hàng dâng đất. Thông qua tên phản động tay sai Cơ đội lốt Đạo thiên chúa, lợi dụng sự cả tin và sự nghèo khó của người dân Quảng Bình (thế mới có câu Theo đạo có gạo mà ăn), thực dân Pháp đã tạo ra được một đội ngũ chỉ điểm, tay sai. Kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Quảng Bình vì thế hết sức khó khăn. Năm 1948, ông đã táo gan chỉ huy vào tận sào huyệt diệt gọn đầu sỏ nhóm phản động này. Sau trận đánh này ông bị thực dân Pháp truy lùng hết sức gắt gao. Ông đổi tên thành Nguyễn Hữu Vũ.

Năm 1950, ông được điều lên Việt Bắc tham gia lớp học trung cao Quân sự rồi được điều về Bộ Tổng tham mưu. Năm 1953, để phục vụ cho Chiến dịch Đông Xuân (1953-1954) đại đoàn 325 phối hợp với bộ đội Itsala (Nhân dân) Lào tiến công giải phóng đến tận ba biên giới, đây là chiến trường hết sức quan trọng của khu 5 vì nó bảo đảm sự nối liền của ba nước trên bán đảo Đông Dương. Để đảm bảo chắc thắng hướng chiến lược, Tổng tư lệnh cử đoàn phái viên thị sát chiến dịch do ông đại diện Bộ tổng tham mưu phụ trách. Với phong cách sâu sát, cẩn thận của mình, ông đã trực tiếp đến từng tiểu đoàn, đại đội hỏa lực xem xét, chấn chỉnh…Thắng lợi của chiến dịch này góp phần không nhỏ vào Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Sau năm 1954, ông trở về Bộ tổng tham mưu, phụ trách Cục Động viên dân quân. Năm 1961, ông được cử sang Trung Quốc học Trường cao cấp Quân sự Bắc Kinh. Năm 1964 về nước ông được cử giữ chứ Phó Tổng tham mưu trưởng. Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất 1965, ông được cử vào làm Quân khu 4 làm Chính ủy Quân khu. Sau đó, được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung và Hạ Lào. Cuối năm này ông bị thương và phải về Hà Nội điều trị. Đầu năm 1966, ông được cử giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương thực hiện nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường của ta và hai nước Lào và Cam-pu-chia ở phạm vi Nam Đông Dương.

Vào thời điểm Mỹ tập trung đánh phá mạnh đường chiến lược Trường Sơn, nhằm cắt đứt con đường huyết mạch Bắc Nam, để đối phó với âm mưu và thủ thuật chiến tranh mới của đế quốc Mỹ bảo đảm liên tục chi viện Bắc Nam, ông được cử vào làm Tư lệnh Đường Trường Sơn cho đến năm 1976. Bộ đội Trường Sơn thời kì này dưới sự lãnh đạo của ông đã làm thất bại âm mưu lập hàng rào điện tử Mắc-ma-na-ma (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời kì đó), thất bại chiến tranh phá hoại đồng thời góp phần đánh bại các âm mưu lấn chiếm bảo vệ vững chắc con căn cứ hậu cần tiền phương của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách Tổng cục xây dựng kinh tế tham gia khắc phục hậu quả của chiến tranh phát triển kinh tế đất nước. Tiếp sau đó, ông được chuyển sang ngạch dân sự lần lượt giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải rồi Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Ông có những góp phần không nhỏ trong việc khôi phục và phát triển giao thông vận tải Việt Nam sau thời chiến (đường xá, cầu cống…). Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, năm 1979, ông được điều lại Quân đội giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV.

Năm 1982, ông là Ủy viên dự khuyết Bộ chính trị khóa V. Từ năm 1986 đến năm 1991, thời kì Đổi mới, ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa VI, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải.  Năm 1992, ông thôi các chức vụ trong Đảng và Chính phủ và được giao làm Đặc phái viên Chính phủ đặc trách chương trình 327 về Phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Rồi là Cố vấn đặc biệt của Chính phủ tham gia ban chỉ đạo nhà nước về Đường Trường Sơn thời kì đổi mới.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên là một con người của những ý tưởng không ngừng, người ta gọi ông là ông Nhất dạ sinh bá kế, trong suốt thời kì giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt Đường Trường Sơn, khi không quân Mỹ phát hiện ra cung đường vận chuyển này để đánh phá thì ông kịp thời chỉ đạo vận chuyển trên cung đường khác hay xây dựng cung đường khác…Đường Trường Sơn thực sự trở thành một ‘’ trận đồ bát quái xuyên rừng rậm’’ (Theo giới truyền thông phương Tây) đối với không quân Mỹ, với hai trục chính là Đường Trường Sơn Đông rồi Đường Trường Sơn Tây và hàng loạt các cung đường trách bom, đường cua, hệ thống đường xương cá…

Điều khiển con đường Trường Sơn với chiều dài 1000 cây số, như một mê cung, cùng với một lượng lớn bộ đội và Thanh niên xung phong (có lúc lên tới trên 10 vạn), trang thiết bị chiến tranh, hệ thống thông tin và ống dẫn dầu Bắc Nam…Đòi hỏi ở vị Tư lệnh một tầm quản lí, chỉ huy, phối hợp tốt và đặc biệt có sự hiểu biết rộng trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt trong thời chiến, trước những thời cơ đòi hỏi người chỉ huy những quyết định chính xác, dứt khoát và nhất quán. Cũng chính về những phẩm chất này cùng những kinh nghiệm về xây dựng đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ mà sau ngày đất nước thống nhất ông lại được cử làm Bộ trưởng Bộ Xây dựng rồi Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải rồi bây giờ khi đã ngoài 80 tuổi là Đặc phái viên của Chính phụ phụ trách Đường Trường Sơn công nghiệp hóa.. Những đóng góp của ông vào việc phục hồi, xây dựng, kiến thiết hệ thống cơ sở hạ tầng nứoc ta sau thời chiến là không nhỏ.

Cũng có người nói ông là người bảo thủ, điều đó không đúng. Là một người quả quyết, và táo bạo dám nghĩ dám làm, ông đưa ra ý kiến, ý tưởng của mình và bảo vệ nó đến cùng bới chúng là đúng đắn. Hãy thử xem những quyết định của ông khi điều hành Đường Trường Sơn, hay những quyết định chính xác khi phá tan hàng rào điện tử Măc-ma-ra-ma, hay sự đúng đắn về việc xây dựng cầu Chương Dương bằng sắt phế liệu, thu gom từ dân, một cây cầu do kĩ sư Việt Nam làm từ khâu thiết kế đến khâu thì công. Một công việc mà lúc ông đề xuất ra nhiều người bảo là viển vông và cho rằng ông bảo thủ cái ý kiến viển vông của mình khi tiến hành xây dựng cầu. Và thực tế hoạt động của cầu Chương Dương cho đến này là một minh chứng hùng hồn về việc ông đúng. Hay trong thời kì đổi mới, Hải Phòng là đơn vị đi đầu ở nước ta trong việc đổi mới những vấn đề như : khóan trong nông nghiệp, bỏ tem phiếu, xóa bỏ chế độ bán gia cầm, lợn cho nông dân…Ông cũng là một trong những lãnh đạo cao cấp đầu tiên ủng hộ, bật đèn xanh cho sự đổi mới này.

Bạn bè và cấp dưới ai cũng thừa nhận Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên là một con người của hành động, con người của thực tiễn, ông ít lí luận, không ưa hình thức và đã nói là làm không thích dài dòng và ông ít nói. Sống theo diễn biến khách quan, hành động phù hợp theo điều kiện chủ quan và hết sức cẩn thận. Nếu bạn muốn tìm một ai đó để trình bày những ý tưởng, ý kiến của mình thì một trong những người thích hợp là Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Khi bạn trình bày ông ngồi im lặng lắng nghe không ngắt giữa chừng, không xen ngang. Nếu bạn đúng thì ông sẽ chỉ bảo là ‘’cứ làm đi’’ nếu sai thì sẽ nói cho bạn biết vì sao ông không đồng tình…

Là người có dán người cao to, cái bụng ‘’phệ’’, nhìn khuôn mặt ông nhiều người nghĩ ông lạnh lùng nhưng ông lại là một người rất quan tâm đến người khác. Quan tâm bằng hành động cụ thể chứ không phải lời nói. Quan tâm đến người dân miền núi trên đường Trường Sơn thời chiến thậm chí quả bồ kết cho nữ thanh niên xung phong thời chiến đến việc dựng vợ, gả chồng, cất nhà hay làm kinh tế của cấp dưới trong thời bình, có việc gì họ cũng mời, cũng hỏi ý kiến ông, cũng cho người đón ông. Ông luôn là tư lệnh kính mến của họ trong thời chiến cũng như thời bình. Hãy nhớ rằng khi ông ‘’khịt, khịt mũi’’ là khi ông muốn nói điều gì đó, hay là lúc ông đưa ra ý kiến của mình.



Tiêu đề: Trung tướng Đồng Văn Cống, ông tướng bưng biền
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:35:11 am
(http://img641.imageshack.us/img641/6258/trungtuongdongvancongcy.jpg)

Trung tướng Anh hùng Đồng Văn Cống (Bẩy Cống) (tháng 2 năm 1918 - 13h10' ngày 6 tháng 8 năm 2005), nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VI, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên quyền Tư lệnh Quân khu 7, nguyên Tư lệnh Quân khu 8, nguyên Tư lệnh Quân khu 9, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền nam Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn.

Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Quân công hạng 1, 2, 3; hai Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất; Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang ngày 6 tháng 8 năm 2011.

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980).


Trung tướng Đồng Văn Cống sinh tháng 2 năm 1918 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong một gia đình nông dân. Ông cố ông quê ở Vinh Phúc, vì điều kiện mưu sinh mà năm Tự Đức thứ 2 đã di cư vào Nam làm thuê kiếm sống. Ông nội và cha ông đa phải đi ở đợ làm tá điền cho địa chủ. Nhờ ông ngoại là một trung nông, nên khi cha mẹ ông lấy nhau, ông ngoại ông đã mua cho ruộng đất, làm lụng đủ ăn. Nhờ là con trai út nên ông được gia đình cho ăn học, chẳng bao lâu bố mẹ ông qua đời lên ông phải nghỉ học ở nhà cày cấy, rồi được giác ngộ tham gia cách mạng năm 1936. Năm 1945, làm Bí thư chi bộ kiêm Tổng ủy viên Việt Minh, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại địa phương.

Tháng 2-1946, giặc Pháp đánh chiếm Bến Tre, ông phụ trách trưởng ban quân sự xã, đã tổ chức tiểu đội du kích đánh địch nhiều trận, chỉ sau 3 tháng đã phát triển lực lượng thành một trung đội với hơn 20 cây súng các loại. Cái tên "bộ đội Tân Hào" ra đời từ đấy. Trong những trận phục kích đánh địch của “bộ đội Tân Hào", chiến thắng nổi tiếng lúc bấy giờ là trận Bàu Dơi, đã được thơ ca dân gian truyền tụng đến tận ngày nay.

Sau hơn một năm chiến đấu trên chiến trường quê hương, với phương châm tự lực cánh sinh, lấy súng giặc trang bị cho lực lượng của ta, Đồng Văn Cống đã đưa đơn vị từ trung đội phát triển thành đại đội, tiểu đoàn, rồi tiến lên trung đoàn. Đơn vị của ông phát triển sớm nhất và mạnh nhất ở tỉnh Bến Tre cũng như toàn khu 9. Sau đó cấp trên giao cho ông đi thuyết phục mọi người tổ chức biên chế các lực lượng quân sự ở Bến Tre thành bảy trung đội, rồi tách bốn trung đội thành lập Chi đội 19 do ông làm Chi đội trưởng, hoạt động ở Bến Tre Gò Công, ba trung đội còn lại thành lập Chi đội 20 hoạt động ở Trà Vinh và Vinh Long. Trung đoàn đầu tiên của Bến Tre do ông làm Trung đoàn trưởng được thành lập vào tháng 7-1947 mang tên trung đoàn 99. Chính đơn vị này về sau đã đóng vai trò nòng cốt của trung đoàn chủ lực khu 8, mang tên trung đoàn Đồng Tháp.

Đầu năm 1951, khi quân của Léon Leroy lấn chiếm và bình định Bến Tre, gây cho ta nhiều tổn thất nghiêm trọng, ông được Bộ tư lệnh khu 8 điều về làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre và đã góp phần quan trọng trong việc củng cố, xây dựng lại LLVT của tỉnh lúc bấy giờ. Tháng 10-1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn do Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau khi hiệp định Genève, được cử vào ban Liên hiệp đình chiến Trung ương, trực tiếp lo việc tập kết của bộ đội Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Pháp ông chỉ huy chiến dịch Bến Tre từ 3 đến 31 tháng 7 năm 1950 rồi chiến dịch Sa Đéc Long Châu Tiền vào tháng 3 năm 1951 mà ông là chỉ huy trưởng cánh Long Châu Tiền.

Trứoc khi tập kết ra Bắc, ông là Tham mưu trưởng kiêm Ủy viên thường vụ trực của Quân khu miền Đông. Đầu năm 1955, được đề bạt Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, với quân hàm Đại tá (1958). Tháng 6-1960, được cử đi học ở Học viện Quân sự Nam Kinh (Trung Quốc), đến đầu năm 1962 thì về nước và đã trải qua những chức vụ sau đây: Tư lệnh phó quân khu 3, Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy III, Cục phó Cục tác chiến Bộ Quốc phòng, kiêm Trưởng phòng chuyên trách công tác chi viện cho chiến trường miền Nam: lo tổ chức, củng cố đường 559A, 559B (tức con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên Trường Sơn và trên biển). Đường Hồ Chí Minh trên biển được tổ chức hết sức bí mật, ở Bộ Chính trị chỉ có các ông Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ biết, còn ở Bộ Quốc phòng thì có các ông Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dung, Nguyên Văn Vịnh, Trần Văn Trà biết.

Đầu năm 1963, trở về Nam, làm Trưởng ban quân sự khu 9, về sau là Bộ tư lênh quân khu 9 (1964). Năm 1969, Chính phủ CMLTCHMNVN thành lập, ông được cử làm Tư lệnh phó Bộ Tư lệnh miền Nam (1965-1972). Sau hiệp định Paris (1973), làm Tư lệnh khu 8 (Tháng 10-1972 đến 1975). Cuối năm 1974, làm Tư lệnh phó Bộ tư lệnh miền Nam, phụ trách hậu cần, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong kháng chiến chống My ông là chỉ huy hay phó chỉ huy các chiến dịch: xẻo rô phá ấp chiến lược 1963, Chiến dịch Đông Bắc Cam-pu-chia 1971 giải phóng bốn tỉnh biên giới nước bạn, Chen La Hay cuối 1971 tiêu diẹt và làm tan rã lực lượng nòng cốt của quân đội Lon Nol, chiến dịch tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long giữa 1972 mở thông biên giới Tây Nam, chiến dịch Nguyên Huệ 1972-1973 giải phóng Lộc Ninh và biên giới khu 8, chiến dịch Phước Long đợt 2 năm 1974...

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Từ tháng 5-1976 đến tháng 9-1982 là phó tư lệnh Quân khu 7, rồi quyền tư lệnh Quân khu 7 thay cho tướng Trần Văn Trà ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông là Tư lệnh tiền phương Quân khu cùng với 2 phó Tư lệnh là Năm Ngà và Năm Thanh đưa một cánh quân sang giúp bạn thoát khỏi nạn diệt chủng.

Về nước ông tiếp tục làm Tư lệnh Quân khu cho đến tháng 10 năm 1981, được điều ra Hà Nội làm Phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam với cấp bậc Trung tướng. Tháng 10-1982 được bổ nhiệm là phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân VN. Trung tướng Đồng Văn Cống là đại biểu Quốc hội khóa VI.

Hơn 40 năm phục vụ trong LLVT, từ một du kích xã trở thành một sĩ quan cao cấp, Trung tướng Đồng Văn Cống luôn luôn biểu lộ phẩm chất cao đẹp của người lính cách mạng. Ông không chỉ là người có công xây dựng LLVT đầu tiên của tỉnh Bến Tre, mà còn có nhiều đóng góp trong công cuộc tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam cũng như xây dựng Lực lượng vũ trang trong Kháng chiến chống Pháp và Kháng chiến chống Mỹ.

Trung tướng Đồng Văn Cống sinh ra tại Giống Trôm, Bến Tre, đây cũng là quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Giồng Trôm nói riêng và Bến Tre nói chung vốn là vùng đất "đắc địa", quê hương của rất nhiều danh nhân lịch sử cũng như anh hùng và các nhân vật cách mạng nổi tiếng - một vùng quê có truyền thống yêu nước.

Người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm tháng kháng chiến thường gọi ông là "ông tướng bưng biền" và "ở đâu có ông Cống là ở đó có đánh lớn". Bộ đội Tân Hào hay Bộ đội ông Cống nổi tiếng trong những năm kháng chiến chống Pháp. Tài năng quân sự ở ông là sự kết hợp của nghệ thuật chỉ huy - khả năng tổ chức - sự gan dạ vốn có của một vị tướng trưởng thành từ một "du kích xã". Ông còn là một người hài hước, dí dỏm. Ngày 30 tháng 7 năm 2010, đền thờ ông đã được khánh thành tại quê hương Tân Hào với sự có mặt của Chủ tịch nước cùng đông đảo người dân Bến Tre. Đây là công trình dựa trên sự đóng góp của người dân Bến Tre ở khắp nơi, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh cùng Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre.


Tham khảo: Trang thông tin điện tử Bến Tre, Báo Thanh niên.


Tiêu đề: Thượng tướng Đàm Quang Trung, học viên xuất sắc Học viện Frunze
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:37:43 am
(http://img59.imageshack.us/img59/2274/thuongtuongdamquangtrun.jpg)

Thượng tướng Đàm Quang Trung (1921-1995), nguyên Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1.

Ông từng giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4 đến khóa 6, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 6, Đại biểu Quốc hội từ khóa 4 đến khóa 8.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1984)


Thượng tướng Đàm Qung Trung, tên thật là Đàm Ngọc Lưu, sinh ngày 12/9/1921 tại bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 14 tuổi.

Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt và quản thúc tại địa phương. Năm 1941, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh cử đi học ở trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) cùng các ông Hoàng Văn Thái (Đại tướng), Vũ Lập (Thượng tướng), Hoàng Minh Thảo (Thượng tướng), Nam Long (Trung tướng)... Ở trường Hoàng Phố, ông được học in litô. Nhân có ông Phạm Văn Đồng sang, ông mạnh dạn xin báo cáo với lãnh tụ Hồ Chí Minh được học quân sự.

Tháng 7/1944, ông chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương và lãnh tụ Hồ Chí Minh ở Tân Trào. Có 5 nhân viên tình báo Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc nhằm phối hợp với Việt Minh giải giáp vũ khí của Phát-xít Nhật, ông được chỉ định làm Đại Đội trưởng Đại đội Việt - Mỹ. Tháng 9 năm 1944, ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng và huấn luyện du kích ở vùng biên giới phía Bắc. Ngay sau khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944, ông xin gia nhập.

Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là đại đội trưởng Giải phóng quân tham gia giành chính quyền ở Thái Nguyên. Ngày 2/9/1945, ông được giao chỉ huy cuộc duyệt binh chào mừng ngày Quốc khánh và chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập. Ngày 29/3/1946, ông chỉ huy cuộc diễu binh thiện chí giữa quân đội quốc gia Việt Nam với quân đội Pháp tại vườn hoa Canh Nông, nay là công viên đặt tượng đài Lê-nin.

Ngày 22/9/1946, núp bóng quân Anh quân Pháp trở lại nổ súng xâm lược Nam Bộ. Ông lên đường Nam tiến chi viện cho chiến trường miền Nam và chi đội 4 hay còn gọi là chi đội Đàm Quang Trung. Sau hiệp định sơ bộ về đình chiến, ông ra Bắc và được cử giữ chức Khu trưởng Đặc khu Hà Nội. Tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ông lại Nam tiến và là Chỉ huy trưởng mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng rồi là Phó Tư lệnh Liên khu 5 kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn chủ lực của liên khu.

Khi Đại đoàn 312-Đại đoàn chiến thắng được thành lập, ông ra Bắc đảm nhận vị trí Đại đoàn phó. Từ năm 1953 đến năm 1954, ông cùng Đại đoàn của mình tham gia đánh nhiều trận giải phóng Thượng Lào rồi là một trong năm đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Ngày 1/1/1955, ông vinh dự được chỉ huy cuộc diễu binh chào mừng chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương về lại Thủ đô sau 9 năm kháng chiến.

Bước vào thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1955, ông là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 rồi Tư lệnh Quân khu Đông Bắc kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 322. Sau đó, ông sang Liên Xô theo học tại Học viện Quân sự mang tên Frunde và là học viên xuất sắc ở đây. Tháng 10/1957, ông có vinh dự tham gia chủ tịch đoàn cuộc mít-tinh trọng thể chào mừng chủ tịch Hồ Chí Minh sang dự lễ kỉ niệm 40 năm cách mạng tháng 10 Nga.

Trở về nước từ năm 1958 đến năm 1961, ông là Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn rồi từ năm 1961 đến năm 1966 ông là Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Từ tháng 8 năm 1966 đến năm 1967, ông là Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương Bộ Quốc phòng tại mặt trận B4 (Quảng Trị). Từ năm 1967 đến năm 1973, ông là Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, ông chỉ huy bộ đội đánh thành cổ Quảng Trị. Trong thời gian này, ông còn giữ các chức vụ Tư lệnh pháo binh mặt trận có mặt tại chiến trường đường 9 rồi sau đó là Tư lệnh Tăng Thiết giáp. Từ năm 1973 đến năm 1975, ông là Tư lệnh Quân khu 4 thay cho tướng Vương Thừa Vũ.

Đất nước thống nhất, từ năm 1976 đến năm 1980, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1 rồi từ năm 1980 đến 1986 là Tư lệnh Quân khu 1. Từ năm 1987 đến năm 1992, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước kiêm Chủ tịch hội đồng dân tộc. Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4 đến 6. Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5. Ông cũng là Đại biểu Quốc hội khóa 4 đến khóa 8.

Thượng tướng Đàm Quang Trung là vị tướng chiến thuật bậc thầy của Việt Nam trong các chiến dịch có sự phối hợp hiệp đồng giữa pháo binh và xe tăng.

Tham khảo : Từ điển Quân sự Việt Nam, Trang Thông tin Điện tử Cao Bằng.


Tiêu đề: Thượng tướng Đinh Đức Thiện, chủ nhiệm hậu cần số một
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:39:59 am
(http://img268.imageshack.us/img268/8773/thuongtuongdinhducthien.jpg)

Thượng tướng Đinh Đức Thiện (1913-17h5’ ngày 20/11/1987), nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần, Chủ nhiệm Tổng Cục kỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông cũng từng giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Bộ trưởng Bộ cơ khí luyện kim, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Phó Chủ nhiệm ủy ban kế hoạch nhà nước.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 23.9.2008), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng I, Huân chương Chiến thắng hạng I, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984), Thượng tướng (1986).


Thượng tướng Đinh Đức Thiện, tên thật là Phan Đình Dinh, quê tại xã Nam Vân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong một gia đình nhà Nho, cha ông mất sớm mẹ ông tần tảo nuôi tám anh em ông. Ông có người anh trai là Ngoại giao Lê Đức Thọ và người em trai là Đại tướng Công an Mai Chí Thọ.

Năm 1930 ông tham gia hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt giam ở Nam Ðịnh. Năm 1931, sau khi được trả tự do, ông vào Sài Gòn hoạt động. Năm 1936, thời kì của phong trào Mặt trận Dân chủ, ông hoạt động tích cực trong Hội ái hữu. Năm 1939, ông được kết nạp vào Ðảng cộng sản Ðông Dương. Tháng 4/1940 ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 2 giam ở nhà lao Nam Ðịnh sau chuyển về nhà lao Hoả Lò Hà Nội. Năm 1942 ông ra tù, tìm bắt liên lạc với Trung ương và tiếp tục hoạt động ở địa phương.

Tháng 4/1944, Trung ương điều động ông lên hoạt động ở Vĩnh Yên nhằm xây dựng cơ sở chính trị và an toàn khu cho Trung ương. Tháng 1/1945, Trung ương quyết định chuyển đoàn công tác do ông đứng đầu thành Tỉnh ủy lâm thời Vĩnh Yên, ông tham gia Ban cán sự Tỉnh uỷ rồi làm Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Yên. Cuối tháng 3-1945, Tỉnh uỷ lâm thời Vĩnh Yên họp hội nghị đầu tiên bàn kế hoạch thi hành Chỉ thị ngày 12-3-1945 của Ban Thường vụ Trung ương: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Tháng 4 đến tháng 7-1945 nhiều cuộc biểu tình của nhân dân diễn ra ở nhiểu nơi ủng hộ Việt Minh, chuẩn bị khởi nghĩa, đồng thời nhiều cuộc biểu tình phá kho thóc của địch nổ ra tạo nên khí thế cách mạng rất mạnh mẽ. Từ tháng 6/1945 đến 8/1945, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Yên mà đứng đầu là ông, các Uỷ ban dân tộc giải phóng ở các làng xã được thành lập; chuẩn bị lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành lại chính quyền.

Sau cách mạng tháng 8/1945, ông làm bí thư kiêm chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Giang rồi năm 1947 được Trung ương chỉ định uỷ viên khu 12. Từ năm 1948-1949, ông là Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Khu I khu Việt Bắc. 1950 được điều vào quân đội giữ chức Cục trưởng Cục vận tải, vừa là bí thư Ðảng uỷ cục, đồng thời là Ðảng uỷ viên Ðảng uỷ Cục cung cấp. 1954 Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Uỷ viên thường vụ Tổng cục đảm bảo hậu cần tiếp tế kịp thời các chiến dịch, đặc biệt Ðông Xuân 1953-1954 góp phần đảm bảo vận chuyển đáp ứng lương thực chiến dịch Ðiện Biên Phủ.

Thời kì 1957-1964, thời kì của kế hoạch năm năm lần thứ nhất khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ công nghiệp nặng, thường vụ đảng đoàn Bộ công nghiệp và tiếp đó vào năm 1959 kiêm làm Giám đốc, Bí thư Ðảng uỷ Khu gang thép Thái Nguyên-đây là công trình công nghiệp nặng đầu tiên ở nước ta.

Năm 1965, Mỹ đõ quân ồ ạt vào miền Nam Việt Nam nhằm thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ đồng thời đánh phá ác liệt miền Bắc, ông được điều trở lại quân đội giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Uỷ viên quân uỷ Trung ương. Ông thay mặt Trung ương trực tiếp chỉ đạo quá trình xây dựng Đường Trường Sơn cũng như đoàn 559 và quá trình chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

Năm 1969, ông kiêm chức Bộ trưởng, Ðảng đoàn Bộ Cơ khí luyện kim. Năm 1972, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Sau năm 1973, khi quân Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam theo hiệp định Paris, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chuẩn bị mọi mặt về lực nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam. Đường chiến lược phía Đông Trường Sơn bắt đầu được xây dựng, một khối lượng lớn phương tiện kĩ thuật, bộ đội, công nhân, kĩ sư và thanh niên xung phong được huy động. Trên cương vị là Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải ông đã chỉ đạo cán bộ công nhân viên của Bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp cùng với Binh đoàn Trường Sơn.

Năm 1974, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn cuối, Chủ nhiệm và Bí thư Ðảng đoàn Tổng cục hậu cần. Tháng 9/1974 ông là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Chủ nhiệm và bí thư Ðảng uỷ Tổng cục Kỹ thuật. Xuân 1975 là thành viên bộ phận đại diện quân uỷ Trung ương và bổ Tổng tư lệnh chỉ đạo Chiến dịch giải phóng Tây nguyên và sau đó tham gia bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh trên cương vị Phó Tư lệnh phụ trách Hậu cần và Kỹ thuật.

Miền Nam giải phóng ông được bổ nhiệm làm phó chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước. Năm 1976, ông là Bộ trưởng phụ trách Tổng cục dầu khí, bí thư Ðảng đoàn Tổng cục. Khi đó, dầu khí là một lĩnh vực rất mới mẻ đối với Việt Nam. Năm 1980, ông là Bộ trưởng kiêm Bí thư ban cán sự Bộ Giao thông Vận tải. Cho đến năm 1982, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội III và được bầu vào uỷ viên chính thức tại đại hội IV.

Trong bất kì một cuộc chiến tranh nào, bài toán hậu cần là một trong những bài toán được đặt ra đầu tiên, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chiến lược nó là một phần của lực trong tổng quan thế và lực. Và người được giao trọng trách hậu cần phải là người có tài tổ chức, hoạch định chẳng những trước mắt mà còn lâu dài. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã may mắn khi trong kháng chiến chống Pháp có Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp-Đại tá Trần Đăng Ninh và trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước có Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần-Thượng tướng Đinh Đức Thiện.

Thượng tướng Đinh Đức Thiện còn được mệnh danh là ‘’vị tướng công trường’’, có lẽ nó bắt đầu từ thời kì ông được Trung ương cử đi trực tiếp chỉ đạo công trường xây dựng khu gang thép Thái Nguyên. Rồi việc ông thay mặt Trung ương trực tiếp chỉ đạo xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh, rồi xây dựng cơ sở vật chất cho ngành dầu khí Việt Nam ngay từ thuở ban đầu…

Ông có một tác phong làm việc hết sức sâu sát, xông xáo trong chỉ đạo giải quyết công việc trên cơ sở thực tế và không ưa hình thức. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông luôn luôn ở tuyến đầu (đường Trường Sơn) trực tiếp chỉ đạo xây dựng và chi viện cho chiến trường. Trước những chiến dịch lớn ông thường có những chuyến đi vượt tuyến nhằm kiểm tra cơ sở hậu cần, các binh trạm trên tuyến đường Trường Sơn ví dụ như Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Có một số câu chuyện về ông rất thú vị, ví dụ như chuyện thời kì ông được cử lên chỉ đạo công trường xây dựng khu gang thép Thái Nguyên. Khi nghe tiếng mìn nổ của kĩ sư ở phía xa, ông cho gọi người kĩ sư lên bảo rằng kĩ thuật đánh mình chưa tốt vì nếu nhồi thuốc nổ tốt thì khi phá đá chỉ có một tiếng ‘’ục’’, như vậy vừa không đạt chỉ tiêu kĩ thuật vừa lãng phí. Sở dĩ ông biết vậy là bản thân ông cũng từng tự tay nhồi thuốc phá đá.

Tướng Đinh Đức Thiện là một người nóng tính, nhưng ông không bao giờ nổi nóng vô cớ. Chính vì vậy khi ông ‘’nổi giận’’ cách tốt nhất là im lặng. Nóng tính nhưng tính ông rất phục thiện. Thời kì 65, khi đó xe ô tô đi trên đường Trường Sơn còn chưa có pháo bảo vệ. Có một tiểu đoàn xe chi viện cho chiến trường miền Nam đi trên đường Trường Sơn bị bom Mỹ phá hỏng hết xe. Ông cho gọi người tiểu đoàn trưởng lên hết sức giận dữ. Người tiểu đoàn trưởng bình tĩnh trả lời đại loại ‘’xe đi không có pháo bảo vệ, lần sau có thể là đến người chứ chẳng nói gì đến xe’’. Ai cũng lo lắng cho người tiểu đoàn trưởng đó. Nhưng tướng Thiện hiểu ra làm lành và bàn với bên pháo binh về kế hoạch bảo vệ xe.

Mùa Xuân 1975, lúc đầu Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm, nếu có thể thì giải phóng ngay trong năm 1975. Để chuẩn bị cho chiến lược này, đòi hỏi hậu cần phải chuẩn bị chiến lược về hậu cần và kĩ thuật hết sức to lớn, toàn diện và lâu dài. Trước những biến đổi mau lẹ của chiến trường, ta chủ trương giải phóng miền Nam trước mùa mưa 1975, đòi hỏi một năng động lớn về chỉ đạo và chỉ huy để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu rất cao về đảm bảo vật chất và kĩ thuật. Mặt khác cuộc tổng tiến công chiến lược lại diễn ra trên địa bàn miền Nam dài và rộng, chiều dài hàng ngàn cây số lại phải đảm bảo các cánh quân, các quân đoàn cơ giới vận động đến đâu thì cơ sở vật chất và hậu cần phải vươn theo đến đó đặc biệt lượng vũ khí cho trận đánh cuối cùng là có khổi lượng lớn, đa dạng…Vì vậy công tác hậu cần kĩ thuật cũng phải có phương thức bảo đảm thần tốc và kịp thời. Tướng Thiện khi đó là Phó tư lệnh chiến dịch chỉ đạo hậu cần đã hoàn thành tốt nhiệm vụ mà theo đúng như câu trả lời của ông trước Trung ương về tình hình chuẩn bị hậu cần kĩ thuật ‘’có thể bắn đến mấy đời’ và lời của ông với cán bộ chiến sĩ ‘’các cậu cứ bắn thật mạnh vào ! Bắn cho chúng nó sợ. Sợ đến ba đời’’. Với tác phong chỉ đạo của mình, ông trực tiếp đến những kho hậu cần vừa chiếm được chỉ đạo lấy trang thiết bị của đối phương trang bị cho bộ đội tiếp tục hành tiến.

Tham khảo : Báo nhân dân số 11886 (22/1/1987)


Tiêu đề: Trung tướng Đặng Kinh, vị tướng chỉ huy trận Cát Bi rực lửa
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:42:02 am
(http://img585.imageshack.us/img585/8859/trungtuongdangkinh.jpg)

Trung tướng Đặng Kinh (1922), Nguyên Bí thư Khu ủy Quân khu Tả Ngạn, Tư lệnh Quân khu 3, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1978-1988).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì)…

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982).


Trung tướng Đặng Kinh (tên thật là Đặng Văn Rợp-theo Từ điển Bách khoa Quân sự, một số tài liệu lại ghi là Lê Trung Trực) sinh năm 1922 tại xã Bắc Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Do nhà quá nghèo, năm 11 tuổi ông đã phải đi đội than kiếm sống, ông tự học chữ Nho. Năm 1937, khi 15 tuổi, ông bỏ nghề đội than ở mỏ Hà Lầm thuộc khu mỏ Hồng Quảng và trở thành người liên lạc của nhà cách mạng Tô Hiệu, nguyên Bí thư Thành ủy đầu tiên của thành phố Hải Phòng. Chính nhà cách mạng Tô Hiệu là người đã dìu dắt ông đến với con đường cách mạng giành độc lập tự do cho dân tộc. Vốn liếng tiếng Pháp của tướng Đặng Kinh cũng là do học từ nhà cách mạng Tô Hiệu.

Năm 1941, ông tham gia Mặt trận Việt Minh và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản tháng 7 năm 1944. Ngay sau đó, ông nhận lệnh lên Thái Nguyên học quân sự 15 ngày cùng với ông Văn Tiến Dũng (sau này là Đại tướng-xem bài viết về Đại tướng Văn Tiến Dũng). Kể từ đó người công nhân trẻ Đặng Kinh trở thành người chỉ huy quân sự và con đường binh nghiệp gắn bó với ông kể từ đó.

Tháng 11 năm 1944, ở Tân Phong, Kiến Thụy (Hải Phòng) diễn ra một cuộc họp của Xứ ủy Bắc Kỳ dưới sự chỉ đạo của nhà cách mạng Mai Côn-cán bộ xứ ủy. Mặt trận liên tỉnh Hải Phòng-Kiến An được thành lập gồm bảy người trong đó có ông. Đồng thời, cuộc họp đưa ra quyết định đẩy phong trào cách mạng đang phát triển tại Hải Phòng-Kiến An lên thành một cao trào. Ngay sau đó, 5 tháng riêng âm lịch-đúng ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh, mặt trận (trong đó có ông) tổ chức nói chuyện trong hang Núi Voi mà đối tượng là đông đảo người dân đặc biệt là tầng lớp thanh niên.

Ngày 12/7/1945, sau một cuộc mít-tinh tại Kim Sơn, Kiến Thụy mặt trận liên tỉnh tuyên bố thành lập ở đây chính quyền nhân dân đầu tiên của vùng duyên hải. Trước tình hình đó, ngày 4/8/1945, từ Hải Phòng, quân Nhật đưa hai xe Cam-nhông lính có súng cối đánh vào Kim Sơn. Đây cũng là trận chiến đấu đầu tiên ông tham gia và chỉ huy. Phía Việt Nam chỉ có hai khẩu súng trận, hai khẩu súng săn, nhưng súng trận không có đạn, súng săn bắn đạn ria chỉ làm quân Nhật bị thương, dùng mã tấu, võ thuật, nấp sau cổng làng, lũy tre đánh giáp lá cà với quân Nhật đến trưa quân Nhật phải lui. Đó là trận đánh mở đầu cho mô hình làng chiến đấu mà sau này được áp dụng rất thành công trong cuộc kháng chiến 9 năm.

Sau trận đánh, ông Mai Côn đi họp ở Tân Trào, ông cùng các đồng chí của mình ở lại lập một đại đội do ông là chỉ huy, dự định ngày 15/8 giành chính quyền. Đêm ngày 14/8, hai tiểu đội của đại đội bò vào tri phủ Kiến Thụy giành chính quyền thu 12 súng. Ngày hôm sau, 2 tiểu đội trên tiếp tục mang súng lấy được, hành quân sang huyện phủ Tiên Lãng giải tán huyện phủ Tiên Lãng. Ngày 20/8, Hà Nội giành chính quyền, ông và các đồng chí của mình họp quyết định thành lập ủy ban khởi nghĩa. 18 giờ chiều hôm đấy, đội tiến vào dinh tỉnh trưởng Kiến An rồi ngày 23 tiến quân sang Hải Phòng. Chính quyền Kiến An, Hải Phòng đều thuộc về tay nhân dân.

Giữa năm 1946, đại đội tự vệ của tỉnh Kiến An bổ sung cho Vệ quốc đoàn. Tỉnh lại tuyển trong lực lượng tự vệ các huyện để thành lập một tiểu đoàn tự vệ tập trung của tỉnh do ông chỉ huy. Sau đó một thời gian ngắn ông được điều về làm chỉ huy trưởng huyện đội Kiến Thụy kiêm chỉ huy trưởng du kích chiến đấu tỉnh Kiến An.

Ngày 20/11/1946, quân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, trở về từ Hải Phòng ông báo cáo với Tỉnh ủy Kiến An để tổ chức luyện quân chuẩn bị chống Pháp. Đồng thời ông xin lãnh đạo tỉnh ủy cho chỉ huy một đại đội sang An Dương, Đường 5, đường sắt để đánh quân Pháp. Ngày 28-11, quân Pháp đưa một đại đội tấn công thăm dò trận địa của đại đội ông đang chốt ở Cam Lộ, Thiết Chanh. Ông đã chỉ huy đại đội đón đánh làm thương vong một nửa và nửa còn lại bỏ chạy. Đại đội ông thu một trung liên, một tiểu liên và 12 khẩu súng trường. Những ngày sau đó cho đến 10-12, đại đội của ông liên tiếp tham chiến và trận cuối cùng trước ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, đại đội ông đánh với một tiểu đoàn quân Pháp, diệt 126, hi sinh 3, bị thương 5 người.

Từ năm 1949 đến năm 1954, ông là Chỉ huy phó rồi Chỉ huy trưởng, Ủy viên thường vụ tỉnh ủy Kiến An. Tháng 5 năm 1954, ông là Chỉ huy trưởng Thành đội Hải Phòng. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ông đã làm cho quân Pháp khiếp sợ suốt một vùng tả ngạn sông Hồng với những chiến công lừng lấy trên đường 5 tạo lên ‘’Sấm đường 5’’. Đặc biệt ông là người chỉ huy trận đánh sân bay Cát Bi. Đây là trận tập kích của 32 bộ đội địa phương Kiến An vào sân bay Cát Bi (Hải Phòng). Bằng kĩ thuật tiềm nhập, các chiến sĩ đã vượt qua 2 tuyến phòng thủ của 5 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Âu, Phi) Pháp, dùng bộc phá, phá huỷ 59 máy bay, 1 kho bom. Cùng với trận Gia Lâm, trận Cát Bi gây tổn thất nghiêm trọng cho không quân Pháp, ảnh hưởng lớn đến việc chi viện đường không cho các chiến trường, đặc biệt cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Từ tháng 1 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu phó rồi Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn kiêm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 328. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ năm 1960 đến năm 1965, ông là Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu rồi Cục trưởng Cục liên lạc đối ngoại Bộ quốc phòng. Tháng 4 năm 1966, ông là Phó Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế. Tháng 4 năm 1968, ông là Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn.

Đất nước thống nhất, tháng 3 năm 1977 ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục xây dựng kinh tế Bộ Quốc phòng. Từ năm 1978 đến năm 1988, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi về hưu.

Trung tướng Đặng Kinh là một vị tướng có kinh nghiệm tổ chức và chỉ huy chiến tranh du kích trong vùng địch hậu. Cho nên, có thể nói rằng khi nói đến sự áp dụng của chiến tranh du kích trong kháng chiến chống Pháp thì phải nhắc đến tên tuổi của ông. Nhà nghèo, cho nên lúc còn nhỏ ông ít được học, phải đến khi làm đến chức vụ cao ông mới có điều kiện học để nâng cao trình độ. Lúc đầu ông chọn cấp dưới có trình độ để học, 52 tuổi ông mới học xong chương trình đại học, nhưng ông đã có đến 46 lần giảng dạy cho các chuyên gia quân sự nước ngoài về chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân…


Tiêu đề: Đại tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:43:34 am
(http://img811.imageshack.us/img811/9697/hvt142.jpg)

Đại tướng Hoàng Văn Thái (1915-2/7/1986), nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Quân đội Nhân dân Việt Nam) (1945-1953), nguyên Chủ nhiệm Tổng cụ Quân huấn (1958-1965), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 (1966-1967), nguyên Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1967-1973), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1974-1986), nguyên Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao nhà nước (1960-1965), Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa III đến khóa V, Đại biểu Quốc hội khóa VII.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng năm 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất Nhì, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến thắng hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (1948, trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội), Trung tướng (1959), Thượng tướng (1974), Đại tướng (1980).


Đại tướng Hoàng Văn Thái (tên thật là Hoàng Văn Xiêm) quê tại xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong một gia đình nông dân nghèo. Quê ông vốn là một vùng quê giàu truyền thống yêu nước. Thân phụ ông là cụ Hoàng Thiện Thuật, dạy chữ Nho đến cấp hàng tổng, từng tham gia Hội văn thân yêu nước ở địa phương những năm đầu thập kỷ 30, thế kỷ trước.

Trong từng giai đoạn lịch sử, huyện Tiền Hải luôn luôn xuất hiện những nhân vật nổi tiếng đã đi vào lịch sử dân tộc. Đó là tướng Vũ Đức Cát, triều đại Tây Sơn, sau là một trong những tướng giỏi của cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành. Đó là nhà cải cách Bùi Viện, đề xướng duy tân đất nước dưới triều Nguyễn. Trong phong trào cần vương cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Quang Bích nổi lên là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước căm thù giặc. Đặc biệt là cuộc biểu tình của những người nông dân Tiền Hải ngày 14/10/1930 đã ghi đậm dấu son trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc. Tiếp đó là các ông; Vũ Trọng, Vũ Nhu, Ngô Duy Phớn...những người truyền bá Chủ nghĩa Mác Lê-nin và thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở điạ phương. Tất cả những tấm gương và các hoạt động ấy đã có tác động rất lớn đến tư tưởng và lòng yêu nước của ông. Hơn nữa, Hoàng Văn Xiêm là một học sinh chăm học, ham hiểu biết, nhanh nhẹn giàu nghị lực nên được thầy giáo và các bạn quý mến kết quả là ông đỗ bằng tiểu học Pháp Việt loại ưu.

Năm 13 tuổi ông đã phải bỏ học đi làm thuê rồi đi cắt tóc. Năm 18 tuổi ông là thợ mỏ Hòn Gai (Quảng Ninh) rồi sau đó lên làm thợ tại mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) và giác ngộ cách mạng.Trở về làng cùng với số đông anh em khác tích cực tham gia tổ chức các hội ở địa phương như: hội hiếu, hội tương tế, hội đá bóng, hội âm nhạc, hội đọc báo...Ông Nguyễn Trung Khuyến, cán bộ lãnh đạo do huyện cử xuống trực tiếp chỉ dẫn hoạt động. Chỉ sau vài tháng số học viên trong làng phát triển nhanh. Hội tương tế lên tới 170 hội viên do ông Lương Thúy làm hội trưởng, Hoàng Văn Xiêm làm thư ký.

Ngoài việc tham gia hoạt động, ông còn cùng với thanh niên trong làng thành lập đoàn thành niên dân chủ, tổ chức ra các hội đá bóng, hội nhạc âm. Khắp các địa phương trong tỉnh, trong huyện, phát triển đội nhạc âm, thu hút thanh niên, học sinh tham gia. Ông thổi kèn rất giỏi, tranh thủ các tối hòa nhạc chuản bị cho những buổi tế lễ, ông cùng các bạn bí mật rải truyền đơn, vận động nhân dân đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ, hát đồng ca bài hát cách mạng. Hào lý trong làng thấy vậy đều luống cuống lo ngại. Do hăng say, nhiệt tình, sáng tao và dũng cảm hoạt động ở địa phương nên năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng trở thành đảng viên trung kiên của chi bộ An Khang.

Cuối năm 1939, địch liên tiếp mở các đợt khủng bố rất dã man, nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Các tổ chức Đảng chuyển vào hoạt động bí mật. Ông gây dựng lại phong trào đấu tranh của quần chúng An Khang, giác ngộ và đưa vào tổ chức nhiều thanh niên yêu nước như: Nguyễn Hữu Tước, Nguyễn Thế Long, Tô Đình Khảm, Nguyễn Đình Khiêm, Tô Chinh...Say này đều trở thành cán bộ trung cao cấp của Nhà nước và Quân đội.

Giữa năm 1940, sau nhiều năm săn lùng, mật thám Pháp và tay sai bắt được ông Ngô Duy Phớn một trong những người lãnh đạo chủ chốt của phong trào cách mạng ở Tiền Hải và tuyên bố nếu ai khai báo chỗ ở của đảng viên cộng sản sẽ được thưởng thóc và huân chương của chính phủ Pháp. Do chỉ điểm, ông bị bắt giải về phủ Kiến Xương giam giữ. Một lính lệ quen biết bảo lãnh cho ông tại ngoại, chờ ngày xét xử. Chớp thời cơ tổ chức bí mật đưa ông thoát li khỏi địa phương, tiếp tục hoạt động ở nơi khác. Rời quê hương ông lên nhận công tác ở căn cứ Hiệp Hòa, Bắc Giang và dự lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày được nghe các ông Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh giảng về chính trị. Tháng 4 năm 1941, ông có mặt ở Bắc Sơn. Cuộc khởi nghĩa vừa nổ ra tại đây và đồng bào các dân tộc đang trải qua cuộc đấu tranh quyết liệt, chống khủng bố của địch.

Mùa thu 1941, ông được cử đi học trường Quân sự Liễu Châu, Trung Quốc cùng với các ông: Hoàng Minh Thảo, Đàm Quang Trung, Vũ Lập. Trường do Tưởng Giới Thạch tổ chức, hiệu trưởng là Trung tướng Dương Kế Vinh. Học viên của trường là một số thanh niên Hoa kiều ở Thái Lan và thanh niên Việt Nam. Ngoài đoàn Việt Minh, các nhóm Việt Quốc và Việt Cách cũng có người theo học. Thời gian học tập ở trường, ông làm trưởng đoàn Việt Nam và luôn có nhận thức, lý luận cách mạng vững mạnh, phẩm chất đạo đức tốt, doàn kết được mọi người giữ vững quan điểm của mặt trận Việt Minh đồng thời kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái của hai nhóm Việt Quốc và Việt Cách.

Cuối năm 1943, khi lãnh tụ Hồ Chí Minh thoát khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, ông đã trực tiếp được gặp lãnh tụ. Cuối năm 1944, ông được tuyển chọn vào hàng ngũ 34 đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng lễ thành lập đội được tổ chức long trọng. Ông Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung, ông Hoàng Sâm (sau này là Thiếu tướng, liệt sĩ) làm đội trưởng, Xích Thắng (tức ông Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên, ông Lâm Cẩm Như (tức Lâm Kính) phụ trách công tác chính trị, ông Lộc Văn Lùng (tức Văn Tiên) làm quản lý và ông phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến.Hình người cầm cờ đúng trong hàng ngũ chính là ông với nhiệm vụ tuyên truyền và binh vận.

Sau chiến thắng Phay Khắt, Nà Ngần, đội phát triển thành đại đội, ông được giao công tác trinh sát và lập kế hoạch tác chiến khi đơn vị chuẩn bị đánh đồn Đồng Mu. Khi đó theo lời gợi ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông đã thức trắng đêm sáng tác bài "Phất cờ Nam tiến" - đây là bài hành khúc đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 3 năm 1945, ông chỉ huy cánh quân giành chính quyền ở Chợ Đồn. Trong khi đang tổ chức huấn luyện quân sự ở đây, ông nhận được lệnh của ông Võ Nguyên Giáp bàn giao mọi việc cho những người lãnh đạo địa phương và chuyển quân xuống Chợ Chu (Định Hóa, Tuyên Quang) tổ chức chính quyền xã, huyện của vùng giải phóng đồng thời huấn luyện quân sự cho lực lượng tự vệ chiến đấu và các cán bộ đoàn thể. Tháng 4 năm 1945, hội nghị Quân sự Bắc Kỳ quyết định sát nhập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũt rang khác thành Việt Nam giải phóng quân (15/5/1945) và quyết định thành lập Trường quân chính kháng Nhật tại Tân Trào do ông phụ trách.

Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở Lục An Châu rồi sau đó đưa quân về phối hợp với quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương giành chính quyền ở Tuyên Quang. Cách mạng tháng 8 thành công, tháng 9 năm 1945 ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ thành lập Bộ Tổng tham mưu của Quân đội quốc gia (sau là Quân đội Nhân dân Việt Nam) còn non trẻ và giữ chức Tổng tham mưu trưởng đầu tiên.

Quân Pháp núp bóng quân Anh nhân danh quân đồng minh trở lại xâm lược Việt Nam. Ông trực tiếp chỉ đạo mặt trận Hải Phòng từ 20 đến 27 tháng 11 năm 1946. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ tại Hà Nội, ông cùng với ông Võ Nguyên Giáp là những người phê duyệt kế hoạch tác chiến của ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng-Phó Tổng tham mưu trưởng), chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội. Bản thân ông trên cơ sở những kinh nghiệm ở Hải Phòng trong việc chỉ đạo mặt trận Hà Nội để xây dựng thế trận liên hoàn và khu vực tác chiến nhằm kìm giữ, tiêu hao quân Pháp trong lòng thành phố.

Ngày 26/8/1947, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký quyết định đồng chí là Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam kiêm chức Đại đoàn trưởng Đại đoàn Độc Lập. Tháng 1 năm 1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội, ông được phong Thiếu tướng.

Chiến dịch Biên Giới (16/9-14/10/1950), ông là Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch. Trong chiến dịch này, đích thân ông chỉ huy trận đánh then chốt Đông Khê. Trong trận đánh Đông Khê, lúc đầu diễn ra không thuận lợi, ông đã ra tận chiến hào chỉ đạo, động viên bộ đội giữ chốt. Khi quân Pháp đánh chốt, ông ở lại giữ chốt cùng bộ đội. Tiếp theo đó, ông tiếp tục làm Tham mưu trưởng các chiến dịch quan trọng khác như Trung du, Hoàng Hoa Thám (1951).Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch.

Ngày 10/4/1958, ông là Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn theo sắc lệnh 61/SL ngày 10/4 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao Nhà nước. Từ năm 1961 đến năm 1963, ông đi học ở Học viện quân sự cấp cao Bắc Kinh, Trung Quốc.

Trong kháng chiến chống Mỹ ông Nam tiến ngay những ngày đầu tiên quân Mỹ thực hiện Chiến tranh cục bộ, năm 1966 ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu 5. Từ năm 1967 đến năm 1973 ông là Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó bí thư Trung ương cục và Phó bí thư Quân uỷ Quân Giải phóng miền Nam. Đây là thời kì cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất, ông đã chỉ đạo chỉ huy nhiều chiến dịch lớn ở Nam Bộ.

Cuối tháng 1 nam 1974, ông ra Bắc nhận chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, trực tiếp chỉ đạo công tác chi viện chiến trường và chỉ đạo tác chiến. Qua tám năm làm Tư lệnh 2 chiến trường lớn đánh Mỹ ở miền Nam B2 và khu V, ông có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Ông đựoc Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao làm kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976. Thời gian chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công, toàn bộ công việc của Bộ Tổng tham mưu đựoc yêu tiên cho chiến trường miền Nam. Ông làm việc với cường độ cao, vừa giúp bộ theo dõi, chỉ đạo tác chiến trên các chiến trường vùa cùng tướng Lê Trọng Tấn hướng dẫn tổ trung tâm hoành thành kế hoạch tác chiến chiến lược. Ông còn cùng các cơ quan của Bộ Quốc phòng nhất là Tổng cục hậu cần đôn đốc, giải quyết những yêu cầu chiến trường...Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giữ trách nhiệm Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng chi viện, ông đã tập trung chỉ đạo chi viện kịp thời cho các chiến trường, góp phần quan trọng đưa cuộc tiến công và nổi dậy đến toàn thắng.

Từ năm 1974 đến năm 1986, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1974 đến năm 1981, ông là Uỷ viên thường vụ Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III đến khoá V, đại biểu Quốc hội khoá VII.

Đại tướng Hoàng Văn Thái là một vị tướng hiền hậu, thật thà, giản dị và hết mực khiêm tốn và được cán bộ và chiến sĩ ta hết mực yêu quý. Đặc biệt cán bộ và chiến sĩ Quân khu 5 thường gọi ông trìu mến bằng ‘’ông cụ’’. Khi nghe tin Quân đội chuẩn bị danh sách ba người (ông, ông Nguyễn Chánh, ông Chu Văn Tấn) để đưa ra Chủ tịch nước xét quyết định phong Thượng tướng và giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đã xin rút ra khỏi danh sách vì lí do ‘’anh Nguyễn Chánh xứng đáng hơn tôi’’. Hay có truyện sau ngày cách mạng tháng 8 thành công, khi ông được Bác Hồ giao nhiệm vụ thành lập Bộ tổng tham mưu, ông đã sử dụng trung úy Hải (sĩ quan quân đội Pháp, sau này là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam) làm cán bộ của Bộ Tổng tham mưu. Ông được coi là người phụ tá ăn ý, người đồng chí trung thành của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Cũng chính ông là người nghĩ ra cách kí hiệu các cấp của các đơn vị Quân đội bằng các chữ cái (ví dụ : A-Tiểu đội, B-Trung đội, C-Đại đội, D-Tiểu đoàn, E-Trung đoàn, F-Sư đoàn) để cho dễ gọi hơn, Việt hơn và đặc biệt thể hiện sự độc lập đối với những ‘’di sản’’ do người Pháp để lại.

Một điều đặc biệt nữa mà đến giờ nhiều người vẫn nhầm, đó là bài ‘’Phất cao cờ Nam tiên’’ được sáng tác trong thời kì cuối năm 1945 trong phong trào Nam tiến vào Nam chi viện cho cuộc kháng chiến của quân và dân Nam Bộ. Trong khi bài hát này đúng là sáng tác trong phong trào Nam tiến, nhưng là phong trào Nam tiến trước cách mạng tháng 8 phát triển lực lượng vũ trang từ căn cứ địa Việt Bắc về Đồng Bằng phát triển lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, vào một đêm mùa đông bên cạnh một đống lửa trong rừng sâu của cuối năm 1944 trước ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có mấy ngày. ‘’Cờ giải phóng phất cao đường Nam tiến/ Trời phía Nam dân chúng đang mong chờ/ Tiến bước mau ! Quân giải phóng’’. Và bài hát này cũng vang lên trong những đoàn quân Nam tiến khi quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, trong bước tiến quân thần tốc và những trận đánh anh dũng của các chi đội Hoàng Đình Giong, chi đội Nam Long, chi đội Vi Dân, chi đội Thu Sơn, chi đội Hữu Thành, chi đội Bắc Bắc. Người sáng tác bài hát không ai khác chính là Đại tướng Hoàng Văn Thái, ông có thể coi là nhạc sĩ quân đội đầu tiên. Còn người viét lời cho bài hát chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Vợ của Đại tướng Hoàng Văn Thái là Trung tá Đàm Thị Loan là một trong ba nữ chiến sĩ trong đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, bà cũng là một trong hai người có vinh dự kéo cờ trong lễ Độc lập tổ chức tại Quảng trường Ba Đình 2/9/1945-người còn lại là Giáo sư Lê Thi. Trong bức ảnh chụp Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, ông là người cầm cờ đội mũ trắng đứng giữa.


Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà chính trị-quân sự xuất sắc
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:48:26 am
(http://img401.imageshack.us/img401/6138/daituongnguyenchithanhn.jpg)

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1/1/1914-6/7/1967), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Bí thư Trung ương cục miền Nam (1965-1967), nguyên Chính ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng từng giữ các chức vụ Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1947 rồi các khóa II và III, Bí thư Khu ủy Khu 4, Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên Việt Nam.

Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

Ngày 31/8/1959, ông được phong Quân hàm Đại tướng mà không phải qua một cấp bậc trung gian nào-giống như Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1948 và là Đại tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ông là một trong những tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt được Hội Sử học Việt Nam trân trọng đúc tượng đồng-hiện đặt tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Tại quê hương ông có một khu tưởng niệm và tượng của ông. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều có những con đường mang tên ông.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được mệnh danh là cánh tay phải của Bác Hồ, khi nghe tin ông mất đột ngột Bác lặng đi một lúc. Sau kháng chiến chống Pháp cứu nước nhất là trong những năm đầu xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc, trong những bức hình tư liệu bây giờ còn lưu giữ được, ông luôn ở bên cạnh Bác trong các cuộc họp, hội nghị của Đảng, Quân đội…và đặc biệt ông là người tháp tùng Bác về quê.


(http://img266.imageshack.us/img266/5905/83453jp6.jpg)
Cùng Bác về quê (Làng Sen, Nghệ An 1957)

"Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người không ngừng chăm lo tăng cường bản chất cách mạng của quân đội nhân dân và chính anh là một vị tướng tiêu biểu cho bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta" (Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh)

‘’Ông là một danh tướng, một nhà chính trị và nhà quân sự lỗi lạc" (Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)

“Anh như con đại bàng bay trên trời cao, có tầm nhìn xa trông rộng lại thấy được những cái rất cụ thể trên mặt đất” (Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng)

"Ngày nghe tin ông Thanh mất, tôi đã khóc. Khóc dữ dội, khóc ghê lắm! Người như vậy mà mất sớm thì tiếc quá, tiếc cho gia đình, tiếc cho dân tộc" (Nhà thơ Hoàng Cầm)

‘’Sáng trong như ngọc một con người" (Nhà thơ Tố Hữu)

"Sau Bác Hồ vĩ đại, một trong những người cộng sản lãnh đạo có đức tài, tâm huyết, khí phách, có sức hấp dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ với quần chúng, đó là anh Nguyễn Chí Thanh!" (Viện trưởng Viện nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng).

‘’Le sauveur de Binh Tri Thien’’ (Cứu tinh của Bình Trị Thiên) (Báo chí bên Pháp và các vùng địch tạm chiến Hà Nội-Sài Gòn).

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (tên thật là Nguyễn Chí Vịnh) quê tại Xã Liêm Phò, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong một gia đình trung nông. Năm ông 14 tuổi bố ông mất, do hoàn cảnh gia đình ông phải bỏ học đi làm tá điền giúp mẹ nuôi các em. Năm 16 tuổi ông quen và yêu một cô gái xinh đẹp con một lý trưởng trong làng. Nhưng gia đình nhà gái chê ông nghèo, thân phận thấp cho nên không đồng ý và gả con cho người khác. Năm 17 tuổi ông cùng bạn bè tích cực tham gia phong trào bình dân, chống chính quyền thực dân.

Năm 1934, khi 20 tuổi, ông đi làm thuê và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 7 năm 1937 đến năm 1938 ông là Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Trong thời gian này ông quen bà Nguyễn Thị Cúc (sau này là vợ ông), bà là một người có học gia đình lại khá giá nhưng là cơ sở cách mạng những năm 1924-1925, bố bà là người trước kia thường xuyên lui đến nhà cụ Phan Bội Châu. Bản thân bà cũng có những hoạt động cách mạng từ rất sớm.

Năm 1938, ông bị thực dân Pháp bắt, mặc dù không có chứng cớ nhưng ông vẫn bị toàn tuyên án 2 năm cầm cố và bị đưa về nhà lao Thừa Phủ (Thừa Thiên Huế). Cùng với ông, trong nhà lao Thừa Phủ lúc bấy giờ còn có các ông Tố Hữu, Hoàng Anh và Nguyễn Sơn. Từa năm 1938 đến năm 1945 ông bị thực dân Pháp bắt giam cả thảy ba lần, lần thứ hai ông bị đưa ra giam ở nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị) và lần thứ ba ông bị đưa lên Buôn Ma Thuột. Tuy bị giam cầm, tra tấn nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết của người cách mạng, tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù thực dân đế quốc và tìm cách vượt ngục thắng lợi để tiếp tục hoạt động, khơi dậy phong trào. Tháng 3/1945, khi đang bị tạm giam ở nhà tù Buôn Mê Thuột, ông cùng những tù nhân chính trị được trả tự do nhờ phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Ra tù, ông tích cực cùng Việt Minh tham gia vận động đồng bào Bình Trị Thiên đứng lên khởi nghĩa cướp chính quyền.

Tháng 8 năm 1945, ông ra Việt Bắc dự hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam (tại Tân Trào, Tuyên Quang)-hội nghị quyết định khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, được cử vào Tổng bộ Việt Minh và được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Bộ. Cái tên Nguyễn Chí Thanh gắn với ông từ đây. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử giữ chức Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế rồi Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên. Giữa năm 1946, ông tổ chức lễ cưới với bà Nguyễn Thị Cúc.

Linh hồn của cuộc kháng chiến Bình Trị Thiên

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cuộc chiến ở Huế bắt đầu vào lúc 2h30 phút ngày 20/12/1946 và kéo dài gần 2 tháng. Sau hơn 20 ngày đầu tiên nổ súng tấn công vào các vị trí đóng quân của quân Pháp, quân dân Thừa Thiên-Huế đã buộc quân Pháp phải co cụm cố thủ trong các trường dòng, viện dân biểu... Tuy vậy, với âm mưu chiếm đóng khu vực Bình-Trị-Thiên làm bàn đạp tấn công các tỉnh phía bắc khu 4, Pháp phái quân tiếp viện đến giải vây và đẩy lùi quân kháng chiến ở Huế. Trước sức mạnh của đối phương, quân ta chỉ cầm cự được đến đầu tháng 3 rồi rút khỏi Huế bảo toàn lực lượng.

Thừa thế, quân Pháp tiến công mở rộng, đánh chiếm Thừa Thiên Huế và các tỉnh xung quanh. Vừa đánh, quân Pháp vừa thực hiện chiến thuật "vết dầu loang" - xây dựng đồn bốt, lập hội tề và mở các cuộc càn quét để kiểm soát các vùng vừa chiếm được đồng thời thực hiện tất cả các biện pháp để truy bắt những đảng viên cộng sản bám trụ trong nhân dân, uy hiếp và tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân dân Huế nói riêng và mảnh đất miền trung nói chung. Sau khi mặt trận Huế vỡ, nhiều cơ quan đảng bộ trong tỉnh bị thiệt hại nghiêm trọng, như đảng bộ Phú Vang từ 193 đến thời điểm đó chỉ còn vẻn vẹn 23 đảng viên. Còn các đơn vị bộ đội, sau khi rút khỏi thành phố Huế, do hoạt động khủng bố gắt gao của quân Pháp, cuộc sống của các đơn vị này cũng trở nên vô cùng khó khăn: ăn đói, mặc rách, rét mướt, bệnh tật. Tinh thần và tư tưởng bị chao đảo, sức chiến đấu giảm sút nghiêm trọng.

Những cuộc truy lùng gắt gao và hành quyết dã man các đảng viên cộng sản, những cuộc càn quét liên miên của giặc Pháp, thêm vào đó là sự rút lui của quân đội, tất cả đã khiến nhân dân hoang mang. Không khí sợ hãi, lo âu bao trùm trong dân chúng. Phong trào kháng chiến của Huế và cả khu vực Bình-Trị-Thiên chùn lại và vấp phải những khó khăn chồng chất. Không chỉ cần một ngọn lửa để giữ vững niềm tin, cuộc đấu tranh của nhân dân Huế còn cần có một lối đi mới, thích hợp với tình hình hiện tại. Đầu năm 1947, khu vực Bình Trị Thiên đã bị mất trắng vào tay quân Pháp.

Trên cương vị Bí thư tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế, ông đã cho triệu tập gấp một hội nghị các cán bộ đảng tỉnh Thừa Thiên. Hội nghị diễn ra tại thôn Nam Dương (huyện Quảng Điền) vào ngày 25/3, tức là chỉ hơn nửa tháng kể từ sau khi bộ đội rút khỏi nội thành Huế và 9 ngày sau khi quân Pháp hoàn toàn chiếm được Huế. Ngay sau hội nghị Nam Dương, với định hướng đường lối rõ ràng, nhiều cán bộ đảng viên đã bất chấp nguy hiểm, vượt qua những hệ thống đồn bốt dày đặc của địch về cơ sở. Thế nên, chỉ hơn 1 tháng sau khi bộ đội chủ lực rút khỏi Huế, phong trào kháng chiến được gây dựng trở lại. Đến đầu năm 1948, từ chỗ bị đánh bật khỏi cơ sở, các cán bộ đảng viên đã gây dựng và từng bước củng cố các uỷ ban hành chính kháng chiến, bám sát, chỉ đạo nhân dân sản xuất, phục vụ chiến đấu. Cùng với lực lượng cán bộ đảng viên, với phương châm: "Đánh địch để xây dựng cơ sở, xây dựng cơ sở làm chỗ dựa đánh địch", lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên đã tạo được sự phát triển mới trong phong trào toàn dân kháng chiến.


Tiêu đề: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà chính trị-quân sự xuất sắc
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:49:26 am
Bắt đầu từ tháng 7/1947, một số tiểu đoàn quân chính quy được phân tán thành những đơn vị nhỏ - còn được gọi là các "tiểu đội độc lập", thực hiện "quần chúng hóa" bám dân, bám địa bàn, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tác chiến liên tục, đánh vào các đồn bốt và ngăn chặn các cuộc càn quét của địch. Ngoài sự hoạt động hiệu quả của các "tiểu đội độc lập", phong trào phá tề do trung ương phát động đầu năm 1948 cũng phát triển hết sức mạnh mẽ, đều khắp. Hệ thống nguỵ quyền cơ sở mất hiệu lực khiến cho địch không dám tiến hành kiểm soát và khống chế dân. Ở nhiều xã ngay trong vùng địch tạm chiếm, ngụy quyền tan dã. Nhân dân khắp nơi hưởng ứng, giúp đỡ kháng chiến.

Năm 1948, ông được cử giữ chức Bí thư Khu ủy Khu 4. Đến cuối năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế nói riêng, Bình-Trị-Thiên chung đã đạt được khí thế mới: càng đánh cành mạnh như lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nối: "Bình-Trị-Thiên kháng chiến ngày càng vững mạnh lên, địch cũng phải công nhận."

Nhà chính trị

Năm 1950, ông được điều lên Việt Bắc và ngày 11/7/1950, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cũng tháng 2 năm này, tại đại hội lần I Liên đoàn thanh niên Việt Nam ông được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn cho đến năm 1956.

Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông giáo dục cho cán bộ chiến sỹ thấm nhuần chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Ông đã tổ chức thực hiện sự lãnh đạo có hiệu lực của Đảng đối với quân đội, thực hiện đường lối quân sự của Đảng, tạo ra một bước phát triển mới về sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, liên tục mở các chiến dịch lớn, từ chiến dịch Biên Giới 1950 đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Chấp hành chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị, ông đã tập trung vào tăng cường bản chất cách mạng của Quân đội Nhân dân. Tập trung xây dựng chế độ lãnh đạo tập thể của Đảng trong các cấp, từ Tổng quân uỷ đến chi bộ đại đội, làm cho công tác tư tưởng vượt lên trên phạm vi của công tác động viên và tác động tâm lý thông thường của con người theo bản năng, phát triển thành công tác giáo dục chủ nghĩa Mác Lê-nin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, mục tiêu chiến đấu của quân đội.

Với việc thiết lập và xây dựng hệ thống tổ chức công tác đảng - công tác chính trị trong quân đội, ông đã làm rõ các mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với bầu bạn quốc tế, trong đó mối liên hệ giữa quân đội với Đảng là mối liên hệ bản chất chi phối các mối quan hệ khác. Chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng quân sự của Đảng thể hiện trong chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; trong giải quyết mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa con người và vũ khí, giữa lãnh đạo và chỉ huy, giữa đạo đức và tài năng của cán bộ... Tất cả đã tạo ra bước ngoặt về xây dựng chính trị làm cơ sở nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội Nhân dân.

‘’Khi Đảng cần Đại tướng cũng bị trưng dụng’’ (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh)

Ngày 31/8/1959, ông được phong Quân hàm Đại tướng theo quyết định của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuối năm 1960, tình hình nông nghiệp gặp khó khăn. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, năm 1961, ông được điều từ Quân đội sang phụ trách Trưởng ban nông nghiệp Trung ương cho tới năm 1964. Với một đất nước trước đây gần như thuần nông nghiệp thì đây là một lĩnh vực rất quan trọng, nó tạo tiền đề đầu tiền để phát triển miền Bắc đồng thời chuẩn bị cho kế hoạch chi viện và giải phóng miền Nam. Là một nhà quản lí có đầu óc tổ chức, ông đã vào Hợp tác xã Đại Phong Quảng Bình rồi Vĩnh Linh, Lạng Sơn, Yên Bái, Hải Phòng, Lào Cai để nghiên cứu, tìm hiểu cách quản lí và tổ chức rút kinh nghiệm nhằm phát động một phong trào rộng lớn trong nông nghiệp nhằm thi đua với hợp tác xã Đại Phong. Từ mô hình hợp tác xã Đại Phong ông đã nhân lên khắp miền Bắc, nhiều cánh đồng năm tấn xuất hiện khắp nơi tạo nên một diện mạo mới cho miền Bắc nói chung và các tỉnh nông thôn miền Bắc nói riêng. Câu ‘’Sóng duyên hải, Gió Đại Phong, Tiếng trống Bắc Lý’’ là khẩu hiệu, mục tiêu thi đua trên các mặt Công nghiệp-Nông nghiệp-Giáo dục một thời.

Nhà chiến lược quân sự

Bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được điều về lại Quân đội. Năm 1964, ông tình nguyện vào Nam chiến đấu. Từ năm 1965 đến năm 1967, ông là Bí thư Trung ương Cục miền Nam đồng thời là Chính ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tham gia lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng miền Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Lúc này, đế quốc Mỹ đã đưa quân chiến đấu Mỹ và quân đội các nước chư hầu ồ ạt vào trực tiếp tham chiến, xâm lược miền Nam. Đây là thời điểm bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Ông cùng lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam đã nhận rõ: ở vào giai đoạn cuối của "Chiến tranh đặc biệt", nếu ta chỉ phát triển chiến tranh du kích, chỉ đánh địch ở quy mô nhỏ thì không thể giành thắng lợi quyết định được. Bởi vậy, cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng lực lượng cách mạng của quần chúng, chúng ta phải coi trọng xây dựng các quả đấm chủ lực, ông đã cùng với Bộ chỉ huy Miền chỉ đạo mở các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài và hàng loạt trận tiến công đánh bại từng chiến đoàn của chính quyền Sài Gòn cũ, cùng với việc phá rã hàng ngàn "ấp chiến lược", làm phá sản hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - nguỵ.

Quân đội Mỹ ồ ạt vào xâm lược miền Nam, cùng lúc đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh leo thang, dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người phát hiện sớm việc chuyển chiến lược của Mỹ. Phát kiến đó đã được Bộ Chính trị chấp nhận và đề ra quyết sách mới. Lúc đó, ông phân tích: Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược; Mỹ có cả một kho vũ khí khổng lồ nhưng lại vấp phải một núi mâu thuẫn; Mỹ là tỷ phú về đô-la, nhưng quân và dân ta lại là tỷ phú về chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Ta có đường lối chiến tranh cách mạng, có chiến thuật đúng, ta sẽ bắt quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, nên ta nhất định thắng.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông cùng Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền đã chỉ đạo và tổ chức quân và dân miền Nam phát huy tư tưởng chiến lược tiến công trong tình hình nhiệm vụ mới, đánh thắng quân Mỹ ngay từ những trận đầu. Các trận thắng: Núi Thành, Vạn Tường, Bàu Bàng, Nhà đỏ - Bông Trang, Plây - me và thung lũng Ia - đrăng, cuộc hành quân A-ten-bơ-rô và nhất là đánh bại cuộc hành quân tổng lực để "tìm diệt" mang tên Gian-xơn-xi-ti đã làm nức lòng nhân dân cả nước; trực tiếp xây dựng, củng cố niềm tin và quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của toàn dân tộc.

Từ thực tế chiến đấu, sự sáng tạo của các đơn vị, các địa phương, ông đã tổng kết thành phương châm chỉ đạo tác chiến, đồng thời cũng là khẩu hiệu hành động cách mạng nổi tiếng, nhanh chóng đi vào lòng người, lan toả thành cao trào cách mạng trên khắp chiến trường như "Nắm thắt lưng địch mà đánh" nó thể hiện tư duy chiến thuật đồng thời cũng là chiến lược ‘’Ở gần, đánh gần’’, "Tìm Mỹ mà đánh, tìm nguỵ mà diệt", lập các "Vành đai diệt Mỹ", thi đua phấn đấu trở thành "Dũng sỹ diệt Mỹ", "Dũng sỹ diệt xe tăng" v.v...Thực hiện tư tưởng này, Quân giải phóng miền Nam đã thật sự chống được ý đồ "phân tuyến" của Mỹ - nguỵ, đã hạn chế đến mức tối đa (có trận đã vô hiệu hoá) hỏa lực phi pháo của đối phương. Ta thắng quân đội Mỹ, và sau này thắng quân của chính quyền Sài Gòn cũ ở giai đoạn "Việt Nam hoá chiến tranh" cũng từ cái tư tưởng "ở gần và đánh gần" này.

Luôn sâu sát thực tế, nắm bắt nhanh nhạy mọi vấn đề, ông đã phân tích và khái quát rât sâu sắc cục diện cuộc chiến, nhất là sau chiến thắng lớn của ta đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ti của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ. Bài viết "Năm bài học phản công chiến lược mùa khô" mang bút danh Trường Sơn của ông đã ngay lập tức trở thành tác phẩm có giá trị. Nó là vũ khí tư tưởng cho toàn đảng, toàn quân và toàn dân quyết đánh và quyết thắng quân Mỹ xâm lược.

Kiệt sức vì công việc

Mùa hè năm 1967, ông ra Hà Nội báo cáo tình hình chiến trường miền Nam và cùng Bộ chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết kế và hoạch định kế hoạch cuộc Tổng tiến công Mậu Thân. Ông mất đột ngột vào ngày 6/7/1967, một ngày trước khi ông lên đường trở lại miền Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một người có sức khỏe không được tốt. Những năm tháng tù đầy khắp các nhà lao ở miền Trung cộng với những năm kháng chiến gian khổ thiếu thốn, cường độ làm việc cao khiến cho ông bị mắc bệnh phổi-đã có thời gian Trung ương và Bác phải chỉ thị cho ông tạm dừng công việc để đi chữa bệnh. Từ năm 1965 đến 1967, những vất vả và khó khăn của những năm đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước dường như đã vắt kiệt sức khỏe và làm suy yếu trái tim của ‘’người tá điền vóc dáng khỏe mạnh’’ năm nào. Đợt ra Bắc năm 1967, ngày nào ông cũng phải làm việc tới khuya. Đêm cuối cùng trước khi vào Nam ông còn làm việc với tướng Song Hào và tướng Lê Quang Đạo. Đây là một đau thương vô hạn, một tổn thất vô cùng lớn của cách mạng Việt Nam, của chiến sỹ và đồng bào cả nước. Đối với Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền và Quân giải phóng miền Nam thì đây là một tổn thất không gì bù đắp nổi.

Nước da ngăm đen, đôi mắt sáng ngời, tính tình nhân hậu thẳng thắn. Ông là hiện thân của người nông dân mặc áo lính-vị tướng nông dân. Tác phong luôn luôn gần gũi và sâu sát với cán bộ cấp dưới và nhân dân. Có biết bao những câu chuyện kể về ông từ câu chuyện ông cõng lĩnh trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chuyện ông ăn sắn độn khoai với bộ đội hay đến chuyện bà nọ đòi xem mặt Đại tướng. Ông là điển hình của tác phong lãnh đạo giản dị, không xa hoa lãng phí và không bao giờ lên mặt làm ‘’quan cách mạng’’. Xin trích một số câu nói của ông : ‘’Nước ta còn nghèo, miền Nam còn trong khói lửa chiến tranh, miền Bắc đang kiến thiết và xây dựng, kinh nghiệm xây dựng cuộc sống mới còn chưa nhiều. Tôi cũng đã từng đôi ba lần đi nước ngoài, tôi biết. Những nước phát triển, người ta làm gì cũng tính toán cân nhắc. Phòng khách, buồng ngủ, nhà ăn quy mô to nhỏ, trang trí thế nào là vừa phải. Lịch sự không có nghĩa là xa hoa, lãng phí’’-: “Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, khó tránh khỏi chớm nở trong bộ đội tư tưởng đòi hưởng thụ. Nhưng mình ở sang quá thì khó gần gũi anh em, mà có khi nói điều cần phải nói cũng khó lọt tai người nghe”-“Mình dù sao cũng còn trẻ, để nhường cho các đồng chí cao tuổi, yếu sức hơn. Nước ta nghèo, nếu cứ bày đặt ra, nhà trên dùng được máy điều hòa nhiệt độ thì nhà dưới cũng dùng được, rồi thi nhau bóc ngắn cắn dài, chết cả”…

Mộ của ông hiện đặt trong nghĩa trang Mai Dịch trong hai hàng chính giữa (ở bên trái nếu đi từ cổng vào), cùng hàng với Bác Tôn, nhà thơ Tố Hữu, Tổng bí thư Lê Duẩn…Một điều đặc biệt là chưa lần nào tôi vào viếng nghĩa trang Mai Dịch mà không thấy trước mộ ông một bó hoa cúc-một tình yêu thủy chung từ lúc hoạt động cách mạng gian lao cho đến khi một người đã khuất còn một người đã bước vào tuổi 90.

Tham khảo : các bài của tác giả Lê Đức Anh; Nguyệt Tú-Nguyệt Tinh, Hoàng Cầm, Bảo tàng Quân sự Việt Nam.

40 năm ngày mất Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (6/7/1967-6/7/2007)


Tiêu đề: Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp, ông vua của giải phẫu Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:52:25 am
(http://img87.imageshack.us/img87/7086/thieutuongdoxuanhopxh3.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp (8/7/1906-17/12/1985), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Giải thưởng nhà nước về Khoa học kĩ thuật-Giải thưởng Hồ Chí Minh, nguyên Viện trưởng Viện Quân y Liên khu 10 rồi Hiệu trưởng Trường Quân y sĩ trong kháng chiến chống Pháp, nguyên Hiệu trưởng Trường sĩ quan Quân y (nay là Học viện Quân y).

Ông còn giữ các chức vụ : Chủ nhiệm bộ môn giải phẫu Trường Đại học Y Hà Nội (1954-1985), Phó Chủ tịch Tổng hội Y dược Việt Nam, chủ tịch Hội hình thái học Việt Nam (1965-1985). Ông là Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII. Phó chủ nhiệm ủy ban y tế-xã hội của Quốc hội khoá VI, uỷ viên Ban chấp hành trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá III.

Ông cũng từng là giảng viên trường Trường Y Khoa Đông Dương (1932 đến 1945).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Testut của Viện hàn lâm y học Pháp (1949).

Thiếu tướng (1985)


Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp sinh tại phố Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Ông là con thứ năm của cụ Đỗ Xuân Đạt, khi cụ Lương Văn Can cùng các sĩ phu yêu nước lập ra trường Đông Kinh nghĩa thục, cụ Đạt tuy không ra dạy nhưng vẫn ủng hộ tài chính cho trường. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Thịnh là một nữ sinh trường Đồng Khánh rồi trường Sư phạm Hà Nội, một người phụ nữ hết lòng vì sự nghiệp của chồng. Bà là một trong những người đầu tiên sáng lập Hội chữ thập đỏ Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự và bà là Phó Chủ tịch.

Ngay từ hồi nhỏ, ông đã nổi tiếng học trò giỏi nhất trường. Sau khi đậu kì thi tốt nghiệp tiểu học thì những cuốn sách được thưởng cho ông đã chất đầy một tủ. Sau này theo học trường Bưởi, ông cũng là học sinh giỏi, chăm chỉ và khiêm tốn giúp bạn học kém hơn mình. Mỗi tháng được nhận học bổng 8 đồng, ông dùng để nuôi hai em tiếp tục ăn học như mình. Sau khi tốt nghiệp trung học với bằng thành chung loại ưu tú, ông theo học trường Cao đẳng y dược Đông Dương. Ông tính toán như vậy vì chỉ sau bốn năm học thì có thể đi làm để giúp đỡ gia đình. Mùa hè năm 1929, ông tốt nghiệp ra trường và nhận bằng Y sỹ.

Năm 1930 ông kết hôn cùng bà Nguyễn Thị Thịnh rồi sau đó ông được điều lên Bắc Hà (gần Lào Cai bây giờ) làm việc. Thời kì đó, Bắc Hà là nơi mà ánh sáng văn minh chưa rọi đến. Vợ chồng ông đã làm hết sức mình để cải thiện sức khỏe cho người dân còn mê muội. Ngay từ những năm tháng này ông đã có quan niệm: cứu được bệnh nhân thoát khỏi tay tử thần là niềm vui của chính mình. Muốn làm được như vậy thì không thể không nâng cao tay nghề và trình độ hiểu biết của mình về y học.

Cuối Xuân năm 1932, ông cùng vợ theo học hàm thụ trường đại học Tổng hợp Paris. Cũng trong thời gian này, Trường Y khoa Đông Dương đang thi tuyển chọn lấy một trợ lý ngành giải phẫu cho Viện giải phẫu của trường. Thế là với quyết tâm của mình, ông quyết tâm thi. Cuối năm 1932, ông trở về Hà Nội nộp đơn thi và trúng tuyển. Nhờ vậy, ông được chuyển công tác về Hà Nội, phụ việc cho Giáo sư P. Huard - giám đốc của Viện giải phẫu học. Qua năm sau, nhờ có sự chứng nhận và giới thiệu của trường hàm thụ mà vợ chồng được thi tú tài. Cả hai kỳ thi họ đều đậu thủ khoa. Nếu Bác sĩ Hồ Đắc Di là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bác sĩ phẫu thuật tại Pháp thì ông là người đầu tiên trợ giảng và hướng dẫn cho sinh viên thực tập trong khoa phẫu thuật của trường Y khoa Đông Dương.

Thông qua những kinh nghiệm đã thu thập được sau hơn 10 năm làm công việc này, ông đã gây chấn động trong giới y học thời bấy giờ bằng bộ sách Morphologie humaine et anatomie artistique (Hình thái học và giải phẫu thẩm mỹ) in năm 1942. Với bộ sách này ông đã được Viện Hàn Lâm y học nước Pháp đã tặng giải thưởng Testut vào năm 1949. Ngoài ra ông còn công bố nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác. Từ năm 1936, ông đã nghiên cứu về bộ xương người Việt Nam hiện đại và một số sọ hoặc bộ xương người Việt Nam thời cổ. Ngoài ra ông còn nghiên cứu cả về não, mạch máu thần kinh và nội tạng v.v... Hơn mười năm làm việc chăm chỉ, vừa giúp việc cho Viện trưởng vừa tham gia chữa bệnh tại Bệnh viện Phủ Doãn, ông đã hoàn thành chương trình bác sĩ y khoa. Năm 1944, ông được công nhận là giảng viên trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Cách mạng tháng tám năm 1945, được chứng kiến giờ phút thiêng liêng tại quảng trường Ba Đình và nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, có sức hấp dẫn và cảm hóa lạ lùng đối với ông, từ đó ông xác định được con đường đi của mình. Bắt đầu từ việc mở các lớp huấn luyện hồng thập tự cho nữ sinh các trường trung học. Ông được cấp trên tín nhiệm cử làm Chủ tịch ủy ban hành chính lâm thời khu phố Chợ Hôm, Hà Nội. Đầu năm 1946, ông tình nguyện tham gia quân đội được Cục Quân y đưa lên Việt Trì xây dựng bệnh viện quân y chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến. Toàn quốc kháng chiến, ông bỏ lại sau lưng căn biệt thự số 69 phố Trần Xuân Soạn (Hà Nội), bỏ lại những tiện nghi vật chất để lên đường kháng chiến. Sự cương quyết của ông khi đi theo kháng chiến là việc không phải ai cũng làm được, vì bấy giờ ông đang giảng dạy ở Đại Học Y khoa, lại chữa bệnh ở bệnh viện Phủ Doãn và còn có cả phòng mạch tư ở phố Chợ Hôm.

Vào tháng 3/1947 ông cùng gia đình ở Việt Trì. Sau khi Pháp tấn công ông cùng gia đình chạy lên Lâu Thượng rồi nửa đêm chạy ngược sông Lô để qua Bình Sơn (Vĩnh Yên). Ở đây, Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp được giao nhiệm vụ làm giám đốc Quân y viện Liên khu 10. Vào tháng 3/1949, nhiều chiến dịch lớn đã mở để kịp thời đào tạo cán bộ quân y phục vụ chiến trường, Trường Quân y sĩ (Trường sĩ quan quân y, Đại học quân y, Học viện quân y) được thành lập ở cánh rừng Liễn Sơn, xã Hồng Hoa, huyện Tam Dương (Vĩnh Phú). Đầu năm 1950 ông được điều về làm Trưởng phòng Huấn luyện của Cục Quân y. Ông là hiệu trưởng (cho đến năm 1984) kiêm Chủ nhiệm Bộ môn giải phẫu đồng thời là giảng viên, ngoài ra, ông còn dạy ở Đại học y khoa Chiêm Hóa (Tuyên Quang) do Bác sĩ Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Tuy bận nhiều việc nhưng ông không ngừng nghiên cứu khoa học và biên soạn giáo trình giảng dạy.

Trực tiếp mổ xẻ, băng bó, chăm sóc vết thương cho thương bệnh binh từ chiến trường chuyển về, ông nhận thấy vết thương tứ chi bao giờ cũng chiếm một tỉ lệ lớn, do đó ông đã kịp thời biên soạn quyển Giải phẫu tứ chi và Thực hành y khoa. Tập sách này được xuất bản năm 1952 tại Việt Bắc - nó không chỉ là tài liệu chính giảng dạy trong nhà trường mà còn là cẩm nang quý báu cho cán bộ quân y tham khảo để phục vụ thương binh ngay tại chiến trường. Với tác phẩm này, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi và Chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Từ sự khích lệ này, trong suốt 20 năm (1952-1971) ông đã dành hết tâm lực để hoàn thành bộ sách nghiên cứu về giải phẫu học gồm nhiều tập, với 2000 trang, 900 hình vẽ minh họa có giá trị lâu bền như Giải phẫu bụng, Giải phẫu ngực... đã được Nhà xuất bản y học tái bản nhiều lần. Ngoài ra còn có thể kể đến những tác phẩm y học ông viết trong thời gian chống Pháp như Triệu chứng học, Dược học, Thực hành bệnh viện...

Kháng chiến chống Pháp kết thúc, từ năm 1954 đến năm 1984 ông tiếp tục giữ chức Hiệu trưởng Trường sĩ quan quân y sĩ sau là Trường sĩ quan quân y và nay là Học viện quân y kiêm Chủ nhiệm Bộ môn giải phẫu Đại học Y khoa Hà Nội. Hơn mười năm sau khi ông qua đời, bộ sách y học nổi tiếng của ông được Nhà nước tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về khoa học kỹ thuật đợt đầu tiên cùng với các giáo sư Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng... Ông là Phó Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam từ khi thành lập; sáng lập viên và là Chủ tịch Hội Hình thái học Việt Nam (1965-1985); sáng lập viên Hội Nhân chủng học, chuyên viên đầu ngành giải phẫu học Việt Nam.

Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp có đầy đủ những phẩm chất của một trí thức đó là tài năng, trí tuệ cũng như trách nhiệm trước nhân dân, thời cuộc và vận mệnh của tổ quốc. Người đã vì tổ quốc mà dàm từ bỏ những vinh quang và đầy đủ vật chất của bản thân để dấn thân vào cuộc trường chinh gian khổ 9 năm cùng dân tộc. Người luôn đặt lợi ích của tổ quốc của toàn dân tộc trên lợi ích của bản thân. Ông không nề hà nhận bất cứ việc gì mà kháng chiến đòi hỏi, từ cấp cứu chiến thương, điều trị thương binh, bệnh binh, phụ trách bệnh viện đến tổ chức đào tạo cán bộ y tế cho quân đội.

Trong thời thuộc Pháp, nước ta không có tên trên bản đồ thế giới, người Pháp coi người Việt Nam là “dân Anamít hèn hạ” thế mà Viện Hàn lâm y học Pháp phải thừa nhận tài năng xuất sắc của Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp. Tên tuổi của một người Việt Nam-Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp được đặt ngang tên một người Pháp-giáo sư Pierre Huard trên bìa sách được giải thưởng khoa học của nhà nước Pháp. Một trợ lý giải phẫu người Việt, khi viết chung cuốn sách ấy mới có bằng Y sĩ - Đỗ Xuân Hợp đủ tài năng hợp tác với thầy giáo người Pháp, Giám đốc Viện Giải phẫu đồng thời là Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Hà Nội-giáo sư Pierre Huard. Ông đã đem lại vinh quang và niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Tác phẩm gây tiếng vang trong giới y học Việt Nam và Pháp, sách gối đầu giường của các nhà nghiên cứu, các thầy giáo, sinh viên các trường đại học. Ở nước ta, thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp lần đầu tiên được nhận giải Tes Tut, cho đến ba mươi năm sau, năm 1980 giáo sư Tôn Thất Tùng là người thứ hai và là người thứ mười trên thế giới được nhận giải này. Nhân cách giáo sư cùng với niềm tự hào dân tộc càng được nhân lên khi giáo sư, tận tâm phục vụ kháng chiến, thiếu thốn đủ điều nhưng lại từ chối việc đến Thủ đô Paris nhận giải thưởng Tes Tut cùng với số tiền thưởng 32.000 USD. Từ một trò nghèo của đất Thăng Long, ông tự học tự nghiên cứu trở thành trợ lý giải phẫu cho giám đốc Viện Giải phẫu Hà Nội... Ông cũng đã miệt mài học tập, nghiên cứu, giảng dạy nghiêm túc trong suốt 10 năm (1932 - 1942) để đạt vinh quang trong khoa học: được nhận giải thưởng y học lớn tầm cỡ thế giới.

Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp được coi là một trong những người lập công đầu đưa tiếng mẹ đẻ vào giảng dạy ở bậc đại học. Ông đã làm một khối lượng công việc khổng lồ: dịch sang tiếng Việt hàng chục nghìn từ y học và giải phẫu học, chính xác và sáng tạo, góp phần làm giàu tiếng Việt ta, tránh dùng nhiều từ gốc Hán.

Trong bộ sách giá trị Anatomie Topographique của Henri Rouvierè - tập nghiên cứu y học về cánh tay con người có chương viết về cơ ghi rõ muscle Do Xuan Hop và chương về dây thần kinh ghi rõ nerf Do Xuan Hop. Bên cạnh đó tên tuổi và công trình nghiên cứu của ông còn được in trong bộ Encyclopédie medicale Francaise (Bách khoa toàn thư y học Pháp).

Trong suốt cuột đời mình (1906 - 1985), Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp là tác giả hoặc đồng tác giả của hơn 100 công trình nghiên cứu và gần 20 cuốn sách chuyên khảo về các lĩnh vực giải phẫu học ngoại khoa, nhân chủng học, khảo cổ học, dân tộc học, mỹ thuật học... rất có giá trị cả về lý thuyết và thực tiễn. Nhưng có lẽ bộ sách giải phẫu học gồm bốn tập (Giải phẫu đại cương và giải phẫu đầu - mặt - cổ, Giải phẫu và thực dụng ngoại khoa chi trên và chi dưới, Giải phẫu ngực, Giải phẫu bụng) vẫn là bộ sách lớn nhất của cả đời ông. Một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ khi ông hoàn thành tập cuối cùng của bộ sách ấy (1971). Ơ nước ta xuất hiện thêm nhiều bộ sách giải phẫu khác viết bằng tiếng Việt. Nhưng có lẽ chưa bộ sách nào vượt được bộ sách của ông về khối lượng, chất lượng bản thảo, cũng như về số lượng bản in.


Tham khảo : Ykhoanet, Trang web Trường Đại học Y Hà Nội.


Tiêu đề: Tướng Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Hậu cần đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:54:12 am
(http://img827.imageshack.us/img827/4285/tuongtrandangninhxd0.jpg)

Chủ nhiệm Trần Đăng Ninh (1910-6/10/1955), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), nguyên Ủy viên Tổng Quân ủy Quân đội Nhân dân Việt Nam (1950-1955).

Ông từng giữ các chức vụ Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam kiêm Phó Tổng thanh tra chính phủ (1946-1949), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Tên của ông được đặt tên cho một con đường ở Thủ đô Hà Nội. Tháng 7 năm 1956, Bưu điện Việt Nam đã phát hành một bộ tem gồm 4 mẫu hình in chân dung ông.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 6.10.2009), Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…


Chủ nhiệm Trần Đăng Ninh, tên thật là Nguyễn Tuấn Đáng mọi người thường gọi là ‘Anh đầu to’ hay ‘Anh râu xồm’, sinh ra trong một gia đình nông dân ở thôn Quảng Nguyên, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Lớn lên, ông ra Hà Nội học nghề in và vào làm thợ trong nhà in Lê Văn Tân. Sau đó, do tiếp thu ảnh hưởng của phong trào cách mạng thập niên 30 của thế kỉ 20 và được bạn bè trong giới thợ thuyền dìu dắt, ông sớm giác ngộ và tham gia cách mạng. Đầu những năm 30, ông hoạt động trong phong trào công nhân ngành in.

Năm 1936, ông được cử vào Ban chấp hành Nghiệp đoàn bí mật và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1937 đến năm 1939, ông đã tổ chức và lãnh đạo nhiều cuộc bãi công, bãi thị, mít tinh, đấu tranh chống thuế... nên được giới thiệu tham gia Thành ủy Hà Nội. Năm 1940, ông được cử vào Xứ ủy Bắc Kỳ. Khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, ông được phân công tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng, lập Ủy ban Cách mạng, tổ chức du kích, xây dựng căn cứ Ngũ Viễn - Vũ Lăng.

Ngày 11/11/1940, ông tham gia Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 7 cùng các ông Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phan Đăng Lưu…Hội nghị đã khẳng định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc của Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 6 là đúng đắn. Hội nghị chỉ rõ kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam lúc này là phát xít Nhật. Quyết định phát triển ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

Tháng 5 năm 1941, ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến tháng 7-1941, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Cuối năm đó, ông bị mật thám bắt và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Năm 1942, bị giam trong Hỏa Lò - Hà Nội, ông vẫn hoạt động chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc nên cuối năm đó bị chuyên lên nhà tù Sơn La. Tại đây, ông đã hoạt động trong tổ chức bí mật của Đảng trong nhà lao, tham gia tổ chức huấn luyện chính trị và quân sự cho anh em chính trị phạm.

Giữa năm 1943, cùng các ông Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu vượt ngục, trốn khỏi nhà tù Sơn La, trở về miền xuôi và hoạt động trong Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ. Cuối năm 1943, ông lại bị bắt lần thứ hai, bị giam trở lại ở nhà tù Hà Nội. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), ông vượt ngục Hỏa Lò trở về tiếp tục hoạt động, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Đây là một cuộc vượt ngục có quy mô lớn gồm khoảng 100 tù chính trị trong đó có ông và các ông Đỗ Mười, Trần Tử Bình.

Ông được cử vào Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ tháng 3 năm 1945 phụ trách Chiến khu Hoàng Hoa Thám, và tháng 8-1945 được cử vào Bộ Tư lệnh Việt Nam giải phóng quân, tham gia Ủy ban Tổng khởi nghĩa và Đại hội quốc dân Tân Trào. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông được phân công cùng ông Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân giải phóng, tiến đánh tỉnh lỵ Thái Nguyên và lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa ở Thái Nguyên, sau đó bảo vệ chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội.

Sau cách mạng tháng tám, ông được cử làm Đặc phái viên của Ban chấp hành Trung ương Đảng vào công tác ở Nam Bộ và Trung Bộ nhằm kiểm tra việc thực hiện chủ trương chính sách. Giữa năm 1946, ông được cử lên công tác tại Phú Thọ. Tại đây ông bị Quốc dân đảng bắt giam và định thủ tiêu nhưng ông thoát được.

Ngày 20/11/1946, quân Pháp ngang nhiên nổ súng đánh chiếm Hải Phòng. Ông cùng với ông Nguyễn Lương Bằng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ bí mật ở lại xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, lấy các huyện Đại Từ, Định Hoá, Phú Lương (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Chợ Mới, Chợ Đồn (Bắc Cạn) làm địa bàn chính…Đồng thời, bố trí địa điểm làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương, Chính phủ ở nhiều địa phương trong tỉnh Hà Tây.

Năm 1947, ông được cử giữ chức vụ Trưởng ban kiểm tra Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam kiêm Phó Tổng thanh tra chính phủ. Ông đã xây dựng nền móng tổ chức cho 2 cơ quan, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng về mặt quan điểm, tư tưởng, phương pháp kiểm tra và thanh tra cho cán bộ, trực tiếp chỉ đạo các đoàn kiểm tra, thanh tra phát hiện được những vấn đề cấp thiết, đóng góp vào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ.

Đầu năm 1950, ông đi cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc thiết đặt quan hệ ngoại giao và yêu cầu các nước bạn chi viện. Giữa năm 1950, ông được cử làm Đặc phái viên Chính phủ phụ trách sửa chữa cầu đường và huy động nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến, tiếp sau đó được cử làm Phó bí thư Tổng Quân ủy - cơ quan của Đảng trực tiếp lãnh đạo quân đội và được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (sau là Tổng cục Hậu cần), Ủy viên Tổng quân ủy (1950 - 1955), kiêm Trưởng ban Cung cấp Chiến dịch Biên giới (1950). Ông cũng là người xây dựng nền móng cơ bản cho hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

“Vẻ vang thay: Người con lỗi lạc của quê cha, kẻ sĩ kiên cường, vì nước tổ, tuổi hai chục, lên đường chiến đấu. Lội suối băng ngàn, năm ba mươi, theo Đảng xông pha: Vào sinh ra tử. Súng Bắc Sơn từng rực lửa non xanh. Cờ Tháng Tám thuở ngang trời ráng đỏ. Bền gan vững chí: Kháng chiến trường kỳ, đánh giặc nuôi quân: Chẳng nề gian khổ. Nhân dân oan ức: Trả lại công bằng. Cán bộ quan liêu: Thực thi dân chủ. Tham gia tiền tuyến: Tướng sỹ tin yêu. Phụ trách hậu cần, quân lương no đủ. Điện Biên đại thắng: Chiến tích huy hoàng. Tổ quốc khải hoàn: Công huân rạng rỡ.

Chúng tôi nay:

Nghĩa nặng quê hương, lòng thành ngưỡng mộ. Cùng nhân dân học tập người xưa, giúp con cháu noi theo gương cũ, xây nhà thờ mãi mãi khói hương, dựng bia đá đời đời tưởng nhớ.” (Giáo sư Vũ Khiêu)

Đây là những tình cảm của Giáo sư Vũ Khiêu dành cho ông, được ghi trên văn bia nhà lưu niệm ông tại quê hương. Nhà lưu niệm ông đã được nhà nước trao tặng Bằng di tích lịch sử. Hiện nay ở tỉnh Hà Tây có 2 ngôi trường mang tên ông.


Tham khảo : Báo Hà Tây, Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Vương Thừa Vũ, chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội mùa Đông 46
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:56:09 am
(http://img6.imageshack.us/img6/9328/vuongthuavu.jpg)

Trung tướng Vương Thừa Vũ (24/12/1910-1980), nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Giám đốc Học viện Quân chính. Ông là Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội mùa Đông 1946 và cũng là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam-Đại đoàn Quân tiên phong (F308). Tên ông được đặt tên cho một đường phố tại Hà Nội-Phố Vương Thừa Vũ.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng,...

Đại tá (1948), Thiếu tướng (1954), Trung tướng (1974)


Trung tướng Vương Thừa Vũ, tên thật là Nguyễn Văn Đồi, quê ở xã Vĩnh Quỳnh huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội. Năm 1937, ông học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Trung Quốc. Cuối năm 1941, ông về nước và bị thực dân Pháp bắt giam tại Bá Vân Thái Nguyên. Trong thời gian bị tù đầy, ông giác ngộ và bắt đầu những hoạt động cách mạng. Ông tham gia công tác binh vận và huấn luyện quân sự trong nhà tù thực dân.

Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 3 năm 1945, ông tham gia bạo động giành chính quyền tại Nghĩa Lộ nhưng không thành. Ông trốn thoát khỏi nhà tù Nghĩa Lộ và lạc vào một bản người dân tộc. Tưởng ông là người làm việc cho Pháp họ định đem xử bắn ông. Nhưng nhờ ông biết tiếng dân tộc giải thích cho họ hiểu. Khi họ hỏi mày họ gì ông khai là họ Vương, từ đó ông lấy tên là Vương Thừa Vũ và cái tên này gắn liền với ông suốt cuộc đời. Sau đó, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng và tham gia huấn luyện quân sự ở chiến khu 2.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông được giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy Bảo an binh Hà Nội rồi khu trưởng khu XI Hà Nội. Năm 1946n Trường võ bị Trần Quốc Tuấn mở khóa 1, ông là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn học viên tham gia giảng dạy. Toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946, ông được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội nhằm kìm chân quân Pháp tạo điều kiện cho Trung ương rút lui về an toàn khu và đồng bào đi tản cư an toàn. Chính ông là người đề xuất việc chia khu vực tác chiến đồng thời căn cứ vào địa hình, đặc điểm đường phố của Hà Nội, ông đề xuất chiến thuật ‘’độc trùng chiến’’ hay ‘’thuật cang chiến’’. Do vậy, quân và dân Hà Nội thay vì giữ được thành phố 1 tháng mà 2 tháng làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp.

Trong thời gian từ năm 1947 đến năm 1948, ông giữ chức vụ Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên. Ngày 28/8/1949, Đại đoàn Quân tiên phong-Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập tại Phố Đu, Thái Nguyên. Ông được giao nhiệm vụ tổ chức đồng thời là Đại đoàn trưởng đầu tiên rồi trong thời gian đầu tiên thành lập từ năm 1949 đến năm 1951, ông kiêm luôn vai trò Chính ủy Đại đòan.

Ông là chỉ huy các chiến dịch: Sông Lô (5.1949), Đường số 4 (10.1949). Đồng thời trên cương vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn quân tiên phong, ông chỉ huy Đại đoàn tham gia các chiến dịch: Biên giới (10.1950), Trung du (12.1950), Đông Bắc (2.1951), Hà Nam Ninh (5.1951), Hoà Bình (10.1951), Tây Bắc (10.1952). Chỉ huy tiến công Bắc Giang, Phả Lại (7.1954).

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ từ 12 tháng 3 đến 7 tháng 5 năm 1954, khi bộ đội Việt Nam chuyển từ ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’ sang ‘’đánh chắc thắng chắc’’, ông được Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp giao cho nhiệm vụ chỉ huy Đại đoàn tiến sang Lào phối hợp với Bộ đội Pa-thét Lào đánh Pháp đồng thời bít đường tháo chạy của quân Pháp sang Lào.

Sau 9 năm kháng chiến trường kì gian khổ, Đại đoàn của ông được Trung ương và Quân ủy giao cho nhiệm vụ trở về tiếp quản Thủ đô. Chính ông, ở cầu Long Biên, thay mặt Quân đội Việt Nam nhận sự bàn giao Hà Nội của quân đội Pháp. Ngày 10/10 năm 1945, ông, trên cương vị Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội chỉ huy bộ đội Việt Nam tiến vào tiếp quản Thủ đô và lễ chào cờ tại Sân vận động Cột Cờ Hà Nội cùng bác sĩ Trần Duy Hưng.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu và huấn luyện chiến đấu. Từ năm 1955 đến năm 1963, ông là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn. Từ năm 1964 đến năm 1980, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm giám đốc Học viện Quân chính phụ trách huấn luyện bộ đội.

Từ năm 1964 đến năm 1971, đây là thời kì ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông được cử vào kiêm chức Tư lệnh Quân khu 4. Đây cũng là thời kì địa bàn Quân khu 4 bị bắn phá ác liệt nhất bằng đường không và đường biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Ông được quân và dân khu 4 hết sức yêu quý và gọi trìu mến là ‘’ông Cụ’’.

Trung tướng Vương Thừa Vũ là một vị tướng võ theo đúng nghĩa của nó. Ông rất giỏi võ và đặc biệt là võ Tàu. Trong lễ thành lập Đại đoàn Quân tiên phong, ông đã làm bất ngờ những người có mặt bằng một động tác chào kiếm tuyệt vời. Ông thuộc típ người ít nói và không có năng khiếu nói-chẳng thế mà khi ông được giao nhiệm vụ đọc một bài phát biểu tại một buổi lễ tại Việt Bắc, ông đã bị Bác Hồ ‘’chỉnh’’, một người được mệnh danh là con hùm xám một người hết sức nghiêm khắc. Ông được cán bộ và chiến sĩ hết sức yêu quý nhưng không phải là không sợ.

Tướng Vương Thừa Vũ là một nhà chiến thuật và tổng kết chiến thuật xuất sắc. Chính ông là người đã sáng tạo ra cách đánh hợp lí trong mùa Đông 46 tại Hà Nội đồng thời cũng là người đã tổng kết nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Điện Biên Phủ bằng câu ‘’Vây, Lấn, Tấn, Phá, Triệt, Diệt’’. Ông còn là một người hết sức hâm mộ bóng đá. Trong thời gian ông giữ chức vụ Phó tổng tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện, ông thường xuyên xem đội Thế công đá và chỉ đạo đội. Ông có một số tổng kết chiến thuật bóng đá rất thú vị thể hiện dưới hình thức thơ và vè. Ví du :

Về chiến thuật của các cầu thủ ta khi thi đấu với các đối thủ quốc tế cao và to hơn : “Đối tượng cao, to, khoẻ. Ta lấy ngắn trị dài. Ta lấy thấp trị cao. Thấp, ngắn, nhanh, mạnh, chuẩn. Khéo luồn lách thọc sâu”

“Về mặt chiến thuật; điều quan trọng nhất. Hiểu bạn ra sao. Nắm ta thế nào? Sở trường, sở đoản”. Sau đó: “Đội hình dàn ra. Chỉ là cơ bản. Bóng lăn người chuyển. Biến hoá khôn lường. Đánh lừa đối phương. Không sao hiểu nổi”. Khi tổ chức tấn công thì: “Mở rộng hai biên. Xuyên hông luồn nách. Đưa xuống sát vạch. Gần phía khung thành. Bật lên thật nhanh… chớ chuyền loanh quanh. Thời cơ mất hết. Ý ta bạn biết. Sẽ cụm về đông. Ta phá “bê tông”. Càng thêm vất vả”. Có lúc thì: “Phải dùng nhiều người. Làm chủ giữa bãi. Bật tường thẳng lối. Trung lộ tiến quân”. Cũng có lúc: “Hoặc dùng nghi binh. Hút về một hướng. Phía kia lởn vởn. Bất ngờ lao lên. Đón bóng nhanh chân. Sút ngay giành thắng”. Về nguyên tắc chung thì: “Tất cả cách đánh. Đều phải tập trung. Trên hướng tấn công. Xác định chủ yếu”.

Tấn công phải chú ý đến phòng thủ: “Chớ mải tấn công. Mà quên chốt giữ. Phía sau sơ hở. Sẽ dễ bị thua. Chốt giữ của ta. Hình thành tam giác. Nhiều tầng nhiều lớp. Có chiều sâu. Đừng ỷ lại nhau. Chớ lùi quá bước. Có người phía trước. Cản phá kiên cường. Người lót sau lưng. Sẵn sàng hỗ trợ”. Trên sân phải đề cao kỷ luật: “Trên sân thi đấu. Phải có chỉ huy. Lên, xuống, đứng, đi. Nhịp nhàng, đúng hướng. Điều khiển binh tướng. Chặt chẽ vững vàng. Đấu pháp đã bàn. Đồng tâm thực hiện”.

Về phẩm chất, ông viết: “Cầu thủ bóng đá. Phải thật đàng hoàng. Luyện tập thường xuyên. Mới thành tài giỏi. Giữ đạo đức mới. Đẹp mắt, đẹp lòng. Khán giả ước mong. Nhân dân mong đợi”…

Trung tướng Vương Thừa Vũ có 2 người con là sĩ quan Quân đội đã hy sinh là Vương Thiết Căng là sĩ quan pháo binh hy sinh năm 1972 tại Quảng Trị và Vương Thiết Bình là sĩ quan không quân hy sinh năm 1992 khi đang làm công tác huấn luyện. Vợ của ông, bà Lê Thị Hậu ( ?), đã được Chủ tịch nước kí quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và được chính quyền Hà Nội xây tặng một căn nhà tình nghĩa.

Tham khảo : Từ điển Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Sâm, Đội trưởng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:58:18 am
(http://img526.imageshack.us/img526/8118/thieutuonghoangsamex2.jpg)

Thiếu tướng Hoàng Sâm (1915-1968), Liệt sĩ-Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Khu trưởng Khu II, nguyên Chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Tiến, nguyên Khu trưởng Liên khu III, nguyên Tư lệnh các Quân khu Ba, nguyên Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế. Ông là Đội trưởng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Tên ông được đặt tên cho một đường phố tại Hà Nội. Ngoài ra, Thiếu tướng Hoàng Sâm còn là Đại biểu Quốc hội khóa 2 và 3.

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 1999), Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…

Thiếu tướng (1948, trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội).


Thiếu tướng Hoàng Sâm, tên thật là Trần Văn Kì, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Lê Lợi, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Năm 1927, khi mới 12 tuổi, ông đã rời quê hương sang sinh sống tại Thái Lan. Năm 1928-1929, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Thầu Chín sang hoạt động cách mạng ở Thái Lan, ông được chọn làm liên lạc trong suốt thời gian này. Năm 1933, ông được kết nạp vào Đoàn thanh niên cộng sản, sau đó được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Năm 1934, ông bị mật thám Thái Lan bắt và giao cho lãnh sự Pháp ở Băng Cốc tra tấn, hỏi cung. Sau gần một năm giam giữ vì không có chứng cớ cụ thể, ông được thả và bị trục xuất ngay sau đó.

Rời Thái Lan, ông sang Quảng Tây, Trung Quốc, gặp ông Phùng Chí Kiên, tham gia “Điền kiểm quế biên khu du kích đội”- một tổ chức kháng Nhật của Đảng cộng sản Trung Quốc hoạt động ở 3 tỉnh biên giới Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu. Từ năm 1937 đến năm 1939, ông là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Cao Bằng, thường trực tỉnh ủy phụ trách cơ quan in ấn và công tác giao thông liên lạc ở biên giới Việt-Trung. Giữa năm 1940, ông học quân sự ở Trường Trương Bội Công, được gặp Thầu Chín (Nguyễn Ái Quốc) và được đặt cho bí danh là Hoàng Sâm. Sau đó ông cùng 40 cán bộ ở Cao Bằng từ bỏ Trường Trương Bội Công trở về nước hoạt động.

Cuối năm 1940, ông được dự lớp huấn luyện cán bộ về công tác tổ chức các đoàn thể quần chúng nhằm chuẩn bị thành lập mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi, lớp học này do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các ông Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Vũ Anh trực tiếp giảng dạy. Ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc về Pác Bó-Cao Bằng và triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Khuổi Nặm (5/1941). Ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ tổ chức đường dây qua Lạng Sơn để đón đại biểu về dự hội nghị quan trọng này.

Cuối năm 1941, với bí danh là Trần Sơn Hùng, ông làm đội phó đội vũ trang Cao Bằng tham gia diệt phỉ tạo điều kiện cho các hội cứu quốc quân ở vùng Lục Khu (Hà Quảng) phát triển. Tháng 7/1943, ông được giao nhiệm vụ tổ chức, bảo vệ các tổ xung phong Nam Tiến. Chỉ huy đội vũ trang “Hộ lương, diệt ác” trừng trị Việt gian phản động và các nhóm quân Pháp đang gây tội ác ở Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ rã.  Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh chọn làm Đội trưởng, trực tiếp chỉ huy các trận đánh Phai Khắt (25/12/1944), Nà Ngần (26/12/1944), Đồng Mu và Nà Ngần lần thứ hai.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp(9/3/1945), Hoàng Sâm chỉ huy giải phóng các châu Ngân Sơn, Chợ rã, phía bắc Bạch Thông, giải tán bộ máy tổng lý, cường hào. Cuối tháng 3/1945, Hoàng Sâm cùng với ông Đàm Quang Trung chỉ huy các đơn vị đánh Nhật ở Phủ Thông, thành lập chính quyền nhân dân cấp xã ở đây. Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, ông chỉ huy đánh Nhật ở Bắc Kan, Thái Nguyên bảo vệ khu giải phóng Cao, Bắc, Lạng, Thái, Hà, Tuyên. Sau trận đánh Thái Nguyên ông đưa đơn vị về Vĩnh Yên tiêu diệt lực lượng Quốc dân Đảng phản động Đỗ Đình Đạo…

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm Chỉ huy trưởng mặt trận Tây Tiến, khu trưởng chiến khu II, chiến khu III. Năm 1948, Hoàng Sâm được phong quân hàm thiếu tướng, sau là đại biểu quốc hội các khoá II và III. Năm 1951-1953, ông là phái viên của Bộ Tổng tham mưu tham gia chiến dịch với các đại đoàn 312, 304. Sau làm Đại đoàn trưởng 304, Chỉ huy trưởng mặt trận Trung-Lào. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông chỉ huy tiếp quản Sơn Tây, Hà Đông, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320 chỉ huy tiếp quản Hải Phòng. Cuối năm 1955, ông làm Tư lệnh quân khu Tả Ngạn, sau đó làm Tư lệnh quân khu Hữu Ngạn, Tư lệnh quân khu III.

Năm 1962, Thiếu tướng Hoàng Sâm làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào với bí danh Chăn Di…Về nước ông được cử làm Tư lệnh quân khu Trị Thiên Huế. Tháng 12/1968, Thiếu tướng Hoàng Sâm đã hy sinh anh dũng tại chiến trường Bình Trị Thiên. Ông ra đi ở tuổi 53, Hoàng Sâm là tướng tài bà, người học trò được chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy và quý trọng.

Thiếu tướng Hoàng Sâm là một người gan dạ, dũng cảm, tài ba, có biệt tài phí ngựa không cần yên cương, bắn súng ngắn cả hai tay. Cùng với thiếu tướng Lê Quảng Ba, ông đã làm cho các trùm phỉ khét tiếng như Voòng A Sáng, Voòng An Sính, Lý Xìu…đều phải kiêng nể. Các trùm phỉ ở đây thường gọi ông một cách kính trọng là ‘’Cán bộ Trần’’ và tướng Lê Quảng Ba là ‘’Cán bộ Lê’’. Có rất nhiều giai thoại được lưu truyền ở đây ví dụ việc ông cùng với tướng Lê Quảng Ba vào tận sào huyệt của Lý Xìu thi bắn súng, uống rượu, cưỡi ngựa, ném lừu đạn…Chính vì vậy mà uy tín của ông với đông đảo đồng bào dân tộc ở đây rất lớn, đó là một trong những lí do để sau ngày toàn quốc kháng chiến ông được cử chỉ huy bộ đội Tây Tiến lập nhiều chiến công vẫn còn in đậm trong tiềm thức của người dân Tây Bắc.

Tham khảo : Cổng Thông tin Điện tử Cao Bằng, Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng Giáp Văn Cương, từ công chức hỏa xa thành Đô đốc
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 03:59:56 am
(http://img259.imageshack.us/img259/3489/dodocgiapvancuonguj4.jpg)

Thượng tướng - Đô đốc Giáp Văn Cương (1921-1990), từng giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng Quân khu 5, Phó Tư lệnh Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, Phó Tư lệnh Quân khu 4, Phó Tư lệnh Mặt trận B5, Phó Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng (2 Nhất, 1 Nhì, 1 Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng,…

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1981). Ông được phong Đô đốc Hải quân năm 1988, và là người mang cấp bậc này duy nhất (cho đến thời điểm hiện nay) trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Đô đốc Giáp Văn Cương quê ở xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cùng quê với Trung tướng Lư Giang nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô. Trước cách mạng tháng 8, ông là công chức của ngành hỏa xa Đông Dương và làm đến chức Trưởng ga Diêu Trì, một ga lớn của miền Trung thuộc tỉnh Bình Định. Ngày Nhật đảo chính Pháp, ông được nhóm trí thức yêu nước Nguyễn Minh Vĩ giác ngộ. Ông bắt đầu cuộc đời cách mạng từ đây.

Ngày 13/8/1945, nghe tin phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh. Tại ga Diêu Trì, Ủy ban vận động Việt Minh họp và quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa gồm các ông Võ Xán, Lê Văn Nhiều, Nguyễn Chơn (sau này là Thượng tướng) và ông do ông Võ Xán làm trưởng ban. Ngày 20/8/1945, ông cùng với ông Lê Văn Nhiễu là hai thành viên của Ủy ban khởi nghĩa của Ủy ban vận động Việt Minh đi gặp ông Trần Lung là Ủy viên của Uỷ ban khởi nghĩa của Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh để bàn kế hoạch thống nhất hành động. Tuy nhiên do những nhận định và chủ trương khác nhau cho nên kế hoạch thống nhất không thành.

Sau khi cuộc thảo luận với Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh không đạt được kết quả, Ủy ban Vận động Việt Minh quyết định tổ chức cuộc mít tinh tại bến ô tô thành phố vào chiều ngày 21.8.1945, vừa để thăm dò phản ứng của quân Nhật và chính quyền tay sai địa phương, vừa để phát động, tập dượt quần chúng và rút kinh nghiệm cho cuộc khởi nghĩa sắp tới. Cuộc mít tinh đã huy động được 1.000 quần chúng tham gia. Quân Nhật và chính quyền tay sai hoàn toàn không có một phản ứng nào đối với cuộc biểu dương lực lượng này.

Tối ngày 21.8.1945, Ủy ban Khởi nghĩa khẩn trương họp tại ga Quy Nhơn. Hội nghị quyết định: Thời điểm khởi nghĩa vào ngày 23.8.1945, lực lượng khởi nghĩa là các tầng lớp nhân dân yêu nước thành phố Quy Nhơn cũng như lực lượng công nhân xưởng Delignon, ga Diêu Trì, Bình Định và nông dân các huyện. Sáng ngày 23.8.1945, hàng ngàn công nhân, nhân dân lao động thành phố giương cao cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, biểu ngữ rầm rộ tiến về sân ga Quy Nhơn. Công nhân Delignon và các ga Bình Định, Diêu Trì, Mục Thịnh (Vân Canh) cùng thanh niên học sinh, nhân dân thị trấn Bình Định và nông dân các làng xã mang theo giáo mác, gậy gộc, cờ đỏ sao vàng phấn khởi kéo về Quy Nhơn. Trước hơn 10.000 quần chúng, đại diện của Ủy ban Khởi nghĩa đứng lên hiệu triệu quần chúng vùng lên khởi nghĩa lật đổ chính quyền tay sai của Nhật tại thành phố Quy Nhơn, thiết lập chính quyền nhân dân.

Cách mạng tháng 8 thành công, với những hiểu biết của mình về cơ khí, ông được khuyên đi học ở một trường kĩ nghệ để sau này phục vụ cho ngành quân giới còn non trẻ đang có nhu cầu cao về chế tạo và cải tiến vũ khí. Là Ủy viên Quân sự tỉnh Bình Định, ông được giao phụ trách Công binh xưởng Hoàng Hoa Thám.

Năm 1946, ông Nguyễn Chánh (xem bài viết Tướng Nguyễn Chánh, hồn nghệ sĩ trong vị tướng chiến lược), khi đó là Ủy viên trưởng quân sự của Ủy ban hành chính kháng chiến Trung Bộ khi về các tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Ngãi đã phát hiện ra khả năng quân sự của ông và quyết định điều ông từ quân giới sang Vệ quốc quân. Ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19-Ba Tơ, thuộc Trung đoàn 108-Trung đoàn chủ lực của Liên khu 5. Tháng 10/1946, khi quan hệ với quân Pháp vào thay thế quân Tưởng trở lên căng thẳng, tiểu đoàn của ông đã kịp thời có mặt tại Đà Nẵng bổ sung cho Trung đoàn 96.

Sáng ngày 20/12/1946, quân Pháp nổ sung tiến công Đà Nẵng. Tiểu đoàn 19 cùng các tiểu đoàn 17 và 18 của Trung đòan 96 cùng với quân và dân Đà Nẵng chiến đấu ngoan cường, kìm chân quân Pháp không cho quân Pháp phát triển nhanh ra các vùng lân cận. Ngày 19/5/1947, nhân kỉ niệm 57 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu đoàn của ông được giao nhiệm vụ đánh địch trên đèo Hải Vân. Kết quả trận đánh, tiểu đoàn bắn cháy và phá hủy 7 xe cơ giới trở quân từ Huế vào Đà Nẵng thu nhiều vũ khí, diệt 113 lính Âu Phi trong đó có viên Đại tá Rô-gơ chỉ huy phân khu Đà Nẵng, 4 đại úy, 3 Trung úy, 5 thiếu úy. Đây là chiến thắng lớn nhất năm 1947 trên chiến trường Liên khu 5 và cũng là chiến công vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam thời kì đó. Do thành tích chỉ huy trận đánh, ông được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì.

Mấy năm sau ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 84, Trung đoàn trưởng  Trung đoàn 108, Ủy viên Ban Cán sự tỉnh Đắc Lắc, rồi tháng 11 năm 1954 là Phó tham mưu trưởng Liên khu 5 kiêm Chỉ huy trưởng Quân cảng Quy Nhơn, Bí thư Ban cán sự. Sau khi tập kết ra Bắc, tháng 10 năm 1955, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324.

Năm 1963, ông trở lại chiến trường khu 5 làm phái viên của Bộ tư lệnh Quân khu trong nhiều trận đánh. Năm 1964, Sư đoàn Sao Vàng được thành lập, ông được cử giữ chức Sư đoàn trưởng đầu tiên với cái tên mới ‘’thủ trưởng Trực’’. Từ đó cho đến năm 1967, ông còn giữ them chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2- là sư đoàn hoạt động ở Quảng Ngãi.

Từ năm 1968 đến năm 1970, sau Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Thường vụ Đặc khu ủy đã họp và đề ra nhiệm vụ sắp tới phải ra sức chỉnh đốn lại lực lượng, tăng cường chỉ đạo, tiếp tục phát động tư tưởng quần chúng, chuẩn bị tấn công những đợt tiếp theo. Ông được Khu ủy Khu 5 bổ sung và là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng mặt trận Quảng Đà. Tháng 10 năm 1970, ông được điều ra giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Phó Tư lệnh Mặt trận B5. Tháng 4 năm 1974, ông ra Bắc giữ chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 26/3/1975, Bộ Tổng Tư lệnh cử ông làm phái viên của Bộ vào để chỉ đạo công tác chuẩn bị tiến công Đà Nẵng.

Đất nước thống nhất, tháng 5 năm 1976, ông được điều vào giữ chức Tư lệnh Quân khu 4, Ủy viên thường vụ Quân khu ủy. Trong các năm 1977 đến 1980 rồi 1984 đến 1990, ông là Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Bí thư Đảng ủy Quân chủng. Là vị đô đốc duy nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam tính đến thời điểm này, đồng thời là Tư lệnh Hải quân trong thời kỳ xung đột Việt - Trung, ông được đánh giá là người có công lao lớn trong việc giữ gìn và bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.

Như vậy từ một viên chức hỏa xa trong chế độ cũ, sau hơn 30 năm tôi luyện và trưởng thành trong quân đội và chiến tranh giải phóng dân tộc, ông đã trở thành Đô đốc Hải quân-một tài năng quân sự của Quân đội Nhân dân Việt Nam mà không hề trải qua trường lớp huấn luyện nào.

Tham khảo: Báo Quân đội Nhân dân, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Bùi Cát Vũ, trùm đại bác Đông Dương
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:01:55 am
(http://img14.imageshack.us/img14/6539/tuongbuicatvu.jpg)

Thiếu tướng Bùi Cát Vũ (1924), Tiến sĩ khoa học quân sự chuyên ngành pháo binh, nguyên Chỉ huy trưởng pháo binh kiêm Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân đoàn 4, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7.

Ngoài ra ông cũng từng giữ các chức vụ Tỉnh đội phó Tỉnh đội Biên Hòa, Giám đốc Công binh xưởng Quân khu 7, Chủ nhiệm Khoa pháo binh Học viện lục quân 1.


Thiếu tướng Bùi Cát Vũ (tên thật là Bùi Văn Bê, ông còn có các biệt danh ‘’Trùm đại bác Đông Dương’’ hay ‘’Võ Tòng chiến khu Đ’’) sinh tại xã Hưng Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nông dân nghèo, đông con. Tuy vậy, Bùi Cát Vũ rất hiếu học, ông thi tiểu học đậu đầu tỉnh và được học bổng. Khi thi vào trường trung học Mỹ Tho lại được học bổng toàn phần. Nhưng do nhà quá nghèo nên ông phải bỏ lên Sài Gòn để tìm phương kế sinh nhai phụ giúp mẹ nuôi em. Ông làm nhiều nghề: phụ hồ, bán báo rồi chuyển sang làm báo. Chính trong giai đoạn tập tành viết báo dưới sự dẫn dắt của Nguyễn Văn Nguyễn, Trần Thanh Mai…

Cuối năm 1938, ở tuổi 14, ông được nhận vào giữ chân chạy việc cho báo Dân Chúng. Lúc đầu, ông vác báo từ nhà in về xếp lại, rồi mang đi giao cho các mối bán lẻ. Dần dần thấy ông chăm chỉ, nhanh lẹ, tháo vát và chữ nghĩa cũng kha khá, lãnh đạo cơ quan báo giao cho công việc “thầy cò” (sửa chính tả bản in). Cái tên “Cò Bê” có từ dạo đó. Thấy mấy chú, mấy anh làm báo cực mà vui, ông thử viết về chính cuộc sống lang thang của mình và đám bạn bè cùng cảnh ngộ trước đây. Không ngờ chính từ thiên phóng sự “Sau ánh đèn điện Sài Gòn” ấy, ông gắn cuộc đời mình vào nghiệp báo, nghiệp văn. Càng không ngờ, chính từ thiên phóng sự ấy, ông chính thức trở thành người hoạt động cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng (Dân Chúng là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng cộng sản Việt Nam).

Tháng 9-1939, Thế chiến thứ II nổ ra, thực dân Pháp đặt cộng sản và các hoạt động yêu nước ra ngoài vòng pháp luật. Tờ Dân Chúng ngưng xuất bản, rút vào hoạt động bí mật. Một số cây bút tiêu biểu của Dân Chúng bị thực dân Pháp bắt, ra tòa. ông – ở tuổi 15 – “vinh dự” trở thành “đồng phạm” của các tên tuổi lẫy lừng đương thời như các nhà cách mạng Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn An Ninh... Nhờ sự bào chữa miễn phí nhiệt thành của Luật sư Trịnh Đình Thảo, thực dân Pháp buộc phải tha bổng ông, do còn “ở tuổi vị thành niên, chưa lập thành tội phạm”.

Ra tù, trở về quê hương, ông được Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh Dương Quang Đông trực tiếp tìm đến bắt liên lạc, theo sự giới thiệu của Xứ ủy Nam kỳ. Ông hoạt động trong phong trào Thanh niên Tiền phong, tham gia giành chính quyền trong cuộc khởi nghĩa tháng 8-1945 tại Trà Vinh và trở thành cán bộ chỉ huy quân sự tại mặt trận vàm Trà Vinh trên cương vị Giám đốc Vệ binh cộng hòa (12-12-1945) khi thực dân Pháp nổ súng tái chiếm vùng đất này.

Sau đó, theo yêu cầu của Xứ ủy, ông lên đường “Xuyên Đông” lên chiến khu Đ bắt liên lạc với bộ đội Huỳnh Văn Nghệ tham gia xây dựng lực lượng vũ trang kháng Pháp, với cương vị Tỉnh đội phó Biên Hòa, rồi Giám đốc Công binh xưởng Khu 7. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ông đã sát cánh cùng với ông Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy những trận đánh nổi tiếng, khiến cho quân Pháp phải khiếp sợ ví dụ trận La Ngà lịch sử, trận Bàu Cá...

Trận La Ngà, đây là trận chiến đấu phục kích giao thông tại La Ngà, huyện Định Quán, Đồng Nai, tây nam Đà Lạt 200 km (trên đường Thành phố Hồ Chí Minh - Đà Lạt). Chi đội 10 Vệ quốc đoàn Biên Hoà và lực lượng vũ trang địa phương phục kích đoàn xe quân sự 70 chiếc chở nhiều sĩ quan cao cấp và yếu nhân chính trị Pháp, xuất phát từ Sài Gòn lên Đà Lạt, được máy bay hộ tống. Để cho đoàn xe Pháp lọt vào trận địa phục kích (dài khoảng 9 km), đúng giờ dự kiến (15 giờ ngày 1.3 là giờ bắt đầu có sương mù), bộ đội Việt Nam đã dùng lối tác chiến trì hoãn bằng các hoạt động phục kích, tập kích nhỏ, quấy rối, bắn tỉa, đánh mìn, vv. Sau gần 1 giờ chiến đấu, bộ đội Việt Nam đã diệt 59 xe, bắt sống gần 300 tên, diệt hàng trăm địch. Phía bộ đội Việt Nam, hi sinh 2, bị thương 2. Trận La Ngà đánh dấu sự trưởng thành trong tác chiến của bộ đội Nam Bộ; có ảnh hưởng chính trị và quân sự vang dội ở Đông Dương và Pháp. Chính sách nhân đạo đối với tù binh, hàng binh của bộ đội Việt Nam sau trận La Ngà đã góp phần quan trọng cảm hoá nhiều nhân vật trong chính giới Pháp và dư luận báo chí Pháp.

Năm 1947, ông gặp và kết hôn với bà Trần Thị An ngay tại Chiến khu Đ. Bà vốn là một tiểu thư học trường Pháp ở Sài Gòn khi đó, trốn gia đình lên chiến khu làm Y tá tham gia kháng chiến. Ba người con của ông đều sinh ra tại Chiến khu Đ.

Sau trận La Ngà, trên địa bàn Chiến khu Đ xuất hiện một con cọp ba móng, tinh quái và liều lĩnh. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn nó đã ăn thịt mất khoảng 106 cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong vùng khiến dư luận quân dân Chiến khu Đ khi đó rất hoang mang. Trước tình hình đó, ông được tư lệnh Trần Văn Lung giao cho trừ khử con cọp. Từ đó, ông mang biệt hiệu ‘’Võ Tòng chiến khu Đ’’. Ông còn được coi là người khai sinh ra phương pháp đánh tháp canh của đặc công Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ bằng ba yếu tố : Nghiên cứu kỹ trận địa, sự chiến đấu gan dạ, yếu tố bất ngờ đối với địch.

Năm 1950, với quyết tâm cao nhằm đánh bại chiến thuật tháp canh Đờ La-Tua, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 giao cho Tỉnh đội Biên Hòa nghiên cứu cách đánh tháp canh. Ông, khi đó là tỉnh đội trưởng, đã cũng ông Trần Công An (sau này là Đại tá Anh hùng lực lượng vũ trang đặc công) phụ trách nghiên cứu cách đánh và tuyển chọn 300 du kích huẩn luyện suốt 3 tháng tại khu vực suối Đá một cách bí mật. Đêm 21 rạng sáng 22 tháng 3 năm 1950, trên chiến trường Biên Hòa, các tổ du kích đồng loạt đánh vào 50 tháp canh dọc lộ 16, 15 và quốc lộ 1. Tường tháp canh bị thủng một lỗ với đường kính từ 0,6 mét đến 1,5 mét, song tháp canh không cái nào bị sập. Bọn lính giữ tháp ngủ trên sàn cao 7m đều bị chết; nhưng tên lính gác ở nóc tháp vẫn sống và dùng súng trường, lựu đạn đối phó với ta. Tình huống này không được dự kiến trước; các tổ du kích bất ngờ, lúng túng và kéo nhau về. Tuy chưa giành được thắng lợi nhưng trận đánh đã gây một tác động mạnh đối với địch. Tướng Pháp Săng-xông phải đến Biên Hòa trấn an tinh thần quân ngụy. Sáng ngày 22 tháng 3 năm 1950, Sở thông tin quân đội Pháp đã ra thông báo thú nhận: “ đêm 21 rạng 22 tháng 3 du kích quân khởi cuộc tiến công thình lình các tháp canh dài theo các đường lộ ở Biên Hòa. Trên 30 tháp canh đồng bộ bị tấn công và nhiều chỗ bị tấn công mãnh liệt”

Sau trận chiến trên, Tỉnh đội phó Bùi Cát Vũ kiêm Giám đốc công binh xưởng Quân khu 7 được giao nhiệm vụ cùng ông Nguyễn Sỹ Hùng nghiên cứu chế tạo loại mìn đặc chủng ‘’mìn lõm’’ mìn FT-phá tường và Pêta. Đêm 18 tháng 4 năm 1950 do tổ du kích Tân Uyên dưới sự chỉ huy của ông Trần Công An và sự chỉ đạo của ông đã đột nhập và đánh sập tường tháp canh mẹ tại cầu Bà Kiên lần thứ hai nằm trên đường 16, ta diệt 16 lính trong tháp canh và thu toàn bộ vũ khí, đạn dược. Trận diệt tháp canh cầu Bà Kiêm mở ra một phong trào diệt tháp canh khá rộng rãi. Từ Tân Uyên, phong trào lan ra Vĩnh Cửu, Long Thành, Xuân Lộc, Sông Bé và các tỉnh khác trong toàn khu.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông còn là người sáng lập và là ngòi bút chủ lực của các tờ báo Tiếng Rừng, Sứ Mệnh của Khu bộ 7. Đây là những tờ báo có mặt ngay tại chiến trường, kịp thời vận động, biểu dương quân dân, góp phần vào chiến thắng chung của “miền Đông gian lao mà anh dũng”.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, năm 1954, ông tập kết ra Bắc. Khi đi bộ đội ông mới là học sinh trường Bách Nghệ (hết cấp 2), những năm hòa bình đầu tiên trên miền Bắc ông tự học tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, học hết cấp 3, rồi Đại học Tổng hợp Tóan.

Để chuẩn bị cho sự nghiệp chống Mỹ giải phóng miền Nam, ông được cử sang Liên Xô học tập và ông đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ (bây giờ là Tiến sĩ) chuyên ngành Khoa học quân sự pháo binh. Nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu của ông đã được các tạp chí khoa học quân sự của các nước Xã hội Chủ nghĩa đăng tải và đánh giá cao.

Giữa năm 1964, chiến tranh cách mạng ở miền Nam phát triển tới đỉnh cao và giành được những thắng lợi to lớn. Ðể cứu vãn sự thất bại ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã mở rộng chiến tranh, dùng không quân và hải quân ném bom, bắn phá miền Bắc. Tháng 9/1964, ông, khi đó là Trưởng khoa pháo binh Học viện lục quân 1, cùng một số cán bộ cấp phó trưởng khoa của trường được điều động vào Nam chi viện. Một đêm cuối tháng 9/1964, con tàu "Phương Ðông 2" của Bộ Tư lệnh Hải quân rời cảng Hải Phòng đưa các đồng chí ra biển Ðông, vượt trùng dương đổ bộ lên một địa điểm thuộc tỉnh Cà Mau.

Tại Bộ Tư lệnh Quân giải phóng, ông được cử làm Tư lệnh pháo binh miền, Tham mưu phó Bộ tham mưu. Các trung đoàn pháo binh miền Đông, miền Trung Trung bộ được thành lập, góp phần xứng đáng vào các chiến thắng Khe Sanh, Đường Chín Nam Lào... Đặc biệt, chiến thắng sân bay Biên Hòa của lực lượng pháo binh quân giải phóng dưới sự chỉ huy của ông đánh vào căn cứ hậu cần không quân Mỹ mùa hè 1972 đã khiến cho giới quân sự phương Tây hết sức nể vì. Từ đó, ông còn có biệt danh khác là ‘’Trùm đại bác Đông dương’’. Khi Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) được thành lập, Bùi Cát Vũ là Phó Tư lệnh. Trên cương vị Phó Tư lệnh Quân đoàn, ông là một trong những vị chỉ huy có mặt tại Dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975.

Sau giải phóng, Bùi Cát Vũ được phong hàm Thiếu tướng, giữ nhiệm vụ Phó Tư lệnh Quân khu 7, trực tiếp phụ trách Mặt trận 479 và 779 khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Trên cương vị đó, ông là một trong những tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam có mặt tại Phnom Penh ngay ngày 7-1-1979.

Trong lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam có không ít những vị tướng đồng thời là nhà văn nhà thơ nổi tiếng. Riêng Nam Bộ, nếu như miền Đông có Huỳnh Văn Nghệ thì miền Tây lại có Bùi Cát Vũ. Cho đến bây giờ, ông là vị tướng chiến trường duy nhất của Việt Nam xin về hưu để…viết văn. Đối với ông, mỗi tác phẩm đến được với độc giả như một tấm huy chương công trạng.

Là nhà chỉ huy cao cấp trực tiếp cầm quân tại những điểm nóng nhất của chiến trường trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, lại là nhà khoa học quân sự có nhiều đóng góp vào kho tàng lý luận và thực tiễn của ngành pháo binh Việt Nam nhưng không lúc nào tướng Bùi Cát Vũ rời tay bút. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là người sáng lập và là ngòi bút chủ lực của các tờ báo Tiếng Rừng, Sứ Mệnh của Khu bộ 7. Đây là những tờ báo có mặt ngay tại chiến trường, kịp thời vận động, biểu dương quân dân, góp phần vào chiến thắng chung của “miền Đông gian lao mà anh dũng”.

Sau ngày tập kết ra Bắc, sang Liên Xô học rồi trở về miền Nam chiến đấu, Bùi Cát Vũ vẫn đều đặn gởi bài cộng tác với tạp chí Khoa Học Quân Sự, báo Quân Đội Nhân Dân, báo Quân Giải Phóng... Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết của ông đã được các tạp chí chuyên ngành khoa học quân sự các nước xã hội chủ nghĩa đăng tải và được giới nghiên cứu khoa học quân sự các nước đánh giá cao. Sau ngày giải phóng, Bùi Cát Vũ vẫn là cây bút bình luận, ký sự sắc sảo trên báo Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ... được độc giả yêu thích.

Là người lính làm báo và trưởng thành chính từ báo chí, tướng Bùi Cát Vũ có một thế mạnh ít ai sánh được là luôn có mặt tại những điểm nóng nhất của chiến trường trong suốt hơn 30 năm dài. Bước chân ông đã qua “Cửu Long dậy sóng”, “Trường Sơn vinh quang”, đến với những Khe Sanh, Đường Chín, Biên Hòa, Sài Gòn, Phnom Penh... Nguồn tư liệu ngồn ngộn ấy đã đi vào những tập ký sự dài hơi viết về người lính trước những chiến thắng quan trọng của dân tộc, của thời đại. Không những vậy, với sự uyên thâm của nhà khoa học quân sự, thông thạo nhiều ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Khmer... đã giúp Bùi Cát Vũ có được cái nhìn khách quan từ nhiều phía, nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Ký sự “Đường tới thành phố” của Bùi Cát Vũ hoàn thành năm 1975, được trao giải cao nhất của Hội Nhà văn Việt Nam năm đó, qua hơn 30 năm vẫn còn tươi nguyên giá trị dưới góc nhìn của người trong cuộc về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ký sự “Đường vào Phnom Penh”, Bùi Cát Vũ hoàn thành vào năm 1979, đã tạo sự xúc động mạnh mẽ nơi người đọc về tội ác diệt chủng của bọn Khmer đỏ và sự hồi sinh mãnh liệt của nhân dân Campuchia, dưới sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam. Năm 1988, ông hoàn thành tập ký sự “Buổi đầu chập chững”, ghi lại bức tranh toàn cảnh Chiến khu Đ những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Những ký sự ấy đã đưa tên tuổi Bùi Cát Vũ vào hàng ngũ không nhiều những nhà văn Việt Nam thành công với mảng đề tài chiến tranh cách mạng.

Từ lĩnh vực báo chí, văn học, tướng Bùi Cát Vũ bước luôn vào thế giới điện ảnh và, thật đáng nể, trên lĩnh vực này ông cũng có những thành công đáng ghi nhận. Phim tài liệu lịch sử “Thành phố không có người” (đạo diễn Huy Thành) và phim truyện “Cơn lốc đen” (đạo diễn Thùy Vân) dàn dựng từ kịch bản văn học của ông đã giành giải thưởng chính thức tại Liên hoan Phim toàn quốc 1987 diễn ra tại thành phố Huế. Nhân kỷ niệm 25 năm thành lập Sư đoàn 9 – Sư đoàn chủ lực đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam bộ, kịch bản phim tài liệu lịch sử “Sư đoàn 9 anh hùng” của ông được Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành vào tháng 8-1990. Bộ phim này được giới điện ảnh quân sự Việt Nam xem là phim tài liệu lịch sử quân sự kinh điển.

Như những người dân bình thường khác được sinh ra và lớn lên tại vùng sông nước miền Tây, Bùi Cát Vũ rất ham thích, say mê loại hình nghệ thuật ca cổ – cải lương. Tuy chỉ là “thuận tay làm chơi” – như chính cách nói của ông – nhưng một số bài ca cổ của tác giả Bùi Cát Vũ như “Bác Hồ của chúng con ơi!”, “Về lại quê hương”... cũng có sức phổ biến khá sâu rộng bởi chính chất tự sự và tình cảm chân thật mà ông gởi gắm trong đó.

Xuất thân và trưởng thành từ mặt trận báo chí của Đảng giai đoạn 1936 - 1939, Bùi Cát Vũ trở thành một nhân vật có nhiều cống hiến cho đất nước, cho dân tộc cả trên lĩnh vực chính trị – quân sự lẫn báo chí – văn học nghệ thuật.

Tham khảo : Báo Điện tử Đồng Nai, Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng).


Tiêu đề: Thượng tướng Nguyễn Minh Châu, anh cả của Lực lượng Vũ trang Khu 6
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:07:18 am
(http://img213.imageshack.us/img213/5157/thuongtuongnguyenminhch.jpg)

Thượng tướng Nguyễn Minh Châu (20/8/1921-5h 23/10/1999), nguyên Tư lệnh Quân khu 6, nguyên Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Tư lệnh Đoàn 232 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, nguyên Tư lệnh Quân khu VII, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên Trưởng đại diện Bộ quốc phòng tại phía Nam. Ông là một trong 10 Thượng tướng được đề bạt Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phong quân hàm Đại tướng.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (3 hạng Nhất, 2 hạng Ba), Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến công (3 hạng Nhất, 1 Nhì, 1 Ba), Huân chương Chiến công giải phóng (Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thượng tá (1958), Đại tá (1965), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1981), Thượng tướng (1986).


“ Đồng chí Năm Ngà, một con người cần cù và dũng cảm, xem trọng nghĩa tình, đã có nhiều kinh nghiệm về chỉ huy chiến đấu của chủ lực từ cuộc kháng chiến chống Pháp ở cực Nam Trung bộ...” (Thượng tướng Trần Văn Trà)

“Cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang Quân khu 6 trìu mến gọi Thượng tướng Nguyễn Minh Châu, vị tư lệnh yêu quí của mình là: Anh Năm Ngà! Cái tên đã gắn bó với bao nhiêu chiến công oanh liệt trên chiến trường Khu 6 đầy gian lao và anh dũng. Họ kính trọng và tôn vinh anh là người anh cả của mình bởi đức độ, tài năng và sự đóng góp to lớn của anh đối với trang sử vẻ vang của các lực lượng vũ trang Quân khu 6” (Thiếu tướng Phùng Đình Ấm)


Thượng tướng Nguyễn Minh Châu (bí danh Năm Ngà), sinh tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Tuổi thơ ông gặp rất cơ cực và khó khăn. Mới được mấy tháng tuổi thì mẹ mất; lên sáu tuổi, bắt đầu cắp sách đến trường làng, nhưng học được vài năm thì nạn đói hoành hành khắp nơi, Nguyễn Minh Châu cùng hai người anh phải nghỉ học, phụ cha làm lụng kiếm sống. Trước cảnh túng bấn, côi cút của gia đình, cha ông quyết định đi bước nữa. Người mẹ kế trông nom nhà cửa, ruộng vườn. Cha con ông đi làm xa, chạy ăn từng bữa. Nhưng cơm vẫn không đủ ăn, có lúc phải ăn củ nần cả tháng.

Năm mười sáu tuổi (1937), ông liều lĩnh trốn nhà ra đi, với hy vọng tìm một việc làm tốt hơn nghề nông, có thể thay đổi phần nào cuộc sống của mình và gia đình! Không có chỗ dựa quen biết, không tiền bạc và nhất là chưa có giấy thuế thân, Nguyễn Minh Châu chỉ quanh quẩn làm lụng ở Tây Ninh, nên nửa năm sau người nhà kiếm bắt về... Đến năm mười tám tuổi (1939), ông kiếm đủ tiền đóng lấy giấy thuế thân, lại âm thầm chuẩn bị... trốn nhà lên Sài Gòn xin vào Hãng Delagat vừa học vừa làm công thợ điện. Nhưng mới gần một năm, thấy mình chẳng học được gì, ngoài việc chỉ biết quay cho máy nổ và bị sai vặt: xúc than, gánh nước đổ lò..., Nguyễn Minh Châu bèn xin nghỉ.

Cuối năm 1940, quân phiệt Nhật ồ ạt xua quân vào nước ta, tuyên truyền đánh đổ thực dân Pháp, giành độc lập cho Việt Nam. Sau khi dựng lên Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, quân phiệt Nhật tiến hành thành lập các trường thanh niên tiền tuyến đào tạo lính đánh thuê bản xứ. Tưởng quân Nhật thực lòng giúp Việt Nam giành độc lập, ông đăng kí 3 tháng quân trường, rồi xin chuyển sang học nghề. Nhưng làm mới được một tháng, nghe ngóng tình hình, biết là quân phiệt Nhật giả dối, nên ông rủ một người bạn làm chung bỏ trốn. Được bốn ngày thì quân Nhật tình cờ bắt gặp, đưa ông cùng bạn học về xí nghiệp súng đạn ở Xóm Chiếu làm lại. Khoảng bốn tháng sau ông tìm cách trốn một lần nữa. Sau đó, ông xuống Sáu Kho ở Tân Thuận, Nhà Bè xin việc. Từ đây ông bắt đầu được giác ngộ hoạt động bí mật.

Cuối năm 1943, ông cùng một người bạn tên Đức quê ở Bình Định tham gia dán truyền đơn, khẩu hiệu cho Việt Minh. Rồi được tổ chức giao thêm nhiệm vụ quan sát kho tàng súng đạn của quân Nhật tại kho Xóm Chiều, bến tàu Lăng Cô, lấy và mang về cất giấu. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở Sài Gòn trong Tổng khởi nghĩa Cách mạng, rồi sau đó tham gia Quân đội.

Ngày 23/9/1945, quân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Ông từ trinh sát viên trở thành chỉ huy tiểu đội, trung đội đánh nhau với quân Pháp giữ cầu Thị Nghè, cầu Bông. Nhưng trước sức mạnh áp đảo của đối phương, theo lệnh của Ủy ban Kháng chiến hành chính miền Đông Nam bộ, các đơn vị bộ đội tạm thời rút lui khỏi thành phố. Chuyển quân về Xuân Lộc, rồi Phan Thiết, ông được lệnh giao bộ đội tiếp viện cho mặt trận Nha Trang tỉnh Khánh Hòa. Xong nhiệm vụ, ông từ Phan Thiết quay về Biên Hòa tập hợp những người ốm đau còn lại, tự trang bị vũ khí để chiến đấu. Đơn vị khoảng năm mươi người, bầu ông làm trung đội trưởng, hoạt động độc lập. Tình hình hết sức phức tạp. Súng đạn thiếu thốn. Không có sự chỉ đạo thống nhất. Trung đội của ông thường bị quân Bình Xuyên tước vũ khí. Cuối cùng, ông đưa đơn vị gia nhập đoàn quân Nam tiến. Ông trở thành đại đội trưởng Đại đội Hoàng Hoa Thám làm chủ vùng Hàm Thuận tỉnh Bình Thuận. Nhưng trước sự lấn chiếm của quân Pháp, tri thức quân sự còn yếu, bộ đội rơi vào tình trạng đói khát và bị bế tắc về chiến thuật. Trước tình hình đó, ông nghĩ đến cách đánh lấy đồn mà ít tiêu hao về lực lượng và vật chất kỹ thuật nhất. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, ông cho đánh đồn Phú Hài ở Lầu Ông Hoàng, Phan Thiết. Đây là trận đánh rất có ý nghĩa về mặt chiến thuật, làm thay đổi cả tình hình quân sự trong tỉnh lúc ấy. Đồn Phú Hài là đồn bị quân ta lấy đầu tiên trong chống Pháp ở Bình Thuận. Sau này các nhà nghiên cứu khoa học quân sự gọi cách đánh đó là chiến thuật kỳ tập.

Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt trưởng thành từ Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 186, Trung đoàn 82, Trung đoàn phó Trung đoàn 812 (4.1948), Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bình Thuận kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết, ông tham gia chỉ huy và chiến đấu tại chiến trường khu 6. Năm 1953, Binh đoàn 100 là lực lượng cơ động mạnh của quân đội Pháp vừa tham chiến ở Triều Tiên trong lực lượng Liên Hiệp Quốc, được tăng cường cho Đông Dương vào cuộc chiến cuối cùng của kế hoạch Navarre. Tư lệnh Binh đoàn 100 là viên Quan năm Baroux được đề bạt xét thăng quân hàm cấp tướng. Lúc ấy, quân ta tổ chức phản công liên tục trên chiến trường Tây Nguyên và Nam Trung bộ để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ. Chiến dịch Atlante bị ta bẻ gãy. Navarre lên kế hoạch rút bớt quân khỏi Tây Nguyên để chi viện cho các hướng và co cụm lực lượng hình thành các khu vực phòng ngự mạnh. Tinh thần quân Pháp suy sụp.

Đầu năm 1954, ông từ Trung đoàn 108 được điều về khôi phục củng cố lại Trung đoàn 96 trên cương vị trung đoàn trưởng, hoạt động liên tục trên Đường 19, đánh thắng nhiều trận ở Hà Tam, Măng Giang. Trung đoàn 96 được giao nhiệm vụ sẵn sàng đánh phá tiểu khu An Khê và tiêu diệt địch rút chạy trên Đường 19. Trung đoàn đã đánh nhiều trận trên đoạn Măng Giang - An Khê, nhưng đoạn suối Dăkpơ thì chưa đánh trận nào. Tuy hiểm trở, nhưng đoạn đường cầu Dăkpơ lại nằm giữa hai cứ điểm của địch. Quân Pháp luôn tăng cường trinh sát bằng không quân, biệt kích thám báo. Từ quan sát hiện trường, ông đã chọn đoạn suối Dăkpơ về phía đông để làm yếu điểm phục kích chờ địch. Đoạn này dài tám trăm mét do Tiểu đoàn 79 phụ trách. Còn đoạn phía Tây suối Dăkpơ do Tiểu đoàn 40 phụ trách. Những đơn vị khác cũng được bố trí ở những điểm có thể phát huy tối đa khả năng tác chiến.

Sáng ngày 24-6-1954, khi nghe tin đoàn xe hơn hai trăm chiếc của Binh đoàn 100 đã rời An Khê đến Kà Tung, cách Dăkpơ khoảng bảy cây số, ông liền mở cuộc họp chớp nhoáng với ban tham mưu và ra quyết định cụ thể cho từng đơn vị. Trận đánh bắt đầu vào lúc 12 giờ 30 ngày 24-6 và kết thúc vào 12 giờ trưa ngày hôm sau. Chiến sự hết sức ác liệt. Dù bị đánh bất ngờ, đội hình rối loạn, nhưng nhờ có kinh nghiệm trận mạc và hỏa lực mạnh nên địch chống trả quyết liệt, gây cho ta nhiều khó khăn, trước khi chúng hoàn toàn bất lực chấp nhận đầu hàng.

Sau khi địch buông vũ khí, ông đích thân cùng ban chỉ huy trung đoàn đi quan sát trận địa. Trên 900 quân Pháp bị tiêu diệt, gần 600 bị thương nằm rải rác. Quan năm sắp được thăng tướng Baroux và Bộ chỉ huy Binh đoàn 100 cùng 1.280 quân bị bắt sống; 375 xe các loại bị cháy, bị hư hỏng; 229 xe còn nguyên hoặc hư hỏng ít... Trung đoàn 96 tiêu diệt hoàn toàn cánh quân địch rút chạy và giải phóng tiểu khu An Khê. Trong khi đó, Binh đoàn cơ động 42 của địch do Quan năm Sockel chỉ huy từ Pleiku xuống đón Binh đoàn 100 đã bị Trung đoàn 108 của ta do Trung đoàn trưởng Đoàn Khuê (sau là Đại tướng Bộ trưởng Bộ quốc phòng) chỉ huy chặn đánh tơi bời, phải tháo chạy thoát thân.

Trận phục kích Dăkpơ gây chấn động không chỉ ở Đông Dương mà lan sang cả nước Pháp, góp phần làm suy sụp tinh thần quân đội viễn chinh. Đây là trận đánh được giới chuyên gia quân sự xem là lớn nhất, oanh liệt nhất ở Trung và Nam bộ trong kháng chiến chín năm chống Pháp. Sau khi trận đánh kết thúc, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã điện khen ngợi và Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định trao Huân chương kháng chiến hạng nhất cho Trung đoàn 96.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông chuyển quân tập kết ra Bắc, khi đó ông là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bình Thuận. Từ tháng 6 năm 1955 đến tháng 3 năm 1957, ông là Trung đoàn trưởng, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 108 rồi 96. Năm 1958, sau một thời gian ra Bắc làm sư đoàn phó Sư đoàn 305, Nguyễn Minh Châu được phong quân hàm thượng tá.

Tháng 4-1963, ông trở về Nam nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 6, là Ủy viên thường vụ Khu ủy Khu 6, và đến tháng 5-1965 được thăng quân hàm đại tá. Tháng 7 năm 1970, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu phó Bộ Chỉ huy Miền, rồi Tham mưu trưởng (9.1972).

Đầu năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam quyết định thành lập Đoàn 232 tương đương một quân đoàn, trên cơ sở Sư đoàn 5 và Sư đoàn 302 cùng các binh chủng phối thuộc, nhằm chuẩn bị lực lượng cho hướng tấn công phía Tây vào Sài Gòn khi thời cơ đến. Thượng tướng Tư lệnh Miền Trần Văn Trà giao cho ông làm tư lệnh Đoàn 232, Thiếu tướng Trần Văn Phác làm chính ủy, Thiếu tướng Nguyễn Văn Nghiêm làm phó tư lệnh. Khi tiếng súng Chiến dịch Hồ Chí Minh nổ ra, Đoàn 232 là một trong năm cánh quân từ hướng Tây tấn công vào Sài Gòn. Lực lượng Đoàn 232 lúc này còn được bổ sung thêm Sư đoàn 9 của Quân đoàn 4 cùng một số trung đoàn phối thuộc và bộ đội địa phương.

Trên đường tiến về Sài Gòn, đầu tiên Đoàn 232 đột phá tuyến phòng thủ thứ nhất từ dòng sông Vàm Cỏ Đông tới biên giới Campuchia với các tiểu khu, chi khu dày đặc như Long An, Hậu Nghĩa, Bến Lức, Đức Hòa, Thủ Thừa,... Tiếp theo là đập tan tuyến phòng thủ thứ hai của địch gồm các chiến đoàn ngụy phòng ngự hướng Tây Nam, cắt đứt Đường 4 (nay là Quốc lộ 1) giải phóng dân, hỗ trợ nhân dân nổi dậy. Cuối cùng, tiêu diệt hệ thống phòng thủ ven đô kiên cố của địch.

Cuộc chiến đấu tại vùng ven thành phố diễn ra hết sức gay go ác liệt. Địch cố chặn bước tiến của đại quân, hòng bảo vệ bằng được Sài Gòn. Nhưng đã muộn. Sư đoàn 9 làm nhiệm vụ mũi nhọn, thần tốc đánh chiếm Biệt khu Thủ đô, phối hợp với Quân đoàn 3 đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Sư đoàn thiếu của Quân khu 8 từ hướng Nam đánh lên Chợ Gạo, chiếm hai chi khu Cần Giuộc và Cần Đước, vượt cầu Nhị Thiên Đường, cầu chữ Y đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát và Tổng kho xăng dầu Nhà Bè. Sau khi đã hoàn thành các mục tiêu, Sư đoàn 302 tiếp tục truy quét tàn quân ngụy phản kích. Sư đoàn 5 thì chặn đánh địch từ Sài Gòn chạy về miền Tây và từ miền Tây kéo lên Sài Gòn. Sài Gòn hoàn toàn giải phóng. Khoảng hơn 12 giờ ngày 30-4-1975, ông có mặt ở Dinh Độc Lập. Sau đó ông nhận công tác quân quản, truy quét tàn quân địch, ổn định an ninh trật tự ở ngoại ô Sài Gòn.

Tháng 5 năm 1976, ông là Phó Tư lệnh Quân khu 7. Tháng 6-1981, sau khi hoàn thành nhiệm vụ từ chiến trường Campuchia trở về, ông được thăng Trung tướng - Tư lệnh Quân khu 7. Đến tháng 1-1986, ông được thăng Thượng tướng - Tư lệnh Quân khu 7, rồi Phó Tổng thanh tra Quân đội (1.1988). Tháng 5-1988, ông được cử làm Trưởng đại diện Bộ Quốc phòng tại phía Nam và là một trong mười Thượng tướng được đề bạt Nhà nước thăng quân hàm Đại tướng.

Thượng tướng Nguyễn Minh Châu được coi là một trong những vị tướng thuộc hàng ngũ ‘’khai quốc công thần’’. Không những với đồng cấp hoặc cấp trên, mà đối với cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, tướng Năm Ngà cũng là con người luôn “xem trọng nghĩa tình”. Từ một người lính trải qua máu lửa chiến trường trở thành một tướng lĩnh cao cấp, ông rất am hiểu tâm thế của người lính. Vị tướng này từng nói: “Không có ông tướng nào đem lại cho tôi sự khâm phục bằng hình ảnh người lính. Họ hồn nhiên, trong sáng, quả cảm, không hề biết run sợ trước cái chết. Và chính nhờ sự hy sinh to lớn của hàng vạn người lính mới sản sinh ra được những vị tướng”! Yêu thương lính, nên tướng Năm Ngà cũng được lính hết sức thương yêu kính trọng.

Tham khảo : Báo điện tử Cần Thơ, Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt Nam (Phạm Hoàng), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam



Tiêu đề: Trung tướng Phạm Kiệt, Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an vũ trang
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:09:31 am
(http://img38.imageshack.us/img38/8964/trungtuongphamkiet2.jpg)

Trung tướng Phạm Kiệt (1910-13h ngày 23/1/1975), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Lực lượng công an vũ trang, nguyên Cục phó Cục bảo vệ Tổng cục chính trị. Ông là chỉ huy đầu tiên của Đội du kích Ba Tơ. Ngoài ra ông cũng từng là Thứ trưởng Bộ công an, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa 3 và 4.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất...

Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974).


Trung tướng Phạm Kiệt tên thật là Phạm Quang Khanh sinh ra trong một gia đình lao động nghèo nhưng rất giàu nghĩa khí anh hùng cách mạng tại xã An Phú, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mẹ ông tham gia phong trào văn thân chống Pháp. Bốn anh em đều hoạt động bí mật cho Đảng, đều bị tù đầy, tra tấn dã man nhưng không ai khuất phục kẻ thù. Riêng ông, năm 15 tuổi (1925) đã tham gia các hoạt động yêu nước ở quê hương.

Năm 1929, 19 tuổi, ông vào tổ chức Việt Nam Cách mạng thanh niên (Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội). Ngày 17/1/1931, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, là Huyện ủy viên phụ trách Công hội đỏ và chỉ huy Đội xích vệ xã. Do tuyên truyền, cổ động nhân dân huyện nhà sôi nổi ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ông bị thực dân Pháp bắt giam qua các nhà lao ở Quảng Ngãi và đày đi Buôn Ma Thuột, bị án tử hình sau giảm xuống tù chung thân.

Tại nhà lao Buôn Ma Thuột, ông là người dám vung xẻng phang một đòn chí mạng vào vai tên cai ngục đang đánh đập tàn nhẫn đồng chí mình làm xâu, khiến hắn vô cùng khiếp đảm, từ đó về sau chùn tay và hễ thấy ông là vội lảng tránh đi nơi khác. Ông cũng là người đã lập kế hoạch cho các ông Nguyễn Chí Thanh và Lê Tất Đắc trốn khỏi nhà lao Buôn Ma Thuột. Về sau, khi phát hiện ông là kẻ chủ trò, địch đã tra tấn, đánh đập anh một trận thập tử nhất sinh, nhưng khi tỉnh dậy vẫn bình thản nói với đồng chí: "Thà mình chết, đừng để cho Đảng bị thiệt hại".

Năm 1943, mãn hạn tù, thực dân Pháp đưa ông về quản thúc ở căng an trí Ba Tơ, nhằm cô lập, cách ly người cộng sản với quần chúng nhân dân, giết dần giết mòn trong lao động khổ sai và bệnh tật. Ông nuôi vịt đồng để dễ bắt liên lạc với đồng chí. "Anh chăn vịt" này đã đem những điều tâm đắc học hỏi được ở các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Bùi San, Lê Chưởng, Trương Quang Lệnh, Trần Mạnh Quỳ trong nhà lao Buôn Ma Thuột, truyền đạt lại cho đồng chí mình rằng : ‘’Thời cơ lớn đã đến. Phát xít Đức, Ý, Nhật nhất định thất bại hoàn toàn. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chưa chết như địch tung tin vịt, đã trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Phải gấp rút xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, sâu rộng trong nhân dân và trong binh lính địch. Lập căn cứ địa và xây dựng lực lượng vũ trang. Khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa…’’

Cũng chính ông, ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, theo sự phân công của Tỉnh ủy Quảng Ngãi lâm thời, đã trở thành người Chỉ huy trưởng làm nên thắng lợi lịch sử của cuộc khởi nghĩa Ba Tơ nổi tiếng (những người lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ khi đó là ông, Trung tướng Nguyễn Đôn, Đại tá Nguyễn Khoách-cùng với Thiếu tướng Võ Bẩm là hai người tiên phong mở đường Trường Sơn sau này). Ðội du kích Ba Tơ và cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ. Từ sự phát triển của phong trào quần chúng cách mạng, sau khi bàn bạc, thống nhất kế hoạch đánh chiếm đồn địch, kế hoạch khởi nghĩa, ngày 11-3-1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi quyết định thành lập đội võ trang xung kích, gồm 17 người tuyển chọn từ các tù chính trị ở căng an trí Ba Tơ; đồng thời chỉ định ông làm chỉ huy trưởng, ông Nguyễn Ðôn làm chính trị viên. Vũ khí trang bị phần lớn là gươm, giáo và bảy khẩu súng.

Ngay buổi tối hôm đó, đội du kích đã đột nhập Nha Kiểm lý, nhanh chóng thu toàn bộ súng đạn, hồ sơ và bắt Bùi Danh Ngũ, Tri châu Ba Tơ và một số binh lính; rồi dùng vũ khí thu được, có sự hỗ trợ của đông đảo quần chúng, đội lập tức tiến công đồn Ba Tơ thắng lợi. Sáng 12-3-1945, trong không khí hào hứng và trang nghiêm của cuộc mít-tinh mừng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, Ðội du kích Ba Tơ chính thức ra mắt trước quần chúng nhân dân. Ðây là đội vũ trang tập trung đầu tiên của nhân dân Quảng Ngãi do Ðảng cộng sản Việt Nam trực tiếp tổ chức và lãnh đạo.

Giữa tháng 6-1945, Tỉnh ủy lâm thời quyết định thành lập Ban quân sự đồng thời là Ban chỉ huy Ðội du kích Ba Tơ. Ông Nguyễn Chánh được chỉ định làm Trưởng ban, ông và ông Nguyễn Ðôn làm Phó ban. Du kích Ba Tơ là đội vũ trang tập trung đầu tiên ở Nam Trung Bộ không chỉ kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng ở tỉnh Quảng Ngãi, mà còn có tác dụng mạnh mẽ, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy phong trào đấu tranh chống phát-xít Nhật, cứu nước của nhân dân các tỉnh Nam Trung Bộ. Đội du kích Ba Tơ, là nòng cốt cho nhân dân Quảng Ngãi vùng lên tổng khởi nghĩa vào ngày 14/8/1945 - một trong số ít địa phương cướp được chính quyền về tay nhân dân sớm nhất trong cả nước. Khi đó, ông là Ủy viên Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Quảng Ngãi.

Cuối tháng 9/1945, Xứ ủy và Uỷ ban Nhân dân Trung bộ thành lập Ủy ban Quân chính Nam Phần Trung bộ do ông, ông Nguyễn Đôn, ông Trần Quang Giao phụ trách bao gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Đắc Lắc và 4 tỉnh cực Nam Trung bộ: Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng nhằm bảo đảm hành lang và bàn đạp chuyển lực lượng Nam tiến và vũ khí của Trung ương và các tỉnh phía Bắc vào Nam bộ; đồng thời sẵn sàng đối phó với những cuộc tiến công của Pháp và chuẩn bị đưa lực lượng của mình vào tham chiến ở Nam bộ.

Năm 1946, ông là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 31 thuộc Liên khu V. Năm 1950, ông được triệu tập ra chiến khu Việt Bắc để đi nước ngoài bồi dưỡng quân sự. Ông gặp lại người bạn tù mà ông đã từng tổ chức vượt ngục cho đó là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh. Ông đề nghị anh Chủ nhiệm cho được phục vụ các chiến dịch để học hỏi thêm kinh nghiệm và sẽ đi học sau.

Từ 1952 - 1959, ông được bố trí làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục Bảo vệ, Bí thư Đảng ủy Tổng cục Chính trị. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cử đi kiểm tra công tác chuẩn bị chiến trường ở phía Đông Bắc. Ông đã đến tận trận địa pháo binh, phát hiện sự nguy hiểm khi bố trí trận địa pháo dã chiến tại một địa bàn tương đối bằng phẳng. Ông là người duy nhất lúc đó vì nghĩa lớn đã nói lên sự thật không ngần ngại, đã đề nghị Tổng tư lệnh xem xét lại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh.

Tháng 8/1960, ông được Bác Hồ và Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an. Tháng 4/1961, ông được thăng cấp Thiếu tướng và được giao làm Tư lệnh kiêm Chính ủy một tổ chức an ninh mới ra đời, còn non trẻ: Lực lượng Công an nhân dân vũ trang.

Trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an vũ trang, ông luôn khiêm tốn, chân tình đoàn kết chặt chẽ trong lãnh đạo Bộ Công an, điềm tĩnh, dân chủ, chịu khó lắng nghe ý kiến cấp dưới; tìm hiểu rất kỹ con người và sự việc; kiên trì sự thật và chân lý. Nhờ đó, ông đã góp phần cùng Công an nhân dân luôn hoàn thành xuất sắc công tác an ninh nội địa và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não và những chuyến công tác quan trọng của lãnh đạo Đảng, Chính phủ. Ông cũng đặc biệt tập trung sức xây dựng, củng cố vững mạnh hệ thống tổ chức an ninh biên giới, sông biển, hải đảo. Nhờ đó, gián điệp, thám báo, biệt kích, người nhái… do giặc Mỹ tung vào miền Bắc, hầu như bị xa lưới gần hết.

Ông còn chăm lo công tác an ninh cho miền Nam. Những năm 1963-1964, được trên chấp nhận, ông cho tuyển chọn con em miền Nam vào Công an nhân dân vũ trang, mở trường đào tạo và chi viện hàng trăm chiến sỹ an ninh cho chiến trường miền Nam. Ông hết lòng yêu thương chiến sỹ, ngày đêm lo toan cho cuộc sống của chiến sỹ. Ông luôn nhắc đồng chí Bí thư riêng cố gắng sắp xếp 1/3 thời gian trong năm để đi công tác cơ sở, đặc biệt là đi những đơn vị, những địa bàn xa xôi, gian khó nhất.

Năm 1967, bất kể đạn bom, ông đi thăm các đồn biên phòng phía Tây, thăm đội nữ pháo binh Ngư Thủy, Quảng Bình, tặng quà và động viên chiến đấu. Mùa đông năm 1968, ông đi hàng tháng liền trong tiết trời lạnh buốt; kiểm tra các đồn biên phòng suốt từ Lai Châu, Lào Cai đến Quảng Ninh. Đi đến đâu, ông cũng nhắc nhở chỉ huy đơn vị phải sắm đủ màn chống muỗi, chống sốt rét, làm nệm cỏ, tìm cách sưởi ấm, tăng gia sản xuất thêm.

Mùa hè năm 1973, dấu hiệu của căn bệnh ung thư đã rõ. Thế nhưng, ông vẫn trực tiếp tháp tùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Fidel Castro của Cuba đi thăm chiến trường Quảng Trị và đường Hồ Chí Minh. Trên đường về, Tê Đơ lại ghé thăm đơn vị nữ pháo binh Ngư Thủy, xem chị em sống ra sao, có đề đạt nguyện vọng gì...

Tháng 4/1974, ông được thăng cấp Trung tướng. Ông căn dặn các cán bộ làm công tác chế độ, chính sách nhất thiết không được mua sắm, trang bị vật dụng gì thêm cho ông, cho dù không phải là những tiện nghi sang trọng và đắt tiền.

13h ngày 23/1/1975, trái tim giàu chất sử thi anh hùng và nhân hậu của Trung tướng Phạm Kiệt ngừng đập! Trung tướng Phạm Kiệt là một người có công lớn đối với sự hình thành và phát triển của Đội du kích Ba Tơ, các nhà nghiên cứu sử học và quân sự đánh giá rất cao vai trò của ông. Ông cũng được Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đánh giá rất cao vì là người góp phần quan trọng trong việc Đại tướng ra quyết định cuối cùng là chuyển phương châm từ ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’ sang ‘’đánh chắc tiến chắc’’, một người có tư duy quân sự nhạy bén, cẩn trọng có tinh thần trách nhiệm cao, dám nói khi mà phần lớn bộ chỉ huy chiến dịch đã nhất trí kế hoạch ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’. Ông cũng là người có công lao rất lớn đối với lực lượng Công an vũ trang từ khi mới được thành lập(tiền thân của Bộ đội biên phòng). Là người lãnh đạo lâu nhất của lực lượng này, ông đã lãnh đạo một lực lượng mới ra đời hoành thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, anh ninh của miền Bắc trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại. Ông còn là một vị tướng có tấm lòng nhân ái, hết mực yêu thương và quan tâm đến cấp dưới, một tác phong lãnh đạo sâu sát gắn bó với quần chúng. Một người luôn luôn cống hiến tâm huyết và trí tuệ cho sự nghiệp chung của tổ quốc. Ông xứng đáng được xếp vào hàng ngũ ‘’công thần’’ của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hiện tại quê hương ông, có nhà tưởng niệm ông, đường phố và trường học mang tên ông.


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Thúc Mậu, vị tướng chỉ huy và tổ chức chiến thuật quân
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:12:49 am
(http://img845.imageshack.us/img845/3838/thieutuonggsnguyenthucm.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Thúc Mậu (1919-1989), từng giữ các chức vụ: Vụ trưởng Quân uy Khu 12 rồi Liên khu 1, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Quân y, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự, Phó Hiệu trưởng thứ Nhất kiêm Chủ nhiệm Khoa Tổ chức và Chỉ huy Quân y, Phó Trưởng phòng Quân y miền Nam, Giám đốc Học viện Quân y Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Trưởng phòng huấn luyện Cục quân y. Tháng 10/1960, ông được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Quân y, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự, Phó Hiệu trưởng thứ nhất Trường Đại học Quân y kiêm Chủ nhiệm Khoa Tổ chức và Chỉ huy Quân y. Từ tháng 10/1969 đến 4/1976, ông là Phó Trưởng phòng Quân y miền Nam.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất…

Thiếu tướng (1983).


Thiếu tướng Nguyễn Thúc Mậu sinh ngày 12 tháng 11 năm 1919 tại thôn Cao Bộ, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (sau này xã Thành Cao, thôn Cao Bộ và thôn Thanh Thần từ năm 1966 đến năm 1969 là nơi sơ tán của Viện quân Y 103). Năm 1939, ông đỗ tú tài và thi vào Trường Y Đông dương. Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi đó đang là sinh viên năm cuối trường Y, ông hăng hái tham gia các phong trào đoàn thể cũng như phong trào tình nguyện ‘’Diệt giặc đói, truyền bá quốc ngữ, diệt giặc dốt’’, vừa tích cực học tập hoàn thành khóa học.

Sau khi gia nhập vệ quốc đoàn, ngày 27/5/1946 ông được Giám đốc Ban y khoa đại học Giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di trực tiếp trao bằng bác sĩ. Từ đây, ông bắt đầu phục vụ cho sự nghiệp Quân y chiến trường trong kháng chiến chống Pháp rồi cho đến kháng chiến chống Mỹ và hai cuộc chiến tranh biên giới.

Tháng 6 năm 1946, ông được cử làm Trưởng ban Quân y Trung đoàn 28 Lạng Sơn, hành trang của ông trên chuyến tàu Hà Nội-Lạng Sơn đầu tháng 6/1946 không phải là quần áo, tư trang và các tiện nghi sinh hoạt, mà là bên túi sách nội khoa, ngoại khoa; bên túi trang bị y tế, thuốc men cần thiết do ông tìm mua, hoặc do bạn bè mua giúp trước lúc lên đường. Tháng 11/1946 ông là chỉ huy Quân y của Trung đoàn phục vụ trận chiến đấu đầu tiên, khi quân Pháp nổ súng chiếm Lạng Sơn. Ông là người chỉ huy quân y chiến trường đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ban Quân y trung đoàn lúc ấy chỉ có hơn chục người gồm 1 bác sĩ, 2 quân y sĩ và 12 y tá, hộ lý, đóng quân ở trong thành Lạng Sơn. Khó khăn buổi ban đầu nhiều, mà thời gian thì khẩn trương, phải chuẩn bị mọi mặt phục vụ chiến đấu. Ông đã đề xuất một kế hoạch trước mắt và được Ban chỉ huy trung đoàn đồng ý đó là phải bồi dưỡng những vấn đề chuyên môn cơ bản nhất cho từng cán bộ nhân viên. Ông trực tiếp hướng dẫn các thao tác sơ cứu, cấp cứu và xử trí các chấn thương cho các quân y sĩ và y tá; đồng thời giao cho 2 quân y sĩ là Nguyễn Sĩ Quốc và Đặng Văn Việt hướng dẫn cụ thể việc thực hiện băng bó từng loại vết thương, cách vận chuyển thương binh cũng như chăm sóc thương binh nặng, các vết thương phải cố định cho y tá và hộ lý. Ông còn tranh thủ tình hình còn ổn định, phân công một số cán bộ về Cục Quân y xin bổ sung trang bị, thuốc men, bàn phối hợp chặt chẽ với y tế địa phương để tăng cường nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ chiến đấu.

Từ cuối tháng 10, đầu tháng 11/1946, quân Pháp ngày càng có những hoạt động khiêu khích, lộ rõ ý đồ muốn đánh chiếm thị xã. Trung đoàn 28 trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao. Đêm 24 rạng ngày 25/11/1946, quân Pháp bất ngờ từ các điểm cao phía Tây Nam bắn pháo vào thị xã, đồng thời cho quân tiến dọc theo Quốc lộ 1A vào chiếm các vị trí vòng ngoài. Trung đoàn 28 đã chiến đấu kiên cường, đánh bật các mũi tiến công của quân Pháp. Ông lệnh cho quân y bám sát các mũi, đôn đốc các đội tải thương đưa hết thương binh và tử sĩ ra khỏi trận địa, đồng thời tổ chức sơ cứu kịp thời và đưa thương binh về bệnh xá trung đoàn nhanh nhất để xử lý các vết thương.

Quân Pháp quyết tâm chiếm thị xã Lạng Sơn nên tăng thêm viện binh, bắn cấp tập phi pháo vào thị xã và một số vị trí của bộ đội. Lệnh của Khu bộ chỉ để một số lực lượng chốt chặn không cho quân Pháp tự do tiến vào thị xã, còn đại bộ phận trung đoàn rút về hậu cứ bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài. Ban Quân y cũng được lệnh rút toàn bộ về Ba Xã, huyện Điềm He. Do số thương binh nhiều, nên bệnh xá không di chuyển được một số trang thiết bị y tế và thuốc men. Chiều tối 25/11, ông cho hội ý toàn Ban lấy tinh thần xung phong trở lại thành Lạng Sơn mang hết trang thiết bị y tế và thuốc men ra địa điểm sơ tán. Ông cùng 6 y tá nam khỏe mạnh vượt vòng vây vào thành di chuyển bằng hết trang bị y tế, bông băng, thuốc men qua tường thành; số y tá, hộ lý và thanh niên tình nguyện dùng quang gánh đón ở ngoài tường thành tiếp nhận chuyển đi.

Tháng 5/1947, ông được bổ nhiệm làm Quân y vụ trưởng Khu 12 rồi đến tháng 3/1949 ông là Quân y vụ trưởng Liên khu 1. Ngày 16/7/1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 12/1949, ông được bổ nhiệm làm Trưởng phòng lưu động Cục Quân y. Trên cương vị công tác, ông đã được giao làm Phó trưởng ban Quân y các chiến dịch Biên Giới (1950). Trưởng ban Quân y chiến dịch Hoàng Hoa Thám (1950), chiến dịch Hà Nam Ninh (5/1951), chiến dịch Hòa Bình và Trung du Bắc Bộ (11/1951), chiến dịch Tây Bắc (10/1952). Ông cũng là thành viên trong Ban Quân y trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Hòa bình lập lại trên miền Bắc, từ năm 1955 đến năm 1958, ông được Quân đội cử đi học ngành Tổ chức chuyên ngành Tổ chức chỉ huy Quân y ở Liên Xô. Tháng 8 năm 1958, ông về nước và được cử giữ chức vụ Trưởng phòng huấn luyện Cục quân y. Tháng 10/1960, ông được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Quân y, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự, Phó Hiệu trưởng thứ nhất Trường Đại học Quân y kiêm Chủ nhiệm Khoa Tổ chức và Chỉ huy Quân y. Từ tháng 10/1969 đến 4/1976, ông là Phó Trưởng phòng Quân y miền Nam.

Từ 5/1976 đến 2/1979, ông là Phó Hiệu trưởng thứ nhất rồi tháng 3/1979 ông là Hiệu trưởng và Giám đốc Học viện Quân y (11/1981). Cũng trong năm 1981, ông được nhà nước phong hàm Giáo sư ngay trong đợt phong hàm đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Thiếu tướng Nguyễn Thúc Mậu là một cán bộ Quân y lão thành của ngành Quân y Việt Nam.Trong sự nghiệp xây dựng ngành Quân y Việt Nam, ông đã gắn bó chặt chẽ sự nghiệp xây dựng môn học tổ chức chiến thuật quân y do ông là người khởi đầu và là người chỉ đạo. Với sự nghiệp huấn luyện đào tạo đội ngũ cán bộ quân y tại chiến trường cũng như tại nhà trường (Trường sĩ quan quân y-Đại học quân y-Học viện quân y). Trong đời sống sinh hoạt giản dị gương mẫu, điềm đạm, luân quan tâm đến đồng đội, đồng chí, thân mật cởi mở của Thiếu tướng Nguyễn Thúc Mậu là tấm gương sáng cho cán bộ chiến sĩ ngành Quân y noi theo.

Là người tham giả đảm bảo quân y hầu hết các chiến dịch trong 2 cuộc kháng chiến, tuy sức khỏe của ông có hạn, nhưng ông vẫn giành nhiều công sức vào hoàn chỉnh các công trình nghiên cứu tổng kết quân y, trong đó có công trình trọng điểm của Bộ Quốc phòng như : Tổng kết công tác bảo đảm quân y ở chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ 1954-1975. Qua các công tác nghiên cứu tổng kết, ông cùng cộng sự đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý, nâng lên thành các phương châm, nguyên tắc chỉ đạo của Ngành, góp phần vào việc hình thành nghệ thuật chỉ huy quân y nói riêng và nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung. Tất cả những nội dung quan trọng này đã được biên soạn thành sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy và tập huân cho cán bộ chi huy quân y các cấp. Vì vậy những đóng góp của ông về xây dựng chuyên ngành Tổ chức chỉ huy Quân y là to lớn và có giá trị.

Tham khảo : Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Thúc Mậu (Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Lê Thế Trung, Hoàng Ngọc Vân), Viện bỏng Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.



Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, ông Bụt làm súng
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:15:48 am
(http://img208.imageshack.us/img208/3985/thieutuongtrandainghiaqz7.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa (13/9/1913-16h20’ngày 9/8/1997), Anh hùng lao động (1/5/1952-Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua đầu tiên), Giải thưởng Hồ Chí Minh, nguyên Cục trưởng Cục quân giới (đầu tiên) (12/1946-5/1954), nguyên Cục trưởng Cục pháo binh (8/1949-11/1951), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (8/1966-1/1977) Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng ngay trong đợt phong quân hàm tướng đầu tiên (năm 1948).

Ông còn giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ công nghiệp (9/1950-9/1960), Thứ trưởng Bộ công nghiệp nặng (9/1960-2/1963), Phó Chủ tịch ủy ban kiến thiết nhà nước (2/1963-3/1972), Chủ nhiệm Ủy ban khoa học nhà nước (10/1965-8/1966), Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam (nay là Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia (1/1977-1/1983), Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các hội khoa học kĩ thuật Việt Nam (1983-1988). Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 2 và 3.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng ba và Huân chương Chiến công hạng nhất…

Thiếu tướng (1948 trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên)


‘"Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa là một đại trí thức, mang một lòng nhiệt thành về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến’’ (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

‘’Ông Phật làm súng’’ (Đại tướng Tổng Tư lệnh, Võ Nguyên Giáp)


Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (tên thật là Phạm Quang Lễ), quê tại xã Chấn Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nhưng sinh ra tại quê mẹ ấp 6, xã Xuân Hiệp, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Cha ông là thầy giáo nghèo yêu nước Phạm Quang Mùi (1882-1920), một người am hiểu Nho giáo, khi chuyển sang học tiếng Pháp đỗ Thành chung rồi về Vĩnh Long dạy học. Ở Vĩnh Long lúc bấy giờ ông được coi là người uyên thâm nho nhã, am hiểu thế sự, nhân uyên cuộc đời: “trên hiểu thiên văn,dưới tường địa lý, giữa biết lòng người”. Mẹ ông là cụ Lý Thị Diệu (1881-1941), một người phụ nữ tần tảo mộ đạo Phật. Ông có một chị gái là bà Phạm Thị Nhẫn.

Năm 1920, cha ông mất khi ông mới 7 tuổi. Chị gái ông phải xin nghỉ học ở nhà cùng với mẹ tần tảo tạo điều kiện cho ông học hành đến nơi đến chốn. Hè năm 1926, ông tốt nghiệp bậc tiểu học hạng ưu, rồi thi đỗ hạng ưu vào trường Trung học đệ nhất cấp Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Ông được nhận học bổng trong 4 năm học tại đây, từ năm 1926 – 1930. Năm 1930, thi đỗ vào trường Trung học đệ nhị cấp, ông lên trường Petus Ký (nay là trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong –TP. HCM) và vẫn là học trò tuy nghèo nhưng học giỏi nhất lớp, đậu học bổng liên tục 3 năm liền. Đến 1933, ông đỗ đầu kì thi tú tài bản xứ, sau đó thi tú tài Pháp ban toán cũng đỗ đầu rồi tú tài Pháp ban triết đỗ hạng ưu. Tiếng học trò Lễ từ Vĩnh Long lên Sài Gòn học giỏi ai cũng biết.

Cũng trong thời kỳ ông học Trung học đệ nhị cấp Pê-trus Ký, có nhiều hoạt động chống thực dân Pháp nổ ra như hoạt động của nhà yêu nước Phan Bội Châu, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), các cuộc bãi công, bãi thị do Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức, khởi nghĩa Yên Bái… Các sự kiện đó khơi sâu lòng yêu nước trong giới học sinh. Tuy nhiên, hầu hết đều bị thực dân Pháp đàn áp dã man và bị thất bại. Một trong những nguyên nhân thất bại là vấn đề vũ khí: lực lượng cách mạng không có vũ khí trong khi quân đội thuộc địa được “trang bị đến tận răng”. Muốn thắng thực dân đế quốc, ngoài những người lo về chính trị, phải có người lo về quân sự, về khoa học, về vũ khí. Cho nên, ông đã sớm xác định hướng đi cho mình là học giỏi, nhất là các môn khoa học tự nhiên để sau này nghiên cứu về vũ khí giúp cho công cuộc giải phóng dân tộc.

Cùng học với ông tại trường nổi tiếng Petrus Ký còn có các học sinh Phạm Văn Thiện (tức ông Phạm Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), ông Huỳnh Tấn Phát, ông Nguyễn Tấn Ghi Trọng, ông Đặng Văn Chung…là những học trò xuất sắc của khoá học. Do nhà nghèo, không đủ tiền đi Hà Nội học tiếp, từ năm 1933 đến năm 1935, ông quyết định đi làm giúp mẹ giúp chị nuôi chí vươn lên, chờ thời cơ. Thời gian này, ông làm cho tòa sứ Mỹ Tho.

Năm 1935, ông gặp nhà báo Dương Quang Ngưu (1897-1938) một Việt kiều từ Pháp về vào làm việc ở tòa bố Mỹ Tho. Nhận thấy những tư chất thông minh hiếm có cùng quyết tâm đi xa hơn học hành để giúp đất nước của ông lại được biết ông là con của thầy giáo Mùi, nhà báo Dương Quang Ngưu đã vận động Hội ái hữu trường Chasseloup Laubat cấp cho ông một năm học bổng học tại Paris. Ngày 5/9/1935, ông xuống tàu tại Bến cảng Nhà Rồng để sang Pháp du học. Từ Sài Gòn sang cảng Marseille (Pháp) con tàu phải đi vòng qua nhiều nơi, mất hết 21 ngày, sau khi ghé nhiều nước châu Á, Phi, qua kênh đào Hồng Hải, kênh Suez, rồi vào Địa Trung Hải. Qua những nơi đó, ông thấy rõ hơn những bất công, sự tàn bạo của thực dân đế quốc, chủ nô, chúa đất và sự cùng khổ của người dân các nước ấy đều giống như ở Việt Nam.

Từ Marseille, ông lên Paris trên một chiếc tàu hoả tốc hành. Để có đủ tiền cho 2 năm học tại Paris, trong khi học bổng của Chasseloup Laubat chỉ cấp cho 1 năm, ông phải dồn sức làm 16 tiếng/ngày cho đủ tiền trang trải mọi thứ cuộc sống. Và thế là ông quyết chí học rút ngắn thời gian 2 năm học làm một, để chỉ 1 năm thôi là đủ điều kiện vào trường Đại học tại Paris. Suốt 11 năm ở Pháp (1935-1946) ông chỉ theo đuổi một mục tiêu duy nhất là học cho kỳ được cách chế tạo vũ khí của phương Tây. Nhưng thực dân Pháp đâu phải điên đến mức để cho người Việt Nam ta – kể cả những người đã mang quốc tịch Pháp – được vào học ở các trường dạy nghề về vũ khí hay vào làm việc ở các viện nghiên cứu, các nhà máy sản xuất vũ khí. Vì thế, trong suốt 11 năm, ông chỉ có thể mò mẫm tự học một cách âm thầm, đơn độc và bí mật hoàn toàn.

Từ năm 1936, ông đã được nghe biết đến tên tuổi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ thời điểm này, tư tưởng yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đã định hướng về mặt chính trị cho người thanh niên ông. Muốn nắm vững kỹ thuật quân sự, trước hết, phải tinh thông kỹ thuật dân dụng, ông thi đỗ vào Trường đại học quốc gia Cầu – Đường, một “trường lớn” của nước Pháp. Vì thế, bộ thuộc địa phải cấp học bổng cho ông. Sau đó, ông còn theo học các trường Điện, Mỏ, Bách khoa, Học viện Kỹ thuật hàng không, Học viện Thống kê, Viện khí động học... Ông đỗ nhiều bằng kỹ sư, đồng thời, thi lấy nhiều chứng chỉ về khoa học cơ bản ở Trường đại học Tổng hợp Xoóc-bon. Sau giờ học, ông thường đến các thư viện để tra cứu sách liên quan đến chế tạo vũ khí. Ông cũng tìm đến những hiệu sách cũ để tìm những quyển sách về đề tài này. Ngoài ra, ông còn tham dự các buổi thực nghiệm, đi tham quan các nhà máy, các viện nghiên cứu... nhất là các viện bảo tàng vũ khí.

Trong lĩnh vực vũ khí quân sự, Đức là nước đạt nhiều thành tựu. Để đọc thẳng sách về vũ khí bằng tiếng Đức, ông đã tự học thứ tiếng này. Trong ba ngày, ông học hết những nguyên tắc cơ bản của văn phạm và bắt đầu đọc sách. Sau một tháng, ông học và nhớ được khoảng 4000 từ. Ngoài nghiên cứu về sản xuất vũ khí, ông còn tìm hiểu thêm môn khoa học quản lý. Ông cũng nhận thấy phải giữ bí mật cho những công việc của anh. Vì thế, ông đã tìm đọc những sách nói về công tác phản gián. Ông cần biết các điệp viên thường làm những gì khi điều tra đối tượng của họ, để ông giữ mình... Ông làm việc kín đáo đến mức: công việc ông làm trong mười một năm vẫn không ai hay, trừ một vài người bạn.

Sau khi tốt nghiệp các trường đại học, ông đã lần lượt làm việc tại ba công ty chế tạo máy bay của Pháp. Trong thời gian này, ông đã thu thập thêm kiến thức về pháo, súng máy và bom mìn đồng thời quan sát các ụ súng của quân đội Pháp chuẩn bị để ứng chiến với phát xít Đức. Qua mối quan hệ rộng rãi, ông lặng lẽ tìm kiếm các bí mật quân sự, các bản thiết kế vũ khí. Dần dà ông thu thập được hơn 30 nghìn trang tài liệu về vũ khí, hầu hết là tài liệu mật.

Năm 1946, ông có mặt trong đoàn đại biểu Việt kiều đến thăm chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp. Khi chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi ông ‘’Nguyện vọng của chú lúc này là gì ?’’. Cảm động trước sự quan tâm của chủ tịch đối với mọi người và bản thân ông, ông trả lời điều mà ông ôm ấp từ khi dời bến cảng Nhà Rồng sang Pháp "Kính thưa Cụ. Nguyện vọng cao nhất của cháu là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần". Sau đó, chủ tịch Hồ Chí Minh lại hỏi tiếp ông.

Câu thứ nhất: "ở nhà cực khổ lắm, chú về có chịu được không?" – Ông thưa: "Chịu nổi".
Câu thứ hai: "Bây giờ ở nhà kỹ sư, công nhân về vũ khí không có, máy móc thiếu, liệu chú có làm được việc không?" - Ông nói: "Thưa cụ, tôi đã chuẩn bị mười một năm rồi và tôi tin là làm được."

Và từ đó, từ bỏ chức vụ kỹ sư trưởng ở một hãng nghiên cứu - chế tạo máy bay với đồng lương tương đương 22 lạng vàng một tháng, ông quyết định theo chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số trí thức khác về nước (9/1946), chỉ mang theo duy nhất những tài liệu mà ông thu nhặt được trong suốt 11 năm (gần 1 tấn tài liệu).


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, ông Bụt làm súng
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:16:37 am
Bẩy ngày sau khi về nước (27/10/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông lên Thái Nguyên cùng cán bộ công nhân xưởng Giang Tiên tiến hành nghiên cứu chế tạo đạn badôca, một loại vũ khí mới chủ yếu đánh xe tăng thời đó. Tháng 11 năm 1946, ông đã chỉ đạo xưởng Giang Tiên sản xuất thành công một khẩu súng badoca 60 mm và 50 quả đạn. Khi bắn thử đạn nổ nhưng chưa xuyên.
Ngày 5/12/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh gặp trực tiếp giao trọng trách cho ông làm Cục trưởng Cục quân giới, đồng thời đặt tên cho ông là Trần Đại Nghĩa để nhắc nhở ông trách nhiệm vô cùng quan trọng của mình đồng thời cũng là bảo vệ gia đình ông ở miền Nam.

Cuối tháng 2 năm 1947, công binh xưởng dưới sự chỉ đạo của ông đã sản xuất thành công súng badôca với độ xuyên sâu 75cm trên tường thành gạch xây tương đương với sức nổ xuyên của đạn badôca do Mỹ chế tạo. Ngày 5 tháng 3 năm 1947, đạn badôca vừa xuất xưởng đã được sử dụng bắn cháy 2 xe tăng của quân Pháp tại vùng chùa Trầm (Hà Đông). Chiến công này góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công của quân Pháp ra vùng Chương Mỹ, Quốc Oai (trích lịch sử ngành kĩ thuật QĐNDVN-tập1,NXB QĐND 1996, trang 60). Trong chiến dịch Thu Đông (1947), súng badôca còn bắn thủng cả tàu chiến Pháp ngược dòng sông Lô lên Việt Bắc. Vũ khí của Việt Nam lúc này rất hiếm, riêng badôca là loại vũ khí quí. Trong lịch sử chiến tranh badôca xuất hiện lần đầu tiên trên thể giới vào năm 1943, đối với một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa và nửa phong kiến đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, quả là một huyền thoại (badôca cũng là một loại tên lửa, sau khi đạn bay ra khỏi nòng động cơ của quả đạn vãn tiếp tục hoạt động).

Đánh địch cố thủ trong lô-cốt bê-tông cốt thép, bộ đội Việt Nam cho nổ bộc lôi cỡ lớn hoặc mìn lõm cỡ lớn. Cách đánh đó nguy hiểm cho xung kích, bộ đội phải ém sát đối phương. Các nước, người ta dùng đại bác hạng trung và hạng nặng hoặc đạn bay. Lúc bấy giờ, bộ đội Việt Nam chưa có đạn bay. Còn đại bác, thì chỉ trong những chiến dịch lớn, mới lôi ra dùng, vì nó nặng quá. Ông nghĩ đến việc chế tạo một loại súng nhẹ, có thể vận chuyển dễ dàng trên đôi vai bộ đội, nhưng lại có sức công phá ngang một cỗ đại bác sáu tấn thép. Ông nghĩ tới súng không giật (SKZ). Đây là loại vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Ô-ki-na-oa (Nhật Bản) cuối chiến tranh thế giới thứ hai. Tất nhiên, mọi kết quả tìm tòi, nghiên cứu, thiết kế về thứ súng ấy đều được giữ bí mật hoàn toàn. Ông cùng các cộng sự gần gũi như Nguyễn Trinh Tiếp phải lặp lại các công việc của nhà sáng chế – phát minh, độc lập với người Mỹ. Cuối cùng, ông đã thành công. Chỉ sau SKZ của Mỹ mấy năm, SKZ Việt Nam xuất hiện lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá tan tành các lô-cốt của Pháp có tường bê-tông dày hơn một mét. Sau SKZ, ông tiếp tục nghiên cứu và chế tạo đạn bay. Và ông cũng đã thành công loại tên lửa nặng 30 ki-lô-gam có thể đánh phá các mục tiêu cách xa bốn ki-lô-mét.

Năm 35 tuổi, ông được phong quân hàm Thiếu tướng (một trong 10 vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được phong năm 1948). Năm 36 tuổi ông là Cục trưởng Cục quân giới kiêm chức vụ Cục trưởng Pháo binh (8/1949-11/1951). Ông đã góp phần quan trọng xây dựng lực lượng pháo binh để tham gia chiến dịch Biên giới năm 1950, và sau này là chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Tháng 9 năm 1950, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ công thương. (Ông giữ chức vụ này cho đến tháng 9 năm 1960). Ngày Quốc tế lao động năm 1952, ông được tuyên dương Anh hùng lao động trong số bảy Anh hùng của Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc được tổ chức tại Việt Bắc.

Hòa bình lập lại, ông được điều ra khỏi quân đội phụ trách công nghiệp và xây dựng. 15/10/1956, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được thành lập, ông được cử giữ chức vụ hiệu trưởng đầu tiên của trường. Miền Bắc bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng miền Nam, ông được cử giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng (9/1960-2/1963).

Từ tháng 2 năm 1963 đến tháng 3 năm 1972, ông là Phó Chủ nhiệm ủy ban kiến thiết nhà nước kiêm Phó Trưởng ban cơ khí Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ 10/1965 đến 8/1966, ông là Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước. Năm 1966, ông được bầu làm Viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm khoa học Liên xô, danh vị cao nhất của những người làm công tác khoa học thời kì đó.

Đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, ông được điều trở lại quân đội giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần phụ trách kĩ thuật rồi sau đó kiêm chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục kĩ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam từ năm1972 đến năm 1977. Trong thời kì này, ông có những đóng góp không nhỏ trong việc cải tiến vũ khí, kĩ thuật nhằm chống lại chiến tranh phá hoại do Mỹ gây ra.

Đất nước thống nhất, tháng 3 năm 1977 ông chuyển ngành và được cử giữ chức Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam cho đến tháng 1 năm 1983. Đây chính là tiền thân của Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ quốc gia ngày nay. Năm 1983, ông nhận nhiệm vụ vận động đội ngũ trí thức trong tất cả các ngành khoa học và công nghệ thành lập Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp hội). Giáo sư Trần Đại Nghĩa trở thành Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp hội, nhiệm kỳ 1983-1988. Đồng thời, ông còn là Chủ tịch Ủy ban nghiên cứu vũ trụ Việt Nam.

Là một trí thức đi học ở Châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự tổ quốc, phục vụ kháng chiến, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đã có công to trong việc xây dựng quân giới, luôn luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi những người công nhân, đã thắt chặt lý luận với thực hành. Ông là một người sống rất giản dị, mẫu mực, hiền lành bao dung với mọi người được nhân dân cả nước và đồng nghiệp yêu quý, mến phục. Ông còn là người đại diện xuất sắc cho đội ngũ khoa học Việt Nam. Dù ở cương vị nào ông cũng qui tụ được đội ngũ trí thức, đoàn kết họ, hướng họ vào mục tiêu xây dựng một nền khoa học Việt nam hiện đại, đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Ông đã thu phục được nhiều người nhờ đức đọ, trí tuệ của mình. Các công trình nghiên cứu của ông còn được quốc tế đánh giá cao.

Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa là một nhà khoa học lớn rất yêu nước, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết và thiết tha với sự nghiệp khoa học. Cả cuộc đời, ông đã luôn chăm lo, bồi dưỡng và đặt nhiều kỳ vọng vào lớp trí thức trẻ góp sức làm vinh quang cho Tổ quốc.’’ Nhiệm vụ của Bác giao cho tôi và tập thể các nhà khoa học Việt nam là tham gia về mặt vũ khí và khoa học quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã được hoàn thành. Từ nay đến hàng nghìn năm sau chúng tôi xin bàn giao lại nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc cho thế hệ ngày nay và thế hệ mai sau.’’ (Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đã ghi những dòng này vào sổ tay ngày 30/4/1975).


Tiêu đề: Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:19:39 am
(http://img412.imageshack.us/img412/9913/lengochien.jpg)

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (1928-18/4/2006), nguyên : Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1974-1995), Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-pu-chia-Mặt trận 719 (1986-1988), Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975), Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1970-1974), Cục trưởng Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu (1964-1969), Cục trưởng Cục quân huấn (1960) Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra Thượng tướng Lê Ngọc Hiền còn giữ các chức vụ Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (dự khuyết khóa 4, chính thức khóa 5 và 6).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến thắng hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của Nhà nước Cam-pu-chia.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986).


Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (tên thật là Nguyễn Ngọc Thiện) sinh tại xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Tháng 10 năm 1944, ông tham gia công tác in ấn và phát hành báo Độc Lập tại thành phố Hà Nội. Sau đó, tháng 3 năm 1945, ông tham gia Hội thanh niên cứu quốc trên cương vị Bí thư thanh niên cứu quốc Thị xã Sơn Tây. Tháng 5 năm 1945, ông được cử đi học lớp Quân chính kháng Nhật, là đội viên của đội công tác xây dựng cơ sở giao thông từ chiến khu Việt Bắc về Hòa Bình. Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa ở khu vực thị xã Sơn Tây.

Từ tháng 8/1945 đến tháng 4/1947, ông tham gia bộ đội địa phương thuộc các tỉnh Sơn Tây, Ninh Bình, Nam Ðịnh. Từ tháng 5/1947 đến tháng 2/1955, ông lần lượt giữ các cương vị Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 48, Trung đoàn 64 và Trung đoàn 66 thuộc Ðại đoàn 320, tháng 11/1953 là Tham mưu trưởng Ðại đoàn 320 cho đến đến tháng 2-1955.

Từ tháng 3 năm 1955 đến năm 1956, ông là Phó cục trưởng Cục Quân huấn. Từ năm 1957 đến năm 1959, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc. Năm 1960, về nước, ông là Cục trưởng Cục Quân huấn. Năm 1961, ông lại được cử đi học tại Học viện Quân sự Phunde Liên Xô. Sau khi từ Liên Xô về, từ năm 1962 đến năm 1964, ông được cử giữ chức vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Từ năm 1964 đến năm 1969, ông là Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1967,ông được cử là phái viên của Bộ Tổng Tham mưu tham gia chỉ huy tác chiến ở Khu Đông chiến dịch Đường 9 là chiến dịch Đường 9 Khe Sanh trên cương vị Phó Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên (B5). Từ tháng 8 năm 1970 đến đầu năm 1974, ông làm Phái viên của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đi truyền đạt nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Trung ương Đảng cho Trung ương cục Miền. Sau đó ở lại chiến trường miền Nam, được cử giữ chức Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.

Tháng 4 năm 1974, ông được Trung ương lệnh ra Bắc gấp. Sau 11 năm mang quân hàm Đại tá (1963-1974) ông được phong quân hàm Thiếu tướng, được bổ nhiệm giữ chưc Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đích thân Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã thông báo quyết định này đông thời giao nhiệm vụ cho ông trách nhiệm khó khăn là chủ trì Soạn thảo kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 và 1976 đệ trình Bộ chính trị và Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Bản kế hoạch giải phóng miền Nam do ông chủ trì được Bộ chính trì đánh giá cao và thông qua đặc biệt là việc chọn Tây Nguyên làm chiến trường trọng điểm có tính chất đột phá, và chỉ yêu cầu bổ sung thêm cho chi tiết.

Ngày 16 tháng 1 năm 1975, ông vào chiến trường Tây Nguyên tham gia thiết lập Sở chỉ huy phía trước của Bộ Tổng Tham mưu nhằm chuẩn bị chiến trường cho trận đánh có tính chất quyết định-cú đấm chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến trường, triển khai kế hoạch giải phóng miền Nam do chính ông chủ trì. Sau chiến thắng Buôn Mê Thuột ông vào chiến trường miền Đông Nam Bộ và được cử làm Tham mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, có nhiệm vụ vạch kế hoạch tác chiến cho trận đánh lịch sử này.

Từ năm 1977 đến năm 1986, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng thường trực chỉ huy tác chiến tại Sở chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu ở phía Nam. Năm 1980, ông được phong quân hàm Trung tướng. Từ cuối năm 1986, ông được chỉ định làm Tư lệnh Mặt trận 719 (Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm Pu Chia). Từ tháng 8 năm 1988 đến ngày 30 tháng 10 năm 1995, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam phụ trách tổng kết, chỉ đạo chiến tranh. Năm 1996, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp là người rất yêu mến Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, bởi sự tận tụy của một người làm công tác tác chiến và sự kiên định của ông. Trong một bức thư tay gửi cho ông ngày 7/3/1975 , Đại tướng Tổng tư lệnh viết hết sức thân tình :

“Cậu Hiền-nhân dịp anh Sáu và cậu Võ Quang Hồ vào, viết thư Văn thăm chúng mày, chào mừng quân ta ra quân đại thắng trên hướng Tây Nguyên. Chúc mày và anh em khoẻ hăng, đánh giỏi sắp tới góp phần cống hiến xứng đáng vào cuộc quyết chiến chiến lược lịch sử giành lại thắng lợi. Mình vẫn khoẻ. Võ Quang Hồ đi ở nhà cũng vất vả thêm chút ít, mong nó về sớm. Có ý kiến gì Hồ sẽ nói lại”

Cái biệt danh ‘’Hiền tác chiến’’ bạn bè đặt cho ông là vì lí do, trong cuộc đời binh nghiệp 50 năm của mình thì có đến phân nửa thời gian ông làm công tác tác chiến.

Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Thượng tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:21:45 am
(http://img215.imageshack.us/img215/3969/tranvantrayn3.jpg)

Thượng tướng Trần Văn Trà (1919-1996), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương (5/1978-1982), Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7 (5/1976-1978), Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Hồ Chí Minh (5/1975), Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam tại Ủy ban liên hợp đình chiến bốn bên ở Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam Phó Bí thư Quân ủy miền Nam, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1955-1962) kiêm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn (1958) kiêm Giám đốc Học viện Quân chính và Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương (3/1961), Phó Tư lệnh Nam Bộ kiêm Tư lệnh Phân khu miền Đông Nam Bộ (1951-1954), Tư lệnh kiêm Chính ủy khu Sài Gòn Chợ Lớn, Tư lệnh liên khu 7 (1949-1950), Chính trị viên Giải phóng quân Liên quân Hóc Môn-Đức Hòa-Bà Điểm (1945-1946), Khu trưởng khu 8 (3/1946-1948).

Ngoài ra ông cũng từng giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam (1992-1996), Đại biểu Quốc hội Khóa 6, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (dự khuyết khóa 3, chính thức khóa 4), Ủy viên Trung ương cục miền Nam (1966-1972), xứ Ủy viên Nam Bộ (1946-1948), Ủy viên kì bộ Việt Minh Nam Bộ (1945-1946).

Trung tướng (1959), Thượng tướng (1974).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất ...


Thượng tướng Trần Văn Trà (tên thật : Nguyễn Chấn, bí danh : Tư Chi, Ba Trà, Tư Nguyễn), sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Long Tịnh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một vùng quê nghèo khó nhưng giàu tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau ở vùng duyên hải miềnn Trung, một vùng mà phong trào cách mạng rất cả kể cả thời Văn Thân cho đến phong trào do Đảng cộng sản lãnh đạo. Gia đình ông không có ruộng, cha ông làm thợ xây, còn mẹ ông mua gánh bán bưng nuôi anh em ông ăn học. Cha ông tham gia phong trào cách mạng 1930-1931. Thuở thiếu thời từng chứng kiến cảnh thực dân Pháp đàn áp, bắn giết những người tham gia biểu tình, những người yêu nước ở quê hương cùng ảnh hưởng của văn thơ yêu nước cho nên ông luôn mơ ước làm việc gì đỏ để giải phóng dân tộc.

Năm 1936, ông thi vào học Trường kỹ nghệ Huế và ông tham gia phong trào học sinh yêu nước đòi dân sih dân quyền khi đang học ở trường kỹ nghệ thực hành Huế. Năm 1938, ông được chi bộ trường kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Học xong, ông tham gia dậy học ở trường Kỹ nghệ. Năm 1939, ông vào Sài Gòn làm công nhân hỏa xa và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 12 năm 1939 ông bị địch bắt tại Sài Gòn và bị đưa về giam tại nhà lao Huế và nhà lao Thừa Thiên, sau 5 tháng được trả lại tự do nhưng bị quản thúc vô thời hạn ở quê. Tháng 3 năm 1941, ông trốn lên Đà Lạt tiếp tục hoạt động rồi về Nha Trang, sau đó trở lại Sài Gòn thì bắt được liên lạc với Cách mạng. Ông được giao phụ trách Giải phóng và cơ quan ấn loát của Kỳ Bộ Việt Minh. Tháng 11 năm 1944 ông bị địch bắt lần thứ hai và bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn.

Ngày 22 tháng 8 năm 1945, chỉnh phủ Trần Trọng Kim phóng thích tù chính trị, ra khỏi tù ông tham gia Tổng khởi nghĩa và là Uỷ viên Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ do ông Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp tái chiếm Nam Bộ, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ông trở thành người lính tham gia trận đánh đầu tiên giữ mặt trận Cầu Bông trong nội thành Sài Gòn. Mặt trận Sài Gòn vỡ, cơ quan lãnh đạo chuyển về My Tho. Ông xin ở lại Sài Gòn chiến đấu. Trung ương tăng cường cho Nam Bộ lực lượng Nam tiến. Ông Nguyễn Bình vào chỉ huy Khu 7, Đào Văn Trường chỉ huy khu 9, ông Vũ Đức (tức Hoàng Đình Giong) chỉ huy Khu 9. Với tư cách là chính trị viên ông đưa Giải phóng quân liên quận Hóc Môn Bà Điểm Đức Hòa về tăng cường chấn chính khu 8, lập Chi đội 14 do ông làm Chi đội trưởng và bắt đầu xây dựng căn cứ địa Đồng Tháp Mười.

Tháng 9 năm 1946, ông được Trung ương chỉ định làm Khu trưởng Khu 8, ông Trương Văn Giàu làm khu phó, ông Nguyễn Văn Vịnh làm Chính ủy. Cuối năm 1947, đơn vị chủ lực cơ động đầu tiên của Nam Bộ được thành lập, tiểu đoàn 307 thuộc khu 8. Giữa năm 1948, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Quân dân chính Nam Bộ ra Việt Bắc báo cáo tình hình với Trung ương. Trước khi về Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân trao tặng ông thanh gươm và dặn: "Bác trao cho chú thanh gươm qúy này để đưa cho đồng bào miền Nam diệt thù. Các chú báo cáo với đồng bào rằng lòng Bác, lòng Đảng lúc nào cũng bên cạnh đồng bào. Chúng ta đồng lòng vì nước, nhất định chúng ta thắng".

Ngày 31 tháng 3 năm 1949 ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cử làm Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ do tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh. Tướng Nguyễn Bình hy sinh, khi đó Nam Bộ được chia ra làm hai phân liên khu: miền Đông, miền Tây. Ông là Tư lệnh miền Đông do ông Phạm Hùng làm Chính ủy, Nguyễn Văn Vịnh Phó Tư lệnh. Từ năm 1950 đến năm 1954 ông là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ kiêm Tư lệnh và Chính uỷ Khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Khu uỷ viên; Tư lệnh Phân liên khu miền Đông Nam Bộ; Phân liên Khu uỷ.

Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông chỉ huy lực lượng tập kết ra Bắc và được cử giữ chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng (1955). Từ năm 1956-1958, ông sang học ở Liên xô cùng các ông Nam Long, Vũ Lăng, Vũ Yên, Nguyễn Văn Minh, Đỗ Đức Kiên. Đây là đoàn cán bộ quân sự Việt Nam đầu tiên sang học ở Học viện Cao cấp Liên Xô, nhưng sau đó bị bệnh ông phải quay trở lại Việt Nam, mãi đến năm 1960-1961 ông mới qua học lại. Năm 1958, ông được phong quân hàm Trung tướng tháng 4 năm 1958 ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bổ nhiệm giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn. Từ năm 1959, nghị quyết 15, ông xin vào Nam chiến đấu nhưng do bệnh chưa lành cho nên không đi đuợc.

Năm 1959, việc tổ chức lực lượng cán bộ tập kết ra Bắc trở vào Nam được đặt ra. Ông và ông Nguyễn Văn Vịnh đề bạt với tổng bí thư và được chấp nhận. Ông đựoc Trung ương và Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ chọn, huấn luyện, đưa cán bộ tập kết trở về chiến đấu và tổ chức đường mòn Hồ Chí Minh. Bên cạnh việc giao cho ông Võ Bẩm tìm cách mở đường Trường Sơn ông cũng giao cho ông Võ Bẩm tổ chức vận tải trên biển cho khu 5 lấy tên là 759, nhưng thất bại. Đến năm 1960-1961, một số ghe thuyền do Trung ương cục miền Nam phái ra xin vũ khí, ông nghiên cứu phương án khả thi và tổ chức đường 759 trên biển trở lại. Chuyến đầu tiên đi bằng tàu gỗ, khởi hành năm 1962, chở 28 tấn vũ khí, cập bến Rạch Gốc thuộc Cà Mau thành công. Sau ông chỉ đạo đóng tàu sắt chở 100 tấn. Ông mời ông Nguyễn văn Đảnh cục trưởng Cục đuờng biển tham gia đóng tàu. Ông trực tiếp lo tổ chức vẩn chuyển người và vũ khí cả hai đường 559 và 759 cho đến năm 1963 khi ông trở lại miền Nam trực tiếp chỉ huy chiến đấu mới giao lại cho Bộ Tổng Tham mưu phụ trách.

Năm 1962 ông là Giám đốc Học viện Quân chính và Chánh án Toà án Quân sự Trung ương. Năm 1963 ông được Trung ương cử vào miền Nam đảm nhiệm chức vụ: Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Bí thư Quân uỷ Quân giải phóng miền Nam, Uỷ viên Trung ương Cục miền Nam. Ngày 1 tháng 3 năm 1973 ông là Trưởng đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Ban Liên hợp Quân sự bốn bên ở Sài Gòn, Phó bí thư Quân uỷ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tháng 11 năm 1974, ông và ông Phạm Hùng ra Bắc họp. Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng có lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường tham dự vào tháng 12 năm 1974, đã hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976. Ta phải đánh mạnh vào năm 1975 mới kết thúc thắng lợi năm 1976, thời cơ nhằm vào năm 1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975) ông là Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 5 tháng 12 năm 1975 ông là Chủ tịch Uỷ ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định.

Sau chiến tranh chống Mỹ cứu nước, từ năm 1976 đến năm 1978 ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu 7. Từ năm 1978 đến năm 1982 ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Năm 1982, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, ông từng là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam dự khuyết khoá III (năm 1960), chính thức khoá IV (năm 1976) và là Đại biểu Quốc hội khoá VI. Từ năm 1993 đến năm 1996 ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, kiêm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi ông mất, gia đình ông đã giành một quỹ để giúp đỡ học sinh sinh viên, cựu chiến binh…có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Tướng Phùng Chí Kiên, nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:23:35 am
(http://img638.imageshack.us/img638/1506/tuongphungchikienwg4.jpg)

Tướng Phùng Chí Kiên (1901-22/8/1941), liệt sĩ, chỉ huy Chiến khu Bắc Sơn-Võ Nhai và Trung đội cứu quốc quân 1 (1941). Ông được coi là nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, ông cũng từng giữ chứ vụ Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam)

Ông được truy phong quân hàm cấp tướng (không nói rõ cấp bậc cụ thể) năm 2003.


Tướng Phùng Chí Kiên (tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, ông còn có tên khác là Mạch Văn Liễu) sinh tại làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên), huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tuy nhà nghèo, nhưng ông vẫn được cha mẹ cho đi học sớm. Lớn lên, là một thanh niên có học, ông sớm giác ngộ cách mạng và tích cực tham gia nhóm đọc sách báo tiến bộ ở quê nhà. Nhà ông là một cơ sở của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội.

Năm 1925, ông ra làm thuê cho một thương nhân người Hoa ở ga Yên Lý, thuộc huyện Diễn Châu, nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội-Sài Gòn. Thời gian này, tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) đã cử cán bộ về Nghệ Tĩnh hoạt động. Nhiều thanh niên, học sinh ở đây được giác ngộ và đưa sang Quảng Châu học tập. Là một thanh niên có học, nhạy bén với thời cuộc, tháng 10/1926, ông cùng một số hội viên được giới thiệu sang Quảng Châu tham dự khóa huấn luyện đầu tiên của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc rồi sau đó được vào học tại trường võ bị Hoàng Phố của chính phủ Tôn Trung Sơn.

Năm sau, Tưởng Giới Thạch phản bội, nhà trường bị đóng cửa, ông cùng với cán bộ cách mạng Việt Nam đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại hành động phản cách mạng của bọn quân phiệt. Phùng Chí Kiên gia nhập quân cách mạng và tham gia khởi nghĩa Quảng Châu (12/12/1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa thất bại, quân cách mạng rút về xây dựng khu Xô Viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong. Với cương vị là đại đội trưởng quân cách mạng, ông đã cùng cán bộ Đảng cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ cách mạng.

Tháng 2 năm 1931, được sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, ông sang học tài trường đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản. Đến Mãn Châu, ông bị phát-xít Nhật bắt giam gần một năm. Ra tù, ông đổi tên là Can rồi tiếp tục lên đường sang Liên Xô học. Tại đây ông học tập chủ nghĩa Mác Lênin và nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước của nhân dân Liên Xô để sau này áp dụng vào Việt Nam. Đầu năm 1934, ông về Hương Cảng (Trung Quốc) tham gia Ban lãnh đạo ở nước ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương do nhà cách mạng Lê Hồng Phong đứng đầu. Đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (3/1935), ông được bầu vào ban chấp hành Trung ương Đảng, được cử làm Ủy viên thường vụ Đảng.

Tháng 8/1936, ông được cử về Sài Gòn cùng ông Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước theo tinh thần nghị quyết lần thứ 7 của Quốc tế cộng sản và Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 16/7/1936. Một năm sau, do yêu cầu mới, ông Lê Hồng Phong về Sài Gòn hoạt động còn ông lại sang Trung Quốc chỉ đạo công tác Đảng ở nước ngoài với tấm thẻ căn cước Phùng Ngươn Vĩnh. Đầu năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, ông được cử đi báo cáo với lãnh tụ về tình hình hoạt động của Đảng ở nước ngoài. Trong thời gian này, ông nhiều lần đi cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đi công tác ở các nơi nhu Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chi Thiện…thuộc tỉnh Vân Nam.

Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức, Nhật nhảy vào Đông Dương. Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ông họp Banh lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài bàn việc vận động thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh, đồng thời khẩn trương chuẩn bị cho lãnh tụ về nước. Ông cùng với lãnh tụ chuyển tới Tĩnh Tây-một thị trấn thuộc tỉnh Quảng Tây giáp biên giới Việt Trung. Nhận được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Tĩnh Tây, Trung ương Đảng ở trong nước cử ông Hoàng Văn Thụ sang đón. Sau khi thống nhất kế hoạch với ông Hoàng Văn Thụ, ông đã tập hợp bốn mươi thanh niên để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thành những cán bộ cốt cán, đưa về Cao Bằng xây dựng thí điểm các đoàn thể Việt Minh, lập căn cứ cách mạng. Dựa theo tài liệu huấn luyện của lãnh tụ, ông cùng với các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn thành bài giảng nhằm làm tài liệu huấn luyện cho các bộ khi về nước. Những tài liệu này sau được in thành sách với nhan đề ‘’Con đường giải phóng’’.

Ngày 28/1/1941, ông theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi đó đã là Hồ Chí Minh về Pác Bó, tỉnh Cao Bằng. Ở đây, ông hoạt động cạnh Hồ Chí Minh và đóng góp phần quan trọng vào việc xây dựng, bảo vệ khu căn cứ.Ông đã tích cực tham gia vào việc tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn…và các tỉnh miền xuôi. Đến hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941), ông tiếp tục là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, được cử phụ trách quân sự, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn-Võ Nhai và trung đội Việt Nam cứu quốc quân. Cuối tháng 6 năm 1941, quân Pháp mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ cách mạng nhằm bắt các lãnh đạo của Đảng, tiêu diện cơ quan đầu não của Việt Minh và lực lượng vu trang cách mạng mới hình thành. Pháp huy động tới 4000 quân gồm đủ sắc lính tổ chức thành ba mũi tấn công vào khu căn cứ. Cánh quân từ Lạng Sơn kéo xuống càn quét các xã Hưng Vũ, Tân Lập, Vũ Lăng thuộc Bắc Sơn. Cánh quân thứ hai từ Thái Nguyên qua Đình Cả càn vào xã Trưưong Xá, Phú Thượng, La Hiên, Lũng Mười thuộc Võ Nhai. Cánh quân thứ ba từ Bắc Giang lên khép vòng vây ở huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Quân Pháp bịt chặt đường ra lối vào, đi đến đâu đốt sạch làng bản, giết sạch gia súc và phá vườn cây ăn quả. Chúng triệt hạ các bản lẻ và thi hành chính sách tát nước bắt cá dồn dân tập trung vào các trại Đình Cả…

Không khí khủng bố căng thẳng đến nghẹt thở, hàng trăm gia đình chạy vào rừng sâu, sống trong hang động vô cùng thiếu thốn. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ), ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ và dẫn các lãnh đạo Trung ương qua Tràng Xá về xuôi an toàn. Còn toàn đội phối hợp với tự vệ chiến đấu hoạt động phân tán, bám dân, duy trì và bảo vệ cơ sở cách mạng. Ông Hoàng Quốc Việt, Ủy viên thường vụ Trung ương ở lại căn cứ đảng bộ Võ Nhai tổ chức lực lượng đối phó với quân Pháp. Phùng Chí Kiên chỉ huy đội Cứu quốc quân Bắc Sơn chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của Pháp, góp phần giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân trong vùng, tiêu biểu là trận chống càn ở Gia Huần (Vu Lễ). Cứu quốc quân tuy cố găng nhưng phải di chuyển luôn, tiếp tế khó khăn, sức lực giảm dần. Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội chặn quân Pháp, còn hai tiểu đội phá vòng vây của Pháp rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng.

Ngày 19/8/1941, cánh quân của ông và ông Lương Văn Tri qua châu Na Rỳ, Bắc Kạn thì bị phục kích nhưng đơn vị thoát được. Ngày 21/8, đơn vị lại bị phục kích tại xã Bằng Đức. Châu phủ huy động lính dõng khép kín vòng vây. Ông Lương Văn Nho trúng đạn rồi hy sinh, mặc dù bị thương nặng ông vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn để cho đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết đạn ông bị bắt. Châu phủ gán cho ông là tướng cướp và để cho quân lính mặc sức hành hung. Ông bình tĩnh giải thích :

- Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp đuổi Nhật để giải phóng đồng bào. Chúng ta là người Việt Nam, cần đoàn kết chống kẻ thù chung.

Lời giải thích của ông làm thức tính một số lính dõng. Ngay lập tức Châu phủ ra lệnh chặt đầu ông rồi đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để uy hiếp tinh thần cán bộ, nhân dân địa phương.

Tướng Phùng Chí Kiên không những là nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng mà còn là người có công xây dựng, phát triển nền quân sự cách mạng Việt Nam cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự lớp đầu tiên của Cách mạng Việt Nam. Là một nhà chính trị đồng thời là nhà quân sự được đào tạo bài bản tại Trung Quốc và Liên Xô, ông được phát hiện và dìu dắt bởi Bác Hồ và là học trò thế hệ đầu tiên của Người. Để đánh giá tài năng và công lao của ông, người ta vẫn thường nói rằng nếu ông còn sống thì Việt Nam sẽ có hai Võ Nguyên Giáp.

Tham khảo : Báo Quân đội Nhân dân.


Tiêu đề: Đại tướng Chu Huy Mân, vị tướng chính ủy, cố vấn của Cách mạng Lào
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:25:51 am
(http://img710.imageshack.us/img710/4459/daituongchuhuymanwy7.jpg)

Đại tướng Chu Huy Mân (17/3/1913-1/7/2006), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến thắng hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1965), Thượng tướng (vượt cấp-1974), Đại tướng (1982).


‘’Đại tướng Chu Huy Mân là một cán bộ lãnh đạo cấp cao tiêu biểu của Đảng và Nhà nước, một tướng lĩnh xuất sắc, chính trị, quân sự song toàn của quân đội ta, là một tấm gương sáng cho toàn quân, toàn dân ta học tập…Đối với tôi, Đại tướng Chu Huy Mân là người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết, người cán bộ mà tôi đặt nhiều niềm tin khi đồng chí được giao những nhiệm vụ quan trọng’’ (Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp)

Đại tướng Chu Huy Mân (Tên thật : Chu Văn Điều. Bí danh : Vũ Chân, Lê Thế Mỹ, Trần Thanh Lạc, Hai Mạnh, Thao Chăn) sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Hưng Hòa, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Bố ông mất sớm, khi ông mới 14 tháng tuổi. Mẹ ông một mình tần tảo nuôi tám người con ăn học. Lên 7 tuổi, ông đi học chữ Hán ở trường làng. bấy giờ thuộc xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc TP Vinh, Nghệ An).

Hồi đó, học sinh trường làng thường hay giao lưu với học sinh Quốc học Vinh vào giao lưu. Qua những lần giao lưu ông biết đến đất nước ta bị giặc Pháp xâm lược, chia thành ba kỳ. Nhân dân khắp nơi lầm than, khổ cực, muốn thoát thân phận trâu ngựa thì phải vùng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến. Bấy giờ ông đã thuộc lòng nhiều bài thơ, văn yêu nước của cụ Phan Bội Châu. Năm 1925, ông mới bắt đầu giác ngộ cách mạng. Ông cũng bắt đầu nghe đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài, sắp về nước lãnh đạo cách mạng, giải phóng dân tộc. Cho đến những năm 1927 - 1928 lần đầu nghe bàn tán những từ "độc lập", "tự do", "canh tân". Một thời gian sau có thêm mấy từ "thanh niên yêu nước", "cộng sản".

Ông tham gia cách mạng từ rất sớm (1929). Đêm 30 tháng 1 âm lịch năm đó, ông được người anh họ rủ đi mít-tinh, nghe ông Trần Huy Trí diễn thuyết về cách mạng: đánh Pháp, lật đổ sự thống trị của phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Sau dó ông hòa vào dòng người tham dự mít-tinh chia thành ba đoàn rẽ đi các ngả biểu tình, hô vang các khẩu hiệu cách mạng. Đó cũng là lần đầu tiên phong trào cách mạng, phong trào cộng sản về tới làng ông. Một Chi bộ xã Yên Lưu được thành lập có ba đảng viên là các ông Trần Huy Trí, Dương Cu, Đinh Ái.

Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), ông tham gia Tự vệ Đỏ và là Đội phó Đội tự vệ xã. Cuối năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam khi mới 17 tuổi.

Đầu năm 1931, Pháp khủng bố mạnh nhằm dập tắt cao trào cách mạng, ông bị bọn bang tá bắt cùng với 50 người khác, bị đánh suốt ba đêm, ba ngày thậm trí chúng còn dùng roi mây ngâm nước mắm phơi khô vụt khắp người. Nhiều người không chịu nổi đã phải khai và quy thuận. Riên ông dứt khoát không khai nhận cũng không ký cam kết là sẽ không làm cách mạng. Thực dân Pháp phải thả nhưng chúng cử người theo dõi. Cuối năm 1932, ông lại bị bắt rồi lại được thả. Đầu năm 1933, ông móc nối khôi phục cơ sở và được cử làm bí thư chi bộ xã Hưng Hòa, lúc đó mới 20 tuổi. Sau đó thực dân Pháp đưa ông vào danh sách tình nghi cộng sản nên từ năm 1935-1939, hằng năm cứ đến các ngày 8-3, 1-5, 14-7 (Quốc khánh Pháp) và 12-9 (ngày nông dân Hưng Nguyên kéo lên Vinh biểu tình) ông phải trình diện và bị giữ lại suốt ngày hôm đó. Năm 1936, ông là Bí thư chi bộ xã Hưng Hòa rồi Bí thư phân Huyện ủy huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An. Cuối năm 1939, ông bị bắt giam suốt bảy tháng liền ở nhà lao Vinh. Được thả ra ít ngày, đến tháng 5-1940, thực dân Pháp bắt và đưa ông đi đày ở Đắc Lây, Kontum. Đầu năm 1943 khi tổ chức tạo điều kiện để ông vượt ngục an toàn cùng các ông Hà Thế Hạnh, Nguyễn Duy Trinh, Huỳnh Ngọc Huệ. Sau đó là những tháng ngày ông hoạt động cách mạng sôi nổi, liên tục, tham gia Ban vận động Việt Minh và Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam.

Tổng khởi nghĩa tháng 8- 1945 thành công, ông được bầu làm Phó bí thư tỉnh ủy, rồi Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam. Cuối năm 1945, cấp trên điều ông ra Huế công tác, giữ chức chủ tịch Ủy ban quân chính khu C gồm bốn tỉnh Bắc Trung Bộ (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam), Chính trị viên Đường 9 Đông Hà Xa-va-na-khẹt. Cuối năm 1946, ông được điều ra Bắc mới được ba tuần thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo các cơ quan chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc, ông được phân công làm trưởng Ban kiểm tra xây dựng Đảng Quân khu ủy Việt Bắc, rồi sau đó chuyển sang quân đội làm trung đoàn trưởng các trung đoàn 72, 74 Cao Bằng, rồi làm chính ủy trung đoàn 174 Cao-Bắc-Lạng (1947-1949).

Ông tham gia chỉ huy Đại đoàn 316 tham gia nhiều chiến dịch (ví dụ : Tây Bắc-Thượng Lào 1952…), đặc biệt trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, Đại đoàn của ông được lệnh lên Tây Bắc rồi tham gia vào Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Đại đoàn của ông là Đại đoàn chủ lực được vinh dự đánh trận mở đầu của chiến dịch, tiêu diệt cứ điểm Him Lam (13/3/1954). Bước vào đợt 3 của chiến dịch, Đại đoàn của ông đã đánh khối bộc phá gần một tấn tại đồi A1 mở đầu cho toàn đợt. Rồi cũng Trung đoàn 174 của Đại đoàn là một trong hai Trung đoàn vào bắt sống tướng Đờ Cát (Trung đoàn còn lại là Trung đoàn 209 Sông Lô do ông Hoàng Cầm chỉ huy, thuộc Đại đoàn Chiến Thắng 312) (7/5/1954).

Tháng 8-1954, là Đoàn trưởng Bí thư Đảng ủy Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, giúp Cách mạng Lào xây dựng lực lượng vũ trang. Năm 1957, ông giữ chức Chính ủy Quân khu IV; năm 1958, là Chính ủy Quân khu Tây Bắc kiêm Bí thư Khu ủy Tây Bắc. Cuối năm 1959 đến tháng 12 năm 1960, ông được phân công là Trưởng đoàn Cố vấn chuyên gia giúp Cách mạng Lào xây dựng lực lượng vũ trang, giữ cương vị Đoàn trưởng Đoàn 100 (Đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào, cố vấn cho chính phủ liên hiệp của Thủ tướng Xuvana Phuma). Năm 1961 ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 4. Năm 1962, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự mang tên Phờ-run-đe của Liên Xô.

Tháng 9 năm 1963, ông được điều vào chiến trường Quân khu 5 lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng đoàn kiểm tra của Đảng ủy quân sự Trung ương nghiên cứu tình hình khu 5, Phó Bí thư rồi Bí thư Quân ủy khu 5. Tháng 8-1965, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận B3 - Tây Nguyên. Từ năm 1967 đến năm 1975, ông là Tư lệnh Quân khu 5, Phó bí thư Đảng ủy Quân khu. Tài thao lược của ông ở hai mặt trận Khu 5 và B3 đã góp phần làm nên nhiều chiến công vang dội, nổi bật như chiến thắng Ba Gia tiêu diệt chiến đoàn quân Việt Nam cộng hòa, chiến thắng lừng lẫy Plây Me – Iadrang, tiêu diệt chiến đoàn thiết giáp Việt Nam cộng hòa và lần đầu tiên tiêu diệt 1 tiểu đoàn quân Mỹ, chiến thắng giải phóng Đà Nẵng , Chiến dịch Sa Thầy v.v…

Từ 1975 đến 1976, ông là Chính uỷ, kiêm Tư lệnh, Bí thư Đảng uỷ Quân khu 5. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, ông là Chính ủy chiến dịch Huế- Đà Nẵng. Tư lệnh là Trung tướng Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng), khi đó đang trên đường từ Bắc vào cho nên về thực tế ông là người trực tiếp chỉ huy.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và được cử giữ chức Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Trưởng ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1977-1986), phụ trách công tác giúp Cách mạng Lào, Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc (năm 1980). Ông là đại biểu Quốc hội khoá II,VI,VII, được Quốc hội bầu làm Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước khóa VII (1981-1986), là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III, IV, V, Ủy viên Bộ Chính trị khoá IV,V.

Ðại tướng Chu Huy Mân là một tài năng quân sự và kiên định của đất nước, có tầm chiến lược và cũng rất giỏi về chiến dịch và chiến thuật. Trong hơn 11 năm ở Quân khu V, các chiến dịch do ông trực tiếp chỉ huy đều giành thắng lợi. Là vị tướng chiến lược, ông không những là một người chỉ huy sắc sảo mà còn là một người có biệt tài về xây dựng, xây dựng bản lĩnh chính trị và quân sự, niềm tin và đạo đức cho các đơn vị và cấp dưới thuộc quyền.

Trí tuệ quân sự mẫn tiệp, rất thực tiễn, rất sinh động, là ông đã chân thành học hỏi trí tuệ và bản lĩnh của nhân dân, của cấp dưới và chiến sĩ. Trí tuệ ấy tỏa sáng và hấp dẫn được cán bộ và chiến sĩ tự nguyện sôi nổi và hào hứng tiếp thu. Ông thường mở ra những phương cách tiến công và xây dựng mới mẻ, giải quyết tỉnh táo và thanh thoát khó khăn, dẫn dắt tư duy và hành động mọi người sáng tạo, xông pha trận mạc, không một chiều, không trừu tượng, không bức xúc, thống nhất được lý trí và tình cảm, mục tiêu và biện pháp, trước mắt và lâu dài. Từ đó cùng với đơn vị và nhân dân tạo dựng những ngọn cờ đầu có sức lay động lớn. Ba Gia, Vạn Tường, Plây-me, chiến dịch Bắc Bình Ðịnh Xuân hè 1972.. Ðó là một trí tuệ văn hóa sâu sắc, đầy sức sống, được thử thách đối kháng trong chiến tranh ác liệt với kẻ thù hung bạo nhất, rất nhuần nhuyễn và góp phần bồi đắp triết lý giữ nước của dân tộc ta, thấm đượm Văn hiến Việt Nam.

Đại tướng Chu Huy Mân là vị tướng gắn bó nhiều với đất nước Triệu Voi với Cách mạng Lào. Ông có công rất lớn trong việc giúp nước bạn xây dựng Quân đội, xây dựng lực lượng kháng chiến giành độc lập, đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng và độc lập. Là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng tình đoàn kết Lào Việt anh em. Ông là ‘’Cố vấn lỗi lạc’’, ‘’Cố vấn hay nhất mọi thời đại’’ của nhân dân các bộ tộc Lào. Ít ai biết rằng, ngay những ngày đầu năm 1946, ông đã có mặt bên dòng sông Sê-pôn Hạ Lào.

Suốt cuộc đời, Đại tướng Chu Huy Mân đã đem hết ý chí, sức lực và trí tuệ góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc; cho đến những ngày cuối đời, ông vẫn suy nghĩ, lo lắng nhiều đến nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng, trăn trở trước vận mệnh của Tổ quốc.



Tiêu đề: Trung tướng Trịnh Trân, vị tướng gắn bó với biên giới hải đảo
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:28:02 am
(http://img59.imageshack.us/img59/4615/trungtuongtrinhtrando4.jpg)

Trung tướng Trịnh Trân (28/11/1928-6h10’ 14/9/2006), từng giữ các chưc vụ: Phó Phòng Địch vận trực thuộc Tổng cục Chính trị, Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Bộ đội biên phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngoài ra ông từng là : Đại biểu Quốc hội kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh Quốc hội khóa 9, Ủy viên Đảng ủy Công an Nhân dân.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (1984), Trung tướng (1992).


Trung tướng Trịnh Trân (tên thật là Trịnh Ngọc Chân, bí danh : Thanh Tùng, Võ Thiết Sơn), sinh tại thôn Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây nhưng do hoàn cảnh gia đình nghèo khó gia đình ông phải chuyển lên sinh sống ở khu phố Vườn Cam, thị xã Cao Bằng-đây cũng là nơi gắn bó với tuổi thơ của ông.

Ngày 8/2/1941, lãnh tụ Hồ Chí Minh về Pác Bó, Cao Bằng chỉ đạo cách mạng trong nước. Phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng khắp cả nước đặc biệt là Cao Bằng, ông tham gia biểu tình chống lại sự đàn áp hà khắc của Thực dân Pháp. Tháng 4/1945, ông tham gia Thanh niên cứu quốc rồi gia nhập Mặt trận Việt Minh thuộc khu vực Nước Giáp. Ngày 21/8/1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã Cao Bằng.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông tham gia Vệ quốc đoàn tại Chi đội A Cao Bằng và được cử đi học lớp quân chính. Sau đó, ông được cử về thị xã Cao Bằng xây dựng tự về, tham gia hoạt động địa phương như phong trào Bình dân học vụ. Tháng 1/1947, ông được cử đi học ở Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 2 (nay là Trường sĩ quan lục quân 1). Tháng 10/1947, ông tốt nghiệp về Cao Bằng tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc. Từ tháng 11/1947 đến 12/1949, ông lần lượt giữ các chức vụ Trợ lý tham mưu tác chiến, Chỉ huy Liên đội vũ trang, Đội trưởng Đội Biệt động thuộc E74 Cao Bằng, làm nhiệm vụ phá tề trừ gian trong vùng địch hậu.

Từ tháng 1/1950 đến 6/1953 - Chính trị viên C674, Chính trị viên phó, Chính trị viên Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316. Từ tháng 7/1953 đến 8/1954, ông được cử đi học lớp Bổ túc chính trị trung cấp. Sau khi tốt nghiệp ông là Đội trưởng Đội phát động giảm tô đợt 1, 2 rồi sau đó là cán bộ Cục Địch vận Tổng cục Chính trị.

Từ tháng 9/1954 đến 9/1959, ông là Trưởng ban Tuyên huấn Phòng Chính trị Sư đoàn 350, Phó phòng Địch vận Tổng cục Chính trị. Lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang (tiền thân của Bộ đội Biên phòng) được thành lập. Từ tháng 10/1959 đến 10/1961, ông là Trưởng phòng Dân vận Cục Chính trị Công an Nhân dân vũ trang. Từ tháng 11/1961 đến 4/1963, ông giữ chức Phó Văn phòng Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang.

Trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ tháng 5/1963 đến 11/1974 ông được cử giữ chức vụ Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang rồi cử đi học ở Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Sau khi tốt nghiệp, ông được cử giữ chức Trưởng ban Nghiên cứu Khoa học Biên phòng.

Từ tháng 12/1974 đến 11/1980, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang. Từ tháng 12/1980 đến 4/1990, do sắc sảo trong công việc, nhạy bén trong chỉ đạo ông được cử gữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng. Đây là thời kì mà tình hình biên giới Việt Nam có rất nhiều căng thẳng.

Đất nước bước vào giai đoạn đổi mới và mở cửa, từ tháng 5/1990 đến 8/1991 ông là Quyền Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Từ tháng 9/1991 đến 11/1998, ông là Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương kiêm Bí thư Đảng ủy và Tư lệnh Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Từ tháng 9/1991 đến tháng 11/1998, ông là Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng an ninh Quốc hội khóa IX.

Trên cương vị là Tư lệnh Bộ đội Biên phòng với tầm cao chiến lược, Trung tướng Trịnh Trân nhận thức sâu sắc rằng, biên giới - bờ biển, hải đảo, mảnh đất phên giậu của nước ta có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta mà trước hết là người dân nơi tuyến đầu biên giới đã đoàn kết một lòng, hy sinh xương máu để giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Từ thực tế sinh động của phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, ông đã cùng tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh tham mưu cho Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ ban hành Quyết định 16, lấy ngày 3/3 hàng năm là "Ngày Biên phòng toàn dân" huy động sức mạnh cả nước vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

Để cụ thể hóa ngày Biên phòng trong tình hình mới, Trung tướng Trịnh Trân ngày đêm trăn trở, cùng Bộ Tư lệnh đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 15, tăng cường chỉ đạo, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã, phường biên giới, biển đảo. Qua 17 năm thực hiện Ngày Biên phòng và 8 năm thực hiện Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ, thế trận biên phòng được củng cố và nâng lên tầm cao mới, phong trào bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, tạo thành sức mạnh to lớn để quân, dân biên giới ngày đêm vững vàng bám trụ nơi biên cương Tổ quốc.

Dấu chân của Trung tướng Trịnh Trân đã in đậm trên khắp nẻo đường biên giới, hải đảo với tâm niệm là xây dựng, củng cố và nâng cao hiệu quả phòng tuyến biên phòng. Trên 40 năm gắn bó với lực lượng, Trung tướng Trịnh Trân đã xây dựng cho Bộ đội Biên phòng lớp cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên trì bám đất, bám dân, vượt qua mọi hy sinh, thử thách, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

Tuy được Nhà nước cho nghỉ, nhưng Trung tướng Trịnh Trân vẫn dành thời gian nghiên cứu các tài liệu, tổng kết thành bài học, giúp cho Bộ đội Biên phòng những kinh nghiệm quý báu về công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Trải qua nhiều cam go thử thách, đảm nhận nhiều cương vị công tác khác nhau, Trung tướng Trịnh Trân là một vị Tư lệnh giỏi cả về chính trị và quân sự, luôn kiên định vững vàng trước phong ba, bão táp.

Tham khảo : Báo Điện tử Công an Nhân dân.


Tiêu đề: Thiếu tướng Dương Văn Dương, thiếu tướng đầu tiên của Nam Bộ
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:29:31 am
(http://img214.imageshack.us/img214/8516/thieutuongduongvanduong.jpg)

Thiếu tướng liệt sĩ Dương Văn Dương (1900- 8h30’ 16/1/1946), nguyên Khu Bộ phó Khu 7, Chỉ huy trưởng Bộ đội Bình Xuyên. Ông được truy phong Quân hàm Thiếu tướng (5/8/1948) và là Thiếu tướng đầu tiên của Nam Bộ.

Thiếu tướng Dương Văn Dương (thường gọi là Ba Dương) sinh ra trong một gia đình nghèo ở Cù lao Minh, tỉnh Bến Tre. Ông là con của cụ ông Ngô Văn Mà và cụ bà Dương Thị Biểu. Cụ Ngô Văn Mà có tinh thần chống Pháp, nên là đối tượng theo dõi của chính quyền Pháp thuộc. Mồ côi cha khi mới 3 tháng tuổi, Dương Văn Dương mang họ mẹ và theo mẹ tha phương cầu thực. Mẹ ông đi bước nữa, người cha kế thương ông như con ruột và nuôi dưỡng, đùm bọc ông thời niên thiếu ở cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, huyện Nhà Bè (nay là quận 7, thành phố Hồ Chí Minh). Chính vì vậy mà trước đây nhiều tài liệu vẫn ghi ông quê ở huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

Ông có tính tự lập cao và thích ngao du từ nhỏ. Hoàn cảnh nghèo nên ông nghỉ học sớm, xa gia đình khi vừa học xong cấp tiểu học nhưng vẫn lạc quan học ở trường đời và kiên trì trong cuộc sống lao động lương thiện, rày đây mai đó. Trong những năm sống lăn lộn ở khắp đồng ruộng Nhà Bè, Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Bến Tre… Ông không hề ngán ngại gian khổ, luôn vui sống trong cảnh “điếm cỏ cầu sương”, hòa lòng với tiếng hò trên sông nước. Ngao du đây đó, nhưng mỗi khi nghe có ông thầy nào có miếng võ gia truyền “độc chiêu” là ông liền tới làm quen, xin làm đệ tử. Ông có nhiều thầy nổi tiếng như thầy Ba Thi ở Chợ Lớn và thầy Sáu Lầu ở Bình Chánh rất giỏi quyền cước, thầy Bộ Dực ở Bình Khánh, Mỏ Cày, Bến Tre là bậc siêu đẳng về roi, … Nhờ vậy mà nghề võ của ông nổi trội hơn số anh chị ở Sài Gòn – Chợ Lớn.

Học được rồi thì truyền lại cho thanh niên quanh vùng. Dần dà dưới tay hảo hán Ba Dương có hàng trăm em út. Thời kỳ này, ở Nam bộ không chỉ có Ba Dương mà còn rất nhiều dân “anh chị” có “bệnh giang hồ” cũng muốn học làm hảo hán, theo gương những “anh hùng Lương Sơn Bạc”, như Hai Soái, Hai Vĩnh, Ba Bang, Ba Bay, Tư Ca Rê …

Năm 1936, khi người cha kế mất, Ba Dương trở về trụ lại ở cầu Rạch Đỉa làng Tân Quy, mở lò luyện võ và trở thành một võ hiệp giang hồ, dạy võ với tấm lòng giúp người dân lương thiện tự bảo vệ, không để ai ức hiếp. Tập hợp giới giang hồ mã thượng thực hiện tước đoạt của cải người giàu do bóc lột mà có để trang trải lại cho người nghèo. Riêng cuộc sống phong lưu của Ba Dương dựa vào mối khác: nghề “bảo hiểm bình dân” của giới anh chị là “bảo kê” cho dân thương hồ vận chuyển lương thực, hàng hóa từ lục tỉnh về Sài Gòn trên kinh Cây Khô.

Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tác động sâu sắc đến cuộc đời của Ba Dương. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Giặc Pháp đàn áp khốc liệt không những đối với cán bộ cách mạng mà cả với giới giang hồ. Năm 1941, Ba Dương bị Pháp bắt 2 lần và bị tra trấn dã man. Trong nhà tù của thực dân, Ba Dương mến phục tư cách các tù nhân chính trị nên chủ động làm quen và được tù chính trị cảm hóa.

Ra tù, Ba Dương phải lánh mặt ở một vùng hẻo lánh thuộc biên giới Việt Nam – Campuchia. Năm 1943, Ba Dương trở lại Tân Quy. Một bước ngoặt đã mở ra trong đời Ba Dương khi ông được các đảng viên cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ. Ba Dương thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của hảng đóng tàu Ni-chi-năn (Nhật) làm chỗ dựa, tập hợp, cảm hóa các nhóm giang hồ và truy tầm vũ khí.

Đang đứng giữ bến xe Pháp Ninh – Nam Vang thì thực dân Pháp ban hành tình trạng khẩn cấp, gom bắt hết các phần tử nguy hiểm như Cộng sản, Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư Sĩ và bắt luôn dân giang hồ, Dương Văn Dương phải chạy về Cần Giuộc. Không thoát khỏi chỉ điểm, Ba Dương bị bắt giải về quận. Tên chủ quận buộc Ba Dương nuốt cả một chùm tóc mới thả. Tóc cắt nhỏ uống vào người sẽ phá nát bộ tiêu hóa, gây cái chết lần hồi. Nhưng không còn cách nào khác, Ba Dương đành phải thi hành bản án. May mắn thay, Ba Dương có học trò trung thành lãnh về chạy thuốc gia truyền, nhờ đó mà không chết.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.

Cách mạng tháng Tám nổ ra, nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ.

Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh lực. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế.

Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước.

Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng…

Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4.

Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.

Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Hồ Chủ tịch vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu.

Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.


Tiêu đề: Thiếu tướng Dương Văn Dương, thiếu tướng đầu tiên của Nam Bộ
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:30:13 am
Tháng 10-1945, thực hiện chủ trương của đảng bộ, Ba Dương thuyết phục các băng nhóm thống nhất lại thành lực lượng vũ trang Nhà Bè do đích thân ông làm chỉ huy trưởng, Đinh Văn Nhị làm ủy viên chính trị, Từ Văn Ri tham mưu trưởng, quân số lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 súng, có 2 đại bác, 7 trọng liên 13,2 ly, 15 trung liên. Khác với quân của Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) chỉ lo bảo toàn lực lượng, chạy dài khi đối phương tấn công, bộ đội Nhà Bè chủ động đánh nhiều trận, trong đó có trận Cây Khô do Ba Dương trực tiếp chỉ huy, có sự phối hợp của bộ đội Tám Mạnh, phục kích tiêu diệt gọn đoàn tàu, diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, thu một tàu kéo, một xà lan và 4 ghe đầy lương thực, thực phẩm. Sau trận đánh, Khu bộ trưởng Nguyễn Bình gởi thư khen:

“…Toàn quốc nghe tin bộ đội Bình Xuyên đánh giặc dũng cảm. Các anh em xứng đáng với tên Giải phóng quân Nam bộ. Nhân danh Khu bộ trưởng, tôi gởi lời khen và số tiền 3.000 đồng để ủy lạo anh em.”

Giữa tháng 12-1945, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình thăm sở chỉ huy Bình Xuyên tại Phước An, quyết định bổ nhiệm Dương Văn Dương làm Khu bộ phó Khu 7 và giao nhiệm vụ Ba Dương chỉ huy một bộ phận quan trọng lực lượng Bình Xuyên xuống chi viện cho chiến trường Khu 8 ở đồng bằng sông Cửu Long, đánh giặc trên đường đi và thống nhất lực lượng vũ trang nơi đơn vị đến.

Theo yêu cầu chi viện của Khu bộ phó Khu 8 Trương Văn Giàu, đầu năm 1946, Ba Dương triệu tập hội nghị tại Rạch Su trình bày việc đưa quân xuống tăng cường chiến khu Bến Tre, tiếp cứu mặt trận An Hóa – Giao Hòa bị Pháp uy hiếp nặng. Thực hiện mệnh lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, Ba Dương chỉ thị chọn các đơn vị có thành tích lập liên quân gồm 5 đại đội đi Bến Tre, đích thân Ba Dương chỉ huy. Đơn vị liên quân tổ chức ăn tết trước đồng bào 3 ngày. Đêm 30 tết liên quân vượt sông Soài Rạp, xuyên qua Bình Phục Nhất, Chợ Gạo, vượt Cửa Tiểu qua An Hóa. Vừa đi vừa đánh tạo khí thế. Cánh Nhà Bè đánh Cần Giuộc, cánh Tân Thuận đánh Cần Đước, cánh Tân Quy đánh Chợ Trạm. Sau đó hợp quân tại Chợ Gạo trước khi hành quân vào Bến Tre. Nhưng khi đến bờ nam Cửa Tiểu thì được tin mặt trận An Hóa – Giao Hòa đã mất. Bộ chỉ huy quyết định tổ chức đánh đoàn tàu thực phẩm của địch, sau đó kéo quân về xã Châu Bình (Giồng Trôm) cùng hội quân với lực lượng Cộng hòa Vệ binh, Quốc gia Tự vệ cuộc của Trương Văn Giàu và Nguyễn Văn Quạn, bàn kế hoạch mở mặt trận đánh Pháp và phối hợp giải tán Đệ Tam Sư đoàn đã có hành động quân phiệt làm nhân dân ta thán.

Đang hội nghị thì được tin Pháp sắp tấn công. Đơn vị của Ba Dương ở ấp Bình Khương (Châu Bình) chưa kịp triển khai phòng tuyến thì bị bao vây tứ phía. Nhận thấy tình hình nguy ngập, một cán bộ tham mưu đưa ra một xấp giấy thuế thân để Ba Dương và một số anh em giả dạng thường dân bảo toàn lực lượng. Nhưng ônh xé giấy thuế thân và trả lời người cận vệ:

“Cảm ơn anh đã lo cho tôi, nhưng kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn. Tôi quyết không nghe theo lời anh”.

Hai chiếc Spitfire bắn phá dọn đường cho bộ binh Pháp. Ba Dương xoay quanh cây rơm sau nhà trú quân, vừa tránh đạn vừa ra lệnh cho đơn vị triển khai chiến đấu. Không may, Ba Dương trúng đạn hy sinh lúc 8 giờ 30 phút ngày 16 tháng Giêng năm Bính Tuất (1946), an táng tại Châu Bình và hài cốt được cải táng về nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh sau ngày miền Nam giải phóng.

Thiếu tướng Dương Văn Dương là tiêu biểu cho giới hảo hạn trọng nghĩa khí, vì quốc gia đại cuộc. Trong giới “hảo hán” theo cách mạng, có lẽ Ba Dương là người tiêu biểu cho sự tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên và cũng là người đại diện tiêu biểu có đóng góp cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng, mà mọi người vẫn gọi là sự nghiệp của quần chúng. Khi Ba Dương trở thành người chỉ huy quân đội, ông là vị chỉ huy gương mẫu, dũng cảm, được anh em tin yêu. Nhưng cuộc đời binh nghiệp của ông lại ngắn ngủi, để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với cán bộ chiến sĩ Bình Xuyên cách mạng và nhiều người ngưỡng mộ ông.

Dương Văn Dương có vóc người tầm thước, tính tình nghiêm nghị, ít nói, luôn có thái độ lễ phép, hòa nhã. Chính điều đó làm cho mọi người và số anh chị giang hồ phải kính nể. Thì ra, muốn làm anh chị không chỉ nhất thiết phải “hét ra khói, nói ra lửa” như những tay dao búa ở bến đò, bến xe. Điều căn bản là tài, đức phải đi đôi và Ba Dương hội đủ hai điều đó. Chẳng những thế, Ba Dương còn là người quân tử hiếm có. Có nhiều rất nhiều câu chuyện kể về ông, xin nêu ra đây hai câu truyện tiêu biểu cho tính cách của con người ông.

Trong một lần quân Pháp bất ngờ đánh úp một đơn vị bộ đội do Năm Hà (em cùng mẹ khác cha của ông), Năm Hà chưa đánh đã cho quân rút lui. Khi biết vậy, ôn rút sung bắn Nắm Hà và nói:

"Nhân dân che trở đùm bọc, ơn đó chưa trả nay Pháp tới chưa đánh mà đã chạy tội đáng chết."

Rất may là Năm Hà nhanh cho nên mới tránh kịp.

Trong cách mạng tháng Tám, viên Chủ quân lên trình diện chính quyền cách mạng chợt thấy Ba Dương nay là Chỉ huy trưởng, viên chủ quận mặt xanh như tàu lá, quỳ lại Dương Văn Dương như tế sao. Nhưng Ba Dương xử sự đúng người quân tử:

“Tội của ông lẽ ra tôi phải chặt 10 cái đầu mới hả dạ. Nhưng bây giờ đổi đời rồi. Ông mất hết chức hết quyền, trả thù là khi ông còn ngon lành kia, còn bây giờ tôi trả thù ông để làm gì?. Tôi tha chết cho ông đó…”.

Thái độ quân tử của Ba Dương làm cho chủ quận thức tỉnh, không hợp tác với Pháp khi Pháp quay lại tái chiếm Nam bộ, ngược lại còn động viên nhiều con cháu tham gia cách mạng.

Trong mật điện số 946/TRT năm 1946 gởi Khu 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chia buồn với gia quyến Dương Văn Dương. Năm 1947, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ quyết định lấy tên Dương Văn Dương đặt cho một con kênh đào dài nhất ở Đồng Tháp Mười (45 km) nối từ huyện Tân Thạnh (Long An) sang tỉnh Đồng Tháp. Kinh Dương Văn Dương thay cho tên Lagrange, nguyên là chủ tỉnh Long An thời Pháp thuộc. Ngoài ra, Trung đoàn 300 – Trung đoàn nam tiến đánh giặc giỏi còn được vinh dự mang tên Dương Văn Dương.

Khi còn đương thời, các tướng Trần Văn Trà, Tô Ký, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định…đều xem Dương Văn Dương là bậc đàn anh của các tướng lĩnh Nam bộ. Thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có tên Dương Văn Dương trong Bách Khoa Quân sự Việt Nam, mặc dù ông là thiếu tướng đầu tiên của Nam bộ và cuốn đại tự điển này được tái bản lần thứ hai. Ở Bến Tre (nơi ông sinh ra và hy sinh) và Nhà Bè, Quận 7 (nơi ông lớn lên, trụ lại và nổi danh Ba Dương) vẫn chưa có con đường nào mang tên ông – Dương Văn Dương.

Khi bản than có hỏi một anh bạn, vì anh này có cuốn Bách Khoa Quân sự Việt Nam, là xem có tên tướng Dương Văn Dương, tướng Huỳnh Văn Nghệ (Tám Nghệ, quân hàm cao nhất của ông khi rời quân đội là Thượng tá), tướng Bùi Cát Vũ trong đó không thì rất buồn là tên ba người đều không có. Những ai đọc tác phẩm người Bình Xuyên hẳn sẽ thấy tên họ được nhắc đến trong tác phẩm này. Thiếu tướng Dương Văn Dương thì qua phần tiểu sử này hẳn chúng ta cũng thấy rõ vai trò của ông như thế nào với Nam bộ trước, trong và sau cách mạng tháng Tám. Tướng Huỳnh Văn Nghệ thì nếu nói về Chiến khu Đ, về Nam Bộ kháng chiến thì không thể không nhắc tới, người đã làm điên đảo các tướng Pháp từng tham chiến trên chiến khu Đ. Còn tướng Bùi Cát Vũ người được mệnh danh là Trùm đại bác Đông Dương, người “thợ rèn sung” cho Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp và là một trong hai vị tướng pháo binh nổi tiếng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Rồi một vị tướng nữa (mặc dù quân hàm thực của ông là Đại tá) là Thân Trọng Một nổi danh ở Huế trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng không có tên trong đó.

Tham khảo: Trang Thông tin Điện tử tỉnh Bến Tre


Tiêu đề: Thiếu tướng Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:31:35 am
(http://img502.imageshack.us/img502/4850/thieutuongvuvancan.jpg)

Thiếu tướng Bác sĩ Vũ Văn Cẩn (15/10/1915-13/6/1982), nguyên: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Cục trưởng Cục Quân y đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngoài ra ông còn từng là: Bộ trưởng Bộ Y tế, Đại biểu Quốc hội từ Khóa 3 đến Khóa 7.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Giải thưởng nhà nước về Khoa học và Công nghệ.

Đại tá (1946), Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Vũ Văn Cẩn quê tại xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Năm 1936, ông tốt nghiệp tú tài, thi đỗ vào Đại học Y khoa Hà Nội và tốt nghiệp năm 1943 với luận văn "Góp phần nghiên cứu mổ quặm mi sẹo do mắt hột". Là một thanh niên có lòng yêu nước, sớm nhận thấy bản chất xâm lược của giặc Pháp, Nhật ông tích cực tham gia phong trào Hướng đạo Việt Nam trong Tráng đoàn Lam Sơn cùng với các tên tuổi như Phạm Biểu Tâm, Bửu Lư, Hồ Văn Huê, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Sĩ Dinh, Hoàng Đình Cầu, Lê Văn Phụng, Tú Vinh, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Tốt, Huỳnh Văn Nhu…

Từ năm 1942, ông giác ngộ và tích cực hoạt động trong Tổng hội Sinh viên mà ông là một trong những người góp phần sáng lập và tham gia lãnh đạo, kết hợp đấu tranh chính trị bài trừ giặc Pháp, Nhật, ủng hộ phong trào Việt Minh. Lãnh đạo Tổng hội sinh viên khi đó gồm các trí thức như Vũ Đình Hoè, Phan Anh, Dương Đức Hiền, Huy Cận, Vũ Văn Cẩn, Đỗ Đức Dục, Phan Mỹ... Ông nổi tiếng trong nhóm sinh viên yêu nước. Tờ báo "Tiếng gọi sinh viên thời đó, được coi như bó đuốc soi đường cho sinh viên, học sinh đương thời. Ông đặc trách mục: "Truyền bá vệ sinh và tân y dược học" trong tờ tạp chí Thanh Nghị, tờ báo có tiếng của giới tri thức Việt Nam. Ngoài ra, ông còn vận động sinh viên, học sinh tham gia phong trào truyền bá chữ quốc ngữ, tuyên truyền nếp sống vệ sinh trong nhân dân.

Cuối năm 1944, thực dân Pháp tập trung ông cùng một số bác sỹ vào Quân đội Pháp, được 3 tháng thì xẩy ra đảo chính Nhật - Pháp. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Pháp buộc ông chạy sang Trung Quốc, ông trốn được chạy về Hà Nội tiếp tục hoạt động trong Tổng hội sinh viên. Do chống đối thuyết Đại Đông Á của Nhật, ông bị phat-xít Nhật bắt giam tại Nhà Dầu SHELL (ở phố Trần Hưng Đạo).

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ông được giải thoát khỏi nhà giam. Ngày 24/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 66 cho phép Bộ Y tế được quyền trưng dụng các y bác sĩ, dược sĩ được vào làm việc trong các cơ quan của Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng ông được cử làm Giám đốc Ban y tế Giải phóng quân. Tháng 12/1945, Bộ trưởng Y tế đã quyết định thành lập Ban Y tế vệ quốc đoàn toàn quốc và cử ông làm Giám đốc đầu tiên. Tháng 3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34, tổ chức lại bộ máy Bộ Quốc phòng, thành lập các Cục trong Bộ Quốc phòng, trong đó có Cục Quân y; Sắc lệnh số 35 cử các Cục trưởng trong Bộ Quốc phòng và ông được cử giữ chức Cục trưởng Cục Quân y đầu tiên.

Ngày 25/3/1946, ông được phong quân hàm Đại tá theo sắc lệnh 35/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí. Trong điều kiện khó khăn về dụng cụ, thuốc men, ông đã tổ chức quyên góp thuốc men tại các Bệnh viện Đồn Thuỷ, Bạch Mai, xây dựng ngành quân y từ con số không mà lên, kịp thời phục vụ cứu chữa thương bệnh binh trong những ngày Thủ đô kháng chiến.

Ngày 21/1/1947, Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế đã triệu tập hội nghị liên tịch tại Việt Bắc, hội nghị quyết định xây dựng một chương trình phối hợp công tác giữa Quân y với Dân y trong các lĩnh vực sử dụng và điều động cán bộ, nhân viên, phân phối thuốc men, dụng cụ hiện có, đặt tại mỗi kỳ một Uỷ ban liên bộ Quốc phòng- Y tế để điều hành việc phối hợp hoạt động. Uỷ ban liên bộ ở Bắc kỳ do Bác sỹ Vũ Đình Tụng đại diện Dân y và ông là đại diện Quân y. Cũng trong năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi Cục Quân y chuyển lên Việt Bắc ông tham gia thành lập Phòng Quân y dược. Ông đã góp phần tạo dựng một đội ngũ cán bộ quân y kịp thời phục vụ các chiến trường ở các thời điểm ác liệt nhất. Trong kháng chiến chống Pháp từ năm 1947 đến năm 1954, ông cũng trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch phục vụ cứu chữa bộ đội từ chiến dịch Biên Giới, Trung Du đến chiến dịch Điện Biên Phủ.

Hòa bình được lập lại trên miền Bắc, năm 1960,ông được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ y tế. Bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1965 ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu Cần kiêm Cục trưởng Cục Quân y. Sau đó, năm 1971, ông giữ chức quyền Bộ trưởng Bộ y tế. Ông đặc biệt quan tâm đầu tư để phát triển ngành Quân y lớn mạnh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam và chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Trong kháng chiến chống Mỹ, sự kết hợp Quân y và Dân y ngày càng được hoàn thiện cả về lý luận và hình thức tổ chức.

Đất nước thống nhất, từ năm 1975 đến năm 1982 được cử giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ y tế. Trong điều kiện thời bình, ông quan tâm chỉ đạo công tác kết hợp Quân Dân y toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, nhưng thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực phòng chống dịch bệnh, cấp cứu và cứu chữa nạn nhân khi có thiên tai, thảm hoạ... và đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ nhân dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số.

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là một pho sử bằng vàng, trong đó lịch sử chống ngoại xâm là những trang sử vẻ vang nhất và chói lọi nhất. Chính hoàn cảnh lịch sử ấy đã đòi hỏi phải có lực lượng vũ trang nhân dân làm lực lượng nòng cốt của cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang nhân dân là con em của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ. Cũng chính hoàn cảnh đó đã dẫn đến một tất yếu phải có người làm công tác y tế trong lực lượng vũ trang (sau đây gọi chung là Quân y), do vậy Quân y cũng từ Dân y mà ra. Kết hợp Quân Dân y là một yêu cầu lịch sử trong thời chiến khi mà toàn dân, toàn quân ta đồng tâm, hiệp lực, đoàn kết để đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc. Kết hợp Quân Dân y là một lĩnh vực trong chiến lược kết hợp Quân Dân. Kết hợp Quân Dân y còn là một đòi hỏi tự nhiên của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Kết hợp Quân Dân y trong quá trình cách mạng là sự kết hợp của hai bộ phận có cùng một nguồn gốc, có cùng một mục đích là chăm sóc sức khoẻ nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, kết hợp Quân Dân y là một sự kết hợp toàn diện, lâu dài và vững chắc. Vai trò của Thiếu tướng Bác sĩ Vũ Văn Cẩn, người nhiều năm giữ chức vụ Cục trưởng Cục Y tế rồi Bộ trưởng Bộ Y tế, trong công tác này không nhỏ. Trong thời kì hiện nay, mô hình Quân dân Y kết hợp “Kết hợp Quân Dân y xây dựng nền quốc phòng toàn dân và phục vụ sức khoẻ nhân dân” (Chương trình Y tế 12 giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế) với mô hình kết hợp ở 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã và những nội dung hoạt động cơ bản là tham gia củng cố y tế cơ sở, phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh và đào tạo cán bộ y tế đã trực tiếp phát huy thành quả và mô hình được đề ra bởi các bậc tiền nhiệm mà Thiếu tướng Bác si Vũ Văn Cẩn là một trong những người đi tiên phong.


Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên, vị tướng Bắc trên chiến trường khu 6
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:33:47 am
(http://img812.imageshack.us/img812/6256/thuongtuongnguyentrongx.jpg)

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên (1926) nguyên : Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 3, Tư lệnh Quân khu 6, Trưởng đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Cuba. Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa 6, 7), Đại biểu Quốc hội (khóa 8, 9).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Che Guevara của Nhà nước Cuba, Huy chương Vì sự nghiệp công tác Tổ chức Xây dựng Đảng, Huy chương Vì sự nghiệp Dân vận, Huy chương Vì sự nghiệp Công đoàn, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng Phụ nữ, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa tư tưởng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học - Công nghệ - Môi trường, Huy chương Vì sự nghiệp Chăm sóc và Bảo vệ trẻ em, Huy chương Vì sự nghiệp giai cấp Nông dân Việt Nam, Huy chương Vì sự nghiệp Y tế Việt Nam.

Thiếu tướng (1983), Trung tướng (1988), Thượng tướng (1992).


Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Mảnh đất Kim Động quê hương ông cũng là quê hương của 7 vị tướng trong Quân đội Nhân dân Việt Nam như Đại tướng Nguyễn Quyết (theo quan hệ họ hàng thì ông phải gọi bằng cậu), Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo. Khi ông mới được ba tháng tuổi cha ông mất do bệnh tả vì cõng người anh họ bị bệnh tả về nhà để anh họ không phải chết ở nơi đất khách quê người (cha ông là người duy nhất trong dòng họ đủ can đảm để làm điều này). Mẹ ông tần tảo nuôi một mẹ chồng già và một con thơ.

Năm ông 13 tuổi, vì không thể tiếp tục cho ông ăn học lên nữa mẹ ông đem cầm cố mảnh ruộng duy nhất của gia đình lấy tiền cho ông sang Phnôm Pênh. 2 năm sau, mẹ ông mất vì bệnh tật trong nghèo khó. Mãi đến tận đầu năm 1944, khi bà nội mất, ông mới có dịp theo chân chú về quê. Trở lại Phnôm Pênh, ông theo học nghề tại một xưởng may. Tại đây, ông có dịp tiếp xúc với một số người bị cách li khỏi cộng đồng bạn nghề vì là Đảng viên Đảng Cộng sản. Cuối năm 1944, chứng kiến cảnh những người Việt yêu nước đang là công chức tại các sở ở Phnom Penh sẵn sàng vứt bỏ tất cả để về quê hương chiến đấu chống Pháp, ông quyết định xin đi theo. Trong những ngày đầu ở đất Sài Gòn, ông theo những bậc đàn anh tin tưởng vào thuyết Đại Đông Á sát cánh cùng quân Nhật chống Pháp. Khi Nhật đã hất cẳng Pháp, chứng kiến cảnh quân Nhật lật lọng lời nói "trao trả độc lập lại cho Việt Nam" và được giác ngộ về phong trào Việt Minh, ông rủ mọi người trốn khỏi trại lính Nhật để thành lập đơn vị theo Việt Minh.

Trong những ngày Cách mạng tháng 8, mới 19 tuổi, ông đã đảm nhận chức vụ Trung đội phó của Chi đội Nguyễn Văn Vĩnh, lúc mà cao điểm nhất quân số lên tới 800 người với khoảng 500 khẩu súng các loại. Trong Kháng chiến chống Pháp, từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1946, ông là chiến sĩ rồi trung đội phó thuộc Trung đoàn 80, 83. Từ năm 1948 đến năm 1949, ông là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 121, Trung đoàn 80, 83 Khu 6 sau thuộc Liên khu 5. Từ năm 1950 đến năm 1953, ông là Tiểu đoàn phó, Thị đội trưởng Thị đội Nha Trang. Tháng 1 năm 1954, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 88. Cho đến tháng 8 năm 1954, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 96, Đại đoàn 305.

Từ tháng 9 năm 1954 đến năm 1960, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Sư đoàn 305; Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Sư đoàn 305 rồi Lũ đoàn 305. Năm 1959, ông được cử đi học tại Trường Trung cao Quân sự của Bộ Quốc phòng.

Bước vào cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1960 ông được giao nhiệm vụ vào chiến trường B2 chiến đấu. Từ năm 1961 đến năm 1975, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng Quân khu 6, Phó ban Quân sự Khu 10, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu ủy Khu 6, Quân khu Ủy viên và là Thường vụ Đảng ủy (7.1969),  Trưởng đoàn Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên Khu vự 4 (Phan Thiết).

Sau ngày miền Nam hoàn toàn thống nhất, khu 5 và khu 6 sát nhập trở thành khu 5, từ 12/1975 tới 1976, ông là Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Thuận Hải và là Thường vụ tỉnh ủy. Ông được cấp trên giao cho nhiệm vụ chỉ huy bộ đội làm kinh tế (trồng bông) nhằm cung cấp 1/6 nhu cầu may mặc của nhân dân sau ngày giải phóng. Sau đó, trong một lần vào làm việc tại tỉnh Thuận Hải, thấy Tư lệnh Khu 6 một thời đang khó nhọc chỉ đạo công tác trồng bông, Đại tướng Văn Tiến Dũng điều ông ra Hà Nội tham và được cử đi học khóa 1 Học viện Quân sự cấp cao (1977), rồi Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc.

Sau khi tốt nghiệp, từ tháng 3/1979 đến năm 1985, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 3, phụ trách công tác quân sự địa phương, kinh tế và tài chính. Thời kì đó, Quân khu 3 trở thành một điển hình về phong trào ‘’làm giàu, đánh thắng’’ kết hợp tốt giữa quân sự, an ninh quốc phòng và kinh tế, là điển hình cho nhiều quân khu trong cả nước học tập và được bạn bè quốc tế đánh giá cao.

Năm 1983, ông tiếp tục được cử đi học lớp nâng cao tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Sau chuyến thăm của Đoàn đại biểu Quân sự Cuba tại Quân khu 3, ông được điều sang Cuba làm Trưởng đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam (đoàn 385) tại đây (tháng 3 năm 1985). Những đóng góp của ông với Nhà nước Cuba đặc biệt là trong lĩnh vực kết hợp Quốc phòng và Kinh tế được đánh giá bằng tấm Huân chương Che Guevara của Nhà nước Cuba do đích thân Chủ tịch Phidel trao tặng. Sau khi về nước, tháng 4 năm 1986 ông là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 3. Từ năm 1988 đến năm 1999 ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ năm 1988 đến năm 1993, ông kiêm chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), ông được bầu làm Uỷ viên (chính thức) Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt . Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), ông được bầu là Uỷ viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng và được cử làm Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương (1991-1996). Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên là đại biểu Quốc hội khoá VIII, khoá IX.

Tham khảo: Theo Báo Công an Nhân dân, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương, Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:35:19 am
(http://img856.imageshack.us/img856/9208/huynhdachuong.jpg)

Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương (1922), nguyên : Trưởng đoàn chuyên gia kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1972-1975), Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc (1968-1971), Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên (1965-1967), Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị (1958).

Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ thương binh và xã hội (1975-1978 và 1984-1990). Ông cũng từng là cố vấn cho các ông Khăm-tày Xi-phăn-đon, Cay-xỏn Phôn-vi-hẳn hai lãnh tụ của Cách mạng Lào. Hiện nay, ông là Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Quân tình nguyện và chuyên gia tại Lào.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỷ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Độc lập hạng Nhất do Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng.

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tư­ớng Huỳnh Đắc H­ương sinh tại phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936 tại Hội An, Quảng Nam, trong Phong trào Thanh niên Dân chủ, thời kì Mặt tộc Dân tộc Dân chủ. Tháng 10 năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt và giam 4 tháng tại nhà lao Quảng Nam.

Chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, vì lo sợ chiến tranh và đường đi châu Âu bế tắc, nhiều người Pháp và người Việt lên Lâm Đồng. Nhiều công trình được xây dựng, nhiều đồn điền được mọc thêm, nhất là ở dọc đường 20. Thực dân Pháp có ý đồ xây dựng Đà Lạt thành thủ đô chính trị ở Đông Dương và là nơi cố thủ chống Nhật. Vì vậy công nhân và người dân tộc đi làm thuê tăng lên. Dân số Đà Lạt từ 11.500 năm 1939 tăng lên 25.000 năm 1944, trong đó có 5.000 người Pháp. Tháng 10-1940, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 7 nhận định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là đế quốc phát xít Nhật - Pháp và đề ra nhiệm vụ Cách mạng Việt Nam là chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Phong trào Cách mạng trong nước phát triển. Ngoài Bắc có khởi nghĩa Bắc Sơn, Đô Lương. Trong Nam có khởi nghĩa Nam kỳ.

Sau khi ra tù, đầu năm 1941, ông cùng các ông Võ Văn Đặng, Trần Duy Mãi từ Hội An - Quảng Nam đến Đà Lạt liên lạc với các nhà cách mạng còn lại ở nhóm Tiến bộ-là một nhóm cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, lúc này ở xóm Lò gạch. Tại Đà Lạt, các ông vừa đi làm thuê, vừa vận động quần chúng và đã gây cảm tình với số đông công nhân mà đa số đã tham gia phong trào Dân tộc Dân chủ trong thời kì Mặt trận bình dân ở Đà Lạt 1936-1939. Vì không có liên lạc được với cấp trên nên chưa biết tổ chức, hoạt động thế nào trong tình hình mới. Ngày 1-5-1941, các ông tổ chức mitting tại công trường xây dựng. Cuối năm 1941, các ông lại về Hội An bắt liên lạc, và được kết nạp vào Đảng ngày 5 tháng 1 năm 1942.

Tại Quảng Nam, ông Võ Văn Đặng liên lạc được với ông Trương Văn Hoàn là Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ đang công tác tại đây. Sau khi nghe ông Võ Văn Đặng báo cáo tình hình Đà Lạt, ngày 24/2/1942, ông Trương Văn Hoàn thay mặt Xứ ủy thành lập chi bộ đặc biệt tại Đà Lạt gồm ông Võ Văn Đặng làm bí thư, ông Trần Duy Mãi và ông-Huỳnh Đắc Hương.

Trở lại Đà Lạt, ông cùng hai đồng chí của mình mang theo nhiều tài liệu và truyền đơn rồi họp chi bộ trên đồi cỏ cạnh sân đánh cù Đà Lạt để bàn công tác. Sau đó, trong lúc ông cùng các đồng chí của mình tiến hành gây lại phong trào Cách mạng thì cơ sở ở Quảng Nam bị vỡ, tháng 9/1942 thực dân Pháp truy nã và bắt ông cùng ông Võ Văn Đặng giam tại nhà giam Đà Lạt, nhưng sau đó ông trốn thoát được. Tháng 2 năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ Ba tại nhà lao Hội An, song ông tiếp tục vượt ngục trốn thoát, về hoạt động và gây dựng cơ sở ở Tiên Phước, Quảng Nam. Tháng 3 năm 1945, ông là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam.

Trong cách mạng tháng Tám 1945, ông là thành viên Ban vận động giành chính quyền Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Tháng 10/1945, ông được điều vào công tác trong Quân đội, là Hiệu trưởng Trường Quân chính Quảng Nam (10.1945), Chính ủy Trung đoàn 98 Quảng Nam rồi Trung đoàn 73 Quảng Ngãi (2.1948), Phó Phòng Chính trị Liên khu 5 (10.1948), Phái viên Bộ Tư lệnh Liên khu 5 (3.1952), rồi tiếp tục quay về giữ chức vụ Phó Phòng Chính trị Liên khu (3.1953).

Tháng 8 năm 1954, ông là Trưởng đoàn  Liên hiệp đình chiến Liên khu 5, rồi lên đường ra Bắc tập kết. Từ tháng 7 năm 1956 đến tháng 4 năm 1965, ông là Cục phó rồi Cục trưởng (1958) Cục Tổ chức trực thuộc Tổng cục Chính trị, Trưởng Đoàn kiểm tra tình hình Nam Lào (1963), Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên (5.1965), Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc (7.1967) phụ trách phối hợp với Bộ đội Pa-thét tại Thượng Lào, Chính ủy Mặt trận Cánh đồng Chum, Lào (5.1969), Chính ủy rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận 959 (8.1970), Chính ủy Bộ Tư lệnh Chiến dịch Cánh đồng Chum (1971), Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào (2.1972), là cố vấn cho các ông Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào), Khăm-tày Xi-van-đon (Tổng Chỉ huy Bộ đội Pa-thét Lào) là một trong hai lãnh tụ của Cách mạng Lào., Chính ủy Quân khu 4 (18.6.1974). Trong thời gian tham gia chiến đấu tại Chiến trường Lào, ông đã cùng các cán bộ quân sự Việt Nam cùng với chỉ huy bộ đội Pa-thét Lào tham gia và chỉ huy các chiến dịch lớn quan trọng ở đây như : Chiến dịch Cánh đồng Chum giải phóng Cánh đồng Chum, Sảm Thông, Loọng Khẹt, Chiến dịch Thà Khẹt…

Đất nước thống nhất, từ cuối năm 1975 đến năm 1978, ông chuyển ngành sang làm Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, từ n23 tháng 3 năm 1979 đến tháng 4 năm 1984, với những kinh nghiệm nhiều năm chỉ huy quân sự trên biên giới phía Bắc, ông được điều lại Quân đội trên cương vị Phó Chỉnh ủy kiêm Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 2. Tháng 12 năm 1982 ông chuyển công tác về Bộ Lao động - Thư­ơng binh và Xã hội tiếp tục giữ chức vụ Thứ trưởng và nghỉ h­ưu năm 1990. Hiện nay, ông là Tr­ưởng ban liên lạc cựu chiến binh Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào.

Thiếu tướng Huỳnh Quốc Hương luôn có mặt tại Lào trong những thời điểm khó khăn nhất, tại những mặt trận khó khăn nhất của công cuộc Cách mạng trên đất nước Triệu Voi. Lần thứ nhất là vào năm 1963 khi ông đi kiểm tra tình hình Nam Lào rồi liên tiếp trong các năm từ 1965 đến 1967 trên cương vị Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên phối hợp với Mặt trận Hạ Lào. Đây là thời điểm Mỹ đổ quân vào Việt Nam trực tiếp tiến hành chiến tranh tại Việt Nam nói riêng và ba nước Đông Dương nói chung. Mặt trận Tây Nguyên và Nam Lào là những nơi quan trọng nhằm khống chế ngã ba Đông Dương. Lần thứ hai từ năm 1969 đến năm 1975, ông được điều lên làm Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc rồi là Trưởng đoàn chuyên gia và Chính ủy Bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào. Đây là giai đoạn cuối mang tính quyết định đồng thời cũng là giai đoạn khó khăn nhất của Cách mạng Lào. Chính phủ Liên hiệp bị phá vỡ đồng thời Mỹ sử dụng lực lượng của tướng phỉ Vàng Pao khống chế khu vực Cánh đồng Chum, đặt đài quan sát hướng dẫn máy bay ngay tại đây nhằm khống chế toàn bộ ba nước Đông Dương. Ông có mặt bên cạnh các lãnh tụ của Cách mạng Lào nhằm đối phó với âm mưu thâm độc của Mỹ và tay sai, giữ vững bảo vệ đồng thời mở rộng căn cứ kháng chiến của bộ đội Pa-thét Lào. Cuối năm 1975, trước khi ông về nước, ông Khăm-tày Xi-van-đon có tặng ông một thanh kiếm với lời nhắn nhủ " Đây là tượng trưng cho tinh thần thượng võ của nhân dân các bộ tộc Lào gửi gắm cho người bạn tin cậy Việt Nam"

Những năm làm nhiệm vụ quốc tế và sát cánh với nhân dân các bộ tộc Lào ông đã làm tròn những gì mà Bác Hồ dậy ‘’Làm cách mạng giúp bạn cũng là giúp mình’’. Một trong những chi tiết cảm đông là trong lần thứ hai nhận nhiệm vụ chiến đấu bên Lào, cũng là thời điểm Bác mất. Ông lên đường nhận nhiệm vụ vào đúng hôm Bác ra đi. Cho nên, đọc hồi kí ‘’Ngày Bác ra đi’’ của ông hết sức xúc động.

Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát, Tư lệnh Hải quân thời chống Mỹ
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:36:55 am
(http://img830.imageshack.us/img830/5349/nguyenbaphat.jpg)

Thiếu tướng Anh hùng Nguyễn Bá Phát (Bảy Phát hay Hồng Hải, 2/5/1921-1993), nguyên : Ủy viên Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân chủng Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam (1964-1975), Tư lệnh Hải quân tiền phương trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (5/1975), Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, Phó Cục trưởng Cục phòng thủ bờ biển (nay là Cục Hải quân) (1955-1964), Tham mưu trưởng Liên khu 5. Ông là một trong những vị tướng chỉ huy đầu tiên có công xây dựng và phát triển Quân chủng Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đồng thời là vị tư lệnh của Quân chủng này trong suốt những năm tháng Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một vị tướng có công đầu đối với Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Ngoài ra ông cũng từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Thủy sản (1976-1987), Đại biểu Quốc hội các khóa (III, IV, V, VI).

Huân chương : Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Chiến công hạng Nhất, Chiến thắng hạng Nhất, Kháng chiến hạng Nhất… Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân tháng 5 năm 2010.

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát sinh ra tại thôn Trung Sơn, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Trước Cách mạng ông từng là lính thủy trong quân đội Pháp. Là một thanh niên yêu nước, được giác ngộ, tháng 7/1945, ông tham gia Đội tự vệ bí mật của Việt Minh chuẩn bị giành chính quyền ở tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử làm Ủy viên Ủy ban Nhân dân lâm thời xã Trung Sơn kiêm chỉ huy trưởng quân sự tổng Thái Hòa, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Tháng 9 năm 1945, ông gia nhập Quân đội giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Thủy đội Bạch Đằng đánh quân Nhật tại nhà băng Quy Nhơn, phá đập Khánh Hòa…cho đến trước ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946.

Trong Kháng chiến chống Pháp ông tham gia chỉ huy bộ đội lập nhiều chiến công tại Chiến trưởng Liên khu 5 và Tây Nguyên. Từ năm 1946 đến năm 1949, ồng từng giữ các chức vụ : Chi đội phó Chi đội Phan Đình Phùng, Chỉ huy trưởng Mặt trận Buôn Ma Thuột và đường số 14, Phó chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn (96, 73, 126). Từ năm 1950 đến năm 1954, khi cuộc Kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn mới-giai đọan phản công, ông lần lượt giữ các chức vụ : Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Tham mưu trưởng Mặt trận Bắc Tây Nguyên (hay còn gọi là Mặt trận Buôn Mê Thuột), Sư đoàn trưởng Sư đoàn 305, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Liên khu 5.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc và được cử làm Đại đoàn phó Đại đoàn Quân tiên phong (Sư 308) tháng 10 năm 1954 và sau đó được điều về Ban nghiên cứu Thủy quân trực thuộc Bộ Quốc phòng. Năm 1955, Cục Phòng thủ bờ biển (tiền phong của cục Hải quân) được thành lập, ông được cử làm Cục phó. Năm 1958, ông được phong Quân hàm Đại tá. Sau phong trào Đồng Khởi, cuối năm 1961 có sáu đoàn tàu từ các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Bà Rịa…ra Bắc an toàn. Trước chủ trương chiến lược thành lập tuyến đường trên biển nhằm chi viện cho quân dân miền Nam, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy việc nghiên cứu, đóng và tổ chức đoàn tàu không số.

Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam được thành lập, tháng 1 năm 1964 ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh Quân chủng. Ngay trong tháng 12 năm 1964, ông được cử làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân kiêm Tư lệnh Quân khu Đông Bắc (sau khi sát nhập), Ủy viên Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng. Năm 1974, ông được phong Quân hàm Thiếu tướng. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông được cửa làm Tư lệnh tiền phương Hải quân Việt Nam tham gia chỉ huy chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường thủy, trực tiếp chỉ huy các Đoàn (125,126 Hải quân) giải phóng Quần đảo Trường Sa…

Sau ngày đất nước thống nhất ông chuyển ngành giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ thủy sản kiêm Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ từ 9/1976 đến năm 1987 (là năm ông về hưu), và mất tại Đà Nẵng năm 1993.

Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát là vị tướng trưởng thành từ một người lính thủy Pháp. Là một người yêu nước được giác ngộ cách mạng, ông đã sớm tham gia chỉ huy lực lượng thủy quân Việt Nam tại chiến trường Liên khu 5 ngay từ năm 1945-ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công trước khi Quân chủng Hải quân được thành lập rất lâu.

Ngoài ra ông còn là một vị tướng có công đầu đối với sự hình thành và phát triển của Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam anh hùng từ ngày đầu thành lập đến khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc. Là một vị tướng chỉ huy Hải quân trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ và là Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, ông có những cống hiến không nhỏ đối với việc xây dựng đoàn tàu không số, chỉ đạo và phát triển đường mòn Hồ Chí Minh trên biển chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam, bảo vệ và phòng thủ bờ biển cũng như chống chiến tranh phá hoại và âm mưu phong tỏa bờ biển của đế quốc Mỹ đảm bảo tiếp nhận an toàn hàng viện trợ của nhân dân tiến bộ và các nước trên Thế giới.

Ông cũng là một trong các vị tướng được Bác Hồ tặng đồng hồ của Người vì tầm quan trọng đặc biệt của công việc ông làm. Xin trích câu nói của Bác trong tập hồi kí của Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát để nói lên mối quan tâm đặc biệt của Bác Hồ đối với ông: "Chú là "gốc" lính thủy Pháp, chú có nhiều kinh nghiệm đi biển, đánh thắng thằng Mỹ này phải khác với đánh thắng thằng Pháp. Chú đã có công quật ngã thằng Pháp ở dưới mặt biển, thì bây giờ chú phải quật ngã tiếp thằng Mỹ xâm lược này nữa chứ, chú Phát ".

Tham khảo : Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, vị tướng đầu tiên của Quân đội ta
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:40:25 am
(http://img820.imageshack.us/img820/3264/thieutuonglethiethungoz.jpg)

Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (1908-1986), nguyên: Tư lệnh Binh chủng Pháo binh (1954-1963) (đầu tiên), Hiệu trưởng Trường Lục quân Việt Nam (1950-1954), Cục trưởng Cục Quân huấn, Hiệu trưởng Trường bổ túc cán bộ Quân đội trung cấp, Chỉ huy mặt trận Bắc Kạn-Tuyên Quang, Tổng thanh tra Quân đội, Tổng chỉ huy Tiếp phòng quân (3/1946), Khu trưởng Khu 4 (12/1945). Ông được coi là vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ: Đại sức đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Phó ban Đối ngoại Trung ương.

Thiếu tướng (1945-theo sắc lệnh số 185, ngày 24/9/1945 do Bộ trưởng Bộ nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Huỳnh Thúc Kháng, và là vị tướng đầu tiên của Quân đội)

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 1999), Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, Huy chương Quân kỷ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...


Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (tên thật là Lê Văn Nghiệm, ngoài ra ông còn có tên khác là Lê Quốc Vọng, Lê Như Vọng, Lê Trị Hoàn), sinh trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, xã Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Cha ông là Lê Văn Nghiệm (tức Lê Bá Thi, người đã tham gia khởi nghĩa Phan Đình Phùng, sau đó ủng hộ phong trào Đông du của Phan Bội Châu).

Nối trí cha xuất dương tìm đường cứu nước
Gặp lãnh tụ, Lê Như Vọng theo cách mạng


Đầu năm 1923, vừa qua tuổi thiếu niên, được người cha khích lệ, Lê Văn Nghiêm đã cùng một đoàn 12 người sang Thái Lan, do ông Võ Trọng Ba, hội viên Quang Phục hội, dẫn đầu. Trong đoàn này có những người sau này rất nổi tiếng như Lê Huy Doãn (tức Lê Hồng Phong-chú họ của Lê Thiết Hùng) và Phan Đài (tức Phạm Hồng Thái)… Ông Lê Văn Nghiêm đã tiễn con trai một quãng đường dài. Để có tiền ăn đường, vợ chồng ông đã phải cầm một sào ruộng lấy mười đồng bạc. Trước khi ông lên đường, cha ông đổi tên ông thành Lê Như Vọng.

Một năm sau, Tâm Tâm xã (tổ chức vừa tách ra từ Quang Phục hội, được ông Lý Thuỵ-tức lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-hướng dẫn đi theo con đường cách mạng mới), từ Trung Quốc gửi thư về triệu tập một số thanh niên ưu tú nhất sang Quảng Châu hoạt động. Vì không đủ tiền lộ phí, nên chỉ có 3 người là Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái và Lê Quảng Đạt đi trước… Thật bất ngờ, chỉ vài tháng sau đó, tiếng bom của liệt sĩ Phạm Hồng Thái cho nổ ngày 18-6-1924, nhằm giết tên toàn quyền Pháp Méclanh, đã dội về làm chấn động toàn cõi Đông Dương…

Mùa thu năm 1924, Lê Như Vọng cùng một người nữa là Trương Văn Lĩnh đến lượt được chọn. Hai người bí mật đến Băng Cốc rồi lên tàu biển đi Hồng Công. Sau đó, họ đáp canô đến Quảng Châu…Hai người ở Quảng Châu được ít ngày thì được ông Lý Thụy tìm gặp. Sau khi tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của mỗi người và tình hình trong nước, ông Lý Thuỵ đã hướng dẫn họ tự học bằng cách đọc các loại sách báo Trung Quốc…Sau đó, ông Lý Thụy giới thiệu ông vào Thanh niên Cách mạng đồng chí hội.

Vào Hoàng Phố tính sau này giúp cách mạng
Quảng Châu khởi nghĩa, may không bại lộ


Mùa hè năm 1925, Trường võ bị Hoàng Phố khai giảng khoá mới. Để có điều kiện học thêm tiếng Trung Quốc và tìm hiểu kiến thức quân sự sau này phục vụ cách mạng, Lê Như Vọng và một số thanh niên yêu nước Việt Nam khác được tổ chức bố trí dự thi và đã trúng tuyển. Hồi đó, Trường quân sự Hoàng Phố là một trường võ bị của Quốc dân đảng, do Chính phủ của ông Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) lập ra và có khá nhiều đảng viên Cộng sản tham gia lãnh đạo (trong đó có Chu Ân Lai). Hiệu trưởng nhà trường lúc ấy là Tưởng Giới Thạch và Giám đốc là Lý Tế Thâm. Nhà trường được tổ chức theo mô hình của Hồng quân Liên Xô, do các chuyên gia quân sự Liên Xô giảng dạy, và phần lớn trang bị kỹ thuật đều do Liên Xô giúp đỡ… Đó là điều làm Lê Như Vọng phấn khởi nhất, vì ông có mơ ước được sang Liên Xô từ lâu mà chưa có điều kiện.

Sau cái chết của ông Tôn Dật Tiên (3-1925)-người đứng đầu Quốc dân đảng-Tưởng Giới Thạch bắt đầu phản bội lại đường lối “thân Nga, dung Cộng, phù trợ công nông” và thực hiện mưu đồ tiếm quyền lãnh đạo Quốc dân đảng. Lợi dụng cương vị Tổng Tư lệnh quân đội và Hiệu trưởng Trường võ bị Hoàng Phố, Tưởng đã nhiều lần điều học viên đi tiễu phạt các đơn vị không chịu phục tùng ông ta… Và khoá của Lê Như Vọng đã bị điều đi đánh nhóm quân phiệt Trần Quýnh Minh… Trong số 700 học viên theo học Trường võ bị Hoàng Phố cùng khoá đó thì có tới gần 100 là người Việt Nam. Đa số đó là những thanh niên cách mạng, nhưng cũng có cả một số phần tử cơ hội, phản động của Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần đưa vào, nhằm tự đề cao uy tín và chuẩn bị cho các hoạt động của họ về sau…

Nguyễn Hải Thần tự xưng là chủ tịch một bộ phận Quốc dân đảng ở Quảng Châu và đưa tướng phỉ Đàm Dăm Tây ở biên giới Việt-Trung về làm chỉ huy quân sự. Nguyễn Hải Thần nhiều lần tỏ ý muốn lôi kéo toàn bộ số thanh niên Việt Nam đang theo học Trường võ bị Hoàng Phố phục vụ tổ chức này. Lê Như Vọng đã báo cáo với cấp trên, đề nghị cho phá tan âm mưu của tổ chức phản động này vì họ chỉ quen ăn cướp, đầu cơ chính trị, đã lôi kéo, lừa phỉnh được khá nhiều người… Ông Lý Thuỵ đã ủng hộ kế hoạch đó và ông đã thành công. Hai ngày sau, ông Lý Thụy tìm gặp ông biểu dương và quyết định giới thiệu ông vào Đoàn Thanh niên Cộng sản và đặt tên cho ông là Lê Quốc Vọng.

Ngày 11-12-1927, cuộc khởi nghĩa Quảng Châu đã nổ ra. Lực lượng chính là thợ thuyền, binh lính dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã vùng lên giành được chính quyền trong ba hôm. Một số chiến sĩ cách mạng Việt Nam, trong đó có Lê Quốc Vọng, đã sát cánh chiến đấu cùng những người Cộng sản Trung Quốc với tình cảm quốc tế cao cả. Nhưng do lực lượng quá chênh lệch, lực lượng Quốc dân đảng dưới sự yểm hộ của hạm đội phương Tây đã phản công khiến cho cuộc khởi nghĩa mau chóng thất bại và bị dìm trong biển máu. Rất may là Lê Quốc Vọng chưa bị lộ. Sau cuộc khởi nghĩa bất thành, ông đã cùng các học viên khác của trường chuyển lên Nam Kinh tiếp tục học tập và đã tốt nghiệp loại ưu…

Nhập quân Tưởng, làm tình báo giúp bạn
Gặp nhân sĩ, lấy tin từ Bộ tổng


Sau khi tốt nghiệp ông nhận quyết định bổ nhiệm sĩ quan trợ lý tham mưu trung đoàn trong quân đội Tưởng, Lê Quốc Vọng rất băn khoăn: Theo kế hoạch, sau khi học xong Trường võ bị Hoàng Phố, ông sẽ được bố trí đi Liên Xô học tập tiếp hoặc trở về Tổ quốc phục vụ cách mạng. Bây giờ tính sao đây? Đang bối rối thì có chỉ thị của ông Lý Thuỵ: Tình hình đã thay đổi. Đảng Cộng sản Trung Quốc bị thiệt hại nặng nề sau một số cuộc khởi nghĩa bất thành. Bạn chính thức đề nghị ta giúp đỡ, cụ thể là cài người vào hàng ngũ quân đội Tưởng. Bởi thế, Lê Quốc Vọng sẽ không đi Liên Xô học tập và cũng không về nước. Tổ chức yêu cầu ông nhận nhiệm vụ làm sĩ quan Quốc dân đảng. Ông cần tích luỹ thêm kinh nghiệm để sau này trở về phục vụ cách mạng trong nước; nhưng trước mắt cần thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc tế do ĐCSTQ yêu cầu giúp đỡ”.

Lê Quốc Vọng đã hoàn thành xuất sắc bài sát hạch cuối cùng, được phong hàm trung uý và nhận quyết định về một trung đoàn bộ binh. Với cấp hàm này, ông có thể nhận chức Đại đội phó. Nhưng vì muốn tìm hiểu thêm đơn vị cơ sở trong quân đội Tưởng, nên ông chỉ xin nhận chức Trung đội trưởng, khiến cho viên chỉ hy trung đoàn ngạc nhiên hết sức. Nhưng ông chỉ mỉm cười và lặng lẽ làm tốt mọi việc được giao khiến cho cấp trên rất hài lòng; binh lính trong đơn vị cũng rất thích sự gần gũi, giản dị và cách sống tình cảm của “ngài sĩ quan trẻ”…

Giữa lúc ấy, Đảng Cộng sản Trung quốc cử người đến bắt liên lạc, đề nghị ông giúp đỡ “cài cắm” vào mỗi tiểu đội một người đã được chọn lựa trước. Kết quả là sau khi được huấn luyện, trang bị hoàn chỉnh,các đơn vị ấy đều bỗng nhiên bị “mất tích” và trở thành quân cách mạng cả… Hồi ấy, việc đào ngũ trong quân đội Tưởng là chuyện bình thường bởi lính càng đào ngũ nhiều, thì cấp trên càng có cơ hội lập ra con số ma để hưởng lợi.

Mùa đông năm 1928, liên minh của Tưởng giành được nhiều lợi thế quân sự. Lê Quốc Vọng đã được thăng chức Đại đội trưởng. Đơn vị của ông bị điều lên làm nhiệm vụ sát biên giới Liên Xô… Nhưng ở xa như vậy thì chẳng có lợi cho cách mạng, nên vài tháng sau, theo yêu cầu của Đảng Cộng sản Trung quốc là cần người thường xuyên đi lại làm nhiệm vụ trên tuyến xe lửa Thượng Hải-Nam Kinh-Hán Khẩu, ông đã làm đơn xin chuyển về Nam Kinh và trở thành… sĩ quan đường sắt. Với cương vị mới, ông có thể lên xuống bất kỳ đoàn tàu nào. Và ông đã thực hiện giúp đỡ Đảng Cộng sản Trung Quốc khá nhiều “đặc vụ” trót lọt: đó là việc vận chuyển những vali tài liệu mật, vũ khí trang bị theo yêu cầu của cách mạng Trung Quốc, thậm chí, có lần còn tiến hành cả kế hoạch đánh tráo và giải thoát cho tù chính trị thành công.

Tháng 8-1929, ông nhận được chỉ thị phải lên ngay Thượng Hải. Thật bất ngờ, ông được gặp lại ông Lý Thuỵ trong một ngôi nhà nhỏ thuộc tô giới Anh. Thì ra, sau khởi nghĩa Quảng Châu, để tránh sự truy lùng của mật thám, ông Lý Thuỵ đã phải sang Thái Lan, qua Liên Xô rồi trở về Trung Quốc… Ông Lý Thụy đã phân tích tình hình cách mạng Việt Nam, Trung Quốc và mối liên hệ giữa cách mạng hai nước và nói với ông rằng Đảng cộng sản Trung quốc rất tín nhiệm ông và muốn ông ở lại trong quân đội Tưởng để giúp họ. Nhiệm vụ của ông là bằng mọi cách theo dõi nắm chắc âm mưu của quân Tưởng; nếu có thể, lấy được bản kế hoạch tấn công của họ là tốt nhất, rồi báo ngay cho phía Đảng Cộng sản Trung quốc biết để có kế hoạch kịp thời đối phó…Vì lúc đó có thông tin rằng quân đội Tưởng sẽ mở một cuộc tấn công có quy mô nhằm tiêu diệt đầu não của Đảng Cộng sản Trung quốc, tiêu diệt cách mạng Trung quốc. Nhân dịp này, ông Lý Thụy quyết định kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Việt Nam, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành lập.

Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ông đã liên hệ với ông Hồ Học Lãm một nhân sĩ yêu nước đồng thời là một yếu nhân của quân đội Tưởng vì bất đắc dĩ mà phải làm trong Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân đội Tưởng. Cha ông từng tham gia phong trào Cần Vương, đã bị giặc Pháp sát hại; và vợ là con gái một tướng tài của cụ Phan Đình Phùng. Được sự giúp đỡ của ông Hồ Học Lãm, Lê Quốc Vọng đã lấy được nhiều tài liệu mật của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Tưởng chuyển về cho cách mạng Trung quốc.

Hồi đó, Bộ Tổng tham mưu của quân đội Tưởng do các cố vấn quân sự của Đức trực tiếp chỉ đạo và tổ chức theo mô hình của quân đội phát xít Đức. Bởi vậy, kỷ luật hết sức nghiêm ngặt và khắt khe, nhất là việc quản lý hồ sơ và tài liệu mật. Người nào làm việc gì chỉ biết việc đó. Hết giờ làm việc, tất cả đều được niêm phong và gửi vào két sắt bảo mật, nghiêm cấm mang bất cứ tài liệu gì về nhà… Để có các tài liệu mật do Lê Quốc Vọng, ban ngày ông Hồ Học Lãm đã phải đọc kỹ và “nhập tâm”, buổi tối về nhà thì nhớ lại và chép ra từng câu từng ý, vẽ lại bổ sung vào bản đồ đã được chuẩn bị trước…

Ngoài ra, ông còn chi khá nhiều tiền, vàng làm quà cáp và ăn nhậu với các sĩ quan khác để moi thêm tin tức. Chưa yên tâm, để kiểm chứng, xác minh các nguồn tin quan trọng, Hồ Học Lãm còn kiếm cớ “đi kiểm tra” để xuống một số sư đoàn, đơn vị sắp tham chiến xem thực hư thế nào… Tất cả những thông tin đó được hai người sàng lọc, thống nhất rồi Lê Quốc Vọng chuyển cho phía bạn, cũng bằng phương pháp… “nhập tâm” và nhớ lại là chính.

Trong khoảng mùa hè và mùa thu năm 1930, nhiều nguồn tin tình báo quan trọng đã tới tấp chuyển về Bộ chỉ huy tối cao Hồng quân Trung Quốc. Từ những “chuyện nhỏ” như: Quân Tưởng đã cấm chở thóc gạo xuôi theo sông Nha Thuỷ và Cống Giang; nhiều sĩ quan quê ở Phúc Kiến, Giang Tây vừa được điều về Bộ Tổng tham mưu… Các sư đoàn của các tướng Trương Huy Tân, Đàm Đà Huyên, Lưu Hoà Dĩnh vừa được tăng quân và trang bị vũ khí ra sao v.v… Cho đến những “chuyện tày đinh”: Kế hoạch tiến công vào cơ quan đầu não Đảng Cộng sản Trung Quốc do chính tay Tưởng Giới Thạch phê chuẩn; phạm vi và mục tiêu các cuộc tấn công ở vùng tứ giác La Lâm, Nghi Hoàng, Lê Xuyên, Thuỵ Kim… Binh lực tham gia tấn công từng giai đoạn… Kế hoạch hoạt động quân sự của quân đội Tưởng cuối năm 1930-1931…

Kết quả là cả 3 đợt hành quân quy mô của quân đội Tưởng vào khu Xôviết trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều bị thất bại. Đợt một: quân Tưởng huy động tới 10 vạn lính, từ tháng 12-1930 đến tháng 1-1931 thì phải rút lui. Đợt hai: sau 6 tháng chuẩn bị, chúng tăng quân lên gấp đôi, lại thất bại. Đợt ba: đích thân, Tưởng Giới Thạch chỉ huy, số quân được tăng lên 30 vạn… nhưng cuối cùng vẫn không đạt được mục đích đề ra, đành phải rút quân!

Tháng 6 năm 1932, Tưởng Giới Thạch mở cuộc tấn công tổng lực lần thứ 4 và kế hoạch tấn công được ông Hồ Học Lãm trao cho ông chuyển cho phía ĐCSTQ, lần này quân Tưởng thất bại ngay từ trong trứng nước. Sau sự thất bại này, ông bị mật vụ Tưởng Giới Thạch theo dõi chặt chẽ, trong khi thực dân Pháp tố cáo ông là cộng sản nguy hiểm làm nhiệm vụ liên lạc giữa Thượng Hải-Hồng Kông và Việt Nam và treo giải 500 nghìn đồng cho ai bắt được ông. Tuy nhiên, nhiều người khi đó vẫn tưởng ông là em họ của ông Hồ Học Lãm cho nên chưa bắt ông.

Thực hiện quyết tâm tiêu diệt đầu não của Đảng Cộng sản Trung quốc, Tưởng Giới Thạch được sự hỗ trợ ngầm của Anh-Pháp-Đức đã lên phương án một cuộc tấn công tổng lực. Một đoàn cố vấn cao cấp quân sự Đức do Thượng tướng Seekt dẫn đầu đã tới Nam Kinh…Những thông tin như vậy lại được chuyển đến ĐCSTQ. Cuộc tiến công của quân Quốc dân đảng đã diễn ra vào tháng 10-1933. Đích thân Tưởng Giới Thạch chỉ huy và viên tướng Đức Seekt cố vấn, mọt đạo quân khổng lồ đông tới cả triệu người với rất nhiều xe pháo, phương tiện kỹ thuật hiện đại thời ấy được phía Quốc dân đảng huy động ra trận… Cuộc chiến ác liệt kéo dài tới 11 tháng. Hầu như cả Bộ Tổng tham mưu quân Tưởng đều phải ra trận. Ông Hồ Học Lãm tất bật như con thoi vì những quân lệnh “thượng khẩn” và “tuyệt mật”. Nhưng đồng thời nội dung những quân lệnh ấy cũng được Lê Quốc Vọng thông báo đều đặn cho phía ĐCSTQ để đối phó…Những trận đánh ác liệt gây thiệt hại cho cả hai phía. Hồng quân vừa chống trả quyết liệt vừa tổ chức một số cuộc phản công và đánh vu hồi vào hậu phương Quốc dân đảng… Nhưng rồi quân Tưởng với sự trợ giúp của Anh, Pháp, Đức… vừa đông người lại dư thừa về vũ khí trang bị quân sự, nên đã giành được lợi thế trên chiến trường… Quân kháng chiến do ĐCSTQ lãnh đạo buộc phải rút về phía Tây (Vạn lý trường chinh). Lê Quốc Vọng mất liên lạc với ĐCSTQ từ khi đó.


Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, vị tướng đầu tiên của quân đội ta
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:40:46 am
Dặm trường kháng Nhật hòng nối liên lạc
Vào chốn hiếm nguy nhằm giúp cách mạng


Tháng 9-1931, phát xít Nhật bắt đầu xâm lược Trung Quốc. Trong 2 tháng, đã đánh chiếm được một vùng rộng lớn với diện tích cả triệu kilômét vuông với mấy chục vạn dân. Tháng 1-1933, quân Nhật chiếm được Nội Mông, Nhiệt Hà, tràn qua Vạn Lý Trường Thành và uy hiếp thủ đô Bắc Kinh cùng miền Hoa Bắc. Tháng 7-1937, sau khi dựng “vụ Lư Cầu Kiều” để có cớ, Nhật đã đánh chiếm được cả vùng Thượng Hải, Nam Kinh, Hán Khẩu, Từ Châu… Quân Tưởng Giới Thạch thua trận chạy dài. Tưởng Giới Thạch quyết định rút lui về Trùng Khánh, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Hồi ấy, nơi này chưa có đường xe lửa nối với các tỉnh đồng bằng, quân Tưởng phải sử dụng cả binh đoàn vận tải số 2.

Để có điều kiện đi lại nhiều nơi, hy vọng nối liên lạc với ĐCSTQ, Lê Quốc Vọng đã xin chuyển về binh đoàn vận tải. Thời gian đầu ông được giao chỉ huy một tiểu đoàn đảm nhiệm tuyến đường các tỉnh Giang Tây-Hồ Nam-Quý Châu… Sau đó, ông được thăng cấp đại hiệu (đại tá) và bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường huấn luyện đào tạo lính lái xe tăng, thiết giáp, xe vận tải và lính thợ kỹ thuật… Ông đã miệt mài say sưa học lái xe tăng, xe thiết giáp, nắm vững nguyên lý cấu tạo động cơ máy móc từng loại… vì tin rằng: nhất định sau này quân đội cách mạng của Việt Nam cũng sẽ có xe tăng, xe thiết giáp và cần đến các kiến thức đó.

Đầu năm 1939, chiến sự đã lan tới tỉnh Hồ Nam. ĐCSTQ cử một cán bộ có bí danh là Lôi Chấn đến liên lạc và tha thiết đề nghị được giúp đỡ về súng đạn và trang bị. Hồi ấy, Hoa Bắc là vùng chiến sự đang hết sức căng thẳng và ác liệt. Quân chủ lực của phát xít Nhật tập trung phần lớn tại vùng này. Các tướng tá trong quân đội Tưởng chẳng ai muốn đến miền đất khó khăn chết chóc đó, nên khi Lê Quốc Vọng đặt vấn đề xin chuyển đến Binh đoàn vận tải số 1 đã được đồng ý ngay. Binh đoàn này hoạt động trên một địa bàn rất rộng gồm các vùng Hà Nam-Sơn Tây-Cam Túc…

Lê Quốc Vọng được giao chỉ huy Tiểu đoàn 106, gồm 8 đại đội vận tải cơ giới. Chỉ huy các đơn vị này đều là những sĩ quan hầu hết họ đều kiêm buôn lậu thuốc phiện, vàng bạc và hàng quốc cấm. Nhưng bằng tài trí của mình, Lê Quốc Vọng đã nhanh chóng chinh phục được họ. Ông bí mật vẽ lại sơ đồ bố trí các kho tàng của quân Tưởng ở hai tỉnh Sơn Tây, Hà Nam rồi giao lại cho đại diện phía ĐCSTQ có bí danh là Lục Quần, với chú tích “chỉ cần một lực lượng nhỏ, tập kích bất ngờ là sẽ lấy được ngay”. Hơn thế nữa, trong vòng nửa năm ông đã khôn khéo chỉ huy binh lính, tiến hành vận chuyển và bàn giao trót lọt hơn 30 tấn vũ khí hàng quân sự gồm vũ khí, trang bị, thuốc men cho Bát lộ quân Trung quốc.

Tổ quốc gọi ngàn dặm không mệt mỏi
Lập đội vũ trang chờ ngày cứu nước


Mùa hạ năm 1940, Lê Quốc Vọng bất ngờ nhận được 2 lá thư (một của ông Phùng Chí Kiên, một của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc) yêu cầu ông rời hàng ngũ quân Tưởng Giới Thạch về vùng biên giới Quảng Tây nhận nhiệm vụ mới. Lê Quốc Vọng làm đơn nhờ ông Hồ Học Lãm can thiệp “xin chuyển công tác về vùng Hoa Nam vì lý do sức khoẻ”… Trong khi chờ đợi quyết định, ông còn tổ chức một chuyến hàng đặc biệt gồm những khí tài quan trắc đo đạc chính xác. Đó là một chuyến đi xa về phía tây rất vất vả. Thậm chí còn phải nổ súng chiến đấu với thổ phỉ trấn cướp dọc đường… nhưng cuối cùng ông cũng hoàn thành nhiệm vụ.

Giờ phút chia tay với đơn vị vận tải, chỉ có Dương Tử Kiếm, người đồng sự cấp phó mới được đề bạt, tiễn tận xe. Ông ta nói vẻ xúc động:

"Đại hiệu (cách gọi cấp Đại tá của quân đội Quốc dân đảng thời đó) đi lần này, chắc sẽ không về đây nữa”…-“Sao ông lạ nói vậy?”

Dương Tử Kiếm lặng lẽ chìa ra trước mặt Lê Quốc Vọng những bức điện mật và thư tố giác ông gửi đến Binh đoàn, thống kê từng chuyến hàng ông đã giao cho Bát lộ quân với ngày giờ rất cụ thể… Lê Quốc Vọng giật mình, đứng lặng người đi, nhìn người đồng sự thăm dò…

Đại hiệu cứ yên tâm. Trung tướng Binh đoàn trưởng cúng biết nhưng tướng quân đã lờ đi. Ông còn bảo: Họ (tức Bát lộ quân) cũng là người Trung Hoa cả. Có cho họ ít súng đạn để đánh Nhật cho ta cũng chả sao”-Dương Tử Kiếm cười.

Đường từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam dài tới mấy ngàn cây số. Để giữ bí mật cho chuyến đi, tránh đặc vụ Tưởng truy đuổi, Lê Quốc Vọng phải cho xe đi vòng vèo trên các vùng núi hiểm trở, khó khăn… Sau một ngày, ông cho xe quay lại. Người lái xe cứ năn nỉ và tình nguyện xin đi theo phục vụ, nhưng ông kiên quyết từ chối. Cuộc hành trình được nối tiếp. Gặp được phương tiện nào, ông nhờ luôn thứ đó: xe khách tư nhân, xe tải quân sự, xe ngựa và cả đi bộ… Một ngày nọ, Lê Quốc Vọng tới khu vực Vĩnh Lạc, tỉnh Sơn Tây, du kích địa phương khám trong người ông thấy có phù hiệu cấp Đại tá của quân Tưởng. Lập tức ông bị trói gô lại, bị đánh một trận nhừ tử rồi… điệu đi xử bắn! Thì ra, người ta cho ông là một tên… “Hán gian” nguy hiểm. Thanh minh thế nào cũng không được. May sao, lúc sắp bị đưa đi xử bắn, ông bỗng nhắc đến tên đồng chí Châu Xương, một cán bộ có uy tín của ĐCSTQ… vậy là được “tạm thời tha chết”. Sau một tuần bị giam giữ cẩn mật và xét hỏi qua nhiều cấp, ông mới được thả để về Quế Lâm…Một buổi chiều Tĩnh Tây se lạnh, theo lời hẹn của tổ chức, ông gặp lại ông Lý Thụy tức Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Cuối năm 1941, tại Pác Bó (Cao Bằng) Lê Quốc Vọng được Bác Hồ giao nhiệm vụ cùng với ông Lê Quảng Ba lập đội vũ trang đầu tiên gồm 12 người, do ông làm Chính ủy. Trường quân sự Cao Bằng được thành lập, ông trở thành hiệu trưởng đầu tiên góp phần đào tạo những cán bộ cho cách mạng đang đến gần. Tiếp đó, ông lại nhận nhiệm vụ cùng ông Võ Nguyên Giáp phụ trách Ban xung phong Nam tiến, mở đường về xuôi… Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (93-1945), Lê Quốc Vọng đã chỉ huy một đơn vị vũ trang và lãnh đạo quần chúng giành chính quyền ở Thất Khê, Đồng Đăng, Na Sầm (Lạng Sơn)… thu hàng ngàn khẩu súng của địch để trang bị cho những đội quân đầu tiên của cách mạng…

Cách mạng thành công, ra sức bảo vệ nền độc lập
Tướng đầu tiên, vinh dự cao trách nhiệm nặng nề


Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam non trẻ phải gồng mình vì sức ép của “thù trong giặc ngoài”. Mượn danh “quân Đồng minh” đến giải giáp vũ khí của phát xít Nhật, 20 vạn quân Tưởng đã rầm rộ kéo vào miền Bắc nước ta với những mưu đồ nham hiểm… Tại miền Nam, hàng vạn quân viễn chinh Pháp cũng đang núp bóng quân Anh quay lại, âm mưu xâm lược nước ta lần nữa… Tháng 11 năm 1946, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Sau đó, ông được điều ra giữ chức Tư lệnh Quân khu 4.

Với việc ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khôn khéo gạt được hơn 20 vạn quân Tưởng và cơ hội chính trị ăn theo quân Tưởng ra khỏi miền Bắc. Theo điều khoản phụ lục về quân sự của Hiệp định này thì Chính phủ Việt Nam phải tổ chức “Tiếp phòng quân” để thay thế quân Tưởng, giám sát việc rút quân; đồng thời cũng là để buộc phía Pháp phải thi hành đúng Hiệp định đã ký… Và muốn cho quân Tưởng chấp nhận “rút lui trong danh dự”, quân Pháp tôn trọng trong ứng xử và khi giao tiếp, thì Tổng chỉ huy “Tiếp phòng quân” của Việt Nam cũng phải mang quân hàm tướng, cho tướng xứng với chỉ huy của đối phương! Sau khi cân nhắc, Trung ương đã chọn Lê Quốc Vọng. Khi đó, anh đang giữ chức vụ Khu trưởng Khu IV.

Nhận được điện gọi, Lê Quốc Vọng vội ra ngay Hà Nội và được chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ. Sau khi nghe mình được giao trọng trách, lại được phong quân hàm Tướng, Lê Quốc Vọng cảm nhận được vinh dự quá lớn, nhưng ông rất lo. Đắn đo mãi mới dám nói:

"Thưa Bác, tôi tự thấy mình còn ít am hiểu quân đội Pháp, chưa quen việc với bọn chúng. Đề nghị chọn đồng chí khác xứng đáng hơn ạ."

Bác cười, rồi động viên:

"Ô hay, chú định làm công tác cán bộ thay Thường vụ Trung ương hay sao! Việc này đã được cân nhắc kỹ, chỉ có chú là xứng đáng nhất. Chú hãy nhận đi!."

Rồi Bác ân cần bảo:

"Chú đã từng có hơn chục năm sống trong quân đội Tưởng, hoạt động cho Đảng bạn với bao cạm bẫy chông gai… nhưng đã vượt qua được. Bây giờ được giao nhiệm vụ và thử thách mới rất gay go, nhưng là cho nước, cho dân mình, nên phải hết sức cố gắng! Đối thủ của chú là các tướng Valuy, Xalăng, Alếcxăngđri và cả Xanhtơni… rất nham hiểm. Trước đât, “chết thép” trong con người chú đã được tôi luyện, nay vào cuộc chiến đấu mới với thực dân Pháp thì phải cần thêm “chất hùng” nữa. Bác đã nghĩ kỹ và chọn cho chú cái tên mới là Lê Thiết Hùng, chú thấy sao?”."

Lê Quốc Vọng đứng nghiêm, mắt ngấn lệ, nhưng dõng dạc:

"Cảm ơn Đảng và Bác đã tín nhiệm. Tôi nguyện sẽ đem hết tài trí và sức lực của mình phục vụ cách mạng, dù phải hy sinh cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ”!"

Vậy là từ đó, ông chính thức được mang tên mới: Lê Thiết Hùng. Và cái tên này cũng gắn liền với một vinh dự đặc biệt: Người được phong hàm Thiếu tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam! (Cho mãi tới 2 năm sau, ngày 28-5-1948, tại chiến khu Việt Bắc, Trung ương mới chính thức tổ chức Lễ phong quân hàm cấp Tướng và cấp Đại tá cho một số cán bộ cốt cán của quân đội).

Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, tháng 7 năm 1947, ông được điều tham gia xây dựng Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ tháng 1/1948 đến năm 1950, ông được giao trọng trách làm Tổng Thanh tra đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trên cương vị này ông đã góp phần không nhỏ giải quyết các vụ án nổi tiếng thời bấy giờ như vụ án tham nhũng của Đại tá Trần Dụ Châu (Tổng Cục trưởng Tổng cục cung cấp), vụ án gián điệp ảo…Ông còn là Chỉ huy trưởng mặt trận Bắc Kạn-Tuyên Quang (chiến khu 2) rồi Hiệu trưởng Trường bổ túc quân chính trung cấp. Từ năm 1950 đến năm 1954, ông là Cục trưởng Cục Quân huấn kiêm Hiệu trưởng Trường Lục quân Việt Nam. Ông là Ủy viên Bộ Chỉ huy quân sự Trung ương và Ủy viên Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Từ năm 1954 đến năm 1956, ông là Tư lệnh Bộ chỉ huy Pháo binh. Tiếp đó từ năm 1956 đến năm 1963, ông là Tư lệnh đầu tiên của Binh chủng Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam kiêm Chỉ huy trưởng Sở chỉ huy phòng không. Năm 1963, ông được giao trọng trách mới: Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại CHDCND Triều Tiên… Hết nhiệm kỳ, ông về nước làm Phó trưởng ban CP48 và Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cho tới ngày nghỉ hưu

Thiếu tướng Lê Thiết Hùng và nhà cách mạng Lê Hồng Phong là cùng một họ, theo vai vế thì ông phải gọi nhà cách mạng Lên Hồng Phong bằng chú. Ảnh của hai ông được đặt trang trọng trong nhà thờ họ Lê tại quê hương.

Thiếu tướng Lê Thiết Hùng có hai người vợ. Người vợ thứ nhất là bà Hồ Diệc Lan, con gái lớn của cụ Hồ Học Lãm. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung quốc khi còn rất trẻ và mất vì căn bệnh lao phổi do sống khó khăn trong căn cứ địa cách mạng của Trung quốc. Người vợ thứ hai của ông là bác sĩ quân y Nguyễn Tuyết Mai, từng là học sinh Trường Đồng Khánh (Hà Nội), giỏi tiếng Pháp, đã tốt nghiệp khoa Sản Trường Đại học Y-Dược Hà Nội. Trước khi nghỉ hưu, bà là Trưởng ban Quân y của Tổng cục Kỹ thuật (Bộ Quốc phòng). Người con gái duy nhất của hai ông bà là Lê Mai Hương.


Tiêu đề: Thượng tướng Hoàng Cầm, người nông dân mặc áo lính
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:43:27 am
(http://img51.imageshack.us/img51/755/thuongtuonghoangcamzw0.jpg)

Thượng tướng Hoàng Cầm (30/4/1920), nguyên: Tổng Thanh tra Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 (B.inh đoàn Cửu Long), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngoài ra ông còn là Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Hồ Chí Minh sau ngày giải phóng.

Đại tá (1960), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982), Thượng tướng (1987).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba).


Thượng tướng Hoàng Cầm, tên thật là Đỗ Văn Cầm, bí danh Năm Thạch, sinh ra trọng một gia đình cố nông ‘’không một tấc đất cắm dùi’’ tại thôn Vĩnh Thượng, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (trước là tổng Sơn Lăng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông).

Tuổi thơ lưu lạc và con đường đến với cách mạng

Quê hương ông là một vùng quê giàu đẹp khiêm nhường, ở đấy có những cánh đồng cấy được hai vụ chiêm và mùa, có những vạt bãi rộng phẳng, đất tơi xốp và màu mỡ được bồi đắp bởi phù sa của dòng sông Đáy. Tuy nhiên, trước cách mạng tháng Tám 1945, hầu hết người dân quê ông đều phải làm thuê cuốc mướn cho địa chủ, phú nông (là những người chiếm hầu hết ruộng đất trong xã) đầu tắt mặt tối quanh năm mà cũng không đủ ăn.

Ông mồ côi mẹ năm lên ba tuổi, nhà nghèo bố ông phải đi làm thuê gánh mướn kiếm sống. Địa chủ, phú nông trong xã vì muốn cướp mảnh đất nhỏ nhoi cuối cùng mà ông bà ông để lại đã xô đẩy gia đình ông vào hoàn cảnh tan đàn xẻ nghé. Chúng vu cho bố ông có giấu rượu lậu trong nhà rồi cho lính đoan đến bắt bố ông giam ở Hỏa Lò sáu tháng đồng thời nộp phạt 40 đồng, nếu không sẽ bị tù ‘’mọt xương’’. Được ra tù, bố ông phải bán nhà và chị gái ông lấy tiền nộp phạt. Từ đó ra đình ông bị dồn vào cảnh màn trời chiếu đất, không một tấc dùi dung thân. Quẫn chí bố ông thắt cổ tự tử khi ông mới 12 tuổi. Gia đình ông phải kín đáo đưa bố ông ra đồng, vì sợ rằng nếu khai báo thì hào lí trong làng kiếm cớ gây sách nhiễu, phiền hà.

Sau khi bố ông mất, ông bắt đầu cuộc sống tôi đòi, phải đi ở đợ làm ‘’con nuôi’’ cho một gia đình giàu có với bao đắng cay tủi phận trong sáu năm liền. Năm ông 17 tuổi, trước tình cảnh không lối thoát, ông quyết định bỏ làng đi nơi khác kiếm sống. Tháng 8 năm 1940, ông ra Hà Nội dừng lại ở chợ Hôm, phố Huế. Tại đây ông làm đủ nghề : gánh nước, kéo xe bò, vác gỗ, bổ củi thuê, nhưng chỉ là làm tạm bợ chốc lát lại phải cắp nón sang nhà khác xin việc. Hàng ngày bữa đói, bữa no, ban ngày thi đi qua các phố tìm việc ban đêm ngủ vất vưởng nơi góc chợ. Đã có lúc ông gần như sống bằng cách ngửa tay cầu xin lòng thương cảm của khách đường phố.

Tục xưa, hễ ai mà bỏ làng ra đi thì cả làng đều coi thường khinh rẻ, cho nên trước khi bỏ nhà ra đi ông đã nguyền không bao giờ quay lại làng cũ nữa. Đang tính chuyện phá lời nguyền về làng thì được tin chủ thầu Pháp mộ phu đi làm đường, ông liền ghi tên. Ông được chủ thầu Pháp đưa đi mở con đường mà nay là đường số 7 nối liền thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) với Lào. Cùng với những người dân phu làm đường, ông phải làm việc quần quật hết mình rồi còn bị chủ thầu chửi bới, đánh đập. Trước cảnh bạn phu làm đường người thì bị đói, rồi bệnh tật ốm đau rồi ngày nào cũng có người sa chân xuống vực, núi lở, đá rơi…ngay bản thân ông được 4 tháng thì bị sốt rét rừng quật ngã cho nên sau 9 tháng ông bỏ việc làm phu cho người Pháp.

Đổi đời từ mùa Thu cách mạng

Quay trở lại Hà Đông, đang trong lúc bĩ cực được tin Pháp mộ lính, ông ghi tên đăng lính với suy nghĩ như bao thanh niên nghèo Việt Nam hồi đó-âu cũng là một nghề. Ngay sau khi đăng lính một ngày, thực dân Pháp đưa ông lên xe đi Lai Châu. Từ đây tuy không phải lo chạy ăn từng bữa, nhưng trong gần hai năm đi lính cho Pháp, ông nhận thấy sự thấp cổ bé họng cũng như sự nhục nhã của người dân nô lệ. Cùng là lính như nhau nhưng lính Pháp thì lương cao hơn lính bản xứ rất nhiều, có quyền thế hơn và không phải lao công tạp dịch. Sơn La, Lai Châu vốn là chốn rừng thiêng nước độc cách biệt với thế giới bên ngoài là nơi thực dân Pháp giam cầm các chiến sĩ cách mạng. Trong một lần chứng kiến thực dân Pháp cha tấn một người thanh niên, nghèo, cha mẹ mất sớm giống ông, vì tội ‘’làm cộng sản’’ tuy chưa hiểu cặn kẽ những hành động của thực dân Pháp lúc đó là thống trị, đàn áp, xâm lược (theo lời của ông) nhưng cũng làm cho ông chán ngán quyết định từ bỏ cuộc đời làm lính, trốn về xuôi.

Trở về Hà Nội ông vừa phải bươn trải kiếm sống tại chợ Hôm, vừa phải trốn tránh sự truy lùng của thực dân Pháp vì tội trốn lính. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, không khí cách mạng sục sôi ở quê ông cũng như ở Hà Nội, nơi nào cũng có cán bộ Việt Minh diễn thuyết, tuyên truyền vận động đồng bào nhất tề đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật lật đổ chế độ vua quan.

Đầu tháng 8 năm 1945, ông được kết nạp vào tổ Thanh niên cứu quốc do ông Lê Thám phụ trách cùng với các ông như Lê Quân, Quang Liêm, Văn Xì, Hữu Thưởng…đều là những học sinh, sinh viên Hà Nội. Tổ của ông từ chỗ làm nhiệm vụ dán khẩu hiệu, rải truyền đơn, diễn thuyết…dần dần được trang bị trở thành lực lượng tự vệ chiến đầu của thành phố. Lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng, tự vệ chiến đấu của thành phố phát triển hết sức nhanh chóng lên tới 700 người (sau ngày 19/8 tổ chức thành các chi đội). Lúc bấy giờ, lực lượng cách mạng thiếu thốn đủ thứ : lương thực, thuốc men, chăn màn, quần áo và nhất là súng đạn…Đơn vị của ông dưới sự chỉ huy của ông Lê Thám đã tổ chức đóng giả lính bảo an đột nhập vào các kho của quân Nhật (trước đây của quân Pháp) tại các phố Hàng Bông, Hỏa Lò, Thợ Nhuộm…lấy đồ quân nhu tự trang bị cho lực lượng vũ trang Hà Nội còn non trẻ chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

Ngày 17/7, tổng hội viên chức thân Nhật tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát lớn. Tổng bộ Việt Minh Hà Nội quyết định biến cuộc mít tinh này thành cuộc mít tinh nhằm vạch mặt của phát xít Nhật cũng như tay sai, đồng thời kêu gọi đồng bào đứng lên giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của lực lượng Việt Minh. Ông cùng đơn vị của mình được giao cho nhiệm vụ bảo vệ cuộc mít tinh, bảo vệ các cán bộ Việt Minh diễn thuyết, trấn áp những kẻ trà trộn phá hoại cùng những thành phần phản động thân Nhật. Ngày 19/8, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội. Ông cùng đơn vị tự vệ chiến đấu được giao nhiệm vụ bảo vệ cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại nhà hát lớn thành phố (gồm khoảng 20 vạn nhân dân Hà Nội), sau đó sẽ tham gia đánh chiếm các công sở, các trại lính bảo an…của chính quyền bù nhìn. Ngày 2/9 năm 1945, một ngày lịch sử, đơn vị của ông được vinh dự tham gia bảo vệ buổi lễ độc lập tại Quảng trường Ba Đình, bảo vệ chính phủ lâm thời và chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó đơn vị của ông được chuyển lên đóng tại Soi Sử, Thạch Thất tỉnh Sơn Tây cũ. Tại đây, đơn vị ông tiếp nhận thêm quân số và tổ chức lại thành đại đội tự vệ chiến đấu mang tên Lê Thám và ông được cử làm tiểu đội trưởng.

Trưởng thành trong kháng chiến trường kỳ

Những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng non trẻ, tình thế như ‘’ngàn cân treo sợi tóc’’. Phía Bắc thì 10 vạn quân Tưởng tràn vào, phía Nam thì quân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp vũ khí của quân Nhật. Đơn vị của ông được lệnh của cấp trên chuẩn bị Nam tiến, chi viện cho Nam bộ kháng chiến. Đầu tháng 11/1945, ông Phạm Ngọc Mậu (sau này là Thượng tướng) được lệnh của Bộ Tổng tham mưu xuống trực tiếp giao nhiệm vụ cho đơn vị của ông Tây tiến lên Sơn La, Lai Châu thay vì Nam tiến bảo vệ, củng cố Biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Tình hình Sơn La và Lai Châu khi đó hết sức nguy kịch, ở Sơn La cơ sở Đảng và đoàn thể cứu quốc còn yếu cho nên ta phải phái một đại đội và hai trung đội từ Sơn Tây, Phú Thọ lên phối hợp giành chính quyền. Còn Lai Châu thì chính quyền vẫn chủ yếu nằm trong tay Quốc dân đảng và tay sai của Nhật. Đồng thời 2 tiểu đoàn của Pháp chạy sang Vân Nam Trung Quốc sau ngày Nhật đảo chính Pháp nay lại quay lại Lai Châu. Trước tình thế đó, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tham mưu quyết định mở Mặt trận Tây Bắc.

Giữa tháng 12 năm 1945, tàn quân của Alexandri kéo về tăng viện cho quân Pháp tại đây. Trung đội của ông được lệnh tách khỏi đội hình của Đại đội, cấp tốc lên Quỳnh Nhai với nhiệm vụ chặn quân Pháp có thể từ Lai Châu theo sông Đà đánh vào Sơn La từ hướng Đông Bắc. Tuy nhiên do kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu kém, đơn vị ông đã chậm hơn quân Pháp đồng thời bị đánh bật lên núi cao. Sau đó đơn vị ông bí mật xuống núi rồi trở về hữu ngạn sông Đà phân tán bám dân, làm công tác dân vận tuyên truyền, nuôi dưỡng, xây dựng và phát triển lực lượng.

Tháng 3 năm 1946, quân Pháp tổ chức đánh từ Lai Châu xuống Sơn La, do lực lượng yếu Trung đoàn Sơn La không ngăn cản được bước tiến của quân Pháp mặc dù đã đánh nhiều trận gây tổn thất cho quân Pháp. Trung đội của ông bị bao vây và mất liên lạc với cấp trên. Trước tình hình đó, đơn vị tổ chức đơn vị lúc tập trung, lúc phân tán áp dụng phương thức chiến tranh du kích đón đánh các đơn vị lính Pháp cùng các toán tuần tra nhỏ lẻ những tốp cảnh giới và những chòi gác…đồng thời từng bước phát triển lực lượng. Cho đến tháng 5 đơn vị của ông mới tìm được đường về Trung đoàn. Nhân dịp này, ông nhận quyết định từ Trung đôi phó lên Đại đội phó quyền Đại đội trưởng Đại đội 230, Tiểu đoàn 90 trực thuộc Trung đoàn 148 vừa được thành lập theo quyết định của Bộ Tổng tham mưu.

Tháng 4 năm 1947, quân Pháp tăng viện thêm và mở cuộc hành quân lớn lên Tây Bắc, đại bộ phận Trung đoàn 148 phải rút về Tây Nam Phú Thọ. Khi đó, ông được điều về Đại đội 250, Tiểu đoàn 86 đang đóng ở Bột Sộp, biên giới Lào, đơn vị của ông tiếp tục bị mất liên lạc với Trung đoàn và sống trong vòng vây của quân Pháp. Vị trí đóng quân của đơn vị ông khi đó thuộc Chiến khu 2 do ông Hoàng Sâm là tư lệnh, ông Lê Hiến Mai là Chính ủy. Hai ông đã động viên ông ở lại đây, nhiệm vụ Tây Tiến được lùi lại. Đại đội ông được giao nhiệm vụ chặn quân Pháp yểm trợ cho bộ phận tiền phương của Chiến khu 2 chuyển về Xuân Nha, Hòa Bình. Trong thời gian chiến đấu ở Chiến khu 2, đơn vị ông đã phát triển đến cấp tiểu đoàn.

Tháng 10/1947, mặt trận Mộc Châu tạm lắng, ông đưa đại đội của mình trở lại đội hình Trung đoàn Sơn La khi đó đang đóng quân tại Phú Thọ. Sau đó, đơn vị của ông được lệnh trở lại hoạt động ở vùng địch hậu Mộc Châu, khu di tích Mộc Hạ. Đầu năm 1948, ông bị thương lần thứ ba. Vì lí do sức khỏe, ông được điều về làm phái viên quân sự của Trung đoàn 148 làm nhiệm vụ kiểm tra, giúp đỡ các đại đôi địa phương đang hoạt động ở tây nam Phú Thọ giáp với vùng địch chiếm Mộc Châu. Tuy nhiên, ông không làm đúng nhiệm vụ được giao mà tổ chức phối hợp các đại đội hợp đồng chiến đấu với suy nghĩ phải có chiến thắng lớn mới xây dựng được phong trào của địa phương. Sau đợt này ông được nhận nhiệm vụ Tiểu đoàn phó.

Cuối năm 1949 đấu 1950, tiểu đoàn 130 của ông khi đó trực thuộc liên khu 10 được điều về đứng chân trong đội hình Trung đoàn Sông Lô (E209). Từ Phú Thọ, đơn vị của ông được lệnh hành quân tham gia chiến dịch Biên Giới (chiến dịch Lê Hồng Phong 2). Trong chiến dịch này Trung đoàn 209 và 174 (chủ lực của Liên khu Việt Bắc) được giao nhiệm vụ diệt cứ điểm Đông Khê. Tiểu đoàn 130 do ông làm Tiểu đoàn trưởng được lệnh đánh chiếm Phủ Thiên-khu hành chính của huyện lị Đông Khê. Vì là chiến dịch quan trọng mang tính chiến lược, chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đi chiến dịch. Ông được vinh dự cử đi báo cáo tình hình với Bác. Đây là lần thứ hai ông được gặp Bác, lần đầu tiên khi đó ông còn là một chiến sĩ tự vệ chiến đấu đứng dưới bảo vệ lễ đài nơi Bác đọc tuyên ngôn độc lập.Mở màn chiến dịch, mặc dù Trung đoàn 174 hoàn thành không tốt nhiệm vụ để cho quân Pháp phản kích uy hiếp đơn vị ông từ hướng Bắc và đây là lần đầu tiên đơn vị ông đánh một cứ điểm kiên cố, tuy nhiên đơn vị ông vẫn làm chủ được căn cứ Phủ Thiên uy hiếp Đông Khê từ phía Tây Nam. 17h ngày 17/9, đơn vị ông nổ súng tiêu diệt cứ điểm kiên cố còn lại của cụm cứ điểm Đông Khê. Trong trận này, Đại đội trưởng Trần Cừ (đại đội 866) chủ công của tiểu đoàn ông đã dũng cảm lấy thân mình lấp lỗ châu mai, góp phần cho tiểu đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được trên giao và kì vọng của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hạ tuần tháng 12 năm 1953, Trung đoàn Sông Lô do ông là Trung đoàn trưởng trong đội hình Sư đoàn 312 được lệnh từ Yên Bái tham gia chiến dịch Tây Bắc, chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Đợt một chiến dịch, ngày 13 tháng 3 Trung đoàn của ông cùng với Trung đoàn 142 sau hơn 6 tiếng tiến công liên tục đã san bằng cụm cứ điểm Him Lam là trung tâm phòng thủ kiên cố bậc nhất của Pháp ở Điện Biên Phủ. Trận đánh thắng lợi khiến cho Đại tá Pi-rốt chỉ huy pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ phải dùng lựu đạn tự tử. Đợt 2 chiến dịch, đơn vị ông hoành thành nhiệm vụ tiêu diệt các cụm đồi D1, D2, D3 không cho quân Pháp chiếm lại.

Cuối tháng 4, đơn vị của ông được lệnh đánh chiếm khu bàn đạp mở đầu cho đợt tiến công thứ ba của chiến dịch. Rạng sáng ngày 7/5, mặc dù đêm hôm trước đơn vị ông tiến đánh điểm cao 507 không thành công, ông gọi điện xin Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312-Lê Trọng Tấn xin đánh tiếp. Vì vấn đề này rất quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của toàn chiến dịch cho nên ông Lê Trọng Tấn bảo ông gọi điện trực tiếp hỏi Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, thì được lệnh là chờ giờ tổng công kích. Nhận thấy là thời cơ của hướng ông đã đến, ông tiếp tục gọi lên Sở chỉ huy Đại đoàn xin được nổ súng đánh. Cuối cùng trước quyết tâm của ông, cấp trên cũng đồng ý cho đơn vị ông nổ súng. Điểm cao 507 bị hạ, đơn vị ông tiếp tục tiến đánh các điểm cao 508, 509 và Đại đội của ông Tạ Quốc Luật nhanh chóng vượt cầu phao chặn địch không cho rút qua và tiếp viện từ Mường Thanh đánh ra. Và 17h ngày 7/5 đơn vị ông do Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật đứng đầu đã tiến vào hầm Đờ Cát bắt sống tướng Pháp.


Tiêu đề: Thượng tướng Hoàng Cầm, người nông dân mặc áo lính
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:45:12 am
Tháng 9 năm 1954, Đại đoàn của ông được lệnh hành quân từ Phú Thọ về tiếp quản khu vực Bắc Ninh-Bắc Giang. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bắt tay vào kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Cuối năm 1954, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn thay cho các ông Lê Trọng Tấn và Trần Độ đi nhận nhiệm vụ khác. Đầu năm 1955, Đại đoàn 312 được củng cố và tổ chức lại thành Sư đoàn 312 ông được cử làm Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn. Trên cương vị Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy sư đoàn, ông đã chỉ huy sư đoàn tham gia vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và phát triển miền Bắc. Các chiến sĩ thuộc sư đoàn đã tham gia khôi phục tuyến đường sắt Hà Nội-Đồng Đăng, công trình thủy nông Bắc Hưng Hải. Hàng nghìn chiến sĩ thuộc sư đoàn ông đã chuyển ngành tham gia xây dựng các khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, sứ Hải Dương, khu công nghiệp Việt Trì, mỏ A-pa-tít Lào Cai cho đến các nông trường Mộc Châu, Sơn La, Điện Biên Phủ…rồi sân bay Nội Bài.

Từ năm 1960 đến 1961, ông được cử đi học một lớp quân sự cao cấp ở nước ngoài. Năm 1963, ông được cấp trên đưa vào danh sách vào Nam chiến đấu nhưng vì đau dạ dày cho nên ông phải ở lại miền Bắc. Từ đó ông kiên trì chuẩn bị về mọi mặt : nghe đài đọc báo về tình hình miền Nam để phân tích tình hình, đúc kết kinh nghiệm cho bản thân, đồng thời rèn luyện thể lực chuẩn bị vào Nam. Cùng năm này sư đoàn ông tổ chức đưa một tiểu đoàn mạnh vào chiến đấu tại chiến trường Trị Thiên bờ Nam sông Bến Hải, tiếp đó đầu năm 1964, một tiểu đoàn khác của sư đoàn vào chiến đấu ở chiến trường khu 5.

Trên chiến trường Nam Bộ

Tháng 1 năm 1965, theo lệnh của Thường trực Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh mà trực tiếp là từ Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh (khi đó là Thứ tưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thống nhất Trung ương) và do đích thân Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ trong Nam yêu cầu, ông lên đường vào Nam chiến đấu cùng với ông Trần Độ (sau này là Trung tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội). Từ sân bay Gia Lâm, đoàn của ông đi máy bay qua Quảng Châu, Trung Quốc.Sau đó, trên chiếc tàu buôn Trung Quốc mà hành trình đi qua Hoàng Sa và Trường Sa đoàn của ông sang Cam-pu-chia. Rồi từ Cam-pu-chia đoàn của ông mới tiến vào Đông Nam Bộ, nơi đóng quân của Trung ương cục miền Nam.

Nhiệm vụ đầu tiên của ông trên chiến trường Đông Nam Bộ là Tư lệnh phó Bộ chỉ huy Chiến dịch Phước Long-Đồng Xoài do tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và ông Trần Độ làm Chính ủy (toàn bộ Chỉ huy của Đại đoàn 312). Đây là thời điểm chuyển giao giữa hai chiến lược chiến tranh Đặc biệt và Cục bộ của Đế quốc Mỹ.

Ngày 2/9/1965, Sư đoàn 9, Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Đông Nam Bộ, được thành lập ông được cử làm Sư đoàn trưởng (đầu tiên) và ông Lê Văn Tưởng là Chính ủy. Đây là Sư đoàn đối trọng với các Sư đoàn chủ lực, thiện chiến của Mỹ tại vùng đất miền Đông : sư đoàn số 1 ‘’Anh cả đỏ’’, sư đoàn 25 ‘’Tia chớp nhiệt đới’’ được ra đời nhằm tạo ra quả đấm mạnh đáp ứng nhu cầu đánh lớn, đánh tập trung, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Ngay sau khi thành lập, Sư đoàn 9 dưới sự chỉ huy của ông tham gia vào chiến dịch Bàu Bàng-Dầu Tiếng (tháng 12 năm 1965). Đây là chiến dịch được tổ chức quy mô lớn đầu tiên ở Đông Nam Bộ, cấp sư đoàn. Đánh dấu bước chuyển mình của phương thức chiến tranh từ đánh nhỏ, đánh du kích tiêu hao sinh lực địch thành đánh lớn, đánh mạnh, đánh quị các đơn vị lính Việt Nam Cộng hòa và sẵn sàng đương đầu với quân Mỹ đang ào ạt đổ vào miền Nam trong thời kì đầu của chiến tranh cục bộ. Mặt khác Dầu Tiếng lại là một vị trí quan trọng cho nên khả năng quân Mỹ đem quân cứu viện khi nơi đây bị đánh là rất lớn. Do đó, bộ chỉ huy Sư đoàn 9 phải chuẩn bị cả hai phương án ‘’đánh Ngụy, đánh Mỹ’’.

Ngay trong trận đầu của chiến dịch, tại Bàu Bàng, Sư đoàn của ông đã loại ra khỏi vòng chiến 2 tiểu đoàn, 2 chi đoàn thiết xa vận của Mỹ ra khỏi vòng chiến. Phá hủy 39 xe các loại (chủ yếu là tăng và thiết giáp) và tám khẩu pháo. Như vậy, ngay từ ‘’keo đầu’’ sư đoàn của ông đã đánh bại những đơn vị thiện chiến của Mỹ trên đất Đông Nam Bộ. Trong trận này do phán đoán chính xác ý đồ của Mỹ là tập trung quân vào Dầu Tiếng nhằm tiêu diệt chủ lực của ta, ông đã đề nghị với Bộ tư lệnh sư đoàn tập trung lực lượng đánh tốt trận phủ đầu tại Bàu Bàng. Chiến thắng này đã làm đảo lộn các kế hoạch của Mỹ và tạo tiền đề cho các chiến thắng sau của chiến dịch.

Trong khi trận Bàu Bàng vẫn còn đang tiếp diễn thì sư đoàn của ông đã cho trung đoàn 1 từ Đất Cuốc hành quân về gấp lót ổ ở làng 14; đưa trung đoàn 2 về phục sẵn ở Căm Se vì địch có thể lợi dụng con đường này hành quân bằng cơ giới vào Dầu Tiếng; trung đoàn 3 về đứng chân ở khu vực làng 10 làm lực lượng dự bị. Sư đoàn 312 đã đón lõng tất cả các con đường dẫn về Dầu Tiếng. Ngày 21 tháng 11, một đoàn xe hơn 300 lính Mỹ hành quân trên đường Căm Se - Dầu Tiếng đã bị trung đoàn 2 phục sẵn tiến công, chia cắt chúng thành từng khúc, phá huỷ hơn 20 xe, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên Mỹ. Trên đà chủ động, các đơn vị trong sư đoàn đã liên tiếp đập tan các cuộc tiến quân của các đơn vị của quân đội Sài Gòn và Mỹ vào Dầu Tiếng nhằm đè bẹp chủ lực của ta hoành thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra của chiến dịch.

Ngay sau khi chiến dịch kết thúc, ông thay mặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn xin với Bộ Tư lệnh miền xin được thay đổi địa bàn hoạt động của Sư đoàn sang bên Đông đường 13. Bộ Tư lệnh miền đồng ý và giao cho Sư đoàn của ông trước hết tập chuyển về khu vực suối Nhung, củng cố lực lượng sẵn sàng đánh địch trên khu vực đường 13, 16 nếu chúng đánh nống ra khu vực này. Trên cơ sở quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 11, 12, Nghị quyết Bộ Chính trị, Nghị quyết Quân uỷ Trung ương và kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu, được Trung ương Cục, Quân uỷ Miền phê chuẩn, Bộ chỉ huy Miền thông qua kế hoạch hoạt động quân sự đợt II cho toàn chiến trường B2, trọng tâm là chiến trường Đông Nam Bộ, nhằm phát huy thế chủ động, tiếp tục tấn công các cuộc phản công của quân Mỹ trong âm mưu "bẻ gãy xương sống Việt cộng" của tướng Oét-mo-len trong mùa khô này. Sư đoàn của ông đảm nhiệm các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Bình Dương, Chiến khu Đ ; cùng đó Sư đoàn 5 đảm nhiệm các tỉnh Long Khánh, Biên Hòa, Bà Rịa. Dồn chủ lực về hướng này vì ở đây có khả năng đánh lớn khi quân Mỹ mở các cuộc hành quân "tìm diệt" chủ lực ta, đánh phá các căn cứ trong đó có các mục tiêu chủ yếu là Chiến khu Đ, và mở rộng vùng kiểm soát trên hai trục đường 13 và 15, uy hiếp hành lang Phước Long - nơi đoạn cuối của đường mòn Hồ Chí Minh đã được nối thông, đang phát huy tác dụng; ở đó chúng ta đã tiếp nhận hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, hàng nghìn tấn vũ khí đạn dược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Đông Nam Bộ. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tư lệnh miền, Sư đoàn 9 liên tục đập tan các cuộc hành quân của Mỹ nhằm ‘’tìm diệt’’ chủ lực miền Đông Nam Bộ.

Giữa tháng 2 năm 1966, quân Mỹ mở cuộc hành quân ‘’đá lăn’’ gốm 13 tiểu đoàn nhằm mở rộng kiểm soát đường 7, chia cắt chiến khu Đ, "bình định" khu vực Bông Trang - Nhà Đỏ, Bình Mỹ, giải toả áp lực của ta ở bắc Sài Gòn. Trong chiến dịch này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 đã sử dụng lối đánh điều địch ra ngoài tổ chức phục kích đánh làm thất bại chiến thuật trú quân ‘’vành đai thép’’ bằng trận then chốt vào Nhà Đỏ-Bông Trang. Ngày 7-8-1966, Oét-mo-len tư lệnh quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam lại huy động lừ đoàn 2 thuộc sư đoàn 1 bộ binh, tiểu đoàn Úc ném vào cuộc hành quân "Thành phố bạc" tiếp tục âm mưu đánh phá chiến khu Đ. Sư đoàn 9 cơ động đánh địch vòng ngoài như được phân công. Nhằm tiêu diệt được nhiều địch, đồng thơi gây rung động đến cuộc hành quân, Bộ chỉ huy Sư đoàn quyết định tập kích quân địch ở sở cao su Phú Lương, ở dốc Bà Thức trên đường 16, và ở khu vực Bầu Sắn nơi địch cụm lại ngày 16 tháng 3. Các trận tập kích vào những vị trí trọng điểm ở vòng ngoài, đã đánh thiệt hại một tiểu đoàn Mỹ, một tiểu đoàn quân Úc, bắn rơi năm máy bay lên thắng; đồng thời hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương đánh địch từ vòng trong đánh ra, đạt hiệu quả như tại căn cứ quân y, các lực lượng bảo vệ khu loại khỏi vòng chiến đấu 60 tên Mỹ.

Mở đầu cho đợt hoạt động mùa mưa 1966, sư đoàn của ông nhận nhiệm vụ tiêu diệt chi khu Phước Vĩnh, đây là một căn cứ dã ngoại được xây dựng kiên cố nhằm uy hiếp chiến khu Đ và bảo vệ sườn đông đường 13 của Mỹ ngụy. Tuy nhiên địch phát hiện ra lực lượng của Sư đoàn 9 đứng chân ở khu vực Lộc Ninh cho nên đã đưa một lữ đoàn thuộc Sư anh cả đỏ với công sự làm sẵn để lập tuyến phòng thủ Lộc Ninh, đồng thời huy động máy bay bắn phá những khu vực nghi có lực lượng của sư đoàn trú quân. Trức tình hình này, Bộ chỉ huy Sư đoàn quyết định thay đổi phương án tác chiến, chuyển sang đánh giao thông trên trục đường số 13. Trái với các chiến dịch Bàu Bàng-Dầu Tiếng, Nhà Đỏ-Bông Trang sử dụng lực lượng tập trung sư đoàn nhằm tạo ưu thế về lực lượng dứt điểm nhanh, trong đợt hoạt động này Sư đoàn sử dụng lực lượng cấp Trung đoàn xác định đánh định trên nhiều hướng, nhiều mục tiêu…Nhằm kéo quân Mỹ phải lên cứu viện cho Lộc Ninh qua các vị trí mà ta đã bố trí lực lượng trước. Trong chiến dịch này, Bộ chỉ huy sư đoàn liên tục chuyển từ tư thế chủ động (đánhh Phước Vĩnh, Lộc Ninh) sang bị động (bị Mỹ phát hiện ra lực lượng, hướng tiến công) rồi lại chủ động (chủ động chọn cách đánh giao thông nhằm ‘’điều địch ra khỏi công sự và lên chi viện’’ để đánh địch), đánh vào chỗ mạnh của quân Mỹ trái với nguyên lí thông thường là đánh vào chỗ yếu.

Kết thúc đợt hoạt động mùa mưa 1966, sư đoàn ông được lệnh chuyển đội hình sang phía Tây Sài Gòn, nhằm củng cố lực lượng chuẩn bị cho đợt hoạt động mùa khô lần thứ hai. Thời gian này quân Mỹ và chư hầu đang chuẩn bị cho cuộc phản công mùa khô lần hai đánh vào đầu não của Quân giải phóng miền Nam, tìm diệt Sư đoàn 9. Chính thời điểm này, ông được Trung ương cục, Quân ủy miền giao giữ chức Phó Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, thể theo nguyện vọng của ông, Trung ương cục quyết định cho ông hoãn chức vụ Phó tham mưu để về Sư đoàn tham gia bảo vệ Trung ương cục trước âm mưu phản công mùa khô lần 2 của Mỹ, tập trung chủ yếu vào chiến khu Dương Minh Châu. Dưới sự chỉ huy của ông, Sư đoàn 9 góp phần vào việc đánh bại các cuộc hành quân mùa khô lần 2 của Mỹ : Át-tăng-bo-rơ đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, Xê-va-tô-phôn đánh vào Chiến khu C kéo dài từ ngày 8/1 đến 26/1 nhằm đánh vào đầu não của Sài Gòn-Gia Định, đẩy chủ lực của ta ra xa rồi chuẩn bị bàn đạp đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu ; tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến 600 lính Mỹ tại trận Bàu Gòn…

Rút kinh nghiệm của thất bại cuộc phản công mùa khô lần 1, Mỹ không tổ chức phản công trên một diện rộng cũng như tiến công trên nhiều hướng nữa mà tập trung chủ yếu vào chiến khu Dương Minh Châu trong đợt phản công mùa khô lần 2. Cuộc hành quân mang tên Gian-xơ Xi-ty, để phục vụ cho cuộc hành quân này, Mỹ đã huy động tới 45000 quân chưa kể các đơn vị quân đội Sài Gòn. Trong chiến dịch này Sư đoàn 9 đóng vai trò chủ lực trong việc bẻ gãy cuộc hành quân của Mỹ.

Tháng 7 năm 1969, ông được Quân ủy và Bộ chỉ huy miền cử ra Hà Nội báo cáo hoạt động quân sự của B2 (Đông Nam Bộ) trong hai năm 1967/1968, đồng thời ông nhận quyết định ở lại làm phái viên của Quân ủy Trung ương và được Quân ủy giao cho cùng tổ công tác của Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu xây dựng kế hoạch tiến công làm thất bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 cuả Mỹ vào đường 9 Nam Lào ; tham gia xây dựng nội dung tập huấn cán bộ phục vụ yêu cầu chiến đấu mới ; cùng Phó Tổng tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ lên Xuân Mai, Sơn Tây tổ chức diễn tập thực binh sư đoàn chiến đấu tiến công hiệp đồng binh chủng tiêu diệt cụm quân Mỹ, chiến đoàn ngụy. Đầu năm 1971, trước yêu cầu của tình hình mới và đặc biệt cho các đợt hoạt động của bộ đội ta trong năm 1972, ông nhận chỉ thị trực tiếp từ Tổng bí thư Lê Duẩn và Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp vượt Trường Sơn vào lại chiến trường B2.


Tiêu đề: Thượng tướng Hoàng Cầm, người nông dân mặc áo lính
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:45:47 am
Bước vào đợt hoạt động 1972, ông được cử làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam tham gia Quân ủy miền thay ông Lê Đức Anh về nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 9. Cùng với Quân ủy và Bộ chỉ huy miền, ông tham gia vào việc hoạch định kế hoạch làm thất bại các cuộc hành quân ‘’Chen-la 2’’ của ngụy Lon-non, ‘’Đại bàng 24’’ của ngụy Sài Gòn, đẩy lùi cuộc hành quân quy mô lớn của địch mang tên ‘’Toàn thắng 72B’’ tại biên giới giáp Tây Ninh. Đặc biệt là trong chiến dịch Nguyễn Huệ, ông được giao Bộ tư lệnh miền giao cho cùng với Bộ chỉ huy chiến dịch tham gia chuẩn bị phương án tác chiến khu vực Lộc Ninh.

Cuối tháng 10 năm 1973, ông được điều lên mặt trận Bù Bông Kiến Đức. Yếu khu Bù Bông giáp biên giới Cam-pu-chia là vùng nằm ngoài hiệp định Paris, ngoài việc dùng bộ binh tiến công đột kích vào hành lang vận tải của quân giải phóng, nguỵ còn cho pháo sang tận O-răng thuộc đất Cam-pu-chia bắn pháo khống chế suốt ngày tuyến đường vận tải ảnh hưởng đến kế hoạch mở rộng và khai thông hành lang này của ta. Chính vị vậy ông được điều lên chỉ đạo nhằm dùng lực lượng thích hợp tiến công địch, mở rộng vùng giải phóng ở trên đó, tạo hành lang an toàn cho việc vận chuyển hậu cần từ Bắc và Nam.

Ngày 20/7 năm 1974, quân đoàn 4 được thành lập trên cơ sở các đơn vị của miền Đông Nam Bộ được thành lập (ví dụ : sư đoàn 7, sư đoàn 9, sư đoàn 5…) tiếp theo sự ra đời của các quân đoàn khác là sự chuẩn bị cho giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Ông được cử làm Quân đoàn trưởng (đầu tiên) và ông Hoàng Thế Thiện (sau này là Thiếu tướng, Thứ trưởng Bộ quốc phòng) làm Chính ủy. Trong đợt hoạt động mùa khô 1974-1975, quân đoàn 4 của ông đã hoành thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt Bù Đăng, đập tan Đồng Xoài và đặc biệt là giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long (6/1/1975) là một tỉnh nằm gần Sài Gòn. Chiến thắng Phước Long được coi là một trận trinh sát chiến lược nhằm kiểm tra khả năng quay trở lại của quân Mỹ và lực lượng của ngụy quyền Sài Gòn đồng thời là cơ sơ để Trung ương hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976.


Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, sau khi mất Tây Nguyên, Huế và Đà Nẵng thất thủ, các tuyến phòng thủ Phan Rang và Phan Thiết liên tiếp bị đập tan, được sự chỉ đạo của tướng Mỹ Uây-en, quân ngụy cho lập tuyến phòng thủ tầm gần ‘’cánh cửa thép’’ Xuân Lộc. Quân đoàn 4 của ông đảm trách việc chọc thủng phòng tuyến Xuân Lộc, mở đường cho các cách quân phía Bắc tiến vào Sài Gòn. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân đoàn của ông nhận nhiệm vụ đánh chiếm Trảng Bom, Biên Hòa rồi tiến vào Sài Gòn theo trục đường số 1. Trước tình hình là các đơn vị của quân đoàn 4 còn cách vùng ven từ 15 đến 20 cây số trong khi địch tập trung quân trên đường tiến quân, địa hình lại không thuận lợi, ông đề nghị với Trung tướng Lê Trọng Tấn, chỉ huy cánh quân duyên hải, cho quân đoàn của ông nổ súng trước ngày 27/4. Được chấp nhận, quân đoàn ông cùng với quân đoàn 2 nổ súng tiến vào Sài Gòn vào ngày 26/4 sớm hơn một ngày so với dự định.

Sài Gòn giải phóng, ông được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban quân quản. Chiến tranh Biên giới Tây Nam nổ ra ông chỉ huy Quân đoàn 4 tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam rồi tiến vào giải phóng thủ đô Cam-pu-chia. Trước khi về hưu, ông giữ chức vụ Tổng thanh tra quân đội từ năm 1987 đến năm 1992.


Tiêu đề: Thiếu tướng Phan Khắc Hy, Phó Tư lệnh Bội đội Trường Sơn
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:47:12 am
(http://img851.imageshack.us/img851/9715/phankhachy.jpg)

Thiếu tướng Phan Khắc Hy (01/01/1927), nguyên: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 8 (1987-1992).

Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng nhất, nhì, ba), Huân chương Quân kỳ Quyết thắng.

Thiếu tướng (1980).


Thiếu tướng Phan Khắc Hy (bí danh Thành Công), sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Cha ông là một nhà Nho nghèo ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông từng đi thi tam trường, nhưng vì Nho học thất thế, ông chuyển sang học quốc ngữ rồi vào Quảng Bình vừa học vừa làm thầy thuốc Đông y và gặp mẹ ông. Ông đựoc sinh ra tại quê ngoại. Mẹ ông mua bán tràu cau ở chợ, một tay bà nuôi sáu anh em ông ăn học, tham gia cách mạng. Sau khi mẹ ông mất, cha ông vào Quảng Ngãi vừa dạy học vừa làm thuốc. Sau cách mạng tháng Tám, cha ông còn làm Chủ nhiệm Việt Minh xã.

Lúc còn nhỏ Phan Khắc Hy học ở trường làng Bố Trạch, lấy bằng yếu lược. Sợ ở trên thị trấn lêu lổng chơi bời, cha ông đưa anh em ông về quê nội Đức Thọ, Hà Tinh là vùng đất hiếu học. Học hết tiểu học, ông ra Vinh học Trung học. Ngoài chương trình ở nhà trường ông cùng các bạn lập thư viện đủ loại sách văn học, triết học, chính trị...Ông đọc rất nhiều về Khổng Tử, Lao Tử, Các Mác, chép sổ tay thơ Tố Hưu, xuâ Diệu, cùng nhiều nhà thơ khác. Năm 1943, ông với người bạn thân là Quách xuân Kỳ trốn học, dự định xuất dương làm cách mạng nhưng không thành.

Ông tham gia cách mạng từ tháng 4 năm 1945 khi vừa mới 18 tuổi, là cán bộ Việt Minh bí mật, tham gia Uỷ ban Khởi nghĩa huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tháng 8 năm 1945, ông là Uỷ viên Việt Minh, tham gia Ban Chấp hành thanh niên Cứu quốc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tháng 1 năm 1946, ông là Uỷ viên, Trưởng ban phụ trách trại kinh tế vừa tăng gia sản xuất vừa xây dựng căn cứ Ba Lùm, Ba Lòi, tham gia huấn luyện viên dân quân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cùng với các ông Quách Xuân Quỳ (liệt sĩ), Mai Trọng Nghiêm.

Tháng 3 năm 1947, ông là Trưởng ban liên lạc chuẩn bị kháng chiến. Vốn nhiệt tình, hăng hái và dũng cảm, tháng 6 năm 1947, từ một cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật ông được điều về làm Chính trị viên, Huyện đội trưởng, Bí thư huyện uỷ huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Cuối năm 1948, phong trào thị xa Đồng Hới gặp khó khăn, Tỉnh ủy Quảng Bình điều ông Quách xuân Kỳ vào làm Bí thư Thị ủy, ông lên thay làm bí thư huyện ủy Bố Trạch. Tháng 6 năm 1949, ông được điều lên Tỉnh ủy Quảng Bình.

Tháng 12 năm 1949, ông là Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Bình thay ông Đồng Si Nguyên. Từ năm 1950 đến tháng 3 năm 1952, ông là Tỉnh đội trưởng tỉnh đội Quảng Bình, Phó Bí thư tỉnh uỷ Quảng Bình. Cuối năm 1950, ông được điều vào mặt trận Bình Trị Thiên làm phái viên mặt trận. Từ tháng 4 năm 1952 đến năm 1954, ông là Chính uỷ Trung đoàn 18 Đại đoàn 325 hoạt động trên Mặt trận Bình Trị Thiên rồi Mặt trận Đường 9 và Trung Lào, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ trong chiến cuộc Đông xuân 53-54.

Do đề nghị của tướng Trần Quý Hai, sau hiệp định Giơ-ne-vơ, thực hiện nghị quyết của Trung ương thứ 12 khóa II, ta phải xây dựng quân đội chính quy, từng bước hiện đại hóa, trong đó có xây dựng 2 quân chủng mới là Không quân và Hải quân. Ban Nghiên cứu sân bay tiền thân của Cục Không quân được thành lập. Từ tháng 3 năm 1955 đến tháng 12 năm 1958, ông là Chủ nhiệm chính trị, Phó Bí thư Đảng uỷ Ban Nghiên cứu sân bay (tiền thân Quân chủng Không quân), sau là Cục Không quân, sau học bổ túc tại Trường Trung cao Quân sự. Ban do tướng Trần Quý Hai là trưởng ban và tướng Hoàng Thế Thiện là Chính ủy đầu tiên. Ban nghiên cứu sân bay là tiền thân của Không quân Nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 3 năm 1955 theo quyết định số 15/QĐA của Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Từ tháng 10 năm 1963 đến năm 1965, Quân ủy Trung ương quyết định hợp nhất Phòng không Không quân, ông là Phó Chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân do ông Phùng Thế Tài là Tư lệnh, ông Đặng Tính Chính ủy và ông Lê Văn Tri là Phó Tư lệnh, sau đó ông được cử đi học lớp lý luận tại Liên Xô.

Từ năm 1965 đến tháng 2 năm 1967, không quân phát triển, Bộ Tư lệnh Không quân đựoc thành lập, ông là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Không quân, Đảng uỷ viên Quân chủng Phòng không - Không quân. KHi đó ông Nguyên Văn Tiên là Tư lệnh, ông Hoàng Ngọc Diêu và Đào Đình Luyện phó Tư lệnh, ông Đô Long phó Chính ủy. Ông đặc trách công tác chính trị và tổ chức của Không quân, tuyển chọn người đi học lái, xây dựng đội ngu cán bộ. Từ tháng 3 năm 1967 đến tháng 5 năm 1968, ông là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Không quân, Đảng uỷ viên Quân chủng Phòng không - Không quân. Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 9 năm 1968, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân.

Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị, Phó chính uỷ Bộ Tư lệnh 500 là Bộ Tư lệnh tiền phương Tổng cục Hậu cần (sau này Bộ Tư lệnh 500 sát nhập với Bộ Tư lệnh đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn). Bộ Tư lệnh 500 phụ trách 5 đoạn vượt khẩu ở các đường số 8, 10,12, 18, 20 gồm trên 800km đường chính và gần 400km đường vòng tránh. Lực lượng cầu đường thuộc Bộ Tư lệnh có 12 tiểu đoàn và 6 đại đội công binh, 12 đội thanh niên xung phong, một số đội cầu đường của Bộ Giao thông vận tải và được tăng cường 3 trung đoàn (7, 219, 83) và Đội phá bom 93 thuộc Bộ Tư lệnh Công binh. Lực lượng công binh thuộc Bộ Tư lệnh 500 lên tới trên 9.200 người, thanh niên xung phong có gần 7.500 người, trong đó có 70% là nữ.Trong thời gian này lực lượng công binh thuộc Đoàn 559 có 13.000 người, chiếm 31% quân số toàn tuyến, gồm 4 trung đoàn cầu đường (98, 4, 10, 251), 1 tiểu đoàn vượt sông và 15 tiểu đoàn bảo đảm giao thông thuộc các binh trạm.

Từ tháng 4 năm 1969 đến tháng 4 năm 1971, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân, được bổ túc tại Trường Trung cao Chính trị. Do yêu cầu của chiến trường, tháng 5 năm 1971, tôi được điều vào làm Chính ủy Đoàn 470-phụ trách cung đường từ Nam Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia đến Nam Bộ, với nhiệm vụ vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam. Vào đến Bộ Tư lệnh 559, ông gặp lại ông Đồng Si Nguyên và được giư lại làm Phó Tư lệnh và chuyển từ làm công tác chính trị sang công tác quân sự. Từ tháng 5 năm 1971 đến tháng 5 năm 1976, ông là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn kiêm phụ trách Tổng cục Hậu cần Tiền phương (12/1972 - 1/1973).

Tổng tiến công và nổi dậy 1975, trong Chiến dịch Tây Nguyên ông được Bộ tư lệnh 559 phân công đi cùng Đại tướng Văn Tiến Dung vào sở chỉ huy tiền phương của bộ. Ngày 15 tháng 4 năm 1975, ông được Tư lệnh Đồng Si Nguyên giao cho nhiệm vụ nắm chắc lực lượng phía trứoc của Sư đoàn 470, 471 và lực lượng phòng không để bảo đảm các yêu cầu của mặt trận và thường xuyên báo cáo diên biến tình hình ở mặt trận về Bộ tư lệnh 559 đồng thời ông được tướng Văn Tiến Dung điện gấp vào Bộ Chỉ huy chiến dịch giúp việc cho tướng Đinh Đức Thiện-chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh bảo đảm vận chuyển hậu cần và cơ động bộ đội cho mặt trận. Ông trực tiếp kiểm tra đôn đốc khắc phục cầu Nha Bích, tổ chức đón tiếp đoàn xe Quân khu V chi viện cho mặt trận do Thiếu tướng Vo Thứ - Thiếu tướng phó Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ huy.

Từ tháng 6 năm 1976 đến tháng 6 năm 1979, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế. Từ tháng 7 năm 1979 đến tháng 5 năm 1986, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, được cử đi học tại Trường Nguyễn Ái Quốc. Từ tháng 6 năm 1986 đến tháng 3 năm 1987, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế. Từ tháng 4 năm 1987 đến tháng 5 năm 1989, ông giữ cương vị Quyền Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế, Phó Bí thư Đảng uỷ Tổng cục. Từ tháng 6 năm 1989 đến năm 1992, ông là Phó Chủ nhiệm thứ nhất Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng). Thiếu tướng Phan Khắc Hy được nhà nước cho nghỉ hưu năm 1993. Hiện nay ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh.

Tham khảo: Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Tướng Hoàng Minh Đạo, người đặt nền móng cho tình báo quân sự
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:50:58 am
(http://img12.imageshack.us/img12/5544/daophucloc.jpg)

Tướng Hoàng Minh Đạo (4/8/1923-24/12/1969), Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (8/4/1998), nguyên là Trưởng phòng Tình báo (đầu tiên, nay là Tổng Cục Tình báo Bộ Quốc Phòng), Trưởng ban quân báo Nam Bộ, Phó Ban binh vận Trung ương cục Miền Nam, Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Sài Gòn – Gia Định, Bí thư Khu 5 - Bí thư phân khu I Sài Gòn - Gia Định, Chính uỷ lực lượng Biệt động Sài Gòn. Ông được truy phong Quân hàm tướng.

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 1999)…


“Có nhiều thời gian công tác với đồng chí Đạo tại chiến khu miền Nam, Cămpuchia, khu ủy Sài Gòn – Gia Định, tôi thấy: đồng chí Hòang Minh Đạo còn có nhiều bí danh khác như Năm Thu, Năm Đời, Năm Sài Gòn – là một đồng chí trung kiên, luôn hòan thành tốt nhiệm vụ được Đảng phân công, tận tụy với Đảng cho tới ngày hi sinh” (Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh)

Trung tướng Hoàng Minh Đạo tên thật là Đào Phúc Lộc ngoài ra ông còn có các bí danh khác như Năm Thu, Năm Đời, Năm Sài Gòn. Ông sinh ra tại thôn Vườn Trầu, Trà Cổ, Móng Cái, Hải Ninh nay là thị xã Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. Ông là con của ông Đào Ngọc Khanh (Đào Sĩ) và bà Vũ Thị Trình. Dòng họ Đào ở Quảng Ninh nổi tiếng về truyền thống yêu nước mà cụ Phan Bội Châu đã từng tặng câu đối khen tặng, đại ý: “Lòng yêu nước thương dân của họ Đào như viên ngọc quý giữa đời thường...”.

Tuổi thơ của ông rất cơ cực và thiếu thốn về mặt tình cảm. Bố ông luôn xa nhà trong những chuyến làm ăn. Mẹ ông là một người đàn bà cam chịu. Sau khi mẹ ông mất (năm ông 6 tuổi), bố ông lấy vợ khác rồi ra khu mỏ than Hồng Gai làm cai. Do người vợ thứ hai của bố ông khó tính không ở được, bố ông để cho chị ông là bà Đào Thị Hải đem ông về Hải Phòng. Tại Hải Phòng, chị ông làm thợ may còn ông vừa đi học vừa làm phụ sửa chữa xe để đỡ đần chị. Chính tại đây hai chị em ông gặp được nhà cách mạng Tô Hiệu, đó là thời gian hai năm 1938-1939 khi mà nhà cách mạng Tô Hiệu từ Côn Đảo về bị bệnh lao phổi phải ở Hải Phòng dưỡng bệnh đồng thời chỉ đạo phong trào.

Thời kì mặt trận dân chủ (1936-1939), ông và chị bắt đầu tham gia cách mạng. Khi đó, ông tham gia trong phong trào thanh niên, học sinh yêu nước ở Hải Phòng. Năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới 16 tuổi. Do quê ở gần biên giới, cha làm việc ở vùng mỏ, ông và chị ông có điều kiện đi lại thuận tiện nên được Bí thư khu uỷ Tô Hiệu phân công ở bộ phận giao thông, lúc ấy thường gọi tắt là Z.T. của khu uỷ, giữ đường dây liên lạc của khu uỷ với vùng mỏ, đặc biệt lúc phong trào bị thực dân Pháp đàn áp ác liệt nhất. Hai chị em ông thuê một gian nhà nhỏ ở cuối ngõ Cô Ba Chìa phố Tám Gian. Ngõ sâu và hẹp lại tiếp giáp với cánh đồng lúa, rau rộng của Đông Khê, Lạc Viên. Nhà cách mạng Tô Hiệu đã xây dựng cơ sở bí mật này, chỉ có các đồng chí của ông trong Liên tỉnh uỷ khi thật cần mới liên hệ với Tô Hiệu ở đây. Hai chị em ông vừa lo bảo vệ cơ sở, chăm nuôi cán bộ lãnh đạo của Liên tỉnh uỷ, nhất là khi Bí thư Tô hiệu mắc bệnh lao nặng bị ho ra máu, sức khoẻ suy sụp.

Ông cùng chị gái thường lấy cớ về quê Trà Cổ ăn giỗ, ăn tết hay ra Hồng Gai thăm bố bằng đò dọc Thuỷ Nguyên hay tầu khách Giang Môn, Kim Môn nên đã chuyển được nhiều nghị quyết, chỉ thị tài liệu tuyên truyền cho khu mỏ và liên hệ với ông Bùi Đức Minh (tức Tư Béo), người được phân công tìm đường liên hệ với lãnh tụ Nguyễn ái Quốc và những nhà cách mạng ở hải ngoại. Ngày 1/12/1939, cơ sở Đảng ở khu xi măng Thượng Lý bị vây khám, các ông Tô Hiệu, Bùi Đình Đổng, Ngô Minh Loan bị mật thám bắt đầy đi Sơn La. Ông Thành Ngọc Quản thay giữ nhiệm vụ bố trí lại đường dây liên lạc, Đào Phúc Lộc chưa từng bị lộ cho chuyển về Trà Cổ làm một đầu mối mới ở vùng mỏ, tạm giữ đường dây với ngoài cho đến khi có người ở Xứ uỷ ra thay. Khi ông Nguyễn Thanh Bình thuê được căn hộ trong khu nhà ánh Sáng để làm trụ sở bí mật của Thành uỷ Hải Phòng thì Đào Phúc Lộc được điều về làm Z.T. của Thành uỷ cùng hai anh em Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Nghị.

Năm 1940, trong một chuyến công tác, ông bị bắt, bị kết án và bị dẫn giải qua nhiều nhà tù, song thực dân Pháp đã không khai thác được gì từ người thanh niên 17 tuổi này. Bất lực, thực dân đưa anh về quản thúc tại quê hương Móng Cái sau hai năm bị bắt giữ, đồng thời bị quản thúc tại quê hương 5 năm. Đánh lạc hướng được mật thám thực dân phong kiến, ông trốn sang Trung Quốc bắt liên lạc với tổ chức tiếp tục hoạt động. Khi đó, ông Trường Chinh đã giao cho ông quay trở về quê hương xây dựng cơ sở ở vùng Móng Cái, lập đường dây bí mật theo đường Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh-Quảng Tây để đưa đón cán bộ đi về qua biên giới hoạt động. Trong thời gian này, ông vẫn bí mật hoạt động với vỏ bọc người phụ lái để đi lại hoạt động trên tuyến Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Yên - Móng Cái. Nguyên là bà Nguyễn Thị Kíu (chủ hiệu bánh Tùng Hiên) và người anh trai (một nhà tư sản yêu nước) có xe ô-tô chở hàng, chay trên tuyên đường này. Khi ông mới ra tù, bà Kíu đã tạo bình phong cho ông giả vai phụ lái. Kết quả là một chi bộ Đảng Cộng sản ở Móng Cái ra đời do ông làm bí thư, lấy bí danh là Minh Phụng là tên người con gái của một vị quan trong phủ Quảng Yên trốn gia đình tham gia Việt Minh một lần cứu ông khỏi sự truy đuổi của mật thám.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông về Hà Nội. Khi Phòng Tình báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu được thành lập (25/10/1945) ông nhận quyết định làm Trưởng phòng tình báo Quân ủy hội khi mới 22 tuổi, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Quân ủy hội-Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái. Khi đó với tên mới là Hoàng Minh Đạo, ông là người có công lớn trong việc mở các lớp đào tạo cán bộ tình báo đầu tiên của ngành Tình báo quân sự Bắc - Nam trong những ngày đầu kháng chiến với những tên tuổi như Thiếu tướng Cao Pha, vợ chồng Đại tá Anh hùng Nguyễn Minh Vân (chỉ huy quân báo mặt trận Hà Nội)... Tháng 12 năm đó, ông tổ chức lễ thành hôn với bà Minh Phụng.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), ông gửi vợ và con gái là Minh Vân lên chiến khu, còn ông tiếp tục ở lại tổ chức, xây dựng chỉ đạo mạng tình báo thu thập tin tức. Tháng 2/1947, trong đợt chỉnh đốn và tổ chức lại cơ quan tình báo trong thời chiến, ông giao nhiệm vụ này tại mặt trận Hà Nội cho ông Nguyễn Minh Vân (tên thật là Nguyễn Đình Quảng, Đại tá Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân) rồi cùng Cơ quan tình báo Trung ương lên Chiến khu.Tại chiến khu, ông đã chỉ đạo tổ chức nhiều khóa huấn luyện nghiệp vụ tình báo tại Ỷ La Tuyên Quang đạo tạo nhiều cán bộ tình báo phục vụ kháng chiến.

Năm 1948, với bí danh là Hoàng Minh Đạo ông nhận lệnh điều động vào tăng cường cho chiến trường miền Nam đảm trách nhiệm vụ Đặc phái viên của Bộ Tổng Tham mưu đi kiểm tra tình hình từ Khu 4 vào Nam Bộ để kiện toàn và thống nhất lại các tổ chức của ngành tình báo, giúp cơ quan Cục có điều kiện chỉ đạo kháng chiến trong toàn quốc. Trước khi đi, ông lên Việt Bắc để chia tay vợ và con gái, thì người vợ bị sốt rét ác tính vừa qua đời. Ông phải gửi con gái lại cho chị nuôi là bà Nguyễn Thị Kíu.

Năm 4/1951, ông làm lễ cưới với bà Bùi Ngọc Hường là giao liên của Cục tình báo Trung ương tại Chiến khu Đ. Năm 1964, bà Hường bị bắt và đầy ra Côn Đảo cho đến tận năm 1974 thì được trao trả. Ông bà sinh ba người con là : Minh Ngọc, Minh Thu rồi Minh Hồng. Cuối năm 1954, ông là Phó Ban Binh vận Xứ ủy Nam Kỳ được điều động gấp về Sài Gòn trước khi thời gian tập kết có hiệu lực.

Đầu năm 1955, Xứ ủy Nam Bộ quyết định lập “Ban nghiên cứu Xứ ủy “-Ban địch tình (Ban này tồn tại đến 1961), do Ủy viên Xứ ủy Ba Viên phụ trách. Hoàng Minh Đạo, nguyên là trưởng phòng quân báo Nam Bộ về làm Phó trưởng ban. Rồi cụm tình báo chiến lược chỉ đạo trực tiếp các hệ tình báo chính trị-quân sự-phản gián-chiến lược ra đời, trong đó hệ tình báo quân sự gồm 6 lưới từ NB1 đến NB6 do Hoàng Minh Đạo phụ trách.

Năm 1969, Trung ương cục điều Đào Phúc Lộc từ Phân khu 5 về làm Chính ủy Phân khu 1-vùng Củ Chi. Đêm Nô-en (24-12), Chính ủy Đào Phúc Lộc cùng Phó tư lệnh phân khu Tám Lê Thanh về Trung ương cục dự họp. Khi vượt sông Vàm Cỏ Đông, đoàn phải chia làm hai nhóm. Ghe chở Phó tư lệnh Tám Lê Thanh qua sông trước trót lọt, còn ghe chở Chính ủy Đào Phúc Lộc đi sau đụng giang thuyền địch, tất cả đều hy sinh giữa dòng nước.

Vì hoàn cảnh chiến tranh, hoạt động trên mặt trận thầm lặng, cái tin ông hy sinh phải giữ bí mật, gần ba chục năm sau vợ và các con của anh vẫn còn phải chịu nỗi đau bởi bà con nơi ông sinh ra ở Móng Cái-Quảng Ninh thậm chí còn tin đồn anh là “kẻ phản bội Tổ quốc”... Công lao của vị tướng tài năng đã được ghi nhận. Ngày 8/4/1998, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng đã tổ chức lễ truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân cho Liệt sĩ Đào Phúc Lộc. Đây là Huân chương cao quý đầu tiên được trao tặng cho Anh hùng Đào Phúc Lộc trong số gần 2.000 Anh hùng Lực lượng vũ trang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Cuộc đời hoạt động cùng những chiến công của nhà Tình báo lỗi lạc Đào Phúc Lộc đã được xây dựng thành kịch bản cho bộ phim mang tựa đề “Con đường sáng”.

Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với sự ra đời của ngành Tình báo quân sự. Ông chính là người đầu tiên xây dựng nền móng cho sự thành lập của ngành, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và ngày càng phát triển mạnh mẽ trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Ông cũng là một trong những nhân vật quan trọng sáng lập ra Ban địch tình Xứ ủy Nam Kỳ và ngành Binh vận vào thời điểm gay go ác liệt nhất của cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ (1954 – 1975), trở thành một trong những mũi giáp công lợi hại của Cách mạng miền Nam.


Tiêu đề: Thượng tá Bông Văn Dĩa, người mở đường mòn Hồ Chí Minh trên biển
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:54:14 am
(http://img46.imageshack.us/img46/5825/bongvandia014.jpg)

Thượng tá Anh hùng Bông Văn Dĩa (1905-30/5/1983), Anh hừng Lực lượng vũ trang Nhân dân (1967). Ông từng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), Trong Kháng chiến chống Pháp, đã tổ chức mua 16 tấn vũ khí cung cấp cho các chiến trường Nam Bộ. Trong Kháng chiến chống Mĩ, tích cực cùng đồng đội mở đường vận tải biển Bắc - Nam chuyển vũ khí cho chiến trường Miền Nam.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba... Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân năm 1967


Thượng tá Bông Văn Dĩa (bí danh Ba Địa), sinh tại ấp Rạch Gốc xã Tân Ân huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau trong gia đình dân nghèo vùng biển. Được thầy giáo Phan Ngọc Hiển giúp đỡ, ông sớm giác ngộ cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1940. Từ khi vào Đảng ông hoạt động rất tích cực ở vùng Rạch Gốc. Ngày 12/12/1940, từ xã Tân Dân huyện Ngọc Hiển ông được cấp trên giao nhiệm vụ đến Hòn Khoai trao nghị quyết khởi nghĩa của Tỉnh ủy Cà Mau cho nhà cách mạng Phan Ngọc Hiển và cùng tham gia tổ chức cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai.

Khi cuộc khởi nghĩa bị khủng bố, ông bị thực dân Pháp kết án khổ sai đày đi Côn Đảo. Suốt những năm lưu đày chịu nhiều cực hình tra tấn dã man, ông vẫn luôn giữ vững khí tiết cách mạng, cùng với chi bộ nhà tù đấu tranh và tổ chức nhiều cuộc vượt ngục đưa các chiến sỹ của ta về đất liền hoạt động. Cách mạng tháng Tám thành công, ông cùng các chiến sỹ tù Côn Đảo được rước trở về tiếp tục hoạt động cách mạng.

Lúc đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ rất cần vũ khí đánh giặc, ông được phân công chở hàng qua Thái Lan đổi lấy vũ khí. Chuyến đi này được sự trợ giúp cuả bà Nguyễn Thị Hoài - là vợ ông Bông Văn Dĩa nên công việc được cải trang chu đáo bí mật. Đến Thái Lan mặc dù bị nhà cầm quyền bắt giam 4 tháng nhưng khi vưà ra tù ông chở ngay chuyến vũ khí từ Thái Lan về Rạch Gốc Năm Căn.

Lần thứ 2 do vận chuyển bằng đường biển khó khăn nên phải tổ chức bằng đường bộ từ Thái Lan qua Căm Pu Chia về Việt Nam và phải chuyển từng đoạn hết sức vất vả; trên đường vận chuyển bị địch ngăn chặn, ông cùng đơn vị chiến đấu 10 trận để bảo toàn vũ khí, chiến sỹ ta có 10 ông phải hy sinh. Sau đó ông được bổ sung vào đơn vị Cửu Long, tham gia nhiều trận đánh Pháp.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vào năm 1961 trước tình hình Mỹ Diệm ngang nhiên đi ngược lại Hiệp định Giơ-ne-vơ và trước phong trào Đổng khởi, Trung ương có chỉ thị các tỉnh ven biển miền Nam cho thuyền vượt biển ra Bắc để tính chuyện chở vũ khí về. Ông được bố trí giao nhiệm vụ rất quan trọng là tổ chức thăm dò tuyến đường biển từ Cà Mau ra miền Bắc để chở vũ khí vào miền Nam đánh giặc. Bà Rịa cho thuyền ra, do ông Năm Đông tổ chức. Trà Vinh thì cử sáu người, mang bí danh là Đoàn, Kết, Đấu, Tranh, Thắng, Lợi. Bến Tre cho thuyền ra do ông Tư Thắng phụ trách. Khu 6 cũng cử ông Đặng Văn Thanh đi ra, theo đường Trường Sơn. Bạc Liêu cử hai thuyền, do ông làm bí thư chi bộ... Các chuyến ra đều rất gian nan.

Thuyền Bà Rịa bị địch bắt ở Nha Trang, sau thoát được lại trôi dạt vào đảo Hải Nam. Thuyền Trà Vinh gặp bão lớn, phải đốn bỏ cả cột buồm, trôi dạt sang tận Hương Cảng... Riêng thuyền của ông dạt vô bờ biển Quảng Bình, bị dân quân ta bắt, tưởng là biệt kích ngụy, đánh cho một trận và giam chặt. Ông nhất định không tiết lộ nhiệm vụ, chỉ một mực yêu cầu giải về Trung ương, trực tiếp gặp Tổng Bí thư Lê Duẩn. Mãi mới được chuyển về huyện. Lại giam. Rồi chuyển về tỉnh. Ông dọa lãnh đạo công an tỉnh: “Các đồng chí không đưa tôi đi gặp đồng chí Lê Duẩn ngay, sau này lỡ việc lớn, phải chịu trách nhiệm”. Vừa may lúc đó TBT Lê Duẩn đang đi công tác ở Quảng Bình. Tỉnh ủy báo cáo:

- Có người trong Nam ra, tự xưng tên là Hai Địa, đòi gặp trực tiếp đồng chí, không chịu khai báo gì nữa.
- Ở đâu? Ở đâu?...

Vậy là hai người gặp được nhau, hai người bạn tù Côn Đảo mấy mươi năm trước. Họ ôm chầm lấy nhau...

Vào ngày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Quốc Phòng ra quyết định số 97/QP do Thứ trưởng Hoàng Văn Thái ký quyết định thành lập lực lượng vận tải quân sự trên biển mang tên Đoàn 759 - tiền thân của Lữ đoàn 125 ngày nay. Cũng từ đó, ngày 23 tháng 10 hàng năm trở thành ngày truyền thống mở đường Hồ Chí Minh trên biển và thành lập Lữ đoàn 125 Hải Quân. Nhiệm vụ của đoàn 759 ngày ấy là “ mua sắm phương tiện, tiến hành vận chuyển các loại hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam bằng đường biển”.

Để thực hiện chủ trương đó, hàng loạt công tác chuẩn bị được tiến hành. xưởng đóng tàu 1 Hải Phòng bí mật đóng tàu. Bộ đội công binh và Hải Quân được Bộ quốc phòng giao nhiệm vụ sửa chữa gấp cầu cảng mang tên K15 dưới chân ngọn đồi Vạn Hoa, Đồ Sơn. Bộ đội quân khí có nhiệm vụ đóng gói súng đạn sao cho những bao gói ấy không có dấu vết chứng tỏ ở miền Bắc. Bộ nội vụ có nhiệm vụ bảo vệ bí mật tuyệt đối tại bán đảo Đồ Sơn…

Sau khi xin ý kiến Quân ủy Trung ương, đoàn 759 quyết định để thuyền “Bạc Liêu” do Bông văn Dĩa phụ trách, đi chuyến trinh sát, mở đường từ Bắc vào Nam. Ngày18 tháng 4 năm 1962, thuyền về tới Bồ Đề ( thuộc Tân An- Ngọc Hiền - Cà Mau). Thuyền đi vào cửa Rạch Ráng. 10 giờ đêm hôm đó thì cập vào Vàm Lũng. Chuyến đi trinh sát đã thành công. Sau khi trở về từ miền Bắc, ông báo cáo với Khu ủy về ý kiến của Trung ương về tình hình bến bãi chưa bảo đảm, chưa thể đưa tàu vào. Khu ủy quyết định thành lập một ban chỉ huy cho công tác đặc biệt này do ông Ba Hòa làm trưởng ban, đưa một đại đội được chọn lọc kỹ xuống căn cứ ở vùng rừng Cà Mau và giao ông đi khảo sát các đảo.

Tìm ra cửa lý tưởng nhất là cửa Bồ Đề, lạch sâu 3,8m, tàu ta có thể vào thong thả. Các cửa Rạch Gốc, Hố Bỏ Gùi, Vàm Lũng, Vàm Cái Su cạn hơn nhưng lúc nước cường vẫn vào được, lại có lạch kín, rừng đước dày, có thể đào ụ giấu tàu và lập kho lớn chứa vũ khí... Sau chuyến khảo sát này, khu ủy quyết định cử hai thuyền ra báo cáo trung ương, một chiếc do ông phụ trách xuất phát tại cửa Rạch Gốc ngày 24-7-1962, một chiếc khác xuất phát sau hai ngày. Đi hai thuyền là đề phòng mất một vẫn còn một. Ông đi trót lọt, đến cửa Việt ngày 29-7.

Qua 2 chuyến đi, về vượt sóng gío và tầu tuần tra của địch, ông báo cáo tỉ mỉ tình hình thăm dò và xây dựng bến bãi tiếp nhận vũ khí cho Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe. Đoàn thủy thủ của ông được lệnh ở Đồ Sơn chờ lệnh về Nam. Tại bến Đồ Sơn, đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy mang tên “Phương Đông 1” chở 30 tấn vũ khí do thuyền trưởng Lê Văn Một và Chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy, xuất phát lên đường vào Nam. Trước khi xuất phát, đích thân các nhà lãnh đạo Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà đến bến cảng Đồ Sơn động viên cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Ông Phạm Hùng nói:

- Các đồng chí là những người đầu tiên mở ra con đường biển Bắc - Nam này. Nó cũng giống như trên Trường Sơn kia, các đồng chí là những người tiên phong đi khai sơn phá thạch”.

Sau 5 ngày vượt biển Đông, ngày 16/10/1962, tàu đến cửa Bồ Đề và cặp bến Vàm Lũng (xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau) an toàn. Đây là chuyến chở vũ khí đầu tiên vào Nam bằng đường biển và con đường vận tải chiến lược trên biển Đông chính thức ra đời.

Ông Bông Văn Dĩa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trở thành người chiến sỹ đầu tiên mở đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Từ đó trở đi vũ khí liên tiếp được đưa từ miền Bắc vào cập bến khu vực mũi Cà Mau. Lúc này ông lại làm nhiệm vụ chuyên chở vũ khí luồn lách qua nhiều đồn bốt địch phân phối cho chiến trường. Với những thành tích và công lao cống hiến đặc biệt, năm 1967 ông được phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.

Đại tá Bông Văn Dĩa là một tấm gương trong sáng, hiến cả cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng - đấu tranh giải phóng dân tộc, ông luôn thể hiện đức tính cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Dáng người thấp, mập gương mặt to tròn phúc hậu giống như ông Địa, để kết xin kể một câu chuyện về ông.

Thay cho phần kết, xin kể lại câu chuyện như sau. Hồi đó địch đánh phá ác liệt, cả vùng U Minh mênh mông là vậy mà hầu như không còn chỗ an toàn, lúc về Kinh Năm là nơi cuối cùng. Nhưng rồi Kinh Năm cũng bị lộ. Trước tình hình đó ông Lê Duẩn bảo với người sĩ quan bảo vệ rằng :

- Lộ rồi. Phải đi thôi!
- Đi đâu bây giờ?

Ông Lê Duẩn nói:

- Còn một chỗ. Còn một người có thể tin cậy: anh Hai Địa ở Rạch Gốc. Rạch Gốc là đất có thể nương náu. Đó là căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai hồi 1941. Chính Hai Địa là cơ sở của đồng chí Phan Ngọc Hiển, từng tham gia cướp chính quyền Hòn Khoai về sau bị tù Côn Đảo. Ở Côn Đảo, mỗi lần chúng tôi bị địch kéo ra đánh thì Hai Địa xông ra chịu đòn thay... Phải đi tìm Hai Địa... đó là con người có thể tin cậy trong lúc khó khăn cùng cực của cách mạng.


Tham khảo: Báo Cà mau điện tử


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm, "cánh rừng đỏ" đất miền Đông
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:55:30 am
(http://img600.imageshack.us/img600/8585/thtnguyenhonglam.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm (20/5/1922-1986), nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7, Phó Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Tư lệnh Quân khu miền Đông.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu Thành đồng...

Thiếu tướng (1974)


Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâp tên thật là Nguyễn Văn Bứa, ngoài ra ông còn có bí danh Nguyễn Hữu Nghĩa. Tuy nhiên người ta nhớ tên Nguyễn Hồng Lâm nhiều hơn. Hồng Lâm tức rừng đỏ, rừng chiến khu cách mạng, ông dùng để đặt tên cho người con trai và lấy làm bí danh khi trở lại hoạt động ở chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Sinh ra một gia đình trung nông ở xã Tân Mỹ Đông, huyện Hóc Môn, Gia Định.

Trong những ngày không khí sửa soạn tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 dâng ngập khắp cả nước, ngày 10 tháng 9 năm 1945, Nguyễn Văn Bứa vận động tập hợp được một đội cảm tử của xã Tân Mỹ Đông, Hóc Môn, do ông làm đội trưởng. Nam Bộ kháng chiến, ngày 23 tháng 9 năm 1945 ông nhập ngũ, chỉ huy 2 tiểu đội vũ trang sát nhập với bộ đội Tô Ký (1919 - 1999) lập lên Khu 2, rồi được cử làm Chỉ huy trưởng Huyện đội Hóc Môn.

Như những chiến sĩ Vệ quốc đoàn ở Nam bộ lúc ấy, Nguyễn Văn Bứa bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với tất cả sự hào hứng của tuổi đôi mươi. Có kiến thức quân sự cơ bản và phẩm chất của một người chỉ huy quyết đoán, nhân hậu, lần lượt ông được giao nhiều trọng trách: Cán bộ tham mưu Giải phóng quân rồi Liên quân Hóc Môn - Đức Hòa - Bà Điểm, Đại đội trưởng Đại đội 2, Chi đội 12 (16.6.1946) (đại đội thời bấy giờ tương đương tiểu đoàn sau nay, còn chi đội tương đương trung đoàn), Trưởng Phòng Tác chiến Liên khu B, Khu 7 (11.3.1947).

Sau thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới. Tình hình đòi hỏi cần phải thành lập những đơn vị chủ lực để “đẩy mạnh vận động chiến tiến tới”. Ở Nam bộ, từ các chi đội Vệ quốc đoàn, hàng loạt trung đoàn được thành lập. Nguyễn Văn Bứa được cử giữ trách nhiệm Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn 312 (trung đoàn được thành lập trên cơ sở phát triển Chi đội 12 Gia Định) (5-1948), Bí thư Chi bộ rồi Trưởng ban Tác Huấn trực thuộc Phòng Tham mưu Khu Sài Gòn – Chợ Lớn (4-1949). Ngày 5 tháng 1 năm 1950, ông được bổ nhiệm chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 300 Nam Bộ, Phó Bí thư Trung đoàn ủy.

Từ giữa năm 1951, Trung ương Cục miền Nam chủ trương sắp xếp lại chiến trường, tổ chức lại lực lượng vũ trang nhằm chống lại có hiệu quả chính sách tập trung bình định và thủ đoạn bao vây chia cắt của địch. Tỉnh Bà Rịa và tỉnh Chợ Lớn sáp nhập lại thành tỉnh Bà – Chợ với lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh là Tiểu đoàn 300. Nguyễn Văn Bứa chuyển sang đảm trách nhiệm vụ Tỉnh đội phó Bà – Chợ (Bà Rịa - Chợ Lớn) kiêm chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 300 và là Phó Bí thư Liên chi ủy.

Những năm 1951, 1952, chiến trường miền Đông gặp rất nhiều khó khăn. Bộ đội thiếu lương thực, thực phẩm, trang phục, chế phẩm y tế và đặc biệt là vũ khí chiến đấu. Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Đông thành lập Tiểu đoàn vận tải chiến lược 320 làm nhiệm vụ tiếp nhận vận chuyển vũ khí, tiền bạc, chất nổ của Trung ương chuyển vào từ Cù My, La Di, Hàm Tân (Bình Thuận), Xuyên Mộc (Bà – Chợ) về Chiến khu Đ, đưa đón bảo vệ các đoàn cán bộ từ Trung ương vào Nam bộ và ngược lại. Đây là công việc hết sức khó khăn nguy hiểm. Ngày 1 tháng 5 năm 1953, Nguyễn Văn Bứa về chỉ huy Tiểu đoàn thay ông Nguyễn Văn Lung lên giữ chức vụ Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Đông. Rồi cũng tại khu vực đầu cầu cung đường vận tải này, Nguyễn Văn Bứa cùng gia đình lên tàu tập kết ra miền Bắc sau khi giữ chức vụ Trung đoàn trưởng rồi làm nhiệm vụ Uỷ viên Ban Liên hiệp đình chiến Khu vực Hàm Tân - Xuyên Mộc, Bí thư chi bộ.

Trước khi là học viên Học viện Quân sự Nam Kinh Trung Quốc (1959), ông là cán bộ tham mưu phụ trách quân lực Phòng tham mưu Sư đoàn 330, Trung đoàn phó Tham mưu trưởng Trung đoàn độc lập 656, Trưởng ban tác huấn Sư đoàn 338 đồng thời là Phó Bí thư Liên chi Tham mư, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 664 rồi Tham mưu phó Sư đoàn 330. Giữa năm 1961, đang chuẩn bị thi tốt nghiệp ở Học viện Quân sự Nam Kinh, ông được Quân ủy Trung ương gọi về cử vào Nam chiến đấu. Ngày 6 tháng 6 năm 1961, ông là Phó đoàn Đoàn cán bộ khung ba quân khu 7, 8, 9 gồm 400 cán bộ từ miền Bắc trở về miền Nam chiến đấu gọi là Đoàn Phương Đông II, đồng thời là Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn.

Tháng 9 năm ấy, ông về lại chiến trường quê hương với cương vị Chỉ huy phó Tham mưu trưởng Quân khu miền Đông (tức Quân khu 7), Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu. Bấy giờ ở Nam bộ, cơ quan quân sự mới chỉ là ban quân sự thuộc các khu ủy do một số Khu ủy viên phụ trách, chưa thành cơ quan quân khu hoàn chỉnh. Các tỉnh đội cũng đang trong quá trình thành lập. Nguyễn Văn Bứa bắt tay xây dựng cơ quan ban chỉ huy quân khu, đủ các tổ chức tham mưu, chính trị, hậu cần, rồi cơ quan các tỉnh đội, huyện đội, các đại đội, tiểu đoàn tập trung của quân khu, của tỉnh.

Từ cuối năm 1964, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tổ chức chiến dịch tiến công với qui mô nhiều trung đoàn chủ lực tham gia trên một địa bàn rộng – chiến dịch Bình Giã, mở đầu cho hàng loạt chiến dịch lớn diễn ra liên tiếp sau đó ở miền Đông Nam bộ. Nguyễn Văn Bứa được phân công làm Chỉ huy phó chiến dịch Bình Giã, và sau đó là Chỉ huy trưởng mặt trận phía Đông (mặt trận phối hợp) trong chiến dịch Đồng Xoài, Chỉ huy phó chiến dịch đông-xuân 1965 – 1966 và tham gia chỉ huy các cuộc pháo kích sân bay quân sự Biên Hòa, tổng kho Long Bình trong các năm 1964, 1966, 1967. Từ tháng 11 năm 1963 đến năm 1967, ồng giữ chức vụ Tư lệnh Phân khu 1 Sài Gòn - Gia Định, Phó bí thư Quân khu uỷ, quyền Tư lệnh Quân khu 7.

Mùa thu năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc tổng công kích tổng khởi nghĩa, chiến trường miền Đông được sắp xếp lại. Quân khu miền Đông (T7) và Quân khu Sài Gòn – Gia Định (T4) giải thể để thành lập các phân khu, hình thành năm mũi nhọn tấn công vào sào huyệt Sài Gòn. Chỉ huy trưởng Quân khu miền Đông (từ 8-1965) Nguyễn Văn Bứa về làm chỉ huy trưởng Phân khu 1, rồi Chỉ huy trưởng Phân khu 5 chỉ huy các lực lượng tiến công đánh vào hướng Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, kho bom Gò Vấp và các địa bàn vùng ven trong đợt tiến công tiếp theo xuân Mậu Thân.

Ngày 22 tháng 8 năm 1968, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Phân khu 5, Phó bí thư Phân khu uỷ. Từ ngày 14 tháng 1 năm 1969, Đại tá Nguyễn Văn Bứa trở lại làm Chỉ huy trưởng Quân khu 7, Phó bí thư Quân khu uỷ, Uỷ viên Thường vụ Ban Cán sự Khu uỷ, bao gồm Phân khu 4, tỉnh Bà Rịa – Long Khánh, luôn cả rừng Sác Đoàn 10. Trong những ngày cam go sau biến cố Mậu Thân, địch phản kích càn quét quyết liệt, phải ăn khoai rừng, rau rừng trừ bữa, ông đã chỉ huy bộ đội bám trụ, tổ chức đánh địch trên dọc đường 1, đường 15, đường 2 Bà Rịa, đụng đầu với đủ những đơn vị từng là niềm tự hào của quân đội Mỹ, từ Sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới, Sư đoàn 1 anh cả đỏ, Sư đoàn kỵ binh bay, Lữ đoàn dù 199, Trung đoàn thiết giáp 11...

Tháng 12 năm 1970, ông là Tư lệnh Phân khu 5, Phó bí thư Phân khu uỷ. Tháng 1 năm 1971, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự Miền và một năm sau kiêm giữ trách nhiệm Chỉ huy trưởng Quân khu miền Đông (T1), Ủy viên Thường vụ Khu ủy (19.8.1973), khi tổ chức chiến trường toàn Miền được sắp xếp lại cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Từ năm 1973 đến năm 1975, ông ra Bắc công tác tại Bộ Quốc phòng.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Bứa chuyển sang làm nhiệm vụ mới: Phó ban thanh tra Bộ tư lệnh Miền (6.1975), rồi Phó tư lệnh kiêm Trưởng ban Thanh tra Quân khu 7 (1.11.1975), Phó Tư lệnh kiêm Cục trưởng Cục Xây dựng kinh tế Quân khu 7 (3.1976). Và từ cuối năm 1984, phụ trách công tác tổng kết chiến tranh, nghiên cứu biên soạn lịch sử quân sự của Quân khu 7.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Bứa mãi hiện hữu trong ký ức cán bộ chiến sĩ miền Đông như hiện thân của một tri thức quân sự rộng và bài bản, lối xử thế đoàn kết, khoan dung, pha chút hào hoa bặt thiệp. Bước chân của ông in dấu trên mọi nẻo chiến trường, từ Gia Định, Tây Ninh đến Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh, hầu hết là địa bàn vùng sâu, sát nách thủ phủ Sài Gòn.Từ trận phục kích, công đồn nhỏ lẻ đến những trận đánh và chiến dịch lớn, riêng trên đất miền Đông, ông có mặt trong hầu hết các biến cố lịch sử mà ý nghĩa của nó từng góp phần làm chuyển đổi cục diện chiến tranh. Ông sinh ra, lớn lên và thành danh ở miền Đông Nam bộ, ăn cơm uống nước và tắm gội trên các con sông chảy từ miền Đông Nam bộ xuôi ra biển cả. Ông là vị tướng của miền Đông!


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Văn Danh, từ tướng tình báo đến tướng kinh tế
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:58:49 am
(http://img714.imageshack.us/img714/8356/tranvandanhfn7.jpg)

Thiếu tướng Trần Văn Danh (1923-2005), Anh hùng lao động, nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh Sài Gòn-Gia Định, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Hồ Chí Minh phụ trách An ninh Quốc phòng, Phó đoàn Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ủy ban liên hiệp quân sự tại trại Đa-vít, Phó Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự Quân giải phóng miền Nam Việt Nam kiêm Trưởng Ban tình báo chiến lược. Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Điện lực, Trưởng ban chỉ đạo xây dựng Nhà máy Thủy điện Trị An.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1978)


Tuổi thơ và cách mạng

Thiếu tướng Trần Văn Danh tên thật là Trần Văn Bá, ông có bí danh là Ba Trần, Trần Quốc Minh quê tại Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Mẹ ông (bà Trần Thị Thảnh) là người Bến Tre lên Sài Gòn làm cô mụ và gặp cha ông là con trai một ông Hương cả trong làng ở Hốc Môn. Ông nội ông là người sống rất nghiêm khắc, nên mẹ con ông phải đến sống ở một nơi khác.

Hàng ngày mẹ ông thức khuya dậy sớm trồng rau, nuôi heo rồi đi bán hàng rong mới kiếm đủ tiền nuôi sáu đứa con nhỏ, trong đó chỉ có một mình ông là con trai. Chị em ông ngày nào cũng phải vào rừng mót củi. Khi làm giấy khai sinh cho ông phải lấy họ mẹ, nên có tên là Trần Văn Ba. Hồi học lớp nhất ở thị trấn Hốc Môn, thấy ông tên Ba, thầy giáo ông mới nói: “Con tên Ba, mỗi lần kêu thầy phải nói “Ba ơi”, thôi, con đổi tên thành Bá cho dễ kêu! Thế là từ đó tên đi học của tôi là Trần Văn Bá! Do chuyện lễ giáo mà mẹ con ông phải sống riêng nhưng bố ông rất thương các con và ông hay tìm cách đến thăm. Ông vốn là một cơ sở cách mạng nên khi Trần Văn Bá được 12 – 13 tuổi cha ông bắt đầu sai ông bí mật đi rải truyền đơn kêu gọi ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ở Hốc Môn thời bấy giờ phong trào cách mạng âm ỉ, sôi sục. Vừa 16 tuổi, Trần Văn Bá thi đậu vào trường Bá Nghệ – Sài Gòn (nay là trường kỹ thuật Cao Thắng). Thích nghề xây dựng, Bá mua sách Pháp về toán, lý, hóa tự học thêm. Để có tiền đi học ở Sài Gòn, ban ngày Bá lãnh vẽ các mẫu thiết kế xây dựng của các văn phòng kiến trúc sư, buổi tối lại làm thêm nghề cơ khí.

Một buổi chiều, vừa ăn cơm ở Chợ Quán đạp xe về nhà, ngang qua rạp hát Trần Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân) cậu học trò trường Bá Nghệ Trần Văn Bá nhìn thấy một cảnh hết sức chướng tai gai mắt: bọn lính Nhật trần truồng như nhộng đang chen nhau tắm trước mặt bàn dân thiên hạ. Vừa bực mình vì cảnh sỉ nhục vừa phải xuống xe dắt bộ để tránh bọn lính Nhật đang tắm, Trần Văn Bá uất ức nói:

"Nghe nói nước Nhật tự xưng là cường quốc, sao chẳng văn minh chút nào, tắm ở truồng."

Không ngờ một tên lính nghe được kêu Bá lại hỏi bằng một giọng tiếng Việt rất sõi:

"Ê thằng nhỏ! Mày vừa nói gì đó?"

Trần Văn Bá liền lặp lại cậu nói của mình. Nghe xong tên lính Nhật cười mỉa mai:

"Tắm truồng không có gì xấu. Mất nước mới là nhục!"

Bá giận đến tái mặt. Nhưng chính câu nói của tên lính Nhật đã làm cho cậu học trò Hốc Môn hiểu ra một lẽ: mất nước đúng là nỗi nhục lớn nhất!

Nhật đảo chính Pháp, trường Bá Nghệ bị đóng cửa, Bá đành phải quay về lại Hốc Môn. Năm 18 tuổi, chàng trai mang nỗi nhục mất nước lại còn phải bị bắt đóng thuế thân. Lòng căm thù bọn cướp nước cứ thế sôi sục trong huyết quản Trần Văn Bá. Vì vậy vào tháng 7 năm 1945, Bá tham gia vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc đang còn hoạt động bí mật. Hưởng ứng cuộc Cách mạng Tháng Tám, Bá cùng lực lượng Thanh niên Cứu quốc đứng ra cướp chính quyền ở Hốc Môn rồi vận động quần chúng kéo về trung tâm thành phố Sài Gòn để biểu dương lực lượng.

9 năm kháng chiến

Sau đó Pháp tái chiếm Nam Bộ. Hốc Môn là cái “ổ Cộng sản” mà họ phải điều động quân đến để dẹp. Trước sự tấn công ác liệt của giặc Pháp, lực lượng cách mạng ở Hốc Môn được lệnh phải tạm thời phân tán. Trần Văn Bá liền gia nhập vào Đội trinh sát của Khu 7, và bắt đầu cuộc chiến đấu với giặc Pháp khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trong đó có địa bàn Sài Gòn – Chợ Lớn mà người chiến sĩ trinh sát vốn là cựu học sinh trường Bá Nghệ rành rẽ từng con hẻm, từng con rạch... Để nhớ đến tên mình là Trần Văn Ba và cũng là người con thứ ba trong gia đình, Bá lấy bí danh là Ba Trần.

Sau những chiến công hết sức táo bạo và dũng cảm, chiến sĩ trinh sát Ba Trần được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Ba Trần đề nghị được lấy tên Trần Văn Danh để ghi vào hồ sơ đảng tịch. Ba Trần hay cùng nhóm quân báo đi về Bửu Long một làng ven sông Đồng Nai sát thị xã Biên Hòa – là nơi đang bị quân Pháp tạm chiếm và đặt các cơ quan hành chánh, quân sự của chính quyền tay sai.

Nhờ gan dạ xông xáo khắp nơi và cũng được sự chở che, đùm bọc của đồng bào, năm 1949 Ba Trần được đề bạt làm Tham mưu phó kiêm Trưởng ban quân báo liên tỉnh Thủ – Biên. Ở cương vị này, Ba Trần lại càng phát huy khả năng đặc biệt của mình trong nhiệm vụ. Và vì vậy đến năm 1954, Ba Trần đã trở thành Phó Chính ủy kiêm Bí thư Trung đoàn ủy của một đơn vị bộ đội lừng lẫy những chiến công đánh Pháp ở miền Đông Nam Bộ: Trung đoàn 556. Nhưng cũng vào thời điểm này thì có lệnh “đình chiến” và Phó chính ủy Ba Trần được lệnh tập kết ra Bắc. Sau đó, Ba Trần được phong quân hàm thiếu tá. Trần Văn Danh được học văn hóa trở lại. Và sau đó được chọn vào học trường An ninh. Đặc biệt là được đào tạo bài bản về công tác tình báo, mà người sĩ quan miền Nam này có khá nhiều kinh nghiệm thực tiễn.

Vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu

Vào cuối năm 1960 Trần Văn Danh được lệnh vượt Trường Sơn để về miền Nam chiến đấu. Những ngày cuối cùng trước khi rời miền Nam, Trần Văn Danh cứ như bị thôi thúc bởi lời dặn dò của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khi ông thăm đoàn cán bộ đang chuẩn bị về Nam: các đồng chí ra Bắc đã học tập tốt, nay nhanh chóng về Nam cùng các đồng chí trước đây ở lại tổ chức quần chúng nổi dậy, lôi kéo binh lính địch, chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Hiện nay chúng ta vẫn còn một cái nhục, là “nhục mất nước”.

Con đường trở lại chiến trường miền Nam cực khổ muôn vàn vì đây là đoàn tiền trạm, có lúc người chiến sĩ to lớn, vạm vỡ như Ba Trần còn bị viêm phổi nặng đến nỗi ông nghĩ mình khó lòng mà qua khỏi. Khi đến được vùng sông Re (thuộc tỉnh Quảng Nam bây giờ) đoàn cán bộ về Nam gần như chới với vì sốt rét, bệnh tật và... cái đói cứ đe dọa từng ngày.

Đoàn cán bộ quân sự đầu tiên từ miền Bắc về Nam tìm được đường vào căn cứ Trung ương Cục đều đã đói rách bệnh tật đến thảm hại. Thế nhưng ngay sau đó lại trở thành cái vốn quý để thành lập Ban Quân sự Miền do ông Trần Văn Quang (1917, Thượng tướng) được cử làm Trưởng ban. Ba Trần được phân công làm Trưởng ban tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền.

Nhận nhiệm vụ, việc đầu tiên Ba Trần phải làm là bắt tay xây dựng lại ngành tình báo cách mạng bằng cách tuyển chọn cán bộ từ ban địch tình. Vì sau bảy năm từ khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với chính sách tố Cộng vô cùng dã man, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt giết, bỏ tù hàng loạt cán bộ làm cho lực lượng tình báo cách mạng gần như tan rã, tê liệt hoàn toàn. Mưu trí hơn, Ba Trần cho tổ chức điều nghiên và lợi dụng sự sơ hở của địch do mâu thuẫn nội bộ để giải cứu các cán bộ tình báo đang bị giam cầm rồi bố trí hoạt động trở lại. Sau đó, Ba Trần đã từng bước “cài” được các chiến sĩ tình báo vào các cơ quan đầu não của Mỹ, ngụy như: dinh Độc Lập (Phủ tổng thống ngụy), Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa, cơ quan đặc ủy trung ương tình báo, bộ tư lệnh hải quân ngụy, bộ tư lệnh Đệ nhất Hạm đội Hoa Kỳ... Qua đó, Ban tình báo chiếm lược đã thu thập, khai thác được nhiều thông tin tối mật của địch kịp thời cung cấp, phục vụ cho việc chỉ đạo chiến tranh của Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, Trung ương Cục và Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vai trò chỉ đạo tình báo chiến lược của Ba Trần rất quan trọng. Căn cứ vào tình hình quân sự, từng thời kỳ, nhiều đồng chí thay đổi nhiệm vụ công tác, nhưng cương vị Trưởng ban tình báo chiến lược vẫn do Ba Trần đảm trách. Có lúc Ba Trần được đề bạt làm Phó tham mưu trưởng Ban Quân sự Miền, nhưng ông vẫn phải trực tiếp phụ trách tình báo, đặc công, biệt động.

Mặt trận ngoại giao trong hang ổ đầu não địch

Làm ra vẻ nghiêm chỉnh thực thi Hiệp định Pa-ri vừa mới ký kết, Mỹ, ngụy buộc lòng phải đón “phái đoàn Việt cộng” vào tận “thủ đô Sài Gòn” để tham gia vào Ban liên hiệp quân sự bốn bên. Vào đầu tháng 1 năm 1973, tại Sở chỉ huy Miền, chính Ba Trần đã nhận được chỉ thị của Trung ương là cùng với ông Trần Văn Trà (1919-1996, Thượng tướng Trần Văn Trà)bàn bạc chọn nhân sự, phân nhiệm, chuẩn bị tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc, dự kiến tình huống bất trắc... để về Sài Gòn tham gia vào Ban liên lạc quân sự bốn bên thực thi Hiệp định Pa-ri. Trong lúc trung tướng Trần Văn Trà túi bụi với những cuộc họp Bộ Chỉ huy Miền để bàn cách phối hợp đấu tranh giữa chiến trường và bàn hội nghị, thì Ba Trần cũng bận tối ngày để chỉ huy thực hiện mọi công việc cho chuyến vào Sài Gòn.

Theo như thỏa thuận, vào ngày 28 tháng 2 năm 1973, máy bay quân sự của Mỹ sẽ đáp xuống sân bay Thiện Ngôn để đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sân bay Thiện Ngôn nằm ở phía bắc Tây Ninh vốn là căn cứ quân sự của một chiến đoàn Mỹ vừa chuyển giao cho quân đội Sài Gòn đã bị bộ đội ta đánh chiếm vào năm 1972 trong chiến dịch Nguyễn Huệ. Trưởng đoàn là trung tướng Trần Văn Trà, các phó trưởng đoàn gồm đại tá Võ Đông Giang (1923-1998, Thiếu tướng-Bộ trưởng Bộ Ngoại giao), đại tá Đặng Văn Thu (Thiếu tướng Đoàn Huyện), đại tá Trần Quốc Minh (Thiếu tướng Trần Văn Danh) cùng các ủy viên như Nguyễn Văn Sĩ, Nguyễn Văn Hoàn, Dương Đình Thảo, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Tư... Có hai nhân vật khiến cho CIA và mật vụ Sài Gòn bất ngờ, điên tiết lên đó là Đại tá Trần Quốc Minh (Ba Trần) và Trung tá Nguyễn Hữu Trí từng nổi danh trong giới giang hồ với biệt danh “đại ca Tư Bốn” một thời, nay lại đeo lon Trung tá quân đội nhân dân Việt Nam.

Khu doanh trại David của không quân Mỹ nằm sát góc tây nam sân bay Tân Sơn Nhất được thiết lập thành hình chữ V gồm ba dãy nhà gỗ quây lại thành chữ U. Trong lòng có vài biệt thự với đường tráng nhựa chạy giữa các dãy nhà cùng sân quần vợt, bóng rổ, bóng chuyền... Vừa tiếp quản trại David, phái đoàn quân sự hai bên liền phân công nhau khẩn trương bắt tay vào việc đào hầm trú ẩn, công sự chiến đấu và cuốc đất trồng rau, tăng gia sản xuất...

Vừa triển khai phương án phòng thủ chiến lược ở trại David xong, linh cảm của một cán bộ tình báo lão luyện mách cho Ba Trần biết là bọn CIA đang ráo riết truy cứu lý lịch của ông và sớm muộn gì chúng cũng sẽ phát hiện lai lịch ông cùng với gia đình. Do đó Ba Trần liền bí mật báo cho vợ là bà Nguyễn Thị Hoa đang sống cùng bốn đứa con ở quê nhà Hốc Môn phải cấp tốc đi vào Khu. Đúng như dự đoán, bà Hoa cùng các con vừa chuyển đi đêm trước thì sáng hôm sau bọn mật vụ, cảnh sát chìm đã ập đến tận nhà.


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Văn Danh, từ tướng tình báo đến tướng kinh tế
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 04:59:29 am
Vị tướng trận mạc trong mùa Xuân đại thắng

Trong chiến dịch Phước Long chuẩn bị mở màn cuộc Tổng tiến công mùa xuân đại thắng 1975, Ba Trần được giao trực tiếp chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen, một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là đài không lưu thông báo cho B52 cùng các loại chiến đấu cơ của địch bay đi oanh tạc ở miền Bắc và hai nước Cam-pu-chia, Lào trên bán đảo Đông Dương; cùng lúc thực hiện nhiệm vụ thứ hai là thu hút hỏa lực của lữ đoàn 81 biệt kích dù, các phi đội chiến đấu F5E của quân đoàn 3 ở Biên Hòa, sư đoàn 25 bộ binh ngụy... Toàn bộ những hoạt động này nhằm phối hợp với cánh quân của ông Năm Ngà (Thượng tướng Nguyễn Minh Châu) đang đánh Tánh Linh – Võ Đắc kềm chế sư đoàn 18 bộ binh ngụy và ngăn chặn không cho các lực lượng của địch yểm trợ Phước Long. Phước Long chính là trận địa của Quân đoàn 4 do ông Năm Thạch (Thượng tướng Hoàng Cầm) chỉ huy.

Trước khi bước vào đợt hai mùa khô năm 1975 theo nhận định chung của Bộ tổng tư lệnh, tình hình quân địch ở chiến trường B2 đã có một số thay đổi. Cái đau nhất của Mỹ, ngụy là công việc bình định, mà chúng đã bỏ ra công sức và tiền của, đến lúc ấy đã bị thất bại nặng nề. Thất bại rõ nét nhất lại là ở đồng bằng sông Cửu Long nơi đông dân và giàu có mà chúng mong làm chỗ dựa cuối cùng. Sau khi đã cố sức mở các cuộc hành quân tái chiếm và giải tỏa trong tháng Giêng ở biên giới Kiếân Tường - Chợ Gạo - Mỹ Tho, Thầy Phó - Trà Vinh, Thới Bình - Cà Mau, khu vực Rạch Giá đi Hà Tiên mà không có kết quả, còn bị thiệt hại. Ở đồng bằng địch phải chuyển qua chuẩn bị để chống lại đợt tấn công mới của ta mà chúng dự đoán là vào trước dịp Tết âm lịch (khoảng 10 tháng 2). Ở miền Đông Nam Bộ chúng định tập trung quân cố đánh chiếm trở lại thị xã Phước Long bằng “Chiến dịch 271” nhưng không thành vì bị đánh khắp nơi, không tập trung được lực lượng đủ sức. Trước tình thế ấy, chúng xoay sang với nỗ lực rất cao để chiếm lại núi Bà Đen - một vị trí thiết yếu, không những phục vụ cho việc phòng thủ miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn mà còn để bảo vệ cho Cam-pu-chia – Phnôm-pênh của chính quyền ngụy Lon-non nữa. Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng Giêng, quân đoàn 3 ngụy có đại biểu của bộ tổng tham mưu tham dự đã sử dụng lực lượng của tiểu khu Tây Ninh và sư đoàn 25 với sự yểm trợ cao của pháo binh (bình quân bắn trên 6.000 quả/ngày) và phi cơ (84 lần chiếc/ngày), đánh phá vào khu vực núi hết sức ác liệt. Chúng đã dùng 29 trực thăng đổ quân nhiều đợt cố chiếm lại cứ điểm trên đỉnh núi nhưng đều bị ta đánh trả quyết liệt, bị thiệt hại nhiều sinh lực, mất nhiều phi cơ và trực thăng. Không những thế, qua theo dõi tin tình báo và lực lượng trinh sát mặt đất nắm được: để chuẩn bị đánh chiếm núi Bà Đen, Mỹ-ngụy còn tập kết một số máy bay trực thăng cùng với xung lực ở Bản Kéo cách đó không xa để chở quân đổ bộ. Chớp thời cơ, đêm 25 tháng Giêng năm 1975 (nghĩa là trước chưa tới một ngày địch khởi sự), Trần Văn Danh đã kịp thời chỉ đạo tập trung hai khẩu pháo 105 ly và sáu khẩu cối 61ly. Vào lúc 03 giờ sáng dồn dập nã đạn vào bãi để máy bay của đối phương. Bị giáng trả bất ngờ, địch không kịp trở tay đối phó. Phần lớn máy bay bị phá hủy và nhiều quân lính bị đền tội. Qua hai đợt tấn công cả phía sau và phía trước của ta, kết cục địch đành nhận thất bại cay đắng, lui về phòng thủ Tây Ninh. Thắng lợi rất có ý nghĩa của mặt trận tấn công chiếm vị trí núi Bà Đen và giữ vững vị trí trước sự phản kích quyết liệt của địch là một chiến công hết sức rực rỡ của một đơn vị nhỏ mà tinh nhuệ của ta. (Thượng tướng Trần Văn Trà)

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với kế hoạch giải phóng Sài Gòn được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua ngày 24/4/1975 Ba Trần có nhiệm vụ chỉ huy lực lượng đặc công, biệt động bí mật chiếm giữ trước và bảo vệ an toàn 16 cây cầu dẫn vào Sài Gòn để mở đường cho đại quân ta tiến vào trung tâm thành phố và ngăn chặn không cho địch phá hoại những mục tiêu quan trọng như: Đài phát thanh, kho xăng, nhà máy điện, nhà máy cấp nước, kho tàng, hồ sơ lưu trữ. Các chiến sĩ tình báo, đặc công, biệt động thành dưới sự chỉ huy của Ba Trần đã anh dũng, mưu trí, táo bạo làm chủ và bảo vệ an toàn các mục tiêu. Nhiều chiến sĩ biệt động, đặc công đã ngã xuống bảo vệ cầu Rạch Chiếc, Sài Gòn, Bình Lợi, Bình Triệu, Bình Điền… trước giờ giải phóng Sài Gòn…

Gần một giờ đêm 30/4/1975, ngay giữa Sài Gòn vừa giải phóng, ông Phạm Hùng – Bí thư Trung ương Cục miền Nam đã công bố quyết định của Đảng và Nhà nước trong trường hợp đặc biệt: Phong đồng chí Trần Văn Danh hàm Thiếu tướng, nhận nhiệm vụ Phó Chủ tịch ủy ban Quân quản thành phố về an ninh quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh thành phố Sài Gòn – Gia Định”

Vị tổng quản Thủy điện Trị An

Năm 1978, sau khi thôi giữ chức Tư lệnh lực lượng vũ trang thành phố, ông sang làm Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Là một nhà tình báo, ông luôn coi trọng mọi hồ sơ tài liệu. Trên cương vị của mình, nhân lúc phân loại các hồ sơ mật của chính quyền Sài Gòn để lại. Qua nghiên cứu phân tích nhiều loại, nào là quân sự, kinh tế, chiến tranh tâm lý, may mắn thay, trong số đó ông bắt gặp sơ đồ thiết kế công trình thủy điện Trị An. Chưa biết trong ấy họ nói những gì chi tiết nhưng chắc chắn đó là điều mà xã hội đòi hỏi cấp thiết. Tuy nhiên, bởi quy mô công trình nó lớn quá, nếu đầu tư công, của không đơn giản chút nào. Trong khi đó tình hình đất nước còn cực kỳ khó khăn, vả lại ông vốn là một người lính chủ yếu quen với trận mạc. Khả năng kiến thức về xây dựng công trình tầm cỡ quốc gia như thế đòi hỏi kỹ năng khoa học cao mới đủ lý luận và thực tiễn để thuyết phục... Trong một hội nghị Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 4 khóa 3 năm 1984, ông trình bày luận điểm của mình với cơ quan lãnh đạo cao nhất của thành phố. Tuy nhiên cũng có những ý kiến tranh luận qua lại, phân tích để thêm sáng tỏ. Song, cơ bản nhất trí rất cao. Đặc biệt ông Võ Văn Kiệt, trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy tỏ vẻ rất phấn chấn.

Sau chuyến ra Hà Nội của đồng chí Bí thư Thành ủy, Trung ương và Chính phủ đã đồng ý căn bản đề nghị của thành phố Hồ Chí Minh. Và chính ông được ông Võ Văn Kiệt đề nghị giữ vai trò chỉ đạo công trình và đề đạt lên Trung ương. Và sau đó ít lâu, ông được Trung ương, Chính phủ điều động sang làm Thứ trưởng Bộ Năng lượng kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình thủy điện Trị An. Tính khẩn trương của công trình một lần nữa thách thức vị tướng tài ba: rà phá bom mìm trong vùng căn cứ chiến khu D, khảo sát địa chất, tiến hành thi công, hoàn chỉnh thiết kế kỹ thuật… Công trình thủy điện đầu tiên của miền Nam sau giải phóng với công suất thiết kế 400 mêga oát (400 MW – 4 tổ máy), sản lượng điện bình quân mỗi năm 1,7 tỷ KWh.

Để đẩy nhanh tiến độ thi công công trình cần huy động mọi nguồn lực xã hội. “Tất cả vì Trị An”, “Tất cả vì dòng điện sáng ngày mai của Tổ quốc”. Hàng vạn lượt thanh niên, công nhân không quản đêm ngày cùng vị chỉ huy đã không những hoàn thành công trình đúng tiến độ mà còn tiết kiệm hơn 10 triệu USD, 3.000 tấn thép trả lại cho Liên Xô. Tổng kinh phí xây dựng công trình 200 triệu USD, ngày 13/9/1989 tổ máy số 4 vận hành. Đã có ít nhất hai lần, bọn phản động âm mưu phá hoại công trình thủy điện nhưng với tinh thần cảnh giác cao và kinh nghiệm của một vị Tướng tình báo ông Ba Trần đã chỉ đạo các lực lượng công an, trinh sát, tình báo của ta phá âm mưu đen tối của kẻ địch.

Qua gần 12 năm công trình đi vào hoạt động, đã tạo ra một hiệu quả vô cùng to lớn cả về kinh tế, xã hội… cho hàng chục triệu con người. Đặc biệt, tăng sản lượng điện đáp ứng cho các khu công nghiệp ở các tỉnh thành phố miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long tăng thêm hấp dẫn mời gọi đầu tư nước ngoài vào làm ăn với ta, thu hút hàng triệu lao động có công ăn việc làm ổn định cuộc sống. Ánh điện đã về tới những bản làng hẻo lánh xa xôi, làm cho bộ mặt nông thôn vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và căn cứ kháng chiến thay đổi rõ.

Năm 1945, Thiếu tướng Anh hùng lao động Trần Văn Danh tham gia cách mạng. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trên nhiều cương vị công tác, ông luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Trần Văn Danh luôn trăn trở trước tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn. Ông đã đề ra phương án xây dựng nhà máy Thủy điện Trị An và được chấp nhận. Sau đó, Trần Văn Danh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Điện lực, kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình Thủy điện Trị An. Đây là công trình thủy diện có tác dụng to lớn trong việc phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế văn hóa và phục vụ đời sống nhân dân nhiều địa phương thuộc các tỉnh, thành phố phía Nam. Ông đã dày công nghiên cứu, lặn lội khắp nơi vận động, tập hợp sức người, sức của trong nhân dân, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nhất là Liên Xô cũ. Trần Văn Danh luôn thể hiện phẩm chất của người đảng viên Cộng sản lão thành, không quản ngại tuổi cao, sức yếu, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình công tác, gần gũi và cảm thông với mọi thành viên trên công trình, trở thành tấm gương cho mọi người học tập.

‘’Đồng chí Ba Danh là người bạn tận tình phục vụ Tổ quốc, có tài năng trong đánh giặc và có tài năng trong xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý’’ (Đại tướng-Bộ trưởng Lê Đức Anh viết khi ông được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lao động)

“người chỉ huy cương nghị, tổ chức và xây dựng thắng lợi công trình thủy điện Trị An lịch sử” (nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)

“Đồng chí Trần Văn Danh luôn nêu cao phẩm chất của người đảng viên cộng sản, không quản tuổi cao sức yếu, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình hăng say công tác, gần gũi và cảm thông với mọi thành viên trên công trình, trở thành tấm gương sáng cho mọi người học tập” (trích Bản tuyên dương Anh hùng lao động)

Tham khảo: Báo Đồng Nai, Bảo tàng Lịch sử Quân sự.


Tiêu đề: Thượng tướng Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng nóng tính
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:00:40 am
(http://img43.imageshack.us/img43/2749/tuongphungthetai.jpg)

Thượng tướng Phùng Thế Tài (1920), nguyên : Thành đội trưởng Thành đội Hà Nội, Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội, Đại đoàn phó Đại đoàn 320, Đại đoàn trưởng Đại đoàn Pháo binh 349, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo binh, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh, Tư lệnh Bộ đội Phòng không, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiên công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thượng tá (1958), Đại tá (1967), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986).


Thượng tướng Phùng Thế Tài (tên thật là Phùng Văn Thụ, ông còn có tên khác là Phùng Hữu Tài) sinh tại làng Văn Minh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, trong một gia đình nghèo, cuộc sống cơ cực nên ông không được học hành và cũng không có nghề nghiệp gì để mưu sinh. Năm 1933, khi ông mới 13 tuổi, mong kiếm được kế sinh nhai cho ông, gia đình đã nhờ cậy một người bà con đang ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc nhận đưa ông sang tìm việc làm kiếm sống. Từ đó, tại một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Vân Nam, ban ngày ông tìm việc vặt kiếm sống ban đêm tá túc với cửu vạn ở chợ Trời.

Mặc dù nai lưng cật lực, toát mồ hôi sôi nước mắt vẫn không đủ sống, lại bị lũ con gia chủ ức hiếp, miệt thị nên ông tẩn cho chúng một trận rồi bỏ trốn lên Côn Minh-thủ phủ của tỉnh Vân Nam giữa năm 1934. Ở Côn Minh, ông trở thành đứa trẻ bơ vơ, ngày sống lang thang trên đường phố. Năm ông 16 tuổi (1936), một đêm đông giá lạnh, khi ông đang co ro trên chiếc ghế đá bên mép hồ có một người thanh niên đến, vỗ bên vai ông và gọi dậy rồi hỏi han nhiều chuyện về nhân thân bằng tiếng Việt. Đó chính là ông Vũ Anh- một đảng viên Cộng sản trong một chi bộ hoạt động ở nước ngoài tại Vân Nam. Từ đó ông giác ngộ theo Cách mạng, và đến năm 1939 được kết nạp vào Đảng.

Đầu năm 1940, ông được ông Vũ Anh giao cho bí mật bảo vệ một người bằng mọi giá trong mọi trường hợp nhưng không được để cho ai biết ông là vệ sĩ của người đó, kể cả người bảo vệ. Sau một thời gian, tổ chức mới cho ông biết người mà ông được giao bảo vệ chính là ông Trần-bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mới từ Mát-xơ-cơ-va về Côn Minh hoạt động. Sau một thời gian thực thi tốt nhiệm vụ, ông được ông Vũ Anh chính thức giới thiệu với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Qua công việc hàng ngày, với tác phong cần mẫn, tận tụy, lầm lỳ, kín đáo, nhưng rất tháo vát, chịu khó và có nhiều sáng kiến, dần dần ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin cậy.

Ngoài tên chính là Phùng Văn Thụ, ông được lãnh tụ đặt tên mới Phùng Hữu Tài - với ý nghĩa Phùng là gặp, Hữu Tài là có tài, ý nói là có ông là người bảo vệ như gặp người có tài. (Đến năm 1952, ông xin phép Bác Hồ cho được đổi lại tên là Phùng Thế Tài vì theo ông cái tên Hữu Tài dễ làm người ta kiêu căng tự phụ).

Để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng trong nước, đầu năm 1941, vào Xuân Tân Tỵ, ngày 28-1, lãnh đạo Nguyễn Ái Quốc từ Vân Nam về đến Cao Bằng, và đặt bản doanh tại hang Pác Pó. Ông được tổ chức giao trọng trách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho Bác trong điều kiện hết sức bí mật và vô cùng gian khổ.

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh cho gia nhập đội và được cử làm tiểu đội trưởng Tiểu đội giải phóng quân Thất Khê và tham gia giành chính quyền tại Thất Khê tháng 8 năm 1945. Sau khi giành chính quyền, ông được cử làm Ủy viên quân sự Việt Minh tại Lạng Sơn, kiêm chức Chi đội phó Chi đội Lạng Sơn. Sau khi Vệ quốc đoàn được tổ chức chính quy hóa, Chi đội Lạng Sơn trở thành Trung đoàn 28, ông được giữ chức vụ Trung đoàn trưởng.

Năm 1947, ông được cử làm Ủy viên quân sự trong Ủy ban Hành chính Kháng chiến Hà Nội. Năm 1951, khi Đại đoàn 320 được thành lập, ông được cử về giữ chức vụ Đại đoàn phó. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 9 năm 1954, ông được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn Pháo binh 349 vừa được thành lập. Trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội, ông được phong quân hàm Thượng tá (1958). Từ tháng 11 năm 1961 đến tháng 11 năm 1962, ông giữ chức Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo binh, kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Pháo binh.

Tháng 12 năm 1962, ông là Tư lệnh Quân chủng Phòng không. Năm 1963, Quân chủng Phòng không - Không quân thành lập, ông được cử giữ chức Tư lệnh đầu tiên của quân chủng này. Trong thời kì chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, dưới sự chỉ đạo của ông, Quân chủng Phòng không đã góp phần không nhỏ trong việc đánh bại chiến tranh leo thang phá hoại của không quân Mỹ bảo vệ vững chắc bầu trời miền Bắc.

Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Không quân Mỹ (1964-1965), ông còn kiêm chức vụ Trưởng Ban phòng chống bão lũ trung ương. Năm 1967, từ đại tá Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, ông được Nhà nước bổ nhiệm chức Phó Tổng Tham mưu trưởng và điều động về công tác tại Tổng hành dinh - Bộ Quốc phòng. Tháng 8 năm 1969, trước tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng xấu, Trung ương quyết định thành lập Ban gìn giữ thi hài do tướng Lê Quang Đạo làm trưởng ban, ông được cử làm Phó ban.

Trong trận Điện Biên Phủ trên không (12/1972), trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng ông thay mặt Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo Quân chủng Phòng không Không quân làm lên chiến thắng lịch sử, đánh bại sức mạnh của không lực Hoa Kì buộc Mỹ phải kí kết Hiệp định Paris. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng ông luôn có mặt trên đường Trường Sơn trực tiếp chỉ đạo chi viện cho chiến trường về mọi mặt.

Năm 1976, khi Tổng cục Hàng không Dân dụng của Việt Nam thống nhất được thành lập, ông kiêm chức vụ Tổng cục trưởng cho đến năm 1978. Ông được Nhà nước Việt Nam cho về nghỉ hưu năm 1990.

Thượng tướng Phùng Thế Tài là một vị tướng có nhiều giai thoại lí thú được lưu truyền trong các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, từ một cậu bé lang thang không nơi nương tựa đến với cách mạng là cận vệ đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh rồi chuyển sang chỉ huy quân sự. Là một vị chỉ huy từng có mặt trong đoàn quân Tây Tiến rồi đến Tư lệnh đầu tiên của một Quân chủng hiện đại còn hết sức non trẻ của Quân đội ta khi đó-Quân chủng Phòng không Không quân. Ông đã cùng các vị chỉ huy của Quân chủng như Trung tướng Lê Văn Tri, Trung tướng Nguyễn Văn Tiên, Đại tá Đặng Tính lãnh đạo Quân chủng làm thất bại hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Ông vẫn được gọi là ‘’Vị tướng của tháng 12 lịch sử’’

Cánh lính trẻ rất thích thú trước tướng Phùng Thế Tài bởi bản tính xuề xòa nhưng không phải không sợ cái oai rất tướng của ông, thân hình cao to, tiếng nói sang sảng khuôn mặt hồng hào và tính nóng như lửa của ông. Chính vì cái tính nóng với cấp dưới mà ông đã nhiều lần bị Bác Hồ chỉnh. Có thể nói ít tướng lĩnh nào của Việt Nam lại gắn bó với Bác Hồ như Thượng tướng Phùng Thế Tài. Ông gắn bó với Bác từ những ngày còn bên Trung Quốc đến khi về Pác Bó trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam đựợc Bác dạy bảo và phát hiện ra khả năng quân sự của ông. Khi Bác mất, ông lại là một trong những người chỉ đạo công việc bảo quản thi hài Bác.


Tiêu đề: Thiếu tướng Tô Ký, vị tướng trung kiên nghĩa hiệp
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:02:54 am
(http://img522.imageshack.us/img522/1116/thieutuongtokydg3b.jpg)

Thiếu tướng Tô Ký (1918 - 17/2/1999), nguyên Trưởng phòng Giao thông Vận tải Bộ tổng tham mưu, Tư lệnh kiêm chính ủy Sư đoàn 338, Chánh án Toà án Quân sự Trung ương, Chính ủy Quân khu 7, Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn. Ngoài ra ông còn là Phó Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh, phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam.

2 Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1961).


Thiếu tướng Tô Ký quê ở xã Mỹ Bình, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Ông tuổi Mậu Ngọ (1918) nhưng khai sinh trễ, giấy khai sinh đề ngày 5 tháng 9 năm 1919. Quê hương ông có truyền thống Cách mạng từ xa xưa. Đây là nơi cụ Nguyễn An Ninh phát động phong trào cách mạng. Đây cũng là nơi Thường vụ Trung ương Đảng đong. Trước Nam Kỳ khởi nghĩa, phong trào cách mạng ở Hóc Môn-Bà Điêm phát triển khá mạnh.

Nhà nghèo, học đến primaire trường Hóc Môn thì phải nghỉ ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 14 tuổi, ông vừa làm ruộng vừa theo học chữ Hán thầy Mười Lời (cụ Phạm Văn Lời) mong theo nghề thuốc. Nhưng rồi phong trào Cách mạng bùng lên trên quê hương Mười tám thôn Vườn Trầu cuốn hút chàng trai trẻ yêu nước, đầy cá tính. Tô Ký tham gia Hội tương tế ái hữu (1936-1937), hoạt động trong phong trào Thanh niên dân chủ, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông dương tháng 4 năm 1937. Năm 1939, ông là huyện ủy viên Huyện ủy Hóc Môn, trong một lần đi phân phát truyền đơn cổ động đấu tranh, ông bị mật thám bắt giam tại Khám lớn Sài Gòn, toà tiểu hình kết án một năm tù ở và ba năm đày biệt xứ.

Tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra. Do điều kiện chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Thân sinh ra ông là cụ Tô Nếp cùng 800 đồng chí bị xỏ dấy kẽm vào lòng bàn tay, đẩy xuống bốn chiếc xà lan, bí mật nhấn chìm vào nửa đêm trên sông Sài Gòn đoạn Xóm Chiếu (5/1941). Thời điểm cha ông bị sát hại cũng là lúc ông đang bị giam cầm trong nhà tù thực dân phong kiến, sau một cuộc vượt ngục không thành. Chính ông đã tận mắt chứng kiến cảnh thân phụ bị mật thám Pháp tra tấn dã man ở bót Catinat trước khi cụ bị thủ tiêu.

Gan lì, dũng cảm, Tô Ký không những khuất phục được những anh chị giang hồ trong tù mà còn luôn đứng ra hứng chịu đòn khảo tra thay cho đồng chí của mình trong các cuộc đấu tranh trực diện. Bị đày đi căng Tà Lài, một trại giam nằm trong rừng, cách thị trấn Định Quán, Đồng Nai hơn 15 cây số. Thời gian này, ông được làm quen với khá nhiều bạn tù tiếng tăm có thành phần xuất thân khác nhau. Những người cộng sản: Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Nguyễn, Dương Bạch Mai,...Những người thuộc nhóm Tờ-rốt-kít như: Đào Văn Long, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu...Những nhà sư yêu nước: Sư Thiện Chiếu, Huệ Thới...

Ở trong tù ông tham gia vào chi bộ của nhà tù, được học tập kiến thức về Cách mạng tư sản dân quyền, chủ nghĩa Mác Lê-nin, học chữ Hán, tiếng Pháp và một số môn khác. Một thời gian sau Nam kỳ khởi nghĩa, tháng 3 năm 1941 chi bộ nhà tù tổ chức vượt ngục gồm các ông Trần Văn Giàu, Dương Văn Phúc (Dương Quang Đông), Châu Văn Giác, Trần Văn Kiết (Kiệt), Trương Văn Nhâm, Nguyễn Công Trung, Nguyễn Hoàng Sính (Đức) và ông. Một nhóm chạy về hướng Sài Gòn, còn nhóm của ông (Giàu, Giác, Ký) trốn lên Đà Lạt. Sau 17 ngày thì đến nơi nhưng do Pháp truy nã gắt gao cho nên lại bị bắt lại đưa về Sài Gòn tuyên phạt 6 tháng tù đưa lên căng Bà Rá, một nơi rừng thiêng nước độc sau đó chuyển về khám Tây Ninh.

Nhật đảo chính Pháp (9 tháng 3 năm 1945), ông thuyết phục được lính mã tà giao súng cho tù chính trị rồi cùng mọi người về quê chuẩn bị tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. Ông về Gia Định được phân công thành lập và chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương. Ông được cử làm Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Gia Định kiêm ủy viên Ban cán sự Liên tỉnh miền Đông phụ trách tỉnh Thủ Dầu Một mà chủ yếu là địa bàn quận Lái Thiêu.

Sau khi giành được chính quyền, ông tiếp tục tham gia xây dựng các lực lượng quân sự tỉnh Gia Định, đồng thời tham gia xây dựng chính quyền rộng khắp địa phương, góp phần dàn xếp ổn thoả giữa Việt Minh mới (Tiền Phong) và Việt Minh cũ (Giải Phóng) để đi đến thống nhất. Khi đó, Lâm ủy Hành chính Nam Bộ có ý định phân công ông làm Tỉnh trưởng Gia Định, rồi tỉnh trưởng Thủ Dầu Một nhưng ông từ chối về Hóc Môn nhằm dàn xếp ổn thoả những mối thù oán từ Nam Kỳ khởi nghĩa (1940)-vì khi đó ở đây đang diễn ra nhiều cuộc trả thù.

Thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam (23/9/1945). Ngày 1 tháng 11 năm 1945, Giải phóng quân liên quận Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hòa chính thức được thành lập do ông Hoàng Dư Khương phụ trách sau đó do ông (chỉ huy trưởng) và ông Trần Văn Trà (sau này là Thượng tướng) (chính trị viên) phụ trách và chỉ huy. Giải phóng liên quận là nòng cốt cho Chi đội 12 do ông làm Chi đội trưởng (1946) về sau đổi tên thành Trung đoàn 312 Vệ quốc đoàn.

Khi tướng Nguyễn Bình vâng lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ vào thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ và được cử làm Tư lệnh Khu 7, ông cùng với các ông Huỳnh Văn Nghệ, Dương Văn Dương được cử làm Phó Tư lệnh, đồng thời là Tư lệnh Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1947-1950). Trên cương vị này ông tận tình giúp tướng Nguyễn Bình thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ.

Từ năm 1951 đến năm 1953, ông là Tỉnh đội trưởng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Định. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông làm trưởng ban chuyển quân tập kết khu vực Hàm Tân, Xuyên Mộc; Chủ nhiệm phòng cung cấp Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Ra Bắc trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, bằng uy tín và bản lĩnh của một nhà chỉ huy dày dạn trận mạc, ông đã góp phần ổn định và nâng cao tinh thần cán bộ chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc nóng lòng quay về giải phóng quê hương.

Từ năm 1957 đến năm 1964, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Sư đoàn 338 rồi sau đó là Chánh án Toà án Quân sự Trung ương. Năm 1961, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và là vị tướng thứ hai của đất Nam Bộ (sau Thiếu tướng Liệt sĩ Dương Văn Dương) và là hai vị tướng của Mười Tám Thôn vườn trầu (Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm hay Nguyễn Văn Bứa), một trong tam kiệt của Hóc Môn-Củ Chi (Tô Ký, Nguyễn Hồng Lâm, Hồ Thị Bi-Đại tá).

Từ tháng 6 năm 1967 đến năm 1974, ông là Chính ủy, Bí thư Quân ủy Quân khu Hữu Ngạn. Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất ông chuyển ngành về Tổng cục dầu khí (12/1978).

Những năm tháng cuối đời, ông lại cùng với tướng Trần Văn Trà đứng ra tập hợp thành lập và lãnh đạo Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh trên cương vị phó Chủ tịch rồi Chủ tịch. Ông được tín nhiệm bầu làm phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam.

Thiếu tướng Tô Ký ra đi đột ngột vào ngày 17 tháng 2 năm 1999, thọ tám mươi mốt tuổi khi chưa thực hiện trọn vẹn ước mơ lớn cuối đời đó là: một cuốn sách đầy đủ và có hệ thống về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuốn sách mà ông đã để tâm nhiều năm, dành nhiều trí tuệ và công sức vào nó.

Tham khảo: Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng).


Tiêu đề: Thiếu tướng YBlok Eban, vị tướng đầu tiên của các dân tộc Tây Nguyên
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:04:13 am
(http://img522.imageshack.us/img522/9439/thieutuongyblokebanso3.jpg)

Thiếu tướng YBlok Eban (1921), nguyên : Chủ tịch Ủy ban Quân quản Đắc Lắc (1975), quyền Tư lệnh Quân khu 6. Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Chủ tịch đầu tiên Tỉnh Đắc Lắc, Đại biểu Quốc hội khóa 3 và khóa 4.

Thượng tá (1958), Đại tá (1974), Thiếu tướng (1984)


Thiếu tướng YBlok Eban sinh ra tại buôn Chư Dluê, thị xã Buôn Ma Thuột, là con trai út trong một gia đình dân tộc Ê Đê có 7 người con. Năm ông lên 2 tuổi, cha ông mất, mẹ ông phải phải đưa anh em ông về làm tôi tớ cho một gia đình địa chủ để kiếm sống. Cũng may gia đình chủ không quá khắc nghiệt cho nên lên 11 tuổi ông được cắp sách đi học tiểu học tại trường ở thị xã.

Học hết bậc tiểu học, do khỏe mạnh nên ông bị bắt vào lính khố xanh và sau đó ông được giao làm lính gác ngục tại nhà lao Buôn Ma Thuột. Chế độ nhà tù thực dân phong kiến khắc nghiệt không những với tù nhân mà còn ngay cả với lính người bản xứ đặc biệt là những người lính mới như ông. Năm 1941, mẹ ông qua đời ông cũng không được cho về nhà nhìn mẹ lần cuối và chịu tang mẹ.

Thời gian đó, nhà tù Buôn Ma Thuột giam giữ nhiều tù nhân chính trị là những nhà cách mạng yêu nước bị thực dân và phong kiến giam cầm như ông Nguyễn Văn Vịnh (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), Tố Hữu, Võ Chí Công, Trần Văn Quang (Thượng tướng Trần Văn Quang), Chu (Hồng Chương), Bùi San… Gần gũi và tiếp xúc với họ, ông được họ theo dõi, giáo dục dần dần giác ngộ đến với cách mạng và trở thành cơ sở đáng tin cậy của cách mạng tại nhà tù Buôn Ma Thuột.

Cách mạng tháng 8 bùng nổ, ngày 22/8/1945, ông chỉ huy tiểu đội lính khố xanh (những người được cách mạng giác ngộ) hỗ trợ quần chúng, biến buổi mít tinh chào cờ của chính quyền bù nhìn thân Nhật thành cuộc mít tinh giành lại chính quyền về tay nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột. Cách mạng thành công, ông gia nhập tiểu đoàn du kích N’Trang Lơng bảo vệ quê hương. Năm 1946, ông được cử đi học tại Trường lục quân Quảng Ngãi. Sau khi tốt nghiệp, ông trở thành một cán bộ của Quân đội Nhân dân Việt Nam trên cương vị đại đội trưởng đại đội vũ trang vùng địch hậu lập nhiều chiến công trên mảnh đất quê hương.

Tháng 4 năm 1953, ông được chọn làm đại biểu của đội du kích N’Trang Lơng lên Việt Bắc dự hội nghị toàn quốc về ‘’Chiến tranh du kích’’. Trước khi vào hội nghị, một niềm vinh dự đối với ông là được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ăn cơm chung, trực tiếp dạy bảo và căn dặn. Sau hội nghị, ông được Trung ương tin tưởng giao cho vận chuyển tiền và vàng vào Liên khu 5 để phục vụ kháng chiến. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông trưởng thành từ một chiến sĩ cho đến cán bộ đại đội, tiểu đoàn và sau năm 1954 tập kết ra Bắc ông giữ cương vị Trung đoàn trưởng.

Năm 1958, trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông được phong quân hàm Thượng tá. Năm 1960, ông lên đường vào Nam tham gia chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên. Ông từng giữ các chức vụ Phó Tư lệnh rồi quyền Tư lệnh Quân khu 6. Năm 1974, ông được phong quân hàm Đại tá.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ngày 19/3/1975, sau khi quân giải phóng hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột, ông được cử giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban quân quản Đắc Lắc. Năm 1976, khi tỉnh Đắc Lắc được thành lập, ông được cử giữ chức vụ Chủ tịch tỉnh và là chủ tịch tỉnh đầu tiên sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Trên cương vị mới, với kinh nghiệm vốn có trong hai cuộc kháng chiến cộng với uy tín của mình trong cộng đồng đồng bào dân tộc, ông đã góp phần không nhỏ vào ổn định tình hình kinh tế chính trị vốn rất lộn xộn ở Đắc Lắc nói riêng và Tây Nguyên nói chung sau ngày giải phóng : đập tan tàn quân Ful-rô, âm mưu kích động đồng bào Thượng lập khu tự trị, gây chia rẽ dân tộc…Với những thành tích trong kháng chiến và sau giải phóng, năm 1984, ông được vinh dự phong quân hàm Thiếu tướng và trở thành vị tướng đầu tiên của nhân dân các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Năm 1986, ông được điều về Bộ Quốc phòng công tác tại Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu. Thiếu tướng YBlok Eban còn là Đại biểu Quốc hội các khóa 3 và 4. Hiện nay, ông là Chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh Đắc Lắc.

Thiếu tướng YBlok Eban là một trong những người con tiêu biểu của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, một vị tướng một nhà cách mạng mẫu mực. Với ông chức vị và quyền lực không quan trọng bằng được phục vụ, được cống hiến và được nhân dân tin yêu. Người ta kể lại rằng sau giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột có rất nhiều nhà bỏ hoang vì nhiều lí do khác nhau, cấp dưới nhiều lần gợi ý ông nhưng ông kiên quyết từ chối mà chỉ ở một căn nhà nhỏ bé, cũ kĩ. Căn nhà ông ở hiện nay vốn là do Chủ tịch Võ Chí Công tặng từ năm 1982, vừa mới được cán bộ và chiến sĩ công an tỉnh Đắc Lắc sửa chữa giùm khi căn nhà bị xuống cấp. Thiếu tướng YBlok Eban có bốn người con trai thì có đến ba người con là sĩ quan trong quân đội.


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Hữu Xuyến, vị tướng có biệt danh "tướng Dên Dên"
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:05:49 am
(http://img522.imageshack.us/img522/3316/trungtuongnguyenhuuxuyejf3.jpg)

Trung tướng Nguyễn Hữu Xuyến (10/1917-2h20’ 4/12/2007), nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1965-1974), nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba).

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1986).


Trung tướng Nguyễn Hữu Xuyến (bí danh Tám Xuyến thời kháng chiến chống Pháp ; Tám Kiến Quốc hay Việt Hồng thời kì kháng chiến chống Mỹ, ông còn có biệt danh tướng Dên Dên) quê tại xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Gia đình ông rất nghèo, cha mẹ ngoài làm ruộng còn làm thêm nghề thủ công nhưng vẫn không đủ sống nên phải dắt nhau vào Nam kiểm kế mưu sinh. Ông được gửi lại quê sống cùng với người anh con ông bác họ và được cắp sách đến trường làng một thời gian ngắn. Ham học, vừa chăn trâu ông vừa cố gắng tìm cách tự học và đọc được nhiều sách như: Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử...

Năm 1930, nghe tin mẹ mất, ông lên tàu vào Sài Gòn. 15 tuổi, ông bắt đầu cuộc đời lang bạt kỳ hồ, khi thì ở Sài Gòn, lúc qua Phnôm Pênh rồi Sa Đéc, Cần Thơ với đủ thứ nghề kiếm sống: sơn guốc, may quần áo, bán hàng, giặt ủi… Đầu năm 1937, khi đang sống tại Sa Đéc, Nguyễn Hữu Xuyến giác ngộ và tham gia cách mạng. Một thời gian sau, ông làm liên lạc giữa Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Nam Bộ. Cuối năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tại Sa Đéc.

Cuối năm 1941, do cơ sở bị lộ, ông bị thực dân Pháp phát hiện và bắt đem về bốt Catinat Sài Gòn. Bị đánh đập, tra tấn đến 6 tháng ròng, ông vẫn không khai báo gì về tổ chức. Sau cùng, thực dân Pháp quyết định đày ông ra Côn Đảo tại đây ông được gặp nhiều nhà cách mạng đàn anh nổi tiếng thuộc nhiều đảng phái khác nhau. Tháng 2 năm 1945, ông được thả và tiếp tục hoạt động cách mạng ở Sa Đéc. Cách mạng tháng Tám thành công, biết ông có tài cũng như kinh nghiệm tổ chức đấu tranh ở Côn Đảo, các bạn tù là ông Phạm Văn Lầu – Chủ tịch tỉnh Sa Đéc, bà Sáu Ngài – Bí thư Tỉnh ủy đề nghị ông tham gia phụ trách công tác quân sự.

Từ năm 1946 đến năm 1951, ông là Chi đội trưởng Chi đội 18 rồi Trung đoàn trưởng và Chỉ huy trưởng Liên trung đoàn 109-111 hoạt động ở khu vực Trà Vinh, Vĩnh Long. Từ năm 1951 đến năm 1954, ông là Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ mà tướng Lê Hiến Mai, tức Dương Quốc Chính, làm tư lệnh, tướng Phan Trọng Tuệ làm Chính ủy…suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông đã cầm quân tham gia nhiều trận đánh lừng danh ở đây (trận tấn công nhà thờ Cù lao Giêng, chi khu quân sự Gò Quao, tiêu diệt Tiểu đoàn Tidoa - Neon ở Cổ Cò, trận La Bang; rồi cùng chỉ huy các chiến dịch Cầu Kè, Trà Vinh, An Biên - U Minh Thượng …).

Năm 1945, lúc Pháp chưa tái chiếm được Sa Đéc, quân Nhật vẫn đi lại hoành hành tự do. Một số lính Nhật không chịu rút, muốn ở ẩn chờ thời cơ. Trận tấn công nhà thờ Cù lao Giêng có cả quân Nhật lẫn quân Pháp. Lực lượng ta gồm bộ đội, du kích từ ba tỉnh Long Châu Sa bao vây tấn công ba ngày đêm. Địch có hỏa lực mạnh, phòng thủ tương đối chặt. Một số tổ xung kích của ta lọt được vào trung tâm nhà thờ nhưng đều hy sinh. Lực lượng ba tỉnh bị tiêu hao, có đơn vị hết đạn, nên bộ chỉ huy chung mặt trận rút lui. Còn lại ba tư lệnh của ba tỉnh ở ba hướng tấn công, liền họp lại, bầu ban chỉ huy chung thay thế và bàn cách đánh tiếp. Quân ta đưa đội hình áp sát nhà thờ, cho nhiều đội xung kích bắt thang trèo vào bên trong để tấn công, đồng thời kết hợp chiến thuật hỏa công. Do nhà thờ có cấu trúc và bố trí như một cứ điểm lớn, nên nếu chỉ dùng mìn, lựu đạn và sức người thì không thể phá vỡ được. Xăng dầu được đưa vào đốt hành lang nhà thờ, sau năm phút vì sợ bị cháy rụi nên địch kéo cờ trắng ra hàng, ta bắt 20 tên Nhật, 10 tên Pháp thu 100 súng các loại...Đánh chiếm nhà thờ Cù lao Giêng là trận thắng đầu tiên vang dội cả đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1947, tại Sa Đéc ta bắt đầu kiểm soát toàn bộ vùng nông thôn., chuyển mọi hoạt động quân sự sang thế chủ động., tự do về tác chiến. Ngay từ đầu tết âm lịch, ta mở trận giao thông chiến tại Cổ Cò Mỹ Tho, với sự phối hợp của lực lượng hai tỉnh Sa Đéc, Mỹ Tho và toàn bộ học viên trường Quân chính Khu 9. Quân ta phục kích đoạn đường dài 12 cây số, hình thành thế trận: dẫn địch vào sâu khu trung tâm, bao vây nhiều lớp và chặn viện nhiều chặng. Tiểu đoàn Tidoa Neon anh hùng của Pháp thắng Đức trong Thế chiến thứ 2, đã bị tiêu diệt hoàn toàn, với 15 xe cơ giới, trong đó có 8 xe thiết giáp. Viện binh của địch ở 2 đầu đều bị chặn đánh. Cách viện binh từ Sài Gòn xuống phá vỡ tuyến phòng thủ thứ nhất nhưng bị tuyến thứ 2 chặn đứng lại. Trận Cổ Cò là trận giao thông chiến đầu tiên của Nam Bộ và có lẽ là trận giao thông chiến đầu tiên trong cả nước.

Năm 1949, ta và địch ở thế giằng co quyết liệt. Địch hòng quét sạch, đẩy ta ra khỏi từng khu vực. Ta cũng chuyển thế tấn công ở từng vùng để tiến đến giải phóng từng phần. Cuộc chiến diễn ra liên tục, nổi bật là hai trận chống càn vào căn cứ của ta, bằng đường bộ và đường sông. Cho đến cuối năm 49, ta mở chiến dịch Cầu Kè thuộc tỉnh Trà Vinh với mục đích tiêu diệt, bức hàng, bức rút một số đồn bốt ở địa phương và diện viện của địch, đồng thời xây dựng lại tình đoàn kết đang bị chia rẽ giữa người Việt gốc Khmer. Lực lượng gồm 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh phối hợp với lực lượng Liên trung đoàn 109-111cùng tiểu đoàn 307 vừa được tăng cường. Sau 10 ngày, ta bức hành bức rút 20 cứ điểm, đồn bốt và diệt 2 cánh địch viện bằng đường bộ và đường sông, hơn 100 quân Pháp và lính lê dương Ma rốc bị bắt, thu nhiều vũ khí đạn dược. Chiến dịch Cầu Kè là chiến dịch tấn công mở vùng, mở mảng đầu tiên ở Nam Bộ giành thắng lợi.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông phụ trách chuyển quân tập kết ra Bắc, đến chuyến cuối cùng thì ông được lệnh ở lại hoạt động bí mật, lãnh đạo và chỉ huy phong trào chiến đấu trong lòng địch. Từ năm 1955 đến năm 1956, ông hoạt động ở miền Tây Nam Bộ cùng tiểu đoàn 307 vừa được tăng cường. Sau 10 ngày, ta bức hàng bức rút 20 cứ điểm, đồn bốt và diệt hai cánh địch viện bằng đường bộ và đường sông, hơn 100 quân Pháp và lính lê dương Ma-rốc bị bắt, thu nhiều vũ khí đạn dược. Chiến dịch Cầu Kè là chiến dịch tấn công mở vùng, mở mảng đầu tiên ở Nam Bộ đã giành thắng lợi.

Tháng 12 năm 1956, căn cứ vào ‘’Đề cương cách mạng miền Nam’’, Xứ ủy Nam Bộ họp thống nhất chủ trương "Do nhu cầu của cách mạng miền Nam, trong một chừng mực nào đó cần phải có lực lượng tự vệ vũ trang tuyên truyền hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng lực lượng vũ trang đó để làm cách mạng đánh đổ Mỹ Diệm". Và ông được Xứ ủy cử về miền Đông để thực hiện nhiệm vụ thống nhất các lực lượng vũ trang.

Tháng 6 năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ thành lập Ban Quân sự và Đảng ủy Lực lượng vũt rang miền Đông Nam Bộ, ông được phân công kiêm nhiệm vụ Trưởng Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ. Để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, đồng thời giải quyết vấn đề tài chính, lương thực cho lực lượng vũt rang đang phát triển. Ông đã điều động lực lượng vũ trang chia thành 3 mũi tập kích chi khu quân sự Dầu Tiếng. Sau 30 phút nổ súng, bộ đội miền Đông hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt 300 tên, bắt sống 200, thu 650 súng các loại, 12 tấn đạn, 5 xe cùng rất nhiều quân trang quân dụng. Chiến thắng Dầu Tiếng gây tiếng vang lớn trên toàn miền Nam. Lần đầu tiên sau năm 1954, lực lượng vũ trang miền Đông đã iêu diệt một căn cứ quân sự cấp quận. Chiến thắng Dầu Tiếng khai thông liên lạc giữa cắn cứ Đông và Tây, đồng thời tạo điều kiện cho Xứ ủy về đứng chân ở vùng căn cứ miền Đông để chỉ đạo phong trào cách mạng.

Đáp lại việc chính quyền Ngô Đình Diệm theo luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam lùng bắt những người Cộng sản, trả thù những người theo kháng chiến. Cuối năm 1959, Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ do ông phụ trách, quyết định phối hợp với thị ủy Biên Hòa tấn công vào sào huyệt của cố vấn quân sự trong phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ đóng tại Nhà Xanh, Biên Hòa. Trận đột kích đã diệt 2 và làm bị thương 11 cố vấn Mỹ. Đây là trận diệt Mỹ đầu tiên ở miền Nam.

Đầu năm 1960, Trung ương ban hành Nghị quyết 15 chỉ rõ : "Con đường phát triển cơ bản của Cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân". Nguyễn Hữu Xuyến khi đó đã đổi tên là Tám Kiến Quốc, quyết định chọn Tua Hai làm mục tiêu cho trận đánh lớn mở màn và trận Tua Hai vẫn được gọi là ‘’Khúc dạo đầu’’ của Nghị quyết 15. Trước tầm quan trọng của trận đánh, ông trực tiếp chỉ huy. Trận đánh thắng lợi giòn giã, bộ đội miền Đông mang về Chiến khu Đ đến gần 1500 khẩu súng các loại. Các nhà bình luận quân sự cho rằng: Chiến thắng Tua hai như sấm sét mở đầu phá tan đêm tối ở miền Nam - là sự kiện nổi bật có ý nghĩa về quân sự và chính trị trong toàn miền, làm dấy lên phong trào đồng khởi long trời lở đất ở miền Nam, mở đầu một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh chống Mỹ.

Tháng 1 năm 1961, Trung ương quyết định thành lập Trung ương Cục để chỉ đạo phong trào cách mạng ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Tháng 2 năm 1961, trung ương Cục do ông Nguyễn Văn Linh làm Bí thư về xây dựng căn cứ tại Suối Linh (Chiến khu Đ). Khu ủy miền Đông được thành lập do ông Mai Chí Thọ làm Bí thư và ông là Tư lệnh các Lực lượng vũ trang giải phóng miền Đông Nam Bộ.

Nhưng không dừng lại ở đó vào tháng 9-1961, chỉ huy trưởng Tám Kiến Quốc lại cùng các chỉ huy Nguyễn Việt Hồng, Đặng Ngọc Sĩ, Đặng Hữu Thuấn, mở 3 mũi tiến công vào tỉnh lỵ Phước Thành. Tỉnh lỵ Phước Thành là một đặc khu mới xây dựng của địch lúc ấy, đế chế áp cách mạng ở Chiến khu Đ và vùng rừng núi miền Đông. Ta sử dụng ba tiểu đoàn cộng ba đại đội để tấn công chặn viện. Ta dùng chiến thuật kỳ tập bằng đặc công tiến trước và kết hợp chiến thuật tập kích tấn công của các tiểu đoàn tiếp theo, hình thành thế tấn công và năm khu vực bằng năm cánh quân hợp vây, chia cắt địch ra từng mảnh ngay từ đầu để chúng không kịp ứng cứu cho nhau được, mà trọng điểm là khu vực cơ quan đầu não của tỉnh. Trận đánh mang yếu tố bất ngờ, bí mật chỉ sau 2 giờ, ta đã làm chủ toàn bộ tỉnh lỵ Phước Thành, bắt sống tỉnh phó, giải thoát bốn trăm tù chính trị, tiêu diệt và bắt gọn hơn 1000 địch của 3 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn cộng hòa, 1 tiểu đoàn công an, thu toàn bộ vũ khí trong đó có cả xe thiết giáp và pháo 105. Quân tiếp viện của địch ở các hướng bị đẩy lùi. Về sau dùng máy bay yểm trợ chiếm lại, nhưng địch phải bỏ hẳn tỉnh lỵ, xóa tên tỉnh này khỏi bản đồ hành chính. Trận đánh có tác động rất lớn ở miền Đông. Nó gây hoang mang dao động dây chuyền đối với địch. Quân ta tiếp tục khuếch trương chiến quả, bao vây uy hiếp các đơn vị của địch ven rừng, đánh chiến và bức rút hàng chục đồn bốt và chi khu, phá các ấp chiến lược, giải phóng hàng chục ngàn dân, mở rộng vùng giải phóng.

Chiến thắng Phước Thành làm nức lòng quân, dân miền Nam, đồng thời đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực miền Đông cũng như của địa phương trong việc phối hợp tác chiến, Tướng Westmoreland - Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã phải thú nhận: "Mùa thu 1961 đã chứng kiến một bước ngoặt rõ rệt trong cuộc tiến công của Việt Cộng, lần đầu tiên họ tạm thời chiếm được tỉnh lỵ Phước Thành" (Trích hồi ký "Tường trình của một quân nhân"). Lầu năm góc Mỹ cũng xác định trong một tài liệu: Trận tiến công lớn nhất đã có tác dụng làm cho Sài Gòn nhốn nháo là trận đánh chiếm Phước Thành - một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 55km...

Từ năm 1963 đến 1965, ông được cử đi học ở Trung Quốc. Từ năm 1965 đến năm 1974, ông là Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 6 năm 1974, ông được điều về công tác tại Bộ Quốc phòng làm thường trực Ban chỉ đạo Quân sự miền Nam (gồm có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng và một số cán bộ quân sự khác). Tháng 2 năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 9.


Tiêu đề: Đại tá Phạm Ngọc Thảo, người được mệnh danh là ''vua đảo chánh''
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:08:01 am
(http://img255.imageshack.us/img255/3177/daitaphamngocthaoou6.jpg)

Đại tá Phạm Ngọc Thảo (1922-1965), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy tặng năm 1987), nguyên Phó Phòng Mật vụ Ban Quân sự Nam Bộ.

‘’Các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và “độc lập tác chiến”. Anh là nhà tình báo có một không hai’’ (Nhà báo Trần Bạch Đằng, nguyên Phó Ban tuyên huấn Trung ương cục miền Nam).

‘’Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có “tiền lệ” trong công tác cách mạng của chúng ta” (Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)
Phạm Ngọc Thảo sinh năm 1922, là con thứ tám trong một gia đình giàu có nhất nhì đồng bằng sông Cửu Long, công giáo ba đời rất mực yêu nước. Ông sinh tại Sài Gòn nhưng nguyên quán lại ở Bến Tre.

Cha ông, Adrian Phạm Ngọc Thuần có tới hơn 4000 mẫu đất và gần 1000 căn nhà rải rác ở khắp các tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Vĩnh Long. Ông Thuần có quốc tịch Pháp nên các con đều được sang Pháp học. Con trai cả Gaston Phạm Ngọc Thuần, qua Pháp học từ lúc 6 tuổi, đậu cử nhân Luật về nước theo cách mạng làm tới Phó Chủ tịch uỷ ban kháng chiến Nam Bộ. Con thứ 7 Phạm Ngọc Hùng học ở Pháp, lấy vợ Pháp rồi về Việt Nam ra chiến khu chiến đấu, làm Uỷ viên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam.

Trong gia đình, chỉ riêng ông không sang Pháp du học do thế chiến thứ hai xảy ra. Lúc nhỏ ông theo học tại một trường tư nổi tiếng ở Sài Gòn, trường trung học công giáo Taberd.Tốt nghiệp trường Kỹ sư công chánh ở Hà Nội, khi Pháp bội ước quay lại xâm chiếm Việt Nam, ông tuyên bố huỷ bỏ quốc tịch Pháp của mình và đi theo cách mạng, làm việc ở Văn phòng Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

Năm 1946, trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, trường sỹ quan đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập để đào tạo cán bộ quân sự chuẩn bị cho kháng chiến. Ông cùng 12 chiến sỹ Nam Bộ khác được cử ra Sơn Tây học tập. Tốt nghiệp khoá học, ông được điều về Phú Yên nhận nhiệm vụ làm giao liên. Lúc này Trung ương đang cử nhiều đoàn cán bộ vào tăng cường cho miền Nam. Trong thời gian này, ông đã làm nhiệm vụ đưa ông Lê Duẩn (sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) vào Nam chỉ đạo kháng chiến an toàn bằng con đường công khai. Sau đó, ông được trên tin cậy giao chức Trưởng phòng mật vụ Ban quân sự Nam Bộ – tổ chức tình báo đầu tiên của cách mạng ở Nam Bộ. Rồi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410(Quân khu 9) (có tài liệu nói là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 Quân khu 8, chi tiết này không đúng). Năm 1954, ônh được điều ra Bắc và được đích thân ông Lê Duẩn giao nhiệm vụ trở về Nam hoạt động trong lòng địch.

Trở về miền Nam, ông làm nghề dạy học tại một số trường tư thục Sài Gòn. Vì không chịu ký tên vào giấy “hồi chánh” nên ông đã bị mật vụ Pháp (do Mai Hữu Xuân cầm đầu) vây bắt mấy lần, nhưng ông đều trốn thoát. Cuối cùng ông về Vĩnh Long dạy học để dễ dàng xâm nhập vào hàng ngũ địch. Vì vùng đất này thuộc địa phận của giám mục Ngô Đình Thục (anh trai của Ngô Đình Diệm). Gia đình ông vốn theo Thiên chúa giáo lâu đời, thân thiết với giám mục Ngô Đình Thục. Giám mục Ngô Đình Thục rất quý mến ông vì đã từng làm lễ rửa tội cho ông và coi ông như con nuôi. Nhờ chính sách “đả thực bài phong”, của Ngô Đình Diệm, ông được Ngô Đình Thục giới thiệu với anh em Diệm – Nhu. Ông khôn khéo công khai hết nguồn gốc của mình, kể cả chức tiểu đoàn trưởng cũ, chỉ trừ một điều: mình là Đảng viên Đảng CSVN. Được bảo đảm về chính trị, ông đã cùng vợ con trở lại Sài Gòn sinh sống.

Đầu năm 1956, ông làm việc tại Ngân hàng quốc gia Sài Gòn. Tháng 5 năm 1956 được sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng giám đốc Viện Hối đoái và Bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa huấn luyện tại trung tâm Nhân vị tại Vĩnh Long. Và sau đó (tháng 10 năm 1956) ông gia nhập đảng Cần Lao. Sau khi gia nhập đảng Cần Lao, ông phụ trách tổ quân sự, giữ nhiệm vụ nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật quân sự và huấn luyện quân sự cho các đảng viên Cần Lao. Tháng 1 năm 1957 Phạm Ngọc Thảo tham gia biên tập bán nguyệt san Bách Khoa - tạp chí của một nhóm trí thức đảng Cần Lao. Sau đó được Ngô Đình Diệm đưa sang ngạch quân sự với cấp bậc đại úy đồng hóa trong quân đội Sài Gòn. Tuy nhiên đây chỉ là những chức vụ ‘’hữu danh vô thực’’ vì Diệm-Nhu khi đó chưa thực sự tin tưởng cũng như chưa nhận thấy hết khả năng của ông.

Thời gian này ông đã biết sử dụng vốn binh pháp Tôn Tử mà ông Hoàng Đạo Thuý từng dạy ở Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn để viết báo. Thời gian này, ông cộng tác với tạp chí Bách khoa. Chỉ trong hơn một năm, ông đã viết 20 bài báo nói về các vấn đề chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo.... Những bài báo đó đã được giới quân sự chú ý và Diệm – Nhu đề cao “tầm” của ông. Năm 1957, ông được điều về làm việc tại Phòng Nghiên cứu chính trị của Phủ tổng thống với hàm thiếu tá. Ông rất được Ngô Đình Diệm tin dùng trong lĩnh vực chính trị, tình báo và an ninh nội bộ. Từ đó, ông lần lượt giữ các chức vụ tỉnh đoàn trưởng tỉnh đoàn bảo an Vĩnh Long, rồi chỉ huy trưởng bảo an tỉnh Bình Dương.

Năm 1960, sau khi học một khóa chỉ huy và tham mưu ở Trường võ bị Đà Lạt, Phạm Ngọc Thảo được thăng thiếu tá và được cử làm Thanh tra Khu Trù Mật. Đầu những năm 60, trước cao trào đồng khởi ở Bến Tre, Diệm đã cử ông giữ chức tỉnh trưởng tỉnh này (khi ấy là tỉnh Kiến Hòa) với cấp bậc trung tá và muốn trắc nghiệm chương trình bình định. Sau khi nhậm chức, tình hình Bến Tre trở lên yên ổn hơn, ông quyết định thả ngay hơn 2000 tù nhân đang bị giam giữ, liên lạc với bà Nguyễn Thị Định, tạo điều kiện cho khởi nghĩa Bến Tre bùng nổ. Chính sách không cho binh lính đàn áp dân chúng tuỳ tiện của ông đã “bật đèn xanh” cho phong trào “đồng khởi”. Tiếp đó, có dư luận nghi ngờ ông là cộng sản nằm vùng. Nhưng Diệm-Nhu lại cho rằng ông còn “non nớt”, thiếu kinh nghiệm nên chuyển anh sang Mỹ học tập tại Trường sĩ quan tham mưu (Command and General Staff College ở bang Kansas). Từ đó Bến Tre lại tiếp tục ‘’mất an ninh.

Năm 1961, ông về nước được cử giữ chức Tham vụ chuyên môn Phủ tổng thống, đặc trách về vấn đề Thanh tra và ấp chiến lược. Ông được giới tướng lĩnh rất quý mến vì sự thông minh, lịch thiệp, phóng khoáng, giao du rộng… Tháng 9 năm 1963, Trần Kim Tuyến nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị (thực chất là phòng mật vụ) và ông âm mưu một cuộc đảo chính. Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Biệt động quân, Bảo an... sẵn sàng tham gia. Tuy nhiên cuộc đảo chính không thành công, vì ngày 6 tháng 9 năm 1963, Ngô Đình Diệm đã cử Trần Kim Tuyến đi làm Tổng lãnh sự tại Ai Cập.

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1 tháng 11 năm 1963, mọi sĩ quan đều được phong chức riêng ông không được phong chức gì vì lí do chưa qua trường lớp, để lôi kéo ông về phía mình Mỹ đề nghị cho ông san Mỹ học trường võ bị cao cấp. Thời điểm này tại Sài Gòn liên tục diễn ra các cuộc đảo chính. Học xong về nước đúng vào thời điểm Nguyễn Khánh đảo chính thành công. Nhưng Nguyễn Khánh chỉ là người võ biền, học vấn không cao, nhiều lần không trả lời nổi những chất vấn của quần chúng biểu tình. Ông về , Nguyễn Khánh bèn tận dụng tài nói, viết của ông, phong ngay hàm Đại tá và giao cho anh trọng trách là phát ngôn viên Chính phủ, Tuỳ viên báo chí của Nguyễn Khánh.

Ngày 13/9/1964, ông tham gia tổ chức cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh. Nhưng do nhiều lí do, cuộc đảo chính thất bại. Ông phải đi Mỹ làm tùy viên quân sự. Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì chính quyền Sài Gòn đã nghi ngờ, muốn bắt ông. Vì vậy, ông đã đào nhiệm và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập khác như Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát để tổ chức đảo chính ở Sài Gòn và vì một lí do vô cùng quan trọng. Theo một tài liệu mà ông nắm được, Mỹ và Nguyễn Khánh đã thoả thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào 20/2/1965, vì vậy cuộc đảo chính sẽ tiến hành đúng ngày 19/2.

Ngày 19 tháng 2 năm 1965, đảo chính nổ ra, mặc dù đang bị truy bắt gắt gao ông vẫn cùng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng chỉ làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn, rồi bị dập tắt xong cũng làm Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu. Tuy nhiên cuộc đảo chính này cũng làm Nguyễn Khánh mất chức, phải ra nước ngoài làm đại sứ lưu động. Đồng thời kí kết giữa Nguyễn Khánh về việc đổ thêm quân vào miền Nam và đánh bom miền Bắc không thành công.

Chính quyền miền Nam rơi vào tay nhóm tướng lĩnh khác, ông phải rút lui vào hoạt động bí mật. Nhưng ông tiếp tục chuẩn bị tư tưởng cho các hoạt động cách mạng bằng cách xuất bản tờ báo “Việt Tiến”, mỗi ngày phát hành trên 50.000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước, vạch trần âm mưu của Mỹ – Nguỵ. Ông có cả một hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các xứ đạo Biên Hoà tới Hố Nai, Thủ Đức, Sài Gòn; có nhiều linh mục giúp đỡ in ấn, phát hành tờ Việt Tiến. Lúc này, ông bị chính quyền Kỳ – Thiệu kết án tử hình quyết tâm trừ khử vì thấy rõ tầm nguy hiểm của ông, người ta treo giải 3 triệu đồng cho ai bắt được nhưng vẫn liên lạc với cơ sở cách mạng trực tiếp là ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) để hoạt động tiếp. Trước tình hình đó, ông Võ Văn Kiệt có đề nghị đưa ông ra chiến khu nhưng ông nói vẫn còn khả năng tổ chức đảo chính khác, vẫn còn khả năng thành công vì ông muốn ngăn chặn việc quân Mỹ tăng quân ồ ạt vào miền Nam cuối tháng 5 năm 1965. Đại sứ quán Mỹ cũng đề nghị đưa ông ra nước ngoài nhưng ông từ chối.

Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng đến trốn trong Đan viện Phước Lý ở xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch, Biên Hòa. Cuối cùng nơi trú ẩn này cũng bị lộ. Lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 7 năm 1965, khi ông vừa ra khỏi Đan viện Phước Lý thì bị phục sẵn bắt rồi đưa về một cái suối nhỏ gần Tam Hiệp, Biên Hòa, để thủ tiêu. Sợ ông chạy trốn nên anh ninh quân đội ngụy nổ súng luôn. Nhưng viên đạn xuyên xuống hàm làm ông gẫy mất mấy cái răng, ngã vật ra. Vừa lúc có tiếng những người công nhân đi cạo mủ cao su, an ninh quân đội ngụy sợ lộ bèn quay xe bỏ chạy.

Tỉnh dậy, ông cố lết về một nhà thờ. Sau khi được linh mục Cường cứu sống, ông chủ động xin chuyển tới chỗ khác phòng khi an ninh quân đội tới truy tìm. Nhưng sau ông vẫn bị phát hiện và bị bắt anh về giam tại Cục an ninh quân đội ngụy, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tại đây, chúng đã dùng những thủ đoạn tra tấn anh hết sức dã man như: dùng cây nhọn xoáy vào vết thương, đánh đập, tra điện. Thế nhưng khi được hỏi : “Nếu được tự do Đại tá sẽ làm gì?”. Ông hiên ngang trả lời: “Tôi sẽ tiếp tục sứ mạng cho tơí lúc thành công”.

Bị đánh đập dã man, không nói được nhưng ông vẫn dùng bút viết ra giấy những lời đanh thép lên án chúng như: “Chúng mày biết tao là Việt cộng thì đừng bao giờ hi vọng tao khai. Một là sống, hai là chết, tao vẫn tiếp tục con đường của tao...”. Vì cay cú, Nguyễn Ngọc Loan đã dùng cả hành vi bẩn thỉu, đê hèn tra tấn với dã tâm để ông chết rồi bí mật mang chôn giấu tại nghĩa trang quân sự Gò Vấp với tấm bảng ghi “Mộ vô danh”. Ngày 18/7/1965, các báo chí Sài Gòn đăng tin đại tá Phạm Ngọc Thảo chết vì bị thương trong một tai nạn giao thông. Nguỵ quyền Sài Gòn sau khi biết ông là cộng sản đã gọi ông là “vua đảo chánh” với nỗi khiếp sợ. Tướng 4 sao Oét-mô-len, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam trong hồi ký đã gọi Phạm Ngọc Thảo là một nhà “cách mạng chuyên nghiệp”.

Năm 1987, ông được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng anh danh hiệu cao quý: Anh hùng LLVTND. Hiện nay, mộ Phạm Ngọc Thảo được đưa về nghĩa trang TP.HCM, trên đồi Lạc Cảnh(huyện Thủ Đức). Mộ ông nằm cạnh mộ những tên tuổi nổi tiếng như Lưu Hữu Phước, Phạm NgọcThạch, Can Trường...

Trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc Việt Nam, người xứng đáng được coi là "nhà tình báo vĩ đại nhất". Có thể so sánh với Rihard Gioorgie, Kim Filby của Liên Xô không phải Vũ Ngọc Nhạ hay Phạm Xuân Ẩn mà chính là nhà tình báo chiến lược, Đại tá Anh hùng QDNDVN Phạm Ngọc Thảo. Ông chính là nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Thành Luân trong tiểu thuyết nổi tiếng Ván Bài Lật Ngửa. Có 3 đặc điểm lớn để có thể xác định Đại tá Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo vĩ đại nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20:

Khác với Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là người duy nhất có thể tác động trực tiếp đến chính quyền Sài Gòn . Là sỹ quan cao cấp trong quân đội ngụy lai có lực lượng trong tay, ông chính là người đã trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển nền chính trị Miền Nam những năm 64-65, gây mất ổn định nghiêm trọng chế độ Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam. Nếu cuộc đảo chính với Lâm Văn Phát gạt Nguyễn Khánh năm 1964 thành công, Phạm Ngọc Thảo trở thành thủ tướng chính quyền Sài Gòn thì lịch sử có thể đã có những thay đổi lớn.

Khác với Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo hoạt động đơn tuyến, không hề có đồng đội trực tiếp hỗ trợ mà chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Bác Hồ và Tổng Bí thư Lê Duẩn . Ông không làm công tác đưa tin đơn thuần mà lớn hơn là được giao nhiệm vụ "thay đổi chế độ tại miền Nam" (tương tự như mục tiêu regime change của Mỹ tại I-rắc, nhưng nếu như Mỹ phải dùng đến hàng chục vạn quân thì ta chỉ dùng 1 mình Phạm Ngọc Thảo và ở chừng mực nào đấy đã thành công). Sự nguy hiểm của Phạm Ngọc Thảo đối với tồn vong của chế độ miền Nam lý giải tại sao chính quyền Thiệu-Kỳ phải quyết bằng mọi giá thủ tiêu ông.

Ông là một con người cực kỳ dũng cảm và tài năng. Mỹ đã từng chọn ông để đào tạo trở thành Tổng thống tương lai của chính quyền Sài Gòn, đến khi nguy hiểm đã cận kề dù ông Võ Văn Kiệt khuyên ông có thể ra căn cứ nhưng ông vẫn quyết tâm ở lại để tổ chức vụ đảo chính cuối cùng. Việc lớn không thành, bị bắt và tra tấn dã man nhưng Phạm Ngọc Thảo vẫn không để lộ tung tích của mình. Cho đến lúc hy sinh, không ai biết ông là một chiến sỹ tình báo của ta. Nghe tin ông hy sinh, Bác Hồ và ông Lê Duẩn đã khóc. Sau này, trong dòng đề tựa trong cuốn Ván Bài Lật Ngửa, nhà văn Trần Bạch Đằng đã trân trọng viết "Tưởng nhớ anh Chín T. và những người đã chiến đấu hy sinh thầm lặng".


Tham khảo : Báo Quân đội Nhân dân, Báo Công an Nhân dân, Trang tin điện tử Bến Tre


Tiêu đề: Thượng tướng Trần Nam Trung, Bộ trưởng Quốc phòng CP lâm thời miền Nam VN
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:09:44 am
(http://img214.imageshack.us/img214/4688/tuongtranluong.jpg)

Thượng tướng Trần Nam Trung (6.12.1912 - 20h17' 10.5.2009), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Chính ủy Khu 5, Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Bộ phụ trách quân sự. Ông còn là Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Ủy ban thanh tra chính phủ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Liên khu ủy Khu 5, Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi và Bình Định. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 6.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Ðộc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 80 năm tuổi Ðảng.

Trung tướng (1961), Thượng tướng (1974)


Thượng tướng Trần Nam Trung tên thật là Trần Khuy, ngoài ra ông còn có tên khác là Trần Lương quê ơ xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức cùng quê với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Quảng Ngãi quê ông là một trong những mảnh đất địa linh đã sản sinh nhiều nhân kiệt cho đất nước. Từ nơi đây, Trương Định đã được sinh ra và lớn lên trước khi trở thành người anh hùng vũng vẫy sông nước Cửu Long, được nhân dân tôn vinh Bình Tây đại nguyên soái. Quê hương núi Ấn sông Trà còn là nơi chôn rau cắt rốn của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, các tướng lĩnh Nguyễn Chánh, Trần Văn Trà, Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn…

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì ông sinh năm 1912, nhưng theo lời ông mà tác giả Phan Hoàng ghi lại trong cuốn Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam thì ông tuổi Giáp Dần tức sinh năm 1914, đây là năm sinh của rất nhiều tướng lĩnh nổi tiếng của quân đội như : Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Tướng Nguyễn Chánh, Đại tướng Lê Trọng Tấn, Tướng Huỳnh Văn Nghệ…

Gia đình ông vốn xưa làm nghề nông. Cha ông là một nông dân có chút học thức và am hiểu về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Dòng họ Trần của ông vốn di cư từ Nghệ An vào. Mẹ ông là con gái nhà giàu ở miền Trung du. Sau khi đậu Sơ học yếu lược, ông lên trường tỉnh học. Nhưng rồi cha ông quyết định đưa ông về quê thuê thày dạy chữ Nho, mong giữ gia phong sợ bị Tây hóa. Chính thầy giáo dậy chữ nho có nhiều ảnh hưởng tới ông khi dạy văn thơ yêu nước của các chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

Nhờ tác động mạnh mẽ của Tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội, qua sự dìu dắt giới thiệu của người anh họ là Trần Cừ, năm 17 tuổi ông tham gia Liên đoàn Cộng sản đảng ở Nghệ An, về sau đổi thành tổ chức An Nam cộng sản đảng. Từ đó ông dấn thân vào con đường cách mạng, từ năm 1931 đến năm 1943, ông đã nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam, trải qua nhiều tra tấn và ngục tù. Tháng 4 năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt giam 1 năm. Sau khi ra tù, ông tiếp tục bắt liên lạc với tổ chức, bí mật xây dựng cơ sở, làm bí thư chi bộ rồi huyện ủy. Ít lâu sau, ông tiếp tục bị bắt và kết án 7 năm tù. Tuy nhiên, đến cuối năm 1934, ông ra tù, rồi lại bị bắt ngay sau đó vào năm 1935. Năm 1936, do ảnh hưởng của Mặt trận Dân chủ Pháp, ông được tha trước thời hạn, là Tỉnh ủy viên rồi Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Năm 1939, Chiến tranh Thế giới nổ ra, nước Pháp bị Đức chiếm đóng, ở Đông Dương phái dân chủ thất thế, phái hiều chiến lên cầm quyền, ông lại bị bắt đày lên Buôn Ma Thuột. Thời gian ở Buôn Ma Thuột, ông ở tù chung với các ông Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh.

Sau khi được tự do, năm 1944, thực dân Pháp đưa ông về an trí tại căng Ba Tơ, một huyện miền núi ở miền Tây tỉnh Quảng Ngãi, cùng nhiều nhà Cách mạng khác. Thời gian này, ông tham gia thành lập Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi và hoạt động ở khu căn cứ Ba Tơ, . Thời gian này ông lấy bí danh Trần Lương (theo gợi ý của mọi người vì ông thời trẻ mập mạp, mỗi lần cười híp cả mắt lại như mắt lươn) để hoạt động.

Ngày 11 tháng 3 năm 1945, khởi nghĩa Ba Tô nổ ra. Đây là một đồn lính khố xanh do một viên quan tư Pháp chỉ huy, một nha kiểm lý và một căng an trí cho những người cách mạng. Cán bộ nòng cốt của cuộc khởi nghĩa gồm các ông Trương Quang Giao, Nguyễn Chánh, Trần Quý Hai, Nguyễn Đôn, Phạm Kiệt…và ông. Kết quả là đội du kích Ba Tơ ra đời, đây là tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân khu 5 và Tây Nguyên sau này. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tác động mạnh đến phong trào đấu tranh chống Nhật vừa thay chân Pháp ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, lực lượng du kích Ba Tơ là nòng cốt chủ yếu hỗ trợ đồng bào nổi dậy giành chính quyền. Sau khởi nghĩa Ba Tơ thành công, ông được phân công giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi và Bình Định.

Cách mạng tháng 8 thành công, từ 9/1945 đến 1946, ông giữ chức vụ Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ phụ trách quân sự. Từ tháng 9 năm 1946 ông lần lượt được cử giữ chức vụ Chính ủy Liên khu 5, Chính ủy Mặt trân Buôn Hồ, An Khê, Thường vụ Liên khu ủy Khu 5, Ủy viên Liên khu ủy Khu 5. Năm 1951, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh bị bệnh nặng, Trung ương gọi ông ra làm Phó chủ nhiệm thường trực để giúp đỡ ông Nguyễn Chí Thanh. Ông là trợ thủ đắc lực góp phần xây dựng Bộ thống soái của quân đội vững mạnh, trực tiếp vận động và chỉ huy việc cung cấp lương thực thực phẩm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tháng 3 năm 1955, ông Trương Quang Giao khi đó là bí thư Liên khu ủy bị bệnh nặng, ông được Trung ương điều từ Tổng cục chính trị vào làm Bí thư Liên khu 5. Đồng thời ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 2. Thời kì đó là thời kì Ngô Đình Diệm được Mỹ hậu thuẫn lên thay Bảo Đại nhằm khẳng định sự có mặt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam thay thế Pháp. Với sự cố vấn của Mỹ, Ngô Đình Diệm đã tiến hành chiến dịch tố cộng khắp miền Nam. Hàng vạn người tham gia kháng chiến đã bị bắt bớ, tra tấn, tù đày bắn giết bởi Luật 10/59. Thời kì này ở Nam Trung Bộ cách mạng bị tổn thất nặng nề. Bốn mươi phần trăm tỉnh ủy viên, sáu mươi phần trăm huyện ủy viên bị tù đày và hy sinh. Thời kì này ông là một trong những nhân vật chủ chốt, góp phần quan trọng bảo vệ và phát triển lực lượng cách mạng miền Trung. Nhiều lãnh đạo và tướng lĩnh đã trưởng thành từ đây.

Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trước tình hình mới của cách mạng miền Nam, năm 1959, ông được điều vào chiến trường miền Nam tham gia tổ chức Xứ ủy Nam bộ lại thành Trung ương cục miền Nam. Sau đó ông ra Bắc công tác và được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa 3. Tháng 5 năm 1961, ông trở vào Nam lần 2 với bí danh Trần Nam Trung cùng đoàn Phương Đông 1 do ông Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ông làm Chính ủy vượt Trường Sơn. Ông trực tiếp lo tổ chức, xây dựng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, tập hợp các trí thức yêu nước khác nhau, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân đánh Mỹ, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu. Ông là Ủy viên thường vụ Trung ương cục, phụ trách Bộ quốc phòng trong Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Thời kì đó miền Nam chưa có bộ đội chủ lực, vai trò chủ yếu của Bộ quốc phòng là lãnh đạo phong trào du kích và đấu tranh quần chúng.

Từ năm 1961 đến năm 1975, ông lần lượt trải qua các chức vụ: Uỷ viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Chính uỷ các Lực lượng Vũ trang Nhân dân Giải phóng miền Nam Việt Nam (1961), Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, phụ trách công tác dân vận, binh vận và mặt trận của Trung ương Cục (1964), Bộ trưởng Bộ quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn chính quyền ở miền Nam (1969), uỷ viên Ban đại diện Đảng và Chính phủ tại miền Nam Việt nam, phụ trách khối công tác nội chính trong Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (1975). Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 9 năm 1973, ông thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đón chủ tịch Fidel từ Hà Nội vào thăm vùng đất mới giải phóng Quảng Trị.

Đất nước hoàn toàn thống nhất, sau hiệp thương tổng tuyển cử, ông được đề nghị phụ trách một bộ trong Chính phủ nhưng từ chối vì lí do ông chỉ quen đánh trận và làm công tác dân vận. Sau đó, ông thực hiện nhiều chuyến đi đến các quốc gia trên thế giới từng giúp đỡ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến để cảm ơn. Năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ cho đến khi nghỉ hưu (1982).

Gương mặt phúc hậu. Trán rộng, mắt nhỏ (mắt lươn) và sáng, phong cách điềm đạm, chân chất, nhiệt thành nhưng không mất đi vẻ oai phong của một vị tướng. Hai Hậu-Trần Nam Trung là cái tên quen thuộc nhất là với nhân dân miền Nam và đối phương trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cuộc đời chiến đấu của ông phần lớn gắn liền với chiến trường Nam Trung Bộ. Từng là trợ thủ đắc lực của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, góp phần xây dựng bộ thống soái của quân đội vững mạnh, rồi lại sát cánh cùng tướng Nguyễn Chí Thanh ở miền Nam, ông là ủy viên Trung ương Đảng góp phần lãnh đạo Trung ương cục, Quân ủy miền và các lực lượng vũ trang từng bước hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước.

Tham khảo: Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng), Bách khoa toàn thư Việt Nam, Báo Nhân dân.


Tiêu đề: Đại tướng Đoàn Khuê, vị tướng của miền quê cát trắng Quảng Trị
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:12:07 am
(http://img507.imageshack.us/img507/4119/daituongdoankhue.jpg)

Đại tướng Đoàn Khuê (29/10/1923-16/01/1999), nguyên : Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương ; Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam ; Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719 ; Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 ; Phó Chính ủy Quân khu 4 ; Chính trị viên, Bí thư đảng ủy Trường lục quân Quảng Ngãi. Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Đại biểu quốc hội (khóa 7, 8, 9, 10) , Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương quân công hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1984), Đại tướng (1990)


Quê nội của ông ở thôn Gia Đẳng, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong và quên ngoại ông ở xã Mỹ Thủy, huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Đây vốn là các vùng quê nghèo, muốn đến các thôn làng phải lội bộ qua hàng chục cồn cát trắng như muối, nơi toàn nhà tranh vách đất, nơi chỉ có nước biển, mấy trời và cát trắng, ruộng khoai lang xanh ngắt. Nhân dân trong vùng quanh năm ăn khoai lang với cá biển trừ bữa.  Là vùng quê nghèo, nhưng đây là những vùng quê giàu truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng và hiếu học. Ông sinh ra trong một gia đình mà mẹ đẻ và dì đều là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Dương có 5 con là liệt sĩ, còn dì ông có người con duy nhất là liệt sĩ.

Lúc còn nhỏ, ông đã theo học hết tiểu học rồi tiếp tục theo học trung học ở thị xã Quảng Trị. Trường tan, 16 tuổi ông đã cùng anh em trong nhà và nhiều người thân tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1939, ông tham gia Thanh niên phản đế ; tháng 8 năm 1940 là Bí thư thanh niên cứu quốc huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Cuối năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Quảng Trị, sau dó bị đưa lên đày ở Buôn Ma Thuột. Đây là một trong những nhà tù lớn ở Đông Dương lúc bấy giời, nơi giam cầm nhiều nhà cách mạng mà sau này phần lớn họ trở thành những lãnh đạo cao cấp như các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Quang, Trần Hữu Dực…

Gần 5 năm bị tù đày, chịu nhiều đòn tra tấn dã man của thực dân Pháp nhưng ông không khai báo nửa lời, sắt son với cách mạng. Trong thời gian này, ông được cử vào ban vận động của nhà 6, nơi tập trung số tù nhân mới, đồng thời có nhiệm vụ liên hệ với các bạn tù cũ ở nhà 3 và nhà 4. Đầu tháng 4 năm 1942, các tù nhân không đi làm việc để phản đối chế độ hà khắc của nhà đày, đòi cải thiện sinh họat. Được lệnh của viên công sứ, quản ngục dồn tất cả phạm nhân tham gia đấu tranh vào lao 2, ráo riết đàn áp. Trong các đợt khủng bố này, ông đã thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường, hết lòng bảo vệ các bạn tù. Cuộc đấu tranh kéo dài được 3 tuần cuối cùng đã thắng lợi khiến cho viên công sứ, quản ngục phải nhượng bộ, một số chế độ sinh hoạt được giải quyết.

Sau các cuộc vượt ngục thành công và không thành công trong năm 1942, thực dân Pháp tăng cường các biện pháp bảo vệ nhà đày Buôn Ma Thuột, đưa viên giám ngục khét tiếng tàn ác Mút-sin trở lại cai quản phạm nhân. Ông được tổ chức phân công làm công tác binh vận binh lính và sĩ quan người Ê-đê. Để thuận lợi cho nhiệm vụ, ông học tiếng Ê-đê, Gia Lai, M’Nông. Nhiều sĩ quan và binh lính người dân tộc được giác ngộ ngày càng có cảm tình với các phạm nhân chính trị, với cách mạng. Trong số họ sau này nhiều người trở thành những cán bộ cách mạng, chỉ huy quân đội ở Đắc Lắc, một số là sĩ quan cao cấp của quân đội : đội Hột mít, Cai học trò, Đội sông cầu, Quan Lé (người lãnh đạo cách mạng có uy tín ở Tây Nguyên sau này từng giữ trọng trách Phó Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam), Yblok Eban (thiếu tướng)…

Đầu năm 1943, để trả thù cuộc vượt ngục của các ông : Tống, Tuy, Nhân và răn đe những người khác, Mút-sin đã bắt chết bốn ông : Hàn, Mai, Tiệp và Liễn. Ban lãnh đạo nhà tù quyết định phát động cuộc đấu tranh phản đối hành động của viên giám ngục. Đoàn Khuê ngoài nhiệm vụ binh vận còn làm việc trong nhà bếp đã khôn khéo tiếp tế ruốc, thịt, muối ớt cho những người trực tiếp đấu tranh. Trước sự phản ứng mạnh mẽ của tù nhân, có cả binh lính tham gia, viên giám ngục Mút-sin phải rời nhà đày Buôn Ma Thuột. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi. Sau đó ban lãnh đạo nhà tù tổ chức học tập văn hóa, lý luận, chính trị quân sự ; phát triển công tác vận động binh lính, định kế hoạch vượt ngục tiếp tục hoạt động cách mạng. Cơ quan lãnh đạo được tăng cường một số cán bộ trong đó có ông. Nhà tù thực dân trở thành trường học cách mạng, rèn luyện ý chí đấu tranh, nơi ông học những bài học đầu tiên về quân sự.

Tháng 5 năm 1945, ông được ra tù và được phân về hoạt động xây dựng phong trào cách mạng ở tỉnh Quảng Bình. Tháng 6 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông dương (nay là Đảng cộng sản Việt Nam) và được cử làm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình.  Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông tham gia thành lập tỉnh ủy Quảng Bình và giữ cương vị Ủy viên Quân sự.Từ tháng 8 năm 1946, ông là Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy Trường lục quân Quảng Ngãi, Bí thư đảng ủy Tiểu đoàn Hồ Hích Quảng Ngãi. Từ tháng 4 năm 1947, ông là Chính trị viên Trung đoàn 69, 73, 78, 126 và 84 Liên khu 5, Bí thư đảng ủy Trung đoàn, Ủy viên thường vụ Ban cán sự Đắc Lắc. Sau đó, từ tháng 5 năm 1953, ông là Chính ủy Trung đoàn 108, Bí thư Trung đoài rồi Phó chính ủy Sư đoàn 305 Liên khu 5.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, từ cuối năm 1954 đến năm 1957 ông là Phó chính ủy Sư đoàn 675, Chính ủy Sư đoàn 351, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn. Từ tháng 3 năm 1958 đến năm 1960, ông là Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn 27 (hay còn gọi là Lữ đoàn giới tuyến), Ủy viên Đảng ủy Quân khu IV quân hàm Thượng tá. Từ tháng 10 năm 1960, ông là Phó chính ủy Quân khu IV, Quân khu ủy viên. Từ đầu năm 1963 đến năm 1975, ông hoạt động ở chiến trường khu V, là Phó chính ủy Quân khu, Ủy viên Thường vụ khu ủy Khu V, Phó bí thư Quân khu ủy.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976), ông được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1977 đến năm 1980, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu V, Bí thư Đảng ủy Quân khu. Thời kì này lực lượng Fulro ở Tây Nguyên hoạt động mạnh. Ban đầu chủ trương là truy quét bằng quân sự với quy mô lớn. Song thực tế hiệu quả lại rất thấp. Trên cương vị Chính ủy quân khu, ông chủ trương chuyển từ nhận thức ‘’truy quét’’ sang ‘’giải quyết Fulro’’, tiến hành đồng bộ cả giáo dục chính trị, xây dựng cơ sở, thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế, xã hội cùng với các biện pháp quân sự và chuyên môn nghiệp vụ của các ngành chuyên môn. Từ đó Fulro ra đầu thú nhiều, nội bộ nhân dân các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được ổn định, an ninh chính trị được giữ vững.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), ông được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1983 ông giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh 719, Phó trưởng đoàn Chuyên gia giúp Cam pu chia. Cuối năm 1986, ông được Nhà nước bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719, Trưởng ban lãnh đạo Đoàn Chuyên gia giúp Cam pu chia. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.

Năm 1987, ông được Nhà nước bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương. Từ tháng 8 năm 1991, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương.

Có thế nói thời gian ông giữ chức vụ cao trong quân đội Thứ trưởng rồi Bộ trưởng là một thời kỳ hết sức nhạy cảm và phức tạp của đất nước, thời điểm mà ta phải hết sức khéo léo về mọi mặt, thời điểm mà ngoại giao và chính trị phải được đề cao. Tại thời điểm đó, ông là vị tướng chính trị đầu tiên ở nứoc đảm đương vai trò người đứng đầu quân đội, và chất chính trị trong đã được ông phát huy tối đa.

Là thời kì mà các vấn đề về biên giới biển đảo và lãnh thổ hết sức căng thẳng. Dấu chân ông có mặt ở khắp mọi miền Tổ quốc : tưc các tỉnh địa đầu phía Bắc như Lai Châu, Hà Giang, Quảng Ninh đến các tỉnh ở miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến các tỉnh ở Tây Nguyên, các tuyến đảo ở Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quý đến Phú Quốc, Thổ Chu…Ông rất quan tâm đến các địa bàn vùng sâu vùng xa nói chung và Trường Sa nói riêng, đặc biệt là sinh hoạt của cán bộ chiến sĩ đang ngày đêm gìn giữ và bảo vệ biển đảo của Tổ quốc. Với 2 lần ra với Trường Sa, ông là vị Bộ trưởng Quốc phòng ra đảo nhiều nhất.

Đó cũng là thời kì nước ta bắt đầu đường lối ngoại giao mở cửa, sau một thời gian bị cô lập về ngoại giao bởi các nước phương Tây, thời kì Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ. Những vấn đề đặt ra trong thời kì mới này đòi hỏi quân sự cũng phải chuyển mình đáp ứng kịp thời, nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Muốn vậy thì phải phá thế cô lập, mở rộng quan hệ…phải coi trọng vấn đề chính trị, ngoại giao trong công tác quân sự. Trên cương vị Bộ trưởng quốc phòng thời kì này, ông là Bộ trưởng quốc phòng đi thăm nhiều nước bên ngoài nhất. Quân đội các nước mở quan hệ với nước ta qua tùy viên quân sự từ 12 tăng lên tơi gần 30 nước. Mềm dẻo khôn khéo trong ngoại giao ông lại rất cứng rắn trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chuyến thăm Trung quốc của ông là một cái mốc quan trọng trong quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam Trung Quốc sau một thời gian căng thẳng.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam; Trài tim thắp lửa (Huy Phan).


Tiêu đề: Trung tướng Dương Cự Tẩm, "lập liên quân giúp nước Lào giải vây"
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:14:06 am
(http://img819.imageshack.us/img819/4762/trungtuongduongcutamje5.jpg)

Trung tướng Dương Cự Tẩm (1921), nguyên : Phó Tư lệnh Quân khu 7, Chính ủy Quân khu 7, Chính ủy Quân khu 8, Phó Chính ủy Quân khu 9, Cục phó Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984)


Trung tướng Dương Cự Tẩm quê ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Theo mẹ ông thì ông tuổi Tuất (sinh năm 1922), nhưng giấy khai sinh tiểu học của ông lại đề sinh năm 1924, còn theo tuổi nghỉ hưu là năm 1921. Ông sinh ra trong một gia đình mà tổ tiên vốn theo cụ Nguyễn Công Trứ vào khai hoang ở đất Kim Sơn, Ninh Bình. Cha ông là một nhà nho, làm thuốc Đông y. Mấy ông chú ông thì đều theo Tây học.

Khi còn nhỏ, ông học tiểu học ở Kim Sơn, có một năm theo học trường dòng Phát Diệm. Năm 1939, ông vào học ở trường kỹ nghệ Hà Nội, được giác ngộ và tham gia phong trào cách mạng phản đế ở trường. Vì tổ chức bí mật của học sinh yêu nước bị vỡ, năm 1939 ông bị bắt cùng một nhóm thanh niên học sinh Hà Nội, trong đó có các ông Nguyễn Văn Kha (sau này là Bộ trưởng Bộ công nghiệp), ông Hòe (sau này làm Chủ tịch thành phố Hải Phòng, rồi Trưởng Ban kinh tế Trung ương). Các ông bị chính quyền thực dân đưa ra tòa án quân sự. Nhờ Luật sư Phan Anh cãi kịch liệt, với lí do ông mới 17 tuổi, nên ông chỉ bị đưa đi cải tạo trẻ vị thành niên ở Bắc Giang. Năm 1943, ông bị đưa về quản thúc tại địa phương, gia đình tổ chức cho ông trốn lên huyện Yên Mô dạy học tư kiếm sống và tiếp tục hoạt động cách mạng.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông được ông Trần Văn Tuyên phân công phụ trách Công đoàn Hà Nội. Khi đó ông Trần Văn Tuyên trên cương vị chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam đã trực tiếp giới thiệu ông vào Đảng. Trên cương vị được giao, ông dẫn đầu đoàn đại biểu công nhân Thủ đô-đoàn đại biểu quần chúng cách mạng đầu tiên vào Phủ Chủ tịch để tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tháng 11 năm 1945, ông cùng các ông Lê Thiệu Huy-sinh viên khoa Luật, Hoàng Xuân Bình và Lê Trọng Thời là sinh viên Y khoa, được Bộ Quốc phòng phái sang Thai Lan tiếp tế cho Nam Bộ đánh Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam. Ông được ông Vũ Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng tin tưởng viết giấy sang ngân hàng nhận nửa triệu tiền Đông dương, tương đương 1000 lượng vàng-trong điều kiện khó khăn của chính quyền non trẻ bấy giờ, đây là một số tiền rất lớn.

Vượt qua đất Lào. Trước tiên các ông hẹn nhau ở Huế. Ông là Đảng viên duy nhất trong đoàn nên được phân công giữ tiền và được Bộ Quốc phòng cấp cho một thẻ ‘’hỏa tốc’’ đặc biệt ưu tiên. Muốn sang Thái Lan phải qua Savannakhet, mà lúc đó, quân Pháp đã trở lại Nam Lào, cắt đứt con đường này. Nhưng theo quy định từ vĩ tuyến 17 trở đi thuộc quyền kiểm soát của quân đội Tưởng Giới Thạch. Bộ Chỉ huy quân sự Huế làm cho ông một căn cước giả và ông ăn mặc giả người Tàu để đi, ông đi cùng xe với một Thiếu úy quân Tưởng. Đến Savannakhet, ông Nguyễn Văn Tiến Chủ tịch Tổng hội Việt kiều ở Thái Lan đã chờ sẵn đón ông.

Do Trung ương chỉ đạo tổ chức giúp Lào khởi nghĩa giành chính quyền. Vì thiếu cán bộ, ông Nguyễn Văn Tiến đề nghị với Hà Nội để ông ở lại làm Chính trị viên Bộ Chỉ huy Việt kiều Giải phóng quân tỉnh Thakhet (12.1945). Ông Nguyễn Chánh (sau này là Trung tướng, khác với ông Nguyễn Chánh nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5) là lính khố xanh của Pháp, sau cách mạng đã đưa lính về gia nhập Giải phóng quân, được phân công làm Chỉ huy trưởng.

Cuối tháng 9 năm 1945, sau khi gây hấn ở Nam Bộ, quân Pháp đã trở lại chiếm đóng Campuchia và các tỉnh Hạ Lào. Sau hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, từ Nam Lào, quân Pháp tập trung lực lượng lớn tấn công lên phía Trung và Bắc bằng máy bay, xe tăng, cơ giới. Các thành phố, thị xã Viêng Chăn, Savannakhet và Thakhet bị bao vây. Liên quân Lào Việt đã chống trả ngoan cường. Nhưng do quân Pháp quá mạnh, liên quân chống cự một thời gian thì phòng tuyến bị chọc thủng.

Đêm 23 tháng 3 năm 1946, liên quân đánh yểm trợ cho đồng bào rút lui vượt sông Mêkông sang Thái Lan. 6 vạn Việt kiều ở ba tỉnh lớn của Lào cũng cùng di cư. Quân Pháp tập kích, Hoàng thân Suphanuvong bị thương nặng khi qua sông. Ông Lê Thiệu Huy che cho hoàng thân trúng đạn hy sinh ngay trên canô. Quân cách mạng tổn thất khá nặng, đồng bào di cư cũng bị thiệt mạng khá nhiều. Chính phủ Thái Lan yêu cầu Quân giải phóng giao nộp vũ khí, nhờ Tổng hội Việt kiều ngoại giao tốt với chính quyền địa phương, nên chỉ phải giao nộp tượng trưng, còn phần lớn đều được cất giấu.

Tháng 5 năm 1946, có lệnh tập hợp lực lượng quân giải phóng chiến đấu ở Lào.Ông cùng các ông Nguyễn Chánh, Lê Quốc Sản (thiếu tướng), Đỗ Huy Rừa được giao nhiệm vụ tổ chức, huấn luyện. Tại chiến khu Noong Kè, trong vòng mười ngày, các ông đã chọn lựa và tập trung được hơn 400 chiến sĩ trong số những người từ những cơ sở Việt kiều, thành chi đội Trần Phú. Ông Nguyễn Chánh làm Chi đội trưởng, ông làm Chính trị viên (12.1946), hai hông Lê Quốc Sản và Tô Huy Rứa làm Chi đội phó. Chi đội được tổ chức thành 4 đại đội, hoạt động dưới danh nghĩa công nhân làm đường để che măt chính quyền Thái Lan ở Trung ương. Qua Tổng hội Việt kiều, các ông nhận thầu xây dựng một con đường dài mười cây số từ Noong Kè ra Phanôm. Ban ngày làm đường, ban đêm bí mật ra đồng đã gặt để tập luyện. Hậu cần đều do bà con Việt kiều tiếp tế.

Ngày 20 tháng 12 năm 1946, đơn vị hành quân bằng xe bus chở khách từ ThatPhanôm đến tập kết ở khu rừng gần Mường Dêk, Đông Nam Thái Lan. Ngày 26 tháng 12, Chi đội làm lễ xuất phát tiến về biên giới Thái Cam, vượt qua dãy núi Đăng Rek dựng đứng, rồi hành quân về hướng phum Presenke trên bờ sông Mêkông thuộc tỉnh Kimpông Chàm để về Tây Ninh. Ban chỉ huy Chi đội lúc này gồm các ông Nguyễn Chánh (tư lệnh), Lê Quốc Sản và Đỗ Huy Rừa Phó tư lệnh, Trần Văn Sáu ủy viên thường vụ tỉnh ủy Trà Vinh sang Thái Lai mua vũ khí làm Chính trị viên, Lê Quán Trung (Hải Nam) và ông là chính trị viên phó, Sơn Ngọc Minh cán bộ cách mạng Campuchia làm cố vấn. Chi đội tổ chức thành ba đại đội chiến đấu, một phân đội vận tải và đoàn bộ gồm tất cả 426 người.

Về tới Tây Ninh, chứng kiến cảnh nồi da xáo thịt của một bộ phận Cao Đài phản động, chi đội đã đề nghị tỉnh ủy cho phép lấy danh nghĩa một đơn vị hải ngoại về nước, ra lời kêu gọi đoàn kết gửi đến các chức sắc, tín đồ Cao Đài. Tháng 3 năm 1947, Hải ngoại 4 của các ông tham gia liên quân B với Chi đội 11 bộ đội Hoàng Thọ, hành quân chiến đấu ở Gò Dầu và Trảng Bảng thuộc Tây Ninh. Đặc biệt có một phân đội đi bảo vệ hai ông Nguyễn Chánh, Trân Văn Sáu về Bộ Tư lệnh quân khu 7 trình diện nhận nhiệm vụ đã đánh hai trận vang dội tại giồng Dinh và giồng Thổ Địa. Cả 2 trận chống quân Pháp nhảy dù đều thắng lớn, tiêu diệt gần 2 đại đội Pháp thu nhiều súng đạn. Sau đó, chi đội hải ngoại 4 được phân công về hoạt động tại Quân khu 8. Cuối năm 1948, chi đội hải ngoại 4 về khu 8 bổ sung quân số đồng thời thành lập Trung đoàn 109, do ông Nguyễn Chánh làm Trung đoàn trưởng, ông đựoc cử làm chính trị viên Trung đoàn.

Từ tháng 4 năm 1947, ông là Chính trị viên Trung đoàn 109, Tỉnh đội Sa Đéc, rồi Chính trị viên các Trung đoàn 109, 111 (1950). Đầu năm 1951, khi quân của Leon Leroy tấn cống và bình định Bến Tre, gây cho cách mạng của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn. Trước tình hình này, Khu ủy Khu 8 đã tăng cường chỉ đạo, chi viện cho tỉnh về mọi mặt. Nhiều cán bộ có năng lực được tăng cường cho Bến Tre. Ông Đỗ Phát Quang làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, ông Đồng Văn Cống (Trung tướng) tỉnh đội trưởng, ông Võ Tấn Nhựt tỉnh đội phó, Nguyễn Văn Yên trưởng ty công an, còn ông được phân công làm Chính trị viên tỉnh đội.

Năm 1954, sau hiệp định Giơnevơ, ông ra Bắc làm Chính trị viên Trung đoàn 1 miền Tây Nam Bộ, rồi Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 332 đi tiễu phỉ ở biên giới Lạng Sơn trong 2 năm. Sau đó ông về công tác ở Tổng cục chính trị. Từ năm 1956 cho đến khi lên đường quay lại Nam chiến đấu, ông lần lượt là: Phó Chính ủy, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 338, rồi về công tác tại Cục Tổ chức, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị (1960 - 1963). Năm 1962, ông đi chiến dịch Nậm Thà bên Lào làm chủ nhiệm chính trị chiến dịch mà ông Bằng Giang (Trung tướng) làm tư lệnh, ông Trần Độ (Trung tướng) làm chính ủy.

Tháng 7 năm 1964, ông bí mật vượt biển vào Nam, đổ bộ lên đất Bến Tre cùng các ông Lê Văn Ngọc, Lê Văn Lựu… Về Bộ chỉ huy miền, ông được cử làm Cục phó Chính trị Quân giải phóng miền Nam (1964 - 1966). Đến năm 1966 ông về làm Chính ủy Sư đoàn 7 do ông Nguyễn Hòa (Trung tướng) làm Tư lệnh. Để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, ông được điều xuống Quân khu 9 làm phó Chính ủy Quân khu do ông Đồng Văn Cống làm Tư lệnh, tham gia mặt trận tiền phương ở Cần Thơ.

Năm 1969, ông về làm Chính ủy Quân khu 8, đi chiến trường nghiên cứu chống bình định trọng điểm của địch ở Mỹ Tho. Năm 1974, ông lại lên làm Chính ủy Quân khu 7 chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Cuối năm 1974, ông đang chuẩn bị lên đường ra Bắc sau hơn chục năm xa gia đình thì được ông Lê Đức Anh (Đại tướng, Chủ tịch nước) tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ chỉ huy miền gọi về chuẩn bị cho nhiệm vụ mới. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ông tham gia ở cánh quân Đông với nhiệm vụ đón Quân đoàn 2 và chọn người dẫn đường đưa xe tăng tiến vào dinh Độc lập.

Năm 1976, ông được trên điều về làm Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân. Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra (1979), ông và ông Năm Ngà (Thượng tướng Nguyễn Minh Châu) là Phó Tư lệnh, Phó Tư lệnh Quân khu 7 phụ trách chung 2 mặt trận tiền phương của quân khu : Siêm Riệp do ông Hồ Quang Hóa làm tư lệnh và Kompông Chàm do ông Đặng Quang Long làm tư lệnh, cùng tiến vào giải phóng Campuchia khỏi họa diệt chủng. Trung tướng Dương Cự Tẩm về hưu năm 1989.

Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1984 khi đang là Phó tư lệnh Quân khu 7. Ông xứng đáng là một trong những tướng lĩnh kì cựu của Nam Bộ trong suốt hai cuộc kháng chiến với bí danh Năm Thanh. Nhà báo Phan Hoàng có thơ tặng ông rằng :

Đặc phái viên thành kiều bào
Lập liên quân giúp nước Lào giải vây
Viện binh Nam Bộ đánh Tây
Mê hò sông Hậu vướng dây tơ hồng.

Tham khảo : Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng), Bảo tàng Lịch sử Quân sử Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Lê Tự Đồng, vị tướng của chiến trường Trị Thiên Huế
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:15:57 am
(http://img502.imageshack.us/img502/401/trungtuongletudong.jpg)

Trung tướng Lê Tự Đồng (1920 - 20h50' 28.3.2011), nguyên: Phó Giám đốc Chính trị Học viện Quân sự cấp cao, Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4, Tư lệnh-Chính ủy kiêm Bí thư đảng ủy Quân khu Trị Thiên, Chính ủy Mặt trận B5, Phó Chính ủy Quân khu Hữu ngạn, Phó Chính ủy Học viện Quân chính, Chính ủy Trường sĩ quan lục quân, Chính trị viên Phân khu Bình Trị Thiên. Ngoài ra ông còn là: Đại biểu Quốc hội khóa 6, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công giải phóng (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng Môn-ca-đa do nhà nước Cu Ba trao tặng, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982).


Trung tướng Lê Tự Đồng tên thật là Lê Tự Đắc sinh ra tại làng Kim Long nay là phường Kim Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam thì ông sinh vào năm 1920 nhưng theo tác giả Phan Hoàng trong cuối Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam thì ông tuổi Mùi tức sinh năm 1919. Ông là con thứ 3 trong một gia đình có 5 chị em. Cha ông là viên chức sở canh nông, mất sớm. Một mình mẹ ông tần tảo làm ruộng, buôn bán nuôi các con và mất vào năm 1947. Anh ông là ông Lê Tự Nhiên sớm tham gia các hoạt động cách mạng sau này từng giữ các chức vụ Ủy viên thường vụ Thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn, rồi Ủy viên thường vụ khu ủy Trị Thiên rồi hy sinh.

Ông cùng các anh chị em phải bươn trải từ nhỏ. Vừa học vừa làm thợ may kiếm sống, ông bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng (bí mật vận động thanh niên) khi vào học ở Trường kỹ nghệ thực hành Huế (1937) trong phong trào Thanh niên Dân chủ. Do những hoạt động cách mạng của mình, năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ, bị kết án 5 năm tù khổ sai, sau tăng thêm 10 năm rồi bị đày đi Buôn Mê Thuột. Cùng bị bắt trong đợt với ông có ông Lê Chưởng (Thiếu tướng)-người được Xứ ủy Trung kỳ giao cho phụ trách thành phố Huế. Thời gian ở tù tại Buôn Mê Thuột, ông được ông Trương Văn Lĩnh (vốn là sĩ quan của Tưởng Giới Thạch khi ở Trung Quốc) truyền đạt những kiến thức cơ bản về quân sự: lí thuyết và thực hành, đội hình chiến thuật, giàn đội hình, các động tác tiến lui trong phạm vi một tiểu đội. Nhờ đó, sau khi được tự do ông được phân công làm công tác quân sự.

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông vượt ngục về tiếp tục hoạt động ở Thừa Thiên. Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Ủy viên Ban khởi nghĩa phụ trách công tác binh vận đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành Việt Minh (4.1945 - 7.1945). Nhờ ông Tôn Quang Phiệt, một trí thức yêu nước có uy tín, ông đã liên hệ được với ông Phan Tử Lăng (sau này là Đại tá) chỉ huy trưởng bảo an Trung Kỳ của chính phủ Trần Trọng Kim. Ông cử người vào các đồn bảo an vận động binh lính. Đồng thời bộ phận binh vận dưới sự lãnh đạo của ông đã đặt cơ sở và cách mạng hóa được nhiều học viên của Trường thanh niên tiền tuyến một trường mà học viên toàn những trí thức, con em của quan lại nhà Nguyễn do chính phủ Trần Trọng Kim mở ra. Khi cách mạng tháng 8 nổ ra sinh viên của trường này đã góp phần không nhỏ cho khởi nghĩa giành chính quyền tại thành phố Huế mà nhiều người trong số đó đã trở thành những tướng lĩnh của Quân đội: Phan Hàm, Phan Hạo, Đoàn Huyên, Võ Quang Hồ, Mai Xuân Tần, Cao Văn Khánh...

Cách mạng tháng 8 thành công, ông được bầu vào Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời Thừa Thiên, là Bí thư Tỉnh ủy,  phụ trách quân sự, và tham gia Ủy ban Nhân dân Cách mạng (8.1945 – 1946). Ngay sau khi cách mạng thành công, ông nhận nhiệm vụ quan trọng là tổ chức đưa Hoàng thân Suphanuvong từ Huế về Lào trực tiếp chỉ đạo cách mạng Lào. Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Khu 4 được thành lập do các ông Lê Thiết Hùng (Thiếu tướng) rồi Nguyễn Sơn (Thiếu tướng) thay nhau làm khu trưởng, ông Trần Văn Quang (Thượng tướng) làm Chính ủy, ông được phân công nhiệm vụ đặc phái viên quân sự ở Huế. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông tham gia chỉ huy và chiến đấu ở mặt trận Huế trên cương vị Chính ủy Trung đoàn 101 Trần Cao Vân là đơn vị chủ lực của Huế. Tháng 11 năm 1947, mặt trận Huế bị vỡ do tương quan lực lượng giữa ta và Pháp quá chênh lệch, ông cùng Trung đoàn rút về chiến khu Hòa Mỹ và là lực lượng chủ chốt xây dựng và củng cố vùng chiến khu sau đó ông ra Thanh Hóa theo học ở Trường Quân chính liên khu.

Sau đó, ông được cử tham gia Đoàn đại biểu quân sự Liên khu 4 do Chính ủy Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ra Việt Bắc dự hội nghị rèn cán chỉnh quân rồi được cử ở lại học một khóa quân sự tại Thái Nguyên, sau dời lên Tam Đảo do 2 ông Trần Tử Bình và Lê Thiết Hùng phụ trách. Sau đó ông vượt sông Hồng, qua Hà Đông vào Thanh Hóa nhận nhiệm vụ ở Khu 4. Ông được Tư lệnh Quân khu Nguyễn Sơn phân công giữ chức vụ Chính trị viên Phân khu Bình Trị Thiên Liên khu 4, Tỉnh đội Thừa Thiên Huế kiêm Chính ủy Trung đoàn 101 (1946-1948). Đầu năm 1948, sau khóa học, ông được phân công về làm Chính ủy Trung đoàn 77 Thanh Hóa do ông Hùng Sơn làm Trung đoàn trường. Từ năm 1949 đến tháng 6 năm 1951, ông tiếp tục quay về làm Chính ủy Trung đoàn 101 Thừa Thiên.

Mùa xuân 1950, thực hiện chủ trương của cấp trên, 2 trung đoàn 95 và 101 vào hoạt động ở vùng sâu Quảng Điền. Để chỉ huy thống nhất 2 đơn vị, Bộ chỉ huy Phân khu Bình Trị Thiên chỉ định ông Lê Bá Vận làm Chỉ huy trưởng, ông làm Chính ủy. Tháng 9 năm 1950, ta mở chiến dịch Biên Giới. Nhằm phối hợp tích cực với chiến trường chính theo chỉ thị của cấp trên, đơn vị của ông đã bất ngờ phục kích đoàn tàu quân sự của Pháp tại Như Sơn Bến Đá (trước đó đoạn đường sắt Huế-Quảng Trị, Đà Nẵng-Huế bị đánh liên tục còn đoạn này chưa bị đánh bao giờ) và giành thắng lợi lớn: đốt đoàn tàu, thu toàn bộ vũ khí, đặc biệt trong đó có khẩu Bô-pho 40 ly với trên 3000 viên đạn. Sau đó Trung đoàn 101 được giao nhiệm vụ vừa chủ động tác chiến bảo vệ mùa màng. Cụ thể là "công đồn diện viện" nhằm phá vỡ một mảng trong hệ thống đồn bốt Pháp nhằm đẩy mạnh phong trào kháng chiến, lấn sát vào thành phố Huế.

Trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 1951 đến tháng 2 năm 1953, ông là Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Bình Trị Thiên, Khu ủy viên dự khuyết Khu 4. Tháng 7 năm 1953, ông được cử giữ chức Phó Chính ủy Phân khu Bình Trị Thiên, Đại đoàn 325 (Đại đoàn Bình Trị Thiên). Sau đó, tháng 1 năm 1955, ông được cử giữ chức Chính ủy Đại đoàn 316.

Tập kết ra Bắc, ông được cử sang học ở Học viện Quân chính Lê-nin từ năm 1956 đến năm 1961 cùng các ông Đặng Vũ Hiệp, Vũ Chí Đạo... Sau khi về nước ông là chủ nhiệm khoa của rồi Phó Chính ủy phụ trách Khối Chính trị Học viện quân chính, rồi được bầu làm Bí thư Đảng ủy Học viện (2.1961 – 11.1962), Chính ủy Trường sĩ quan Lục quân ở Sơn Tây (12.1962 – 8.1968 ) cho đến tháng 9 năm 1968 là Phó Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn (9.1968 – 4.1969). Cuối năm 1968 ông vượt sông Bến Hải vào Chiến trường Trị Thiên giữ chức vụ Phó Chính ủy Quân khu 4 kiêm Chính ủy Mặt trận B5 (5.1969 – 11.1972).

Trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào (mặt trận 702), B5 dưới sự chỉ huy của ông tấn công quân Mỹ ở Sa Mưu - Tân Lâm - Khe Sanh, rồi đánh tạt ngang sườn khi địch rút chạy khỏi bản Đông tiêu diệt gần 2000 địch. Chiến thắng Đường 9 Nam Lào mở ra khả năng thực tế đánh bại hoàn toàn âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Nhận định lực lượng cách mạng của 3 nước Đông Dương đã lớn manh, Trung ương chủ trương mở cuộc tấn công chiến lược 1972, nhằm tiêu hao phần lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, đưa cuộc kháng chiến lên một bước mới với B5: nếu điều kiện thuận lợi sẽ giải phóng hoàn toàn Trị Thiên Huế. Bộ Tư lệnh chiến dịch được hình thành do ông Lê Trọng Tấn làm tư lệnh, ông Lê Quang Đạo chính ủy, ông Cao Văn Khánh Phó Tư lệnh và ông là Phó Chính ủy. Đồng thời, ông cùng ông Giáp Văn Cương được giao phụ trách trực tiếp hướng Nam.

Sau chiến dịch Quảng Trị, tháng 12 năm 1972 ông được phân công làm Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu Trị Thiên. Từ năm 1974 đến 1975, ông được phân công giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên, kiêm Bí thư Khu ủy. Nhân dịp Chủ tịch Cuba Phidel sang Việt Nam và vào thăm Quảng Trị vừa giải phóng, ông thay mặt Quân khu Trị Thiên tặng một khẩu 106,7 ly.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông được cử giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên. Rồi cho đến 1976, được điều ra giữ chức vụ Chính ủy Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Đến năm 1977 thì được điều ra Hà Nội làm Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao cho tới khi về hưu 1990.

Nói đến chiến trường Thị Thiên là người ta nghĩ ngay đến một chiến trường giáp ranh ác liệt, với những trận đụng độ nảy lửa, nhiều con người bình thường đã trở thành anh hùng, nhiều anh lính binh nhất bình nhì trở thành tướng lĩnh. Một trong những vị tướng trụ lâu nhất ở chiến trường Bình Trị Thiên thời chống Pháp và Trị Thiên thời chống Mỹ chính là ông-Trung tướng Lê Tự Đồng. Trở thành chỉ huy quân sự đầu tiên của thành phố Huế sau Cách mạng tháng Tám, ông cũng là người chỉ huy trực tiếp cuối cùng khi chiến tranh kết thúc trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên. Vì vậy ông xứng đáng được goi là vị tướng của chiến trường Trị Thiên Huế.

Tham khảo : Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Nhân dân, Báo Thừa Thiên.


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Hòa, người có tài tổ chức, chỉ huy hiệp đồng binh chủng
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:18:42 am
(http://img197.imageshack.us/img197/5815/nguyenhoaqd1.jpg)

Trung tướng Nguyễn Hòa (Trần Doanh, 1927), nguyên: Tư lệnh Quân đoàn I, Phó Tư lệnh Quân khu 5, Phó Tư lệnh Mặt trận B3, Phó Tư lệnh Đoàn 559-Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Phó Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Phó Tư lệnh Mặt trận B5, Sư đoàn trưởng đầu tiên của Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7.

Ngoài ra ông còn là: Đại biểu Quốc hội Khóa 8 (Phó trưởng ban Kế hoạch và ngân sách của Quốc hội), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5, Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ vẻ vang, Huân chương chiến sĩ giải phóng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980)


Trung tướng Nguyễn Hòa quê ở xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Trước cách mạng tháng 8, ông theo học trường Cao đẳng tiểu học Đông Dương (còn gọi là trường Đỗ Hữu Vị). Sớm được giác ngộ cách mạng (từ năm 1944), ngày 19 tháng 8 năm 1945 ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Thụy Yên.

Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử đi học Trường quân chính kháng Nhật ở Việt Bắc. Tháng 3 năm 1946, Bộ Tổng tham mưu điều ông về làm Chánh văn phòng Khu quân sự đặc biệt Hà Nội, sau đổi tên thành Khu 11. Cùng với những chiến sĩ quyết tử Thủ đô chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.

Sau 60 ngày đêm chiến đấu anh dũng, Nguyễn Hòa cùng các đơn vị rút khỏi Hà Nội lên chiến đấu ở chiến trường Hoà Bình Sầm Nưa. Năm 1949, ông về Trung đoàn 52 (Trung đoàn Tây Tiến). Tháng 5 năm 1950, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 rồi sau đó là Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng của Trung đoàn này, trong đội hình Sư đoàn 320 chiến đấu khắp các chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, từ năm 1955 đến 1957 ông là giảng viên Trường quân sự trung cao. Từ năm 1957 đến 1960, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 304 rồi 320. Từ năm 1960 đến 1963, Nguyễn Hòa được cử đi học ở Học viện Bộ Tổng tham mưu Vô-rô-si-lốp của Liên Xô. Năm 1963, về nước, ông được Phó Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái giao nhiệm vụ viết tổng kết về chiến trường đồng bằng Bắc bộ trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Tháng 4-1964 Nguyễn Hòa vào Nam chiến đấu bằng con tàu không số đường Hồ Chí Minh trên biển vừa được khai phá. Ngày 2-9-1965 Quân ủy Trung ương và Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập hai sư đoàn đầu tiên là Sư đoàn 9 và Sư đoàn 5. Sư đoàn 9 do tướng Hoàng Cầm là Sư trưởng. Ngày 23-11-1965 Sư đoàn 5 chính thức được thành lập do Nguyễn Hòa làm Sư trưởng, Lê Xuân Lựu làm Chính ủy, đứng chân trên địa bàn Long Khánh - Bà Rịa, vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng tạo bàn đạp vùng quanh Sài Gòn.

Trận đầu ông chỉ huy chiến đấu ở chiến trường miền Nam là trận Bình Giã. Trận này do ông Trần Đình Xu (Đại tá Liệt sĩ) làm Tư lệnh, ông làm Phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng, chỉ huy một trung đoàn chủ lực Miền cùng với bộ đội địa phương Bà Rịa - Long Khánh và du kích Long Thành đảm nhiệm. Ta bắt đầu tổ chức tấn công đánh địch từ ngày 5-10-1964 và sau hơn một tháng chiến đấu quân và dân ta phá tan “ấp chiến lược” Bình Giã. Tiêu diệt và bắt sống hơn 2.000 tên địch, thu và phá hủy 45 xe bọc thép M113, thu 611 súng các loại, bắn rơi 51 máy bay... Thắng lợi Bình Giã khẳng định trình độ chỉ huy tác chiến tập trung của bộ đội Miền - lần đầu tiên giải phóng quân mở một chiến dịch quy mô lớn, dài ngày đánh vào vùng được coi là căn cứ an toàn của địch. Nó cũng đánh dấu sự thất bại của chiến thuật “trực thăng vận” “chiến xa vận” của Mỹ - ngụy, khẳng định sự thất bại tất yếu của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của địch...

Thực hiện quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ tư lệnh Miền, Gần một năm sau ông lại được lệnh đi thành lập sư đoàn 7 gồm trung đoàn 16, trung đoàn 141 (Ba Vì anh dũng) và trung đoàn 165 (Thành đồng biên giới) về cơ bản nó được thành lập trên các Trung đoàn của Đại đoàn Chiến Thắng 312. Tháng 6-1966 Ban cán sự sư đoàn gồm có Nguyễn Hòa, Sư trưởng, Nguyễn Hải - Sư phó và Dương Cự Tẩm (Dương Thanh) Bí thư Đảng ủy kiêm Chính ủy.

Năm 1967 ông lại được điều đi làm Phó tư lệnh Quân khu IV kiêm Phó tư lệnh Mặt trận B5, hơn một năm sau làm Sư trưởng Sư đoàn 320. Tháng 5-1970, làm Phó tư lệnh Đoàn 559 kiêm Phó tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Tháng 12-1973 ông lại được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên làm Phó tư lệnh...

Sau hội nghị Pari tình hình trên chiến trường miền Nam diễn ra hết sức phức tạp. Quân Mỹ buộc phải rút nhưng vẫn ồ ạt tuôn vũ khí, đạn dược, các phương tiện chiến tranh cho chính quyền Sài Gòn. Quân đội Sài Gòn ra sức bắt lính, bổ sung quân lấn chiếm vùng giải phóng. Để có những quả đấm thép trên chiến trường, Trung ương quyết định thành lập các binh đoàn chủ lực cơ động. Quân đoàn I “Quyết thắng” được chính thức thành lập ngày 24-10-1973 tại Tam Điệp, Ninh Bình. Nơi Quang Trung Nguyễn Huệ, năm 1789 hội quân, tổ chức đội hình trước ngày tiến ra Thăng Long quét sạch 20 vạn quân Thanh, giành lại nền độc lập, tự do cho Tổ quốc. Quân đoàn I là Quân đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta gồm các sư đoàn chủ lực mạnh: 308, 312, 320B. Ngoài ba sư đoàn còn có sư đoàn 367 cao xạ - tên lửa, lữ đoàn xe tăng 202, đơn vị thông tin 140 và lữ đoàn công binh 299. Ngày đầu thành lập, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng lúc bấy giờ làm Tư lệnh, Đại tá Nguyễn Hòa làm Phó tư lệnh, Trung tướng Lê Quang Hòa làm Chính ủy. Sau sáu tháng huấn luyện, hai ông Tư lệnh và Chính ủy về Bộ Quốc phòng, tháng 4-1974 Nguyễn Hòa làm Tư lệnh Quân đoàn, Hoàng Minh Thi làm Chính ủy.

Cuối tháng 1-1975 Quân đoàn mở hội nghị quân chính, Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về thăm, cổ vũ thêm quyết tâm cán bộ chiến sĩ đang náo nức bước vào trận chiến đấu mới. Ngày 1-4-1975 nhận được mệnh lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Toàn Binh đoàn Quyết thắng thiếu Sư đoàn Quân tiên phong (308) được tăng cường trung đoàn ô tô vận tải số 10 cơ động thần tốc vào tập kết ở Đồng Xoài trước ngày 15-4-1975”. Nhận mệnh lệnh là binh đoàn triển khai hành quân với khẩu hiệu hành động: “Đi xa tiến sâu, đánh thắng trận đầu, đánh thắng liên tục đến thắng lợi hoàn toàn”. Nhiệm vụ của Quân đoàn trong trận tiến về Sài Gòn là tiến công tiêu diệt sư đoàn 5 ở Lai Khê cùng toàn bộ các lực lượng bảo an và sở chỉ huy của chúng ở Bình Dương sau đó đột phá nhanh đánh chiếm dinh Độc lập - dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, khu liên hợp bộ tư lệnh các binh chủng ngụy ở Gò Vấp và Gia Định. Nhưng ngày 23-4-1975, nhiệm vụ của Quân đoàn có thay đổi: Giao việc đánh chiếm dinh Độc lập cho Quân đoàn 4 ở phía đông, thay vào đó Quân đoàn 1 phải đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy. Các nhiệm vụ khác không thay đổi. Cùng với lãnh đạo Quân đoàn, tướng Nguyễn Hòa đã chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Ngày 14-4-1975 toàn bộ các đơn vị quân đoàn đã vượt trên 1.700 km từ miền Bắc vào miền Đông Nam bộ trước thời hạn quy định, tập kết tại Đồng Xoài. Theo mệnh lệnh của Tư lệnh Quân đoàn, các mũi triển khai đánh địch, ngày 30-4 tiêu diệt hoàn toàn sư đoàn 5 ngụy (khiến Chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ, Tư lệnh sư đoàn phải tự sát bằng chính khẩu súng lục của y), giải phóng tỉnh Bình Dương và tiến về đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy vào trưa ngày 30-4-1975.

Năm 1980 Trung tướng Nguyễn Hòa được cử làm Tổng cục trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục Dầu khí (sau này là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam). Tháng 6 năm 1988, ông về Quốc hội làm Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế kế hoạch và Ngân sách Quốc hội. Ông là ủy viên Trung ương Đảng (khóa V, khóa VI) và là đại biểu Quốc hội (khóa VII, VIII) đóng góp vào việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Tháng 7 năm 1999, ông được Đảng và Nhà nước cho nghỉ hưu.

Nguyễn Hòa là vị tướng luôn có mặt trên những chiến trường ác liệt. ở ông, tài tổ chức, chỉ huy kết hợp với trí thông minh và biết chọn thời cơ ra mệnh lệnh đúng lúc khiến ông bình tĩnh, quyết đoán, tự tin tạo nên tinh thần lạc quan cho bộ đội khi bước vào cuộc chiến. Có thể nói trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, dấu chân ông đã có mặt ở hầu hết các chiến trường trọng điểm của tổ quốc : từ chiến trường đồng bằng Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp cho đến chiến trường miền Nam trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ Trường Sơn cho đến núi rừng Tây Nguyên. Có thể nói ông duyên với việc tổ chức, lãnh đạo các đơn vị chủ lực của quân đội ta ngay từ những ngày đầu thành lập. Từng là Sư đoàn trưởng của Sư đoàn 5 rồi Sư đoàn 7 đầu tiên, ông là một vị tướng có công lớn đối với việc xây dựng lực lượng chủ lực của miền Nam. Là Tư lệnh Quân đoàn 1 khi mới 46 tuổi, ngay khi Quân đoàn này được thành lập được nửa năm và là người Chỉ huy Quân đoàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông có công lao rất lớn trong việc xây dựng ‘’Quả đấm thép’’ số một của Quân đội ta.

Tham khảo : Báo Hà Nội mới, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Chú ý: Trong Quân đội Nhân dân Việt Nam còn có một Trung tướng khác cũng tên là Nguyễn Hòa (1923-2000), từng 5 lần giữ vai trò Trưởng đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào


Tiêu đề: Thiếu tướng Dũng Mã, một trong song mã của chiến khu Việt Bắc
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:20:12 am
(http://img685.imageshack.us/img685/7761/dungma.jpg)

Thiếu tướng Dũng Mã (1923), nguyên: Cục trưởng Cục huấn luyện, Chủ nhiệm khoa Lịch sử Quân sự trực thuộc Học viện Quân sự cấp cao; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận 31 Cánh đồng Chum Xiêng Khoảng Lào, Tham mưu trưởng Hải quân Đông Bắc, Tham mưu trưởng Quân khu Đông Bắc.

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng... Ngoài ra, ông còn được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng thưởng Huân chương Tự do hạng Nhất, Huy chương Anh dũng chống Mỹ.  

Thiếu tướng (1984)


Thiếu tướng Dũng Mã tên thật là Nguyễn Xáng sinh ra và lớn lên tại quê mẹ xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Cha ông quê ở xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng lấy vợ và ở rể ở nhà vợ (vốn không có con trai). Theo lời ông kể thì gia cảnh nhà ông tạm đủ ăn, xong vẫn thường xuyên phải ăn cơm độn sắn, trừ những ngày mùa. Cha ông là một nông dân hiếu học nhưng lại không có điều kiện học đến nơi đến chốn. Cụ tự học chữ Nho và chữ quốc ngữ, viết được văn tự , giúp bà con trong làng khi có việc. Ông là người nghiêm khắc còn mẹ ông là một phụ nữ quê, hiền lành, hết lòng vì chồng con.

Nhà ông đông anh chị em, ba gái bảy trai tuy nhiên cha ông thấy con nào lanh lợi, tiếp thu nhanh, sức khỏe tốt đều cố gắng cho học lên cao. Ông học hết cấp hai thi đậu diplome, đang học tiếp cấp ba thì thi đỗ vào Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội (1944). Trong thời gian theo học ở Trường Công chính, ông bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng. Do hoạt động bí mật cho nên ông lấy bí danh là Dũng Mã theo ý lời hát của Nhạc sĩ Văn Cao: ''Bao chiến mã lên đường. Lạnh lùng vung gươm ra sa trường...''.

Sau cách mạng tháng Tám (1945), ông được gọi học tiếp năm thứ 2 Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội và tham gia hoạt động trong Hội sinh viên cứu quốc. Theo lời kêu gọi của đoàn thể, ông ''xếp bút nghiên" lên đường nhập ngũ và được cử đi học Trường Quân chính Bắc Sơn tại Thái Nguyên đầu năm 1946.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12.1946), ông tham gia chiến đấu kìm chân quân Pháp tại phía Bắc Hà Nội. Sau khi rút lên Việt Bắc, ông được giao nhiệm vụ làm thư ký riêng cho Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong 2 năm, rồi Trưởng Phòng Điều chỉnh Văn phòng Bộ Quốc phòng. Năm 1949, khi Đại đoàn Quân tiên phong (F308) được thành lập, do ông Vương Thừa Vũ (Trung tướng) làm Tư lệnh, ông Song Hào (Thượng tướng) làm Chính ủy, ông được điều sang chiến đấu tại Đại đoàn trên cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Phủ Thông. Rồi đến ngày 27 tháng 12 năm 1950, khi Đại đoàn 312 được thành lập do ông Lê Trọng Tấn (Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng) làm Tư lệnh, ông lại được điều sang chiến đấu và công tác ở đây trên cương vị Trung đoàn phó Trung đoàn Sông Lô (E209-Trung đoàn Sông Lô được thành lập từ các đơn vị trong đó có Tiểu đoàn Phủ Thông, Tiểu đoàn Hồng Hà) .

Trong kháng chiến chống Pháp ông tham gia phần lớn những chiến dịch quan trọng trên chiến trường Bắc bộ: Biên Giới, Trung Du, đường số 18 hay chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào... Trong chiến dịch Biên Giới (16.9.1950-17.10.1950), Tiểu đoàn do ông chỉ huy tham gia tiến công cao điểm Khâu Luông (Sau khi Đông Khê bị thất thủ, Pháp cho một binh đoàn từ Lạng Sơn lên nhằm chiếm lại Đông Khê để đón binh đoàn từ Cao Bằng rút về. Binh đoàn phía Nam do quan Nam Lơ-pa-giơ chỉ huy đạ bị chặn đánh ở nam Đông Khê, buộc phải dừng lại và chiếm lĩnh một số điểm cao ở bắc đường số 4, trong đó có Khâu Luông do một tiểu đoàn Âu Phi phòng ngự) rồi sau đó tham gia truy kích và bắt gọn Binh đoàn của Lơ-pa-giơ.

Cuối năm 1950, trong hội nghị tổng kết Chiến dịch Biên Giới do thành tích chiến đấu ông cùng với ba chỉ huy khác cũng tên là Dũng: Thái Dũng (tên thật là Nguyễn Dũng Thái, dân tộc Tày, sau này là Trung tướng) Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88, Thế Dũng - Chính trị viên Trung đoàn 102 (đều thuộc Đại đoàn Quân tiên phong) được Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mời đến gặp tại ''nhà riêng'' và chụp ảnh. Đây là bức ảnh rất nổi tiếng do nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp có Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông, ông Thái Dũng ngồi quanh một bàn đá, còn ông Võ Nguyên Giáp đứng. Buổi hôm đó ông Thế Dũng không đến kịp.

Đầu năm 1951, cuốc kháng chiến chống Pháp tiếp tục thu được nhiều thắng lợi, có tác dụng phối hợp với nhân dân Triều Tiên đang kháng chiến chống Mỹ và đồng minh. Tháng 9 năm 1951, Ban thường vụ Trung ương tổ chức một đoàn "phỏng vấn" gồm trên 10 người, có đại biểu: công, nông, binh, trí thức, thanh niên, phụ nữ, tôn giáo...do ông Tôn Đức Thắng rồi đến ông Hoàng Quốc Việt dẫn đầu, ông tham gia đoàn trên cương vị đại biểu quân đội. Trong thời gian 3 tháng, đoàn đã đi thăm Bắc Kinh, Bình Nhưỡng và trên 10 thành phố ở Trung Quốc và Triều Tiên, một Quân đoàn chí nguyện Trung Quốc, một Quân đoàn Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Thời điểm các ông ở Bình Nhưỡng cũng là thời điểm mà thủ đô của Triều Tiên bị bom Mỹ tàn phá gần như trơ trụi, nhiều khi phải diễn thuyết vào ban đêm ở các hội trường ngầm dưới lòng đất.

Tháng 12 năm 1952, trên cương vị Trung đoàn phó 209, ông tham gia chiến dịch Lê Hồng Phong 2 giải phóng Tây Bắc. Trong trận đánh cứ điểm Bản Vât một cứ điểm khống chế phía tây trung tâm Nà Sản ông bị thương và bị đưa về điều trị tại bệnh viện dã chiến gần thị xã Hòa Bình. 10 ngày sau, ông nhận được thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng thiếp chúc tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh kèm theo một chiến áo lụa do Hội liên hiệp Phụ nữ Hà Đông biếu Chủ tịch.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông là Trung đoàn trưởng-đặc phái viên tác chiến của Bộ chỉ huy. Về Hà Nội ông được phân công làm Trưởng khoa Chiến thuật trường Trung cao Quân sự (tiền thân của Học viện Lục quân ngày nay), Tham mưu trưởng Trung đoàn, Trung đoàn phó thuộc Sư đoàn 320, Tham mưu trưởng Sư đoàn 320 (9.1963).  Sau đó, ông làm Tham mưu trưởng Quân khu Đông Bắc (10.1963), rồi Tham mưu trưởng Hải quân Đông Bắc (6.1967). Tháng 6 năm 1970, ông sang Lào làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận 31 cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng phối hợp tác chiến với bộ đội Pa-thét Lào. Từ tháng 9 năm 1972 đến tháng 3 năm 1975, ông là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận 31 (Mặt trận Cánh Đồng Chum).

Đối tượng tác chiến chính trên chiến trường Lào lúc bấy giờ là lực lượng đặt biệt của tướng phỉ Vàng Pao và quân chính quy Thái Lan với sự yểm trợ về không quân, hậu cần của Mỹ. Cuối năm 1973, ông bị thương nặng tại sở chỉ huy tiền phương tại Phu-Húa-Sạn (điểm cao 1830 mét), trong lúc trực tiếp chỉ huy đánh trả cuộc tiến công lấn chiếm của địch ra phía nam cánh đồng chum. Ông được đưa về Hà Nội rồi sau đó sang Mát-xơ-cơ-va điều trị gần 1 năm.

Sau khi bình phục về nước (sau Chiến thắng 1975), ông được chuyển về công tác tại Bộ tổng tham mưu. Từ tháng 4 năm 1975 đến tháng 9 năm 1977, là Cục phó Cục Kế hoạch Kinh tế Quân sự Bộ Tổng Tham mưu. Đến cuối năm 1977, ông được điều về làm chủ nhiệm Khoa lịch sử quân sự, rồi Cục trưởng Cục kế hoạch huấn luyện của Học viện quân sự cấp cao (nay là Học viện quốc phòng) do Thượng tướng Hoàng Minh Thảo làm giám đốc cho đến cuối năm 1989 thì về hưu.

Là một trí thức trẻ xung phong vào quân đội, được cử làm thư kí riêng cho Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với tư cách Trung đoàn trưởng đặc phái viên của Bộ chỉ huy chiến dịch, thiếu tướng Dũng Mã lần lượt đảm trách nhiều chức vụ khác nhau trên chiến trường và ở các học viện. Trong kí ức những chiến binh thời đánh Pháp ở Việt Bắc, 2 cái tên Dũng Mã và Sơn Mã trở lên khá quen thuộc. (Sơn Mã (1925-1952) tên thật là Nguyễn Huynh, tốt nghiệp Trường Quân chính Quảng Ngãi, khi hy sinh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 Đại đoàn 308). Nhờ lập công xuất sắc, tướng Dũng Mã là một trong ba cán bộ chỉ huy trẻ, đều tên là Dũng, được Bác Hồ gọi lên khen ngợi sau chiến dịch Biên Giới.

Tham khảo : Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.



Tiêu đề: Đại tướng Nguyễn Quyết, người anh cả của các vị tướng quê Kim Động
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:23:44 am
(http://img14.imageshack.us/img14/5679/daituongnguyenquyet.jpg)

Đại tướng Nguyễn Quyết (1922), nguyên: Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam-Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chính ủy-Tư lệnh-Bí thư Đảng ủy Quân khu 3, Chính ủy-Bí thư Quân khu Tả Ngạn, Phó Chính ủy Quân khu Trị Thiên-Chính ủy Mặt trận B8 (Quân khu Trị Thiên), Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 5, Chính ủy Mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng.

Ngoài ra ông từng là: Đại biểu Quốc hội (khóa 4, 7, 8 ), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa 4, khóa 6)-Ủy viên Ban bí thư (khóa 6), Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Phó Chủ tịch nước), Bí thư thành ủy Hà Nội trong Cách mạng tháng 8.

Huân chương Sao Vàng (2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng...

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986), Đại tướng (1990)


Quê ông ở thôn Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động. Là con út trong gia đình 10 anh em, ông may mắn hơn cả, được bố mẹ dành dụm từng xu nuôi ăn học hết tiểu học. Nguyễn Tiến Văn là tên cúng cơm bố mẹ đặt cho ông để gửi gắm kỳ vọng muốn ông cố gắng vượt lên đói nghèo bằng con đường kẻ sỹ. Vừa mới biết nhận thức, ông đã phải chứng kiến cảnh "nhìn thấy gia đình lúc nào cũng khóc", đã phải chứng kiến cái cảnh tử biệt sinh ly cũng bởi do cảnh nghèo. Người chị cả lấy chồng, cũng vì nghèo mà 2 vợ chồng phải đi phu cao su ở Tân Thế Giới. Người chị thứ hai trong cái năm 45 khủng khiếp vì đói đã phải lang thang khắp chốn rồi cũng không biết qua đời ở đâu, lúc nào. Những người anh lớn lên, người thì mất vì bạo bệnh, người thì theo nghề phu phen đi culi cao su ở Campuchia. Hai người chị trên ông, một người cũng vì cảnh nghèo mà bố mẹ phải ép gả cho người khác, vì không chịu mà bỏ trốn đi tu, sau cũng biệt tích đến giờ chưa tìm được mộ, người còn lại cũng phải đi ở cho nhà địa chủ...

Là một họ nhỏ trong làng, lại là dân ngụ cư, tuổi thơ của ông cũng là những tháng ngày sống trong cảnh hà hiếp của đám lý dịch trong làng, chỉ chờ có cơ hội là ném rượu lậu vào nhà dân để báo quan Tây bắt, cho dù những người bần cùng ấy chỉ lần hồi sống qua ngày bằng một gánh hàng xáo, bằng những bát cháo được nấu từ thứ gạo đi mót... Hồi nhỏ có lần ông chứng kiến bố ông không chịu được bất công đã cãi lại một tên cường hào. Bị đánh đập, còn trả thù đem rượu lậu bỏ vào nhà rồi lên báo tri huyện cho người về khám xét, bắt bớ…

Trong cái cảnh mờ mịt lúc nào cũng thấy đói thấy khổ ấy, mẹ ông đặt hết hy vọng vào cậu con út Nguyễn Tiến Văn bằng cách khó mấy cũng cho ông đi học. Hết lớp nhất, đến khi phải đi trọ học thì gia đình cũng không thể nuôi ông được nữa. Hết cách, bà cô ruột gửi ông lên chùa Quán Sứ nhờ một vị sư tìm cho chân giúp việc với ý định dần dần sẽ gửi hẳn ông nương nhờ vào cửa Phật (năm 1937). Nhưng trong những ngày làm chân loong toong chạy phát hành cho tờ "Đuốc Tuệ", ông may mắn được tiếp xúc với giới công nhân và giới báo chí văn nghệ sĩ đang chịu ảnh hưởng mạnh của phong trào “dân sinh dân chủ”.

Cũng từ những mối quan hệ ấy, ông được tiếp cận với sách báo của Đảng, được giác ngộ về báo chí cách mạng. Quãng thời gian ấy đủ để ông lần đầu tiên đưa ra một quyết định quan trọng trong đời mình: bỏ con đường tu hành để theo cách mạng. Hai lần ông được điều về Hưng Yên hoạt động xây dựng phong trào. Lần thứ nhất là năm 1939. Nhiệm vụ đầu tiên ông được giao là xây dựng phong trào phản đế ở huyện Kim Động. Ông nhằm vào thanh niên vì đây là đối tượng hăng hái và nhạy bén. Dưới danh nghĩa là phóng viên báo Đuốc Tuệ, ông đi lại nhiều nơi, bắt mối kết nạp thêm được nhiều hội viên. Phong trào phát triển mạnh. Đây là cơ sở để ông thành lập Ban chấp hành thanh niên phản đế huyện Kim Động. Đây cũng là thời kỳ ông bắt đầu xây dựng cơ sở cách mạng ở Dưỡng Phú để làm chỗ đứng chân rồi phát triển ra nơi khác...

Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam). Cuối năm 1941, phong trào ở Hưng Yên bị địch khủng bố ác liệt. Nhiều cơ sở tan vỡ. Trước tình hình đó, ông được điều về củng cố xây dựng lại phong trào, trực tiếp phụ trách địa bàn nam Hưng Yên. Gặp ông trở về, những cơ sở chưa bị lộ phấn khởi bảo “Cách mạng còn”. Đặc biệt là thôn Dưỡng Phú, quê ông, nơi có số đảng viên cũng như hội viên cứu quốc và quần chúng có cảm tình với cách mạng đông nhất, tất cả đều vững vàng kiên định, an toàn trong lúc địch khủng bố ác liệt nhất. Đến năm 1943, ông phát triển được hai chi bộ Dưỡng Phú và Tiên Cầu và được bầu vào Tỉnh ủy Hưng Yên. Hai chi bộ này trở thành trung tâm cách mạng, chỗ dựa vững chắc để phát triển phong trào ở phía nam tỉnh Hưng Yên.

Với những kinh nghiệm trong xây dựng cơ sở, chống địch khủng bố ở Hưng Yên, cuối năm 1943 ông được ông Hoàng Quốc Việt điều về ban cán sự của Hà Nội; là Thành ủy viên phụ trách xây dựng khu căn cứ ở ngoại thành và phong trào công nhân rồi Bí thư Thành ủy. Lúc này, ông Hoàng Văn Thụ, trực tiếp phụ trách Hà Nội bị địch bắt (sau đó bị địch xử bắn). Các tổ chức đảng của Hà Nội bị vỡ, không còn chi bộ, cơ sở trong phong trào công nhân cũng bị vỡ, các ông bí thư đều bị bắt hay bị lộ phải chuyển đi nơi khác… Tuân thủ nghiêm nguyên tắc hoạt động bí mật của Đảng trên cơ sở sáng tạo, linh hoạt, ông gây dựng được vùng ngoại thành rộng lớn trở thành khu căn cứ an toàn đến khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Mọi hoạt động của ban cán sự, đoàn thể, lực lượng tự vệ đều phải dựa vào khu căn cứ ngoại thành, do nội thành mật thám dày đặc. Phong trào công nhân dần dần phục hồi phát triển…

Ngày 15.8.1945 khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Trước cao trào mạnh mẽ của quần chúng, địch khủng hoảng đến cao độ. Căn cứ vào chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thành uỷ nhận định: Thời cơ khởi nghĩa đã đến! Nhưng làm sao khởi nghĩa nhanh, bằng lực lượng nào, bằng phương thức gì trong khi chưa có lệnh của Trung ương? Điều gay cấn nhất là làm sao thắng được 1 vạn quân Nhật và hơn một nghìn lính bảo an và cảnh sát với đầy đủ vũ khí trong tay. Nếu thẳng thừng chiến đấu bằng vũ trang thì cho dù kẻ địch đã mất tinh thần, lực lượng non trẻ của cách mạng cũng rất khó giành chính quyền. Lúc này, toàn thành phố có 3 chi đội tự vệ chiến đấu, vũ khí thô sơ… Nếu Hà Nội chủ trương đánh Nhật thì buộc chúng phải đối phó, ta nhất định sẽ bị thiệt hại và tình hình có thể giằng co kéo dài chưa biết đến bao lâu, trong khi bọn Việt gian gấp rút chuẩn bị thành lập chính phủ nhằm làm đại diện hợp pháp cho Việt Nam để đón quân Đồng Minh (Anh- Tưởng) đang khẩn trương kéo vào để giải giáp quân đội Nhật...

Tối ngày 17.8, với trách nhiệm là Bí thư Thành uỷ, kiêm uỷ viên quân sự của Uỷ ban khởi nghĩa ông cấp tốc triệu tập hội nghị Thành uỷ mở rộng. Lúc đầu, tại cuộc họp, có ý kiến cho rằng, lực lượng quân sự của ta còn yếu nên chờ sự hỗ trợ của Trung ương. Nhưng phân tích kỹ lưỡng, Thành uỷ quyết định khởi nghĩa! Chậm là mất thời cơ… Và quyết định khởi nghĩa gấp vào ngày 19.8. Ngày 19.8, cở đỏ rợp trời Hà Nội theo các đoàn người từ mọi cửa ô rầm rập tiến về nội thành. Cuộc mít -tinh lớn diễn ra lúc 11 giờ tại Nhà hát Lớn với khoảng 20 vạn người và nhanh chóng chuyển thành cuộc biểu tình thị uy vang dội. Như kế hoạch đã định, quần chúng sau khi mít -tinh sẽ chia làm hai khối, dưới sự chỉ huy của các ông trong Uỷ ban quân sự, cùng tự vệ chiến đấu sẽ lần lượt chiếm những vị trí quan trọng. Đoàn đánh chiếm Phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Sở Cảnh sát Hàng Trống do ông Nguyễn Khang phụ trách. Ông Nguyễn Quyết phụ trách đoàn chiếm trại Bảo An binh (nay là 43 Hàng Bài). Việc chiếm trại Bảo An binh tuy lúc đầu có gặp khó khăn nhưng sau đó cũng đã giành thắng lợi. Đến chiều tối thì hầu hết các cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn thân Nhật đã lọt vào tay quần chúng cách mạng...

Tháng 9 năm 1945, ông là Ủy viên Chính trị Ủy ban Quân sự Hà Nội. Sau khi nước nhà giành được độc lập không lâu, một tuần sau, quân Pháp núp bóng quân Anh đổ quân vào miền Nam hòng chiếm nước ta một lần nữa. Nhân dân Nam Bộ đã anh dũng đứng lên chiến đấu. Rời bỏ cương vị Bí thư thành ủy Hà Nội ông lên đường Nam tiến chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ (1.1946). Từ tháng 1 năm 1946 đến tháng 1 năm 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị viên Chi đội 2, Chi đội 1 rồi Đại đoàn 31 - Chủ lực của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Từ tháng 1 năm 1947 đến tháng 5 năm 1948, ông là: Liên khu Ủy viên Liên khu 5, Chính ủy Mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng, Ủy viên Quân sự trong Ủy ban Kháng chiến Liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ tháng 6 năm 1948 đến tháng 5 năm 1951, ông là Chính uỷ Trung đoàn 108, Trung đoàn 803. Từ tháng 6 năm 1951 đến tháng 6 năm 1952, ông ra Bắc, lên Chiến khu Việt Bắc theo học lớp nghiên cứu ở Tổng cục Chính trị. Từ năm 1953 đến năm 1954, trở về chiến trường, ông tiếp tục là Quân khu uỷ viên, là Trưởng phòng Chính trị Quân khu 5 rồi Liên khu uỷ viên dự khuyết Liên khu 5.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc, lần lượt là Chính uỷ Sư đoàn 305 (12.1954), quyền Chính uỷ, Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn, Bí thư Quân khu uỷ (11.1953 - 1963); Phó Chính ủy rồi Chính ủy kiêm Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu 3 (1964 - 1967); Chính uỷ B8, Bí thư Đảng uỷ B8, Phó chính uỷ Quân khu Trị Thiên, Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Trị Thiên (1968); Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn, Bí thư Quân khu uỷ, Chính uỷ Học viện Quân sự, Bí thư Đảng uỷ Học viện (1969 - 1976).

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, từ năm 1976 đến năm 1986, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 3. Thời kì này, quân khu 3 nổi tiếng toàn quốc bởi phong trào ''làm giàu đánh thắng'' được đề xướng bởi ông. Khi ấy, đất nước ta vừa ra khỏi chiến tranh, bị tàn phá nặng nề, cuộc sống của người dân còn muôn vàn khó khăn. Quân khu 3 (gồm 10 tỉnh, thành phố) lúc ấy vừa là tiền tuyến vừa là hậu phương. Một mặt phải chuẩn bị một thế trận vững chắc sẵn sàng đánh bại mọi cuộc xâm lược của kẻ địch. Mặt khác phải tích cực làm kinh tế, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho quân khu.

Trên cơ sở phán đoán tình hình, với cương vị Tư lệnh quân khu, ông đề nghị phát động phong trào lấy tên là “Làm giàu đánh thắng” đồng thời làm 2 nhiệm vụ trọng tâm: sẵn sàng chiến đấu, chi viện, vừa đưa bộ đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, nhằm tháo gỡ khó khăn cho mình góp phần lo cái lo chung của đất nước, được Bộ tư lệnh quân khu thông qua, ra nghị quyết. Đây vừa là khẩu hiệu vừa là phương châm hành động của toàn quân khu. Chẳng hạn, để cải thiện thế trận phong thủ của quân khu tại các tỉnh ven biển, bộ đội đã cùng nhân dân lấn biển, hình thành nhiều điểm dân cư mới, nhiều cơ sở sản xuất mới. Điều này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa không nhỏ về quốc phòng. Đưa bộ đội tham gia xây dựng công trình trọng điểm cả nước lúc ấy là nhà máy nhiệt điện Phả Lại… Kinh nghiệm ở quân khu 3, cũng được vận dụng vào các đảo nổi, đảo chìm. Ví như ở các tuyến đảo hầu như quanh năm không có rau ăn, rau từ đất liền khan hiếm. Từ khi thực hiện hình thức làm kinh tế đơn vị, ta đưa đất từ đất liền cho vào hộp gỗ để trồng các loại rau. Nhờ đó, bộ đội trên đảo bữa cơm có thêm rau xanh đỡ xót ruột…

Phong trào “Làm giàu đánh thắng” đã được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, được cấp uỷ và chính quyền các địa phương trong quân khu đồng tình và phối hợp chỉ đạo, mang lại kết quả thiết thực và toàn diện về mọi mặt. Ông Trịnh Minh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam Ninh khẳng định trong hội nghị Quân khu uỷ năm 1983: “Tỉnh chúng tôi cũng như các tỉnh bạn trong quân khu đều tổ chức và thực hiện nghị quyết nổi tiếng “Làm giàu đánh thắng” để phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng”.

Rời quân khu 3, ông lần lượt được giao phó các chức vụ: Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (4.1986 - 11.1987); Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Uỷ viên Đảng uỷ Quân sự Trung ương (1987 - 1991); Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương (1977 - 1991). Đại tướng Nguyễn Quyết là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá 4, 5, 6; Uỷ viên Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá 6; Đại biểu Quốc hội khoá 4, 5, 6; Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khoá 6.

Tham khảo : Báo Hưng Yên, Từ điển Bách khoa Việt Nam, Trang tin Điện tử Quốc hội, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị lâu năm nhất
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:25:22 am
(http://img838.imageshack.us/img838/9512/tuongsonghao.jpg)

Thượng tướng Song Hào (20/08/1917-1h22' 09/01/2004), nguyên: Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Trưởng Ban kiểm tra của Quân ủy Trung ương, Ủy viên Tổng Quân ủy, Chính ủy Khu Tây Bắc, Chính ủy Liên khu 10.

Ngoài ra ông từng là: Đại biểu Quốc hội (khóa 4, 5, 6), Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1960-1986), Bí thư Trung ương ĐCSVN (1976-1982), Chủ tịch lâm thời Hội cựu chiến binh Việt Nam, Trưởng ban kiểm tra Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Trung tướng (1959), Thượng tướng (1974)


Thượng tướng Song Hào, tên khai sinh là Nguyễn Văn Khương, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1917 tại xã Hào Kiệt (nay là xã Liên Minh), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936, trong Phong trào Mặt trận bình dân. Năm 1937, ông phụ trách tổ chức Ái hữu thợ thêu, Thanh niên dân chủ (sau này là Mặt trận phản đế) tại quê hương. Tháng 4 năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; được cử làm Thư ký Ban Thường trực Liên đoàn Lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.

Đầu năm 1940, ông bị đế quốc Pháp bắt, kết án 7 năm tù và bị giam ở các nhà tù: Nam Định, Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình, Chợ Chu. Ở trong tù, ông luôn giữ vững khí tiết cách mạng, tích cực tham gia các cuộc đấu tranh. Năm 1943, ông được chỉ định làm Bí thư chi bộ tại nhà tù Chợ Chu, đã cùng các ông đảng viên trong chi bộ liên lạc với các đảng bộ ngoài nhà tù để hoạt động. Tháng 8 năm 1944, ông đã vượt ngục khỏi nhà tù Chợ Chu về vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên hoạt động, được chỉ định làm Chính trị viên Đội tuyên truyền cứu quốc quân hoạt động ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Tháng 12 năm 1944, ông được chỉ định làm Bí thư Khu căn cứ Nguyễn Huệ.

Tháng 8 năm 1945, ông được cử làm đại biểu đi dự Đại hội Quốc dân tại Tân Trào. Sau đó ông phụ trách cứu quốc quân cướp chính quyền tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Cuối năm 1945, ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ phụ trách liên tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Tháng 12/1947, ông là Chính ủy Liên khu 10, Khu ủy viên, Bí thư Quân khu ủy. Đến năm 1950, ông là Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng Lào. Năm 1951, ông là Chính ủy Đại đoàn 308, Bí thư Đại đoàn ủy. Đến tháng 5 năm 1955, ông được cử làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Quân ủy viên.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (năm 1960), lần thứ IV (năm 1976) và lần thứ V (tháng 3/1982) của Đảng, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử giữ chức Ủy viên Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương (khóa III). Được Ban Chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Trưởng ban Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Tháng 3 năm 1961, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương.

Tháng 4 năm 1982 đến tháng 02 năm 1987, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội. Tháng 02 năm 1990 đến tháng 12 năm 1992, ông được chỉ định làm Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Tham khảo : Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Lê Văn Tri, từ mặt đất tới bầu trời - từ tầm vông đến tên lá»
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:26:55 am
(http://img827.imageshack.us/img827/4576/trungtuonglevantrinz3.jpg)

Trung tướng Lê Văn Tri (13/09/1920-29/05/2006), nguyên: Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật-Bí thư Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân-Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không diễn ra trong thời gian ông là Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân. Ông là một trong những vị tướng nối tiếng đất Quảng Bình. Ngoài ra ông còn từng là: Đại biểu Quốc hội khóa 7, Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982).


Trung tướng Lê Văn Tri tên thật là Lê Văn Nghi. Theo tác giả Phan Hoàng trong cuốn Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam thì ông sinh năm 1921 nhưng giấy khai sinh đi học thì đề ngày 13 tháng 9 năm 1922, tuy nhiên theo cuốn giới thiệu tướng lĩnh của Quân chủng Phòng không Không quân thì ông lại sinh vào năm 1920. Quê ông ở xã Hà Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đây là nơi sinh ra hai vị đại khoa thời Nguyễn, nhà thơ Lưu Trọng Lư, và cũng là quê hương của võ tướng Lê Mô Khởi trong phong trào Cần Vương cùng hai vị tướng nổi tiếng của Quân đội Nhân dân Việt Nam là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên.

Bố ông mất năm ông lên 3 tuổi. Một ông anh của ông làm thuê ở đồn điền B’lao, Lâm Đồng. Một ông anh khác làm thuê ở Sài Gòn (trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Người anh còn lại ở nhà mất sớm, từ đó ông phải nghỉ học, sau khi đậu bằng yếu lược, ở nhà cùng cô em gái theo mẹ đi buôn bán kiếm sống. Rồi sau đó ông vào Sài Gòn với người anh thứ hai cùng đi làm thuê. Năm 1939, hai anh em ông trở lại quê, ông vào Đồng Hới vừa đi dậy thêm vừa học. Đúng ra là ba năm, nhưng chỉ sau một năm học ông thi đậu bằng primaire và thi vào Trường Kỹ nghệ Huế học cùng lớp các ông Hoàng Văn Thái (Trung tướng), Trần Văn Trà (Thượng tướng), Trần Sâm (Thượng tướng)…

Ông rất mê thể thao, chơi bóng rổ giỏi, nên học ba năm Trường Kỹ nghệ xong, ông học tiếp thể thao một năm rồi về làm huấn luyện viên thể thao ở thị xã Đồng Hới. Một thời gian sau do có mâu thuẫn dẫn đến xô xát với con trai của quan tuần vũ, án sát nên ông bị cách chức huấn luyện viên và phạt sáu tháng tù. Ông liền trốn vào Biên Hòa làm công nhật ở Sở Công chính.

Tháng 6 năm 1945, ông gia nhập Thanh niên Tiền phong ở Biên Hòa, mà thủ lĩnh là ông Huỳnh Văn Nghệ. Tháng 8 năm 1945, cùng lực lượng của Thanh niên Tiền phong ông tham gia giành chính quyền ở Sài Gòn, Biên Hòa. Khi cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ, ông quay về Quảng Bình, tham gia Giải phóng quân thuộc Chi đội Lê Trực của tỉnh (15/9/1945).

Từ chiến sĩ trưởng thành lên, ông lần lượt giữ các chức vụ : Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng Đại đội 12 Phú Quý thuộc Giải phóng quân Quảng Bình. Năm 1946, ông là Đại đội trưởng, Chi ủy viên Đại đội 6 Ba-na Lào (Mặt trận đường 12). Năm 1948, ông lần lượt giữ các chức vụ : Tiểu đoàn phó, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Bình rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận đường 12 trực thuộc Liên khu 4. Năm 1948, trước tình hình nguy ngập của chiến trường, để ngăn chặn bước tiển của quân Pháp từ Lào xuống Quảng Bình, ông đã chủ động ra lệnh cho bộ đội đánh phá tuyến đường này ở vùng biên giới Cha-lo (Cổng trời). Đó cũng là trận đánh đầu tiên của ông trên cương vị chỉ huy. Tuy nhiên, khi trận đánh vừa kết thúc thì có lệnh của Tư lệnh Liên khu Thiếu tướng Lê Thiết Hùng bắt đưa ông về Bộ Tư lệnh vì tự ý chỉ huy bộ đội đánh phá đường 12 mà không được phép của Bộ Tư lệnh. Lúc ông đang trên đường về Bộ tư lệnh, thì tướng Lê Thiết Hùng nhận được điện khẩn của Bộ tổng Tư lệnh nhanh chóng đưa một tiểu đoàn công binh lên phá đường 12. Cầm bức điện trên tay, tướng Lê Thiết Hùng biết cấp dưới của mình đã làm đúng và ra lệnh cho ông trở về đơn vị tiếp tục chỉ huy đánh giặc.

Năm 1949, ông là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình kiêm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 274 trực thuộc Trung đoàn 18. Năm 1950, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 161 kiêm Tham mưu phó Phân khu Trị Thiên. Đến năm 1952, ông giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 thuộc Đại đoàn 325 Trị Thiên, Trung đoàn 101 Trần Cao Vân. Đảng ủy viên, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn 95. Tháng 3 năm 1953, ông được điều rời chiến trường Bình Trị Thiên về tổ chức xây dựng Trung đoàn pháo cao xạ 367 (Pháo phòng không 37mm, đây là Trung đoàn Pháo cao xạ đầu tiên của Quân đội ta), tham gia chiến đấu trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (Đông Xuân 1953-1954).

Đầu tháng 3-1954, Trung đoàn pháo cao xạ phòng không 367 được cấp trên quyết định đưa đi trực tiếp tham gia chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Thực hiện lệnh hành quân lên Tây Bắc, sau bao ngày vất vả, gian khổ, Trung đoàn 367 đã kịp thời chuẩn bị xong trận địa pháo để đúng ngày 13-3-1954, mở màn chiến dịch. Liên tiếp những trận đánh diễn ra. Quân Pháp không ngờ là ta lại có pháo cao xạ phòng không và càng không ngờ là mới lần đầu tham gia chiến trường, các đơn vị pháo phòng không của ta lại vững vàng làm chủ kỹ thuật, phát huy mạnh mẽ hỏa lực xung quanh trận địa chiếm đồ tiếp tế của Pháp từ trên không thả dù xuống. Đồ tiếp tế không rơi trúng mục tiêu và đã bị bộ đội ta tịch thu rất nhiều, càng đẩy quân Pháp vào tình thế hoang mang dao động, khốn cùng và tuyệt vọng. Tổng cộng 55 ngày đêm chiến dịch Trung đoàn bắn rơi 52 máy bay trong tổng số 62 máy bay bị bắn rơi trong Chiến dịch.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, một nửa đất nước được giải phóng. Trung ương quyết định từng bước chính quy hóa, hiện đại hóa Quân đội. Quân ủy Trung ương đặc biệt quan tâm xây dựng các quân binh chủng mới như hải quân, phòng không, không quân, xe tăng, pháo binh, thông tin…Riêng phòng không thì xây dựng phòng không dã chiến, phòng khi bảo vệ các yếu điểm chiến lược quốc gia. Trung đoàn 367 do ông làm Trung đoàn trưởng được nâng thành Đại đoàn 367 trực thuộc Bộ Tư lệnh Binh chủng pháo binh, sau trực thuộc Bộ Quốc phòng, do ông Hoàng Kiện (Trung tướng) làm Đại đoàn trưởng, Đoàn Phùng làm Chính ủy, ông làm Đại đoàn phó-Đảng ủy viên (9/1954).

Sau khi ông Hoàng Kiện cùng một số cán bộ đại đoàn đi học, ông được lệnh chuyển binh chủng pháo 40, 88 và 90 ly thành lập các trung đoàn bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Vinh. Nhờ các ông Đào Sơn Tây (Thiếu tướng), Nguyễn Quang Tuyến, Dương Hán (Thiếu tướng), Nguyễn Cận đi học các loại súng pháo trên trở về, nên việc chuyển binh chủng diễn ra nhanh. Cuộc bắn đạn thật đầu tiên ở Vai Cầy cũng đạt kết quả tốt, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Lê Thiết Hùng đến dự khen ngợi.

Khi Đại đoàn trưởng Hoàng Kiện đi học trở về. Ông Đào Sơn Tây lên làm Đại đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng. Ông rời Đại đoàn xuống Kiến An, Hải Phòng học văn hóa, học tiếng Trung Quốc cho tới đầu tháng 8 năm 1956 thì được lệnh về Hà Nội chuẩn bị sang Liên Xô học tập ở Học viện Pháo binh Leningrad. Đoàn học viên gồm năm mươi người sang học tại nhiều học viện quân sự khác nhau, do ông Đàm Quang Trung làm đoàn trưởng, ông Lê Tự Đồng phụ trách chính trị, ông làm Đoàn phó Hậu cần. Ngày 20 tháng 8 năm 1956, đoàn rời Hà Nội đi xe lửa qua Bắc Kinh, Mãn Châu Lý rồi sang Matxcova, rồi tiếp sau đó ông về Học viện ở Leningrad học tập ở đây 4 năm.

Năm 1961, sau khi học tập ở Liên Xô trở về, ông làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh phụ trách về pháo phòng không (12/1961) cho đến tháng 12 năm 1963 ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân-Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Tháng 9 năm 1964, ông được đề bạt lên làm Cục phó Cục tác chiến rồi Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân-Tham mưu trưởng mà ông Phùng Thế Tài (Thượng tướng) làm Tư lệnh, ông Đặng Tính (Đại tá, Liệt sĩ) làm Chính ủy. Khi ông Phùng Thế Tài chuyển lên làm Phó Tổng tham mưu trưởng, ông Đặng Tính kiêm Tư lệnh. Sau khi ông Đặng Tính vào làm Chính ủy đường Trường Sơn, ông được cử giữ chức Tư lệnh còn ông Hoàng Phương (Trung tướng) làm Chính ủy (1971).

Năm 1972, sau khi dùng đủ mọi phương tiện chiến tranh hiện đại nhất nhưng vẫn chuốc lấy thất bại, quân Mỹ đã dùng đến lực lượng máy bay chiến lược B52 ném bon trải thảm vùng giải phóng miền Nam rồi miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến. Trận Điện Biên Phủ là diễn biến tất yếu của tình hình đó. Lúc đó có rất nhiều ý kiến khác nhau về khả năng đánh trả và đánh thắng B52. Bộ Tư lệnh Quân chủng Không quân khi đó đã đề xuất kế hoạch kiên quyết đánh trả B52 trước Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, kế hoạch này đã được hoàn thành vào tháng 9 năm 1972 và được Quân ủy Trung ương chính thức phê chuẩn. Trên cương vị là Tư lệnh, ông là người trực tiếp chỉ huy thực thi bản kế hoạch công phu này, bản kế hoạch sáng tạo, biết kế thừa những kinh nghiệm đụng độ B52 trước đó cũng như áp dụng của khoa học kĩ thuật. Kết quả: Mỹ đã huy động 193 máy bay B52 chiếm 48% lực lượng B52 của Mỹ. Máy bay chiến thuật của không quân và hải quân được huy động đến gần ngàn chiếc từ các căn cứ Thái Lan và sáu tầu sân bay ngoài biển Đông. Sau 10 ngày đêm, có 81 máy bay các loại trong đó có 31 máy bay B52 và 5 chiếc F111 bị bắn rơi. Lực lượng phi công Mỹ bị khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Nhân dân Mỹ, nhân dân tiến bộ trên thế giới xuống đường dòi chấm dứt chiến tranh.

Năm 1975, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông trực tiếp nhận lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Ngyên Giáp vào Phan Rang trực tiếp chỉ huy trận không kích sân bay Tân Sơn Nhất bằng phi đôi máy bay A37 thu được của quân Ngụ, phát tín hiệu tổng tiến công giải phóng Sài Gòn.

Đất nước hoàn toàn thống nhất, ngày 10 tháng 3 năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục cho đến khi về hưu (1988).

Trước năm 1945, chàng trai trẻ Lê Văn Tri vào Sài Gòn để sinh sống rồi tham gia cách mạng. Mùa xuân 1975, Thiếu tướng Tư lệnh Lê Văn Tri là người chỉ huy phi đội Quyết thắng tấn công Tân Sơn Nhất phát tín hiệu cho cuộc tấn công vào Trung tâm Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Cuối đời, về hưu ông lại chọn thành phố Hồ Chí Minh là nơi nghỉ ngơi cuối cùng (chợ Hạnh Thông Tây, Tân Bình) Có thể nói, cuộc đời ông là một điển hình cho người lính Việt Nam thế kỉ 20: đi từ tầm vông vạt nhọn của những ngày Cách mạng tháng 8 đến máy bay tên lửa, từ người lính binh nhất binh nhì trở thành sĩ quan cao cấp và đồng thời vừa là bộ đội chủ lực vừa là dân quân.

Tham khảo : Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Tướng quân Huỳnh Văn Nghệ, thi tướng chiến khu xanh
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:29:09 am
(http://i998.photobucket.com/albums/af107/daibangden/huynhvannghe02.jpg)

Huỳnh Văn Nghệ (2/1/1914-5/3/1977), nguyên: Cục phó Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Thủ Biên (Thủ Dầu Một và Biên Hòa sát nhập), Khu trưởng Khu 7, Cố vấn quân sự của Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ. Ngoài ra, ông còn từng là: Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam, Trưởng ban Lâm nghiệp Trung ương cục miền Nam, Phó Ban Kinh tài (Kinh tế Tài chính) TƯCMN, Phó Bí thư Đảng ủy căn cứ-Trưởng Ban căn cứ TƯCMN).

Ông không những là một nhà chỉ huy quân sự tài ba mà còn là một nhà báo, nhà thơ với nhiều tác phẩm khá nổi tiếng. Nhiều người dân Nam Bộ yêu kính và trìu mến gọi ông là "Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ". Tên tuổi ông được ghi trong sách Trí thức Sài Gòn - Gia Định, được đưa vào Từ điển danh nhân Việt Nam, Từ điển thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh, được đặt tên cho trường học ở Tân Uyên, nơi vùng đất chiến khu Đ năm xưa và một số đường phố ở Bình Dương, Biên Hòa, TP Hồ Chí Minh.

Quân hàm cao nhất của Huỳnh Văn Nghệ trong Quân đội tuy mới chỉ là Thượng tá, nhưng ông vẫn được đồng bào, đồng chí đặc biệt là những ai từng chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, Chiến khu Đ thời Kháng chiến chống Pháp, trìu mến và trân trọng gọi là tướng quân. Điều đó hoàn toàn xứng đáng với tài năng và công lao của ông, bởi như theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì tiêu chí phong quân hàm là ''Thắng được tá phong tá, thắng được tướng phong tướng'' trong khi ông đã làm thất điên bát đảo, khiến cho điêu đứng bao nhiêu tướng Pháp.


Huỳnh Văn Nghệ (bí danh Hoàng Hồ, Tám Nghệ) sinh ngày 2/1/1914 tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), một vùng quê nghèo nhưng giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm. Cha ông là thầy dạy võ can trường, tuy bị quan lại ngăn cấm nhưng vẫn bí mật dạy võ cho thanh niên, bảo vệ người nghèo, chống áp bức bất công.

Là người thông minh học giỏi nên Huỳnh Văn Nghệ được nhận học bổng tại Trường trung học Petrus Ký Sài Gòn (nay là Trường THPT Lê Hồng Phong) và sớm giác ngộ, tham gia các hoạt động cách mạng. Từ năm 1932, ông luôn tìm cách giúp đỡ, bênh vực người nghèo, chống Pháp xâm lược và tay sai. Huỳnh Văn Nghệ tích cực tìm đến với cách mạng và đã được tuyên truyền về Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi giác ngộ và tham gia vào các hoạt động do Đảng lãnh đạo. Những năm 1936-1939, ông tham gia phong trào Đông Dương đại hội ở Sở Xe lửa Sài Gòn. Năm 1940, tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Pháp điên cuồng đàn áp những người cộng sản, một số phải rút về rừng Tân Uyên hoạt động, ông lo việc tiếp tế đạn dược, thuốc men cho số ông này.

Năm 1942, bị lộ, ông phải trốn sang Thái Lan và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước. Tại đây, ông tổ chức xuất bản tờ báo Hồn cố hương, kêu gọi kiều bào hướng về Tổ quốc, ủng hộ cách mạng. Năm 1944, Huỳnh Văn Nghệ về nước, bắt liên lạc với cách mạng và được ông Trần Văn Giàu, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ phân công lập căn cứ Đất Cuốc tại Tân Uyên, Biên Hòa, được kết nạp Đảng, lập Đoàn Cựu binh sĩ và tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, trực tiếp tham gia chỉ huy giành chính quyền ở Biên Hòa. Tự tay ông đã bắt tên cò Phước, tỉnh trưởng Quý, tòa Nhan ở Biên Hòa rồi Dương Văn Giáo phá vợ âm mưu của thực dân Pháp muốn lập chính phủ bù nhìn Nam kỳ quốc, giải phóng tù chính trị bị chính quyền Nhật giam giữ.

Tại hội nghị Chợ Đệm, Ủy ban nhân dân Nam Bộ bổ nhiệm Huỳnh Văn Nghệ làm cố vấn Ủy ban kháng chiến miền Đông. Mặc dù Ủy ban này đã rút lui trước về Biên Hòa, Xuân Lộc cùng với nhiều đơn vị như Đệ nhị sư đoàn, Cộng hòa vệ binh, bộ đội Nam Long, nhưng khi giặc Pháp lấn chiếm ra các vùng ngoại vi Sài Gòn - Gia Định, ông đã ở lại tham gia chiến đấu tại các mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn, Thị Nghè, đường số 1 (từ Sài Gòn đi Biên Hòa), Băng Ky, Bình Lợi, Thủ Đức... chặn bước tiến của giặc về miền Đông Nam Bộ. Sau đó, ông tổ chức đốt Tòa bố, Sở cò, Bưu điện Biên Hòa, thu 23 khẩu súng trường, đem về Tân Uyên xây dựng lực lượng.

Tại đây, Huỳnh Văn Nghệ tổ chức xây dựng giải phóng quân Biên Hòa và trực tiếp làm chỉ huy trưởng. Căn cứ Tân Uyên được ông bố trí phòng ngự vững chắc, đã đảm nhiệm vai trò bảo đảm hậu cần cho lực lượng vũ trang của tỉnh và các tỉnh bạn theo lệnh của Khu trưởng Nguyễn Bình, đồng thời làm nhiệm vụ bảo vệ Khu bộ, tiếp liệu cho các công binh xưởng của Khu, tích cực tham gia xây dựng các cơ quan quân, dân, chính của tỉnh. Dưới sự chỉ huy của Huỳnh Văn Nghệ, không bao lâu sau, Tân Uyên trở thành một trong những căn cứ kháng chiến vững mạnh nhất ở Nam Bộ.

Đầu năm 1946, quân Pháp liên tiếp mở các trận tiến công lớn vào chiến khu Tân Uyên - Lạc An (Chiến khu Đ). Ngày 2/1/1946, Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy lực lượng chủ công tham gia trận phản công lớn đầu tiên của Nam Bộ do Khu tổ chức đánh vào thị xã Biên Hòa. Sau khi tham gia trận Tân Uyên và chỉ huy mặt trận Tân Tịch - Lạc An (2/1946) giành thắng lợi, Huỳnh Văn Nghệ được Khu trưởng Nguyễn Bình chỉ định làm Chi đội trưởng Chi đội 10. Trên cương vị mới trong thời gian 1946-1947, ông đã chỉ huy các đơn vị chiến đấu bảo vệ nhân dân, bảo vệ Khu bộ, các công binh xưởng, phát động chiến tranh du kích, địch vận... góp phần tiêu hao sinh lực địch, mở đầu cho phong trào giao thông chiến ở Nam Bộ, phổ biến kỹ thuật đánh địa lôi điện.

Tháng 3/1948, Huỳnh Văn Nghệ nhận nhiệm vụ Khu bộ phó Khu 7, kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 310. Ngày 1/3/1948, với cương vị chỉ huy trưởng, ông tham gia trận La Ngà - trận giao thông chiến lớn nhất ở Nam Bộ kể từ ngày giặc Pháp tái chiếm nước ta. Sau trận này, Trung đoàn 310 được Bác Hồ khen thưởng Huân chương Chiến công hạng 2, Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn Nghệ được Bác Hồ tặng thưởng một chiếc áo trấn thủ.

Tháng 7/1948, thi hành lệnh của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, trong hoàn cảnh hết sức nguy hiểm, Huỳnh Văn Nghệ một mình đến căn cứ Bình Xuyên, dùng lý lẽ và tình cảm thuyết phục được thủ lĩnh Bình Xuyên lúc bấy giờ là Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) về dự hội nghị, giúp Xứ ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ giải quyết được “vấn đề Bình Xuyên”, rất gay go lúc bấy giờ. Cùng thời gian này, ông được bổ nhiệm làm Khu trưởng Khu 7. Trên cương vị mới, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng căn cứ mới của Khu, thành lập bộ đội chủ lực Khu 7 (Bộ đội 303). Đặc biệt, ông nghiên cứu, tìm ra cách đánh tháp canh, giải quyết được sự bế tắc về chiến thuật ở Khu 7 lúc bấy giờ.

Năm 1950, sau khi sáp nhập Sài Gòn - Chợ Lớn vào Khu 7, ông giữ chức Phó tư lệnh Khu 7. Năm 1951, khi hai tỉnh Thủ Dầu Một - Biên Hòa sáp nhập, ông là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, kiêm Tỉnh đội trưởng Thủ Biên, chỉ huy nhiều trận đánh lớn bảo vệ Bộ Tư lệnh Nam Bộ đóng ở Chiến khu Đ. Năm 1952, trong trận lụt “thế kỷ”, ông xông pha chỉ huy chống lụt ở Thủ Biên, bảo vệ được bộ đội và dân. Sau thảm họa thiên tai đó, lợi dụng tình thế khó khăn của quân dân ta, địch huy động 11 tiểu đoàn tiến công vào Chiến khu Đ. Lực lượng của tỉnh chỉ có một tiểu đoàn nhưng dưới sự chỉ huy tài tình của Huỳnh Văn Nghệ đã anh dũng chiến đấu suốt 52 ngày đêm, tiêu diệt gần một tiểu đoàn địch, phá tan âm mưu của chúng gom dân và tiêu diệt lực lượng ta.

Tháng 5-1953, ông được cử ra miền Bắc học và ở lại công tác gần 12 năm, trải qua các chức vụ: Trưởng phòng Thể dục thể thao, Cục phó Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục phó Tổng cục Lâm nghiệp. Năm 1965, ông được điều động trở về Nam Bộ, lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng ban căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Phó bí thư Đảng ủy căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Phó ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam, Trưởng ban Lâm nghiệp Trung ương Cục miền Nam. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông là Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam, Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp. Ngày 5/3/1977, ông mất tại Bệnh viện Thống Nhất sau thời gian lâm bệnh nặng, thọ 63 tuổi.

Huỳnh Văn Nghệ không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự tài năng, kiên cường với cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt, vẻ vang mà còn là một cây bút tràn đầy nhiệt huyết trong các hoạt động báo chí, văn hóa, văn nghệ, đặc biệt là ở lĩnh vực thơ ca. Qua các tác phẩm của ông, người đọc có thể hiểu thêm về quê hương, gia đình, cuộc đời binh nghiệp, văn nghiệp của ông, về cuộc chiến đấu gian khổ, trường kỳ, oanh liệt của nhân dân miền Đông Nam Bộ.

Có thể thấy từng bước đi, mỗi dấu ấn tâm hồn chân thực, xúc động của cuộc đời một nhà thơ - chiến sĩ qua những tác phẩm như: Quê hương rừng thẳm sông dài, Những ngày sóng gió, Anh chín Quỳ, Trận Mãng Xà, Sấu đỏ mũi, Tiếng hát trên sông Đồng Nai, Mất đồn Mỹ Lộc (văn), Mộng làm thơ, Đám ma nghèo, Trốn học, Tết quê người, Bốn mùa, Trả lời thư Lan, Bến cũ, Bà bán cau, Thú tội, Mộ bia, Lời chim, sông Đồng Nai, Bên bờ sông xanh, Mất Tân Uyên, Xuân chiến khu, Mẹ Nam con Bắc, Tiếng hát giữa rừng, Nhớ Bắc, Bà mẹ Việt Nam, Rừng nhớ người đi, Em bé liên lạc, Cái chết của anh Xiễng, Tình súng, Chiến khu Đ chống bão, Giữ bí mật, Hình ảnh Bác Hồ trong lòng Nam Bộ, Trở về, Rừng đẹp, Một trận chống càn... và những hồi ký đăng trên các báo Quân đội nhân dân, Tạp chí Văn nghệ quân đội, các bài viết cho Đài Tiếng nói Việt Nam,...

Các tác phẩm của ông, bên cạnh đề tài chiến đấu, là đề tài tình cảm Nam Bắc ruột thịt rất sâu nặng. Từ năm 1937, anh thanh niên Huỳnh Văn Nghệ đã có những bài thơ sâu lắng tình cảm và nói lên chí hướng: "...Đưa tay lên chỉ trời cao trong vắt / Hai ngôi sao trong chòm sao Nam, Bắc / ... Muốn làm sao ta có sợi dây đàn / Đem giăng thẳng nối Nam Bắc / Chờ tiếng xôn xao trong ngày đã tắt / Ta trỗi lên khúc "hận ngàn thu”. (Trăng lên)

Khi phác họa lại lịch sử quê hương mình, ông viết: "...Có con sông cũng từ hướng bắc / Vượt núi rừng ghềnh thác / Tràn vào Nam cuộn cả bóng mây cao..." (Sông Đồng Nai).

Đó còn là bài thơ "Mẹ Nam con Bắc" (1953) kể về tình mẫu tử sâu nặng của một bà má miền Nam đã hành động dũng cảm, mưu trí để kẻ thù phải thả người con nuôi là anh lính miền Bắc: "Mẹ bắt được lá thăm / Cầm lo le, bối rối / Nhờ cán bộ đọc giùm / Tên đứa con bộ đội. / "Anh tên Nguyễn Văn Đối / Quê quán ở Hưng Yên / Sở cao su Thuận Lợi / Nhập ngũ cướp chính quyền". / Mẹ mừng rơi nước mắt, / Khoe khắp cả xóm làng: / Được đứa con người Bắc / Chiến sĩ của trung đoàn. /… / "Má có gì ăn nấy / Mới là tình mẹ con / Ăn xong tao vá áo / Mới cho về trung đoàn". / Một hôm đi công tác / Đối bị bắt vào đồn. / Mẹ thương con đứt ruột  / Chạy sứt cả da chơn. (Mẹ Nam con Bắc).

Bài thơ "Hình ảnh Bác Hồ trong lòng Nam Bộ" (1960) nhắc lại những ký ức của nhà thơ về Bác Hồ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, kể về một anh chiến sĩ bị thương đã lấy máu mình viết lên tường 5 chữ: “Thành phố Hồ Chí Minh”. Hình ảnh Bác Hồ gần gũi, với mỗi con người, được ông thể hiện sâu đậm trong thơ: "...Trong ba lô chiến sĩ / Trong cặp vở học trò / Trong bức tranh họa sĩ / Trong vần điệu nhà thơ."

Trước sự quả cảm, kiên cường chịu khó khăn của chiến sĩ trong hoàn cảnh kháng chiến còn nhiều gian khổ, khi phải cưa bỏ cái chân bị thương bằng cưa thợ mộc, ông đã viết: "...Trở lên mình ngựa đi từng bước / Cúi đầu nén nỗi đau thương / Nhưng lửa căm hờn / Bỗng dựng cao đầu ngựa dậy / Vang trời ngựa hí / Chí phục thù cháy bỏng tay cương..." (Tiếng hát giữa rừng).

Đặc biệt, bài thơ "Nhớ Bắc" ông viết năm 1940 tại sân ga Sài Gòn với những câu thơ hào sảng chí khí, thấm đậm tình cảm của đồng bào, chiến sĩ miền Nam hướng về thủ đô Hà Nội trong những năm dài kháng chiến gian nan, một bài thơ còn đọng lại mãi trong tâm hồn nhiều thế hệ người dân, chiến sĩ, thi sĩ Việt Nam với những câu: "...Ai về Bắc ta đi với / Thăm lại non sông giống Lạc Hồng / Từ độ mang gươm đi mở cõi / Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long." (Nhớ Bắc).

Một Huỳnh Văn Nghệ mưu lược, văn võ song toàn, xông pha trận mạc làm quân thù nghe danh bạt vía kinh hồn nhưng ông, đồng bào, đồng đội luôn hướng về ông với sự ngưỡng mộ, cảm phục, và trìu mến gọi ông với cái tên thân thiết: anh Tám Nghệ. Cuộc đời Huỳnh Văn Nghệ đã khắc họa trong lòng nhân dân Nam Bộ một hình ảnh tuyệt đẹp của - Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ.


Tham khảo: Báo Công an Nhân dân.


Tiêu đề: Đại tá Lê Huy Toàn, gắn bó với đề tài chiến tranh và cách mạng
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:33:27 am
(http://img174.imageshack.us/img174/2382/daitalehuytoanof9.jpg)

Đại tá Họa sĩ Lê Huy Toàn (10/10/1930-19h24' 22/9/2007), nguyên Bí thư Đảng ủy Xưởng Mỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông từng là họa sĩ của Tổng cục Chính trị rồi Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam...


Đại tá Lê Huy Toàn quê tại xã Kiêu Kị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội nhưng ông sinh ra và lớn lên tại thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Được thừa hưởng tài hoa nghệ thuật từ người cha, vốn là một họa sĩ vẽ truyền thần, ông sớm bộc lộ tài năng hội họa và âm nhạc từ rất nhỏ. Nếu chiến tranh không xảy ra, ông đã được cha mẹ cho theo học ở trưởng Cao đảng nhạc họa Đông Dương.

Năm 1945, khi ông mới 15 tuổi, cách mạng tháng Tám thành công đánh giấu một bước ngoặt trong cuộc đời của ông. Với lòng yêu nước của người thanh niên mới lớn ông tham gia ngay vào cuộc kháng chiến vệ quốc bảo vệ nền độc lập còn non trẻ của nước nhà, cống hiến hết tài năng và sức lực của mình cho cách mạng. Với giọng nam cao trầm ấm và tay đàn ngọt đã được tôi luyện từ nhỏ, ông xung phong vào đội lưu động bình dân học vụ của tỉnh. Tham gia đủ các vai : ca, múa, nhạc, kịch. Lúc không diễn thì tham gia vẽ tranh cổ động, viết khẩu hiệu kháng chiến và địch vận.

Tháng 9 năm 1947, ông gia nhập Quân đội và được biên chế vào đội hình Trung đoàn 87 cùng đơn vị với Nhạc sĩ Văn Cao, ở tiểu đội vũ trang tuyên truyền độc lập. Sau những chiến công lẫy lững trên dòng sông Lô, đặc biệt là trong chiến dịch Việt Bắc Thu Đông (cuối 1947), đơn vị ông được vinh dự mang tên Trung đoàn Sông Lô (E209). Nếu nhạc sĩ Văn Cao cho ra đời Trường ca sông Lô thì ông cho ra đời một loạt tác phẩm bằng tranh ca ngợi những chiến thắng của Trung đoàn.

Năm 1951, Đại đoàn Chiến thắng (F312) được thành lập, ông trở thành họa sĩ của sư đoàn. Trên cương vị là họa sĩ tờ báo Chiến thăng, cơ quan tuyên truyền ngôn luận của Đại đoàn, ông đã cùng đồng đội ra báo nhanh chóng và kịp thời, góp phần cổ vũ, động viên bộ đội và dân công tại mặt trận. Bước chân của ông đã đi khắp miền Tây Bắc, Đông Bắc tham gia các chiến dịch Việt Bắc, Biên Giới, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào rồi Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Tháng 8/1954, ông được điều về làm họa sĩ ở phòng Văn nghệ thuộc Cục tuyên huấn Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Khi tạp chí Văn nghệ Quân đội ra đời, ông là một trong những họa sĩ đầu tiên (6/1958). Tháng 2/1973, ông là Bí thư đảng ủy Xưởng Mỹ thuật Quân đội cho đến tháng 12/1989 là họa sĩ Viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) cho đến khi nghỉ hưu năm 1992.

Lần đầu tiên được thấy những bức vẽ của ông, người xem cảm nhận có điều gì đó thật cuốn hút. Đó không đơn thuần là hội hoạ, mà chứa đựng tất cả những rung cảm, suy tư và tài năng của một hoạ sĩ- người lính trong suốt trải nghiệm 45 năm tham gia quân ngũ. Đại tá-Họa sĩ Lê Huy Toàn là tấm gương tiêu biểu của một người lính Cụ Hồ, một họa sĩ bậc thầy của nền hội họa cách mạng Việt Nam. Mặc dù không qua bất kì một trường lớp đào tạo bài bản nào, nhưng với một tài năng bẩm sinh cộng với niềm say mê học tập, nghiên cứu và sáng tạo ông đã để lại cho nền mỹ thuật Việt Nam nhiều tác phẩm nổi tiềng và hiện đang được lưu giữ tại nhiều bảo tàng quốc gia và quốc tế như : tranh sơn dầu Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tranh sơn dầu hoành tráng Chiến dịch Điện Biên Phủ, tranh sơn dầu Tọa độ lửa khắc họa chiến thắng 5/8/1964, tranh sơn dầu Bác Hồ thăm bộ đội cao xạ năm 1965, tranh sơn mài hoành tráng Việt Nam bản anh hùng ca…Đối với ông “45 năm trong quân ngũ cứ mải miết phục vụ quân đội đấy là một vinh dự”.

Đại tá Họa sĩ Lê Huy Toàn có mặt hầu hết ở những địa điểm, chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước nói chung và quân đội nói riêng từ Chiến dịch Biên giới (1950), Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc bằng chiến thắng mùa Xuân (1975)…Là một họa sĩ sâu sát với thực tế bàn chân ông đã đi qua khắp miền Tây Bắc, Đông Bắc tham gia các chiến dịch Việt Bắc, Biên Giới, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào rồi Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử trong kháng chiến chống Pháp rồi trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc với cây súng, cuốn sổ và cây bút, ông miệït mài đi, miệt mài vẽ, đói cũng vẽ, xung quanh bom rơi đạn nổ cũng vẽ, có lần đạp xe từ Hà Nội vào Vĩnh Linh để vẽ. Những cuốn “nhật ký” bằng tranh ghi lại những gì mà ông đã trải qua hoặc chứng kiến đồng bào, đồng chí nếm trải qua những năm tháng chiến tranh thực sự là có một không hai.Kết quả của những tháng ngày này là hàng chục nghìn bức kí họa về những khoảnh khắc, những hình ảnh sống, chiến đấu của quân và dân ta trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc. Từ những bức kí họa đó, ông đã dựng nên những tác phẩm hội họa hoành tráng.Như “Lịch sử Điện Biên Phủ”, “Hà Nội tháng 12 năm 1972”, bức “Đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam”, đặc biệt là bộ tác phẩm nổi tiếng “Việt Nam anh hùng ca” gồm 4 chương: Tổ quốc; Cách mạng; Thắng hai đế quốc to (bức này dài tới 8 m) và Xây dựng - bảo vệ Tổ quốc.Nhân dịp kỉ niệm 31 năm miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, ông hoàn thành bức vẽ hoành tránh về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Bản ‘’trường ca’’ bằng hình này dài tới 40m, chia làm 3 phần : Chuẩn bị chiến dịch, Chiến đầu thần tốc và Chiến thắng. Bức vẽ tái hiện lại những hình ảnh ông ghi lại trong những ngày lăn lội khắp các chiến trường máu lửa, từ vĩ tuyến 17 qua mảnh đất Vĩnh Linh nóng bỏng bom đạn, vào Huế, Đà Nẵng anh hùng đến Tây Nguyên bất khuất qua cửa ngõ Xuân Lộc, vào đô thị Sài Gòn giải phóng.

Dù rất thành công với các bức vẽ về đề tài chiến tranh, nhưng ông vẫn hồn hậu một tình yêu cuộc sống thanh bình. Ngay trong những tháng ngày bom đạn cùng đồng đội đi khắp các chiến trường, cây bút của ông vẫn không quên ghi lại những hình ảnh bình dị của cuộc sống, đó là các em bé Nha Trang ra bờ biển học bài sau khi bom đạn vừa dứt, là phiên chợ Đầm (Nha Trang) họp vội...’’Tranh của tôi tôn vinh cái đẹp vĩnh hằng, tôn vinh ước mơ của loài người là được sống trong hoà bình, tôn vinh đất nước và con người Việt Nam. Thiên nhiên và lịch sử đã dạy cho tôi biết yêu cái đẹp ! Cuộc đời tôi vẽ đất nước, con người Việt Nam, trước hết cho các cháu thiếu nhi, thanh niên, các cụ già, cho đồng bào mình xem, hiểu được là tôi thấy hạnh phúc. Đó là cái mơ ước cao nhất tôi đã thực hiện được’’ (ông tâm sự)


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Năng, Phó giám đốc Học viện Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 11:18:20 pm
(http://img827.imageshack.us/img827/3751/trungtuongnguyennangrh6.jpg)

Trung tướng Phó Giáo sư Nguyễn Năng (1927-19h16’ 30/6/2007),  nguyên Phó Viện trưởng - Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng), nguyên Tư lệnh Phó mặt trận Tây Nguyên.

Huân chương Ðộc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương của Nhà nước Lào, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (4/1980), Trung tướng (4/1989).


Trung tướng, Phó Giáo sư Nguyễn Năng sinh tại xã Hà lâm, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia hoạt động cách mạng trước tháng 8-1945. Tháng 4-1948, ông được đứng trong hàng ngũ của Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 10-1960 đến tháng 9-1963 ông là Tham mưu phó Ðoàn 959 chiến đấu ở Thượng Lào;  tháng  10-1963 đến 6-1964 học văn hóa ở Lạng Sơn và Liên Xô (trước đây); tháng 6-1965 đến tháng 11-1967 là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2, Quân khu 5; tháng 12-1967 đến tháng 2-1972 ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, Cục trưởng Cục Quân sự Học viện Quân sự; tháng 3-1972 đến tháng 6-1974 là Tham mưu phó Quân khu 5; tháng 7-1974 đến tháng 2-1975 là Tư lệnh phó Mặt trận B3 Pháp Nguyên; tháng 3-1975 là Tư lệnh phó Quân đoàn 3.

Tháng 6-1976 là Trưởng khoa Chiến dịch Học viện Quân sự cấp cao; tháng 8-1978 là Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao; tháng 2-1979 đến tháng 9-1980 là Phó Tư lệnh Quân khu 2 kiêm Tư lệnh Quân đoàn 6; tháng 10-1980 đến tháng 8-1996 ông là Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nay là Học viện Quốc phòng; tháng 9-1996 ông được về hưu.


Tiêu đề: Trung tướng Đỗ Trình, Viện phó Viện chiến lược Bộ quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 11:29:41 pm
(http://img846.imageshack.us/img846/4583/trungtuongdotrinh.jpg)

Trung tướng Giáo sư Đỗ Trình (1922-21/2/2008), nguyên Phó Viện trưởng Viện chiến lược Quân sự, Viện trưởng Học viện quốc phòng, quyền Tư lệnh Quân khu 2, Cục trưởng Cục quân huấn, Chánh văn phòng Bộ quốc phòng.

Huân chương Quân công hạng nhất, ba; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy chương Vì sự nghiệp khoa học; Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục; Huy hiệu 60 năm tuổi Ðảng.

Thượng tá (1958); Ðại tá (1966); Thiếu tướng (1974) và Trung tướng (1982).


Trung tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Ðỗ Trình (tức Phạm Văn Trị), sinh năm 1922 tại xã Ðô Lương, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An). Nguyên quán xã Quảng Thái,   huyện   Quảng   Ðiền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ tháng 3-1945, ông tham gia Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu (Hà Nội) cho đến tháng 9-1945 thì nhập ngũ.

Từ tháng 9-1945 đến tháng 9-1947 làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Hà Nội, trưởng thành từ chiến sĩ, tham gia Ban chỉ huy Tự vệ chiến đấu Hà Nội rồi Phó Chủ tịch, Chủ tịch Ban bảo vệ Liên khu 3 Hà Nội; Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính khu ba Hà Nội.

Tháng 10-1947 đến tháng 12-1949 ông lần lượt giữ các chức vụ: Phó phòng Tuyên truyền Cục Chính trị, rồi Chính trị viên Trung đoàn 132, Trung đoàn 59, Trung đoàn 95; quyền Chính trị viên Mặt trận duyên hải Ðông Bắc, Chính ủy Chi đội 6 Viễn chinh Thập vạn Ðại Sơn (Trung Quốc). Từ năm 1950 đến năm 1954, ông giữ các cương vị Chủ nhiệm Chính trị; Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Phòng Huấn luyện Trường Lục quân. Từ năm 1955 đến 1957 là Cục phó Cục Quân huấn.

Từ năm 1958 đến 1964 ông được cử đi học tại Liên Xô, về nước được bổ nhiệm Cục trưởng Cục Nghiên cứu khoa học quân sự. Năm 1965 đến năm 1967 đồng chí là Phó Giám đốc Học viện Quân sự; năm 1968, ông là Cục trưởng Cục Quân huấn.

Từ năm 1969 đến năm 1978, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng, Văn phòng Quân ủy Trung ương, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự. Từ năm 1979 đến năm 1984, ông là Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng; quyền Tư lệnh Quân khu 2. Từ năm 1985 đến tháng 11-1991 là Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao rồi Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Tháng 12-1991 đến tháng 9-1994 ông được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng; tháng 10 năm 1994, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.


Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Chưởng, nguyên Thứ trưởng Bộ giáo dục
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 11:42:27 pm
(http://img822.imageshack.us/img822/2146/thieutuonglechuong.jpg)


Thiếu tướng Lê Chưởng (Trường Sinh, 1914-1973), từng giữ các chức vụ: Chính ủy - Thường vụ Liên khu ủy Liên khu 4, Chính ủy Đại đoàn 304, Cục trưởng Cục Tuyên huấn - Tổng cục Chính trị, Chính ủy Đoàn 959, Chính ủy Học viện Quân chính, Chính ủy Quân khu Trị Thiên - Phó Bí thư Quân khu ủy. Ngoài ra ông còn là Đại biểu Quốc hội khóa 3, Thứ trưởng Bộ giáo dục.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1959)


Thiếu tướng Lê Chưởng quê xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, năm 1931 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương nay là Đảng cộng sản Việt Nam. Năm 1940-1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam 5 lần, có lần bị kết án 20 năm tù và đày đi Buôn Mê Thuột. Tháng 5 năm 1945, ông được trả tự do, về xây dựng cơ sở cách mạng và lãnh đạo giành chính quyền ở tỉnh Bình Thuận, chủ bút báo “Quyết thắng” của Việt Minh Trung Bộ.

Tháng 3 năm 1946, ông làm Chủ nhiệm Việt Minh Thuận Hóa, Bí thư Thị ủy. Năm 1947-1948, ông nhập ngũ, làm Chính ủy: Mặt trận Đường 9, Trung đoàn 95; tham gia Khu ủy Khu 4 trực tiếp làm Bí thư tỉnh ủy Quảng Trị. Năm 1949, ông làm Chính ủy, Thường vụ Liên khu ủy Liên khu 4. Năm 1951, ông làm Chính ủy Đại đoàn 304.

Năm 1955, ông làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn trực thuộc Tổng cục Chính trị. Năm 1959-1961, ông làm Chính ủy: Đoàn 959, Học viện Quân chính. Năm 1966-1971, ông làm Chính ủy, Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu Trị - Thiên. Năm 1971, ông chuyển ngành làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Ông mất vì tai nạn giao thông khi đang trên đường đi công tác.

Lúc sinh thời, Thiếu tướng Lê Chưởng nổi tiếng toàn quân là một "cây thời sự" lôi cuốn và "cây lí luận" sắc sảo. Các đơn vị trong toàn quân đều muốn mời ông đến nói chuyện cho bằng được. Nơi nào ông nói chuyện về thời sự, nơi đó cán bộ và chiến sĩ đến nghe chật ních, đến tận nửa đêm, bất chấp việc không có điện, mi-cờ-rô. Thời ông công tác ở Cục Quân huấn, dưới bút danh Trường Sinh, ông viết 2 tác phẩm đó là “Học tập, xây dựng nhân sinh quan cộng sản” và “Con người và vũ khí trong chiến tranh hiện đại”. Hiện, nhiều nhà trường, đơn vị vẫn lưu giữ 2 tác phẩm này để phục vụ cho công việc nghiên cứu, giảng dạy...  Ngoài ra, Thiếu tướng Lê Chưởng lại có tài văn chương, viết tiểu thuyết, làm thơ, và là một cây bút viết báo trứ danh.  

Tham khảo: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân.


Tiêu đề: Thượng tướng Vũ Lập, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 2
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2008, 11:52:56 pm
(http://img10.imageshack.us/img10/2226/thuongtuongvulap.jpg)

Thượng tướng Vũ Lập (1924-1987), từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Quân khu Tây Bắc, Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Tư lệnh - Chính ủy Quân khu 2. Ông là một trong 34 chiến sĩ thuộc Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ngoài ra ông còn từng là: Trưởng Ban dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc Chính phủ.Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa IV đến khóa VI, đại biểu Quốc hội Việt Nam từ khóa VI đến khóa VIII.

Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1984)


Thượng tướng Vũ Lập tên thật là Nông Văn Phách người dân tộc Tày quê tại xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia cách mạng năm 1941, được kết nạp Đảng năm 1945. Tháng 12 năm 1944, ông là chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Tháng 8 năm 1945, ông là Ủy viên Quân sự tỉnh Thái Nguyên.

Từ năm 1946 đến năm 1954, ông làm Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Đại đoàn 316. Từ năm 1955 đến năm 1964, ông làm Khu phó Khu Tây Bắc, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Tháng 4 năm 1970, ông làm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào. Từ năm 1970 đến năm 1974, ông làm Tư lệnh các mặt trận: 316 và 31 (Thượng Lào).

Từ tháng 6 năm 1974 đến năm 1976, ông làm Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Năm 1977, ông làm Trưởng ban Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ. Từ năm 1978 đến năm 1987, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 2 (thôi kiêm nhiệm năm 1978). Thượng tướng Vũ Lập liên tục là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt từ khoá IV đến khoá VI, đại biểu Quốc hội từ khoá VI đến khoá VIII.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Doãn Tuế, vị tướng có biệt danh Voi Gầm
Gửi bởi: panphilov trong 13 Tháng Năm, 2008, 07:02:59 am
(http://img46.imageshack.us/img46/2751/ttdoantue06.jpg)

Trung tướng Doãn Tuế (1917-13/1/1995), từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Pháo binh B5, Tư lệnh Binh chủng Pháo binh, Phó Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, Phó Tổng Tham mưu trưởng. 

Huân chương Độc lập hạng nhất, 02 Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang nhất nhì, ba, Huân chương Chiến sỹ giải phóng nhất, nhì, ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.Huân chương It-xa-la hạng nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984).


Trung tướng Doãn Tuế tên thật là Nguyễn Trung, ngoài ra ông còn có biệt danh là Voi Gầm gắn liền với chiến thắng đầu tiên của bộ đội pháo binh Việt Nam trên sông Lô do ông chỉ huy. Quê ở xã Văn Tư, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, sớm thoát li gia đình (khi mới 14 tuổi). Trước cách mạng tháng 8/1945, có thời gian ông đi lính khố xanh phục vụ trong pháo binh Pháp. Cách mạng tháng Tám thành công, được vận động, ông tham gia Quân đội.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), ông tham gia chiến đấu ở mặt trận Hà Nội rồi sông Lô với các chức vụ: Chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn. Tháng 4 năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông là Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn pháo binh 351, Đảng uỷ viên Sư đoàn, tham gia nhiều chiến dịch lớn như chiến dịch sông Lô năm 1947, Điện Biên Phủ năm 1954.
 
Tháng 3 năm 1955, ông  là Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 675 Pháo binh. Từ tháng 4 năm 1955 đến năm 1957, ông là Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1958, ông được cử đi học ở Học viện Pháo binh Trung Quốc. Từ năm 1963 đến năm 1964, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Bộ tư lệnh Pháo binh. Tháng 9 năm 1964, đồng chí là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1967, ông vào chiến trường B5 làm Tư lệnh Pháo binh Miền. Từ tháng 9 năm 1968 đến năm 1977, ông là Tư lệnh Binh chủng Pháo binh. Năm 1971, ông là Phó Tư lệnh Mặt trận đường 9 Nam Lào.
 
Qua nhiều cương vị, trọng trách ông đã tham gia chỉ đạo, chỉ huy bộ đội pháo binh, tham gia nhiều chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh trong đoàn cán bộ A75 của Bộ Tổng Tư lệnh tăng cường cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch. Từ năm 1978 đến năm 1988, ông được bổ nhiệm và giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1988 ông được Nhà nước cho nghỉ chữa bệnh đến 1995 thì mất.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Lưu Vũ Súy, Cục trưởng Cục tuyên huấn Tổng cục Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 13 Tháng Năm, 2008, 07:07:39 am
(http://www.sggp.org.vn/dataimages/original/images183052_V1b.jpg)

Thiếu tướng Lưu Vũ Súy (1924-24/5/2007), nguyên Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Quê xã Yên Bái, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, cán bộ Tiền khởi nghĩa.

Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 1; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng 1; Huân chương Chiến thắng hạng 2; Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Xô-viết; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến công hạng 1; Huân chương Quân công hạng 2; Huân chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.



Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Mai Chương, nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 7
Gửi bởi: panphilov trong 13 Tháng Năm, 2008, 07:11:30 am
(http://www.sggp.org.vn/dataimages/original/images173246_e1a.jpg)

Thiếu tướng Lê Mai Chương (1930-5/4/2007), nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 7. Quê xã Hưng Dũng, TP Vinh, Nghệ An.

Huân chương Độc lập hạng 3, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 2, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng 1, Huân chương Quân công hạng 2, Huân chương Chiến công hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 1, 2, 3; Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Tiêu đề: Trung tướng Bằng Giang, Chủ tịch Khu tự trị Việt Bắc
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Năm, 2008, 01:24:00 am
(http://img135.imageshack.us/img135/3615/trungtuongbanggiangmr5.jpg)

Trung tướng Bằng Giang (1915 - 1990), từng giữ các chức vụ: Tỉnh ủy viên Cao Bằng phụ trách Quân sự, Khu trưởng Khu 1, Khu 10, Khu Tây Bắc, Phó Tổng Thanh tra Quân đội, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Ngoài ra, ông còn từng là Chủ tịch Khu tự trị Việt Bắc, Đại biểu Quốc hội liên tục từ Khóa 3 đến Khóa 6.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Nhất...

Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974)


Trung tướng Bằng Giang, tên thật là Nguyễn Văn Cơ, là người dân tộc Tày, quê tỉnh Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ 1932, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1935), nhiều lần bị Pháp bắt giam. Tỉnh uỷ viên Cao Bằng, tổ chức đội trừ gian, phụ trách binh vận, uỷ viên thường vụ Liên Tỉnh uỷ Cao Bắc Lạng (1941-1943), tỉnh uỷ viên Cao Bằng phụ trách quân sự, chỉ huy diệt phỉ và tước khí giới tàn quân Pháp (1944-1945).

Khu phó, Khu trưởng Khu 1, Khu 10 (1946-1947), Tư lệnh Liên khu 10, Khu Tây Bắc (1948-1954), tham gia các Chiến dịch Biên giới, Tây Bắc, Điện Biên Phủ... (1950-1954). Tư lệnh Quân khu Tây Bắc (1958-1964), hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân (1965-1966), tư lệnh Quân khu Việt Bắc, kiêm chủ tịch Uỷ ban Hành chính Khu Tự trị Việt Bắc (1967-1975). Đại biểu Quốc hội khoá 3, 4, 5, và 6.

Tham khảo: Từ điển Bách khoa Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Kinh Chi, nguyên Cục trưởng Cục bảo vệ an ninh Quân đội
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Năm, 2008, 01:44:05 am
(http://antgct.cand.com.vn/Uploaded_ANTGCT/hoabt/18_thieutuong198.jpg)

Thiếu tướng Trần Kinh Chi (20/5/1927), nguyên Cục trưởng Cục bảo vệ An ninh Quân đội, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Lăng Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Lao động và Thương binh Xã hội.

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Trần Kinh Chi quê ở xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây trong một gia đình nông dân nghèo khó. Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm, Năm 1943, ở tuổi 16, trong khi các bạn đồng trang lứa còn bay nhảy thì ông đã là một cán bộ lãnh đạo Việt Minh, tham gia cách mạng với khát vọng cùng nhân dân đập tan ách thống trị thực dân phong kiến, đem lại cuộc sống tươi đẹp cho những người bần cùng, bất hạnh. Từ đó tới năm 1945, ông hăng hái tham gia các phong trào cách mạng tại địa phương, trở thành cán bộ hoạt động chuyên nghiệp của tỉnh ủy Sơn Tây, có sứ mệnh võ trang tuyên truyền, tham gia đội trừ gian, và vận chuyển vũ khí từ miền Bắc và miền Trung. Tiếng súng khởi nghĩa nổ ra, ông có mặt trong Ban chỉ huy khởi nghĩa Quốc Oai – huyện đầu tiên của Sơn Tây giành chính quyền.

Dẫu rất trẻ, nhưng uy tín của những năm hoạt động đã đưa ông trở thành Bí thư huyện uỷ Tùng Thiện, Bí thư kiêm Chủ tịch huyện Quảng Oai rồi Cảnh sát trưởng thị xã Sơn Tây. 21 tuổi, ông đã là Thường vụ Tỉnh uỷ Sơn Tây, Hưng Yên và Hải Dương. Năm 1949, tại chiến khu Việt Bắc, do yêu cầu cách mạng, ông được Trung ương Đảng cử sang làm công tác Đảng ở Nha Công an Trung ương (NCATƯ). Sau chiến dịch biên giới, ông tham gia đoàn công tác của NCATƯ sang quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ chiến dịch (BVCD), do ông Lê Giản làm trưởng ban. Từ đó, suốt hơn 30 năm, ông gắn bó với công việc bảo vệ an ninh đất nước cho đến khi về hưu với chức vụ Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: trưởng phòng của Cục từ năm 1950-1960,  quyền Cục trưởng rồi Cục trưởng  từ tháng 6 năm 1960  đến năm 1976.

Từ năm 1967 ông được tham gia công tác chuẩn bị, và sau đó từ ngày 2 tháng 9 năm 1969 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông được tham gia giữ gìn lâu dài và bảo vệ thi hài. Ông cũng đã chỉ huy thành công 5 cuộc hành quân di chuyển thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Hà Nội lên Đá Chông (Sơn Tây), qua sông Đà sang Phú Thọ, rồi lại trở về Hà Nội trong những điều kiện chiến tranh và thiên tai cực kỳ khắc nghiệt, với các yêu cầu khắt khe cả về khoa học lẫn bảo mật. Khi Lăng Bác hoàn chỉnh và đi vào hoạt động, ông được cử làm Trưởng ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng đồng thời là Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng (1976-1979). Năm 1980, ông chuyển ngành sang làm Thứ trưởng Bộ lao động và thương binh xã hội cho đến khi về hưu.

Thiếu tướng Trần Kinh Chi đã gắn bó một đời với sự nghiệp bảo vệ an ninh đất nước. Ông vinh dự được nhiều lần bảo vệ tiếp cận Hồ Chủ tịch, ngay từ thời Cách mạng còn trứng nước, cho đến khi Chủ tịch về cõi vĩnh hằng... Người ta gọi ông là "vị tướng cận vệ".


Tiêu đề: Thiếu tướng Huỳnh Công Thân, vị tướng của Chiến trường Long An
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Năm, 2008, 01:55:30 am
(http://img535.imageshack.us/img535/6610/thieutuonghuynhcongthan.jpg)

Thiếu tướng Anh hùng Huỳnh Công Thân (1923 - ?), từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Phân khu 3 trong Tết Mậu Thân, Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Long An.

Huân chương Độc lập, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến công, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương bảo vệ Tổ quốc do Nhà nước Campuchia trao tặng.

Thiếu tướng (1980).


Thiếu tướng Huỳnh Công Thân (tên thật Huỳnh Công Mến) sinh năm 1923, quê ở xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ sớm. Năm 1946 là Uỷ viên Thường vụ Huyện uỷ Cần Giuộc. Năm 1948 là Bí thư, Chính trị viên đại đội căn cứ Vườn Thơm. Năm 1954 là cán bộ quân sự cốt cán, Thường vụ Huyện uỷ Đức Hoà.

Những năm 1955–1957, ông tham gia tổ chức và chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh Long An trong phong trào Đồng Khởi (1960). Huỳnh Công Thân là người chỉ huy trận đánh vào căn cứ biệt kích Mỹ ở Hiệp Hoà (23.11.1963), diệt và làm bị thương 500 tên địch, thu trên 500 súng các loại. Trận đánh giành thắng lợi có ý nghĩa quan trọng trong nhiệm vụ phá quốc sách “ấp chiến lược” của Mỹ - nguỵ.
 
Trong cuôc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, ông là Tư lệnh Phân khu 3, chỉ huy 9 tiểu đoàn đánh vào các căn cứ địch ở Quận 6, 7 và 8, mở đường đánh vào Tổng nha cảnh sát chính quyền Sài Gòn. Tháng 5 năm 1968, chỉ huy các Lực lượng vũ trang Long An tham gia chiến dịch Mậu Thân đợt 2, diệt 10 đồn ở Quận 8 và 1 tiểu đoàn Mỹ.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Xuân 1975, cánh quân phía Tây Nam do Huỳnh Công Thân chỉ huy đã chiến đấu dũng cảm, đập tan các ổ đề kháng cuối cùng của địch. Sau khi đất nước thống nhất, Huỳnh Công Thân được phong quân hàm Thiếu tướng, đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Long An, tiếp tục chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh chiến đấu bảo vệ tuyến biên giới trong chiến tranh biên giới Tây Nam (1978–1979).

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Minh Thi, nguyên Tư lệnh Quân khu 4
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Năm, 2008, 02:06:22 am
(http://img20.imageshack.us/img20/4808/thieutuonghoangminhthii.jpg)

Thiếu tướng Hoàng Minh Thi (Huỳnh Nhất Long, 1922-1981), nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Chính ủy Quân đoàn 1 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, Chính ủy Trường sĩ quan lực quân, Cục trưởng Cục tuyên huấn Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba).

Thiếu tướng (1974).


Ông quê xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1945, nhập ngũ tháng 2 năm 1945. Tháng 5 năm 1945, ông tham gia du kích Ba Tơ.

1945-1955, ông là Chính ủy trung đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 304. 1956, ông là Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 335 thuộc Quân khu Tây Bắc. 1958-1965, ông là Cục phó rồi Cục trưởng Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị. 1966, ông là Phó Chính ủy Quân khu 3. Tháng 9 năm 1968, ông là Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân.

Tháng 11 năm 1971, ông là Phó Chính ủy Mặt trận B5. Từ tháng 4 năm 1973 đến năm 1975, ông là Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Phó Chính ủy rồi Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 1 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. 1978-1981, ông là Tư lệnh Quân khu 4. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV. Ông mất năm 1981 vì tai nạn máy bay.

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Đại tá Trần Đình Xu, nguyên Tư lệnh Quân khu Sài Gòn-Gia Định
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Năm, 2008, 04:10:55 am
(http://img141.imageshack.us/img141/4319/daitatrandinhxubw4.jpg)

Đại tá Liệt sỹ Trần Đình Xu (Ba Đình, 1921-1969) từng giữ các chức vụ: Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Gia Ninh, Cục trưởng Cục Công binh, Tư lệnh Quân khu Sài Gòn-Gia Định, Chỉ huy trưởng Phân khu 1.

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 2001)...

Đại tá (1961)


Ông tên thật là Trần Sinh, sinh ra tại làng một làng quê nghèo thuộc tỉnh Quảng Bình, làng Thuận Bài, xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch. Dòng họ Trần của ông vốn di cư từ Nam Định vào, thuộc dòng dõi vua Trần. Trước Cách mạng, do hoành cảnh gia đình khó khăn, ông phải phiêu bạt vào Nam cũng nhiều người trong làng, và sinh sống bằng nghề điện.

Ông nhập ngũ tháng 8 năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947. Trong Kháng chiến chống Pháp giữ các chức vụ từ Đại đội trưởng đến Trung đoàn trưởng, Chỉ huy liên trung đoàn 306-312 rồi Tỉnh đội trưởng Gia Ninh.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc và giữ chức vụ Cục trưởng Cục công binh từ năm 1956 cho đến năm 1961. Tháng 5 năm 1961, ông có mặt trong đoàn cán bộ nòng cốt thuộc nhiều quân binh chủng khác nhau, mang tên Phương Đông, hành quân vào Nam chiến đấu, chi viện cho chiến trường Nam Bộ chuẩn bị bước vào thời kỳ đánh Mỹ. Đoàn gồm khoảng 600 cán bộ, do các ông Trần Văn Quang, Trần Nam Trung, Lê Văn Tưởng và ông chỉ huy.

Vào nam chiến đấu ông chỉ huy nhiều chiến dịch trong đó nổi tiếng nhất là chiến dịch Bình Giã (11.1964). Năm 1967, được cử giữ chức Tư lệnh Quân khu Sài Gòn-Gia Định, Chỉ huy trưởng Phân khu 1 (Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, một phần các huyện Trảng Bàng, Bến Cát, Dầu Tiếng) mà ông Mai Chí Thọ (sau này Đại tướng Công an) làm Chính ủy. Ông hy sinh năm 1969, trong khi chỉ huy chiến đấu.

Sau 1975, tại nghĩa trang Liệt Sĩ thành phố Hồ Chí Minh, mộ ông được đặt trang nghiêm ở khu chính, nhưng đó chỉ là ngôi mộ tượng trưng. Sau nhiều năm tìm kiếm với sự giúp đỡ của tỉnh Tây Ninh và huyện Trảng Bàng, năm 1998, gia đình mới tìm được hài cốt của ông. Và, sáng ngày 14 tháng 9 năm 1998, Chính quyền và Tỉnh đội Tây Ninh đã thực hiện việc bốc mộ và đưa hài cốt ông về Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh.

Đại tá Trần Đình Xu được đánh giá là một người "chỉ huy bình tĩnh, kiên cường trong mọi tình huống" (Thượng tướng Trần Văn Trà). Tên ông được đặt cho một đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh, đường Trần Đình Xu, Quận 1.

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Lê Thùy, nguyên Tư lệnh Quân khu Tây Bắc
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Năm, 2008, 04:23:23 am
(http://img141.imageshack.us/img141/3361/trungtuonglethuybq1.jpg)

Trung tướng Lê Thùy (1922-1999), từng giữ các chức vụ: Chính trị viên Giải phóng quân Chiêm Hóa, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 335, 316,  Tư lệnh Quân khu Tây Bắc, Phó Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, Phó Tư lệnh Quân khu 1, Phó Tư lệnh Quân khu 2.

Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng...

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1986)


Ông tên thật là Lê Văn Lộc, người dân tộc Tày, quê ở xã dân chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm (1940), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam (1941). Từ năm 1940 đến năm 1944, ông hoạt động tổ chức xây dựng cơ sở Cách mạng ở các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái. Năm 1945, là Chính trị viên Giải phóng quân ở huyện Chiêm Hóa.

Từ năm 1946 đến năm 1954, giữ chức vụ trung đoàn trưởng và chính trị vị trung đoàn ở nhiều đơn vị. Từ năm 1955 đến năm 1966, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 335 rồi 316, Tham mưu trưởng Quân khu Tây Bắc. 1967-1974, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Từ 6/1974 đến 1978, Phó Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. 1976, Phó Tư lệnh Quân khu 1. Năm 1978, Phó Tư lệnh Quân khu 2.

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Đôn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu phó
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Năm, 2008, 04:31:28 am
(http://img263.imageshack.us/img263/2964/trungtuongnguyendon.jpg)

Trung tướng Nguyễn Đôn (Nguyễn Xuyên, 1919) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên Đội Du kích Ba Tơ, Phó Tư lệnh Liên khu 5, Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 324, Tư lệnh Quân khu 4, Tư lệnh Quân khu 5, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Ngoài ra, ông còn từng là : Ủy viên Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi, Bí thư Khu 5, Trưởng Ban Công tác miền Tây (CP-38) giúp Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng (1960-1975), Đại biểu Quốc hội các Khóa 4 và 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng… Ngoài ra, ông còn được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng Huân chương Ít-xa-la hạng Nhất.

Thiếu tướng (1958), Trung tướng (1974).


Trung tướng Nguyễn Đôn quê tại thôn Vĩnh Lợi, xã Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Huyện Sơn Tịnh quê hương ông vốn là một vùng đất có truyền thống yêu nước và cách mạng, đặc biệt trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mảnh đất này đã sản sinh cho đất nước 11 vị tướng mà nhiều người trong số họ rất nổi tiếng. Có thể kể ra đây như : tướng Nguyễn Chánh, Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Trần Quý Hai, Trung tướng Phạm Kiệt, Trung tướng Võ Thứ, Thiếu tướng Võ Bẩm, Thiếu tướng Huỳnh Kim, Thiếu tướng Châu Khải Định, Thiếu tướng Lê Trung Ngôn, Thiếu tướng Phạm Quang Tiệp. Có thể nói, Sơn Tịnh là huyện có nhiều tướng nhất Việt Nam.

Trung tướng Nguyễn Đôn tham gia Cách mạng từ rất sớm, thời kì Mặt trận Dân chủ. Năm 1936, ông tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1938, là Bí thư chi bộ, 9.1939, bị thực dân Pháp bắt ; 1941, ra tù, lên huyện Ba Tơ tổ chức cơ sở cách mạng ; 1942, tham gia tổ chức Uỷ ban Vận động cách mạng Ba Tơ, năm 1943 đổi thành Uỷ ban Cứu quốc Việt Minh ; Cuối năm 1944, tham gia thành lập Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi, chuẩn bị khởi nghĩa.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi quyết định khởi nghĩa. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, ông là Chính trị viên tham gia tổ chức khởi nghĩa Ba Tơ, tiến đánh quận lỵ Ba Tơ, thành lập Đội du kích Ba Tơ, thành lập Tỉnh uỷ Quảng Ngãi ; 14.3.1945, tham gia lập căn cứ ở rừng núi Kơ Nhất, Đông Bắc Ba Tơ, là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ông làm Chính trị viên Trung đội Đội du kích Ba Tơ (Trung đội do ông Phạm Kiệt làm Trung đội trưởng). Ngày 23 tháng 9 năm 1945, núp bóng quân Anh, quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, ông được lệnh đi Nam tiến, thành lập cơ quan chỉ huy Quân chính Nam phần Trung Bộ gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đắc Lắc, tổ chức phòng giữ đưa lực lượng chi viện vào Nam Bộ.

Cuối năm 1946, ông lần lượt giữ chức Chính trị viên Đại đội 31 Chi đội 2 Quảng Ngãi, Chính trị viên Trung đoàn 94, 68 ; 1948, Trưởng phòng Tổ chức - kiểm tra Liên khu 5 kiêm Chính trị viên Ban Quân giới Liên khu 5 ; 1950, Chính ủy Trung đoàn 210 Liên khu 5 (Sau trung đoàn đổi thành Trung đoàn 108), tham gia chỉ huy Mặt trận Quảng , Chính uỷ kiêm Chỉ huy Mặt trận Nam Tây Nguyên ; 1951-1953, Tham mưu trưởng Liên khu 5 ; 1953-1954, Phó tư lệnh Liên khu 5, tham gia chỉ huy chiến dịch An Khê (1953), chiến dịch chống cuộc hành quân Át-lăng (1954), Sư đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Sư đoàn 324.
 
Năm 1955, ông tập kết ra Bắc ; 1956-1960, Tư lệnh Quân Khu 4 ; 19611-964, Bí thư Liên khu 5 ; 1961-1967, Tư lệnh Quân khu 5 ; 1968-1972, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Uỷ viên Thường vụ Quân uỷ Trung ương ; 1973-1977, chuyển ra Trung ương là Trưởng ban Công tác miền Tây (CP-38) giúp Lào.

Từ năm 1978 đến năm 1982, ông là Phó chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra Chính phủ ; 1992, Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt . Trung tướng Nguyễn Đôn là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1960-1975), Đại biểu Quốc hội Khóa 4, 5.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Từ điển Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Quảng Ba, Tư lệnh đầu tiên Quan khu Việt Bắc
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Năm, 2008, 04:45:57 am
(http://img152.imageshack.us/img152/4348/thieutuonglequangbahr6.jpg)

Thiếu tướng Lê Quảng Ba (1914 - 1988) từng giữ các chức vụ: Phụ trách Đội Du kích đầu tiên ở Cao Bằng, Ủy viên Quân sư Liên tình Cao Bắc Lạng, Khu phó Khu 1, Khu trưởng Hà Nội rồi Khu 12, Chỉ huy phó Mặt trận 2 - Đông Bắc, Chỉ huy trưởng Mặt trận Duyên Hải - Đông Bắc, Chỉ huy bộ đội Việt Nam tham gia Thập Vạn Đại Sơn, Tư lệnh Liên khu Việt Bắc, Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 316, Tư lệnh đầu tiên Quân khu Việt Bắc.

Ngoài ra, ông còn từng là: Phái viên Kỳ bộ Việt Minh tại Cao Bắc Lạng, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Phó Ban Nông nghiệm Trung ương, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 3, Đại biểu Quốc hội các từ Khóa 2 đến Khóa 6.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến cộng hạng nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

Thiếu tướng (1958)


Ông tên thật là Đàm Văn Mông, người dân tộc Tày, quê ở xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ 1935. Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1936, phụ trách Đội Du kích đầu tiên ở Cao Bằng (1941). Từ năm 1944 đến năm 1945, ông là Uỷ viên Quân sự Liên tỉnh Cao Bắc Lạng và phái viên Kỳ bộ Việt Minh ở đây.

Trong Kháng chiến chống Pháp: từ tháng 11 năm 1945 đến năm 1947, ông là Khu phó Khu 1, Khu trưởng Khu Hà Nội rồi Khu trưởng Khu 12. Từ năm 1948 đến năm 1949, Chỉ huy phó Mặt trận 2 (Đông Bắc), rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận Duyên hải Đông Bắc và Thập vạn Đại sơn. Từ tháng 12 năm 1949, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Liên khu Việt Bắc rồi Đại đoàn trưởng đầu (5.1951) tiên Đại đoàn 316 tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ năm 1957 đến năm 1959, ông là Tư lệnh đầu tiên của Quân khu Việt Bắc. Năm 1960, ông chuyển chuyển ngành sang làm trưởng Ban Dân tộc Trung ương và đảm nhiệm nhiều trọng trách khác như Phó Ban Nông nghiệm Trung ương. Thiếu tướng Lê Quảng Ba là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 3, Đại biểu Quốc hội từ Khoá 2 đến Khóa 6.

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng Nguyễn Chơn, vị tướng của lối đánh "bóc trọc"
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Năm, 2008, 04:55:14 am
(http://img28.imageshack.us/img28/9628/tuongnguyenchon.jpg)

Thượng tướng Anh hùng Nguyễn Chơn (1927) từn giữ các chức vụ: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2, Tư lệnh Quân đoàn 2, Tư lệnh Quân khu 5, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng. Ngoài ra, ông còn từng là: Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá 6, 7, Đại biểu Quốc hội Khoá 8, 9.

Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến công giải phóng (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba) Huân chương Chiến sỹ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1979), Trung tướng (1984), Thượng tướng (1988)


Ông nhập ngũ năm 1946, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1949. Trong kháng chiến chống pháp và chống Mỹ, ông chiến đấu ở chiến trường Khu 5, Trị Thiên. Trưởng thành từ chiến sỹ đến Sư đoàn trưởng. Năm 1968, ông chỉ huy Trung đoàn trong tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân. Năm 1971, ông chỉ huy Sư đoàn 2 trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Năm 1975, ông chỉ huy Sư đoàn 2 đánh chiếm Tam Kỳ và tham gia giải phóng Đà Nẵng.

Từ năm 1979 đến năm 1985, ông là Tư lệnh Quân đoàn 2; 1985-1987, Tư lệnh Quân khu 5; 1987-1994, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu truởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Thượng tướng Nguyễn Chơn là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá 6, 7, Đại biểu Quốc hội Khoá 8, 9.

Thượng tướng Nguyễn Chơn được đánh giá là một trong ba Sư đoàn trưởng giỏi nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là vị tướng mở đầu cho phương châm Bám thắt lưng địch mà đánh, một vị tướng mà trong cuộc đời chỉ huy của mình không bị thua lấy một trận. Một vị tướng bậc thầy về nối đánh "bóc trọc", nghĩa là xóa sổ hoàn toàn đơn vị đối phương.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Văn Phác, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Năm, 2008, 05:04:14 am
(http://img215.imageshack.us/img215/3995/14thieu762.jpg)

Thiếu tướng Trần Văn Phác (Tám Trần, Trần Hương Nam, 29.12.1926), từng giữ các chức vụ : Trưởng Phòng Chính trị Mặt trận Tây Tiến, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Sông Lô, Trưởng Ban Tuyên huấn Đại đoàn 312, Trưởng Phòng Văn nghệ Quân đội, Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tổng biên tập (đầu tiên) Báo Quân đội Nhân dân, Chủ nhiệm Chính trị Quân Giải phóng miền Nam, Phó Chính ủy Đoàn 232 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị, Cục trưởng Cục Tuyên huấn – Tổng cục Chính trị, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra, ông còn từng là : Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Uỷ viên Trung ương Đảng Khoá 5, 6, Đại biểu Quốc hội Khoá 8, 9, Phó Chủ nhiệm thường trực Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội Khoá 9, Phó Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sỹ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu Chiến dịch Điện Biên Phủ, Huy chương vì Sự nghiệp Văn hoá, Huy chương vì Sự nghiệp thanh niên, Huy chương vì Sự nghiệp Xây dựng Thủ Đô, Huy chương vì Sự nghiệp Hội Cựu chiến binh, Huân chương Mặt trời mọc của Nhà nước Nhật bản trao tặng...

Thiếu tướng (1978)


Ông tham gia cách mạng từ tháng 1 năm 1945, là Đội trưởng đội tự vệ chiến đấu của Việt minh tại xã Lý Thường Kiệt. Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở huyện Yên Mỹ. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, 19 tuổi, ông dẫn đầu đội tự vệ chiến đấu khu Bãi Sậy gồm 15 người phá cổng dẫn đầu nhân dân xông vào Phủ Tri huyện Yên Mỹ. Khởi nghĩa ở Hưng Yên thắng lợi, lúc bấy giờ có chỉ đạo của Tổng bộ Việt Minh là nơi nào khởi nghĩa xong phải chuẩn bị lực lượng để tham gia Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội. Yên Mỹ chỉ cách Hà Nội 30 km, vì vậy khi có lệnh, ông cùng cả đội tình nguyện xung phong về Hà Nội và trở thành Giải phóng quân Tiểu đoàn của ông Tuấn Sơn đúng ngày Tổng khởi nghĩa thành công ở đây. Trong những ngày tháng Tám lịch sử đó, ông cùng đồng đội được phân công nhiều nhiệm vụ như: tuần tra, canh gác, giữ trật tự, sang Gia Lâm đón đoàn Giải phóng quân chiến khu trở về (28.8 ), bảo vệ lễ Tuyên ngôn Độc lập (2.9) ở Quảng trường Ba Đình … Tháng 10 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
            
Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông tham gia Giải phóng quân Hà Nội. Vốn có năng khiếu, ông được phân công làm Thư ký Tòa soạn Báo Khu 2 Kháng chiến, khi đang trên đường Tây tiến cùng Tiểu đoàn Tuấn Sơn, và đoạt giải Nhất cuộc thi viết truyện Báo Vệ quốc quân nàm 1947. Tháng 1 năm 1946, ông là Chính trị viên Đại đội thuộc chiến Khu 2. Năm 1947, ông là Trưởng phòng Chính trị Mặt trận Tây Tiến, chiến khu 2. Năm 1949, ông là Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Sông Lô (E209). Năm 1951, ông là Trưởng ban Tuyên huấn Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến thắng), tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ năm 1954 đến năm 1964, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng phòng Văn nghệ Quân đội, Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân. Năm 1964, ông được cử vào B2 giữ chức Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1975, ông là Phó Chính uỷ Đoàn 232, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Năm 1976, ông là Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Chính trị, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Năm 1977, ông được bổ nhiêm giữ chức Phó chủ nhệm Tổng cục Chính trị. Từ năm 1979 đến năm 1980, ông học tại Học viện Quân sự cấp cao.

Năm 1982, ông chuyển ngành giữ chức Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Văn hoá, được bầu Uỷ viên Trung ương Đảng khoá V, khoá VI. Ông là đại biểu Quốc hội khoá VIII, khoá IX, là Phó chủ nhiệm thường trực Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội khoá IX. Năm 1990, ông là Phó bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1997, ông được bầu vào Quốc hội khoá 9, Uỷ viên Uỷ ban đối ngoại Quốc hội, Uỷ viên Thường vụ Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội khoá 1997 - 2002.

Là một vị tướng, đồng thời là một người hoạt động rồi trở thành lãnh đạo trong các lĩnh vực văn, thơ, báo chí, văn hóa, bên cạnh tác phẩm cuối cùng được xuất bản gần đây "Văn Phác tuyển tập" (2007), trong suốt cuộc đời hoạt động Cách mạng của mình, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm trên mọi lĩnh vực như văn thơ, lý luận. Nhiều tác phẩm của ông đã trở lên quen thuộc với đồng bào chiến sĩ trong suốt những năm tháng Kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ cứu nước. Có thể kể ra đây truyện ký "Trong khói lửa" (Liên khu Ba, 1947), nhà văn Nguyễn Công Hoan viết lời tựa, "Không còn con đường nào khác" (1975) bút danh Trần Nam Hương, "Từ mùa thu ấy" (1981), "Một mùa xuân rực rỡ" (1985). Những năm lãnh đạo Bộ Văn hóa ông có: "Công tác tư tưởng văn hóa trong các lực lượng vũ trang" (1983), "Mấy vấn đề cấp bách về văn hóa nghệ thuật" (1985), "Sự nghiệp văn hóa trong chặng đường trước mắt" (1987). Năm 2005, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành cuốn "Từ ngôi nhà số 4" của ông, trong đó có bài ông viết về Tạp chí Văn nghệ Quân đội thời kỳ mới thành lập với những nhà văn, nhà thơ từng gắn bó với ông: Thanh Tịnh, Từ Bích Hoàng, Hữu Mai, Hồ Phương, Vũ Cao, Nguyễn Khải...

Tham khảo: Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Công an Nhân dân, Báo Đảng.


Tiêu đề: Thượng tướng Phạm Ngọc Mậu, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Năm, 2008, 02:46:59 am
(http://img828.imageshack.us/img828/70/thuongtuongphamngocmau.jpg)

Thượng tướng Phạm Ngọc Mậu (Phạm Ngọc Quyết, 1919-23.11.1993), từng giữ các chức vụ: Ủy viên Tỉnh ủy Sơn Tây phụ trách Quân sự, Khu phó Khu 2, Chính ủy Khu 1 - Khu ủy viên kiêm Bí thư Quân khu ủy, Thường vụ Quân khu ủy Việt Bắc, Chính ủy Đại đoàn 351, 305 - Bí thư Đảng ủy, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh - Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Cán bộ - Bộ Tổng Tham mưu, Cục trưởng Cục Điều động, Tổng cục trưởng Tổng cục Cán bộ - Bí thư Đảng bộ, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - Bí thư Đảng ủy, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Quân sự Trung ương. Ông là Đại biểu Quốc hội Khóa 3 và 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Hai Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1986).


Ông quê ở xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Đầu năm 1938, ông tham gia tổ "Tương tế" nông dân và Đoàn thanh niên Dân chủ. Tháng 11 năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được chỉ định vào Ban Chấp hành Thanh niên Phản đế huyện Kiến Xương, phụ trách Trung đội trưởng tự vệ huyện Kiến Xương, Thái Bình. Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt kết án 10 năm tù khổ sai và 10 năm quản thúc, giam tại các nhà lao: Thái Bình, Hoả Lò, Sơn La, Hoà Bình, Chợ Chu. Sau đó, thực dân Pháp lại đưa ông về nhà tù Sơn La. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, lợi dụng thời cơ ông và một số nhà cách mạng khác đã trốn thoát về Sơn Tây thì bắt liên lạc với tỉnh uỷ Sơn Tây và được Xứ uỷ Bắc kỳ quyết định bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn Tây, phụ trách công tác ở thị xã Sơn Tây, huyện Tùng Thiện, Bất Bạt, Quảng Oai.

Tháng 8 năm 1945, sau khi ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Sơn Tây, được tỉnh uỷ phân công phụ trách quân sự tỉnh. Tháng 12 năm 1945, ông là Khu phó Khu 2, Chính uỷ Khu 1, Khu uỷ viên kiêm Bí thư Quân khu uỷ, Trưởng ban Kiểm tra Khu uỷ, sau đó là Phó Bí thư Khu uỷ. Tháng 8 năm 1948, ông là cán bộ kiểm tra khu Việt Bắc, Thường vụ Quân khu uỷ, sau đó là Chính uỷ Trung đoàn 121. Tháng 6 năm 1948, ông được bầu làm Khu uỷ viên Liên khu Việt Bắc. Năm 1949, ông là chính uỷ Trung đoàn 246 bảo vệ khu căn cứ địa Trung ương, Uỷ viên Ban Căn cứ địa Trung ương. Tháng 5 năm 1951, ông là Phó Chính uỷ, rồi Chính uỷ Đại đoàn 351, 305, Bí thư Đảng uỷ Đại đoàn.

Năm 1955, ông là Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1956, ông là Cục trưởng Cục Cán bộ Bộ Tổng Tham mưu, Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ cơ quan Bộ Tổng tham mưu. Năm 1957, ông là Cục trưởng Cục Điều động, sau được đề bạt Tổng cục trưởng Tổng cục Cán bộ, Bí thư Đảng uỷ cơ quan Tổng cục Cán bộ.

Năm 1959, ông là Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị. Năm 1961, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ cơ quan Tổng cục Chính trị, Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Quân sự Trung ương, Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ thanh thiếu niên nhi đồng. Từ năm 1961 đến năm 1988, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông là đại biểu Quốc hội Khoá 3 và 5.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Phó Chủ nhiệm Tồng cục CT, Thứ trưởng Bộ QP
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Năm, 2008, 03:13:46 am
(http://img259.imageshack.us/img259/5857/tuongdangvuhiep.jpg)

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (Đặng Hùng, 9.2.1928-11.4.2008) từng giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Khoa Phong trào Công nhân - Học viện Chính trị Quân sự, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận B3 - Tây Nguyên, Chính ủy Sư đoàn 10, Chính ủy Mặt trận B3 - Bí thư Đảng ủy Mặt trận kiêm Quân khu Ủy viên Quân khu 5, Chính ủy Quân đoàn 3, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương.

Ngoài ra, ông còn từng là: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (dự khuyết Khóa 4, chính thức Khóa 5), Đại biểu Quốc hội Khóa 7), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Lập pháp Quốc hội, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam (Đi-ô-xin) Việt Nam

Huân chương Độc lập hạng nhất; Hai Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhì; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Ông được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Sao đỏ.

Trung tá (1958), Thượng tá (1966), Đại tá (1970), Thiếu tướng (1977), Trung tướng (1981), Thượng tướng (1988).


Ông que ở xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Tham gia cách mạng từ tháng 8-1945, là cán bộ Phòng Thông tin tuyên truyền tỉnh Phú Thọ. Tháng 1-1946, ông tham gia quân đội, tháng 4-1946 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 4-1947 đến tháng 9-1954: ông giữ các chức vụ: Chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn 23, Khu 1; Bí thư chi bộ; Chính trị viên phó rồi Chính trị viên Tiểu đoàn 54, Chính trị viên Tiểu đoàn 18; Chính trị hiệp lý viên Ban Tham mưu thuộc Trung đoàn 102, Đại đoàn 308; Bí thư liên chi ủy. Tháng 4-1954 là Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 88, Đại đoàn 308; Thường vụ Trung đoàn ủy.

Tháng 9-1954 là Phó Chính ủy, phụ trách Chính ủy Trung đoàn 86, Sư đoàn 675 Pháo cao xạ, Bí thư Trung đoàn ủy. Tháng 11-1955: ông đi học tại Trường Văn hóa của Bộ Quốc phòng, tháng 8-1956 đi học tại Học viện Quân chính Lênin (Liên Xô cũ). Tháng 9-1958 ông được phong hàm Trung tá. Tháng 11-1961 là Chủ nhiệm Khoa Phong trào công nhân thuộc Học viện Chính trị. Tháng 9-1964 ông được điều về Tổng cục Chính trị và đi chiến trường B trực tiếp chiến đấu ở chiến trường miền Nam, giữ chức Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5. Tháng 9-1965 là Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận B3 (Tây Nguyên), Thường vụ Đảng ủy B3; năm 1968 là Chủ nhiệm Chính trị mặt trận B3. Tháng 2-1966 ông được phong hàm Thượng tá. Tháng 3-1970 đến năm 1976: ông được phong hàm Đại tá, là Phó Chính ủy mặt trận B3. Tháng 9-1972 kiêm Chính ủy Sư đoàn 10, Bí thư Sư đoàn ủy, Thường vụ Đảng ủy B3. Tháng 6-1974 là Chính ủy Mặt trận B3, Bí thư Đảng ủy mặt trận B3, Khu ủy viên Khu 5. Tháng 3-1975 là Chính ủy Quân đoàn 3, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên và Quân đoàn 3, tham gia chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Cuối năm 1976 ông được cử đi học tại Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng). Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ông được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 4. Tháng 11-1977 ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, được thăng hàm cấp Thiếu tướng. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 (tháng 3-1982), ông được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 6-1981 được thăng hàm cấp Trung tướng. Năm 1985 được chỉ định làm ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương. Tháng 6-1988 ông được phong hàm Thượng tướng.

Ông được bầu làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa VII; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa 7. Ngày 17-12-2003, ông được phân công là Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng Trần Văn Quang, vị tướng tham dự 10 kì Đại hội Đảng
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Năm, 2008, 03:22:15 am
(http://img706.imageshack.us/img706/2128/tuongtranvanquang.jpg)

Thượng tướng Trần Văn Quang (Trần Thúc Kỉnh, 1917) từng giữ các chức vụ:  từng giữ các chức vụ: Chính ủy Bộ Chỉ huy Tiếp phòng quân Trung ương, Chính ủy Khu 4, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Phân khu Bình Trị Thiên, Chính ủy (đầu tiên) Đại đoàn 304, Cục trưởng Cục Địch vận, Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Ủy viên Trung ương cục miền Nam phụ trách Quân sự, Tư lệnh Quân khu 4, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Bình Trị Thiên, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân Tỉnh nguyện Việt Nam tại Lào, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Huân chương Sao Vàng (8.2009), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1984).


Ông sinh tại làng Nam Đoài, xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà Nho yêu nước, giàu truyền thống Cách mạng. Cha ông là cụ Trần Văn Năng, là một nhà Nho mặc dù chưa rõ về "cộng sản" xong vẫn không hề ngăn cản các con tham gia làm Cách mạng, cụ từng bị thực dân Pháp bắt giam 6 tháng ở Thái Bình. Thượng tướng Trần Văn Quang đến với Cách mạng từ rất sớm, do sự ảnh hưởng cũng như sự dìu dắt của người anh cả và người anh thứ hai, nhà Cách mạng Trần Văn Tăng và Trần Văn Cung.

Liệt sỹ Trần Văn Tăng (1900-1930), tham gia Tân Việt (Tân Việt cách mạng Ðảng), một tổ chức với khẩu hiệu "Ðánh đổ đế quốc, xây dựng xã hội bình đẳng, bác ái", khởi nguồn từ Hội Phục Việt với những tên tuổi Tôn Quang Phiệt, Ðặng Thai Mai... về sau chuyển hóa thành Ðông Dương Cộng sản Liên đoàn. Khoảng năm 1925, Trần Văn Tăng tham gia Tân Việt, rồi bị thực dân Pháp theo dõi, bắt khi đang từ Vinh về dạy học tại Yên Thành. Năm 1926 về Thanh Hóa, 1927 đi Kon Tum đến 1928 về Hội An. Năm 1929, ông lại bị Pháp bắt, không chứng cớ, kết án hai năm tù, hai năm quản thúc, mất trong xà lim khi tròn 30 tuổi.

Nhà Cách mạng Trần Văn Cung (1906-1972) là một nhà cách mạng nổi tiếng. Những năm 1925-1926, ông là hội viên Hội Hưng Nam, sau sang Quảng Châu học tập trong tổ chức Hội Thanh niên Cách mạng đồng chí do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Về nước, ông gia nhập Kỳ bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí Bắc Kỳ. Chính vợ chồng ông được Kỳ bộ giao quản lý nhà 5D, Hàm Long, Hà Nội. Tại đây, tháng 3 năm 1929, ông cùng các ông Trịnh Ðình Cửu, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Ðức Cảnh, Ðỗ Ngọc Du, Ngô Gia Tự, Dương Hạc Ðính, Nguyễn Tuân, thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam do ông làm Bí thư. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông Trần Văn Cung từng giữ các chức vụ: Đại biểu Quốc - Ủy viên Ủy ban Thường trực Quốc hội Khóa 1, Hiệu phó - Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Nhân dân tức Trường Đại học Kinh tế Quốc dân ngày nay.

Thượng tướng Trần Văn Quang tham gia cách mạng từ 1935. Bắt đầu từ những bức thư của người anh thứ 2 Trần Văn Cung gửi về từ nhà tù Lao Bảo, từ việc tiếp xúc với truyền đơn của Đảng ở quê nhà, được cơ sở Ðảng gửi cho đọc "Nhật ký chìm tàu" của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Ðiều lệ Ðảng thông qua tại  Ðại hội 1, rồi được giao in ấn Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Ma Cao và sách "ABC Chủ nghĩa Cộng sản"... Năm 1936, ông chính thức được đứng trong hàng ngũ những Đảng viên Cộng sản. Từ 1938 đến 1939, ông chuyển vào Nam hoạt động trong phong trào Công nhân Xe lửa và Thợ thủ công, và là Thành ủy viên Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt giam. Tháng 10 năm 1940, ông vượt ngục và được tổ chức giao về hoạt động ở Nghệ An với nhiệm vụ khôi phục lại phong trào và Tỉnh ủy. Tháng 4 năm 1941, ông bị bắt lần thứ hai, kết án tù chung thân, và đưa đi đày ở Buôn Ma Thuột. Tháng 6 năm 1945, ra tù, ông lại được điều về Nghệ An, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa, được bầu vào Tỉnh ủy phụ trách Quân sự. 

Năm 1946, ông được phân công giữ chức vụ Chủ nhiệm Tham mưu rồi Chính ủy Bộ Chỉ huy tiếp phòng quân Trung ương. Tháng 11 năm 1946, ông là Chính ủy Khu 4. Từ năm 1948 đến 1949, ông giữ chức Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Phân khu Bình Trị Thiên. Tháng 5 năm 1950, Đại đoàn 304 được thành lập, ông được chỉ định giữ chức Chính ủy (đầu tiên) của Đại đoàn. Năm 1951, ông được điều giữ chức phụ trách rồi Cục trưởng Cục Địch vận. Năm 1953, ông được cử giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, đặc biệt chuyên trách chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1959, ông giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng. Năm 1961, ông được điều vào Nam, giữ chức Ủy viên Trung ương Cục miền Nam phụ trách Quân sự. Năm 1965, tư lệnh Quân khu IV; trong những năm 1966 - 1973, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Bình - Trị - Thiên. Năm 1974, ông được thăng quân hàm Trung tướng và được điều động trở lại chức Phó tổng tham mưu trưởng.

Từ năm 1978 đến 1981, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào. Năm 1981, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, và được thăng Thượng tướng năm 1984. Từ năm 1992 đến 2002, ông là Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam. Thượng tướng Trần Văn Quang là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1960 - 1976).

Tham khảo: Báo Nhân dân.


Tiêu đề: Thượng tướng Bùi Phùng, Thứ trưởng Bộ QP, Chủ nhiệm Tổng cục HC
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Năm, 2008, 03:31:50 am
(http://img94.imageshack.us/img94/6165/thuongtuongbuiphung.jpg)

Thượng tướng Bùi Phùng (Bùi Văn Thận, 10.9.1920-22.11.1999) từng giữ các chức vụ: Trưởng phòng Chính trị Cục Vận - Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), Trung trạm trưởng Việt Bắc - Cục Vận tải, Trưởng phòng Kế hoạch - Cục Vận tải, Phó hiệu trưởng Trường Cán bộ Hậu cần, Hiệu phó Trường Sỹ quan Hậu cần, Tham mưu phó Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Hậu cần - Bộ chỉ huy Miền kiêm Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Cục, đại diện Tổng cục Hậu cần tại miền Nam, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu Chiến binh Việt Nam. Ngoài ra, ông còn là Ủy viên Trung ương Đảng các Khóa 4, 5, Đại biểu Quốc hội Khóa 7, 8.

Huân chương Hồ Chí Minh; 02 Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; Huân chương Chiến sỹ Giải phóng hạng nhất, hạng nhì, ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986).


Ông quê ở xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, tham gia cách mạng từ năm 1943. Từ tháng 8 năm 1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở Bắc Ninh, Hoả Lò Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ra tù ông tiếp tục hoạt động gây cơ sở cách mạng ở huyện Gia Lâm.

Từ tháng 8 năm 1945, ông là Chủ tịch Uỷ ban Lâm thời huyện Gia Lâm. Tháng 2 năm 1948, ông là Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh, Tỉnh uỷ viên phụ trách Ban Tổ chức tỉnh uỷ Bắc Ninh, rồi Tỉnh uỷ viên kiêm Bí thư huyện uỷ Võ Giàng, sau phụ trách Ban Dân vận tỉnh Bắc Ninh. Tháng 8 năm 1949, ông giữ chức Phó ban Đảng uỷ Liên vụ Liên khu 1, sau đó được Trung ương cử đi học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc khoá 2 tại Việt Bắc. Tháng 5 năm 1950, ông chuyển vào quân đội. Từ tháng 5 năm 1950 đến tháng 6 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng phòng Chính trị Cục Vận tải Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), Trung trạm trưởng Việt Bắc Cục Vận tải, Trưởng phòng Kế hoạch Cục Vận tải, Phó hiệu trưởng Trường Cán bộ Hậu cần.
            
Tháng 11 năm 1955, ông được cử đi học Khoa Chỉ huy Hậu cần ở Học viện Hậu cần Trung Quốc. Tháng 2 năm 1960, ông được cử làm Hiệu phó Trường Sỹ quan Hậu cần. Tháng 11 năm1960, ông giữ chức Phó Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 9 năm 1964 đến năm 1975, ông vào chiến trường miền Nam, lần lượt giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Hậu cần Bộ chỉ huy Miền, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam.

Tháng 1 năm 1976, ông được cử làm đại diện Tổng cục Hậu cần tại miền Nam. Tháng 5 năm 1976, ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Tháng 3 năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và được bầu làm Bí thư Đảng uỷ Tổng cục Hậu cần. Tháng 11 năm 1977, ông được Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.            
 
Tại Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ 4 (12.1976) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 (3.1982), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. ông là đại biểu Quốc hội khoá 7, 8. Tháng 1 năm 1989, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Tháng 2 năm 1990, ông được Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ định tham gia Ban Chấp hành lâm thời Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam và được cử làm Uỷ viên Thường vụ.

Tham khảo: Bảo tàng Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Trần Quý Hai, Thứ trưởng BQP, Phó Tổng Tham mưu trưởng
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Năm, 2008, 03:38:32 am
(http://img64.imageshack.us/img64/6582/trungtuongtranquyhai.jpg)

Trung tướng Trần Quý Hai (Bùi Chấn, 20.5.1913-11.1.1985) từng giữ các chức vụ : Chính ủy Trung đoàn 101 – Trần Cao Vân, Chính ủy kiêm Tư lệnh Mặt trận Bình Trị Thiên – Bí thư Đảng ủy Mặt trận, Đại đoàn trưởng (đầu tiên) - Chính ủy (đầu tiên) Đại đoàn 325 kiêm Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Mặt trận Trung Lào, phụ trách Ban Nghiên cứu sân bay kiêm Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu, Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Tổng Thanh tra Quân đội, Tư lệnh Mặt trận Đường 9 Khe Sanh, Tư lệnh Mặt trận B5 – Quảng Trị.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy kiêm Ủy viên thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Ủy viên dự khuyết Xứ ủy Trung Kỳ phụ trách Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Phó Bí thư – Thường vụ Liên khu ủy Khu 4, Ủy viên dự khuyết rồi chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 3, Trưởng Ban cơ yếu Trung ương.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 7.2008), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 3 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng…

Thiếu tướng (1958), Trung tướng (1974).


Trung tướng Trần Quý Hai tham gia Cách mạng từ năm 1930, được kết nạp vào Đảng cùng năm, và hoạt động trong phong trào nông hội và tự vệ xã. Tháng 6 năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt giam. Tháng 1 năm 1932, ông được trả tự do, đưa về quản thúc ở quê nhà, nhưng vẫn bí mật bắt liên lạc với tổ chức, tham gia gây dựng cơ sở, giác ngộ quần chúng, tiếp tục hoạt động Cách mạng.

Từ năm 1935 đến năm 1936, ông là Bí thư Chi bộ xã Hòa Bân ; 1937, Huyện ủy viên, Bí thư Tổng ủy Tịnh Châu ; 1938, Bí thư Tổng ủy Tịnh Châu, Huyện ủy viên Sơn Tịnh ; 1939, Bí thư Huyện ủy Bình Sơn, Tỉnh ủy viên Quảng Ngãi. Cuối năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ 2, kết án 5 năm tù và đi đày ở Trà Bồng rồi Buôn Ma Thuột. Tháng 11 năm 1944, mãn hạn tù, thực dân Pháp đưa ông về an trí tại Ba Tơ, nhằm cách ly ông với phong trào Cách mạng, quần chúng. Tuy nhiên, ông bí mật tham gia Ban Vận động cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi, tham gia chỉ đạo Khởi nghĩa Ba Tơ (3.1945), rồi tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành Chính quyền ở tỉnh Quảng Ngãi, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Ủy viên thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Tháng 3 năm 1946, ông được bầu vào Xứ ủy Trung Bộ, là Ủy viên dự khuyết phụ trách 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa ; 2.1947, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên, Chính trị viên Trung đoàn Trần Cao Vân (E101), Bí thư Trung đoàn ủy, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên ; 7.1949, Phó Bí thư Liên khu ủy Khu 4, Chính ủy kiêm Tư lệnh Mặt trận Bình Trị Thiên, Thường vụ Liên khu ủy Khu 4, Bí thư Đảng ủy Mặt trận. Năm 1951, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên kiêm Chính ủy đầu tiên Đại đoàn 325 Trị Thiên Huế, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn, Chính ủy Mặt trận Trung Lào, Chỉ huy trưởng Chiến dịch Hạ Lào, Chiến dịch Đông Bắc Cam-pu-chia.

Tháng 3 năm 1955, khi Ban Nghiên cứu Sân bay (tiền thân của Quân chủng Không quân rồi Phòng không Không quân sau này) được thành lập, ông giữ chức vụ Trưởng ban ; 5.1955, Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tổng Tham mư ; 1957, học lớp bổ túc ngắn hạn tại Liên Xô. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3, tháng 9 năm 1960, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết và là Ủy viên Quân ủy Trung ương (sau đó là chính thức), từ năm 1960 đến năm 1976 là Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương.

Tháng 3 năm 1961, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần ; 23.8.1961, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần ; 1962, học tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc ; 8.1963, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng, sau kiêm Tổng Thanh tra Quân đội ; 1967, Tư lệnh Mặt trận Đường 9 Khe Sanh ; 1972, Tư lệnh Mặt trận B5 – Quảng Trị.

Năm 1976, ông được Trung ương cho kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Cơ yếu Trung ương, cho đến tháng 7 năm 1978 thì thôi chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng. Trung tướng Trần Quý Hai mất ngày 11 tháng 1 năm 1985 tại Hà Nội thọ 72 tuổi. Hiện nay, phần mộ ông được đặt trong Nghĩa trang Mai Dịch, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Tại tỉnh Quảng Ngãi, có một con đường và một ngôi trường mang tên ông, một nhà tưởng niệm ông cũng được xây dựng tại nơi ông sinh ra.


Tiêu đề: Trung tướng Vũ Xuân Chiêm, Chính ủy 559, Chủ nhiệm TCHC, Thứ trưởng BQP
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Năm, 2008, 03:45:43 am
(http://img821.imageshack.us/img821/3463/trungtuongvuxuanchiem.jpg)

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (1923) từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục Chính trị - Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chính ủy Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngoài ra, ông còn từng là: Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ, Ủy viên Tỉnh ủy Thừa Thiên, Đại biểu Quốc hội các Khóa 4, 5 và 6.

Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982).


Ông quê ở xã Trung Đông, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định trong một gia đình nông dân nghèo. Năm 14 tuổi ông làm thợ thuỷ tinh. Năm 1936, ông tham gia cách mạng làm nhiệm vụ liên lạc và chuyển tài liệu. Từ năm 1937 đến tháng 8 năm 1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam vì trong người có tài liệu, do chưa đủ tuổi nên bị kết án 15 năm tù khổ sai, 15 năm đày đi biệt xứ đưa đi giam tại các nhà tù Hoà Bình, Sơn La rồi đày đi Côn Đảo. Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Thời gian ở Côn Đảo, biết ông còn trẻ, cai ngục cố tình tra tấn ông rất dã man nhằm uy hiếp lấy lời khai. Tuy nhiên, mọi đòn roi, âm mưu đều không khuất phục được cậu bé "Chi cò" (tên do các anh cùng giam đặt cho).

Tháng 9 năm 1945, ông ra tù được ông Hồ Tùng Mậu, đón về Huế tiếp tục hoạt động, tham gia Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ. Năm 1947, ông là Tỉnh uỷ viên tỉnh Thừa Thiên. Từ năm 1950 đến năm 1954, ông là Cán bộ chính trị, Phó cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, tham gia các chiến dịch Biên Giới, Hoà Bình, Tây Bắc và chiến dịch Điện Biên Phủ.
 
Từ năm 1955 đến năm 1960, ông  Phó cục trưởng rồi Cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần. Năm 1961, ông học tại Học viện Quân sự Liên Xô.  Từ năm 1962 đến năm 1965, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ năm 1965 đến năm 1970, ông là Phó chính uỷ rồi Chính uỷ Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Từ năm 1970 đến tháng 5 năm 1976, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 6 năm 1976 đến tháng 2 năm 1977, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 9 năm 1976 đến năm 1987, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông là đại biểu Quốc hội Khoá 4, 5, và 6.


Tiêu đề: Trung tướng Lê Hai, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Năm, 2008, 03:53:01 am
(http://img577.imageshack.us/img577/8382/trungtuonglehai.jpg)

Trung tướng Lê Hai (Lê Văn Hải, 1927) từng giữ các chức vụ: Trưởng Ban Tuyên huấn Đại đoàn 320, , Chủ nhiệm khoa rồi Phó Chủ nhiệm Hệ Giáo dục chính trị Học viện Quân chính, Tổng biên tập Tạp chí Quân đội Nhân dân, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, phụ trách cơ quan Tiền phương Tổng cục Chính trị trong chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến trường Căm-pu-chia,thành viên cơ quan Tiền phương Bộ Quốc phòng, Phó Tư lệnh Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-pu-chia, Phó đại diện Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp Căm-pu-chia.

Huân chương Độc lập hạng nhất; Hai Huân chương Quân công hạng nhất; Một Huân chương Quân công hạng ba; Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Huân chương Bảo vệ Tổ Quốc hạng nhất của Nhà nước Cam-pu-chia.

Thiếu tướng (1979), Trung tướng (1984).


Ông quê ở xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Tháng 6 năm1945, ông là du kích tham gia đánh chiếm đồn huyện Chí Linh, Hải Dương. Trong Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia khởi nghĩa ở Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Pháp, ông trưởng thành từ tiểu đội phó đến Trưởng ban Tuyên huấn Đại đoàn 320.
 
Từ năm 1956 đến năm 1960, ông là giáo viên, sau đó là Chủ nhiệm khoa rồi Phó Chủ nhiệm Hệ Giáo dục chính trị Học viện Quân chính. Tháng 9 năm 1964, ông là Phó Tổng biên tập rồi Tổng biên tập Tạp chí Quân đội Nhân dân (tháng 3 năm 1970).
 
Tháng 7 năm 1977, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tháng 7 năm 1978, ông phụ trách cơ quan Tiền phương Tổng cục Chính trị trong chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến trường Căm pu chia. Tháng 2 năm 1979, ông kiêm thành viên cơ quan Tiền phương Bộ Quốc phòng. Tháng 3 năm 1981, ông là Phó Tư lệnh về Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-pu-chia, Phó Bí thư rồi Bí thư Ban cán sự, Uỷ viên Ban lãnh đạo Chuyên gia Việt Nam tại Căm-pu-chia. Năm 1988, ông là Phó đại diện Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp Căm-pu-chia.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng Đào Đình Luyện, Tổng Tham mưu phó, Thứ trưởng BQP
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Năm, 2008, 04:01:05 am
(http://img12.imageshack.us/img12/1332/daodinhluyen.jpg)

Thượng tướng Đào Đình Luyện (5/11/1929-3/8/1999) từng giữ các chức vụ: Phó chủ nhiệm chính trị rồi Tham mưu trưởng Đại đoàn 312, Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích 921, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Binh chủng Không quân, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân kiêm Tư lệnh và Chính uỷ Bộ tư lệnh Không quân, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Phó Chủ tịch Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam. Ngoài ra, ông còn từng là: Đại biểu Quốc hội các Khoá 7, 8, và 9. Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng Khóa 6 và 7.

Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất, hạng nhì; Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; Huy chương quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1977); Trung tướng (1983); Thượng tướng (1988).


Ông quê ở xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, tham gia hoạt động cách mạng tháng 3 năm 1945 tại địa phương. Tháng 8 năm 1945, ông vào bộ đội. Tháng 10 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ năm 1945 đến năm 1946, ông giữ các chức vụ: Phân đội phó, Chính trị viên trung đội Bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình. Từ năm 1947 đến năm 1952, ông là Chính trị viên Đại đội 247, Chính trị viên Tiểu đoàn 11 Đại đoàn 308, Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn. Tháng 3 năm 1953, ông là Phó chính uỷ rồi Chính uỷ Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 sau đó là Phó chủ nhiệm chính trị rồi Tham mưu trưởng Đại đoàn 312.

Từ tháng 2 năm 1956 đến tháng 1 năm 1964, ông được cử đi đào tạo phi công lái máy bay ném bom, sau học lái máy bay tiêm kích tại Trung Quốc. Tháng 2 năm 1964, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích 921. Tháng 4 năm 1966, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không - Không quân. Tháng 5 năm 1967, ông là Phó tư lệnh, tháng 10 năm 1969, ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Binh chủng Không quân, QCPKKQ. Tháng 3 năm 1974, ông là Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không- Không quân kiêm Tư lệnh và Chính uỷ Bộ tư lệnh Không quân, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng Phòng không không quân. Tháng 8 năm 1974, ông học tại Học viên Không quân Liên Xô.

Tháng 5 năm 1977, ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân  chủng Không quân, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng. Tháng 8 năm 1979, ông học bổ túc tại Trường Nguyễn ái Quốc. Tháng 1 năm 1981, ông là Tư lệnh Quân chủng Không quân. Tháng 8 năm 1982, ông học tại Học viện Vô-rô-xi-lốp Liên Xô. Tháng 12 năm 1983, ông là Tư lệnh Quân chủng Không quân.
 
Tháng 3 năm 1986, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 4 năm 1989, ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Tháng 9 năm 1991, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 12 năm 1995, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thôi giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
 
Ông là đại biểu Quốc hội khoá VII, khoá VIII, khoá IX. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), và lần thứ VII (6/1991), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 9 năm 1996, nghỉ hưu. Tháng 12 năm 1997, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Huỳnh Hữu Anh, Phó Tư lệnh Quân khu 5, Tư lệnh Mặt trận 579
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Năm, 2008, 04:25:43 am
(http://img811.imageshack.us/img811/1774/thieutuonghuynhhuuanhxd.jpg)

Thiếu tướng Huỳnh Hữu Anh (1921-1993) từng giữ các chức vụ: Tham mưu phó Quân khu 5, Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3, Phó Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận 579.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1983)


Ông quê ở xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Nhập ngũ năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946. Trong Kháng chiến chống Pháp ông trưởng thành từ cán bộ trung đội đến tiểu đoàn trưởng thuộc Bộ Tư lệnh Liên khu 5.

Trong Kháng chiến chống Mỹ: 1961 Tham mưu phó Quân khu 5, Từ tháng 9 năm 1965 đến năm 1974 là Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3. Từ năm 1975 đến năm 1987 là Phó Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận 579 (7.1981).


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Anh Đệ, Phó Tư lệnh QK1, 3, Tư lệnh Bộ đội Đặc công
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Năm, 2008, 01:22:02 am
(http://img100.imageshack.us/img100/1281/trungtuongnguyenanhdewm1.jpg)

Trung tướng Nguyễn Anh Đệ (Nguyễn Văn Tí; 1925-1985) từng giữ các chức vụ: Tham mưu phó Quân khu Hữu ngạn, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Quân khu 3, Phó Tư lệnh Mặt trận B5 - Quảng Trị, Tham mưu trưởng Quân khu 4, Tư lệnh Mặt trận B5, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận B5 (sau khi mở rộng), Phó Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn, Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu, Phó Tư lệnh Quân khu 3; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1, Tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh, Tư lệnh Binh chủng Đặc công. 

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng...

Trung tướng (1984)


Ông quê ở xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Tham gia Việt Minh từ năm 1942 ở Sơn Tây, Hà Nội, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945. Trong Kháng chiến chống Pháp (1946-1954): trưởng thành từ chiến sĩ đến trung đoàn trưởng.

Trong Kháng chiến chống Mỹ: Trưởng ban Tác chiến Khu 3 sau là Quân khu Hữu ngạn (1955). 1963-1968, Tham mưu phó Quân khu Hữu ngạn, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Quân khu 3. Tháng 4.1969, Phó Tư lệnh Mặt trận B5 Quảng Trị. Từ tháng 4.1970 đến 1971, Tham mưu trưởng Quân khu 4; Tư lệnh Mặt trận B5; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận B5 (sau khi mở rộng). 12.1972, Phó Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn. 3.1974, Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu.

1.1977, Phó Tư lệnh Quân khu 3; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1. Tháng 4.1979, Tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh. Tháng 5.1983, Tư lệnh Binh chủng Đặc công đến khi mất.


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Hòa, Trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Năm, 2008, 08:44:17 pm
(http://img714.imageshack.us/img714/777/trtnguyenhoa.jpg)

Trung tướng Nguyễn Hòa (1923-24.1.2001) từng giữ các chức vụ : Chỉ huy trưởng Mặt trận Bắc Quảng Bình, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Quảng Bình phụ trách Quân sự, Phái viên Bộ Tổng Tư lệnh rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Lào, Phụ trách Trường Quân chính Thượng Lào, Tham mưu trưởng rồi Đoàn trưởng Đoàn 959, Trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh 959, Phó Tư lệnh Binh đoàn 678. Ngoài ra, ông còn từng là Ủy viên (dự khuyết) Trung ương Đảng Khóa 5, 6.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến sỹ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng… Huân chương It-xa-la và ba Huân chương Xa-la-lợt do nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng.

Thiếu tướng (1983), Trung tướng (1989).


Ông quê ở xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, tham gia cách mạng từ tháng 8 năm1945, trưởng thành từ chiến sỹ tự vệ Sài Gòn đến Chỉ huy phó Mặt trận Chợ Cầu, rồi cán bộ Chi đội 12 Nam Bộ. Năm 1947, ông là Uỷ viên Quân sự xã, Chỉ huy Biệt động Khu huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt giữ các chức vụ: Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 247, Trung đoàn 18, Chỉ huy trưởng Mặt trận Bắc Quảng Bình, Uỷ viên Quân sự trong Uỷ ban Kháng chiến tỉnh Quảng Bình ; 1949, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 18, Liên khu 4 ; Cuối năm 1949, Trưởng đoàn cán bộ Liên khu 4 ra Việt Bắc và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ làm Phái viên Bộ Quốc phòng Tổng Tư lệnh sang công tác tại Mặt trận Tây Lào, làm Chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Lào ; 1952, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 83 tại Lào ; 1953, ông Phụ trách Trường Quân chính Thượng Lào.

1955, Chính uỷ Trung đoàn 83, Tham mưu trưởng Sư đoàn 335 ; 1959, ông là Tham mưu trưởng, Đoàn trưởng Đoàn 959 ; 1963-1969, Trưởng đoàn Chuyên gia Quân sự Việt tại Lào ; 1970, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Đoàn 959 ; 6.1978, Phó Tư lệnh Binh đoàn 678 ; 11.1980, Trưởng Đoàn chuyên gia Quân sự Việt tại Lào.
        
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 (1982) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 (1986), ông được bầu là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trung tướng Nguyễn Hòa về hưu tháng 1 năm 1996.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Đàm Văn Ngụy, Hiệu phó QS Trường SQ CTQS, Tư lệnh Quân khu 1
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Năm, 2008, 02:47:24 am
(http://img855.imageshack.us/img855/3338/trungtuongdamvannguy.jpg)

Trung tướng Anh hùng Đàm Văn Ngụy (1928) từng giữ các chức vụ : Đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân, Sư đoàn trưởng các Sư đoàn 1, 7 và 316, Phó Hiệu trưởng Quân sự Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự, Tư lệnh Quân khu 1.

Ngoài ra, ông còn từng là Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 6 và 7, Đại biểu Quốc hội Khóa 8 và 9.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (hạng Ba), Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng,…, Huân chương Tự do hạng Nhất do Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng.

Ông được tuyên dương Anh hùng năm 1956 khi đang là Đảng viên Tiểu đoàn phó Phụ trách Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 196, Đại đoàn 316, và Đảng viên.

Thiếu tướng (1980), Trung tướng (1984).


Trung tướng Đàm Văn Ngụy là người dân tộc Tày, sinh ra tại xã Minh Khai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, trong một gia đình Cách mạng. Sớm giác ngộ và tham gia Cách mạng, tháng 7 năm 1942, 14 tuổi đã làm liên lạc dẫn đường, tiếp tế nuôi cán bộ hoạt động bí mật ở địa phương. Nhiều lần ông cùng với du kích tham gia chiến đấu bảo vệ cán bộ, cõng những cán bộ đau ốm vào ẩn giấu trong rừng tránh bị càn bắt. Trước khi nhập ngũ và trở thành Đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân, ông đang là hội viên của Việt Minh tỉnh Cao Bằng.

Từ tháng 1 năm 1945 đến tháng 6 năm 1951, ông là Đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, là cán bộ tiểu đội, trung đội, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28, Trung đoàn 174, Cao Bắc Lạng, Lạng Sơn. Từ tháng 7 năm 1951 đến tháng 5 năm 1954, là Học viên Lục quân khoá 7, Đại đội phó, Đại đội trưởng Trung đoàn 176, Đại đoàn 316.

Tháng 5 năm 1945, Quân giải phóng đánh Đồn Pò Mã (Thất Khê), khi nổ súng bọn địch co vào lô cốt cầm cự. Đàm Văn Ngụy xung phong cùng hai ông khác tiến lên chọc thủng mái (bằng đất) ném lựu đạn vào, 30 tên địch hốt hoảng mang súng ra hàng.

Năm 1946, trong trận phòng ngự ở Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đàm Văn Nguy nhận nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội chiếm một mỏm núi ở đầu phố, chặn giữ địch cho các đơn vị và cơ quan rút ra ngoài. Một đại đội địch dùng hỏa lực mạnh vây xung quanh tiến công vào. Ông đã bình tĩnh chỉ huy tiểu đội đánh lui bốn đợt phản kích của địch, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho.

Cuối năm 1946, gần 1 tiểu đoàn địch bao vây trung đội ông ở Cơn Pheo (Lạng Sơn) Đàm Văn Ngụy nhận lệnh chỉ huy tiểu đội đánh cản địch và rút sau cùng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông dẫn tiểu đội vượt qua một cánh đồng tới chân núi thì bị hai đại đội địch chặn đường bao vây. Ông đã bình tĩnh chỉ huy tiểu đội bố trí, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên, giữ vững trận địa từ trưa đến tối, sau cùng chúng phải rút.

Tháng 4 năm 1947, đơn vị Đàm Văn Nguy phục kích đánh đoàn xe địch ở Bó Củng (Lũng Vài). Khi có lệnh, ông dẫn đầu tiểu đội xung phong nhảy lên xe thiết giáp địch, ném lựu đạn vào trong xe, diệt một số. Một tên lính nhảy ra, xông vào ôm chặt lấy ông, ca hai cùng lăn xuống đường vật lộn nhau, vừa lúc đó cả đơn vị đã kịp xông đến, dùng lựu đạn đánh xe, diệt và bắt bọn địch còn sống sót.

Tháng 8 năm 1949, đơn vị phục kích đoàn xe địch ở Lũng Vài. Khi đoàn xe 70 chiếc lọt vào trận địa, Đàm Văn Ngụy dẫn đầu trung đội xung phong, đánh chia cắt đội hình phía sau quân địch, diệt 20 tên, làm cho chúng rối loạn, tạo điều kiện cho đơn vị tiến công diệt nhiều xe và lính địch.

Tháng 1 năm 1953, đơn vị đang di chuyển đội hình để bao vây tiến công Nà Sản (Sơn La) thì bị một đại đội biệt kích địch bất ngờ đánh vào bộ phận quân y phía sau, rồi rút. Đàm Văn Ngụy là quản trị trưởng, đã nhanh chóng tập hợp và tổ chức anh em luồn rừng truy kích bọn địch hơn 6 tiếng đồng hồ, diệt 14 tên, bắn bị thương nhiều tên khác.

Thu Đông 1953-1954, Đàm Văn Ngụy chỉ huy đại đội đánh nhiều trận tiễu phỉ ở biên giới Việt - Lào, diệt được nhiều toán phỉ, bảo đảm an ninh biên giới. Ông còn lãnh đạo đơn vị vận động nhân dân trong 20 bản gọi được 70 con em theo phỉ trở về.

Từ tháng 6 năm 1954 đến tháng 2 năm 1957, ông là Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn 176, Sư đoàn 316 ; 3.1957 – 1.1960, Học viên Trường Trung cao Nam Kinh, Trung Quốc ; 2.1960 – 9.1965, Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng, Lữ đoàn 316, Sư đoàn 316.

Từ tháng 10 năm 1965 đến tháng 2 năm 1967, ông là Trung đoàn trưởng, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316; 3.1967 – 9.1973, Trung đoàn trưởng, Sư đoàn phó, sư đoàn trưởng, Sư đoàn 1 – Tây Nguyên, Sư đoàn 7 – Đông Nam Bộ; 10.1973 – 6.1976, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316, ông chỉ huy Sư đoàn vào giải phóng Buôn Mê Thuột, giải phóng Trảng Bàng, Củ Chi trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Từ tháng 7 năm 1976 đến tháng 12 năm 1977, ông là Phó hiệu trưởng quân sự Trường Sỹ quan Chính trị Quân sự ; 1.1978 – 3.1987, Phó Tư lệnh Quân khu 1 ; 4.1987 – 12.1996, Tư lệnh Quân khu 1. Trung tướng Đàm Văn Ngụy là Uỷ viên Trung ương Đảng Khóa 6, 7, Đại biểu Quốc hội Khóa 8, 9.

Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, AH. LLVT trong Kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Trung tướng Lê Linh, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 2, Viện phó Học viện QP
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Năm, 2008, 01:50:45 am
(http://img502.imageshack.us/img502/9679/trungtuonglelinh.jpg)

Trung tướng Lê Linh (Nguyễn Trung Hoài, 24.12.1925-14.6.1998) từng giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4, Chính ủy Sư đoàn 308, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 3, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận B3 – Tây Nguyên, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tây Bắc, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn, Chính ủy Mặt trận 31, Chính ủy (đầu tiên) kiêm Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 2, Phó Viện trưởng Học viện Quân sự Cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984).


Ông quê ở xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Tháng 10 năm 1944, ông tham gia hoạt động Cách mạng trong Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu ; 8.1945, Tiểu đội trưởng Tự vệ thành Hoàng Diệu, sau đó chuyển sang Vệ quốc đoàn ; 11.1945, Chính trị viên Đại đội Sơn Tây ; 12.1945, được kết nạp Đảng.

Từ tháng 5 năm 1946 đến năm 1949, ông lần lượt là Chính trị viên Tiểu đoàn, Trưởng ban Kiểm tra Đảng, Trưởng ban Chính trị Trung đoàn 148 Sơn La, Trung đoàn 209 Sông Lô ; 8.1950, Chính uỷ Trung đoàn 36, Trung đoàn 102 Sư đoàn 308 ; 8.1954, giảng viên trường Trung cao Quân sự.
        
Từ tháng 11 năm 1955 đến tháng 5 năm 1966, ông lần lượt giữ các chức vụ: Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu 4, Chính uỷ Sư đoàn 308, Chủ nhiệm chính trị Quân khu 3 ; 6.1966, Chủ nhiệm chính trị Mặt trận Tây Nguyên ; 3.1968, Chủ nhiệm chính trị Quân khu Tây Bắc ; 9.1970, Phó chính uỷ kiêm Chủ nhiệm chính trị Bộ tư lệnh Đoàn 559, 1971 - 1974, Phó chính uỷ, Chính uỷ Mặt trận 31 ; 4.1974, Chính uỷ Quân đoàn 2, Bí thư Đảng uỷ Quân đoàn, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
          
Tháng 8 năm 1979, ông được cử đi học tại Trường Đảng Nguyễn ái Quốc ; 2.1981, giữ chức Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) .Năm 1992, ông được Nhà nước và Quân đội cho nghỉ chữa bệnh, và mất năm 1998 tại Hà Nội.

Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Từ điển Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thượng tướng Lê Quang Hòa, Thứ trưởng BQP kiêm Tổng thanh tra QĐ
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Năm, 2008, 02:12:22 am
(http://img28.imageshack.us/img28/9370/trungtuonglequanghoa.jpg)

Thượng tướng Lê Quang Hòa (Lê Thành Kim, 2.2.1914-15.12.1993) từng giữ các chức vụ : Chính ủy Chiến khu 3, Bí thư Quân khu Ủy Liên khu 3, Chính ủy – Bí thư Mặt trận Trung Du, Cục trưởng Cục Quân huấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tổng Tham mưu, Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường Văn hóa Quân đội, Chính ủy – Bí thư Đảng ủy Trường Sĩ quan Lục quân, Chính ủy – Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy – Bí thư Đảng ủy Quân khu 4, Trưởng Đoàn Quân sự miền Bắc trong Ủy ban Quân sự 4 bên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm Chính ủy (đầu tiên) – Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 1, Phó Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam, Phó Chính ủy Chiến dịch Hồ Chí Minh, Bí thư Ban Cán sự Đảng trực tiếp tham gia chỉ huy cánh Đông, Phó Chủ nhiệm Chính trị chỉ đạo công tác phía Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh – Chính ủy Quân khu 4 kiêm Tổng Thanh tra Quân đội. Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốc hội Khóa 4.

Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1959), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1986).


Ông quê ở xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Được giác ngộ cách mạng từ sớm, năm 1938, được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Dân chủ thành Hoàng Diệu ; 6.1939, được kết nạp vào Đảng, 1939, bị thực dân Pháp bắt, kết án 5 năm tù, và giam tại các nhà lao: Hoà Bình, Hoả Lò,  Sơn La. Trong tù ông tích cực đấu tranh, được bầu vào Ban lãnh đạo, Ban Chi uỷ nhà tù ; 3.1945, Nhật đảo chính Pháp, lợi dụng cơ hội đó ông trốn thoát, về Sơn Tây bắt liên lạc với tổ chức, và được chỉ định vào Ban cán sự tỉnh, xây dựng phong trào, tổ chức lực lượng, lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở đây ; Cách mạng Tháng Tám thành công, ông là phái viên chính trị của Bộ Quốc phòng công tác Đệ tứ chiến khu Đông Triều.

Từ tháng 11 năm 1945 đến năm 1949, ông là Chính trị, Uỷ viên Bộ chỉ huy chiến khu 3, và là một trong những người thành lập chiến khu 3, được cử làm Bí thư Quân khu uỷ, Uỷ viên Thường vụ Liên khu uỷ ; 1949, Chính uỷ Mặt trận Trung Du, Bí thư Đảng uỷ Mặt trận ; 1950 - 1955, Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân huấn, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ cơ quan Bộ Tổng tham mưu.

Từ năm 1955 đến năm 1957, ông là Hiệu trưởng, kiêm Chính uỷ Trường Văn hoá Quân đội, kiêm Cục trưởng Cục Văn hoá ; 1957 - 1960, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam ; 1960 - 1963, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Từ năm 1963 đến năm 1967, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ cơ quan Tổng cục Chính trị ; 1967 - 1973, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Quân khu 4 ; 1973, Trưởng đoàn Quân sự miền Bắc trong Ban Liên hiệp quân sự bốn bên, sau đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, kiêm Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Quân đoàn 1 ; 1975, Phái viên của Thường vụ Quân uỷ Trung ương công tác tại Huế, Phó Chính uỷ Quân Giải phóng miền Nam, Uỷ viên Thường trực Quân uỷ Quân Giải phóng miền Nam, Phó chính uỷ chiến dịch Hồ Chí Minh, Bí thư Ban cán sự Đảng trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ huy cánh quân phía Đông.

Năm 1976, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chỉ đạo công tác phía ; 1977 - 1980, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu 4, kiêm Tổng Thanh tra quân đội. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tham khảo : Từ điển Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Đặng Ngọc Giao, nguyên Giám đốc Học viện Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Năm, 2008, 01:37:21 am
(http://img844.imageshack.us/img844/1984/dangngocgiao.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Đặng Ngọc Giao (Đặng Văn Giáo; 1929-1999) từng giữ các chức vụ: Cục phó Cục Hậu cần Quân khu 1, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Hậu cần. Ngoài ra, ông còn là: Nhà giáo Nhân dân (1997), Giáo sư (1991), và hoàn Tiến sĩ (1981)

Huân chương Quân công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến (chốn Pháp) (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1989)


Ông quê ở xã Lý Thường Kiệt, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, nhập ngũ năm 1946, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947. Từ năm 1946 đến 1950 ông lần lượt giữ các chức vụ: quản lí đại đội, chính trị viên trung đội, cán bộ địch vận tỉnh Thái Bình. 1950-1958, chính trị viên đại đội quân y, chính trị viên phó tiểu đoàn, phụ trách chính trị viên Ban hậu cần Trung đoàn 64, Trưởng Ban Giao tế Đoàn Pháo binh 305, quản trị trưởng Trường sĩ quan Pháo binh.

Từ năm 1958 đến 1967, giảng viên Hậu cần Trường trung cao Quân sự. 1967-1981, Trưởng phòng nghiên cứu biên soạn Trường sĩ quan Hậu cần, Trưởng đoàn đi thực tế ở Chiến trường Trị Thiên Huế (1968) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975).

Tháng 10.1981, Phó Giám đốc Học viện Hậu cần. 1.1985, Phó Cục trưởng Cục hậu cần Quân khu 1. Tháng 4.1986, Phó Giám đốc, 7.1988-1996, Giám đốc kiêm Bí Thư Đảng ủy Học viện Hậu cần.

Ông là chủ biên của 10 công trình khoa học cấp Học viện và Bộ Quốc phòng như: "Lí luận Hậu cần cấp chiến thuật", "Lí luận hậu cần cấp chiến dịch"...


Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Thế Trung, nguyên Giám đốc Học viện Quân y
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Năm, 2008, 01:48:15 am
(http://img696.imageshack.us/img696/7706/tuonglethetrungac1.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Anh hùng Lê Thế Trung (5.4.1928) từng giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Quân y Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Quân y 6, Viện trưởng Viện Quân y 103, Giám đốc Học viện Quân y.

Huân chương Quân công hạng nhì; Huân chương Chiến thắng hạng hai; Hai Huân chương Chiến công hạng nhất, hạng nhì; Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Giải thưởng Nhà nước Vì khoa học công nghệ; Được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu của năm 1969. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân năm 1978.

Phó Giáo sư (1981), Giáo sư (1984), Tiến sĩ (1975 tại Liên Xô), Tiến sĩ Khoa học (1986 tại Liên Xô), Tiến sĩ Khoa học các nền Y học cổ truyền (Côlômbô) năm 1995. Ông được phong Thầy thuốc Nhân dân.

Thiếu tướng (1988).


Ông quê ở xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, tham gia cách mạng ngày 15 tháng 8 năm 1945, tham gia khởi nghĩa cướp Chính quyền tại Hà Nội. Tháng 4 năm 1946, ông nhập ngũ học lớp Y tá của Cục Quân y. Từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 2 năm 1949, ông là Y tá Đại đội thuộc Trung đoàn 148 Sơn La. Từ tháng 3 năm 1949 đến tháng 2 năm 1951, ông học Trường Quân Y sỹ Việt Bắc. Từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 10 năm 1954, ông là Trưởng Ban Quân y Trung đoàn 209, Sư đoàn 312.

Từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 2 năm 1956, ông là Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 254, 53, Sư đoàn 350. Từ tháng 3 năm 1956 đến tháng 4 năm 1957, ông học lớp  Y sỹ cao cấp Trường Sỹ quan Quân y. Từ tháng 5 năm 1957 đến tháng 11 năm 1958, ông là Phó Chủ nhiệm Quân y Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Quân y 6. Từ tháng 12 năm 1958 đến tháng 7 năm 1961, ông là bác sỹ khoa ngoại giã chiến Viện Quân y 103.

Từ tháng 8 năm 1961 đến tháng 8 năm 1964, ông thực tập sinh tại Liên Xô. Từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 7 năm 1965, ông là Chủ nhiệm Khoa ngoại Viện Quân y 103. Từ tháng 8 năm 1965 đến tháng 2 năm 1966, ông công tác tại chiến trường Quân khu 5. Từ tháng 3 năm 1966 đến tháng 12 năm 1967, ông là Viện phó Viện Quân y 103. Từ tháng 1 năm 1968 đến tháng 5 năm 1968, ông là Trưởng đoàn Quân y đi phục vụ chiến dịch Khe Sanh. Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 6 năm 1972, ông là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 7 năm 1972 đến tháng 6 năm 1975, ông làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô.
 
Từ tháng 7 năm 1975 đến tháng 6 năm 1978, ông là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 7 năm 1978 đến tháng 5 năm 1979, ông học tại Trường Nguyễn Ái Quốc. Từ tháng 6 năm 1979 đến tháng 11 năm 1982, ông là Phó Viện trưởng Học viện Quân y, kiêm Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 11 năm 1984 đến tháng 2 năm 1986, ông thực tập sinh, làm tiến sỹ ở Liên Xô.

Từ tháng 3 năm 1986 đến tháng 7 năm 1986, ông là  Phó Viện trưởng Học viện Quân y. Từ tháng 8 năm 1986 đến tháng 5 năm 1988, ông là  Viện trưởng Học viện Quân y. Từ tháng 8 năm 1991 đến năm 1995, ông là Giám đốc Học viện Quân y, kiêm Biện trưởng Viện Bỏng lê Hữu Trác, là người sáng lập Viện Bỏng Quốc gia. Từ tháng 10 năm 1995 đến tháng 5 năm 2003, ông là Chuyên viên Học Viện Quân y, Viện Bỏng Lương Hữu Trác. Ông là chuyên viên, Chủ tịch Hội đồng ghép tạng, Hội đồng Y học thảm họa bỏng. Tháng 6 năm 2003, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Hiện nay, ông là Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư Hà Nội, Ủy viên Thường vụ Tổng hội Y dược học Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Hội Ngoại khoa Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Y học thảm họa bỏng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều lần ông đi chiến trường mổ cứu sống hàng trăm trường hợp vết thương hiểm nghèo, hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị cứu chữa thành công cho 80 thương binh bị suy mòn do bỏng gây ra. Ông là tác giả hơn 50 đề tài nghiên cứu y học có giá trị, phổ biến kịp thời phục vụ chiến đấu, giảm tỷ lệ tử vong.

Ông đào tạo và bồi dưỡng 32 bác sỹ có trình độ chuyên sâu về bỏng và xây dựng chuyên khoa bỏng ở tuyến điều trị cao nhất của quân đội. Ông đã nghiên cứu 50 loại cây thuốc chữa bỏng có giá trị, đặc biệt là thuốc chữa bỏng B76, được tặng thưởng huy chương trong nước và quốc tế. Ông đã hướng dẫn trên 20 luận án tiến sỹ, là Chủ tịch Hội đồng chấm luận án tiến sỹ, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu các công trình khoa học và  là tác giả của 40 đầu sách chuyên khoa và giáo khoa (có 2 đầu sách xuất bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp); là đồng tác giả của 110 đầu sách khoa học, là tác giả của 75 báo cáo khoa học đã được đăng trong các tạp chí trong nước và nước ngoài, là Chủ nhiệm 6 đề tài khoa học cấp bộ, 3 đề tài khoa học cấp nhà nước, được bằng sáng chế độc quyền 15 năm về công trình thuốc Phêlamin, đã báo cáo khoa học 12 lần ở nước ngoài và 6 lần ở Hội nghị quốc tế và trong nước. Đã 7 lần là Chủ trì Tổ chức Hội nghị quốc tế trong nước. Được Hội đồng quốc tế công nhận là chuyên viên quốc tế; được tổ chức Y tế thế giới và khu vực mời 3 lần làm tư vấn khoa học trong các hội thảo quốc tế; Tổ chức và chỉ đạo thực hiện những ca ghép thận đầu tiên và trong 10 năm từ năm 1992 đến năm 2003, đã tham gia hàng trăm ca ghép thận và mới đay tham gia ghép gan thành công.


Tiêu đề: Thiếu tướng Võ Đông Giang, nguyên quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Năm, 2008, 12:55:25 am
(http://img10.imageshack.us/img10/6770/vodonggiang.jpg)

Thiếu tướng Võ Đông Giang (tên thật: Phan Bá; 1923-1/2/1988), nguyên Phó trưởng đoàn quân Giải phóng miền Nam tại Ban liên hiệp quân sự 4 bên và 2 bên ở Tân Sơn Nhất (05/1965 - 05/1975); Trưởng đoàn Đại diện Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp Tây Nguyên, cán bộ nghiên cứu Ban thi hành Hiệp định đình chiến Trung ương.

Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất và hạng Nhì; Huy chương "Vì Sự nghiệp Ngoại giao Việt Nam"; Huân chương Hữu nghị của các nước Liên Xô (cũ), Lào, Cuba, Tiệp Khắc; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Ông quê ở xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Từ 3.1945 đến 6.1947, hoạt động Việt Minh ở Gia Lai, Uỷ viên BCH Việt Minh tỉnh Gia Lai, Phó Chủ tịch UBHC tỉnh Gia Lai. Từ 07/1947 đến 1949, Tỉnh uỷ viên lâm thời, Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Gia Lai. Ông là Uỷ viên Ban tuyên huấn, Phó Văn phòng Liên khu uỷ Liên khu 5, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Gia Lai-Kon Tum, Trưởng ban chính trị Trung đoàn 120 (1950-1954).

Từ 7.1954 đến 1957, ông là Trưởng đoàn Đại diện Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp Tây Nguyên, cán bộ nghiên cứu Ban thi hành Hiệp định đình chiến Trung ương. 1958-1963, Trưởng phòng rồi Phó vụ trưởng Ban Thống nhất Trung ương. Từ 07/1963 - 04/1965, ông là Trưởng đoàn Đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Cu-ba. Từ 05/1965 đến 05/1975 là Vụ trưởng Ban thống nhất Trung ương, Uỷ viên Ban cán sự CP 72, Phó trưởng đoàn quân Giải phóng miền Nam tại Ban liên hiệp quân sự 4 bên và 2 bên ở Tân Sơn Nhất.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông là Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (08/1976 - 12/1977); Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (12/1977- 04/1983); Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại Cộng hoà Nhân dân Căm-pu-chia (03/1979 - 11/1979); Bộ trưởng tại Bộ Ngoại giao (04/1983)với vai trò Ủy viên Ban cán sự Đảng Bộ Ngoại giao, Ủy viên Ban cán sự Đảng ở nước ngoài; Chủ tịch Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam (07/1981 -05/1987)

Sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng ở Bộ Ngoại giao, ông là Bộ trưởng - Chủ nhiệm Uỷ ban Quan hệ Kinh tế với nước ngoài (03/1987 - 03/1989) rồi Bộ trưởng - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (1989 - 1993).



Tiêu đề: Trung tướng Trần Quyết, Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an Vũ trang (BĐBP)
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Năm, 2008, 12:18:55 am
(http://img18.imageshack.us/img18/8921/trttranquyet.jpg)

Trung tướng Trần Quyết (Phạm Văn Côn, 12.2.1922-0h39’ 1.3.2010) từng các giữ chức vụ : Ủy viên Quân sự tỉnh Hà Nam, Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an Nhân dân Vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Thứ trưởng Bộ nội vụ (nay là Bộ Công an), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương các Khóa 4, 5, Bí thư Trung ương Đảng Khóa 6, Đại biểu Quốc hội Khóa 8.

Huân chương Sao vàng (2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất… Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Trung tướng (1977 trong đợt phong tướng đầu tiên của Công an).


Ông sinh tại thôn Ngọc Động, xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Sớm giác ngộ Cách mạng, năm 1940, 18 tuổi, ông tham gia hoạt trong Đoàn Thanh niên phản Đế. Năm 1942, ông bị bắt, giam tại căng Bá Vân (Thái Nguyên) và được kết nạp Đảng tại đây (4.1943). Cuối năm 1944, ông cùng nhiều bạn tù bị chuyển về giam tại căng Nghĩa Lộ (Yên Bái).

Tháng 3 năm 1945, ông tham gia phá căng Nghĩa Lộ, giết cai ngục trở về với Cách mạng. Việc không thành, tù nhân bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, 7 người tham gia cùng ông hy sinh, ông may mắn được đồng bào địa phương giúp đỡ, che chở cho nên thoát khỏi vòng vây. Người cứu ông là một bà mẹ nghèo ở huyện Văn Chấn, tên là Thanh. Chính bà đã chấp nhận tội chém đầu và nhường cơm cho ông, một người tù cộng sản.

Ra khỏi trại giam, ông về Hà Nam, tiếp tục hoạt động và được bầu làm Uỷ viên Ban Cán sự Lâm thời tỉnh Hà Nam phụ trách quân sự (4.1945), tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành chính quyền tại đây (8.1945) rồi tham gia Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Hà Nam tiếp tục phụ trách quân sự. Năm 1946, ông được điều lên Sơn La, làm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh này, rồi Bí thư Tỉnh ủy (1947).

Năm 1948, ông là Ủy viên Khu ủy Khu 14, rồi Ủy viên Khu ủy Việt Bắc sau khi sáp nhập 2 Khu 10 và 14 ; 1952, khi Trung ương quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc, lập Khu ủy Tây Bắc, ông được cử lên Sơn La làm Bí thư Tỉnh ủy Sơn La và tham gia Khu ủy Tây Bắc ; 1953, Khu ủy viên, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc, tham gia chỉ đạo bảo vệ an ninh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1955, ông là Thường vụ Khu ủy, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc ; 1958 Phó Bí thư Khu ủy, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc, 1963, được điều về Bộ Công an làm Cục trưởng Cục Bảo vệ Nội bộ ; 1967, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ; 1967 – 1974, Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Nội vụ.

Tháng 12 năm 1976 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ ; 1977, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang (nay là Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng), được phong quân hàm Trung tướng trong đợt phong tướng đầu tiên của Lực lượng Công an.

Tháng 3-1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5, ông tiếp tục được bầu lại làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ ; 12.1986 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6,được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng ; 6.1987 – 10.1992, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Trung tướng Trần Quyết là đại biểu Quốc hội Khóa 8 cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1992.

Trung tướng Trần Quyết tuy là một vị tướng khai quốc công thần của Lực lượng Công an Nhân dân, nhưng có một thời gian ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an vũ trang (tức Bộ đội Biên phòng) cho nên xin phép được đưa tiểu sử của ông vào mục này.


Tiêu đề: Thiếu tướng Cao Pha, vị tướng chỉ huy quân báo
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Năm, 2008, 12:45:34 am
(http://img696.imageshack.us/img696/264/thieutuongcaopha.jpg)

Thiếu tướng Cao Pha (?-2006), nguyên Viện phó Viện lịch sử Quân sự Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng; Cục phó Cục Quân báo kiêm Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công (khi mới thành lập).

Thiếu tướng Cao Pha tên thật là Nguyễn Thế Lương quê ở xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Bố của ông, ông Nguyễn Hoàng, vốn làm nghề thầu khóan các công trình xây dựng khắp ba nước Đông Dương, cho nên ông từng theo cha ông sinh sống ở nhiều nơi. Thuở nhỏ ông theo học ở Phnôm Pênh nơi bố ông cai thầu xây dựng đường (nghề lục lộ). Khi bố ông chuyển về Nha Trang nhận cai thầu xây dựng tuyến đường sắt thì ông theo học ở trường Quốc học Huế. Học xong tú tài, ông ra Hà Nội và được học bổng của trường Nông Lâm.

Là một thanh niên yêu nước, tại Hà Nội, ông tích cực tham gia các phong trào của Tổng hội sinh viên, Hội truyền bá quốc ngữ. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, tháng 3 năm 1945, ông cùng một đoàn sinh viên vào Huế rồi vào học trong Trường thanh niên tiền tuyến và hoạt động trong tổ chức Việt Minh của trường.

Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thành công tại Hà Nội, ngày 21/8 ông cùng các ông Đặng Văn Việt và Nguyễn Kèn được cử đi hạ cờ quẻ ly của Bảo Đại và treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ trước cồng Ngọ Môn Huế rồi đi cùng đoàn đưa Vĩnh Thụy (tên thật của Bảo Đại) ra Hà Nội do Bộ trưởng Lê Văn Hiến làm trưởng đoàn. Quay trở về Huế, ông nhận nhiệm vụ Trưởng ban tình báo Thừa Thiên Huế, Trưởng ban tình báo Phân khu Trị Thiên Huế rồi Trưởng ban tình báo Khu 4. Sau đó, ông được điều ra Hà Nội lên Sơn Pháp làm cán bộ huấn luyện cho trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến (12/1946), ông được điều làm Tiểu đoàn trưởng tham gia chiến đấu tại Sơn La. Theo yêu cầu của công việc, trong thời gian chiến đấu ở Sơn La ông đổi tên thành Cao Pha (tên một ngọn núi ca giáp ranh giữa Sơn La và Lai Châu) và được cử làm Trưởng ban Quân báo trong Chiến dịch Biên giới 1950. Cũng trong chiến dịch Biên giới, ông nhận nhiệm vụ từ Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chọn địa điểm và tháp tùng Bác trực tiếp đi thị sát trận địa ở gần sở chỉ huy Nà Lạng.

Sau Chiến dịch Biên giới, ông tiếp tục phụ trách quân báo trong các chiến dịch quan trọng khác như : Trung du, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Hòa Bình, Pháp Bắc, Thượng Lào và đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ (mật danh Trần Đình).
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được cử đi học tập tại Liên Xô. Về nước, giữa năm 1966 chủ tịch Hồ Chí Minh và quân uỷ trung ương đề cập tới vấn đề thành lập binh chủng đặc công. Cuối năm 1966 Cao Pha và ông Nguyễn Cụ (cán bộ đặc công miền Nam cử ra) được chỉ thị đến gặp chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo tình hình xây dựng lực lượng và hoạt động chiến đấu của bộ đội đặc công trên các chiến trường miền Nam.

Sau đó tháng 2-1967 Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập binh chủng Đặc công.  Ngày 19-3-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng và Chính phủ đến thăm bộ đội  đặc công, công nhận bộ đội Đặc công chính thức là một binh chủng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thượng tá Cao Pha được quyết định là Phó tư lệnh binh chủng đặc công đồng thời vẫn ở cương vị  Cục phó Cục Tình báo nên có thuận lợi nắm chắc tình hình địch trên chiến trường góp phần cùng bộ đội đặc công đánh thắng trong các trận mật tập vào các căn cứ quan trọng đầu não của địch ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Cam Ranh, Đông Hà, Cửa Việt... trong kháng chiến chống Mỹ.

Năm 1975 Cao Pha được điều về Ban Tổng kết chiến tranh của Quân uỷ Trung ương do Đại tướng Hoàng Văn Thái trực tiếp phụ trách. Năm 1981 ông nhận quyết định làm Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Bộ Quốc phòng. Do có nhiều công trình xứng đáng ông được Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư. Thiếu tướng Phó Giáo sư Cao Pha về hưu năm 1983.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, những thông tin chính xác của quân báo do ông chỉ huy về tình hình quân Pháp là một trong những căn cứ quan trọng để Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển đổi phương châm của chiến dịch.


Tiêu đề: Trung tướng Lê Hiến Mai, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Năm, 2008, 02:01:11 am
(http://img202.imageshack.us/img202/1646/trungtuonglehienmai.jpg)

Trung tướng Lê Hiến Mai (1918-1992), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Thương binh và Xã hội), Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Điện lực. Ông là một trong các tướng được phong quân hàm trong đợt đầu (1948).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...

Thiếu tướng (1948 trong đợt phong quân hàm tướng đầu tiên), Trung tướng (1974).


Ông tên thật là Dương Quốc Chính; quê xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây, tham gia cách mạng từ năm 1939. Năm 1940, là thư ký Ban chấp hành Đoàn Thanh niên phản đế tỉnh Sơn Tây. Từ 1941 đến 1944, bị thực dân Pháp bắt giam và đày đi tù ở nhiều nơi. Tháng 8.1944, ông vượt ngục, tham gia Cứu quốc quân, lấy bí danh Lê Hiến Mai, giữ chức Ủy viên phân khu ủy Phân khu Tuyên - Thái; Phái viên chính trị Giải phóng quân phụ trách Mặt trận Sầm Nưa, Xiêng Khoảng (Lào); Chính trị viên, Bí thư trung đoàn ủy.

3.1946, Chính ủy, kiêm Tham mưu trưởng, Bí thư quân khu ủy Chiến khu 2, kiêm Chính ủy Trường bổ túc quân sự ủy viên hội. Từ 2.1947 đến 949, lần lượt giữ các chức vụ Chính ủy Mặt trận Tây Tiến, Liên khu 1, Bộ Tư lệnh Nam Bộ, kiêm Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. 1953, à Tư lệnh, Bí thư quân khu ủy Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc làm Chính ủy, Bí thư đảng ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh (1958).

Tháng 7.1960, ông làm Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Điện lực rồi Bộ Nông nghiệp. Tháng 4.1965, là Chính ủy, Bí thư đảng ủy Quân khu 4, Ủy viên Quân ủy Trung ương. Năm 1967, ông làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương, kiêm Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự; từ tháng 6 năm 1971: kiêm Bộ trưởng, Bí thư đảng đoàn Bộ Nội vụ (sau đổi là Bộ Thương binh và Xã hội).

Năm 1976, ông làm Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Điều tra tội ác chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Năm 1982, là Chủ nhiệm Ủy ban Y tế - Xã hội của Quốc hội, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Điều tra tội ác chiến tranh xâm lược. Năm 1990, ông làm Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Trung tướng Lê Hiến Mai là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III và IV; đại biểu Quốc hội các khóa III, V, VI và VII.


Tiêu đề: Trung tá Đặng Văn Việt, Đệ tứ quốc lộ đại vương
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Năm, 2008, 03:29:33 am
(http://img69.imageshack.us/img69/5082/daitadangvanvietjl1.jpg)

Trung tá Đặng Văn Việt sinh năm 1920 tại Nghệ An trong một gia đình khoa bảng có ông nội và bố đỗ đạt cao từng làm quan dưới triều Nguyễn. Ông nội ông là cụ Đặng Văn Thụ đỗ Hoàng giáp năm 1904, từng giữ chức Tế tửu Quốc tử giám Huế  (giống như Hiệu trưởng Đại học quốc gia ngày nay). Bố ông là cụ Đặng Văn Hướng, đỗ Phó bảng năm 1919 từng giữ chức Thị lang ở Bộ công, Tham tri Bộ hình ở Huế, rồi Bộ trưởng trong Chính phủ Trần Trọng Kim. Sau cách mạng cụ Hướng được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm Bộ trưởng không bộ phụ trách ba tỉnh khu Bốn là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Gia đình ông cao sang bậc nhất 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Gia đình bên ngoại ông giàu nhất nhì Hà Nội thời bấy giờ.

Ông nói thành thạo tiếng Pháp tiếng Anh và đọc được cả 2 cổ ngữ là chữ La tinh, và chữ Gréc. Ông từng học Quốc học Huế, sau khi đỗ tú tài toàn phần ông ra Hà Nội học ở Trường Y nhưng chưa tốt nghiệp thì Nhật đảo chính Pháp. Trường Y phải đóng cửa, ông quay trở vào Huế học lớp Thanh niên tiền tuyến (tên gọi đầy đủ là Trường võ bị thanh niên tiền tuyến). Đây là một ngôi trường tuy được thành lập bởi chính phủ Trần Trọng Kim nhưng lại do những trí thức yêu nước lãnh đạo như các ông Tạ Quang Bửu, Phan Anh. Học viên của trường nhiều người sau này trở thành Bộ trưởng rồi tướng lĩnh trong Quân đội Nhân dân Việt Nam (xem bài viết về Trung tướng Cao Văn Khánh-vị tướng tham mưu). Từ một thanh niên yêu nước, được giác ngộ ông tham gia vào tổ chức Việt Minh bí mật trong lớp học.

Trong không khí cách mạng tháng Tám của cả nước, ngày 20/8/1945 ông được ông Trần Hữu Dực khi đó là Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế giao cho lá cờ đỏ sao vàng và nhiệm vụ treo nó lên cột cờ trước Ngọ Môn thay cho lá cờ ba que cung quẻ ly của triều đình nhà Nguyễn cùng với các ông Lâm Kèn (Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm), Nguyễn Thế Lương (Thiếu tướng Cao Pha). Sau đó, ông được chỉ định làm Phân đội trưởng Phân đội 1 (gồm 36 người) của Giải phóng quân, trấn giữ tại cửa Thuận An. Tại đây, ông đã chỉ huy bao vây chiếc tàu đầu tiên của Pháp định quay lại chiếm Huế, bắt sống một số tên trong đó có tên quan ba là Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn do Tướng Alessandri chỉ huy…

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông là: Chỉ huy trưởng mặt trận đường số 9 (Hạ Lào 1945). Chỉ huy mặt trận đường số 7(Thượng Lào 1946). Sau đó, ông được điều ra Việt Bắc làm lãnh đạo Ban nghiên cứu trực thuộc Bộ Tổng tham mưu rồi Trung đoàn trưởng E174 là một trong 2 Trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam(Đại tướng Chu Huy Mân thời đó làm chính uỷ) tham gia các chiến dịch Biên Giới ( 1950 ), chiến dịch Tây Bắc (1952), chiến dịch Hoà Bình, phá huỷ căn cứ đồng bằng Bắc bộ của quân Pháp (1952)...và đặc biệt là chỉ huy trưởng mặt trận đường số 4 oai danh lừng lẫy đến nỗi được nhân dân Cao-Bắc-Lạng tụng xưng là Đệ tứ quốc lộ Đại Vương và quân đội Pháp khiếp hãi gọi ông là : Con hùm xám đường số 4.

Sau năm 1954, ông về giảng dạy ở Trường sĩ quan lục quân. Năm 1960 ông được điều sang làm Cục phó Cục Vật liệu xây dựng, rồi Cục phó Cục Xây dựng cơ bản thuộc ngành Thủy sản đến khi nghỉ hưu.

Vào tuổi 65 ông bắt đầu đến với sự nghiệp văn chương. Sau gần 10 năm chuẩn bị công phu, tác phẩm đầu tay “Đường số 4 rực lửa” được độc giả trong, ngoài nước đón nhận biết bao trân trọng, Bộ văn hóa - Thông tin trao giải thưởng văn học toàn quốc hạng A vào năm 1999.


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Công Mân, cây bút chính luận sắc sảo
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Năm, 2008, 02:23:27 am
(http://img696.imageshack.us/img696/1438/thttrancongman.jpg)

Thiếu tướng Trần Công Mân (1925(?)-3.1998), nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân, Chính ủy Trường sĩ quan Công binh, Chủ nhiệm Chính trị Cục công binh.

Ông sinh ra tại làng Long Trì, xã Kỳ Phú, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình cha là nhà nho, mẹ làm ruộng. Ông nội ông là anh em ruột với ông Trần Cung (tức Đội Cung), người lãnh đạo cuộc binh biến Đô Lương. 1939-1943, ông theo học trung học phổ thông tại trường tư thục Chính Hóa, thành phố Vinh (Nghệ An).

Lớn lên gặp đúng lúc Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, ông lập tức tham gia  lực lượng Giải phóng quân địa phương. Tới tháng 11/1945, được phân công phụ trách chính trị trong lực lượng Giải phóng quân Hà Tĩnh. Tháng 12/1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương...

Tháng 12/1947, Trần Công Mân được cử làm chính trị viên Tiểu đoàn 675, thuộc Sư đoàn 351. Tiếp theo, sau một thời gian giữ cương vị Quyền Tỉnh đội trưởng tỉnh Thanh Hóa, tới tháng 6/1952, ông được cử làm Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 675 thuộc Sư đoàn 351. Rồi tới tháng 3/1953, ông được phân công phụ trách chính trị Trung đoàn 151 thuộc Sư đoàn 351. Đơn vị công binh của ông từng tham gia mở đường thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lập thành tích xuất sắc. Rồi ông trở thành Chủ nhiệm chính trị Cục Công binh Quân đội nhân dân Việt Nam từ tháng 11/1955. Tháng 9/1959, ông làm Chính ủy Trường Sĩ quan công binh...

Tháng 11.1964, ông được cử sang làm Phó Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân. 1989, ông rời báo QDND ở cương vị Tổng biên tập và lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Hội nhà Báo Việt Nam.

Thiếu tướng Trần Công Mân là một trong những cây bút chính luận xuất sắc nhất của báo chí Việt Nam từ trước đến nay. Ông viết nhanh, viết khỏe, có chiều sâu lí luận sắc sảo và bám sát với thực tế đời sống chính trị, xã hội của đất nước. Cùng với nhà báo Trần Đình Bá làm lên một thời kì hoàng kim nhất của Báo Quân đội Nhân dân từ trước tới nay.


Tiêu đề: Hoàng Đình Giong, người chỉ huy Nam tiến
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Năm, 2008, 02:26:50 am
(http://img76.imageshack.us/img76/3/tuonghoangdinhgiongfm7.jpg)

Hoàng Đình Giong (Văn Tư, Vũ Đức; 1.6.1904-1947), Liệt sĩ, nguyên: Khu trưởng Khu 9, Tư lệnh Khu 6, Chỉ huy trưởng Đoàn quân Nam tiến. 

Huân chương Hồ Chí Minh


Ông sinh ngày 01/6/1904, tại làng Nà Toàn, xã Đề Thám, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng (nay thuộc Thị xã Cao Bằng). Những năm 1924-1926, ở Cao Bằng đã bắt đầu xuất hiện các hội đánh Tây ở Hoà An, sau đó lan sang Hà Quảng, điều này ảnh sớm ảnh hướng đến tư tưởng của Hoàng Đình Giong, khi đó đang theo học tại Trường Bách nghệ ở Hà Nội.

Ông đã tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của thanh niên trí thức tham gia phong trào bãi khoá tại Hà Nội và truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Sau khi bị thực dân Pháp đuổi học, ông trở về quê hoạt động cách mạng và cùng một số đồng chí của mình tổ chức tuyên truyền tư tưởng yêu nước tại một số huyện trong tỉnh.

Năm 1927, ông quyết định ra nước ngoài hoạt động. Năm 1928, ông được kết nạp vào tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Sau khi tiếp thu con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền bá về nước, Hoàng Đình Giong ra sức xây dựng cơ sở Hội ở Cao Bằng, tuyên truyền đường lối cách mạng đến với nhân dân các dân tộc trong tỉnh và dẫn dắt phong trào cách mạng Cao Bằng phát triển.

Tháng 12/1929, ông được kết nạp vào Đảng và được bầu làm Bí thư Chi bộ Long Châu gồm 3 người Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn. Năm 1930, ông cử ông Hoàng Văn Nọn về Cao Bằng phát triển Đảng. Ngày 01/4/1930 tại Khe suối Nặm Lìn thuộc xã Hoàng Tung (huyện Hoà An), ông Nọn tổ chức kết nạp 2 ông Nông Văn Đô và Lê Đoàn Chu vào Đảng và thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở Cao Bằng do Hoàng Văn Nọn làm bí thư. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hoàng Đình Giong cơ sở Đảng, phong trào cách mạng ở Cao Bằng tiếp tục phát triển. Nhận thức rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của báo chí trong sự nghiệp cách mạng, ông đã chỉ đạo Đảng bộ Cao Bằng xuất bản tờ báo “Cờ đỏ” để tuyên truyền cách mạng, giác ngộ quần chúng.

Thực hiện sự phân công của Ban lãnh đạo Hải Ngoại, đầu năm 1934, Hoàng Đình Giong được giao nhiệm vụ, bí mật xuống Hải Phòng, Hòn Gai (tỉnh Quảng Ninh ngày nay) hoạt động với cương vị là uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, góp phần khôi phục, củng cố lại tổ chức Đảng và quần chúng, chắp nối liên lạc giữa Đảng bộ Hải Phòng với Xứ uỷ. Với những hoạt động liên tục trong những năm 1932-1935, Hoàng Đình Giong đã có nhiều đóng góp trong việc chắp nối các mối liên lạc với các cơ sở Đảng ở Bắc kỳ.

Với những đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, tại Đại hội Đảng lần thứ nhất (họp tại Ma Cao, Trung Quốc) cuối tháng 3 năm 1935, Hoàng Đình Giong được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1936, ông được phân công trở lại vùng Duyên Hải (Hải Phòng, Quảng Ninh) để hoạt động nhằm củng cố đường dây liên lạc từ nước ngoài về nước chỉ đạo phong trào đấu tranh cách mạng.

Tại Hải Phòng, ông bị thực dân Pháp theo dõi và bị bắt ngày 04/02/1936, đưa về Cao Bằng xét xử và kết án 5 năm tù và ông lần lượt bị giam cầm ở các nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Bắc Mê, sau đó Hoàng Đình Giong cùng 8 đồng chí của ông bị đày đi đảo Nô-si-la-va ở Mađagatsca (một thuộc địa của Pháp ở châu Phi). Sau khi trở về Ấn Độ, ông đã cùng các ông Lê Giản, Dương Công Hoạt và Hoàng Hữu Nam được không quân Anh chở máy bay nhảy dù xuống Cao Bằng. Trở về Tổ quốc, Hoàng Đình Giong tích cực hoạt động và có nhiều đóng góp trong tổ chức lãnh đạo lực lượng vũ trang Cao Bằng tiến tới thắng lợi của cách mạng Tháng Tám 1945.

Thực hiện chủ trương tập trung sức người, sức của chi viện cho miền Nam Hoàng Đình Giong và chi đội giải phóng quân của tỉnh Cao Bằng đã lên đường vào Nam cùng đồng bào Nam bộ kháng chiến chống thực dân Pháp. Hoàng Đình Giong được cử giữ chức chỉ huy trưởng đoàn quân Nam Tiến và được đổi tên là Võ Văn Đức. Sau đó là khu trưởng khu 9. Tháng 11/1946, ông được lệnh ra Bắc, ra đến Ninh Thuận lại được Ủy ban kháng chiến miền Nam chỉ định làm Tư lệnh khu 6. Tại đây, ông đã họp hai ban chỉ huy Trung đoàn 81, 82 và cán bộ trong khu để nhận định tình hình trên chiến trường cực Nam Trung Bộ, từ đó đề ra chủ trương: Củng cố chính quyền và đoàn thể quần chúng; phát động chiến tranh du kích; vạch ra các kế hoạch hỗ trợ tổ chức giao thông liên lạc, thông tin thông suốt; …công tác đang tiến triển thì vào khoảng giữa tháng 5/1947, Pháp tấn công bất ngờ vào chiến khu 7, ông đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hi sinh.


Hoàng Đình Giong là một trong những người cộng sản có công trong việc chèo lái con thuyền cách mạng của Việt Nam ngay từ khi Đảng CS Việt Nam chưa được thành lập, người cộng sản đầu tiên của Cao Bằng và là một trong những nhà chỉ huy quân sự của Đảng từ những ngày tiền khởi nghĩa và trong thời điểm sơ khai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Tiêu đề: Trung tướng Trần Độ, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Sáu, 2008, 02:49:33 am
(http://img212.imageshack.us/img212/8533/trungtuongtrandont0.jpg)

Trung tướng Trần Độ (Tạ Ngọc Phách; 23.09.1923-09.08.2002), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Chính ủy kiêm Phó Bí thư Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính ủy Quân khu Tả Ngạn, Chính ủy Mặt trận Hà Nội (1946).

Thiếu tướng (1958), Trng tướng (1974).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất...


Ông quê ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong một gia đình công chức thời Pháp. Năm 1939, ông tham gia làm báo "Người Mới" ở Hà Nội. Cùng năm này ông bị thực dân Pháp bắt nhưng không có đủ chứng cứ nên ông được thả. Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1941, ông lại bị bắt và bị kết án 15 năm tù giam lần lượt tại Hỏa Lò (Hà Nội) rồi Sơn La. Năm 1943, ông trốn thoát thành công trên đường giải ra Côn Đảo và tiếp tục hoạt động cách mang. Trong cách mạng tháng 8, ông lãnh đạo giành chính quyền ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12.1946), ông là Chính ủy Mặt trận Hà Nội. Năm 1950, ông làm chính ủy Trung đoàn Sông Lô, rồi Chính ủy Đại đoàn 312. Năm 1955, ông là Chính ủy Quân khu Tả ngạn. Năm 1958 ông được phong quân hàm Thiếu tướng.

Bước vào thời kì kháng chiến chống Mỹ, cuối năm 1964, với bí danh Chín Vinh ông vào Nam chiến đấu và giữ chức Phó Chính ủy và Phó Bí thư Quân ủy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 3 năm 1974, ông được phong hàm Trung tướng.

Đất nước hoàn toàn thống nhất, từ năm 1974 đến năm 1976, ông giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Sau đó chuyển ngành giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Văn hóa kiêm Phó Ban Tuyên huấn Trung ương phụ trách văn hóa văn nghệ. Khi Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương được thành lập (1981), ông giữ chức Trưởng Ban kiêm Thứ trưởng Bộ Văn hóa.

Ông còn làm Phó Chủ tịch Quốc hội khóa 7, Chủ nhiệm Ủy ban văn hóa và giáo dục của Quốc hội, ủy viên Hội đồng Nhà nước (1989-1992). Ông cũng là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa 3 (dự khuyết từ năm 1960 đến năm 1972), 4, 5, 6 (1960-1991).

Do những chỉ trích đường lối của Đảng, ông bị khai trừ Đảng, mất quân hàm tướng. Gần đây, cuốn sách về ông do nhà văn Võ Bá Cường được nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành tại Việt Nam.



Tiêu đề: Thượng tướng Chu Văn Tấn, Hùm xám Võ Nhai
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Sáu, 2008, 03:05:52 am
(http://img206.imageshack.us/img206/1166/tuongchuvantandf7.jpg)

Thượng tướng Chu Văn Tấn (bí danh: Tân Hồng; 1910-1984), nguyên: Chính ủy kiêm Bí thư khu ủy Quân khu Việt Bắc; Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Liên khu Việt Bắc, Chánh án Tòa án Quân sự, Bộ trưởng Quốc phòng, Chỉ huy Chiến khu Hoàng Hoa Thám.

Thiếu tướng (1948), Thượng tướng (1959)

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Quân công hạng Ba, Chiến thắng hạng Nhất, Kháng chiến hạng Nhất...


Ông người dân tộc Nùng, quê xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Lúc còn trẻ, một thời gian ông đi lính cho Pháp. Năm 1934, giác ngộ cách mạng tham gia chỉ đạo chiến tranh du kích ở Tràng Xá, Võ Nhai, Bắc Sơn. Năm 1936, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 2 năm 1941, ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ, tham gia thành lập và chỉ huy Đội du kích Bắc Sơn. Tháng 9 năm 1941, đội Du kích phát triển thành 2 đội, ông là Trung đội trưởng Cứu quốc quân 2. Năm 1944, ông chỉ huy Cứu quốc quân 2 cùng Chiến khu Hoàng Hoa Thám.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Ban lãnh đạo tổng khởi nghĩa. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ lâm thời từ cuối tháng 8 năm 1945 đến ngày 2 tháng 3 năm 1946. Sau đó ông được cử là phái viên của chính phủ đi kiểm tra Khu 4.

Năm 1948, ông làm Khu trưởng Khu 4 rồi Chiến khu 1, Bí thư khu ủy. Cùng năm này, ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội. Từ năm 1949 đến năm 1954, ông làm Khu trưởng, Bí thư khu ủy Liên khu Việt Bắc, Chánh án Tòa án Quân sự, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc. Từ năm 1954 đến cuối năm 1956, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư quân khu ủy Liên khu Việt Bắc.

Từ năm 1957 đến cuối năm 1975, ông làm Chính ủy, Bí thư khu ủy Quân khu Việt Bắc, Chủ tịch Ủy ban hành chính Khu tự trị Việt Bắc. Năm 1959, ông được thăng quân hàm vượt cấp từ Thiếu tướng lên Thượng tướng.

Năm 1976, ông được bầu làm Phó chủ tịch Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất. Chiến tranh biên giới Việt Trung nổ ra. Ủy viên Bộ chính trị Hoàng Văn Hoan chạy sang Trung Quốc còn ông bị bắt cách hết chức vụ và quân hàm và bị quản chế tại gia cho đến khi mất.

Ông được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội từ khóa III đến khóa VI; Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông cũng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa II và III; đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI


Tiêu đề: Phạm Thái Bường, Ủy viên Trung ương cục miền Nam phụ trách quân sự
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Sáu, 2008, 06:05:51 am
(http://img504.imageshack.us/img504/5697/phamthaibuongxe7.jpg)

Phạm Thái Bường (1915-1974), nguyên Ủy viên thường trực Trung ương cục miền Nam phụ trách Quân sự, Trưởng ban An ninh Trung ương cục.

Huân chương Hồ Chí Minh...


Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, ông đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, ông đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê ông. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, ông tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước ông cùng các tù nhân bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), ông dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, ông được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, ông đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của ông là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, ông đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Theo trang thông tin điện tử tỉnh Bến Tre


Tiêu đề: Thiếu tướng Võ Bẩm, lĩnh ấn tiên phong mở đường Trường Sơn
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Sáu, 2008, 04:24:57 am
(http://antg.cand.com.vn/Uploaded_ANTG/honghai/28_ttuong682.jpg)

Thiếu tướng Võ Bẩm (1915-5h55’ 5/7/2008), nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, Tư lệnh đầu tiên của Đường Trường Sơn-Đường mòn Hồ Chí Minh (Đoàn 559), Bí thư Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu, Cục trưởng Cục Quản lí Giáo dục kiêm Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng Tham mưu.

Huân chương Hồ Chí Minh; hai Huân chương Quân công hạng nhất, hạng nhì; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huy chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Thượng tá (1958), Đại tá (1967 ?), Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Võ Bẩm quê tại xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm trong đội Thiếu niên xã làm nhiệm vụ rải truyền đơn và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương từ tháng 8 năm 1934 và hoạt động tại địa phương.

Năm 1935, ông được bầu làm Bí thư Huyện ủy Sơn Tịnh, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Đầu năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án đưa đi ''an trí'' lần lượt tại nhà tù Lao Bảo, Ban Mê Thuột rồi cuối cùng đưa về Ba Tơ. Phong trào đấu tranh của những người tù cách mạng phát triển hết sức mạnh mẽ, có ảnh hưởng đến nhân dân xung quanh vùng và cả dưới xuôi, trước tình hình đó, thực dân Pháp đưa ông về quản thúc tại xã nhà. Trở về quê, ông không ngừng gây dựng cơ sở tại địa phương, đến tháng 3/1945 tham gia tổ chức Việt Minh là thư ký Việt Minh xã, thư ký Việt Minh tổng rồi Ủy viên huyện Kim Tài tỉnh Quảng Ngãi.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, núp bóng quân Đồng minh, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Tháng 10 năm 1945, ông nhập ngũ là Chính trị viên khu Nam tỉnh Bình Định là Đảng ủy viên Tiểu đoàn Cao Thắng. Năm 1946, ông là Chính trị viên Trung đoàn 79, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn (Trung đoàn ủy), Quân khu Ủy viên.

Năm 1948, ông là Phân khu trưởng kiêm Chính ủy Phân khu phụ trách Ủy ban hành chính kháng chiến Phân khu Tây Nguyên, Bí thư Phân khu ủy, Bí thư Ban cán sự Tỉnh Kom Tum. Năm 1949, ông được cử đi học văn hóa rồi sau đó là Trưởng đoàn nhận viện trợ của Khu 5 vượt biển sang Trung quốc (năm 1950) tham gia Ban cán sự nước ngoài của Trung ương trên cương vị Ủy viên. Từ năm 1951 đến năm 1952, ông học tại trưởng Mác Lê-nin tại Thủ đô Bắc Kinh Trung Quốc. Về nước, cuối năm 1953, ông là Trưởng ban tác huấn Bộ Tư lệnh Liên khu 5.

Tháng 4.1954, ông là Chính ủy Trung đoàn 803 trực thuộc khu 5, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc, tháng 1.1956, ông là Đoàn trưởng Đoàn kiểm tra Công tác Chính trị, Tổng cục Chính trị. Tháng 4.1957, ông là Cục phó Cục quản lý Giáo dục Bộ Tổng tham mưu. Năm 1958, ông được cử làm Cục phó Cục nông trường Quân đội.

Ngày 5/5/1959, Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông, khi đó mang quân hàm Thượng tá, thành lập “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” để nhanh chóng đưa cán bộ, bộ đội và các thứ cần thiết như vũ khí, đạn dược, thuốc men vào miền Nam theo kế hoạch của Bộ Chính trị. Nhiệm vụ của đoàn là chuyển người và đưa hàng đến bờ bắc sông Bến Hải. Nhân sự của đoàn hoàn toàn do ông quyết định.

Lúc đầu, biên chế của Đoàn chỉ có Ban Chỉ huy Đoàn Vận tải 301 và các bộ phận xây dựng kho, bao gói, sửa chữa vũ khí... tất cả gồm 500 người, ông là Đoàn trưởng kiêm Bí thư Ban Cán sự. Đầu tháng 6/1959, ông trực tiếp vào Hồ Xá – Vĩnh Linh chủ trì cuộc họp bàn cụ thể việc mở đường vào Nam với đại diện Khu 5 và Trị - Thiên. Cuộc họp quyết định đề đạt lên Bộ Chính trị cho đoàn chuyển hàng vào sâu hơn nữa-qua sông Bến Hải. Ý kiến này sau đó đã được chấp thuận. Sau đó, Đoàn 559 tổ chức ngay đội khảo sát mở tuyến do ông trực tiếp chỉ huy. Sau khi khảo sát xong, việc vận chuyển vũ khí được tiến hành gấp rút. 20 tấn vũ khí là chiến lợi phẩm trong kháng chiến chống Pháp được bao gói cẩn thận, bí mật chuyển tới khu tập kết của Đoàn 559 tại khu rừng già gần Khe Hó. Ngày 13/8/1959, chuyến hàng đầu tiên của Đoàn 301, Đoàn 559 chính thức vượt Trường Sơn. Sau 8 ngày đêm cán bộ, chiến sĩ băng rừng lội suối, đã đưa chuyến hàng đầu tiên vào đến Tà Riệp - bắc A Lưới an toàn, và được bàn giao cho Khu 6.

Ngày 12/91959, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 46/QĐ-QP chính thức thành lập Đoàn 559 trực thuộc Bộ Quốc phòng, về Đảng trực thuộc Tổng Quân ủy, với nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật, lương thực, thực phẩm, đưa đón cán bộ từ miền Bắc vào miền Nam và ngược lại; vận chuyển và đảm bảo hậu cần cho Đoàn chuyên gia 959 giúp bạn ở mặt trận Hạ Lào. Võ Bẩm được bổ nhiệm giữ chức Đoàn trưởng kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Đoàn.

Tính đến hết năm 1959, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Đoàn, Đoàn trưởng Võ Bẩm, đã chỉ huy bộ đội Đoàn 559 mang vác chuyển cho Khu 5 và Trị - Thiên được gần 2.000 khẩu súng bộ binh, hàng trăm nghìn viên đạn, hàng ngàn quân cụ thiết yếu; đưa hơn 500 cán bộ, chiến sĩ (CBCS) chủ yếu là cán bộ đại đội, trung đội theo tuyến giao liên Trường Sơn vào chiến trường. Năm sau, Đoàn trưởng Võ Bẩm đề xuất một ý kiến táo bạo là cho phép Đoàn được vận chuyển các loại súng lớn vào chiến trường.

Từ khi được chi viện, quân dân Khu 5 đã đánh thắng nhiều trận giòn giã. Kẻ thù lồng lộn đánh phá con đường vận chuyển mới hình thành. Chúng mở hai đợt chiến dịch “Hoành Sơn” nhằm chia cắt, xóa sổ tuyến giao liên chiến lược. Trước tình thế nghiêm trọng này, không thể vận chuyển trên tuyến đường cũ, Chỉ huy Đoàn 559 quyết định mở tuyến đường mới. Nhiều đoàn được cử đi khảo sát soi đường ở tuyến đông Trường Sơn nhưng không có kết quả. Với cương vị là Đoàn trưởng, Võ Bẩm đã cùng CBCS trong đoàn nghiên cứu giải quyết tình thế khó khăn này.

Tháng 8/1960, Đoàn trưởng Võ Bẩm vào làng Mít trực tiếp chỉ đạo tổ chức lực lượng khảo sát đường mới dọc tuyến biên giới Việt – Lào, vừa tìm đường mới vừa gây dựng cơ sở, vừa cố gắng khôi phục lại đường cũ và áp dụng những hình thức chiến thuật vận chuyển mới. Ngay sau khi Đường Trường Sơn đi vào hoạt động ổn định, ông cùng đoàn mở một tuyến đường chi viện trên biển cho miền Nam. Kế hoạch này nhanh chóng được Bộ Chính trị thông qua và giao cho ông tuyển chọn những cán bộ chiến sĩ khu 5 tập kết thành lập đơn vị, ngụy trang là "đoàn đánh cá". Đến đầu nǎm 1960, "tập đoàn đánh cá" này bắt đầu đánh cá để thǎm dò và thực tập ở vùng biển cửa Sông Gianh. Đây là tiền thân của những đoàn tàu không số, của Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển.

Đến tháng 3/1961, tổ khảo sát mới bắt được liên lạc với đại diện Liên khu ủy 5 ở vùng Chun trên dãy Trường Sơn để cùng phối hợp làm nhiệm vụ. Đến đầu tháng 5/1961, một tuyến đường giao liên hành quân mới được hình thành-Tây Trường Sơn bên lãnh thổ Lào là vùng đất mà lâu nay ta giúp Lào xây dựng cơ sở, bắt đầu từ Vít Thù Lù (cao điểm 592), chạy ngang qua động Vàng Vàng, vượt biên giới sang bản Tà Ha (cao điểm 1034) thuộc đất bạn, vượt sông Sê Pôn (tại khu vực bản Keng) qua Sa Đi, Mường Noòng vào tới La Hạp. Nhờ có tuyến đường mới này, ta có những thuận lợi to lớn, việc chi viện miền Nam có điều kiện để mở rộng quy mô, đồng thời phòng tránh được sự phá hoại của địch, pháo lớn bắt đầu được đưa vào chiến trường.

Ngoài tuyến đường tây Trường Sơn đặc biệt quan trọng này, từ thế độc tuyến, Đoàn 559, dưới sự chỉ huy tài tình của Đoàn trưởng Võ Bẩm còn mở thêm một số tuyến đường mới như một số đoạn của tuyến giao liên tây Trường Sơn phát triển thành đường 16 - một tuyến trục ngang; đường 129 dài gần 200km, từ Lằng Khằng (đường số 12) băng qua nhiều cánh rừng, sông suối như sông Sê Băng Hiêng, Sê Băng Phai... vào đến Pác Pha Năng, nối thông với đường 9 ở Mường Phìn.

Những năm sau này, nhiều tuyến đường khác còn được mở hoặc sửa chữa, nâng cấp. Từ đơn thuần là đường gùi, thồ nội địa và dọc biên giới, Đoàn đã được trang bị 6 xe Gát 69, 2 xe Gát 51, 16 xe Gát 63 và hơn 600 xe đạp thồ... Lực lượng vận chuyển không chỉ phòng tránh địch đánh phá, mà còn được trang bị vũ khí để “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”. Đồng thời, từ chỗ phải “giấu dân”, Đoàn đã tiến tới tranh thủ và gây dựng cơ sở trong nhân dân. Đặc biệt, ta còn dùng cả máy bay vận chuyển vũ khí đến sân bay Tà Khống (cách Sê Pôn khoảng 5km), hoặc thả dù gạo xuống đường 129 mới mở.

Trước sự phát triển nhanh chóng của tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã tập trung đánh phá hết sức ác liệt: hàng trăm lượt máy bay B52, hàng ngàn lượt máy bay phản lực ném bom, rải chất độc hóa học đã được huy động. Trước tình hình đó, Quân ủy Trung ương ra nghị quyết tăng cường tổ chức và nhiệm vụ của Đoàn 559 tương đương cấp Quân khu. Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ được điều vào làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559; Võ Bẩm được bổ nhiệm giữ chức Phó tư lệnh. Bộ Chính trị quyết định mở đường 20 Quyết Thắng, xuất phát từ Phong Nha (Quảng Bình) vượt qua dốc U Bò, cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phù La Nhích sang đến Lùm Bùm (tây Trường Sơn, thuộc địa phận nước bạn Lào). Phó tư lệnh Võ Bẩm đã trực tiếp trình bày phương án chọn tuyến cũng như giải pháp thi công với ông Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCH TW Đảng và được Bí thư thứ nhất nhất trí cao.

Sau sự kiện mở đường 20 Quyết Thắng, năm 1966, Võ Bẩm được lệnh rút ra Hà Nội để chữa bệnh vì những năm tháng lăn lộn trên đường Trường Sơn đã khiến sức khỏe ông suy giảm. Sau khi chữa bệnh ở Trung Quốc, trở về nước, ông được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng bổ nhiệm làm Chính ủy Đoàn 959, chuyên gia quân sự Trung - Hạ Lào, sau đó làm Cục trưởng Cục Quản lý giáo dục (11.1967), Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Tổng tham mưu, kiêm Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng tham mưu (1969), Trưởng ban căn cứ Bộ quốc phòng. Tháng 8.1971, ông được bổ nhiệm làm Phó tổng Thanh tra quân đội, năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1980, ông về nghỉ hưu.

Dựa theo Báo Công an Nhân dân online.


Tiêu đề: Thượng tá Nguyễn Quốc Trị, người Anh hùng nhanh như sóc
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Sáu, 2008, 06:51:04 pm
(http://i36.photobucket.com/albums/e48/thongdiepthoigian/DienBienPhu/145-3.jpg)

Thượng tá Nguyễn Quốc Trị (1921-1967), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng Trường Quân chính Quân khu 4, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thủ đô (E102) Đại đoàn Quân tiên phong (F308). Ông là một trong 5 anh hùng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (phong tặng 19/05/1952) và là người có vinh dự kéo lá cờ Tổ quốc trong buổi lễ chào mừng ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954). Tên của ông được đặt cho một đường phố ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Huân chương Quân công hạng Ba, 2 Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất


Thượng tá Nguyễn Quốc Trị quê tại xã Phương Ky, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình có truyền thống yêu nước thuộc dòng họ Nguyễn Quốc.

Ông sớm giác ngộ và tham gia cách mạng ở địa phương. Năm 1930-1931, thời điểm của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, vừa trăn trâu ông vừa tham gia giải truyền đơn tuyên truyền cho cách mạng. Năm 1940, ông gầy ốm mà vẫn bị thực dân Pháp bắt đi phu làm đường trên mạn Cửa Rào, Mường Xén rồi sang tận bên Lào. Vừa cực, vừa căm, ông đã thẳng thừng chống lệnh giặc Pháp nên phải chịu án tù khổ sai khi mới vừa tròn 19 tuổi.  

Ở trong tù, Nguyễn Quốc Trị vận động đấu tranh giúp đỡ anh em mọi mặt về học tập, ăn ở và vận động mọi người tìm cách phá ngục. Sau khi, Nhật lật đổ Pháp, thời cơ đến, Nguyễn Quốc Trị cùng anh em phá ngục, xung phong vào đội thanh niên xung phong của xã tiên phong chống Nhật. Trong trận tham gia đánh Nhật đầu tiên, ông đã cùng tiểu đội diệt được 10 tên, đốt cháy 5 xe.

Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tham gia bộ đội chủ lực Liên khu 4. Cuối năm 1946 đầu năm 1947, ông đã tham dự nhiều trận đánh ở Vinh, Huế, Đông Hà... cùng đồng đội diệt hàng trăm tên giặc, bắt sống nhiều tên, bản thân ông đã diệt 19 tên Pháp và 2 tên Nhật. Khi Đại đoàn Quân tiên phong được thành lập, ông được điều về chiến đấu trong đội hình Đại đoàn, trưởng thành từ Đại đội trưởng đến Tiểu đoàn trưởng rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thủ đô. Cùng với Đại đoàn, ông đã tham gia nhiều chiến dịch quan trọng ở Bắc Bộ: Biên Giới, Hòa Bình, Trung Du... và cuối cùng là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Trong Chiến dịch Biên Giới 1950, sau khi hạ đồn An Châu và diệt đồn Đông Khê, ông được giao nhiệm vụ dẫn quân vượt núi cao ngăn không cho lính Sác Tông xuống kết hợp với lính Lơ Pa ở Lạng Sơn lên. Lúc này bộ đội vừa nhịn đói mấy ngày liền khi sang khỏi núi thì gặp hai cánh quân địch tiến đánh. Ông liền động viên anh em chia trung đội thành hai mũi đánh trả quyết liệt, sau đó đánh thẳng vào đại đội bảo vệ bộ tham mưu của lính Lơ Pa, bắt sống 39 tên, diệt 13 tên, rồi dẫn giải 150 tù binh về Đông Khê. Sau một loạt trận thắng tương tự như thế, Nguyễn Quốc Trị được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng biệt danh "nhanh như sóc".

Từ trận đánh đầu tiên 10/1945 cho đến Trận Tu Vũ trong Chiến dịch Hòa Bình 1952, ông đã tham gia và chỉ huy 95 trận. Trong Đại hội toàn quốc Chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu ngày 19.5.1952 tại chiến khu Việt Bắc, Nguyễn Quốc Trị được phong tặng danh hiệu Anh hùng quân đội lần đầu tiên cùng với ba anh hùng khác: Cù Chính Lan, La Văn Cầu, Ngô Gia Khảm.

Trong ngày về tiếp quản thủ đô Hà Nội ngày 7.10.1954, người ta nhắc, viết nhiều về người anh hùng quân đội nổi tiếng này với hàng trăm trận đánh quyết tử. Khi ấy ông đã là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thủ đô thuộc Đại đoàn quân tiên phong 308. Hồi đó Trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Trị được giao nhiệm vụ dẫn đơn vị tiền trạm từ Phùng về Cầu Giấy rồi tiến thẳng vào Hà Nội tiếp quản dinh Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch), sau đó là cầu Long Biên; để ngày 10.10.1954, Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ chỉ huy đại quân tiến thẳng vào 5 cửa ô. Đó là ngày hàng vạn người dân Hà Nội đứng chật những ngả đường quanh phố Hoàng Diệu. Trên tầng tháp cao nhất của cột cờ cổ kính, trước hàng rào danh dự gồm những anh hùng, chiến sĩ thi đua, đại biểu chiến sĩ quyết tử của Hà Nội, chính Anh hùng Nguyễn Quốc Trị là người vinh dự kéo lá cờ Tổ quốc lên cao tận chót đỉnh cột cờ Thăng Long trong lễ mừng giải phóng thủ đô.

Hoà bình lập lại trên miền Bắc, trong đợt phong Quân hàm đầu tiên của Quân đội (1958), ông được phong quân hàm Thượng tá. Một thời gian sau ông được điều về làm Hiệu trưởng Trường Quân chính Quân khu 4. Ngày 16.8.1967, thượng tá Nguyễn Quốc Trị - Hiệu trưởng trường Quân chính Quân khu 4 - đã ngã xuống đất quê trong một lần trên đường về nhà, ông ra thăm, động viên bộ đội trận địa pháo cao xạ trước làng Phượng Kỷ. Biết trước đoạn đường đang đi có bom nổ chậm nhưng "biết khi nào bom nổ mà chờ". Tình yêu những người lính Cụ Hồ trong anh trỗi dậy ở những giờ phút cực kỳ cần thiết để động viên họ trong khói lửa đạn bom có thể ập đến bất kỳ lúc nào. Vậy là ông quyết đi, đi cả vào trong tiếng nổ của bom thù để ngã xuống đất quê lam lũ.

Theo Báo lao động online.


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Văn Trân, nguyên Phó Giám đốc Học viện Lục quân
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Sáu, 2008, 07:40:04 am
(http://img440.imageshack.us/img440/3007/thieutuongtranvantranye8.jpg)

Thiếu tướng Trần Văn Trân (1927-1997), nguyên Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh 719, Phó Giám đốc Học viện Lục quân, Phó Tư lệnh Quân đoàn 4.

Thiếu tướng (1985).

Huân chương Quân công (3 hạng Nhất, 2 hạng Nhì), 3 Huân chương Chiến công hạng nhất...


Thiếu tướng Trần Văn Trân quê tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cách mạng tháng 8 thành công, ông tham gia Vệ quốc đoàn, chiến đấu trong Trung đoàn Trần Cao Vân (E101). Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp ông chiến đấu ở chiến trường Liên khu 4, trưởng thành từ chiến sĩ đến Trung đoàn phó.

Trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1963, ông lên đường vào Nam chiến đấu. Năm 1965, khi Sư đoàn 1-Chủ lực của Tây Nguyên được thành lập, ông được cử làm Sư đoàn phó.

Năm 1968, khi chiến trường miền Nam đang bước vào giai đoạn ác liệt, ông được triệu về Bộ chỉ huy miền ở Lộc Ninh để nhậm chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1 chuẩn bị tham gia Chiến dịch Mậu Thân.

Sau khi nhận chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1, ông được lệnh cơ động xuống đồng bằng chiếm lại vùng Bẩy Núi- An Giang. Để chuẩn bị cho trận đánh, một bộ phận từ biên giới Cămpuchia vượt sông đi trước.Còn ông cùng mấy anh em trinh sát và một trung đội đi nghiên cứu chiến trường, chuẩn bị cho đánh lớn. Hôm đó, địch lùng sục rất dữ. Trên trời, máy bay rình ngó, dưới sông tàu bo bo kiểm tra gắt gao. Phía trước, dọc sông Vĩnh Tế cách 1 km có trạm gác của bọn bảo an, mật độ gác dày đặc. Chờ mãi, đến sẩm tối, nghe tiếng tàu bo bo thưa dần, Sư trưởng Trân quyết định vượt kênh Vĩnh Tế. Với chiếc quần xà lỏn, ông cùng một số anh em men ra phía bờ kênh. Không ngờ, một đại đội biệt kích Mỹ đã ém sẵn ở đó. Ông chỉ huy anh em đánh trả nhưng quân ta ít, lại phải đối mặt với lực lượng địch quá đông, nên hầu hết anh em hy sinh và bị thương. Ông cũng bị thương nặng. Sư trưởng Trân quờ tay sang bên cạnh, đồng chí y tá đi theo bị trúng đạn đã tắt thở. Ông với lấy túi thuốc của y tá quàng lên người. Bọn địch đến gần, rà soát thấy ông còn thở, chúng đưa ông về Cần Thơ. Chúng thu được trên người ông một khẩu CKC, một túi y tá có cao hổ cốt, cao khỉ với giấy tờ mang tên Nguyễn Văn Thương, Thượng sỹ đông y.

Ba năm bị bắt làm tù binh, hơn 1.000 ngày trong nhà tù của địch. Chúng hết tra tấn lại dụ dỗ nhưng không thể khuất phục. Tại nhà tù Cần Thơ, ông được đồng đội tin cậy giao trọng trách Bí thư chi bộ nhà tù. Ông được anh em tù nhân che giấu nên địch không hay biết.

Với sự mưu trí của vị Sư trưởng, bọn địch không phát hiện được ông là cán bộ cao cấp của quân đội. Cho đến ngày18 tháng 3 năm 1973, ông được địch trao trả tại sông Thạch Hãn, Quảng Trị.

Sau khi ra tù, ông được bố trí ra Hà Nội gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và các lãnh đạo trong Quân uỷ Trung ương, được Ban tổ chức Trung ương cấp giấy chứng nhận toàn bộ tuổi Đảng trong tù. Nằm viện Quân y 108, ông được Tổng Bí thư Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới thăm, động viên. Được 3 tháng, ông xin ra viện để gặp các tướng Song Hào, Lê Quang Đạo đề nghị cho ra đơn vị chiến đấu.

Tháng 11 năm 1973, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Sư đoàn 341, ông nhận quyết định Sư đoàn trưởng. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ông đã chỉ huy đơn vị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, tham gia quân quản thành phố.
 
Năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó tư lệnh Quân đoàn 4. Năm 1979, ông giữ chức Phó viện trưởng Học viện Lục quân Đà Lạt. Năm 1985, ông là Tham mưu phó mặt trận 719, chỉ huy bộ đội chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn. Cũng năm này, ông được Nhà nước phong quân hàm thiếu tướng. Tháng 5 năm 1988, ông là thành viên Đoàn công tác của Bộ Quốc phòng Việt Nam (Đoàn 890) giúp Bộ Quốc phòng Campuchia. Năm 1995, ông nghỉ hưu và qua đời năm 1997.




Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Quốc Sản, một trong những vị tướng kì cựu của Nam Bộ
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Sáu, 2008, 08:01:27 am
(http://img166.imageshack.us/img166/6746/thieutuonglequocsansk1.jpg)

Thiếu tướng Lê Quốc Sản (Tám Phương, 1920-2000), nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Quân khu 8.

Thiếu tướng (1974).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, 02 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...


Thiếu tướng Lê Quốc Sản quê ở xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông nhập ngũ tháng 4 năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1945.

Tháng 8 năm 1945, ông chỉ huy Quân giải phóng của Việt kiều ở tỉnh Savanakhet của Lào. Tháng 5-1946, có lệnh tập hợp quân giải phóng chiến đấu ở Lào, ông Dương Tự Cẩm cùng các ông Nguyễn Chánh, Lê Quốc Sản, Ðỗ Huy Rừa được giao nhiệm vụ tổ chức, huấn luyện. Tại chiến khu Noọng-ke, trong vòng 10 ngày, đã lựa chọn và tập trung được hơn 400 chiến sĩ trong số những người tình nguyện từ các cơ sở Việt kiều, thành chi hội Trần Phú. Lê Quốc Sản làm Chi đội phó Chi đội Trần Phú cùng chi đội từ Thái Lan về Việt Nam tham gia kháng chiến. Sau khi về nước Chi đội Trần Phú lấy tên là Chi đội Hải ngoại 4.

Từ năm 1947 đến năm 1954, ông hoạt động ở chiến trường Nam Bộ; làm Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng, Liên trung đoàn trưởng rồi Tỉnh đội trưởng tỉnh Vĩnh Trà.

Năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc, làm Trưởng phòng Phòng Bờ biển, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 50 thuộc Quân khu Tả Ngạn.

Năm 1961, ông trở lại chiến trường Nam Bộ, làm Chỉ huy trưởng Quân khu 8. Từ năm 1972 đến năm 1975, ông làm Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu 8. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ông là Phó Tư lệnh cánh quân Tây Tây Nam tức đoàn 232-lực lượng tương đương một quân đoàn tăng cường.

Từ tháng 5 năm 1976 đến năm 1980, ông làm Phó Tư lệnh Quân khu 9. Từ năm 1980 đến năm 1987, ông chuyển sang làm công tác tổng kết chiến tranh.

Tuy là một người sinh ra trên đất Bắc nhưng Thiếu tướng Lê Quốc Sản sớm gắn bó với mảnh đất Nam Bộ từ thời trai trẻ, trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc trưởng thành đến cấp tướng. Ông được coi là một trong các tướng lính kì cựu của đất Nam Bộ: Trung tướng Đồng Văn Cống, Thiếu tướng Nguyễn Văn Bứa (Nguyễn Hồng Lâm), Thiếu tướng Lê Quốc Sản, Trung tướng Dương Cự Tẩm.


Tiêu đề: Trung tướng Hoàng Văn Thái, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Sáu, 2008, 12:08:41 am
(http://img379.imageshack.us/img379/3773/trungtuonghoangvanthaifp7.jpg)

Trung tướng Hoàng Văn Thái (tên thật: Hoàng Đức Tuy, 1920-2000), nguyên quyển Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Tư lệnh (đầu tiên) của Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) Phó Chủ nhiệm Hậu cần, Phó Tư lệnh Quân khu Trị Thiên, Tư lệnh Đoàn 559-Trường Sơn.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982).

Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...


Ông quê ở xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tham gia cách mạng từ tháng 5 năm 1945 trong phong trào đấu tranh của công nhân hỏa xa tại ga Thuận Lý, tỉnh Quảng Bình. Cùng năm này, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, ông lãnh đạo công nhân hỏa xa tham gia giành chính quyền tại Quảng Bình.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông ra nhập quân đội năm 1947. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp ông lần lượt giữ các chức vụ: cán bộ phụ trách hậu cần và văn phòng rồi Chính ủy Trung đoàn 101 (Trung đoàn Trần Cao Vân) tham gia chiến dịch Hạ Lào; Chủ nhiệm Chính trị rồi Chính ủy Đại đoàn 325 (Trị Thiên Huế).

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước: năm 1960, ông làm Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Pháo binh. Tháng 12 năm 1962, ông làm Phó Chính ủy Quân khu 4. Tháng 1 năm 1965, ông làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ cuối năm 1965 đến năm 1967, ông làm Tư lệnh Đoàn 559. Năm 1969, ông làm Phó Tư lệnh, Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu Trị - Thiên kiêm Phó Tư lệnh Đoàn 559. Từ năm 1972 đến năm 1974, ông làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên.

Ngày 17 tháng 5 năm 1974, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Quân đoàn 2. Ngày 1 tháng 6 năm 1974, tại Ba Nang-Ba Lòng Quảng Trị (trụ sở cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên), thượng tướng Song Hào Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng công bố quyết định thành lập Quân đoàn. Theo đó, Bộ tư lệnh Quân đoàn do ông làm Tư lệnh đầu tiên kiêm Phó Bí thư Đảng ủy.


Năm 1975, ông làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật. Từ năm 1986 đến năm 1989, ông làm quyền Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Như vậy, Quân đội Nhân dân Việt Nam có 2 vị tướng đều mang tên Hoàng Văn Thái đó là: Đại tướng Hoàng Văn Thái (tức Hoàng Văn Xiêm, 1915-1986), Trung tướng Hoàng Văn Thái (tức Hoàng Đức Tuy, 1920-2000). Thế nên mới có chuyện như thế này: Sau năm 1954, Trung tướng Hoàng Văn Thái tập kết ra Bắc, khi gặp Phó Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái mới biết là tên mình trùng tên với Phó Tổng tham mưu, ông bèn đề nghị cho mình đổi lại tên. Nhưng Phó Tổng tham mưu trưởng bảo ông cứ giữ nguyên và nói đấy là điều thú vị của Cách mạng.




Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Chuông, vị tướng đầy nghĩa tình
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Sáu, 2008, 09:28:43 am
(http://img294.imageshack.us/img294/7533/thieutuongnguyenchuongqx0.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Chuông (1926-2006), nguyên : Phó Tư lệnh Quân khu 2, Tư lệnh Mặt trận Vị Xuyên.

Thiếu tướng Nguyễn Chuông sinh ra trong một gia đình nghèo, đông con ở xóm Tân Hưng, xã Thượng Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Tên cha mẹ đặt cho lúc nhỏ vốn là Nguyễn Văn Chuông, sau đổi lại thành Nguyễn Chuông. Năm 1945, nạn đói xảy ra ở các tỉnh Bắc Kỳ, theo lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh ông hăng hái tham gia phá kho thóc Nhật cứu đói cho đồng bào ở quê hương. Cách mạng tháng 8 thành công, ông ra nhập Vệ quốc đoàn khi mới 16 tuổi.

Từ năm 1945 đến năm 1954, 9 năm Kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 165 (Thành đồng Biên giới)-một trung đoàn được thành lập sớm thuộc Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến thắng). Trưởng thành từ chiến sĩ (cấp dưỡng, may vá quần áo, làm liên lạc, vệ binh, tổ trưởng…) cho đến Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Tiểu đoàn phó. Do những thành tích chiến đấu, tháng 5 năm 1948, ông được kết nạp Đảng khi đang là chiến sĩ thuộc Trung đội 1, Đại đội 27 giữa những đợt tấn công của quân Pháp lên đỉnh đồi Khau Co (giáp biên giới Lào Cai và Lai Châu).

Thu đông năm 1953, đại đoàn (nay gọi là sư đoàn) 312 mà ông Nguyễn Chuông là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 115, Trung đoàn 165, đang đóng quân ở địa bàn tỉnh Phú Thọ, được lệnh hành quân, nhưng không phải ngược lên Tây Bắc mà là về xuôi, về vùng Vĩnh Yên, Lâm Thao,  Lập Thạch, Việt Trì, Hưng Hóa trong một kế hoạch nghi binh rồi bất thần ngược lên Tây Bắc. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Tiểu đoàn ông được giao nhiệm vụ bao vây chia cắt Sân bay Mường Thanh. Sau 3 ngày đêm đào hào vây lấn, Tiểu đoàn của ông và Tiểu đoàn 542 được lệnh tiền công tiêu diệt vị trí 105, một cứ điểm ở ngoại vi phía Bắc của Mường Thanh. Sau 40 phút nổ súng, ta đã làm chủ ¾ đồn và bắt sống 30 địch trong đó có viên quan ba chỉ huy cứ điểm. Quân Pháp cho 2 tiểu đoàn có xe tăng yểm trợ từ Mường Thanh 2 phản kích nhằm chiếm lại cứ điểm 105. Trong trận chống càn này ông bị thương ở chân trái, vai phải và ngực, máu ra nhiều bị ngất đi và bị bắt làm tù binh.

Trại trại tù binh dã chiến của Pháp ở Mường Thanh có khoảng 100 bộ đội ta trong đó có 10 người là Đảng viên. Nguyễn Chuông được mọi người tín nhiệm bầu làm Bí thư chi bộ để lãnh đạo anh em đấu tranh đòi quân Pháp phải đối xử nhân đạo đồng thời giữ vững ý chí, tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau…của chiến sĩ ta trong tình hình bị bắt làm tù binh. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, ông được đồng đội đưa về trạm Quân y tiền phương của Trung đoàn 165, Bệnh viện Nà Sản-Sơn La rồi Bệnh viện Yên Bái để chữa trị.

Hòa bình được lập lại trên miền Bắc, ông được cử đi học văn hóa rồi sau đó theo học ở Trường sĩ quan Pháo binh. Sau khi tốt nghiệp, ông được cữ giữ chức vụ Chủ nhiệm Pháo binh Sư đoàn 312, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165. Cùng với Sư đoàn 312, ông đã 3 lần chỉ huy Trung đòan hành quân sang Lào giúp bạn, tham dự những chiến dịch lớn, quan trọng của Liên quân Lào Việt : trận Bản Na, Chiến dịch giải phóng cánh đồng Chum và Xảm Thông-Loọng Chẹt…Trong cách trận đánh, ông thể hiện là một chỉ huy trung đoàn có tài cầm quân với những cách đánh hầu như chưa được giảng dậy trong các trường lớp quân sự của ta hồi đó. Ông nổi tiếng với nối đánh sáng tạo: Đột kích-Đánh bồi-Truy quét mà theo cách nói dân dã của ông đó là : Đầu nhọn-Mình trắm-Đuôi công.

2 năm 1972 và 1973, Trung đoàn 165 cùng với Sư đoàn 312 được lệnh về nước tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, chốt giữ thành cổ, phòng thủ bờ Nam sông Thạch Hãn. Khi này, ông được cử giữ chức vụ Sư đoàn phó. Năm 1973, ông được cử giữ chức vụ Sư đòan trưởng Sư đoàn 312 hàm Đại tá. Cuối tháng 3 năm 1975, đang đóng quân ở Thanh Hóa, Sư đoàn của ông được lệnh cấp tốc hành quân bằng cơ giới vào Đông Nam Bộ tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày 12 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn ông đã có mặt tại Đồng Xoài, Bình Dương là điểm tập kết cuối cùng sớm hơn dự kiến 12 ngày. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, sư đoàn ông có nhiệm vụ tiêu diện sư đoàn 5 ngụy, mở cửa Bình Dương để mũi thọc sâu của Quân đoàn 1 từ cánh Bắc tiến thẳng vào đánh chiếm Bộ Tông tham mưu ngụy.

Sau năm 1975, Sư đoàn ông được Nhà nứoc tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và quay trở lại miền Bắc xây dựng Sư đoàn vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu bao vệ biên giới phía Bắc. Năm 1977, trong Hội nghị Quân chính Quân đoàn I, Nguyễn Chuông đã thẳng thắn phê phán thực trạng của đội ngũ cán bộ, Đảng viên lúc đó. Sau đó, ông được điều về phụ trách khung huấn luyện tân binh ở Vĩnh Yên.

Giữa năm 1978, tình hình biên giới trở lên căng thẳng. Ông trực tiếp nhận lệnh của Đại tướng Lê Trọng Tấn trở về chỉ huy đơn vị chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Ông lên Quân khu 2 đảm nhiệm chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 345 rồi Quân đoàn phó Quân đoàn 29 (đã bị giải thể) tham gia chiến đấu bảo vệ Biên giới phía Bắc và mặt trận Lào Cai. Năm 1983, ông được điều về làm Phó Tư lệnh Quân khu 2 kiêm Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên.

Năm 1991, khi là Phó Tư lệnh Quân khu 2, ông về nghỉ hưu tại quê hương Phú Thọ nơi mà 45 năm trước ông bước chân vào đời quân ngũ. Trở về địa phương, ông tích cực vận động bà con đóng góp giúp đỡ các gia đình chính sách, xây dựng Đài liệt sĩ, rồi tham gia viết sử của địa phương.

Năm 1993, để tạo điều kiện cho ông chữa bệnh, Quân đội cấp cho gia đình ông một căn hộ ở quận Thanh Xuân rồi sau chuyển ra phường Mai Dịch. Là một vị tướng trận mạc về với đời thường, ông phải bươn trải nhiều công việc : chăn nuôi gà, vịt ; làm bánh quế đi bỏ mối và làm nghề phụ quét giấy ; trồng cây cảnh để bán ; trồng rau…Bên cạnh đó ông còn tích cực tham gia công tác cựu chiến binh và mặt trận Tổ quốc. Ông là Chủ tịch Hội cựu chiến binh và Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường Mai Dịch.

Là một vị tướng nghĩa tình với đồng đội, lúc về hưu ông tích cực tham gia giúp đỡ các gia đình liệt sĩ tìm kiếm mộ thân nhân. Ngay trong căn nhà tập thể chất trội của mình ông dành ra một ít diện tích lập bàn thờ và lập hàng trăm danh sách liệt sĩ mà ông biết và nhớ để thờ. Ở quê ông trên Phú Thọ, ông đã dựng cả một đền thờ để hương khói cho các liệt sĩ.

Về hưu, ông bắt đầu đến với con đường văn chương. Ông dành thời gian để ghi lại những kỉ niệm về tháng năm chiến đấu, kỉ niệm về những anh em cùng xông pha trận mạc…Tập hồi ức ‘’Dặm dài trên đất nước Triệu Voi’’, Chuyện ‘’Sầm Nưa những kỉ niệm khó quên’’, các ghi chép ‘’Đập ta Cù Kiệt’’ và ‘’Nằm trong Cánh đồng Chum’’, tập tự sự ‘’Đường tới chân trời’’ đoạt giải nhì cuộc thi viết về người lính và chiến tranh cách mạgn,  và tập ký ‘’Tim tôi thắp lửa ‘’. Ngoài ra ông còn làm hàng trăm bài thơ in trong tập thơ chung ‘’Chúng tôi đánh giặc và làm thơ’’

Viết về ông, nhà văn chiến sĩ Hồ Khải Đại viết :
‘’Võ lược bạch binh đăng võ tướng
Văn chương đơn tự hóa văn nhân’’

Dựa theo: Trái tim thắp lửa của Đại tá Nhà báo NSUT Chi Phan.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: chienthanh trong 27 Tháng Sáu, 2008, 01:31:20 pm
cám ơn các bạn dày công sưu tầm và biên soạn đề tài này,đây đúng là các tinh hoa quân sự của dân tộc rất tốt trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ ngày nay.


Tiêu đề: Luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Sáu, 2008, 04:56:32 pm
(http://antgct.cand.com.vn/Uploaded_ANTGCT/hoabt/11_phananh71.jpg)

Luật sư Phan Anh (1/3/1912-28/6/1990), nguyên: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (đầu tiên) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương vàng Vận động hoà bình thế giới.


Quê ông ở huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, một địa danh nổi tiếng về truyền thống yêu nước, cách mạng và hiếu học. ông sinh năm 1911 trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Cha là Phan Điện, một ông đồ nho không đỗ đạt, có tinh thần chống phong kiến, làm nhiều thơ. Thuở nhỏ, Phan Anh được học chữ nho của người cha. Cụ có bảy người con, Phan Anh là thứ sáu, trên Phan Mỹ ba tuổi (nguyên Bộ trưởng Phủ Thủ tướng).

Chính Đức Thọ từng là một trong những nơi phong trào Cần Vương phát triển mạnh mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Cụ Phan Đình Phùng. Cũng vì thế nên người dân ở đây liên tục khốn đốn vì sự đàn áp dã man của chính quyền thực dân, phong kiến. Thành ra cuộc sống đã nghèo lại càng nghèo thêm.

Chưa đầy 10 tuổi (năm 1921), hai anh em Phan Anh và Phan Mỹ đã mồ côi mẹ, phải theo người cha tài cao học rộng nhưng luôn u uất nỗi đau vong quốc và lạc thời đi tha phương cầu thực bằng nghề bán chữ cho thiên hạ theo đúng nghĩa của từ này. Nhà nghèo, năm 12-14 tuổi, ông đã phải đi ở cho nhà giàu, nấu cơm, giặt giũ... Đêm ngủ rét cắt ruột, chỉ có chiếc chiếu đắp người. Tối tối, cứ vào quãng 8, 9 giờ, chủ nhà bắt ông đọc Truyện Kiều cho nghe. Có lẽ Truyện Kiều và những vần thơ của người cha đã thấm vào ông từ thuở ấy.

Vượt qua những khó khăn về đời sống, ông được đi học và học giỏi. Năm 1925, tốt nghiệp tiểu học, 1926, học Trường Bưởi ở Hà Nội, 1933, sau khi thi đỗ ba bằng Tú tài, một thành tích hiếm có lúc đó, ông vào học và tốt nghiệp Cử nhân Luật khoa ở trường Đại học Đông Dương. Cuối năm 1937, được học bổng sang Pháp tiếp tục học lên với hai mục đích học lấy bằng thạc sỹ, tiến sỹ và tìm hiểu xã hội Pháp để sau về phụng sự Tổ quốc. Năm 1940, sau khi nhận ba bằng tiến sỹ về công pháp, tư pháp, lịch sử, ông đánh giá tình hình quan hệ giữa ta và Pháp và trong suy nghĩ từ bỏ con đường dập khuôn chính trị, chuyên tâm đi vào nghiên cứu pháp luật. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, ông phải bỏ dở việc học (chưa kịp bảo vệ Tiến sĩ Luật học), trở về tổ quốc hành nghề luật sư.

Chính ông đã cùng ông Vũ Đình Hoè và ông Vũ Văn Hiền lập ra Tạp chí Thanh Nghị năm 1941, thoạt đầu ra hằng tháng rồi ra hằng tuần, để bộc bạch tâm nguyện kẻ sĩ chân chính của đất Việt: "Người ấy phải vì lợi ích dân chúng, là người quan sát không thiên vị và phải thường xuyên có liên hệ với nhân dân. Vì vậy, kẻ sĩ có thể ảnh hưởng đến nhân dân và góp phần làm biến đổi xã hội". Tạp chí Thanh Nghị tồn tại cho tới năm 1945, tập trung nhiều cây bút trí thức tâm huyết với dân, với nước lừng lẫy một thời.

Ông gia nhập đoàn luật sư Hà Nội, nhận làm luật sư cho các bị can ở toà đại hình quân sự, tham gia sáng lập và viết bài cho tờ báo Thanh Nghị của giới trí thức Việt Nam. Với tài hùng biện và lòng yêu nước, ông đã dũng cảm bảo vệ cho một số cán bộ cách mạng, có đảng viên cộng sản nhờ tài biện hộ của ông đã thoát khỏi án tử hình.

Năm 1945, quân đội Pháp ở Đông Dương bị quân Nhật giải giáp, Bảo Đại mời nhóm "Thanh Nghị" gồm 3 người là: Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hầu, Phan Anh vào Huế góp ý kiến cho chính phủ Trần Trọng Kim vừa thành lập và bổ nhiệm ông làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên. Ông đề ra chủ trương thành lập Trường "thanh niên tiền tuyến" tại Huế, có 47 học viên. Thực chất, đây là một tổ chức được Việt Minh hoá, có một vai trò tích cực trong sự phát triển phong trào cách mạng của Thừa Thiên Huế trong buổi đầu với tư cách là một lực lượng nòng cốt, tiên phong ở Huế trong Cách mạng tháng Tám năm 1945...

Cách mạng tháng Tám thành công, sau tuyên ngôn độc lập 2.9.1945 mấy ngày, ông và một số luật sư, nhân sĩ, trí thức được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến họp ở Bắc Bộ phủ để góp ý kiến về những công việc của đất nước; ít lâu sau ông lại giao cho ông nhiệm vụ thành lập và làm Chủ tịch "hội đồng kiến thiết quốc gia" gồm hầu hết trí thức Hà Nội.

Tháng 3 năm 1946, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập đến Bắc Bộ Phủ, gợi ý ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng với nhiệm vụ tập trung vào vấn đề chính trị, đoàn kết trong ngoài, đối nội, đối ngoại. Ông là người đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành những sắc lệnh tổ chức quân đội quốc gia và bổ nhiệm những người phụ trách. Đó là Sắc lệnh số 33 ngày 22 tháng 3 năm 1946 quy định cấp bậc, phù hiệu; Sắc lênh số 34 ngày 25 tháng 3 năm 1946 về tổ chức Bộ Quốc phòng; Sắc lệnh số 35 ngày 25 tháng 3 năm 1946 bổ nhiệm các chức vụ trong Bộ Quốc phòng; Sắc lệnh 71 ngày 22 tháng 5 năm 1946 xác định vệ quốc đoàn là quân đội quốc gia.

Với Bộ trưởng Phan Anh, lực lượng vũ trang ta thời bình minh cách mạng đã lựa chọn được nhiều trí thức yêu nước, tuổi trẻ tài cao vào các vị trí quan trọng: Hoàng Đạo Thuý - Chính trị Cục trưởng; Phan Tử Lăng - Quân chính Cục trưởng; Vũ Văn Cẩn - Quân y Cục trưởng; Vũ Anh - Chế tạo Cục trưởng; Phan Văn Phúc - Quân huấn Cục trưởng; Lê Văn Chất - Quân pháp Cục trưởng… Tất cả những nhân vật này khi mới gia nhập quân đội đều chưa là đảng viên nhưng đã mang sẵn trong mình bầu máu nóng phụng sự chính nghĩa, vì độc lập, tự do của Tổ quốc…Chính ông, đã đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng để ông làm Thứ trưởng làm nhiệm vụ hỗ trợ.

Tháng 5, ông tham gia phái đoàn Việt Nam đàm phán với chính phủ Pháp ở Fontainebleau. Từ tháng 3.1947 đến tháng 4.1977, được cử giữ các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ Công thương, Bộ Thương nghiệp, Bộ Ngoại thương. Không chỉ là một chính khách, Phan Anh còn là một nhà hoạt động xã hội lâu năm. Từ 1951 cho đến khi qua đời, ông tham gia Uỷ ban Liên Việt toàn quốc rồi Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam với cương vị Uỷ viên thường trực, ủy viên Đoàn chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban (khoá 3).

Năm 1955, ông và một số đồng nghiệp sáng lập ra Hội Luật gia Việt Nam và giữ cương vị Chủ tịch Hội suốt 35 năm cho đến khi ông qua đời (1955-1990). ông còn là Phó Chủ tịch Hội Luật gia Dân chủ quốc tế, Uỷ viên, Phó Chủ tịch Hội đồng hoà bình thế giới. ông tham dự nhiều hội nghị thế giới do Uỷ ban Đoàn kết các nước á - Phi tổ chức, nhiều đại Hội Luật gia Dân chủ quốc tế. Trên diễn đàn này, với tư thế đĩnh đạc, cách trình bày rõ ràng, mạch lạc, hùng biện, ông đã thuyết phục, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta. ông có uy tín với thế giới.

Có một điều còn ít người đề cập đến, luật sư Phan Anh còn là một nhà thơ ngoài Hội Nhà văn. Đề tài và nội dung thơ ông khá đa dạng, thể hiện lòng yêu nước thiết tha, mong đất nước độc lập, kháng chiến thành công: "Đoàn kết một lòng ta quyết thắng - Năm châu dân Việt tiếng tăm đồn" (Kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến) mong chủ nghĩa xã hội thắng lợi, một lòng tin tưởng ở Đảng, Bác Hồ.

Kiến thức của ông khá rộng, cổ học kết hợp với tân học, vốn cổ học giúp ông hiểu được cái thâm thuý của thơ Đường. ông rất thú vị với câu kết của một bài thơ Bác Hồ tặng: "Trăng xưa, hạc cũ với xuân này". Trăng xưa nguyên chữ Hán là chữ "nguyệt" với chữ "cổ" ghép lại thành chữ Hồ, còn "hạc cũ" là đất nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Ngoài ra, ông còn làm một số bài thơ và câu đối chữ Hán tặng Bác và tự dịch ra tiếng Việt. Có thể nói, thời gian du học ở Pháp không làm mờ được cái cốt cách nho học Việt Nam của ông. Thơ ông, nhiều bài viết về đề tài chính thời sự, lại mang chất trữ tình nên đọc không khô khan, nhàm chán, rất dễ đi vào lòng người.

Luật sư Phan Anh đã có nhiều cống hiến cho nền kinh tế nước ta: đào tạo đội ngũ cán bộ kinh tế buổi ban đầu, dành nhiều công sức trong việc đấu tranh kinh tế với địch thắng lợi thời chống Pháp, góp phần quan trọng vào việc đánh bại âm mưu phong toả kinh tế thời chống Mỹ, xây dựng nền tảng chiến lược ngoại thương... ( 3). ông liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội từ khoá II (1960) đến khoá VIII (1989) và giữ cương vị Phó Chủ tịch Quốc hội khoá 8.

Một vài nhận xét của bạn bè quốc tế về ông:

--Luật sư nổi tiếng người Pháp Joe Nordman, Chủ tịch Hội Luật gia Dân chủ quốc tế coi ông là người có "tư chất thông minh", "nhạy cảm khác thường", "có nghị lực", "dũng cảm", "một trái tim rộng mở"...

--Romesh Chandra, người ấn Độ, một nhà hoạt động xã hội quốc tế, Chủ tịch danh dự Hội đồng hoà bình thế giới xem ông là "một tấm gương sáng chói nhất", "khiêm tốn", "có lòng thật thà chống đế quốc", "một biểu tượng của nhân dân Việt Nam anh hùng"


Tiêu đề: Giáo sư Tạ Quang Bửu, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Sáu, 2008, 05:14:48 pm
(http://img.photobucket.com/albums/v291/ngocson52/toanhoc/tqbuu.jpg)

Giáo sư Tạ Quang Bửu (1910-1986), nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

Huân chương Độc lập hạng Nhất,Huân chương Kháng chiến hạng Nhất,Huân chương Chiến thắng hạng Nhất,Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất,Huân chương Chiến công hạng Nhất,Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba,Huy chương Quân kì quyết thắng.


Giáo sư Tạ Quang Bửu sinh ngày 23/7/1910 trong một gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã Nam Hoành, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Trong tộc phả họ Tạ Quang có câu: "Phụ giáo tử đăng khoa, cử nhân tại quán" (cha dạy con đi thi, đỗ cử nhân không ra làm quan). Cho đến đời cha ông là Tạ Quang Diễm, dòng họ Tạ Quang đã 11 đời thực hiện lời căn dặn trên. Đó là thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến, nhiều nhà nho có khí tiết không ra làm quan để phản đối triều đình thối nát. Nhưng đến đời Tạ Quang Bửu, ngay từ khi nước ta đang ở dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, ông đã đem hết lòng nhiệt huyết và kiến thức sâu rộng của mình ra phục vụ Tổ quốc và nhân dân.

Năm 1929, sau khi đỗ đầu tú tài bản xứ và đỗ đầu tú tài Tây ban Toán, ông nhận được học bổng của Hội Như Tây Du học Trung kì và sang Pháp học. Ông thi đỗ vào trường Centrale (A) Paris năm 1930, học Toán ở các trường Đại học Paris, Bordeaux (Pháp) và Oxford (Anh) từ 1930 đến 1934. Tại Pháp, ông theo học chương trình cử nhân khoa học ở Sorbonne. ở đây có hai giảng đường lớn: Hermite dàng cho cử nhân và Darboux dành cho những người học trên đại học. Ông đã đến nghe giảng ở Hermite và tham dự các buổi xê-mi-ne ở Darboux. Tại đây, ông đã tiếp xúc với nhiều nhà toán học trẻ của nước Pháp, bí mật tham gia nhóm Nicolas Bourbaki. Mục đích của nhóm N. Bourbaki là tổng kết toàn bộ thành tựu toán học của loài người, mọi thành viên khi in các công trình toán học dù dưới dạng báo hay sách đều kí một bút danh là N. Bourbaki. Nhóm đã công bố hơn 40 công trình đồ sộ, được đánh giá cao đến mức nhiều ý kiến cho rằng có thể chia lịch sử toán học thế giới ra 2 kỉ nguyên: tiền Bourbaki và Bourbaki.

Trong việc học, ông chỉ cốt sao thu nhận được nhiều kiến thức nhất chứ không quan tâm đến việc thi lấy bằng. Bên cạnh việc nghe giảng tại giảng đường đại học, ông dành phần lớn thời gian tự học. Ông thành thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, sử dụng được tiếng Đức, đọc hiểu tiếng Nga, Hán, Hi lạp cổ, Latinh. Tự cập nhật kiến thức, quan tâm rộng rãi, thường xuyên đến các ngành khoa học cơ bản nói chung và toán học nói riêng, là nét nổi trội nhất trong sự học của ông.

Trở về nước năm 1934, ông không ra làm quan mà chỉ nhận dạy Toán và tiếng Anh tại một trường tư, Trường Providence (Thiên Hựu) ở Huế.

Từ năm 1942 đến năm 1945, ông được cử giữ chức Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu Hãng Điện-Nước Trung kì. Và trong thời gian này, ông cũng được bầu làm Huynh trưởng Hướng đạo sinh Trung kì. Đây là phương pháp giáo dục dành cho thanh thiếu niên, những người tham gia công khai nguyện "Trung thành với Tổ quốc", làm những việc có ích cho xã hội như đi lạc quyên cứu đói, hoạt động truyền bá quốc ngữ, giúp đỡ người nghèo... Vốn ghét thực dân, quan lại, Tạ Quang Bửu đã dần dần đưa phong trào hướng đạo thoát khỏi ảnh hưởng của Pháp và ngầm chống lại phong trào "vui vẻ, trẻ trung của Ducroy.

Tháng 8/1945, ông cùng luật sư Phan Anh ra Hà Nội tham gia cách mạng. Ngay trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đã cho ra mắt bạn đọc mấy cuốn sách: "Thống kê thường thức", "Vật lý cương yếu", "Nguyên tử - hạt nhân - vũ trụ tuyến" và "Sống".  Những cuốn sách của Giáo sư Tạ Quang Bửu và những hoạt động hướng đạo sinh của ông trước đó đã gây được những ảnh hưởng sâu sắc đên tầng lớp thanh niên trí thức lúc bấy giờ. Trong thời kì kháng chiến, ông là nhà khoa học viết được nhiều nhất, do vậy, có thể ảnh hưởng nhiều nhất đến thế hệ đương thời.

Cũng trong thời kì này, ông đã đảm nhận những chức vụ quan trọng như Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ lâm thời, phụ trách giao thiệp với Mỹ và Anh (9/1945-1/1946); Thứ trưởng Bộ Quốc phòng rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (8/1947-8/1948). Năm 1947, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu đã chỉ đạo và biên soạn cuốn sách "Bắn máy bay bằng súng trường tập trung" phổ biến rộng rãi khắp nơi và sau đó, góp phần chấm dứt thời kì máy bay Pháp làm mưa làm gió trên vùng trời Việt Nam.

Đến thời kì chống Mỹ, dù không còn làm việc ở Bộ Quốc phòng, Giáo sư Tạ Quang Bửu vẫn tham gia giải quyết những vấn đề gay cấn nhất trong khoa học kỹ thuật quân sự. Mùa hè năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh thả thuỷ lôi trên sông biển nước ta và phong toả cảng Hải Phòng. Giáo sư đã trực tiếp chỉ đạo một tổ nghiên cứu thiết kế, chế tạo khí tài phá thuỷ lôi (mật danh GK1), phá bom từ trường (mật danh GK2) do Tiến sĩ Vũ Đình Cự làm tổ trưởng.

Trong sự nghiệp của mình, Giáo sư Tạ Quang Bửu kiêm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác nhau. Tuy vậy, ngay cả khi bận công việc chính sự, ông vẫn dành thời gian đem kiến thức uyên bác của mình truyền thụ lại cho các thế hệ học trò. Ngay trong những ngày Toàn quốc kháng chiến, ông vừa tham gia các công việc của Chính phủ vừa giảng dạy môn Vật lý tại Trường Đại học Hà Nội. Rồi ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, ông được cử làm Giám đốc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (1956-1961) đồng thời là Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng Thư kí Uỷ ban Khoa học Nhà nước.

Thời nay, nếu có một nhà khoa học uyên bác trên nhiều lĩnh vực và gần như ai hỏi điều gì đều có thể giải đáp thì người ấy chính là Tạ Quang Bửu. Quả vậy, ông thông hiểu lịch sử Việt Nam và nhớ như thuộc lòng lịch sử của hai cuộc chiến tranh thế giới. Về cổ học, ông đọc được Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử, Đạo đức kinh, Nam Hoa kinh... trong nguyên bản Hán ngữ. Là lãnh đạo Uỷ ban Khoa học Nhà nước, ông trực tiếp làm trưởng ban Sinh vật - Địa học. Các bài giảng của ông về sinh học hiện đại có các giáo sư đầu ngành đến dự. Khi ông thuyết trình tại các hội thảo toán học, người nghe vừa ngạc nhiên vừa khâm phục kiến thức uyên bác và cập nhật của ông...

Một trong những công lao to lớn của Giáo sư Tạ Quang Bửu là xây dựng nền đại học trong kháng chiến chống Mỹ, góp phần vào sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật nước ta. Ông là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (Bộ ĐH&THCN) từ năm 1965 đến năm 1976). Được thành lập trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, Bộ ĐH&THCN có trách nhiệm nặng nề : duy trì mọi hoạt động giáo dục và đào tạo, đảm bảo nhu cầu cán bộ khoa học cho tiền tuyến cũng như hậu phương; bảo vệ đội ngũ cán bộ giảng dạy và học sinh, sinh viên cũng như cơ sở vật chất hiện có; chuẩn bị cho sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh.

Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1) về khoa học công nghệ với tập hợp các công trình "Giới thiệu khoa học kĩ thuật hiện đại (sau 1945), chỉ đạo các nhiệm vụ quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những quan điểm xây dựng ngành Đại học và Trung học chuyên nghiệp nước nhà". Các công trình của ông được đánh giá là đã định hướng phát triển một số ngành khoa học cơ bản; chỉ đạo kỹ thuật việc rà phá bom mìn phong toả Vịnh Bắc Bộ, Hải Phòng và chỉ đạo những nhiệm vụ kỹ thuật quan trọng khác trong kháng chiến chống Mỹ. Những ý tưởng chỉ đạo của ông về bồi dưỡng nhân tài, chú trọng phát triển các công trình khoa học trọng điểm, về hợp tác khoa học, kỹ thuật với nước ngoài cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Ông là Đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoa VI.

Theo Bách khoa Hà Nội.


Tiêu đề: Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Sáu, 2008, 06:20:20 pm
(http://img164.imageshack.us/img164/6776/daituongleducanhxb3.jpg)

Đại tướng Lê Đức Anh (1920), nguyên: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó Tư lệnh kiêm Tư lệnh Cánh quân Tây Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trung tướng (1974), Thượng tướng (1980), Đại tướng (1984). Ông là một trong những vị tướng được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng năm 1974.

Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, huân chương Quân công hạng nhất, huân chương Chiến thắng hạng nhất...


Ông quê tại làng Bàn Môn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Từ năm 1937 đến năm 1944 ông tham gia tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch. Tháng 8.1945, ông gia nhập lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thời kì 1945 - 54, ông từng giữ các chức vụ từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn, chi đội, trung đoàn, tham mưu trưởng Khu VII, Khu VIII, Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, tham mưu phó rồi quyền tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

Trong thời kì Kháng chiến chỗng Mỹ ông lần lượt là: 1964-1968, Cục phó Cục Tác chiến, cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân giải phóng Miền Nam.

Tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch lớn như: chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Jansơn Xiti (Junction City)) của Mĩ vào căn cứ của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền ở Tây Ninh (1967), đánh vào khu vực Chợ Lớn trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968...

Sau chiến dịch Mậu Thân, trước tình hình lực lượng Cách mạng miền Nam Việt Nam bị thiệt hại nặng nề, các vùng giải phóng và kiểm soát bị thu hẹp đặc biệt là tại những vùng giáp ranh Sài Gòn như miền Tây Nam Bộ, ông được Bộ Chỉ huy miền điều về làm Tư lệnh Quân khu 9 từ năm 1969 đến năm 1974.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4.1975, ông Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm tư lệnh cánh quân Tây Nam (đoàn 232-tương đương với một Quân đoàn tăng cường) đánh vào Sài Gòn.

Đất nước hoàn toàn thống nhất, từ 5.1976 đến 1978, ông Tư lệnh Quân khu 9 rồi Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu 7. Thành viên của Ban Lãnh đạo chuyên gia và Quân tình nguyện Việt Nam tại Cămpuchia (2. 1979).

Tháng 12.1986, ông được cử giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương. Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992 - 1997). Uỷ viên Bộ Chính trị từ khoá 5 đến khóa 8. Bí thư Trung ương Đảng khoá 7, Uỷ viên thường vụ Bộ Chính trị từ tháng 6.1996 đến tháng 12.1997.

Ông là Đại biểu Quốc hội các khoá 6, 8, 9. Sau khi về hưu, ông Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12.1997 đến 4.2001.


Tiêu đề: Thượng tướng Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Sáu, 2008, 06:37:07 pm
(http://img543.imageshack.us/img543/9776/tuonglekhaphieu.jpg)

Thượng tướng Lê Khả Phiêu (27.12.1931), nguyên: Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng...và nhiều Huân chương của Nhà nước Lào, Căm-pu-chia.

Thiếu tướng (1984), Trung tướng (1988), Thượng tướng (1992).


Ông quê ở xã Đông Khê, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, tham gia cách mạng ở địa phương năm 1945. Đảng viên Đảng Cộng sản 19.6.1949.

Ngày 1.5.1950, ông được điều vào công tác trong Quân đội. Trong Kháng chiến chống Pháp trưởng thành từ chiến sỹ đến Chính trị viên Đai đội thuộc Trung đoàn 66 Sư đoàn 304. Từ tháng 9 năm 1954 đến năm 1958, ông là Phó chính trị viên, Chính trị viên tiểu đoàn rồi Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 66.

Từ tháng 6 năm 1961 đến năm 1966, ông là Phó trưởng ban, Trưởng ban Cán bộ tổ chức Sư đoàn 304, sau đó là Phó chính uỷ, Chính uỷ kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, Sư đoàn 304. Năm 1967, ông vào chiến đấu tại Chiến trường Trị Thiên Huế, là Chính uỷ Trung đoàn 9. Năm 1968, ông là Trưởng phòng Tổ chức Quân khu Trị Thiên tham gia tấn công Huế trong Chiến dịch Mậu Thân. Năm 1970, ông là Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu Trị Thiên. Tháng 5 năm 1974, ông là Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 2.

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, năm 1978, ông là Chủ nhiệm chính trị, Phó chính uỷ kiêm Chủ nhiệm Chính trị, rồi Phó tư lệnh về chính trị Quân khu 9. Từ tháng 4 năm 1984 đến năm 1988, ông là Chủ nhiệm chính trị, rồi Phó tư lệnh về chính trị Kiêm Chủ nhiệm chính trị, Phó Bí thư Ban Cán sự Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Cămpuchia. Tháng 8 năm 1988, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tháng 9 năm 1991, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đôị nhân dân Việt Nam.

Tháng 7 năm 1992, ông là Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương, được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá 7, 8. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 7 (tháng 6/1992), ông được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng. Tháng 1 năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, ông được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 8, bầu vào Bộ Chính trị. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc khoá 8 Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6/1996), ông được bầu là Uỷ viên Thường vụ, Thường trực Bộ Chính trị. Ông là đại biểu Quốc hội khoá 9, 10.
 
Từ tháng 12 năm 1997 đến tháng 4 năm 2001, ông được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương.

Tham khảo: Bảo tàng Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Trần Hanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Sáu, 2008, 07:02:49 am
(http://www.nhandan.com.vn/nhandan/Vietnamese/chinhtri/cttinchung/151207/Image/i63_111153.jpg)

Trung tướng Trần Hanh (19/11/1932), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân nguyên: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 2 hạng Ba), Huân chương Chiến công (1 hạng Nhất, 3 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, một Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Ðộc Lập hạng Nhì.


Ông tên thật là Trần Huy Hanh, quê tại làng Tức Mặc, xã Lộc Vượng, huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định. Nhập ngũ 9.1949, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức ngày 10.09.1950.

Trong Kháng chiến chống Pháp, từ tháng 12.1946 đến 8.1949, ông tham gia công tác thanh niên, thông tin ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Ðịnh. Từ tháng 9.1949 đến tháng 3.1950, được điều động vào Quân đội là học viên Trường Quân chính Liên khu 3. Từ tháng 4.1950 đến tháng 8.1956, ông lần lượt giữ các chức vụ Chính trị viên Ðại đội và Chính trị viên Tiểu đoàn 680, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320.

Sau khi hòa bình được lập lại trên miền Bắc, từ tháng 9-1956 đến tháng 5-1964, ông được cử đi đào taoj phi công tiêm kích ở Trung Quóc với cấp bậc Ðại úy.

Trở về nước, ông là Phi đội trưởng Không quân. Từ tháng 6.1964 đến tháng 3.1972, ông lần lượt là Thiếu tá rồi Trung tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 921 Không quân. Từ tháng 4.1972 đến tháng 7.1976, là Thượng tá, Tư lệnh Binh chủng Không quân, Sư trưởng Sư đoàn 371 Không quân, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không-Không quân. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 4.1975, ông tham gia chỉ huy Không quân và là một trong những người trực tiếp chỉ huy trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, từ năm 1976 đến năm 1980, ông được bầu là Ủy viên Trung ương Ðảng khóa 4. Từ tháng 8.1976 đến tháng 3.1989, là Ðại tá, Thiếu tướng, Phó Tư lệnh, rồi Tư lệnh Quân chủng Không quân. Từ tháng 4.1989 đến tháng 12.2000, là Trung tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ tháng 1.2001 đến 12.2007, ông là Ủy viên Thường vụ, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam. Từ tháng 12.2007 cho đến nay ông là Chủ tịch, Ủy viên thường trực Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam.



Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 16 Tháng Bảy, 2008, 01:52:32 am
(http://img515.imageshack.us/img515/6318/thieutuongnguyentrongviwp2.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (1916), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chính ủy Quân khu 4, Cục trưởng Cục Tổ chức trực thuộc Tổng cục Chính trị.

Thiếu tướng (1959).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất...


Ông quê ở xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, tham gia Cách mạng năm 1937, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSVN) năm 1939, nhập ngũ năm 1947.

Năm 1940 ông bị thực dân Pháp bắt giam. Sau khi được trả tự do (2.8.1945) ông được phân công về hoạt động tại huyện Đông Anh là Bí thư huyện ủy, kiêm Phó Chủ tịch huyện chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8.1945. Sau cách mạng tháng 8, tháng 11 năm 1945, ông được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Yên rồi tháng 10 năm 1946, là Bí thư tỉnh ủy kiêm Phó Chủ tịch tỉnh Thái Bình.

Tháng 2 năm 1947, trước yêu cầu của của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông được điều vào quân đội là Chính ủy, Thường vụ khu ủy Khu 1. Từ 2.1948 đến 1950, ông là Trưởng phòng cán bộ và đảng vụ, Cục phó Cục Chính trị Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam, Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị.

Năm 1958, ông được cử vào làm Chính ủy Quân khu 4. Tháng 6.1961 ông ra Trung ương và giữ chức vụ Phó Tổng thanh tra Ban Thanh tra Chính phủ.

Tháng 8 năm 1961, ông là Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa. Từ tháng 3 năm 1964 đến năm 1974, ông là Đoàn ủy Đoàn 959, kiêm Phó ban công tác miền Tây của Chính phủ (CP–38), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ năm 1974 đến năm 1989, ông là Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, là vị đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc lâu năm nhất đồng thời lại là thời kì căng thẳng, xung đột giữa hai nước.

Ông là ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 3. Năm 1993, ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.

Chú ý: Trong từ điển không ghi Thiếu tướng Nguyễn Văn Vĩnh từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng theo một bài viết của Trung tướng Đặng Kinh thì tại thời điểm 1968 ông là Thứ trưởng Bộ quốc phòng.     




Tiêu đề: Đại tá Lê Tâm, người chế tạo súng chống tăng trong rừng Sác
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Bảy, 2008, 09:04:32 pm
(http://img292.imageshack.us/img292/6681/daitaletamrj3.jpg)

Đại tá Lê Tâm (tên thật: Nguyễn Hy Hiền, 1921), nguyên Trưởng phòng Quân giới Nam Bộ. Ông là một trong 7 sĩ quan đầu tiên ở Nam Bộ được phong quân hàm Đại tá (1949). Ông được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng giải thưởng nhà nước Hồ Chí Minh năm 1996.

Đại tá Lê Tâm quê tại làng Niêm Phò, Xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cùng xã với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Làng quê mà nhà thơ Tố Hữu đã mấy câu thơ viết về:

''Như quê bạn, Niêm Phò trơ trụi
Đạn bom cày cả nương sắn, đồng khoai...''

Bố của của Nguyễn Hy Hiền là cụ Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại từng phụng chiếu Hoàng đế Thành Thái "sung phó chủ khảo" khoa thi hội năm Tân Sửu-1901, cùng cụ chánh chủ khảo Cao Xuân Dục, hiệp biện đại học sĩ, phó tổng tài Quốc sử quán, chấm bài làm của các vị cử nhân "lai kinh hội thí", để lấy đỗ tiến sĩ, phó bảng. Hai cụ Nguyễn Sinh Huy (còn gọi là Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh chủ tịch Hồ Chí Minh) và cụ Phan Châu Trinh cùng đỗ phó bảng trong khoa thi năm 1901 ấy.

Người xưa từng nói: "Sĩ học hy hiền, hiền hy thánh, thánh hy thiên". Nghĩa là: Kẻ sĩ học tập với niềm mong ước trở thành người hiền, người hiền mong ước trở thành bậc thánh, còn bậc thánh thì mong ước trở nên anh minh, khoan thứ như lồng lộng trời cao! Cụ Tiểu Cao chọn đặt tên Hy Hiền cho con trai thứ là nhằm gửi gắm ở anh chút kỳ vọng.

Từ nhỏ, ông đã học rất giỏi. Năm 1939, ông đỗ đầu tú tài Tây, cả ban toán lẫn ban triết ở Huế. Lúc bấy giờ Hội Như Tây du học (một tổ chức khuyến học của Nam triều) mỗi năm cấp một suất học bổng cho học sinh nào xuất sắc nhất trong cả ba kỳ Bắc, Trung, Nam. Nguyễn Hy Hiền được nhận suất học bổng đó. Rời Sài Gòn lênh đênh mấy tháng trời trên cùng một chuyến tàu thủy với Lê Văn Thiêm sang Pháp học. Từ đấy hai người trở thành đôi bạn chí thân.

Sau khi bổ túc kiến thức tại Trường Saint Luis, ông thi đỗ vào Trường Quốc gia Cầu - Ðường, một trong mấy "trường lớn" của nước Pháp. Trước đó mấy năm, Phạm Quang Lễ (Thiếu tướng Trần Ðại Nghĩa) cũng theo học trường này. Căng-tin của trường nằm trong khu la-tinh, cách Trường Ðại học Sư phạm Paris-nơi Lê Văn Thiêm và Trần Ðức Thảo theo học-chỉ vài trăm mét. Hằng ngày, ba người này và Phạm Quang Lễ thường cùng ăn cơm ở căng-tin. Tại Paris hình thành một nhóm trí thức trẻ người Việt hăng hái hướng về cách mạng.

Năm 1946, Ðoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do ông Phạm Văn Ðồng dẫn đầu, sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleu. Các trí thức trẻ Lê Văn Thiêm, Phạm Huy Thông, Nguyễn Hy Hiền tình nguyện giúp việc không lương cho Ðoàn.

Khi nghe kỹ sư Hiền tỏ ý muốn về nước tham gia cách mạng, ông Phạm Văn Ðồng tin cậy viết thư giới thiệu để đến khi trở về, nếu bị kẹt lại tại Sài Gòn, thì kỹ sư Hiền có thể liên hệ với cơ sở bí mật ở trong đó. Ðêm 19-12-1946, chiếc tàu thủy chở kỹ sư Hiền ghé cảng Tân Gia Ba (Singapore), đúng vào lúc ở trong nước, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 23-12, tàu cập bến Sài Gòn. Ông tìm đến nhà bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, lúc đó đang công khai giữ chức giám đốc Viện Pasteur, đưa thư giới thiệu.

Một tháng sau, ông thay bộ đồ Tây sang trọng thường mặc bằng bộ áo quần bà ba đen, lên một chiếc xe thổ mộ lóc cóc chạy về phía Củ Chi. Ðến chỗ vắng, ông xuống xe, lặng lẽ len lỏi qua đồn bốt Pháp, rồi được một chú liên lạc đón, đưa ra bưng biền. Cùng ra bưng biền với ông hôm ấy còn có giáo sư Hoàng Xuân Nhị.

Ngay sau đó, Hoàng Xuân Nhị sáng lập và làm chủ bút tờ báo L'Appel du Maquis (Tiếng gọi Bưng biền) in bằng tiếng Pháp để phát hành vào vùng tạm bị địch chiếm đóng. Còn ông được ông Nguyễn Bình giao phụ trách ngành quân giới, và vào năm 1949, trở thành  một trong bảy sĩ quan đầu tiên ở Nam Bộ được phong quân hàm đại tá. Ngay sau khi ra bưng biền tham gia kháng chiến, ông đổi tên Lê Tâm để bảo vệ cho dòng tộc và gia đình trong vùng bị Pháp chiếm đóng.

Mặc dù quân giới không phải là chuyên ngành của ông, nhưng được tướng Nguyễn Bình tin tưởng giao cho công việc hết sức quan trọng này. Ông đã phải tự học rất nhiều và đã có những đóng góp to lớn cho ngành quân giới Nam Bộ thời kì Kháng chiến chống Pháp.

Chiến trường Nam Bộ không có nơi nào địa hình hiểm trở để có thể xây dựng thành An toàn khu (ATK) như vùng rừng núi Thái Nguyên-Tuyên Quang-Bắc Cạn. Các xưởng quân giới phải đổi chỗ luôn, lúc đóng ở Ðồng Tháp Mười, lúc chuyển đến chiến khu Ð, lúc lui về vùng rừng ngập mặn Bà Rịa - Vũng Tàu. Khu rừng này có loài cây sác chịu mặn, nên gọi là rừng sác. Pháp đến, ta chôn máy xuống đất. Pháp rút, ta lại đào máy lên! Khó khăn là vậy nhưng vẫn xây dựng được những xưởng quân giới lớn, như xưởng của Bộ Tư lệnh Nam Bộ có gần 1.000 cán bộ, công nhân, xưởng của quân khu 8 có 300. Lực lượng quân giới Nam Bộ đông tới 8.000 người. Sống trong rừng lầy lội, đầy muỗi, vắt, thế mà cán bộ và chiến sĩ vẫn chế được súng cối, bộc lôi, địa lôi, đạn súng trường, đạn súng lục, sửa chữa súng, và về sau, còn chế cả SS...

Liên lạc giữa Việt Bắc và Nam Bộ vô cùng khó khăn, thường chỉ bằng điện tín mật mã, ngắn gọn. Năm 1949, mới có một đoàn cán bộ quân giới do kỹ sư Trần Ðại Nghĩa cử vào, mang theo một ít tài liệu về ba-dô-ca và SKZ. Nhưng điều kiện ở rừng sác không giống ở Việt Bắc.

Kỹ sư Lê Tâm nghĩ tới một loại súng có sức công phá bằng cỗ đại bác nặng hàng tấn thép, nhưng chỉ nhẹ khoảng 5-10 kg để anh vệ quốc có thể vác trên vai. Muốn vậy, phải tự chế tạo được đạn lõm, loại đạn mới xuất hiện trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Khi bị kích nổ, đạn lõm chỉ tập trung năng lượng vào một luồng, đủ tạo ra sức nóng tới 3.000 độ C, áp suất hàng trăm át-mốt-phe, chọc thủng vỏ thép xe tăng dễ như chiếc đũa xuyên qua... cục bơ! Lính Pháp ngồi trong xe cháy thành than! Loại súng này không đòi hỏi thuốc đẩy tốt như thuốc con bài, mà có thể dùng thuốc đẩy thông thường của súng cối. Viên đạn lõm to hơn nòng súng, chỉ có chuôi đạn nằm trong nòng. Thuốc đẩy viên đạn bay ra phía trước và, cùng một lúc, đẩy khối lùi (có thể tiện bằng gỗ) bay lại phía sau, do đó triệt tiêu lực giật. Kỹ sư Lê Tâm đặt tên cho loại vũ khí mới này là SS,  nghĩa là Súng Rừng Sác.

Lúc bấy giờ, binh lính Pháp thường ngồi trong xe tăng, xe bọc thép, tàu chiến, nghênh ngang càn quét vùng căn cứ kháng chiến. Súng trường, súng máy, lựu đạn  của ta không thể làm gì được! Nhưng bỗng xuất hiện SS-AT bắn cháy xe tăng! Dòng kênh Nam Bộ bề ngang chỉ rộng chừng 80 mét. Từ trên bờ kênh, các chiến sĩ du kích nấp trong rừng Sác, kẹp khẩu SS-B, SS-L hay SS-88 (cỡ lớn hơn SS-AT) phụt một quả đạn lõm, đạn chỉ cần bay khoảng 40 mét là đã có thể va vào thành tàu, nổ tung, vỏ tàu thủng, nước ùa vào, tàu chìm nghỉm! Ta chỉ mới dùng SS đánh mấy trận, Pháp đã chùn bước, không còn dám ngông cuồng như trước!

Năm 1952, được Trung ương điều động, kỹ sư Lê Tâm "tháp tùng" ông Lê Duẩn, đi bộ một mạch sáu tháng rưỡi từ Nam Bộ ra Việt Bắc, dọc theo con đường mòn sau này sẽ được mở rộng thành đường Hồ Chí Minh. Ðể có thể tiếp nhận vũ khí hạng nặng từ Trung Quốc chở sang, phía Trung Quốc đề nghị ta mở đường mới rộng 8 mét, rộng hơn mặt đường quốc lộ ở Ðông Dương thời ấy (6,5 mét), với độ dốc, độ cua thấp hơn. Ðó chính là  con "đường ta rộng thênh thang tám thước/đường Bắc Sơn - Ðình Cả - Thái Nguyên" mà Tố Hữu ngợi ca trong bài thơ nổi tiếng Ta đi tới. Thật ra, con đường này bắt đầu từ Mục Nam Quan, qua Ðồng Ðăng, rồi mới đến Bắc Sơn, và chạy tiếp về Ðình Cả, Thái Nguyên, dài 150 km, chỉ làm trong sáu tháng, bằng sức người và cuốc xẻng. Tốt nghiệp ngành cầu - đường tại Paris, kỹ sư Lê Tâm được điều từ Nam Bộ ra đây để tham gia chỉ đạo mở đường, chuẩn bị cho Chiến dịch Ðiện Biên Phủ...

Hòa bình trở lại trên nửa nước. Ông về Hà Nội, giữ chức Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật đường sắt tham gia chỉ đạo phục hồi các tuyến đường Hà Nội-Mục Nam Quan,  Hà Nội-Vinh, rồi làm chủ nhiệm Khoa Xây dựng Trường đại học Bách khoa, Cục trưởng Cục Ðo lường, Ủy viên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), tổng biên tập tạp chí Hoạt động khoa học, v.v.

Năm 1986, Nhà nước ta phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình Một số vũ khí đặc biệt trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) trong đó có vũ khí SS do ông và các cộng tác viên nghiên cứu, chế tạo thành công trong rừng Sác Nam Bộ.

Kĩ sư Lê Tâm là con rể của Giáo sư Nguyễn Xiển, một trong những trí thức lớn của Việt Nam.

Theo Báo Nhân dân


Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Văn, nguyên Cục trưởng Cục tổ chức Tổng cục Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Bảy, 2008, 01:39:53 am
(http://img253.imageshack.us/img253/4316/thieutuonglevanmp6.jpg)

Thiếu tướng Lê Văn (tên thật: Cấn Văn Vũ, sinh 3/7/1928 mất 17h10' 29/7/2008), nguyên Cục trưởng Cục tổ chức Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông được Nhà nước Lào tặng thưởng Huân chương Tự do hạng nhất, được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Hữu nghị.


Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở địa phương. Từ tháng 8.1945 đến tháng 2.1946, học lớp quân sự do tỉnh Sơn Tây mở, sau đó tham gia Ban Chấp hành tự vệ huyện Quốc Oai.

Ngày 4.3.1946, ông nhập ngũ là Tiểu đội trưởng thuộc Trung đoàn Sơn La. Sau là Đội trưởng Đội Võ trang Tuyên truyền, Chính trị viên Đại đội 870, 860, 834 địch hậu Sơn La. Tháng 3-1952 đến năm 1956, ông là Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 148 (Trung đoàn Sơn La cũ), Phó Bí thư Đảng ủy Trung đoàn, tham gia nhiều chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Năm 1957, ông là Trưởng phòng Tổ chức Quân khu Tây Bắc. Năm 1960, là Bí thư kiêm Chỉ huy trưởng Tiền phương của Quân khu Tây Bắc đưa một số đơn vị làm nhiệm vụ giúp Lào ở Sầm Nưa. Năm 1962, được điều lên giúp Quân khu Cánh đồng Chum (Xiêng Khoảng), Viên Chăn của Lào, sau đó là Chính ủy Đoàn 463 chuyên gia của Quân khu Cánh đồng Chum mới thành lập do Trung ương Cục của Lào trực tiếp lãnh đạo. Năm 1969, chuyển về Đoàn 959, tham gia giúp Lào chuẩn bị Đại hội Đảng, sau làm chuyên gia Tổng cục Chính trị Quân giải phóng nhân dân Lào. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1975, phụ trách chính trị Tổ chuyên gia quân sự chuẩn bị giành chính quyền ở thủ đô Viên Chăn.

Từ năm 1976 đến năm 1979, là Cục phó Cục 100 của Bộ Quốc phòng. Từ năm 1980 đến năm 1990, ông là Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị.


Tiêu đề: Trung tướng Lê Xuân Lựu, nguyên Viện trưởng Học viện Chính trị QS
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Chín, 2008, 03:03:16 am
(http://img849.imageshack.us/img849/9966/lexuanluu.jpg)

Trung tướng Lê Xuân Lựu (Sáu An) (1925), Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú, nguyên Viện trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị Quân sự ; Phó Chính ủy Đoàn 232 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh ; Chính ủy Trường Quân chính Quân giải phóng miền Nam Việt Nam ; Phó Chính ủy Quân khu 7.

Huân chương Độc lập hạng nhì ; Huân chương Quân công hạng nhất ; Huân chương Kháng chiến hạng nhất ; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất ; Huân chương Chiến công hạng nhì ; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba ; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng ; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1979), Trung tướng (1986)


Ông quê tại xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Sinh ra và lớn lên tại một vùng đất giàu truyền thống yêu nước, ông sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng từ trước cách mạng tháng 8 năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) năm 1945.

Trong Cách mạng tháng 8, ông tham gia giành chính quyền ở địa phương. Đầu năm 1946, ông tham gia Huyện ủy, là Huyện ủy viên, được cử đi học lớp Nguyễn Ái Quốc II tại Hà Đông. Năm 1947, trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nước của dân tộc, ông được điều động vào công tác trong Quân đội giữ chức vụ Chính trị viên đại đội rồi tiểu đoàn (1948).

Là một cán bộ quân sự, chính trị song toàn, chỉ huy, lãnh đạo đơn vị chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, sáng tạo, giành nhiều thắng lợi. Nhờ thực tiễn chiến đấu trên mặt trận, tinh thần đồng cam, cộng khổ với nhân dân và đồng đội nên ông được mọi người yêu mến, tin tưởng.

Tháng 2 năm 1950, trước yêu cầu chính quy hóa lực lượng cách mạng miền Nam, ông là Phái viên của Bộ Tổng tham mưu tham gia vào Đoàn cán bộ của Bộ Quốc phòng vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Tại đây, ông được cử làm Chính trị viên của Trung đoàn Đồng Nai Nam Bộ. Năm 1953, ông là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Long Châu Sa.

Năm 1954, ông lên đường ra Bắc tập kết, là Chính uỷ Trung đoàn, rồi Phó Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn Pháo binh 349. Sau đó, ông được cử đi đào tạo tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Liên Xô. Với lý luận được trang bị và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, những vấn đề lý luận và thực tế cuộc sống đặt ra chưa được giải đáp qua các lớp học ngắn trước đây đã được ông lý giải có lý, có tình và chính ông đã thường xuyên tự học tập, hoàn thiện mình để đóng góp tư duy khoa học và kinh nghiệm thực tiễn vào sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của Quân đội.

Sau khi hoàn thành khóa học về nước, tháng 8 năm 1962, ông giữ chức vụ Chủ nhiệm Khoa Công tác Chính trị Học viện Quân chính (sau là Trường trung cao Quân đội). Bước vào những năm tháng chống Mỹ cứu nước, Bộ Tổng tham mưu chủ trương tăng cường cho miền Nam những cán bộ quân sự quen thuộc với chiến trường, năm 1964, sau ba năm làm chủ nhiệm khoa Kinh tế - Chính trị của Trường trung cao Quân đội, ông được cử đi trên đoàn tàu không số, trở lại chiến trường miền Nam chiến đấu.

Vào thời kỳ gay go, quyết liệt những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông đã tham gia chiến dịch Bình Giã với cương vị Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch. Tại Đồng Xoài, đơn vị ông đã đánh đòn đau vào "chiến tranh cục bộ" của kẻ thù. Kết thúc chiến dịch ông được điều về giữ chức chính ủy Sư đoàn 5 (tháng 9 năm 1965), cùng đơn vị giành nhiều thành tích xuất sắc.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, ông là Bí thư dân chính Đảng, phụ trách hướng Đông Bắc đánh vào Sài Gòn. Sau đó, ông lần lượt giữ các chức vụ : Phó Chính ủy Mặt trận Đông Bắc Căm-pu-chia, Phó Chính ủy Quân khu 7 (cuối năm 1968), Chính ủy Trường Quân chính Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 4 năm 1975, ông là Phó Chính ủy Đoàn 232 (Đoàn Tây Nam Bộ) tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ông đã có những đóng góp về quân sự, chính trị ở cấp chiến dịch - chiến lược góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đánh thắng "chiến tranh đặc biệt" và "chiến tranh cục bộ" trên chiến trường Nam Bộ. Sau chiến dịch, ông tiếp tục được cử giữ chức vụ Chính ủy Đoàn 500 có nhiệm vụ giáo dục, cải tạo sĩ quan ngụy.

Tháng 8 năm 1976, ông là Chủ nhiệm Khoa Chính trị, Học viện Quân sự Cấp cao. Tháng 7 năm 1978, ông là Phó Viện trưởng Học viện Chính trị. Từ năm 1981 đến năm 1991, ông là Viện trưởng, Bí thư Đảng uỷ Học viện Chính trị Quân sự. Từ tháng 1 năm 1992 đến năm 1993, ông là Chuyên viên nghiên cứu lý luận Tổng cục Chính trị cho đến khi về hưu. Trong hơn 10 năm giữ cương vị lãnh đạo ở Học viện Chính trị, ông có những đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp xây dựng Học viện, nhất là lĩnh vực nghiên cứu Khoa học, Giáo dục và Đào tạo.

Ông là một trong những người không nhiều của các học viện, nhà trường đã đi tiên phong trong đổi mới tư duy, nắm bắt nhu cầu thực tiễn và sự phát triển bão táp của khoa học và công nghệ. Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn, Học viện Chính trị quân sự đã trở thành lá cờ đầu của ngành giáo dục nước ta.

Trung tướng Lê Xuân Lựu là người cán bộ có đạo đức và tài năng tốt, song toàn về chính trị, quân sự, được học tập, đào tạo cơ bản, đã trải qua các cấp trong hoạt động thực tiễn, tích lũy được nhiều kinh nghiệm về nhiều lĩnh vực. Một con người có ý chí chiến đấu cao, tinh thần chịu trách nhiệm lớn nên đã dám đấu tranh chống lại các quan điểm thù địch, chống lại mọi sự hoài nghi, giao động trong nội bộ, kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện suy thoái về đạo đức. Do vậy, cá biệt có lúc ông bị một vài người ở cương vị cấp trên thiếu thiện cảm, một vài đồng chí cùng hoạt động đố kị. Trong hoàn cảnh như vậy, ông vẫn có lòng tin sắt đá vào "chân, thiện, mỹ", không định kiến với cá nhân con người. Chính quá trình thử thách và tôi luyện đó đã làm nhân cách của một vị tướng, một giáo sư, một nhà giáo trong sáng hơn, đẹp đẽ hơn và được người đời kính phục.

Tham khảo : Báo Quân đội Nhân dân, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: chienthanh trong 21 Tháng Chín, 2008, 12:59:38 pm
Đọc xong phần này em thấy hay quá.Quân đội ta oai hùng và có những vị tướng tài giỏi như thế thì đúng là "XỨNG DANH ANH HÙNG" Rất mong các bác tiếp tục nhé


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: chienthanh trong 21 Tháng Chín, 2008, 01:22:12 pm
TRUNG TƯỚNG
ĐẶNG HÒA

TIỂU SỬ TÓM TẮT

•   Trung tướng ĐẶNG HÒA (Tức Đặng Ngọc Lập – Ba Lập)
•   Sinh năm 1927 ,tại thôn Tích Phú ,xã Đại Hiệp ,huyện Đại Lộc,Tỉnh Quảng Nam.
-   Sớm giác ngộ cách mạng ,tháng 10-1942 Ông tham gia lực lượng thanh niên cứu quốc (Tổ trưởng tổ thanh niên cứu quốc xã Đại Hiệp)
-   Từ năm 1943 – 1944 là trưởng ban cứu quốc xã,tiểu đội trưởng tự vệ đỏ,Bí thư thanh niên cứu quốc.Chủ nhiệm Việt minh xã Đại Hiệp.
-   Tháng 7-1945 Ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương.
-   Tháng 8-1945 làm Bí thư chi bộ Quyết Tiến,Trưởng ban bạo động khởi nghĩa xã Đại Hiệp.Lãnh đạo chỉ huy cướp chính quyền các xã : An Mỹ, Hải Châu, Đông Phú,Phú Luận thuộc huyện Đại Lộc.
-   Tháng 10-1945 được cử vào thường vụ Huyện ủy huyện Đại Lộc,sau đó làm phó Bí thư huyện ủy.
-   Năm 1948 là Tỉnh ủy viên,phó ban Kiểm tra liên tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng
-   Tháng 5-1950 Ông nhập ngũ vào Quân đội nhân dân Việt Nam, được giao giữ chức vụ phó ban tổ chức cán bộ,Bộ tư lệnh liên khu 5.
-   Năm 1955 là phó phòng cán bộ thuộc Cục tổ chức- Bộ Quốc Phòng.
-   Năm 1957 là Trưởng phòng Quân Huấn,thuộc Cục Quân Huấn - Tổng cục cán bộ - Bộ Quốc Phòng.
-   Năm 1960 là phó chính ủy Sư đoàn 324.
-   Tháng 12 – 1967 là chủ nhiệm chính trị Quân khu 5 kiêm Chính uỷ Sư đoàn 3 (Sao Vàng).
-   Tháng 8-1971 là Chính ủy  Binh chủng Pháo binh.
-   Tháng 01-1973 là phó Chính ủy Quân khu 4.
-   Từ tháng 12-1977 đến 12-1987 Ông lần lượt giữ các chức vụ: Phó Chính ủy , Chính Ủy Binh chủng Pháo Binh , Phó tư lệnh về chính trị (Chính Ủy) Quân khu 4.
-   Tháng 01-1988 Ông giữ chức Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung Ương.
Ông ĐẶNG HÒA được phong quân hàm Thiếu tướng tháng 11-1978, Trung tướng tháng 11- 1986.

Do những cống hiến suất sắc cho sự nghiệp cách mạng ,giải phóng dân tộc,thống nhất đất nước ,Ông Đặng Hòa được Đảng,Nhà nước tặng thưởng huân chương Độc Lập hạng nhất, Huân chương Quân công hạng nhất,nhì,ba.Huân chương chiến công hạng nhì,ba,Huân chương chiến thắng hạng nhì,Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất , Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều Huân huy chương cao quý khác
Ông từ trần hồi 17h 45 phút,ngày 04-03-2007 ( Nhằm ngày 16-01 năm Đinh Mão) Tại Viện Quân y 175 - Bộ Quốc Phòng.An táng tại Nghĩa Trang TP HCM (Lạc Cảnh ,Thủ Đức)


Tiêu đề: Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười, 2008, 12:59:11 am
   Nguồn: Tổng hợp

  Ông sinh tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa, nay là xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Cha của ông là một thầy dạy võ. Giám đốc đài truyền hình TP.HCM - ông Huỳnh Văn Nam là con của ông.

   Do học giỏi nên Huỳnh Văn Nghệ được nhận học bổng học tại trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Trong những năm 1936-1939, ông làm việc ở Sở hỏa xa Sài Gòn. Năm 1940, ông tham gia Khởi nghĩa Nam Kỳ. Khi bị lộ, ông sang Campuchia rồi Thái Lan (1942) hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước. tại đây ông tổ chức xuất bản báo Hồn cố hương.
 
   Năm 1944, ông trở về nước lập khu nghĩa quân Đất Quốc tại quê hương Tân Uyên, Biên Hòa. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, trực tiếp chỉ huy bắt sống tỉnh trưởng và cảnh sát trưởng tỉnh Biên Hòa. Ông được giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng lực lượng Giải phóng quân Biên Hòa, cố vấn cho Ủy ban kháng chiến miền Đông. Chính quyền cách mạng giao cho ông trọng trách mang hơn 10 vạn đồng (tiền Đông Dương) qua Campuchia mua vũ khí về phục vụ cách mạng nhưng hai kẻ môi giới cầm tiền đã bỏ trốn, khiến ông không hoàn thành nhiệm vụ. Sau này hai kẻ môi giới lừa bịp đã bị bắt.

   Cuối tháng 9 năm 1945, Sài Gòn bị Pháp chiếm, trạng sư Dương Văn Giáo, “lãnh tụ” Việt Nam phục quốc đồng minh hội, đứng ra thành lập chính phủ “Nam Kỳ Cộng hòa quốc” phục vụ cho thực dân Pháp. Huỳnh Văn Nghệ đã trực tiếp tham gia bắt sống Dương Văn Giáo.
Tháng 5 năm 1946, Tư lệnh Nam Bộ Nguyễn Bình phong cho Chi đội trưởng Chi đội (tương đương trung đoàn) 10 Huỳnh Văn Nghệ làm Khu bộ phó Khu 7 (miền Đông Nam Bộ, một trong 3 khu quân sự-hành chính ở Nam Bộ). Sau này ông được thăng chức Khu trưởng Khu 7 kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Khu 7. Ông đã chỉ huy nhiều trận đánh nổi tiếng với bí danh Tám Ngãi.

   Năm 1953, ông được cử ra Bắc học tập và tiếp tục công tác trong Quân đội với hàm Thượng tá, chức vụ Phó Cục trưởng Cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng Tham mưu.

   Rời Quân đội, Huỳnh Văn Nghệ chuyển sang làm Tổng cục phó Tổng cục Lâm nghiệp. Năm 1965, ông về miền Nam tham gia chống Mỹ, làm Phó ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam.

  Sau khi đất nước thống nhất, ông là Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp (nay đã hợp nhất vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Ông lâm bệnh và mất tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 3 năm 1977.

   Không chỉ là một chỉ huy quân sự tài ba, ông còn là một nhà thơ có những vần thơ in đậm trong tâm trí người đọc. Đồng đội và nhân dân miền Nam gọi ông là "Thi tướng rừng xanh".
   Ở Huỳnh Văn Nghệ nhiệm vụ chiến sĩ và sứ mệnh thi sĩ đã hoà quyện với nhau, như chính lời ông viết:

                             Tôi là người lăn lóc giữa đường trần,
                             Không phân biệt lúc mài gươm múa bút.
                             Đời chiến sĩ máu hoà lệ, mực
                             Còn yêu thương là chiến đấu không thôi
                             Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi
                             Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác.
                             Trên lưng ngựa múa gươm và ca hát,
                             Lòng ta say chiến trận đến thành thơ…

   Thơ của ông giản dị mà gần gũi, đầy cảm hứng mà sâu sắc, hồn nhiên mà xúc động. Bài thơ Nhớ Bắc của ông làm tại Chiến khu Đ năm 1946 với 4 câu tuyệt bút mở đầu đã được nhiều thế hệ người Việt Nam truyền tụng:
       
                             Ai về xứ Bắc ta đi với
                             Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
                             Từ thuở mang gươm đi mở cõi
                             Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

   (Câu cuối có một số bản chép là "Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long". Tuy nhiên sau này đã được đính chính lại đúng nguyên tác là "trời Nam").
   Bài thơ kết thúc bằng 4 câu mang nặng tình với đất nước:

                             Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
                             Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
                             Hoàn Kiếm hồ xưa Linh Quy hỡi
                             Bao giờ mang trả kiếm dân ta.

   Gần 50 bài thơ của ông đã được chọn in trong tập Thơ văn Huỳnh Văn Nghệ, NXB Đồng Nai, 1998. Ngoài ra ông còn viết truyện ký, tự truyện được tập hợp trong hai tập sách Quê hương rừng thẳm sông dài và Những ngày sóng gió.
Tháng 12/2006, các tập thơ Chiến khu xanh, Bên bờ sông xanh, Rừng thẳm sông dài. được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

   Đầu năm 2007, tỉnh Bình Dương phối hợp với tỉnh Đồng Nai và Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học Huỳnh văn nghệ - Cuộc đời và sự nghiệp tại Nhà Lưu niệm Huỳnh Văn Nghệ, thuộc xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Tại thị xã Thủ Dầu Một, có một con đường mang tên Huỳnh Văn Nghệ. Và cũng để tưởng nhớ công lao của một vị tướng - một nhà thơ, tỉnh Bình Dương đã quyết định thành lập Giải thưởng văn học nghệ thuật Huỳnh Văn Nghệ của tỉnh Bình Dương.


Tiêu đề: Re: Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười, 2008, 01:01:43 am
Nhớ Bắc
          Huỳnh Văn Nghệ

Ai về Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương.

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên.

(Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồ xưa Linh Quy hỡi
Bao giờ mang trả kiếm dân ta)

                   (chiến khu D-1946


Tiêu đề: Re: Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 07 Tháng Mười, 2008, 01:03:42 am


Lời bình bài thơ Nhớ Bắc

  Đặt bài thơ vào bối cảnh những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám chúng ta sẽ nhận ra ý nghĩa hết sức to lớn của nó.

  Nền độc lập dân tộc mà đồng bào ta vừa giành được đang ngàn cân treo sợi tóc. Hai mươi vạn quân Tưởng đã tràn vào miền Bắc. Ở miền Nam, với âm mưu tách Nam Kỳ khỏi Việt Nam, thực dân Pháp đã thành lập nhà nước Nam Kỳ tự trị do địa chủ Nguyễn Văn Thinh đứng đầu.

  Để chống lại âm mưu của kẻ thù, ngày 6-3-1946, Hồ Chủ tịch đã ký Hiệp định sơ bộ, đồng ý cho Pháp đưa quân viễn chinh ra miền Bắc. Với quyết định táo bạo này, chúng ta đã đuổi được quân Tưởng ra khỏi bờ cõi.

  Cùng thời gian ấy, với tư cách làm thượng khách, Bác cũng chuẩn bị sang Pháp để đấu tranh ngoại giao bảo vệ nước Việt Nam mới khai sinh. Trước lúc lên đường, Người đã họp báo và khẳng định: "Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi". Khi đến Pháp, Bác lại đanh thép tuyên bố: "Nam Bộ là miếng đất của Việt Nam. Đó là thịt của thịt chúng tôi, máu của máu chúng tôi. Sự đòi hỏi đó dựa trên những nguyên nhân về chủng tộc, lịch sử và văn hóa. Trước khi Corse trở nên đất Pháp thì Nam Bộ đã là đất Việt Nam rồi".

  Những lời tuyên bố cháy bỏng của Hồ Chủ tịch đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước trong trái tim mỗi người dân đất Việt.

Từ chiến khu Đ (Tây Ninh), Huỳnh Văn Nghệ đã sáng tác bài thơ bất hủ này. Mở đầu bài thơ là câu lục ngôn:

  "Ai về Bắc ta đi với"

  Câu thơ ngắt nhịp 3/3, có giọng điệu rắn rỏi, thể hiện sự lựa chọn dứt khoát của đồng bào Nam Bộ là hướng về Bắc. Hướng về cội nguồn dân tộc chứ nhất định không theo Pháp, dù chúng có giở thủ đoạn nào đi chăng nữa. Bởi với người Việt Nam, dù sống ở đâu cũng đều là con cháu Lạc Hồng.

  Phát tích từ vùng đất tổ Hùng Vương, người Việt từ đời này qua đời khác đã bền bỉ Nam tiến để mở cõi biên thùy. Trong sâu thẳm tâm hồn những người tiên phong ấy, hình ảnh "đế đô muôn đời" (Lý Công Uẩn) luôn là khoảng trời chứa chan niềm nhung nhớ:

  "Từ độ mang gươm đi mở cõi
  Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long"

  Trong suốt bài thơ, từ "nhớ" được lặp lại năm lần. Và nó đặc biệt xúc động khi kết hợp với từ "thương" để thành: "nhớ thương", "thương nhớ". Thủ pháp nghệ thuật này đã tạo nên những đợt sóng tình cảm càng lúc càng dâng lên mãnh liệt trong tâm hồn bạn đọc.

  Ở khổ thơ thứ ba có một kết cấu khá đặc biệt. Câu thứ nhất nhớ về Bắc: "Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ", câu thứ hai hướng về Nam: "Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn", câu thứ ba lại nhớ về Bắc: "Vẫn nhớ, vẫn thương mùa vải đỏ", câu cuối cùng lại hướng về Nam: "Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng".

  Lối kết cấu xen kẽ hai hình như vậy tạo nên sự gắn bó keo sơn, không thể chia lìa giữa hai miền Nam - Bắc. Ba từ "vẫn nghe", "vẫn nhớ", "vẫn thương" là lời khẳng định tấm lòng thủy chung son sắt của đồng bào Nam Bộ với "non nước rồng tiên" của mình.

  Ở phần kết tác phẩm, Huỳnh Văn Nghệ thể hiện đầy cảm động niềm tự hào của người dân Nam Bộ về "sứ mạng ngàn thu" gìn giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, trong khi luôn canh cánh bên lòng niềm hoài hương khắc khoải:

  "Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
  Muốn trở về quê mơ cảnh tiên"

  "Kinh đô" đó là Thăng Long ngàn năm yêu dấu, là nơi hội tụ của hồn thiêng dân tộc, là niềm tự hào của mọi người dân trên đất nước Việt Nam này. Nhớ kinh đô là nhớ quê hương, là sự thể hiện sâu sắc nỗi lòng với Tổ quốc của người dân Nam Bộ.

  Dòng cuối, tác giả ghi "Chiến khu Đ, 1946". Không gian và thời gian ấy thật có ý nghĩa. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác: "Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", nhân dân Nam Bộ đã lập chiến khu, anh dũng đứng lên chiến đấu chống lại âm mưu xâm lược của kẻ thù để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc.

  Có thể nói, đây là bài thơ mở đầu cho dòng thơ viết về khát vọng thống nhất non sông từ những ngày đầu chống Pháp năm 1946 đến ngày thắng Mỹ xâm lược năm 1975 của lịch sử văn học nước nhà.



Tiêu đề: Re: Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ
Gửi bởi: tuaans trong 07 Tháng Mười, 2008, 08:41:19 am
Có bản ghi là "tiễn bạn" viết tại ga Sài Gòn 1940?


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Mười, 2008, 06:30:23 pm
Cám ơn các bác đã tiếp sức hộ em  ;D

Em xin đính chính một chi tiết nhỏ trong bài viết của bác UyenNhi05 đó là: Chiến khu Đ là thuộc tỉnh Đồng Nai chứ không phải ở tỉnh Tây Ninh. Chiến khu của tỉnh Tây Ninh có tên là Chiến khu Dương Minh Châu, thời 9 năm nó là nơi đứng chân của Xứ ủy Nam kỳ còn thời chống Mỹ nó là nơi đặt đại bản doanh của Trung ương cục miền Nam hay còn gọi là Chiến khu R ngắn hơn nữa chỉ gọi mỗi là ''R''.


Tiêu đề: Re: Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Mười, 2008, 06:41:28 pm
Có bản ghi là "tiễn bạn" viết tại ga Sài Gòn 1940?

Đúng là theo nhiều tài liệu thì bài thờ ''Nhớ Bắc'' ông sáng tác tại Chiến khu Đ vào năm 1946. Còn thông tin thêm về khổ thơ cuối cũng như thời điểm sáng tác năm 1940 tại ga Sài Gòn với nhan đề ''Tiễn bạn về Bắc'' do nhóm Biên soạn cuốn ''Thơ Văn Huỳnh Văn Nghệ'' dẫn ra vì theo họ trong một cuốn sổ tay khác chính ông ghi lại như vậy. Cho nên, cũng có thể hiểu là tại thời điểm 1940 ông chỉ là "viết nháp'' cho đến năm 1946 mới ''công bố''.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: tuaans trong 08 Tháng Mười, 2008, 01:28:09 pm
He he,khoe sách tí!  ;D


Tiêu đề: Đại tá Đinh Thị Vân, nữ điệp viên chiến lược anh hùng
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Mười, 2008, 02:35:23 pm
(http://img112.imageshack.us/img112/6602/daitadinhthivanxg7.jpg)
Đại tá Đinh Thị Vân (tên thật : Đinh Thị Mậu ; 1916-11.12.1995), Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân (25.8.1970), nguyên cán bộ Cục nghiên cứu Tổng tham mưu trực thuộc Bộ Quốc phòng (nay là Tổng cục II), Trung tá (1977), Đại tá (1990, vượt cấp).

Bà từng giữ các chức vụ : Huyện ủy viên Huyện ủy Xuân Trường (Nam Định), Ủy viên Ban thường vụ Phụ nữ cứu quốc tỉnh Nam Định, Hội trưởng Hội phụ nữ tỉnh Nam Định.


Đại tá Đinh Thị Vân tên thật là Đinh Thị Mậu, sở dĩ bà lấy tên là Vân vì đấy là tên chồng của bà. Bà sinh năm 1916 tại làn Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một gia đình nhà nho ở nông thôn, giàu lòng yêu nước và có truyền thống cách mạng.

Hai anh trai bà là các ông Đinh Lai Hạp, Đinh Thúc Dự đều là những Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) tham gia cách mạng từ rất sớm. Chính hai ông đã giác ngộ, hướng dẫn em gái mình đến với con đường cách mạng như làm giao thông liên lạc, cất giữ tài liệu bí mật của Đảng và tham gia vào nhóm ‘’ái hữu tương tế’’ nuôi dưỡng và bảo vệ cán bộ cách mạng.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra, trên cương vị là cán bộ Việt Minh huyện Xuân Trường, bà hăng hái vận động quần chúng tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy. Khi cách mạng thành công, bà tích cực tham gia phong trào đấu tranh quần chúng và xây dựng chính quyền mới tại huyện Xuân Trường.

Ngày 30.6.1946, bà được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng sản và liên tục giữ các chức vụ : Huyện ủy viên huyện Xuân Trường, Ủy viên Ban thường vụ Phụ nữ cứu quốc tỉnh Nam Định. Từ năm 1951 đến 1953, bà được bầu giữ chức vụ Hội trưởng Hội phụ nữ tỉnh Nam Định.

Tháng 6.1954, trước nhiệm vụ mới của cách mạng, bà được điều động sang Quân đội và về công tác tại Cục nghiên cứu Tổng Tham mưu trực thuộc Bộ Quốc phòng (tiền thân của Tổng cục II) với nhiệm vụ về Hà Nội hoạt động trong lòng địch nhằm điều tra ý đồ chiến lược của thực dân Pháp.

Về Hà Nội tạm đóng với thẻ căn cước Trần Thị Mỹ, chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn bà đã xây dựng được một số cơ sở tin cậy để thu thập tin tức và gây cơ sở trong nội bộ thực dân Pháp. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ mới, cấp trên chỉ thị cho bà mở rộng phạm vi hoạt động xuống thành phố cảng Hải Phòng. Vượt qua được mạng lưới kiểm sóat dày đặc của Pháp trên trục đường 5 từ Hà Nội xuống Hải Phòng, nhờ vào các mối quan hệ và công tác vận động và giác ngộ quần chúng bà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cung cấp nhiều tin tức để cấp trên chỉ đạo thắng lợi và giành thế chủ động trong thời gian ‘’300 ngày đêm tập kết’’.

Tháng 7.1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đất nước bị chia cắt tại vĩ tuyển 17. Tháng 10.1954, trước ngày quân ta về tiếp quản Thủ đô, bà được cấp trên giao nhiệm vụ từ Hải Phòng bí mật vào Nam hoạt động với vỏ bọc ‘’người đi buôn vào Nam kiếm sống’’.

Trong những ngày đầu tiên tại Sài Gòn, để kiếm sống và che mắt địch bà ở trọ trong một xóm lao động nghèo hàng ngày gánh guốc đi bán khắp nơi, từ chợ Bàn Cờ, chợ An Đông, đến chợ ông Tạ, chợ Cầu Bông, từ ngã tư Hàng Xanh, vòng lên chợ Cầu Muối…Cũng tại thời điểm này, để hộ trợ cho hoạng động của bà che mắt địch, cấp trên quyết định thông báo tuyên án tử hình vắng mặt bà vì lí do phản Đảng, bỏ nhiệm vụ vào Nam theo giặc. Khiến cho nhiều bà con, họ hàng của bà gặp rất nhiều khó khăn trong nhiều năm liền.

Sau khi xây dựng cơ sở tình báo ở Sài Gòn ổn định và đi vào hoạt động, bà nhận lệnh hỏa tốc ra Hà Nội trực tiếp báo cáo tình hình và nhận chỉ thị từ cấp trên theo con đường bí mật. Những hoạt động bước đầu của bà tại Sài Gòn trên cương vị tổ trưởng điệp báo đã được cấp trên đánh giá rất cao, nhiều người trong mạng lưới của bà từ Hà Nội theo con đường di cư vào Nam trong thời gian ngắn đã chui sâu vào hàng ngũ của ngụy quyền như các ông Đoan (Không quân), Phúc (Tiếp vận), Quyền (võ bị Thủ Đức)…Sau bẩy ngày vừa học tập, làm việc, nghiên cứu tình hình và nhiệm vụ mới bà lại quay trở lại Sài Gòn.

Tình hình Sài Gòn trở lên rối ren, bà thôi không làm nghề bán guốc mà theo mọi người tản cư về xóm Mồ Côi, Tân Sơn Nhì tiếp tục tìm cách hoạt động. Tại đây, bà lại bị biệt động của đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn nghi ngờ là tay sai chỉ điểm và tìm cách trừ khử. Vì vậy bà vừa phải ngụy trang để che mách mật vụ ngụy vừa phải khéo léo tránh kế hoạch thủ tiêu từ phía biệt động của đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn.

Do có kẻ phản bội chỉ điểm, hầu hết các cơ sở của đặc khu bị đàn áp khủng bố dã man. Trưởng ban tuyên huấn đặc khu (ông Ba) và nhiều lãnh đạo khác bị theo dõi và truy lùng gắt gao. Trong một lần cơ sở bị lộ, bị truy đuổi và bị thương, ông Ba với sự nhạy cảm của riêng mình cho rằng bà là người yêu nước nên đã chủ động chạy vào nhà bà để ẩn nấp và giấu tài liệu. Chiều hôm đó khi trở về nhà, thấy ông Ba ốm yếu hấp hối nằm trên sàn nhà bà nhận định ngay là cán bộ của ta bị địch truy đuổi phải trốn vào đây. Biết mình không qua khỏi, trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông Ba trao tài liệu cho bà và nói: “Sau này sẽ có người trả ơn bà”. Bà ân cần trả lời: “Ông cứ yên tâm, đây là Đảng nuôi ông”. Bà đã quyết định nhận ông Ba ốm là chồng để lo tang lễ công khai cho ông và che mắt địch rồi tìm cách báo cáo cấp trên, bắt liên lạc để trao trả cho Đặc khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn toàn bộ tài liệu quan trọng mà ông Ba gửi lại. Đây là một đóng góp rất quan trọng của bà trong việc bảo vệ cơ sở Đảng của Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Giữa tháng 3-1956 hoạt động của lưới tình báo do bà chỉ huy gặp khó khăn nghiêm trọng; đường dây liên lạc với Trung ương đột nhiên bị đứt. Không thể chậm trễ, bà quyết định lên đường ra Huế và Quảng Trị tìm hiểu tình hình và tổ chức đường dây liên lạc ra Bắc, nếu không được sẽ chuyển phương án lên miền Tây Vĩnh Linh. Nhưng mọi cố gắng của bà đều vô vọng. Hoàn toàn mất liên lạc bằng đường nội địa, bà nghiên cứu và quyết định tìm hướng liên lạc ra Bắc qua đường Campuchia, đây là đường dây phức tạp, việc hoạt động ở nước ngoài lưới tình báo của bà chưa kịp chuẩn bị. Mặc dù vậy, ngày 15-7-1956 Đinh Thị Vân quyết định lên đường đi Phnôm Pênh. Vẫn bản căn cước là “người đi buôn”, ở đây, bà có thể liên lạc với Hà Nội bằng trao đổi thư từ, bưu thiếp. Nhưng đường dây này không an toàn. Do đó đến giữa năm 1957, cấp trên yêu cầu bà cắt đường liên lạc qua Phnôm Pênh và tổ chức đường dây Tây Nguyên qua Pleiku - Kontum. Để lập đường dây mới, việc quan trọng trước tiên là phải có cơ sở. Bà tìm đến ông Khôi, một gia đình quen biết từ Hà Nội di cư cùng chuyến tàu với chị, ông Khôi làm việc và ở ngay trong cơ quan quân vụ. Do đó việc liên lạc với cấp trên theo đường số 14 được thiết lập và đi vào hoạt động được ngay, những tin tức quan trọng lại được báo cáo đều đặn ra Trung tâm.

Từ cuối năm 1958, tình hình toàn miền trở nên vô cùng căng thẳng. Chính sách chống cộng, tố cộng của ngụy quyền Ngô Đình Diệm càng điên cuồng và dã man hơn bao giờ hết. Bà phải xoay ra làm nghề thợ may và bỏ mối thêu ở ngã ba Vườn Lài. Công việc vừa mới tiến triển thì nhận được lệnh: “Phải nghiên cứu gấp tình hình phía Nam nhất là vĩ tuyến 17, sự bố phòng của sư đoàn 1 ngụy, đồng thời tìm hiểu xem địch biết về lực lượng ta ở Hạ Lào như thế nào?”. Đinh Thị Vân vội vã lên đường đi Huế, để rồi tuỳ cơ hội tìm cách ra giới tuyến nghiên cứu tình hình bố phòng của địch. Bằng một trí nhớ tuyệt vời, sự quan sát chính xác và chiếc máy ảnh Betri nhà nghề, toàn bộ tuyến phòng thủ của địch từ Huế đến Gio Linh, vị trí các trung đoàn, hệ thông công sự, các bãi mìn, một số phương án tác chiến, hướng triển khai của các trung đoàn bộ binh nguỵ… đã được lưới của bà thu thập, phân tích báo cáo chi tiết ra Hà Nội, góp phần quan trọng cho chiến thắng của quân và dân ta trong giai đoạn lịch sử quyết định này.

Nhiệm vụ hoàn thành, trở về Sài Gòn chưa kịp nghỉ chị lại nhận được lệnh mới: “Tổ chức đường dây từ Sài Gòn qua Nha Trang – Đà Nẵng và Huế, bắt liên lạc với giao thông Trung ương thay cho đường dây quốc lộ 14 lên Pleiku”. Đinh Thị Vân lại lên đường đi Đà Nẵng, Huế với vỏ bọc là “người đi buôn vải và các mặt hàng thêu”.

Vừa mới hoàn thành nhiệm vụ, trên đường trở về Sài Gòn, do sơ suất của một cơ sở trong lưới, Đinh Thị Vân bị địch nghi ngờ và bắt giam. Tại cơ quan an ninh quân đội, chúng dùng mọi thủ đoạn tra tấn rất dã man, nhưng không moi được bất cứ tin tức gì ở bà, chúng đưa bà đi biệt giam ở Vân Đồn, trại Lê Văn Duyệt, Sở Thú. Sau năm năm tù đày qua các nhà lao, nếm đủ mọi cực hình tra tấn dã man về thể xác, uy hiếp khủng bố về tinh thần nhưng với dũng khí phi thường của người Cộng sản, Đinh Thị Vân đã vượt qua tất cả, tuyệt đối trung thành với Đảng, với cách mạng bảo vệ trọn vẹn mạng lưới tình báo do bà phụ trách. Bất lực trước ý trí gang thép của bà, địch quay sang dùng “chính sách dụ dỗ” hòng lay chuyển tinh thần của chị nhưng vẫn không có kết quả. Bà thường nói với anh em bạn tù: “Chúng ta là dân một nước, chỉ thờ một chủ”.






Tiêu đề: Đại tá Đinh Thị Vân, nữ điệp viên chiến lược anh hùng
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Mười, 2008, 02:36:09 pm
Cuối năm 1963 đầu năm 1964, Dương Văn Minh lật đổ Ngô Đình Diệm, rồi Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh. Những người bị giam ở trại Lê Văn Duyệt và Sở Thú đều bị xét hỏi lại. Nhờ lúc chính quyền của địch vừa thay đổi còn nhiều sơ hở, với bản hồ sơ “người đi buôn bị bắt oan” ta bố trí và vận động bằng nhiều cách nên đến ngày 18-5-1964 Đinh Thị Vân được trả tự do.

Ra tù bà lập tức kiểm tra lại an toàn của lưới, rồi tìm cách chắp nối liên lạc với đồng chí và cấp trên để nhận nhiệm vụ tiếp tục hoạt động. Trong thời gian bà bị tù, nhiều điệp viên do bà gây dựng đã dần dần luồn sâu, leo cao vào những vị trí trọng yếu trong các cơ quan quân sự của địch hoặc có mối quan hệ đặc biệt thân thiết với những nhân vật nắm giữ chức vụ quan trọng của nguỵ quyền Sài Gòn. Đinh Thị Vân được giao nhiệm vụ tìm hiểu ý đồ chiến lược của Mỹ - nguỵ: Nếu địch thất bại trong “chiến tranh đặc biệt” thì tình hình sẽ diễn ra theo hướng nào? Có thể hiệp thương và thành lập chính phủ như kiểu ba phái ở Lào, hay sẽ chuyển thành “chiến tranh cục bộ”? Nếu quân Mỹ trực tiếp nhảy vào miền Nam thì quy mô, số lượng ra sao? Bà suy tính, lên kế hoạch, rồi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng anh em trong lưới. Về phần mình, bà lại tiếp tục lo buôn bán làm ăn hợp pháp để che mắt địch, đồng thời có kinh phí phục vụ cho hoạt động. Những chủ trương, kế hoạch của đich đã bị lưới của bà nhanh chóng phát hiện và kịp thời báo cáo về Trung tâm.

Phát huy đà thắng lợi của hai mùa khô, cục diện trên toàn Miền Nam thay đổi có lợi cho ta. Trung ương quyết định:" Chuyên cuộc đấu tranh cách mạng Miền Nam sang một thời kỳ mới - Thời kỳ giành thắng lợi quyết định". Chủ trương của ta được thực hiện bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà tình báo gọi là kế hoạch "Vụ Mùa". Đinh Thị Vân lại bận rộn với bao công việc quan trọng: Trực tiếp hướng dẫn việc chuẩn bị "Vụ mùa", chuẩn bị giao liên dẫn đường cho lực lượng ở bên ngoài vào. Thăm do khả năng hiểu biết của địch về kế hoạch chuẩn bị của ta, sơ đồ phòng thủ của quân khu Đô thành Sài Gòn... Tất cả tin tức đều đã được lưới của bà kịp thời báo cáo ra Bộ chỉ huy chiến dịch kèm theo những ý kiến phân tích xác đáng.

Khi cuộc tổng tiến công nổ ra trên khắp các đô thành miền Nam, Đinh Thị Vân vẫn bình tĩnh chỉ huy các chiến sỹ trong lưới của mình, âm thầm làm nhiệm vụ. Vì vậy, sau cuộc tổng tiến công mặc dù Mỹ ngụy lùng xục bắt bớ và thẳng tay đàn áp dã man, nhưng lưới tình báo do bà phụ trách hóa tràng giấu kín mình trong từng vỏ bọc khác nhau và hàng ngày vẫn công khai hoạt động dũng cảm, lặng lẽ hoạt động, nắm tình hình, nhận định và tổng hợp báo cáo về Trung tâm.

Tháng 3-1969, do yêu cầu công tác và tình hình sức khoẻ bị giảm sút sau những năm tháng tù đày bị đich tra tấn dã man và hoạt động vất vả, căng thẳng trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, nên cấp trên đã quyết định điều bà ra Hà Nội để điều trị và phân công chị làm công tác huấn luyện. Trong cương vị công tác mới, người nữ sĩ quan tình báo dầy dặn kinh nghiệm Đinh Thị Vân đã đem hết tinh thần, năng lực để truyền đạt kinh nghiệm cho đội ngũ những chiến sĩ sẽ kế tiếp mình lên đường làm nhiệm vụ đặc biệt.

Với công lao cống hiến cho Đảng và nhà nước cũng như quân đội: ngày 25-8-1970, Đinh Thị Vân được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày 30-4-1975 Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Nhiệm vụ đặc biệt của bà lúc này là vào Sài Gòn giúp các cơ quan bảo vệ xác minh để trả lại sinh mạng chính trị cho những người hoạt động trong lực lượng địch. Giao nhiệm vụ mới để các họ tiếp tục tham gia công tác giải quyết các vấn đề hậu chiến, chống gián điệp lọt lưới cài lại chống phá cách mạng...Bà dành thời gian đến thăm các cơ sở cũ ở Sài Gòn, xác nhận thành tích để lập hồ sơ khen thưởng và giải quyết chính sách đối với những người có công với cách mạng. Trở về Hà Nội, bà báo cáo với trên xác minh một số cơ sở tình báo ở Hà Nội thời kỳ 1954 mà đã hơn 20 năm nằm trong bí mật nay mới đủ điều kiện ra công khai.

Sau gần trọn một đời cống hiến cho cách mạng, bà về nghỉ hưu ở căn gác nhỏ trong ngôi nhà số 8 Phố Cửa Đông, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn và thật sự trong sạch trong sự yêu mến và ngưỡng mộ của bạn bè, bà con nhân dân địa phương nơi bà cư trú. Đại tá Đinh Thị Vân mất tại Hà Nội ngày 11-12-1995, thọ 79 tuổi.

Đại tá Đinh Thị Vân là một người phụ nữ kiên cường, người dành trọn cuộc đời của mình cống hiến cho cách mạng, cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và thống nhất Tổ quốc. Để hoàn thành nhiệm vụ với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng bà đã phải hy sinh ngay cả những hạnh phúc cá nhân của một người phụ nữ : lấy vợ cho chồng để yên tâm lên đường làm nhiệm vụ. Để hoàn thành nhiệm vụ, bà cũng phải chịu những nỗi đau riêng như gia đình, họ hàng bà nhiều năm trời bị hàm oan, bị ảnh hưởng đến ngay cả mẹ bà một bà mẹ Việt Nam yêu nước, người được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng đồng tiền vàng, khi mất vẫn bị mang tiếng là có con vào Nam theo địch.

Chí tình với đồng đội, với bà con họ hàng. Trong di chúc trước khi mất bà viết : "...Tôi chẳng có tài sản riêng, nay được Dân, được Đảng và Quân đội cấp cho căn phòng, tôi nghĩ đó là Lộc Nước tôi có ý nguyện được chia sẻ một phần lộc nước bằng một nửa căn phòng này cho: Người thứ nhất là Bà Đào Thị Lộc 80 tuổi. Bà Lộc là vợ ông Đinh Thúc Dự, ông Dự là anh ruột tôi, ông đã hoạt động cách mạng, là Đảng viên Đảng Cộng Sản từ năm 1930 - ông đã quá cố. Ông Dự lại là người giác ngộ, dìu dắt và tạo điều kiện giúp tôi hoạt động cách mạng từ trước ngày tổng khởi nghĩa 1945...". "...Người thứ hai là cháu Đinh Quang Huy 37 tuổi. Cháu Huy là con trai duy nhất của liệt sỹ Đinh Xuân Mẫn và là cháu ruột liệt sỹ Đinh Văn Năng. Hai anh Mẫn và Năng đều là cháu gọi tôi bằng cô, năm 1940 mẹ của hai anh mất, tôi đã nuôi dưỡng hai anh ăn học. Về sau hai anh đều hoạt động cách mạng, tham gia quân đội đi chiến đấu và đều đã hy sinh. Tôi nghĩ rằng tôi cho cháu Đinh Quang Huy  thừa kế di sản của tôi, dù chỉ là một nửa căn phòng cũng để giúp cháu một chút đỉnh giảm bớt khó khăn vất vả, tạo lập được cuộc sống ổn định, hạnh phúc..."

Trong lời tuyên dương khi bà được nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi rõ : “Đồng chí thiếu tá Đinh Thị Vân là một cán bộ mẫu mực trung thành tận tuỵ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan trọng trong những hoàn cảnh rất khó khăn”.

Trong lời điếu văn đọc trong lễ tang bà, thủ trưởng Tổng cục II Bộ Quốc phòng (tướng Vũ Chính) viết : " Ôi! Lời điếu trong giờ vĩnh biệt hôm nay chưa thể nói hết được những gì cần nói về cuộc đời của một người phụ nữ suốt đời hy sinh. Phẩm chất cao đẹp của nữ đồng chí Đinh Thị Vân, cán bộ tình báo anh hùng mà chúng ta đều trăn trở nghĩ suy...". "...Tất cả những gì mà chị để lại cho những người còn sống là niềm tự hào kính phục. Chị là một tấm gương sáng cho mọi người tiếp bước noi theo...

Bài viết : lược trích theo bút ký nhân vật của nhà văn Đinh Quang Tỉnh. Bút ký này đã được đăng báo và đặc biệt được đọc trên Đài tiếng nói Việt Nam.

Nguồn ảnh : nhà văn Đinh Quang Tỉnh.






Tiêu đề: Trung tướng Lư Giang, nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Mười Một, 2008, 05:03:30 am
(http://img368.imageshack.us/img368/356/trungtuonglugianglj4.jpg)
Trung tướng Lư Giang (tên thật Lê Bá Ước, 14/12/1920-16/01/1994), nguyên Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô, Phó Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh Phân khu Nam Quân khu 5.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984).


Ông quê ở xã Vô Tranh, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, là con một gia đình địa chủ yêu nước ở địa phương có ông nội và bác ruột đều tham gia chống Pháp. Ông cùng quê với Đô đốc Giáp Văn Cương-nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam. Và một điều đặc biệt nữa là hai ông sát cách với nhau trong kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ tại chiến trường Trung Trung Bộ, là một trong những tướng lĩnh trưởng thành từ Sư đoàn 3.

Cuối năm 1940, sau khi tốt nghiệp tiểu học ông không học lên nữa vì cho rằng học lên nữa cũng chẳng làm được gì lên trở về quê làm thư kí cho bố ông, chờ vận hội mới. Trong thời gian này, ông thường đi giao dịch với khách hàng, khi Hà Nội-Bắc Giang, lúc Lạng Sơn-Đình Lập…Vốn là người có lòng yêu nước, ông ngày đêm trăn trở vì sao dân mày nghèo quá, lại phải làm thuê trong các đồn điền hàng vạn héc to ngay trên quê hương đất nước mình thật vô lý bất công mà không biết làm sao. Ông cùng với người bạn thân Hải Bằng đã nhiều lần bàn luận nhưng vẫn thấy bế tắc.

Sẵn có lòng yêu văn học, ông say sưa tập viết truyện và làm thơ. Âm thầm cố gắng, tập viết đêm đêm rồi cũng hoàn thành một tập tiểu thuyết đặt tên là ‘’Đứa con hoang’’ và một tập thơ ‘’Tiếng tơ lòng’’ mạnh dạn gửi đăng báo Tri Tân ở Hà Nội nhưng không được đăng. Ông Nguyễn Văn Tố, chủ bút, viết thư góp ý với ông khá chân thành. Ông lên Hà Nội tìm ông Nguyễn Văn Tố. Qua trao đổi, biết ông còn là Hội trưởng Hội truyền bá Quốc ngữ, ông xin làm chi nhánh truyền bá Quốc ngữ tại địa phương. Tự nhủ, trước mắt chưa biết làm gì có ích hơn cho đất nước mà hiện 90% dân số mù chữ thì làm sao nâng cao được dân trí, mà dân trí thấp thì nước đâu có mạnh.

Ông về bàn với ông Hải Bằng. Hai ông cùng nhau tổ chức và trực tiếp dạy chữ Quốc ngữ cho dân làng. Bên cạnh đó còn lập những tổ “Gia đình giáo dục” cho trẻ em. Qua quá trình giảng dạy, ông được tiếp xúc tìm hiểu thêm tầng lớp dân nghèo, cảm thông nỗi khốn khó của dân làng và nhất là có thêm nhiều bạn bè cùng chí hướng: “Xóa nạn mù chữ” làm cầu nối cho sau này tiến lên những chí hướng khác nữa.
Cuối năm 1942, ông được ông Hải Bằng đưa cho xem một tập tài liệu mật bảo đọc. Đó là vài tờ báo Cứu quốc và chương trình điều lệ Việt Minh. Lúc này, Nhật - Tây - tay sai rất tàn bạo, giết người cướp của, bắt người nông dân nhổ lúa trồng đay, mùa màng thất bát. Đã nghèo đói lại càng nghèo đói, và lác đác có nơi đã có người chết đói. Từ câu chữ của chương trình Việt Minh cứu nước giành độc lập Tổ quốc từ tay Pháp-Nhật thấm vào máu thịt ông. Việt Minh chủ trương đoàn kết toàn dân, miễn có lòng yêu nước thương nòi. Một chương trình đúng đắn, thực sự đi vào lòng người. Đối với riêng ông, vô cùng hấp dẫn, đáp ứng đúng tâm tư nguyện vọng mà bấy lâu nay mò mẫm, tìm kiếm mờ mịt bến bờ... Trong gia đình, ông thường được nghe bố ông nói chuyện về ông nội, bác ruột chống Pháp đến cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học đều một lòng yêu nước nhưng đều thất bại. Một đôi lần bố ông có nhắc đến ông Nguyễn Ái Quốc và đặt hy vọng nhiều hơn, tuy cũng chưa biết cụ thể ra sao. Từ một thanh niên yêu nước ông giác ngộ cách mạng và lao vào con đường hoạt động Việt Minh từ cuối năm này (tháng 10 năm 1942), làm nhiệm vụ tuyên truyền và xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng ở thôn Giàng.

Cuối năm 1943, ông tham gia thành lập đội Hoa Việt du kích kháng Nhật. Tháng 2 năm 1945, ông nhập ngũ là Chính trị viên Đội võ trang tuyên truyền giải phóng quân thuộc Chín khu Hoàng Hoa Thám và Đông Triều (Đệ tứ chiến khu). 

Từ sau Tết Ất Dậu 1945, nạn đói bắt đầu hoành hành dữ dội, người chết đói khá nhiều ở phố Phủ, phố Gàng, Mai Sưu sang đến Mỵ Nương, Chũ. Nhiều người phải bỏ làng lên rừng đào kiếm củ mài, củ sắn, đói rách, bệnh tật bỏ xác bên bìa rừng, đầu suối. Ở Gàng có gia đình chết cả nhà. Để chống đói, phải nhanh chóng phá kho thóc Bến Bò, ước lượng hơn 400 tấn. Hôm đó là phiên chợ Gàng. Ông cùng đồng đội trong đội vũ trang tuyên truyền ở chiến khu về tổ chức mít tinh kêu gọi đồng bào đi theo giải phóng quân phá kho thóc cứu dân đang đói. Cả chợ hưởng ứng ngay, bỏ mua bán, kéo đi Bến Bò. Đi đầu là đội tự vệ do các ông Lương, Đoan chỉ huy. Các ông Vệ Lễ, Chính vác búa tạ đi đập phá cửa kho. Khoảng 9 giờ sáng, đoàn người đến nơi, có độ chục người bảo vệ kho. Các ông bắt giữ một số, thu 4 súng, kêu gọi số còn lại cùng tham gia lấy thóc. Nhân dân đi chợ, dân vùng Gàng, Nam Diện, Trại Còng kéo đến ngày càng đông, thi nhau lấy cả ngày không hết thóc. Sang ngày thứ 2, thứ 3, dân quanh vùng nghe tin đồn ùn ùn kéo đến, đủ cả dân làng, xã Dùng, Quỷnh, Tòng Lệnh, San, Sú, Trề...

Sau đó ông chỉ huy đội trở về thị trấn Chũ ngày 19 -8-1945, nhanh chóng cùng các đồng chí của mình tổ chức lực lượng đi Bắc Giang. Đoàn quân độ 800 người qua phà phố Phủ, sang Thanh Giã, lên Vôi theo đường quốc lộ về thị xã. Thành phần gồm các lực lượng: Đội vũ trang tuyên truyền; Đội vũ trang tuyên truyền Hoa Vận, lực lượng tự vệ, nhân dân các làng, xã lân cận từ Cường Sơn thị trấn đến Sàn Cọc, Bắc Lũng, Tam Dị… Càng đi đoàn người càng đông, càng dài vì dân các xã dọc đường hưởng ứng tham gia. Tối 20-8-1945, đến thị xã Bắc Giang. Sáng 21-8-1945, cuộc mít tinh tại bãi Stat có hàng chục vạn người, chính quyền thị xã Bắc Giang về tay nhân dân.
Tháng 10 năm 1945, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 12 năm 1945 đến năm 1946, ông là chỉ huy giải phóng quân Bắc Giang. Sau cách mạng tháng 8.1945, sau sự kiện ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, núp bóng quân Anh và đồng minh, thực dân Pháp quay trở lại xâm chiếm nước ta. Và ngày 23.9.1945, được đánh dấu là ngày Nam bộ kháng chiến, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Ngày 10 tháng 1 năm 1946 (4 ngày sau bầu cử Quốc hội khóa 1), đoàn quân Nam tiến Bắc Giang do ông làm chỉ huy nhập với đoàn quân Nam tiến của Bắc Ninh tại thị trấn Phả Lại thành lập lên Chi đội Nam tiến Bắc Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh) do ông làm Chi đội trưởng và ông Ngô Từ Vân làm Chi đội phó.

Sau hơn nửa tháng hành quân, chi đội Bắc Bắc vào đến Quảng Ngãi, thì nghe tin Pháp đã chiếm thị xã Phan Thiết, chuẩn bị đánh ra Nha Trang, nên chi đội không vào Nam như dự định mà dừng lại chiến đấu ở mặt trận Nha Trang. Tại đây ông đã tham gia chỉ huy một số trận đánh đầu tiên với quân Pháp:

Trận sông Cái: 9 giờ sáng ngày 27-1, với sự yểm trợ của máy bay, xe tăng, đại bác, súng cối, hai cánh quân Pháp từ Suối Dầu ra, từ Nha Trang đến tìm cách vượt sông Cái, đánh sang khu vực trận địa của ta. Mấy lần Pháp liều chết nhảy xuống thuyền bơi qua, nhưng đều bị hoả lực của bộ đội bắn thiệt hại, phải rút lui. Suốt một ngày chiến đấu giằng co, ta diệt được gần 50 lính Pháp. Thắng lợi đầu tiên bên bờ sông Cái làm nức lòng bộ đội và nhân dân địa phương.

Trận cầu Đôi: 30 Tết, một cuộc chiến đấu quyết liệt giữa ta và quân Pháp đã diễn ra ở khu vực Cầu Đôi. Do bị bộ đội chặn đánh, quân Pháp bị thương vong nhiều, không dám tiến lên.

Mồng một Tết, Pháp mở cuộc tiến công lần thứ hai và tập trung đông gấp 5-6 lần, lực lượng ta quá mỏng, nên Pháp thọc được vào hữu ngạn sông Cái, cắt đôi trận địa của ta. Quân ta phần bị thương vong, phần thất lạc. Kể từ trận này, bộ đội Bắc Bắc hầu như độc lập tác chiến. Một bộ phận do ông phụ trách, chạy lên núi, đi suốt một ngày, đêm đến ngủ lại trong một khu rừng rậm, cuối cùng cũng tìm về đến Phú Cốc. Tại đây, bộ đội ta phân tán thành từng tổ từ hai đến ba người, sống trong dân, dựa vào dân. Ban ngày áo bà ba, đội nón lá đi làm ruộng, làm vườn. Tối đến củng cố các tổ chức quần chúng, huấn luyện các đội du kích tự vệ chiến đấu, bắt đầu từ hình thức thấp đến cao: trừ gian, diệt tề, bắn tỉa giặc đi càn, phá hoại đường xe lửa, đánh sập cầu...

Ông lần lượt giữ các chức vụ Tiểu đoàn trưởng thuộc Chi đội 3 Nha Trang, sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 80, 83, Tỉnh uỷ viên tỉnh uỷ Phú Yên. Từ năm 1947 đến năm 1952, ông là Liên Trung đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Trung đoàn 80, 83 sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 803, 84, Uỷ viên Ban Cán sự tỉnh Đắc Lắc, Trung đoàn trưởng, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn 105. Tháng 12 năm 1953, ông là Phái viên của Bộ Tổng tham mưu công tác ở Liên khu 5. Tháng 7 năm 1954 ông chỉ huy lực lượng tiếp quản khu vực Quy Nhơn, sau đó là Chỉ huy trưởng Quân cảng Quy Nhơn.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc từ 12.1954 đến 1964 ông lần lượt giữ các chức vụ: Tham mưu phó và Tham mưu trưởng Sư đoàn pháo binh 349, 375. Từ năm 1958, ông là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 368, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Năm 1964, ông được lệnh vào Nam chiến đấu tại chiến trưởng khu 5, nơi ông đã gắn bó suốt 9 năm Kháng chiến chống Pháp. Đầu tháng 7 năm 1964, Bộ Tư lệnh Phân khu Nam thành lập, tháng 12 năm này ông được cử làm Tư lệnh trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy, ông Năm Phổ (Nguyễn Hồng Châu) là Bí thư Liên tỉnh ủy kiêm Chính ủy phân khu; trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang 3 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa và Đắc Lắc.

Năm 1964, để giải quyết vấn đề trang bị vũ khí, nhất là vũ khí đảm bảo cho tác chiến tập trung ở Khu 5 đang gặp nhiều khó khăn, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu (bộ phận B) kết hợp với Bộ tư lệnh Hải quân nghiên cứu nhiệm vụ mở bến, chi viện vũ khí cho vùng ven biển Khu 5. Vận chuyển vũ khí vào Khu 5 là công việc phức tạp và vô cùng khó khăn. Nhận được chỉ thị của Trung ương và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Tư lệnh Phân khu Nam do ông làm Tư lệnh và ông Năm Phổ làm Bí thư phối hợp với Tỉnh ủy Phú Yên chọn xây dựng bến bãi để nhận vũ khí chi viện cho 3 tỉnh bằng đường biển.

Tháng 9 năm 1968, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3. Từ năm 1970 đến năm 1971, ông là Phó tư lệnh rồi Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5. Tháng 2 năm 1973, ông là Trưởng đoàn đại biểu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Ban liên hợp Quân sự bốn bên khu vực Đà Nẵng.

Tháng 5 năm 1973, ông là Trưởng đoàn Quân sự của Chính phủ Cách mạng Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp Quân sự hai bên ở khu vực Pleicu. Tháng 12 năm 1973, ông là cán bộ tổng kết Quân khu 5. Tháng 3.1975, ông là Phó Tư lệnh Quân khu 5, Tư lệnh Phân khu Nam Quân khu, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 5 (tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương), trực tiếp chi viện cho các cánh quân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, ông được điều ra Bắc giữ chức vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô, Phó Tư lệnh Quân khu Thủ đô (tướng Đồng Sĩ Nguyên là Tư lệnh) (11.1977-1979). Từ năm 1980 đến 1989, ông là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô, Ủy viên thành ủy Hà Nội.

Ông  là đại biểu Quốc hội khoá VII, VIII, Uỷ viên Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội khoá VIII. Năm 1989 ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Ông là Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội.

Là một thanh niên sinh trưởng trong một gia đình địa chủ yêu nước, với tấm lòng thương yêu sâu sắc với những người dân nghèo phải chịu nhiều tròng áp bức bóc lột của phong kiến, thực dân và phát xít, tướng Lư Giang sớm tham gia vào những hoạt động yêu nước ở địa phương. Cách mạng và phong trào Việt Minh như ngọn đuốc sáng dẫn đường đưa ông đến với cách mạng đánh đuổi thực dân, phát xít giành độc lập cho dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân.

Sinh ra và trưởng thành ở vùng quê Bắc Giang, nhưng ông lại gắn bó với chiến trường khu 5. Ông đã chiến đấu và trưởng thành tại đây trọn vẹn hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Đây cũng là nơi ông gặp người vợ yêu quý của mình, một người con gái xứ nhãn lồng Hưng Yên, Đại tá Hàn Thị Trang. Cả cuộc đời của ông đúng như những gì ông tự bạch :

Một tấc giang sơn
Một dòng máu đỏ...
…Anh mang trái tim đi suốt đời chiến trận
Thanh bình rồi anh dành tặng quê hương!

Nếu đến viếng nghĩa trang Mai Dịch vào những ngày giáp Tết, bạn sẽ có cơ may gặp bà Hàn Thị Trang và nghe kể về chuyện tình của ông bà thuở nào. Tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng cụ vẫn rất còn minh mẫn, khỏe mạnh. Hiếm có một cụ bà cao tuổi nào lại có thể bàn luận chuyện chính trị đầy nhiệt huyết, sắc sảo đến như vậy.







Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Đan, vị tướng chiến trận
Gửi bởi: panphilov trong 11 Tháng Mười Một, 2008, 10:27:32 pm
(http://img254.imageshack.us/img254/7388/thieutuonghoangdancx9.jpg)

Thiếu tướng Hoàng Đan (1928-2003), nguyên : Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự Bộ Tổng tham mưu (nay là Cục Khoa học và Công nghệ Bộ Quốc phòng), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1, Tư lệnh Quân đoàn 5 (Quân đoàn 14) kiêm Phó Tư lệnh Quân khu 1, Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng), Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 (Quân đoàn Trị Thiên hay Binh đoàn Hương Giang), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1977.

Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Nhì), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (1 hạng Nhất, 1 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Hữu nghị Việt Xô, Huy chương Quân kỳ quyết thắng…


Tuổi thơ và gia đình

Thiếu tướng Hoàng Đan sinh năm 1928 tại xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Theo gia phả dòng họ Hoàng ở Nghệ An, thì ông là hậu duệ đời thứ 21 của cụ Hoàng Tá Thốn, người được mệnh danh là Sát Hải Đại Vương, tục truyền là một tướng thời Trần, một chuyên gia về bơi lặn đã làm chìm nhiều chiến thuyền của giặc Nguyên Mông…Hiện vẫn còn đền thờ cụ tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Dòng họ ông con cháu phần đông học hành nhiều, nhiều người thành đạt và ra làm quan. Ông tổ 6 đời trên ông dời Quỳnh Lưu vào định cư tại Ngư Lộc làm thầy thuốc đến ngự y. Đến đời ông nội ông vẫn tiếp tục theo nghề này. Bác ông thi vào được tam trường nhưng đến kỳ phúc hạch thì bị hỏng, trở về nối nghiệp ông nội ông làm nghề thầy thuốc.

Bố ông là cụ Hoàng Văn Hệ từng theo học nho học, nhưng sau khi chính quyền thực dân phong kiến bỏ Hán văn cụ quay sang học quốc ngữ và cũng đã đậu hai bằng thi sinh (tương đương sơ học yếu lược) và khóa sinh (tương đương tiểu học). Mặc dù thừa kế của gia đình ruộng đất nhưng cụ không theo nghề nông mà đi kinh doanh đủ nghề : mở cửa hàng ăn ở Vinh, đi làm thầu khóan, mở trang trại…Tuy nhiên công việc làm ăn của cụ không thành công, cách mạng tháng 8 nổ ra cụ trở về quê.

Mẹ ông là cụ Đặng Thị Ngung cũng là con nhà nông dân giàu có. Trái với chồng, bà chăm lo công việc đồng áng nuôi các con và chồng (khi công việc kinh doanh không suôn sẻ). Cụ là một người phụ nữ rộng rãi trong đối xử với họ hàng, bà con hàng xóm và những người làm công. Nạn đói năm 1945 mặc dù làng ông người chết đói đến 200 người, nhưng những người làm thuê cho gia đình ông vẫn qua được.

Gia đình ông sinh được 7 người con, 2 trai và 5 gái. Anh ông học Hán ngữ định sau này kế nghiệp bác ông làm nghề thày thuốc. Nhưng từ năm 1941, anh ông bị đi tù rồi sau làm cán bộ địa phương rồi vào bộ đội nên bỏ nghề thuốc. Hai chị gái ông không được học hành ở nhà làm ruộng rồi đi lấy chồng. Chỉ có 2 em gái ông nhờ cách mạng mà được đi học.

Ông là người con duy nhất trong nhà được cho ăn học đến cấp tỉnh. Sau ba năm trường xã, ba năm trường huyện ông lên thành phố theo học cao đẳng tiểu học (tương đương cấp trung học cơ sở bây giờ). Ông học hành chăm chỉ và thuộc nhóm học sinh giỏi của lớp. Do công việc học tập trên thành phố rất tốn kém, cho nên phần đông các bạn của ông bỏ học về quê. Do có người bác làm nghề thầy thuốc quen biết nhiều giới thiệu, ông đến làm gia sư cho con một nhà giàu để có tiền ăn học. Tại thành phố, ông học trường tư Lễ Văn của ông Nguyễn Đức Bình (vì chậm mất kì thi vào trường công). Tuy nhiên, đến tháng 11 năm 1943, do Mỹ ném bom phá hủy hoàn toàn nhà máy xe lửa Trường Thi cùng nhiều nơi trong thành phố, nhà trường phải di chuyển ra khỏi thành phố nên ông phải thôi học ở năm thứ 3.

Gia đình bên ông và bên bà ông có truyền thống cách mạng từ rất sớm (từ năm 1930) và đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến ông tham gia cách mạng. Chú họ ông là ông Hoàng Văn Tâm, bí thư đầu tiên của huyện ủy Nghi Lộc, bị Pháp bắn chết năm 1931. Chú ruột ông là Hoàng Văn Mỹ bị bắt năm 1930 đày đi Kon Tum đến khi phong trào bình dân lên cầm quyền ở Pháp mới được tha về. Bản thân người anh ruột của ông cũng bị cầm tù năm 1941, sau khi ra tù là cán bộ địa phương rồi vào bộ đội. Bên họ Trần của bà ông cũng có 3 người tham gia Xô Viết Nghệ Tĩnh, một người bị bắn ở quê, hai người bị đày đi Kon Tum và hy sinh tại đó. Anh rể của ông là ông Nguyễn Đình Phương là một trí thức nhưng giác ngộ và tham gia cách mạng từ trước tháng 8 năm 1945 sau này là Phó giám đốc công an tỉnh Nghệ An.

Mùa Thu tháng 8

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, một số tù chính trị được thả ra trở về hoạt động và gây dựng lại cơ sở ở quê ông. Cuối tháng 3, qua lời giới thiệu của chú và anh trai, ông tham gia Mặt trận Việt Minh. Trong cuộc họp của các cán bộ Việt Minh huyện Nghi Lộc nhằm bầu gia ban chấp hành lâm thời Mặt trận Việt Minh huyện, ông và ông Hoàng Niệm (sau này là Thiếu tướng, Tư lệnh Bộ đội thông tin) được bầu làm ủy viên ban chấp hành, phụ trách vận động thanh niên, học sinh để tổ chức Đoàn thanh niên cứu quốc. Còn ông Hoàng Niệm hoạt động trong phong trào công nhân về tổ chức Hội công nhân cứu quốc.

Tháng 6 năm 1945, nhiều cán bộ hoạt động cách mạng bị cầm tù trở về địa phương hoạt động, bạn chấp hành Việt Minh được bầu lại. Ông được cử về tổng Vân Trình phụ trách tổ Việt Minh của tống và lo tổ chức các tổ Việt Minh xã. Để tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tháng 7 năm 1945, ông tham gia tuyên truyền về chính sách của Mặt trận Việt Minh. Ngày 21 tháng 8 năm 1945, ông dẫn đầu đoàn thể quần chúng ở tổng Vân Trình dự mít tinh ra mặt chính quyền nhân dân huyện Nghi Lộc, rồi sau đó tham gia tổ chức chính quyền ở các xã trong huyện.

Tháng 11 năm 1945, ông được triệu tập về ban tuyên truyền Tỉnh bộ Việt Minh bổ sung vào đoàn tuyên truyền lưu động. Sau một tuần học tập chủ trương đường lối của Việt Minh, tổ ba người của ông về huyện Thanh Chương làm công tác tuyên truyền, vận động cho việc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 6 tháng 1 năm 1946.

Công việc tuyên truyền diễn ra suốt tháng 12. Đầu năm 1946, ông được cơ quan quân sự tỉnh Nghệ An cử đi học quân sự tại trường quân sự quân khu mới mở tại Nhượng Bạn, Hà Tĩnh. Sau khóa học, ông được phân công về làm trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn tiếp phòng quân đóng tại Đông Hà (Quảng Trị). Tiểu đoàn trong biên chế của Trung đoàn tiếp phòng quân Bình Trị Thiên do ông Quốc Chủng làm Trung đoàn trưởng và trực thuộc Đại đoàn 2 Quân tiếp phòng do ông Hoàng Điền làm Đại đoàn trưởng.

Do sự giới thiệu của ông Trần Văn Quang (sau này là Thượng tướng), và ông Đoàn La, Tỉnh ủy Quảng Trị đồng ý kết nạp ông vào Đảng . Đến tháng 10 năm 1946, ông chính thức trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và trở thành liên chi ủy viên tiểu đoàn, trực tiếp làm bí thư chi bộ và được chỉ định làm chính trị viên đại đội 2.

Bình Trị Thiên khói lửa

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tuy nhiên thông tin đến với chiến trường Trị Thiên rất chậm. Tháng 12 năm 1946, ông vẫn cùng đơn vị tiếp tục tham gia huấn luyện quân sự, huấn luyện kỹ thuật và cá nhân chiến đấu.

Giữa tháng 1 năm 1947, quân Pháp bắt đầu từ Lào đánh theo đường số 9 tiến về chiếm Đông Hà và một cánh quân nữa theo đường số 1 tiến ra chiếm thị xã Quảng Trị. Tiểu đoàn của ông được phân công phụ trách phòng thủ Đông Hà và đánh địch từ Đông Hà đến Vĩnh Linh và chuyển từ đội hình Trung đoàn quân tiếp phòng Trị Thiên sang Trung đoàn 95 với tên mới là Tiểu đoàn 15. Ông thôi giữ chức chính trị viên đại đội và trở về làm Trung đội trưởng trực tiếp chỉ huy chiến đấu. 

Khi quân Pháp tiến từ Cam Lộ về Đông Hà, đại đội ông có nhiệm vụ tiến đánh cánh quân này. Tuy nhiên do địch được trang bị hỏa lực mạnh lại có xe bọc thép phối hợp lên cuộc tiến công bất thành, cho nên đại đội rút về tập trung ở thị xã Đông Hà.

Tiếp theo đó, đại đội của ông tiếp tục nhận nhiệm vụ chặn đánh địch ở 2 phòng tuyến : dựa vào điểm cao phía nam huyện lỵ Gio Linh và dựa vào sông Bến Hải. Trong thời gian chờ địch ở phòng tuyến Gio Linh, trung đội do ông chỉ huy được lệnh của Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 Hùng Việt lên phục kích quân Pháp di chuyển bằng tàu từ Cam Lộ về Đông Hà. Vũ khí chủ yếu sử dụng trong trận đánh là khẩu thận công sản xuất đầu thời Nguyễn cho nên trận phục kích không thành công đơn vị lại rút về phòng tuyến Gio Linh.

Khi quân Pháp tiến tới phòng tuyến Gio Linh, Đại đội ông đã hai lần đẩy lui các đợt tiến quân của quân Pháp nhưng do địch có bọc thép đi kèm lại có súng cối và đại bác nên đại đội phải rút khỏi phòng tuyến thứ nhất, rồi thứ hai trước khi được chỉ thị rút lên chiến khu Thủy Ba ở bìa rừng chiến đấu sau lưng địch suốt năm 1947 : đánh du kích, bắn tỉa, đặt bom mìn trên quốc lộ, quấy rối các căn cứ đóng quân của Pháp và diệt tề trừ gian…

Quân Pháp ở Cấm Phố (tiếp giáp giữa Vĩnh Linh và Gio Linh) hàng tuần phái một trung đội đi từ phía Nam sông Bến Hải lên căn cứ ở Hiền Lương nhận tiếp tế. Đại đội của ông được lệnh phục kích địch tại thôn Hùng Ban. Trận phục kích giành thắng lợi, toàn trung đội địch bị diệt gần gọn : hơn 10 tên chết trận, 6 tù binh và thu được hơn 10 khẩu sung. Tuy nhiên sau đó do đánh giá không đúng tương quan lực lượng và tình hình ban chỉ huy đại đội tiếp tục cho đơn vị bám trụ đánh quân Pháp đi càn. Trận chống càn thất bại, đơn vị hy sinh nhiều trong đó có cả đại đội trưởng và chính trị viên. Ông được chỉ định làm đại đội trưởng Đại đội 2 chỉ huy đại đội tiến công quận lỵ Gio Linh.

Theo kế hoạch đại đội do ông chỉ huy cùng đại đội 1 hiệp đồng tấn công quận lỵ với sự phối hợp của một tiểu đội ngụy được giác ngộ theo kháng chiến. Tuy nhiên ngay khi nổ súng bên doanh trại quân ngụy, quân Pháp nhanh chóng phán đóan có binh biến lên dùng hỏa lực mạnh áp chế các mũi tấn công. Trận đánh không thành công do yếu tố bất ngờ bị mất, chỉ diệt được một số địch, không thu được súng nào ngoài tiểu đội ngụy đi theo kháng chiến mang vũ khí về, hy sinh bốn người, bị thương hơn chục người.

Đầu năm 1948, thực hiện chủ trương đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, đại đội do ông chỉ huy được điều vào Chiến khu Hòa Linh để xuống đồng bằng Triệu Phong làm nhiệm vụ đại đội độc lập thay tiểu đoàn 14 rút về làm tiểu đoàn tập trung. Trong lúc chuẩn bị xuống đồng bằng, đại đội theo lệnh của Phân khu Bình Trị Thiên ra tham gia tiến công thị xã Đông Hà, trậnh đánh do Phó tư lệnh phân khu Hà Văn Lâu chỉ huy. Tuy nhiên kết quả của trận đánh hết sức hạn chế, bản thân đại đội do ông chỉ huy không nhận được lệnh gì của cấp trên, chỉ nắm được diễn biến của trận đánh sau khi nó kết thúc. Sau trận đánh này, đại đội lại rút trở lại Triệu Phong.

Bước vào thực hiện chủ trương đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, đại đội phân tán thành các tiểu đội hoạt động ở mỗi xã hỗ trợ, phát triển và cùng dân quân đánh theo kiểu du kích, khi có điều kiện tập trung tổ chức đánh một trận sau đó lại phân tán ngay. Đại đội đã tổ chức 2 trận phục kích diệt trung đội địch, một trận diệt đồn tiêu diệt sinh lực địch và thu vũ khí.

Giữa năm 1949, đại đội thôi làm nhiệm vụ độc lập trở về đội hình của tiểu đoàn 310, ông được chỉ định quyền tiểu đoàn trưởng thay tiểu đoàn trưởng phải đi chữa bệnh dài hạn. Sau một thời gian củng cố, tiểu đoàn ông được tham gia một trận đánh vào loại lớn không chỉ ở Trị Thiên mà toàn quốc thời đó đó là đánh điểm (căn cứ Lưu Diễm) diệt viện (từ căn cứ lớn Mỹ Chánh). Kết quá : thiếu tá Đờ Poanh-tê bị bắt sống cùng một số sĩ quan và binh lính, ta bắt và diệt hơn 200 tên, diệt 2 xe bọc thép và một số ôtô, thu nhiều súng đạn. Trận đánh do đích thân Trung đoàn phó Trung đoàn 95 Lê Bá Vận chỉ huy (vốn là hạ sĩ quan Pháp theo cách mạng, sau này ông hy sinh khi đi nghiên cứu tình hình địch).




Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Đan, vị tướng chiến trận
Gửi bởi: panphilov trong 11 Tháng Mười Một, 2008, 10:35:15 pm
Đường đến Điện Biên Phủ

Cuối năm 1949, ông được lệnh về quân khu công tác tại Trung đoàn 57 trong đoàn cán bộ của chiến trường Trị Thiên bổ sung cho các đơn vị Thanh Nghệ Tĩnh. Khi Đại đoàn 304 thành lập, Trung đoàn của ông thuộc biên chế đại đoàn và ông được chỉ định làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 418 chủ công của trung đoàn.

Sau chiến dịch Biên Giới 1950, đại đoàn hành quân lên biên giới trang bị lại vũ khí do Trung Quốc viện trợ rồi hành quân về lại Vĩnh Linh phối hợp với chiến dịch đường 18, tuy nhiên đợt hoạt động không có kết quả, toàn đại đoàn lại trở về Thanh Hóa tham gia huấn luyện về chiến thuật và phương pháp đánh công kiên trước khi tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh cùng các đại đoàn 308 và 320 (đại đoàn tác chiến tại khu vực huyện Yên Mô và nam thị xã) do Bộ tổ chức.

Đại đoàn rút về hậu phương huấn luyện thì quân  Pháp đánh ra định chiếm thị xã Hòa Bình. Đại đoàn của ông lại được điều ra tham gia chiến dịch Hòa Bình do Bộ tổ chức cùng Đại đoàn 308, 312, 320. Đại đoàn phụ trách phía đông đường số 6 và dọc đường 21. Riêng tiểu đoàn của ông được đại đoàn giao nhiệm vụ đánh cứ điểm Đồi Mồi. Sau khi đi trinh sát ông kết luận là không có khả năng đánh cứ điểm này nếu không có pháo phối thuộc và nếu trung đoàn và đại đoàn nhất quyết đánh thì ông xin không chỉ huy trận đánh vì chắc chắn là nó sẽ thất bại. Tuy nhiên, do yêu cầu và thuyết phục của trên trận đánh vẫn diễn ra với thương vong lớn, cán bộ hy sinh nhiều, không tiêu diệt được cứ điểm. Ngay sau đó, tiểu đoàn ngay lập tức đánh một trận phục kích thắng lợi trên đường số 6, trong vòng 20 phút diệt gọn 2 đại đội bắt hơn 20 tù bình trong đó có viên quan 2 đại đội trưởng, phá nhiều ôtô và một xe AM. Chiến dịch Hòa Bình kết thúc, Đờ Lát buộc phải rút quân khỏi Hòa Bình.

Sau chiến dịch Hòa Bình, tiểu đoàn của ông được lệnh về đồng bằng Nam Định, vừa được giải phóng bởi đại đoàn 320 trong quá trình diễn ra chiến dịch Hòa Bình, ở các huyện Nghĩa Hưng, Nam Trực, Hải Hậu. Ở đây, tiểu đoàn được bổ sung quân số, cán bộ chỉ huy. Tiểu đoàn đã tổ chức nhiều trận đánh có kết quả như : trận diệt đồn Lạc Quần chỉ trong vòng một giờ không để cho một tên địch nào chạy thoát, đây là trận công kiên đầu tiên thắng lợi của tiều đoàn ; trận hạ đồn Vọc ; chống càn của Binh đoàn cơ động số 19 vào làng Ngọc Giã và rút lui an toàn.

Sau thời dan liên tục họat động trong vùng địch hậu, trung đoàn cho tiểu đoàn ông về Nho Quan củng cố về mọi mặt và đưa tiểu đoàn 346 vào thay. Thu đông năm 1952, Bộ mở chiến dịch lớn ở Tây Bắc. Đại đoàn 304 ở lại Ninh Bình đánh địch ở vòng ngoài phối hợp với Đại đoàn 320 đánh địch ở vòng trong. Trung đoàn 57 được phân công đánh địch ở Yên Mô đến Phát Diệm. Mở đầu chiến dịch, Đại đoàn và Trung đoàn phân công cho tiểu đoàn của ông đánh đồn Tuy Lộc nhằm thu hút viện binh của địch. Trận đánh thành công vượt mức, diệt gọn ví trí, bắt toàn bộ tù binh và chiến lợi phẩm đồng thời đơn vị chỉ có ba người thương nhẹ không phải đi bệnh viện. Vì viện binh của địch không lên giải tỏa, tiểu đoàn tiếp tục được giao nhiệm vụ đánh đồn Bến Xanh do một đại đội Âu Phi đóng giữ cách Phát Diệm 4-5km. Trận đánh đồn tiếp tục giành thắng lợi sau gần 2 giờ chiến đấu.

Sau trận Bến Xanh, ông được cử đi học chính trị khóa 7 ở Việt Bắc. Ông ra Việt Bắc chưa bước vào học thì có lệnh quay về ngay đại đoàn đang đóng quân tại Thanh Hóa giữ cương vị tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Lê Lợi thay ông Minh Vân vừa được bổ nhiệm chức vụ Trung đoàn phó tham gia chiến dịch Thượng Lào.

Sau chiến dịch, ông lại được lệnh lên Việt Bắc để kịp học khóa học chính trị khóa 8 kéo dài 3 tháng. Khóa học nằm trong đợt chỉnh quân chính trị, chuẩn bị cho cách mạng ruộng đất.

Sau đợt chỉnh quân, ông về sư đoàn và được bổ nhiệm trung đoàn phó Trung đoàn 57. Trước khi bước vào Đông Xuân 1953-1954, ông tham dự lớp tập huấn chiến thuật. Tham gia chiến dịch, Đại đoàn 304 hành quân theo đường số 6 ngược lên Mộc Châu rồi vòng về Phú Thọ. Sau khi Pháp đổ quân đánh Lai Châu, chiếm Điện Biên Phủ, Bộ quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn cùng các đại đoàn khác tiến lên Điện Biên Phủ.

Trung đoàn 57 của ông được giao nhiệm vụ chiến đấu ở Phân khu Nam tức Hồng Cúm. Quân Pháp ở đây có một trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng và một sân bay. Nhiệm vụ của trung đoàn thời kỳ đầu là ngăn chặn không cho bộ binh và xe tăng địch cơ động lên chi viện cho khu Trung tâm, đồng thời chế áp pháo binh địch, hạn chế hỏa lực địch đánh vào đội hình các đại đoàn tiến công, đặc biệt là đánh vào Đại đòan 316 là đại đoàn tiến công A1, tươn đối gần Hồng Cúm. Trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kiềm chế pháo binh địch, giữ vững trận địa không cho bộ binh địch có xe tăng yểm trợ vượt qua.

Trưa ngày 7 tháng 5, tại thời điểm quân Pháp ở khu Trung tâm ra hàng, cũng là lúc địch thọc ra mấy mũi chạy về phía Lào. Trung đoàn được một tiểu đoàn của Trung đoàn 9 phối hợp đã đẩy lùi hết địch quay lại căn cứ đồng thời cử đại đọi 265 vận động truy kích theo đường sang Lào.

Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, trở về đơn vị ông được chỉ định làm trưởng ban tác chiến sư đoàn phụ trách kế hoạc cho Trung đoàn 57 vào Hà Nội, Trung đoàn 9 vào Hà Đông đồng thời tìm địa điểm ổn định cho Sư đoàn.

Năm 1955, ông được điều về Trường trung cao quân sự (sau là Học viện quân sự) là giao viên. Ông cùng tập thể của trường tham gia dịch tài liệu giảng dạy. Cuối năm 1959, Bộ chủ trương biên soạn tài liệu giảng dạy học tập Việt Nam dựa trên kinh nghiệm và thực tiễn chiến đấu trong 9 năm chống Pháp. Ông được cử làm quyền trưởng phòng khoa học quân sự.

Tháng 3 năm 1960, Bộ quyết định cử ông sang học khóa đào tạo quân sự trung cấp tại Học viện quân sự Frunze của Liên Xô cùng 11 người khác. Tháng 5 năm 1960, ông lên trường văn hóa quân đội ở Lạng Sơn để học tiếng Nga trong vòng 3 tháng để kịp sang Liên Xô đúng dịp khai giảng vào tháng 9. Sau khi về nước, ông làm Chủ nghiệm khoa Bộ binh Hệ giáo dục Quân sự Học viện Quân chính.

Trở lại Trị Thiên Huế

Năm 1965, Sư đoàn 304 lấy tên 304A lên đường vào Nam chiến đấu, Bộ quyết định thành lập Sư đoàn 304B do ông Thái Dũng (sau này là trung tướng) làm Sư đoàn trưởng, ông là Sư đoàn phó.

Đầu tháng 11 năm 1967, sư đoàn được lệnh hành quân vào chiến trường Trị Thiên Huế. Sư đoàn được giao nhiệm vụ cùng sư đoàn 325 tác chiến tại khu vực Khe Sanh, khu vực do sư đoàn đảm nhận là dọc đường 9 và khu vực phía nam. Trong dịp Tết Mậu Thân, sư đoàn có nhiệm vụ tiêu diệt chi khu Hướng Hóa, 2 tiểu đoàn quân ngụy Lào ở khu vực Tà Mây (trên đất Lào), bao vây cụm cứ điểm Làng Vân, kéo viện binh của địch ra để diệt.

Rạng sáng ngày 22 tháng 1 năm 1968, trung đoàn đã 66 của sư đoàn đã làm chủ chi khu Hướng Hóa mặc dù trước đó bị B52 đánh trúng vào đội hình hành quân. Ngày 23 và 24 tháng 1, Trung đoàn 24 được một đại đội xe tăng chi viện đã diệt xong cụm quân địch ở khu vực Tà Mây. Tiếp đó, được sự tăng cường của một tiểu đoàn bộ binh của sư 325, 2 đại đội đặc công của B5, 2 đại đội xe tăng, được cụm pháo binh của chiến dịch trực tiếp chi viện, trong đêm 7 và rạng sáng 8 tháng 2 năm 1968, sư đoàn đã tiến công và tiêu diệt gọn cụm cứ điểm Làng Vây bắt sống 400 tù binh. Nhằm kéo địch lên giải tỏa để tiêu diệt và hỗ trợ cho các cuộc tiến công trong các đô thị, sư đoàn và sư đoàn 325 được lệnh vân lấn Tà Cơn. Nhiệm vụ của sư đoàn là vây lấn từ phía Nam đồng thời để lại một lực lượng sẵn sàng đánh địch ở Khe Sanh. Cuộc vây lấn kéo dài 50 ngày đêm từ 10 tháng 2 đến 31 tháng 3 năm 1968, khiến cho Mỹ ngụy, ngày 1 tháng 4, phải đưa toàn bộ sư đoàn kỵ binh bay, một lữ đoàn quân dù ngụy lên giải tỏa cho lực lượng lính thủy đánh bộ ở Tà Cơn có nguy cơ bị tiêu diệt. Tuy nhiên, từ ngày 1 đến 25 tháng 4, lực lượng kỵ binh bay bị đánh bại phải rút chạy. Tiếp đó, bộ chỉ huy lính thủy đánh bộ địch ở quân khu 1 buộc phải vét hết lực lượng dự bị mở tiếp cuộc hành quân giải tỏa nhưng bị sư đoàn 308 đánh cho nặng nề. Từ ngày 26 tháng 6 đến 15 tháng 7, Mỹ phải lần lượt rút hết các lực lượng ở khu vực này.

Năm 1969, sư đoàn của ông phụ trách khu vực nam Khe Sanh-Đắc Nông rồi giữ vững hoạt động phía tây Trị Thiên. Năm 1970, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304B.

Giữa năm 1970, Bộ dự kiến trong mùa khô 1970-1971, với sự yểm trợ của quân Mỹ, ngụy sẽ tiến công vào vùng tự do của ta : tiên công sang Cam-pu-chia, ra biên giới 3 nước Đông Dương (thuộc Tây Nguyên), ra đường 9 Nam Lào và cũng có thể đánh ra địa bàn Khu 4. Các lực lượng của Bộ chủ yếu là binh đoàn B70 (gồm sư đoàn 304, 308, 320 và một số binh chủng kỹ thuật) có nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch nống ra đường 9 Nam Lào hoặc nam Khu 4. Trong chiến dịch này, sư đoàn 304B (trừ Trung đoàn 24 đi xây dựng chốt chiến dịch ở khu vực cầu Cha Ki giữa Lao Bảo và Bản Đông) là lực lượng dự bị chiến dịch, cho nên ông trực tiếp tại cơ quan chỉ huy dưới quyền Tư lệnh Lê Trọng Tấn cả giai đoạn chuẩn bị và thực hành tác chiến. Ngày 23 tháng 3, đội hình địch rút hết về phía sau sau khi bị đánh thiệt hại nặng nề. Sư đoàn 304B để lại một trung đoàn phối hợp với lực lượng địa phương uy hiếp buộc quân địch phải lui hoàn toàn về vị trí xuất phát ban đầu.

Đầu năm 1972, Bộ quyết định mở chiến dịch Trị Thiên do ông Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, ông Cao Văn Khánh làm Phó Tư lệnh. Sư đoàn 304B được phân công tiến công trên hướng chủ yếu ở phía Tây. Sư đoàn đang từ nam Quảng Bình bí mật hành quân ra bắc Quảng Bình rồi từ đây hành quân thẳng vào chiến trường. Trong chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị, đợ một Sư đoàn tiêu diệt và bắt hàng trung đoàn 56 của sư đoàn 3 ngụy, diệt một tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng cơ quan chỉ huy và một tiểu đoàn khác của lữ đoàn thủy đánh bộ 147.

Năm 1973, Quân đoàn 1 được thành lập gồm các sư đoàn 308, 312, 320, Sư đoàn phòng không 367 và nhiều trung đoàn binh chủng chiến đấu, bảo đảm, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng quân đoàn.

Chưa đầy một năm sau, khi Quân đoàn 2 được thành lập tại chiến trường Trị Thiên, ông được điều vào làm Phó Tư lệnh. Ông được Tư lệnh Quân đoàn tin tưởng và ủy thác công việc phụ trách huấn luyện quân sự.





Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Đan, vị tướng chiến trận
Gửi bởi: panphilov trong 11 Tháng Mười Một, 2008, 10:37:42 pm
Từ sông Bến Hải đến Dinh Độc Lập

Theo quyết định của Bộ, giữa năm 1974, Quân đoàn phái Sư đoàn 304 vào phối thuộc cho Khu 5 trong chiến dịch Hè Thu ở Nông Sơn-Thượng Đức. Đây là trận đầu ra quân của Quân đoàn, có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì vậy ông được cử vào tăng cường chỉ huy cho Sư đoàn không suốt thời gian chiến dịch mà từng đợt theo yêu cầu.

Trong lần tiến công Thượng Đức lần thứ 1, ông được cử vào cùng ban chỉ huy sư đoàn xây dựng kế hoạch tấn công rồi lại trở ra Quân đoàn. Tuy nhiên, đợt tất công đầu tiên này thất bại, ông lại được Quân đoàn điểu ngay vào Thượng Đức lần thứ 2 để cùng ban chỉ huy Sư đoàn tìm ra nguyên nhân, khắc phục hạn chế xây dựng kế hoạch tấn công lần 2 và lần này Trung đoàn 66 đã diệt gọn cứ điểm Thượng Đức. Sau khi đánh Thượng Đức lần 2, ông lại ra gấp Quân đoàn tiếp tục công việc xây dựng quân đoàn và làm nhiệm vụ tăng cường chỉ huy cho sư đoàn 324 tiến công địch trên hướng tây nam Thừa Thiên.

Suốt Xuân Hè bị thất bại liên tiếp, để lấy lại niềm tin cho các lực lượng chính trị, quân sự, Thiệu quyết tâm mở một cuộc phản kích lớn, giành lại một số vùng trọng điểm bị mất trong thời gian này và chọn hướng Thượng Đức. Thiệu tập trung ở đây 2 sư đoàn. Sư đoàn 304B chủ trương phòng ngự, tuy nhiên địch tiến công tiến công bài bản dưới sự chi viện tối đa của không quân và pháo binh khiến cho trận địa bị mất dần. Ông lại được Quân đoàn cấp tốc cử vào tăng cường chỉ huy. Trước khi vào, ông đề nghị Quân đoàn kịp thời tăng thêm lực lượng để bộ đội vừa đánh vừa nghỉ ngơi và có thể bám trụ chốt lâu dài, tăng cường công binh củng cố công sự và pháo cối. Sau khi vào tận nơi nắm tình hình, ông đề xuất ngay với ban chỉ huy sư đoàn phải tập huấn về phòng ngự cho các cán bộ từ tiểu đội đến tiểu đoàn. Kết quả là, địch tuy cố gắng cũng không chiếm thêm được điểm tựa nào, lại bị thương vong nhiều nên sư đoàn dù buộc phải rút về phía sau và bị sư đoàn bám gót truy kích giải phóng luôn vùng B Đại Lộc.

Cuối tháng 1 năm 1975, Bộ lệnh cho Quân đoàn cùng với quân dân Trị Thiên mở chiến dịch tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực đinh, giam chân các lực lượng quan trọng nhất là sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ tại bắc quân khu 1 ngụy, đồng thời phối hợp với chiến trường chính chiếm một số địa bàn quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho bước tiếp theo của chiến dịch. Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định chọn hướng tiến công chủ yếu là hướng tây nam Huế (khu vực đường 14), tiên công dọc tả hữu sông Truồi ra đường số 1.

Đầu tháng 2 năm 1975, ông đại diện cho Quân đoàn cùng Đại tá Thanh Quảng (Phó Chính ủy Quân khu Trị Thiên) ra Bộ báo cáo kế hoạch tác chiến, đồng thời nhận nhiệm vụ trực tiếp từ Bộ. Sau đó, ông có nhiệm vụ báo cáo với Thường trực Bộ Chính trị mà cụ thể là với ông Lê Đức Thọ.

Sáng ngày 5 tháng 3 năm 1975, theo kế hoạch, Quân đoàn cùng các lực lượng vũ trang Trị Thiên đồng loạt nổ súng tiến công với chiến trường chính. Ngày 21 tháng 3, sư đoàn 324 của quân đoàn đã chiếm được đoạn đường số 1 dài hơn 20km, cắt đứt hẳn đường ôtô duy nhất giữa Huế và Đà Nẵng, uy hiếp sân bay Phú Bài. Nắm trước kế hoạch bỏ Huế vào Đà Nẵng của địch, quân đoàn cho các đơn vị pháo của mình phối hợp với pháo binh của khu Trị Thiên bắn phá cửa Thuận An, cửa Tư Hiền và các mục tiêu ven biển lân cận, tổ chức đơn vị phối hợp tiến ra phía Nam, vòng lên phía Bắc bịt chặt của Thuận An. Để chặn quân địch có thể hành quân từ Đà Nẵng ra giải tỏa, Quân đoàn 2 cho sư đoàn 325 tiếp tục tiến công giải phóng đường 1 từ chân đèo Hải Vân. Phát huy thắng lợi, đêm ngày 24 tháng 3 năm 1975, quân đoàn sử dụng trung đoàn 101 nhanh chóng chiếm Phú Bài rồi dùng một tiểu đoàn vu hồi đánh chiếm Hương Thủy. 16h chiều ngày 25 tháng 3, cờ giải phóng đã tung bay khắp thành phố Huế.

Ngày 27 tháng 3 năm 1975, ta chủ trương mở chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Quân đoàn 2 tổ chức cho sư đoàn 324 và phần lớn lữ đoàn xe tăng 203 tiến theo đường 14B vào Tây Bắc Đà Nẵng. Sư đoàn 304, tiến vào tây Đà Nẵng qua ngả Đại Lộc. Sư đoàn 325 tiến theo đường 1 qua đèo Hải Vân vào trung tâm thành phố. Ông được quân đoàn phân cung đi cùng và trực tiếp chỉ đạo sư đoàn 325 tiến theo đường 1, luôn trong bộ phận đi đầu trực tiếp giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình tiến quân. Sáng này 29 tháng 3, ông có mặt trong bộ phận đi đầu của sư 325, trung đoàn 18, đập tan lữ đoàn lính thủy đánh bộ địch chốt trên đèo Hải Vân. Trưa bộ phận do ông chỉ huy vượt qua cầu Nam Ô. 13h 30’, cánh quân này đã vào đén căn cứ lính thủy đánh bộ, kịp thời ngăn cản không cho tàu địch chở quân thoát ra biển, đồng thời ông kịp thời chỉ huy sư đoàn 304 đánh chiếm dọc bờ sông bên chân núi Sơn Trà.

Thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã chín muồi, ta quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh. Quân đoàn 2 được lệnh tham gia chiến dịch, tiến quân theo đường số 1 trong đội hình cánh quân Duyên hải (trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu đổi thành cánh quân Đông). Sáng ngày 7 tháng 4, đơn vị đi đầu của quân đoàn xuất phát. Ông cùng với ông Nguyễn Công Trang, phó Chính ủy, phụ trách lực lượng đi đầu với nhiệm vụ : trong vùng giải phóng liên hệ với các địa phương và các đơn vị bạn, bổ sung lương thực, đạn dược, xăng dầu, trên khu vực có địch thì đánh địch mở đường cho đoàn quân. Ngày 16 tháng 4, ông phụ trách bộ tự lệnh tiền phương quân đoàn chỉ huy sư đoàn 325 phối hợp với sư đoàn 3 quân khu 5 giải phóng hoàn toàn Phan Rang, bắt sống tư lệnh tiền phương quân đoàn 3 trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và tư lệnh sư đoàn 6 không quân chuẩn tưởng Nguyễn Ngọc Sang, tiếp đó đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4, giải phóng Phan Thiết. Sau khi giải phóng Phan Thiết, theo lệnh của tướng Lê Trọng Tấn, bộ phận do ông chỉ huy cho một lực lượng đánh Hàm Tân hoàn thành việc giải phóng toàn bộ Quân khu 6.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, huớng tiến công chủ yếu của quân đoàn là hướng Nước Trong, Long Bình, sau đó theo xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn vào thẳng Quận 1. Hướng thứ yếu là hướng Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ và vượt sông sang quận 9. Riêng sư đoàn 3 đảm nhiệm giải phóng Bà Rịa Vũng Tàu. Nhiệm vụ đầu tiên là đánh chiếm toàn bộ căn cứ địch ở tả ngạn sông Đồng Nai, nhiệm vụ tiếp theo là thọc nhanh vào Sài Gòn đánh chiếm một phần quận 1, quận 9 và quận 4. Trong quá trình chiến đấu triển khai pháo ở Nhơn Trạch để bắn sân bay Tân Sơn Nhất vào sáng ngày 29 tháng 4 và chiếm được các cầu xa lộ đảm bảo không bị địch phá trong đêm 28. Trưa ngày 30 tháng 4 lịch sử, bộ phận thọc sâu của quân đoàn là trung đoàn 66 cùng với một đơn vị của lữ đoàn 203 đã đánh chiếm được dinh Độc Lập buộc chế độ cũ ở Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện.

Hòa bình và bảo vệ Tổ quốc

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước. Ông được Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm làm Phó giám đốc Học viện Quân sự cấp cao sau là Học viện Quốc phòng (tháng 4 năm 1976).

Năm 1978, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông được tướng Lê Trọng Tấn khi đó là Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy cuộc chiến gọi vào chiến trường Tây Nam để giúp ông nghiên cứu chiến thuật, mà trước mắt là ngăn chặn không cho địch dùng hỏa lực hoặc cho quân đánh phá biên giới. Cuối năm này, ông lại quay về Học viện tiếp tục công tác.

Ngày 21 tháng 2 năm 1979, sau khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra được 4 ngày, ông đang ở Học viện thì được gọi lên Bộ và đích thân Đại tướng Văn Tiến Dũng Bộ trưởng và tướng Lê Trọng Tấn Tổng tham mưu trưởng giao nhiệm vụ lên ngay mặt trận Lạng Sơn trong ngày 22 để giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận Lạng Sơn.

Tháng 2 năm 1981, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1. Tháng 7 năm 1983, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Cục phó rồi sau đó là Cục trưởng Cục khoa học quân sự trực thuộc Bộ tổng tham mưu (6.1990). Tháng 6 năm 1995, ông về nghỉ hưu.

‘’Tướng Hoàng Đan là một tướng chiến trận. Nơi nào có cuộc chiến ác liệt nhất là có mặt tướng Hoàng Đan. Ông chiến đấu dũng cảm và chỉ huy có mưu trí. Ông đã tham gia chỉ các trận đánh nổi tiếng’’

‘’Không những là một tướng chiến trận, chỉ huy những trận đánh lớn nổi tiếng, ông còn là người chỉ huy biết nắm chắc tình hình địch ta, rất mưu trí, dũng cảm, rất nhạy bén, biết xử trí các tình huống chiến đấu, biết nắm chắc thời cơ để đánh những đòn then chốt quyết định trong các trận đánh lớn có nhiều khó khăn và giành thắng lợi lớn.

Về tính cách, ông là một người giản dị, có tác phong quần chúng, cởi mở, ai cũng quý mến, gần gũi . Ông có tinh thần đấu tranh bảo vệ chân lý. Ông không chỉ là một nhà chỉ huy tài giỏi, mà còn là một nhà lý luận quân sự xuất sắc. Ông kết hợp thực tiễn với lí luận, do đó mà có tính học thuật cao. Các cuộc tổng kết về nghệ thuật chiến dịch và chiến lược quân sự, ông thường phụ trách các phần chủ chốt của công trình’’ (Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo).

‘’Anh Hoàng Đan có mấy né nổi bật. Anh là một người chỉ huy có trình độ lý luận và thực tiễn, con người mưu trí và năng động, không chịu bó tay trước khó khăn, dám nghĩ, dám nói, dàm đề đạt hẳn ý kiến của mình với cấp trên và có trách nhiệm với việc làm của mình. Anh là người luôn coi trọng kết hợp giữa huấn luyện và chiến đấu, giữa xây dựng chính trị tư tưởng và tác chiến’’ (Trung tướng Nguyễn Ân).

‘’Anh cũng là một tướng tài. Anh mất hơi sớm, bỏ lại ngổn ngang công việc các tướng trước giao cho : tổng kết chiến dịch, tổng kết chiến lược giúp cho anh Quang (Thượng tướng Trần Văn Quang), anh Thảo (Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo) (Thiếu tướng Nguyễn Dũng Chi).


Theo Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến trang của Thiếu tướng Hoàng Đan.




Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Xuân Hoàng, nguyên Trưởng ban B68 đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 10 Tháng Giêng, 2009, 05:00:19 pm
(http://img840.imageshack.us/img840/9599/trungtuongnguyenxuanhoa.jpg)

Trung tướng Nguyễn Xuân Hoàng (tên thật Nguyễn Văn Bàn, 1918-1987), nguyên : Viện trưởng Viện quân sự Bộ quốc phòng, Trưởng ban B68 (đầu tiên), Phó Chính ủy Quân khu 4, Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh, Chính ủy Học viện Quân chính, Cục trưởng Cục xuất bản Tổng cục Chính trị, Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm pu chia, Chỉ huy phó Khu Tây Bắc, Trưởng phòng Chính trị khu 9.

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng), Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng 1974, Trung tướng 1986.


Ông quê tại xã Minh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Năm 1937, ông tham gia cách mạng hoạt động ở địa phương. Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, là Biên tập viên Báo Đảng của tỉnh Thái Bình. Từ năm 1942 đến năm 1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở Hoả Lò và đầy đi Côn Đảo.

Tháng 9 năm 1945, ông ra tù, tiếp tục công tác, làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ chính trị cho Khu 9. Tháng 3 năm 1946, ông tham gia xây dựng khu căn cứ An Liêm-Minh-Lương. Từ năm 1946 đến năm 1947, ông phụ trách tờ báo của Khu 9. Tháng 9 năm 1948, ông là Trưởng phòng Chính trị Khu 9. Từ tháng 6 năm 1950 đến tháng 7 năm 1954, ông là Trưởng phòng Chính trị, Chỉ huy phó Khu Tây Bắc, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-pu-Chia.

Tháng 7 năm 1955, ông là Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Tháng 7 năm 1956, ông là Phó giám đốc Trường Chính trị Trung cao Quân đội. Tháng 6 năm 1959, ông là Chính uỷ Binh chủng Pháo binh.

Từ tháng 4 năm 1961 đến tháng 4 năm 1966, ông là Tổng biên tập Tạp chí “Quân đội nhân dân”. Cục trưởng Cục Xuất bản Tổng cục Chính trị, Chính uỷ Học viện Quân chính, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh. Từ tháng 5 năm 1966 đến tháng 6 năm 1969, ông là Phó chính uỷ Quân khu 4, kiêm Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Mặt trận B5 Bắc Quảng Trị. Tháng 7 năm 1969, ông là Phó viện trưởng Viện Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng. Năm 1970, ông kiêm Phó trưởng ban Công tác miền Tây (CP-38).

Năm 1978, ông là Trưởng ban B68, giúp cách mạng Căm-Pu-Chia. Tháng 3 năm 1979, ông là Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao. Từ tháng 8 năm 1981 đến năm 1983, ông là Viện trưởng Viện Lịch sử Bộ Quốc phòng.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Sùng Lãm, nguyên Tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Giêng, 2009, 06:06:53 pm
(http://img243.imageshack.us/img243/2188/trungtuongnguyensunglamlm8.jpg)

Trung tướng Nguyễn Sùng Lãm (1925), nguyên : Trưởng đoàn Quân sự Việt Nam tại Cuba, Tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh, Phó Tư lệnh Quân khu 1, Phó Tư lệnh Quân khu 4, Tham mưu phó Quân khu Trị Thiên.

Huân chương Quân công hạng nhất, nhì ; Huân chương Chiến thắng hạng nhì ; Huân chương Chiến công hạng nhất, hạng nhì ; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất ; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba ; Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng nhất, nhì, ba ; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng ; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Ngoài ra, ông được Nhà nước Cu Ba tặng Huân chương Che Guevara.

Thiếu tướng (1980), Trung tướng (1986).


Trung tướng Nguyễn Sùng Lãm quê tại xã Thất Hùng, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Tham gia Cách mạng từ tháng 5 năm 1945. Tháng 6 năm 1945, ông nhập ngũ Từ tháng 6 năm là Chiến sỹ thuộc chiến khu Trần Hưng Đạo (Đệ tứ chiến khu). Do những thành tích chỉ huy và chiến đấu, tháng 10 năm 1948, ông được chính thức kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam). Tháng 12 năm 1949, ông chuyển về làm Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn 64, Trung đoàn 42 Liên khu 3. Từ tháng 1 năm 1950 đến tháng 12 năm 1955, ông là Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, Tham mưu trưởng Sư đoàn 320.

Từ năm 1956 đến năm 1959, ông học tại Học viện Quân sự Bắc Kinh Trung Quốc. Từ tháng 1 năm 1960 đến tháng 9 năm 1967, ông là Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320. Từ tháng 10 năm 1967 đến tháng 12 năm 1970, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, Tư lệnh Mặt trận 7 Quảng Trị thuộc Quân khu Trị Thiên, chiến đấu và chỉ huy bộ đội chiến đấu ở Mặt trận B5, chiến dịch đường 9 Khe Sanh, chiến dịch đường 9 Nam Lào. Từ năm 1971 đến năm 1973, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320B rồi Tham mưu phó Quân khu Trị Thiên, chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

Từ năm 1974 đến năm 1978, ông là Phó tư lệnh Quân khu 4, rồi được cử đi học tại Học viện Quân sự Bộ Tổng tham mưu Vôrôsilốp của Liên Xô và Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Từ năm 1979 đến năm 1981, ông là Phó tư lệnh Quân khu 1, Phó tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh. Từ năm 1982 đến năm 1987, ông là Tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh.

Từ tháng 1 năm 1988 đến tháng 12 năm 1991, ông là Trưởng đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Cu Ba. Từ tháng 1 năm 1992 đến tháng 3 năm 1996, ông về Quân khu 3 nghỉ chế độ. Tháng 4 năm 1996, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.






Tiêu đề: Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Giêng, 2009, 06:15:56 pm
(http://img238.imageshack.us/img238/6828/trtphamhongcuwm8.jpg)

Trung tướng Phạm Hồng Cư (11.02.1926), nguyên: Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Tư lệnh chính trị Quân khu 2.

Huân chương Quân công hạng nhì, ba; Huân chương Chiến thắng hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Kỷ niệm chương Chiến sỹ cách mạng bị bắt và tù đày.

Thiếu tướng (1983), Trung tướng (1988).


Trung tướng Phạm Hồng Cư (tên thật Lê Đỗ Nguyên), quê ở xã Đông Cương, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông là anh trai của nhân vật nữ trong bài thơ Màu tím hoa sim nổi tiếng. Ông là chồng của Phó Giáo sư Đặng Thị Hạnh, con rể của Giáo sư Đặng Thai Mai và là anh em đồng hao với Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Từ năm 1940 đến năm 1944, ông là học sinh Trường Bưởi, tham gia các hoạt động yêu nước tại nhà trường và bị đế quốc Pháp bắt, giam tại xà lim Thanh Hoá. Khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945), ông trốn ra, tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng tại Hà Nội trong tiểu đội Phạm Hồng Thái. Vì là thời kỳ tiền khởi nghĩa cho nên, các chiến sĩ trong tiểu đội đều đổi họ tên và đều lấy họ Phạm Hồng.

Ngày 25/8/1945, nghĩa là chỉ một tuần sau khi giành được chính quyền, Thành uỷ Hà Nội quyết định thành lập Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc (ĐTVCĐCQ) Hoàng Diệu. Đây là những đoàn viên cứu quốc trung kiên, được tuyển lựa chủ yếu trong hàng ngũ công nhân, dân nghèo thành thị và thanh niên học sinh. Họ được giao nhiệm vụ cùng với các lực lượng vũ trang khác bảo vệ chính quyền cách mạng, làm công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ, Mặt trận Việt Minh và vận động quần chúng thực hiện; tổ chức và huấn luyện cho tự vệ thành; làm nòng cốt trong các cuộc đấu tranh của quần chúng chống thù trong giặc ngoài. Từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 9 năm 1946, ông được cử giữ chức Trung đội trưởng Tự vệ chiến đấu Cứu quốc thành Hoàng Diệu (Thành bộ Việt Minh Hà Nội).

Trong ngày lễ lịch sử (2/9/1945), ông cùng các đội viên ĐTVCĐCQ được giao ngay trọng trách là làm hàng rào danh dự bảo vệ lễ đài trên quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào và Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập.

Từ tháng 10 năm 1946 đến tháng 2 năm 1947, ông là Thư ký Văn phòng Quân uỷ Hội. Từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 7 năm 1947, ông là Chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 140. Từ tháng 8 năm 1947 đến tháng 9 năm 1949, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn Bình Ca, tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu đông năm 1947, đánh thắng quân Pháp trận đầu trên Sông Lô. Từ tháng 10 năm 1949 đến tháng 2 năm 1951, ông là Phó phòng Chính trị Đại đoàn 308, tham gia chiến dịch Biên Giới, Trung Du. Từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 9 năm 1954, ông là Phó chính uỷ Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, tham gia các chiến dịch lớn trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ tháng 10 năm 1954 đến tháng 11 năm 1955, ông là Chính trị viên Trường Quân chính Đại đoàn 308. Từ tháng 12 năm 1955 đến năm 1956, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn Huấn luyện, rồi Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 308. Từ tháng 12 năm 1956 đến tháng 7 năm 1959, ông là Chính uỷ Trung đoàn 36, Đại đoàn 308. Từ tháng 8 năm 1959 đến tháng 2 năm 1962, ông là Trưởng phòng Tuyên truyền, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị. Từ tháng 3 năm 1962 đến tháng 2 năm 1970, ông là Cục phó Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị. Từ tháng 3 năm 1970 đến tháng 2 năm 1974, ông là Phái viên Tổng cục Chính trị tại chiến trường B5, tham gia chiến dịch Đường 9 Nam Lào năm 1971, Quảng Trị năm 1972. Từ tháng 3 năm 1974 đến tháng 5 năm 1975, ông là Cục trưởng Cục Văn hoá, Phái viên Tổng cục Chính trị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Từ tháng 6 năm 1975 đến tháng 5 năm 1978, ông là Cục trưởng Cục Văn hoá, Tổng cục Chính trị. Từ tháng 6 năm 1978 đến tháng 7 năm 1980, ông là Phó tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm chính trị Quân khu 2. Từ tháng 8 năm 1980 đến tháng 7 năm 1986, ông là Phó tư lệnh chính trị Quân khu 2.

Từ tháng 4 năm 1986 đến tháng 9 năm 1995, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Năm 1995, ông được Nhà nước và Quân đội cho nghỉ hưu.

Thao Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam






Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Văn Tiên, vang mãi bài ca ba lẻ bẩy
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Giêng, 2009, 06:49:52 pm
(http://img516.imageshack.us/img516/1843/trungtuongnguyenvantienen4.jpg)

Trung tướng Nguyễn Văn Tiên (02.06.1924-2003), nguyên: Phó Tư lệnh phụ trách kỹ thuật Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự kiêm Phó Bí thư Đảng ủy trưởng, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Không quân.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhất, 3 Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.

Thiếu tướng (01.1980), Trung tướng (04.1989)


Trung tướng Nguyễn Văn Tiên quê ở xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là đội viên du kích ở quê nhà tham gia giành chính quyền ở Mỹ Tho. Tháng 10 năm đó, ông là chiến sĩ Dân quân Cách mạng tỉnh Mỹ Tho, trưởng thành từ chiến sĩ, tiểu đội phó đến tiểu đội trưởng.

Từ tháng 4.1946, ông lần lượt giữ các chức vụ Trung đội phó, Trung đội trưởng rồi Đại đội trưởng Đại đội 3 Chi đội 14 của Khu 8. Đến tháng 9.1946, ông là Đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 3 Chi đội 17 trực thuộc Khu 8. Tháng 10.1946, ông được cử đi học khóa đầu tiên của Trường Quân chính Khu 8, sau khi tốt nghiệp, ông được giữ lại trường làm huấn luyện viên. Từ tháng 12.1947, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn 305 Khu 8 hoạt động tại tỉnh Gò Công, Thường vụ Ủy viên Tỉnh ủy rồi Bí thư Đảng ủy Gò Công. Tháng 12.1949, ông được điều về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Liên quân lưu động Khu 8 (Tiểu đoàn 307) trực thuộc Trung đoàn Đồng Tháp do ông Đỗ Huy Rừa làm Tiểu đoàn trưởng. Sau khi ông Đỗ Huy Rừa hy sinh, tháng 9.1950, ông kiêm luôn chức vụ Tiểu đoàn trưởng. Tháng 9.1952, ông được cử đi học Trưởng Đảng của Trung ương cục miền Nam, sau khi tốt nghiệp ông tiếp tục quay về giữ chức vụ Chính trị viên kiêm Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn 307 lúc này trực thuộc Phân Liên khu miền Tây và do ông Phạm Hồng Sơn làm Tiểu đoàn trưởng. Tháng 10.1954, ông được cử giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Phân liên khu miền Tây, Phó Bí thư Đảng ủy Trung đoàn.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc và được cử đi học Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng. Tháng 5.1956, ông sang Trung quốc theo học tại Học viện Không quân Quân giải phóng Trung Quốc.

Sau khi trở về Tổ quốc, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Cục Không quân Bộ quốc phòng (10.1960) và là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Cục Không quân. Tháng 11.1963, ông là Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Tháng 3.1967, ông là Tư lệnh Bộ Tư lệnh KHông quân, Quân chủng Phòng không Không quân và là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Tháng 10.1969, ông là Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân chủng.

Tháng 4.1974, ông chuyển sang Tổng cục Kỹ thuật giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm và là Ủy viên Thường vụ Tổng cục. Tháng 6.1979, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Ký thuật đặc trách Hiệu trưởng Trường đại học Kỹ thuật Quân sự và là Phó Bí thư Đảng ủy của Trường. Tháng 3.1981, ông là Phó Tư lệnh về trang bị kỹ thuật Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia và là Đảng ủy viên Quân tình nguyện. Tháng 5.1988, ông là Đại diện Tổng cục Kỹ thuật (bộ phận đại diện Bộ quốc phòng) ở Campuchia. Năm 1996, ông được Nhà nước và Bộ quốc phòng cho nghỉ hưu.






Tiêu đề: Chuẩn đô đốc Trần Văn Giang, bầu trời và biển đảo
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Giêng, 2009, 07:21:26 pm
(http://img216.imageshack.us/img216/9526/thieutuongtranvangiangnq8.jpg)

Thiếu tướng Chuẩn đô đốc Trần Văn Giang (07.02.1924), nguyên: Phó Tư lệnh chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Hải quân; Chính ủy Quân chủng Hải quân; Chính ủy Sư đoàn 361 (Sư đoàn Phòng không Hà Nội hay Sư đoàn Phòng không Cận vệ Đỏ).

Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vạng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1980)


Thiếu tướng Chuẩn đô đốc Trần Văn Giang quê ở xã Thắng Thủy, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Ông tham gia Cách mạng từ tháng 1 năm 1945, hoạt động Việt Minh bí mật vùng Ninh Giang (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Trong Cách mạng tháng 8.1945, ông là Cán bộ Việt Minh thành phố Hải Phòng.

Sau khi Cách mạng tháng 8.1945 thành công, ông theo học qua Trường Cán bộ Quân chính Việt Nam mở tại Việt Nam học xá (Liên khu 3), sau khi tốt nghiệp ông được điều về làm cán bộ ở Bộ Quốc phòng. Tháng 12.1945, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trưởng Cựu binh sĩ cứu quốc Việt Nam, đào tạo các sĩ quan và hạ sĩ quan người Việt từng phục vụ trong quân đội Pháp nhưng có lòng yêu nước, giác ngộ Việt Minh, tham gia lớp huấn luyện ngắn ngày để ra làm cán bộ tiểu đội trưởng, trung đội phó hoặc trung đội trưởng cho Quân đội non trẻ. Ông đặc trách nhiệm vụ Phái viên Bộ quốc phòng và là Chính trị viên của Trường.

Tháng 3.1946, ông là Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên thuộc chi đội Bắc Bắc (Trung đoàn 36). Tháng 6.1946, ông là Tiểu đoàn trưởng kiêm Chính trị viên Tiểu đoàn, Bí thư Chi bộ đoàn Bắc Giang, Bắc Ninh (Bắc Bắc). Tháng 6.1947, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn Đáp Cầu. Tháng 9.1947, là Trưởng tiểu Ban tổ chức kiêm Trưởng ban Tuyên huấn Quân khu ủy 12. Tháng 2.1948, ông là Phái viên, Trưởng tiểu ban Chính trị Trung đoàn 121 Liên khu 1, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn, tỉnh ủy viên Thái Nguyên, Chính trị viên Mặt trận nam Sông Nhị (tháng 1 năm 1949), Trưởng ban giáo dục chính trị Bộ quốc phòng (tháng 8.1949). Tháng 10.1950, ông là Chủ nhiệm chính trị, phó Chính ủy Trung đoàn sơn pháo 675. Tháng 10.1951, ông giữ quyền Phó chủ nhiệm chính trị Đại đoàn 316. Tháng 3.1953, ông được cử giữ chức vụ Chính trị viên, Bí thư Đảng đoàn Trường cán bộ, học viên pháo cao xạ ở Đông Bắc Trung quốc. Sau khi về nước, tháng 7.1953, ông giữ chức vụ Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn pháo cao xạ 367. Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau đó, ông là Chính ủy Trung đoàn pháo cao xạ 689 Đại đoàn Pháo cao xạ 367.

Tháng 2.1957, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn pháo cao xạ 367. Năm 1960, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Bội đội Hải quân. Năm 1964, ông là Chủ nhiệm chính trị, Phó bí thư hiệu ủy Đảng bộ Trường đào tạo cán bộ chính trị sơ cấp. Tháng 5.1965, ông là Chính ủy Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội. Tháng 6.1966, ông là Chính ủy Bộ tư lệnh Phòng không Hải Phòng. Tháng 3.1967, ông được cử giữ chức vụ Chỉnh ủy Sư đoàn Phòng không 361 (Sư đoàn Phòng không Cận vệ đỏ hay Sư đoàn Phòng không Hà Nội). Tháng 7.1974, ông trở về Quân chủng Hải quân giữ chức vụ Chính ủy.

Tháng 8.1980, ông là Phó Tư lệnh về Chính trị Quân chủng Hải quân kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng. Tháng 10.1983, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải quân, Bí thư Đảng ủy Quân chủng. Tháng 10.1985, ông tiếp tục giữ chức vụ Phó Tư lệnh về Chính trị của Quân chủng và là Bí thư Đảng ủy. Ông nghỉ hưu ngày 18.01.1988 và hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.





Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Quân ủy TW
Gửi bởi: panphilov trong 09 Tháng Hai, 2009, 03:28:39 pm
(http://img132.imageshack.us/img132/4134/trungtuongnguyenxuanmaugv4.jpg)

Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu (tên thật: Nguyễn Xuân Kế, 10.1922), nguyên: Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Chính ủy Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không, Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Quân ủy Trung ương.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (01.1979), Trung tướng (01.1986).


Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu quê ở thôn Yên Trường, xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tĩnh, tham gia hoạt động Cách mạng từ năm 1938 trong tổ chức Tương tế Ái hữu của Mặt trận Bình dân, rồi tham gia thanh niên dân chủ, thanh niên phản đế. Năm 1940, ông tham gia đoàn thanh niên cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Năm 1941, ông được bầu vào Ban chấp hành thanh niên cứu quốc, phụ trách Ban chấp hành Việt Minh xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Năm 1944, ông là Đội trưởng Đội tuyên truyền vũ trang huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, phụ trách đội tự vệ chiến đầu giành chính quyền tại xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông.

Trong Cách mạng tháng 8, ông chỉ huy Đội tự vệ chiến đấu cùng các đoàn thể cách mạng giành chính quyền ở huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (17.08.1945). Tháng 10.1945, ông được bầu là huyện ủy viên, cán bộ Việt Minh huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Tháng 10.1946, ông nhập ngũ là Chính trị viên trung đội, chính trị viên Đại đội 23 Tiểu đoàn 87 Trung đoàn 34 chiến đấu tại 2 tỉnh Ninh Bình, Nam Định. Tháng 1.1948, ông là Chính trị viên Đại đội 14 Trung đoàn 66. Năm 1950, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn 632 Trung đoàn 34. Bí thư Tiểu đoàn ủy Trung đoàn 45 thuộc Bộ Tư lệnh Đại đoàn Pháo binh 351. Tháng 5.1952, ông theo học lớp chính trị do Tổng cục Chính trị mở, tháng 10 năm này ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chính trị viên Tiểu đoàn, Bí thư Tiểu đoàn ủy Tiểu đoàn phòng không 681 thuộc Bộ quốc phòng, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 21.9.1954, ông là Chính ủy Trung đoàn pháo Phòng không 681 Đại đoàn pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh, Đảng ủy viên Đại đoàn.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh. Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Đại đoàn. Năm 1956, ông được cử đi học tại Học viện Chính trị trung cao ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Tháng 11.1958, ông là Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Phòng không.

Ngày 22.10.11963, ông là Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân. Phó Bí thư Đảng ủy Quân chủng. Tháng 10.1964, ông là Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân. Phó bí thư Đảng ủy Quân chủng. Tháng 10.1965, ông là Chủ nhiệm Chính trị Học viện Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Học viện. Tháng 3.1966, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Phó bí thư Đảng ủy Quân chủng.

Năm 1971, ông là Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 8.1974, ông được cử đi học Bổ túc tại trường cao đẳng quân sự ở Liên Xô. Trở về nước, tháng 6.1975, ông là Phó chính ủy quân chủng Phòng không Không quân.

Ngày 16.5.1977, ông là Chính ủy Quân chủng Phòng không. Tháng 9.1980, ông là Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Quân ủy Trung ương. Tháng 1.1985, ông là Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng Tổng cục Chính trị, Bộ quốc phòng. Tháng 1.1986, ông là Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Ông là Đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3, 5 và 6. Ông được nhà nước và quân đội cho nghỉ hưu năm 1989.






Tiêu đề: Trung tướng Đỗ Văn Đức, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng QDNDVN
Gửi bởi: panphilov trong 26 Tháng Hai, 2009, 03:43:45 pm
(http://img13.imageshack.us/img13/8481/trungtuongdovanduc.jpg)

Trung tướng Đỗ Văn Đức (1925), nguyên: Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1980), Trung tướng (1986)


Ông quê ở xã Trịnh Xã, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Tham gia Cách mạng từ năm 1944, hoạt động trong phong trào thanh niên Nam Bộ.

Từ năm 1945 đến 1952, ông lần lượt phụ trách Ban huấn luyện Trung đoàn 9, Ban huấn luyện Liên khu 4, Phó Ban tác huấn Liên khu 4, Tiểu đoàn trưởng rồi Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 9 trực thuộc Đại đoàn 304. Tháng 9 năm 1952, ông là Phó rồi Trưởng Phòng Tổ chức biên chế thuộc Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu tham gia nhiều chiến dịch trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Tháng 1.1965, ông là Trưởng phòng Quân lực Bộ tham mưu Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 6 năm 1969, ông là Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Miền, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Từ tháng 8.1976 đến năm 1981, ông là Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ năm 1982 đến 1995, ông giữ chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng cho đến khi về hưu.

Tham khảo: Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Trung tướng Trần Xuân Trường, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Hai, 2009, 12:16:01 am
(http://img818.imageshack.us/img818/4742/tranxuantruong.jpg)

Trung tướng Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Trần Xuân Trường (14.10.1928), nguyên Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1984), Trung tướng (1992)


Trung tướng Trần Xuân Trường quê ở xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông tham gia cách mạng từ tháng 6 năm 1945, là đội viên, Trung đội trưởng Đội tự vệ chiến đấu Trường kỳ nghệ Hà Nội rồi nhập ngũ tháng 12 năm 1946. Tháng 3 năm 1947, ông là chính trị viên Tiểu đoàn 101, Trung đoàn Thủ đô kiêm Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn. Tháng 6 năm 1947, ông là Chính trị viên đại đội, Trung đoàn 140 kiêm Bí thư Chi bộ đại đội. Tháng 12 năm 1949, ông là Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Thủ đô (E102), Đại đoàn Quân tiên phong (F108). Tháng 1.1950, ông giữ chức Trưởng ban tuyên huấn Đại đoàn 308.

Sau hòa bình lập lại trên miền Bắc, tháng 5 năm 1956 ông là Chủ nhiệm khoa Kinh tế Trường trung cao chính trị. Tháng 12 năm 1964, ông là Trưởng phòng giáo dục Học viện Chính trị. Tháng 6 năm 1970, ông là Cục phó cục chính trị Bộ tư lệnh 968 và Đoàn 559.

Tháng 8.1978, ông là Chủ nhiệm Khoa Mác Lê-nin của Học viện Quân sự cấp cao. Tháng 5.1979, ông là Phó viện trưởng Học viện chính trị. Từ tháng 1 năm 1992 ông là Giám đốc Học viện Chính trị cho đến khi về hưu (năm 2002).

Tham khảo: Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Lã Ngọc Châu, nguyên Phó hiệu trưởng về chính trị TSQLQI
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Ba, 2009, 03:43:51 pm
(http://img804.imageshack.us/img804/7076/thieutuonglangocchau.jpg)

Thiếu tướng Lã Ngọc Châu (1926), nguyên: Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 1 thuộc Mặt trận Tây Nguyên, Phó Chủ nhiệm Hậu cần Mặt trận B3 - Tây Nguyên, , Phó Chính ủy Quân đoàn 3, Phó Hiệu trưởng về Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1.

Huân chương Độc lập hạng 3, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (12.1984)


Thiếu tướng Lã Ngọc Châu quê ở xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử tham gia vào Ủy ban hành chính xã Khánh Cư cho đến khi nhập ngũ (8.1946).

Năm 1948, là chính trị viên Trung đội trinh sát trực thuộc Tiểu đoàn 171. Năm 1949, là cán sự Chính trị Đại đội 180, Tiểu đoàn 171. Tháng 12.1949, ông giữ chức vụ Chính trị viên Đại đội 131, Trung đoàn 66. Tháng 8.1952, là Chính trị viên phó Tiểu đoàn Nguyễn Huệ, Trung đoàn 66, Đại đoàn 304. Đến tháng 12.1953, ông là Trợ lý tuyên huấn Trung đoàn 9, Đại đoàn 304. Từ tháng 3.1954 đến tháng 8.1955, ông giữ chức vụ Chính trị viên Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 9, Đại đoàn 304.

Từ tháng 9.1956 đến tháng 1.1957, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị viên Công trường sư đoàn, Chính trị viên Tiểu đoàn huấn luyện trực thuộc Sư đoàn 304. Từ tháng 3.1961 đến tháng 2.1962, ông được cử đi học tại Trường chính trị trung cao khóa 4. Từ tháng 3.1962 đến tháng 12.1963, ông được đề bạt giữ chức vụ Phó Chính ủy Trung đoàn 66, Sư đoàn 304.

Từ tháng 1.1964 đến tháng 10.1967, ông là Chính ủy Trung đoàn 66 Sư đoàn 304. Từ tháng 11.1967 đến năm 1968, ông là Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 1 thuộc Mặt trận Tây Nguyên. Từ năm 1969 đến tháng 4.1970, là Phó Chủ nhiệm Hậu cần Mặt trận Tây Nguyên. Từ tháng 4.1970 đến 1971, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Tây Nguyên. Từ tháng 9.1972, giữ chức vụ Phó Chính ủy Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên sau thuộc Quân đoàn 3, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Từ năm 1976 đến tháng 6.1978, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 3. Từ tháng 7.1978 đến tháng 11.1978, ông giữ chức vụ Phó Chính ủy Quân đoàn 3. Từ tháng 12.1978 đến tháng 7.1980, là Phó Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân I. Sau khi Quân đội bỏ chế độ Chính trị viên, Chính ủy, từ tháng 8.1980 đến tháng 9.1983, ông là Phó Hiệu trưởng về Chính trị Trường sĩ quan Lục quân I. Từ tháng 10.1983 đến tháng 10.1987, ông lại giữ chức Chủ nhiệm Chính trị Trường sĩ quan Lục quân I. Ông được nhà nước cho nghỉ hưu tháng 1.1988.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Trung tướng Vũ Cao, nguyên Cục trưởng Cục tác chiến
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Ba, 2009, 07:01:24 am
(http://img546.imageshack.us/img546/6449/trungtuongvucao.jpg)

Trung tướng Vũ Cao (tên thật: Vũ Đức Cao, 06.1927), nguyên: Cục trưởng Cục tác chiến Bộ tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long).

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân cộng (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Hữu nghị Campuchia hạng Nhất, Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu Vì thế hệ trẻ, Huy hiệu vì nghĩa vụ Quốc tế, Huy hiệu 50 tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1984), Trung tướng (06.1992).


Trung tướng Vũ Cao quê ở xã Xuân Phú, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1945, ông tham gia Việt Minh, giành chính quyền ở huyện Giao Thuỷ, Xuân Trường, Lạc Quần, Nam Định. Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 11 năm 1946, ông là Chiến sỹ Đại đội 3 Chiến khu Lạc Quần.

Từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 6 năm 1948, ông là Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng bảo vệ Kho Quân giới, thuộc Trung đoàn 19, 34. Từ tháng 7 năm 1948 đến tháng 8 năm 1949, ông là Chính trị viên Đại đội, bảo vệ Công binh xưởng, Kho Quân giới Liên khu 3. Từ tháng 9 năm 1949 đến tháng 5 năm 1951, ông là Đại đội trưởng Đại đội 18, Đại đội 64, Tiểu đoàn 632, Trung đoàn 34. Từ tháng 6 năm 1951 đến tháng 5 năm 1955, ông là Phó Ban Tác chiến Trung đoàn 45, Tiểu đoàn phó Trung đoàn 45.

Tháng 6 năm 1955 đến tháng 11 năm 1958, ông là Cán bộ khung Trường Sỹ quan Pháo Binh (400). Từ tháng 12 năm 1958 đến tháng 9 năm 1964, ông là Trợ lý Tham mưu Bộ Tư lệnh Pháo binh 351. Từ tháng 10 năm 1964 đến tháng 9 năm 1966, ông là Phó phòng Nghiên cứu khoa học Bộ Tư lệnh Pháo binh 351, Tham mưu phó Lữ đoàn 364. Tháng 10 năm 1966 đến tháng 7 năm 1971, ông là Trợ lý Pháo binh Quân khu 4, Trung đoàn phó Trung đoàn 271, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 166 Quân khu 4. Từ tháng 8 năm 1971 đến tháng 11 năm 1972, ông là Phó phòng và Trưởng phòng Pháo binh Quân khu 4. Từ tháng 11 năm 1972 đến tháng 2 năm 1979, ông là Phó Sư đoàn 341 Quân khu 4, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 341, Quân đoàn 4.

Từ tháng 3 năm 1979 đến tháng 5 năm 1985, ông là Tham mưu trưởng Quân đoàn 4, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn. Từ tháng 5 năm 1985 đến tháng 7 năm 1991, ông là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Từ tháng 9 năm 1991 đến tháng 10 năm 1997, ông là Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Tháng 10 năm 1997, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sử Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Bùi Nam Hà, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Ba, 2009, 07:03:53 am
(http://img163.imageshack.us/img163/2715/thieutuongbuinamha.jpg)

Thiếu tướng Bùi Nam Hà (1924), nguyên: Phó Tổng thanh tra Quân đội, Ủy viên thường trực Hội đồng thi đua Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Học viện Hậu cần, Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao, Cục trưởng Cục nhà trường Bộ Tổng tham mưu, Phó Tư lệnh Đoàn 959, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Tây Nguyên, Tham mưu phó Quân khu 5. Ngoài ra ông còn là Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam-Ni-ca-ra-goa, Phó Chủ tịch Ủy ban tiếp quản Hà Nội (1954).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến Chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Hai, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)

Thiếu tướng (1983)


Thiếu tướng Bùi Nam Hà quê tại phường Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Ông tham gia cách mạng từ tháng 12 năm 1944. Từ tháng 12 năm 1944 đến tháng 3 năm 1945, ông là liên đội trưởng hoạt động Việt Minh bí mật trong Đoàn Thanh niên Tuyên truyền xung phong thuộc Đoàn thanh niên Cứu Quốc Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ông gia nhập quân đội.

Từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 đến tháng 12 năm 1949, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng giải phóng quân Chi đội Phú Vĩnh Phúc năm 1946; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 55 Bắc Ninh, Tiểu đoàn 56 Bắc Giang, Trung đoàn Bắc Bắc, năm 1946; Tiểu đoàn 517 Độc lập Khu 12 Vệ quốc đoàn năm 1948; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 322, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308, Phó bí thư Liên chi năm 1949. Từ tháng 1 năm 1950 đến tháng 9 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ: Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88, Sư đoàn 308, Phó bí thư Đảng uỷ Trung đoàn, Phó Chủ tịch uỷ ban tiếp quản Thủ đô Hà Nội năm 1954.

Từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 10 năm 1964, ông là Phó Tham mưu trưởng Quân khu Tả Ngạn, Phó Cục trưởng Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu, năm 1958. Từ tháng 11 năm 1964 đến tháng 11 năm 1972, ông vào chiến trường B1, B3 Quân khu 5, giữ các chức vụ: Tham mưu phó Quân khu 5, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Tây Nguyên, Thường vụ Đảng uỷ B3, Phó Tư lệnh Đoàn 959 Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 959.

Từ tháng 12 năm 1972 đến tháng 9 năm 1982, ông là Cục trưởng Cục Nhà trường Bộ Tổng Tham mưu, Uỷ viên Ban chấp hành Đảng uỷ Bộ Tổng Tham mưu, Khoa trưởng Khoa Nghệ thuật Quân sự Viện Khoa học Quân sự - Bộ Quốc phòng, Phó Giám đốc Học viện Quân sự Cấp cao, Viện trưởng Học viện Hậu cần, Đảng uỷ viên Ban chấp hành Đảng uỷ Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 10 năm 1982 đến năm 1981, ông là Phó Tổng Thanh tra Quân đội, Uỷ viên thường trực Hội đồng thi đua Bộ Quốc phòng, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Ni-ca-ra-goa. Năm 1992 ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Nguyễn Chơn, vị tướng của lối đánh "bóc trọc"
Gửi bởi: VTD e1f2 trong 09 Tháng Ba, 2009, 08:57:11 am
Thượng tướng Nguyễn Chơn được đánh giá là một trong ba Sư đoàn trưởng giỏi nhất  của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

      xin cho biết 2 vị sư đoàn trưởng nữa là ai ?
             



                 


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Nguyễn Chơn, vị tướng của lối đánh "bóc trọc"
Gửi bởi: panphilov trong 10 Tháng Ba, 2009, 08:32:48 pm
Thượng tướng Nguyễn Chơn được đánh giá là một trong ba Sư đoàn trưởng giỏi nhất  của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

      xin cho biết 2 vị sư đoàn trưởng nữa là ai ?
                 

Rất cám ơn bác đã quan tâm theo dõi topic của em, bằng chứng là một bài viết đã từ rất lâu mà bác còn đọc lại và lại hỏi câu mà em tin chắc rằng ít ai để ý  ;D

Em phải nói trước là mọi đánh giá đều mang tính chủ quan ở một mức nào đó trong khi em cũng chỉ ngồi "hóng hớt" các cụ. Ví dụ cụ Thảo (Thượng tướng Hoàng Minh Thảo) khi còn sống có đưa ra (theo ý kiến chủ quan của cụ) "bảng xếp hạng" tướng lĩnh ta thời hiện đại nhiều người không đồng tình cho lắm. Vì tướng lại còn chia ra là: tướng chiến lược, tướng chiến thuật, tướng quân binh chủng...rồi lại còn tướng trận, tướng tham mưu, tướng hậu cần. Chính vì vậy ở đây em chỉ đưa ra mỗi một mình tướng Nguyễn Chơn trong 3 vị sư đoàn trưởng.

Khi nói đến Sư đoàn trưởng giỏi là người ta nói đến khả năng chiến thuật nhiều hơn. Cụ Chơn được đánh giá cao bởi các trận đánh do cụ chỉ huy hầu như đều giành thắng lợi và thắng lợi với hiệu suất tiêu diệt địch rất cao (thậm chí là bóc trọc), ít thương vong...

Còn 2 vị còn lại thì em gợi ý nhé:

Một Trung tướng mệnh danh là bậc thầy về sáng tạo lối đánh, tổng kết và đúc rút chiến thuật.
Một Thượng tướng mệnh danh là tướng trận mạc.

Tất nhiên có một số tướng mặc dù là sư đoàn trưởng giỏi nhưng lại được xếp vào "tướng chiến lược''.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: chiangshan trong 10 Tháng Ba, 2009, 08:42:26 pm
Còn 2 vị còn lại thì em gợi ý nhé:

Một Trung tướng mệnh danh là bậc thầy về sáng tạo lối đánh, tổng kết và đúc rút chiến thuật.
Một Thượng tướng mệnh danh là tướng trận mạc.

Theo suy đoán của em thì 2 vị này chắc là Vương Thừa Vũ và Nguyễn Hữu An ::)


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Nguyễn Chơn, vị tướng của lối đánh "bóc trọc"
Gửi bởi: sniper trong 10 Tháng Ba, 2009, 08:57:56 pm
Một Trung tướng mệnh danh là bậc thầy về sáng tạo lối đánh, tổng kết và đúc rút chiến thuật.
Một Thượng tướng mệnh danh là tướng trận mạc.
----------------------------------------------------------
Thượng tướng "trận mạc" theo em có lẽ là Trần Văn Trà. :)


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Nguyễn Chơn, vị tướng của lối đánh "bóc trọc"
Gửi bởi: tamking trong 10 Tháng Ba, 2009, 10:23:15 pm
Một Trung tướng mệnh danh là bậc thầy về sáng tạo lối đánh, tổng kết và đúc rút chiến thuật.
Một Thượng tướng mệnh danh là tướng trận mạc.
----------------------------------------------------------
Thượng tướng "trận mạc" theo em có lẽ là Trần Văn Trà. :)

Tướng Nguyễn Hữu An-tại đây : http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1667.160 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1667.160)
 


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 11 Tháng Ba, 2009, 02:00:10 am

Theo suy đoán của em thì 2 vị này chắc là Vương Thừa Vũ và Nguyễn Hữu An ::)

Hi hi...cái vấn đề đánh giá này nó tế nhị và cũng không hay cho lắm bác ạ! Lần sau em xin rút kinh nghiệm chỉ nêu sự kiện và không đưa bình luận vào nữa.

Thượng tướng "trận mạc" theo em có lẽ là Trần Văn Trà. :)

 Tướng Nguyễn Hữu An-tại đây : http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1667.160 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1667.160)
 

Chắc chắn là không phải rồi, vì tướng Trà là cấp chiến lược rồi, cụ có bao giờ chỉ huy sư đoàn đâu.

--

Em giờ vẫn có thói quen đọc báo Quân đội Nhân dân và Văn nghệ Quân đội, đúng ra là "bị nhiễm" từ hai cụ nhà em. Thi thoảng đọc được vài bài báo khóa thú vị xin hầu các bác trong quân sử:

--Trung tướng giữa đời thường
Nguồn: Báo văn nghệ quân đội
Link: http://vannghequandoi.com.vn/t-liu-vnq/3413-trung-tng-gia-i-thng.html

Theo các bác thì bút ký này viết về tướng nào trong số những tướng trong topic này?  

Trừ tên "Lương" và quân hàm "Trung tướng" là không đúng, còn tất cả các chi tiết còn lại đều lấy gần như nguyên mẫu ngoài đời luôn: Quê quán, Ngoại hình, Tính cách, Đời tư, Quan niệm sống...Trong thực tế thì đúng là ông rất xứng đáng được phong quân hàm Trung tướng nhưng bởi cái lẽ "thời bình nó khác thời chiến"  ;D

--Tướng Vũ Lăng trong tác phẩm của cha tôi
Nguồn: Báo văn nghệ quân đội
Link: http://vannghequandoi.com.vn/danh-cho-linh-tr/chuyn-i-thng-ca-cac-tng-lnh/16-chuyn-i-thng-ca-cac-tng-lnh/3610-tng-v-lng-trong-tac-phm-ca-cha-toi.html
Tác giả: Nguyễn Huy Thắng (con trai của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, vẫn được mệnh danh là "nhà Huy Tưởng học")

Trong bài viết này tác giả cũng khẳng định là nhân vật Văn Việt trong Sống mãi với Thủ Đô lấy nguyên mẫu từ Thượng tướng Vũ Lăng. Nhận định này trùng với nhận định của em trong bài viết về tướng Vũ Lăng ở trong topic này.

Trong bài này tác giả có viết:

"Đối với tôi, kết cục đáng tiếc này lẽ ra mãi vẫn là một câu chuyện buồn của cha tôi, là nỗi tiếc nuối cho biết bao công sức của ông, là cảm giác bất nhẫn mỗi khi nghĩ đến nhiều nhân chứng đã không có dịp được hóa thân trong tác phẩm của ông. Những Vũ Lăng, Vũ Yên, Bùi Nguyên Cát, Vũ Văn Sự, Bùi Ngọc Bản, Vũ Kiểm, Nguyễn Văn Phúc, Ngô Đặng Tuất, An Ngọc Tỉnh... – đấy mới chỉ là một số những cái tên xuất hiện trong hai cuốn sổ ghi chép nói trên của cha tôi. Như một sự đồng cảm, tác giả Nguyễn Viết Sơn trong bài viết về Thiếu tướng Vũ Yên trên tạp chí Sự kiện và nhân chính số Xuân Đinh Sửu 1997, có nói về việc nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trong quá trình viết Sống mãi với Thủ đô cũng đã “nhiều lần đến thăm Đại đoàn trưởng Vũ Yên với ý định tái hiện ông qua một nhân vật văn học. Tiếc thay tác giả Sống mãi với Thủ đô đã ra đi quá sớm nên việc đó không thành”...

Nhưng theo em thì tướng Vũ Yên cũng đã "xuất hiện" trong Sống mãi với Thủ đô qua một nhân vật được nhắc đến rất nhiều. Ta có thể nhận ra ngay qua sự khá tương đồng giữa nhân vật này và tướng Vũ Yên về:

- Quê quán
- Công việc trước cách mạng
- Chức vụ vào thời điểm mùa Đông 46.
- và đặc biệt ngoại hình

Vậy theo các bác (tất nhiên là từng đọc Sống mãi với Thủ đô, nếu chưa đọc thì nên đọc ạ  ;D) tướng Vũ Yên là nguyên mẫu của nhân vật nào trong tác phẩm?!

Chúc các bác một ngày vui vẻ!


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Nguyễn Chơn, vị tướng của lối đánh "bóc trọc"
Gửi bởi: VTD e1f2 trong 11 Tháng Ba, 2009, 09:40:58 am
Thượng tướng Nguyễn Chơn được đánh giá là một trong ba Sư đoàn trưởng giỏi nhất  của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

      xin cho biết 2 vị sư đoàn trưởng nữa là ai ?
                 

Rất cám ơn bác đã quan tâm theo dõi topic của em, bằng chứng là một bài viết đã từ rất lâu mà bác còn đọc lại và lại hỏi câu mà em tin chắc rằng ít ai để ý  ;D

Em phải nói trước là mọi đánh giá đều mang tính chủ quan ở một mức nào đó trong khi em cũng chỉ ngồi "hóng hớt" các cụ. Ví dụ cụ Thảo (Thượng tướng Hoàng Minh Thảo) khi còn sống có đưa ra (theo ý kiến chủ quan của cụ) "bảng xếp hạng" tướng lĩnh ta thời hiện đại nhiều người không đồng tình cho lắm. Vì tướng lại còn chia ra là: tướng chiến lược, tướng chiến thuật, tướng quân binh chủng...rồi lại còn tướng trận, tướng tham mưu, tướng hậu cần. Chính vì vậy ở đây em chỉ đưa ra mỗi một mình tướng Nguyễn Chơn trong 3 vị sư đoàn trưởng.

Khi nói đến Sư đoàn trưởng giỏi là người ta nói đến khả năng chiến thuật nhiều hơn. Cụ Chơn được đánh giá cao bởi các trận đánh do cụ chỉ huy hầu như đều giành thắng lợi và thắng lợi với hiệu suất tiêu diệt địch rất cao (thậm chí là bóc trọc), ít thương vong...

Còn 2 vị còn lại thì em gợi ý nhé:

Một Trung tướng mệnh danh là bậc thầy về sáng tạo lối đánh, tổng kết và đúc rút chiến thuật.
Một Thượng tướng mệnh danh là tướng trận mạc
có phải là Thượng tướng Nguyễn hữu An và Trung tướng Vương thừa Vũ


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: chiangshan trong 11 Tháng Ba, 2009, 09:58:11 am
Nhưng theo em thì tướng Vũ Yên cũng đã "xuất hiện" trong Sống mãi với Thủ đô qua một nhân vật được nhắc đến rất nhiều. Ta có thể nhận ra ngay qua sự khá tương đồng giữa nhân vật này và tướng Vũ Yên về:

- Quê quán
- Công việc trước cách mạng
- Chức vụ vào thời điểm mùa Đông 46.
- và đặc biệt ngoại hình

Vậy theo các bác (tất nhiên là từng đọc Sống mãi với Thủ đô, nếu chưa đọc thì nên đọc ạ  ;D) tướng Vũ Yên là nguyên mẫu của nhân vật nào trong tác phẩm?!

Chúc các bác một ngày vui vẻ!

Chà bác này săm soi đời tư các cụ kĩ nhỉ ::) ;D Trùng quê quán thì chỉ có mỗi nhân vật Vi Dân thôi ::)

Nhưng mà bác xem lại, trong truyện thì Vi Dân là trung đội trưởng, trong khi ngoài đời cụ Vũ Yên đã là tiểu đoàn trưởng ;)


Tiêu đề: Trung tướng Hoàng Phương, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Ba, 2009, 04:08:50 am
(http://img25.imageshack.us/img25/2802/trungtuonghoangphuong.jpg)

Trung tướng Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Lịch sử Hoàng Phương (tên thật : Hoàng Đình Tý, 11.05.1924-10.2001), nguyên : Viện trưởng Viện lịch sử quân sử Việt Nam, Phó Chính ủy Quân khu 1, Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường đại học kỹ thuật quân sự (nay là Học viện kỹ thuật quân sự), Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Tổng biên tập tạp chí Quân đội Nhân dân, Chính ủy Trường trung cao quân sự.

2 Huân chương Quân công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), 1 Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 1 Huân chương Hô-xê Mác-ti do nhà nước Cu-ba tặng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 5 và 6.

Thiếu tướng (04.1974), Trung tướng (12.1982)


Trung tướng Hoàng Phương tên thật là Hoàng Đình Tý, nguyên quán tại xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Ông tham gia Cách mạng từ tháng 3 năm 1945, hoạt động trong Đoàn thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu (Hà Nội). Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông tham gia giành chính quyền tại Hà Nội, là Liên chi ủy Liên khu 1, Phó Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Liên khu 1, Phó Chủ tịch Tự vện thành Hoàng Diệu và học Trường Quân chính. Tháng 10 năm 1945, ông được kết nạp Đảng (chính thức tháng 4 năm 1946).

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, tháng 12 năm 1946, ông tham gia vào Ban chấp hành Đảng ủy Liên khu 1, phụ trách Tham mưu trưởng Liên khu 1 rồi Trung đoàn Thủ đô. Tháng 5 năm 1947, ông được cử giữ chức vụ Chính trị ủy viên của Trung đoàn Thủ đô (E102). Tháng 4 năm 1948 được biệt phái sang Ban thanh vận Trung ương. Tháng 9 năm 1949, phụ trách nghiên cứu công tác thanh niên trong bộ đội của Đại đoàn Quân tiên phong (F308) rồi sau đó là Chính ủy Trung đoàn Thủ đô, Đại đoàn Quân tiên phong. Tháng 9 năm 1950, sau khi thành lập Đại đoàn pháo binh đầu tiên, ông chuyển sang chiến đấu tại Đại đoàn 351 là Chính ủy Trung đoàn pháo binh 675. Tháng 12 năm 1952, ông được cử qua Trung Quốc theo học tại Trường Mác Lê-nin. Sau khi về nước, tháng 9 năm 1954, ông là Chủ nhiệm Chính trị, Chính ủy Trường Trung cao Quân sự.

Sau khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, năm 1956 ông là Phó Tổng biên tập rồi Tổng biên tập Tạp chí Quân đội Nhân dân cho đến năm 1961 lại được cử đi học tại Học viện Bộ tổng tham mưu Liên Xô mang tên Vô-rô-si-lốp. Sau khi về nước, tháng 11 năm 1964, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Học viện Quân chính.

Bước vào cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1965 ông là Phái viên Tổng cục Chính trị vào Chiến trường Tây Nguyên lần lượt giữ các chức vụ : Chính ủy Sư đoàn 6 rồi Sư đoàn 10 chủ lực của B3. Sau đó, ông ra Bắc lần lượt là Chính ủy của Sư đoàn 312 (9.1967) và Sư đoàn 308 (1.1969). Tháng 4 năm 1970, ông là Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 10 năm 1970, ông lại được điều vào Chiến trường Trị Thiên Huế là Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh 70 tham gia Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Tháng 5 năm 1971, ông giữ quyền Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân và được bổ nhiệm chức vụ này vào tháng 6 năm 1974.

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, năm 1977 ông chuyển sang làm Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường Đại học kỹ thuật quân sự mà nay là Học viện kỹ thuật quân sự. Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, ông lại được điều lên làm Phó Chính ủy Quân khu 1.

Tháng 9 năm 1981, ông trở về Hà Nội và được cử giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện lịch sử quân sự Việt Nam và là Viện trưởng năm 1983. Năm 1988, ông sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh về Khoa học Lịch sử Quân sự ở Học viện Quân chính Lê-nin. Về nước ông tiếp tục làm Viện trưởng cho đến khi về hưu vào năm 1997.






Tiêu đề: Trung tướng Trương Công Cẩn, nguyên Hiệu trưởng Trường sĩ quan chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Ba, 2009, 04:47:54 am
(http://img171.imageshack.us/img171/9518/trungtuongtruongcongcan.jpg)

Trung tướng Trương Công Cẩn (1923-1993), nguyên : Hiệu trưởng Trường sĩ quan chính trị (nay là Học viện chính trị quân sự), Chính ủy Quân khu Tây Bắc (Quân khu 1) kiêm Bí thư Quân khu ủy, Phó Chính ủy Học viện Quân sự, Phó Chỉnh ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Phó chính ủy Quân khu 4, Chính ủy Bộ tư lệnh Pháo binh, Cục phó Cục tổ chức Tổng cục chính trị.

1 Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Nhì), 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), 1 Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (04.1974), Trung tướng (12.1984).


Trung tướng Trương Công Cẩn nguyên quán tại xã Hiền Lương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông tham gia Cách mạng từ năm 1943, là Ủy viên Ban chấp hành Việt Minh tại thành phố Đà Nẵng. Tháng 5 năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở Vĩnh Điện (Quảng Nam) rồi sau đó chuyển ra giam giữ tại Hỏa Lò (Hà Nội). Nhật đảo chính Pháp, ông ra tù tiếp tục hoạt động trong phong trào công nhân xung phong thành Hoàng Diệu.

Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông tham gia giành chính quyền tại Hà Nội rồi nhập ngũ là chiến sĩ, tiểu đội trưởng, chính trị viên đại đội rồi chính trị viên tiểu đoàn. Tháng 2 năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng. Tháng 5 năm 1946, ông giữ chức vụ Trưởng phòng Chính trị khu Hà Nội. Toàn quốc kháng chiến nổ ra, ông tham gia chiến đấu tại mặt trận Hà Nội. Khi Trung đoàn Thăng Long (E48) được thành lập trong lòng Thủ đô kháng chiến (tháng 1 năm 1947) ông được cử giữ chức vụ Chính trị viên của Trung đoàn rồi sau đó ông là Chính ủy Trung đoàn 66. Năm 1949, ông được chuyển sang làm Bí thư cho ông Văn Tiến Dũng (khi đó là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục chính trị) rồi làm Phó phòng Tuyên huấn chính trị. Tháng 3 năm 1951, ông lại trở về chiến đấu là Chính ủy Trung đoàn 57 Sư đoàn 304. Năm 1953, ông là Chính ủy Trung đoàn 66 cho đến tháng 8 năm 1954 là Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 304.

Sau khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, tháng 1 năm 1955 ông giữ quyền Chính ủy Đại đoàn 304 cho đến tháng 9 năm 1959 thì theo học tại Trường Chính trị trung cao. Tháng 10 năm 1960, ông được điều về làm công tác tổng kết ở Tổng cục chính trị rồi tháng 3 năm 1961 là Cục phó Cục tổ chức Tổng cục chính trị. Tháng 10 năm 1963, ông giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ tư lệnh pháo binh. Tháng 3 năm 1964, là Phó chính ủy Bộ tư lệnh pháo binh rồi Chính ủy (tháng 9 năm 1964).

Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được cử sang giữ chức vụ Chính ủy Sư đoàn 304 (tháng  5 năm 1965) rồi Phó Chính ủy Quân khu 4 (tháng 1 năm 1966). Tháng 3 năm 1967, ông là Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Binh chủng Tên lửa trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 1 năm 1968, là Phó Chỉnh ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên quân chủng. Tháng 5 năm 1969, ông được cử giữ chức vụ Phó chính ủy Học viện quân sự, Phó bí thư Đảng ủy Học viện. Tháng 6 năm 1974, ông được điều lên giữ chức vụ Chính ủy Quân khu Tây Bắc kiêm Bí thư Quân khu ủy.

Tháng 2 năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường sĩ quan chính trị (nay là Học viện chính trị quân sự) cho đến khi về hưu ngày 1 tháng 4 năm 1988. Trung tướng Trương Công Cẩn mất năm 1993 tại Hà Nội.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: rongxanh trong 19 Tháng Ba, 2009, 07:52:46 am
--

Em giờ vẫn có thói quen đọc báo Quân đội Nhân dân và Văn nghệ Quân đội, đúng ra là "bị nhiễm" từ hai cụ nhà em. Thi thoảng đọc được vài bài báo khóa thú vị xin hầu các bác trong quân sử:

--Trung tướng giữa đời thường
Nguồn: Báo văn nghệ quân đội
Link: http://vannghequandoi.com.vn/t-liu-vnq/3413-trung-tng-gia-i-thng.html

Theo các bác thì bút ký này viết về tướng nào trong số những tướng trong topic này?  

Trừ tên "Lương" và quân hàm "Trung tướng" là không đúng, còn tất cả các chi tiết còn lại đều lấy gần như nguyên mẫu ngoài đời luôn: Quê quán, Ngoại hình, Tính cách, Đời tư, Quan niệm sống...Trong thực tế thì đúng là ông rất xứng đáng được phong quân hàm Trung tướng nhưng bởi cái lẽ "thời bình nó khác thời chiến"  ;D




Trung tướng Nguyễn Quốc Thước!


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: tuaans trong 19 Tháng Ba, 2009, 08:58:30 am
Bác này là phó cho bác Kim Tuấn và quền tư lệnh QĐ3 sau khi bác Kim Tuấn hy sinh?


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Ba, 2009, 02:51:47 pm
Bác này là phó cho bác Kim Tuấn và quền tư lệnh QĐ3 sau khi bác Kim Tuấn hy sinh?

Không phải bác ạ. Đó là Thiếu tướng Hoàng Kiện  ;D Có thể dẫn ra đây một số chi tiết:

-- Nhân vật Trung tướng Hoàng Lương trong khi ngoài đời là Thiếu tướng Hoàng Kiện,
--
-- Người cao cao tóc cắt ngắn, da nâu (đúng hơn là da ngăm  ::))
-- Thiếu hẳn cái vẻ oai vệ của cấp tướng với những bài diễn văn hùng hồn, cổ vũ.
-- Mê bóng đá (cái này nhiều cụ nhà mình mê lắm như cụ Tấn, cụ Thanh, cụ Vũ..., nói chung lính tráng hình như đều mê bóng thì phải)
-- "ông ấy không thích nói chuyện vợ con, gia đình đâu nhé. Làm việc xong còn muốn nấn ná ngồi chơi, hãy gợi chuyện bóng đá, chuyện săn chim, đừng có thói quen hỏi thăm: "Thủ trưởng mấy cháu rồi, chị nhà hiện ở đâu ạ" là ông ấy sẽ dùng cái giọng nhát gừng hỏi lại "Xong việc chưa? Nếu xong rồi thì nên về" cụ Kiện không vợ không con các bác ạ  ;D
-- "Hồi làm giám đốc một học viện cách Hà Nội hai mươi ki-lô-mét, nhân ngày chủ nhật có trận đấu bóng đá quốc tế, lái xe chuẩn bị xe chu đáo tính giờ giấc để vượt qua cầu Long Biên," Học viện Hậu cần chứ còn cái gì nữa.
-- "Hoàng Lương không cần của cải, không cần vật chất. Cả cuộc đời Hoàng Lương chỉ có chiến tranh, chỉ rực sáng lúc chiến tranh" nghỉ hưu là cụ bỏ phố về quê sống, mặc dù phong quân hàm thiếu tướng năm 77 mà lúc về hưu vẫn mang quân hàm thiếu tướng.
-- "Về Đô Lương chỉ bảy mươi ki-lô-mét, xe chạy mất gần bốn tiếng đồng hồ" cụ quê ở Đô Lương mà.

...
Em xin kết thúc bằng câu nói của Bác Hồ khi tuyên dương về đức thanh liêm trong quân đội: "Tướng Thanh, tá Kiện"





Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Kiện, nguyên Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Ba, 2009, 02:17:51 am
(http://img174.imageshack.us/img174/512/thieutuonghoangkienaw7.jpg)

Thiếu tướng Hoàng Kiện (03.1921-2000), nguyên : Phó viện trưởng học viện Quân sự cấp cao, Viện trưởng Học viện Hậu cần, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh 559 (Trường Sơn), Phó Tư lệnh Quân khu 4, Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không.

Thiếu tướng (11.1977).

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.


Thiếu tướng Hoàng Kiện quê ở xã Đông Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945, tham gia Nam tiến và là tiểu đội trưởng Giải phóng quân ở Huế. Sau đó, tháng 11 năm 1945, ông là Trung đội trưởng giải phóng quân ở Vinh (Nghệ An) rồi tham gia hoạt động ở Mường Xén của Lào. Tháng 4 năm 1946, ông là Đại đội trưởng rồi Tiểu đoàn phó Tiếp phòng quân. Ông được kết nạp vào Đảng tháng 7 năm 1946 (chính thức tháng 11 năm 1946).

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, tháng 12 năm 1946, khi đó ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 (Tiểu đoàn Đống Đa) trực thuộc Trung đoàn 48 (Trung đoàn Thăng Long). Tháng 5 năm 1947, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 48 trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 316. Từ tháng 10 năm 1948, ông lần lượt giữ các chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48, Trung đoàn 64 rồi Trung đoàn 66. Năm 1953, ông là Tham mưu trưởng Đại đoàn 312 (Đại đoàn chiến thắng). Tháng 9 năm 1954, ông được cử giữ chức vụ Đại đoàn phó Đại đoàn pháo cao xạ 367 trực thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Sau khi hòa bình được lập lại trên miền Bắc, năm 1955 ông được cử đi học pháo binh ở Trung quốc, trở về nước ông tiếp tục giữ chức vụ Đại đoàn phó Đại đoàn pháo cao xạ 367. Tháng 5 năm 1958, ông là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không. Từ tháng 11 năm 1958, ông lần lượt giữ quyền Tư lệnh rồi Tư lệnh (tháng 11 năm 1960) Bộ Tư lệnh Phòng không. Năm 1962, ông được biệt phái về Cục Phòng không nhân dân trực thuộc Phủ thủ tướng.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 304 vào chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên (B3) cho đến năm 1966 là Tham mưu trưởng mặt trận. Tháng 1 năm 1967, ông ra Bắc giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Tư lệnh Phòng không Quân khu. Tháng 5 năm 1970, ông vào làm Phó Tư lệnh Mặt trận 968, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559. Tháng 10 năm 1970, ông tiếp tục giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 4, rồi Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559 (Bộ đội Trường Sơn). Tháng 8 năm 1974, ông giữ chức vụ Viện trưởng Học viện Hậu cần.

Đầu năm 1975, ông được cử đi học bổ túc tại Học viện Hậu cần Lê-nin-grát của Liên Xô cho đến tháng 8 năm 1975. Tháng 2 năm 1981, ông là Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, Ủy viên Hội đồng khoa học của Viện cho đến tháng 3 năm 1986.

Tướng Hoàng Kiện không vợ, không con và từng được Bác Hồ biểu dương trước toàn quân về tính liêm khiết bằng câu nói ‘’Tướng Thanh (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), tá Kiện’’






Tiêu đề: Thiếu tướng Đoàn Huyên, nguyên Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Ba, 2009, 02:51:04 am
(http://img5.imageshack.us/img5/2909/thieutuongdoanhuyen.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Đoàn Huyên (1925-2002), nguyên : Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vể vang (hạng Nhất, Nhì, Ba) Huân chương Tự do hạng Nhất của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương ‘’Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ’’, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (02.1983).


Thiếu tướng Đoàn Huyên quê ở xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Trước Cách mạng tháng 8, ông theo học ở Trường thanh niên tiền tuyến ở Huế. Học sinh của trường này phần lớn là sinh viên các trường đại học ở Đông Dương. Trường do triều đình nhà Nguyễn mở, tuy nhiên lại do những trí thức yêu nước như Phan Anh, Tạ Quang Bửu...lãnh đạo. Cho nên, sau khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) học sinh của trường dưới sự lãnh đạo của ông Phan Tử Lăng (khi đó là Chỉ huy trưởng Bảo an binh Trung kỳ, trong đợt phong quân hàm đầu tiên năm 1948 ông được phong quân hàm Đại tá) đã nhanh chóng về với Cách mạng, ủng hộ Việt Minh. Qua 2 cuộc kháng chiến, nhiều học sinh của Trường đã trở thành tướng lĩnh trong Quân đội như các tướng: Cao Văn Khánh, Đào Hữu Liêu, Mai Xuân Tần, Phan Hàm, Nguyễn Thế Lâm (tức Nguyễn Kèn).

Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại Huế, là Trung đội trưởng Giải phóng quân (19 tháng 8 năm 1945). Sau khi thực dân Pháp núp bóng quân Anh trở lại Nam Bộ, ông tham gia Nam Tiến trên cương vị Trung đội trưởng. Tháng 11 năm 1945, Đại đội phó rồi Đại đội trưởng Giải phóng quân trực thuộc Chi đội 3 Nam Long chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. Từng bị bắt ở Biên Hòa, 2 lần địch đưa ra dọa hành quyết ông nhất quyết không khai và trốn thoát về với đơn vị. Từ tháng 1 năm 1946, ông lần lượt là Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó rồi Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Cao Thắng, Trung đoàn 80 thuộc khu 6 chiến đấu ở mặt trận Phú Yên rồi tham gia hoạt động trong vùng định hậu ở phía Bắc Khánh Hòa.

Tháng 6 năm 1948, Trung đoàn phó Trung đoàn 80 Khu 6 rồi Liên Trung đoàn phó Liên trung đoàn 80-83 Liên khu 5. Tháng 6 năm 1949, ông cùng đơn vị sang hoạt động ở Hạ Lào trong Ủy ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ, là Khu phó Hạ Lào. Ông là phái viện Quân sự cạnh đại diện Chính phủ Kháng chiến Lào tại Khu Hạ Lào, Ủy viên Thường vụ Ban cán sự Hạ Lào trực thuộc Liên khu ủy Liên khu 5.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 10 năm 1954 ông tập kết ra Bắc và được cử làm Trưởng phòng Tác chiến Bộ Tư lệnh Pháo binh (tháng 11 năm 1954). Tháng 3 năm 1955, là Trưởng phòng Huấn luyện Bộ Tư lệnh 350. Tháng 8 năm 1960, ông được cử đi học tại học viện Quân sự Pháo binh Lê-nin-grát của Liên Xô. Về nước ông được cử làm Chủ nhiệm Khoa Pháo binh kiêm Phó trưởng Hệ Quân sự Học viện Quân chính (tháng 10 năm 1964).

Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được cử vào Nam là Trưởng đoàn nghiên cứu đánh Mỹ ở chiến trường khu 5 (tháng 12 năm 1965). Tháng 1 năm 1967, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 3 năm 1967, Tư lệnh Binh chủng Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 1 năm 1968, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 12 năm 1968, ông được cử làm chuyên viên cho phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam.
Tháng 1 năm 1970, ông tham gia chiến dịch phản công Đường 9 Nam Lào trên cương vị Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh 70. Tháng 2 năm 1971, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 7 năm 1972, tiếp tục tham gia Hội nghị Pa-ri là Tổ trưởng Tổ quân sự. Tháng 3 năm 1973, ông là Phó Trưởng đoàn Ban liên hiệp Quân sự 4 bên ở miền Nam.

Tháng 2 năm 1975, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 6 năm 1977, chuyển sang làm công tác tổng kết ở Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 7 năm 1978, là Trợ lý Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao. Tháng 4 năm 1980, là Phân viện trưởng Phân viện Chiến lược Học viện Quân sự cấp cao. Tháng 1 năm 1981, ông là Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng. Ủy viên ban chỉ đạo biên soạn Tư điền Bách khoa Quân sự Bộ Tổng Tham mưu (từ tháng 10 năm 1989) cho đến khi nghỉ hưu ngày 1 tháng 1 năm 1996. Ông mất năm 2002 tại thành phố Hồ Chí Minh.






Tiêu đề: Thiếu tướng Đào Hữu Liêu, nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Ba, 2009, 07:28:57 am
(http://img16.imageshack.us/img16/1185/thieutuongdaohuulieu.jpg)

Thiếu tướng Đào Hữu Liêu (1919), nguyên : Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế, Cục trưởng Cục kiến thiết cơ bản Tổng cục Hậu cần.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1984).


Thiếu tướng Đào Hữu Liêu quê tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông nhập ngũ tháng 8 năm 1945 và đươc kết nạp vào Đảng tháng 1 năm 1950 (chính thức tháng 5 năm 1950).

Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông cùng các học viên của Trường thanh niên tiền tuyến Huế đứng về phía Cách mạng, gia nhập Việt Minh, tham gia cướp chính quyền ở Huế. Cùng thời gian này ông nhập ngũ giữ cương vị Trung đội trưởng Cônb binh rồi Trưởng ban Công binh Quân giải phóng tỉnh Thừa Thiên vì trước khi theo học Trường thanh niên tiền tuyến ông đã từng học đại học về cầu đường. Đến tháng 1 năm 1946, ông là Đội trưởng Công binh Liên khu 4.

Tháng 1 năm 1947, là Phó Ban Công binh, phụ trách Trường Công binh Liên khu 4. Tháng 4 năm 1948, Trưởng phòng Công binh Liên khu 4. Tháng 6 năm 1949, ông được điều lên Việt Bắc giữ chức vụ Trưởng phòng nghiên cứu Cục Công binh. Từ tháng 1 năm 1951, là Tham mưu trưởng rồi Trung đoàn phó Trung đoàn 151 Công binh (tháng 12 năm 1951). Tháng 7 năm 1952, ông là Phó Chủ nhiệm Hậu cần, rồi Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 351. Tháng 7 năm 1954, là Trưởng ban Tác huấn Phòng Công binh.

Sau khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, trước nhu cầu của xây dựng và phát triển của Quân đội trong thời kỳ mới, ông được cử giữ chức vụ Trưởng phòng Công trình sân bay Gia Lâm. Tháng 1 năm 1958, ông dẫn đầu đoàn thực tập sinh sang thực tập về Công trình hàng không tại Trung Quốc trong vòng 8 tháng. Sau khi trở về nước, ông giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Hậu cần Ban nghiên cứu sân bay Cục Không quân.

Tháng 7 năm 1964, ông là Cục phó Cục doanh trại Tổng cục Hậu cần. Tháng 11 năm 1966, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Công binh. Tháng 3 năm 1970, là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Công binh. Tháng 8 năm 1971, ông được cử giữ chức vụ Cục trưởng Cục Kiến thiết cơ bản Tổng cục Hậu cần.

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, tháng 6 năm 1976 ông được cử làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế. Tháng 7 năm 1979, ông tiếp tục giữ chức vụ Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh cho đến tháng 8 năm 1980 thì giữ vai trò Chuyên viên Bộ Quốc phòng. Ông nghỉ hưu ngày 13 tháng 6 năm 1988 tại Hà Nội.






Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Xanh, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Ba, 2009, 03:40:32 pm
(http://img13.imageshack.us/img13/8599/thieutuongtranxanh.jpg)

Thiếu tướng Trần Xanh (02.04.1927-12.08.1988), nguyên : Phó Tư lệnh kiêm Cục trưởng Cục nhà trường Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (04.1984).


Thiếu tướng Trần Xanh quê ở thông Tứ Mỹ, xã Sơn Châu, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Trước Cách mạng tháng 8, ông là công nhân trong Nam, tháng 7 năm 1945 là Đoàn trưởng Thanh niên tiền phòng Sở cao su Quản Lợi, Thủ Dầu Một.

Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công không lâu, thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại xâm lược Nam Bộ, nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến. Tháng 9 năm 1945, ông nhập ngũ là chiến sĩ rồi Trưởng ban Ý tế Mặt trận sông Bé, Suối Cầu, Đại đội 3, Chi đội 1 miền Đông Nam Bộ.

Tháng 11 năm 1947, ông được cử đi học lớp chính trị do Tỉnh ủy Mỹ Tho tổ chức. Tháng 1 năm 1948, là Cán bộ nghiên cứu Văn phòng Chính ủy Quân khu 7, Trưởng ban huyấn luyện, Khoa Khảo huấn, Phòng Chính trị Quân khu 7 – Văn phòng Khu ủy Khu 7. Tháng 7 năm 1950, ông ra Việt Bắc dự khóa học về Chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc. Tháng 11 năm 1952, ông quay trở vào chiến trường miền Nam làm Bí thư cho ông Trần Văn Tràn (sau này là Thượng tướng) khi đó là Tư lệnh miền Đông Nam Bộ.

Sau khi tập kết ra Bắc, ông là Cán  bộ Phòng Bí thư Bộ Tổng Tư lệnh Quận đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 7 năm 1961, trước yêu cầu phát triển hiện đại hóa của Quân đội ta trong thời kỳ Cách mạng mới ông cùng các ông Nguyễn Quang Tuyến, Trần Nhẫn, Trần Xanh, Nguyễn Văn Ninh, Hồ Sĩ Hưu, Lê Thanh Cảnh…là lớp cán bộ đầu tiên được cử sang Liên Xô học về Tên lửa tại Học viện Phòng không Ki-ép. Trở về nước, tháng 10 năm 1964, ông tiếp thục theo học khóa học bổ túc cao xạ 57 mm tại Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân.

Khi những đơn vị Tên lửa đầu tiên của Quân đội được thành lập, tháng 2 năm 1965 ông là Tham mưu trưởng rồi Trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 236 Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 5 năm 1967, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 236 Sư đoàn Phòng không 361 Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 2 năm 1968, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 236 Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 10 năm 1969, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 7 năm 1971, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 12 năm 1971, ông là Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân được tăng cường cho Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng cho đến tháng 2 năm 1974. Tháng 5 năm 1977, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không.

Tháng 5 năm 1979, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn. Tháng 8 năm 1980, ông được cử đi học lớp bổ túc lý luận tại Học viện Nguyễn Ái Quốc rồi Học viện Quân sự cấp cao. Tháng 9 năm 1982, ông là Phó Tư lệnh kiêm Cục trưởng Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng Phòng không. Thiếu tướng Trần Xanh mất ngày 13 tháng 8 năm 1988 tại Hà Nội.





Tiêu đề: Trung tướng Đoàn Chương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Ba, 2009, 04:08:17 pm
(http://img172.imageshack.us/img172/117/trungtuongdoanchuong.jpg)

Trung tướng Đoàn Chương (bí danh Đoàn Ái Nhân, 01.05.1927), nguyên : Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục xuất bản Quân đội kiêm Giám đốc Nhà xuất bản Quân đội, Phó Tư lệnh Quân khu 3 kiêm Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 68 Quân khu 3, Phó Chính ủy Quân đoàn 2, Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Cục phó Cục Tuyên huấn.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (04.1984), Trung tướng (08.1990).


Trung tướng Đoàn Chương quê ở làng Gia Đẳng, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông là em ruột của Đại tướng Đoàn Khuê nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Ông tham gia Cách mạng tháng 3 năm 1945, hoạt động Việt Minh và vận động khởi nghĩa giành chính quyền ở quê nhà làng Gia Đẳng, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Tháng 8 năm 1945, ông là Cán bộ trinh sát Công an, là Phó rồi Trưởng phòng Hánh chính Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị. Tháng 4 năm 1946, làm công tác tuyên huấn, thanh niên, tự vệ chiến đấu ở quê. Tháng 8 năm 1946, Cán bộ trinh sát nội bộ, Bí thư Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị.

Tháng 8 năm 1948, ông là Cán bộ nghiên cứu Văn phòng trực thuộc Liên khu 4. Tháng 7 năm 1949, chuyển sang làm Bí thư cho ông Nguyễn Chí Thanh (sau này là Đại tướng) khi đó là Bí thư Khu ủy Khu 4. Sau khi ông Nguyễn Chí Thanh ra Việt Bắc giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy ông nhập ngũ và tiếp tục làm bí thư.

Tháng 11 năm 1954, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị, Đảng ủy viên Đảng bộ Tổng cục, Bí thư Đảng ủy Văn phòng Tổng cục và đi học văn hóa. Tháng 4 năm 1956, là Trưởng phòng Giáo vụ (Trường Lý luận chính trị), Trưởng phòng Huyến luyện kiêm Chủ nhiệm Giáo dục Trường Chính trị Trung cao của Quân đội. Tháng 4 năm 1961, là Phó Chủ nhiệm hệ chính trị Học viện Quân chính cho đến tháng 7 năm 1964 thì giữ chức vụ Chủ nhiệm.

Tháng 3 năm 1965, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 5 năm 1968, là Tổ trưởng Chuyên viên quân sự Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam. Tháng 11 năm 1968, là Trưởng Ban Nghiên cứu tổng kết Tổng cục Chính trị. Tháng 4 năm 1970, Cục phó Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Tháng 4 năm 1973, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quân đội.

Tháng 6 năm 1978, ông được cử sang giữ chức vụ Phó Chính ủy, Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 2, Ủy viên thường vụ Đảng ủy, Trưởng ban kiểm tra Đảng ủy Quân đoàn. Tháng 12 năm 1979, là Phó Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 68 Quân khu 3. Tháng 8 năm 1980 là Phó Tư lệnh kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 3 và Phó Tư lệnh về Chính trị Quân đoàn 68, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân khu 3.

Tháng 9 năm 1981, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao. Tháng 8 năm 1982, ông được cử giữ chức vụ Cục trưởng Cục Xuất bản Quân đội kiêm Giám đốc Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân. Tháng 4 năm 1990, ông là Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng cho đến tháng 3 năm 1994 là Viện trưởng, Bí thư Đảng ủy, Đảng ủy viên Đảng bộ Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi về hưu tháng 5 năm 2002. Trung tướng Đoàn Chương hiện đang sống tại Hà Nội.






Tiêu đề: Đại tá Đỗ Đức Kiên, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng PK KQ
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Ba, 2009, 03:58:06 am
(http://img706.imageshack.us/img706/3883/daitadoduckien.jpg)

Đại tá Đỗ Đức Kiên (tên thật : Phạm Khương, 10.01.1924-11.04.2003), nguyên : Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân, Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng, Chính ủy Khu 11, Chính ủy Khu 12.

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Lao động, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Cựu Chiến binh Việt Nam, Huy hiệu 50 tuổi Đảng.

Đại tá (12.04.1955).


Đại tá Đỗ Đức Kiên, tên thật là Phạm Khương, sinh ngày 10 tháng 1 năm 1924. Ông nguyên quán tại xã Vũ Hồng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông theo học Trường Cao đẳng Nông Lâm và tham gia vào các hoạt động của học sinh sinh viên yêu nước tại Hà Nội. Ông giác ngộ và tham gia cách mạng năm 1944, hoạt động Việt Minh tại Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, là cán bộ Hội thanh niên cứu quốc. Trong Tổng khởi nghĩa tháng 8, ông nhập ngũ và được cử vào Ban chỉ huy Đội tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu hỗ trợ quần chúng đứng lên giành chính quyền và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.

Trong Kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt giữ các chức vụ : 2.1947, Trưởng Ban Tuyên truyền Thành bộ Việt Minh Hà Nội, Bí thư Thành bộ Việt Minh thành Hà Nội ; 3.1947, Chính ủy Khu 12 ; 9.1947, Chính ủy Khu 11 (gồm Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây) ;  4.1948, Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Trường Sĩ quan Lục quân (khóa 4) ; 10.1949, Bí thư Văn phòng Quân ủy Trung ương ; 11.1950, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng ; 12.1950, Cục phó rồi Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị Phái viên đốc chiến Bộ Tổng Tham mưu.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được cử đi học ở Trường lý luận Chính trị trung cao rồi đi học tại Học viện Quân sự cao cấp Liên Xô.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu quốc, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ : 11.1964, Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ Bộ Tổng Tham mưu ; 12.1964, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân ; 1.1966, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân ; 12.1971, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân chủng Phòng không Không quân.

Trong ‘’vụ án xét lại, chống Đảng’’, ông bị bắt giam. Sau khi được thả, ông bị chuyển công tác ra khỏi Quân đội và về làm Chuyên viên thuộc Ủy ban Nông nghiệp tỉnh Thái Bình (1.1972).

Sau khi được phục hồi, tháng 2 năm 1978 ông chuyển lên bộ làm Chuyên viên-Tổng cục phó Tổng cục Khai hoang Bộ Nông nghiệp. Tháng 7 năm 1982, là Phó trưởng ban chỉ đạo phân bổ lao động và dân cư Trung ương cho đến tháng 5 năm 1985 là Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Ông nghỉ hưu ngày 1 tháng 7 năm 1989 và mất ngày 11 tháng 4 năm 2003 tại Hà Nội.


Tiêu đề: Trung tướng Hoàng Văn Khánh, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Ba, 2009, 03:07:47 am
(http://img828.imageshack.us/img828/633/trungtuonghoangvankhanh.jpg)

Trung tướng Hoàng Văn Khánh (tên thật : Hoàng Văn Thiệu, bí danh : Trần Giới, 12.01.1923 – 19.09.2002), nguyên :  Phái viên Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Pháo binh, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Hiệu phó Trường Sĩ quan Pháo binh.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Hữu nghị của Liên Xô-Cuba-Mông Cổ, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (01.1979), Trung tướng (01.1986).


Trung tướng Hoàng Văn Khánh quê tại thôn Chi Long, xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông tham gia Cách mạng từ tháng 3 năm 1942 trong Phong trào Công nhân cứu quốc ở Hà Nội. Tháng 12 năm 1943, ông tham gia Ban chấp hành Công nhân cứu quốc ở Hà Nội, Bí thư chi bộ, tham gia Ban chấp hành Công vận. Tháng 7 năm 1944, ông được bầu vào Ban chấp hành Công vận Xứ ủy Bắc Kỳ. Tháng 5 năm 1945, trước tình hình mới của Cách mạng, chuẩn bị tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền, ông được cử đi học lớp Quân chính kháng Nhật ở Tân Trào. Tháng 7 năm 1945, là Chính trị viên Trung đội rồi Đại đội Giải phóng quân Chi đội ‘’Lâm Kính’’. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử làm Trưởng ban Nhân sự Phòng Tham mưu Hà Nội cho đến tháng 3 năm 1946 là Tham mưu trưởng Khu đặc biệt Hà Nội. Tháng 2 năm 1947, là Phái viên Quân sự Mặt trận Hà Nội.

Trong Kháng chiến chống Pháp ông lần lượt giữ các chức vụ : Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 80 trực thuộc Liên khu 2 (7.1947) ; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 15 bảo vệ các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam ở căn cứ địa Việt Bắc ; Tiểu đoàn trưởng rồi Tham mưu trưởng Trung đoàn 88 trực thuộc Đại đoàn Quân tiên phong (F308) (1.1950) ; Tham mưu trưởng, Trung đoàn phó Trung đoàn 99, Trung đoàn phó Trung đoàn 64 Đại đoàn Đồng Bằng (F320) Đảng ủy viên Trung đoàn ; Trung đoàn trưởng Trung đoàn 52 Đại đoàn Đồng Bằng (4.1953) ; Trung đoàn trưởng Trung đoàn 63 Bộ Tư lệnh Pháo binh Đại đoàn 351 (10.1954).

Tháng 11 năm 1955, ông được cử làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 349, Đảng ủy viên Sư đoàn. Tháng 8 năm 1956, ông được cử đi học tại Học viện Pháo binh ở Liên Xô. Trở về nước, ông được cử giữ chức vụ Hiệu phó Trường Sĩ quan Pháo binh.

Trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ : Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh (10.1964) ; Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Bắc trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân (6.1966) ; Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Tên lưu Quân chủng Phòng không Không quân (3.1967) ; Tư lệnh Bộ Tư lệnh Sư đoàn Phòng không Nam khu 4 (Sư đoàn 375) (12.1967) ; Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không Không quân (1.1968) ; Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân (10.1969) ; Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Pháo binh (3.11974).

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, tháng 6 năm 1977 ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Phòng không. Tháng 12 năm 1983 là Phái viên Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu (năm 1988). Trung tướng Hoàng Văn Khánh mất ngày 19 tháng 9 năm 2002 tại Hà Nội.


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Quang Bích, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng PK KQ
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Ba, 2009, 04:53:39 am
(http://img17.imageshack.us/img17/9271/thieutuongnguyenquangbi.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Quang Bích (tên thật : Phùng Quang Bích, bí danh Chiến, 16.08.1922), nguyên : Chủ nhiệm Khoa Quân chủng (Khoa Chỉ huy Tham mưu) Học viện Quân sự cấp cao, Phân viện phó Phân viện nghiên cứu chiến lược Học viện Quân sự cấp cao, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân ; Phó Tư lệnh Đường Trường Sơn.

Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 tuổi Đảng.

Thiếu tướng (02.1983).


Thiếu tướng Nguyễn Quang Bích quê tại Thọ Lão, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Ông tham gia Cách mạng ngày 20 tháng 8 năm 1945, là chiến sĩ, tiểu đôi phó, tiểu đội trưởng, trung đội phó, trung đội trưởng, đại đội phó, đại đội trưởng Giải phóng quân Hà Nội. Khi thực dân Pháp núp bóng quân Anh trở lại xâm lược Nam Bộ, ông tham gia đoàn quân Nam tiến vào chiến đấu tại chiến trường Nam Trung bộ. Tháng 3 năm 1946, ông giữ chức vụ Chi đội phó Chi đội Kon Tum Liên khu 5. Tháng 5 năm 1956, được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn 94 Liên khu 5.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông lần lượt giữ các chức vụ : Trung đoàn phó Trung đoàn 95 Liên khu 5 (12.1946) ; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 50 Trung đoàn 120 Liên khu 5 (1947) ; Trung đoàn phó Trung đoàn 108 Quảng Nam Đà Nẵng (1948) ; Tham mưu phó Mặt trận miền Tây (1952) ; Trung đoàn phó Trung đoàn Pháo cao xạ 367 thuộc Đại đào Pháo binh 351 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị Chỉ huy trưởng Pháo cao xạ (1953) ; Trung đoàn trưởng rồi Tham mưu phó Đại đoàn Pháo cao xạ Bộ Tư lệnh Pháo binh (10.1954).

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, năm 1956 ông được cử đi học Pháo cao xạ ở Trung Quốc. Trở về nước, tháng 10 năm 1960 ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không cho đến tháng 10 năm 1963 là Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không Không quân.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông lần lượt giữ các chức vụ : Phụ trách chỉ huy Pháo binh (pháo binh cao xạ Nam Bộ), Chủ nhiệm phòng không miền Nam, Thường vụ Đảng ủy Pháo binh miền Nam ; tháng 12.1966, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội Quân chủng Phòng không Không quân ; tháng 8.1970, Phó Tư lệnh Đoàn 559 phụ trách lực lượng Phòng không Trường Sơn ; tháng 9.1972, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Quân chủng, trực tiếp chỉ huy trận đánh đầu tiên của Quân chủng trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không ; 10.1973, Trưởng đoàn đi nghiên cứu các chiến trường miền Nam ; tháng 8.1974, được cử đi học tại Trường Cao đẳng Phòng không Ô-đéc-xa của Liên Xô.

Trở về nước, ông lần lượt giữ các chức vụ : tháng 7.1975, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân ; tháng 6.1977, Trưởng Khoa chỉ huy Học viện Quân sự cấp cao ; tháng 5.1979, Phân viện phó Phân viện nghiên cứu chiến lược Học viện Quân sự cấp cao ; tháng 9.1983, Chủ nhiệm Khoa Quân chủng (Khoa chỉ huy tham mưu) Học viện Quân sự cấp cao cho đến khi nghỉ hưu tháng 7 năm 1989.






Tiêu đề: Trung tướng Trần Nhẫn, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Ba, 2009, 07:08:41 pm
(http://img819.imageshack.us/img819/4386/trungtuongtrannhan.jpg)

Trung tướng Trần Nhẫn (tên thật : Trần Văn Nhẫn, bí danh : Trần Ánh, 02.08.1927), từng giữ các chức vụ Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Hiệu phó Trường Sĩ quan Phòng không, HIệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Phòng không, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

Ngoài ra ông từng là Đại biểu Quốc hội khóa 8.

Thiếu tướng (2.1983), Trung tướng (4.1989).

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Mỹ) hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 tuổi Đảng.


Trung tướng Trần Nhẫn quê tại thôn Thổ Ốc, xã Nhân Hưng, huyến Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Sớm lưu lạc vào Nam, trong Cách mạng tháng 8 ông nhập ngũ tham gia bảo vệ Chính quyền Cách mạng non trẻ và là chiến sĩ Giải phóng quân Chi đội Nguyễn Văn Vĩnh tại thành phố Sài Gòn (thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Tháng 4.1946, ra Bắc là tiểu đội phó thuộc Đại đội Đặc vụ Vệ Quốc đoàn thành phố Hà Nội tham gia cuộc chiến 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội cuối năm 1946 và đầu năm 1947.

Tháng 4 năm 1947, ông được cử đi học tại Trường Quân chính Chiến khu 2. Tháng 8 năm 1947, trở về làm Cán sự Dân quân huyện Lạc Thủy rồi Cán sự Tham mưu Huấn luyện của Tỉnh đội Hà Nam. Năm 1950, ông được điều về làm cán sự Phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh Liên khu 3. Năm 1952, theo học bổ túc Trung sơ cấp Bộ Tổng Tư lệnh. Năm 1953, sau khi hoàn thành khóa học, ông tham gia bộ đội chủ lực là Đại đội phó Đại đội 530 Tiểu đoàn 154 rồi Đại đội trưởng Đại đội 520 Trung đoàn Sông Lô Anh hùng (E209) trực thuộc Đại đoàn Chiến thắng (F312). Năm 1954, ông là Tiểu đoàn phó rồi Tiểu đoàn trưởng (9.1950) Tiểu đoàn 154 Trung đoàn Sông Lô Anh hùng của Đại đoàn 312.

Tháng 9.1955, ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu phó Trung đoàn 209 Sư đòan 312. Tháng 1.1956, chuyển sang làm Tham mưu phó Trung đoàn cao xạ 685, Đại đoàn Phòng không 367 rồi theo học Trường Văn hóa Bộ Tổng Tư lệnh chuẩn bị đi học tại Học viện Pháo binh Lê-nin-grát và Trường Kỹ sư tên lửa Ki-ép thuộc Liên Xô cũ (8.1957).

Sau khi trở về nước, tháng 10 năm 1963 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng Phòng cao xạ dã chiến Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 6.1964, Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo Phòng không 228 Quân chủng Phòng không Không quân. 2.1965, Trung đoàn phó Trung đoàn tên lửa Phòng không 238 Quân chủng Phòng không Không quân. 5.1965, quyền Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Quân chủng Phòng không Không quân. 10.1965, Trưởng Phòng Tác huấn Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân. 1967, ông phụ trách Hiệu phó Trường trung cấp Kỹ thuật Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân. 10.1969, được bổ nhiệm chức vụ Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân. 6.1970, Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật PHòng không Quân chủng Phòng không Không quân rồi Hiệu phó Trường Sĩ quan Phòng không. 1.1971, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân. 6.1972, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân cho đến 6.1974 là Sư đoàn trưởng.

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, tháng 6 năm 1977 ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng. Tháng 9 năm 1979, được cử đi học lớp Bổ túc lý luận Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Tháng 8.1980, tiếp tục giữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng. Tháng 9.1981, theo học tại Học viện Quân sự cấp cao rồi đi học bổ túc tại Học viện Vô-rô-si-lốp của Liên Xô (9.1982). Sau khi về nước, tháng 12 năm 1983 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Phòng không và là Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng cho đến khi về hưu ngày 1 tháng 11 năm 1995. Trung tướng Trần Nhẫn là Đại biểu Quốc hội khóa 8.





Tiêu đề: Trung tướng Lương Hữu Sắt, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Ba, 2009, 07:32:15 pm
(http://img823.imageshack.us/img823/6687/thieutuongluonghuusat.jpg)

Trung tướng Lương Hữu Sắt (bí danh : Mạnh Thắng, 17.07.1927) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật, Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân, Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh ra-đa Quân chủng Phòng không Không quân, quyền Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Hậu cần Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1984), Trung tướng (6.1992).


Ông quê tại thôn Mai Xá Hạ, xã Xuân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Nhập ngũ tháng 6 năm 1946. Được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 5 năm 1946 (chính thức tháng 12 năm 1946). Tham gia Cách mạng từ tháng 3 năm 1945 trong Đoàn thanh niên cứu quốc rồi Mặt trận Việt Minh tại quê.

6.1946, ông là Chính trị viên Trung đội thuộc Đại đội 12, Tiểu đoàn Lê Trực thuộc tỉnh đội Quảng Bình. 1.1947, Trung đội trưởng chiến đấu ở Mặt trận Đường 9 tỉnh Quảng Trị. 3.1947, Trung đội trưởng chiến đấu ở Mặt trận Quảng Bình. 5.1947, là Đại đội phó rồi Đại đội trưởng Đại đội 1 (Lệ Thủy) chiến đẩu ở Quảng Bình. 6.1950, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 229 tỉnh Quảng Bình. 9.1951, theo học bổ túc trung cấp Lục quân khóa 7. 10.1953, được cử vào làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 302 miền Đông Nam Bộ.

5.1955, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 4 Pháo binh trực thuộc Đại đoàn Nam Bộ (F330). 12.1955, Chủ nhiệm Pháo binh Sư đoàn 328 rồi Sư đoàn 324. 3.1958, Trung đoàn phó Trung đoàn ra-đa 290 trực thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không. 11.1963, được cử đi học ra-đa tại Học viện Phòng không Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 8 năm 1964 ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn ra-đa 290 Quân chủng Phòng không Không quân. 5.1965, Chỉ huy trưởng Công trường 300 Quân chủng Phòng không Không quân. 6.1966, Phụ trách Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Hậu cần Quân chủng Phòng không Không quân. 3.1967, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh ra-đa (Sư đoàn 373) Quân chủng Phòng không Không quân. 10.1969, Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

6.1977, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân. 8.1980 đươc cử đi học tại Trường Nguyễn Ái Quốc và sau đó giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật (6.1981). 10.1987, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật kiêm Cục trưởng Cục Vũ khí đạn, Tổng cục Kỹ thuật, Bí thư Đảng ủy Cục. 4.1989, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Bí thư Đảng ủy Tổng cục cho đến khi về hưu tháng 1 năm 1994. Trung tướng Lương Hữu Sắt hiện đang sống tại thành phố Hà Nội.


Tiêu đề: Trung tướng Hoàng Ngọc Diêu, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục HK dân dụng
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Ba, 2009, 05:17:35 am
(http://img6.imageshack.us/img6/8480/trungtuonghoangngocdieu.jpg)

Trung tướng Hoàng Ngọc Diêu (3.5.1925) từng giữ các chức vụ : Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1.1979), Trung tướng (1.1986).


Trung tướng Hoàng Ngọc Diêu quê ở xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, ông tham gia Cách mạng tháng 6 năm 1945-là Chủ nhiệm Việt Minh tổng Hiền Lương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại địa phương, là Ủy viên Ban chấp hành Việt Minh rồi Bí thư cứu quốc huyện Phong Điền. Tháng 4 năm 1946, ông nhập ngũ và là đội trưởng Đội cảm tử Huế thuộc Trung đoàn Trần Cao Vân.

5.2947, ông là đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 16 Trung đoàn Trần Cao Vân. 6.1948, theo học lớp bổ túc sơ cấp của Bộ Quốc phòng. 1.1950, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn rồi Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 238 Trung đoàn 101 (11.1950). 3.1951, Tham mưu trưởng Trung đoàn 101 Sư đoàn 325. 12.1951, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 319 Trung đoàn 101. 12.1952, ra học lớp chỉnh huấn khóa 7 ở Bộ Quốc phòng. 4.1953, trưởng Ban Tác huấn Sư đoàn 325. 10.1953, Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101 Đại đoàn 325 (Trị Thiên Huế) (12.1954).

2.1955, ông là Trưởng phòng Kế hoạch Ban nghiên cứu sân bay rồi Tham mưu trưởng Cục Không quân. 2.1960, đi học tại Học viện Không quân Bắc Kinh, Trung Quốc.

Sau khi trở về nước, 10.1963 ông được bổ nhiệm làm Tham mưu phó thứ nhất Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân. 1.1966, Tham mưu trưởng Không quân trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân. 3.1967, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh không quân Quân chủng Phòng không Không quân. 6.1968, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân. 10.1969, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không Không quân. 3.1974, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không Không quân.

12.1975, ông chuyển sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam. 8.1976, tiếp tục giữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không Không quân. 12.1976, được cử đi học bổ túc tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Vô-rô-si-lốp của Liên Xô. 6.1977, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. 9.1978, tiếp tục giữ chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam. 7.1981, là Phái viên Bộ Tổng Tham mưu cho đến tháng 7 năm 1987 tiếp tục giữ chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cụ Hàng không dân dụng Việt Nam. Ông được Nhà nước và Quân đội cho nghỉ hưu tháng 9 năm 1989.


Tiêu đề: Trung tướng Vũ Trọng Cảnh, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng PK
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Ba, 2009, 05:41:28 am
(http://img703.imageshack.us/img703/7577/trungtuongvutrongcanh.jpg)

Trung tướng Vũ Trọng Cảnh (tên thật : Vũ Đình Cảng, 2.4.192) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba) Huân chương Tự do của nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1984), Trung tướng (8.1990).


Trung tướng Vũ Trọng Cảnh quê tại thôn An Mỹ, xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại địa phương, là ủy viên Ủy ban nhân dân của thôn phụ trách thiếu nhi.

Tháng 1 năm 1946, ông nhập ngũ là chiến sĩ liên lạc Đại đội 18 Tiểu đoàn 53 (Thái Bình) Trung đoàn 64 tham gia chiến đấu ở Hải Phòng, rồi sau đó là Đại đội 18 Trung đoàn 44 (sau đổi tên là Trung đoàn 42) Khu 3 ; 1.1947, được cử đi học lớp đào tạo Chính trị viên Trung đội của Khu 3, sau khi tốt nghiệp ông lần lượt giữ các chức vụ : Chính trị viên Trung đội Đại đội 73 Tiểu đoàn 182 Trung đoàn 64, Chính trị viên Trung đội Đại đội 74 Tiểu đoàn 59 Trung đoàn 42 rồi Bí thư Chính trị Đại đội đột kích số 2 Trung đoàn 64. 6.1948, tiếp tục đi học đào tạo Chính trị viên đại đội tại Trường Sĩ quan Lê Lợi của Khu 3, sau đó ông là Cán bộ địch vận Ban Chính trị Mặt trận Đường số 5, Bí thư Ban Chính trị Duyên Chiến đoàn Mặt trận đường 5 ; 1950, lần lượt giữ các chức vụ : Phái viên Chính trị Trung đoàn 42, Chính trị viên Đại đội 21 (53), Chính trị viên phó Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42, Chủ nhiệm cung cấp Trung đoàn 42 rồi theo học chỉnh huấn khóa 7, sau đó được điều sang làm Phái viên Tổng cục Hậu cần Bộ Tổng Tư lệnh và đi học chỉnh quân khóa 8 ; 11.1953, là Chính trị viên Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42 ; 7.1954, Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 42.

Tháng 7 năm 1955, ông là Phó Ban Tổ chức Khu Tả ngạn, Trung đoàn bậc phó, Trưởng ban Tổ chức Sư đoàn 328 ; 7.1957, Phó phòng Cán bộ Sư đoàn pháo 465 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 4.1958, Trợ lý Phòng Cán bộ Bộ Tư lệnh Pháo binh và theo học tại Trường Trung cao cấp Bộ Tổng Tư lệnh ; 9.1959, Trưởng Ban Tổ chức Bộ Tư lệnh Phòng không ; 10.1963, Trưởng phòng Tổ chức Quân chủng Phòng không Không quân kiêm Đảng ủy viên Quân chủng.

Tháng 6 năm 1966, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1967, Phó Chính ủy Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn ; 1.1969, Phó Chính ủy Sư đoàn Phòng không 377 Quân chủng Phòng không Không quân kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn ; 10.1969, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân và là Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng ; 6.1974, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng.

Tháng 6 năm 1977, ông là Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng ; 7.1978, Cục phó rồi Cục trưởng Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị, Phó đoàn Chính trị Đoàn 576 chuyên gia tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ; 12.1983, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Chủ tịch Hội đồng Cục Chính trị, Ủy viên Hội đồng Quân sự Quân chủng ; 10.1985, Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không ; 10.1987, Phó Tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không. Ông là Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 6. Trung tướng Vũ Trọng Cảnh được Nhà nước và Quân đội cho nghỉ hưu tháng 10 năm 1992.


Tiêu đề: Trung tướng Chu Duy Kính, nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Ba, 2009, 06:09:04 am
(http://img841.imageshack.us/img841/9575/trungtuongchuduykinh.jpg)

Trung tướng Chu Duy Kính (bí danh : Chu Hải, Lăng, Hòa, Lê Văn Mai ; 6.10.1930) từng giữ các chức vụ : Tư lệnh Quân khu Thủ đô, Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương ‘’Bảo vệ An ninh Tổ quốc’’, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1984), Trung tướng (4.1989).


Trung tướng Chu Duy Kính quê tại xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông tham gia Cách mạng tháng 6 năm 1944, hoạt động Việt Minh tại quê nhà. Tháng 6 năm 1945, nhập ngũ là Chiên sĩ Trinh sát và liên lạc của Việt Nam Cứu quốc quân tại Chiến khu Yên Thế, tham gia khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở tỉnh Bắc Giang.

Tháng 5 năm 1946, ông là chiến sĩ Đại đoàn tiếp phòng quân tại Hà Nội ; 4.1948, đi học văn hóa tại Trường Nguyễn Huệ ; 5.1949, Tổ trưởng Vũ trang Tuyên truyền bí mật nội thành Hà Nội ; 6.1949, bị Pháp bắt sau đó vượt ngục. Tháng 2 năm 1950, trở lại nội thành Hà Nội làm nhiệm vụ tình báo, tham gia vào các trận đánh quan trọng như : Trận đánh sân bay Bạch Mai phá hủy 25 máy bay và trận đánh chìm chiến hạm của Hải quân Pháp trên vùng biển Sầm Sơn ; 10.1950, được cử đi học tại Trường Sĩ quan lục quân Nguyễn Huệ ; 4.1951, Trung đội trưởng xung kích thuộc Đại đội 79 Tiểu đoàn 337 Trung đoàn 52 Đại đoàn 320 (Đồng Bằng) ; 1952, đi học lái máy bay tiêm kích, sau chuyển sang học pháo cao xạ 37 mm tại Thẩm Dương (Trung Quốc), tốt nghiệp ông là Đại đội phó, Chính trị viên Đại đội 832 Tiểu đoàn Pháo cao xạ 396 thuộc Đại đoàn 367 Tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ ; 10.1954, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 396, tham gia tiếp quản Thủ đô trong đội hình Đại đoàn 308 (Quân tiên phong).

Tháng 7 năm 1957, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn 14 Pháo Phòng không trực thuộc Sư đoàn 325 (Trị Thiên Huế) ; 6.1958, Chính trị viên Tiểu đoàn 436 Trung đoàn 101 (Trần Cao Vân) Sư đoàn 325 rồi Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 78 Sư đoàn 325 ; 8.1959, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 228 Bộ Tư lệnh Phòng không ; 12.1961, Chủ nhiệm Chính trị Trường Không quân 910 Cục Khôg quân ; 6.1962, đi học bổ túc tại Trường Trung cao Chính trị ; 1963, học tại Trường Chính trị Trung cao cấp của Quân đội.

Tháng 2 năm 1964, ông là Phó Chính ủy Trung đoàn Không quân 921 trực thuộc Bộ Tư lệnh Không quân ; 6.1966, Chính ủy Trung đoàn 921 Bộ Tư lệnh Không quân ; 10.1969, Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Không quân ; 6.1970, Chủ nhiệm Chính trị, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân-Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1974, Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1976, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, Phó Chính ủy Quân chủng Không quân ; 8.1980, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Không quân ; 10.1985, Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân ; 1986, Phó Tư lệnh Chính trị rồi Tư lệnh (9.1989) Quân khu Thủ đô cho đến khi về hưu ngày 1 tháng 1 năm 1997. Trung tướng Chu Duy Kính là Đại biểu Quốc hội khóa 9.


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Mạnh, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không DD
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Tư, 2009, 04:08:22 am
(http://img4.imageshack.us/img4/8498/thieutuongtranmanhr.jpg)

Thiếu tướng Trần Mạnh (tên thật : Mai Văn Đa, bí danh : M, 01.05.1928 – 1992), nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Hàng không Việt Nam, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (3.1986).

Thiếu tướng Trần Mạnh quê ở xã Vĩnh Lại, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Trong Cách mạng tháng 8, ông gia nhập Đoàn Thanh niên cứu quốc rồi sau đó chuyển sang làm cán bộ quân sự tại Sài Gòn, Chợ Lớn (9.1945).

Tháng 12 năm 1946, ông được cử đi học Trường Quân chính Khu 8 Nam Bộ rồi sau đó tham gia chiến đấu trên khắp các chiến trường Nam Bộ. Ông trưởng thành từ Chính trị viên cấp Trung đội, Đại đội đến Tiểu đoàn (trưc thuộc Trung đoàn 109) của Khu 8 rồi được cử vào Tỉnh ủy Trà Vinh. Năm 1953, ông được lệnh ra Bắc (năm 1954 tới nơi) rồi được cử đi học tại Trường Lục quân (khóa 9, 9.1954).

Tháng 2 năm 1956, ông là Chủ nhiệm Giáo dục Sư đoàn 305 ; 2.1957, Chính ủy Trung đoàn 556, Sư đoàn 330 ; 3.1959, ông đi học tại Trường Văn hóa Lạng Sơn rồi đi học Không quân tại Trường Không quân Trung Quốc.

Tháng 2 năm 1964, ông về nước và được cử giữ chức vụ Trung đoàn phó Trung đòan Không quân 921  cho đến tháng 6.1966 là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921 ; 4.1969, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1969, Phó Tư lệnh Binh chủng Không quân ; 6.1974, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 2 năm 1976, ông chuyển sang làm Tổng cục phó Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam ; 12.1977, Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân ; 11.1980, Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam cho đến khi về hưu (4.1990). Thiếu tướng Trần Mạnh mất năm 1992 tại thành phố Hồ Chí Minh.






Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Độ, nguyên Trưởng Khoa KQ Học viện Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Tư, 2009, 04:11:25 am
(http://img135.imageshack.us/img135/5189/thieutuongnguyenngocdo.jpg)

Thiếu tướng Phó Giáo sư Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Ngọc Độ (tên thật : Nguyễn Văn Khiên ; 01.11.1934) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Khoa Không quân Học viện Quốc phòng Việt Nam, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 6 Huy hiệu Bác Hồ. Ông là phi công chiến đấu, trực tiếp bắn rơi 6 máy bay. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng ngày 25 tháng 8 năm 1970.

Thiếu tướng (12.1985)


Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Độ quê ở xã Thanh Bình, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An ; Năm 1950, ông tham gia Thanh niên cứu quốc tạị quê nhà và tham gia làm liên lạc cho dân quân rồi là Tổ trưởng thông tin văn nghệ, dạy học tạị quê nhà (1952) ; 6.1953, nhập ngũ là chiến sĩ Trung đoàn 44, Trung đoàn 9, Đại đoàn 304 tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ ; 10.1954, Tiểu đội phó, tiểu đội trưởng Đại đội 126 Tiểu đoàn 284 Trung đoàn 53 Sư đoàn 350 tham gia tiếp quản Thủ đô Hà Nội rồi đi làm nhiệm vụ tại khu 300 ngày tại Hải Phòng.

Tháng 6 năm 1955, ông đi học văn hóa tại Tiểu đoàn 126 Tổng cục Chính trị ; 10.1956, học lái máy bay chiến đấu tại Trường Hàng khôn số 3 Trung Quốc ; 1961, tiếp tục theo học Chương trình đề cao về chiến thuật tại Căn cứ số 1 thuộc Quân khu Bắc Kinh, Trung Quốc.

Trở về nước, tháng 8 năm 1964 ông là Biên đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng, Trung đoàn phó (7.1970) rồi Trung đoàn trưởng (1.1972) Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh Không quân trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân ; 1973, tiếp tục được cử đi học tại Học viện Không quân Liên Xô ; 3.1975, Phó Tư lệnh Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân ; 8.1978, Tư lệnh Sư đoàn Không quân 372 Quân chủng Không quân ; 3.1979, Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân ; 10.1985, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân ; 3.1987, được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 2.1988, Chủ nhiệm Khoa Không quân Học viện Quân sự cấp cao  cho đến tháng 12 năm 1998 chuyển sang làm công tác nghiên cứu khoa học tại Học viện Quốc phòng. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Độ nghỉ hưu tháng 1 năm 2000 và tiếp tục cộng tác nghiên cứu khoa học, hướng dẫn nghiên cứu sinh, thạc sĩ tại Học viện Quốc phòng.






Tiêu đề: Trung tướng Trương Khánh Châu, nguyên Giám đốc Trung tâm KH CN BQP
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Tư, 2009, 12:56:10 am
(http://img51.imageshack.us/img51/9223/trungtuongtruongkhanhch.jpg)

Trung tướng Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Phó Giáo sư Tiến sĩ Trương Khánh Châu (tên thật : Trương Minh Trinh ; 15.01.1934) từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Giám đốc Trung tâm Khoa học Công nghệ Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng, Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân kiêm Viện trưởng Viện Kỹ thuật Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ.

Trung tướng Trương Khánh Châu được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 31 tháng 12 năm 1973 khi là Thượng úy, Trợ lý (kỹ sư), Phòng Kỹ thuật Sư đoàn Không quân 371 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân. Tiến sỹ Khoa học kỹ thuật., Tiến sỹ khoa học danh dự đại học tổng hợp hàng không Quốc gia Ucraina, Viện sỹ chính thức Viện Hàn lâm các khoa học tự  nhiên Nga, Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Hàng không và Không hành Nga.

Thiếu tướng (6.1988), Trung tướng (6.1992).


Trung tướng Trương Khánh Châu quê ở thôn Khánh Hòa, xã Châu Phú, huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Tháng 11 năm 1949, ông là thư ký Văn phòng Tỉnh đoàn Cứu quốc Long Châu Hà ; Tháng 5 năm 1950, nhập ngũ vào quân đội là chiến sỹ thuộc Tỉnh đội Hà Tiên ; Tháng 1 năm 1952, là học viên Trường Kỹ thuật Nam Bộ ; Tháng 9 năm 1952, là thợ nguội Công binh xưởng 141 miền Tây Nam Bộ.

Tháng 3 năm 1955, ông chuyển ngành là thợ đặc thiết sân bay Gia Lâm ; Tháng 12 năm 1959, học tại Trường Văn hoá Quân đội, học tiếng Trung Quốc, tiếng Nga tại Cục Không quân ; Tháng 8 năm 1961, tái ngũ, học Đại học Hàng không ở Kiép Liên Xô.

Năm 1965, ông học kỹ thuật tại Trường Kỹ thuật Không quân Trung Quốc. Năm 1966, thực tập tại Trung đoàn Không quân 923 Quân chủng Phòng không-Không quân ; Tháng 5 năm 1967, Trợ lý kỹ thuật Phòng Kỹ thuật Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không-Không quân. Tháng 12 năm 1971, làm nghiên cứu sinh tại Trường Kỹ thuật không quân Giucốpki Liên Xô, sau đó về công tác tại Phòng Kỹ thuật Sư đoàn 371, Bộ tư lệnh Phòng không- Không quân. Ông được tuyên dương anh hùng LLVTND năm 1973.

Tháng 10 năm 1976, ông là Trưởng phòng Máy bay Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không- Không quân. Tháng 4 năm 1978, Trưởng phòng Nghiên cứu Cục Kỹ thuật Quân chủng Không quân. Tháng 8 năm 1979, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Không quân.

Từ tháng 7 năm 1980 đến tháng 8 năm 1990, ông là Phó tư lệnh về Trang bị kỹ thuật, kiêm Chủ nhiệm Kỹ thuật, kiêm Viện trưởng Viện Kỹ thuật Không quân. Từ tháng 9 năm 1990 đến tháng 10 năm 1996, Phó chủ nhiệm thứ nhất, sau đó là Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Bí thư Đảng uỷ Tổng cục. Ngày 29 tháng 11 năm 1996, bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Giám đốc Trung tâm Khoa học Kỹ thuật- Công nghệ Quân sự bộ Quốc phòng. Năm 2002, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.






Tiêu đề: Thiếu tướng Bùi Đức Tạm, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Tư, 2009, 01:35:18 am
(http://img3.imageshack.us/img3/8359/thieutuongbuiductami.jpg)

Thiếu tướng Bùi Đức Tạm (10.10.1923) từng giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Cục vận tải Tổng cục Hậu cần, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Đoàn 559 kiêm Chính ủy Đoàn 470, Cục trưởng Cục Chính trị Đoàn 559.

Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến thắng chống Pháp (hạng Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công Giải phóng (hạng Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ và Môi trường.

Thiếu tướng (2.1983).


Thiếu tướng Bùi Đức Tạm sinh tại xã Xuân Bảng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một gia đình địa chủ yêu nước. Từ tháng 2 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945, ông tham gia cách mạng ở Nam Định, là Uỷ viên chính trị Uỷ ban Khởi nghĩa giành chính quyền huyện Xuân Trường, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định.

Từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 12 năm 1947, ông là Chính trị viên Đội Trinh sát Lạc Quần, Chính trị viên Trung đội thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 62, sau là Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 44 Liên khu 3, Bí thư chi bộ ; 1.1948, Chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 44, Bí thư chi bộ. 3.1949, Phó ban Chính trị, kiêm Trưởng tiểu ban Cán bộ Trung đoàn 44, Bí thư chi bộ ; 12.1950, Chính trị viên Tiểu đoàn 722, Phó ban Chính trị Trung đoàn 64, Sư đoàn 320. 10.1953, Phó chính uỷ, Chính uỷ Phòng Cung cấp Sư đoàn 320, Bí thư Đảng uỷ Phòng.

Từ tháng 7 năm 1954 đến  tháng 5 năm 1955, ông là Chính uỷ Trung đoàn 42, Quân khu Hữu Ngạn, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn ; 6.1955, Chính uỷ Trung đoàn 248, Quân khu Đông Bắc, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn ; 7.1958, ông là Chính uỷ Trung đoàn 53, Liên khu 3, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn. 9.1959, Phó chủ nhiệm Sư đoàn 320 ; 7 .1963, học lớp Trung cao chính trị.

Từ tháng 8 năm 1964 đến tháng 6 năm 1966, ông là Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 320, Đảng uỷ viên Sư đoàn ; 7.1966, Cục phó, Cục trưởng Cục Chính trị Đoàn 559. 3.1970, Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Đoàn 559 ; 3.1970, Phó chính uỷ Đoàn 559, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Đoàn 559, kiêm Chính uỷ Đoàn 470 ; 2.1973, Chính uỷ Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng uỷ Cục Vận tải ; 10.1974, học tại học viện Hậu cần Lêninggát Liên Xô.

Từ tháng 6 năm 1976, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật cho đến khi về hưu tháng 9 năm 1989. Thiếu tướng Bùi Đức Tạm hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.






Tiêu đề: Phó Đô đốc Lê Văn Xuân, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Tư, 2009, 01:52:26 am
(http://img848.imageshack.us/img848/1502/phododoclevanxuan.jpg)

Phó Đô đốc Lê Văn Xuân (10.10.1929), nguyên: Phó Tư lệnh Phó Bí thư Đảng uỷ Quân chủng Hải quân, Chính uỷ Trường Sĩ quan Hải Quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của nhà nước Campuchia.

Thiếu tướng (1984), Trung tướng (1992)


Phó Đô đốc Lê Văn Xuân quê tại xã Đức Phong, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ông tham gia cách mạng từ tháng 3 năm 1945. Từ tháng 3 năm 1945 đến năm 1954, chiến đấu ở chiến trường  Liên khu 5 (Trung đoàn 108 rồi Phòng chính trị Liên khu), tham gia các chiến dịch Quảng Nam Đà Nẵng, chiến dịch Bắc Tây Nguyên.
          
Từ năm 1954 đến năm 1957, ông tập kết ra Bắc, là Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 305. Từ năm 1958 đến năm 1959, ông là học viên Trường Trung cao chính trị Bộ Quốc phòng. Từ tháng 5 năm 1959 đến năm 1963, ông là Trưởng phòng Tuyên huấn Quân chủng Hải quân. Từ năm 1963 đến năm 1965, ông là học viên Học viện Hải quân Trung Quốc. Từ năm 1966 đến năm 1973, ông là Chính uỷ Trường Sỹ quan Hải quân.

Từ năm 1974 đến năm 1979, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải quân. Từ năm 1979 đến năm 1980, ông là Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải quân. Năm 1981, ông học ở Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Năm 1983, ông học ở Học viện Hải quân Liên Xô. Từ năm 1988 đến tháng 10 năm 1995, ông là Phó Tư lệnh Chính trị, Phó Bí thư Đảng uỷ Quân chủng Hải quân.

Tham khảo: Bảo tàng Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Trung tướng Phan Hoan, nguyên Tư lệnh Quân khu 5
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Tư, 2009, 01:57:42 am
(http://img853.imageshack.us/img853/5750/trungtuongphanhoan.jpg)

Trung tướng Phan Hoan (bí danh: Phan Kiên, 15.05.1927), nguyên Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ Quân khu 5, Phó Tư lệnh Binh chủng Thông tin, Tham mưu phó Mặt trận B3 (Tây Nguyên)

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Giảỉ phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến si vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc của nhà nước Campuchia.

Thiếu tướng (1984), Trung tướng (1988)


Trung tướng Phan Hoan quê tại xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 11 năm 1946, ông là Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân Cách mạng lâm thời xã Điện Nam, Bí thư thanh niên Cứu quốc xã Điện Nam, Phó Bí thư Thanh niên tổng Thanh Quyết. Từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 5 năm 1947, ông học Lục quân Khu 5 (Quảng Ngãi). Từ tháng 6 năm 1947 đến tháng 4 năm 1949, ông là Trung đội trưởng Biệt động đội vùng Điện Bàn, Thường vụ Đảng uỷ huyện Điện Bàn. Từ tháng 5 năm 1949 đến tháng 12 năm 1953, ông là Huyện đội phó huyện đội Điện Bàn, Thường vụ Đảng uỷ huyện Điện Bàn.
        
Từ tháng 1 năm 1954 đến tháng 5 năm 1955, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn 17 Quảng Nam, Chính trị viên Trung đoàn 60, Trung đoàn 95, Sư đoàn 324, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn. Từ tháng 11 năm 1955 đến tháng 7 năm 1956, ông học tại Trường Văn hoá Bộ Tổng tham mưu. Từ tháng 8 năm 1956 đến tháng 8 năm 1961, ông là Trung đoàn phó, Bí thư chi bộ học viên học tại Học viện Thông tin Liên Xô. Tháng 9 năm 1961 đến tháng 4 năm 1965, ông là Đảng uỷ viên, Phó chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Khoa Thông tin Trường Trung cao Quân sự. Từ tháng 5 năm 1965 đến tháng 5 năm 1969, ông trở lại chiến trường miền Nam chiến đấu là Trưởng ban Thông tin, Phòng Thông tin Mặt trận B3 Tây Nguyên. Từ tháng 6 năm 1969 đến tháng 9 năm 1971, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 Mặt trận B3, Đảng uỷ viên Trung đoàn, sau đó ông được bổ giữ chức Tham mưu phó Mặt trận B3. Từ tháng 10 năm 1971 đến tháng 11 năm 1976, ông là Chỉ huy trưởng Mặt trận Quảng Đà, Chỉ huy trưởng tỉnh đội Quảng Nam Đà Nẵng, Thường vụ Đặc khu uỷ Mặt trận Quảng Đà, Tỉnh uỷ viên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Từ tháng 12 năm 1976 đến tháng 12 năm 1977, ông học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao. Từ tháng 1 năm 1978 đến tháng 8 năm 1978, ông là Chỉ huy trưởng tỉnh đội Đắc Lắc, Tỉnh uỷ viên tỉnh đội Đắc Lắc. Tháng 10 năm1978 đến tháng 9  năm 1980, ông là Chỉ huy trưởng tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng, Thường vụ tỉnh uỷ Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ tháng 10 năm 1980 đến tháng 7 năm 1981, ông là Phó tư lệnh Binh chủng Thông tin, Đảng uỷ viên Binh chủng. Từ tháng 8 năm 1981 đến tháng 3 năm 1983, ông là Phó tư lệnh Quân khu 5, Thường vụ Đảng uỷ Quân khu.

Từ tháng 4 năm 1983 đến tháng 7 năm 1987, ông là Phó tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận 579, Thường vụ Đảng uỷ Quân khu 5. Từ tháng 8 năm 1987 đến tháng 2 năm 1997, ông là Tư lệnh Quân khu 5, Bí thư Đảng uỷ Quân khu. Từ năm 1998, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn An, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Tư, 2009, 06:29:00 am
(http://img850.imageshack.us/img850/153/nguyenan.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn An (4.1.1925-2004) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Cục trưởng Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần, Phó Tư lệnh Đoàn 559.

Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1984).


Thiếu tướng Nguyễn An quê tại xã Hải Triều, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Tháng 3 năm 1945, ông tham gia Việt Minh ở thị xã Quảng Yên rồi tham gia giành chính quyền ở tỉnh Quảng Yên (7.1945), sau đó vào chiến khu Đồng Triều, làm Trung đội phó Trung đội Võ Trang tuyên truyền. Tháng 11 năm 1945, ông học lớp cán bộ quân chính Chiến khu 3, sau đó làm Chính trị viên Trung đội pháo binh Cát Bà.

Tháng 3 năm 1946, ông là Chính trị viên Đại đội Ký Con trực thuộc Chiến khu 3 sau chuyển về Trung đoàn 42 Chiến khu 3. Tháng 10 năm 1947, Chính trị viên Tiểu đoàn 59 Trung đoàn 42, Bí thư Tiểu đoàn Uỷ, Đảng uỷ viên Trung đoàn 42. Tháng 7 năm 1949, Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 98, Uỷ viên Thường vụ, Đảng uỷ viên Trung đoàn 98. Từ tháng 8 năm 1949 đến tháng 12 năm 1949, Học viên lớp Nguyễn Ái Quốc khoá 1. Từ tháng 12 năm 1949 đến tháng 9 năm 1950, ông biệt phái về Văn phòng Trung ương Đảng theo dõi công tác quân sự. Từ tháng 10 năm 1950 đến tháng 10 năm 1963, công tác tại Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần, Liên chi uỷ viên Cục Vận tải, tham gia các chiến dịch Biên giới, Trung du, Thượng Lào, Tây Bắc, Điện Biên Phủ.

Từ tháng 10 năm 1963 đến tháng 2 năm 1972, ông là Đoàn phó Đoàn 559, Tuyến trưởng Tuyến 3, Tư lệnh Sư đoàn 470, 471 Đoàn 559, Phó Tư lệnh Đoàn 559, Đảng uỷ viên Đoàn 559. Từ tháng 4 năm 1972 đến tháng 5 năm 1982, Cục trưởng Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng uỷ Cục Vận tải, Đảng uỷ viên Đảng uỷ Tổng cục Hậu cần.

Từ tháng 5 năm 1982 đến tháng 9 năm 1990, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hâụ cần, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Tổng cục Hậu cần. Tháng 9 năm 1990, ông được Nhà nước cho nghỉ chờ hưu. Tháng 10 năm 1991, ông nghỉ hưu. Thiếu tướng Nguyễn An mất tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Bân, nguyên Phó Tư lệnh Mặt trận 579
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Tư, 2009, 06:39:22 am
(http://img221.imageshack.us/img221/1911/phamban.jpg)

Thiếu tướng Phạm Bân (1930-1995) từng giữ các chức vụ : Phó Đoàn chuyên gia Quân sự Việt nam tại Cu-ba, Phó Tư lệnh Mặt trận 579, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự Quảng Nam Đà Nẵng.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương bảo vệ Tổ quốc do Nhà nước Căm-pu-chia trao tặng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1986).


Thiếu tướng Phạm Bân quê tại xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tháng 4 năm 1946, ông nhập ngũ được điều về Đại đội 8 Tiểu đoàn 101 Trung đoàn 43 làm liên lạc. Tháng 6 năm 1947, chuyển sang công tác quân báo biệt động, là tiểu đội trưởng của Huyện đội Điện Bàn. Tháng 9 năm 1948, phụ trách đội thoát ly của các xã của huyện Điện Bàn. Tháng 3 năm 1949, học đào tạo do Tỉnh đội Quảng Nam mở. Tháng 1 năm 1950, chuyển về công tác tại Tỉnh đội Quảng Nam. Tháng 2 năm 1953, chuyển về Huyện đội Điện Bàn kiêm xã đội trưởng xã Điện Nam. Cuối năm 1953, chuyển về Đại đội 64 Tỉnh đội Quảng Nam. Tháng 7 năm 1954, công tác tại Đại đội 5, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 93, Tỉnh đội Quảng Nam. Cuối năm 1954, ông tập kết ra Bắc, được điều về Sư đoàn 324 giữ chức Đại đội trưởng công binh, Sư đoàn 324.

Tháng 9 năm 1958, ông được cử đi học tại trường Văn hóa Lạng Sơn. Tháng 10 năm 1961, đi học tại Trường Thiết giáp Trung Quốc. Tháng 11 năm 1964, về nước được điều về Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 202 thuộc Bộ Tổng tư lệnh.

Tháng 3 năm 1965, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 203 thuộc Bộ tư lệnh Thiết giáp. Tháng 3 năm 1966, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 202. Tháng 7 năm 1966, Trợ lý tham mưu chiến thuật Bộ tư lệnh Thiết giáp.

Năm 1967, trở về miền Nam chiến đấu. Từ năm 1968 đến năm 1969, ông được điều về Trường Quân chính Quân khu 5 là phân khoa phó. Từ năm 1969 đến năm 1972, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 Sư đoàn 2 Quân khu 5. Từ năm 1972 đến năm 1974, ông là Tham mưu phó Sư đoàn 711, Trung đoàn trưởng Trung đoàn xe tăng Quân khu 5. Từ năm 1974 đến năm 1975, ông là Trưởng phòng Thiết giáp Quân khu 5.

Từ năm 1975 đến năm 1978, ông là cán bộ tổng kết của Quân khu 5. Từ năm 1978 đến năm 1979, ông là Sư trưởng Sư đoàn 307 Quân khu 5. Từ năm 1979 đến năm 1980, ông học tại Học viện Quân sự cấp cao. Từ năm 1980 đến năm 1985, ông là Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ năm 1985 đến năm 1990, ông là Phó tư lệnh Mặt trận 579. Từ năm 1990 đến năm 1994, ông là Phó Đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Cu Ba.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân I
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Tư, 2009, 06:47:25 am
(http://img534.imageshack.us/img534/4253/khuatduytien.jpg)

Trung tướng Khuất Duy Tiến (bí danh : Duy Tâm, 27.2.1931) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân I, Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu, Tư lệnh Quân đoàn 3.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhât, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1984), Trung tướng (2.1990).

Trung tướng Khuất Duy Tiến quê tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Ông tham gia cách mạng từ năm 1946, hoạt động tại địa phương làm công tác thanh niên huyện Thạch Thất. Đầu năm 1950, ông bị địch bắt, sau đó ông vượt ngục tiếp tục hoạt động ở địa phương. Tháng 9 năm 1950, ông nhập ngũ, là chiến sỹ Đại đội 737, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông là Tiểu đội phó, Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 27, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320. Từ tháng 1 năm 1954 đến năm 1955, ông là Trung đội trưởng, rồi Đại đội trưởng Đại đội 129, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 Sư đoàn 320.
 
Năm 1956, ông được cử đi học tại Trường Sỹ quan Lục quân. Năm 1958, ông làm công tác huấn luyện tại Sư đoàn 320. Từ tháng 11 năm 1959 đến tháng 5 năm 1962, ông là giáo viên chiến thuật Trường Quân chính Quân khu 3. Từ tháng 6 năm 1962 đến năm 1964, ông học tại Trường Trung cao Quân sự khoá 1. Từ năm 1965 đến tháng 9 năm 1967, ông là Trợ lý huấn luyện Phòng Quân huấn Quân khu 3. Từ tháng 10 năm 1967 đến tháng 10 năm 1969, ông là Tham mưu trưởng Trung đoàn 64, Sư đoàn 320. Từ tháng 11 năm 1969 đến tháng 1 năm 1971, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 64, Sư đoàn 320. Từ tháng 2 năm 1971 đến tháng 11 năm 1973, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, Sư đoàn 304, tham gia chỉ huy Trung đoàn chiến đấu tại Đường 9 Nam Lào, đơn vị tham gia bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ trưởng Lữ đoàn dù 3 nguỵ Sài Gòn. Tháng 12 năm 1973 đến năm 1975, ông là Trưởng phòng Tác chiến, Mặt trận B3 Tây Nguyên, sau là Trưởng phòng Tác chiến Quân đoàn 3, tham gia chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, chiến dịch Hồ Chí Minh.
 
Từ tháng 12 năm 1976 đến tháng 11 năm 1979, ông là Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, tham gia làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Căm pu chia. Tháng 12 năm 1979, ông là Tham mưu trưởng Quân đoàn 3. Từ năm 1980 đến năm 1984, ông là Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 3. Từ tháng 12 năm 1984 đến năm 1989, ông là Tư lệnh Quân đoàn 3. Tháng 6 năm 1989, ông là Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu. Từ tháng 6 năm 1994 đến tháng 10 năm 1997, ông là Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Lục Quân.
 
Từ tháng 10 năm 1997 đến năm 2001, ông được Nhà nước cho nghỉ chờ hưu, năm 2001 ông có quyết định nghỉ hưu.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Trung tướng Tiêu Văn Mẫn, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị QK5
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Tư, 2009, 06:53:57 am
(http://img580.imageshack.us/img580/7900/tieuvanman.jpg)

Trung tướng Tiêu Văn Mẫn (1935) từng giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 3, Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 5.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhât, Huy chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1988), Trung tướng (1994).


Trung tướng Tiêu Văn Mẫn quê tại xã Hành Minh, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Ông nhập ngũ tháng 6 năm 1953. Từ tháng 6 năm 1953 đến tháng 10 năm 1955, ông là chiến sỹ, Tiểu đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 375 Quân khu 5.

Từ năm 1955 đến tháng 6 năm 1959, ông là Tiểu đội trưởng, Trung đội phó Trung đoàn 90, Sư đoàn 304. Từ tháng 7 năm 1959 đến tháng 2 năm 1963 là học viên Trường sỹ quan Lục quân. Từ tháng 3 năm 1963 đến tháng 2 năm 1965, ông là Chính trị viên phó Đại đội 2, Lữ 350 và Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42.

Từ tháng 3 năm 1965 đến tháng 10 năm 1969, ông vào chiến trường miền Nam là Chính trị viên Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24, sau là Chính trị viên Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, rồi Phó Chính uỷ Trung đoàn 24. Từ tháng 11 năm 1969 đến tháng 10 năm 1971, ông là Chính trị viên Huyện đội, Phó Chính uỷ Trường Quân chính Mặt trận Tây Nguyên, Phó Chính uỷ Viện Quân y 211. Từ tháng 11 năm 1971 đến tháng 11 năm 1980, ông ra Bắc là Trợ lý Cục Tổ chức Tổng Cục Chính trị.

Từ tháng 12 năm 1980 đến tháng 10 năm 1983, ông  là Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 Quân đoàn 3. Từ tháng 11 năm 1983 đến tháng 9 năm 1987, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 3. Từ tháng 10 năm 1987 đến tháng 3 năm 1990, ông là Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 3. Từ tháng 4 năm 1990 đến tháng 8 năm 1991, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5. Từ tháng 9 năm 1991 đến tháng 9 năm 1998, ông là Phó Tư lệnh Quân khu 5.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Re: Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân I
Gửi bởi: rongxanh trong 05 Tháng Tư, 2009, 08:00:32 am
(http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/Khuat-Duy-Tien.jpg)

Trung tướng Khuất Duy Tiến (bí danh : Duy Tâm, 27.2.1931) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân I, Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu, Tư lệnh Quân đoàn 3.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhât, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1984), Trung tướng (2.1990).



Em hơi lạ, tên bác này đặt thành đường Khuất Duy Tiến tại Thanh XUân (đường Bê tông)?


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: demmauhong trong 05 Tháng Tư, 2009, 10:31:44 am
Đường đó đặt theo tên nhà cách mạng Khuất Duy Tiến (1910-1984), nguyên Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành chính TP Hà Nội trong Kháng chiến chống Pháp


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Tư, 2009, 10:46:25 am
Tìm thấy mấy thông tin trên yahoo hỏi và đáp về Trung tướng Nguyễn Duy Tiến:
Tướng Khuất Duy Tiến nguyên là Tư lệnh quân đoàn 3, nguyên Cục trưởng Cục Quân lục, Bộ Quốc phòng. Xây dựng gia đình từ năm 1958 nhưng phải 31 năm sau - tức năm 1989 khi chuyển công tác về Bộ Tổng tham mưu - ông mới được sống gần vợ. Trong 31 năm ấy, gần như không lúc nào ông phải mất ăn mất ngủ vì lo phiền những chuyện gia đình. Ông là người hiểu hơn ai hết công sức hậu phương lớn.
"... Ông sinh ra trong một gia đình nghèo. Bố Ông năm 9 tuổi đã phải đi ở cho người ta vì ông nội mất sớm, bà nội phải nuôi ba người con. Mẹ Ông cũng sinh ra trong một gia đình đông con và phải đi ở đợ. Năm Ông lên 10 tuổi, thương bố, đòi đi làm, nhưng bố Ông không cho.Bố Ông bắt phải đi học,bố ông muốn con cái lớn lên có chút chữ nghĩa để không còn khổ cực.
Khi đi bộ đội, Ông ở sư đoàn 320. Từ một anh chiến sĩ chưa biết đi đều, nheo mắt không ngắm được súng, rồi làm anh nuôi... Ông trải qua nhiều vị trí cho đến ngày nay là trung tướng. Quân đội đã đào tạo Ông lên người.- lời của KDT
Ông lấy vợ năm 1958, khi đang học ở trường Sĩ quan lục quân. Vợ Ông lúc ấy là nhân viên phục vụ ở Ủy ban Hành chính kháng chiến tỉnh Hòn Gai
Năm 1967, ông vào miền Nam, đi chiến đấu tại nước bạn Lào.
nguồn
http://www.baomoi.com/Home/XaHoi/2007/5/...


Tiêu đề: Thiếu tướng Thái Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường sĩ quan Lục quân
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Tư, 2009, 04:21:33 pm
(http://img839.imageshack.us/img839/4430/thieutuongnguyenthaidun.jpg)

Thiếu tướng Thái Dũng (Nguyễn Thái Dũng, Nguyễn Hữu Thái, 03.11.1919 - ) từng giữ các chức vụ Hiệu trưởng Trường sĩ quan Lục quân, Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Thái Dũng quê ở Phố Cũ, thị xã Cao Bằng. Tham gia Việt Minh ở thị xã Cao Bằng, tháng 8 năm 1945 ông nhập ngũ. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 1 tháng 5 năm 1946 (chính thức tháng 7 năm 1946).

Từ tháng 01 năm 1946 đến tháng 7 năm 1949, ông trưởng thành từ chiến sỹ đến Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 29 Sư đoàn 308. Từ tháng 8 năm 1949 đến tháng 5 năm 1953, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 Sư đoàn 308.

Từ tháng 5 năm 1955 đến năm 1961, ông là Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Từ tháng 8 năm 1964 đến tháng 7 năm 1966, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308. Từ tháng 8 năm 1966 đến năm 1967, ông là Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên. Từ năm 1967 đến tháng 10 năm 1968, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, 308. Từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 01 năm 1969, ông là Phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn.

Từ tháng 02 năm 1969 đến tháng 3 năm 1978, ông là Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Lục quân. Từ tháng 4 năm 1978 đến tháng 3 năm 1979, ông là Cán bộ nghiên cứu của Học viện Quân sự cấp cao. Từ tháng 4 năm 1979 đến tháng 6 năm 1987, ông là Chuyên viên Học viện Quân sự cấp cao.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Huy Chương, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị QK5
Gửi bởi: panphilov trong 10 Tháng Tư, 2009, 01:28:22 am
(http://img684.imageshack.us/img684/9752/trungtuongnguyenhuychuo.jpg)

Trung tướng Nguyễn Huy Chương (bí danh : Kim Anh, 10.10.1926-2004) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 5, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Kỉ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị bắt và tù đày.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1986).


Trung tướng Nguyễn Huy Chương quê tại làng Hương Quế, xã Quế Phù, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ông tham gia Cách mạng từ tháng 1 năm 1941 trong phong trào thanh niên dân chủ tại quê nhà. Ngày 1 tháng 5 năm 1941, ông được kết nạp vào Đoàn thanh niên phản đế. Tháng 3 năm 1942, bị Pháp bắt và giam tại nhà lao Hội An. Tháng 12 năm 1942, ra tù ông bắt liên lạc với ông Võ Chí Công (Bí thư), ông Nguyễn Sắc Kim (Phó bí thư) tiếp tục hoạt động. Sau đó, địch khủng bố, phong trào bị vỡ. Tháng 3 năm 1945, ông liên lạc với các ông ở tù ra, hoạt động trở lại. Tháng 7 năm 1945, ông được cử vào Ban vận động của chính quyền làng Hương Quế, huyện Quế Sơn. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở huyện Quế Sơn và được nhân dân cử làm Chủ tịch làng Hương Quế.
          
Tháng 10 năm 1945, ông cùng ông Nguyễn Quế, Nguyễn Cường tổ chức thành lập chi bộ Đảng làng Hương Quế. Tháng 3 năm 1946, hợp nhất xã Quế Phú với xã Liên Hoan, ông là Phó bí thư chi bộ, uỷ viên uỷ ban, kiêm Trưởng ban tự vệ xã.

Tháng 3 năm 1947, ông được điều về huyện Quế Sơn, là Chính trị viên Đại đội biệt động huyện Quế Sơn, Bí thư chi bộ ; Năm 1948, được cử đi học lớp võ trang tuyên truyền sau đó về xây dựng cơ sở ở Tây Nguyên ; 3.1949, được điều về Trung đoàn 120 Bắc Tây Nguyên; 1.1954, Trưởng tiểu ban Địch vận của Trung đoàn 120 ; 7.1954, Phó chính trị viên Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 120.

Tháng 1 năm 1954, ông tập kết ra Bắc là Phó chính trị viên Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 120 ; 1.1958, học lớp trung cao cấp ở Học viện Chính trị của Tổng cục Chính trị ; 2.1959, tốt nghiệp Học viện Chính trị được điều về trường Đặc công Quân khu 4, huấn luyện học viên chuẩn bị đưa về miền Nam ; 10.1961, Phó chính uỷ kiêm Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 1 Lữ đoàn 338.

Tháng 12 năm 1962, ông được điều vào miền Nam chiến đâu là Phó chính uỷ Trung đoàn 2 Quân khu 5 ; 1.1964, Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công ; 8.1965, Chính trị viên tỉnh đội Quảng Ngãi, Thường vụ tỉnh uỷ Quảng Ngãi, Bí thư ban cán sự tỉnh đội ; 2.1968, Phó chính uỷ Sư đoàn 2 ; 7.1968, Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn 2 ; 5.1972, Chính uỷ Sư đoàn 711 kiêm Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn ; 6.1973, Chính uỷ Sư đoàn 2 kiêm Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn.

Tháng 11  năm 1975, ông được cử giữ chức vụ Chính uỷ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, Bí thư Đảng ủy ; 1.1978, học tại  Học viện Quân sự cấp cao ; 2.1979, Phó chính uỷ Quân khu 5, Phó bí thư Quân khu uỷ. Năm 1984, ông là Phó tư lệnh chính trị Quân khu 5. Năm 1986, ông là Bí thư Quân khu uỷ Quân khu 5, Uỷ viên Trung ương Đảng khoá VI. Trung tướng Nguyễn Huy Chương nghỉ hưu năm 1995 và mất tại thành phố Đà Nẵng.  

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Thiếu tướng Đinh Đình Sành, nguyên Cục trưởng Cục Phòng không dã chiến
Gửi bởi: panphilov trong 11 Tháng Tư, 2009, 09:42:20 pm
(http://img8.imageshack.us/img8/6893/thieutuongdinhdinhsanh.jpg)

Thiếu tướng Đinh Đình Sành (18.03.1926-26.12.1998) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không kiêm Cục trưởng Cục Phòng không dã chiến.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1984).


Thiếu tướng Đinh Đình Sành quê tại xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại địa phương là thanh niên cứu quốc rồi vào tự vệ xã, là xã đội trưởng du kích xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Tháng 10 năm 1948, ông nhập ngũ trưởng thành từ chiến sĩ, tiểu đội phó rồi tiểu đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 450 của Liên khu 5. Sau đó, ông chuyển sang làm Tiểu đội trưởng rồi Trung đội phó Tiểu đoàn 166 Trung đoàn 219 ; 4.1950, Trung đội phó Đại đội 290 Tiểu đoàn 166 Trung đoàn 209 Sông Lô Anh hùng, Chi ủy viên Đại đội ; 10.1952, Trung đội trưởng Đại đội 606 Trung đoàn 259 Sư đoàn 312 ; 4.1953, Đại đội phó Đại đội trưởng Tiểu đoàn 166 Trung đoàn 219 ; 5.1954, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54 ; 6.1954, được cử đi học lớp bổ túc Quân sự Trung cao cấp Bắc Sơn do Bộ Quốc phòng tổ chức.

Tháng 11 năm 1956, ông được bổ nhiệm là Trung đoàn phó Trung đoàn 209 ; 7.1957, sang làm Tham mưu trưởng Trung đoàn pháo cao xạ 224 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 9.1958, theo học Trường sĩ quan Pháo binh ; 10.1959, Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo cao xạ 218 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 12.1961, được cử đi học tại Học viện Pháo binh Trung Quốc.

Sau khi về nước, tháng 12 năm 1963 ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo cao xạ 224 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1965, phụ trách cụm tiền phương Phòng không cơ động 1, 2, 3 ; 1.1966, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, Phó Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1967, Phó Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, Phó Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 377 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Phó Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1971, Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1973, Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 367, Quân đoàn 1 ; 4.1974, được cử đi học tại Học viện Quân sự Bộ Tổng tham mưu Liên Xô Vô-rô-si-lốp ; sau khi về nước tháng 4 năm 1975 ông là Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên.

Tháng 9 năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Phó Ban thanh tra Quân chủng Phòng không ; 8.1979, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không kiêm Cục trưởng Cục Phòng không dã chiến cho đến khi về hưu tháng 11 năm 1987. Thiếu tướng Đinh Đình Sành mất ngày 26 tháng 12 năm 1998 tại Hà Nội.






Tiêu đề: Thiếu tướng Đinh Phúc Hải, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Quân chủng PK
Gửi bởi: panphilov trong 11 Tháng Tư, 2009, 10:05:26 pm
(http://img168.imageshack.us/img168/5538/thieutuongdinhphuchai.jpg)

Thiếu tướng Đinh Phúc Hải (tên thật : Đinh Duy Viên, 09.1925-26.10.1997) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Chính trị phụ trách công tác cán bộ Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.


Thiếu tướng Đinh Phúc Hải quê tại xã Vạn Kim (Bắc Sơn cũ), huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945, là cán bộ Việt Minh phụ trách thiếu nhi xã Vạn Kim, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây (cũ).

Tháng 8 năm 1946, ông nhập ngũ được cử đi học Trường Quân chính Lê Lợi, sau đó là cán bộ dân quân huyện Mỹ Đức ; 3.1947, chuyển sang bộ đội chủ lực là chiến sĩ rồi Tiểu đội phó quản trị Đại đội 10 Tiểu đoàn 103 Trung đoàn Thủ đô (E102) ; 7.1949, tiểu đội trưởng, trung đội phó rồi trung đội trưởng thông tin Đại đội 10 Tiểu đoàn 54 Trunng đoàn 102 Sư đoàn 308 ; 9.1950, cán sự chính trị, chính trị viên phó Đại đội 273 Tiểu đoàn 54 Trung đoàn 102 Đại đoàn Quân tiên phong (F308) ; 9.1951, được cử đi học Trường Lục quân Khóa 7 ; 1.1953, tiếp tục được cử đi học Pháo cao xạ 37 mm tại Trung Quốc ; 7.1953, Chính trị viên phó Đại đội 381 Tiểu đoàn 396 Trung đoàn Pháo phòng không 367 Đại đoàn Pháo binh 351 tham gia Chiến dịch Đông Xuân, Điện Biên Phủ (1953-1954) ; 9.1954, phái viên Ban chính trị Đại đoàn Pháo phòng không 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 2 năm 1955, ông được cử giữ chức vụ Chính trị viện Tiểu đoàn Pháo cao xạ 381 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 7.1957, Chính trị viên phó Tiểu đoàn cao xạ 14 Sư đoàn 305 ; 9.1959, được cử đi học tại Trường trung cao Quân sự ; 10.1960, Chính ủy Ban Hậu cần Sư đoàn 305.

Tháng 5 năm 1967, Chính ủy Trung đoàn pháo Phòng không 213 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, Chính ủy Trung đoàn Têl lửa Phòng không 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Phó Chủ nhiệm Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị (12.1970) Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân, tham gia Chiến dịch Trị Thiên 1972 ; 6.1972, Phó Chính ủy Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1973, Chính ủy Sư đoàn Phòng không 363, Đảng ủy viên Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 3 năm 1978, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 4.1979, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Quân chủng ; 8.1980, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 12.1983, Phó Tư lệnh về Chính trị phụ trách công tác cán bộ Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi về hưu tháng 7 năm 1989.






Tiêu đề: Thiếu tướng Dương Hán, nguyên Cục trưởng Cục nhà trường
Gửi bởi: panphilov trong 11 Tháng Tư, 2009, 11:08:23 pm
(http://img164.imageshack.us/img164/5859/thieutuongnguyenduongha.jpg)

Thiếu tướng Dương Hán (tên thật : Nguyễn Dương Hán, 21.07.1924) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục nhà trường Bộ Tổng tham mưu, Hiệu trưởng Trường sĩ quan Phòng không, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân, quyền Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không.

Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo.


Thiếu tướng Dương Hán quê tại thôn Dương Húc, xã Đại Đồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông tham gia cuộc bãi khóa trường EPSI tại thị xã Hưng Yên rồi tham gia vào Đội xung phong tuyên truyền Việt Minh thị xã Hưng Yên. Trở về quê, tháng 6 năm 1945 ông tham gia vào Ủy ban Việt Minh xã Đại Đồng (tổng Thượng Vũ), huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh rồi được cử làm xã đội trưởng phụ trách thanh niên và dân quân tự vệ chiến đấu chuẩn bị tổng khởi nghĩa ở tỉnh Bắc Ninh tham gia thành lập và huấn luyện trung đội dân quân xã. Ngày 20 tháng 8 năm 1945, tham gia giành chính quyền ở tỉnh Bắc Ninh rồi nhập ngũ làm Đại đội phó Vệ quốc đoàn (Chi đội Bắc Giang) ở Chũ, Lục Nam cho đến tháng 12 năm 1945 là Phó Ban chỉ huy chi đội Bắc Giang, phụ trách công tác hậu cần làm quản lý Chi đội.

Tháng 9 năm 1946, trước yêu cầu mới của Cách mạng, ông được cử đi học Trường Quân chính Bắc Sơn ; 12.1946, Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Vệ binh Bộ Tổng tham mưu, Chính trị viên Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 147 Vệ binh Bộ Quốc phòng, bảo vệ Bộ Tổng tham mưu và các cơ quan Trung ương Đảng và Bác Hồ rút khỏi Hà Nội ; 8.1947, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 147 Vệ binh Bộ Quốc phòng ; 4.1949, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 (Tiểu đoàn 42 Bình Ca) Trung đoàn 17 (Trung đoàn 147) ; 7.1949, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 18 (Tiểu đoàn 42 Bình Ca) Trung đoàn 102 (Thủ đô) Đại đoàn Quân tiên phong (F308) ; 3.1951, được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Trường Quân chính Đại đoàn 308 ; 6.1952, Trưởng Ban Tác chiến Đại đoàn Quân tiên phong ; 9.1954, được cử đi học tại Trường Cao xạ Thẩm Dương, Đông Bắc, Trung Quốc.

Sau khi về nước, tháng 3 năm 1955 ông phụ trách khối giáo viên cao xạ 88 mm, tham gia chuyển binh chủng Đại đoàn pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh pháo binh ở Vai Cầy, Thái Nguyên ; 12.1955, Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo cao xạ 685 Đại đoàn pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 1.1957, Tham mưu phó Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 3.1958, Tham mưu phó quyền Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không ; 6.1961, được cử đi học tại Trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn, học bổ túc trung học phổ thông và học tiếng Nga ; 8.1963, sang học tại Học viện Phòng không Ka-li-nin của Liên Xô/

Sau khi về nước, tháng 10 năm 1964 ông là Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1965, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 11.1966, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 7.1967, Phụ trách Tư lệnh rồi Tư lệnh (12.1967) Bộ Tư lệnh Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1970, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1974, Hiệu trưởng Trường sĩ quan Phòng không, Quân chủng Phòng không Không quân rồi Quân chủng Phòng không (5.1977) ; 12.1979, Cục trưởng Cục nhà trường Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu tháng 11 năm 1989.






Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Đình Số, nguyên Cục trưởng Cục cán bộ
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Tư, 2009, 12:18:03 am
(http://img9.imageshack.us/img9/673/thieutuongledinhso.jpg)

Thiếu tướng Lê Đình Số (bí danh : Hùng Thao, 05.1926-) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục cán bộ Bộ Quốc phòng, Phó Chính ủy Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1984).


Thiếu tướng Lê Đình Số quê tại xã Thái Tân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia tự vệ địa phương (khu Đ huyện Thái Ninh cũ). Tháng 1 năm 1946, ông nhập ngũ là chiến sĩ, tiểu đội trưởng rồi trung đội trưởng cảnh vệ Thái Bình ; 12.1948, cán sự đặc phái viên tỉnh ủy Thái Bình, hoạt động vũ trang cơ sở đảo Cái Bàn (Vân Hải) vùng địch kiểm soát nay là huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh ; 9.1949, huyện ủy viên huyện Thụy Anh, cán bộ thi đua tỉnh Thái Bình ; 1.1950, chính trị viên Đại đội 4 địa phương tỉnh Thái Bình ; 6.1951, chính trị viên phó Tiểu đoàn địa phương tỉnh Thái Bình sau phụ trách chính trị viên Tiểu đoàn 670 Trung đoàn 50 Khu Tả Ngạn ; 9.1952, Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 50, Trung đoàn 49 ; 7.1954, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 45 Đại đoàn Pháo binh 351.

Tháng 1 năm 1955, ông được cử giữ chức vụ Trưởng ban Tổ chức và Cán bộ Sư đòan 45 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 8.1956, công tác quân sự tại Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc ; 10.1960, Phó Phòng Cán bộ Chính trị Cục cán bộ ; 1962, được cử đi học Chính trị trung cao ; 1963, phó Phòng Cán bộ Chính trị Cục Cán bộ.

Tháng 8 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ Phó phòng Điều động – Đề bạt Cục Cán bộ ; 7.1966, chuyển sang làm Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính ủy (2.1968) Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn ; 5.1969, tiếp tục giữ chức vụ Cục phó Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng.

Năm 1979, ông được cử đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 4.1980, Cục trưởng Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng ; 12.1983, Cục trưởng Cục Cán bộ Chính trị Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng ; 1986, sau khi hợp nhất hai Cục, ông giữ chức vụ Cục phó Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu tháng 9 năm 1991. Thiếu tướng Lê Đình Số hiện sống tại Hà Nội.






Tiêu đề: Thiếu tướng Hồ Thanh Minh, nguyên Cục phó Cục Quản lý KHCN và MT
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Tư, 2009, 12:46:07 am
(http://img220.imageshack.us/img220/2697/thieutuonghothanhminh.jpg)

Thiếu tướng Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Kỹ thuật Hồ Thanh Minh (bí danh: Thanh, 15.05.1933) từng giữ các chức vụ: Cục phó Cục Quản lý Khoa học Công nghệ và Môi trường, Cục trưởng Cục quản lý Khoa học Kỹ thuật Quân sự Tổng cục Kỹ thuật, Phó Tư lệnh-Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Không quân, Cục phó Cục Kỹ thuật  Quân chủng Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ  và Môi trường, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1992).


Thiếu tướng Hồ Thanh Minh quê tại xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông nhập ngũ ngày 30 tháng 4 năm 1948 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 1 tháng 1 năm 1955 (chính thức ngày 2 tháng 9 năm 1955).

Tháng 8 năm 1947, ông làm lien lạc cho Huyện ủy, huyện đội Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; 4.1948, nhập ngũ là chiến sĩ liên lạc huyện đội Bố Trạch; 3.1951, được cử đi học Quân chính Liên khu 4; 9.1952, trưởng thành từ tiểu đội phó đến trung đội trưởng thuộc Đại đội 57 Tiểu đoàn 326 Trung đoàn 18.

Tháng 6 năm 1955, ông theo học tại Trường Văn hóa Kiến An; 9.1956, học đào tạo kỹ sư Không quân tại Học viện Kỹ thuật Không quân Giu-cốp-xki của Liên Xô; 10.1963, đại đội trưởng sau đó là tiểu đoàn phó kỹ thuật Trung đoàn Không quân 921.

Tháng 10 năm 1967, ông đi làm nghiên cứu sinh về động cơ máy bay tại Học viện Kỹ thuật Không quân Giu-cốp-xki; 3.1971, Trợ lý kỹ thuật, Phó phòng Máy bay, Phó phòng Nghiên cứu Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân; 6.1977, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Không quân.

Tháng 11 năm 1983, ông là Phó Tư lệnh kiêm Chủ nhiệm Hậu cần (cho đến 10.1988 thì thôi kiêm Chủ nhiệm) Quân chủng Không quân; 5.1989, Cục trưởng Cục Quản lý Khoa học Kỹ thuật Quân sự Tổng cục Kỹ thuật; 1.1993, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khoa học Côgn nghệ và Môi trường cho đến khi nghỉ hưu (7.1999).






Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Hồng Nhị, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục HKDD
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Tư, 2009, 01:07:46 am
(http://img16.imageshack.us/img16/1943/thuongtuongnguyenhongnh.jpg)

Thiếu tướng Anh hung Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Hồng Nhị (bí danh: Hồng Việt, Trường Sơn; 22.12.1936) từng giữ các chức vụ: Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 8 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Khi tuyên dương Anh hung ông là Đại úy, Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Nguyễn Hồng Nhị quê tại xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Tháng 5 năm 1952, ông là chiến sĩ Đại đội 104 Phòng Tham mưu Liên khu 5; 7.1953, chiến sĩ Đại đội 2 Tiểu đoàn 365 Trung đoàn 803 Liên khu 5; 1.1954, chiến sĩ, tiểu đội phó rồi tiểu đội trưởng thuộc Đại đoàn 324.

Tháng 3 năm 1960, ông được cử đi học tại Trường sĩ quan Lục quân; 3.1961, tiểu đội trưởng Đại đội 2 Tiểu đoàn 95 Trung đoàn Không quân 910; 10.1961, được cử đi học lái máy bay Mig 21 tại Trường Không quân Liên Xô.

Sau khi về nước tháng 11 năm 1964, ông là sĩ quan lái máy bay, Trung đội trưởng lái máy bay Trung đoàn Không quân 921 Quân chủng Phòng không Không quân; 8.1965; đại đội phó, đại đội trưởng Trung đoàn Không quân 921; 10.1968, Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921; 1.1972, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân; 1973, đi học bổ túc tham mưu chỉ huy tại Học viện Không quân Liên Xô; 3.1975, được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tư lệnh Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1976, ông là Tư lệnh Sư đoàn Không quân 372 Quân chủng Phòng không Không quân cho đến tháng 8 năm 1978 được cử đi học tại Học viện Chính trị cấp cao; 3.1979, Tư lệnh Sư đoàn Không quân 372 Quân chủng Không quân; 7.1980, đi học bay chuyển loại Su 22 tại Liên Xô đến hết tháng 11 năm 1980; 8.1982, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370 Quân chủng Không quân; 2.1987, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân; 4.1988, Tổng cục phó Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam cho đến tháng 10 năm 1990 là Tổng Cục trưởng kiêm Tổng Giám đốc Tổng công ty Hàng không Việt Nam; 1993, Tổng Giám đốc, Củ tịch Hội đồng quản trị, Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Thiếu tướng Nguyễn Hồng Nhị nghỉ hưu tháng 5 năm 1998 tại thành phố Hồ Chí Minh.







Tiêu đề: Thiếu tướng Ngô Huynh, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Tư, 2009, 01:29:04 am
(http://img593.imageshack.us/img593/271/thieutuongngohuynh.jpg)

Thiếu tướng Ngô Huynh (bí danh: Kim Anh, 06.12.1934 – 10.02.1999) từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Hiệu trưởng Trường sĩ quan Phòng không kiêm Phó Bí thư Đảng ủy nhà trường.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (8.1990).


Thiếu tướng Ngô Huynh quê tại xã Hưng Phú, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Tháng 3 năm 1949, ông làm liên lạc cho thôn đội, xã đội Hưng Phú, tham gia dạy bình dân học vụ; 12.1953, nhập ngũ là chiến sĩ đoàn 44 Đại đội 71 Tiểu đoàn 417 Trung đoàn 154 Công binh; 7.1954, chiến sĩ vần vụ liên lạc Trung đoàn 154.

Tháng 12 năm 1955, ông là chiến sĩ thông tin thu phát Trung đoàn 151 Cục Công binh; 12.1957, văn thư kiêm Quân kí viên Đại đội 1 Trung đoàn 151 Cục Công binh; 6.1958, được cử đi học Trường Văn hóa Cục Công binh; 1.1959, theo học Trường sĩ quan Công binh; 10.1959, tiếp tục học tại Trường Văn hóa Công Nông Trung ương; 10.1960, theo học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội chuyên ngành Vô tuyến điện; 6.1964, học tiếng Nga tại Trường Văn hóa Lạng Sơn; 10.1964, đi thực tập tại xưởng Thông tin Bộ Tổng Tham mưu.

Tháng 5 năm 1965, ông là Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 81 Trung đoàn tên lửa 238 Quân chủng Phòng không Không quân, cơ động chiến đấu vào chiến trường Quân khu 4, tham gia phục kích đánh máy bay B52 thuộc Mặt trận B5; 3.1968, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 81 Trung đoàn Tên lửa 238 Sư đoàn Phòng không 375 Quân chủng Phòng không Không quân; 10.1968, quyền Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 83 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238, Trung đoàn Tên lửa Phòng không 237 (12.1970), Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân; 8.1971, Trợ lý tác chiến Phòng Tham mưu Sư đoàn Phòng không 363; 10.1971, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 9 năm 1975, ông đi học bổ tục chỉ huy Phòng không ở Học viện Phòng không quốc gia Liên Xô; 3.1976, phụ trách Tham mưu phó, Tham mưu phó Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân; 6.1977, Tham mưu phó Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không; 5.1978, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không; 9.1980, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao; 9.1981, quyền Sư đoàn trưởng, Sư đoàn phó, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 363, Phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn (12.1983); 8.1986, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không, phó Bí thư Đảng ủy Sư đoàn; 1.1988, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Bộ Tham mưu; 5.1989, được cử giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường sĩ quan Phòng không, Phó Bí thư Đảng ủy nhà trường; 5.1991, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân chủng; 2.1992, học bổ túc chương trình A Học viện Chính trị Quân sự; 12.1993, Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Ủy viên thường vụ Đảng ủy, phó Bí thư Đảng ủy Quân chủng cho đến khi mất ngày 10 tháng 2 năm 1999.


Tiêu đề: Thiếu tướng Vũ Ngọc Diệp, nguyên Phó Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Tư, 2009, 01:48:23 am
(http://img183.imageshack.us/img183/5404/thieutuongnguyenngocdie.jpg)

Thiếu tướng Vũ Ngọc Diệp (05.09.1938) từng giữ các chức vụ: phó Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huy chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng Phụ nữ, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (10.1994).


Thiếu tướng Vũ Ngọc Diệp quê tại thôn Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Tháng 12 năm 1953, ông tham gia thanh niên xung phong thuộc Đội 38 Đại đội 279; 2.1954, nhập ngũ là chiến sĩ Trung đoàn 77 rồi Đại đội 223 Tiểu đoàn 29 Trung đoàn 88 Đại đoàn Quân tiên phong  tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tháng 4 năm 1955, ông được cử đi học trắc thủ Ra-đa RZ-II Đại đoàn Phòng không 367; 10.1958, kỹ thuật viên Ra-đa Trung đoàn pháo cao xạ 230 Bộ Tư lệnh Phòng không; 3.1960, giáo viên Ra-đa Trường tập huấn Bộ Tư lệnh Phòng không; 7.1963, trợ lý Trung đoàn 228B Bộ Tư lệnh Phòng không (từ 22 tháng 10 năm 1963 là Quân chủng Phòng không Không quân).

Tháng 5 năm 1965, ông là Đại đội phó, Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 61 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Quân chủng Phòng không Không quân; 7.1967, giáo viên Kỹ thuật Tên lửa Tiểu đoàn 5, Phó ban rồi Trưởng ban binh khí Tên lửa Khoa Tên lửa Trường sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân; 6.1972, quyền Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 168 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 276 Quân chủng Phòng không Không quân; được cử đi học chuyển loại tên lửa ở Liên Xô; 4.1973, Tham mưu phó Trung đoàn Tên lửa Phòng không 276 Sư đoàn 361 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1977, ông là Trợ lý Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không; 8.1977, Trưởng Ban Kế hoạch Phòng Tham mưu Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không; 3.1978, Trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa Phòng không 276 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không; 8.1978, theo học tiếng Nga tại Trường Văn hóa Quân đội; 8.1979, Trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 276 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không; 8.1980, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không; 10.1982, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Tên lửa Phòng không 236 Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không; 9.1983, đi học bổ túc lớp Trung đoàn Tên lửa Phòng không Trường Sĩ quan Tên lửa Ra-đa Quân chủng Phòng không; 11.1984, Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không; 12.1987, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không; 3.1989, đi học bổ túc tại Liên Xô; 4.1989, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không cho đến 9.1993 thôi kiêm Tham mưu trưởng; 2.1996, ông chuyển sang làm Phó Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng cho đến khi về hưu ngày 1 tháng 5 năm 2002.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: pallmall trong 14 Tháng Tư, 2009, 02:31:27 am
Bác panphilov có tài liệu về tiểu sử của Thiếu tướng Đặng Quang Long ở quân khu 7 kô  ah? nếu có bác pót cho e đọc với nhé .
Cám ơn bác trước !


Tiêu đề: Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Tư, 2009, 06:57:36 am
Họ và tên: Nguyễn Nam Khánh

Năm sinh: Ngày 20 tháng 2 Năm 1927.

Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Quê quán: Xã Bình Phú Tây, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Trú quán: Số nhà 36, phố Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Thành phần: Bần nông.

Năm tham gia cách mạng: Ngày 15 Tháng 3 năm 1945.

Năm nhập ngũ: Tháng 8 năm 1945.

Ngày vào Đảng CS VN: Tháng 5 năm 1946

Năm phong quân hàm cấp tướng: Thiếu tướng năm 1977; Trung tướng năm 1984; Thượng tướng năm 1988.

Quá trình tham gia cách mạng:
Năm 1945, đồng chí tham gia Thanh niên Cứu quốc, là Trung đội trưởng, đại đội trưởng Chi đội 4 Phú Yên. Từ năm 1948 đến năm 1949, đồng chí là Trưởng Ban Chính trị Phân khu 15 Tây Nguyên. Năm 1952, đồng chí là Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, Liên khu 5. Tháng 9 năm 1954, đồng chí là Chính uỷ Trung đoàn 108, Liên khu 5.

Từ năm 1955 đến năm 1956, đồng chí là Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 305, Từ năm 1956 đến năm 1958, đồng chí học tại Học viện Chính trị Trung Quốc. Từ năm 1959 đến năm 1960, đồng chí là Trưởng Phòng Huấn luyện Cục Tuyên huấn. Tháng 4 năm 1961, đồng chí là Chính uỷ Lữ đoàn 305. Tháng 5 năm 1965, đồng chí là Phó chính uỷ Sư đoàn 304 Tây Nguyên Từ năm 1967 đến năm 1970, đồng chí là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn 3, Quân khu 5. Từ năm 1970 đến năm 1978, đồng chí là Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính uỷ Quân khu 5, Đảng uỷ viên, Uỷ viên Thường vụ, Phó bí thư Quân khu uỷ Khu 5, Uỷ viên Khu uỷ Khu 5. Tháng 6 năm 1978, đồng chí là Viện trưởng, Bí thư Đảng uỷ Học viện Chính trị. Từ tháng 4 năm 1979 đến năm 1996, đồng chí là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Đồng chí là Uỷ viên Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá V, VI, VII. 
 
Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:
                    Huân chương Độc lập hạng nhất.
                    Huân chương Quân công hạng nhất.
                    Huân chương Chiến công hạng nhất.
                    Huân chương Kháng chiến hạng nhất.
                    Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.
                    Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba.
                    Huân chương Chiến sỹ Giải phóng hạng nhất, nhì, ba.
                    Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
                    Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh sinh ngày 20-2-1926 tại xã Tây Phú, huyện Tây Sơn trong một gia đình nông dân nhưng đã bị địa chủ thực dân chiếm hết đất nên cha mẹ ông đi làm công nhân ở xưởng dệt Đờ-li-nhông (Phú Phong - Tây Sơn). Ông là con lớn nhất trong gia đình có 5 anh em trai. Học hết sơ học ở quê, ông xuống Quy Nhơn học hết bậc tiểu học và tiếp tục học trung học bằng cách vừa học vừa làm thuê tại các cửa hàng ăn. Nhưng học được hơn 2 năm thì bỏ dở vì cha mẹ ông lúc đó không thắng nổi cái nghèo. Những năm tháng ở quê, nhờ sự giác ngộ của người chú họ là thầy giáo Nguyễn Đông, ông đã sớm nhận ra nhiều thủ đoạn độc ác của bọn địa chủ, thực dân, và nỗi nhục của người thanh niên mất nước. Cuối năm 1943, ông làm công nhân của hãng dệt Đờ-li-nhông, nơi cha mẹ ông đang làm. Tại đây, ông nhận rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc thực dân đã bóc lột sức lao động của công nhân, cư xử tàn ác, thô bạo đối với người dân thuộc địa. Nhiều đêm, ông thao thức không sao ngủ được, mong muốn thoát khỏi sự áp bức, nhưng chưa biết đi đâu, làm gì? Đang băn khoăn trước ngã ba đường thì phong trào cách mạng tràn về, ông đến với "Việt Minh" như nắng hạn gặp mưa rào!
Tháng 3-1945, ông được tiếp xúc với hai chiến sĩ Việt Minh ngay tại hãng dệt Đờ-li-nhông. Đầu tháng 4-1945, ông chính thức được kết nạp vào tổ chức "Việt Minh" huyện Bình Khê và tham gia vào đội ngũ tuyên truyền lưu động, vận động nhân dân trong các huyện Bình Khê, An Nhơn, Tuy Phước, Quy Nhơn nhằm hình thành lực lượng chủ lực cho cuộc khởi nghĩa tháng 8-1945. Lực lượng này sau đó đã giành được chính quyền tỉnh lỵ Bình Định lúc bây giờ và các huyện xung quanh Quy Nhơn, thành lập Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ (tên mới của tỉnh Bình Định lúc đó). Sự kiện đó là bước ngoặt lớn của đời ông và nhân dân tỉnh Bình Định - từ người mất nước trở thành người làm chủ đất nước. Ông đứng vào hàng ngũ bộ đội Cụ Hồ và từng bước trưởng thành.
Với ông, những trận chiến ác liệt ở chiến trường Bình Định năm xưa là chuỗi tháng ngày không quên của mình. Ông nhớ nhất là trận đánh cuối cùng trong chiến dịch Mùa Xuân 1975 - tiến công đường 19 trong phạm vi hai huyện Bình Khê và An Khê để thực hiện chiến lược chia cắt quân địch giữa đồng bằng và Tây Nguyên. Đường 19 không chỉ là đường tiếp liệu, tiếp vận của địch mà còn là con đường rút lui nhanh nhất của chúng xuống đồng bằng Khu V khi Tây Nguyên bị thất thủ. Do vậy, Mỹ-ngụy đã khẳng định phải bảo vệ đường 19 trong bất cứ tình thế nào… Nhận thức về con đường chiến lược này, ông đã trực tiếp chỉ đạo Sư đoàn 3 lên phương án và chuẩn bị chiến đấu hết sức khẩn trương dưới sự đánh phá ác liệt của Mỹ - ngụy. Lúc đó, ông là Phó Chính ủy Quân khu V được phân công chỉ đạo Sư đoàn 3 đảm đương trọng trách này. Vào lúc 5 giờ 35 phút ngày 4-3-1975, Sư đoàn 3 nổ súng tấn công cắt đường 19 với chiến thuật tập kích hiệp đồng binh chủng và bao vây tiến công liên tục, cùng một lúc vừa cắt đường, vừa diệt quân chủ lực dự phòng ở Truông Ổi - Định Quang. Trong 5 ngày tấn công, Sư đoàn 3 do ông chỉ đạo đã đánh thiệt hại nặng trung đoàn 47, sư đoàn 22 và liên đoàn bảo an 927 ngụy, diệt 310 tên địch, bắt sống 52 tên; thu 200 súng, trong đó có 2 khẩu pháo 105 mi-li mét; làm chủ đoạn đường dài hàng chục ki-lô-mét, chia cắt chiến lược hiểm hóc giữa Tây Nguyên với đồng bằng Khu V. Đây là tiếng súng mở màn chiến dịch Mùa Xuân 1975 trên chiến trường Khu V…
Có thể nói, cả đời binh nghiệp của ông gắn chặt với chiến trường Bình Định. Ông kể: Trong kháng chiến chống Mỹ, Sư đoàn 3 (Sao Vàng) cũng như du kích và nhân dân ở đây đã xây dựng Bình Định trở thành một chiến trường kiên cường, thành đồng vững chắc sau lưng địch, đã chi phối và chôn chặt quân đoàn 2 của địch ở miền Trung. Quân dân Bình Định đã cắt đứt, khống chế hoàn toàn đường 19. Không một đơn vị nào của địch tấn công được lên Tây Nguyên, góp phần giải phóng các tỉnh Tây Nguyên, làm bàn đạp tấn công vào sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền ở Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam vào ngày 30-4-1975.

Theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam và Báo Bình Định


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Tư, 2009, 02:45:17 am
Bác panphilov có tài liệu về tiểu sử của Thiếu tướng Đặng Quang Long ở quân khu 7 kô  ah? nếu có bác pót cho e đọc với nhé .
Cám ơn bác trước !

Rất tiếc là em không có bác ạ! Em đang hỏi, hy vọng là có thể trả lời bác trong một thời gian sớm nhất (có thể).

Bác macbupda, rất cám ơn bác vì đã tiếp sức. Sao bác không cho link ảnh của cụ lên để mọi người cùng "chiêm ngưỡng"  ::)


Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Liêm, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng PK
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Tư, 2009, 03:08:44 am
(http://img10.imageshack.us/img10/9990/thieutuongphamliemn.jpg)

Thiếu tướng Phạm Liêm (bí danh : Duy Thanh, 15.12.1928) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Phạm Liêm quê tại thôn Vũ Xã, huyện An Đồng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia Cách mạng tháng 4 năm 1945, là Bí thư Thanh niên cứu quốc xã Hưng Nhượng (nay là xã An Đồng), huyện Phù Dực (nay là huyện Quỳnh Phụ), tỉnh Thái Bình. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông là trưởng Ban bình dân học vụ, Bí thư Thanh niên cứu quốc xã An Đồng. Tháng 4 năm 1946, là Ủy viên thanh niên, Trưởng ban thiếu nhi huyện Phù Dực. Tháng 3 năm 1948, Phó Bí thư rồi Bí thư Thanh niên cứu quốc huyện Phù Dực.

Tháng 2 năm 1950, ông nhập ngũ và giữ chức vụ Chính trị viên phó Huyện đội Phù Dực ; 2.1952, Huyện đội trưởng huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình ; 5.1954, Đại đội trưởng Đại đội 277 Bội đôi địa phương Thái Bình ; 12.1954, quyền Tiểu đòan phó Tiểu đoàn 62 Bội đội địa phương Thái Bình.

Tháng 2 năm 1957, ông chuyển lên làm Trợ lý Phòng Cán bộ Quân khu Tả Ngạn ; 11.1960, học đào tạo Trung cao Chính trị khóa 1 ; 7.1963, Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Pháo phòng không 230, 250 Bộ Tư lệnh Phòng không. Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Pháo phòng không 250 Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1965, Phó Chính ủy Trung đoàn Pháo phòng không 250 ; 6.1966, Chính ủy Trung đoàn pháo phòng không 224 Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361) Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, Chính ủy Trung đoàn pháo phòng không 241 Sư đoàn phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân, tham gia Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh ; 10.1969, Phó Phòng Cán bộ, Trưởng Phòng Cán bộ (10.1971) Cục Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Cục Chính trị ; 7.1973, Phó Chính ủy, Chính ủy (4.1975) Sư đoàn Phòng không 367 Quân đoàn 1, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn.

Tháng 4 năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1977, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Bí thư Đảng ủy Cục Chính trị ; 8.1979, được cử đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1980, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 10.1983, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 7.1986, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu tháng 7 năm 1990. Thiếu tướng Phạm Liêm hiện đang sống tại Hà Nội.






Tiêu đề: Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận, nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cao cấp PK
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Tư, 2009, 04:21:42 pm
(http://img6.imageshack.us/img6/6974/thieutuongdoanvanthuan.jpg)

Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận (bí danh : Văn Tiến, 07.07.1929) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Trung cao cấp Phòng không, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Tự do hạng Nhất của Chính phủ Lào, Huân chương của Chính phủ Cam-pu-chia, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận quê tại xã Đức Tân, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 10 tháng 10 năm 1946, ông nhập ngũ là chiến sĩ bộ đội Việt kiều ở Thái Lan về Lào tham gia chiến đấu trong chiến khu Noọng Ổn, U Đon Thái Lan thuộc Bộ Tư lệnh Lào Miên. Từ tháng 1 năm 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ tiểu đội phó, tiểu đội trưởng chiến đấu ở chiến trường Phôn Hùng, Viên Chăn, Lào ; 12.1947, trở về nước là tiểu đội trưởng thuộc Trung đoàn Quang Trung, Khu 4 ; 7.1948, quay trở lại Thái Lan, là tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội phó trực thuộc Bộ Tư lệnh Tây Lào ; 1.1951, đại đội trưởng Đại đội 198 thuộc Bộ Tư lệnh Tây Lào ; 7.1954, cùng Đại đội tập kết tại huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.

Tháng 1 năm 1955, ông được cử giữ chức vụ tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 83 Bộ binh thuộc Tổng đội Biên phòng rồi đi học chuyển loại binh chủng Pháo binh mặt đất ở Sơn Tây ; 6.1956, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 10 Trung đoàn Pháo binh 58 Sư đoàn Pháo binh 335 Quân khu Tây Bắc (Quân khu 1 ngày nay) ; 7.1956, đi học văn hóa và ngoại ngữ tại Trường Văn hóa Kiến An Hải Phòng và sau đó được cử đi học Pháo binh tại Trường Trung cao Pháo binh Thẩm Dương, Trung Quốc rồi học đào tạo cán bộ Pháo bih cấp Trung đoàn ; 9.1959, trở về nước và được cử giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Pháo binh 21 Trung đoàn Pháo binh 168 Quân khu Tây Bắc ; 9.1963, Tham mưu trưởng Lữ đoàn Pháo binh 335 rồi Tham mưu trưởng, Trung đoàn phó Trung đoàn 158 Quân khu Tây Bắc.

Tháng 1 năm1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo binh 168 Sư đoàn Pháo binh 335 ; 5.1966, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 267 Quân chủng Phòng không Không quân tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội, Hải Phòng. Đi học bổ túc cán bộ Trung đoàn Tên lửa Phòng không tại Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1968, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 267 Sư đoàn Phòng không 267 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1970, Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 367 ; 7.1971, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không cửa khẩu 377 ; 7.1973, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 ; 2.1974, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 rồi đi học bổ túc cao cấp Học viện Phòng không Ô-đéc-xa ở Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 8 năm 1976 ông được cử giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 367 và được cử đi học tại Học viện Quân sự Cao cấp của Bộ Quốc phòng ; 4.1979, được bổ nhiệm giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 377, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân chủng ; 11.1980, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không Quân chủng Phòng không ; 7.1981, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng ; 7.1982, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không Quân chủng Phòng không ; 4.1987, Hiệu trưởng Trường Trung Cao cấp Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu tháng 3 năm 1994. Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận hiện ở tại Hà Nội, sau khi nghỉ hưu ông tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, đoàn thể, từ 1997 đến 2002 là Thường vụ Hội Cựu chiến binh phường Khương Trung và Thường vụ Hội Cựu chiến binh quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.






Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy, nguyên Hiệu trưởng Trường SQ CH KT TL RD
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Tư, 2009, 04:45:42 pm
(http://img404.imageshack.us/img404/9920/thieutuongnguyensinhhuy.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy (bí danh : Văn Thái, 01.08.1929) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Tên lửa Ra-đa, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy quê tại xã Đại Đồng, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Theo học tại Hà Nội, năm 1944 ông là Đội viên Tuyên truyền xung phong rồi gia nhập Việt Minh thành Hoàng Diệu. Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Đội viện trinh sát Tỉnh đội Hà Đông, tham gia giành Chính quyền ở Hà Tây và Hà Nội.

Tháng 12 năm 1946, ông là chiến sĩ Đại đội địa phương Thanh Hóa rồi chiến sĩ thuộc Đại đội 126 Trung đoàn 77 Khu 4 ; 10.1947, đi học Trường Quân chính Liên khu 4 ; 4.1948, trung đội trưởng Đại đội 4 Tiểu đoàn 750 Khu 4 ; 10.1948, chuyển sang Đại đội 2 Tiểu đoàn 427 Trung đoàn 9 ; 4.1949, đại đội phó Đại đội 129 Trung đoàn 18 Bình Trị Thiên kiêm Phó Bí thư Chi bộ ; 10.1949, Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên, Lien chi ủy viên Liên chi 2 Trung đoàn 18 ; 12.1951, được cử đi học Lục quân khóa 7 ; 10.1952, Nam tiến chi viện cho chiến trường Nam Bộ là đại đội phó, đại đội trưởng Đại đội 4 Tiểu đoàn 307 (Tiểu đòan Liên quân lưu động Tây Nam Bộ).

Sau khi tập kết ra Bắc, tháng 10 năm 1955 ông là đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn phó Liên chi ủy viên Tiểu đoàn lựu pháo 105mm Trung đoàn 24 Sư đoàn Pháo binh 351 ; 5.1957, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 14 cao xạ ; 1959, Trưởng ban Tác huấn  Bộ Tư lệnh Pháo binh rồi chuyển sang làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ Sư đoàn 330 ; 1960, đi học bổ túc pháo binh (Đại đội 11 Trung đoàn 400) ; 1962, giáo viên Trường Trung cao quân sự ; 1963,  đại đội trưởng khung cán bộ Trung đoàn 228B, học lớp văn hóa chuẩn bị chuyển binh chủng Tên lửa của Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 3 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 83 Trung đoàn Tên lửa 238 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, Tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 238 ; 1967, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 238 ; 6.1968, Trung đoàn trưởng Trung đoàn tên lửa 275 Sư đoàn Phòng không 377 rồi 365 ; 12.1968, Phó Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Bộ Tham mưu ; 7.1972, Trưởng Phòng Huấn luyện Bộ Tham mưu, Đảng ủy viên Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1973, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 9.1974, đi học bổ túc Phòng không tại Trường Cao đẳng Phòng không ở Ô-đéc-xa (Liên Xô).

Tháng 7 năm 1975 về nước, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 367 ; 11.1976, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 6.1978, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 5.1979, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không, Bí thư Đảng ủy trưởng ; 9.1980, đi học bổ túc lý luận tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc ; 9.1981, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan chỉ huy Kỹ thuật Tên lửa Ra-đa Quân chủng Phòng không, Phó Bí thư Đảng ủy trường, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1989. Từ năm 1990 đến 1997, Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy tiếp tục tham gia 2 khóa Đảng ủy viên phường Nguyễn Trãi, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội là Ủy viên Thường vụ, phụ trách Mặt trận Tổ quốc, Dân vận và Chủ nhiệm kiểm tra Đảng.






Tiêu đề: Re: Đại tướng Lê Trọng Tấn, Giucov của Việt Nam
Gửi bởi: SukhoiSu-47Berkut trong 16 Tháng Tư, 2009, 11:43:29 pm
Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thận là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây trong một gia đình trí thức có 7 người con (5 trai, 2 gái). Cha ông là một thày đồ nghèo mất khi ông mới lên 7 tuổi, ông trưởng thành nhờ sự tần tảo của người mẹ. Theo những người trong dòng họ Lê ở Yên Nghĩa thì dòng họ ông bắt nguồn từ chúa Trịnh, chính vì vậy mà người em của ông mang họ Trịnh. Xã Yên Nghĩa là một xã có truyền thống yêu nước cũng như có truyền thống cách mạng, thời kì trước cách mạng, nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng, mà sau này họ trở thành những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn...Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa.

Cảm ơn Panphilov đã đưa tiểu sử các vị tướng cũng như giới thiệu tóm tắt nhưng nêu bật được những nét điển hình của mỗi vị. Tuy nhiên, tôi đề nghị nên chỉnh sửa và bỏ đoạn đỏ ở trên, vì điều đó là không chính xác. Quả thật cũng có một vài ý kiến nói rằng "có thể là như thế" nhưng trên thực tế không có một cứ liệu nào chứng minh họ Lê ở Yên nghĩa bắt nguồn từ họ Trịnh (suy luận là do sợ Quang Trung tiêu diệt nhà Trịnh khi lấy danh nghĩa: “Dĩ phù Lê diệt Trịnh vi danh” nên có thể lúc bấy giờ có sự thay đổi đó). Việc em trai Đại tướng tự nghĩ và chọn cho mình cái tên Trịnh Quý Đông chỉ là vấn đề cá nhân, còn tên cha mẹ đặt hai anh em là Lê Trọng Tố và Lê Quý Giả (cụ Giả mới mất khoảng chục năm, bia mộ là Lê Quý Giả)...nên thông tin này mà diễn đàn đưa là không chính xác, dù có thể đựơc trích từ một nguồn “đáng tin cậy” nào đó, ta có thể xem xét lược bỏ mà không ảnh hưởng đến tính chân thực, toàn vẹn của sự việc.


Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Bát, nguyên Trưởng khoa PK Học viện QS cấp cao
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Tư, 2009, 02:26:19 am
(http://img6.imageshack.us/img6/5120/thieutuonghoangbat.jpg)

Thiếu tướng Phó Giáo sư Hoàng Bát (10.02.1932) từng giữ các chức vụ : Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 363, 369, 367 Quân chủng Phòng không, Phó Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ.

Thiếu tướng (8.1980).


Thiếu tướng Hoàng Bát quê ở xã Khai Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Tháng 9 năm 1949, ông tham gia Thiếu sinh quân Khu 4. Tháng 6 năm 1950, ông được cử đi học khóa 1 Trường Sĩ quan Pháo binh Liên khu 3-4, tiếp đó, tháng 1 năm 1951 ông là học viên Trường Quân chính Đại đoàn 304 ; 7.1951, học lớp súng cối 120mm tại Đại đoàn Pháo binh 351 ; 4.1952, tiểu đội trưởng, trung đội phó (8.1953) Đại đội 112 Tiểu đoàn 83 Trung đoàn 675 Đại đoàn Pháo binh 351 ; 10.1953, trợ lý Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 367 Đại đoàn Pháo binh 351 chiến đấu ở Điện Biên Phủ Đông-Xuân 1953-1954 ; 9.1954, phụ trách Hành chính văn thư Phòng Chính trị Đại đoàn Pháo Phòng không 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 11 năm 1956, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Chủ nhiệm Phòng Chính trị Đại đoàn Pháo Phòng không 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1958, Bí thư Chủ nhiệm Phòng Chính trị Đại đoàn 367 ; 2.1959, đi học tại Trường Văn hóa Lạng Sơn ; 9.1961, được cử đi học tại Học viện Phòng không Ka-li-nin của Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 10 năm 1964 ông là Chính trị viên Đội Ra-đa Trung đoàn 290 Quân chủng Phòng không Không quân đi phục kích đánh máy bay thả biệt kích ở Mai Sưu (Bắc Giang) ; 2.1965, Chính trị viên Đại đội 14,5mm bảo vệ Sân bay Vinh ; 3.1965, Tham mưu trưởng, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 62 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238 Quân chủng Phòng không Không quân (2.1966) ; 5.1967, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 62 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1968, Trợ lý Phòng Tách chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1969, công tác ở bộ phận tổng kết Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, trợ lý Phòng Huấn luyện Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1970, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1972, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 236 ; 9.1975, tiếp tục đi học tại Trường Cao đẳng Phòng không Ô-đéc-xa Liên Xô.

Tháng 8 năm 1976, về nước, ông được cử giữ chức vụ Phó Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, trưởng Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không ; 5.1978, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không ; 4.1979, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 367 ; 8.1979, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 369 ; 10.1979, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363, Đủy ủy viên Quân chủng Phòng không ; 9.1981, đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1982, tiếp tục giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 ; 4.1984, giáo viên Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1987, Phó Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao ; 6.1989, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao cho đến khi nghỉ hưu 1.1.1998. Thiếu tướng Hoàng Bát hiện đang sống tại Hà Nội.






Tiêu đề: Thiếu tướng Đào Sơn Tây, nguyên Phó Chính ủy Quân khu 7
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tư, 2009, 12:14:25 am
(http://img16.imageshack.us/img16/2264/thieutuongdaosontay.jpg)

Thiếu tướng Đào Sơn Tây (bí danh : Bạch Vân, Tư Khanh ; 10.01.1915-16.06.1998) từng giữ các chức vụ : Phó Chính ủy Quân khu 7, Chính ủy Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam, Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh, Phụ trách Pháo binh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1974).


Thiếu tướng Đào Sơn Tây quê tại xã Tân Ninh, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1936 ông tham gia đấu tranh cùng giới thợ ở Sài Gòn Chợ Lớn. Trong quá trình đấu tranh, ông dần giác ngộ lý tưởng Cách mạng và bắt đầu hoạt động trong phong trào công nhân ở các công xưởng Ba Son, Sài Gòn (1938). Năm 1944, ông chuyển về gây dựng cơ sở và hoạt động ở đề pô xe lửa Dĩ An và các làng phụ cận, Sài Gòn. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia huấn luyện quân sự, chính trị…cho Thanh niên cứu quốc và Thanh niên tiền phong khu vực Dĩ An, tham gia lãnh đạo giành chính quyền.

Sau khi thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại xâm lượng Nam Bộ, tháng 9 năm 1945 ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy phó Bộ đội khu vực Dĩ An thuộc Đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn, những đơn vị dưới quyền chỉ huy của ông được gọi là Bội đội Đào Sơn Tây giống như các đơn vị khác thời đó : Bộ đội Huỳnh Văn Nghệ, Bộ đội Tô Ký… ; 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ đại đội phó, đại đội trưởng Đại đội 10 Chi đội 6 Gia Định rồi tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 917 Trung đoàn 306 Nam Bộ ; 1948, trung đoàn phó Trung đoàn 306 Nam Bộ, Chỉ huy trưởng Liên khu 17 ; 1949, trung đoàn phó Liên trung đoàn 306-312 rồi tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Gia Định, Ủy viên Ban Quân sự Tỉnh ủy ; 1951, sau khi tổ chức lại tỉnh đội Gia Định, ông giữ chức vụ tỉnh đội phó ; 1953, tập kết ra Bắc theo học Trường Đảng Trung ương và được cử đi học Pháo cao xạ ở Trung Quốc.

Năm 1955, ông phụ trách bộ phận binh khí thuộc Lớp chuyển binh chủng Đại đoàn Pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 1956, Tham mưu trưởng Đại đoàn Pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1957, tham mưu trưởng Sư đoàn 465 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1958, Trưởng Phòng Huấn luyện cao xạ Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Trước yêu cầu mới của Cách mạng miền Nam, tháng 6 năm 1961 ông về Cục Cán bộ vào Nam chiến đấu ; 1962, phụ trách Pháo binh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam ; 1966, ông giữ chức vụ Chính ủy Phòng pháo binh Bộ Tư lệnh miền cho đến cuối năm 1967 là Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh (Đoàn 69) ; 10.1968, Chính ủy Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam.

Sau khi miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, ông giữ chức vụ Phó Chính ủy Quân khu 7 cho đến khi nghỉ hưu ngày 13 tháng 12 năm 1978. Thiếu tướng Đào Sơn Tây mất ngày 16 tháng 6 năm 1998 tại thành phố Hồ Chí Minh.






Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Đình Cửu, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 7
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tư, 2009, 12:57:59 am
(http://img253.imageshack.us/img253/4989/thieutuongtrandinhcuu.jpg)

Thiếu tướng Trần Đình Cửu (bí danh : Nguyễn Xuân Trường, Trần Văn Hiệu ; 17.12.1925-23.12.2002) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 7, Cục trưởng Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị, Chính ủy Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự).

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1.1980).


Thiếu tướng Trần Đình Cửu nguyên quê tại xã Vị Dương, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định nhưng ông lại lớn lên tại thành phố cảng Hải Phòng-một thành phố của công nhân lao động có truyền thống Cách mạng.

Năm 1939, ông vào học năm nhất Trường Bonnal (nay là Trường Ngô Quyền) lớp Cao đẳng tiểu học. Đây là một ngôi trường nổi tiếng của Hải Phòng, nơi học tập của nhiều nhà Cách mạng cũng như lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội sau này. Trước năm 1930, đã có nhiều nhà cách mạng hoạt động trong học sinh Bonnal, đó là Tổ ‘’Học sinh Đoàn’’ do ông Nguyễn Văn Linh phụ trách.

Những năm 1936-1939, Đảng chủ trương thành lập những hội, đoàn để tập hợp và giáo dục quần chúng như Hội Ái hữu, Hội Tương tế, Hội Hướng đạo…Lúc này ở Hải Phòng có hai tổ chức Hướng đạo : đạo Yên Tử gồm các thanh niên, học sinh nhà giàu và đạo Cửa Cấm gồm thanh niên, học sinh nhà nghèo. Ông tham gia vào đạo Cửa Cấm trong đoàn Quang Trung. Trong tổ chức hướng đạo, ông được ông Lưu Thi (Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện), Vũ Quý…chỉ bảo, hướng dẫn và định hướng tới con đường Cách mạng giải phóng dân tộc.

Theo gợi ý của ông Lưu Thi, ông cùng bạn bè thành lập tổ ba người, bước đầu làm công tác liên lạc rồi sau đó tham gia phổ biến các bài hát yêu nước trong học sinh, thanh niên, truyền bá chữ quốc ngữ cho công nhân, thợ thuyền nghèo ở Trường Hạ Lý dưới danh nghĩa Hướng đạo sinh cũng như làm việc thiện…Cũng dưới sự dìu dắt của ông Lưu Thi, ông dần tiếp xúc với sách báo tiến bộ và đặc biệt là sách báo về cách mạng về Xã hội Chủ nghĩa.

Tháng 11 năm 1944, ông tham gia Thanh niên cứu quốc của Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Yên. Cách mạng tháng 8 thành công, là người có học thức ông được đoàn thể và tổ chức cử đi học Trường Quân chính khóa 5.

Thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại gây hấn ở Nam Bộ, tháng 11 năm 1945 ông lên đường Nam tiến vào chiến đấu tại Mặt trận Biên Hòa Đồng Nai ; 11.1946, làm Huấn luyện viên Trường Quân chính Chi đội 10 Khu 7, Khu 8 ; 4.1948, Chính trị viên Bộ đội chủ lực Khu 7 ; 4.1949, Chính trị viên Tiểu đoàn 303 Bộ đội chủ lực Khu 7 ; 5.1951, Chính trị viên Tiểu đoàn 304 Trung đoàn Đồng Nai chủ lực của Nam Bộ ; 1.1952, Chính trị viên Tiểu đoàn 307 chủ lực Nam Bộ ; Khi thành lập Phân liên khu miền Tây Nam Bộ, tháng 12.1952 ông chuyển về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 410 tiểu đoàn tập trung của tỉnh Cần Thơ ; 10.1954, Phó Chính ủy Trung đoàn 2 Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ. 

Sau khi tập kết ra Bắc, tháng 4 năm 1955 ông là Trưởng Ban tuyên huấn Phòng Chính trị Phân liên khu miền Tây Nam Bộ ; 6.1955, ông giữ quyền Chính ủy Trung đoàn pháo Sư đoàn 332 Quân khu Đông Bắc ; 5.1956, Chính ủy Trung đoàn cần vụ đối không (Trung đoàn 4 đơn vị tiền thân bộ đội Ra-đa) Đại đoàn 367 ; 5.1957, Trưởng Phòng Cán bộ Tổng cục Cán bộ Bộ Quốc phòng ; 3.1961, được cử đi học Trung cao Chính trị ; 3.1962, Trưởng Phòng Binh chủng Hậu cần, Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng ; 7.1962, Cục phó Cục Cán bộ Tổng Cục Chính trị. Bước vào cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ tháng 12 năm1963 đến 1975 ông nhiều lần là Phái viên của Bộ vào Chiến trường miền Nam.

Sau khi đất nước hoàn tòan thống nhất, tháng 10 năm 1976 ông là Chính ủy Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự kiêm Bí thư Đảng ủy trường ; 6.1977, được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị ; 9.1979, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1980, vào giữ chức vụ Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7, 10.1983, khi quân đội thực hiện hệ hội đồng chính trị, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7 ; năm 1985 ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7 đến khi nghỉ hưu 1.7.1988. Thiếu tướng Trần Đình Cửu mất ngày 23.11.2002 tại thành phố Hồ Chí Minh.






Tiêu đề: Trung tướng Vũ Xuân Vinh, nguyên Cục trưởng Cục liên lạc đối ngoại
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tư, 2009, 06:16:02 am
(http://img21.imageshack.us/img21/1669/trungtuongvuxuanvinh.jpg)

Trung tướng Vũ Xuân Vinh (bí danh : Võ Xuân Vinh, 09.02.1923) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục liên lạc đối ngoại Bộ Quốc phòng, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp thanh niên, Huy chương Vì sự nghiệp Lao động Thương binh Xã hội, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương vàng học tập tại Học viên Pháo binh Tên lửa Lê-nin-grát (Liên Xô).

Thiếu tướng (12.1984), Trung tướng (6.1992).


Trung tướng Vũ Xuân Vinh quê tại xã Trực Chính, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Trước Cách mạng tháng 8, ông theo học tại Hà Nội. Năm 1944, tốt nghiệp Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An). Tháng 5 năm 1945, ông tham gia vào hoạt động của sinh viên và thanh niên cứu quốc, bị phát xít Nhật bắt giam từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945. Sau khi thoát khỏi nhà tù phát xít, ông trở về địa phương tham gia giành chính quyền, là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Trực Chính, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Tháng 3 năm 1946, ông được cử đi học tại Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1 ; 12.1946, trung đội phó rồi trung đội trưởng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 147 Vệ binh Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng ; 9.1947, đại đội trưởng Đại đội 2 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 147 chủ lực của Bộ Quốc phòng ; 6.1948, Trưởng ban Tác huấn Trung đoàn 140 ; 10.1948, Phó Ban Tác chiến Mặt trận Trung Du ; 6.1949, Phó Ban Tác chiến Mặt trận Bắc Kạn ; 8.1949, Phó Ban Tác huấn Đại đoàn 308 ; 2.1950, Tham mưu trưởng Trung đoàn 36 Đại đòan 308 ; 2.1951, đi dự Đại hội Thanh niên Sinh viên Quốc tế rồi là phái viên Tổng cục Chính trị ; 3.1952, Tham mưu phó Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 ; 6.1953, Tham mưu trưởng Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 ; 6.1954, thư ký đoàn Hội nghị Trung Giã đấu tranh với thực dân Pháp thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam ; 10.1954, đi học Trường Sĩ quan Pháo binh, sau đó là Tham mưu trưởng Trung đoàn Pháo binh Đại đoàn Pháo binh 349 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 6 năm 1955, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng ban Tác huấn Đại đoàn Pháo binh 349 ; 6.1958, theo học ngoại ngữ tại Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng ; 1959, được cử đi học tại Học viện Pháo binh Tên lửa Lê-nin-grát của Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 10 năm 1964 ông là Tham mưu trưởng Lữ đoàn 368 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1966, Tham mưu phó phụ trách về Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1967, Tha mưu phó Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa (Sư đoàn 369) Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1968, Phó Tư lệnh Sư đòan Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1974, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 375 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1976, ông về giữ chức vụ Trưởng khoa Phòng không tại Học viện Quân sự cấp cao ; 1.1980, Cục trưởng Cục Liên lạc Đối ngoại Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu tháng 9 năm 1996 ; Mặc dù nghỉ hưu, từ tháng 1 năm 1997 ông tiếp tục tham gia hoạt động của Hội Cựu Chiến binh Việt Nam với chức vụ Ủy viên Thường vụ Trung ương Hội.






Tiêu đề: Trung tướng Trần Linh, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Bộ đội Biên phòng
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tư, 2009, 06:40:13 am
(http://img21.imageshack.us/img21/225/trungtuongtranlinh.jpg)

Trung tướng Trần Linh (tên thật : Trần Như Linh, 1929) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Chính trị Bộ đội Biên phòng.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công ( 1 hạng Nhì, 2 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Ít-xa-la (Nhân dân) hạng Nhất của Nhà nước Lào, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985), Trung tướng (12.1992).


Trung tướng Trần Linh nguyên quê tại xã Cự Khôi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Lớn lên tại thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Tháng 7 năm 1945, ông tham gia Đội Thiếu niên Tiền phong cứu quốc, làm liên lạc cho Việt Minh hoạt động tại thị trấn Ninh Giang. Tham gia giành chính quyền tại thị trấn trong Cách mạng tháng 8.

Tháng 4 năm 1946, ông nhập ngũ vào Đội tuyên truyền vũ trang ở Tiểu đoàn Quảng Yên ; 8.1946, học lớp đào tạo Chính trị viên Trung đội của Khu 3, sau khi tốt nghiệp ông là Chính trị viên Trung đội đóng quân ở Đồ Sơn, tham gia chiến đấu ở mặt trận Hải Phòng Đồ Sơn Kiến An ; 3.1947, Chính trị viên Trung đội Tiểu đoàn 160 (Phủ Thông) chủ lực cơ động của Bộ Quốc phòng (sau chuyển thành Tiểu đoàn 11) ; 9.1949, Chính trị viên đại đội thuộc Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 141 Đại đoạn 308, sau Trung đòan này chuyển về Đại đoàn 312 ; 1.1951, Trưởng tiểu ban Tuyên huấn Trung đoàn 141-Ba vì Anh dũng ; 1.1952, Chính trị viên phó (1952-1953), Chính trị viên Tiểu đoàn 11 kiêm Bí thư Tiểu đoàn ủy ; 6.1954, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 209 – Sông Lô anh hùng – Đại đoàn 312 rồi đi học Trường Quân chính Bắc Sơn, Trưởng Ban Tuyên huấn Đại đoàn 312.

Tháng 10 năm 1955, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 325 Quân khu 4 ; 1958, đi học Trung cao Chính trị tại Trường Chính trị Trung cao ; 8.1959, Phó Chủ nhiệm Phòng Chính trị, trực tiếp phụ trách Chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng công tác Chính trị Trương Trung cao Chính trị ; 1962, đi học tại Học viện Quân chính Lê-nin (Liên Xô).

Sau khi về nước, năm 1965 ông làm công tác biên soạn giáo khoa công tác Đảng, công tác Chính trị đại đội tại Tổng Cục Chính trị ; 3.1966, Cục phó Cục Chính trị kiêm Trưởng Phòng Tổ chức Học viện Chính trị ; 8.1966, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Phòng không Quân khu 4 kiêm Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Phòng không Quân khu ; 12.1968, Chính ủy Bộ Tư lệnh Phòng không nam Khu 4, Chính ủy Sư đoàn Phòng không 375 ; 4.1969, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4 ; 6.1970, Phó Chủ nhiệm Chính trị Học viện Chính trị, Đảng ủy viên nhà trường .

Năm 1978, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Binh đoàn 687 Quân tình nguyện và chuyên gia Quân sự tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ; 7.1981, Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng Bộ Quốc phòng ; 10.1985, Phó Tư lệnh về Chính trị Bộ đội Biên phòng Bộ Quốc phòng (từ tháng 6 năm 1986 chuyển về Bộ Nội vụ) cho đến khi nghỉ hưu tháng 5 năm 1998.






Tiêu đề: Trung tướng Phan Thu, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tư, 2009, 07:03:23 am
(http://img245.imageshack.us/img245/664/trungtuongphanthu.jpg)

Trung tướng Phó Giáo sư Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Phan Thu (tên thật : Phan Hữu Thu, 16.06.1931) từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự, Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba) Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Khi tuyên dương Anh hùng ông là Đại úy, Kỹ sư vô tuyến điện thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (12.1985), Trung tướng (8.1990).


Trung tướng Phan Thu quê tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Tháng 1 năm 1947, ông là Đoàn viên thanh niên cứu quốc, phụ trách công tác thiếu nhi và tham gia dạy bình dân học vụ ; 1.1948, là hoc sinh và làm công tác vận đông học sinh ở Trường Nguyễn Huệ (tỉnh Hà Đông) ; 1.1949, đi học và công tác vận động học sinh Trường Ngô Sĩ Liên (tỉnh Bắc Giang) ; 1.1950, tham gia Đại hội Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất (tháng 2 năm 1950), là cán bộ Trung ương Đoàn Thanh niên Việt Nam (Ban vận đông sinh Trung ương) ; 5.1950, nhập ngũ và theo học Trường Lục quân khóa 6 chuyên ngành Pháo binh ; 6.1951, Trung đội trưởng, cán bộ khung và là giáo viên Trường Lục quân khóa 7 và 8 ; 5.1954, được cử đi học lớp Ra-đa, pháo cao xạ 88mm ở Đông Bắc Trung Quốc.

Tháng 3 năm 1955, ông là Tổ trưởng giáo viên lớp chuyển Binh chủng Ra-đa thuộc Đại đoàn Phòng không 367 ; 9.1955, Trợ lý Ra-đa Phòng Tham mưu Đại đoàn Phòng không 367 ; 11.1958, Trợ lý Ra-đa Phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh Phòng không ; 22.10.1963, Trợ lý Ra-đa Phòng Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1967, Đội trưởng đội nhiễu Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1968, Phó Phòng nghiên cứu Khoa học Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1969, Phó Phòng Quân báo Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1970, Phó Phòng Quân báo kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu dodàn nhiễu Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1970, Phó Phòng nghiên cứu Khoa học Quân sự Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân, 3.1972, Trưởng Phòng nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1975, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1977, ông là Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không kiêm Bí thư Đảng ủy Cục Kỹ thuật ; 5.1979, Viện phó Viện Kỹ thuật Quân sự Tổng cục Kỹ thuật ; 8.1981, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự ; 12.1987, đồng Chủ tịch Ủy ban phối hợp Trung tâm nhiệt đới Việt Xô, Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Trung tâm nhiệt đới ; 6.1988, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng ; 4.1989, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế Bộ Quốc phòng ; 7.1993, Giám đốc Công ty Kinh tế Kỹ thuật GAET ; 11.1993, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế.

Trung tướng Phan Thu là Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 6, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 7 và là Đại biểu Quốc hội khóa 8 và 9. Ông nghỉ hưu ngày 5 tháng 1 năm 1997.






Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Đăng Ty, nguyên Tổng cục phó Tổng cục HKDD
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tư, 2009, 07:23:39 am
(http://img58.imageshack.us/img58/5971/thieutuongphamdangty.jpg)

Thiếu tướng Phạm Đăng Ty (bí danh : Hà, Hồng Bắc ; 23.07.1926) từng giữ các chức vụ : Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương Vì sự nghiệp Giải phóng Thủ đô, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp Hàng không Việt Nam.

Thiếu tướng (12.1984).


Thiếu tướng Phạm Đăng Ty quê tại xã Dỵ Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Năm 1944, ông tham gia Thanh niên cứu quốc tại quê nhà ; 1945, ông theo học lớp Quân chính đầu tiên tại Hà Nội rồi trở về làm Chính trị viên Huyện đội Kim Động ; 1946, tham gia chiến đấu đánh địch ở Hải Phòng rồi về Trung đoàn 34 (Khu 3) bảo vệ thành phố Nam Định ; 1948, Chính trị viên Đại đội Độc lập (Đại đội 100) Trung đoàn 34 (nay là Trung đoàn Tất Thắng), hoạt đồng vùng địch hậu (tỉnh Hà Nam), huyện ủy viên huyện Lý Nhân (tỉnh Hà Nam) ; 7.1948, Chính trị viên Đại đội 245 Tiểu đoàn 11 (Phủ Thông, Thái Nguyên) Đại đoàn 308 chủ lực Bộ ; 1950, được cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc, phụ trách công tác Tổ chức Trung đoàn 141 (Ba Vì anh dũng), Phó Ban Tổ chức Đại đoàn 312, Chính trị viên Tiểu đoàn 232 Đại đoàn 312 ; 1953, Chính trị viên Tiểu đoàn pháo cao xạ 394 Trung đoàn pháo cao xạ 367.

Tháng 10 năm 1955, ông là Phó Chính ủy Trung đoàn pháo cao xạ 685 (Trung đoàn pháo cao xạ 250) Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 3.1957, Chính ủy Trung đoàn pháo cao xạ 689 (Trung đoàn pháo cao xạ 240) Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 8.1957, Trưởng phòng Cán bộ Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 3.1958, Trưởng Phòng Cán bộ Bộ Tư lệnh Phòng không ; 9.1959, Chính ủy Trung đoàn Ra-đa 290 Bộ Tư lệnh Phòng không ; 10.1960, đi học tại Trường Chính trị Trung cao khóa 4 ; 3.1962, Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Phòng không ; 10.1963, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân.

Năm 1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chính ủy Trung đoàn Tên lửa 236 Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Quân chủng, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361-Cận vệ Đỏ), Bí thư Đảng ủy Sư đoàn ; 3.1967, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Tên lửa, Đảng uy rviên Bộ Tư lệnh Tên lửa ; 3.1968, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Quân chủng ; 8.1971, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 2 năm1976, ông chuyển sang giữ chức vụ Tổng Cục phó Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam ; 1980, đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc ; 6.1981, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự Bộ Quốc phòng ; 8.1987, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam cho đến khi về hưu năm 1991.






Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Hiếu Tâm, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Thủ đô
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tư, 2009, 07:43:05 am
(http://img58.imageshack.us/img58/4258/thieutuongtranhieutam.jpg)

Thiếu tướng Trần Hiếu Tâm (tên thật : Trần Văn Luân, bí danh : Thanh Tâm ; 1925) từng giữ chức vụ : Phó Tư lệnh về trang bị kỹ thuật kiêm Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu Thủ đô, Cục trưởng Cục quy hoạch và quản lý xây dựng cơ bản Bộ Quốc phòng, Tham mưu phó Tổng cục Hậu cần.

Huân chương Độc Lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba) Huy chưong Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1984).


Thiếu tướng Trần Hiếu Tâm quê tại Làng Vọc, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Trước Cách mạng ông theo học tại Hà Nội. Tháng 10 năm 1942, ông là Ủy viên Ban chấp hành Thanh niên cứu quốc Trường Kỹ nghệ Hà Nội rồi vào tự vệ chiến đấu ; 3.1945, là cán bộ Việt Minh huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang ; 6.1945, tham gia quân Giải phóng và theo học Trường Quân chính kháng Nhật tại Tân Trào, Việt Bắc.

Từ tháng 8 năm 1945, ông lần lượt giữ các chức vụ : Chính trị viên trung đội, đại đội, tiểu đoàn (Tiểu đoàn Hùng Vương), Chi đội giải phóng quân Trần Quốc Toàn (tức Trung đoàn 115 Phú Yên), Ủy viên Quân sự trong Ủy ban Hành chính kháng chiến tỉnh Phú Thọ ; 4.1947, chính trị viên Tiểu đoàn độc lập Hà Giang, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang, Ủy viên Quân sự Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Hà Giang ; 6.1949, Chính trị viên Tiểu đoàn 542 Trung đoàn Lao Hà ; 10.1949, đi học bổ túc quân sự Trung cao cấp khóa Tổng phán công ; 3.1950, Chính trị viên Ban nghiên cứu Không quân Bộ Tổng tham mưu ; 7.1951, Trưởng phòng Chính trị Cục Quân báo Bộ Tổng Tham mưu ; 6.1954, Trưởng Phòng Điệp báo Cục Quân báo.

Tháng 11 năm 1955, ông đi học văn hóa và ngoại ngữ tại Kiến An ; 8.1956, đi học tại Học viện Quân sự Nam Kinh, Trung Quốc ; 10.1960, Cục phó Cục Trang bị vật tư Bộ Tổng Tham mưu ; 12.1963, Cục trưởng Cục Vật tư nhiên liệu Tổng cục Hậu cần.

Tháng 9 năm 1964, ông giữ chức vụ Tham mưu phó Bộ Tham mưu Tổng cục Hậu cần ; 3.1974, Cục trưởng Cục Quy hoạch và quản lý xây dựng cơ bản Bộ Quốc phòng.

Tháng 7 năm 1979, ông đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc ; 8.1980, Phó Tư lệnh về trang bị kỹ thuật kiêm Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu Thủ Đô cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1987.






Tiêu đề: Thiếu tướng Cao Văn Chấn, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tư, 2009, 08:01:21 am
(http://img135.imageshack.us/img135/563/thieutuongcaovanchan.jpg)

Thiếu tướng Cao Văn Chấn (08.03.1929) từng giữ chức vụ : Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chưuơng Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Cao Văn Chấn quê tại xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Tháng 1 năm 1947, ông tham gia Đoàn thanh niên rồi vào dân quân du kích tại địa phương ; 10.1947, nhập ngũ là chiến sĩ Đại đội 50, văn thư ban quân sự, phụ trách văn phòng Liên chi tỉnh đội Hải Dương ; 8.1949, học đào tạo chính trị viên đại đội Khu 3 (Trường Quân chính Lê Lợi) ; 1.1950, phái viên, Trợ lý Văn phòng Cục Chính trị (Tổng cục Chính trị) ; 10.1950, Phó Tiểu ban Tổ chức Trung đoàn 675, Chính trị viên Liên đội 755, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 355, Chính trị viên Đại đội 756. Trưởng tiểu ban Tuyên huấn Trung đoàn 675 ; 4.1954, Phó tiểu ban, Trưởng tiểu ban tổ chức Trung đoàn Pháo binh 675 ; 8.1954, Trưởng tiểu ban tổ chức Trung đoàn 84, Phó Ban Tổ chức Sư đoàn 675, Trợ lý tổ chức cán bộ Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 6 năm 1956, ông là Phái viên Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị, Trợ lý Tổng cục Cán bộ Bộ Quốc phòng ; 1.1959, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 82 ; 8.1959, đi học bổ túc tại Trường trung cao chính trị ; 10.1960, Phó Chủ nhiệm Lữ đoàn Pháo binh 374 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 6.1961, Chính ủy Trung đoàn 82 (sau lấy lại tên cũ Trung đoàn 675) Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Năm 1964, ông là Chính ủy Trung đoàn 675 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 6.1966, Chính ủy Trung đoàn Tên lửa Phòng không 263 thuộc Quân chủng Phòng không Không quân. Bộ Tư lệnh Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân (tháng 3 năm 1967) ; 3.1968, Chính ủy Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1968, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Phòng không 377 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 10.1970, Phó Chính ủy Sư đoàn Phòng không 367, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Sư đoàn ; 8.1971, Chính ủy Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn, Đảng ủy viên Quân chủng.

Tháng 8 năm 1976, ông được cử giữ chức vụ Chính ủy Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân, Bí thư Đảng ủy Sư dodàn, Đảng ủy viên Quân chủng ; 8.1979, đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 12.1979, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô kiêm Tổng Biên tập báo Chiến sĩ Thủ đô (năm 1987), Đảng ủy viên Quân khu ; 10.1987, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô, Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu cho đến khi nghỉ hưu ngày 1 tháng 7 năm 1995.






Tiêu đề: Thiếu tướng Phan Thái, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tư, 2009, 01:54:56 am
(http://img8.imageshack.us/img8/2326/thieutuongphanthai.jpg)

Thiếu tướng Phan Thái (tên thật : Phan Hữu Thái, bí danh : Trần Hồng ; 15.12.1928) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1984).


Thiếu tướng Phan Thái nguyên quán tại xã Phù Chính, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Tháng 3 năm 1945, ông hoạt động Việt Minh rồi tham gia nghĩa quân Chiến khu Đông Triều (Đệ tứ chiến khu). Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở thị xã Quảng Yên rồi làm cán bộ tuyên truyền tỉnh Quảng Yên (nay là huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh).

Tháng 2 năm 1946, ông nhập ngũ và được cử đi học tại Trường sĩ quan Sơn Tây ; 1947, ông được cử giữ chức vụ đại đội trưởng Đại đội Ký Con, Đại đội quyết tử của Hải Phòng, trực thuộc Trung đoàn 66 rồi Trung đoàn 42 ; 1949, Tổng đội trưởng Trường Trung sơ cấp Bộ Quốc phòng ; 1951, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đòan 265 Trung đoàn 57 Sư đoàn 304 ; 5.1953, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn cao xạ 396 Trung đoàn pháo cao xạ 367 ; 11.1954, trung đoàn phó rồi trưởng ban tác huấn Trung đoàn pháo cao xạ 367.

Năm 1955, ông được cử đi học tại Học viện Phòng không Bắc Kinh, Trung Quốc ; 1956, quyền trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 4.1958, trưởng ban cần vụ đối không Bộ Tư lệnh Phòng không.

Tháng 2 năm 1964, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ trưởng phòng trinh sát trên không Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1967, Hiệu trưởng Trường Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1970, cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1975, tham mưu phó Bộ Tham mưu Tổng cục Kỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam ; 11.1985, Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật cho đến khi về hưu năm 1990. Thiếu tướng Phan Thái hiện đang sống tại Hà Nội.






Tiêu đề: Thiếu tướng Văn Duy, nguyên Cục trưởng Cục tuyên truyền đặc biệt
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tư, 2009, 02:23:02 am
(http://img53.imageshack.us/img53/7735/thieutuongdangvanduy.jpg)

Thiếu tướng Đặng Văn Duy (tên thật : Đặng Văn Duy, bí danh : Hương Minh, 05.10.1928) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng cục tuyên truyền đặc biệt Tổng cục Chính trị, Phó ban cơ yếu Trung ương, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Đoàn kết Hữu nghĩ chiến đấu của Xô viết tối cao Liên Xô, Huân chương Đoàn kết Liên minh chiến đấu của Nhà nước Cu ba, 1 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 50 tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Văn Duy quê tại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là quê hương của đại thi hào Nguyễn Du. Tháng 10 năm 1944, ông bắt đầu hoạt động trong Đoàn thanh niên cứu quốc (Mặt trận Việt Minh) rồi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội (8.1945). Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông được điều về công tác ở Ban dân vận Mặt trận Trung ương do ông Hoàng Quốc Việt phụ trách.

Tháng 2 năm 1947, khi đang là cán bộ tự vệ ngoại thành Hà Nội ông đi học Hoa ngữ. Tháng 10 năm 1947, ông là đoàn trưởng kiêm chính trị viên Đoàn công tác đặc biệt, trong đó có Đội vũ trang tuyên truyền vùng Đông Bắc, với nhiệm vụ chính là mở đường bí mật của Trung ương Đảng liên lạc với đại diện Quốc tế cộng sản ở Hương Cảng, Trung Quốc kiêm Giám đốc Trường Lý luận Hoa vận ; 1950, được cử đi học ở Trường Mác Lê-nin ở Trung Quốc ; 1951, phiên dịch Trung văn và phái viên Tổng cục Chính trị ; 1952, ông là bí thư cho ông Nguyễn Chí Thanh Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, và là chiến sĩ thi đua đi dự Hội nghị Chiến sĩ Thi đua toàn quân lần thứ nhất tại Việt Bắc được chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp gắn huy hiệu của Người ; 10.1953, bí thư cho Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Tháng 9 năm 1955, ông tiếp tục là bí thư cho Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh ; 9.1958, đi học tại Trường trung cao Quân đội ; 5.1959, về công tác tại Cục Bảo vệ ; 10.1960, Trưởng phòng nghiên cứu Cục Bảo vệ ; 8.1961, đi học tại Trường Cao đẳng An ninh Liên Xô ; 9.1962, Trưởng phòng bảo vệ Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1966, ông được bổ nhiệm chức vụ Chính ủy Trung đoàn Tên lửa 274 Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1967, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1968, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1974, Chính ủy Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; Năm 1975, ông được biệt phái sang làm Phó Ban cơ yếu Trung ương.

Tháng 12 năm 1978, ông quay trở về làm Cục trưởng Cục tuyên truyền đặc biệt Tổng cục Chính trị cho đến tháng 10 năm 1989 chuyển sang chờ nghỉ hưu, tham gia Ban chấp hành Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam.

‘’Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1944, vào bộ đội năm 1947, Văn Duy được giao nhiều chức vụ quan trọng: Chính ủy trung đoàn tên lửa H74, Phó chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Tên lửa, Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Không quân, Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân, Phó ban cơ yếu Trung ương, Cục trưởng Cục Tuyên truyền đặc biệt (Tổng cục Chính trị)… Nhiệm vụ nào Văn Duy cũng hoàn thành xuất sắc và hầu hết những đơn vị ông tham gia lãnh đạo, chỉ huy đều được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Không chỉ là người cán bộ tài năng, Văn Duy còn có một hồn thơ chiến sĩ. Sống, chiến đấu, làm việc, đồng cam cộng khổ cùng những người lính trên suốt chặng đường chinh chiến, Văn Duy đã viết nhiều bài thơ khắc họa hình ảnh những người lính ở các đơn vị mà ông đã kinh qua. Đến nay, có thể nói, ông đã có đủ “bộ sưu tập” thơ về bộ đội ở nhiều quân-binh chủng.

Với bộ đội tên lửa, nơi ông có nhiều gắn bó, trong bài thơ “Đẹp mãi vùng trời”, Văn Duy viết: … Chốt giữ trong, cơ động đường dài/ Bánh xe lăn, cánh sóng vươn xa tìm địch/ Đạn đạo vạch nhiễu thù, lao tới đích/ Sáng mãi trong ta, Đẹp mãi vùng trời… Bài thơ này đã được đài Tiếng nói Việt Nam phổ nhạc, trở thành một trong những bài hát hay về bộ đội tên lửa.

Với bộ đội không quân, Văn Duy đã khắc họa hình ảnh đẹp về chiến thắng trận đầu: Bay cao, bay xa, thần tốc/ Chiến công, nối tiếp chiến công; Ta bồi hồi nhớ lại/ Những biên đội không quân/ Vút cao hình đất nước/ Cất cánh bay, theo tay/ Bác vẫy, trên đầu…

Không trực tiếp công tác ở Quân chủng Hải quân, nhưng tướng Văn Duy vẫn rung động, đồng cảm với những người lính biển. Ông mơ ước được làm “cánh chim báo tin vui” cho họ: Ước được làm chim ra đảo xa/ Nghe sóng gió nói lời của biển/ Ta thương ta, tình người lính chiến…

Nhớ về những ngày cùng đồng đội tham gia đoàn công tác đặc biệt mở đường liên lạc với quốc tế theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phá thế bao vây của địch, Văn Duy viết những vần thơ tái hiện về hình ảnh những người lính một thời gian khổ, hào hùng không thể nào quên: Hữu Lũng đêm mưa cọp gầm rung bóng núi/ Đồi cỏ gianh trăn cuốn vút tên bay/ Bìm bịp kêu hoài nghe não ruột…; Mở đường ra biển xa/ Mở đường cho ta gặp bạn/ Trong bão bùng lửa đạn/ Cửa Ngăn dựng lán, nhường hầm/ Cho ta áo cơm/ Cho đồng đội ta tấm chăn vùi thân hồi ngã xuống…

Công việc của ngành cơ yếu âm thầm, tưởng chừng khó viết thành thơ, vậy mà Văn Duy vẫn viết nên Bài ca cơ yếu. Bài thơ này đã được nhạc sĩ An Thuyên phổ nhạc thành bài Hành khúc cơ yếu Việt Nam phát trên sóng đài Tiếng nói Việt Nam: Luật của chúng mình/ Lung linh nhịp điệu/ Mã của chúng mình/ Huyền diệu nét tinh khôi…

Vừa làm thơ, vừa viết văn, đến nay, Văn Duy đã có 5 tập thơ được xuất bản tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và Nhà xuất bản Thanh niên: Bến nhớ, Thấp thoáng thời gian, Tình bạn xuyên thế kỷ, Nhịp cầu, Ký ức thời gian. Ngoài ra, ông còn có 4 tập sách được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và Nhà xuất bản Lao động ấn hành: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; Bắn rơi tại chỗ máy bay B52; Sáng tối một vùng; Sáng mãi vùng trời; Kiến trúc sư Phạm Hoàng-một nhân cách lớn…’’ (QDND)






Tiêu đề: Thiếu tướng Ngô Huy Biên, nguyên Trưởng phòng Huấn luyện HVQS cấp cao
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tư, 2009, 02:44:30 am
(http://img53.imageshack.us/img53/9083/thieutuongngohuybien.jpg)

Thiếu tướng Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Quân sự Ngô Huy Biên (bí danh : Huy Hoàng, 20.08.1927) từng giữ các chức vụ : Trưởng phòng Huấn luyện Học viện Quân sư cấp cao.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ và Môi trường, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (6.1988).


Thiếu tướng Ngô Huy Biên quê tại xã Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Tháng 3 năm 1945, ông tham gia Đội tuyên truyền xung phong thành phố Hà Nội. Tháng 5 năm 1945, chuyển về Đội vũ trang tuyên truyền Việt Minh, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hưng Yên thuộc Đệ tứ Chiến khu Đông Triều. Ngày 17 tháng 8  năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở huyện Cầm Giàng, là Chính trị viên Đại đội Đề Thám. Tháng 11 năm 1945, ông được điều về làm trung đội trưởng rồi đại đội phó (11.1947) Đại đội Ký con.

Tháng 12 năm 1949, ông là đại đội trưởng Mặt trận Hà Nội ; 10.1950, đại đội trưởng Đại đội 737 Tiểu đoàn 884 Trung đoàn 48 ; 12.1951, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 337 Trung đoàn 52 Đại đoàn 320 ; 12.1952, đi học chỉnh huấn khóa 7 Bộ Quốc phòng ; 3.1953, được cử đi học pháo cao xạ ở Trung Quốc ; 8.1953, tham mưu trưởng Tiểu dodàn 392 Trung đoàn pháo cao xạ 367 Đại đoàn pháo binh 351 ; 11.1953, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 396 Trung đoàn pháo cao xạ 367 Đại đào pháo binh 351 ; 8.1954, Phó ban tác huấn Đại đoàn pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh pháo binh.

Tháng 2 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ tham mưu phó, tham mưu trưởng, trung đoàn phó Trung đoàn pháo cao xạ 685 Đại đoàn cao xạ 367 Bộ Tư lệnh pháo binh ; 10.1955, đi học Trường Văn hóa Bộ Tổng Tư lệnh ; 1.1957, được cử đi học cao xạ tại Trung Quốc ; 4.1958, trưởng Ban cao xạ Trường sĩ quan Pháo binh ; 6.1961, là phó phòng rồi trưởng phòng huấn luyện Trường Sĩ quan Pháo binh ; 8.1964, trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo cao xạ 218 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 5 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ trưởng Phòng Tác chiến Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1968, tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1969, tham mưu phó tác chiến Bộ Tư lệnh 559 ; 7.1970, tham mưu trưởng cao xạ Bộ Tư lệnh 559 ; 7.1971, Tư lệnh Sư đoàn 472 Bộ Tư lệnh 559 ; 8.1973, Trưởng đoàn nghiên cứu viết tổng kết chiến tranh (Tiểu đoàn 100) Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1975, đại diện Quân chủng Phòng không Không quân tại Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tháng 2 năm 1977, ông về làm giáo viên tại Học viện Quân sự cấp cao ; 9.1983, Phó Chủ nhiệm Khoa Chiến dịch Học viện Quân sự cấp cao : 5.1985, làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1988, trưởng Phòng huấn luyện Học viện Quân sự cấp cao, được phong học hàm Phó Giáo sư năm 1991 và là thư ký chuyên ngành Quốc phòng và An ninh thuộc Hội đồng xét duyệt học vị và chức danh khoa học Nhà nứoc (từ năm 1992 đến năm 1997). Thiếu tướng Ngô Huy Biên nghỉ hư tháng 10 năm 1995 và hiện sống tại Hà Nội.






Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Cục phó Cục Tác chiến
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tư, 2009, 02:58:18 am
(http://img114.imageshack.us/img114/546/thieutuongnguyenvanninh.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh (bí danh : Hồng Vinh) từng giữ các chức vụ : Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.

Huân chương Quân công hạng Ba, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 1 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (6.1988).


Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh quê tại xã Đức Lâm, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông hoạt đông thanh niên cứu quốc xã và ở trường học, là Phân đoàn trưởng Trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng Khu 4.

Tháng 12 năm 1949, ông là Cán bộ tổ chức Ban thanh vận Trung ương ; 7.1950, nhập ngũ, là phái viên kiểm tra Ban Cung cấp chiến dịch Biên giới (Cao Bằng, Lạng Sơn), chiến dịch Trung Du (Vĩnh Yên), chiến dịch đường số 18 Hoàng Hoa Thám (phái viên Chính trị Ban Quân y tiền phương chiến dịch) ; 6.1951, Cán bộ tổ chức Đảng vụ Phòng Chính trị Cục Quân y, Bí thư chi bộ ; Đầu 1952, chính trị viên Tổng trạm vận chuyển thương binh mặt trận Hòa Bình, phái viên Cục Quân y vào Liên khu 3 và 4 giúp các bệnh viện, các đội điều trị và xưởng dược học chỉnh huấn chính trị ; 1954, là cán bộ tổ chức Đảng vụ Phòng Chính trị Cục Quân y.

Tháng 5 năm 1955, ông là Trợ lý chính trị Đội điều trị 7 Viện Quân y 4 Phòng Hậu cần Quân khu 4 ; 8.1958, Trợ lý Tổ chức Phòng sản xuất Cục Hậu cần Quân khu 4 ; 7.1959, học bổ túc văn hóa Trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn ; 9.1961, đi học tên lửa tại Hoc viện Phòng không Quốc gia Ka-li-nin của Liên Xô ; 8.1964, tiếp tục học pháo cao xạ 100mm, 14.5 mm tại Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 3 năm 1965, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64 Trung đoàn Tên lửa 236 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1967, Phó Phòng tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1967, Phó Phòng tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam theo dõi về bộ đội tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 7 năm 1976, ông là phó phòng quân binh chủng Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu cho đến tháng 5 năm 1978 là trưởng phòng ; 12.1979, ông được cử giữ chức vụ Cục phó, Phó Bí thư Đảng ủy Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu tháng 5 năm 1998.






Tiêu đề: Thiếu tướng Ngô Văn Ry, nguyên Phó Giám đốc Chính trị Học viện CT
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tư, 2009, 03:11:45 am
(http://img114.imageshack.us/img114/3315/thieutuongngovanry.jpg)

Thiếu tướng Ngô Văn Ry (tên thật : Ngô Khắc Thực, bí danh : Ngô Thế Bình ; 8.1.1931-9.2002) từng giữ các chức vụ : Phó Giám đốc Chính trị Học viện Chính trị Quân sự.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Nông dân Việt Nam, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1989).


Thiếu tướng Ngô Văn Ry quê tại xã Hồng Việt, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Năm 1947, ông tham gia tự vệ chiến đấu xã Hồng Việt ; 10.1948, chiến sĩ Đại đội Lê Lợi của tỉnh đội Thái Bình ; 2.1949, tiểu đội trưởng Đại đội Lê Lợi ; 6.1952, thư ký chính trị Đại đội 332 tỉnh đội Thái Bình ; 6.1954, chính trị viên phó rồi chính trị viên Đại đội thông tin thuộc Trung đoàn 50 Đại đoàn 332.

Tháng 1 năm 1955, ông là Chính trị viên Đại đội 104 Trung đoàn 50 Sư đoàn 332 ; 6.1955, đi học Trường Chính trị sơ cấp Quân khu Tả ngạn ; 11.1959, chính trị viên phó Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 50 Quân khu Tả Ngạn ; 11.1960, học viên lớp đào tạo chính trị trung cấp khóa 1 Học viện Chính trị ; 10.1963, trợ lý giáo dục Ban Chính trị, Phó chủ nhiệm chính trị, chủ nhiệm chính trị Trung đoàn Không quân 910 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1968, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Không quân 923 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1969, Phó Trưởng phòng Tuyên huấn Quân chủng Phòng không Không quân ; 7.1971, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quana ; 3.1974, Trưởng phòng Tuyên huấn Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1975, Phó Chính ủy Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 10 năm 1975, ông là Phó Chính ủy Sư đoàn Không quân 372 Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1976, Phó Chính ủy Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1976, Chính ủy Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1979, được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 9.1980, Hệ trưởng Hệ Lục quân Học viện Chính trị Quân sự ; 10.1987, Chủ nhiệm Chính trị Học viện Chính trị Quân sự ; 10.1988, Phó Giám đốc Chính trị Học viện Chính trị Quân sự cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1988.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2009, 02:37:15 pm
Đại tá Trần Công An, anh hùng đặc công.

Đại tá Trần Công An (tên thật là Trần Văn Kìa), sinh ngày 22-12-1920, từ trần lúc 8 giờ 5 phút ngày 7-9-2008. Ông là người khai sinh ra cách đánh bí mật, chớp nhoáng tiêu diệt địch, mà ngay trong trận đầu áp dụng (tiêu diệt tháp canh cầu Bà Kiên, Bình Dương ngày 19-3-1948) đã thành công vang dội. Đây cũng là cách đánh của lực lượng đặc công sau này (ra đời vào 19-3-1967), gây nhiều tổn thất cho địch. Ông được Chủ tịch nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ngày 23-10-1996
Vốn là một nông dân cày ruộng, nhà nghèo, căm thù bọn giặc Pháp chiếm đóng, khủng bố cướp tài sản của nhân dân, chúng đã bắn gẫy tay phải của mẹ anh, lòng căm thù lại bốc cao, nhất định phải tìm cách diệt địch để trả thù cho gia đình, bà con, thôn xóm. Anh tập luyện đêm ngày, nghiên cứu cách đánh thế nào mà quật ngã được bợn Tây to béo hơn mình. Sáng ngày 24 tháng 12 năm 1946, có tên giặc Pháp từ đồn Tân Ba xuống Thạnh Hội, anh tìm cách bí mật giả làm người chăn trâu xăng xái chỉ đường, rồi lặng lẽ áp sát, bất ngờ luồn ra phía sau tên Pháp dùng thế đã tập và sức mạnh của tuổi 26 cộng lòng dũng cảm, anh ôm giò tên Pháp quật ngã xuống đất, dùng hai sợi dây thừng trói thúc ké hai tay, trói cổ, lấy khẩu súng trường Ăng-lê với hai trăm viên đạn giao khu quân sự huyện Tân Uyên, vẫn biết rằng việc làm ấy rất mạo hiểm, vì cả gia đình anh nằm trong vùng tạm chiếm gần đồn Tân Ba, nhưng anh vẫn làm miễn giữ được yếu tố bí mật và lòng dân tin tưởng vào cách mạng là được. Khởi đầu việc dám đánh Tây và thắng Tây bằng tay không đánh địch, lấy súng địch, lúc đầu kháng chiến lấy được một khẩu súng là quý vô cùng.
Tháng 9 năm 1946, anh Trần Công An nhập Chi đội 10, sau khi được đi học khóa quân chính trở về, anh Huỳnh Văn Nghệ - Chi đội trưởng - cho chuyển anh Trần Công An sang xây dựng lực  lượng dân quân tự vệ huyện Tân Uyên, anh phát huy cách đánh mưu trí dũng cảm ấy vào các trận đánh tháp canh đầu tiên.
Đầu năm 1948, sau khi địch thua đau trên khắp các chiến trường của ba miền, chúng lồng lộn như con thú dữ. Chúng đổi chiến lược từ đánh nhanh thắng nhanh sang chiến lược đánh lâu dài, thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt giết người Việt" bình định vùng đã chiếm đóng và tìm cách lấn chiếm vùng tự do. Đối với miền Đông Nam bộ, chúng thực hiện chiến thuật Đờ La-tua, xây dựng hàng ngàn đồn bót, tháp canh trên các trục lộ, dọc theo đường 16 từ Tân Ba lên thị trấn Tân Uyên, đến Sở cao su Phước Hoà, dọc lộ 24 từ ấp Cây Đào đến Rạch Đông. Tháp canh còn mọc lên dày đặc ở quốc lộ 13, 14, quốc lộ l, 15 và tỉnh lộ 24. Chiến thuật Đờ La-tua của chúng nhằm mục đích: bảo vệ đường giao thông của chúng trên các lộ giao thông, cắt đứt giao thông liên lạc đường bộ của kháng chiến, đồng thời dùng hệ thống tháp canh như một phương tiện lấn chiếm, kiểm soát vùng du kích và căn cứ của ta.
Mỗi tháp canh chúng xây dựng rất kiên cố, tháp canh hình vuông, có cạnh từ 4 đến 5 mét xây bằng đá hoặc gạch, tường dày 0,5 đến 0,8 mét, cao từ 8 đến 10 mét, do một bán đội đóng giữ. Xung quanh tháp canh chúng bao bằng lũy đất dày có đất ken và lỗ châu mai, bên ngoài có hào lũy, chông mìn, kẽm gai, thả chó, ngỗng. Mỗi tháp canh cách nhau 1 km có thể báo hiệu chi viện cho nhau. Giữa từ 5 đến 7 tháp canh có một tháp canh mẹ tạo thành một hệ thống có thể chi viện, hỗ trợ lẫn nhau khi bộ đội ta tấn công. Tháp canh mẹ cao từ 10 đến 12 mét do một tiểu đội đóng giữ. Tháp canh nào chúng cũng bố trí hỏa lực mạnh, có máy truyền tin và các điều kiện hoạt động cần thiết. Hệ thống tháp canh của thực dân Pháp ở miền Đông gây cho kháng chiến bao khó khăn, nhất là về giao liên đường bộ. Tường tháp dày, chiến trường miền Đông Nam bộ bấy giờ lại chưa có vũ khí phá tường tháp từ xa. Bộ chỉ huy khu 7 xác định phá tháp canh, đánh bại chiến thuật Đờ La-tua là nhiệm vụ quan trọng của lực lượng vũ trang miền Đông. Nhiệm vụ này được triển khai trong toàn lực lượng vũ trang các tỉnh thuộc khu 7 trong đó có Tỉnh đội Biên Hoà.
Mặc dù vô cùng khó khăn, phức tạp như vậy, nhưng khi nhận lệnh của Ban chỉ huy Huyện đội Tân Uyên giao phải đánh thắng tháp canh cầu Bà Kiên để mở đầu cho các trận đánh tháp canh tiếp theo, đồng chí Trần Văn Kìa (tức Trần Công An) dựng tháp canh giả (từ suy nghĩ địch phòng thủ kỹ lưỡng, muốn đánh tháp canh phải làm sao bí mật vào sát tường tháp, có phải đánh giặc không phải dựng tháp canh giả, mà chọn một cây độc mộc trong căn cứ tạm làm tháp canh), làm hàng rào dây kẽm gai, ta cởi trần bôi trong người loại thuốc hóa trang tự chế, nhanh chóng bí mật bò qua rào, leo lên tháp canh, ném lựu đạn giả… Việc luyện tập rất công phu, người con anh hùng của chiến khu Đ anh hùng đã phấn khởi đảm nhận nhiệm vụ chỉ huy một tổ đánh bót cầu Bà Kiên trên lộ 16- ấp Mỹ Chánh- xã Phước Thành- huyện Tân Uyên (Biên Hòa).
Nhiệm vụ khó khăn này được giao cho tổ du kích do Trần Công An làm tổ trưởng.
Khó khăn lớn nhất lúc đó là ta chưa có một loại vũ khí nào phá nổi tường tháp canh kiên cố ấy. Muốn thắng được chúng, trước tiên chỉ dùng mưu trí và lòng dũng cảm kết hợp với các loại vũ khí cải tiến, dám đánh và đánh thắng địch để trả thù cho bà con thân yêu của mình là được. Muốn đánh thắng trận đầu tiên diệt tháp canh này, anh Trần Công An phải nghiên cứu rất công phu, dựa vào cơ sở mật tìm hiểu cách bố phòng, cấu trúc tháp canh, quy luật hoạt động và những sơ hở của địch. Trần Công An đã khổ luyện cho toàn tổ anh chọn một cây độc mộc trong căn cứ, giả làm tháp canh. Một du kích ngồi trên cây rọi đèn pin, bên dưới du kích dùng bùn non hóa trang bò vào, cho đến khi người trên cây rọi đèn không phát hiện được người bên dưới đã tiếp cận gốc cây mới thôi. Qua nhiều đêm theo dõi nghiên cứu thấy sơ hở của chúng là lúc hút thuốc, sau khi pha đèn xong hoặc đổi gác. Mỗi lần điều nghiên về, anh cùng tổ bàn bạc, trao đổi, rút kinh nghiệm và tiến hành thực tập lúc rọi đèn rà soát toàn bộ chung quanh tháp canh và cho tổ bò vô lô cốt giả xem cớ phát hiện được dấu vết gì không, ngụy trang có phù hợp với màu đất, cây cỏ ở đó không? Ngay cả việc nhắm mắt lại khi địch rọi đèn, nếu không kịp nhắm mắt nó phát hiện thì nguy. Quyết tâm của tổ là đánh trận đầu phải chắc chắn thắng.
Sau khi tập luyện khá nhuần nhuyễn, tổ xây dựng phương án thông qua Huyện đội dân quân Tân Uyên, có hai tiểu đội chi viện. Đêm 18 rạng sáng 19 tháng 3 năm 1948, Trần Công An đã chỉ huy một tổ gồm hai du kích huyện Tân Uyên là Trần Văn Nguyên và Hồ Văn Lung. Toàn tổ tiềm nhập vào trận địa, tổ chức hai người cảnh giới là du kích Nguyễn Văn Ai và cơ sở mật Trần Văn Hỏi. Nhờ ngụy trang tốt và giữ được yếu tố bất ngờ nên cả ba đồng chí đều mang thang vừa bò vào đến tận nơi. Theo sự phân công, Nguyên nhanh chóng leo thang lên tầng tháp trên cùng, Lung leo lên tầng giữa và Trần Công An ở tầng dưới vừa đánh vừa chỉ huy. Mỗi người thống nhất ném vào lỗ châu mai ba quả lựa đạn, ném xong anh Trần Công An nghi chúng còn sống, leo tiếp lên tầng trên tô thêm một quả ô-ép, tưởng lép, không ngờ nó nổ nhào anh ngã lăn xuống bị thương, hai anh Nguyên và Lung vừa gom súng địch vừa khiêng anh An về nơi băng bó và thu dọn chiến trường. Trận đó ta diệt 11 tên, thu 8 súng và 20 lựu đạn.
Sau trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên thắng lợi, Ban chỉ huy Tỉnh đội và Huyện đội Tân Uyên đánh giá: “Trận đánh cầu Bà Kiên đã mở ra một hình thức tác chiến mới dựa vào dân, nắm chắc địch tình, nắm chắc mục tiêu và cách bố phòng của chúng, chỉ dùng lực lượng rất ít, đánh lực lượng địch đông, với ý chí chiến đấu và tinh thần dũng cảm, gan dạ, mưu trí, tấn công bất ngờ là địch trở tay không kịp, qua kinh nghiệm này, ta có khả năng đánh phá đồn bót của địch nhiều nơi ở chiến trường miền Đông Nam bộ". Tỉnh đội Thủ Biên phát động thi đua cho dân quân du kích toàn tỉnh học tập và quyết tâm thực hiện.
Với chiến thắng tháp canh cầu Bà Kiên, tổ du kích và bản thân Trần Công An được Bộ Tư lệnh Quân khu 7 biều dương, Tỉnh đội Biên Hòa cấp bằng khen, Huyện đội Tân Uyên cấp giấy khen. Nhưng vinh dự lớn nhất của Trần Công An - 28 tuổi - qua rèn luyện, thử thách, ngày 7-5-1948 anh được kết nạp vào Đảng.


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2009, 02:38:52 pm
Tháng 11 năm 1949, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 mở hội nghị chuyên đề đánh tháp canh. Đồng chí Trần Công An được báo cáo kinh nghiệm cách đánh tháp canh cho đại diện của các đơn vị chủ lực, Tỉnh đội, Huyện đội, binh công xưởng và đại diện cho các lực lượng dân quân du kích các địa phương trong quân khu về dự. Bộ Tư lệnh quân khu kết luận, ta có thể đánh được tháp canh với điều kiện phái làm tốt công tác điền nghiên, áp sát được tháp canh một cách bí mật và có vũ khí có sức công phá mạnh để đánh tháp.
Để thực hiện có kết quả hơn, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu, Tỉnh đội Biên Hoà tổ chức biên chế thành 50 tổ gồm 300 du kích ưu tú do đồng chí Bùi Cát Vũ và Trần Công An huấn luyện. Sau khi huấn luyện xong, 50 tổ du kích xây dựng quyết tâm đầy đủ thử mìn chẩc chắn, Tỉnh đội Biên Hòa quyết định trận đánh đêm 21 rạng ngày 22 tháng 3 năm 1950 vào 50 tháp canh đóng dọc các lộ 15, 16, 24 và quốc lộ 1. Cả 50 tháp canh không sập tường, tháp nào cũng chỉ thủng một lỗ khoảng 0,6 mét, chỉ bọn lính ngủ trong tháp chết, có một tên trên sàn gác sống sót dùng súng và lựu đạn chống lại ta. Thua keo này, ta bày keo khác, nghiên cứu lại tính năng tác dụng của vũ khí, đồng thời với việc huấn luyện thực tập đánh tháp canh, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chỉ thị cho binh công xưởng nghiên cứu chế tạo một loại vũ khí có sức công phá đánh sập tường dầy. Đồng chí Bùi Cát Vũ và Đặng Sĩ Hùng chịu trách nhiệm chính về chế tạo một loại mìn lõm (gọi là FT và Pêta). Trận đánh thử nghiệm của hai quả mìn FT và Pêta đêm 18 tháng 4 năm 1950 do tổ du kích Tân Uyên dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Công An và sự chỉ đạo của đồng chí Bùi Cát Vũ đã đột nhập và đánh sập tường tháp canh mẹ tại cầu Bà Kiên lần thứ hai nằm trên đường 16, ta diệt 16 lính trong tháp canh và thu toàn bộ vũ khí, đạn dược.
Trận đánh vào tháp canh mẹ cầu Bà Kiên lần thứ hai này, mặc dù địch phòng thủ kiên cố vững chắc hơn, nhưng vỏ quýt dầy có móng tay nhọn, đồng chí Trần Công An và các đồng chí trong đơn vị Nguyễn Văn Nghĩa gắn quả FT vào đầu một cây sào cao trên 2 mét áp vào tường tháp, cho nổ xong, bồi thêm quả PêTa thọc vào tháp canh cho nổ, toàn bộ tháp bị sập. Mục đích của ta là rải truyền đơn tuyên truyền làm cho bọn địch tưởng ta có pháo tầm xa, bắn trúng đích và có sức công phá mạnh, địch hoang mang dao động. Sau trận này, hàng trăm tên địch trốn khỏi hàng ngũ của chúng về làm ăn sinh sống. Bọn ác ôn tề điệp ức hiếp nhân dân trong vùng cũng hoang mang ìo sợ. Phải nói rằng trong chiến thắng tháp canh cầu Bà Kiên lần thứ hai này có sự đóng góp quan trọng của xưởng quân giớI 310 do đồng chí Bùi Cát Vũ làm giám đốc (sau là thiếu tướng). Xưởng thiếu thuốc nổ, phải cử người đi tìm tháo bom đạn địch bị lép, cưa lấy thuốc nổ để chế tạo FT.  Đồng chí Bùi Cát Vũ đã nghiên cứu chế tạo trái FT (phá tường) cấu tạo bằng kíp nổ điện. Lúc đầu khối lượng lớn, không tiện cho việc bí mật, khó chui luồn qua rào, khó vượt chướng ngại vật, được sự giúp đỡ của kỹ sư Lê Hiền - học ở Pháp về đang công tác tại Vụ Quân giới Quân khu 9, chế tạo theo nguyên lý đạn lõm, đánh bằng kíp nổ điện, có sức công phá lớn. FT có cán, để đánh vào các tháp canh địch khi chúng rào chắn chung quanh. FT ra đời đã làm động lực thúc đẩy cách đánh đặc công Trần Công An mạnh hơn, hiệu quả cao hơn.
Tiếp theo, đêm 25 tháng 4 năm 1950, đồng chí Trần Công An chỉ huy đơn vị đánh sập tháp canh mẹ Vàm Giá nằm trên Lộ 14, tháp canh án ngữ cửa ngõ huyết mạch vào chiến khu Đ, nó ngăn chặn đường tiếp tế và mối quan hệ sống còn của tình quân dân cá nước. Trận này, ta diệt gọn một trung đội lê dương, thu một súng cối 8 l, một đại liên 12,7 ly và hàng tấn lương thực, thực phẩm. Sau thắng lợi tháp canh cầu Bà Kiên và Vàm Giá, đã cho phép lực lượng quân sự miền Đông Nam bộ khẳng định hiệu quả thật sự và đầy tin tưởng ở cách đánh có hiệu quả và thiết thực. Theo chỉ thị của Bộ chỉ huy Quân khu 7, Tỉnh đội Thủ Biên mở các lớp huấn luyện đặc công đánh tháp canh. Từ lớp đầu tiên tại Sình, Bà Đã (chiến khu Đ), gần 100 du kích hai tỉnh Biên Hoà và Thủ Dầu Một, Gia Định học. Một mặt đồng chí Trần Công An được Quân khu 7 và Tỉnh đội Thủ Biên giao nhiệm vụ đi phổ biến kinh nghiệm đánh tháp canh bằng lối đánh bí mật, bất ngờ, một người đặt FT, Một người chập điện khi đồng đội ra. Đồng chí mở các lớp huấn luyện cách đánh tháp canh ở Mỹ Tho (Tiền Giang), Bà Rịa..., phổ biến đến đâu thực hành đến đó. Chẳng những ở chiến trường miền Đông Nam bộ, mà tỏa rộng ra các tỉnh bạn và cả nước. Kỹ thuật đánh tháp canh được bộ đội khắp nơi học tập, rút kinh nghiệm, tổ chức, huấn luyện, ứng dụng cách đánh vào đồn bót, lô cốt, kho tàng, cầu cống và các căn cứ quan trọng của địch. Chiến thắng khắp nơi ìiên tục bay về trên mọi miền Tổ quốc làm nức lòng người, chiến thắng lớn ở Quảng Nam- Đà Nẵng, Khánh Hòa, Trị Thiên, Cà Mau, Quy Nhơn, Tây Ninh, Cần Giờ, Gia Định, Tây Nguyên, Sông Bé , Biên Hòa, Long Khánh, Cần Thơ, Bến Tre, Bình Thuận… đã vận dụng lối đánh đặc công hợp đồng các binh chủng làm nên kỳ tích vẻ vang.
Do tác dụng của cách đánh ấy, nên được Bác Hồ huấn thị nhân ngày thành lập Binh chủng đặc công 19-3-1967, có câu: “Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cố gắng đặc biệt". Từ đó, có tên là Bộ đội đặc công, hình thành Binh chủng đặc công, ý Bác Hồ có nghĩa là "Tấn công đặc biệt" hoặc là "Bộ đội tinh nhuệ đặc biệt". Bác Hồ còn tặng cho Binh chủng đặc công bốn câu trong ngày 19-3-1967 nhân dịp Bác, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm binh chủng:
“Đặc biệt tinh nhuệ
Anh dũng tuyệt vời
Mưu trí táo bạo
Đánh hiểm thắng lớn"
.
Khi chiến thuật Đờ La-Tua của địch bị thất bại nặng nề , ta mở nhiều đường giao thông huyết mạch, đường tiếp tế thuận lợi, những hành lang an toàn cho kháng chiến, địch giảm các trận càn thấy rõ. Đó là chiến công hiển hách bắt nguồn từ Chiến khu Đ (Biên Hòa), người khởi nguồn cho chiến công nổi tiếng dùng chiến thuật đặc công đánh bại chiến thuật Đờ La-Tua chính là đồng chí Trần Công An, người con của quê hương Bìên Hoà - Đồng Nai.
Đồng chí Trần Công An, chẳng những là người có công đầu về cách đánh đặc công mà còn trực tiếp góp phần nhân rộng bằng hành động thực tế, miệng nói tay làm, luôn hướng dẫn cho đồng chí, đồng đội các nơi một cách tỉ mỉ, chu đáo những kinh nghiệm quý báu và chính đồng chí đã trực tiếp tham gia cùng đồng đội chiến đấu và góp phần chiến thắng quân thù tại Bà Rịa, Gia Định, Thủ Đức, Mỹ Tho, đánh hạ Tua Mẹ ở ấp An Chủ, thu 12 súng, l rốc két, diệt 25 tên Pháp cùng quân ngụy, đánh giao thông đường 14 và nhiều tháp canh khác. Riêng ở tỉnh Mỹ Tho đánh bót nhà máy đèn, nhân dân địa phương rất phấn khởi. Phối hợp với các đơn vị thuộc binh chủng biệt động diệt hai tháp canh ở thị trấn Trảng Bom, hỗ trợ cho nhân dân diệt ác phá kìm, tuyên truyền giác ngộ đồng bào tạm chiếm đối với cách mạng. Từ cách đánh đặc công độc lập, phát triển thành các chiến thuật kết hợp đặc công, biệt động, bộ binh. . .
Ngày 16-6-195l, đội đặc biệt Thủ Biên cùng với đại đội Lam Sơn diệt đồn Long Điền (xã Phước Tân), thu 3 trung liên, 3 tiểu liên, 1 cối 81 ly, 43 súng trường. Ngày 20-7-195l, đơn vị đã dùng cách đánh đặc công vào Yếu khu Trảng Bom, nay thuộc huyện Thống Nhất, Đồng Nai, diệt 50 tên lính Âu - Phi, bắt sống 50 tên Âu-Phi, thu 200 súng các loại, 4 khầu đại liên, 10 trung liên, 1 cối 81. . .
Đầu năm 1952, tỉnh đội Thủ Biên rút đồng chí Trần Công An về phòng tham mưu chuẩn bị về Bắc dự khóa du kích chiến tranh 6 tháng. Trước khi đi, đồng chí Nguyễn Quang Việt - Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Huỳnh Văn Nghệ - Tỉnh đội trưởng Thủ Biên nhận xét “Đồng chí Trần Công An là một cán bộ từ cơ sở lên, đồng chí rất năng động, sáng tạo về cách đánh đặc công đầu tiên độc đáo và đã góp phần xây dựng lực lượng dân quân tự vệ có chất lượng và có hiệu quả”
Sau khi đồng chí Trần Công An dự lớp tập huấn “Chiến tranh du kích" và chỉnh huấn cải cách ruộng đất ở miền Bắc về, mang theo những lời huấn thị của Bác Hồ, cùng với phần thưởng quý báu là huy hiệu của Người tặng do kết quả xuất sắc trong học tập.


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Tư, 2009, 02:40:03 pm
Năm 1954, đồng chí Trần Công An tập kết ra Bắc, đang là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 - trung đoàn 656 (Sư đoàn 338) có nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện quân sự, chính trị bảo đảm đơn vị diễn tập tấn công, phòng ngự tốt, được trung đoàn bình chọn là đơn vị dẫn đầu trong trung đoàn 656. Đến năm 1958, đồng chí lên làm trung đoàn trưởng 656, đưa trung đoàn về huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình tổ chức đơn vị sản xụất. Đến ngày 17-2-1961, được Bộ Tổng tham mưu quyết định làm trưởng đoàn l gồm 205 cán bộ đi B. Trên đường đi, được đồng chí Trần Nam Trung đồng ý, đoàn l do đồng chí Trần Công An giúp bạn Lào đánh giải phóng đồn Mường Phồn, đồn Sê Bôn, bạn rất phấn khởi.
Khi về đến Ban quân sự Trung ương cục 15-7-1961, bàn giao cán bộ đầy đủ cho Ban quân lực miền, đồng chí Trần Công An được Ban quân lực miền quyết định sang làm đoàn phó U50 - đơn vị chịu trách nhiệm sản xuất đảm bảo hậu cần, bảo vệ khu A (Chiến khu Đ mở rộng) - sau là Đảng ủy viên Cục hậu cần miền. Lúc ấy đồng chí Trần Công An có đấu tranh giằng co giữa chiến đấu và sản xuất, cuối cùng như lời Bác Hồ dạy khi ra Bắc học: "Làm cách mạng việc nào cũng vinh quang, miễn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là tốt nhất của người đảng viên Đảng cộng sản", đồng chí Trần Công An xác định nhiệm vụ, đưa tất cả vợ con ra vùng kháng chiến làm cách mạng. Đồng chí chịu trách nhiệm chỉ huy và đảm nhiệm các đơn vị làm công tác hậu cần và xây dựng căn cứ địa tại khu A, lấy phiên hiệu là U50. Ban chỉ huy đơn vị gồm các đồng chí: Đào Sơn Tây, Trần Công An, Nam Ninh và Mười Bộ . Sau đó đồng chí Đào Sơn Tây về Cục hậu cần miền, đồng chí Trần Công An đã lãnh đạo U50 phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng, quân số từ 500 chỉ trong một năm đã lên đến 5000 cán bộ, chiến sĩ. Diện tích U50 quản lý tổ chức sản xuất gần 1.500 ha ở các khu vực Mã Đà, Suối Dạt, Bà Téc, Bàu Đá. Các đơn vị thuộc U50 vươn dài đến các chốt Đồng Xoài, Bù Đăng, Tà Lài, bờ Sông Bé, Bù Khiêu, từ Bù Na đi Bù Chắp nối liền với căn cứ Tây Nguyên. Đường dây thứ hai từ Mã Đà đi qua suối Dạt đi Long An…   mở rộng lên Tây Ninh và xuống tiếp nối với miền Tây Nam bộ.
Đồng chí Trần Công An đã lãnh đạo U50 tổ chức sản xuất, bảo vệ và quản lý một khối lượng  lương thực quá lớn. Thường xuyên có trong kho dự trữ trên 1.000 tấn gạo, phát động phong trào thi đua trong cán bộ, chiến sĩ U50 trồng gần 1.000 ha mì. Đồng chí Trần Công An đã cùng với Ban chỉ huy đoàn tổ chức chỉ huy một guồng máy đồ sộ giữa rừng, có đủ các bộ môn: quân nhu, quân y, quân khí, vận tải.. . Đoàn đã dựa vào sức dân là chính, thường xuyên tổ chức thu muá gạo từ vùng yếu lên bờ sông Bé , huy động trên 100 chiếc xe bò chở lương thực, thực phẩm phục vụ bộ đội, có một đoàn ô-tô vận tải mạnh, số người vận chuyển hàng bằng xe thồ, đèo bòng đông đúc và liên tục… Ngoài việc phục vụ cho các trung đoàn chủ lực miền, còn đảm bảo cung cấp lương thực hơn 20.000 người qua lại. Trên 7 tuyến trạm giao liên trong ba năm. Đoàn hậu cần U50 đã cung cấp đầy đủ lương thực thực phầm bảo đảm cho chiến dịch Đồng Xoài và Bình Giã toàn thắng.
U50 là một đơn vị hậu cần có quy mô lớn, sản xuất và chiến đấu ở một căn cứ địa rộng lớn, địch đánh phá liên tục, bom dội ngày đêm, chúng phục kích liên miên, nhưng không làm cho cán bộ chiến sĩ lùi bước, có lúc địch rải chất độc hóa học xuống vùng sản xuất của ta, đồng chí Trần Công An có sáng kiến cho chặt cây mì để không ngấm chất độc xuống củ mì. Sáng kiến này đã áp dụng có kết quả, diện tích, sản xuất chẳng những không dừng lại mà còn trồng thêm 200 ha mì nữa.
Ông cũng chính là người chỉ huy trận đánh sân bay Biên Hòa, bắn cháy tổng kho Long Bình khiến Nhà Trắng và Lầu Năm Góc rúng động. Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi bằng bài thơ trên báo Nhân Dân ngày 12-11-1964:
“Uy danh lừng lẫy khắp năm châu
Đạn cối tuôn cho Mỹ bể đầu
Thành đồng trống thắng lay Lầu Trắng
Điện Biên, Mỹ chẳng phải chờ lâu”.
Tại hội nghị sơ kết công tác cục hậu cần miền tháng 12 - 1964, các đồng chí Trần Văn Trà và Lê Đức Anh chỉ thị cho các đơn vị trong toàn miền học tập và làm theo đồng chí Trần Công An, tên "Hai Cà" (do đồng đội đặt) - cũng xuất hiện từ đó mà 5000 chiến sĩ hậu cần U50 tỏa ra khắp các nẻo đường chiến đấu và công tác, cũng rất vinh dự mang tên thân mật, ấm cúng là " Bộ đội Hai Cà ".
Sau chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài, Trung ương cục, Quân ủy Bộ tư lệnh miền nhận định Mỹ sẽ khả năng trực tiếp đổ quân xâm lược miền Nam. Chiến trường miền Đông, đặc biệt là thị xã Biên Hòa sẽ là chiến trường có vị trí quan trọng. Từ nhận định này, Bộ Tư lệnh miền quyết định tăng cường đồng chí Hai Cà về giữ nhiệm vụ thị đội trưởng Biên Hòa. Bộ Tư lệnh miền quyết định giao nhiệm vụ thị đội trưởng Biên Hòa cho đồng chí Trần Công An vào tháng 2- 1965, đồng chí được chọn 50 chiến sĩ đặc công giỏi về phục vụ chiến đấu ở chiến trường Biên Hòa. Về cương vị mới, với kinh nghiệm sở trường về lối đánh đặc công, đồng chí tổ chức cho thị đội Biên Hòa thực hiện ngay việc củng cố và xây dựng cơ sở, nắm chắc tình hình và có kế hoạch chỉ đạo hình thành vành đai diệt Mỹ khi chúng đặt chân đến mảnh đất miền Đông thân yêu này.
Địch bị thất bại nặng nề trong "Chiến tranh đặc biệt”, đầu tháng 5-1965, Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam, chúng đưa lữ đoàn dù Mỹ 173, tiểu đoàn lính Úc, 1 đại đội Tân Tây Lan về đóng ở Biên Hòa. Mỹ tổ chức ngay các cuộc đánh phá "tìm diệt" lực lượng cách mạng, chúng mở rộng và nâng cấp sân bay chiến lược Biên Hòa, tổ chức bộ máy chỉ huy đánh phá cách mạng miền Đông ở thị xã Biên Hòa: Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 (ngụy), Nha cảnh sát miền Đông, tổng kho Long Bình, Bộ Tư lệnh giã chiến 2 (Mỹ đóng ở Long Bình). Phải nói rằng Mỹ- ngụy đã khép kín lực lượng phòng thủ rất mạnh nhằm bảo vệ phía Đông thủ đô Sài Gòn của chúng.
Chấp hành nghiêm Nghị quyết lần thứ ll (tháng 7- 1965) của Trung ương cục: "sẵn sàng đánh địch trong trường hợp địch gây chiến tranh cục bộ...”. Dưới sự chỉ huy của 2 đồng chí Trần Mân và Trần Công An, đêm 23 rạng 24-8-1965, ta đã tiến công đánh đòn phủ đầu lần thứ 2 vào sân bay Mỹ- ngụy ở Biên Hòa, phá hủy 68 máy bay các loại, 8 giàn hỏa tiễn, 22 bồn xăng dầu, 30 xe và diệt 3000 tên Mỹ- ngụy. Sau trận đánh này Bác Hồ gửi thư khen, Bộ chỉ huy miền tặng Huân chương Quân công hạng nhất cho toàn trận đánh. Riêng đồng chí Trần Công An được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3. Thị xã Biên Hòa ngày càng có vị trí quan trọng, ngày 5-9-1965, Trung ương cục quyết định thành lập một đơn vị chiến trường ngang cấp tỉnh gọi là U1 (gồm thị xã Biên Hoà và huyện Vĩnh Cửu) và chỉ định đồng chí Trần Công An làm tỉnh độI trưởng U1 Biên Hòa, đồng chí Nguyễn Văn Kiện khu ủy viên dự khuyết làm Bí thư Tỉnh ủy U1.
Ở cương vị mới, trách nhiệm nặng nề hơn, đồng chí Trần Công An xác định: "Muốn thắng Mỹ, trước hết phải hiểu Mỹ, chúng tuy giàu tiền của ìắm vũ khí nhưng không đáng sợ. Với ý chí của người Việt Nam là quyết đánh và biết đánh, nhất định sẽ chiến thắng. Từ quyết tâm cao đó, đêm 22-6-1966, Tỉnh đội trưởng Trần Công An đã trực tiếp chỉ huy hai đại đội đặc công, tự cải tiến và sử dụng mìn hẹn giờ đánh vào khu kho liên hợp Long Bình, phá hủy trên 40.000 tấn bom đạn của Mỹ- ngụy, hạn chế sức phá hoại tàn sát nhân dân ta trên chiến trường. Từ tháng 10 đến tháng 12-1966, đại đội 2 (đặc công Ul) đã 3 lần đánh tiếp vào khu kho Long Bình, phá hủy hàng trăm ngàn tấn bom đạn của chúng, đơn vị U1 đã được Chính phủ tặng thưởng nhiều Huân chương quân công và chiến công cho tập thể và cá nhân.
Bước vào chuần bị chiến dịch xuân Mậu Thân đầu năm 1968, Tỉnh đội trưởng U1, Phó tư lệnh mặt trận Trần Công An và đồng chí Phan Văn Trang nguyên Bí thư Tỉnh ủy U1, phó chính ủy mặt trận cùng với các đồng chí khác dã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đã đưa 250 thương binh ra khỏi vòng vây của địch. Tuy thắng lợi trong chiến dịch Mậu Thân chưa được trọn vẹn, nhưng ta đã tạo ra một bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước buộc Mỹ xuống thang chiến tranh để Đảng và nhân dân ta thực hiện lời dạy của Bác Hồ vĩ đại: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Đúng như tướng Lê Trọng Tấn (Tư lệnh phó Bộ chỉ huy miền, tại chỉ huy sở tiền phương) nhận xét: "Biên Hòa đã hoàn thành nhiệm vụ trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 và Kỷ Dậu 1969".
Riêng đồng chí Trần Công An, trước khi bước vào chiến dịch Mậu Thân có hai nỗi đau dồn dập dội vào trái tim của một người cha trước lúc ra trận, đó là hai người con: Đại đội trưởng Trần Văn Cao, lúc ấy 27 tuổi - bị thương cụt một chân phải khi chỉ huy một tổ điều nghiên lần 2 tại sân bay Biên Hòa; người con nhỏ Trần Văn Mum - mới 16 tuổi - hy sinh mất xác khi thi hành nhiệm vụ đưa tổ thông tin điện đài đến sở chỉ huy tiền phương, lúc trở về lọt vào ổ phục kích của địch. Đồng chí Trần Công An với cương vị là tỉnh độI trưởng trực tiếp ra hai lệnh đó, đó là mệnh lệnh của một người cha trong chiến tranh. Nỗi đau tạm lắng xuống nhường chỗ cho một nghị lực phi thường của một người cha vượt qua cơn bão lòng để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người chỉ huy nơi chiến trận. Đó là hành động của người anh hùng. Tôi rất xúc động, lòng rưng rưng khi nghe đồng chí Phan Văn Trang nguyên Bí thư Tỉnh ủy U1 kể lại. “Sự hy sinh quá lớn của anh Hai Cà, cả gia đình làm cách mạng, anh Hai Cà chưa bao giờ từ chối một nhiệm vụ gì, dù khó khăn nguy hiểm mấy anh đều hoàn thành tốt. Đau đớn nhất là anh chỉ huy chiến đấu giữa lúc gia đình bị mấy cái tang, tang mẹ, tang con và nỗi thương vong về đứa con thế mà anh vẫn chịu đựng vượt qua và chiến thắng".
Những năm tiếp theo, đồng chí Trần Công An được phân công trở lại hậu cần với cương vị tư lệnh đoàn 600, chỉ huy góp phần bảo đảm cho toàn chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng trên mảnh đất miền Đông đầy hào khí Đồng Nai này.
Cuộc đời của anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Công An vô cùng phong phú, quá trình chiến đấu và công tác của ông luôn luôn hừng hực như ngọn lửa cháy lên trong mọi tình huống, ông hình như sinh ra để chiến thắng, chiến thắng có dư trăm trận lớn nhỏ, chiến thắng trong hai lần vượt Trường Sơn vô cùng gian khổ, 8 lần trực tiếp nghe lời Bác Hồ dạy, chiến thắng trong việc nghiên cứu, khám phá, sáng tạo cách đánh đặc công đầu tiên ở miền Đông Nam Bộ, chiến thắng trong khi tay không bắt sống địch lấy vũ khí bằng lòng căm thù địch, chiến thắng trên lĩnh vực hậu cần, chiến thắng trước tình cảm gia đình để lo tròn nhiệm vụ nơi sở chỉ huy chiến dịch và chiến thắng lớn nhất của ông là luôn đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng giao và thực hiện đúng lời Bác Hồ dạy.

Theo Anh hùng đất Đồng Nai


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tư, 2009, 08:33:39 pm
Rất cám ơn bác macbupda. Mặc dù Đại tá Trần Công An đã mất cách đây vài tháng nhưng em vẫn chưa có thời gian để tổng hợp các bài viết về ông để viết tiểu sử của ông.

Liệu bác có thể tóm tắt lại theo mốc thời gian được không ạ? Bài viết như thế này sẽ gây khó khăn cho người đọc vì có rất nhiều topic trong trang này.

Bác thấy sao nếu em xin đổi tiêu đề Đại tá Trần Công An - Anh hùng đặc công thành:

- Đại tá Trần Công An - người lính đặc công số 1
hay:
- Đại tá Trần Công An - người khai sinh lối đánh đặc công hiện đại

Vì anh hùng đặc công thì có nhiều lắm, nói vậy chưa thấy hết cái tầm của cụ. Về vai trò của Đại tá Trần Công An đối với Binh chủng Đặc công của Quân đội ta thì báo chí trên mạng nói rất nhiều và bác có thể kiểm tra để thấy hai cái tiêu đề trên không hề thái quá về cụ.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: engtilldie trong 29 Tháng Tư, 2009, 12:57:27 am
(http://i605.photobucket.com/albums/tt134/engtilldie/TuongChon3a-2.jpg)

Không đọc hết toàn bộ từ đầu thread, nhưng cho em xin phép được post ảnh tướng Chơn lên. Ảnh mới chụp trong tháng 4/2009. Bây giờ cụ cũng trên 80 rồi còn gì.

Ngồi ngoài cùng bên trái: Đại tá Trần Như Tiếp (nghỉ hưu). Nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 60, e1/f2 (1969)
Ở giữa: Trung tá Nguyễn Sỹ Hùng (nghỉ hưu). CCB e1/f2. Bị thương ở K năm 1979.
Ngồi ngoài cùng bên phải: Thượng tướng Nguyễn Chơn.


Tiêu đề: Vị tướng từ cõi chết trở về
Gửi bởi: thanhvietpc trong 06 Tháng Năm, 2009, 02:05:54 pm
Vị tướng từ cõi chết trở về
Những chuyện chưa biết về các kỷ vật
của tướng lĩnh Việt Nam :


 
Tướng Trần Văn Trân
Năm 1968, khi chiến trường miền Nam bước vào thời kỳ ác liệt nhất, Đại tá Trần Văn Trân được triệu về Bộ chỉ huy miền ở Lộc Ninh để nhậm chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1. Nhân dịp này, ông được tướng Hoàng Văn Thái tặng chiếc radio. Chiếc đài nhỏ đã theo ông đi khắp các chiến trường... Ngày được tin ông hy sinh, vợ ông đặt chiếc rađio lên bàn thờ mà hương khói. Chỉ sau này bà mới biết, chính trong thời gian đó, ông vẫn đang sống và hoạt động trong nhà tù của địch...

Thoát chết nhờ giả danh là lính thường...

Sau khi nhận chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1, Đại tá Trân được lệnh cơ động xuống đồng bằng chiếm lại vùng Bẩy Núi- An Giang. Để chuẩn bị cho trận đánh, một bộ phận từ biên giới Cămpuchia vượt sông đi trước. Còn ông cùng mấy anh em trinh sát và một trung đội đi nghiên cứu chiến trường, chuẩn bị cho đánh lớn. Hôm đó, địch lùng sục rất dữ. Trên trời, máy bay rình ngó, dưới sông tàu bo bo kiểm tra gắt gao. Phía trước, dọc sông Vĩnh Tế cách 1 km có trạm gác của bọn bảo an, mật độ gác dày đặc. Chờ mãi, đến sẩm tối, nghe tiếng tàu bo bo thưa dần, Sư trưởng Trân quyết định vượt kênh Vĩnh Tế. Với chiếc quần xà lỏn, ông cùng một số anh em men ra phía bờ kênh. Không ngờ, một đại đội biệt kích Mỹ đã ém sẵn ở đó. Ông chỉ huy anh em đánh trả nhưng quân ta ít, lại phải đối mặt với lực lượng địch quá đông, nên hầu hết anh em hy sinh và bị thương. Ông cũng bị thương nặng. Sư trưởng Trân quờ tay sang bên cạnh, đồng chí y tá đi theo bị trúng đạn đã tắt thở. Ông với lấy túi thuốc của y tá quàng lên người. Bọn địch đến gần, rà soát thấy ông còn thở, chúng đưa ông về Cần Thơ. Chúng thu được trên người ông một khẩu CKC, một túi y tá có cao hổ cốt, cao khỉ với giấy tờ mang tên Nguyễn Văn Thương, Thượng sỹ đông y.
Khi một số anh em đi cùng còn sống quay trở lại tìm không thấy thủ trưởng đâu, nghĩ rằng Trần Văn Trân đã hy sinh, liền báo về cho đơn vị. Chính ủy sư đoàn Nguyễn Viên, cử trinh sát tiếp tục đi tìm. Nhân dân vùng đó cho biết đã chôn cất một số anh em. Theo mô tả, có một người giống như ông Trân. Đơn vị đề nghị cho khai quật mộ kiểm tra, nhưng nhân dân cho biết nếu làm như vậy, bọn địch sẽ tàn sát, phá phách vùng này, gây khó dễ cho nhân dân. Đơn vị quyết định báo lên trên. Một thời gian sau, Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng nhận được giấy mật báo từ cơ sở cách mạng ở Cần Thơ. Giấy viết mấy chữ nguệch ngoạc: “Hiện trong nhà tù Cần Thơ có một tù binh tên là Thương, có em là Viên, Uynh. Nghĩ mãi, cuối cùng ông Phạm Hùng cũng luận ra đó chính là Sư trưởng Trần Văn Trân, vì Viên là Chính uỷ Sư đoàn 1, Uynh là Sư đoàn phó Sư đoàn 1. “Không thể để bọn địch biết Trân là cán bộ cao cấp”, ông Hùng ra lệnh phải nghi binh bọn địch, cho đơn vị làm lễ truy điệu cho Sư trưởng Trân bình thường, đồng thời thông báo về gia đình biết và cấp chế độ liệt sỹ.

Và mưu trí


 
Chiếc đài của tướng Hoàng Văn Thái tặng tướng Trân
Ba năm bị bắt làm tù binh, hơn 1.000 ngày trong nhà tù của địch. Chúng hết tra tấn lại dụ dỗ nhưng không thể khuất phục. Tại nhà tù Cần Thơ, ông được đồng đội tin cậy giao trọng trách Bí thư chi bộ nhà tù. Ông được anh em tù nhân che giấu nên địch không hay biết.
Sinh thời, ông Trân kể rằng, có lần tên Vui là nhân viên nhà tù, quê ở Bến Tre bắt ông chữa bệnh di tinh. Ông trả lời: lấy cái gì mà chữa, tôi làm gì có thuốc. Lần khác tên trung tá Mã Khắc Quy thẩm vấn ông: “Mày là Bí thư Đảng uỷ nhà tù Cần Thơ, phải không Thương?”. Ông trả lời: “Các thầy bắt tôi, giấy tờ trong người là thượng sỹ đông y còn gì”. Mã Khắc Quy thử: “Có mấy thằng Việt cộng nói với tao tiêm nước dừa, huyết gà là tốt hơn xe rom, mày nghĩ sao?”. Ông trả lời: “Tôi không thạo thuốc tây lắm nhưng đứng trước cái sống, cái chết và thiếu thốn, dùng nó là cần thiết, song có lẽ về khoa học không bằng thuốc tây, cao hổ cốt, cao khỉ. Hắn lại hỏi: “Mày nói xem, dụng cụ nấu cao gồm có gì?”. Ông đáp: “ Hai cái chảo gang, một nồi đồng, một cưa sắt và một cái môi vớt bọt”. Đó là những câu trả lời của anh em tù nhân bày cho ông. Nghĩ lại mà phát hoảng, nếu ông chỉ trả lời sai những câu hỏi “cài bẫy” của chúng, dễ gì chúng tha cho ông. Không chỉ bị giam ở Cần Thơ, sau một lần đấu tranh, toàn trại Cần Thơ tuyệt thực trước lúc bầu cử tổng thống Thiệu, 800 tù nhân bị chúng đày ra Phú Quốc, Sư trưởng Trân là thương binh nên bị đưa về nhà tù Hố Nai- Suối Máu.

Năm 1973, sau khi ra tù, Đại tá Trân được bố trí ra Hà Nội gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương, được Ban tổ chức Trung ương cấp giấy chứng nhận toàn bộ tuổi Đảng trong tù. Nằm viện Quân y 108, ông được Tổng Bí thư Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới thăm, động viên. Được 3 tháng, ông xin ra viện để gặp các tướng Song Hào, Lê Quang Đạo đề nghị cho ra đơn vị chiến đấu. Tướng Song Hào vỗ vai ông nói: “Vội gì, cậu cứ nghỉ ngơi, khôi phục sức khoẻ đã!”. Ông trả lời: “ Thưa các anh, sức khoẻ của tôi hồi này hơn hồi đi B năm 1964. Vả lại, tôi được nghỉ ròng 3 năm trong tù rồi”. Tháng 11 năm 1973, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Sư đoàn 341, ông nhận quyết định Sư đoàn trưởng. Trước khi về đơn vị, ông về thăm gia đình, lúc đi mang theo chiếc radio mà tướng Hoàng Văn Thái tặng. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ông đã chỉ huy đơn vị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, tham gia quân quản thành phố. Năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó tư lệnh Quân đoàn 4. Năm 1979, ông giữ chức Phó viện trưởng Học viện Lục quân Đà Lạt. Năm 1985, ông là Tham mưu phó mặt trận 719, chỉ huy bộ đội chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn. Cũng năm này, ông được Nhà nước phong quân hàm thiếu tướng. Năm 1995, ông nghỉ hưu và qua đời năm 1997.
Với sự mưu trí của vị Sư trưởng, bọn địch không phát hiện được ông là cán bộ cao cấp của quân đội. Cho đến ngày18 tháng 3 năm 1973, ông được địch trao trả tại sông Thạch Hãn, Quảng Trị. Cởi bỏ quần áo tù, ông bơi một mạch sang bờ Bắc sông Thạch Hãn, không qua trạm liên hợp. Xe và cán bộ của Quân khu 4 đã chờ sẵn. Anh em đưa ông về Bộ tư lệnh B5. Lúc xe chạy vụt đi, bọn địch mới phát hiện được ông là cán bộ cao cấp, chúng biết đã trao trả nhầm nhưng đã muộn. Thế là sau 3 năm, 1 tháng 16 ngày, ông lại được mặc bộ quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại Bộ tư lệnh B5, ông gặp lại những người anh em thân thiết như Lê Tự Đồng, Cao Văn Khánh, Nguyễn Hữu An, được chiêu đãi một bữa tiệc thịnh soạn, nhưng nào ông có ăn nổi. Bát cơm chan đầy nước mắt bởi ông xúc động trước tình cảm sâu sắc của đồng đội, người thân.

Kỷ vật một thời

Bà Võ Bích Hà, vợ tướng Trân nhớ lại: “Mùa hè năm 1970, tôi nhận được giấy mời của Tổng cục Chính trị. Trong giấy mời chỉ ghi tóm tắt: “Đồng chí đại tá Trần Văn Trân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1, đã anh dũng hy sinh ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, trong lúc đang làm nhiệm vụ”, mời gia đình ra Hà Nội dự lễ truy điệu. Đọc xong tờ giấy, tôi bàng hoàng, sững người. Tim đau nhói, ông đi chiến trường biền biệt, lúc mất chẳng gặp vợ con. Tôi vừa thương ông ấy, vừa thương đàn con, vừa lo cho mình. Làm sao nuôi được các con khôn lớn, đứa bé nhất mới có 6 tuổi. “Nghĩ vậy, tôi nuốt nỗi đau, để tang thờ chồng. Ngày truy điệu ông ấy, bà Hồ Thị Bi ở Cục Chính sách- Tổng cục Chính trị trao chiếc radio lại cho gia đình. Tôi đặt chiếc radio, vật kỷ niệm còn lại của ông lên bàn thờ từ đó”, bà Hà tâm sự. Năm 1973, sau khi ra tù, chiếc radio lại theo ông suốt những ngày ra trận. “Suốt từ năm 1973, đến lúc mất năm 1997, chiếc radio ông dùng mở nghe tin tức qua Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, tin tức quốc tế, trong nước, nắm tình hình phổ biến cho anh em đơn vị, bè bạn, người thân”, bà Hà nhớ lại.

Hôm chúng tôi vào thành phố Hồ Chí Minh, đến thăm bà cũng là để xin chiếc đài của ông về làm vật lưu niệm tại bảo tàng, chiếc radio do Nhật sản xuất lại được bà đặt trên bàn thờ, gần với ảnh ông. “Chỉ khác là lần này ông ra đi mãi mãi!”. Kể đến đây, bà Hà lấy khăn lau nước mắt. Bà đưa cho chúng tôi xem lại cuốn sổ tang. Những bức ảnh, những lời của đồng đội, người thân khắp mọi miền đất nước, ở nước bạn đến chia buồn, khóc thương, ca ngợi ông - một vị tướng trưởng thành từ liên lạc viên, với những trận đánh “xuất quỷ nhập thần”. Trên bàn thờ, bức ảnh ông, vầng trán rộng, đôi mắt sáng, đầy vẻ hiên ngang. Đồng đội viếng ông hai câu: “Sống anh dũng, thác trường tồn”...

Lặng đi một hồi, bà quay ra bàn thờ thắp nén nhang, cúi xin ông, rồi lấy chiếc radio xuống. Bà ôm chặt nó vào lòng như muốn giữ lại hơi ấm từ kỷ vật thiêng liêng ấy. Bà rút chiếc khăn lau mấy giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo...Trao kỷ vật cho nhân viên bảo tàng, bà nói: “Nếu vì việc nghĩa, các cháu đưa về bảo tàng giáo dục các thế hệ sau, chắc ông cũng mãn nguyện”. Từ đó, chiếc radio mang ký hiệu 9350-K 1066, được trân trọng trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trong phần “Kỷ vật kháng chiến”.

 


Tiêu đề: Re: Vị tướng từ cõi chết trở về
Gửi bởi: hatuyenha trong 06 Tháng Năm, 2009, 02:46:06 pm
Cám ơn bạn cung  cấp tư liệu quá quý về một vị tướng chiến trận đáng kính trọng của QĐNVN.
Cuộc kháng chiến của dân tộc ta chiến thắng là nhờ  các vị tướng vĩ đại như vậy,xin kính cẩn nghiêng mình biết ơn.Mình chờ tiếp chuyện các vị tướng giỏi bất khuất  của Việt nam .


Tiêu đề: Re: Vị tướng từ cõi chết trở về
Gửi bởi: tuaans trong 06 Tháng Năm, 2009, 03:11:37 pm
Thẻ tù binh của Nguyễn Văn Thương.
(nguồn qdnd.vn)


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: Hannoi trong 18 Tháng Năm, 2009, 10:16:21 am
Gửi bạn panphilov,

Rất cám ơn bạn vì đã xây dựng mục "Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam"  có tương đối đầy đủ các thế hệ tướng lĩnh. Tôi xin được đề nghị bạn 2 câu hỏi:

1. Sẽ rất tốt hơn nếu bạn tổng kết trên trang bìa Họ Tên, Năm được phong quân hàm tướng theo thứ tự (có thể ghi chú thêm năm được phong quân hàm đại tá). Như vậy sẽ làm người đọc hiểu biết hơn về lịch sử quân đội (tôi học cùng lớp với Cao Quý Bảo con đ/c Cao Văn Khánh và bác ruột tôi là Trung Tướng Lê Linh QĐ2).

2. Tôi đang muốn tìm kiếm thông tin tiểu sử của đ/c Lê Liêm (phụ trách chính trị mặt trận Điện Biên Phủ), sau này làm thứ trưởng Bộ Văn Hóa. Bạn có thể up load tiểu sử của đ/c Lê Liêm lên trang web này được không?

Xin chân thành cám ơn.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Năm, 2009, 11:36:21 pm
Cháu cám ơn chú vì đã ghé qua mục này của cháu.  
Rất cám ơn bạn vì đã xây dựng mục "Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam"  có tương đối đầy đủ các thế hệ tướng lĩnh. Tôi xin được đề nghị bạn 2 câu hỏi:

1. Sẽ rất tốt hơn nếu bạn tổng kết trên trang bìa Họ Tên, Năm được phong quân hàm tướng theo thứ tự (có thể ghi chú thêm năm được phong quân hàm đại tá). Như vậy sẽ làm người đọc hiểu biết hơn về lịch sử quân đội (tôi học cùng lớp với Cao Quý Bảo con đ/c Cao Văn Khánh và bác ruột tôi là Trung Tướng Lê Linh QĐ2).

Trong Quân sử Việt Nam, mỗi bài viết sau 24h thì tác giả không có quyền thay đổi nội dung nữa, cho nên, cháu không thể tổng kết trên trang bìa những thông tin như chú gợi ý được. Những thông tin về tướng lĩnh Việt Nam hiện đại cháu đều lấy ở trong tài liệu ra, trong đó họ không ghi năm phong quân hàm đại tá cho nên cháu chỉ ghi lại được như vậy thôi.  
2. Tôi đang muốn tìm kiếm thông tin tiểu sử của đ/c Lê Liêm (phụ trách chính trị mặt trận Điện Biên Phủ), sau này làm thứ trưởng Bộ Văn Hóa. Bạn có thể up load tiểu sử của đ/c Lê Liêm lên trang web này được không?
Tướng Lê Liêm thì cháu không có nhiều tài liệu. Có thể do yếu tố nhạy cảm về chính trị mà rất khó có thể tìm thông tin.  



Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Đức Long, nguyên Cục phó Cục Cán bộ
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Năm, 2009, 11:44:13 pm
(http://img34.imageshack.us/img34/429/thieutuongtranduclong.jpg)

Thiếu tướng Trần Đức Long (12.1930), nguyên : Cục phó Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng, Phó Viện trưởng về Chính trị Viện nghiên cứu Kỹ thuật Quân sự.

Huân chương Quân công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (8.1990).


Thiếu tướng Trần Đức Long nguyên quán tại phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Nhập ngũ tháng 12 năm 1946, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6 năm 1949 (chính thức tháng 10 năm 1949).

Tháng 12 năm 1946, ông là liên lạc cho Đại đội 51 Tiểu đoàn 53 Trung đoàn 42 ; 8.1947, liên lạc cho huyện đội Thư Trì, tỉnh đội Thái Bình ; 9.1948, liên lạc văn thư ở huyện, tỉnh đội Thái Bình ; 10.1949, thư ký Văn phòng Liên chi tỉnh đội Thái Bính ; 7.1952, học viên lớp Quân chính Lê Hồng Phong Liên khu 3 ; 2.1953, chính trị viên Trung đội, Đại đội 153 Tiểu đoàn 53 tỉnh đội Thái Bình ; 8.1954, trợ lý tổ chức Đảng vụ Ban Chính trị tỉnh đội Thái Bình ; 6.1955, bí thư Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Khu 300 ngày trực thuộc Quân khu Tả Ngạn.

Tháng 10 năm 1956, ông là trợ lý tổ chức Trung đoàn Pháo binh 44 thuộc Sư đoàn 328 ; 8.1958, trợ lý cán bộ Trung đoàn 320 Sư đoàn Phòng không 367 ; 1960, trợ lý cán bộ Bộ Tư lệnh Phòng không ; 8.1961, được cử đi học tại Học viện Quân chính Lê-nin (Liên Xô) ; 1964, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ trợ lý Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng.

Tháng 3 năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Phòng Tùy viên Quân sự Đại sứ quán  Việt Nam tại Liên Xô ; 4.1980, chủ nhiệm Chính trị Viện nghiên cứu Kỹ thuật Quân sự ; 7.1981, Phó Viện trưởng về Chính trị Viện nghiên cứu Kỹ thuật Quân sự ; 10.1983, Cục phó Cục Cán bộ Chính trị Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng ; 2.1986, Cục phó Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu tháng 1 năm 1997.





Tiêu đề: Thiếu tướng Đỗ Phúc, nguyên Tùy viên QS Việt Nam tại Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 01 Tháng Sáu, 2009, 12:05:48 am
(http://img22.imageshack.us/img22/4102/thieutuongdovanphuc.jpg)

Thiếu tướng Đỗ Phúc (tên thật : Đỗ Văn Phúc, 01.05.1933), nguyên : Tùy viên Quân sự Việt Nam tại Liên Xô, Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên Đảng ủy Binh chủng Pháo binh.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (8.1990).


Thiếu tướng Đỗ Phúc quê tại xã Võ Cường, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Nhập ngũ ngày 17 tháng 11 năm 1949, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 năm 1952 (chính thức tháng 3 năm 1953).

Tháng 11 năm 1949, ông nhập ngũ và được cử đi học lớp súng cối Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 6 ; 8.1951, trung đội trưởng, đại đội phó súng cối Đại đội 56 Trung đoàn 98 Sư đoàn 316, tham gia chiến dịch địch hậu Bắc Ninh, Tây Bắc, Thượng Lào ; 4.1954, đại đội trưởng súng cối Đại đội 56 Trung đoàn 98 Sư đoàn 316, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ; 11.1954, phụ trách Chủ nhiệm Pháo binh Phòng Tham mưu Đại đoàn 351.

Tháng 7 năm 1955, ông phụ trách Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 12 súng cối 120mm Trung đoàn pháo 8 Sư đoàn 316 ; 7.1957, được cử đi học tại Học viện Pháo binh Lê-nin-grát của Liên Xô.

Tháng 7 năm 1963, về nước, ông được bổ nhiệm làm cán bộ nghiên cứu xạ kích Trường Sĩ quan Pháo binh Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 1.1966, tham mưu trưởng đầu tiên Trung đoàn Tên lửa 275 Quân chủng Phòng không Không quân. Học chuyển Binh chủng Tên lửa ở Ba-cu Liên Xô, về chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1967, trợ lý phòng Nghiên cứu Khoa học Quân sự Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1968, Phó Phòng nghiên cứu Khoa học Quân sự Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1970, trưởng Ban Tác chiến Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1972, tham mưu phó Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tháng 12 năm 1972 đặc trách về Tên lửa ; 1.1975, chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Năm 1976, được cử đi học tại Học viện cao cấp Bộ Tổng tham mưu Vô-rô-si-lốp tại Liên Xô ; 8.1978, là giáo viên Khoa nghệ thuật chiến dịch Học viện Quân sự cấp cao ; 17.2.1979, tăng cường cho Quân đoàn 5 trên mặt trận Lạng Sơn ; 4.1980, Lữ đoàn trưởng đầu tiên Lữ đoàn 380 thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 4.1983, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh ;  12.1983, Phó Trưởng phòng Huấn luyện Học viện Quân sự Cấp cao ; 4.1989, Tùy viên Quân sự Việt Nam tại Liên Xô. Thiếu tướng Đỗ Phúc nghỉ hưu ngày 1 tháng 1 năm 1994 và hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: liu kha trong 01 Tháng Sáu, 2009, 08:43:27 pm
Các bác ơi, cụ Giáp đâu ạ??? emtìm mãi không thấy tiểu sử cụ trên topic này.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Sáu, 2009, 02:51:08 am
Các bác ơi, cụ Giáp đâu ạ??? emtìm mãi không thấy tiểu sử cụ trên topic này.

Em cũng đã viết tiểu sử về cụ Giáp nhưng không ưng ý lắm cho nên không dám post lên đây. Viết về cụ khó nhất có lẽ là trong giai đoạn Kháng chiến chống Mỹ và sau này. Nếu bác nào có thì cứ post lên để mọi người cùng thảo luận thì hay quá.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: mytam81 trong 02 Tháng Sáu, 2009, 10:15:07 am
Các bác ơi, cụ Giáp đâu ạ??? emtìm mãi không thấy tiểu sử cụ trên topic này.

Em cũng đã viết tiểu sử về cụ Giáp nhưng không ưng ý lắm cho nên không dám post lên đây. Viết về cụ khó nhất có lẽ là trong giai đoạn Kháng chiến chống Mỹ và sau này. Nếu bác nào có thì cứ post lên để mọi người cùng thảo luận thì hay quá.

Cá nhân em nghĩ thì không cần đưa tiểu sử cụ Giáp lên đây. Đại tướng là người vĩ đại tới mức mà có lẽ chúng ta không cần phải đọc tiểu sử nữa. Thực sự theo em là thế  :)


Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Tử Dương, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện 108
Gửi bởi: panphilov trong 13 Tháng Sáu, 2009, 05:18:56 am
(http://img198.imageshack.us/img198/7951/thieutuongphamtuduong.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Tiến sĩ Phạm Tử Dương (05.03.1929), từng giữ các chức vụ : Phó Viện trưởng kiêm Chủ nhiệm khoa A1 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Phó phòng Quân y Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước (hạng Nhất, Ba), 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sức khỏe nhân dân, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học công nghệ, Huy hiệu 40  năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1990).


Thiếu tướng Phạm Tử Dương nguyên quán tại thôn Hòe Lâm, xã Ngọc Lâm, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Năm 1946, ông tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương (Vĩnh Phúc) khi toàn quốc kháng chiến bắt đầu ; 7.1950, nhập ngũ vào Trường Quân dược ; 10.1950, xuất ngũ và theo học tại Trường Đại học Y khoa kháng chiến ; 2.1951, tái ngũ vào ngành Quân y ; 1951, vừa đi học vừa tham gia Đội điều trị 5 ; 10.1952, về công tác tại Đội điều trị Đại đoàn 308 ; 7.1953, công tác tại Đội điều trị 2.

Năm 1955, ông tiếp tục theo học Đại học Y khoa Hà Nội ; 1956, được điều về làm trợ lý Huấn luyện Cục Quân y ; 1957, tiếp tục học Đại học Y rồi tốt nghiệp bác sĩ Y khoa Trường Đại học Y Hà Nội ; 1958, Chủ nhiệm Quân y bộ đội Phòng không. Khi hợp nhất hai đơn vị Phòng không và Không quân được cử làm Phó phòng Quân y Quân chủng Phòng không Không quân.

Năm 1964, Chủ nhiệm Khoa Nội 7 (các bệnh máu – độc – xạ) Viện Quân y 103 ; 1966, ông làm Chủ nhiệm Khoa nội A1 (nội cán bộ) Viện Quân y 108 ; 1970, đi thực tập sinh sau đại học về tim mạch tại Hung-ga-ri ; 8.1973, được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Khoa A1 Viện Quân y 108.

Tháng 7 năm 1981, ông được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc kiêm Chủ nhiệm Khoa A1 Viện Quân y 108 (hiện tại là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (hiện là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) ; 1981, Ủy viên Hội đồng bảo vệ sức khỏe Trung ương ; 1989, là chuyên viên đầu ngành tim, thận, khớp, Trưởng tiểu ban nội thuộc Hội đồng Y học quân sự ; 10.1988, đi thực tập nghiên cứu ngắn hạn tại nước Cộng hòa Pháp ; 2.1995, làm cộng tác nghiên cứu, chuyên viên của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Cục Quân y cho đến khi nghỉ hưu tháng 3 năm 2002.






Tiêu đề: Thiếu tướng Tạ Xuân Thu, Tư lệnh Quân chủng Hải quân đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 16 Tháng Sáu, 2009, 03:07:26 am
(http://img38.imageshack.us/img38/6837/thieutuongtaxuanthu.jpg)

Thiếu tướng Tạ Xuân Thu (tên thật : Tạ Tiến, 1916-1971), từng giữ các chức vụ : Chính ủy Học viện Quân sự, Chính ủy Binh chủng Pháo binh, Chính ủy Quân chủng Hải quân, Tư lệnh (đầu tiên) Quân chủng Hải quân, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ đội Biên phòng.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…

Thiếu tướng (1961).


Tạ Xuân Thu quê xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tham gia Cách mạng từ năm 1937, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) năm 1938.

Năm 1940, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam ; 9.1944, vượt ngục rồi tham gia Cứu quốc quân ở Chiến khu Việt Bắc (12.1944) ; 3.1945, ông chỉ huy một đội của Giải phóng quân đánh chiếm các đồn Chợ Chu, Chiêm Hóa, Sơn Dương và tham gia Ủy ban Giải phóng Hà Tuyên, trực tiếp chỉ huy chiến đấu giải phóng Tuyên Quang.

Từ tháng 10 năm 1945 đến năm 1950, ông làm Chính trị viên Khu 1, Chính ủy Khu 10, phụ trách Mặt trận Tây Tiến kiêm Ủy viên kiểm tra của Quân ủy Trung ương và Thanh tra Quân đội ; Từ năm 1950 đến năm 1953, Phái viên quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang giúp Chính phủ Lào, trực tiếp chỉ huy bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Thượng Lào.

Từ năm 1954 đến năm 1955, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ đội Biên phòng, Chính ủy Sư đoàn 335. Từ tháng 11 năm 1953 đến năm 1963, Chính ủy kiêm Cục trưởng Cục Phòng thủ bờ biển (đơn vị tiền thân của Quân chủng Hải quân).

Năm 1964, ông làm Tư lệnh đầu tiên Quân chủng Hải quân. Từ năm 1965 cho đến khi mất (1971), ông lần lượt làm Chính ủy: Quân chủng Hải quân, Binh chủng Pháo binh, Học viện Quân sự.

Thiếu tướng Tạ Xuân Thu là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I và II.








Tiêu đề: Thiếu tướng Đặng Quốc Bảo, Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Đại học KTQS
Gửi bởi: panphilov trong 16 Tháng Sáu, 2009, 03:37:26 am
(http://img15.imageshack.us/img15/6859/thieutuongdangquocbao.jpg)

Thiếu tướng Phó Giáo sư Đặng Quốc Bảo (1927), từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tây Bắc, Chính ủy Cục Công binh, Chánh văn phòng Tổng cục Chính trị.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến hạng Nhất…

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Đặng Quốc Bảo quê tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông tham gia Cách mạng tháng 5 năm 1945 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm này.

Tháng 2 năm 1947, ông nhập ngũ và được cử phụ trách Trường Quân chính, Trưởng Ban Chính trị Trung đoàn 140 ; Từ năm 1947 đến năm 1949, là chính trị viên tiểu đoàn rồi chính ủy Trung đoàn 88 ; Tháng 4 năm 1954, Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn Quân tiên phong (F308).

Tháng 11 năm 1955, ông được bổ nhiệm là Chánh văn phòng Tổng cục Chính trị ; 11.1957, Chính ủy Sư đoàn 308 ; 12.1962, Chính ủy Cục Công binh Bộ Tổng Tham mưu.

Năm 1965, ông giữ chức vụ Chính ủy Sư đoàn 330 ; 1966, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tây Bắc ; 3.1968, Chính ủy kiêm Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự).

Tháng 9 năm 1976, ông chuyển ngành giữ chức vụ : Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bí thư thứ Nhất Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Phó ban rồi Trưởng ban Khoa giáo Trung ương và là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4.

Thiếu tướng Đặng Quốc Bảo hiện đang nghỉ hưu tại Hà Nội và là Chủ tịch Quỹ bảo trợ Tài năng trẻ Kỹ thuật Quân sự Việt Nam.






Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Trà, nguyên Chính ủy Quân chủng Hải quân
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Sáu, 2009, 04:41:08 am
(http://img195.imageshack.us/img195/6981/thieutuonghoangtra.jpg)

Thiếu tướng Hoàng Trà (tên thật : Hoàng Văn Chà, 1922) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm về Chính trị Tổng cục Hậu cần, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Hải quân, Phó Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị, Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì…

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Hoàng Trà quê tại phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, nhập ngũ tháng 8 năm 1945 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946. Ông bắt đầu tham gia Cách mạng vào năm 1944 trong phong trào Việt Minh tại tỉnh Phú Thọ.

Trong Kháng chiến chống Pháp (1945-1954), ông lần lượt giữ các chức vụ: trung đội trưởng, chính trị viên đại đội, trưởng ban chính trị trung đoàn, phó chính ủy rồi chính ủy Trung đoàn 148.

Trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước : Từ năm 1958 đến 1966, ông là Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính ủy Sư đoàn 335, Chính ủy Lữ đoàn 335, Ủy viên thường vụ Khu ủy Quân khu Tây Bắc, Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Hải quân ; Tư năm 1966 đến năm 1967, Chính ủy Bộ Tư lệnh Hải quân ; Từ tháng 5 năm 1967 đến năm 1968, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc ; Từ năm 1969 đến năm 1970, Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị ; Từ 1974 đến 1975, Phó Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị Quân sự.

Từ năm 1975 đến năm 1979, ông lần lượt giữ các chức vụ chính ủy, bí thư đảng ủy Quân chủng Hải quân ; Từ tháng 6 năm 1979 đến năm 1980, ông được cử giữc chức vụ Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương ; Năm 1981, ông chuyển sang giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm về Chính trị Tổng cục Hậu cần cho đến khi về hưu năm 1990.






Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Trần Đức Long, nguyên Cục phó Cục Cán bộ
Gửi bởi: tranvuongviet trong 22 Tháng Sáu, 2009, 08:45:32 pm
(http://img34.imageshack.us/img34/429/thieutuongtranduclong.jpg)

Thiếu tướng Trần Đức Long (12.1930), nguyên : Cục phó Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng, Phó Viện trưởng về Chính trị Viện nghiên cứu Kỹ thuật Quân sự.


Ủa, sao bác Thiếu tướng Trần Đức Long lại đeo ngược 1 chiếc quân hàm cấp tướng vậy??? Nếu bác panphilop tìm được cái ảnh chân dung nào khác thì nên thay đi.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: ahuuls trong 23 Tháng Sáu, 2009, 11:34:52 am
[attachment=1]
 so sánh quân hàm của 2 cụ quả có khác nhau mà.Viền vàng ý


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Sáu, 2009, 02:20:58 pm
He he...em đã nhận ra  ;D. Khổ thân em, bác tranvuongviet bảo quân hàm thì em cứ nhìn lên cái quân hàm cầu vai. Còn cái quân hàm cấp tướng hay quân binh chủng thì em cứ nghĩ là cái "ve"  ::)

Nhưng thôi cứ để như vậy cho nó "độc", vì em cũng không có cái ảnh nào khác của cụ cả  ;D


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: tranvuongviet trong 23 Tháng Sáu, 2009, 09:31:44 pm
Chào bác panphilov, tôi không rành cách cắt xén hay tải ảnh,... trên quansuvn.net nên rất khó khăn khi muốn trình bày ý kiến. Tôi sẽ cố gắng học cách sử dụng chúng (nhiều khi không dùng đến thì một thời gian sau lại quên!). Thiếu tướng Lê Đình Số không chuyển nhà mà nhà ở phường Liễu Giai thì để cho con, còn mình về quê... nhưng thỉnh thoảng lại lên Hà Nội thăm con! Hôm rồi tôi đến gặp bác Số là định xin lưu bút (chữ kí thật, chữ viết thật) nhưng... thất bại (tôi nghiệm thấy cứ dính đến cụ tướng về hưu nào làm công tác cán bộ là đều sợ người ta xin chữ kí của mình để làm điều xấu nên không dám cho chữ kí, nếu có cho chữ kí thì không dám ghi cấp bậc của mình...!!!).

Tôi thấy những đồng chí bán quân trang ở các cửa hàng của quân đội gọi nôm na là: "Tiết" hoặc "Nỉ" có nghĩa là quân hàm; "Mu rùa" có nghĩa là phù hiệu ngành quân pháp,... gọi cho đúng theo sách thì cũng khó và có phần rắc rối (sao, gạch, cúc chốt, quân hàm, cầu vai).

Chào bác aluuls, căn cứ vào kiểu quân phục giống nhau thì quân hàm của 2 vị tướng đó là giống kiểu nhưng của vị tướng bên dưới thì đeo lộn ngược vị trí của quân hàm bên trái (ảnh). Chỉ cần xoay ngược lại thì mới đúng điều lệnh!


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: haanh trong 27 Tháng Sáu, 2009, 11:07:50 am
hehe , bác tranvietvuong có bán HCCC hạng 3 không ? cái của tui mất cuốn , tính mua cái mới đeo óp lai cho oách  ;D


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Hữu Tình, Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng TCHC
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Sáu, 2009, 06:51:15 pm
(http://img3.imageshack.us/img3/1456/thieutuongnguyenhuutinh.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Hữu Tình (bí danh : Hà Bắc, 11.01.1935), từng giữ các chức vụ : Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm, Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần ; Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 1 ; Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn 26.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (8.1990).


Thiếu tướng Nguyễn Hữu Tình quê tại xã Liên Mạc, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông nhập ngũ ngày 17 tháng 3 năm 1953, được kết nạp vào Đảng ngày 31 tháng 12 năm 1958 (chính thức 1 tháng 9 năm 1959).

Năm 1948, ông tham gia dạy bình dân học vụ và dân quân tự vệ xóm tại quê nhà ; 7.1953, chiến sĩ văn thư tỉnh đội Vĩnh Phúc ; 10.1953, chiến sĩ Đại đội 103 Tiểu đoàn 10 Trung đoàn 77 Bộ Tổng Tư lệnh ; 1.1954, đội viên  rồi đội phó đội cải cách ruộng đất ở Phú Thọ, Sơn Tây, Hưng Yên.

Tháng 1 năm 1957, ông là tiểu đội phó Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 Đại đoạn Pháo cao xạ 367 ; 11.1957, được cử đi học tại Trường Sĩ quan Pháo binh khóa 1 Trường Cao xạ 400 ; 4.1959, trung đội trưởng Đại đội 4 Trung đoàn Pháo phòng không 214 Bộ Tư lệnh Pháo binh (F351) ; 8.1962, trung đội trưởng Đại đội 1 Trung đoàn pháo phòng không 214 Bộ Tư lệnh Phòng không ; 3.1963, đại đội phó Đại đội 3 Trung đoàn Pháo phòng không 214 Quân khu 4 Bộ Tư lệnh Phòng không ; 1964, đại đội trưởng Đại đội 3 Trung đoàn pháo phòng không 214 Quân khu 4.

Tháng 11 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Pháo phòng không 214 Quân khu 4 ; 3.1966, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 1 phụ trách Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Trung đoàn pháo phòng không 214 Quân khu 4 ; 1968, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn pháo phòng không 214 Sư đoàn Phòng không 375 Quân khu 4 ; 1969, Tham mưu phó Trung đoàn pháo phòng không 214 Quân khu 4 ; 1970, trung đoàn phó Trung đoàn Pháo phòng không 233 Quân khu 4 ; 3.1974, trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo phòng không 214 Quân khu 4.

Tháng 7 năm 1978, ông được cử đi học tại Học viện Hậu cần ; 8.1980, sư đoàn trưởng Sư đoàn 342 Quân đoàn 65 Quân khu 4 ; 6.1981, sư đoàn trưởng Sư đoàn 311 Quân đoàn 26 Quân khu 1 ; 9.1985, Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn 26 Quân khu 1 ; 9.1986, Phó Tư lệnh Quân đoàn 26 rồi được cử đi học bổ túc tại Học viện Hậu cần của Liên Xô.

Trở về nước, tháng 6 năm 1987 ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 1 ; 5.1991, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng ủy Tổng cục ; 11.1994, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng ủy Tổng cục cho đến khi về hưu ngày 1 tháng 1 năm 2000.






Tiêu đề: Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân, Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu Thủ đô
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Sáu, 2009, 07:11:17 pm
(http://img3.imageshack.us/img3/2285/thieutuongtrinhthanhvan.jpg)

Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân (05.04.1934), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất,  Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (10.1994).


Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân quê tại xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Ông nhập ngũ tháng 4 năm 1954, được kết nạp vào Đảng tháng 2 năm 1958 (chính thức tháng 10 năm 1958).

Cuối năm 1952, ông là trung đội trưởng thanh niên xung phong ; 4.1954, là chiến sĩ rồi tiểu đội trưởng của Trung đoàn 77 (trực thuộc Bộ Quốc phòng).

Tháng 7 năm 1955, ông là kế toán tài vụ Ban nghiên cứu sân bay Cục Không quân ; 9.1960, học viên Thể dục Thể thao tại Quảng Châu Trung Quốc ; 1.1964, trợ lý thể dục thể thao Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 1 năm 1965, ông chuyển sang giữ chức vụ chính trị viên Đại đôi 805 Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 364 Pháo binh ; 12.1968, trợ lý Chính trị và Đảng vũ Lữ đoàn 364 Pháo binh (Bộ Tư lệnh B5) ; 9.1970, chính trị viên Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 364 Pháo binh (Bộ Tư lệnh B5) ; 9.1971, Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 45 Pháo binh, Phó Chính ủy Lữ đoàn 45 ; 10.1972, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 354 ; 1.1974, chuyển về làm Trưởng Phòng Tổ chức Cục Chính trị Quân khu Thủ đô.

Tháng 3 năm 1979, ông được cử giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô ; 8.1981, Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô ; 10.1987, Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu Thủ đô, Bí thư Đảng ủy Quân khu cho đến khi nghỉ hưu tháng 4 năm 1993.

Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân là Đại biểu Quốc hội khóa XI và là Chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hà Nội (1.2000). Từ ngày 19 tháng 5 năm 2000, ông là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: faraway_sea trong 01 Tháng Bảy, 2009, 05:23:33 pm
Sao trong đây Tôi không tìm thấy bài  viết về Thiếu tướng Hoàng Anh tuấn (tức Hồ Xuân Anh), nguyên  Trưởng đoàn Chính phủ CMLT CHMN VN trong Ban liên hợp quân sự bốn bên sau Hiệp định Paris, Đại sứ tại Ấn Độ?
Thanks.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 01 Tháng Bảy, 2009, 06:28:09 pm
Sao trong đây Tôi không tìm thấy bài  viết về Thiếu tướng Hoàng Anh tuấn (tức Hồ Xuân Anh), nguyên  Trưởng đoàn Chính phủ CMLT CHMN VN trong Ban liên hợp quân sự bốn bên sau Hiệp định Paris, Đại sứ tại Ấn Độ?
Thanks.

Rất tiếc là em không có tài liệu gì về Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cả. Bác thông cảm, em cũng chỉ là người đi sưu tầm và tổng hợp lại thôi. Hy vọng là lúc nào đó sẽ đáp ứng được yêu cầu của bác. Cám ơn bác đã quan tâm đến topic này.


Tiêu đề: Trung tướng Đinh Văn Tuy, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Bảy, 2009, 02:50:03 am
(http://img193.imageshack.us/img193/6283/trungtuongdinhvantuy.jpg)

Trung tướng Đinh Văn Tuy (tên thật: Lê Cảnh, 1922-1990), từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Chính ủy Bộ Tư lệnh Công an vũ trang.

Huân cương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất…

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984).


Trung tướng Đinh Văn Tuy quê tại xã Chí Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia Cách mạng năm 1945, nhập ngũ năm 1946 và là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947.

Từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1946, ông là trung đội phó tự về thành Hoàng Diệu rồi trung đội phó Vệ quốc đoàn tham gia chiến đấu trong những ngày toàn quốc kháng chiến tại Hà Nội.

Trong kháng chiến chống Pháp, từ tháng 7 năm 1947 đến năm 1954 ông lần lượt giữ các chức vụ từ cán bộ quân sự huyện đội đến tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hà Đông, trung đoàn trưởng Trung đoàn 254 Đại đoàn 350.

Tháng 7 năm 1955, ông phụ trách bộ phận cố vấn Việt Nam tại Phong-xa-lì (Lào) ; 6.1960, được bổ nhiệm giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Công an vũ trang Khu Tây Bắc ; 1963, được điều về làm cán bộ Cục Tham mưu Bộ Tư lệnh Công an vũ trang.

Năm 1966, ông được điều vào làm Chỉ huy trưởng Công an vũ trang, rồi Trưởng ty kiêm Chính ủy Công an vũ trang tỉnh Nghệ An ; Từ tháng 10 năm 1971 đến năm 1974, lần lượt giữ các chức vụ : Cục phó Cục Tham mưu, Phó Chính ủy rồi Chính ủy Bộ Tư lệnh Công an vũ trang.

Từ năm 1981, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng cho đến khi mất (năm 1990).






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: demmauhong trong 02 Tháng Bảy, 2009, 03:56:47 am
Thiếu tướng Trinh Thanh Vân nghỉ hưu tháng 4/1993 sao lại được phong quân hàm Thiếu tướng tháng 10/ 1994? Mà ông này sinh năm 1934 thì năm 1993 chắc chưa hưu được?


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Bảy, 2009, 08:45:22 pm
Thiếu tướng Trinh Thanh Vân nghỉ hưu tháng 4/1993 sao lại được phong quân hàm Thiếu tướng tháng 10/ 1994? Mà ông này sinh năm 1934 thì năm 1993 chắc chưa hưu được?

Bài về Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân em dựa trên tài liệu của Quân chủng Phòng không Không quân, không thấy có đính chính gì cho nên em chắc là không sai đâu. Đại tá về hưu thì hưởng lương Thiếu tướng, về hưu 1 năm mới được phong hàm Thiếu tướng em thấy cũng không có gì lạ cả bác ạ.


Tiêu đề: Trung tướng Đỗ Quang Hưng, quyền Tư lệnh Quân khu 7
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Bảy, 2009, 06:05:23 pm
(http://img43.imageshack.us/img43/791/trungtuongdoquanghung.jpg)

Trung tướng Đỗ Quang Hưng (1929-9h 15' 30/05/2009) quê tại xã Long Điền, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Ông từng giữ các chức vụ: quyền Tư lệnh Quân khu 7, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh.

Huân chương Độc lập hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân, Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu Thủ đô
Gửi bởi: nhatminhdl54 trong 04 Tháng Bảy, 2009, 07:09:55 pm
(http://img3.imageshack.us/img3/2285/thieutuongtrinhthanhvan.jpg)

Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân (05.04.1934), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô.
.....
Tháng 1 năm 1965, ông chuyển sang giữ chức vụ chính trị viên Đại đôi 805 Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 364 Pháo binh ; 12.1968, trợ lý Chính trị và Đảng vũ Lữ đoàn 364 Pháo binh (Bộ Tư lệnh B5) ; 9.1970, chính trị viên Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 364 Pháo binh (Bộ Tư lệnh B5) ; 9.1971, Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 45 Pháo binh, Phó Chính ủy Lữ đoàn 45 ; 10.1972, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 354 ; 1.1974, chuyển về làm Trưởng Phòng Tổ chức Cục Chính trị Quân khu Thủ đô.

Tháng 3 năm 1979, ông được cử giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô ; 8.1981, Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô ; 10.1987, Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu Thủ đô, Bí thư Đảng ủy Quân khu cho đến khi nghỉ hưu tháng 4 năm 1993.

Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân là Đại biểu Quốc hội khóa XI và là Chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hà Nội (1.2000). Từ ngày 19 tháng 5 năm 2000, ông là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội.
@panphilov: bạn nên xem lại một số mốc thời gian trong đoạn tôi đánh dấu đỏ.
1. "...Quý II năm 1979, Quân đoàn được lệnh thành lập khung Sư đoàn 354 để chuyển cho đơn vị bạn (Tháng 10 năm 1979, Sư đoàn 354 dược bàn giao cho Quân khu Thủ đô). "
(Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2003) http://www.quansuvn.net/index.php?topic=140.90 )
2. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, theo sắc lệnh 28-LCT, Quân khu Thủ đô được thành lập trên cơ sở Bộ tư lệnh Thủ đô, quản lý về mặt quân sự địa bàn thành phố Hà Nội. Năm 1999, địa bàn của Quân khu Thủ đô bổ sung bao gồm cả tỉnh Hà Tây.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân, Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu Thủ đô
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Bảy, 2009, 05:55:19 pm
@panphilov: bạn nên xem lại một số mốc thời gian trong đoạn tôi đánh dấu đỏ.
1. "...Quý II năm 1979, Quân đoàn được lệnh thành lập khung Sư đoàn 354 để chuyển cho đơn vị bạn (Tháng 10 năm 1979, Sư đoàn 354 dược bàn giao cho Quân khu Thủ đô). "
(Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2003) http://www.quansuvn.net/index.php?topic=140.90 )
2. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, theo sắc lệnh 28-LCT, Quân khu Thủ đô được thành lập trên cơ sở Bộ tư lệnh Thủ đô, quản lý về mặt quân sự địa bàn thành phố Hà Nội. Năm 1999, địa bàn của Quân khu Thủ đô bổ sung bao gồm cả tỉnh Hà Tây.

Thông tin về Thiếu tướng Trần Thanh Vân em lấy trong cuốn Thủ trưởng và Tưỡng lĩnh Quân chủng PK KQ. Trong cuốn này thì họ ghi như vậy, trong thông tin về Sư 354 họ có mở ngoặc ra là (Quân đoàn 1), em bỏ chi tiết này vì thời điểm đó Quân đoàn chưa được thành lập.



Tiêu đề: Đại tá Trần Quang Hùng, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 09 Tháng Bảy, 2009, 02:40:03 am
(http://img10.imageshack.us/img10/4725/daitatranquanghung.jpg)

Đại tá Trần Quang Hùng (bí danh : Trần Quang Hâu, 12.1921 – 01.12.1997), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Giám đốc Trường Quân chính Khu 10.

Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Chiên sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Đại tá (10.1973).


Đại tá Trần Quang Hùng quê tại xã Lệ Chi, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông tham gia Cách mạng năm 1941, nhập ngũ tháng 3 năm 1945 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 5 năm 1945 (chính thức tháng 7 năm 1945).

Tháng 3 năm 1945, ông là cán sự châu Tuyên Hóa ; 6.1945, chính trị viên trung đội ; 8.1945, chính trị viên phó ; 9.1945, đại đội phó ; năm 1946, ông giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng.

Năm 1949, ông được bổ nhiệm chức vụ giám đốc Trường Quân chính Khu 10 ; 1950, chuyển sang làm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64 Vĩnh Phúc ; 1953, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 392 Trung đoàn 367.

Tháng 11 năm 1956, ông giữ chức vụ trung đoàn phó Trung đoàn pháo cao xạ 240 Đại đoàn 367 ; 10.1960, trung đoàn trưởng Trung đoàn 240 Bộ Tư lệnh Phòng không ; 8.11962, theo học tại Học viện Trung cao Quân sự ; 3.1964, được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Chỉ huy sở Phòng không Quân khu 3.

Tháng 6 năm 1966, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó Phòng không Quân khu 3 ; 4.1968, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, quyền Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 7.1971, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1974, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân cho tới khi về hưu. Đại tá Trần Quang Hùng mất ngày 1 tháng 12 năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh.






Tiêu đề: Đại tá Trần Kim Ngọc, Phó Tư lệnh-Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng PK
Gửi bởi: panphilov trong 09 Tháng Bảy, 2009, 03:03:44 am
(http://img26.imageshack.us/img26/2373/daitatrankimngoc.jpg)

Đại tá Trần Kim Ngọc (bí danh : Ngân Giang, 18.01.1928-13.07.2004), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Trang bị Kỹ thuật Quân chủng Phòng không, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (10.1981).


Đại tá Trần Kim Ngọc quê tại xã Đông Khê, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng. Ông tham gia Cách mạng trước tháng 8 năm 1945, nhập ngũ tháng 10 năm 1945 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 4 năm 1949 (chính thức tháng 11 năm 1949).

Tháng 10 năm 1945, ông là nhân viên xưởng Quân giới  Trung đoàn Tuyên Quang ; 1.1947, phụ trách vận chuyển vũ khí lên Bắc Kạn ; 4.1948, phụ trách xây dựng công trình 161 Cục Quân giới ; 12.1948, là kỹ thuật viên kiêm đốc công xưởng 150 Cục Quân giới ; 11.1950, cán bộ kỹ thuật hàn gò xưởng 71 Cục Quân giới ; 1.1953, được cử đi học pháo cao xạ 37 mm ở Trung Quốc ; 9.1953, về nước là trợ lý quân khí kiêm chủ nhiệm công trình xa Trung đoàn 367 ; 1.1954, phụ trách chính trị viên Bộ phận Hậu cần tiền phương Trung đoàn 367 phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ ; 4.1954, trợ lý Quân khí Tiểu đoàn 394 Trung đoàn 367 phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ ; 10.1954, chủ nhiệm quân khí  Trung đoàn 689 Đại đoàn 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Quân khí Trung đoàn 681 Đại đòan 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 8.1958, theo học văn hóa tại Trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn ; 1.1959, học pháo cao xạ 57 mm Bộ Tư lệnh Phòng không ; 9.1960, Chủ nhiệm Hậu cần Trung đòan 230 Bộ Tư lệnh Phòng không.

Tháng 7 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ Phó Phòng Quân giới Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Trưởng Phòng Quân giới Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1972, Cục Phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1974, đi học bổ túc kỹ thuật tại Trường Cao đẳng Ô-đéc-xa thuộc Liên Xô ; 8.1975, về nước tiếp tục giữ chức vụ Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 5 năm 1977, khi Quân chủng Phòng không Không quân tách thành Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân, ông được cử giữ chức vụ Cục Phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không ; 8.1979, Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1980, Phó Tư lệnh về trang bị kỹ thuật kiêm Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không cho đến tháng 7 năm 1986 thì thôi giữ chức Chủ nhiệm Kỹ thuật. Đại tá Trần Kim Ngọc nghỉ hưu ngày 20 tháng 11 năm 1989 và mất tại Hà Nội.






Tiêu đề: Đại tá Nguyễn Văn Điện, Phó Tư lệnh-Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng PK
Gửi bởi: panphilov trong 10 Tháng Bảy, 2009, 04:13:23 am
(http://img12.imageshack.us/img12/2669/daitanguyenvandien.jpg)

Đại tá Nguyễn Văn Điện (bí danh : Hùng Vân, 15.10.1928 – 1994), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Phòng không.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Đại tá (9.1979).


Đại tá Nguyễn Văn Điện quê tại xã Đức Thông, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia Cách mạng tháng 10 năm 1943, nhập ngũ ngày 22 tháng 12 năm 1944 và là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 2 tháng 2 năm 1948 (chính thức ngày 19 tháng 8 năm 1948).

Tháng 10 năm 1943, ông giác ngộ Cách mạng và là tổ trưởng Thiếu nhi cứu quốc tại quê nhà. Tháng 11 năm 1944, ông làm liên lạc cho nhiều nhà cách mạng trong đó có ông Đàm Quang Trung. Tháng 12 năm 1944, ông là chiến sĩ Giải phóng quân Cao Bằng.

Từ tháng 10 năm 1946, ông lần lượt trưởng thành từ chiến sĩ, tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 665 Tiểu đoàn 55 Trung đoàn 72 (Cao Bằng) ; 8.1948, đại đội trưởng Đại đội 665 Tiểu đoàn 55 Trung đoàn 72 ; 9.1949, tiểu đội trưởng, trung đội phó công tác tại Liên khu bộ Việt Bắc ; 8.1950, trung đội trưởng Đại đội 2 Tiểu đoàn 55 Trung đoàn 74 ; 3.1951, được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân ; 12.1952, đại đội phó Tiểu đoàn 169 Bộ Tổng Tư lệnh ; 2.1953, phụ trách đại đội trưởng Đại đội 75 Tiểu đoàn Phòng không 681 Bộ Tổng Tư lệnh ; 3.1954, đại đội phó Đại đội 75 Tiểu đoàn Phòng không 681 Bộ Tổng Tư lệnh ; 9.1954, đại đội trưởng Đại đội 2 Trung đoàn 681 Đại đoàn 367.

Tháng 12 năm 1955, ông là đại đội phó Đại đội 2 Trung đoàn 681 Đại đoàn 367 ; 2.1957, tham mưu trưởng Tiểu đoàn 82 Trung đoàn Pháo Phòng không 220 (Trung đoàn 681) Đại đoàn 367 ; 8.1958, trợ lý tác chiến Phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh Phòng không ; 8.1964, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự.

Tháng 4 năm 1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn Pháo Phòng không 220 Sư đoàn 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1965, tham mưu trưởng Trung đoàn Pháo phòng không 222 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1965, trung đoàn phó Trung đoàn Pháo Phòng không 222 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, trung đoàn phó Trung đoàn Pháo Phòng không 240 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1967, trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo Phòng không 240 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1970, tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 7.1971, phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 8 năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Phòng không ; 8.1979, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1980, Phó Tư lệnh về hậu cần kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Phòng không cho đến tháng 7 năm 1986 thì thôi kiêm Chủ nhiệm Hậu cần. Đại tá Nguyễn Văn Điện nghỉ hưu ngày 15 tháng 1 năm 1990 tại Hà Nội.






Tiêu đề: Đại tá Mai Đức Toại, Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 10 Tháng Bảy, 2009, 04:36:59 am
(http://img44.imageshack.us/img44/4392/daitamaiductoai.jpg)


Đại tá Mai Đức Toại (bí danh : Mai Đức Nhân, 15.05.1931), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Không quân.

Huân chương Quân công hạng Ba, 4 Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 3 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (12.1980).


Đại tá Mai Đức Toại quê tại thôn Ngũ Kiên, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Cách mạng tháng 1 năm 1949, nhập ngũ ngày 18 tháng 10 năm 1950 và là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 27 tháng 10 năm 1949 (chính thức ngày 26 tháng 4 năm 1950).

Tháng 1 năm 1949, ông làm liên lạc du kích và văn thư xã đội ; 10.1950, là chiến sĩ Đại đội 2 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 44 Liên khu 4 ; 18.1.1951, tiểu đội phó, tiểu đội trưởng, trung đội phó rồi trung đội trưởng cán sự chính trị Trung đoàn 363, cán sự chính trị Tiểu đoàn 130 Trung đoàn 209 Đại đoàn 312.

Tháng 5 năm 1955, ông là Trợ lý tổ chức Trung đoàn 209, trợ lý tổ chức Đại đoàn 312 ; 9.1958, đi học tại trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn ; 8.1959, học viên bay Trường Hàng không số 1 ở Cát Bi, Hải Phòng ; 26.1.1960, học viên Trường Hàng không số 3 Trung Quốc, bay I-ắc 18, Mig 15, Mig 17, bay khoa mục chiến đấu ở Dương Thôn và Mông Tự (Vân Nam, Trung Quốc) ; 4.1965, đại đội trưởng Đại đội 1, chủ nhiệm kỹ thuật bay Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 923 về nước tham gia chiến đấu.

Tháng 3 năm 1968, ông là trung đoàn phó Trung đoàn KHông quân 925 đào tạo huấn luyện phi công Mig 17 khoa mục chiến đấu ở Tường Vân, Côn Minh, Vân Nam (Trung Quốc) chuyển lại Mig 19 tại căn cứ Trường Không quân số 1 ở Tế Nam (Trung Quốc) ; 10.1969, trung đoàn phó, trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 925, về nước tổ chức Trung đoàn Không quân 925 chiến đấu trên loại máy bay Mig 19 ; 6.1973, tham mưu trưởng Binh chủng Không quân rồi được cử đi học tại Học viện Không quân Ga-ga-rin của Liên Xô ; 9.1974, tham mưu trưởng Binh chủng Không quân ; 3.1975, trưởng phòng không quân, Trưởng phòng Tác chiến Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 4 năm 1976, ông là Sư đoàn phó, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370 (Đà Nẵng) ; 14.7.1978, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371 ; 25.8/1979, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Không quân ; 16.8.1980, Phó Tư lệnh Hậu cần kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Không quân ; 8.1982, được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng ; 18.12.1983, được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân cho đến khi nghỉ hưu ngày 12 tháng 11 năm 1990.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: nhatminhdl54 trong 15 Tháng Bảy, 2009, 10:41:05 pm
Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Nhớ lễ phong tướng 60 năm trước
Theo QĐND - Thứ Sáu, 01/02/2008
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/89/70/78/78/78/26003/Default.aspx
Ngày 19-1-1948, Hội đồng Chính phủ họp.

Sau chiến thắng Việt Bắc, Bác đã bàn với Trung ương nhân dịp này để động viên tinh thần bộ đội, đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang qua hơn hai năm chiến đấu, cần thành lập Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam, phong quân hàm cho một số cán bộ quân đội và tặng thưởng huân chương cho những người đã lập được chiến công. Chủ trương của Đảng được toàn thể thành viên trong hội đồng Chính phủ hoan nghênh.

Ngày 20-1-1948, Bác ký sắc lệnh phong quân hàm cho một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội. Tôi được trao quân hàm Đại tướng. Các anh Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Đối với Nam Bộ, quân và dân Nam Bộ chiến đấu sớm nhất, đã hơn hai năm; Bác và Trung ương đã cân nhắc; cuối cùng, đi tới quyết định phong quân hàm Trung tướng cho anh Nguyễn Bình. Ngoài ra một số cán bộ cấp cục hoặc chỉ huy các liên khu được phong cấp đại tá. Việc phong quân hàm chỉ mới tiến hành trong những cán bộ chủ chốt, chưa thực hiện với toàn quân.

Hội đồng Chính phủ dự định tổ chức lễ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 27-5-1948.

Mấy ngày này trời mưa rất to.

Ngày 27-5, trời vẫn mưa, các sông suối nước lớn không qua lại được. Các đại biểu chưa đến đủ. Cụ Bùi Bằng Đoàn, đại diện Quốc hội, cũng chưa đến được. Hội đồng Chính phủ tranh thủ họp phiên toàn thể để giải quyết một số vấn đề quan trọng: đánh giá tình hình trong nước, âm mưu của bọn thực dân phản động Pháp, nhất là âm mưu chia rẽ của bọn chúng và cách đối phó; lập quy chế công chức mới thay cho chế độ công chức thời thuộc Pháp và giao cho Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính nghiên cứu thang lương công chức; ra sắc lệnh thành lập Ban thi đua toàn quốc và chọn ngày 19-6-1948, ngày kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến làm ngày phát động phong trào thi đua ái quốc.

Cuộc họp kéo dài tới nửa đêm vẫn chưa xong, phải tiếp tục họp vào sáng hôm sau.

Ngày 28-5-1948, vào lúc 1 giờ chiều, lễ phong quân hàm được tổ chức trọng thể.

Một hội trường mới dựng bên dòng suối lớn, dưới tán cây rừng, dựa vào sườn núi, vách mới đan còn thơm mùi nứa. Phía trong, đặt một bàn thờ Tổ quốc trang hoàng giản dị, có cờ đỏ sao vàng và lọ hoa cắm một chùm hoa núi; xung quanh là các băng đỏ ghi khẩu hiệu: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; Thống nhất độc lập nhất định thành công”. Bác và cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban thường trực Quốc hội, đứng hai bên bàn thờ, các thành viên Chính phủ đứng trước bàn thờ. Bác, tay cầm sắc lệnh, gọi tôi lên. Bằng giọng nghiêm trang và xúc động, Bác nói: “Hôm nay, thay mặt Chính phủ và nhân dân...” rồi bỗng ngừng lời, rút khăn tay lau nước mắt. Giây phút đó làm cho cả hội trường vô cùng xúc động. Lát sau, Bác nói tiếp: “Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho…”. Bác trao cho tôi sắc lệnh. Cụ trưởng Ban thường trực thay mặt Quốc hội, anh Phan Anh thay mặt Hội đồng Chính phủ phát biểu chúc mừng. Anh Tạ Quang Bửu thay mặt Bộ Quốc phòng bày tỏ lời chúc mừng và lời hứa của toàn thể bộ đội sẽ nêu cao tinh thần chiến đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng. Tôi xúc động phát biểu mấy lời, tự đáy lòng vô cùng nhớ tiếc các anh hùng liệt sĩ, chân thành biết ơn Bác, Quốc hội và Chính phủ đã dành cho tôi vinh dự cao cả. Tôi hứa sẽ đem hết tinh thần và nghị lực làm tròn nhiệm vụ, góp phần khiêm tốn của mình vào sự nghiệp đấu tranh cho độc lập và thống nhất của Tổ quốc.

Sau buổi lễ, chúng tôi ngồi quây quần bên Bác. Bác nói: Việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác hôm nay là kết quả biết bao hy sinh chiến đấu của đồng bào, đồng chí… Các thế hệ đi trước chiến đấu cho độc lập mà sự nghiệp không thành, nhắm mắt vẫn còn chưa thấy độc lập tự do. Chúng ta ngày nay may mắn hơn, nhưng trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn. Nghĩ tới hàng nghìn, hàng vạn người đã ngã xuống cho ngày hôm nay, chúng ta càng phải cố gắng giành cho được độc lập, tự do để thỏa mãn vong linh những người đã khuất… Cuộc nói chuyện trở thành buổi ôn lại truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, truyền thống cách mạng của dân tộc ta.

Sau đó các thành viên Chính phủ chụp chung một bức ảnh kỷ niệm.

Khi sự việc này được công bố trên đài Tiếng nói Việt Nam, một phóng viên phương Tây hỏi Bác vì sao một lúc phong nhiều tướng tá như vậy, việc phong cấp này được tiến hành dựa theo những tiêu chuẩn nào. Bác trả lời giản dị: Đánh thắng đại tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, thắng trung tướng phong trung tướng, thắng đại tướng phong đại tướng.

Tháng 8 năm đó, tại Hội nghị quân sự lần thứ năm, Bác nói về “Tư cách một người tướng”: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: Trí, Dũng, Nhân, Liêm, Trung”. Đối với kỷ luật: “Mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm tới mỗi đội viên… Báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng, thiết thực… Phải thưởng phạt cho công minh… Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt. Ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”. Đối với binh sĩ thì: “từ lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn tới cái ăn, cái mặc, nhất thiết phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy, họ cũng vui lòng đi, khi bảo đánh, họ sẽ hăng hái đánh… Bộ đội ta tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu”. Đối với dân “bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi”. Đối với địch thì “tuyệt đối chớ khinh địch… Khinh địch thì nhất định sẽ thất bại”.

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (12-1992). Ảnh: TRẦN HỒNG


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: binhyen1960 trong 23 Tháng Bảy, 2009, 11:56:41 am
    Chẳng có lời nhận xét nào hơn.
 Những người hùng của một quân đội anh hùng .
 Những người con của một dân tộc anh hùng .


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm, Tư lệnh đầu tiên của Binh chủng Tăng Thiết giáp
Gửi bởi: panphilov trong 26 Tháng Bảy, 2009, 09:24:58 pm
(http://img31.imageshack.us/img31/5179/thieutuongnguyenthelam.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm (tên thật : Nguyễn Kèn, 15.05.1918), từng giữ các chức vụ : Tư lệnh (đầu tiên) Binh chủng Tăng Thiết giáp, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu Trị Thiên, Tư lệnh Liên khu 5, Khu trưởng Khu 6.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì)…

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm quê tại xã Tân Xuân, huyện Hàm Thuận như ông sinh ra tại Phan Thiết, Bình Thuận trong một gia đình có 10 người con mà ông là con trai thứ 6. Thời còn đi học, ông có tên là Nguyễn Kèn.

Mặc dù cha ông chỉ học hết sơ học, mẹ ông mù chữ, nhưng ông ngay từ nhỏ đã học rất khá. Ở quê, học với thầy Lê Ấm ông học rất giỏi môn toán. Sau đó, ông ra Quy Nhơn để học Trường Quốc học Quy Nhơn, cùng học chung với các nhà khoa học, nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam như : Nguyễn Đình Tứ, Lê Văn Thiêm, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên… Tiếp đó ông ra Huế rồi Hà Nội tiếp tục học lên. Khi học ở Hà Nội, ông giác ngộ Cách mạng và tham gia các phong trào thanh niên cứu quốc tại đây.

Từ Hà Nội, ông lại quay trở về Huế theo học Trường Quân sự Thanh niên tiền tuyền. Đây là trường do chính phủ bù nhìn thân Nhật Trần Trọng Kim thành lập, nhưng điều hành lại là những trí thức yêu nước nổi tiếng như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Luật sư Phan Anh – những người sau này đều giữ những chức vụ quan trọng trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam đốc lập.

Học viên của trường đa phần đều là con em quan lại triều Nguyễn hay những gia đình giàu có như ôn Tôn Thất Hoàng là con của Thượng thư Tôn Thất Quảng, ông Đặng Văn Việt con Tổng đốc Nghệ An từng 3 lần giữ chức thượng thư, ông Võ Sum con của Quan Án sát Võ Chuẩn, Lê Thiệu Huy (người sau này sang chiến đấu cùng Mặt trận Lào, làm tham mưu trưởng liên quân Lào - Việt, ông đã lấy thân mình che đạn cho hoàng thân Xu-pha-nu-vông khi mặt trận Thà Khẹt bị vỡ và hi sinh trên dòng Mê-kông) con trai cụ Lê Thước, giải nguyên Hán học; Hoàng Xuân Bình, em ruột giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Thế Lương (tức Cao Pha) con của một nhà thầu khóan lớn.

Sau Cách mạng, nhiều học viên của Trường đã đi theo Cách mạng và trở thành những sĩ quan, tướng lĩnh tài ba của Quân đội Nhân dân Việt Nam như  Trung tướng Cao Văn Khánh (Phó Tổng Tham mưu trưởng); Thiếu tướng Cao Pha (Phó tư lệnh bộ đội đặc công) và các Thiếu tướng Mai Xuân Tần, Võ Quang Hồ, Đoàn Huyên, Phan Hàm, Đào Hữu Liêu... cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác của quân đội. Nhiều người nổi danh về tài đánh giặc như Đặng Văn Việt - trung đoàn trưởng trung đoàn 174 - mệnh danh là “đệ tứ quốc lộ đại vương” bởi những trận đánh do ông chỉ huy trên đường số 4 vùng Cao - Bắc - Lạng thời kháng Pháp. Nhiều người sau này chuyển sang dân sự là những giáo sư, tiến sĩ.

Khung huấn luyện của trường bấy giờ có bốn người do ông Phan Tử Lăng giám đốc. Ông Lăng cũng là chỉ huy trưởng lực lượng bảo an Trung kỳ - cùng các ông Võ Lương, Lê Khánh Khang và Lê Đình Bân. Ông Phan Tử Lăng là thủ khoa khóa sĩ quan chính qui Pháp đầu tiên, cùng khóa với tổng thống ngụy Dương Văn Minh.

Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Ủy viên Ban chấp hành Việt Minh và là Ủy viên Quân sự Thừa Thiên.

Cách mạng thành công và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời không lâu, ngày 23 tháng 8 năm 1945 núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng quay lại xâm lược Nam Bộ. Một tháng sau, ông phụ trách một Chi đội lên tàu Nam tiến chi viện cho quân và dân tại Sài Gòn, tuy nhiên vào đến ga Tháp Chàm (Phan Rang, Ninh Thuận) đơn vị của ông được lệnh quay trở lại vì ngày 23 tháng 10 quân Pháp đã tấn công nơi đây. Từ năm 1946 đến 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ : Chi đội phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 81 Liên khu 5 ; Từ 1948 đến 1950, là Khu phó, Khu trưởng Khu 6, quyền Tư lệnh rồi Tư lệnh Khu 5 ; Năm 1952, ông là Đại đoàn phó rồi Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 11 năm 1954 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu phó Bộ Chỉ huy Pháo binh cho đến năm 1964 là Tư lệnh Binh chủng.

Năm 1968, ông được điều vào làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu Trị Thiên ; Từ năm 1970 đến 1974, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Binh chủng Tăng Thiết Giáp và là Tư lệnh đầu tiên của Binh chủng này.

Đầu năm 1975, ông được điều về Hội đồng Khoa học của Bộ Quốc phòng và giữ chức vụ Ủy viên ; Từ năm 1979 đến năm 1981, ông về công tác và tham gia giảng dạy tại Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng rồi về hưu.

Theo : Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Vietnamnet, Báo tiền phong online.






Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Huy Vinh, vị tướng ba lần tham gia bảo vệ Hà Nội
Gửi bởi: panphilov trong 01 Tháng Tám, 2009, 01:58:13 am
(http://img385.imageshack.us/img385/4989/thieutuonglehuyvinhqp1.jpg)

Thiếu tướng Lê Huy Vinh (bí danh : Dự, 01.11.1928), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Hữu nghị Việt Xô, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (04.1984).


Thiếu tướng Lê Huy Vinh sinh ra tại Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội, quê nội ông tại xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Nơi ông sinh vốn là An toàn khu của thành ủy Hà Nội cho nên ngay từ khi còn là học sinh ông đã có dịp tiếp xúc với nhiều cán bộ Cách mạng. Đầu năm 1940, phong trào Cách mạng phát triển ngày càng mạnh ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh, sinh viên. Cuối năm 1944, ông được giác ngộ và tham gia họat động Cách mạng trong tổ chức ‘’Thanh niên cứu quốc Việt Minh thành Hoàng Diệu’’ với nhiệm vụ bí mật tuyên truyền, tổ chức giác ngộ thành viên, tuyên truyền trong nhân dân bằng các công việc cụ thể như giải truyền đơn, dán áp phích.

Tháng 3 năm 1945, ông tham gia tự vệ xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm (nay là quận Cầu Giấy) thành phố Hà Nội, bảo vệ các hội nghị bí mật của Thành ủy, chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa, giành chính quyền.

Đêm 17-8, nội, ngoại thành rạo rực, sôi sục cả đêm. Đặc biệt, đêm 18 - 8, cả Hà Nội không ngủ. Một làn sóng cách mạng dâng trào mạnh mẽ, sâu rộng chưa từng thấy. Sáng 19-8-1945 – mốc son lịch sử không thể nào quên. Mới 4-5 giờ sáng, quần chúng đã tập hợp đội ngũ chỉnh tề, cờ sao rợp đất từ khắp các ngả đường tiến vào trung tâm Hà Nội.

Theo chỉ lệnh của ủy ban Khởi nghĩa thành phố, các cánh quân nhanh chóng tỏa đi các hướng. Đội của ông vào chiếm Phủ Khâm sai (bây giờ là Nhà khách Chính phủ), ông trực tiếp trèo tường phá cổng cùng đồng đội khám xét, tịch thu vũ khí và tổ chức canh gác rất cẩn thận đợi quân ta vào tiếp quản Hà Nội. Cũng trong ngày khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, ông nhập ngũ, là chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 77 (sau thuộc Trung đoàn 48 Thăng Long).

Ngày 2-9-1945, ông tham gia bảo vệ Lễ Độc lập, bảo vệ Chính phủ cách mạng và cuộc đời quân ngũ của ông bắt đầu từ đó. Đây là lần thứ nhất ông tham gia bảo vệ Hà Nội.

Từ 10 năm 1945, ông là tiểu đội trưởng, trung đội phó Đại đội 3 Tiểu đoàn 136 (sau thuộc Trung đoàn 48 Đại đoàn Đồng Bằng 320), trực tiếp tham gia chiến đấu trong trận 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội (Ban đầu, đơn vị của ông được phân công chốt giữ ở sau Nhà hát Lớn, rồi lại được lệnh kéo xuống phòng ngự ở Ô Chợ Dừa. Đây là lần thứ hai ông tham gia bảo vệ Hà Nội) ; Sau khi rút khỏi Hà Nội, ông cùng đơn vị rút lên Hòa Bình nhằm bảo toàn lực lượng tham gia chiến đấu khắp các tỉnh thuộc khu hữu ngạn sông Hồng.

Năm 1949, ông được cử đi học tại Trường Lục quân Nguyễn Huệ ; 2.150, cán bộ biệt phái tỉnh đội Hà Nam ; 12.1950, trưởng ban Quản trị Tiểu đoàn 123 Trung đoàn 35 ; 4.1951, trung đội trưởng Đại đội 12 Trung đoàn 12, Chính trị viên phó Đại đội rồi đi học bổ túc cán bộ đại đội của Liên khu 3 ; 4.1952, trung đội trưởng Đại đội 56 Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42 (Trung Dũng) chiến đấu ở vùng địch hậu khu Tả Ngạn và dọc theo trục đường số 5 ; 12.1952, đại đội phó Đại đội 56 Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42 ; 12.1953, đại đội trưởng Đại đội 56 Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42 ; 12.1953, đại đội trưởng Đại đội 59 (chủ công của Trung đoàn) Tiểu đoàn 664 ; 7.1954, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 545 khu Tả Ngạn.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông phụ trách tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 137 Sư đoàn 328 vào tiếp quản Kiến An, Đồ Sơn, Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng ; 6.1955, tham mưu phó Trung đoàn 137 Sư đoàn 328 ; 7.1955, chủ nhiệm Pháo binh, Trưởng Ban Tác huấn Phòng Tham mưu Sư đoàn 328 ; 7.1957, tham mưu phó Trung đoàn thuộc Sư đoàn 469 ; 4.1958, đi học lớp chuyển binh chủng pháo trung cao 90mm của Bộ Tư lệnh Phòng không ; 1959, tham mưu trưởng, trung đoàn phó Trung đoàn Pháo Phòng không 280 Bộ Tư lệnh Phòng không ; 7.1962, là học viên Khoa Phòng không khóa 1 Trường trung cao quân sự.

Năm 1964, ông được cử giữ chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo Phòng không 240 Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1965, tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không Hải Phòng trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1970, phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 (Sư đoàn Phòng không Cận vệ Đỏ hay Sư đoàn Phòng không Hà Nội) trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân ; 1971, tham mưu phó Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng Phòng không Không quân trong chiến dịch Trị Thiên (1972) chỉ đạo Trung đoàn 236 đánh B52 từ Long Đại đến Cà Tung ; 10.1972, phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361, tham gia đánh trận ‘’Điện Biên Phủ  trên không’’ bảo vệ bầu trời Hà Nội, đây là lần thứ ba ông tham gia bảo vệ Hà Nội ; 7.1974, ông đựoc cử đi học tại Trường Cao đẳng Ô-đéc-xa của Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 9 năm 1975 ông tham gia viết tài liệu tổng kết tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1976, tiếp tục đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 1.1978, tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không vừa mới tách ra khỏi Quân chủng Phòng không Không quân và là Đảng ủy viên Quân chủng ; 7.1979, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 9.1980, đi học tại trường Đảng Nguyễn Ái Quốc ; 11.1981, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 1985, đi học bổ túc tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Liên Xô Vô-rô-si-lốp ; 1987, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 12.1988, là phó Tư lệnh Quân chủng cho tới khi về hưu tháng 8 năm 1992 ; Sau khi nghỉ hưu, từ năm 1993 ông bắt đầu tham gia hoạt động trong Ban chấp hành Hội cựu chiến binh tại địa phương và là Phó Ban liên lạc bạn chiến đấu Đoàn Phòng không Hà Nội. 






Tiêu đề: Thiếu tướng Lương Văn Nho, người chép sử Chiến khu Đ
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Tám, 2009, 09:39:21 pm
(http://img43.imageshack.us/img43/9503/thieutuongluongvannho.jpg)

Thiếu tướng Lương Văn Nho (Hai Nhã; 1916-1984), từng giữ các chức vụ : Tư lệnh kiêm Chính ủy Đặc khu Rừng Sác, Chỉ huy trưởng Quân khu 7, Tham mưu phó Bộ tham mưu Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Tư lệnh Quân khu 7.  Tên của ông đã đặt tên cho một đường phố tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, đường Lương Văn Nho.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì)…

Thiếu tướng (1980)


Ông quê nội ở xã Thái Hòa, thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bình Dương), nhưng ông được sinh ra ở quê ngoại, ấp Xóm Trầu, xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa (nay là Đồng Nai). Chính vì vậy mà các tài liệu viết về ông lúc thì ghi là quê huyện Tân Uyên, lúc thì ghi là Long Thành. Về năm sinh của ông, cũng có tài liệu ghi là năm 1914, trong bài viết lấy theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam là 1916.

Từ một học sinh đậu Thành Chung - Trường Tây, làm kế toán, thư ký kho bạc ở Chợ Lớn và Biên Hòa, ông giác ngộ cách mạng, tham gia giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Bà Rịa.

Trong Kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt trưởng thành từ chiến sĩ đến Huyện đội trưởng Ủy viên Quân sự huyện Long Thành (1947) rồi đại đội trưởng trực thuộc Chi đội 10 ; Trung đoàn phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 397 ; tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 300 tỉnh Bà Chợ (Bà Rịa Chợ Lớn), những đơn vị đã làm nên những trận đánh nổi tiếng trong kháng chiến chống Pháp như Trảng Tảo, Bảo Chánh, Bàu Cá, La Ngà, diệt Chi khu Cần Giờ… ; tỉnh đội trưởng Tỉnh đội dân quân Bà Rịa ; tỉnh đội phó kiêm tham mưu trưởng Tỉnh đội Bà Rịa Chợ Lớn.

Sau khi tập kết ra Bắc, từ năm 1955 đến năm 1960, ông là Chủ nhiệm pháo binh Quân khu Hữu Ngạn rồi Tham mưu trưởng Quân khu 3.

Năm 1961, ông  vào Nam chiến đấu. Tháng 10 năm 1963, đoàn pháo binh chủ lực đầu tiên của miền được thành lập, phiên hiệu U-80 gồm bốn tiểu đoàn pháo cối (Z35, Z37, Z39, Z41) và một tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 ra đời do ông làm đoàn trưởng và ông Đào Sơn Tây (Hoàng Minh Khanh, Thiếu tướng) làm chính ủy. Ngày 31-10-1964, ông trực tiếp tổ chức và chỉ huy các phân đội pháo kích vào sân bay Biên Hòa của quân Mỹ. Kết quả ta diệt và làm bị thương hàng trăm tên Mỹ hầu hết là giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 59 máy bay trong đó có 21 chiếc máy bay B57 Mỹ mới đưa vào miền Nam, làm nổ 2 kho đạn lớn, làm sập 1 đài quan sát và 18 căn trại.

Năm 1965, kho Sư đoàn 5 Chủ lực miền được thành lập ông được cử giữ chức vụ Sư đoàn phó rồi về Bộ Chỉ huy miền phụ trách Tham mưu miền. Ngày 16 tháng 4 năm 1966, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư Lệnh Miền quyết định thành lập đặc khu Rừng Sác ông được cử  làm Tư lệnh kiêm Chính ủy.

Là Tư lệnh Đặc khu Rừng Sác với uy danh Đoàn 10 đặc công lập nên những kỳ tích: Chặn sông Lòng Tàu, đánh tàu địch, tập kích kho xăng Nhà Bè, kiểm soát con đường thủy huyết mạch nối Sài Gòn với Biển Đông…

Sau khi tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, với cương vị Tư lệnh Phân khu 4, tiến công vào Sài Gòn từ hướng đông, ông giữ chức Chỉ huy trưởng Quân khu 7 vừa thành lập lại gồm Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh và Thủ Đức ; từ năm 1971 đến 1972 ông là chỉ huy trưởng C20 (Căn cứ 20) ;  sau đó, năm 1973 ông về Tây Ninh làm Phó tham mưu trưởng Miền, trực tiếp chỉ huy Đoàn 370, Khu C20, Khu C50, góp phần tích cực xây dựng căn cứ địa bắc Tây Ninh; phụ trách Đoàn 315 thi hành Hiệp định Pa-ri tại B2 và cùng Cục Tham mưu Miền làm tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ cho đến ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975.

Chiến tranh kết thúc, Bộ Chỉ huy Miền giải thể, ông về làm Phó tư lệnh Quân khu 7, chỉ đạo, tổ chức ngành lịch sử quân sự B2 và Quân khu 7… một “mặt trận” mới với không ít thử thách, khó khăn. Nhưng với kinh nghiệm của một cán bộ dạn dày trận mạc, với tình cảm thủy chung sâu nặng với quê hương, ý thức tôn trọng lịch sử, đồng cảm, chia sẻ với những hy sinh, mất mát của đồng bào, đồng chí trong chiến tranh, dưới sự chỉ đạo của ông, nhiều công trình, nhiều chuyên đề tổng kết chiến tranh có giá trị thuộc B2, như “Chiến khu Rừng Sác”, “Chiến khu Đ”, “Miền Đông Nam Bộ kháng chiến”… đã được tổ chức sưu tầm tư liệu, sơ thảo, được các thế hệ cán bộ tiếp nối của ngành lịch sử Quân khu 7 hoàn chỉnh, xuất bản.

Theo: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân








Tiêu đề: Đỗ Huy Rừa, Tiểu đoàn trưởng đầu tiên Tiểu đoàn 307
Gửi bởi: panphilov trong 11 Tháng Tám, 2009, 03:20:53 am
(http://img3.imageshack.us/img3/8959/dohuyrua.jpg)

Đỗ Huy Rừa (1924 – 08/06/1949), từng giữ các chức vụ : Tiểu đoàn trưởng (đầu tiên) của Tiểu đoàn 307, Trung đoàn phó Trung đoàn 99, Chi đội phó Chi đội Trần Phú.

Ông là con thứ 2 của cụ Đỗ Huy Túc (tức cụ Ba Khơ) trong một gia đình có 4 con trai là Đỗ Huy Nưa, Đỗ Huy Rừa, Đỗ Huy Bàng, Đỗ Huy Mai. Ông là hậu duệ của Đình nguyên Đỗ Huy Liêu, Tham tá nội các thời vua Hàm Nghi, sĩ phu chống Pháp ; Phó bảng Đỗ Huy Uyển làm quan đến chức biện lý Bộ hộ ; Cử nhân Đỗ Huy Cảnh làm quan đến chức Tuần phủ Bố chánh sứ.

Còn nhỏ ông rất chăm chỉ, thông minh và có chí khí vì nhà nghèo nên ông theo về bên ngoại. Sau khi tốt nghiệp tiểu học, năm 1940 ông cùng bên ngoại sang làm ăn sinh sống tại nước Lào. Năm 1942, ông đăng vào lớp hạ sĩ quan của Pháp.

Ở Viên Chăn, ông gặp những người cộng sản trong Ban cán sự Đảng ngoài nước, được tuyên truyền giác ngộ và được kết nạp Đảng lúc vừa tròn 20 tuổi, là một tuyên truyền viên về Mặt trận Việt Minh với các đối tượng binh sĩ trong quân đội cũ.


Tháng 8/1945 ông được giao nhiệm vụ thành lập căn cứ bí mật ở xóm Xăng Phin và tổ chức các đội tự vệ "Việt kiều giải phóng quân" tổ chức của quân tình nguyện Việt Nam tại Viên Chăn (Lào). Giải phóng quân đã sát cánh cùng lực lượng vũ trang Lào bảo vệ chính phủ lâm thời. Ông đã chỉ huy chiến đấu từ ngày cuối năm 1945 với một số trận đánh như trận tiêu diệt trung đội tàn quân Pháp ở bến Thà Đừa, trận tiêu diệt trung đội biệt kích ở cánh đồng Noỏng-phắc-tốp phía Tây Bắc Viên Chăn.

Vào năm 1946 Thực dân Pháp đánh chiếm phân khu Mường Sình (căn cứ cách mạng của cách mạng Việt Nam và Lào), ông cùng cán bộ cách mạng Việt Nam vượt sông Mê Công sang Thái Lan, ở đó có cơ sở của cách mạng Việt Nam, mua vũ khí và trang bị tổ chức thành lập đoàn chiến sỹ Hải ngoại tại Chiến khu Um kè thuộc tỉnh Na Khom Pha mom, đặt tên là chi đội Trần Phú, ông là chi đội phó. Sau đó, tháng 11 năm 1946, vượt sông Mê Công qua Cam Phu Chia về Nam Bộ hoạt động. Trở về nước chi đội Hải ngoại Trần Phú đổi thành trung đoàn 109, nhưng ông Đỗ Huy Rừa  lại được điều về làm trung đoàn phó trung đoàn 99 đóng ở Bến Tre.

Do chiến trường phát triển, khu 8 cần có một tiểu đoàn tập trung cơ động, trang bị mạnh đủ sức đánh những trận tiêu diệt, dìu dắt bộ đội địa phương và dân quân du kích, Quân khu 8 quyết định thành lập mọt tiểu đoàn lấy tên là tiểu đoàn 307.

Lễ thành lập tiểu đoàn tại vùng căn cứ kháng chiến Giồng Luông thuộc xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Để tăng cường sự lãnh đạo và chỉ huy tiểu đoàn chủ lực của Quân khu. Quân khu đã cử ông Đỗ Huy Rừa  là trung đoàn phó trung 99 về trực tiếp làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 307.

Trong buổi lễ xuất quân trọng thể dưới sự chủ trì của Quân khu trưởng Quân khu 8 và đông đảo nhân dân huyện Thạnh Phú và các huyện lân cận tham dự. Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa đã thay mặt cán bộ chiến sỹ tiểu đoàn trịnh trọng phát biểu quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "Nguyện một lòng gìn giữ non sông" tiểu đoàn trưởng vừa dứt lời hai tiếng "Quyết tâm" được cả tiểu đoàn đồng thanh hô lên vang dội dục giã đoàn quân chân đất, đầu trần đều nhịp hùng dũng diễu qua lễ đài giữu tiếng hoan hô nhiệt liệt của nhân dân.

Năm 1949 âm mưu của địch mở cuộc càn quét lớn vào Đồng Tháp Mười, chằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến Nam Bộ như: UBKCHC Nam Bộ, Bộ Tư Lệnh Nam Bộ, Bộ Tư Lệnh Quân khu 8, triệt phá cơ sở vật chất hậu cần và tiêu diệt tiểu đoàn chủ lực Quân khu 8, tiểu đoàn 307.

Ngày 01 tháng 06 năm 1949 địch huy động 4.000 quân đa số là Âu Phi cùng 700 lính dù, 300 xe lội nước do tên đại tá: Fanl Connien chỉ huy đánh Đồng Tháp Mười.

Tiểu đoàn 307 do ông Đỗ Huy Rừa chỉ huy được lệnh đánh địch càn quét, đến ngày 8 tháng 06 năm 1949 địch đã bị tiêu hao nặng, chúng tìm cách rút chạy ra đường số 4 (nay là quốc lộ 1). Khi địch rút chạy đến Sài Tư gặp đại đội 931 thuộc tiểu đoàn 307 chặn đánh. Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa lúc cũng có mặt tại đại đội 931. Tình hình chiến sự diễn ra rất ác liệt, anh em đại đội 931 khuyên tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa lui về phía sau, nhưng ông nói: "Tôi quyết cùng các đồng chí tử chiến với địch phen này", câu của tiểu đoàn trưởng làm tăng sức chiến đấu cho bộ đội. Ta và địch đánh nhau giáp lá cà, khẩu đại liên 717 nổ súng đến đỏ nòng mà xe lội nước của địch vẫn cứ liều mạng lao vào bờ rạch tìm đường thoát chạy ra lộ 4. Ta đã diệt gần 1 đại đội địch nhưng bên ta cũng hy sinh 20 đồng chí trong đó có tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa. Vào năm 1984 phần mộ của ông Đỗ Huy Rừa  đã được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang và ông Đỗ Huy Bàng là em ruột đem về an táng tại nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Tiền Giang.

Hiện nay trong nhà bảo tàng lịch sử Quân khu 9, có trình bày chiến công của tiểu đoàn 307, có treo ảnh ông Đỗ Huy Rừa, tên tuổi của ông như gắn liền với chiến công lừng lẫy của tiểu đoàn 307. Trong cuốn lịch sử của tiểu đoàn 307 (1948 - 1954 ảnh ông Đỗ Huy Rừa được in  trang  trọng trên trang nhất của cuốn sử như dẫn dắt tiểu đoàn lập chiến công vang dội.

Tại xã Đại Điền, huyện Thanh Phú, tỉnh Bến Tre ngày nay được nhân dân dựng tượng bia kỷ niệm buổi xuất quân của tiểu đoàn 307 năm ấy và đặt tên trường tiểu học của xã là trường Đỗ Huy Rừa, để tỏ lòng thành kính và biết ơn của nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với tiểu đoàn và người tiểu đoàn trưởng trung với nước, hiếu với dân.

Theo gia phả online họ Đỗ Huy Nam Định






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: p900 trong 12 Tháng Tám, 2009, 06:21:48 pm
Bác nào có tiểu sử của thiếu tướng Nguyễn Phi Long cục phó cục tác chiến cho em xin với. Em search hoài không ra.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Tám, 2009, 07:25:20 pm
Bác nào có tiểu sử của thiếu tướng Nguyễn Phi Long cục phó cục tác chiến cho em xin với. Em search hoài không ra.

Đây là lần đầu tiên mình nghe đến tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long! Liệu bạn có nhầm sang Thiếu tướng Nguyễn Minh Long không? Vì Thiếu tướng Nguyễn Minh Long cũng từng giữ chức vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu và có thể tìm thông tin về cụ trên mạng nhé.

Nếu bạn quả quyết là đúng tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long, bạn có thể đưa thêm một số thông tin nữa được không? Ví dụ: một chức vụ trước khi về Bộ Tổng Tham mưu chẳng hạn.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: songoku trong 12 Tháng Tám, 2009, 07:34:17 pm
Trích dẫn
Đây là lần đầu tiên mình nghe đến tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long! Liệu bạn có nhầm sang Thiếu tướng Nguyễn Minh Long không? Vì Thiếu tướng Nguyễn Minh Long cũng từng giữ chức vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu và có thể tìm thông tin về cụ trên mạng nhé.

Nếu bạn quả quyết là đúng tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long, bạn có thể đưa thêm một số thông tin nữa được không? Ví dụ: một chức vụ trước khi về Bộ Tổng Tham mưu chẳng hạn.

Cứu đồng đội:  ;D

42. Nguyễn Phi Long

Nguồn: Lịch sử Cục Tác chiến 1945-2005 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=82.200)


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Tám, 2009, 08:17:14 pm
Trích dẫn
Đây là lần đầu tiên mình nghe đến tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long! Liệu bạn có nhầm sang Thiếu tướng Nguyễn Minh Long không? Vì Thiếu tướng Nguyễn Minh Long cũng từng giữ chức vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu và có thể tìm thông tin về cụ trên mạng nhé.

Nếu bạn quả quyết là đúng tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long, bạn có thể đưa thêm một số thông tin nữa được không? Ví dụ: một chức vụ trước khi về Bộ Tổng Tham mưu chẳng hạn.

Cứu đồng đội:  ;D

42. Nguyễn Phi Long

Nguồn: Lịch sử Cục Tác chiến 1945-2005 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=82.200)

Vậy thì bác nào đó số hóa tài liệu này làm ơn kiểm tra giùm cho em với ạ. Em vừa đọc lại danh sách Cán bộ Cục Tác chiến qua các thời kỳ thấy thiếu một người đó là Thiếu tướng Cục phó Lê Phi Long. Nếu không nhầm với Thiếu tướng Lê Minh Long thì em tin chắc là nhầm với Thiếu tướng Lê Phi Long.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: p900 trong 13 Tháng Tám, 2009, 11:36:51 am
Chắc em nhầm với Lê Phi Long. Bác này trước ở 1A Hoàng Văn Thụ giờ nghe nói gia đình chuyển vào HCM.


Tiêu đề: Đại tá Phan Phác, Cục trưởng Cục Quân huấn đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Tám, 2009, 12:32:11 am
(http://img7.imageshack.us/img7/5706/daitaphanphac.jpg)

Đại tá Giáo sư Phan Phác (1915-3h40’ 4/7/2009) sinh tại thôn Hà Xá, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1936, ông tham gia vào Mặt trận Dân chủ của cụ Hải Triều. Năm 1939, theo học Đại học Quân sự Xanh-xia nổi tiếng nhất của Pháp và tốt nghiệp trường này vào năm 1943. Trở về Việt Nam, ông được giác ngộ bởi nhà cách mạng Khuất Duy Tiến, hoạt động trong phong trào binh vận.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông nhiều lần được tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những lần gặp gỡ và hội đàm với phái đoàn Pháp. Tháng 3 năm 1946, ông được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định bổ nhiệm giữ chức vụ Cục trưởng Cục Quân huấn đầu tiên, rồi vào ban Binh sĩ Việt Pháp để thi hành hiệp định 14 tháng 9 năm 1946 là sĩ quan liên lạc giữa hai bên.

Tháng 5 năm 1946, ông được giao nhiệm vụ xây dựng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Trường đào tạo cán bộ đầu tiên của nước Việt Nam mới. Công việc chỉ trong 1 tuần. Cụ cùng Thứ trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu nhận nhiệm vụ tổ chức đón Cụ Hồ, Bộ trưởng Phan Anh cùng Chủ tịch Quân ủy hội Võ Nguyên Giáp lên làm lễ khai giảng cho nhà trường vào ngày 26/5/1946. Ông tham gia giảng dạy về pháo binh, chiến thuật đại cương và binh chủng hợp thành.

Thu Đông 1947, ông chỉ huy các học viên Khóa 2 và 3 tham gia bẻ gãy đợt tấn công của Pháp lên Chiến khu. Trước sự chuẩn bị ráo riết của quân Pháp chuẩn bị mở cuộc tiến công có tính chất quyết định lên Việt Bắc, thực hiện chỉ thị của cấp trên, ngày 9-10-1947, Trường được biên chế tạm thời thành một trung đoàn, lấy phiên hiệu trung đoàn 79, tham gia chiến dịch.

Sau khi quân dù nhảy xuống Chợ Đồn, gọng kìm phía đông của địch theo đường số 3 tiến đến Bắc Kạn, lên Chợ Đồn, địch đánh lên bản Thí để gặp gọng kìm phía tây. Bộ đội chủ lực của Bộ và của tỉnh Bắc Kạn đã tích cực chiến đấu, bẻ gãy gọng kìm phía đông của địch. Ngày 18-10-1947, một đại đội do quan ba Cơ-roát chỉ huy, từ Chiêm Hóa, tiến lên bản Thí. Trung đoàn 79 sử dụng một đại đội do Phan Phác (lúc này làm tổng đội trưởng) chỉ huy, phục kích ở một con suối, gần ki-lô-mét số 8 đường Đầm Hồng đi bản Thí. Đại đội có ba trung đội được trang bị một khẩu đại liên với 22 viên đạn; 11 khẩu súng trường, mỗi khẩu 7 viên đạn và một số lựu đạn. Trận đánh diễn ra khoảng 20 phút. Cán bộ, học viên nhà trường đã nêu kỷ lục xạ kích với 72 viên đạn, diệt 38 tên giặc, trong đó có tên quan ba của địch.

Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá. Năm 1949, ông được cử giữ chức vụ quyền Phó Tổng Tham mưu trưởng. Đại tá Phan Phác từng giữ chức vụ : Tham mưu phó Chiến dịch Biên Giới (1950),

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông chuyển ngành sang Bộ Nông nghiệp và Nông thôn là Cục trưởng đầu tiên Cục công cụ và cơ khí nông nghiệp rồi công tác tại Ban Thanh tra của Bộ.

Do những đóng góp của ông, ông đã được phong hàm Giáo sư, được tặng thưởng Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc…

Theo Bạn Trỗi Việt Nam và Báo Quân đội Nhân dân online






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: bichuoi trong 14 Tháng Tám, 2009, 03:20:45 am
Thiếu tướng Trần Đức Long

Sửa rồi Okie bạn thay lại link ảnh là được


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: p900 trong 14 Tháng Tám, 2009, 01:06:57 pm
Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá

Bác ơi chỗ này có nhầm không bác. Vì năm 1958 mới phong quân hàm đầu tiên mà.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Tám, 2009, 03:20:14 pm
Đầu năm 1948 có 1 đợt phong tướng và đại tá. Rải rác sau đó cũng có vài lần phong đại tá nữa.


Tiêu đề: Đại tá Hoàng Đạo Thúy, người Chỉ huy Lãnh đạo Thông tin Liên lạc đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 14 Tháng Tám, 2009, 11:19:54 pm
(http://img5.imageshack.us/img5/714/daitahoangdaothuyx.jpg)

Đại tá Hoàng Đạo Thúy (1900-1994), từng giữ các chức vụ: Ủy viên ủy ban Quân sự toàn quốc, Giám đốc Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Cục trưởng đầu tiên Cục Thông tin Liên lạc, Cục trưởng Cục Giao thông Dân binh, Cục trưởng Cục Quân huấn, Cục trưởng Cục Chính trị.

Ngoài ra ông còn từng là: Đại biểu Quốc hội Khóa 1, Giám đốc Trường Dân tộc Trung ương, Tổng Thư ký đầu tiên Phong trào thi đua ái quốc. Tên họ của ông đã được đặt cho một đường phố tại Hà Nội, phố Hoàng Đạo Thúy.


Đại tá Hoàng Đạo Thúy sinh năm 1900, cũng có nơi ghi là 1897, tại số nhà 7 phố Hàng Đào. Xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, vốn gốc họ Cung ở làng Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, nay thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội. Bố ông là cụ Hoàng Đạo Thành hiệu Cúc Lữ đổi họ khi đi thi hương, đỗ cử nhân, làm quan giáo thụ ở các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Đa Phúc, Thuận Thành, Từ  Sơn; làm Tri huyện Quế Dương, Thuận Thành; Thương tá Bắc Ninh, viết Việt  sử tân ước, Việt sử tứ tự, Đại Nam hành nghĩa liệt nữ truyện… Cụ là một chí sĩ trong Phong trào Duy tân. Tên tuổi cụ Hoàng Đạo Thành cũng được đặt cho một đường phố tại Hà Nội. Anh trai của ông là Cử nhân Hoàng Đạo Phương, một thương gia giàu có ở Hà Nội ngày xưa. Chị gái ông là nữ sĩ Hoàng Thị Uyển, tức bà Cả Mọc.

Hoàng Đạo Thúy lúc còn nhỏ theo học tại Trưởng Bưởi (Trường Chu Văn An của Hà Nội bây giờ), rồi làm giáo viên Tiểu học tại Trường Sinh Từ từ những năm 1920, nhiều năm cư trú tại làng Đại Yên.

Trong thời gian dậy học, ông bắt đầu nghiên cứu và tìm hiểu các tài liệu về Hướng đạo của Liên đoàn Hướng đạo Pháp.

Trong những năm 1927-1930, các đoàn Hướng đạo Việt Nam đầu tiên xuất hiện ở miền Bắc, hầu hết đều trực thuộc Hội Hướng đạo Pháp. Năm 1929 Hoàng Đạo Thúy cho in quyển Hướng đạo sinh tại Nhà in Đông Tây ở Hàng Bông.

Trưởng Hoàng Đạo Thúy lập ra Ắu đoàn đầu tiên tên là bầy Lê Lợi vào năm 1931 với tên rừng là Hổ Sứt (sau đổi tên thành Hổ Mài Nanh). Cùng với việc thành lập đoàn Lê Lơi, Trần Duy Hưng lập Thiếu đoàn Hùng Vương.

Năm 1933, Hoàng Đạo Thúy đổi danh xưng là Hướng Đạo Sinh (thay vì Ðồng tử quân) và chọn áo sơ mi màu củ nâu với quần cụt màu xanh nước biển làm đồng phục. Tổ chức và sinh hoạt theo mẫu Hướng đạo Pháp.

Với sự gây dựng của các trưởng đi tiên phong, và sự giúp đỡ của Hướng đạo Pháp, Hướng đạo Việt Nam đã tổ chức được 3 ngành: Ấu, Thiếu và Tráng. Đáng kể nhất là Tráng đoàn Lam Sơn, một trong những tráng đoàn đầu tiên cột trụ của phong trào Hướng đạo Việt Nam tại miền Bắc do Trưởng Hoàng Đạo Thúy hướng dẫn. Ông cũng là tác giả các cuốn Hướng Đạo Đoàn, Đội Của Tôi với bút hiệu Ba Tô. Năm 1936, khi Liên hội Đông Dương được thành lập, ông là một trong những Ủy viên phụ trách ngành Tráng sinh và là Thủ lĩnh của phong trào hướng đạo Bắc Kỳ được người Pháp hết sức nể trọng.

Những năm 40, ông là thành viên Ban biên tập báo Thanh Nghị, phụ trách các vấn đề giáo dục, văn hóa, hướng dẫn thanh thiếu niên theo phương pháp Hướng đạo. Cùng thời điểm, ông tham gia hoạt động phong trào Truyền bá Quốc ngữ, phong trào Cứu tế xã hội ở miền Bắc, Hội viên Hội Tân Việt Nam...Với tinh thần yêu nước, ông gia nhập Việt Minh. Khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông nỗ lực hướng hoạt động của phong trào Hướng đạo theo Việt Minh.

Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, đích thân ông Võ Nguyên Giáp, khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ  kiểm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang đến mời ông đến Bắc Bộ Phủ bàn nhiệm vụ xây dựng hệ thống thông tin liên lạc quân sự trong cả nước. Ngày 9 tháng 9 năm 1945, Phòng Thông tin Liên lạc trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu được thành lập, ông được cử giữ chức vụ Trưởng phòng đồng thời là Ủy viên Ban Quân sự toàn quốc. Trong Tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên (6/1946), ông trúng cử Đại biểu Quốc hội của tỉnh Thái Bình.

Sau đó, ông lphụ trách nhiệm vụ đào tạo cán bộ quân sự cho Quân đội còn non trẻ: là một trong những người gánh vác trọng trách xây dựng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Khi trường này khai giảng khóa 1 ngày 25 tháng 5 năm 1946, ông được cử giữ chức vụ Giám đốc; rồi Cục trưởng Cục Quân huấn.

Năm 1948, trước đòi hỏi của cuộc kháng chiến chống Pháp, phong trào thi đua ái quốc ra đời. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh mời và bổ nhiệm ông giữ vai trò Chủ tịch Phong trào thi đua toàn quốc với toàn quyền quyết định, toàn quyền bổ nhiệm… miễn sao sau một năm phải có phong trào. Kết quả của phong trào này là Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc tổ chức vào ngày 1 tháng 5 năm 1952 tại Chiến khu Việt Bắc với 154 đại biểu đại diện cho Công Nông Binh Trí thứ. Phong trào thi đua do ông lãnh đạo đã có tác dụng to lớn đối với cuộc kháng chiến, góp phần làm tăng gia sản xuất và tiết kiệm, diệt giặc lập công; thi đua là đoàn kết, là yêu nước, là góp sức gìn giữ hoà bình và dân chủ thế giới, là cải tạo con người. Phong trào thi đua là một hình thức động viên nhân dân ra sức phấn đấu cho thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đại hội đã bầu được 3 Anh hùng Lao động là Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh; 4 Anh hùng Quân đội là Cù Chính Lan (truy tặng), La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên, Nguyễn Quốc Trị. Đó là 7 anh hùng đầu tiên tiêu biểu cho phong trào thi đua yêu nước của nhân dân Việt Nam.

Ngày 31 tháng 7 năm 1949, Cục Thông tin Liên lạc ra đời trên cơ sở Phòng Thông tin Liên lạc được thành lập, ông được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng đầu tiên. Hoàng Đạo Thúy tham gia chỉ đạo công tác thông tin trong nhiều chiến dịch quan trọng trong đó có Chiến dịch Biên Giới, Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau đó, ông còn lần lượt giữ các chức vụ Cục trưởng Cục Giao thông dân binh, Cục trưởng Cục Chính trị trước khi về hưu và chuyển sang làm Giám đốc Trường Dân tộc Trung ương.

Trường hợp của Đại tá Hoàng Đạo Thúy khá đặc biệt và hiếm có, bởi ông hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau và trong lĩnh vực nào cũng để lại những dấu ấn đặc biệt. Mà theo đúng như ông đúc kết lại trong câu nói: “Dạy học 28 năm, làm Hướng đạo 15 năm, vào bộ đội 20 năm... Cả đời yêu nước. Làm gì cũng nghĩ yêu nước. Từ dạy học, làm Hướng đạo, vào bộ đội, làm trường Dân tộc, vì yêu nước. Đến cầm bút viết cũng vì mục đích ấy’’.

Một điều rất thú vị ông luôn là ngươì đi đầu, khai sơn phá thạch. Những người hoạt động trong phong trào Hướng đạo Việt Nam từ trước đến giờ, trong và ngoài nước luôn coi ông là ‘’Huynh trưởng của Hướng đạo Việt Nam. Là nhà giáo, lại tích cực nghiên cứu và phát triển phong trào hướng đạo Việt Nam, chứng tỏ một nhãn quan, một tư duy mà đến nay nền giáo dục nước ta vẫn chưa đạt tới đó là kết hợp giữa học và các hoạt động xã hội cho học sinh sinh viên, tùy theo từng cấp để đạt tới một nền giáo dục toàn diện. Là một trong những người đặt nền móng cho công tác đào tạo cán bộ quân sự Việt Nam cụ thể là thành lập Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn rồi sau này là Cục trưởng Cục Quân huấn, ông có công trong việc đào tạo đội sĩ quan cho Quân đội những ngày đầu còn non trẻ, đặc biệt ngay từ đầu các học viên của Trường Võ bị luôn được đặt trong môi trường học tập và chiến đấu, liên kết giữa đào tào và thực tế. Nguồn cán bộ được đào tạo từ ngôi trường là một trong những yếu tố góp phần làm Quân đội Việt Nam từ nhược tiểu liên tục trưởng thành trong Kháng chiến. Là người lãnh đạo đầu tiên của Thông tin Liên lạc, trong những điều kiện thiếu thốn, khó khăn và gần như không có gì sau khi Cách mạng thành công. Sự thành công trong việc truyền mệnh lệnh từ Trung ương, Bộ Tổng tham mưu cho chiến trường miền Nam những ngày đầu Nam bộ kháng chiến, rồi cho đến những chiến dịch lớn sau này như Biên Giới, Điện Biên Phủ thể hiện trình độ tổ chức, quản lý của ông. Một dấu ấn không thể không nhắc đến ở ông đó là trên cương vị Tổng thư ký đầu tiên của Phong trào thi đua yêu nước, phong trào không chỉ những phát triển ở chiến trường Bắc Bộ mà cả Trung Bộ và Nam Bộ, chỉ trong một thời gian ngắn cả một phong trào thi đua sâu rộng khắp các chiến trường, khắp các giới, từ hậu phương đến tiền phương… như nở rộ trong điều kiện mà các phương tiện truyền thông chưa phát triển, liên lạc còn khó khăn…

Là nhà giáo, nhà quản lý giáo dục, nhà hoạt động xã hội, nhà hoạt động chính trị, nhà quân sự rồi nhà văn có uy tín, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Hà Nội ông đã để lại nhiều tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực như:
Hướng đạo sinh (1929), Bác Hai Bền (1941), Trai nước Nam làm gì?(1943), Nghề thầy (1944), Những ngày hè vui khỏe, Đi thăm đất nước, Thi đua ái quốc (1948), Thông tin liên lạc sơ lược (1948), Ông cha ta đánh giặc như thế nào? (1959), Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (1969), Phố phường Hà Nội xưa (1974), Đi thăm đất nước (1978), Lên đường hạnh phúc (1985), Đất nước ta (1980, cùng viết), Hà Nội thanh lịch.

Đại tá Hoàng Đạo Thúy có con là Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính, cháu nội là Kiến trúc sư Hoàng Đạo Cương. Con gái của ông lấy Giáo sư Tạ Quang Bửu.


Sưu tầm và Tổng hợp






Tiêu đề: Đại tá Hà Văn Lâu, từ chiến trường đến bàn đàm phán
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Tám, 2009, 04:53:32 pm
(http://img196.imageshack.us/img196/7297/daitahavanlau.jpg)

Đại tá Hà Văn Lâu (Sáu Lâu, 9/12/1918) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, Chỉ huy trưởng Mặt trận Bình Trị Thiên, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trần Cao Vân (E101, Chủ lực Trị Thiên Huế), Đại đoàn phó Đại đoàn 27 Liên khu 5.

Đại tá Hà Văn Lâu từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Đại sứ Việt Nam tại Cu-ba, Đại sứ Việt Nam tại Pháp, Đại sứ Việt Nam tại Liên hợp quốc.


Hà Văn Lâu sinh vào giờ Ngọ, ngày 9 tháng 12 năm 1918, tại làng Sình nơi ngã ba một bến sông Hương cách Huế không xa. Đây là nơi dòng sông Bồ chảy xuôi về cửa Thuận gặp dòng sông Hương, nơi gặp nhau này nằm kế bên một ngọn núi cao với đỉnh nhô cao nhất là đỉnh Thiên Thai.

Bố ông là cụ Hà Văn Phu, người dân xung quanh thường gọi là thầy Cửu Phu, vốn là một thầy giáo dậy tiểu học trường làng. Theo ông Hà Vă Lâu thì cái tên của ông nó do cha ông thường tối tối xuống bến sông ngồi mà nghe hò trên sông man mác ‘’ Chiều chiều trước bến Văn Lâu. Ai ngồi, ai câu. Ai sầu, ai thảm, ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông. Thuyền ai thấp thoáng bên sông, đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non…’’, cho nên khi vợ đang mang thai cụ bảo ‘’Trai gái chi cũng đặt tên là Lâu… Hà Văn Lâu’’.

Khi ông lên 7 tuổi, cha ông cụ Cửu Phu, qua đời mẹ và bà ngoại ông tần tảo làm lụng nuôi anh em ông ăn học. Sau khi đỗ được bằng Thành chung, nhưng học đến tú tài 1, thì gia cảnh không cho phép tiếp tục ăn học, ông phải thi công chức vào ngạch thư ký Tòa sứ. Rồi ý muốn đi du học ở Pháp thúc đẩy ông xin vào học một trường quân sự của Pháp ở Đông Dương, sau đó ông tốt nghiệp hạ sĩ quan trù bị (1942). Nhưng rồi Pháp giải tác các trường đào tạo huấn luyện và đình chỉ tăng quân, ông buộc lại phải trở về nghề cũ.

Thời gian này, ông gặp bà Nguyễn Tăng Diệu Hương, con nhà dòng dõi quý tộc trong triều đình Huế, nhưng lại có lối sống chân thật, giản dị, chẳng màng son phấn, lại hoạt bát, quán xuyến việc nhà. Hai ông bà lên duyên vợ chồng. Rồi lại vì gia cảnh, ông phải thi vào ngành thương chánh, và được bổ nhiệm trông coi một đồng muối ở phủ Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa vào năm 1943. Chính ở nơi đây, năm 1944, mà ông gia nhập mặt trận Việt Minh.

Cách Mạng Tháng tám thành công, và vì ông đã có kinh nghiệm huấn luyện tự vệ thời tiền Khởi nghĩa, ông được trao nhiệm vụ ủy viên quân sự Nha Trang, hiệu trưởng trường huấn luyên quân sự Đồng Đế. Đời binh nghiệp của ông bắt đầu từ đấy.

Pháp trở lại chiếm Nam Bộ rôi Nam Trung Bộ, lúc đó mới vào cuối tháng 10/1945, ông là chỉ huy phó kiêm tham mưu trưởng mặt trận Nha Trang. Sau khi Hiệp định Sơ bộ 6/3/1945 được ký, ông dược cử làm Trưởng phái đoàn sĩ quan liên lạc của Việt Nam ở Khánh Hòa-Nha Trang,
nhưng rồi chỉ sau 7 tuần lễ đình chiến thì phía Pháp đã khởi hấn tấn công lấn chiếm, bộ đội rút ra Phú Yên, rồi sau đó tổ chức lại quân chủ lực của ba tỉnh Khánh Hòa, Phan Thiết, Ninh Thuận thành một đại đoàn do ông Cao Văn Khánh làm Đại đoàn trưởng và ông Hà Văn Lâu làm Đại đoàn phó. Chiến đấu ở vùng này đến đầu tháng 12/1946, thì mặt trận Ninh Hòa bị vỡ theo ý kiến của ông Nguyễn Chí Thanh kho đó là Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ kiêm Chủ tịch Việt Minh Trung Bộ, ông được triệu về Huế làm Trung đoàn trưởng trung đoàn Trần Cao Vân và chỉ huy trưởng mặt trận Huế sau đó kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Thừa Thiên Huế. Ông chỉ huy nơi đây khi Kháng chiến toàn quốc bùng nổ ; sau gần hai tháng vây hãm và giữ chân quân Pháp ở Huế, mặt trận Huế bị vỡ, ông chỉ huy bộ đội rút lên chiến khu Mỹ Hòa xây dựng chiến khu tiếp tục chiến đấu.


Bước vào Thu Đông 1949, khi trên chiến trường chính mở chiến dịch tấn công vào quân đội viễn chinh Pháp ở các tỉnh Hòa Bình, Phúc Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, thì mặt trận Bình Trị Thiên mở chiến dịch phối hợp, do ông Hà Văn Lâu làm chỉ huy trưởng, đánh vào các đồn bốt từ Bắc Quảng Trị đến Nam Quảng Bình, và một số vị trí ở Thừa Thiên-Huế. Rồi ông được cử làm đại biểu Bình Trị Thiên lên Việt Bắc báo cáo tình được gặp Bác.

Năm 1951, sau chiến thắng Thanh Hương, ông Hà Văn Lâu được gọi ra Bắc nhận nhiệm vụ mới : làm Cục trưởng Cục tác chiến ở bộ Tổng tham mưu. Ông tham gia chiến dịch Hòa Bình, rồi
chiến dịch Thu Đông 1952, rồi chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Vào giai đoạn này, ông Văn Tiến Dũng nhận chức Tổng tham mưu trưởng thay ông Hoàng Văn Thái chuyển làm phó Tổng tham mưu trưởng, ông Trần Văn Quang làm Cục trưởng Cục Tác chiến thay ông chuyển làm Cục phó, chuyên nghiên cứu đàm phán về mặt quân sự.

Năm 1954, ông được phong quân hàm Đại tá được cử tham gia Đoàn đàm phán Genève với tư cách là chuyên viên quân sự, (làm phó cho ông Tạ Quang Bửu, thày học cũ của ông ở Huế). Sau Giơnevơ, ông Hà Văn Lâu được trao nhiệm vụ làm Trưởng phái đoàn liên lạc cạnh Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định. Năm 1961-1962, ông tham gia Hội nghị Giơnevơ về Lào, với tư cách là tổng thư ký của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Rồi sang năm 1968, khi cuộc mở cuộc đàm phán ở Paris, ông được cử làm phó Trưởng Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn gọi là « Đoàn 57». Đến đầu 1970 thì ông được điều động trở về nước. Rồi nhận được quyết định chuyển sang ngành ngoại giao làm Trợ lý Bộ trưởng, sau 28 năm trong quân ngũ.

Sang năm 1974, ông được cử làm đại sứ ở Cuba, rồi hơn ba năm sau, chuyển làm đại sứ cạnh Liên hợp quốc; sau đó từ 1984, ông làm đại sứ ở Pháp trong bốn năm, trước khi trở về nước làm Thứ trưởng rồi cố vấn ở Bộ Ngoại giao. Sau khi ông Lê Đức Thọ mất, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh muốn cử ông Lâu làm trưởng Ban Việt kiều trung ương, mà một thời ông đã làm phó nhưng ông xin nghỉ hưu về quê chăm sóc vợ. Năm 1991 ông nghỉ hưu, sau một thời trở về sống ở Huế, gần làng Sình quê cũ, ông bà định cư ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tá Hà Văn Lâu rất phong phú, là một chỉ huy quân sự có tài tham gia chỉ huy nhiều đơn vị như Đại đoàn phó Đại đoàn 27, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trần Cao Vân, là một trong những người đặt nền móng xây dựng và phát triển Chiến khu đầu tiên của Trị Thiên Huế, tham gia chỉ huy nhiều mặt trận nóng bóng như Ninh Hòa, Trị Thiên Huế rồi làm Cục trưởng Cục Tác chiến, Cục quan trọng nhất của Bộ Tổng Tham mưu. Là một nhà ngoại giao Quân sự rồi nhà ngoại giao thuần túy luôn có mặt tại các mặt trận ngoại giao nóng bỏng Giơ-ne-vơ, Pa-ri rồi đại sứ Liên hợp quốc tại thời điểm khó khăn của Việt Nam. Một điều thú vị nữa, ông là tác giả của đôi dép Trị Thiên huyền thoại đã đi vào thơ ca.

Theo hồi ký Từ bến làng Sinh của Hà Văn Lâu








Tiêu đề: Đại tá Trần Hiệu, Thủ trưởng đầu tiên của Cơ quan Tình báo Chiến lược
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Tám, 2009, 05:17:33 pm
(http://img64.imageshack.us/img64/3020/tranhieu.jpg)

Đại tá Trần Hiệu (30.4.1914-1995), từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục Tình báo Bộ Quốc phòng Tổng Chỉ huy, Cục trưởng Cục Tình bảo Bộ Tổng Chí huy Quân đội Quốc gia Việt Nam, Cục trưởng Cục Tình báo Chiến lược.

Ngoài ra ông còn giữ các chức vụ : Phó Giám đốc Sở Công an Bắc Bộ, Phó Giám đốc Nha Công an Việt Nam kiêm Trưởng ty Tình báo Nha Công an, Phó Viện trưởng kiêm Bí Thư Đảng ủy Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.

Ông được phong quân hàm Đại tá năm 1958.


Trần Hiệu sinh ngày 30-4-1914 tại xóm Gianh - làng Phúc Lâm - huyện Mỹ Đức - tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình trung nông lớp trên theo Nho học và có truyền thống yêu nước. Năm 1926, mới 12 tuổi, ông đã tích cực tham gia lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh tổ chức ở trường làng. Tháng 6-1929, khi là học sinh lớp nhì đệ nhất cấp ở Trường Bờ Sông - Hà Nội, ông được kết nạp vào tổ chức thanh niên cộng sản. Học hết đệ nhất cấp, ông đi học nghề thợ nguội ở xưởng Tân Thành tại phố Hàng Nón-Hà Nội. Mùa hè năm 1935 ông ra Hải Phòng học nghề sửa chữa xe ô-tô ở trường kỹ nghệ thực hành. Tại đây, ông tham gia làm báo bí mật với đồng chí Nguyễn Quyết (sau là Đại tướng, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước), Vũ Đức Toa… được 10 tháng thì bị nhà trường phát hiện, đuổi học.

Trở về Hà Nội, Trần Hiệu tham gia hoạt động trong phong trào Mặt trận dân chủ, Hội ái hữu và Đoàn thanh niên dân chủ. Năm 1937 ông được giao phụ trách Phòng quản trị tờ báo Thế giới, tiếng nói của Đoàn thanh niên dân chủ. Năm 1938 ông được đồng chí Trường Chinh, Đào Duy Kỳ giới thiệu vào Đảng cộng sản Đông Dương, sinh hoạt trong chi bộ công khai ở Hà Nội.

Tháng 9-1939 Trần Hiệu bị thực dân Pháp bắt, kết án tù và giam ở nhà lao Sơn La. Tháng 9-1940, ông bị đưa về giam ở xà lim của Sở mật thám Hà Nội. Đầu năm 1941, thực dân Pháp đày ông lên nhà lao Bắc Mê nằm tại một vùng heo hút, ma thiêng nước độc ở tỉnh Hà Giang. Tại đây, ông và các đồng chí chẳng những không nhụt chí trước chế độ giam giữ tàn ác và điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, mà còn mau chóng biến lao tù thực dân thành trường học cách mạng, chủ động lãnh đạo tù nhân đấu tranh chống khủng bố, đòi cải thiện đời sống. Vào các dịp lễ tết, chi bộ còn tổ chức biểu diễn văn nghệ rất sôi nổi. Hoạt động của chi bộ đã có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng ở các địa bàn lân cận, góp phần biến một số làng bản trở thành cơ sở hoạt động của Đảng bộ địa phương trong những năm 1940-1945. Vì thế thực dân Pháp bèn đưa ông và một số đồng chí về nhà lao Sơn La. Tại đây, ông đã tham gia tuyệt thực phản đối chế độ thực dân.

Giữa tháng 6-1941, ông cùng 7 đảng viên cộng sản và 3 chính trị phạm khác bị đẩy lên tàu hỏa, đưa vào Sài Gòn rồi xuống tàu thủy, đem đi đày ở đảo Ma-đa-ga-xca thuộc châu Phi.

Tại trại tù Ma-đa-ga-xca, Trần Hiệu và các đồng chí của ông, tiêu biểu là Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam, sau là Thứ trưởng Bộ Nội vụ), Tô Gĩ (tức Lê Giản, sau là Phó chánh án TAND tối cao), Hoàng Đình Giong (tức Vũ Đức, sau là Khu trưởng khu 9, Khu 6), Nguyễn Văn Ngọc (sau là Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ), Nguyễn Văn Phòng (tức Nguyễn Văn Minh, sau là Chánh án Tòa dân sự-TAND tối cao), Đoàn Ngọc Rê (tức Cao Dương Tiệp, Dương Công Hoạt, sau là Ủy viên Ban dân tộc Trung ương kiêm Phó chủ nhiệm Ủy ban dân tộc của Chính phủ) ra sức tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, quyết không để mình chết dần chết mòn như ý đồ hiểm độc của thực dân Pháp.

Năm 1942, sau khi quân Anh đánh chiếm Ma-đa-ga-xca từ tay lực lượng của chính phủ bù nhìn Vi-si rồi giao lại cho lực lượng của Đờ Gôn kiểm soát, các tù nhân Việt Nam được trả tự do. Trong thời gian chưa tìm ra đường về nước, Trần Hiệu và các đồng chí của mình đã tận tình hướng dẫn dân bản địa cách trồng lúa nước, dệt vải bông, tổ chức các hoạt động văn hóa - văn nghệ và làm nhiều việc hữu ích khác như giúp dân chế tác đồ trang sức, đan các loại giỏ xách, gò dụng cụ nhà bếp, sửa chữa đồng hồ, vì vậy mà được nhân dân và chính quyền bản địa rất quý mến.

Tháng 3-1943 quân đồng minh Anh - Pháp gọi Hoàng Đình Giong và Đoàn Ngọc Rê nhập ngũ. Anh em cộng sản liền nhóm họp. Từ nhận định “hổ có về rừng thì mới là hổ”, họ quyết định lấy lý do muốn về nước chống phát-xít Nhật để tranh thủ con đường của bọn Anh-Pháp, người đi trước tìm cách kéo theo người còn ở lại. Kết quả là ngày 4-6-1943 Phan Bôi, Tô Gĩ, Nguyễn Văn Phòng được gọi nhập ngũ, tới đầu tháng 9 thì đến Trần Hiệu và 12 người khác. Hầu hết được đưa tới Đại đội 1 thuộc cái gọi là “Quân chí nguyện Đông Dương” của lực lượng Đờ Gôn. Tại đây, Trần Hiệu và các đồng chí của ông đã vừa vận động binh lính người Việt, vừa tìm cách tranh thủ, thuyết phục bọn Pháp để bảo toàn đội ngũ, sớm trở về nước.

Đầu năm 1944 Trần Hiệu, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Phòng được quân Anh đưa tới Kê-ni-a rồi sang Ấn Độ. Họ gặp lại Phan Bôi, được Phan Bôi cho biết người Anh định dùng họ để thực hiện các chương trình phát thanh ở Xít-ni - Ô-xtrây-li-a, Xan Phran-xít-xcô (Mỹ) và Niu Đê-li (Ấn Độ). Vì biết Anh, Mỹ chống cộng sản và sớm muộn gì cũng sẽ chống Liên Xô nên họ tìm mọi cách thoái thác. Rốt cục, người Anh chuyển họ sang hoạt động tình báo, huấn luyện họ về lý thuyết, cách đánh moóc-xơ và dịch mật mã.

Tháng 3-1945 máy bay B-29 của Anh chở Trần Hiệu, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Phòng bay từ Đắc-ca qua vịnh Ben-gan, vịnh Thái Lan, biển Đông, vịnh Bắc Bộ vào châu thổ sông Hồng để thực hiện kế hoạch cho họ nhảy dù cùng điện đài xuống khu vực Miếu Môn ở giữa hai tỉnh Hà Đông, Hòa Bình nhưng vì pháo phòng không Nhật bắn lên nhiều, sương mù lại dày đặc nên máy bay phải quay về. Tháng sau, hành trình cũ lặp lại. Lần này, ba người nhảy dù xuống làng Tiên Lữ-huyện Quốc Oai-tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Tuy vùng này có quân Nhật chiếm đóng nhưng nhờ được nhân dân che chở, giúp đỡ, họ đã tìm về được nhà Trần Hiệu ở làng Phúc Lâm - huyện Mỹ Đức và chỉ ít ngày sau đã bắt liên lạc được với Xứ ủy Bắc Kỳ. Phó bí thư Xứ ủy Trần Quốc Hoàn dẫn Nguyễn Văn Phòng đi gặp Tổng bí thư Trường Chinh. Tổng bí thư khen ngợi. Trần Hiệu được giao ẩn náu trong một ngôi chùa ở xóm La Dương-xã La Phù-huyện Hoài Đức, với ba nhiệm vụ: giữ liên lạc bình thường với người Anh, thực hiện liên lạc bằng điện đài giữa Xứ ủy và Trung ương, chuẩn bị chương trình để mở lớp huấn luyện về trinh sát quân sự cho Xứ ủy.

Tháng 8-1945, Trần Hiệu tham gia chỉ đạo khởi nghĩa ở Hà Đông và là người đại diện phía cách mạng tiếp nhận sự bàn giao chính quyền từ Tổng đốc Hồ Đắc Điềm. Sau đó ông được cử phụ trách Phòng án chính trị rồi làm Phó giám đốc Sở công an Bắc Bộ. Ông đã tham gia chỉ đạo lực lượng công an trấn áp có hiệu quả bọn phản động tay sai của Tàu Tưởng, kịp thời phát hiện thực dân Pháp âm mưu dựa vào bọn Đại Việt, Quốc dân đảng để bắt gọn Chính phủ ta nhân lễ duyệt binh kỷ niệm ngày quốc khánh 14-7 của chúng. Ông cũng đã tham gia chỉ đạo phá vụ án Ôn Như Hầu, tiêu diệt bọn phản động Đại Việt, Quốc dân đảng ở Thủ đô Hà Nội.

Ngày 20-3-1947, Cục tình báo thuộc Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy được thành lập, Trần Hiệu được cử làm Cục trưởng. Ngày 20-1-1948 ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử làm Cục trưởng Cục tình báo thuộc Bộ tổng chỉ huy quân đội quốc gia Việt Nam. Tháng 4-1950 Cục tình báo giải thể, ông được cử làm Phó giám đốc Nha công an Việt Nam kiêm Trưởng ty Tình báo-Nha Công an. Ngày 15-7-1951 cơ quan tình báo chiến lược của Đảng và Chính phủ với tên gọi Nha liên lạc thuộc Thủ tướng phủ được thành lập, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bổ nhiệm Giám đốc. Ngày 10-6-1957 Nha liên lạc hợp nhất với Cục quân báo-Bộ Tổng tham mưu thành Cục tình báo-cơ quan tình báo chiến lược toàn diện của Đảng và quân đội, ông lại được bổ nhiệm Cục trưởng.

Năm 1958 ông được phong quân hàm đại tá. Là thủ trưởng đầu tiên và trong 13 năm liên tục, ông đã có đóng góp lớn vào việc xây dựng tổ chức, lực lượng, phát triển hoạt động, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành tình báo chiến lược. Đặc biệt, thông qua việc mở các hội nghị toàn quốc, hội nghị công tác, tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ, ông đã góp phần đào tạo nên một lớp cán bộ tình báo chiến lược vừa hồng vừa chuyên, phát huy được tác dụng trong nhiều năm sau.

Năm 1960, sau Đại hội III của Đảng, Trần Hiệu được bổ nhiệm Phó viện trưởng Viện KSND tối cao. Trên cương vị bí thư Đảng ủy dân-chính-đảng các cơ quan trực thuộc Trung ương, ông đã góp phần quan trọng giúp Ban bí thư Trung ương làm tốt các mặt công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức, kiểm tra... đối với các cơ quan trực thuộc Trung ương, nhất là trong thời kỳ thực hiện Nghị quyết 9 của Bộ Chính trị (khóa III). Năm 1984, khi vừa tròn 70 tuổi, sau 23 năm làm Phó viện trưởng Viện KSND tối cao, ông mới nghỉ hưu. Ông đã được tặng thưởng huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác.

Theo Báo Quân đội Nhân dân online.






Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Thế Bôn, Phó Tổng Tham mưu trưởng
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Tám, 2009, 10:31:02 pm
(http://img12.imageshack.us/img12/9074/trungtuongnguyenthebon.jpg)

Trung tướng Nguyễn Thế Bôn (bí danh Thế Hoan, 4.2.1927 – 22h25’ 5.8.2009) từng giữ các chức vụ : Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Quân khu 4, Tư lệnh Quân đoàn 7, Phó Tư lệnh Quân đoàn 4, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1, Cục trưởng Cục Quân huấn và Cục trưởng Cục nhà trường Bộ Tổng Tham mưu.

Ngoài ra ông còn từng là : Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5, Chủ tịch Hội Thể thao khuyết tật Việt Nam.

Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Quân công hạng Nhất của Quân đôi Pathét Lào, Huy hiệu 50 năm và 60 năm tuổi Đảng.

Trung tá (1958); Thượng tá (1970); Ðại tá (1973); Thiếu tướng (1977); Trung tướng (1984).


Trung tướng Nguyễn Thế Bôn quê tại Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, tham gia Cách mạng 15 tháng 8 năm 1945, nhập ngũ ngày 1 tháng 11 năm 1946, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương nay là Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 năm 1948 (chính thức tháng 6 năm 1948).

Ông tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đội viên đội tự vệ chiến đấu ở Hải Phòng; tháng 12 năm 1946 nhập ngũ vào đơn vị bộ đội địa phương Kiến An, Hải Phòng; tháng 2 năm 1948, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Từ tháng 1 năm 1948 đến tháng 3 năm 1961 ông giữ các chức vụ: Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 56, Trung đoàn 42; Đại đội phó rồi Đại đội trưởng Đại đội 107, Tiểu đoàn 766; Tiểu đoàn phó rồi Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 766, Trung đoàn 66; Tham mưu trưởng Trung đoàn 9; Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66; Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Sư đoàn 304.

Tháng 4 năm 1961 là Tham mưu phó Quân khu Hữu Ngạn; tháng 11 năm 1961 đến tháng 7 năm 1962 là học viên Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng; học viên Trường quân sự Vô-rô-si-lốp tại Liên Xô.

Tháng 12 năm 1964 đến tháng 6 năm 1969 ông giữ các chức vụ: Cán bộ đốc chiến Cục Tham mưu, Bộ Tư lệnh miền Nam; Tham mưu phó Chiến dịch Đồng Xoài, Miền Đông Nam bộ; Tham mưu trưởng Sư đoàn 9 Miền Đông Nam bộ; Sư đoàn phó quyền Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9; Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7.

Tháng 3 năm 1970 đến tháng 3 năm 1982, ông là Cục trưởng Cục Nhà trường, Bộ Tổng tham mưu; Cục trưởng Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu; Tư lệnh Sư đoàn 308; Phó tư lệnh-Tham mưu trưởng Quân đoàn 1; Phó hiệu trưởng Trường sĩ quan Lục quân 1; Phó tư lệnh Quân đoàn 4; Tư lệnh Quân đoàn 7; Phó tư lệnh-Tham mưu trưởng Quân khu 4; Tư lệnh Quân khu 4.

Tháng 4 năm 1982 ông được bổ nhiệm Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V. Ông được Đảng, Nhà nước, Quân đội cho nghỉ hưu.

Theo : Báo Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam






Tiêu đề: Trương Quang Giao, Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Tám, 2009, 11:58:27 pm
(http://img4.imageshack.us/img4/1162/chinhuykhuvtruongquangg.jpg)

Trương Quang Giao (30.3.1910-1983), từng giữ các chức vụ : Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V, Bí thư Liên khu ủy Khu V.

Ngoài ra ông còn từng là : Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam- Đà Nẵng, Bí thư Ban Cán sự Tây Nguyên, Phó ban Tổ chức Trung ương, Ủy viên Ban kiểm tra Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương (hàm Thứ trưởng).


Ông Trương Quang Giao, tên khai sinh là Trương Quang Viên, bí danh là Giao, Tám; sinh ngày 30-3-1910 tại xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, từ nhỏ, Trương Quang Giao đã có tinh thần ham học, có tư duy độc lập. Lúc học ở trường tỉnh, Trương Quang Giao rất ham đọc thơ, phú của các sĩ phu yêu nước, nhất là của các cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu… Năm 16 tuổi, vì hoàn cảnh gia đình, Trương Quang Giao phải thôi học về nhà làm ruộng, làm nghề thủ công phụ giúp gia đình và chính trong thời gian này, Trương Quang Giao đã được tiếp xúc, trao đổi với những người “gieo hạt” cách mạng ở Quảng Ngãi như Nguyễn Thuận, Phạm Hòe...; để rồi đến tháng 9-1930, Trương Quang Giao được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Do hoạt động tích cực, nên từ năm 1930 đến năm 1939, ông bị địch bắt giam đến 4 lần, trong đó lần thứ tư bị kết án tù 5 năm và đày đi Buôn Mê Thuột.

Cuối tháng 12-1944, tại Hội nghị lập lại Tỉnh ủy Quảng Ngãi, ông được cử làm Bí thư Tỉnh ủy và được giao phụ trách chung, phụ trách các huyện phía bắc của tỉnh, xây dựng mối quan hệ với Tỉnh ủy Quảng Nam, đặc biệt phải tìm cách bắt liên lạc với Xứ ủy và Trung ương.

Ngay sau Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi họp bất thường bàn kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị cử ra Ban Khởi nghĩa do ông Trương Quang Giao làm Trưởng ban, phụ trách cánh bắc của tỉnh. Trên cương vị mới, ông động viên tinh thần chiến đấu của cán bộ, đảng viên, nhất là các thành viên Ban Chỉ huy Khởi nghĩa Ba Tơ: "Bất kỳ giá nào, chúng ta cũng phải khởi nghĩa, giành chính quyền Ba Tơ. Chúng tôi sẽ nỗ lực phát động quần chúng đồng bằng vùng lên khởi nghĩa nông thôn để hưởng ứng các ông". Chiều 11-1-1945, cuộc khởi nghĩa Ba Tơ giành được thắng lợi, chính thức khai sinh một chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên của Quảng Ngãi.

Ngày 10-6-1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi triệu tập hội nghị đại biểu, nhằm bàn công tác vận động quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền và bầu Tỉnh ủy, ông Trương Quang Giao được bầu lại làm Bí thư. Mặc dù lúc này số lượng đảng viên của tỉnh chưa nhiều, nhưng Đảng bộ Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của ông đã từng bước thống nhất được ý chí và hành động, khơi dậy được quyết tâm cao, sáng suốt nắm bắt tình hình, lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân vào ngày 18-8-1945.
Từ khi Trung ương Đảng và Chính phủ thành lập Ủy ban Quân dân chính Nam Trung Bộ vào tháng 9-1945, ông được cử làm Chính trị viên, phụ trách Mặt trận Nha Trang, Buôn Mê Thuột, góp phần cùng quân và dân địa phương đấu tranh chống địch lấn chiếm, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.

Để thống nhất chỉ đạo, chỉ huy và mở rộng thế trận rộng lớn chống giặc, tháng 11-1946, cấp trên quyết định Quảng Nam và Đà Nẵng nhập thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và chỉ định Liên Tỉnh ủy, do ông Trương Quang Giao - Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ, làm Bí thư. Bấy giờ, Quảng Nam - Đà Nẵng là địa bàn trọng yếu, thực dân Pháp đang mở rộng chiếm đóng ra các địa phương phía bắc sông Thu Bồn, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với bản lĩnh, ý chí cách mạng đã được rèn luyện trong thực tế đấu tranh, ông Trương Quang Giao đã bình tĩnh cùng Liên Tỉnh ủy đưa phong trào kháng chiến tỉnh nhà từng bước tiến lên. Từ năm 1946 đến năm 1949, ông cùng với Liên Tỉnh ủy từng bước lãnh đạo quân dân trong tỉnh vượt qua khó khăn, chỉ đạo chuyển cơ quan về căn cứ an toàn, tránh những tổn thất, đấu tranh làm thất bại kế hoạch "đánh nhanh, thắng nhanh" của địch, trấn áp bọn phản cách mạng, xây dựng và củng cố chính quyền, xây dựng Đảng; vận động nhân dân ổn định sản xuất, xây dựng vững chắc vùng tự do, chuẩn bị điều kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Đặc biệt, những nơi khó khăn, phức tạp, như huyện Hòa Vang, ông đều có mặt, phân tích tình hình rồi đưa vào những quyết sách đúng đắn.

Đầu năm 1949, ông được điều động về công tác ở Liên khu V và tại Đại hội Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất (tháng 3-1949), ông được bầu vào Liên khu ủy, sau đó được cử đi học văn hóa ở trường Trung học cán bộ bình dân. Năm 1950, kết thúc khóa học, được cử về làm Bí thư Ban Cán sự tỉnh Đắc Lắc kiêm Chính ủy Trung đoàn 84 (thay ông Đoàn Khuê), Chính ủy chiến dịch Nguyễn Huệ ở Đắc Lắc năm 1950. Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu 5 lần thứ hai (tháng 8-1951), được bầu vào Liên khu ủy 5 và đến năm 1952 bổ sung vào Ban Thường vụ Liên khu ủy 5.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được cử làm Bí thư Liên khu ủy 5. Tháng 3-1955, được cử làm Phó ban Tổ chức Trung ương Đảng. Từ năm 1960 đến năm 1976, ông được cử làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban thống nhất Trung ương và là Ủy viên Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng, ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong những năm công tác ở miền Bắc, mặc dù các nhiệm vụ được giao đều còn mới mẻ, song ở bất kỳ cương vị công tác nào, ông cũng luôn nỗ lực phấn đấu, đóng góp nhất định vào nhiệm vụ lãnh đạo công tác chung của cơ quan, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho Đảng về đường lối cách mạng miền Nam, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc...

Năm 1977, sau gần 50 năm hoạt động cách mạng liên tục, ông  được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu theo chế độ, cùng gia đình về an dưỡng tại thành phố Đà Nẵng và từ trần năm 1983.

Là một cán bộ thuộc thế hệ đầu tiên của Đảng, trong bất cứ hoàn  cảnh nào, ông cũng đều lạc quan, tin tưởng ở thắng lợi của cách mạng. Thời kỳ hoạt động bí mật, tuy nhiều lần bị giam cầm tra tấn, ông vẫn không hề khai báo, tiết lộ điều gì có lại cho Đảng cũng như lúc kháng chiến được Đảng phân công đến những địa phương và chiến trường xa, hay gặp hoàn cảnh khó khăn, phức tạp, ông vẫn giữ vững lòng tin ở Trung ương Đảng, khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu giữ vững phong trào.

Một đặc điểm đáng chú ý ở ông Trương Quang Giao là luôn vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng vào đặc điểm của địa phương, đơn vị mình phụ trách. Đặc biệt, luôn nêu cao tinh thần dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, nhất là trong cuộc khởi nghĩa Ba Tơ. Một trong những khả năng công tác của ông Trương Quang Giao luôn được bạn bè, ông ghi nhận là về công tác tổ chức, cả về tổ chức nhân sự và tổ chức công việc. Công việc gì ông cũng tổ chức một cách khoa học nên luôn đem lại hiệu quả cao;  cán bộ nào được ông đề xuất bố trí đều phát huy tốt tác dụng. Lúc nào, ông cũng suy nghĩ và tự đặt cho mình nhiệm vụ phải bảo vệ và giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, đặc biệt có những sự việc mới mẻ, theo đà phát triển tình hình và nhiệm vụ mới, mặc dù trình độ hiểu biết còn hạn chế song ông nỗ lực, cố gắng nghiên cứu học tập nên dần dần nắm được và ngày càng thấm nhuần các chủ trương của Đảng.

Theo Báo điện tử Quảng Nam và Quảng Ngãi






Tiêu đề: Thượng tướng Trần Sâm, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tám, 2009, 04:21:45 am
(http://img24.imageshack.us/img24/1930/thuongtuongtransam.jpg)

Thượng tướng Trần Sâm (tên thật : Trần Hầu ; bí danh : Trần Bá, Đinh Vu ; 5.4.1918 – 19h10’ 13.8.2009), từng giữ các chức vụ : Phó Chỉ huy trưởng Phân khu Bình Trị Thiên, Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu 4, Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế.

Ngoài ra, ông còn từng là : Bộ trưởng Bộ Vật tư ; Ủy viên Trung ương Đảng khóa 4 ; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước ; Đại biểu Quốc hội khóa 3, 5 và 7.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (tháng 8-1959), Trung tướng (tháng 4-1974), Thượng tướng (tháng 1-1986).


Thượng tướng Trần Sâm quê tại xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Từ năm 1935 đến năm 1938, ông theo học ở Trường Kỹ nghệ Thực hành Huế. Ông tham gia Cách mạng năm 1938 khi đang làm công nhân hỏa xa tại ga Tháp Chàm và được giao nhiệm vụ làm giao thông giữa Trung và Nam Bộ. Tháng 6 năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 11 năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt bị kết án 5 năm tù,  đày lên nhà lao Buôn Ma Thuột, cùng bị giam với các nhà cách mạng nổi tiếng khác như Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, Hoàng Anh… Tháng 11 năm 1943, ông ra tù, bắt liên lạc và tiếp tục hoạt động Cách mạng. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở quê nhà huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Tháng 9 năm 1945, ông được bầu là Ủy viên Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Tháng 3-1946, ông là Chính trị viên Trung đoàn Quảng Trị, tháng 3-1947, kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Quảng Trị. Tháng 9-1948 là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị. Từ tháng 1-1950 đến tháng 5-1957, ông giữ các chức vụ: Phân khu phó Phân khu Bình Trị Thiên, Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4-Thường vụ Khu ủy, Cục trưởng Cục Quân lực-Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần, Cục trưởng Cục Nghiên cứu kỹ thuật.

Ngay sau khi về làm Cục trưởng Cục Quân lực, ông đã bỏ ra nhiều công sức xây dựng chế độ báo cáo, nền nếp quản lý, kiểm tra quân số và trang bị. Bản trích ngang lý lịch để quản lý nhân sự, cách phân loại xe và vũ khí hiện nay về cơ bản dựa trên ý tưởng có từ thời đó.


Tháng 3-1961, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.Tháng 8-1963 đến tháng 3-1975 ông giữ chức vụ: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng Tham mưu trưởng, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần-Bí thư Đảng ủy Tổng cục Hậu cần, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, kiêm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Tháng 8-1976, ông được Đảng, Nhà nước bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Vật tư-Bí thư Đảng đoàn Bộ Vật tư. Tháng 12-1976, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khóa IV. Ông là Đại biểu Quốc hội các khóa: III, V, VII.


Tháng 6-1982 đến tháng 3-1986 ông giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng kinh tế.

Thượng tướng Trần Sâm có một vinh dự và tự hào là nhiều lần được gặp Bác Hồ, được Bác trực tiếp chỉ bảo từ khi còn là Cục trưởng Cục Quân lực ở Chiến khu Việt Bắc. Trong những ngày diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông luôn ở bên cạnh Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tại hầm chỉ huy ở Mường Phăng.

Trong những năm Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là người phụ trách Hậu cần Kỹ thuật của Quân đội, ông luôn có mặt trong các đoàn đại biểu của Chính phủ đi khắp các nước trên thế giới tranh thủ sự viện trợ của họ, góp phần không nhỏ vào sự thắng lợi của cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Có lẽ, ông là một trong những người giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng lâu nhất, 30 năm.

Thượng tướng Trần Sâm là một người am hiểu kỹ thuật không chỉ vì ông đã học và tốt nghiệp trường kỹ nghệ Huế (1935-1938), mà vì ở bất kỳ cương vị nào, cứ tiếp cận cái mới là ông đọc, học cho kỳ hiểu thấu đáo mọi vấn đề để luôn chủ động khi điều hành. Mấy chục năm chỉ đạo công tác bảo đảm kỹ thuật của quân đội trong điều kiện vũ khí trang bị của quân đội ta được đến từ nhiều nguồn, lại thường bị tổn thất trong chiến đấu và vận chuyển, Thượng tướng hết sức quan tâm đến vấn đề đồng bộ trang bị. Là người có kiến thức rộng, luôn biết cách hóa giải các tình huống khó khăn, nhưng ông lại rất ít nói về mình.

Những năm giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước là thời kỳ Đảng ta bắt đầu khởi xướng công cuộc đổi mới. Là người được đề bạt chức Phó tổng tham mưu trưởng từ năm 1960, nhiều lần tham gia cùng Đoàn Chính phủ ta đi đàm phán về vấn đề viện trợ của các nước bạn Liên Xô, Trung Quốc, từng là Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Vật tư (1976-1982), là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, nên Thượng tướng Trần Sâm rất am hiểu về kinh tế - xã hội. Ông là người luôn tâm huyết với các quan điểm mới. Ngay khi chưa có Nghị quyết Trung ương 2 khóa VI (ngày 9 tháng 4 năm 1987) về phân phối lưu thông, ông đã giảng giải cho cán bộ dưới quyền về sự cần thiết phải đưa thị trường về một giá. Ông cho rằng, giá cả là thước đo trong cơ chế thị trường. Một khi thị trường còn để hai giá thì không bao giờ có sự công bằng trong sản xuất và phân phối. Ông cũng là người đề nghị sớm chuyển việc đảm bảo đời sống cho bộ đội sang cơ chế thị trường. Từ cơ chế cả nước đảm bảo cho chiến đấu sang cơ chế thời bình, ông đã chỉ đạo cơ quan nghiên cứu vấn đề cân đối giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng của nền kinh tế cho nhiệm vụ quân sự quốc phòng. Ông luôn mong có một cơ quan kế hoạch tổng hợp giúp Bộ trong việc này.

Thượng tướng Trần Sâm, một con người đã dạn dày trận mạc trên chiến trường Quảng Trị, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4 từ thời kháng chiến chống Pháp rồi giữ qua nhiều trọng trách, nhưng ông luôn sống cuộc sống chan hòa, thương yêu mọi người. Ở Thượng tướng Trần Sâm có cả sự sắc sảo trong chuyên môn, lại có cả sự quan tâm đến mọi người của người chính ủy. Tướng Trần Sâm thì ngược lại. Khi còn đương chức, nhà ở gần cơ quan, ông thường đạp xe đi làm cho tiết kiệm xăng xe nhà nước. Xuống đơn vị công tác, ông không đồng ý cho anh em thết đãi tốn kém. Ngôi nhà ông ở mưa lớn có khi dột xối xả, ông cũng không phàn nàn nhiều. Ông sống trong sạch và luôn giữ nguyên tắc.


Theo : Báo Quân đội Nhân dân, Báo Sài Gòn giải phóng, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.







Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: trucngon trong 18 Tháng Tám, 2009, 07:52:18 am
Xin thành kính chí buồn với gia đình thượng tướng!


Tiêu đề: Thiếu tướng Đặng Kim Giang, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Tám, 2009, 03:50:28 am
(http://img215.imageshack.us/img215/5064/thieutuongdangkimgiang.jpg)

Thiếu tướng Đặng Kim Giang (Đặng Rao, 1910-1983), từng giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Ngoài ra, ông còn từng là: Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Khu 2, Phó Bí thư Khu ủy Khu 2 - Thường vụ Khu ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hành chính Kháng chiến Khu 3, Bí thư Đảng đoàn kiêm Thứ trưởng Bộ Nông trường Quốc doanh. Thiếu tướng Đặng Kim Giang là Đại biểu Quốc hội Khóa 1 và 2.

Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang.

Thiếu tướng (1958).


Ông quê tại xã Minh Hưng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, tham gia Cách mạng từ năm 1928, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) năm 1930. Là bí thư chi bộ xã, tổng, tỉnh ủy viên rồi xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ hoạt động tại Thái Bình. Từng bị thực dân Pháp bắt giam, giam tại các nhà lao Hỏa Lò, Hòa Bình, Sơn La. Tại Sơn La, ông vượt ngục trở về tiếp tục hoạt động tại Bắc Ninh, Hà Đông. Trong Cách mạng tháng 8, ông lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Hà Đông (thuộc Hà Nội ngày nay), là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân kiêm Phó Bí thư tỉnh ủy. Trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,  ông trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa 1.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt giữ các chức vụ : Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Khu 2 ; Phó Bí thư Khu ủy Khu 2, Thường vụ Khu ủy ; Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hành chính Kháng chiến Khu 3. Năm 1951, ông được điều động vào công tác trong Quân đội là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp (Tổng cục Hậu cần), tham gia chỉ đạo hậu cần trong các Chiến dịch : Biên Giới, Hà Nam Ninh, Thượng Lào, Hòa Bình, Tây Bắc. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông thay ông Trần Đăng Ninh (khi đó là Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp) bị ốm phụ trách công tác hậu cần của chiến dịch.

Sau Hiệp địch Giơ-ne-vơ, ông tiếp tục giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp rồi sau đó là Tổng cục Hậu cần. Trong đợt trao quân hàm đầu tiên của Quân đội, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1962, ông chuyển ngành làm Thứ trưởng kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ Nông trường Quốc doanh. Vì những liên quan trong vụ án chính trị giữa thập niên 1960, ông bị tước mọi chức vụ, đảng tịch, quân tịch và bị quản thúc nhiều năm (1967).


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Đặng Kim Giang, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: SukhoiSu-47Berkut trong 28 Tháng Tám, 2009, 08:37:53 am
@ Đồng chí Panphilpov:
Chuyên mục thật hay về tướng lĩnh, nhưng nếu chủ đề vậy thì có nên đưa cấp Đại tá vào không? và nữa, tôi nghĩ chỉ nên đưa những ai có hàm cấp chính thức, tính đến thời điểm này. Nếu đã bị tước quân tịch thì đương nhiên không đưa vào.


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Đặng Kim Giang, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Tám, 2009, 12:10:18 am
@ Đồng chí Panphilpov:
Chuyên mục thật hay về tướng lĩnh, nhưng nếu chủ đề vậy thì có nên đưa cấp Đại tá vào không? và nữa, tôi nghĩ chỉ nên đưa những ai có hàm cấp chính thức, tính đến thời điểm này. Nếu đã bị tước quân tịch thì đương nhiên không đưa vào.

Nếu không đưa cấp Đại tá vào, em thấy thiệt thòi cho nhiều người quá. Lại càng thiệt thòi hơn cho những người còn không có cả quân hàm như các cụ Trần Đăng Ninh, Nguyễn Chánh, Hoàng Đình Giong... chẳng hạn. Cho nên em đưa vào đây theo chức vụ và cả căn cứ vào thời điểm nữa.


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Tám, 2009, 02:00:49 am
(http://img16.imageshack.us/img16/1587/trungtuongnguyenvanvinh.jpg)
Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh (1918-1978) từng giữ các chức vụ : Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 8, Chính ủy Bộ Tư lệnh Phân khu miền Tây Nam Bộ, Phó Tư lệnh Phân khu miền Đông Nam Bộ, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ Bộ Quốc phòng Ủy viên Tổng quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, Chủ nhiệm Ủy ban thống nhất Trung ương (hàm Bộ trưởng), Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa 3.

Trung tướng (1959).

Huân chương Độc lập hạng Nhất (truy tặng), Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc.


Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh quê ở làng Đô Quan, xã Nam Vang, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định. Cùng quê, cùng hoàn cảnh gia đình, cùng mồ côi cha từ nhỏ, sống nhờ vào sự tần tảo của mẹ, ông cùng với nhà thơ Nguyễn Văn Cừ là đôi bạn chí thân từ nhỏ.

Năm 1936, ông tham gia phong trào học sinh yêu nước ở huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định, bị thực dân Pháp bắt giam năm 1937. Sau khi ra tù, năm 1940 ông xuống Hải Phòng rồi năm 1941 vào Nam rồi sau đó đăng lính làm đến chức đội. Là một người có tư tưởng yêu nước, tiến bộ, thích thơ văn, ông được các ông Hoàng Văn Thụ (khi đó là trưởng ban binh vận) và ông Trường Chinh trực tiếp tổ chức tuyên truyền và giác ngộ tham gia Hội quân nhân cứu quốc. Năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ hai kết án 20 năm tù khổ sai và đày ra Côn Đảo. Cách mạng tháng 8 thành công, ông được đón về đất liền tiếp tục hoạt động tại chiến trường Nam Bộ.

Năm 1946, ông là Tỉnh ủy viên kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Mỹ Tho, chỉ huy đội du kích rồi được bầu làm chính trị viên; Từ năm 1946 đến 1950, Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 8, Bí thư Khu ủy, Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo xây dựng căn cứ (trong đó có chiến khu Đồng Tháp Mười), các cơ sở cách mạng, các đội du kích, các trạm quân uy, tổ chức hậu cần và hoạch địch chiến lược chiến thuật. Ông là một trong những người đỡ đầu góp phần khai sinh ra nền điện ảnh khu 8, cội nguồn của điện ảnh cách mạng Việt Nam; Từ năm 1950 đến 1952, Chính ủy Bộ Tư lệnh Phân khu Miền Tây Nam Bộ ; Từ năm 1952 đến 1954, Phó Tư lệnh Phân khu Miền Đông Nam Bộ ; Năm 1954, ông tập kết ra Bắc theo tinh thần Hội nghị Giơ-ne-vơ.

Trong hai năm 1955 và 1956, ông là Trưởng Phái đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Quốc tế thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Sài Gòn ; Năm 1957, ông là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước ; tháng 6 năm 1957, ông được cử giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ Bộ Quốc phòng, Ủy viên Quân ủy Trung ương ; Sau khi ông Nguyễn Chánh (Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ mất), ông giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ vào năm 1958 ; Tháng 8 năm 1959, ông được phong quân hàm Trung tướng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ năm 1960 đến 1969, ông chuyển sang làm Trưởng Ban Thống nhất Trung ương, hàm bộ trưởng. Do bảo vệ một số người trong vụ án chính trị giữa thập niên 1960, ông bị liên can và thôi giữ các chức vụ, bị hạ quân hàm xuống Thiếu tướng. Tuy nhiên, ông vẫn vững tin vào Đảng, vào Cách mạng đặt lợi ích toàn cục lên trên hết động viên đồng chí của mình yên tâm công tác, chiến đấu nhanh chóng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những năm tháng cuối đời, ông bị bệnh hiểm nghèo và được Đảng và Nhà nước đưa sang Cộng hòa Dân chủ Đức chữa bệnh và mất tại đây vào năm 1978.

Ông là một trong những người đầu tiên đề xuất và chỉ đạo xây dựng đường Trường Sơn trên bộ và trên biển để chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam; chỉ đạo xây dựng công tác binh, địch vận từ 1960; đề xuất phát động du kích chiến tranh, nhân dân chiến tranh toàn diện và trường kỳ từ 1961; đề xuất chủ trương vừa đánh vừa đàm từ 1965…

Ông đã được khôi phục danh dự, khởi đầu với việc xuất bản tập hồi ký chung của nhiều tác giả ‘’Nguyễn Văn Vịnh – như anh còn sống mãi’’ rồi được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Tuy nhiên, hiện nay ông vẫn chưa được khôi phục quân hàm trung tướng.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: GiangNH trong 05 Tháng Chín, 2009, 01:25:27 am
     *Với diễn đàn QSVN bọn em chỉ là "thảo dân" thôi,không biết thì mới hỏi(mà hỏi không cẩn thận thì cũng vào Quân lao đấy),biết đóng góp thế nào hả các "cao thủ chuyên nghiệp".Vào QSVN để biết thêm kiến thức mà dạy dỗ con cháu chứ,biết đâu 1 ngày nào đó chúng nó quên hết Lịch sử dân tộc đã sinh ra nó(lo xa thế là vừa đấy các bác ạ!).
     *Thế cụ Giáp nhà mình sao không thấy đâu nhỉ(em cũng vừa hỏi bên tướng lĩnh Liên xô với cụ Stalin-chắc là chẳng ai ngồi giờ này mà trả lời giúp em).Còn mấy ông tướng tình báo nhà mình mà Phương Tây nó phải "nghiêng mình kính cẩn" đâu rồi-các bác biết thừa đó là ai?
     


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Chín, 2009, 03:50:17 am
     *Với diễn đàn QSVN bọn em chỉ là "thảo dân" thôi,không biết thì mới hỏi(mà hỏi không cẩn thận thì cũng vào Quân lao đấy),biết đóng góp thế nào hả các "cao thủ chuyên nghiệp".Vào QSVN để biết thêm kiến thức mà dạy dỗ con cháu chứ,biết đâu 1 ngày nào đó chúng nó quên hết Lịch sử dân tộc đã sinh ra nó(lo xa thế là vừa đấy các bác ạ!).
     *Thế cụ Giáp nhà mình sao không thấy đâu nhỉ(em cũng vừa hỏi bên tướng lĩnh Liên xô với cụ Stalin-chắc là chẳng ai ngồi giờ này mà trả lời giúp em).Còn mấy ông tướng tình báo nhà mình mà Phương Tây nó phải "nghiêng mình kính cẩn" đâu rồi-các bác biết thừa đó là ai?
     

Về việc cụ Giáp, thì cũng đã có một bác hỏi rồi. Em xin nhắc lại câu trả lời là em cũng đã viết, nhưng thấy không đạt cho nên đề nghị mọi người cùng nhau thảo luận, trao đổi để viết tiểu sử về cụ.

Còn những người làm công tác tình báo em cũng đã, đang đưa lên rồi đấy chứ. Như các cụ Hoàng Minh Đạo, Đinh Thị Vân, Trần Hiệu, Nguyễn Như Văn, Phạm Ngọc Thảo.

Cũng cần phải nói luôn, là trong đây em mới chỉ đưa những vị tướng mà tham gia quân đội từ thời kháng chiến chống Pháp trở về trước. Những vị tướng tham gia quân đội sau kháng chiến chống Pháp và đặc biệt còn đang giữ chức vị là em không có đưa lên.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: GiangNH trong 05 Tháng Chín, 2009, 06:36:57 pm
-Bác nên chia kiểu như sau:Chương 1 các tướng lĩnh trước 1954,chương 2 các tướng lĩnh từ 1954 đến nay.Phần đầu của mỗi chương liệt kê hết danh sách ,sau đó là kể tiểu sử từng tướng lĩnh.Em đảm bảo mọi người hết thắc mắc kiểu như em:Ông Nhạ đâu,ông Ẩn đâu...
 -Góp ý ít thôi kẻo các bác "lòng trắng trìu mến nhìn em",xin phép,em đang nghe Bộ đội về làng(Lê Yên-Hoàng trung Thông)hay quá!


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Tiến Cung, phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Chín, 2009, 04:50:13 am
(http://img3.imageshack.us/img3/2258/1230928041.jpg)

Thiếu tướng Trần Tiến Cung (bí danh : Trần Phong, 1928) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục 11 (Tình báo Quân sự miền Trung), Tổng cục phó Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng (Tổng cục II). Ông là cụm trưởng Cụm tình báo H32 (hoạt động suốt từ Huế đến Quảng Ngãi) trong suốt thời gian kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thiếu tướng Trần Tiến Cung hiện là Chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Đà Nẵng, Ủy viên thường vụ Hội cựu chiến binh Việt Nam.


Thiếu tướng Trần Tiến Cung quê tại xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1945, khi đang học lớp nhị niên (tương đương lớp 7 ngày nay), ông giác ngộ lý tưởng Cách mạng, giải phóng dân tộc và hăng hái tham gia tổng khới nghĩa giành chính quyền tại địa phương (tháng 8 năm 1945).

Đầu năm 1946, Tiểu đoàn Lương Ngọc Quyến Trung đoàn 69 Quảng Ngãi từ Ba Tơ về đóng quân tại quê hương tại Nghĩa Hòa, ông tình nguyện viết đơn xin nhập ngũ và trở thành người chiến sĩ Vệ quốc đoàn từ đó. Vốn nhanh nhẹn, hoạt bát, ông được phân công làm nhiệm vụ trinh sát. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp ông đã trực tiếp tham gia chiến đấu hàng chục trận lớn nhỏ trên chiến trường Khu 5. Năm 1948, sau trận Tú Thủy, ông bị thương nặng ở cổ, tay, chân trái và bị quân Pháp bắt. Đơn vị cứ ngỡ ông hy sinh đã gửi giấy báo tử về cho gia đình. Nhờ lòng dũng cảm và mưu trí, ông cùng một số đồng chí khác đã vượt ngục thành công trở về tiếp tục kháng chiến rồi trở thành đại đội trưởng trinh sát nổi tiếng.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc và được biên chế vào Sư đoàn 324 đóng quân tại Nghệ An và là Trưởng ban 2 (Quân báo) của Sư đoàn. Năm 1958, ông được phong quân hàm Đại úy. Năm 1960, ông được điều về công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Sau đó, từ Phó Phòng Điều tra Thẩm cứu chuyên thụ án những vụ án lớn, trọng điểm, ông được điều lên làm thư ký riêng cho Viện trưởng Hoàng Quốc Việt bởi sự sắc sảo và mẫn cán trong giải quyết công việc.

Tháng 5 năm 1965, ông được ông Hoàng Quốc Việt gọi lên thông báo Bộ Quốc phòng đề nghị xin ông về lại bên quân đội để vào Nam chiến đấu tại chiến trường khu 5 vì ông am hiểu tình hình Huế, Đà Nẵng cũng như miền Trung đặt biệt là tầng lớp tư sản, trí thức.

Năm 1954, sau khi chuyển quân tập kết, Ban Tình báo Liên khu 5 ở lại miền Nam hoạt động bí mật. Năm 1959-1960, do bị khủng bố gắt gao, nhiều cơ sở của ta bị vỡ, nhiều chiến sĩ tình báo, trong đó có Trưởng ban Tình báo Liên khu 5 Lê Cầu bị địch bắt và đưa đi đày. Trước tình hình đó, tình báo miền Trung được thành lập lại và tổ chức thành hai đơn vị: H.32 và B.54. H.32 gắn bó với chính quyền địa phương, vừa phục vụ cho Trung ương, còn B.54 tuy là tình báo miền Trung nhưng do Trung ương quản lý trực tiếp. Đến năm 1966, hai đơn vị này sáp nhập lại nhưng nhiệm vụ cơ bản vẫn không thay đổi.Khó nhất của tình báo miền Trung là phụ trách, theo dõi địch từ Quảng Trị đến Khánh Hòa, ngoài ra tùy tình hình cụ thể, trên có thể giao thêm nhiệm vụ ở Sài Gòn hoặc Tây Nam Bộ. Trong khi đó, thế bố trí Mỹ ngụy ở miền Trung đã chặt chẽ, lực lượng, nhất là ở Đà Nẵng và Quảng Trị được tăng cường tối đa. Đó là chưa kể mật thám trà trộn vào hàng ngũ để chỉ điểm bắt bớ cán bộ và chống phá cơ sở cách mạng.

Trước tình hình kể trên, sau khi được tuyển chọn về Bộ Quốc phòng, ông được tuyển chọn cử đi học 5 tháng ở Cục nghiên cứu (tên gọi bí mật của Cục Tình báo khi đó). Sau khi kết thúc khóa học, ông vượt Trường Sơn trở về quê hương chiến đấu với nhiệm vụ xây dựng và phát triển mạng lưới tình báo ở khu 5.

Sau khi về lại chiến trường, để bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao cho, ông chọn Gò Nổi cách Đà Nẵng 30 km làm căn cứ tiền phương của Cụm. Gò Nổi đối với các bên đều rất quan trọng. Ta thì muốn dùng Gò Nổi làm bàn đạp tấn công cơ quan đầu não khu vực miền Trung, còn Mỹ ngụy thì muốn nơi đây thành “mảnh đất trắng” để bảo vệ Đà Nẵng. Cho nên trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, Gò Nổi là nơi giành giật quyết liệt, khiến cho vùng đất này là nơi ác liệt bậc nhất chiến trường miền Nam hồi bấy giờ, thậm chí được ví ngang với Củ Chi (Nhất Củ Chi nhì Gò Nổi). Đó là địa thế hiểm yếu, gần thành phố Đà Nẵng, trong thành ra hoặc từ Gò Nổi vào chỉ qua một trạm kiểm soát ở đường quốc lộ số 1. Nhưng trên tất cả, là người dân nơi đây một lòng một dạ theo cách mạng, chấp nhận hy sinh để bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ. Đây cũng là nơi đặt căn cứ của tỉnh ủy Quảng Đà và thành ủy Đà Nẵng.

Dưới sự chỉ huy mưu lược của Cụm trưởng Trần Tiến Cung, Cụm điệp báo đã gây dựng, phát triển mạng lưới tình báo rộng khắp với đủ thành phần nam, phụ, lão, ấu, sĩ, nông, công, binh... trên địa bàn các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế, Quảng Ngãi. Tiêu biểu là gia đình ông Huỳnh Kim Vạn có 6 người tham gia hoạt động; cụ Phạm Phú Hoàng (xã Điện Trung, cháu nội quan Thượng thư Phạm Phú Thứ, em trai Tổng đốc Phạm Phú Tiết thời Pháp thuộc), bà Nguyễn Thị Bảy (nông dân xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn) - những giao thông viên đắc lực... Đặc biệt, tham gia cụm điệp báo còn có cả tầng lớp tư sản. Ông Phan Kỳ là chủ 2 tiệm vàng gần chợ Hàn và nhiều bất động sản lớn ở Đà Nẵng, sau khi được Cụm trưởng trực tiếp gặp gỡ, cảm hóa, đã xúc động phát biểu: “Tôi biết tham gia cách mạng là gươm kề cổ súng kề tai, nhưng được các anh tin tưởng thì dù hy sinh tôi cũng quyết không từ nan”. Gia đình ông Kỳ nhận nuôi giấu một tổ trưởng tình báo ngay tại tiệm vàng Tâm Thành. Khi cán bộ này chuyển công tác vào Sài Gòn, ông mua nhà trong đó tiếp tục che chở anh hoạt động. Ba năm sau, do đường dây liên lạc bị vỡ, ông Kỳ địch bắt, đày ra Côn Đảo. Vượt lên mọi đòn thù tàn bạo, ông vẫn giữ tròn khí tiết của người làm cách mạng. Cụm cũng đã gây được cảm tình và nhận được nhiều thông tin quý giá từ bộ tư lệnh Quân khu 1 cũng như Quân đoàn 1 Ngụy thông qua Trung tá Nguyễn Văn Lý trợ lý của Hoàng Xuân Lãm (sau này là Đại tá thanh tra Vùng 3 chiến thuật) rồi mạo hiểm đưa điện đài vào giữa thành phố Đà Nẵng để thông tin tình báo trong đó có thể chuyền trực tiếp ra Hà Nội hoặc vào Sài Gòn mà không phải mất thời gian qua Gò Nổi.

Chiến dịch Mậu Thân 1968, Tình báo Liên khu 5 đã nắm chắc được Hội nghị Bộ Tổng tham mưu ngụy và kế hoạch quân sự Vùng 1 chiến thuật, nắm được kế hoạch quân sự và ý đồ tác chiến của địch trong chiến dịch đường 9-Nam Lào. Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Tình báo Liên khu 5 đã triển khai kế hoạch phục vụ, củng cố nâng cao hiệu quả các lưới điệp báo, điều chỉnh lực lượng vào các mục tiêu quan trọng ở Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Huế…

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, ông lần lượt giữ các chức vụ Cục trưởng Cục 11 rồi Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng dù bận trăm công nghìn việc nhưng Thiếu tướng Trần Tiến Cung vẫn dành thời gian về lại Gò Nổi - chiến trường xưa, thăm hỏi, giúp những đồng chí cũ làm các chế độ chính sách, thắp hương cho người đã khuất, tham gia tìm kiếm 6 hài cốt liệt sĩ... Và ra sức bảo vệ các nhà tư sản có công đối với Cụm trong thời kỳ cải tạo tư bản ở miền Nam, động viên họ kiên trì, không bất mãn, tiếp tục động viên con cháu tham gia xây dựng đất nước.

Theo Báo Quân đội Nhân dân, Báo Quảng Nam Đà Nẵng





Tiêu đề: Thiếu tướng Vũ Thắng, phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Chín, 2009, 10:07:59 pm
(http://img176.imageshack.us/img176/5747/thieutuongvuthang.jpg)

Thiếu tướng Vũ Thắng (tên thật : Đào Xuân Thu, 1927) từng giữ các chức vụ : Trưởng phòng Điệp báo Cục Quân báo, Hiệu trưởng Trường huyấn luyện cán bộ tình báo, Trường phòng điệp báo nước ngoài, phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng.

Thiếu tướng Vũ Thắng quê tại xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Sớm hoạt động trong phong trào Việt Minh, sau Cách mạng tháng 8 thành công ông được bầu vào Huyện ủy Hải Lăng. Năm 1950, ông được bầu làm Bí thư Huyện ủy Hải Lăng và là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Trị.

Đầu năm 1951, Trung ương điều động 2 tỉnh ủy viên Quảng Trị bổ sung vào quân đội. Tuổi trẻ lại nhiệt huyết, Đào Xuân Thu và Trần Trọng Tân (sau này là Phó bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh) hăng hái xung phong. Trên đường ra Việt Bắc nhận nhiệm vụ, khi nghỉ chân ở Ninh Bình, Đào Xuân Thu được gặp ông Nguyễn Chí Thanh đang chỉ đạo chiến dịch Quang Trung. Tại đây, rất bất ngờ, Đào Xuân Thu được Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cho biết ông được bổ nhiệm chức Trưởng phòng điệp báo của Cục Quân báo.

Làm Trưởng phòng điệp báo, để giữ bí mật Đào Xuân Thu đổi tên thành Vũ Thắng. Hồi đó, tình báo cách mạng Việt Nam có hai cơ quan: Cục quân báo và Nha liên lạc, cơ quan tình báo của Trung ương  (tháng 6-1967, hai cơ quan hợp nhất lại gọi là Cục tình báo Bộ Quốc phòng, tên đối ngoại là Cục nghiên cứu). Nhiệm vụ chủ yếu của Cục Quân báo trong kháng chiến chống Pháp là thu thập tin tức quân sự để phục vụ cho các chiến dịch.

Thiếu cán bộ, ông về Liên khu Ba gặp Bí thư Lê Thanh Nghị, vào Liên khu Bốn gặp Bí thư Chu Văn Biên để xin người. Từ đó, Phòng điệp báo có vốn liếng ban đầu để xây dựng các cơ sở tình báo cách mạng, trong đó có nhiều người là cán bộ cấp huyện, thị xã như Phó bí thư Thị ủy Hà Đông, Thường vụ huyện ủy một huyện ở tỉnh Nam Định, Thị ủy Ninh Bình, Hà Nam… Những người được ông chọn sau hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ta đưa vào Nam, trở thành những cán bộ tình báo cài vào các cơ quan của Mỹ ngụy từ miền Trung đến Nam Bộ… Có người làm ở Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Ngoại giao ngụy, cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (MAAG); Có người ở các quân khu, quân đoàn ngụy… Tất cả đã trở thành một lực lượng tổng hợp của tình báo chiến lược trong giai đoạn đánh Mỹ. Ví dụ : Tổ quân báo ở Hải Dương do Nguyễn Trọng Lượng phụ trách thường xuyên nắm địch ở đường số 5, báo cáo tình hình hoạt động của các binh đoàn cơ động Pháp hoạt động trên tuyến này. Sau này, tổ của Trọng Lượng đã được cài vào Cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ  đã phát huy tác dụng, cung cấp cho ta nhiều tin tức có giá trị. Tổ quân báo ở Hà Nội đã đưa được nhiều người vào Bộ Tư lệnh Bảo an đoàn của ngụy, cài người vào sở chỉ huy, các binh đoàn cơ động của Pháp, nắm và báo cáo tình hình các phi trường Gia Lâm, Bạch Mai, Cát Bi cho Bộ tổng Tư lệnh. Tổ trưởng cụm này là một người phụ nữ sau này trở thành Anh hùng LLVT nhân dân: Đinh Thị Vân.

Cuối năm 1954, ông được điều vào Nam làm Trưởng ban cán sự tình báo Liên khu 5. Sau đó ông ra Bắc nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng Trường huấn luyện cán bộ tình báo. Năm 1966, ông được điều động làm Trưởng phòng điệp báo ngoài nước cho đến khi đất nước thống nhất. Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ông được cử giữ chức vụ phó Cục trưởng Cục tình báo Bộ quốc phòng rồi là tổng Cục phó Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng.

Theo Báo Quân đội Nhân dân








Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Điền, Giám đốc Học viện Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Chín, 2009, 04:53:11 pm
(http://img196.imageshack.us/img196/9409/thieutuonghoangdien.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Hoàng Điền (1924-1999),  từng giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần; Giám đốc Học viện Hậu cần.

Thiếu tướng (1983), Giáo sư (1986).


Thiếu tướng Hoàng Điền quê tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Năm 1945, ông tham gia du kích địa phương tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Từ năm 1946 đến 1950, ông là cán bộ dân vận huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Từ năm 1951 đến năm 1976, ông được điều động vào Quân đội là Cục phó Cục Quân nhu rồi Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần.

Từ năm 1977 đến 1982, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Năm 1983, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và giữ chức vụ Giám đốc Học viện Hậu cần Bộ Quốc phòng. Năm 1986, trong đợt phong học hàm đầu tiên của Quân đội, ông được phong Giáo sư Hậu cần chuyên về nghiên cứu công tác hậu cần trong chiến tranh. Cùng đợt này có các Giáo sư: Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Trung tướng Đỗ Trình, Trung tướng Phạm Hồng Sơn, Thượng tướng Vũ Lăng, Thiếu tướng Đoàn Huyên. Thiếu tướng Hoàng Điền mất năm 1999 tại Hà Nội.





Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Chí Cường, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Chín, 2009, 05:10:58 pm
(http://img16.imageshack.us/img16/6919/thieutuongtranchicuong.jpg)

Thiếu tướng Trần Chí Cường (tên thật: Trần Thanh Nhã, 1926-2009) từng giữ các chức vụ: Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Hậu cần, Phó Giám đốc Học viện Hậu cần, Phó Tư lệnh phụ trách Hậu cần Quân khu 2, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Thiếu tướng Trần Chí Cường, tên khai sinh là Trần Thanh Nhã, sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu nước ở làng Phước Hưng, thuộc tổng An Cư, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên (nay là xã Lộc Thủy, Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế). Là người hiếu học, ngay từ thuở thiếu thời, ông đã gặp được những người thầy tên tuổi như: Cao Xuân Huy, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Lân, Hoài Thanh, Đào Duy Anh... Bạn bè cùng trang lứa với ông có những người như Ngô Viết Thụ, về sau là một kiến trúc sư lừng danh. Người em ruột của ông là Giáo sư Trần Thanh Đạm, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Trong hai cuộc kháng chiến, gia đình ông phải gánh chịu nhiều mất mát. Một người anh bị giặc Pháp sát hại. Bà nội và mẹ ông bị chết vì bom đạn giặc.

Tháng 5-1945, Trần Chí Cường được kết nạp Đảng và 5 năm sau (1950), ông được bầu vào Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên. Đầu năm 1951, ông được điều động vào quân đội, giữ chức Trưởng phòng Cung cấp (Chủ nhiệm Hậu cần) Đại đoàn 325.

Sau hòa bình (1954), tập kết ra Bắc, ông được giao nhiều cương vị công tác khác nhau, từ Hiệu trưởng Trường sĩ quan Hậu cần, Phó giám đốc Học viện Hậu cần, Phó tư lệnh về Hậu cần Quân khu 2, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.





Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Chánh, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Chín, 2009, 09:48:18 pm
(http://img3.imageshack.us/img3/6/trungtuongnguyenchanh.jpg)

Trung tướng Nguyễn Chánh (1917-20/03/2001) từng giữ các chức vụ : Khu trưởng Khu 8, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ, Tham mưu trưởng Quân khu Hữu ngạn, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, Phó Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Tư lệnh Quân khu 9, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Ít-xa-la của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huân chương diệt phát-xít của nhà nước Liên bang Cộng hòa Xô-viết.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984).


Trung tướng Nguyễn Chánh sinh tại xã Phước Hậu, huyện Tuy Phước quê gốc tại phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định. Thời trẻ ông từng giữ chức vụ cai đội trong đội quân lính khố xanh của Pháp đóng tại Thà-khẹc Lào. Tháng 7 năm 1945, ông được tuyên truyền và giác ngộ Cách mạng, tham gia vào Đội binh sĩ cứu quốc tại Thà-khẹc. Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông đưa đội lính khố xanh do mình chỉ huy gia nhập Giải phóng quân.

Từ tháng 10 năm 1946 đến tháng 3 năm 1946, ông lần lượt giữ các chức vụ : tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội trưởng, Chỉ huy trưởng Việt kiều giải phóng quân của tỉnh Thà-khẹc đồng thời là Ủy viên Bảo vệ Noọng-khẹt. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946.

Đên 23 tháng 3 năm 1946, quân Pháp tấn công các tỉnh Viêng Chăn, Sa-va-na-khét, Thà-khẹt, Liên quân Lào Việt phải rút sang Thái Lan lập căn cứ kháng chiến. Tháng 5 năm 1946, lực lượng Việt kiều Giải phóng quân được tập hợp lại tại căn cứ Noọng-kè (Thái Lan). Từ tháng 4 năm 1946 đến tháng 11 năm 1946, ông là chỉ huy trưởng Chiến khu Um-kê Nọng Hơi.  

Tháng 12 năm 1946, Chi đội Trần Phú, với quân số hơn 400 người được thành lập. Ông được cử làm chi đội trưởng, ông Dương Cự Tẩm làm Chính trị viên. Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Chi đội Trần Phú tập kết tại căn cứ tạm thời ở Mường Đêk (Thái Lan) và làm lễ xuất phát vào ngày 26 tháng 12 năm 1946 về nước chiến đâu do ông là Chỉ huy trưởng, ông Trần Văn Sáu làm Chính trị viên. Sau đó, ông là Chỉ huy Chi đội Trần Phú chiến đấu ở hải ngoại và chiến trường Nam Bộ, sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 109 Khu 8.

Năm 1948, ông là Khu trưởng Khu 8. Từ năm 1949 đến năm 1953, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Khu 9, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Tháng 7 năm 1954, ông là Phái viên của Bộ Tổng Tư lệnh làm công tác chuyển quân tập kết.

Từ năm 1955 đến năm 1963, ông là Tham mưu trưởng Quân khu Hữu Ngạn. Từ năm 1960 đến năm 1963, ông học tại Học viện Quân sự Liên Xô. Năm 1964, ông là Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Từ tháng 6 năm 1964, ông vào chiến trường Khu 5, là Phó Tư lệnh Quân khu 5, kiêm Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Thường vụ Khu uỷ. Năm 1969, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Tháng 6 năm 1978, ông là Tư lệnh Quân khu 9. Tháng 4 năm 1979, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Tháng 3 năm 1985, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.  

Tham khảo: Bảo tàng Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doãn, Phó viện trưởng Viện 108
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Chín, 2009, 10:09:40 pm
(http://img34.imageshack.us/img34/7232/thieutuonggsnguyenngocd.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư dược Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Ngọc Doãn (17/06/1914-1987) quê tại phố Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Từ năm 1946 đến năm 1957, ông công tác tại Cục Quân Y Bộ Quốc phòng; Từ năm 1957 đến 1987, ông lần lượt giữ các chức vụ: Phó viện trưởng Viện Quân y 108 Bộ Quốc phòng rồi Chủ nhiệm Bộ môn Dược lý Trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Ông được phong học hàm Giáo sư năm 1980 chuyên ngành Dược lý học, chuyên nghiên cứu về  dược động học cũa thuốc y học cổ truyền. Độc tính của thuốc. Tác dụng thuốc trên hệ tim mạch. Ông từng công bố 45 nghiên cứu khoa học trên các tạp chí trong và ngoài nước và tham gia viết, xuất bản 12 quyển sách về Dược lý học.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doãn đã được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba. Huân chương Quân công hạng ba và hạng nhất. Huân chương kháng chiến hạng nhất.






Tiêu đề: Đại tá Nguyễn Tăng Ấm, Hiệu phó Trường Đại học Quân y
Gửi bởi: panphilov trong 13 Tháng Chín, 2009, 04:11:13 am
(http://img33.imageshack.us/img33/6430/daitanguyentangam.jpg)

Đại tá Giáo sư Bác sĩ Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Tăng Ấm (9/3/1919-26/1/2008) từng giữ các chức vụ: Trưởng Phòng Quân y Cơ quan Bộ Quốc phòng, Hiệu phó Trường đại học Quân y (nay là Học viện Quân y).

Ngoài ra ông còn giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ y tế phụ trách vệ sinh phòng dịch.

Giáo sư dịch tễ học (1980), Thầy thuốc nhân dân (1989)

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhì. Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba. Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì. Huân chương Chiến thắng hạng Nhì. Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Huân chương Độc lập campuchia hạng Nhất. giải thưởng Phạm Ngọc Thạch hạng Nhất... Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Ông quê tại xã Phú Lễ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Là học sinh Trường Quốc học Huế, học y khoa tại Đại học Y Hà Nội, còn 6 tháng nữa là tốt nghiệp thì kháng chiến bùng nổ, ông tiếp tục theo học y khoa ở chiến khu Việt Bắc, đến năm 1947 thì tốt nghiệp. Trong suốt thời gian kháng chiến từ năm 1946 đến năm 1954, ông đi khắp các chiến trường từ mặt trận Hà Nội đến Đèo Giàng, Bắc Kạn cấp cứu, phẫu thuật cho thương binh. Là Phó ban Chi đội Giải Phòng quân Thừa Thiên Huế, Trưởng ban Quân y Trung đoàn 354. Trưởng phòng quân y Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, ông là người chỉ huy công tác cứu thương cho bộ đội trong các chiến dịch Trung Du, Tây Bắc và bảo vệ sức khỏe cán bộ, chiến sĩ tại chiến khu Việt Bắc.

Năm 1955, BS. Nguyễn Tăng Ấm được cử sang Liên Xô học ngành dịch tễ học quân sự, trở về với luận án tiến sĩ được bảo vệ thành công tại Học viện Quân y Leningrad năm 1960. Về nước, TS. Nguyễn Tăng Ấm tiếp tục đảm nhận những vị trí quan trọng trong ngành quân y: Trưởng phòng Vệ sinh Phòng dịch cục Quân y. Chủ nhiêmk khoa Dịch tễ học. Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự.

Từ năm 1965 đến năm 1976, ông được cử giữ chức vụ Phó Giám đốc Trường Đại học Quân y. Năm 1965, bệnh sốt rét lan rộng trên chiến trường Tây Nguyên vào lúc công cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày càng thêm ác liệt. Nhiều chiến sĩ bộ đội ta bị hy sinh, bị thương do bom đạn của quân thù và cũng nhiều chiến sĩ, thanh niên xung phong lại bị tử nạn do bệnh sốt rét ác tính. Đoàn công tác của Đại học Quân y do Hiệu phó Nguyễn Tăng Ấm dẫn đầu với 7 chủ nhiệm bộ môn và khoa, vượt qua bom đạn có mặt tại các đơn vị bộ đội chiến trường Tây Nguyên, chịu đựng sốt rét như người lính để nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái muỗi truyền sốt rét nghiên cứu thuốc diệt muỗi và xua mỗi. Đoàn công tác đã kịp thời xây dựng phác đồ điều trị sốt rét cho bộ đội và xác định rõ các ký sinh trùng sốt rét đã kháng thuốc chloroquin nên việc uống thuốc phòng và điều trị sốt rét ở chiến trường miền Nam gặp khó khăn. Ông đã đề nghị Cục Quân y kịp thời cấp phát loại thuốc mới P2 và 2 loại dầu xua muỗi DEP và DMP cho các cán bộ và chiến sĩ đi chiến trường thì số mắc sốt rét mới giảm dần.

Sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, lại xuất hiện dịch sốt xuất huyết ở các quân đoàn trong vùng mới giải phóng với chiều hướng phức tạp. TS. Nguyễn Tăng Ấm và các cán bộ quân y lại vào tham gia phòng chống dịch. Sau 4 tháng, với nhiều  biện pháp được tích cực áp dụng, bệnh dịch hoàn toàn được khống chế.

Năm 1976, TS. Nguyễn Tăng Ấm được Chính phủ bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Y tế, phụ trách chỉ đạo công tác vệ sinh phòng dịch trong cả nước. Với cương vị mới, Thứ trưởng Nguyễn Tăng Ấm đã chỉ đạo tốt công tác dịch bệnh ở miền Bắc, xây dựng chương trình vệ sinh nông thôn, thực hiện cuộc vận động "sạch làng, tốt ruộng", xây dựng phong trào dứt điểm ba công trình: giếng nước, hố xí hai ngăn, nhà tắm và nhân rộng ở các địa phương.

Năm 1979, tình hình bệnh dịch tả ở miền Nam diễn biến phức tạp và nguy hiểm. Hàng trăm người mắc tả ở Nha Trang, Thuận Hải, Nghĩa Bình và sau đó lan ra  các tỉnh: Tiền Giang, Cửu Long, Thừa Thiên Huế... Trước đó, dịch đã  xảy ra  ở một số nước  châu Á và châu Phi. Thứ trưởng Nguyễn Tăng Ấm đã trực tiếp chỉ đạo Viện Pasteur Nha Trang, Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh phối hợp với ngành y tế  sở tại thành lập ban chỉ đạo chống dịch ở các địa phương, tập huấn xử lý các ổ dịch, chỉ đạo tổ chức công tác bao vây và dập dịch với các biện pháp khẩn trương và tích  cực.  Nhờ đó, các vụ dịch tả trong năm 1979, 1980 đều nhanh chóng được dập tắt trong khi các nước khác vẫn gặp nhiều khó khăn.

Năm 1980, dịch hạch bùng phát ở nông trường cao su thuộc tỉnh Đồng Nai, tỉnh trọng điểm về kinh tế, có hàng chục nghìn hecta trồng cao su và cà phê. Chỉ trong 2 năm, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thứ trưởng Ấm, dịch bệnh được chặn đứng, góp phần ổn định dân sinh và phục vụ phát triển sản xuất của tỉnh. Trước đó, trong thời gian chiến tranh, quân đội Mỹ đã đưa sang miền Nam các đơn vị nghiên cứu chống dịch hạch USAMRT và Walter Reed nhưng không khống chế được bệnh dịch này.

Năm 1982, Ban Bí thư Trung ương cử Thứ trưởng - GS. Nguyễn Tăng Ấm kiêm nhiệm công tác trưởng đoàn chuyên gia y tế Việt Nam giúp nước bạn Campuchia khôi phục lại mạng lưới y tế bị chế độ Pôn Pốt làm tan rã và tổ chức phòng chống dịch bệnh và giúp đào tạo cán bộ y tế tại nước bạn.

Năm 1989, khi đã  hơn 70 tuổi, GS. Nguyễn Tăng Ấm được nghỉ công tác về sống tại TP. Hồ Chí Minh và được mời làm chuyên viên cao cấp Sở Y tế thành phố, Chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm - Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ y tế (nay là Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch), cố vấn Trung tâm Bệnh viện Nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh cho đến hết năm 1999, GS. Ấm mới nghỉ công tác ở tuổi 80.

Dù bận nhiều công việc trong công tác quản lý, GS. Ấm vẫn dành thời gian nghiên cứu khoa học. Trong suốt 54 năm công tác, GS. Nguyễn Tăng Ấm đã có 35 công trình nghiên cứu trong và ngoài nước (tiếng Việt, Pháp, Nga), như: Vũ khí vi trùng và dịch tễ học. Bệnh sốt rét. Bệnh dịch hạchPhòng và chống chiến tranh vi trùng. Epidémiologie des infections intestinales. Phòng chống các bệnh nhiễm trùng tại các nước Đông Nam Á.... Ông đã xuất bản 10 cuốn sách y học, trong đó 2 cuốn viết tiếng Pháp là Dịch tễ học nhiệt đới và Các bệnh truyền nhiễm được lưu hành ở 39 nước nói tiếng Pháp, 1 cuốn sách tiếng Nga: Phòng chống các bệnh truyền nhiễm ở các nước đang phát triển.

Trên cương vị là Chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm - Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ y tế TP. Hồ Chí Minh, hằng năm GS. Ấm đã tham gia hướng dẫn khoa học cho 12-15 sinh viên y người Pháp sang Việt Nam thực tập về bệnh nhiệt đới và giúp cho 5-10 bác sĩ nội trú Việt Nam sang Pháp thực tập trong chương trình trao đổi đào tạo với nước bạn.

Nghỉ quản lý, giáo sư vẫn tiếp tục công tác đào tạo, hướng dẫn thực tập cho sinh viên trong và ngoài nước, trực tiếp cùng sinh viên đi thực địa, lấy mẫu bệnh phẩm và nghiên cứu các dịch bệnh cho tới năm 2006 khi giáo sư khó đi lại được do tuổi cao.

Đại tá Giáo sư Nguyễn Tăng Ấm là thầy thuốc có công xây dựng và phát triển ngành y tế dự phòng và chống dịch bệnh trong quân y, dân y.

Theo Bộ Y tế





 


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Đặng Kim Giang, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: Mig-29 trong 16 Tháng Chín, 2009, 01:25:09 pm
@ Đồng chí Panphilpov:
Chuyên mục thật hay về tướng lĩnh, nhưng nếu chủ đề vậy thì có nên đưa cấp Đại tá vào không? và nữa, tôi nghĩ chỉ nên đưa những ai có hàm cấp chính thức, tính đến thời điểm này. Nếu đã bị tước quân tịch thì đương nhiên không đưa vào.

Nếu không đưa cấp Đại tá vào, em thấy thiệt thòi cho nhiều người quá. Lại càng thiệt thòi hơn cho những người còn không có cả quân hàm như các cụ Trần Đăng Ninh, Nguyễn Chánh, Hoàng Đình Giong... chẳng hạn. Cho nên em đưa vào đây theo chức vụ và cả căn cứ vào thời điểm nữa.

Tình cờ được biết đến trang web này vì tò mò tìm trên mạng về ông của mình, thanks bạn rất nhiều, tuy nhiên như góp ý của bạn SukhoiSu-47Berkut, topic đã nêu đến chuyên đề tướng thì chỉ nên đề cập đến tướng. Sự nghiệp giải phóng dân tộc rất nhiều người có công với Cách mạng, do đó để nêu gương cho thế hệ sau học hỏi và tìm hiểu bạn có thể lập topic khác vậy cụ thể và súc tích hơn. Theo mình giữa tướng và tá thì có sự khác biệt mặc dù công lao đóng góp không thể so sánh được, vài góp ý cùng diễn đàn, mong các bạn phát triển ngày càng vững mạnh. Thân!


Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Đặng Kim Giang, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: mytam81 trong 16 Tháng Chín, 2009, 02:19:04 pm
Tình cờ được biết đến trang web này vì tò mò tìm trên mạng về ông của mình, thanks bạn rất nhiều, tuy nhiên như góp ý của bạn SukhoiSu-47Berkut, topic đã nêu đến chuyên đề tướng thì chỉ nên đề cập đến tướng. Sự nghiệp giải phóng dân tộc rất nhiều người có công với Cách mạng, do đó để nêu gương cho thế hệ sau học hỏi và tìm hiểu bạn có thể lập topic khác vậy cụ thể và súc tích hơn. Theo mình giữa tướng và tá thì có sự khác biệt mặc dù công lao đóng góp không thể so sánh được, vài góp ý cùng diễn đàn, mong các bạn phát triển ngày càng vững mạnh. Thân!
[/quote]

Theo quan điểm của em thì vào những thời kỳ đầu tiên của cách mạng Việt Nam, số lượng sỹ quan, tướng lĩnh rất ít. Ví dụ như vào năm 1958, Bác Hồ tiếp tục phong quân hàm cho một số các cụ thì số lượng đại tá được phong lúc đó cũng chỉ khoảng vài chục người. Hết sức quý giá, và số lượng thì không nhiều.

Do vậy, đối với các cụ lão thành cách mạng không nên phân biệt quân hàm tướng, tá làm gì cả. Chúng ta có một topic chung như vậy để các thế hệ sau nhớ về công lao của các cụ.





Tiêu đề: Thiếu tướng Bùi Đại, vị tướng chuyên diệt sốt
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Chín, 2009, 01:16:34 am
(http://img21.imageshack.us/img21/956/thieutuonggstskhbuidaie.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Truyền nhiễm (1980) Tiến sĩ Khoa học (1960) Bùi Đại (30/9/1924), từng giữ các chức vụ : Phó Viện trưởng Viện 103 kiêm Hiệu phó Học viện Quân y, Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự, Viện trưởng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (12.1989), Thầy thuốc Nhân dân (3.1989)

Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến (hạng Nhất, Ba), Huân chương Quân công, Huân chương chiến sĩ Giải phóng, Huy chương vì cách mạng Lào, Giải thưởng nhà nước về Khoa học va Công nghệ năm 2000. Bằng khen của tổng cục Hậu cần.


Thiếu tướng Bùi Đại quê tại Thanh Hóa. Tháng 10 năm 1946, khi đang là học viên năm thứ nhất Trường Quân y, ông xếp bút nghiên lên Quân y vụ Thái Nguyên chăm sóc thương bệnh binh. Từ năm 1946 đến 1954, ông làm công tác Y tế trong Quân đội là Trưởng ban điều trị, Phó Phòng Kế hoạch Cục Quân y. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông theo chân bộ đội chủ lực có mặt tại hầu hết các chiến dịch lớn như : Tây Bắc, Thượng Lào… Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954, trước thời điểm chiến sự nổ ra 3 tháng, ông đi cùng với Cục trưởng Cục Quân y thời bấy giờ là ông Vũ Văn Cần bí mật lên điều tra chiến địa, bố trí các trung tâm y tế phục vụ các trận đánh.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông được cử đi làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô. Sau khi về nước cho đến năm 1973, ông lần lượt giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Bộ môn, Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm của Viện 103 và Học viện Quân y (1960) rồi Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Từ năm 1973 đến 1982, ông lần lượt được cử giữ các chức vụ : Phó Viện trưởng rồi Viện trưởng Viện 103 kiêm Hiệu phó Trường Đại học Quân y, nhiều lần phục vụ Chiến trường miền Nam.

Năm 1965, bộ đội và người dân Sơn La bị một đợt sốt không rõ nguyên nhân rất nghiêm trọng. Các nhân viên y tế địa phương đã cho người bệnh dùng thuốc chống sốt rét ác tính nhưng bệnh không những không suy giảm mà còn nặng thêm. Trước tình hình ấy, ông cùng với GS Võ An Dậu ở Khoa truyền nhiễm Bệnh viện 103 được điều gấp lên Sơn La đẩy lùi dịch sốt không rõ nguyên nhân này.

Những tháng ngày đầu năm 1965, bộ đội hy sinh rất nhiều vì mắc phải sốt rét ác tính. Nhất là những tân binh, nhiều chiến sĩ hành quân mới vào điểm tập kết đã phải nằm lại bởi sốt rét. Ông đã đi tất cả những chiến trường B3, B1 khu 5, B4 Bình Trị Thiên, hai lần ở B2 Nam Bộ từ 1971-1973 và 1974-1976. Làm nhiệm vụ đẩy lùi bệnh rốt rét cho bộ đội hạn chế đến mức tối đa hy sinh vì sốt rét.

Năm 1968, ông được Tổng cục và Cục quân y cử vào trong HO đón E5 ở Trị Thiên ra hậu phương (E1, E2, E3, E7. E8) với hai nhiệm vụ phòng chống và điều trị dịch sốt rét ác tính đang bùng phát ở các đơn vị này.  Nằm trong lòng chiến trận ở Nam Bộ, ông đã đề đạt với Cục Quân y nhiều phương pháp phòng và điều trị dịch sốt rét ác tính mới và hiệu quả. Một trong những biện pháp đạt hiệu quả là dùng phối hợp thuốc sốt rét (Quinin hoặc Chloroquine với Pyrimethamine) được Cục Quân y chấp nhận đưa vào điều trị cho bộ đội.  Những phương án điều trị của ông đã đáp ứng kịp thời nhu cầu chiến trường và được đưa vào các văn bản chỉ thị hướng dẫn điều trị sốt rét của Cục Quân y và của Quân y Miền Nam, được áp dụng rộng rãi ở mọi chiến trường từ các tuyến trước về cơ sở điều trị tuyến sau của hành lang 559, các quân khu B1, B3, B4, B4, B5, B2.

Từ năm 1983 đến 1984, ông tiếp tục sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh cao cấp. Năm 1984, ông là Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự. 1985, Viện trưởng Bệnh viên Trung ương Quân đội 108 và được phong quân hàm Thiếu tướng. Từ năm 1996 ông thôi giữ vai trò quản lý và chuyển sang làm chuyên viên cao cấp của Bệnh viện 108 cho đến khi về hưu năm 2005.

Thiếu tướng Bùi Đại là Chuyên viên đầu ngành về Dịch học Quân sự - Chuyên gia cố vấn Chương trình phòng chống sốt rét Quốc gia, từng là Trưởng Tiểu ban Truyền nhiễm Quân đội. Ông cũng được bạn bè nước ngoài biết đến với tư cách là nhà chuyên gia chống dịch hàng đầu. Sau khi hoà bình lập lại ông sang Lào đẩy lùi dịch sốt đái đen. Sau đó sang Trung Quốc chữa dịch viêm màng não rồi sang Camphuchia chống hạch.

Ông đã hướng dẫn 10 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ. Xuất bản hơn 20 cuốn gồm giáo trình, sách tham khảo và hơn 70 bài viết về truyền nhiễm dịch tễ, về sốt rét ác tính, về bệnh viêm gann bệnh Dengue…

Sưu tầm và tổng hợp.







Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Huy Phan, người ‘’nối liền hành phục’’ lứa đôi
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Chín, 2009, 02:17:49 am
(http://img27.imageshack.us/img27/729/thieutuongnguyenhuyphan.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Viện sĩ Tiến sĩ Khoa học Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Huy Phan (1928 – 1997), từng giữ các chức vụ : Phó Viện trưởng Viện 108, Trưởng Tiểu ban ngoại Cục Quân y.

Tiến sĩ (1956), Tiến sĩ Khoa học (1983), Phó Giáo sư (1980), Giáo sư (1984), Thầy thuốc Nhân dân.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba).


Thiếu tướng Nguyễn Huy Phan quê tại xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Thuở nhỏ, chứng kiến cảnh chết đi sống lại của người anh trai khi bị viêm ruột thừa cấp. Chỉ bằng một can thiệp kỹ thuật chính xác, kịp thời của bác sĩ Tôn Thất Tùng, mà ranh giới giữa cái sống cái chết được minh định. Từ đó, ông luôn mơ ước trở thành bác sĩ.

Năm 1946, khi mới là sinh viên năm thứ nhất Trường Y, ông tham gia kháng chiến với tư cách là tự vệ chiến đấu kiêm cứu thương. Trong một lần đi kiểm tra đơn vị, thanh tra Quân y, bác sĩ Trần Hữu nghiệp, phát hiện ra ông mặc dù còn trẻ nhưng làm việc say mê, lại có những hiểu biết về ngoại khoa và khuyên ông lên tiếp tục đi học.

Năm 1947, ông được cử đi học tại Trường Y kháng chiến tại Tuyên Quang, cứ 6 tháng học lại đi phục vụ chiến dịch vài ba tháng. Năm 1951, học xong năm thứ 4, vì điều kiện kháng chiến nhà trường chưa đủ điều kiện tổ chức thi bác sĩ, ông nhận chức danh y sĩ cao cấp rồi sau đó đi phục vụ khắp các mặt trận và chiến dịch ở phía Bắc từ Trung du đến Điện Biên Phủ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 1 năm 1955, ông thi đỗ bác sĩ tại Đại học Y Hà Nội và được giữ lại làm giảng viên của trường tại Bộ môn Giải phẫu. Mùa Thu năm 1955, ông được cử đi làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô với đề tài mà ông ấp ủ từ lâu : Phẫu thuật tạo hình vùng cổ mặt. Tại đây, trong suốt 4 năm nghiên cứu học tập, ông đã trực tiếp tham gia giải phẫu ở hai viện Chấn thương - Chỉnh hình và Phẫu thuật thẩm mỹ trung ương Matxcơva. Tháng 9-1959, Nguyễn Huy Phan bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ (giờ gọi là Tiến sĩ) y học với đề tài: Điều trị phẫu thuật các khối u máu vùng hàm mặt và trở thành Tiến sĩ y học đầu tiên của Việt Nam.

Từ năm 1962 đến năm 1978, ông giữ chức vụ Chủ nhiệm khoa Răng Hàm Mặt, Viện Quân y 108. Từ năm 1978 đến khi mất (1997), ông giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện 108. Trong thời điểm này, Thiếu tướng Nguyễn Huy Phan còn giữ vai trò : Chủ tịch Hội phẫu thuật Nụ cười Việt Nam, Chủ tịch Hội phẫu thuật tạo hình Hà Nội, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Mỹ, Phó Chủ tịch Hội Răng - Hàm - Mặt Việt Nam, Phó chủ tịch Hội ngọai khoa Việt Nam, Chuyên viên ngành tạo hình, Trưởng tiểu ban Ngọai Cục quân y.

40 năm liên tục làm phẫu thuật tạo hình với sự nhạy bén tiếp thu và ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến của nền ngoại khoa thế giới; với đỉnh cao khoa học đạt được năm 1983: bảo vệ thành công luận án tiến sĩ y khoa với đề tài ‘’Tạo hình phức hợp trong điều trị các dị chứng vết thương hoả khí lớn vùng hàm mặt’’.  Ông đã tham gia đào tạo nhiều khóa, lớp bác sĩ, chuyên khoa I, chuyên khoa II, cao học và nghiên cứu sinh về chuyên ngành phẫu thuật tạo hình. Công bố 118 công trình khoa học trên các tạp chí trong nước và nước ngòai. Hòan thành 2 đề tài cấp Nhà nước: Ứng dụng kỹ thuật vi phẫu thuật trên lâm sàng. Ứng dụng kỹ thuật Laze trong điều trị. Với lòng mong muốn tột độ của suốt cuộc đời là làm phẫu thuật tạo hình để đem lại hạnh phúc thật sự cho con người, GS.TS Nguyễn Huy Phan đã đi từ thành công này đến thành công khác mà rực rỡ nhất là công trình Giải phẫu tạo hình dương vật, góp phần mang lại hạnh phúc cho những lứa đôi.

Năm 1969, một sáng nọ, anh lính trẻ Trần Ngọc B, người Thanh Hoá mới 23 tuổi nhập viện trong tình trạng dương vật đã bị mảnh tên lửa tiện cụt. Anh khoẻ mạnh, đẹp trai, lại chưa có người yêu. Giáo sư Phan đã quyết định: phải tái tạo lại cho được bộ phận đã mất. Vậy là ca phẫu thuật tạo hình dương vật đầu tiên ở Việt nam được ông tiến hành với 6 lần mổ kéo dài trong 7 tháng điều trị tại chỗ. Một chuyện tình hi hữu xảy ra. Cô y tá được giao nhiệm vụ chăm sóc anh thương binh nọ trong suốt quá trình điều trị đã yêu anh... Kết cục thật đẹp: anh xuất viện trở về xứ Thanh, đem theo cả cô y tá. Họ thành vợ, thành chồng, sống hạnh phúc với nhau, liên tiếp cho chào đời 3 đứa con khoẻ mạnh... Sự thành công của ca phẫu thuật đầu tiên làm nức lòng GS. Nguyễn Huy Phan và cộng sự - những học trò của ông. Đến năm 1979 thì thầy trò ông đã tiến hành thành công 25 ca phẫu thuật tạo hình dương vật.

Từ những năm của thập kỷ 1930, y học thế giới đã sử dụng kính hiển vi vào phẫu thuật, bắt đầu từ việc mổ tai giữa: nói cách khác là từ đó đã có vi phẫu thuật. Bước sang thập kỷ 1960, kỹ thuật hiện đại đã sáng chế được nhiều công cụ y học tiên tiến, đặc biệt là bộ kim chỉ khâu cực mảnh với trôn kim là ống rỗng được đục bởi kỹ thuật laser - từ đây kỹ thuật vi phẫu thuật mạch máu, các bó sợi thần kinh mà đường kính ngoài khoảng 1mm bởi từ 4 đến 8 mũi khâu mà vẫn đảm bảo mạch thông suốt và các bó sợi thần kinh được ráp nối chuẩn xác. Những bộ phận của cơ thể bị cắt rời – trong vòng 5 giờ hoặc hơn một chút - sẽ được nối lại dễ dàng bởi kỹ thuật vi phẫu MM-TK. Trên thế giới, những năm của thập lỷ 1970 là thời kỳ nở rộ của kỹ thuật vi phẫu MM-TK tạo nên sự “bùng nổ” trong kỹ thuật ngoại khoa.

Năm 1975, đất nước thống nhất, nguồn thông tin khoa học kỹ thuật thế giới vào nước ta đã thông suốt và GS. Nguyễn Huy Phan đã theo dõi được những tiến bộ khoa học của nền y học thế giới, đặc biệt là kỹ thuật ngoại khoa. Năm 1977, phát hiện tại Tổng y viện Cộng hoà Sài Gòn có một chiếc kính hiển vi để mổ mà không dùng, GS. Phan đã xin điều về Quân y viện 108 Hà Nội. Ông đã lập một phòng thí nghiệm với kính mổ và sưu tầm đây đó những kim chỉ khâu cực mảnh, đèn đốt lưỡng cực..., tự sáng tạo thêm những dụng cụ cần thiết khác từ các dụng cụ vẫn dùng để mổ mắt... Từ phòng thí nghiệm này, ông đã thí nghiệm thành công việc mổ nối các động mạch tĩnh chủ bụng, chậu chung, đùi chuột cống trắng rồi ứng dụng vào kỹ thuật vi phẫu tạo hình trong lâm sàng. Tiếp đó là việc nghiên cứu để cải tiến phẫu thuật tạo hình áp dụng kỹ thuật vi phẫu MM-TK.

Mùa đông 1979, GS. Phan được Hội phẫu thuật tạo hình Pháp mời sang tham gia một số cơ sở tạo hình ở Paris, Lyon, Marseille và dự Hội nghị phẫu thuật tạo hình lần thứ 24 của Pháp với sự tham gia của khoảng 500 đại biểu trong và ngoài nước.

Năm 1991, sau khi chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất cần thiết, trong bị tốt những kiến thức y học hiện đại, những kinh nghiệm phẫu thuật tạo hình băng kỹ thuật vi phẫu MM-TK, với bàn tay phẫu thuật đã được rèn luyện hơn bốn chục năm qua. GS.TS Nguyễn Huy Phan đã mổ thành công ca tạo hình dương vật đầu tiên ở Việt Nam bằng kỹ thuật vi phẫu MM-TK.

Cho đến nay, GS.TS Nguyễn Huy Phan đã tiến hành thành công 10 ca tạo hình dương vật bằng kỹ thuật vi phẫu MM-TK. Việc làm của ông đã được sự theo dõi sát sao của các hội phẫu thuật tạo hình thế giới, đặc biệt là Pháp và Mỹ.

Thời điểm Giáo sư Nguyễn Huy Phan sang Pháp là thời điểm Việt Nam bắt đầu thực hiện những bước để tiến lại với các nước phương Tây đặc biệt là Mỹ để phá vỡ thế cô lập về ngoại giao. Khi đó, để chủ trương tiếp cận, Việt Nam chọn quyết định chọn khoa học mà cụ thể là ngành Y để tiếp cận. Do ông là người có chuyên môn cao, có phẩm chất, lập trường vững vàng cho nên được ông Lê Đức Anh lựa chọn đi dự Hội nghị phẫu thuật Quốc tế.

Tại Mỹ, ngành Y là một ngành được trọng vọng, các giáo sư và bác sĩ Mỹ tham dự hội nghị đã đánh giá rất cao các báo cáo của Giáo sư Nguyễn Huy Phan. Tháng 1-1995, Hội Phẫu thuật tạo hình Mỹ mời GS.TS. Nguyễn Huy Phan dự Hội nghị quốc tế phẫu thuật tạo hình tại Florida. Tại đây, ông sẽ đọc hai bản báo cáo, một về kinh nghiệm xây dựng chuyên ngành vi phẫu tạo hình tại một nước có nhiều khó khăn như Việt Nam và một về kỹ thuật tạo hình dương vật trong một thì mổ. Bản báo cáo thứ nhất sẽ dành thời gian 35 phút - một ngoại lệ (mỗi báo cáo khoa học trong hội nghị chỉ được dành 5-6 phút). Sau một thời gian, phía Mỹ mời Giáo sư Nguyễn Huy Phan trở thành công dân danh dự của New York và ông trở thành Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Mỹ đầu tiên.

Do những đóng góp của ông trong việc bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ, ông được chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ‘’đặc cách’’ trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Huy Phan, mất năm 1997 sau một thời gian bị mắc bệnh ung thư mà ông dấu gia đình đồng nghiệp để toàn tâm toàn ý cống hiến.

Sưu tầm và tổng hợp



Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Thúc Tùng, Viện trưởng Viện Quân y 175
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Chín, 2009, 03:12:27 pm
(http://img22.imageshack.us/img22/6431/203311660.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Thúc Tùng (10/3/1916) từng giữ các chức vụ: Viện phó Viện Trung ương Quân đội 108, Viện trưởng Viện 175, Ủy viên Hội đồng Y học Bộ Quốc phòng.

Tiến sĩ (1964), Giáo sư Y học Chuyên ngành Tiết liệu (1984).

Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 huân chương Chiền công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chíến hạng Nhất, huân chương chiến sĩ Vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba).


Thiếu tướng Nguyễn Thúc Tùng quê tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Là một trí thức trước Cách mạng tháng 8, từng là bác sĩ ngoại khoa tại Bệnh viện Yersin (nay là Bệnh viện Việt Đức) Hà Nội (1945-1946). Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông xung phong ra nhập Quân đội, Nam tiến vào phục vụ và chiến đấu tại Chiến trường miền Trung Liên khu 5 là bác sĩ rồi Chủ nhiệm Quân y Liên khu (1947-1955).

Từ năm 1946 đến năm 1978: ông về công tác tại Viện Quân y 108; đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô (1960-1964) và là người Việt Nam được đào về Chuyên ngành Tiết niệu; là Trưởng khoa của Khoa ngoại Tiết niệu Viện Quân y 108; đi chiến trường B, Viện phó Viện Quân y 108.

Từ năm 1978 đến năm 1980, ông được điều sang làm Viện trưởng Viện Quân y 175; Từ năm 1981 đến lúc về hưu (1990), ông thôi giữ các chức vụ quản lý và là Ủy viên Hội đồng Y học Bộ Quốc phòng.

Thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Thúc Tùng chuyên nghiên cứu về chiến thuật quân y trong chiến thuật quân sự. Vếthương chiến tranh về tiết niệu. Các bệnh về tiết niệu.



Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: hatuyenha trong 25 Tháng Chín, 2009, 03:59:18 pm
Bạn Panphilop@ thân mến,thật có lỗi khi hôm nay mới phát hiện ra topic này.Thật cám ơn bạn quá khi bạn đưa ông già mình lên đầu tiên,là một người con của cụ mình xin một lần nữa cám ơn bạn, và thay mặt các CCB các thời  của đất nước Việt nam ta xin nghiêng mình cám ơn việc làm đáng trân trọng này của bạn.
Trong Quân đội có lính có tướng(có cả những tướng lĩnh chưa được phong chính thức đã qua đời như ý bạn),có tướng thì cần có lính.Một thể thống nhất nên bạn đã làm được một việc hết sức có ý nghĩa trong trang QSVN.net.Một lần nữa chân thành cám ơn bạn.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Chín, 2009, 03:48:56 am
Bạn Panphilop@ thân mến,thật có lỗi khi hôm nay mới phát hiện ra topic này.Thật cám ơn bạn quá khi bạn đưa ông già mình lên đầu tiên,là một người con của cụ mình xin một lần nữa cám ơn bạn, và thay mặt các CCB các thời  của đất nước Việt nam ta xin nghiêng mình cám ơn việc làm đáng trân trọng này của bạn.
Trong Quân đội có lính có tướng(có cả những tướng lĩnh chưa được phong chính thức đã qua đời như ý bạn),có tướng thì cần có lính.Một thể thống nhất nên bạn đã làm được một việc hết sức có ý nghĩa trong trang QSVN.net.Một lần nữa chân thành cám ơn bạn.

Cám ơn cô đã quan tâm đến chủ đề này của cháu. Có một số thắc mắc về tướng Nguyễn Sơn cháu hy vọng lúc  nào đó sẽ được hỏi trực tiếp và riêng cô.

Nhân tiện cháu cũng hỏi là quan hệ giữa cô và Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại là như thế nào? Vì cháu đọc báo thấy tướng Nguyễn Đồng Thoại gọi bố cô bằng cậu. Cô có thông tin gì về tiểu sử của tướng Nguyễn Đồng Thoại thì bổ sung cho chủ đề với, cháu chỉ có mỗi ảnh.




Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Thế Khánh, Viện trưởng Viện 108
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Chín, 2009, 04:36:01 am
(http://img15.imageshack.us/img15/8145/trungtuonggstsnguyenthe.jpg)

Trung tướng Giáo sư Thày thuốc Nhân dân Nguyễn Thế Khánh (19/6/1917) từng giữ chức vụ Viện trưởng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhì, Huân chương chiến công vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Huân công hạng nhất, Huy chương 30 năm xây dựng Quân đội Cuba.

Thiếu tướng (1985), Trung tướng (1995).

Ông nhận học vị tiến sĩ năm 1964 và học hàm giáo sư nội khoa năm 1980.


Trung tướng Nguyễn Thế Khánh quê tại Yên Bái, Ba Đình, Hà Nội. Trước Cách mạng tháng 8, ông tốt nghiệp Trường Y Hà Nội và được giữ lại làm giảng viên của Trường từ năm 1943 đến 1945.

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, năm 1946 ông gia nhập Quân đội phụ trách các Viện Quân y ở Việt Bắc rồi làm giảng viên Trường Sĩ quan Quân y.

Từ năm 1955, ông giữ chức vụ Viện phó Viện Trung ương Quân đội 108. Từ năm 1960 đến 1964, ông đi làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô.

Sau khi về nước, từ năm 1965 đến năm 1987, ông lần lượt giữ các chức vụ Viện trưởng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Chủ tịch Hội đồng bảo vệ sức khỏe Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nội khoa Quân dân y. Từ năm 1987, ông là chuyên viên cao cấp ngành  nội khoa cho đến khi về hưu 2004.

Trung tướng Nguyễn Thế Khánh chuyên nghiên cứu nội khoa về các bệnh tim mạch, bệnh máu và cơ quan tạo máu, cận lâm sàng, huyết học sinh hóa, miễn dịch, vi sinh vật, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Ông đã công bố 65 bài báo nghiên cứu khoa học trên các tạp chí chuyên ngành phổ biến kiến thức bách khoa về tim mạch, huyết học, ung thư, đái tháo đường, gan mật. Xuất bản sách: Xét nghiệm lâm sang ( chủ biên tái bản 10 lần). Hóa nghiệm sử dụng trong lâm sang ( chủ biên). Cấp cứu nội khoa )đồng chủ biên).








Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: hatuyenha trong 27 Tháng Chín, 2009, 12:12:04 pm
Thiếu tướng Nguyễn đồng Thoại  nguyên cục phó cục tác chiến thuộc bộ TTM có quan hệ họ hàng với mình.Bà nội mình ( Nguyễn thị Xuyến) là chị ruột ông ngoại của anh Thoại.Bà mẹ của anh Thoại hơn bố mình một giáp cùng tuổi Thân,nhưng thân nhau,trước khi đi thóat li sang Quảng Châu Trung quốc ông già mình có đến vay mẹ anh Thoại ít tiền nói để vào Sài gòn buôn vải.Anh Thoại có gặp ông già mình vào năm 1945 khi ông già mới ở TQ về. Và là người chứng kiến cảnh ông già buồn báo tin cho mẹ anh Thoại biết về cái chết của bà Kiếm Qua và hai anh ở TQ vào những năm đó.
Mình gặp anh Thoại ở trong SCH bộ,khi mình vào thiết kế và lắp ráp trung tâm chỉ huy,nhưng lại vào những năm 1979,khi đó nhiều người tránh và có họ lại tỏ ra không họ vì sợ liên luỵ.Lúc này anh đang là đại tá trưởng phòng chiến trường của cục tác chiến. Anh dõng dạc giới thiệu với mọi người trong cục:đây là bà chị họ tôi,con cụ Nguyễn Sơn.Theo họ hàng tôi phải gọi là chị nhưng vì tôi nhiều tuổi nên cô ấy gọi tôi là anh xưng em cho thân.Từ đó chúng tôi thân nhau và khi anh Thoại về hưu hai anh em càng thân nhau hơn.
Anh đã dịch quyển" Hoàng  Hà nhớ Hồng Hà thương "trong ba bốn tháng,đến đoạn cuối anh rất mệt,mỗi  lần vậy anh lại lên nhà mình nói chuyện và về lại  dịch tiếp. Khi in mình đề nghị anh nên đề rõ tên anh với cấp hàm thiếu tướng cho hết trách nhiệm của ông cháu với ông bác.Anh đồng ý mặc dù lúc đầu anh định lấy tên cháu đích tôn của anh.
Anh Thoại sống rất bình dị nhưng rất quyết đoán ,hát hay,biết nhiều ngoại ngữ,đánh giá về những đồng đội hết sức khách quan,không chửi tục.Anh hay kể với mình về bác Lê trọng Tấn và chú Nguyễn hữu An.
Mình sẽ sưu tầm tiểu sử của anh ấy cho bạn.


Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Gia Triệu, Phó Viện trưởng Viện Quân y 108
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Chín, 2009, 03:24:25 am
(http://img193.imageshack.us/img193/6840/thieutuonggstsphamgiatr.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Anh hùng (15.8.1918 - 1990), từng giữ các chức vụ: Trưởng Ban Quân y Chiến khu Đông Triều, Phó Viện trưởng Viện Quân y Trung ương Quân đội 108.

Ông quê tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định. Là người cùng làng với các tướng lĩnh khác của Quân đội như: Đặng Quốc Bảo, Đặng Kinh, Đặng Quân Thụy, Nguyễn Sĩ Quốc, Nguyễn Đăng Kính.

Từ năm 1945 đến năm 1954, ông tham gia kháng chiến chống Pháp lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng Ban Quân y Chiến khu Đông Triều (Đệ tứ Chiến khu) rồi Trưởng Ban Quân y Trong đoàn 98.

Từ năm 1955 đến năm 1960, ông được cử đi làm nghiên cứu sinh Y học tại Liên Xô chuyên ngành phẫu thuật thần kinh và nhận được học vị tiến sĩ năm 1957.

Sau khi về nước, từ năm 1960 đến năm 1983 ông giữ chức vụ Viện phó Viện Quân y Trung ương Quân đội 108. Từ năm 1984, ông thôi giữ các chức vụ quản lý và là chuyên gia cao cấp ngành Ngoại khoa, Quân y cho đến khi mất năm 1990.

Thiếu tướng Phạm Gia Triệu đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân. Ông chuyên nghiên cứu về vết thương sọ não, cột sống do hỏa khí; phương pháp điều trị u đám với màng mạch não thất IV; điều trị vết thương do chiến tranh. Năm 1960, Nhà xuất bản Y học đã xuất bản cuốn sách Chấn thương sọ não của ông.


Tiêu đề: Thiếu tướng Võ Văn Vinh, Cục trưởng Cục Quân y
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Mười, 2009, 01:19:23 am
(http://img190.imageshack.us/img190/6531/thieutuonggstskhvovanvi.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Võ Văn Vinh (2/7/1918) từng giữ các chức vụ: Trưởng Phòng Quân y Liên khu 5, Cục trưởng Cục Quân y, Chủ nhiệm Quân y B3.

Huy chương Vì sức khỏe Nhân dân, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghiệp, Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ.


Thiếu tướng Võ Văn Vinh quê tại xã Đại Hội, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, là một trí thức yêu nước ông được cử làm Chủ tịch Bệnh viện Bạch Mai.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông gia nhập Quân đội cùng đoàn quân Nam tiến vào chiến đấu tại Chiến trường Liên khu 5. Từ năm 1946, ông giữ chức vụ Trưởng Phòng Quân y Liên khu 5.

Từ năm 1955 đến năm 1960, ông là Chủ nhiệm khoa nội Bệnh viện Quân y 108, Chủ nhiệm Bộ môn Y học cơ sở Đại học Y Dược Hà Nội. Năm 1960, ông được cử đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô và nhận học vị Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ Khoa học) vào năm 1964.

Trở về nước, bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông tiếp tục vào Nam chiến đấu và là Chủ nhiệm Quân y Chiến trưởng B3 (Tây Nguyên).

Từ năm 1969, ông lần lượt giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục Quân y, Chủ tịch Hội đồng Y học Quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu năm 1990.

Ông được công nhận chức danh Giáo sư Y học chuyên ngành Nội khoa Tiêu hóa vào năm 1980. Ông chuyên nghiên cứu về tổ chức quân y ở chiến trường Liên khu V, nghiên cứu về tiêu Hó, ung thư gan, viêm lóet dạ dày. Ông đã công bố 33 bai nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu được áp dụng trong tổ chức quân y theo tuyến và khu vực, trong phòng và chữa bệnh cho chiến sĩ.








Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Sĩ Quốc, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Mười, 2009, 07:53:24 pm
(http://img3.imageshack.us/img3/1052/thieutuonggsnguyensiquo.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Sĩ Quốc (26/4/1922 - 2002) từng giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Cục trưởng Cục Quân y.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng... Giải thương nhà nước về Khoa hoc và Công Nghệ.

Thiếu tướng (1983).


Thiếu tướng Nguyễn Sĩ Quốc quê tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định cùng làng với các tướng như Đặng Quốc Bảo, Đặng Kinh, Đặng Quân Thụy, Phạm Gia Triệu, Nguyễn Đăng Kính.

Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông gia nhập Quân đội làm công tác quân y phục vụ các chiến dịch. Năm 1950, ông được cử đi học ở Liên Xô.

Năm 1956 về nước, ông phụ trách công tác vệ sinh phòng dịch tại Cục Quân y nhiều lần đi chiến trường. Năm 1968, ông được cử giữ chức vụ Cục phó Cục Quân y.

Từ năm 1976 đến năm 1983, ông được cử giữ chức vụ Viện trưởng Viện Y học Quân sự. Năm 1983, ông được phong Quân hàm Thiếu tướng và được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần cho đến khi về hưu cho đến khi nghỉ hưu năm 1990.

Ông được công nhận chức danh Giáo sư Y học năm 1980, chuyên ngành dịch tễ học. Thiếu tướng Nguyễn Sĩ Quốc chuyên nghiên cứu các biện pháp vệ sinh phòng dịch và chống bệnh sốt rét, khoa học kỹ thuật quân y và tổ chức quân y tại các chiến trường; hướng dẫn 9 nghiên cứu sinh bảo bẻo vệ thành công luận án Tiến sĩ; hòan thành nhiều đề tài nghiên cứu về phòng chống sốt rét ở chiến trường, chữa trị bệnh tê phù, nhiễm giun... Xuất bản 1 số đầu sách về phòng chống số rét, dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe gia đình và người cao tuổi.







Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: t2ncdn trong 08 Tháng Mười, 2009, 11:38:25 pm
(http://img515.imageshack.us/img515/6318/thieutuongnguyentrongviwp2.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (1916), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chính ủy Quân khu 4, Cục trưởng Cục Tổ chức trực thuộc Tổng cục Chính trị.

Thiếu tướng (1959).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất...


Ông quê ở xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, tham gia Cách mạng năm 1937, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSVN) năm 1939, nhập ngũ năm 1947.

Năm 1940 ông bị thực dân Pháp bắt giam. Sau khi được trả tự do (2.8.1945) ông được phân công về hoạt động tại huyện Đông Anh là Bí thư huyện ủy, kiêm Phó Chủ tịch huyện chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8.1945. Sau cách mạng tháng 8, tháng 11 năm 1945, ông được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Yên rồi tháng 10 năm 1946, là Bí thư tỉnh ủy kiêm Phó Chủ tịch tỉnh Thái Bình.

Tháng 2 năm 1947, trước yêu cầu của của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông được điều vào quân đội là Chính ủy, Thường vụ khu ủy Khu 1. Từ 2.1948 đến 1950, ông là Trưởng phòng cán bộ và đảng vụ, Cục phó Cục Chính trị Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam, Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị.

Năm 1958, ông được cử vào làm Chính ủy Quân khu 4. Tháng 6.1961 ông ra Trung ương và giữ chức vụ Phó Tổng thanh tra Ban Thanh tra Chính phủ.

Tháng 8 năm 1961, ông là Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa. Từ tháng 3 năm 1964 đến năm 1974, ông là Đoàn ủy Đoàn 959, kiêm Phó ban công tác miền Tây của Chính phủ (CP–38), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ năm 1974 đến năm 1989, ông là Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, là vị đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc lâu năm nhất đồng thời lại là thời kì căng thẳng, xung đột giữa hai nước.

Ông là ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 3. Năm 1993, ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.

Chú ý: Trong từ điển không ghi Thiếu tướng Nguyễn Văn Vĩnh từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng theo một bài viết của Trung tướng Đặng Kinh thì tại thời điểm 1968 ông là Thứ trưởng Bộ quốc phòng.
Nội dung nay có nhầm lẫn. Ông Nguyễn Trọng Vĩnh chưa bao giờ giữ chức vụ Thứ trưởng BQP.





Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 09 Tháng Mười, 2009, 05:20:44 am

Nội dung nay có nhầm lẫn. Ông Nguyễn Trọng Vĩnh chưa bao giờ giữ chức vụ Thứ trưởng BQP.


Hi hi... Bác cứ đọc cái phần "chú ý" của em đi.


Tiêu đề: Đại tá Lê Văn Ốc, Cục phó Cục Quân y
Gửi bởi: panphilov trong 09 Tháng Mười, 2009, 05:41:45 am
(http://img14.imageshack.us/img14/9184/daitalevanoc.jpg)

Đại tá Giáo sư Lê Văn Ốc (5/8/1917-1994) từng giữ các chức vụ: Trưởng Ban Quân y Liên khu I, Cục phó Cục Quân y.

Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba).


Đại tá Lê Văn Ốc quê tại xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, năm 1946 ông gia nhập Quân đội, là Trưởng Ban Quân y Bắc Thái. Từ năm 1948 đến 1949, ông là Trưởng Ban Quân y Liên khu I.

Từ năm 1954 đến năm 1957, ông lần lượt giữ các chức vụ: Phó Vụ trưởng Quân y Liên khu I, Trưởng Phòng Điều trị Cục Quân y. Từ năm 1957 đến năm 1960, ông được Quân đội cử đi học chuyên khoa về Tổ chức chiến thuật Quân y tại Liên Xô.

Về nước, từ năm 1961 đến năm 1979, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng phòng Điều trị rồi Cục phó Cục Quân y. Từ năm 1980, ông tham gia Hội đồng Y học Quân sự Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu năm 1989.

Đại tá Lê Văn Ốc được phong học vị Giáo sư năm 1984 chuyên ngành Tổ chức Chiến thuật Quân y. Ông đã giảng dạy nhiều lớp chiến thuật quân y.Tham gia các công trình tổng kết các chiến dịch. Chủ trì báo cáo tổng kết Quân y về Chiến dịch Bình Trị thiên và tình hình quân y về chiến trường Biên giới Tây Nam. Xuấn bản 2 cuốn sách: Hướng dẫ công tác điều trị dự phòng (1962), Thống kê quân y (1963).






Tiêu đề: Đại tá Vũ Tá Cúc, Cục phó Cục Quân y
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Mười, 2009, 02:29:46 am
(http://img33.imageshack.us/img33/9779/daitagsvutacuc.jpg)

Đại tá Giáo sư Nhà giáo Ưu tú Vũ Tá Cúc (14.6.1926) từng giữ các chức vụ: Cục phó Cục Quân y, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y).

Huân chương Quân công hạng Nhì. Huy chương chiến công hạng Nhất, Ba. Huân chương Chiến thắng hạng Nhì. Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Huân chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất, Nhì,Ba. Huy chương Quyết thắng. Huy chương Chiến sĩ giải phóng. Huy chương Quân kỳ Quyết thắng... Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Đại tá Vũ Tá Cúc quê tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông tham gia Quân đội từ năm 1947, cho đến khi kết thúc thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1954), ông lần lượt giữ các chức vụ: Công tác tại Quân y E47, Trưởng ban Quân y Mặt trận Hà Nội, Trưởng phòng quân y Mặt trận Bình Thị Thiên, Trung Lào, Chủ nhiệm Quân y Đại đoàn 325.

Từ năm 1955 đến năm 1958, ông được cử đi học chuyên khoa tại Liên Xô. Về nước, từ năm 1958 đến năm 1968, ông lần lượt là: Giảng viên, Chủ nhiệm môn Phòng Hóa, Phòng Nguyên tử, Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y) rồi đi chiến trường giữ cương vị Trưởng phòng Quân y Mặt trận Bắc Quảng Trị.

Từ năm 1969 đến năm 1979, ông được cử giữ chức vụ Hiệu phó Trường đại học Quân y. Từ năm 1980, ông giữ các chức vụ: Cục phó Cục Quân y, Chuyên viên về Độc học và Y học phóng xạ Quân sự cho đến khi nghỉ hưu năm 1995.

Đại tá Vũ Tá Cúc được công nhận học hàm Phó Giáo sư năm 1980, Giáo sư năm 1984. Ông chuyên nghiên cứu về các biện pháp y học phòng ngừa, cấp cứu điều trị tổn thương hóa học, phóng xạ chiến tranh (do vũ khí) và trong thời bình (do sự cố). Đã đào tạo nhiều cán bộ chuyên ngành đạt trình độ chuyên khoa cao. Công bố 32 bài báo khoa học. Hòan thành 15 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp. Biên sọan và xuấn bản 5 đầu sách chuyên ngành. Tham gia biên sọan: Lịch sử Quân y, Từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách Khoa Quân sự Việt Nam.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 19 Tháng Mười, 2009, 05:29:44 am
Bổ ích nhưng cần xem lại tiêu chí:
Vốn là học sinh khóa 9 (1974-1981) của Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y) tôi rất mừng khi đọc được thông tin về các thầy, thủ trưởng của mình trên trang này.

Nhưng hình như vẫn thiếu và nếu có thêm bảng Mục lục danh sách các vị Tướng đã được nhập thì tiên tra cứu hơn. Đồng thời, tôi thấy chủ đề là "tướng lĩnh" sao trong bài lại có đến mấy Đại tá và vài vị chưa có cấp hàm vậy?


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Mười, 2009, 02:58:47 am

Nhưng hình như vẫn thiếu và nếu có thêm bảng Mục lục danh sách các vị Tướng đã được nhập thì tiên tra cứu hơn. Đồng thời, tôi thấy chủ đề là "tướng lĩnh" sao trong bài lại có đến mấy Đại tá và vài vị chưa có cấp hàm vậy?


Dạ. Thực ra những câu hỏi này nhiều người đã đặt ra rồi ạ. Ở đây, đề cập đến một số đại tá (thậm chí có cả thượng tá) rồi một số người chưa có cấp hàm cấp vị là bởi vì có tính đến chức vụ cũng như những đóng góp của họ đối với quá trình lãnh đạo Quân đội.


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Văn Âu, Phó Viện trưởng Viện Quân y 108
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Mười, 2009, 03:29:06 am
(http://img18.imageshack.us/img18/156/thieutuongnguyenvanau.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Văn Âu (22.4.1924) từng giữ chức vụ: Phó Viện trưởng Viện Quân y Trung ương Quân đội 108, Phó Viện trưởng Viện Quân y 211 Mặt trận Tây Nguyên.

Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Giải phóng (hạng Nhì, ba), Huân chương chếin công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huy chương Quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp khoa học và Công nghệ, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì Sức khỏe Nhân dân, 5 năm liền là Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ Quất thắng (1975 – 1979).


Thiếu tướng Nguyễn Văn Âu quê tại phố Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Sau khi Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông lên Việt Bắc theo học Đại học Y kháng chiến tại Việt Bắc. Sau 4 năm học, vì điều kiện kháng chiến, Trường không có điều kiện tổ chức cho sinh viên bảo vệ tốt nghiệp, ông cùng các bạn cùng khóa tạm thời được cấp bằng Y sĩ cao cấp. Năm 1950, ông được cử vào Nam chiến đấu tại chiến trường Liên khu 5, là Trưởng ban Quân y Trung đoàn 803 chủ lực của Liên khu.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Trường Đại học Y chuyển lại về Hà Nội tổ chức thi tốt nghiệp, ông được cấp bằng bác sỹ và được cử giữ chức vụ Đội phó Đội điều trị 1, Cục Quân y (1955 - 1956). Năm 1957, ông về công tác tại Viện 108 làm Trưởng Khoa Truyền nhiễm.

Năm 1966, ông lên đường vào Nam chiến đấu trên cương vị Viện phó Viện Quân y 211 thuộc Mặt trận Tây Nguyên (B3). Năm 1971, ông được gọi ra Bắc đi học bổ túc về ngành Truyền nhiễm tại Viện Ki-rốp của Liên Xô. Về nước năm 1973, ông được cử làm Viện phó Viện Quân y 108 cho đến khi về hưu năm 1995.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Âu được phong Phó Giáo sư năm 1980, Giáo sư năm 1991. Ông cũng được phong tặng danh hiệu Thày thuốc Ưu tú năm 1989 rồi danh hiệu Thày thuốc Nhân dân. Ông nghịên cứu về các bệnh truyền nhiễn nhệt đới. Sốt rét, sốt rét ác tính, đái huyết cầu tố, sốt rét dai dẳng – viêm gan virus B – số xuất huyất, thương hàn, lỵ, nhiễm HIV và AIDS. Ông đã hướng dẫn thành công 1 luận án Tiến sĩ và 1 luận văn Thạc sĩ. Hoàn thành 2 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ. Công bố 20 bài báo trên các tạp chí trong và ngòai ngành. Đã xuất bản 7 cuốn sách viết về chuyên môn phục vụ cho học tập và nghiên cứu.






Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Hưng Phúc, Phó Viện trưởng Học viện Quân y
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Mười, 2009, 11:22:38 pm
(http://img190.imageshack.us/img190/42/thieutuongnguyenhungphu.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Hưng Phúc (10.8.1927) từng giữ chức vụ: Phó Viện trưởng Học viện Quân y.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục,  Huy chương Vì sức khỏe Nhân dân, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ.


Thiếu tướng Nguyễn Hưng Phúc quê tại Hà Nội. 1956 - 1972, ông là Giảng viên Trường Quân y sĩ và Đại học Y - Dược Hà Nội, Phó chủ nhiệm Bộ môn Độc học Học viện Quân y. 1973 - 1987, được cử đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô, ông được cấp học vị Tiến sĩ năm 1975 và học vị Tiến sĩ Khoa học năm 1986. 1988 - 1995, Chủ nhiệm Bộ môn Độc học rồi Phó Viện trưởng Học viện Quân y. Ông là Ủy viên Hội đồng học hàm ngành Dược từ năm 1995 đến năm 2000. Thiếu tướng Nguyễn Hưng Phúc nghỉ hưu năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Thiếu tướng Nguyễn Hưng Phúc được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 1980, chức danh Giáo sư Dược học năm 1984, chuyên ngành Độc học Quân sự, ông cũng được phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. Ông chuyên nghiên cứu hậu quả chiến tranh hóa học của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đối với con người và biện pháp khắc phục. Chất thải của hóa chất độc hại trong nhà máy công nghiệp, quốc phòng và biện pháp phòng ngừa. Tác dụng của thuốc giãn cơ vân đối với hội chứng co giật do nhiều nguyên nhân khác nhau. Ông đã hướng dẫn 10 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ. Giảng dạy cho nhiều khóa đại học, sau đại học và độc học tại Học viện Quân y. Hòan thành 1 đề tài cấp Nhà nước và 4 đề tài nghiên cứu cấp Bộ. Chủ biên 3 bộ sách giáo khoa và tham gia biên sọan các sách: Phòng và chữa tác hại do vũ khí hóa học (1995).Tổn thương do vũ khí hóa học, cách phòng điều trị (1987). Tổ thương do vũ khí hóa học,vũ khí hạt nhân và biện pháp phòng chống (1993). Đề phòng, tự cứu, cứu nhau đối với vũ khí hóa học, vũ khí hạt nhân vũ khí sinh học.





Tiêu đề: Thiếu tướng Vũ Khắc Sương, vị tướng miền biên cương
Gửi bởi: panphilov trong 11 Tháng Mười Một, 2009, 05:44:23 am
(http://img5.imageshack.us/img5/7237/ha6l.jpg)

Thiếu tướng Vũ Khắc Sương (? - 27/10/2009), từng giữ các chức vụ: Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội An Giang (2 lần), Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bến Tre.

Thiếu tướng (1988).


Thiếu tướng Vũ Khắc Sương sinh tại làng Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Huyện Giồng Trôm quê hương ông cũng là quê hương của nhiều tướng lĩnh như: Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Trung tướng Đồng Văn Cống, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị, Thiếu tướng Trần Minh Tích, Thiếu tướng Trần Văn Nhiên, Trung tướng Võ Viết Thanh, Đại tướng Lê Văn Dũng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ngay.

Ông tên thật là Võ Văn Cẩn, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo lại sớm mồ côi mẹ. Tên Vũ Khắc Sương là tên ông ghép họ ông với tên vợ đầu là bà Trần Thị Sương sau khi bà cùng con trai út bị mất vì bom pháo của kẻ thủ. 2 con đầu của ông cũng bị mất từ nhỏ vì bệnh trái nắng.

Ông sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập bộ đội trưởng thành từ chiến sĩ đến chỉ huy trong “Bộ đội ông Cống” Chi đội 19 rồi Trung đoàn 99 thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tham gia các trận đánh khắp chiến trường Tây Nam Bộ.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc, tham gia xây dựng quân đội chính quy rồi được cử đi học sĩ quan. Năm 1962, trước yêu cầu mới của cách mạng miền Nam, ông vượt Trường Sơn trở về quê hương tham gia chiến đấu. Ông từng là Tiểu đoàn trưởng dũng cảm của Tiểu đoàn 364 lập nhiều chiến công, trong đó có thành tích tiêu diệt Chi khu Kiên Lương, chiến thắng trận Vĩnh Thông vang dội. Sau đó, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng, rồi Tỉnh đội trưởng An Giang. Năm 1972, ông được Quân khu 8 điều về quê hương xứ dừa chỉ huy chiến đấu khi Tám Vị, Ba Đào, Mười Phục… đã đối đầu quyết tử với đủ loại chủ lực của địch và sau đó lần lượt rời khỏi chiến trường Bến Tre.

Thời gian ông làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre (1972-1975) cũng là thời kỳ ác liệt của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh. Ông chỉ huy đấu trí, đấu lực, cùng đồng đội đánh tan tác Chiến đoàn A bảo an, tiến công triệt hạ hàng loạt Phân chi khu: An Ngãi Tây, Hưng Phong, Phước Tuy, Tân Xuân, Tân Hưng, Bình Khánh, Chi khu Trúc Giang, xóa sổ Tiểu đoàn 453, Tiểu đoàn 454 bảo an, phục kích Quới Sơn – Phú An Hòa đánh dập đầu Bạch Hổ (Tiểu đoàn 401 bảo an), vây lấn tấn diệt hàng loạt đồn bót, đánh phá bình định của địch, chuyển thế chủ động chiến trường, tích cực xây dựng lực lượng chuẩn bị tham gia chiến dịch mùa Xuân 1975. Địch ở Kiến Hòa (Bến Tre) ngoan cố tử thủ khi chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng. Ông kiên quyết dùng quả đấm quân sự ở mặt trận Lương Quới và sân bay Tân Thành, buộc địch buông súng đầu hàng.

Cuối năm 1975, ông rời khỏi Bến Tre trở lại An Giang tiếp tục nhận nhiệm vụ Tỉnh đội trưởng cho đến khi về hưu. Ông lại gánh vác trách nhiệm nặng nề ở một địa bàn còn khá phức tạp sau mấy tháng giải phóng và bắt đầu phòng thủ đối phó với chiến tranh lấn chiếm biên giới của tập đoàn Pol Pot – Ieng Sari. Ông góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ biên giới và nghĩa vụ quốc tế.


"Anh Năm Sương là vị tướng mà tôi kính trọng, bởi anh có nghị lực vượt lên số phận khi đối diện với sự nghiệt ngã, cả đời giữ gìn sự liêm khiết, mẫu mực, sống có nghĩa, có tình, có thủy, có chung với nhân dân, với đồng đội, trung thành với lý tưởng, gương mẫu thực thi “quân lệnh như sơn”, dũng cảm trong chiến đấu, làm nhiều hơn nói, sâu sát từng công việc, hết lòng thương yêu cấp dưới" (Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị)

Theo Trang web tỉnh Bến Tre



(http://)


Tiêu đề: Đại tá Từ Giấy, Cục phó Cục Quân nhu
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 08:45:42 pm
(http://img132.imageshack.us/img132/4498/daitagstugiay.jpg)

Đại tá Giáo sư Thày thuốc Nhân dân Anh hùng Lao động Từ Giấy (10/10/1921 – 8h40’ 13/11/2009) từng giữ chức vụ : Cục phó Cục Quân nhu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ăn mặc Quân đội. 

Ngoài ra ông còn là Viện trưởng và là người sáng lập Viện Dinh dưỡng Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Chiến công, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhì, Giải thưởng Nhà nước… Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông được Tạp chí các vấn đề dinh dưỡng lâm sàng châu á và Thái Bình Dương bình chọn là "Nhà dinh dưỡng xuất sắc châu á và Thái Bình Dương năm 1993".

Đại tá Từ Giấy quê tại xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Là con một trong gia đình, bố lại mất sớm, mẹ ông đã tần tảo nuôi ông ăn học. Lúc còn nhỏ, ông học chữ Nho ở trường làng rồi mới học chữ Quốc ngữ để lấy bằng Sơ học, sau đó lên huyện học hết bậc tiểu học rồi lên Hà Nội thi vào Trường Bưởi. Sau 7 năm ở Trường Bưởi, ông vào Trường Y và là một trong 7 người nhận bằng tốt nghiệp trong tổng số 200 người vào Trường.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông gia nhập Vệ quốc đoàn. Giặc Pháp gây hấn và quay trở lại xâm lược Nam bộ, ông theo đoàn quân Nam tiến vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Mặc dù mon muốn trở thành bác sĩ phẫu thuật, nhưng trước đòi hỏi của chiến trường ông chuyển sang công tác phòng chống sốt rét cho cán bộ và chiến sĩ.

Sau các hiệp định đình chiến với quân Pháp, năm 1946 ông quay trở ra Hà Nội. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao cho tổ chức cuộc thi trẻ em khỏe trẻ em đẹp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để đúc kết kinh nghiệm nuôi con khỏe, con giỏi cho người dân sau khi nước nhà giành được độc lập.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đầu năm 1947 ông lên Việt Bắc kháng chiến và công tác ở Cục Quân y. Tại đây, ông lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao cho nhiệm vụ mở tờ báo Vui Sống nhằm chăm sóc, hướng dẫn đồng bào, chiến sĩ trong điều  kiện kháng chiến thiếu thốn nơi rừng núi để kháng chiến lâu dài với lời dặn "không lúc nào bằng lúc này, các cán bộ chiến sỹ trong quân đội và đồng bào tản cư đang phải đương đầu với các bệnh tật hiểm nghèo vì thiếu hiểu biết về vệ sinh". Là người phụ trách tờ báo đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm mục Hỏi Đáp, ông đã trả lời các câu hỏi của đồng bào và chiến sĩ một cách rất khoa học và dí dỏm. Thời gian ở Việt Bắc, ông còn giữ cương vị Ủy viên Ban chấp hành Hội những người viết báo Việt Nam (Hội nhà báo Việt Nam ngày nay). Trong chiến dịch Điện Biên lịch sử, ông được giao trọng trách làm Trưởng ban Bảo vệ sức khỏe cho cán bộ và chiến sĩ.

Hòa bình lập lại, quân đội điều ông về giảng dạy tại Đại học Quân Y và từ đó ông là người tiên phong trong việc xây dựng nên ngành học Vệ sinh quân đội mà ông là Chủ nhiệm đầu tiên. Ông thường xuyên tham gia giảng dạy cho Đại học Y Hà Nội và được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm đầu tiên của bộ môn Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Từ năm 1957 đến 1961, ông được cử đi tu nghiệp tại Liên Xô, trong thời gian này ông đã chú tâm nghiên cứu và tìm hiểu về Dinh dưỡng học và Vệ sinh phòng dịch hiện đại. Về nước, ông tiếp tục giữ chức vụ Chủ nhiệm khoa Vệ sinh Quân đội tại Trường Đại học Quân y.

Từ năm 1968 đến năm 1981, ông giữ chức vụ Cục phó Cục Quân nhu rồi sau đó kiêm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ăn – Mặc Quân đội. Ông toàn tâm toàn ý cùng tập thể lao vào nghiên cứu đủ mọi đề tài liên quan đến việc ăn uống, việc mặc, việc giữ gìn vệ sinh trong Quân đội. Ông đã vào chiến  trường nhiều lần và các cuốn sách nhỏ cùng các sản phẩm mới do các đề tài nghiên cứu của ông đã thiết thực phục vụ cho cuộc sống của hàng chục vạn chiến sĩ. Đó là các đề tài về rau rừng ăn được, bảo quản gạo, lương khô chiến trường, men nở bột mỳ, nước giải khát lên men, thức ăn tổng hợp. Và ông đã có mặt ngay tại Sài Gòn ngày thống nhất đất nước trong đoàn công tác của Cục Quân nhu và Cục Quân y đi phục vụ chiến dịch.


Ngay sau khi nước nhà thống nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng (lúc đó) đã đề ra 10 Chương trình nghiên cứu trọng điểm của Nhà nước, trong đó có Chương trình cải tiến cơ cấu bữa ăn, và Ông được giao làm chủ nhiệm. Chương trình này được phối hợp với các Bộ nội thương, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp và Tổng cục hậu cần, xây dựng mô hình thực địa ở Khu gang thép Thái Nguyên với 16000 công nhân và 30000 người thuộc các gia đình. Sau 3 năm thực hiện từ năm 1977 đến năm 1980, mô hình xây dựng đã đạt kết quả nhờ phát triển phong trào VAC ở các gia đình; các bếp tập thể đã tự túc về thực phẩm; chế biến thực phẩm tại chỗ và tổ chức được các bếp ăn cơ khí và tiết kiệm than củi; đời sống và bữa ăn của công nhân và gia đình đã được cải thiện rõ rệt. Ông đã thành công trong việc xây dựng cơ sở lý luận về chiến lược tái sinh trong ứng dụng hệ sinh thái Vườn - Ao - Chuồng truyền thống ở nước ta. Danh từ VAC đến nay đã trở thành quá quen thuộc, trở thành một giải pháp tạo nguồn thực phẩm gia đình, xóa đói giảm nghèo và dinh dưỡng hợp lý. Sáng kiến này của ông cũng được nhiều nước ở thế giới thứ ba áp dụng và học hỏi.

Ngày 13/6/1980, Chính phủ đã quyết định thành lập Viện dinh dưỡng quốc gia và cử Ông làm Viện trưởng và Ông đảm nhiệm cương vị này đến năm 1993.

Với cương vị mới, Ông đã đảm nhiệm và hoàn thành xuất sắc 2 Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước 64-02 (giai đoạn 1981-1985) và 64D (1986-1990). Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra được phương án phù hợp nhất về xây dựng cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam, là cơ sở nền tảng cho chiến lược duy trì sức khỏe. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được in thành sách như: Thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam; Hệ sinh thái VAC và những người làm VAC giỏi; Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam; Dinh dưỡng ứng dụng.... Với hai công trình này, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động.

Từ các kết quả nghiên cứu khoa học, ngành dinh dưỡng mà đặc biệt là Ông, đã giúp Nhà nước ta lần đầu tiên xây dựng được một chính sách về dinh dưỡng. Đó là bản "Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng" giai đoạn 1995-2000. Đây có thể coi là bản tuyên ngôn đầu tiên về đường lối dinh dưỡng ở nước ta, trong đó tổng hợp các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm về phòng, chống suy dinh dưỡng, cải tiến bữa ăn.

Với những công trình kể trên, từ năm 1982 đến năm 1999, ông là Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cố vấn ding dưỡng Quốc gia. Từ năm 1999 đến năm 2003, ông là Chủ tịch Hội dinh dưỡng Việt Nam.

Ông cũng rất quan tâm và có những đóng góp nổi bật cho công tác giáo dục dinh dưỡng, phổ biến các kiến thức dinh dưỡng cho người dân. Ông là người đề xuất "nguyên nhân gốc rễ thứ 2 của suy dinh dưỡng là sự kém hiểu biết". Đề xuất đó đã được Hội nghị cấp cao về dinh dưỡng quốc tế năm 1992 tại Roma thừa nhận và ghi vào Tuyên cáo của Hội nghị.

Ông cũng là tác giả của nhiều tài liệu phổ biến giáo dục dinh dưỡng như các sách "Làm mẹ", "Phong cách ăn Việt Nam", "Dinh dưỡng hợp lý và sức khỏe", Tổng quan "Kinh nghiệm giáo dục dinh dưỡng trong chiến tranh giải phóng dân tộc và trong xây dựng hòa bình"... trong đó Ông luôn luôn gắn liền những kiến thức về dinh dưỡng với thực tế cuộc sống.

Ông được phong Học hàm Giáo sư Y học chuyên ngành Dinh dưỡng năm 1980, rồi Anh hùng Lao động năm 2000. Ông chuyên nghiên cứu nếp sống vệ sinh trong quân đội.Cải tiến bữa ăn của bộ đội ( bếp ăn, tiêu chuẩn, nhà ăn cơ khí hóa). Nghiên cứu chữa trị dịch bệnh phù, dịch bệnh quáng gà. Sản xuất lương khô phục vụ trong quân đội. Các công trình khoa học của ông đều mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, cán bộ chiến sĩ trong Quân đội, chúng xuất phát từ những yêu cầu thực tế trong cuộc sống và chiến đấu.

Là Giáo sư, xong tuy nhiên ông hoàn toàn không có bằng cấp Tiến sĩ. Tuy nhiên, trong cuộc đời hoạt động khoa học, đến nay Ông đã có 26 công trình khoa học, 43 công trình tổng quan và xuất bản 33 đầu sách đồng thời tham gia  hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh trở thành thạc sĩ, tiến sĩ.

Sưu tầm và tổng hợp





Tiêu đề: Re: Thiếu tướng Nguyễn Thúc Mậu, vị tướng chỉ huy-tổ chức chiến thuật quân
Gửi bởi: menthuong trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 11:17:59 am
Hình như ở tiêu đề thiếu chữ "Y", nếu không có nhiều người hiểu là Quuan nhu, Quân khí, Quân nhạc...thì sao?

Đây là quote lại ạ, chứ trong bài viết chính vẫn đủ chữ "Quân Y". Sở dĩ bị mất chữ "Y" là do phần tiêu đề trong Quân sử giới hạn chữ, nếu tiêu đề vượt quá một số lượng ký tự nhất định thì các ký tự vượt quá sẽ bị tự động cắt đi.

Đúng là các "tiêu đề khác vượt quá một số lượng ký tự nhất định thì các ký tự vượt quá sẽ bị tự động cắt đi" nên nhiều trường hợp như vậy. Panphilov@ nhắc tôi mới nhớ ra. Tôi quan tâm đến bài viết này bởi chính Thiếu tướng (khi đó là Đại tá) vào ngày 09/3/1981 đã ký BẰNG TỐT NGHIỆP số:  1737-ĐHQY cho tôi theo QUYẾT ĐINH công nhận tốt nghiệp số 72/QĐ/QP ngày 06/3/1981 của Bộ Quốc phòng.

Nhớ ơn thầy!


Tiêu đề: Thiếu tướng Mai Năng, từ sân bay Cát Bi đến cảng Cửa Việt
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 12:15:31 am
(http://img709.imageshack.us/img709/7440/thieutuongmainang.jpg)

Thiếu tướng Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Mai Năng (tên thật: Tạ Văn Thiều), từng giữ chức vụ: Đoàn trưởng Đoàn 126 Quân chủng Hải quân, Tư lệnh Binh chủng Đặc công (1992).

Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, 2 hạng Ba)...

Khi được tuyên dương Anh hùng, ông là Đại úy - Tham mưu trưởng - Đội trưởng Đội 1 - Đoàn Đặc công nước 126.

Thiếu tướng (1992)


Thiếu tướng Mai Năng sinh tại xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Ông nhập ngũ năm 1950, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam cũng trong năm này. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông tham gia chiến đấu tại Liên khu III, là tổ trưởng Trinh sát trong Trận đánh sân bay Cát Bi ngày 7 tháng 3 năm 1954.

Trong Kháng chiến chống Mĩ, có công tham gia xây dựng ngành đặc công của hải quân, nghiên cứu phát triển cách đánh mới độc đáo, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Chỉ huy Đội 1 đặc công đánh chìm và đánh hỏng 30 tàu địch (3 lần Đội được tuyên dương Anh hùng), tham gia chỉ huy Đoàn 126 đánh chìm nhiều tàu địch trên tuyến Cửa Việt - Đông Hà từ 14 đến 28.4.1975), chỉ huy bộ đội đặc công chiến đấu giải phóng quần đảo Trường Sa.

Ông được phong Thiếu tướng Tư lệnh Binh chủng Đặc công năm 1992, nghỉ hưu năm 1996. Ông hiện đang sống tại thành phố Hải Phòng và là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố.


Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam



Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: thptquochoc trong 30 Tháng Mười Hai, 2009, 04:52:06 pm
Các chú các bác cho cháu hỏi là, Trung Tướng Cao Văn Khánh (Quân đội nhân dân Việt Nam ) và Đại tướng Cao Văn Viên (Quân đội Việt Nam cộng hòa) có họ hàng gì không ạ, cháu có đọc một vài diễn đàn bảo là anh em, nhưng không có chứng cớ xác thực,.......mong các bác có thông tin giải đáp thắc mắc giúp cháu.....


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: thainhi_vn trong 30 Tháng Mười Hai, 2009, 11:08:20 pm
Hai người không có họ hàng gì với nhau cả. Một người dân quý tộc Huế, còn 1 người là gốc Việt kiều ở Lào.


Tiêu đề: Thiếu tướng Ngô Hùng, Cục trưởng Cục Huấn luyện Chiến đấu
Gửi bởi: panphilov trong 01 Tháng Giêng, 2010, 09:02:53 pm
Thiếu tướng Ngô Hùng (tên thật : Bùi Vĩnh An, 1924 – 20/1/1994), từng giữ các chức vụ : Tham mưu trưởng Quân khu 5, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền Tây, Tham mưu trưởng Cánh quân Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tham mưu trưởng Quân khu 3, Cục trưởng Cục Huấn luyện Chiến đấu (nay là Cục Quân huấn) Bộ Tổng Tham mưu.

Thiếu tá (1958), Trung tá (1961), Thượng tá (1966), Đại tá (1973), Thiếu tướng (1983).

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40 năm tuổi đảng…


Ông sinh tại làng Cát Khê, tổng Trực Cát cũ, nay là phường Tràng Cát, quận Hải An, thành phố Hải Phòng trong một gia đình khá giả, đông con. Khi tới tuổi cắp sách đến trường, ông được theo học nhà giáo yêu nước Nguyễn Hồng, ngoài chương trình sơ học yếu lược, đã giáo dục cho ông lòng yêu nước qua các bài giảng. Đặc biệt, người thầy giáo già dưới mái trường làng đã nêu gương sáng về đạo đức liêm khiết, thương dân. Nhiều thế hệ học trò của cụ sau này đã sớm tham gia cách mạng như: Phạm Văn Duyệt, Phạm Công Khương, Phan Doãn Sầm...

Được tiếp thu mạch nguồn yêu nước từ khi ngồi trên ghế trường làng, khi học tiếp lên bậc tiểu học, được giác ngộ cách mạng. Trong cao trào khởi nghĩa, Ngô Hùng cùng một số thanh niên, học sinh hăng hái tham gia mặt trận Việt Minh cơ sở, chuẩn bị lực lượng, đón đợi thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền khu vực Trực Cát và Lương Xâm. Riêng tại Cát Khê quê hương, một trung đội xung kích sẵn sàng làm nhiệm vụ được tổ chức do chính ông chỉ huy. Ông còn tranh thủ được sự ủng hộ, đồng tình của cha chú quyên góp tiền của, vật liệu dùng may cờ đỏ, mua sắm vũ khí, đạn dược cho lực lượng Việt Minh, đồng thời cùng bạn bè trong tổ chức vận động con em một gia đình quan chức cũ ủng hộ cách mạng tiền bạc, hiến tặng vũ khí, đạn dược cho mặt trận Việt Minh.

Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng cùng với các tổ chức cứu quốc huyện Hải An thiết lập, Ngô Hùng được cử làm Chỉ huy trưởng lực lượng tự vệ chiến đấu huyện Hải An.

 Thành phố Cảng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhận lệnh của Ủy ban bảo vệ thành phố, ông đã trực tiếp chỉ huy cánh quân của tự vệ chiến đấu huyện Hải An tấn công vào sân bay Cát Bi ngày 23/11/1946, phá hủy một máy bay, đốt cháy một kho xăng, thu được 4 trung liên, 5 xe ô tô và nhiều quân trang, quân dụng.

Tháng 11/1946 ông tham gia Ban chỉ huy mặt trận B (Cầu Rào - Đồ Sơn) cùng các ông Vũ Hạnh, Đặng Kinh chỉ huy các đại đội tự vệ của Hải An, Kiến Thụy, Đồ Sơn phối hợp với Tiểu đoàn 90 Trung đoàn 42 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Bút chỉ huy. Tháng 12/1946 được vinh dự kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, phụ trách C17 Trung đoàn 42 Liên khu 3. Tháng 10/1948 là Đại đội trưởng Đại đội 1, hoạt động trong vùng địch hậu Hải Phòng Kiến An. Sau đó làm Tiểu đoàn phó D24, bộ đội Ký Con, hoạt động tại khu vực đường 39 Thái Bình.

Tháng 5/1950 đến tháng 7/1950 là Tiểu đoàn phó D500 phụ trách mặt trận Hải Dương, Trưởng ban tác chiến phòng Tham mưu Liên khu 3.

Tháng 3/1960 đến 1966 được giao nhiệm vụ Trưởng ban Quân huấn, Trưởng phòng tác chiến Quân khu 3. Từ tháng 7/1966 là Tham mưu phó quân khu 3 kiêm bí thư đảng ủy cơ quan tham mưu quân khu 3.

Từ tháng 10 /1970 đến tháng 11/1972 là tham mưu phó B5, tham mưu trưởng quân khu. Đầu năm 1974 được quân đội cử đi học tại Học viện Quân sự Liên Xô, khi về nước được cử làm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh miền Tây. Tháng 4/1975 là Tham mưu trưởng mặt trận hướng Đông trong chiến dịch Hồ Chí Minh.
               
Tháng 4/1976 là Tham mưu trưởng Quân khu 3, Bí thư đảng ủy Bộ tham mưu Quân khu 3. Tháng 2/1978 giữ chức Cục trưởng Cục huấn luyện chiến đấu Bộ tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cho đến khi về hưu.

Theo Đất và Người Hải Phòng.




Tiêu đề: Thiếu tướng Mai Thuận, Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 2
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Giêng, 2010, 02:20:12 am

(http://img192.imageshack.us/img192/4563/thieutuongmaithuan.jpg)

Thiếu tướng Mai Thuận (1929), từng giữ chức vụ: Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 2, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận IV Quảng Đà.

Ông quê tại Dư Hàng Kênh, Hải Phòng. Năm 1946, khi đang ở cùng bố ông, một công nhân "dây thép" (bưu điện), ông trốn nhà khai tăng tuổi nhập ngũ. Năm 1947, trong một trận chiến đấu tại khu vực cầu Đuống, ông bị một viên đạn xuyên qua cổ chạm vào thanh quản khiến ông mất tiếng. Một năm sau ông mới nói lại được, cho nên ông còn có biệt danh là "Thuận khàn".

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là đại đội trưởng thuộc Trung đoàn 36 Bắc Bắc (Bắc Ninh - Bắc Giang) do trung đoàn trưởng Hồng Sơn chỉ huy tham gia tiêu diệt các cứ điểm Bản Kéo, 106, 206, 311B, 316. Sau đó, ông được cử giữ chức vụ Phó Ban Tổ chức Đại đoàn quân tiên phong chuẩn bị tiếp quản Thủ đô.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1968 ông vào Nam chiến đấu lần lượt giữ các chức vụ: chính ủy Trung đoàn 36 Quảng Đà trực thuộc Sư đoàn 2 Quân khu V, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận IV Quảng Đà rồi Chính ủy Sư đoàn 2 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.

Năm 1983, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và là Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 2. Ông nghỉ hưu năm 1993 rồi được bầu làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận Đống Đa, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh và Hội nạn nhân chất độc da cam Hà Nội cho đến khi nghỉ hẳn năm 2008.

Theo báo Công an Nhân dân online



Tiêu đề: Ông Nguyễn Đăng, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Giêng, 2010, 05:37:12 am
(http://www.sggp.org.vn/dataimages/original/2008/6/images249484_1c.jpg)

Ông (1921-5 giờ 55 ngày 30-5-2008), từng giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng Khu 6, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Phó Tư lệnh Quân khu 8.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương cục miền Nam. Ông là Đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, VI, VII.

Huân chương Độc lập hạng hai, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Lao động hạng hai, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Ông quê ở Suối Đá, xã Phước Hội, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Quê ông là một vùng rừng rậm trong tỉnh Tây Ninh, nằm giữa núi Bà và Núi Cậu. (Nay là huyện Dương Minh Châu).

Gia đình đủ ăn, ông được học bổng nhờ đậu cao lên trung học và đại học. Tốt nghiệp kỹ sư Canh nông của Trường Nông Lâm Hà Nội khóa 5, Ông được điều về Cần Thơ làm việc.

Đầu 1945, ông gặp các ông Thanh Sơn, Nguyễn Văn Tây và tiếp tục hoạt động cách mạng. Khi còn là sinh viên ở Hà Nội, Ông đã hoạt động trong Tổng hội sinh viên và sáng lập đảng Dân Chủ cùng các ông Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm, Vương Văn Lê, Nguyễn Việt Nam được bầu vào Ban chấp hành.

Nam Bộ kháng chiến, ông là một các chỉ huy quân sự trẻ. Khi mặt trận Cần Thơ vỡ sau ba tháng bao vây địch trong thành phố, ông Thanh Sơn được trung ương gọi ra Bắc đảm trách việc chi viện cho chiến trường miền Nam. Lúc đó Ông cũng đi ra Bắc để dự khoá họp đau tiên của Quốc Hội. Ông đắc cử đại biểu tinh Cần Thơ. Cùng một chuyến đi, ông Thanh Sơn chọn ông làm trợ lý. Ra tới Hà Nội thì tách ra, ai lo việc nấy.

Ở Hà Nội, ông được kỹ sư Ngô Tấn Nhơn, Bộ trưởng Bộ Canh nông tốt nghiệp khóa 1 Trường Nông Lâm giữ làm Phó Đổng lý sự (Thứ trưởng) Bộ Canh nông. Cũng trong thời gian này, trong Đại hội lần thứ nhất của Đảng Dân chủ, ông cùng với các ông Ca Văn Thỉnh, Vương Văn Lễ tham gia vào ban hòa giải giữa đảng này với Đảng Cộng sản.

Vì muốn trở lại chiến trường chiến đấu, ông điện cho Thanh Sơn bày tỏ nguyện vọng muốn đánh giặc hơn làm văn phòng. Ông Thanh Sơn lúc đó là phó chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Miền Nam Việt Nam đóng ở Quảng Ngãi. Ông Thanh Sơn liền can thiệp rút ông về giao nhiệm vụ đưa tiểu đoàn Ba Dương vào Nam Bộ.

Đúng ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Pháp đánh Phú Yên. Đầu tháng 1-1947 Bộ Quốc Phòng điện vào bổ nhiệm ông làm tham mưu trưởng khu 6 gồm các tỉnh Nam Trung Bộ từ Phú Yên Darlac trở vào. Ông được giao nhiệm vụ phối hợp lực lượng của Khu 6 và tiểu đoàn Ba Dương chặn mũi tấn công của Pháp ra thị xã Tuy Hoà. Sau mấy trận chiến đấu ác liệt ngay trong những ngày Tết Đinh Hợi. Pháp bị thiệt hại đặng rút lui vào Núi Hiềm, gần Đèo Cả.

Tháng 4-1947, biết được một đoạn đường trong vùng núi từ Khánh Hoà vào Ninh Thuận còn bị tắc do địch khống chế, làm cho nhiều cán bộ lãnh đạo và nhiều tài liệu quý của Trung ương đưa vào Nam Bộ bị dồn đọng lại Phú Yên, Nguyễn Đăng đề nghị Uỷ ban kháng chiến Miền Nam giao cho mình nhiệm vụ mở thông đoạn đường này và sau đó cho được về luôn chiến trường Nam Bộ.

Rút kinh nghiệm thất bại của ba đoàn mở đường trước đây, ông Nguyễn Đăng nghĩ ra cách là vượt núi rừng Trường Sơn ở đoạn giáp biên giới Lào. Đoàn đã xuất phát từ dốc Chanh (Phú Yên), đi đến hòn Dữ (Khánh Hòa) và từ đây đi xuyên qua núi Ba Cụm, qua bản làng của người Thượng, đến Lý Điềm, từ Lý Điềm xuống dốc để đến trạm Mã Đà và sau đó đến trạm Đội Lào (Tà Lu). Đây là trạm cuối của đường dây liên lạc.

Được chấp thuận, Nguyễn Đăng bàn giao ngay nhiệm vụ Tham mưu trưởng Khu 6, nhận một trung đội đi mở đường. Sau hai tháng, đường thông. Đoàn cán bộ Trung ương do ông Thanh Sơn phụ trách hành quân vào Nam có Tiểu đoàn Ba Dương hộ tống. Nhưng vì đoàn đông, đến khu căn cứ tỉnh Khánh Hoà thì bị lộ. Pháp huy động lực lượng từ Nha Trang lên, từ Ban Mê Thuột xuống. Từ Đà Lạt ra bao vây chặn quân ta. Nguyễn Đăng đề xuất ý kiến chia đôi lực lượng vũ trang, một bộ phận lấy tên là bộ đội Ba Dương do Nguyễn Đăng và một số cán bộ trực tiếp chỉ huy, chủ động tấn công địch để thu hút địch vào mình, tạo điều kiện cho bộ phận còn lại lấy tên là bộ đội Hùng Phước mở đường đưa đoàn ông Thanh Sơn vào Nam an toàn. Trong hai tháng trời Nguyễn Đăng cùng đơn vị chiến đất liên tục, có ngày đụng địch ba trận. Sau cùng Tiểu đoàn Ba Dương về tới Bà Rịa, rồi Biên Hoà, Nguyễn Đăng lần lượt gặp các chỉ huy Miền Đông như Hứa Văn Yến, Nguyễn Thuận Thảo, Chi đội 16, Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Văn Lung, Chi đội 10 và tư lệnh Khu 7 Nguyễn Bình.

Ông là thư ký cho Tư lệnh Nguyễn Bình một thời gian. Sau đó, ông Lê Duẩn có ý muốn ông về làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh quê hương ông thay ông Dương Minh Châu vừa hy sinh. Tuy nhiên trước nguyện vọng được ở lại chiến trường chiến đấu của ông, sau khi Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu trưởng.

Sau hai tháng, ông được điều về Khu 8 giữ chức vụ Tư lệnh phó Khu 8, lúc đó do các ông Trần Văn Trà, Tư lệnh, Nguyễn Văn Vịnh, Chính ủy và Nguyễn Văn Quạn, Phó Tư lệnh.

Năm 1950, được sự trực tiếp giới thiệu của ông Lê Duẩn. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản khi đang là Ủy viên Trung ương Đảng Dân chủ. Buổi lễ kết nạp ông, ông Lê Duẩn trực tiếp đến tham dự.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông là Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội hơn 10 năm rồi được điều vào làm Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương cục miền Nam. Ông là Đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, VI, VII.





Tiêu đề: Nguyễn Việt Châu, Chính ủy Quân khu VIII
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Giêng, 2010, 05:52:10 pm
(http://img209.imageshack.us/img209/9360/nguyenvietchau.jpg)

Nguyễn Việt Châu (Sáu Tâm, 1927- hy sinh 6/12/1969) từng giữ chức vụ Chính ủy Quân khu VIII, Chính trị viên Tỉnh đội Gò Công.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều huân chương, Huy chương khác.


Ông sinh tại làng Sung Tích, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi), trong một gia đình nông dân nghèo. Lúc nhỏ, Nguyễn Việt Châu vừa đi học vừa giúp mẹ.

Năm 1940, ông Nguyễn Chấn (Trần Văn Trà – anh ruột) mãn hạn tù, bị thực dân Pháp quản thúc vô thời hạn tại nhà. Chính trong thời gian này Nguyễn Việt Châu tham gia công tác cách mạng, được anh hướng dẫn và giao việc làm liên lạc giữa người anh với các đồng chí trong làng.

Năm 1942, ông Trần Văn Trà trốn khỏi làng hoạt động cách mạng, Nguyễn Việt Châu phải nghỉ học, thay anh làm mọi việc để nuôi mẹ già.

Năm 1943, mẹ qua đời, Nguyễn Việt Châu rời quê hương vào Sài Gòn tìm đến cơ quan của ông Trà (Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ đóng tại Tân Định, Sài Gòn), được phân công in tài liệu, truyền đơn và in báo giải phóng của Kỳ bộ.

Tháng 11/1944, cả cơ quan Kỳ bộ, Nguyễn Việt Châu cùng ông Trà sa vào tay thực dân Pháp. Nguyễn Việt Châu không khai lời nào. Pháp giam ông ở khám lớn Sài Gòn.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, Nguyễn Việt Châu được thả tự do, tìm bắt liên lạc với Xứ ủy Nam Kỳ, gia nhập vào đội giải phóng liên quận Hóc Môn, Bà Điểm, Đức Hòa. Năm 1946, Nguyễn Việt Châu là cán bộ Việt Minh huyện Chợ Gạo, được kết nạp vào Đảng Cộng sảng Đông Dương. Năm 1947, thư ký Ban chấp hành Thanh niên tỉnh Gò Công. Năm 1948-1950 là Tỉnh ủy viên tỉnh Gò Công, chánh trị viên Tỉnh đội. Năm 1951, được điều về làm Bí thư huyện ủy Châu Thành (Sa Đéc) củng cố cơ sở cách mạng ở đây.

Hiệp định Genève được ký kết, Nguyễn Việt Châu được chỉ định ở lại miền Nam. Năm 1956, được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Sa Đéc. Năm 1957, tỉnh Sa Đéc sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long, ông được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long. Đến năm 1961 được điều lên Khu ủy Tây Nam Bộ.

Từ 1961 – 1967, ông kiêm qua các chức vụ: Khu ủy viên, Chánh trị viên Quân khu, Tuyên huấn Khu, Giám hiệu trường Đảng Hoàng Văn Thụ.

Cuối 1967, được Khu ủy chỉ định làm Bí thư Thành ủy Cần Thơ, trực tiếp lãnh đạo chiến trường trọng điểm của Khu trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968.

Ngày 6/12/1969, trong lúc nguyễn Việt Châu đang chủ trì cuộc họp Thành ủy Cần Thơ, tại xã Phú Hựu, huyện Phụng Hiệp, máy bay địch đến bắn phá, ông bị trọng thương và hy sinh.

Theo Nhân vật lịch sử - Con người Đồng Tháp.



Tiêu đề: Nguyễn Văn Phối, Phó Chính ủy Quân khu VIII
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Giêng, 2010, 08:50:06 pm
(http://img94.imageshack.us/img94/7162/nguyenvanphoi.jpg)

Nguyễn Văn Phối (Ba Bổn, 1916 - hy sinh 15/6/1966), từng giữ các chức vụ: Phó Chính ủy Quân khu VIII, Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 962 (Bến - Bến Tre).

Ông Nguyễn Văn Phối quê tại làng Mỹ Ngãi, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Mỹ Ngãi, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước, cách mạng. Bố là cụ Nguyễn Văn Huấn, chú ruột là cụ Nguyễn Minh Mẫn đều tham gia hoạt động cách mạng trong những năm 30, nên đều bị thức dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Ngay từ lúc thiếu thời, còn đi học ở Cao Lãnh, ông đã tích cực tham gia phong trào học sinh đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh, nên bị đuổi học. Về xã ông làm liên lạc cho Chi bộ Đảng.

Từ năm 1936 đến năm 1939, ông hăng hái tham gia phong trào Đông Dương Đại hội và được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1939. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, ông bị đế quốc Pháp bắt giam ở nhà tù Bà Rá, đến tháng 3/1945. Ra tù, ông tiếp tục hoạt động ở Chi bộ Mỹ Ngãi - Phong Mỹ. Tháng 4/1945, ông được Chi bộ cử làm Đại biểu đi dự Hội nghị Liên Tỉnh uỷ Long Xuyên - Sa Đéc để bầu Đại biểu đi dự hội nghị Tân Trào.

Tháng 6/1945, ông là Huyện uỷ viên Huyện uỷ Cao Lãnh, cuối năm 1946, được đề bạt vào Ban Thường vụ, đến tháng 3/1947, làm Bí thư Huyện uỷ. Tháng 8/1948, là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Sa Đéc, phụ trách Hội Nông dân tỉnh.

Từ năm 1951 đến năm 1952, ông làm Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh, kiêm Trưởng ban Kinh tế - Tài chính. Cuối năm 1952, được cử làm Phó Bí thư/Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Long Châu Sa cho đến năm 1954.

Được chọn ở lại miền Nam (không đi tập kết), từ cuối năm 1954 đến đầu năm 1960, ông làm Bí thư Tỉnh uỷ các tỉnh Sa Đéc, Long An, Kiến Phong và là Uỷ viên Liên Tỉnh uỷ (Khu Uỷ viên Khu VIII).

Sau cuộc Đồng khởi năm 1960, ông được Khu uỷ Khu VIII rút lên, phân công phụ trách quân sự, được bổ sung vào Ban Thường vụ Khu uỷ. Khi Bộ tư lệnh Quân Khu VIII được thành lập, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Chính trị Quân Khu VIII.

Cuối năm 1961, ông được Trung ương cục rút lên, phân công làm Chính uỷ Đoàn 962, nhiệm vụ chánh là tổ chức vận chuyển võ khí từ Bắc vào Nam bằng đường biển. A101 Đòan 962 (còn gọi là Bến – Bến Tre), một trong những đơn vị tổ chức tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc vào chiến trường Nam bộ, được thành lập từ sau Ngày đồng khởi 1960. Năm 1966, ông Nguyễn Văn Phối là Thuờng vụ Khu ủy Khu 8, Phó Chính ủy Quân khu 8, đồng thời là Chính ủy kiêm Đoàn trưởng.

Ngày 15/6/1966, ông đi khảo sát tìm bến bãi mới tại huyện Thạnh Phú, trên con thuyền số 4 của Thuyền trưởng Lê Văn Diện. Thuyền rời bến A101 (Bến Tre) tới bến Trà Vinh (mật danh B2), lượt về có thêm 2 thuyền chở vũ khí của B2 đi cùng. Thuyền số 4 đi sau cùng, nhưng vừa qua khỏi sông Cung Hầu thì gặp tầu hải quân Vùng 4 chiến thuật ngụy. Chúng phát hiện và cắt ngang đội hình ta. Hai thuyền của B2 lọt được vào vàm Khâu Răng (xã Thạnh Phong), còn thuyền số 4 nổ súng đánh địch kết hợp với lực lượng bảo vệ trên bờ. Nhưng lực lượng không cân sức, ông Ba Bổn hạ lệnh thực hiện phương án cuối cùng cho nổ thuyền. Ông hy sinh cùng toàn bộ 9 người trên thuyền số 4. Sáng hôm sau, đơn vị bí mật cử người đi tìm xác những người hy sinh nhưng chỉ nhặt được ít phần thân thể còn lại trôi giạt vào bờ. Mọi người gói vào miếng mũ che mưa, đem chôn ở Cồn Lớn, xã Thạnh Phong.

Sau năm 1975, theo yêu cầu của gia đình ông, một phần xương cốt trong mộ được bốc lên đưa về quê ở Đồng Tháp, phần còn lại đưa về nghĩa trang liệt sĩ huyện Thạnh Phú chôn trong nấm mộ lấy tên tượng trưng của 1 trong 8 liệt sĩ: Thuyền trưởng Lê Văn Diện.

Theo: Nhân vật lịch sử - Con người Đồng Tháp
         Trỗi Việt Nam.





Tiêu đề: Thiếu tướng Mai Tân, Phó Tư lệnh Quân khu 5
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Giêng, 2010, 09:13:42 pm

Thiếu tướng Mai Tân (13/11/1923 - 7h30' ngày 4/2/2008) quê tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Trước năm 1945, ông vốn là một thầy giáo làng, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền rồi ra nhập Quân đội trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến. 9 năm kháng chiến chống Pháp ông tham gia chiến đầu tại quê hương Bình Định cho đến khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết.

Ông từng giữ các chức vụ: Chính ủy Sư đoàn 3 Sao Vàng, Chính ủy kiêm Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nghĩa Bình, Phó Tư lệnh Quân khu V, Chính ủy Mặt trận 579 ở chiến trường Campuchia.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1985 và là Đại biểu Quốc hội khóa V. Thiếu tướng Mai Tân nghỉ hưu năm 1988, sau đó ông được bầu làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Bình Định.

Thiếu tướng Mai Tân được tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất; Huân Chương Quân công hạng nhì; Huân Chương Quyết thắng hạng nhì; Huân Chương Bảo vệ tổ quốc Campuchia hạng nhất;Huy hiệu 60 tuổi Đảng.




Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự Bến Tre
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Giêng, 2010, 09:40:03 pm
(http://img849.imageshack.us/img849/5394/thieutuongnguyenhuuvi.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị (Tám Vị, 1930) từng giữ các chức vụ: phó Tham mưu trưởng Quân khu 8, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bến Tre.

Thiếu tướng 21/12/1985.



Ông sinh tại xã nghèo Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong một gia đình nghèo, đói đông anh em. Ông thứ 8, người em sau ông không nuôi nổi phải cho đi ở nhà thương và lưu lạc từ đó.

Ông tham gia cách mạng từ năm 1946, được kết nạp Đảng năm 1949. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Tây Nam Bộ.

Năm 1954, ông được phân công ở lại làm cán bộ giao - bảo (giao liên - bảo vệ) cho huyện Ba Tri. Bị chính quyền bắt giam từ năm 1956 tới năm 1959 và bị giam ở các nhà tù Bến Tre, Pleiku, Quy Nhơn, Phú Lợi. Năm 1960, ông trở lại đơn vị vũ trang với chức tiểu đội trưởng Bạch binh tuyên truyền, tham gia phong trào Đồng khởi.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sau này, ông lần lượt giữ các chức vụ: trung đoàn trưởng, quyền sư đoàn trưởng, phó tham mưu trưởng Quân khu 8 và chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre. Chính ông là người chỉ huy đánh bại, làm phá sản chiến thuật "hạm đội nhỏ trên sông" thâm độc của Mỹ ngụy áp dụng cho chiến trường sông nước miền Tây Nam Bộ, làm lên truyền thống "Cưỡi sóng Hàm Luông, nhấn chìm hạm Mỹ"

Tham khảo: Báo Tuổi trẻ.


Tiêu đề: Đại tá Thanh Sơn, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện tại Campuchia
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Giêng, 2010, 07:32:40 pm
(http://img52.imageshack.us/img52/3222/daitanguyenthanhson.jpg)

Đại tá Nguyễn Thanh Sơn (tên thật: Nguyễn Văn Tây; thường gọi Nguyễn Thanh Sơn; các bí danh: Tư Hải, Oai, Lilakiri) (1910 - 9/1/1996), từng giữ các chức vụ: Uỷ viên phụ trách quân sự Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ, Tư lệnh kiêm Chính uỷ quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Trưởng Phái đoàn đại diện Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Việt Nam - Campuchia.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ: Bí thư Xứ ủy Nam  Kỳ, Đại biểu Quốc hội khóa I, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, Bí thư Ban Cán sự Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tại Campuchia, Trưởng Ban Lào Campuchia của Đảng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Tài chính.

Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều Huân chương, Huy chương khác.

Đại tá (1954)


Đại tá Thanh Sơn quê làng Trà Côn, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (nay là xã Trà Côn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long). Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, 8 tuổi ông đến Cần Thơ học tiểu học, sau đó học tiếp trường Trung học Cần Thơ (Collège de Can Tho). Năm 1925, ông tham gia phong trào phản đối án tử hình Phan Bội Châu và năm 1926 tham gia bãi khóa để tang cụ Phan Châu Trinh.

Đầu năm 1927, ông được bí mật đưa qua Quảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và tháng 7/1927 được kết nạp vào tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Về nước, năm 1928, ông là Uỷ viên Tỉnh bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội tỉnh Long Xuyên.

Ngày 02/9/1929, ông được kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng. Sau đó, ông là Bí thư Chi bộ đặc biệt vùng Cao Lãnh, Chợ Mới (gọi Chi bộ đặc biệt vì phạm vi hoạt động không chỉ ở Cao Lãnh mà rộng ra cả vùng Sa Đéc, Long Xuyên v.v.). Về Cao Lãnh, để hoạt động, ông làm người ở mướn nhà bà Sáu Ngài, làm thợ nhuộm vải, thợ sơn guốc để che mắt địch. Ông có công gầy dựng cơ sở cách mạng và trực tiếp lãnh đạo các cuộc biểu tình đấu tranh đòi hoản thuế thân, thả những người bị bắt vì thiếu thuế thân, bỏ phạt vô lý ở Bình Thành – Tân Phú (ngày 01/5/1930), ở dinh quận trưởng Cao Lãnh (ngày 03/5/1930) và sau đó ở Chợ Mới, Tân Dương, Cờ Đỏ, Ô Môn, La Ghi, Vĩnh Xuân, Cai Lậy, Ba Tri v.v.

Giữa năm 1930, ông về nhận nhiệm vụ Bí thư Tỉnh uỷ Gia Định và tháng 4/1931 là Bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ. Ông bị Pháp bắt và kết án tù chung thân, đày đi Côn Đảo. Cuối năm 1936, Mặt trận Bình dân lên cầm quyền ở Pháp, ông được thả ra. Từ năm 1937 - 1939, ông hoạt động công khai ở Sài Gòn, tham gia làm báo L’Avant Garde rồi về Mỹ Tho phụ trách Đông Dương thư xã và Đông Dương tạp chí.

Từ năm 1940, ông rút vào hoạt động bí mật ở vùng Châu Đốc, Rạch Giá. Tháng 8/1945, ông là Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ liên tỉnh miền Tây, lãnh đạo giành chính quyền ở miền Tây Nam bộ. Sau đó, ông giữ chức Thanh tra chính trị Uỷ ban Hành chính lâm thời Nam bộ. Ông là đại biểu Quốc hội khóa I tỉnh Vĩnh Trà (Vĩnh Long - Trà Vinh), Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam (năm 1946). Năm 1948, ông là Xứ uỷ viên Nam bộ, Uỷ viên phụ trách quân sự và ngoại vụ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ.

Năm 1950, ông là Bí thư Ban Cán sự Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tại Campuchia, Tư lệnh kiêm Chính uỷ quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.

Năm 1954, ông là đại tá, thành viên Phái đoàn quân sự Việt Nam - Lào - Campuchia tại hội nghị Genève, Trưởng Phái đoàn đại diện Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Việt Nam - Campuchia. Đến năm 1956, ông là Phó Trưởng ban Lào - Campuchia thuộc Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Từ năm 1957 - 1975, ông là Bí thư Đảng đoàn, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Tài chính nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Giải phóng Sài Gòn, ông tham gia tiếp quản Tổng Nha Tài chính nguỵ quyền Sài Gòn và tổ chức hệ thống quản lý tài chính các tỉnh miền Nam sau giải phóng. Tháng 9/1976, ông nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh và từ trần ngày 09/01/1996.

Theo: Nhân vật lịch sử - Con người Đồng Tháp






Tiêu đề: Thiếu tướng Lương Soạn, Tư lệnh đầu tiên Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch HCM
Gửi bởi: panphilov trong 01 Tháng Hai, 2010, 12:18:09 am
(http://img13.imageshack.us/img13/5726/thieutuongluongsoan.jpg)

Thiếu tướng Lương Soạn (tên thật Lương Ngoan, bí danh Lương Hùng, 2/1923 - 24/6/1987), từng giữ các chức vụ: Tư lệnh (đầu tiên) Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Đoàn 275), Trưởng phòng Công trình Bộ Tư lệnh Công binh.

Thiếu tướng Lương Soạn sinh ra tại làng Diêm Trường, phủ Tam Kỳ, nay thuộc thôn Hòa An, xã Tam Giang, huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam. Quê ông là một xã ven biển miền Trung có phong cảnh rất đẹp, người dân quê mình sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, đánh bắt gần bờ vì không có phương tiện đi xa, nên cuộc sống vô cùng lam lũ, khó khăn vất vả.

Do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên ông chỉ được học hết lớp ba, rồi phải đi ở, làm thuê cho địa chủ để giảm bớt khó khăn cho cha mẹ, mặc dù rất chăm chỉ lao động, xong vẫn bị chủ nhà ngược đãi. Không chịu đựng được ông đã bỏ về nhà và không cần nhận lại tiền công (là một cái áo vỏ sui tính công của cả năm đi ở cho gia đình địa chủ).

Khi về nhà, tuy còn nhỏ nhưng ông rất tích cực tham gia phụ giúp gia đình những việc phù hợp, mà vẫn không hay biết cha mẹ và các anh, chị đang tham gia hoạt động cách mạng và nuôi giấu cán bộ cách mạng trong nhà. Bản thân chỉ cảm nhận và luôn thắc mắc là: “Tại sao hàng ngày cả nhà mình vẫn luôn ăn một món khoai luộc, trong khi đó cha mẹ vẫn nấu cơm và đem vào trong buồng kín cho ai đó?”. Tò mò trước việc chưa rõ, cùng cảm nhận những việc làm của cha mẹ và các anh, chị trong nhà, trực giác chủ quan về sự bất công của thực dân Pháp, sự bóc lột thậm tệ của tầng lớp địa chủ cường hào, nên ông đã có một hành động khá "liều". Hôm đó, ông đã bất ngờ chạy thẳng vào trong buồng và tận mắt nhìn thấy các cán bộ đang in ấn tài liệu, truyền đơn cách mạng, mọi thắc mắc được giải toả, ông chính thức biết được những việc làm của cha, mẹ, các anh, chị trong gia đình đang hoạt động và nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong số cán bộ mà gia đình ông che dấu, nuôi dưỡng có ông Võ Chí Công sau này là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Cũng từ đó, tổ chức đã thử thách và giao cho ông một số công việc như: canh gác, phục vụ, làm liên lạc cho tổ chức. Sau thời gian giao việc, thử thách thấy đáp ứng được yêu cầu, đến năm 1942 tổ chức đã chính thức công nhận và giao nhiệm vụ cho làm bảo vệ, làm liên lạc cho các cán bộ và cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Nam hoạt động bí mật, tham gia thu gom vật liệu, in ấn, chuyển tài liệu mật cho tổ chức cách mạng của tỉnh tại địa phương. 

Tháng 10 năm 1943 vừa tròn 20 tuổi, ông đã chính thức thoát ly gia đình tham gia hoạt động trong Đội du kích Vũ Hùng (tiền thân của lực lượng vũ trang Quảng Nam) trưởng thành lên Đội phó, chỉ huy Đội tham gia nhiều trận đánh. Tháng 8 năm 1945, ông trực tiếp chỉ huy Đội tham gia giành chính quyền tại huyện Quế Sơn - tỉnh Quảng Nam.

Đến tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp trở lại chiếm miền Nam, ông tình nguyện nhập ngũ và tháng 7 năm 1946, mình vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Trong suốt 9 năm kháng chiến, ông liên tục chiến đấu ở Chiến trường Trung Trung Bộ và Tây Nguyên, tham gia hầu hết những trận đánh, chiến dịch lớn ở đây.

Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc, công tác ở Bộ Tư lệnh Công binh, làm Trưởng phòng Công trình.

Sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời,trong phiên họp ngày 29-11-1969, Bộ Chính trị quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ và xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông được Bộ Tư lệnh Công binh phân công tham gia chuẩn bị xây dựng công trình ngay từ những ngày đầu và lần lượt đảm nhận nhiều vị trí quan trọng trong quá trình chuẩn bị và thi công công trình Lăng.

Ông là một trong 4 cán bộ quân đội tham gia phái đoàn của Việt Nam làm việc với phái đoàn của Liên Xô nhằm soạn thảo “Dự thảo nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh” từ ngày 9 đến 23-1-1970 tại Hà Nội; làm Phó Trưởng ban Chỉ huy công trình xây dựng Lăng (lấy phiên hiệu công trường 75808)  do Phó Thủ tướng Đỗ Mười ký quyết định thành lập ngày 3-11-1971; Phó Trưởng đoàn của Việt Nam góp ý kiến bổ sung bản thiết kế kỹ thuật của Lăng do một phái đoàn của Liên Xô mang sang làm việc từ ngày 3-11 đến 3-12-1971.

Trong quá trình thi công Lăng, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Công binh làm nòng cốt tổ chức lực lượng thi công, phối hợp với các cơ quan Bộ tuyển chọn cán bộ chiến sĩ, công nhân kỹ thuật ưu tú ở các quân chủng, binh chủng trong toàn quân. Từ tháng 9-1973, mô hình tổ chức của lực lượng bộ đội lắp các thiết bị của Lăng đã ổn định và hoạt động có hiệu lực, ông được Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Công binh cử tham gia “Bộ chỉ huy lắp máy” đồng thời được cử phụ trách cơ quan đặc trách vừa giúp việc cho Bộ chỉ huy lắp máy, vừa giúp việc cho Ban Phụ trách và Ban chỉ huy công trường và tham gia Ban cán sự Đảng thay mặt cho Đảng ủy Bộ Tư lệnh lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của bộ đội tại Lăng Bác.

Với những đóng góp trên, sau khi công trình Lăng được khánh thành, Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thành lập, ông  được điều động về Bộ Tư lệnh, một thời gian sau được đề bạt giữ chức Tư lệnh với quân hàm Đại tá rồi Thiếu tướng cho đến khi ngã bệnh và mất.

Theo: Trang Thông tin Điện tử Bộ Tư lệnh Lăng
         Trang Thông tin Điện tử tỉnh Quảng Nam








Tiêu đề: Đại tá Thân Trọng Một, Thành đội trưởng Thành đội Huế
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Hai, 2010, 06:00:03 am
(http://img231.imageshack.us/img231/905/thantrongmot.jpg)

Đại tá Thân Trọng Một (Thân Trọng Thoan, 1921-1993), từng giữ các chức vụ : Trưởng Phòng Dân quân, Tham mưu phó Quân khu Trị Thiên Huế, Thành đội trưởng Thành đội Huế.

Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (1986). Tên ông được đặt cho một con đường tại khu vực Thành Nội thuộc phường Tây Lộc thành phố Huế.


Ông sinh tại làng Dương Xuân Thượng, xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy (nay thuộc thành phố Huế) trong một gia đình có 6 anh chị em, ông là con thứ 4. Bố ông là cụ Thân Trọng Du, mẹ ông là cụ Trương Thị Liệu.

Cụ tổ ông vốn người họ Giáp, quê ở Bắc Giang, di cư vào Huế sống tại làng An Lỗ, huyện Phong Điền khoảng giữa thế kỷ 18. Do có công lao với triều Nguyễn, dòng họ ông được vua ban cho một “cái mũ”, nét sổ trong chữ “giáp” được trồi lên khỏi bộ “điền” một chút, cải thành họ Thân rồi dời đến làng Dương Xuân Thượng, xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy.

17 tuổi, ông cưới bà Phan Thị Cháu là con một gia đình nghèo ở Phá Tam Giang. Vợ vừa mang thai, ông đã bị gọi đi ở không công cho một chức sắc làng Dương Xuân Hạ, theo “lệ” cũ bắt buộc đối với những người ngụ cư. Không cam chịu kiếp tôi đòi, ông chia tay vợ, bỏ làng đi biệt xứ, vào tận Sài Gòn rồi sang Nam Vang, sống phiêu bạt giang hồ bằng nghề đánh móng ngựa và làm xe ngựa. Giới giang hồ Sài Gòn, Nam Vang lúc bấy giờ đặt cho ông biệt danh Nam Huế.
 
Nhật hất cẳng Pháp, không khí cách mạng sôi sục khắp nơi dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ông từ biệt bạn bè giang hồ, về Huế với mong ước « giải phóng gia đình, vợ con » hồ hởi tham gia cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân. Sau khi cách mạng thành công, trước tình hình quân Pháp núp bóng đồng minh quay trở lại, ông tình nguyện nhập ngũ trở thành người lính Vệ quốc đoàn của Trung đoàn Trần Cao Vân (E101). Đây là đơn vị vũ trang cách mạng đầu tiên của Huế.

Có lẽ cấp trên thấy ông trước làm nghề làm móng ngựa và xe ngựa cho nên đã phân công ông vào hậu cần, làm công tác vận tải bằng ngựa. Tuy nhiên, trước sựa gan dạ và mưu trí của ông, sau đó ông được chuyển sang bộ phận trực tiếp chiến đấu. Năm 1946, trong trận tấn công vào kháng sạnh Morin, ông bị thương nặng. Sau khi mặt trận Huế bị vỡ, ông phải nằm lại tại nhà dân tại Bình Điền trị thương.
Sau khi bình phục, ông trở về quê nhà tập hợp trai làng thành đơn vị chiến đấu. Trai làng nghe tiếng ông từ lâu nên ra nhập rất đông. Những chiến sĩ đầu tiên của đơn vị này được gọi tên là theo số thứ tự. Là người sáng lập và chỉ huy, Thân Trọng Thoan đã trở thành Thân Trọng Một.

Súng ống đạn dược không có, Thân Trọng Một nghĩ kế dùng gậy gộc, giáo mác phục kích giết giặc, cướp súng. Trận Lò Dầu, ông cho lính ngụy trang trong bụi, tấn công bất ngờ một toán lính khố đỏ khi chúng nghỉ ngơi, diệt nửa tiểu đội, thu 6 súng.

Trận Gò Sóng với những gậy tre vạt nhọn, những người lính bạch binh (lính tay trắng, không vũ khí) lại bất ngờ đánh thẳng vào đội hình một trung đội ngụy binh đi tuần đường sắt, diệt 18 tên, thu đủ 18 súng.

Theo lời của tù binh thì hay tin, một viên đại tá Pháp đang dẫn quân đi tuần gần khu vực đàn Nam Giao đã phải thốt lên “Thân Trọng Một là một thằng đáng gờm, cứ nhìn cái gậy vót nhọn đầu của hắn thì sẽ hiểu” và vội vã thu quân về Trường Quốc học để cố thủ, không dám hành quân tiếp ứng.

Ít lâu sau, dụng kế mỹ nhân, ông lại tổ chức dụ địch vào bãi mìn ở làng Võ Xá, diệt 8 tên. Sử dụng súng ống thu được, Thân Trọng Một đã táo bạo tổ chức đơn vị tấn công hạ đồn Đôn Bạc giữa ban ngày. Chỉ sau 15 phút, toàn bộ lính đồn Đôn Bạc đã bị tiêu diệt. Khi quân từ hai đồn kia chi viện đến nơi thì đơn vị của Thân Trọng Một đã rút hết an toàn.

Súng ống thu được ngày một nhiều, bộ đội các huyện mạnh dần lên nhập lại với nhau trở thành tiểu đoàn bộ đội địa phương vào năm 1947. Thân Trọng Một được cử làm Tiểu đoàn phó, ông Nguyễn Chi làm Tiểu đoàn trưởng. Cùng năm này ông được kết nạp vào Đảng.
Cay cú vì bị đánh nhiều trận đau, địch lần lượt bắt bố mẹ ông tra tấn cho đến chết. Vườn nhà ông, bị chặt trụi, mang cả xe vào ủi phẳng nhà cửa để “thằng Một không còn chỗ mà về”.

 Vợ ông phải ôm hai con về quê ngoại Phú Vang nương thân nhưng vẫn liên tục bị tên Đồn trưởng Đồn Nam Giao lần theo truy bức khủng bố. Bà phải đi bước nữa với một người đàn ông khác, nhằm có chỗ tử tế cho hai người con của ông nương thân. Nhiều năm sau, tại mặt trận Phú Lộc, ông mới chịu tái hôn với một cán bộ phụ nữ xã.

Tháng 12/1950, trong một trận đánh ác liệt, ông bị thương và bị địch bắt giam. Biết ông là người chỉ huy mưu trí dũng cảm, chúng tìm mọi cách dụ dỗ mua chuộc kể cả mỹ nhân kế, ông tương kế tựu kế để chúng sơ hở rồi nhanh trí tìm đường trốn thoát trở về chiến khu tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Năm 1954, ông tập kết ra Bắc và vào học ở Trường Nguyễn ái Quốc. Sau khoá học, ông được điều vào Quân khu Bốn, chỉ huy tiểu đoàn. Cuối năm 1961, ông chuyển sang làm kinh tế ở Bộ Nông trường, đến tháng 7/1962 thì được lệnh trở lại quân đội vào Nam chiến đấu.

Ông từng trải qua các chức vụ: Tiểu đoàn trưởng, Trưởng ban dân quân, Phó tham mưu trưởng Phân khu Trị Thiên. Chiến dịch Mậu Thân 1968, ông là Chỉ huy trưởng Đoàn 5 (ông Nguyễn Vạn làm Chính ủy, sau này là Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên) đánh vào nội thành Huế. Ông có nhiều năm là Thành ủy viên thành phố Huế, giữ chức Thành đội trưởng, được phong quân hàm Đại tá.

Sau năm 1977, ông chuyển sang làm kinh tế - giữ chức Chủ nhiệm Công ty Hải sản Bình Trị Thiên, năm 1983 thì nghỉ hưu tại quê nhà cho đến khi mất.

Thân Trọng Một là người nhiệt tình cách mạng, lúc vào quân đội chưa biết chữ, nói năng diễn đạt vụng về, song là người chỉ huy bình tĩnh, thông minh, sáng tạo và dũng cảm lấy phương châm "cướp súng giặc đánh giặc". Trên đường hành quân hay khi lao vào trận chiến ông luôn đi đầu. Ông nổi tiếng trong cách bày binh bố trận, vạch ra chiến thuật bí mật, bất ngờ, sờ vào tận ổ giặc mà đánh. Là người chỉ huy tài tình của chiến tranh du kích, Thân Trọng Một luôn bám sát thực địa, có khi theo trinh sát đi sâu vào lòng địch kiểm tra tình hình, đúng như lời nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu từng nhận xét về ông : "Đồng chí Thân Trọng Một là một cán bộ chỉ huy quân sự, Anh hùng lực lượng vũ trang, tiêu biểu cho việc tổ chức thực hiện xuất sắc đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta ở chiến trường Trị Thiên - Huế". Tài chỉ huy, cầm quân của ông khiến cho kẻ thù phải nể sợ. Hết Pháp rồi Mỹ ngụy tìm cách tiêu diệt, mua chuộc, dụ dỗ chiêu hồi ông nhưng tất cả đều thất bại. Người ta kể lại rằng trong những ngày ông ở căn cứ máy bay Mỹ ngụy bay trên trời gọi loa “Kính thưa ông Thân Trọng Một. Ông là một tướng tài. Quân đội quốc gia sẵn sàng chấp nhận mọi yêu cầu của ông”.

Thân Trọng Một là một người hết sức nóng tính, nghiêm khắc và có tính kỷ luật rất cao. Lính mà ăn nói không đúng mức, thiếu lễ độ với người trên, gặp ông không ăn bạt tai thì cũng bị ăn gậy. Tết Mậu Thân 1968, sau khi làm chủ nội thành Huế, sẵn thực phẩm, bia rượu chiến lợi phẩm, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 810 tổ chức một buổi liên hoan mừng chiến thắng tại Trường Đồng Khánh, mời Thân Trọng Một đến dự. Khi bước vào, mặt Thân Trọng Một đằng đằng sát khí, tay xách theo một... cây gậy. Bàn tiệc kê một dãy dài suốt hội trường. Ông chậm rãi đi từ đầu bàn đến cuối bàn, xách gậy đập, bia rượu vỡ chảy lênh láng, thức ăn văng tứ tung. Xong, ông gọi Tiểu đoàn trưởng đến phê bình vì tội chủ quan khinh địch.

Nóng nảy, nhưng ông lại là người rất tinh, suy nghĩ hết sức thấu đáo hết mực yêu thương bộ đội. Mùa đông, gặp một đơn vị bộ đội đang ém quân ở Đình Môn chuẩn bị vượt sông Hương đánh quận Nam Hòa, thấy một anh lính áo quần rách rưới, ông cởi chiếc áo bông đang mặc cho ngay, còn mình thì chịu rét. Gặp một tiểu đội phòng không đang trực chiến, nghe họ than buồn, nhớ nhà, ông không ngần ngại đem chiếc radio đang dùng tặng ngay cho họ. Ông nói : Cha mẹ chúng đẻ chúng ra, nuôi 18, 20 tuổi chưa nhờ cái chi, họ cho con đi kháng chiến, còn không tiếc, răng mình lại tiếc áo, tiếc đài với họ được. Một lần, dừng chân qua đêm bên sông A Rí, ông cùng người cận vệ thức dậy thì gùi hàng lương thực biến mất. Vừa sợ vừa bực, lại biết khu vực nghỉ chân là nơi đóng quân của đơn vị 439, anh Chiến, cần vụ của ông, xin phép vào báo với BCH Tiểu đoàn. Nghe anh cần vụ đề xuất, Thân Trọng Một đột nhiên úp mặt vào tay rưng rức khóc. Ông bảo: “Tao là thằng chỉ huy tồi. Lính có đói thì mới có thằng ăn cắp. Nó lấy gùi hàng là nó chửi tao, cảnh cáo tao đó!”. Thương bộ đội xung quanh thiếu thốn, có giai đoạn phải ăn toàn  tai nai, môn thục, tàu bay, hạt ghém thay cơm, ông ra lệnh đem những nhu yếu phẩm ưu tiên cho Thành đội trưởng, chia cho họ hết.

Đồng bào các dân tộc ở Thừa Thiên, những vùng có đợ vị ông chỉ huy đóng  đều tuyệt đối tin tưởng vào ông. Một lần rẫy mỳ chống đói của đồng bào đang xanh mướt thì bị địch thả chất độc da cam hủy diệt. Thân Trọng Một ra lệnh cho bộ đội đi chặt hết cây để cứu củ. Xót của, đồng bào chạy ra ngăn cản, bắt đền, không cho “bộ đội phá hoại của dân”. Khi nghe bộ đội trình bày “ông Một biểu chặt”, đồng bào đổi ngay thái độ, vì “ông Một nói chặt là phải chặt thôi”, dù không hiểu lý do. Mấy ngày sau bới mỳ lên, họ mới phục ông hiểu rộng. Cây mỳ nào chặt cây thì còn củ, cây nào để nguyên thì củ dưới đất đều bị thâm đen. Họ gọi bộ đội dưới quyền chỉ huy của ông là bộ đội ông Một, hết lòng che chở, bảo vệ. Trước uy tín của ông, không tiêu diệt cũng không chiêu hồi được, Mỹ ngụy tìm nhiều cách để bôi nhọ hòng làm giảm uy tín của ông, giảm sự ủng hộ của nhân dân với ông đặc biệt là sau đợt Mậu Thân. Tuy nhiên, bất chấp tất cả những âm mưu đó đều thất bại, bộ đội ông Một vẫn chiến đấu vẫn được nhân dân ủng hộ. Sự gắn bó chặt chẽ giữa bộ đội ông Một với nhân dân còn thể hiện bởi rất nhiều câu chuyện được truyền tụng, được lưu truyền trong nhân dân về tài cầm quân xuất quỷ nhập thần, « đánh độn thổ, đánh vỗ mặt, đánh bất ngờ » của ông mà khi đọc ta cứ ngỡ là huyền thoại.










Tiêu đề: Thiếu tướng Phan Lương Trực, Phó Tư lệnh Quân khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Hai, 2010, 10:46:25 pm
(http://img46.imageshack.us/img46/1120/phanluongtruc.jpg)

Thiếu tướng Phan Lương Trực (tên thật: Đỗ Hữu Công, 12/1930), từng giữ các chức vụ: Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tiền Giang, Phó Tư lệnh Quân khu 9.

Huy hiệu 50 tuổi Đảng, 14 Huân chương các loại, 1 Huy chương Thành đồng Tổ quốc.


Ông sinh tại làng Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), là con của một gia đình tư sản dân tộc nhưng giàu lòng yêu nước.

Từ người cha là ông Đỗ Hữu Tòng đến 8 anh chị em đều tham gia kháng chiến, đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Riêng ông Công, từ người liên lạc, phấn đấu trở thành Đại đội trưởng quân chủ lực đầu tiên, trẻ nhất khu Trung Nam Bộ (18 tuổi).

Năm 12 tuổi, học hết lớp nhì trường làng (tương đương lớp 4 ngày nay). Đỗ Hữu Công lên Sài Gòn học nghề sửa chữa xe ô tô và trở thành thợ giỏi.

Cuối năm 1944, ông trở về quê hương tham gia hoạt động trong tổ chức thanh niên. Thấy ông còn nhỏ, gia đình có phần lo lắng nên bắt ép ông lên Cái Bè tiếp tục đi học.

Ở Cái Bè, Đỗ Hữu Công được thầy giáo Phan Lương Trực trực tiếp dạy dỗ. Từ cuối năm 1944 đến cuối năm 1945, Đỗ Hữu Công theo thầy đi dạy, đi diễn thuyết khắp nơi trong tỉnh, tiếp thu những kiến thức cơ bản về chính trị, quân sự cùng với tấm gương yêu nước, bất khuất đấu tranh của Phan Lương Trực.

Tháng 5/1946, ông vào bộ đội. Thời gian đó, thầy Phan Lương Trực hy sinh. Tháng 5/1947, kỷ niệm 1 năm ngày thầy giáo – chiến sĩ cách mạng Phan Lương Trực hy sinh, Đỗ Hữu Công xin phép các đồng chí đàn anh cho lấy tên người thầy kính yêu làm bí danh. Từ đây cái tên Phan Lương Trực gắn bó suốt cuộc đời binh nghiệp của ông.

Ngày 15/8/1948, Phan Lương Trực được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Thừ tháng 8/1948 đến tháng 10/1954, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đội trưởng, Chính trị viên trung đội, Chính trị viên đại đội, Đại đội trưởng đại đội 2053, Pó B thư chi bộ của đại đội, Phó ban tác huấn của tiểu đoàn 404, Khu VIII.

Tháng 10/954, ông tập kết ra miền Bắc. Năm 1958, là học viên khóa 11 Trường Lục quân với cấp hàm Thượng úy. Từ năm 1961 - 1964 là học viên khóa I đào tạo “Học viện quân chánh”. Sau khi ra trường được thăng quân hàm Đại úy, bố trí về Lữ đoàn 338.

Tháng 3/1965, ông được trở về miền Nam chiến đấu, làm cán bộ nghiên cứu Phòng tác chiến Bộ Tham mưu miền Nam. Từ năm 1970 đến 30/4/1975, ông làm Trưởng ban tác chiến Quân khu VIII, cấp hàm thiếu tá.

Từ năm 1975 - 1978, ông là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp, cấp hàm trung tá. Trong cương vị mới ông cùng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh thực hiện tốt các nhiệm vụ. Ông chỉ huy lực lượng vũ trang phối hợp dân quân, du kích đánh bọn Pôn - Pốt (Campuchia) xâm lấn biên giới nước ta, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ; cưu mang đùm bọc số cán bộ Campuchia chạy sang Việt Nam lánh nạn diệt chủng; khi có điều kiện đưa họ trở về nước công tác, hiện nhiều người giữ trọng trách cao ở nước bạn Campuchia; chủ động đào tạo sĩ quan trẻ (văn hóa lẫn quân sự) để thay thế số nghỉ hưu, chuyển ngành; thành lập 2 nông trường Đường Thét và Giồng Găng hoạt động có hiệu quả, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội – quốc phòng ở vùng Đồng Tháp Mười.

Từ năm 1980, ông Phan Lương Trực làm Phó Tư lệnh Quân khu IX, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tiền Giang, cấp hàm Thiếu tướng. Năm 1997, ông nghỉ hưu.


Theo Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Đồng Tháp









Tiêu đề: Thiếu tướng Hồ Phú Hoảnh, Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Hai, 2010, 10:53:50 pm
(http://img36.imageshack.us/img36/2784/hophuhoanh.jpg)

Thiếu tướng Hồ Phú Hoảnh (1934), từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục Kỹ thuật mặt trận 979, Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân khu 9, Chủ tịch Hội cựu Chiến binh Cần Thơ, Ủy viên Ban chấp hành Hội cựu chiến binh Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Huân công hạng Nhì, hạng Ba và Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (10/1985).


Ông sinh trong một gia đình bần nông ở làng Mỹ Thành, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).

Có lòng yêu nước và sớm được giác ngộ cách mạng, năm 1946 (mới 12 tuổi) ông làm liên lạc Ban Tiếp tế Quân sự tỉnh Sa Đéc. Năm 1948, ông thoát ly gia đình, nhập ngũ là bộ đội thuộc Tiểu đoàn 308 và đến năm 1949 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

Từ người chiến sĩ, liên tục chiến đấu, đến năm 1954, ông là Trung đội phó Đội bảo vệ Ban Liên lạc đình chiến Nam Bộ và đến đầu năm 1955 nhận nhiệm vụ công tác ở Đại đội 21 cảnh vệ Bộ Tư lệnh miền Tây Nam Bộ.

Tập kết ra Bắc, ông là Thiếu uý/Trợ lý Quân giới Trung đoàn 34 và được cử đi học 3 năm ở Trường Sĩ quan Hậu cần Bộ Quốc phòng. Từ năm 1960 đến tháng 8/1962, ông là Thiếu uý/ Trợ lý Quân giới Lữ đoàn 368, Sư đoàn 351.

Tháng 9/1962, ông được cử về Nam, công tác suốt ở Quân Khu IX (Tây Nam Bộ), lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị viên Đại đội 21; Tiểu đoàn bậc phó phụ trách Quân khí phòng Hậu cần Quân khu; Thiếu tá rồi Trung tá, Đoàn trưởng đoàn 195S; Trưởng phòng vũ khí đạn Cục hậu cần Quân khu; Trưởng phòng kế hoạch và Cục phó Cục kỹ thuật; Cục trưởng Cục Kỹ thuật Mặt trận 979.

Năm 1982, ông được cử đi học ở Học viện Chính ttrị cao cấp Bộ Quốc phòng và sang Liên xô học ở Học viện trang bị kỹ thuật (1983 – 1984). Tháng 10/1985, ông được phong Thiếu tướng/Cục trưởng Cục kỹ thuật Quân khu và công tác cho đến lúc về hưu vào năm 1996. Ông hiện ngụ ở phường Trà Nóc, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Về hưu, ông tham gia hoạt động trong Hội Cựu Chiến binh tỉnh Cần Thơ (nay là thành phố Cần Thơ) và từ tháng 8/1997, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh tỉnh Cần Thơ và là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.

Theo Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Đồng Tháp






Tiêu đề: Thiếu tướng Đinh Trung Thành, Phó Tư lệnh Quân khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Hai, 2010, 11:04:52 pm
(http://img294.imageshack.us/img294/2684/dinhtrungthanh.jpg)

Thiếu tướng Đinh Trung Thành (Lương Văn Nơi, 10/5/1932), từng giữ các chức vụ: Giám đốc Trường Trung cấp Quân sự Quân khu 9, Tư lệnh Sư đoàn 4, Tham mưu phó Mặt trận 979, Hiệu trưởng Trường Quân sự Quân khu 9, Trưởng đoàn chuyên gia K5B, Phó Tư lệnh Quân khu 9.

Ông được tặng thưởng 30 Huân chương, Huy chương, dạnh hiệu cao quí, trong đó có Huân chương Độc Lập hạng Nhì, 2 Huân chương Quân công hạng Nhì, 3 Huân chương chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1988).


Ông sinh ở làng Mỹ An Hưng, quận Lấp Vò, tỉnh Sa Đéc (nay là huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).

Năm 1946, ông là Đội trưởng Đội Thiếu nhi Tiền phong xã Mỹ An Hưng. Năm 1947, ông vào bộ đội ở Đại đội 1030 thuộc Trung đoàn 115. Từ chiến sĩ, đến Tổ trưởng tam tam chế, Tiểu đội phó, Tiểu đội trưởng - Đại đội 949, ông chiến đấu liên tục, đến khi tập kết ra Bắc được giao nhiệm vụ Trung đội phó - Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 658.

Năm 1956, ông về Tiểu đoàn huấn luyện số 15 - Đại đoàn 316. Đầu năm 1957, ông là giáo viên dạy chiến thuật của Tiểu đoàn huấn luyện 15. Cuối năm 1958, ông học ở Trường Sĩ quan Lục quân của Bộ Quốc phòng, vừa là học viên vừa kiêm Trung đội trưởng khung. Năm 1959 – 1960, ông kiêm Đại đội phó Đại đội 3 của Trường.

Tháng 3/1960, vừa học xong, ông về Nam, được bổ nhiệm Trung uý/Chính trị viên Đại đội. Cuối năm 1960, ông được bổ nhiệm Trợ lý tác chiến của Quân khu Tây Nam Bộ (T3). Năm 1961, ông làm Trưởng khoa giáo viên chiến thuật Trường Trung cấp Quân khu.

Tháng 3/1965, ông giữ chức vụ Tiểu đoàn phó/Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Tây Đô lừng danh của Cần Thơ. Đầu năm 1967, ông là Tiểu đoàn phó/Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Độc lập 308 của Quân khu.

Cuộc tổng tấn công xuân Mậu Thân 1968, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 312 của Quân khu có nhiệm vụ đánh vào thị xã Vĩnh Long. Năm 1969, ông là Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 của Quân khu, từng đánh những trận nổi tiếng ở chi khu Càng Long, yếu khu Thầy Phó v.v..

Năm 1972, ông nhận nhiệm vụ Giám đốc Trường Trung cấp Quân sự của Quân khu. Cuối năm 1972, ông được trở ra Bắc học 1 năm ở Học viện Quân sự cấp cao của Bộ Quốc Phòng.

Sau ngày miền Nam giải phóng, ông là Trưởng phòng Tổng kết chiến tranh của Quân khu. Khi chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra, ông là Phó Tư lệnh, rồi Tư lệnh Sư đoàn 4 của Quân khu IX có nhiệm vụ đánh bọn Pôn-pốt xâm lược và giúp nước bạn Campuchia.

Đến năm 1982, ông được lệnh trở ra Bắc học ở Học viện Chính trị thuộc Bộ Quốc Phòng. Trở về, ông làm Tham mưu phó Mặt trận 979. Năm 1983, ông về làm Hiệu trưởng Trường Quân sự Quân khu. Năm 1988, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và trở qua Campuchia làm Trưởng đoàn chuyên gia K5 B. Năm 1992, ông về làm Phó Tư lệnh Quân khu IX; đến năm 1997, nghỉ hưu.

Theo Cổng thông tin Điện tử Đồng Tháp




Tiêu đề: Re: Thượng tướng Nguyễn Chơn, vị tướng của lối đánh "bóc trọc"
Gửi bởi: longt trong 14 Tháng Hai, 2010, 11:21:44 pm

Khi nói đến Sư đoàn trưởng giỏi là người ta nói đến khả năng chiến thuật nhiều hơn. Cụ Chơn được đánh giá cao bởi các trận đánh do cụ chỉ huy hầu như đều giành thắng lợi và thắng lợi với hiệu suất tiêu diệt địch rất cao (thậm chí là bóc trọc), ít thương vong...


Thưa bác Panphilov, có những vị tướng khi chỉ huy các chiến dịch vẫn bị thiệt hại nặng nề về quân số, nhung không phải vì vậy mà họ là tướng tồi. Em ví dụ như cố thượng tướng Hoàng Minh Thảo (khi đó là thiếu tướng, tư lệnh mặt trận B3), trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên 1972 (Chiến dịch xuân hè 1972) đã bị thiệt hại khá nặng nề về người cũng như xe tăng T54 (Sư 320 & sư 2 Sao vàng bị B52 rải thảm hi sinh rất nhiều)...


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: tamking trong 14 Tháng Hai, 2010, 11:33:17 pm
đánh giá một chỉ huy là vô cùng phức tạp, nói thẳng là dân thường như chúng ta không đủ trình độ để mà phán ( còn nếu cụ nào là người trong cuộc thì cho con xin lỗi ), phải xét nhiều phương diện: quân sự, chính trị, dân sự, quan hệ cá nhân, tài lấy lòng người...

thương vong không nói lên được gì nhiều, vì tùy cái hoàn cảnh mà đơn vị ấy gặp,chiến thuật đánh công kiên trong trận đồi A 1, trận Làng Vây...trận Xuân Lộc... mất nhiều vô kể, các sư trưởng của 308, 304, 7, 9 trong các thời đó là không giỏi sao


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Nguyễn Chơn, vị tướng của lối đánh "bóc trọc"
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Hai, 2010, 05:58:36 pm

Khi nói đến Sư đoàn trưởng giỏi là người ta nói đến khả năng chiến thuật nhiều hơn. Cụ Chơn được đánh giá cao bởi các trận đánh do cụ chỉ huy hầu như đều giành thắng lợi và thắng lợi với hiệu suất tiêu diệt địch rất cao (thậm chí là bóc trọc), ít thương vong...


Các bác đọc kỹ đi, em đâu có nói đến căn cứ vào thương vong để khen chê đâu. Em nói đến tư duy chiến thuật. Trường hợp cụ Chơn em nhấn mạnh là các trận do cụ chỉ huy hầu như đều giành thắng lợi. Còn hiệu suất tiêu diệt địch và ít thương vong chỉ là phụ vào.

Em cũng đã nói trong các bình luận sau đó rồi, đâu có thể so sánh tướng được đâu, vì nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà. Các bác đọc cũng phải đọc tổng thể các bình luận chứ, kẻo lại ném đá em hội đồng.







Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Quang Viên, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Đồng Tháp
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Hai, 2010, 06:43:08 pm
(http://img38.imageshack.us/img38/3314/lequangvien.jpg)

Thiếu tướng Lê Quang Viên (tên thật: Lê Đằng Phương, 1928) từng giữ các chức vụ: Tỉnh đội trưởng kiêm Chính trị viên Tỉnh đội Vĩnh Long, Thành đội trưởng Thành đội Cần Thơ, Chỉ huy trưởng Đoàn 7706, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Đồng Tháp.

Ngoài ra ông còn từng là: Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Vĩnh Long, Tỉnh ủy viên rồi Thường trực tỉnh ủy Tỉnh Đồng Tháp, Đại biểu Quốc hội khóa 7 và 8.

Huân chuơng Độc Lập hạng Nhì, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, 3 Huân chương Quân công hạng Nhì, Ba, 3 Huân chuơng chiến công hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1988).


Ông sinh ở làng Tân Dương, quận Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp). Gia đình có con đông anh em, cha mất sớm, nên 12 tuổi ông phải đi làm mướn kiếm sống. Được ông Năm Bích, một cán bộ cách mạng từng bị tù Côn Đảo giáo dục giác ngộ.

Tháng 3/1945, ông được kết nạp vào đội du kích kháng Nhật, hoạt động bí mật. Đội đã cùng nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã Sa Đéc ngày 25/8/1945. Khi Pháp tái chiếm thị xã Sa Đéc, ông bám tại địa phương chiến đấu và tháng 10/1946, ông gia nhập Vệ Quốc Đoàn thuộc Chi đội 18.

Ông tham gia nhiều trận đánh ở Sa Đéc, Mỹ Thọ, Trà Vinh, Long Châu Tiền, Đông Nam Cao Miên (Campuchia) v.v.. Sau khi học lớp đào tạo cán bộ Trung đội (Trường Quân sự Nam Bộ), đầu năm 1951, ông là Trung đội trưởng Đại đội biệt động thuộc Trung đoàn 304, sau tổ chức lại thành Đội Biệt động, ông là Đội trưởng.

Thi hành hiệp định Genéve, ông tập kết ra Bắc và đi học Trường Sĩ quan lục quân ở Trung Quốc. Năm 1956, ông về nước, khi thành lập Sư đoàn 338, ông là Đại đội phó rồi Đại đội trưởng Khung huấn luyện tân binh của Sư đoàn.

Tháng 12/1959, ông được cử trong đoàn cán bộ quân sự gồm 28 người mở đường về Nam. Qua một năm gian khổ vượt Trường Sơn, về tới Nam bộ ông được phân công làm Tham mưu phó Ban Quân sự T3 (khu Tây Nam Bộ). Sau đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 96.

Giữa năm 1962, ông là Phó ban Ban huấn luyện thuộc Ban Tham mưu Quân khu. Tháng 11/1963, ông là Tỉnh đội phó kiêm Tham mưu trưởng Tỉnh đội Vĩnh Long.

Cuộc tổng tấn công Xuân  Mậu Thân 1968, ông được cử làm Thị đội trưởng Thị đội Vĩnh Long, trực tiếp chỉ huy chiến đấu.

Tháng 12/1969, ông là Tỉnh đội trưởng Vĩnh Long, rồi Chính trị viên Tỉnh đội đến cuối năm 1972. Chuẩn bị ký kêt hiệp định Paris, ông được quyết định về làm Thành đội Trưởng thành phố Cần Thơ.

Năm 1974, ông được cử ra Bắc học ở Học viện Quân sự lớp trung cao cấp đến tháng 7/1976. Trở về, ông được giao nhiệm vụ Chỉ huy phó Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp, đến tháng 4/1977 là Chỉ huy trưởng.

Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông được cử làm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy thống nhất giúp bạn Campuchia, rồi Chỉ huy trưởng Đoàn 7706, trực thuộc Quân khu Đông Nam bộ, đồng thời làm Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp cho đến khi về hưu.

Theo trang Thông tin Điện tử tỉnh Đồng Tháp.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: Hannoi trong 21 Tháng Hai, 2010, 09:42:10 am
Tôi có một câu hỏi về Đ/c Lê Liêm, chủ nhiệm chính trị mặt trận Điện Biên Phủ. Sau năm 1954? làm thứ trưởng bộ Văn Hóa?
1. Lịch sử tham gia quân đội của đ/c Lê Liêm?
2. Đ/c bị mắc khuyết điểm gì, kỉ luận ra sao?
3. Đ/c còn sống không, cuộc sống hiện giờ ra sao?
4. Tại sao rất ít được nhắc đến hoặc hoàn toàn không được nhắc đến?
Đề nghị mọi người giúp, tôi không ở Việt Nam nên rất khó tìm kiếm thông tin.


Tiêu đề: Thiếu tướng Hoàng Kim, Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 4
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Ba, 2010, 08:46:18 pm
(http://img404.imageshack.us/img404/8110/hk21310.jpg)

Thiếu tướng Hoàng Kim (1927) từng giữ các chức vụ : Chính ủy Sư đoàn 308, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó Tư lệnh Chính trị Bộ Tư lệnh Thủ đô, Chủ nhiệm Chính trị-Bí thư Đảng ủy kiêm Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 4.

Ông quê sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống Cách mạng ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Người anh trai của ông là ông Hoàng Mai, hoạt động cách mạng cùng thời với ông Võ Chí Công trong nhóm Xuân-Hạ-Thu-Đông (Xuân là bí danh của ông Võ Chí Công, Hạ - là bí danh của ông Hoàng Mai, Thu - bí danh của ông Mã Sắc Kim, Đông - bí danh của ông Trương Kiểu). Ông Hoàng Mai không chỉ hoạt động cách mạng tại địa phương (trong Ban khởi nghĩa chống Pháp huyện Duy Xuyên) mà còn được cấp trên điều động vào chiến trường Nam Trung Bộ, hoạt động ở tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, trong một cuộc họp, ông Mai bị bắt, sau đó bị địch xử bắn ở Đơn Dương, Lâm Đồng. Ba người chị của ông cũng tham gia hoạt động cách mạng. Người chị thứ hai và thứ ba sớm qua đời. Người chị thứ năm hoạt động đến năm 1954 rồi ở lại miền Nam.

Ông tham gia cách mạng rất sớm, từ thời còn học lớp nhì (lớp 4 bây giờ) trường làng của ông Hồ Nghinh. Nhỏ tuổi nhưng ông rành chữ Hán, giúp ông Hoàng Mai sao chép bằng tay tài liệu để tuyên truyền, kể cả viết lại thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào.

Học xong bậc tiểu học, Hoàng Kim trở lại Hội An học một năm. Năm 1942, ông ra Đà Nẵng học năm thứ hai ở trường Chấn Thanh. Thời gian này ông được cán bộ cách mạng địa phương bí mật giao nhiệm vụ và được ông Võ Chí Công giới thiệu tiếp xúc với ông Lê Đào, một cán bộ cấp cao ở Đà Nẵng. Ông còn bắt liên lạc với ông Nguyễn Sỹ Huynh hoạt động cách mạng trong phong trào đấu tranh sinh viên - học sinh của trường Chấn Thanh. Sau này, ông mới biết đó là Chi bộ Chấn Thanh.

Giữa năm 1943, phong trào bị bể. Nhiều cán bộ phong trào bị bắt. Ông tạm lui về quê để tránh sự lùng bắt của Pháp nhưng địch vẫn lần ra dấu vết. Ông bị bắt, bị giam ở Hòa Vang ba tháng.

Chính quyền nhà Nguyễn quyết định trả tự do vì xét ông còn vị thành niên, nhưng chính quyền thực dân Pháp không chấp thuận, ông bị đưa ra tòa án binh xử về tội chống lại nhà nước Pháp. Mồng 4 Tết năm 1944, ông bị Pháp bắt trở lại, rồi đưa ra nhà lao Hỏa Lò - Hà Nội. Tại đây, ông gặp các nhà Cách mạng tên tuổi như các ông Hoàng Văn Thụ, Ninh Thọ Chân…

Cuối năm 1944, ông được trả tự do, lại tiếp tục hoạt động. Ngày 17-8-1945, với vai trò là chính trị viên của đơn vị tự vệ, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở quê nhà. Ít lâu sau, ông được điều lên huyện làm cán bộ tuyên truyền lưu động. Ngày 28-9-1945, ông được điều vào bộ đội tham gia hoạt động ở Ban tuyên truyền chi đội Quảng Nam, thuộc trường Quân chính Quảng Nam. Ngày 15-12-1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản do các ông Võ Chí Công và Huỳnh Đức Phương giới thiệu. Năm 1946, cùng với đơn vị là Trung đoàn 96, ông vừa làm chính trị viên vừa đảm nhận nhiệm vụ tiếp phòng quân, tiếp quản Đà Nẵng và được cử đi học.

Năm 1954, ông là Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 954. Sau này, Trung đoàn 954 ra Bắc sáp nhập vào Trung đoàn 66, ông về làm Chủ nhiệm chính trị kiêm Phó Bí thư Lữ đoàn Pháo binh 378. Năm 1962-1964, cấp trên cử ông qua Trung Quốc học Lý luận chính trị.

Năm 1965, về nước ông nhận lệnh vào Liên khu IV đảm nhận chức vụ Phó Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 341 đóng quân ở Nghệ An. Sau đó được chuyển qua làm Phó Chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Phòng không, Quân khu IV, rồi làm Chính ủy Trung đoàn Cao xạ 282. Tiếp đó ông nhận chức Chính ủy Trung đoàn Tên lửa 238 ở Quảng Bình và Vĩnh Linh (Quảng Trị).

Đầu năm 1969, ông được cử đi học chính trị ở Học viện Chính trị của Bộ Quốc phòng. Học xong được điều về làm Phó Chủ nhiệm chính trị, rồi Chủ nhiệm chính trị, Phó Chính ủy, rồi Chính ủy Sư đoàn 308 của Bộ Quốc phòng.

Năm 1978, ông được điều về Tổng cục Chính trị làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn với quân hàm đại tá. Năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, ông được phân công về Bộ Tư lệnh thủ đô với nhiệm vụ là Phó Tư lệnh chính trị. Tiếp đó, ông được điều vào Nam làm Chủ nhiệm chính trị kiêm Phó Tư lệnh Chính trị, Bí thư Đảng ủy ở Quân đoàn 4, tham dự vào cuộc chiến ở biên giới Tây Nam đánh Pol Pot...

Tháng 7-1990 Thiếu tướng Hoàng Kim về hưu. Hiện, ông làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam quận Bình Thạnh; Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam quận Bình Thạnh; Phó Giám đốc Thái cực trường sinh Việt Nam, phụ trách phía Nam; Trưởng ban Liên lạc đồng hương tỉnh Quảng Nam tại TP.Hồ Chí Minh, Trưởng ban Liên lạc Trung đoàn 96, Sư đoàn 308…

Theo Báo Quảng Nam.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Tư, 2010, 02:45:09 pm

Bạn thông cảm và thứ lỗi cho tôi. Những bài viết trong này tôi lấy nguồn từ:

- Internet. Tôi không tìm thấy thông tin nhiều về ông bạn nên không thể viết được, mặc dù đã tìm ngay cả ở các trang của tỉnh Bến Tre và Tiền Giang.
- Gia đình. Tôi người Bắc cho nên chỉ quen các cụ ở miền Bắc, trong Nam chỉ quen một các cụ gốc Bắc và những cụ tập kết (lâu) ra Bắc.
- Sách vở, từ điển. Cái này cũng khó với tôi vì tôi hiện không ở Việt Nam.

Tôi đang đợi công chiếu bộ phim tài liệu "Những tướng lĩnh xứ dừa" thì sẽ tiếp tục hoàn thành các tướng lĩnh quê ở Bến Tre. Nếu bạn có thông tin gì về ông bạn (tiểu sử, ảnh), xin vui lòng viết vào đây. Tôi hiện thiếu thông tin rất nhiều về tướng lĩnh khu 5, 6, 8 và 9.


Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, Cục phó Cục Huấn luyện Chiến đấu
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Năm, 2010, 11:34:54 pm
(http://img257.imageshack.us/img257/7431/thieutuongphamngoclan.jpg)

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan (12.12.1934) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Kỹ thuật bay Bộ Tư lệnh Không quân, Tham mưu phó Quân chủng Không quân, Chủ nhiệm dẫn đường Quân chủng Không quân, Cục trưởng Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng Không quân, Phó Cục trưởng Cục Huấn luyến chiến đấu Bộ Tổng Tham mưu.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, 1 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (6.1992)


Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan sinh ra tại xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Một vùng đất nổi tiếng về lòng quật cường và tinh thần yêu nước - từ nhỏ ông đã được chứng kiến hành động cách mạng dũng cảm của các bậc cha, anh đi trước.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Pháp bắt đầu trở lại chiếm đóng các vùng ven biển miền Trung. Cũng như bao người dân cùng xã, ông phải theo gia đình di tản lên miền núi. Gác lại chuyện học hành còn dang dở, ông (lúc đó mới 10 tuổi) cùng các anh chị em  trong gia đình đến sống tại thôn Kỳ Lộ, xã Xuân Quang, huyện Đồng Xuân (Phú Yên), ngày ngày tham gia canh tác sản xuất, chăn nuôi kiếm sống. 3 năm sau ngày di tản, tháng 12 năm 1948, sau nhiều lần năn nỉ, thuyết phục gia đình, ông được ba - lúc đó đang là nhân viên cứu thương trong chiến trường Buôn Mê Thuột - xin cho vào Ty Công an Đắc Lắc. Lúc đầu chỉ làm nấu cơm, sau thấy ông lanh lợi, lại biết bơi, cưỡi ngựa, ông được cấp trên tin tưởng giao cho làm công tác liên lạc. Nhiều lần ông xin mọi người cho vào quân đội, trực tiếp cầm súng đánh Pháp nhưng đều bị từ chối vì quá nhỏ. Do trước Cách mạng có đi học, tháng 1 năm 1949, ông được tren điều về làm văn thư bảo mật cho Ủy ban Kháng chiến Hành chính Đắc Lắc. Cũng tháng 10 năm đó, ông sang Tỉnh đội Đắc Lắc làm công tác văn thư.

Tháng 7 năm 1952, 18 tuổi, ông chính thức nhập ngũ là chiến sĩ văn thư Ban Chính trị Trung đoàn 84 Nơ Trang Long Liên khu 5. Từ tháng 1 năm 1953, ông lần lượt là chiến sĩ, tiểu đội phó, tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 602, Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 96, Đại đoàn 305.

Năm 1954, cùng Đại đoàn, ông tập kết ra Bắc. Hành quân đến Nam Định thì ông nhận được chỉ thị về gấp ngay Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội chuẩn bị đi học. Tháng 1 năm 1956, ông được cử đi học Trường Văn hó của Bộ Tổng Tư lệnh tại Kiến An. Lúc mới ra Bắc, ông chọn học về xe tăng, tuy nhiên sau khi khám sức khỏe, lại căn cứ vào kết quả học tập, ông được cử đi học lái máy bay. Tháng 10 năm 1956, ông sang Trung Quốc theo học tại Trường Không quân số 3 với chức vụ Trung đội trưởng. Trong quá trình học tập, ông luôn ở trong top dẫn đầu với 8 môn ký thuyết đạt 80 điểm, tức là toàn điểm 10. Ông còn là học viên duy nhất làm bài thi bằng tiếng nước bạn.

Gần 8 năm miệt mài học tập và huấn luyện với đủ chủng loại máy bay, sáng ngày 6 tháng 8 năm 1964, ông dẫn đầu phi đội bay 921 - Trung Đoàn Sao Đỏ với hơn 40 máy bay phản lực về lại Việt Nam, hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, chỉ sau đúng một ngày diễn ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Đoàn được đích thân Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra đón. Đến tháng 1 năm 1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm dẫn đường Trung đoàn Không quân 921.

Ngày 3 tháng 4 năm 1965, ông tham gia vào trận đánh đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam, đánh bại cuộc tập kích trên không của Mỹ vào khu vực cầu Hàm Rồng – một cây cầu huyết mạch, yết hầu trên tuyến chi viện Bắc Nam. Trong trận này, Biên đội do ông chỉ huy đã bắn cháy 2 trong số 12 chiếc máy bay Mỹ, trong đó một chiếc do ông bắn rơi. Cũng trong trận chiến đấu này, sau khi hạ lệnh cho đồng đội trở về, ông một mình tiếp tục truy đuổi một chiếc máy bay địch đang trốn thoát ra phía biển. Do la bàn bị hỏng, nhiên liệu sắp cạn kiệt, ông điện về báo cáo với chỉ huy rồi tự tính toán, phán đoán đường bay, lần theo tả ngạn sông Hồng ngược về đơn vị. Đến bãi giữa sông Đuống, máy bay báo hết nhiên liệu. Xin chỉ thị cấp trên 2 lần, ông đều được lệnh khẩn phải nhảy dù ngay ra khỏi máy bay để bảo toàn sự sống. Tuy nhiên, ông đã kiên quyết khéo léo hạ xuống sông Hồng bằng thân máy bay. Do những thành tích trong trận chiến đấu này, ông được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người.

Tháng 4 năm 1967, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921. 1971, Chủ nhiệm Kỹ thuật bay Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân. 1.1973, ông được tiếp tục cử đi học tập tại Học viện Không quân Ga-ga-rin của Liên Xô. Về nước, tháng 3 năm 1974, ông là Trưởng phòng Tác huấn Không quân Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 4 năm 1975, ông được Bộ Tư lệnh Quân chủng cử vào chỉ đạo, tham gia tiếp quản Sân bay Đà Nẵng. Sau đó, ông nhận "mật lệnh" bí mật đến sân bay Thành Sơn nghiên cứu chọn lựa một số khí tài quân sự vừa thu được, khẩn trương lập phương án đào tạo ngắn ngày hiệu quả nhất để các phi công của ta nhanh chóng làm chủ và sử dụng thành thạo máy bay địch (A37) đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Trong trận đánh này, ông là người trực tiếp chỉ huy dẫn đường cho phi đội hoàn thành nhiệm vụ.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tháng 5 năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu phó Quân chủng Không quân. Tháng 8 cùng năm, ông theo học tại Học viện Chính trị Quân sự. 7.1978, là Tham mưu phó Quân chủng Không quân, 8.1978, Sư đoàn phó Sư đoàn 371 Quân chủng Không quân. 4.1979, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370. 7.1981, Chủ nhiệm dẫn đường Quân chủng Không quân. 11.1982, quyền Cục trưởng Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng Không quân. 12.1985, Cục trưởng Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng Không quân. 6.1994, Phó Cục trưởng Cục Huấn luyện Chiến đấu Bộ Tổng Tham mưu cho đến khi về hưu tháng 8 năm 1999.






Tiêu đề: Trung tá Đinh Ngọc Liên, ngưởi chỉ huy đầu tiên của Quân nhạc Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 26 Tháng Năm, 2010, 10:28:36 pm
(http://img38.imageshack.us/img38/9200/nhacsidinhngoclien.jpg)

Trung tá Đinh Ngọc Liên (1911-1991), từng giữ các chức vụ : Chỉ huy Ban Âm nhạc Giải phóng quân, Ban Âm nhạc Vệ quốc quân, Đoàn Nhạc binh Trung ương, Đoàn Quân nhạc Tổng cục Quân huấn (sau trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô).

Huân chương Quân công hạng Ba, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất… Ông là người đầu tiên của Quân đội được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân (1988).

Trung tá (1974).


Ông sinh tại xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một gia đình công giáo. Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam thì ông sinh năm 1911, nhưng theo một số tài liệu khác thì ông sinh ngày 1 tháng 5 năm 1912.

Trước Cách mạng tháng 8, ông từng tham gia Đội nhạc lính khố xanh trực thuộc Tòa Thống sứ Bắc Kỳ. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), ông trở thành quản của đội nhạc mà mọi người thường gọi là Quản Liên.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cách mạng nổ ra thành công tại Hà Nội, ông được vận động về với cách mạng. Ngày 20 tháng 8, ông được Bộ Chỉ huy Quân sự Hà Nội giao cho nhiệm vụ thành lập Ban âm nhạc Giải phóng quân trên cơ sở đội kèn bảo an binh do ông làm đội trưởng. Đội lúc đó gồm 75 (có tài liệu nói 72) nhạc công, có nhiệm vụ tập những bài hành khúc Cách mạng, chuẩn bị cho buổi lễ tuyên ngôn độc lập. Để thể hiện được bài « Tiến quân ca » đạt được nội dung và tầm vóc tư tưởng của nó, ông và nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu đã bàn với nhạc sĩ Văn Cao thống nhất cho sửa hai chữ trong bài “Tiến quân ca” để bản nhạc hoàn hảo hơn, xứng đáng là bản Quốc thiều của nước Việt Nam độc lập. Đó là rút ngắn trường độ của nốt “rê” (D) đầu tiên của chữ “Đoàn” và nốt “mi” (E) ở đoạn giữa trong chữ “xác” làm cho bản nhạc khỏe khoắn, trầm hùng hơn. Cũng trong dịp lễ này, ông cũng tham gia chỉ huy, phối khí cho nhiều bản nhạc cách mạng khác như « Vũ khúc tưng bừng » của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác, « Diệt phát xít » của nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi.

Thời kỳ toàn quốc kháng chiến (12-1946) tới tháng 7/1954, Ban Âm nhạc Quân giải phóng trở thành lực lượng xung kích phục vụ chiến đấu, tham gia các đội tuyên truyền, vận động quần chúng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, toàn đơn vị chia thành 2 bộ phận - một bộ phận do ông Kim Liên và Phan Viết Huyền phụ trách tham gia đoàn vũ trang tuyên truyền “Tây Tiến” đi phục vụ chiến trường miền Tây Bắc Tổ quốc. Số còn lại do Đoàn trưởng Đinh Ngọc Liên và Chính trị viên Lê Vân phụ trách hành quân lên chiến khu Việt Bắc phục vụ nghi lễ của Nhà nước và Quân đội. Khi đó đoàn mang tên Ban Âm nhạc Vệ quốc quân. Trong suốt những năm kháng Pháp, ông đã phối khí, chuyển soạn nhiều ca khúc cách mạng, đánh dấu bước đi đầu tiên của khí nhạc Việt Nam sau này.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông cùng Đoàn quân nhạc trở về Thủ đô, khi đó đoàn có tên thành Đoàn Nhạc binh Trung ương. Ông được vinh dự chỉ huy dàn Quân nhạc trong ngày giải phóng Thủ đô 10 tháng 10, và trong buổi lễ đón Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng về Thủ đô tháng 11 năm 1955. Cùng năm này, Đoàn được đổi tên thành Đoàn Quân nhạc trực thuộc Tổng Cục Quân huấn, sau thuộc Bộ Tư lệnh Thủ đô, do ông là Đoàn trưởng đầu tiên. Ông cũng là người vinh dự được chỉ huy dàn Quân nhạc trong Lễ quốc tang Hồ Chủ tịch.

Trong gần 40 năm là nhạc trưởng, chỉ huy dàn nhạc của Quân đội, ông đã hòa âm phối khí hàng trăm ca khúc, tiêu biểu là « Tiến quân ca » (Quốc ca), « Chiến sĩ ca », « Du kích ca », « Diệt phát xít », « Cùng nhau đi Hồng binh »… Soạn các tác phẩm « Hành khúc tang lễ » (bản trống vĩnh biệt Hồ Chí Minh (1969)), « Xuân chiến thắng », « Hành khúc chiến thắng »… Ông cũng là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam.






Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng PK KQ
Gửi bởi: panphilov trong 26 Tháng Năm, 2010, 11:46:21 pm
(http://img532.imageshack.us/img532/3803/trungtuongnguyenvanphie.jpg)

Trung tướng Anh hùng Nguyễn Văn Phiệt (1938), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Giải phóng phụ nữ, Huy chương Vì Sự nghiệp Khoa học và Công nghệ.

Ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 3 tháng 9 năm 1973, khi đang là Thượng úy, Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn Tên lửa 57, Trung đoàn Tên lửa 261, Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (8/1990), Trung tướng (11/1999).


Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt quê tại thôn Vệ Dương, xã Chiến Thắng (Tân Phúc), huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ông nhập ngũ tháng 2 năm 1960, được kết nạp vào Đảng tháng 12 năm 1963 (chính thức tháng 9 năm 1964).

Năm 1956, ông được bầu làm ủy viên Ban chấp hành đoàn xã Chiến Thắng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên tham gia dạy bình dân học vụ.

Tháng 2 năm 1960, ông nhập ngũ, là chiến sĩ ra-đa 8, rồi tiểu đội trưởng ra-đa thuộc Đại đội 12, Trung đoàn ra-đa 290, Bộ Tư lệnh Phòng không ; 12.1962, thợ sửa chữa ra-đa, lần lượt công tác tại các Trung đoàn ra-đa : 290, 291 Bộ Tư lệnh Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân (tháng 10 năm 1963) ; 11.1965, học chuyển loại Binh chủng Tên lửa Phòng không tại Liên Xô. Sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 93 Trung đoàn tên lửa 278 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 10 năm 1967, ông là trưởng xe YA kiêm sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 93 Trung đoàn tên lửa 278 Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa (Sư đoàn 369) Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1969, đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 93 Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1971, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 93 Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 7  năm 1972, ông được cử giữ chức vụ tiểu đoàn phó rồi tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 361 (Đoàn Thành Loa) Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Trung đoàn. Trong trận « Điện Biên Phủ trên không », đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12 năm 1972, ông chỉ huy Tiểu đoàn bắn hạ 2 máy bay B52.

Tháng 1 năm 1973, ông được điều sang làm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 52 Trung đoàn Tên lửa 267 Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1973, tham mưu trưởng, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân, Đản ủy viên Trung đoàn ; 8.1974, đi học bổ túc Trung cấp Chính trị ; 2.1975, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1976, ông theo học tại Trường Văn hóa Quân đội ; 9.1978, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 257 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Sư đoàn.

Tháng 8 năm 1979, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không ; 10.1979, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 369 Quân chủng Phòng không ; 9.1980, đi học bổ tục tại Học viên Quân sự Cấp cao Bộ Quốc phòng ; 9.1981, phó sư đoàn trưởng kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 369 Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Sư đoàn.

Tháng 6 năm 1985, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 369 Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 11.1988, tiếp tục đi học bổ túc tại Học viện Chính trị Quân sự, thôi chức sư đoàn trưởng nhưng vẫn giữ chức vụ Đảng ủy viên Quân chủng.

Tháng 5 năm 1989, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không ; 1.1992, phó tư lệnh về chính tri, bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng ; 7.1999, phó tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng ; 11.2000, phó tư lệnh về chính trị Quân chủng Phòng không Không quân cho đến khi nghỉ hưu (1.3.2001).






Tiêu đề: Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Năm, 2010, 09:18:36 pm
(http://img241.imageshack.us/img241/5792/thuongtuongphamthanhnga.jpg)

Thượng tướng Anh hùng Phạm Thanh Ngân (18.4.1939) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Không quân.

Ngoài ra ông còn từng là : Đại biểu Quốc hội khóa 10, Ủy viên Bộ Chính trị khóa 8, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 7, Phụ trách Ban Tổng kết Chiến lược về Quân sự và Quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị.

Ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 18 tháng 6 năm 1969 khi đang là đại úy, đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân.

2 Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Là phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 8 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 8 Huy hiệu Bác Hồ. Ông cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng một chiếc đồng hồ.

Thiếu tướng (6.1988), Trung tướng (6.1992), Thượng tướng (11.1999).


Thượng tướng Phạm Thanh Ngân quê tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Ông nhập ngũ ngày 21 tháng 3 năm 1959, được kết nạp vào Đảng ngày 8 tháng 12 năm 1963 (chính thức ngày 8 tháng 9 năm 1964).

Tháng 6 năm 1957, ông tham gia hoạt động Đoàn Thanh niên tại địa phương. Tháng 3 năm 1959, ông nhập ngũ, là chiến sĩ trinh sát rồi tiểu đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 374, Sư đoàn 351 Pháo binh.

Tháng 4 năm 1961, ông theo học dự khóa tại Tiểu đoàn 95 Cục Không quân. Tháng 10 năm này, ông được cử sang Liên Xô học lái máy bay Mig. 17. Về nước, tháng 10 năm 1964, ông là sĩ quan lái máy bay Mig. 17 tại Trung đoàn 921 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 8 năm 1965, ông tiếp tục được cử đi học lái máy bay Mig. 21 tại Liên Xô. Tháng 6 năm 1966, về nước, ông lần lượt giữ chức vụ trung đội trưởng, đại đội phó, đại đội trưởng lái máy bay Mig. 21 thuộc Trung đoàn 921 Quân chủng Phòng không Không quân. Đây cũng là thời gian ông trực tiếp tham gia chiến đấu lần đầu tiên.

Tháng 7 năm 1968, ông được đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua tiêu biểu hai miền Nam Bắc, được Bác Hồ trực tiếp trao tặng huy hiệu của Người. Cùng tháng 12 năm này, khi Bác Hồ đến thăm Quân chủng Phòng không Không quân, ông được Bác tặng chiếc đồng hồ vì thành tích bắn rơi nhiều máy bay Mỹ.

Tháng 9 năm 1970, ông lại được cử sang Liên Xô theo học tại Học viện Không quân Ga-ga-rin.

Tháng 9 năm 1975, ông tham gia viết tài liệu tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, Sư đoàn phó Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Không quân ; 8.1978, theo học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc Trung ương.

Tháng 3 năm 1989, ông về làm Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 371 Quân chủng Không quân cho đến tháng 8 năm 1982 quay lại theo học tại Học viện Bộ Tổng tham mưu Vô-rô-si-lốp của Liên Xô. Đây cũng là lần thứ 4 ông đến học tập tại Liên Xô.

Tháng 7 năm 1984, ông về nước và được cử giữ chức vụ Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân ; 12.1985, là Phó Tham mưu trưởng thứ Nhất Quân chủng Không quân ; 9.1986, Phó Tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân cho đến tháng 10 năm 1987 thì thôi chức Chủ nhiệm Chính trị.

Tháng 4 năm 1989, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Không quân (đến tháng 9 năm 1991) ; 5.1996, là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị rồi Chủ nhiệm (tháng 1 năm 1998). Tháng 5 năm 2001, ông phụ trách Ban Tổng kết chiến lược về Quân sự và Quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị, là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 7, Ủy viên Bộ Chính trị khóa 8, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và là Đại biểu Quốc hội khóa 10.






Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Đình Ước, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Sáu, 2010, 11:13:25 pm
(http://img375.imageshack.us/img375/1752/trungtuongnguyendinhuoc.jpg)

Trung tướng Phó Giáo sư Nguyễn Đình Ước (bí danh: Lê Khiêm, 1927 - 14h34' 27.5.2010), từng giữ các chức vụ: Phó Tổng Biên tập thứ nhất Tạp chí Quân đội Nhân dân (nay là Tạp chí Quốc phòng toàn dân) Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4, Tổng Biên tập Báo Quân đội Nhân dân, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Huân chương Quân công (hạng nhì, hạng ba); Huân chương Chiến công hạng  ba;  Huân  chương Chiến thắng hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng nhất, nhì, ba); Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy chương Vì sự nghiệp khoa học và công nghệ; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông được phong học hàm Phó Giáo sư (1992).

Thiếu tướng (1984), Trung tướng (1994).


Trung tướng Nguyễn Đình Ước sinh tại xã Vũ Yển, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Ông tham gia Cách mạng tháng 4 năm 1945, nhập ngũ tháng 9 năm 1945.

Trong kháng chiến chống pháp, ông tham gia các chiến dịch Sông Thao, Ðường số 4, Biên giới thu đông, đường 18, rồi đến Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Ðiện Biên Phủ, trưởng thành từ Chính trị viên đại đội (1945) đến Chính ủy Trung đoàn (1954).

Sau một thời gian đảm nhiệm chức vụ Phó Chính ủy Trung đoàn Pháo binh 675, Chính ủy Trung đoàn 82,  Sư đoàn 351, ông được Bộ Quốc phòng cử đi học đào tạo tại Học viện Chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Về nước, ông được bổ nhiệm các chức vụ Trưởng ban Tuyên huấn Bộ Tư lệnh Pháo binh (1959) rồi, năm 1961, được điều về làm Phó Tổng Biên tập thứ nhất Tạp chí Quân đội Nhân dân (nay là Tạp chí Quốc phòng toàn dân).

Năm 1965, ông sang làm Phó Tổng Biên tập thứ nhất và đến 1974 làm Tổng Biên tập Báo Quân đội Nhân dân. Năm 1978, ông chuyển vào làm Phó Chính ủy kiêm phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4, Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4 (1980). Năm 1984, ông được điều động về làm Phó Viện trưởng phụ trách nội bộ - Bí thư Đảng ủy rồi Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1994).

Sau khi thôi giữ chức Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1998), Bộ Quốc phòng đã yêu cầu ông làm tư vấn, tham mưu cho bộ về một số chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển quân đội, tăng cường Quốc phòng - An ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Trung tướng Phó Giáo sư Nguyễn Đình Ước đã chỉ đạo, tổ chức nhiều hội nghị hội thảo quan trọng như "Chiến thắng Ðiện Biên Phủ - Sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại", "Ðại thắng mùa Xuân 1975 - Nguyên nhân và bài học", "Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968"..., tham gia nghiên cứu và thực hiện nhiều công trình nghiên cứu như "Lịch sử quân sự Việt Nam" gồm 14 tập, "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1960)" gồm chín tập; "Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)"... Ông cũng tham gia hướng dẫn nhiều đề tài nghiên cứu sinh về Lịch sử Quân sự Việt Nam và được mời tham gia nhiều hội thảo quân sự ở nước ngoài.





Tiêu đề: Re: Trung tướng Trần Quý Hai, nguyên Tổng thanh tra Quân đội
Gửi bởi: Bodoibucket trong 28 Tháng Sáu, 2010, 12:17:11 pm
(http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Tran-Quy-Hai.jpg)

Trung tướng Trần Quý Hai (Bùi Chấn, 1913-1985), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Tổng Thanh tra Quân đội. Phó Chủ nhiệm Uỷ Ban Kế hoạch Nhà nước, Trưởng Ban Cơ yếu Trung ương.


Cụ Hai là người cho phép hải quân đánh tàu Ma-đốc 2-8-1964!


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Sáu, 2010, 10:03:08 pm
Bác chủ thớt panphilov xem lại phần cụ Đặng Văn Việt. Hình như cụ ấy khi chuyển ngành là Trung tá, chưa phải Đại tá.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Bảy, 2010, 06:31:00 pm
Bác chủ thớt panphilov xem lại phần cụ Đặng Văn Việt. Hình như cụ ấy khi chuyển ngành là Trung tá, chưa phải Đại tá.

Em chưa tìm được cái gì để khẳng định được là trung tá. Vì từ nhỏ đến giờ, những người em gặp đều gọi cụ Việt là đại tá. Cái này, thì phải tìm hiểu thêm mới được.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: _new trong 02 Tháng Bảy, 2010, 07:35:54 pm
Bác Panphilov có thông tin về cụ Lê Linh (?) ở quân khu Tả ngạn không ạ.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Bảy, 2010, 09:14:04 pm
Bác Panphilov có thông tin về cụ Lê Linh (?) ở quân khu Tả ngạn không ạ.

Em không biết tướng nào ở quân khu Tả Ngạn tên là Lê Linh cả. Trong chủ đề này, em cũng đã giới thiệu về trung tướng Lê Linh, nguyên chính ủy đầu tiên của Quân đoàn 2.

Trích dẫn
http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1667.msg24487.html#msg24487


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Như Văn, Tổng cục trưởng Tổng cục II
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Bảy, 2010, 10:51:31 pm
(http://img199.imageshack.us/img199/4336/trungtuongnguyennhuvan.jpg)

Trung tướng Nguyễn Như Văn (1924 - 15.5.2001) từng giữ các chức vụ: Trưởng Phòng Tình báo Bộ Tổng Tham mưu Quân Giải phóng miền Nam, Tổng cục trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Hân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Quân công (2 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến công (3 hạng Nhất, 2 hạng Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1978), Thiếu tướng (1984), Trung tướng (1993).Ông là người có cấp bậc trung tướng đầu tiên của lực lượng tình báo Việt Nam.


Trung tướng Nguyễn Như Văn quê tại xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Do hoàn cảnh gia đình, ông phải lưu lạc sao Lào từ nhỏ. Tháng 5 năm 1945, ông tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thà-khẹt. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền rồi gia nhập Việt kiều cứu quốc quân, chiến đấu ở chiến trường Thà-khẹc.

Tháng 2 năm 1946, mặt trận Thà-khẹc bị vỡ sau những nỗ lực của liên quân Lào Việt, ông cùng đơn vị rút sang Thái Lan lập chiến khu bí mật rồi tham gia thành lập Chi đội Trần Phú. Ngày 26 tháng 12 năm 1946, ông cùng Chi đội về nước tham gia kháng chiến tại chiến trường Nam Bộ (Tây Ninh) theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh và đổi tên thành Chi đội Hải ngoại 4. Tháng 5 năm 1947, Chi về hoạt động tại địa bàn Sa Đéc, Cao Lãnh và phát triển thành Trung đoàn 109. Là cán bộ đại đội, ông được kết nạp vào Đảng trên đường hành quân về nước.  

Cuối năm 1948, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 325, Liên Trung đoàn 109-111 và ông được chỉ định vào Tỉnh uỷ Sa Đéc. Tháng 10/1949, ông là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Sa Đéc, rổi Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Long Châu Tiền. Khi sáp nhập 2 tỉnh Long Châu Tiền và Sa Đéc thành Long Châu Sa, ông là Tỉnh uỷ viên, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Long Châu Sa.

Tháng 7/1954 sau hiệp định Giơ-ne-vơ, lực lượng vũ trang tỉnh Long Châu Sa tổ chức thành Trung đoàn 668 tập kết ra Bắc, ông là Chính uỷ, Bí thư Trung đoàn uỷ Trung đoàn 668.

Giữa năm 1955, ông về làm Chính uỷ Trung đoàn 570, Sư đoàn 330, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn và Đảng uỷ viên Sư đoàn. Cuối năm 1955, ông là Chủ nhiệm pháo binh Sư đoàn 330. Từ cuối năm 1956 đến giữa năm 1960, ông đi học bổ túc văn hóa và lớp quân sự trung cao, về nhận nhiệm vụ Trưởng phòng thuộc Cục tình báo, Bộ Tổng Tham mưu, Thường vụ Đảng uỷ Cục.

Năm 1964, ông là Cục phó Cục Tình báo, Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1966, ông trở về Nam chiến đấu và là Trưởng phòng Tình báo Bộ Tổng Tham mưu Giải phóng miền Nam. Năm 1968, ông tham gia Đảng uỷ Bộ Tham mưu, Phó Bí thư Đảng uỷ phòng. Với cương vị Cục phó Cục Tình báo phụ trách phía Nam, ông tham gia cuộc Tổng tấn công xuân Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn.

Cuối năm 1976, ông đi học ở Học viện Quân sự cao cấp, được phong hàm Đại tá và từ năm 1978 nhận nhiệm vụ Cục phó Cục Tình báo phục trách phía Nam (Tây Nam). Đến năm 1979, ông nhận nhiệm vụ Tham mưu phó Bộ Tư lệnh 719 (thông tin Bộ Tư lệnh Sư đoàn 19 trong trang tin của tỉnh Đồng Tháp là không chính xác), được phong quân hàm Thiếu tướng vào cuối năm 1984.

Từ tháng 7/1987, ông giữ nhiệm vụ Cục trưởng Cục Tình báo, Bộ Tổng Tham mưu và năm 1993 nhận nhiệm vụ Tổng cục trưởng Tổng cục II, Bộ Quốc phòng, Bí thư Đảng uỷ Tổng cục, được thăng quân hàm Trung tướng.

Trung tướng Nguyễn Như Văn nghỉ hưu năm 1995 và mất tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 15 tháng 5 năm 2010.

Theo: Báo Công an Nhân dân (điện tử), Cổng thông tin điện tử Đồng Tháp






Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Thanh Dương, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự Tây Ninh
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Bảy, 2010, 08:26:07 am
(http://img39.imageshack.us/img39/3617/thieutuongnguyenthanhdu.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Dương (tên thật : Nguyễn Ngọc Điệp, bí danh : Hai Dương, 1929 – 2001), từng giữ các chức vụ : Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tây Ninh, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự Tây Ninh.

Ông sinh ra và lớn lên tại ấp Suối Sâu, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ông tham gia kháng chiến từ năm 1946, trưởng thành nhanh chóng từ chiến sĩ trinh sát tới cán bộ quân báo của Chi đội 12, hoạt động tại vùng Trảng Bàng – Hóc Môn – Gia Định.

Năm 1951, bằng cách theo dõi qua hành động của địch và qua nắm tin tức từ cơ sở, ông đã nhận định chính xác, phục vụ cho Ban Tham mưu Chi đội 12 tổ chức trận địa phục kích tại Trung Hưng đánh tiêu diệt nhiều lính lê dương Pháp. Phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ, đầu năm 1954, cũng bằng tư duy phán đoán nhạy bén về âm mưu hành động của địch, ông đã cùng ông Đỗ Thế Nhân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 306 bộ đội địa phương tỉnh Gia Định Ninh lên phương án chiến đấu, gài thế trận, đánh diệt một Tiểu đoàn lính Âu -Phi của quân Pháp tại suối Bời Lời. Đây là trận đánh tiêu biểu, lần đầu tiên một Tiểu đoàn địa phương cấp tỉnh (Tiểu đoàn 306) đánh diệt gọn một tiểu đoàn chính quy quân viễn chinh xâm lược Pháp.

Sau Hiệp định Geneve tháng, ông được tổ chức phân công ở lại địa phương bám phong trào, bám quần chúng để duy trì cơ sở quần chúng Cách mạng. Cuối năm 1960 Ban quân sự Miền (R) quyết định thành lập Ban chỉ huy Quân sự tỉnh (Tỉnh đội) Tây Ninh. Cùng với ông Trương Tùng Quân (Sáu Trương) được bổ nhiệm làm Tỉnh đội trưởng, ông được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Tham mưu.

Đầu năm 1961, sau khi bộ đội địa phương (Đại đội 61) và du kích huyện Bến Cầu bao vây bức rút các đồn Xóm Khách, Hố Đồn, Long Giang, nhận định địch sẽ đưa quân về Bến Cầu hòng đánh lấy lại những vị trí đã mất, ông đã chỉ đạo cho Tiểu đoàn 14 của Tỉnh đội đưa quân về ém trước tại ấp Bến Đình, xã Tiên Thuận. Tại đây, ngày 23 tháng 9 năm 1961, Tiểu đoàn 14 đã phục kích diệt gọn 1 đại đội lính Biệt động biên phòng nguỵ. Tháng 11 năm 1961, nhận định âm mưu quân địch sẽ càn bố vào vùng Xóm Sóc, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, ông chỉ đạo cho Đại đội 1, Tiểu đoàn 14 đưa quân về ém sẵn trên lộ 19, đoạn qua Xóm Sóc, phục kích diệt gọn 1 đại đội bảo an địch.

Tháng 10 năm 1963, trước âm mưu và hành động của địch tăng cường đánh phá lấn chiếm tỉnh lộ 19, 26. Tại cuộc họp Ban cán sự Tỉnh đội, ông đã đưa ra nhận định: “Địch sẽ tập trung lực lượng đánh chiếm các xã vùng ruột huyện Gò Dầu. Từ dự đoán này tôi đề nghị xác định chiến trường trọng điểm, nơi kiên quyết bám trụ của ta là Gò Dầu. Địch có thể nghi binh đánh phá nhiều nơi khác nhưng vùng đất mà chúng muốn chiếm, muốn đánh bật ta ra khỏi đó là vùng ruột Gò Dầu. Theo tôi, chiến trường Gò Dầu sẽ là nơi đấu trí, đấu lực giữa ta và địch bất kể tương quan lực lượng như thế nào, không chỉ trong năm 1963, 1964 mà sẽ còn lâu dài hơn nữa”. Ông khẳng định: “Giữ được Gò Dầu ta sẽ tạo thế giữ được cơ sở của ta trong vùng phía Nam huyện Toà Thánh. Huyện Toà Thánh có ý nghĩa chiến lược, theo tôi, ta thắng địch là ở đây, mà kết thúc chiến tranh cũng là đây”. Ông đề nghị Tỉnh uỷ, Ban cán sự Tỉnh đội khẩn cấp chỉ đạo Huyện uỷ Gò Dầu phát động phong trào “Một tấc không đi, một ly không rời”, với khẩu hiệu hành động “Quyết tử giữ Gò Dầu”. Tỉnh uỷ, Ban cán sự Tỉnh đội đồng thuận rất cao với nhận định về địch và ý kiến đề xuất của ông.

Năm 1966, ông nhận quyết định thay ông Võ Văn Tới - Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tây Ninh được trên quyết định rút về R (Trung ương Cục miền Nam) nhận công tác khác. Đây cũng là năm Mỹ đổ quân xuống Tây Ninh, chiếm đóng Trảng Lớn (Châu Thành) làm căn cứ lớn. Ông tham mưu cho Tỉnh uỷ chỉ đạo Huyện uỷ Châu Thành lập “Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn”. Về sau “Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn” trở thành nơi đánh Mỹ giỏi nhất miền Đông. Được Bộ Tư lệnh Miền tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất.

Những năm 1969 – 1970, địch một lần nữa đánh chiếm ác liệt các xã vùng ruột huyện Gò Dầu. Một số lượng lớn xe cơ giới đã được sử dụng nhằm ủi phá phát quang địa hình huyện thành vùng trắng. Địch ngày đêm càn bố, phục kích, xom hầm. Huyện Gò Dầu buộc phải ly hương rời địa bàn lên vùng biên giới. Trước vị trí quan trọng của huyện đối với Trung ương cục, Bộ Tư lệnh Miền đã giao nhiệm vụ cho ông tìm cách đối phó. Chỉ sau một thời gian, Phong trào Gò Dầu sau đó dần dần khôi phục, Huyện uỷ, Huyện đội, Đại đội 33, du kích, cán bộ phong trào các xã lần lược quay về bám trụ vững.

Bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tư cách là chỉ huy trưởng Ban chỉ huy chiến dịch giải phóng tỉnh, ông đã lên phương án chọn hướng Nam huyện Toà Thánh (Hoà Thành ngày nay) làm mũi đột phá chính diện. Sau khi giải phóng và làm chủ chi khu Phú Khương, dù nhiều người trong Ban chỉ huy đề xuất lợi dụng thời cơ địch đang hoang mang, vì bị cô lập ta đẩy mạnh tiến công đánh chiếm Thị xã, song ông đã quyết định khác: cho dừng quân tại chỗ, chuyển phương thức đấu tranh từ vũ trang là chủ yếu, sang đấu tranh chính trị, binh vận, dùng mũi vũ trang để khống chế răn đe. Với phong thái đĩnh đạc, lập luận sắc sảo đầy sức thuyết phục, ông đã phân tích điều hơn lẽ thiệt cho viên Đại tá Tỉnh trưởng nguỵ. Kết quả là Tỉnh trưởng nguỵ quyền cùng với đồng sự của ông ta đã kéo ra đầu hàng. Thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh được giải phóng nguyên vẹn, máu xương của bộ đội của đồng bào được giảm thiểu ở mức thấp nhất, nhà cửa của dân, các công trình công cộng, đền đài tôn giáo không bị tàn phá.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông nhiều năm liền giữ chức vụ Tỉnh đội trưởng rồi Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh kiêm Tỉnh ủy viên cho đến khi về hưu năm 1989.

Theo Trang tin Điện tử tỉnh Tây Ninh





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: ongbom_f2 trong 02 Tháng Tám, 2010, 12:39:12 pm
Trong 15 vị tướng của tỉnh Bình định ( thời điểm 2004 ), em mới có hình ảnh và tiểu sử của 5 vị. Còn lại 10 vị nữa chưa có thông tin. Bác nào biết thì cho em xin thông tin về tiểu sử và hình ảnh. Trân trọng cảm ơn trước các bác :
2-Trung tướng Lê An (quê: xã Hoài Hảo - huyện Hoài Nhơn).
3-Trung tướng Lê Thành Văn (quê: xã Phước Long - huyện Tuy Phước).
7-Thiếu tướng Võ Phi Hồng (quê: xã Tam Quan Nam - huyện Hoài Nhơn).
8-Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ (quê: xã Tam Quan - huyện Hoài Nhơn).
9-Thiếu tướng Võ Đông Giang (quê: xã Mỹ Thọ - huyện Phù Mỹ).
10-Thiếu tướng Phùng Đình Ấm (quê: xã Mỹ Lợi - huyện Phù Mỹ).
11-Thiếu tướng Võ Nhân Huân (quê: xã Tam Quan - huyện Hoài Nhơn).
12-Thiếu tướng Lê Lung (quê: xã Hoài Thanh - huyện Hoài Nhơn).
13-Thiếu tướng Lê Huẩn (quê: xã Nhơn Lộc - huyện An Nhơn).
15-Thiếu tướng Trần Công Thức (quê: xã Hoài Hảo - huyện Hoài Nhơn).



Tiêu đề: Về những vị tướng đầu tiên của Việt Nam
Gửi bởi: huutrang93 trong 02 Tháng Tám, 2010, 10:46:08 pm
Em vừa có 1 cuộc tranh luận với mấy đứa bạn về vấn đề "Ai là tướng đầu tiên của VN"

Trên wikipedia cũng như nhiền báo mạng đã viết Phùng Chí Kiên là người đầu tiên được Bác kí sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng (sắc lệnh 89-SL kí ngày 23-9-1947 http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=14133 (http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=14133)), nhưng khi tra trên trang web http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/ (http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/) thì lại không tìm thấy văn bản đó

Tương tự như vậy là Nguyễn Bình, em tra trên mạng cũng thấy nói ông là trung tướng đầu tiên của Việt Nam, được phong quân hàm Trung tướng vào tháng 11-1947, nhưng tra trên http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/ (http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/) thì trong khoảng thời gian đó, không có văn bản phong quân hàm cấp tướng cho ông

Vậy văn bản phong quân hàm cho 2 người này hiện đang ở đâu?



Tiêu đề: Re: Về những vị tướng đầu tiên của Việt Nam
Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Tám, 2010, 11:09:45 pm
Cụ Phùng Chí Kiên chưa bao giờ được phong tướng chính thức. SL 89 ngày 26/9/1947 là về "ân xá, ân giảm nhân ngày ký niệm quốc khánh năm 1947": http://vbqppl.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=416

Liên quan đến phong tướng:

- SL 110 ngày 20/1/1948 phong đại tướng cho cụ Giáp: http://vbqppl.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=386.

- SL 111 ngày 20/1/1948 phong thiếu tướng cho cụ Hoàng Văn Thái, Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm: http://vbqppl.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=384.

- SL 112 ngày 20/1/1948 phong thiếu tướng cho cụ Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai: http://vbqppl.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=383.

- SL 115 ngày 25/1/1948 phong trung tướng cho cụ Nguyễn Bình: http://vbqppl.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=378.

- SL 117 ngày 25/1/1948 phong thiếu tướng cho cụ Trần Đại Nghĩa: http://vbqppl.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=377.

Trước đó thì đã tồn tại sắc lệnh số 185 do Chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng ký ngày 24/9/1946 cử Thiếu tướng Lê Thiết Hùng làm tổng chỉ huy quân tiếp phòng VN, tuy nhiên không rõ quyết định phong tướng chính thức là khi nào.
http://vbqppl.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=556

Có câu này khoai hơn: ai là người đầu tiên được phong tá? ;D


Tiêu đề: Re: Về những vị tướng đầu tiên của Việt Nam
Gửi bởi: lonesome trong 03 Tháng Tám, 2010, 12:44:48 am
Hic nhầm. Cụ Trần Đại Nghĩa cũng 1 phát lên Tướng luôn.


Tiêu đề: Re: Về những vị tướng đầu tiên của Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 03 Tháng Tám, 2010, 05:50:36 am
1.Cám ơn những thông tin bổ ích. Nhưng theo tôi chỉ giới hạn là từ 1945 lại đây và trong QĐNDVN thôi! Bởi thời PKTC ta đã có tướng rồi và VNCH cũng rất nhiều Tướng (có cả cấp Chuẩn tướng nữa cơ!).

2. Bên PLA từng tổng kết thành danh xưng "Bát Đại Nguyên soái", "Thập Đại tướng quân". Còn ta thì chưa thấy. Nhưng nên làm!

3. Có ai biết thông tin về những vị Tướng đầu tiên của các Quân, Binh chủng không? Theo tôi đó là những tướng lĩnh thực sự và đã để lại dấu ấn trong lịch sử nước ta 65 năm qua cũng như trong lòng các CCB!


Tiêu đề: Re: Về những vị tướng đầu tiên của Việt Nam
Gửi bởi: baoleo trong 03 Tháng Tám, 2010, 08:44:07 am
Có câu này khoai hơn: ai là người đầu tiên được phong tá? ;D
Cụ Vũ Đình Huỳnh, được phong đại tá, khi đi tháp tùng, làm cận vê cho Cụ Hồ, khi cụ Hồ đi thăm Pháp. Cũng chẳng có quyết định, chỉ có 1 câu dụ: "từ nay, chú là đại tá".
Baoleo biết có 2 cụ, thuộc loại "cán bộ vỗ vai".
- 1 là cụ đại tá trên
-2 là thiếu tướng Trần Danh, tục gọi là "ba Trần". Trong cuộc tổng kết mùng công sau giải phóng 75, đ/c Lê Duẩn hứng chí, vỗ đùi: công như của cậu (thực ra là của lực lượng biệt động), thì phải là cấp tướng.
Ngay lập tức, ba Trần tự phong cho mình là thiếu tướng  ::) Cho đến bây giờ, QĐ cũng ko có. Nhưng ba Trần lý luận: tất cả tướng, tá tại hội nghị đó, đều đã nghe có "khẩu dụ" trên  >:( >:( >:(


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: chiangshan trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:06:02 am
Thử làm 1 cái thống kê:

1. Vũ Văn Cẩn.
2. Trần Dụ Châu.
3. Phan Tử Lăng.
4. Lê Khắc.
5. Vũ Hiền.
6. Đào Văn Trường.
7. Hoàng Minh Thảo.
8. Lê Quảng Ba.
9. Thanh Phong.
10. Phạm Trinh Cán.

Đây là những người mà quân hàm đại tá đã xuất hiện chính thức trong các văn bản thời KCCP.

Ngoài ra:
- Nguyễn Dân (Ernest Frey).
- Song Hào: được phong đại tá trong thời gian đàm phán với Pháp sau ĐBP.
- Vương Thừa Vũ: được thăng từ Đại tá lên Thiếu tướng ngày 28/9/1954 (không rõ phong đại tá khi nào).
- Năm 1949 Nam Bộ có 7 người được phong đại tá, trong đó 1 người là cụ Lê Tâm. Hình như trong số này có Bảy Viễn.
- Một số sĩ quan người Nhật như Nguyễn Văn Thông (Ishii), Nguyễn Thanh Tâm (Saitoh)... có thể được phong hoặc được giữ nguyên cấp bậc khi tham gia QĐNDVN.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: chiangshan trong 03 Tháng Tám, 2010, 10:14:53 am
3. Có ai biết thông tin về những vị Tướng đầu tiên của các Quân, Binh chủng không? Theo tôi đó là những tướng lĩnh thực sự và đã để lại dấu ấn trong lịch sử nước ta 65 năm qua cũng như trong lòng các CCB!

Cái này rất hay, đề nghị trùm sò Lốp thống kê gấp ;D Có điều ta phải thống nhất trước tiêu chí "tướng đầu tiên của quân, binh chủng" là thế nào:
- Người đầu tiên đang phục vụ trong binh chủng được phong tướng.
- Người đầu tiên xuất thân từ binh chủng được phong tướng (lúc phong có thể có hoặc không ở binh chủng đó).
- TL đầu tiên của binh chủng được phong tướng (lúc phong có thể có hoặc không là TL hoặc ở binh chủng).
- TL đầu tiên của binh chủng được phong tướng (khi đang giữ chức vụ TL).
...


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Tám, 2010, 01:39:26 am
3. Có ai biết thông tin về những vị Tướng đầu tiên của các Quân, Binh chủng không? Theo tôi đó là những tướng lĩnh thực sự và đã để lại dấu ấn trong lịch sử nước ta 65 năm qua cũng như trong lòng các CCB!

Cái này rất hay, đề nghị trùm sò Lốp thống kê gấp ;D Có điều ta phải thống nhất trước tiêu chí "tướng đầu tiên của quân, binh chủng" là thế nào:
- Người đầu tiên đang phục vụ trong binh chủng được phong tướng.
- Người đầu tiên xuất thân từ binh chủng được phong tướng (lúc phong có thể có hoặc không ở binh chủng đó).
- TL đầu tiên của binh chủng được phong tướng (lúc phong có thể có hoặc không là TL hoặc ở binh chủng).
- TL đầu tiên của binh chủng được phong tướng (khi đang giữ chức vụ TL).
...

Thôi thì cứ tạm chấp nhận 2 trường hợp như thế này có được không hả các bác:

- Được phong tướng trước khi đến công tác tại Quân - Binh chủng nào đó.
- Được phong tướng trong thời gian công tác tại Quân - Binh chủng nào đó.

và đều là người đầu tiên trong Quân - Binh chủng đó mang quân hàm tướng.

Tuy nhiên, vẫn phức tạp. Ví dụ:

- Quân chủng Phòng không Không quân lúc tách lúc nhập thì tính làm sao?
- Hay lúc ban đầu nó không được tổ chức ở cấp Quân - Binh chủng, như Cục Pháo binh (tiền thân của Binh chủng Pháo binh), Cục Phòng thủ bờ biển (tiền thân của Quân chủng Hải quân), Ban nghiên cứu sân bay (không biết tính là tiền thân của Không quân hay là một trong những tiền thân của Phòng không Không quân)...





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Tám, 2010, 02:03:39 am
Trong 15 vị tướng của tỉnh Bình định ( thời điểm 2004 ), em mới có hình ảnh và tiểu sử của 5 vị. Còn lại 10 vị nữa chưa có thông tin. Bác nào biết thì cho em xin thông tin về tiểu sử và hình ảnh. Trân trọng cảm ơn trước các bác :
2-Trung tướng Lê An (quê: xã Hoài Hảo - huyện Hoài Nhơn).
3-Trung tướng Lê Thành Văn (quê: xã Phước Long - huyện Tuy Phước).
7-Thiếu tướng Võ Phi Hồng (quê: xã Tam Quan Nam - huyện Hoài Nhơn).
8-Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ (quê: xã Tam Quan - huyện Hoài Nhơn).
(http://img819.imageshack.us/img819/2355/thieutuonghuynhnghi.jpg)

9-Thiếu tướng Võ Đông Giang (quê: xã Mỹ Thọ - huyện Phù Mỹ).
(http://img717.imageshack.us/img717/6770/vodonggiang.jpg)

10-Thiếu tướng Phùng Đình Ấm (quê: xã Mỹ Lợi - huyện Phù Mỹ).
(http://img824.imageshack.us/img824/1834/thieutuongphungdinham.jpg)

11-Thiếu tướng Võ Nhân Huân (quê: xã Tam Quan - huyện Hoài Nhơn).
(http://img168.imageshack.us/img168/1483/chuandodoc.jpg)

12-Thiếu tướng Lê Lung (quê: xã Hoài Thanh - huyện Hoài Nhơn).
13-Thiếu tướng Lê Huẩn (quê: xã Nhơn Lộc - huyện An Nhơn).
15-Thiếu tướng Trần Công Thức (quê: xã Hoài Hảo - huyện Hoài Nhơn).

Vốn liếng của em chỉ có bấy nhiêu thôi. Thiếu tướng Võ Đông Giang thì em đã giới thiệu trong chủ đề này. Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ thì tiểu sử thời kháng chiến chống Pháp em chưa sưu tầm được cho nên chưa giới thiệu.



Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Duy Bi, Cục trưởng Cục Tác chiến Điện tử
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Tám, 2010, 04:53:54 pm
(http://img837.imageshack.us/img837/8803/thieutuongnguyenduybi.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Duy Bi (25.12.1940), từng giữ các chức vụ : Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 377, quyền Tham mưu trưởng – Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Phòng không, Cục trưởng – Bí thư Đảng ủy Cục Tác chiến Điện tử Bộ Tổng Tham mưu.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (10.1994).


Thiếu tướng Nguyễn Duy Bi sinh tại xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ ngày 12 tháng 4 năm 1963, được kết nạp vào Đảng ngày 16 tháng 11 năm 1964 (chính thức 16.11.1965).

Năm 1959, ông là Bí thư Chi đoàn, phó Ban Bình dân Học vụ xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, rồi theo học tại Trường Trung cấp Ngân hàng Trung ương ; 10.1960, phụ giáo Trường Ngân hàng tỉnh Hà Đông ; 4.1963, nhập ngũ, là chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 4 trực thuộc Bộ Tư lệnh Thủ đô ; 12.4.1963, chiến sĩ Đại đội 4, Trung đoàn 228B Bộ Tư lệnh Phòng không.

Tháng 5 năm 1965, ông là trắc thủ cự ly, tiểu đội trưởng chuyển Binh chủng Tên lửa Phòng không (1966), sĩ quan điều khiển tên lửa, trưởng xe YA Tiểu đoàn 64 Trung đoàn Tên lửa 236 Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1967, trưởng xe YA kiêm sĩ quan điều khiển tên lửa, đại đội phó rồi đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 64 Trung đoàn Tên lửa 236 Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1969, theo học lớp bổ túc cán bộ tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1971, được điều về làm trợ lý Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân cho đến tháng 9 thì được cử sang học Chỉ huy Kỹ thuật Tên lửa Phòng không tại Trường Cao đẳng Phòng không Ô-đéc-xa của Liên Xô.

Tháng 10 năm 1976, ông là trợ lý Phòng Quân binh chủng, Cục Nhà trưởng Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam ; 8.1979, chuyển sang làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 257 Sư đoàn Phòng không 369 Quân chủng Phòng không ; 9.1982, tiếp tục được cử qua Liên Xô theo học tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Vô-rô-si-lốp ; 9.1984, về nước, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 377 Quân chủng Phòng không rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn này (12.1987).

Tháng 9 năm 1989, ông theo học tại Học viện Chính trị Quân sự theo chương trình Học viện Nguyễn Ái Quốc ; 1.1990, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Thường vụ Đảng ụy Bộ Tham mưu Quân chủng phòng không ; 1991, quyền Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không ; 9.1992, về công tác tại Cục Tác chiến Điện tử Bộ Tổng Tham mưu, là Tổng cục trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy, và là Ủy viên Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu cho đến khi về hưu (7.2003).





Tiêu đề: Trung tướng Hán Vĩnh Tưởng, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng PKKQ
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Chín, 2010, 05:01:50 am
(http://img163.imageshack.us/img163/2702/trungtuonghanvinhtuong.jpg)

Trung tướng Hán Vĩnh Tưởng (12.8.1945) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Chính trị Quân chủng Không quân, Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng (2 Nhì, 3 Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Là phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 3 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 3 Huy hiệu Bác Hồ.

Thiếu tướng (10.1994), Trung tướng (2.2002).


Trung tướng Hán Vĩnh Tưởng quê tại xã Dị Nậu, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Ông nhập ngũ ngày 20 tháng 8 năm 1965, được kết nạp vào Đảng ngày 20 tháng 9 năm 1967 (chính thức 20.9.1968).

8.1965, chiến sĩ dự khóa bay Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân ; 9.1965, học lái máy bay YK-18 ở Trường Không quân 910 Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân Trung Quốc cho đến 9.1966 tiếp tục học lái máy bay MiG.17 ở đây ; 4.1968, về nước, là sĩ quan lái máy bay thuộc Trung đoàn Không quân 923 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ).

9.1972, sĩ quan lái may bay Trung đoàn Không quân 927 Quân chủng PKKQ; 10.1973, theo học bổ túc về Chính trị Trung cấp tại Tiểu đoàn 3 Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân ; 4.1974, chính trị viên bay Đại đội 9, Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371 Quân chủng PKKQ.

 2.1978, phó chính ủy Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371, Quân chủng Không quân (KQ) ; 9.1978, được cử đi học bổ túc tại Học viện Chính trị ; 5.1979, là phó chính ủy Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371 Quân chủng KQ ; 11.1979, phó trung đoàn trưởng về Chính trị Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371 Quân chủng KQ ; 1981, trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371 Quân chủng KQ ; 8.1982, theo học bổ túc tại Trường Trung cao Không quân ; 6.1983, phó chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng KQ.

10.1987, chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng KQ ; 10.1988, phó sư đoàn trưởng về Chính trị Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng KQ ; 5.1989, phó chủ nhiệm Chính trị Quân chủng KQ ; 10.1990, chủ nhiệm Chính trị Quân chủng KQ.

1.1992, theo học bổ túc hệ A, Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng ; 7.1992, chủ nhiệm Chính trị Quân chủng KQ ; 10.1994, hoàn thiện đại học tại Học viện Chính trị Quân sự ; 1.1995, chủ nhiệm Chính trị Quân chủng KQ ; 11.1996, phó Tư lệnh về Chính trị Quân chủng KQ ; 7.1999, phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.2001, phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng PKKQ cho đến khi về hưu tháng 1 năm 2005.





Tiêu đề: Thiếu tướng Mai Văn Cương, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Mười, 2010, 01:44:52 am
(http://img696.imageshack.us/img696/2998/thieutuongmaivancuong.jpg)

Thiếu tướng Anh hùng Mai Văn Cương (tên thường dùng : Mai Cương, 2.2.1941) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công (2 hạng Ba), Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 3 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 8 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 8 Huy hiệu Bác Hồ.

Được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 22 tháng 12 năm 1969 khi đang là thượng úy, đại đội phó Đại đội 1, Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (4.1998).


Thiếu tướng Mai Văn Cương quê xã Hoàng Đạo, huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Ông nhập ngũ ngày 28 tháng 3 năm 1959, được kết nạp vào Đảng ngày 23 tháng 8 năm 1964 (chính thức ngày 23 tháng 5 năm 1965).

3.1959, chiến sĩ Đại đội 11, Trung đoàn 68, Sư đoàn 304 ; 9.1959, học viên Trường Quân y Trung đoàn 57, Sư đoàn 304 ; 7.1960, y tá Đại đội 11, Trung đoàn 68, Sư đoàn 304 ; 7.1961, trúng tuyển đi học lái may bay MiG.17 tại Trường Không quân Liên Xô.

10.1964, sĩ quan lái máy bay của Trung đoàn Không quân 921, Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 9.1965, tiếp tục được cử đi học lái máy bay MiG.21 tại Trường Không quân Liên Xô ; 6.1966, sĩ quan lái máy bay, Trung đoàn Không quân 921, Quân chủng PKKQ ; 5.1968, trung đội trưởng rồi đại đội phó Đại đội 1 Trung đoàn Không quân 921 trực thuộc Bộ Tư lệnh Không quân (KQ), Quân chủng PKKQ.

7.1970, đại đội trưởng Đại đội 1, Trung đoàn Không quân 921 ; 2.1972, trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921 ; 7.1975, trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371 Quân chủng PKKQ.

8.1977, được cử đi học tại Học viện Chính trị Quân sự ; 7.1978, trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371, Quân chủng KQ ; 9.1978, theo học bổ túc tại Học viện Không quân Ga-ga-rin (Liên Xô).

6.1979, phó tư lệnh Sư đoàn Không quân 370 Quân chủng KQ ; 7.1981, sư đoàn phó Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng KQ ; 1.1983, phó tham mưu trưởng Quân chủng KQ ; 10.1983, sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng KQ.

10.1990, theo học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1991, phó tham mưu trưởng Quân chủng KQ ; 12.1997, phó tư lệnh Quân chủng KQ ; 7.1999, phó tư lệnh Quân chủng PKKQ cho đến khi nghỉ hưu (2006).






Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Ngọc Hưng, nguyên Tư lệnh Quân khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Mười, 2010, 06:39:16 pm
Thiếu tướng Phạm Ngọc Hưng (bí danh : Năm Hải, 1918 – 6.11.1999), từng giữ chức vụ : Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Vĩnh Long, Tham mưu phó Quân khu 3, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 338, Tham mưu phó kiêm Trưởng Phòng Dân quân Bộ Tư lệnh miền, Tư lệnh Quân khu 9, Phó Tư lệnh Quân khu 9 (sau khi sát nhập với Quân khu VIII).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc, Huy hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Phạm Ngọc Hưng sinh tại xã Quới An, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Cha ông là cụ Phạm Văn Huyên và mẹ ông là bà Nguyễn Thị Hiền đều là những điền chủ nhỏ. Dù kinh tế gia đình lúc đó đang suy sụp, ông vẫn được cha mẹ gửi lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký (nay là Trường Lê Hồng Phong, thành phố Hồ Chí Minh).

Học đến năm thứ tư, kinh tế gia đình không đủ sức bảo đảm cho con đường học vấn nữa, ông chuyển sang học lớp kế toán thương mại 3 tháng để đi làm. Năm 20 tuổi, ông được nhận làm thư ký cho một thương gia chuyên buôn bán phụ tùng máy xay lúa ở Sài Gòn. Công việc đang trôi chảy thì năm 1940, ông bị gọi đi lính và vào học Trường Sĩ quan dự bị quân đội Pháp ở Thủ Dầu Một. Ra trường, ông được sung vào một đơn vị bộ binh. Tuy là sĩ quan phục vụ trong bộ máy thực dân Pháp, nhưng nhờ tính tình ngay thẳng, lòng thương người, thông cảm nỗi khổ của cuộc đời lính thuộc địa, ông được binh lính dưới quyền cảm phục, yêu mến. Vì những lẽ đó, ông thường bị quan trên nghi ngờ và bị thuyên chuyển qua nhiều đơn vị khác nhau, và cuối cùng vào năm 1943 được giải ngũ.

Trở lại Sài Gòn, cả năm trời vẫn không tìm được việc làm, vì không muốn xin tiền gia đình, ông dạy thêm cho con người cậu cho tới cuối năm 1944 thì trở về quê. Lúc này ở Vũng Liêm, phong trào cách mạng của quần chúng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đang phát triển mạnh. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9/3/1945), ông gia nhập đội Thanh niên Tiền phong xã Quới An. Ngày 25/8/1945, ông có mặt trong lực lượng Thanh niên Tiền phong cùng nhân dân kéo lên tỉnh giành chính quyền. Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử làm huấn luyện viên cho bộ đội vừa mới được thành lập.

Ngày 29/10/1945, quân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, ông chỉ huy và tham gia một số trận đánh, thu được một số vũ khí. Vì lực lượng ta mới thành lập, chưa đủ sức cầm cự lâu dài nên buộc phải rút dần khỏi thị xã. Sau khi Chỉ huy trưởng bộ đội Vĩnh Long hy sinh, ông được Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh chỉ định làm Chỉ huy trưởng bộ đội tỉnh Vĩnh Long.

Để bảo toàn lực lượng phục vụ kháng chiến lâu dài, theo lệnh trên, cuối năm 1945, ông cùng đơn vị rút về vùng Đồng Tháp Mười. Khi Đại đội 1 (panphilov : quân số tương đương tiểu đoàn bây giờ), Quân khu 9 được thành lập, ông được cử giữ chức Đại đội trưởng. Đại đội hoạt động được một tháng thì Trung đội (panphilov : quân số tương đương đại đội bây giờ) Trà Vinh được cấp trên điều động đi nhận nhiệm vụ khác. Ông tiếp tục chỉ huy hai trung đội của tỉnh Vĩnh Long còn lại, đánh địch trong địa bàn Quân khu. Đến tháng 5/1946, theo chủ trương của trên, ông cùng đơn vị được lệnh trở về tỉnh xây dựng lại cơ sở. Cuộc hành quân bằng đường bộ kéo dài một tháng trời, băng qua nhiều vùng tạm chiếm ở Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ bí mật và an toàn trở về quê hương.

Tháng 12/1946, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là vào Đảng Cộng sản Việt Nam). Khi Quân khu 8 thành lập Chi đội 20 (panphilov : quân số tương đương trung đoàn bây giờ), ông được cử làm Chi đội phó. Nửa năm sau, Chi đội 20 giải tán, Quân khu thành lập Trung đoànTrung đoàn 111 - Vĩnh Long. Ông được trên cử về giữ chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 111, sau đó làm Trung đoàn trưởng vào cuối năm 1947. Năm 1948, thực dân Pháp mở rộng chiến trường Đông Dương, đưa thêm nhiều đơn vị lính lê dương vào hòng tái chiếm các vùng giải phóng. Ông đã chỉ huy Trung đoàn đánh phục kích, thu nhiều vũ khí và một số xe quân sự Pháp.

Năm 1949, Quân khu thành lập Liên Trung đoàn 109 – 111, ông là Liên Trung đoàn phó. Liên Trung đoàn đánh địch đạt hiệu quả khá trên chiến trường Cầu Kè cuối năm 1949 và thắng lớn trên chiến trường Trà Vinh đầu năm 1950. Khi Liên Trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ, giải thể để thành lập Trung đoàn Cửu Long, ông được phân công làm Trung đoàn phó. Khi Trung đoàn Cửu Long rút về Trà Vinh (để lại ở Vĩnh Long Tiểu đoàn 312), ông được lệnh ở lại làm Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Vĩnh Long. Sau đó, Bộ Tư lệnh Miền điều động ông Phạm Ngọc Hưng về làm Tham mưu phó Phân Liên khu miền Tây.

Tháng 6/1951, tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh được sát nhập thành tỉnh Vĩnh Trà, trực thuộc Phân Liên khu miền Tây. Tỉnh đội Vĩnh Trà cũng được thành lập do ông Lê Quốc Sản làm Tỉnh đội trưởng, ông giữ chức Tỉnh đội phó kiêm Ủy viên Ban chấp hành Tỉnh bộ. Đầu năm 1953, ông đi học lớp chỉnh Đảng ở Liên khu 5, rồi được Xứ ủy Nam bộ cử đi học 3 tháng rồi ra Bắc học tập kinh nghiệm đánh du kích trên tuyến đường 5 Hà Nội – Hải Phòng.

Năm 1954, sau khi dự lớp tổng kết chiến dịch Điện Biên phủ, ông được cấp trên cử đi học lớp nghiên cứu chiến đấu về tấn công – phòng ngự theo “chính quy chiến” do chuyên gia Trung Quốc giảng dạy. Mãn lớp học, ông được điều về Trung đoàn 660 miền Nam thuộc Quân khu 3 làm Trung đoàn trưởng. Năm 1960, Lữ đoàn 338 thành lập, ông được điều về làm Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Lữ đoàn. Khi Bộ Quốc phòng thành lập Sư đoàn 338 năm 1961, ông được điều về làm Tham mưu phó Quân khu 3. Đến năm 1963, ông được điều trở về Sư đoàn 338 làm Sư trưởng.

Tháng 5/1965, ông được trên điều vào chiến trường miền Nam. Khi vào đến Bộ Tư lệnh Miền, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 9, Đảng ủy viên Quân khu với nhiệm vụ chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích, đưa phong trào lên cao như trước năm 1964, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực hoạt động chủ động hơn. Chỉ sau 2 năm, Quân khu đã nhanh chóng khôi phục được phong trào khá vào năm 1967.

Năm 1969, Bộ Tư lệnh Miền rút ông về làm Tham mưu phó Miền kiêm Trưởng phòng Dân quân của Bộ Tư lệnh Miền. Năm 1971, sau khi 2 Phó Tư lệnh Quân khu 9 Ba Mai (panphilov: tức ông Nguyễn Hoài Pho kiêm Tham mưu trưởng) và Hai Đức hy sinh, ông được điều động trở lại làm Phó Tư lệnh Quân khu 9. Cùng với Tư lệnh, ông đã góp phần xây dựng lực lượng quân khu, tăng cường sức chiến đấu của các đơn vị chủ lực cũng như sự phối hợp linh hoạt với các lực lượng địa phương quân của các tỉnh. Cuối năm 1973, Tư lệnh Quân khu 9 được điều về Bộ Quốc phòng Miền, ông Phạm Ngọc Hưng lên thay, làm Tư lệnh Quân khu 9. Ông cũng được bầu làm Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 9.

Hòa bình lập lại. Trung ương và Bộ Quốc phòng sát nhập Quân khu 8 và Quân khu 9 thành Quân khu 9. Thiếu tướng Phạm Ngọc Hưng được cử giữ chức Phó Tư lệnh. Đầu năm 1976, khi bàn giao Tư lệnh Quân khu cho ông Sáu Nam (panphilov: tức tướng Lê Đức Anh), trên cương vị Phó Tư lệnh Quân khu, ông đi chỉ đạo Sư đoàn 8 và Sư đoàn 4 làm nhiệm vụ kinh tế. Do tuổi cao, sức khỏe sút giảm, năm 1983, ông nghỉ dưỡng bệnh và sau đó được giải quyết chính sách nghỉ hưu. Ông về sống với gia đình tại Phường An Thới – thành phố Cần Thơ. Ngày 6/11/1999, mùng 9 tháng mười năm Kỷ Mão, do bệnh nặng, Thiếu tướng Phạm Ngọc Hưng từ trần, thọ 81 tuổi.

Trích lược theo Truyền hình Vĩnh Long






Tiêu đề: Thiếu tướng Vũ Thành, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Mười, 2010, 08:51:22 pm
(http://img35.imageshack.us/img35/34/thieutuongvuthanh.jpg)


Thiếu tướng Vũ Thành (tên thật : Phạm Quốc Chiền, 1.5.1928 – 10.7.1921), từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục Phòng không Bộ Tư lệnh 559 (Bộ đội Trường Sơn), Tham mưu phó Bộ Tư lệnh 559, Cục trưởng Cục Tác chiến – Huấn luyện Bộ Tư lênh 559, Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 4, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu, Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần, Thường trực Tổng cục Hậu cần khu vực phía Nam.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba),  Huân chương Ăng-co hạng Nhất, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 năm và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1984).


Thiếu tướng Vũ Thành nhập ngũ tháng 12 năm 1946, được kết nạp Đảng tháng 4 năm 1946 (chính thức tháng 11 năm 1946).

Ông sinh ra tại thông La Tiến nay thuộc xã Nguyên Hòa, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình nông dân nghèo có 8 anh em.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra, ông tham gia phong trào đấu tranh của nhân dân, giành và giữ chính quyền tại quê hương, phụ trách công tác thiếu nhi của huyện Phù Cừ rồi tỉnh Hưng Yên. Toàn quốc kháng chiến, tháng 12 năm 1946, ông được điều động vào Quân đội giữ chức vụ Trung đội phó bộ đội địa phương huyện Phù Cừ.

Tháng 6.1947, Chính trị viên Huyện đội Phù Cừ kiêm Bí thư Huyện ủy ; 8.1948, tham gia công tác huấn luyện tại khóa học về phản công của tỉnh Hưng Yên ; 11.1950, Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên Đại đội địa phương huyện Phù Cừ, đồng thời là Chính trị viên Huyện đội ; 3.1952, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 352 trực thuộc Tỉnh đội Hưng Yên ; 8.1953, Chính trị viên Tiểu đoàn 352 rồi Tiểu đoàn 58 Tỉnh đội Hưng Yên ; 11.1953, Tiểu đoàn trưởng các Tiểu đoàn 58 và 54 kiêm Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hưng Yên ; 7.1954, tham gia Ủy ban Liên hiệp đình chiến Bắc Bộ với tư cách là sĩ quân liên lạc ; 9.1954, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Kiến An.

Tháng 5 năm 1955, ông là Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Trung đoàn 42 Sư đoàn 328 ; 7.1957, Tham mưu trưởng Trung đoàn 2 Sư đoàn 465 ; 5.1958, Tham mưu trưởng Trung đoàn Pháo cao xạ 218 trực thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 2.1960, được cử đi học bổ túc cao xạ tại Trường Sĩ quan Pháo binh ; 10.1960, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo cao xạ 224 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 6.1961, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo cao xạ 218 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 2.1963, học pháo cao xạ tại Trung Quốc.

Trở về nước, tháng 10 năm 1965, ông tiếp tục giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo cao xạ 224 lúc này trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1966, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 285 Quân chủng PKKQ ; 6.1967, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 263 Quân chủng PKKQ rồi tiếp tục theo học nâng cao tại Liên Xô.

Tháng 3 năm 1968, sau khi về nước, ông được đề bạt giữ chức vụ Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng (10.1969) Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng PKKQ ; 4.1971, vào làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục Phòng không Bộ Tư lệnh 559 (Bộ đội Trường Sơn) ; 8.1973, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh 559 ; 6.1974, Cục trưởng Cục Tác chiến Huấn luyện Bộ Tư lệnh 559.

Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 3 năm 1976, ông về lại Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân nhận công tác rồi đến tháng 10 năm này được điều vào làm Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 4 rồi Chủ nhiệm (2.1977) ; 8.1980, Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Tổng cục Hậu cần ; 12.1983, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, theo học bổ túc tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 6 năm 1987, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Tham mưu trưởng (cho đến tháng 12 năm 1987) ; 5.1988, là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, phụ trách thường trực khu vực phía Nam cho đến khi nghỉ hưu (1.10.1990).







Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Minh Phú, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Mười Một, 2010, 10:35:04 pm
(http://img220.imageshack.us/img220/3384/thieutuongtranminhphu.jpg)

Thiếu tướng Trần Minh Phú (Sáu Phú, tên thật Trần Văn Nhiên, 1930 - 2003), từng giữ các chức vụ: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 8 Bộ Binh, Tham mưu trưởng Mặt trận 979, Phó Tư lệnh Quân khu 9.

Thiếu tướng (1988).


Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 2 năm 1947 và được kết nạp vào Đảng ngày 19 tháng 8 năm 1947.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu tại chiến trường miền Tây Nam Bộ. Năm 1954, tập kết ra Bắc, theo học tại Trường Sĩ quan Lục quân, rồi Pháo binh.

Tháng 5 năm 1960, ông lên đường vượt Trường Sơn trở về Nam chiến đấu tại chiến trường Khu 8, lần lượt được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn phó thứ nhất rồi Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 Anh hùng.

Sau khi Hiệp định Paris được kí kết, ông được cử ra Bắc theo học tại Học viện Quân sự (nay là Học viện Quốc phòng). Năm 1974, khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn cuối, ông được lệnh trở về miền Nam trên cương vị Sư đoàn phó Sư đoàn 8 Bộ binh. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên cương vị Sư đoàn trưởng, ông cùng Sư đoàn 8 tham gia giải phóng căn cứ Đồng Tâm, cắt đứt Đường 4, không cho địch từ miền Tây lên ứng cứu cho Sài Gòn và không cho địch từ Sài Gòn chạy về miền Tây cố thủ.

Năm 1979, ông tham gia chiến đấu tại biên giới Tây Nam, làm Tham mưu trưởng Mặt trận 979. Sau khi trở về nước, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 9 cho đến khi về hưu.





Tiêu đề: Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên
Gửi bởi: trantrung trong 15 Tháng Mười Một, 2010, 11:52:16 pm
(http://admm.org.vn:6789/Advertisement/1/anh-tintucsukien/99991.jpg)
Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên, sinh ngày 23/1/1951; tại xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ; thường trú tại số nhà 149 Nguyễn Khang, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

-Tháng 7/1969: Đồng chí nhập ngũ vào Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 305 Đặc công.

-Từ tháng 1/1971 đến tháng 3/1976: Đồng chí giữ chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng, Trợ lý tác huấn Trung đoàn 48, Sư đoàn 320, chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị. Tháng 4/1972, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

-Từ tháng 4/1976 đến tháng 3/1982: Được cử đi học tại Trường Quân chính Quân đoàn 1, sau đó đồng chí được giao các nhiệm vụ: Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48; Tham mưu phó, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn 48, Sư đoàn 390, Quân đoàn 1.

-Từ tháng 4/1982 đến tháng 12/1982: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48, Sư đoàn 390, Quân đoàn 1.

-Từ tháng 1/1983 đến tháng 6/1985: Đồng chí được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quóc phòng).

-Từ tháng 7/1985 đến tháng 7/1988: Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 390, Quân đoàn 1.

-Từ tháng 8/1988 đến tháng 7/1991: Phó Sư đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 390, Quân đoàn 1.

-Từ tháng 8/1991 đến tháng 1/1996: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 390 và Sư đoàn 312, Quân đoàn 1.

-Từ tháng 2/1996 đến tháng 11/1997: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1.

-Từ tháng 12/1997 đến tháng 7/1998: Tư lệnh Quân đoàn 1.

-Từ tháng 8/1998 đến tháng 4/2001: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2.

-Từ tháng 5/2001 đến tháng 9/2002: Tư lệnh Quân khu 1.

-Từ tháng 10/2002 đến tháng 11/2004: Tư lệnh Quân khu 5.

-Tháng 12/2004: Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam .

-Từ tháng 8/2006: Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam , Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1998, Trung tướng năm 2002, Thượng tướng năm 2007.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) và lần thứ X (tháng 4/2006), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là đại biểu Quốc hội khóa XII.

Do có nhiều công lao và thành tích đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Quân đội, đồng chí đã được tặng thưởng: Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Campuchia; Huy chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên đã từ trần vào hồi 16 giờ 50 phút ngày 13/11/2010 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Ngày 15/11, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam và gia đình đã ra tin buồn về việc đồng chí Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên từ trần.

Sau một thời gian lâm bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước, Quân đội, gia đình và các tập thể giáo sư, bác sĩ trong nước và quốc tế hết lòng tận tình chăm sóc, cứu chữa, song do bệnh nặng, đồng chí đã từ trần vào hồi 16 giờ 50 phút, ngày 13/11/2010 (tức ngày 8 tháng 10 năm Canh Dần), tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Để tỏ lòng thương tiếc và ghi nhận những công lao, cống hiến của đồng chí Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định tổ chức lễ tang đồng chí Nguyễn Khắc Nghiên với nghi thức lễ tang cấp Nhà nước.

Lễ viếng bắt đầu từ 7 giờ 30 phút ngày 17/11/2010 tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ truy điệu vào hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày. Lễ an táng đồng chí Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.

XIN BÀY TỎ LÒNG TIẾC THƯƠNG ĐỐI VỚI MỘT VỊ TƯỚNG TÀI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM KHI ÔNG RA ĐI QUÁ ĐỘT NGỘT


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: dinhba trong 02 Tháng Giêng, 2011, 08:23:49 pm
Kính thưa các bác.

Các bác đi nhiều, hiểu rộng các bác làm ơn cho em hỏi có phải Thiếu tướng Phùng thế Quảng có phải con cụ Phùng thế Tài không ạ.

Thiếu tướng Chu công Phu có phải con cụ Chu duy Kính không.

Em xin cảm ơn các bác, chúc các bác sang năm mới An khang - Thịnh vượng!
Chúc QSVN ngày càng phát triển!


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Việt Nam
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Giêng, 2011, 04:16:50 am
Không hiểu bác lấy thông tin ở đâu, và cũng không hiểu tại sao bác lại quan tâm. Xin trả lời như sau:

...các bác làm ơn cho em hỏi có phải Thiếu tướng Phùng thế Quảng có phải con cụ Phùng thế Tài không ạ.
Đúng

Thiếu tướng Chu công Phu có phải con cụ Chu duy Kính không...
Không đúng và cũng không phải là con của một vị tướng nào.


Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Hoài Chương, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy QuS Bình Thuận
Gửi bởi: panphilov trong 16 Tháng Giêng, 2011, 07:15:35 am
(http://img221.imageshack.us/img221/2739/thieutuongphamhoaichuon.gif)

Thiếu tướng Phạm Hoài Chương (bí danh: Sáu Nam, 17.07.1927 - 08.11.2007), sinh tại xã Chợ Lầu, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, từng giữ các chức vụ: Khu Ủy viên Khu 6, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Thuận. Ngoài ra ông còn từng là: Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Bình Thuận, Đại biểu Quốc hội khóa 8.

Huân Chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Hai, Huân chương chiến công (2 hạng Hai, 1 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Tiêu đề: Thiếu tướng Vũ Yên, nguyên Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Lục quân
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Giêng, 2011, 11:02:53 pm
(http://img684.imageshack.us/img684/2871/thieutuongvuyen.jpg)

Thiếu tướng Vũ Yên (Nguyễn Văn Tịch, 1919 – 1979) từng giữ các chức vụ : Phó Giám đốc Học viện Quân chính, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308, Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn, Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Lục quân.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ (hạng Nhất), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)…

Thiếu tướng 1974.


Ông quê phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trước Cách mạng từng làm thợ nguội tại các hãng A.V.I.A.T và S.T.A.T, đồng thời là một vận động viên bơi lội có tiếng. Thiếu tướng Vũ Yên tham gia Cách mạng từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.

Trong Cách mạng tháng 8, ông vào tự vệ chiến đầu thành Hoàng Diệu. Được cử đi học tại Trường Quân chính Bắc Sơn, kết thúc khóa học, tháng 1 năm 1946, ông được cử về Hà Nội làm trung đội trưởng Vệ Quốc đoàn (thời kỳ này, quân số một trung đội tương đương một đại đội bây giờ cho nên trong một số tài liệu người ta vẫn ghi vào thời điểm trước khi thành lập Trung đoàn Thủ đô, ông là cán bộ đại đội).

Trước và trong khoảng thời gian Toàn quốc kháng chiến, ông chỉ huy quân sự (tự vệ và Vệ quốc đoàn) ở Phân khu Đông Thành (Hà Nội). Ngày 7 tháng 1 năm 1947, Trung đoàn Thủ đô được thành lập, ông là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 102 (Tiểu đoàn Đông Thành). Từ năm 1949 đến 1954, ông lần lượt là Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thủ đô (Đại đoàn Quân tiên phong) tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ rồi về tiếp quản Thủ đô.

Hòa bình lập lại, ông là Đại đoàn phó Đại đoàn 308 rồi được cử đi học ở nước ngoài. Về nước, từ tháng 3 năm 1964 đến 1967, ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân, Phó Giám đốc Học viện Quân chính rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308.

Tháng 1 năm 1969, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn. Thiếu tướng Vũ Yên quay về làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân từ tháng 12 năm 1977 cho đến lúc mất (1979).

Thiếu tướng Vũ Yên chính là nguyên mẫu của nhân vật Trung đội trưởng Vi Dân trong tác phẩm nổi tiếng « Sống mãi với Thủ đô » của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: chiangshan trong 28 Tháng Giêng, 2011, 11:05:15 pm
Thiếu tướng Vũ Yên chính là nguyên mẫu của nhân vật Trung đội trưởng Vi Dân trong tác phẩm nổi tiếng « Sống mãi với Thủ đô » của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.

Hơi lạc đề tí, bác Lốp có biết ai là nguyên mẫu của nhân vật Hồng Lưu không ạ?


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Giêng, 2011, 06:49:31 am
Thiếu tướng Vũ Yên chính là nguyên mẫu của nhân vật Trung đội trưởng Vi Dân trong tác phẩm nổi tiếng « Sống mãi với Thủ đô » của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.

Hơi lạc đề tí, bác Lốp có biết ai là nguyên mẫu của nhân vật Hồng Lưu không ạ?

Cái này thì đúng là chịu vì thông tin ít về quê quán, ngoại hình (...) ít quá. Ngay cả nhân vật Chính trị viên đại đội Nguyễn Gia Định cũng không phải là Anh hùng Lê Gia Đỉnh.


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Thế Môn, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:44:14 pm
(http://img194.imageshack.us/img194/4257/thieutuongtranthemon.jpg)


Thiếu tướng Trần Thế Môn (1915 – 19h 12.12.2009) từng giữ các chức vụ : Chính ủy Binh chủng Công binh, Chính ủy Quân khu Tây Bắc, Phó Chính ủy Quân khu 4, Chính ủy Mặt trận B3 (Tây Nguyên), Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương.

Ngoài ra ông còn từng giữ chức vụ : Phó Chánh án Tòa án Nhân dâp cấp cao.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng 1974.


Thiếu tướng Trần Thế Môn sinh tại xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Do hoàn cảnh gia đình, 18 tuổi (1938), ông thoát ly ra đình xuống Hải Phòng làm thợ (sửa chữa tầu thủy, toa xe lửa). Đầu tiên ông làm thợ gò, rèn cho xưởng Xô-va-giơ, một xưởng cơ khí sửa chữa tàu thủy, rồi chuyển sang nghề hàn. Với tính chịu khó và thông minh, ông được các thợ bậc cao mến phục và truyền nghề. Sau một thời gian học hỏi và tự mày mò, ông không thua kém gì những người thợ làm lâu năm và đạt được trình độ hàn xi-lanh, một kĩ thuật rất khó đòi hỏi độ chính xác và độ khéo léo cao.

Năm 1936, ông bắt đầu tham gia cách mạng ở thành phố Hải Phòng. Năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt trong lúc đang cùng anh em công nhân đấu tranh đòi tăng lương, giảm thuế; tháng 11 năm 1940, ông được ông Lương Khánh Thiện, Xứ ủy viên phụ trách miền duyên hải (Hải Phòng, Quảng Yên, Hòn Gai) chính thức tuyên bố kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đầu tháng 1 năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai, lần này, và đưa về giam tại Hà Nội. Trước Tòa án binh của thực dân Pháp, ông cùng các đồng chí của mình giữ vững khí tiết cách mạng, phản bác lại những lời cáo buộc của kẻ thù. Tòa Đại hình Pháp kết án ông 10 năm tù khổ sai. Tháng 7 năm 1941, thực dân Pháp đày ải tù cộng sản lên Nhà tù Sơn La. Đây là vùng ma thiêng, nước độc, kẻ thù muốn dùng sự khổ cực, đói rét, bệnh tật để giết hại anh em tù cộng sản. Đầu năm 1943, thực dân Pháp phân tán số bị giam giữ ở nhà tù Sơn La đi các nhà tù khác, hơn 100 người (trong đó có ông) bị đưa về nhà tù Chợ Chu, Thái Nguyên. Hơn một năm ở ngục tù Chợ Chu là thời gian đấu tranh quyết liệt với kẻ địch. Đầu năm 1944, chi bộ nhà tù Chợ Chu quyết định 12 đảng viên, cán bộ cách mạng (Song Hào, Tạ Xuân Thu, Lê Trung Đỉnh, Trần Công Bình, Chu Nhữ, Lê Hiến Mai, Vũ Phong, Nhị Quý, Trần Tùng, Hoàng Bá Sơn, Nguyễn Kháng, Trần Thế Môn) vượt ngục trở về với Đảng, bổ sung lực lượng cho Phân khu Nguyễn Huệ.

Ngày 2 tháng 10 năm 1944, sau khi vượt ngục, ông được Đảng phân công về tăng cường cho Cứu quốc quân III, hoạt động ở khu vực Chợ Chu (Định Hóa), Đại Từ (Thái Nguyên), Sơn Dương và Yên Sơn (Tuyên Quang), thuộc Phân khu Nguyễn Huệ và sau đó tham gia vào đội quân chủ lực của cách mạng. Trong thời gian này, ông cùng đồng bào các dân tộc tham gia khởi nghĩa Thanh La. Chỉ trong một ngày đêm 10 tháng 3 năm 1945, toàn bộ chính quyền tay sai bị dẹp tan, chính quyền cách mạng được thành lập. Khởi nghĩa Thanh La và Sơn Dương được coi là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi sớm trên toàn quốc, mở đầu cho phong trào khởi nghĩa từng phần, tiến tới khởi nghĩa trên một vùng rộng lớn từ Yên Sơn, Na Hang, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) và Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên)… hình thành một vùng giải phóng rộng lớn nối liền với Chợ Đồn, Phủ Thông (Bắc Kạn), khu vực này sau đó vinh dự được Bác Hồ, Trung ương Đảng chọn làm Khu giải phóng Việt Minh, với Châu Tự Do (Sơn Dương, Tuyên Quang) làm trung tâm và Tân Trào trở thành Thủ đô cách mạng của cả nước.

Tháng 5 năm 1945, ông nhận nhiệm vụ từ ông Song Hào, nghiên cứu trận địa tại Đèo Chắn để chặn đánh quân Nhật, không cho chúng tiến vào Tân Trào, nơi Bác Hồ mới chuyển từ Cao Bằng xuống để tiện chỉ đạo phong trào cách mạng. Với chỉ khoảng 20 người, ông và các đồng chí của mình đã chỉ huy bố trí lực lượng tại đèo Chắn, bẻ gãy cuộc càn của địch, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an toàn Tân Trào, bảo vệ được Trung ương Đảng và Bác Hồ.

Trong những ngày Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông phụ trách một đội quân tham gia giành chính quyền ở thị xã Tuyên Quang. Từ đêm 17 đến 21 tháng 8 năm 1945, các lực lượng vũ trang đã phối hợp chặt chẽ với nhau, tiến đánh các đồn bốt, trại bảo an và đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, thị xã Tuyên Quang hoàn toàn giải phóng. Thời gian tiếp theo, ông được điều động đi nhiều đơn vị, làm Chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang tỉnh Phú Thọ. Tại đây, ngày 30 tháng 8 năm 1945, ông tham gia thành lập Chi đội giải phóng quân Trần Quốc Toản (Phú Thọ) và trực tiếp làm Chi đội trưởng. Đây là một trong những trung đoàn ra đời sớm của quân đội ta. Tháng 9 năm 1945, theo Chỉ thị của Bộ tư lệnh Chiến khu I, hợp nhất Trung đoàn Âu Cơ (Yên Bái) và Chi đội Trần Quốc Toản thành Trung đoàn 81 Phú Yên (Phú Thọ-Yên Bái), ông được giao nhiệm vụ làm Trung đoàn trưởng.

Đến tháng 4 năm 1946, ông nhận nhiệm vụ làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Bắc-Bắc, cũng là đơn vị hợp nhất của Bắc Ninh và Bắc Giang. Tháng 10 năm 1946, ông được điều về Trung đoàn 115 Phú Yên làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn. Trung đoàn có nhiệm vụ đánh quân địch ở phía tây tỉnh Yên Bái, ngăn không cho địch từ Sơn La đánh sang, bảo vệ sườn phía tây Việt Bắc và tạo điều kiện cho hậu phương chuẩn bị chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Trung đoàn 15 là đơn vị khởi đầu tham gia đánh thực dân Pháp ở miền Tây Tổ quốc khi chúng từ Bắc Lào xâm nhập vào.

Sau thời kỳ này, tháng 1 năm 1948, ông làm việc ở Tổng Thanh tra quân đội; tháng 2 năm 1950, ông làm Phó đoàn thanh tra của Bộ Tổng tư lệnh đi kiểm tra Nam Bộ. Sau đó ông về công tác ở Cục Dân quân.

Năm 1956, ông làm Chính ủy Cục Công binh. Sau đó ông trở lại Sơn La lần thứ hai với cương vị là Chính ủy Quân khu Tây Bắc, rồi vào làm Phó chính ủy Quân khu 4.

Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), ngoài 50 tuổi, ông được giao nhiệm vụ trở lại chiến trường. Tháng 8 năm 1966, ông vào chiến trường và nhận quyết định công tác ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Tháng 10 năm 1967, ông được phân công làm Chính ủy Mặt trận B3 (Tây Nguyên) thay ông Chu Huy Mân về Khu 5 nhận công tác mới. Ông Hoàng Minh Thảo lúc này đang là Tư lệnh Mặt trận. Gần 7 năm ở chiến trường (đến tháng 12-1973), ông đã cùng các lãnh đạo trong Bộ tư lệnh Mặt trận B3 lãnh đạo, chỉ huy các chiến dịch Đắc Tô-Tân Cảnh (1967), Đắc Tô II (1969); Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968; Chiến dịch Thu Đông 1968 và Xuân Hè 1969; Chiến dịch Đông Xuân năm 1970, Chiến dịch tiến công chiến lược năm 1972…

Đầu năm 1974, ông trở lại làm Chính ủy Binh chủng Công binh lần thứ hai. Năm 1977, ông được điều về Tòa án quân sự Trung ương làm Chánh án đồng thời là Phó Chánh án Toàn án Nhân dân tối cao cho đến khi về hưu, năm 1979.

Theo Báo Quân đội Nhân dân (online), Bạn Trỗi





Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Thanh Bình, Ủy viên Bộ Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 13 Tháng Hai, 2011, 07:20:48 am
(http://img593.imageshack.us/img593/8104/nguyenthanhbinh.jpg)


Thiếu tướng Nguyễn Thanh Bình (tên thật : Nguyễn Văn Huyên, bí danh : Giáo, Bình, 4.5.1920 – 19.3.2008) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục Quân nhu, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời rồi Ủy ban Hành chính tỉnh Bắc Giang, Bộ trưởng Bộ Nội thương, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng 1959.


Ông quê tại xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, tham gia Cách mạng năm 1938 và được kết nạp vào Đảng tháng 5 năm 1939.

Tháng 5/1940 đến tháng 9/1940, ông là Thành ủy viên Thành ủy Hải Phòng, bị địch bắt và giam tại Nhà tù Hòa Bình ; Năm 1945, ra tù, ông phụ trách đội du kích, hoạt động ở Bắc Giang, Thái Nguyên; Sau đó được điều về phụ trách lớp huấn luyện cán bộ cấp huyện của hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Sau lớp huấn luyện trên, ông được điều về tham gia Tỉnh ủy Bắc Giang, tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang, trực tiếp phụ trách phong trào ở các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Hữu Lũng, Lạng Giang. Đến tháng 8/1945, ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời rồi Ủy ban Hành chính tỉnh Bắc Giang.


Tháng 10/1946, ông làm đại diện Ủy ban Hành chính khu Bắc Bộ tại Khu 12, kiêm Ủy viên hành chính trong Kháng chiến hành chính Khu 12. Đến tháng 6-1947, ông giữ chức Khu ủy viên Khu 12. Từ năm 1949 đến năm 1950, ông được Trung ương điều về giữ chức Ủy viên Ban Thanh tra Trung ương, sau đó giữ chức Cục trưởng Cục Quân nhu. Năm 1951, ông giữ chức Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ Tổng cục Cung cấp, Cục trưởng Cục Quân nhu; năm 1952, ông là Ủy viên Đảng ủy Tổng cục Cung cấp. Từ năm 1954 đến năm 1955, ông giữ chức Cục trưởng Cục Chính trị Tổng cục Hậu cần, sau đó được bổ nhiệm giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Từ năm 1959 đến năm 1960, ông giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Tổng cục Hậu cần ; Tháng 9/1960 đến tháng 1/1961, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng và giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Sau đó, ông được điều động làm Phó Ban Tài chính- Thương nghiệp Trung ương, Quyền Bộ trưởng Bộ Nội thương. Đến tháng 12/1962, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội thương.


Từ tháng 9/1966 đến tháng 8/1969, ông giữ các chức vụ: Trưởng Ban Tài chính- Thương nghiệp Trung ương, Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính- Thương nghiệp Phủ Thủ tướng, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ ; Tháng 6/1973 đến tháng 2/1974, ông giữ các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Thủy lợi kiêm Trưởng ban Chỉ huy chống lụt bão Trung ương, kiêm Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Trị thủy và khai thác sông Hồng.


Tháng 12/1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đến cuối năm 1980, ông được cử giữ chức Trưởng ban phân phối lưu thông của Trung ương Đảng ; Tháng 3/1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, ông được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Ban Bí thư và phân công phụ trách nông nghiệp.


Tháng 10/1986, ông được Trung ương phân công giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội ; Tháng 12/1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị ; Tháng 10/1988 đến tháng 6/1991, ông được bầu bổ sung vào Ban Bí thư và giữ chức Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng cho đến khi về hưu.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: dinhba trong 19 Tháng Hai, 2011, 03:46:15 pm
.



.

(http://i705.photobucket.com/albums/ww54/cuongnam/thiut-1.jpg)
Thiếu tướng Ngô Văn Sơn
Tư lệnh Binh chủng Thông tin - Liên lạc
.




.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Hai, 2011, 06:23:58 pm
(http://i705.photobucket.com/albums/ww54/cuongnam/thiut-1.jpg)
Thiếu tướng Ngô Văn Sơn
Tư lệnh Binh chủng Thông tin - Liên lạc

Bác dinhba ơi! Bác đưa ảnh lên nhầm rồi. Đây là cụ Nguyễn Diệp - nguyên Tư lệnh Binh chủng chứ không phải chú Ngô Văn Sơn. Chú Sơn này giờ mới ngoài 50 tuổi thôi.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: dinhba trong 19 Tháng Hai, 2011, 07:59:43 pm

Cám ơn bác Lop đã sửa lỗi.
Đây là do một ông bạn em bên Thông tin nói lại nên xảy ra sơ xuất.
Xin thành thật xin lỗi.


Tiêu đề: Thiếu tướng Trần Việt, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Hai, 2011, 06:40:09 am
(http://img337.imageshack.us/img337/995/thieutuongtranviet.jpg)


Thiếu tướng Trần Việt (29.4.1946) từng giữ các chức vụ : Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Là phi công trực tiếp chiến đầu, bắn rơi 3 máy bay Mỹ (chỉ trong một lần xuất kích) được tặng thưởng 3 Huy hiệu Bác Hồ.  

Thiếu tướng (1999)


Thiếu tướng Trần Việt nguyên quán tại xã Nhơn Phú, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông nhập ngũ tháng 7 năm 1965, được kết nạp vào Đảng ngày 25 tháng 10 năm 1968 (chính thức 25.7.1969).

7.1965, chiến sĩ dự khóa Không quân và học lái máy bay chiến đầu MiG-21 tại Trường Không quân Liên Xô ; 4.1968, sĩ quan lái máy bay MiG-21 tại Đại đội 3, Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1971, đại đội phó lái máy bay MiG-21 thuộc Trung đoàn 921 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1974, phi đội trưởng Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân.

10.1977, trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371 Quân chủng Không quân ; 9.1978, học viên Học viện Không quân Ga-ga-rin của Liên Xô ; 7.1982, trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371 Quân chủng Không quân.

4.1987, sư đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Không quân ; 10.1989, sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Không quân ; 4.1994, theo học bổ túc tại Học viện Quốc phòng ; 8.1994, sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Không quân ; 7.1997, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân ; 10.1997, học bổ túc hệ A Học viện Chính trị Quân sự, Bộ Quốc phòng ; 1.1998, tham mưu phó Quân chủng Không quân ; 7.1999, tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.2005, phó tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.2007, nghỉ chuẩn bị hưu.





Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Đức Soát, Phó Tổng Tham mưu trưởng
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Hai, 2011, 07:54:54 pm
(http://img254.imageshack.us/img254/9484/trungtuongnguyenducsoat.jpg)

Trung tướng Tiến sĩ Anh hùng Nguyễn Đức Soát (24.6.1946) từng giữ các chức vụ : Tư lệnh Quân chủng Không quân, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Phó Tổng Tham mưu trưởng.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công (2 hạng Nhì, 5 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước (hạng Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Là phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 6 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 6 Huy hiệu Bác Hồ.

Được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 11 tháng 1 năm 1973 khi đang là trung úy, đại đội phó Đại đội 3, Trung đoàn Không quân 927, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (10.1994), Trung tướng (11.1999).


Trung tướng Nguyễn Đức Soát quê tại xã Nam Phong, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Ông nhập ngũ ngày 5 tháng 7 năm 1965, được kết nạp vào Đảng ngày 24 tháng 2 năm 1969 (chính thức ngày 24 tháng 11 năm 1969).

7.1965, chiến sĩ dự khóa bay và đào tạo lái máy bay Mig.21 tại Trường Không quân Liên Xô ; 4.1968, sĩ quan lái máy bay tại Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1972, đại đội phó lái máy bay Trung đoàn Không quân 927 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân.

23 .5.1972, ông bắn rơi chiếc A-7B Corsair II của Hải quân Hoa Kỳ bằng pháo 30mm ; 24.6.1972, trong trận chiến đấu bảo vệ Nhà máy gang thép Thái Nguyên, là biên đội trưởng, ông hạ chiếc F-4E bằng quả tên lửa không đối không có đầu dẫn nhiệt R-3S Atoll; 27.6.1972, cùng đồng đội cất cánh từ sân bay Nội Bài  để đánh chặn một tốp F-4, ông bắn rơi một chiếc cũng bằng tên lửa R-3 ; 26.8.1972, ông tiếp tục lập công khi bắn hạ một chiếc F-4 duy nhất của Lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam ; 12.10.1972, ông bắn hạ chiếc F-4E.

5.1973, đại đội trưởng lái máy bay Trung đoàn Không quân 927 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân.

9.1975, trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1976, học tại Học viện Không quân Ga-ga-rin (Liên Xô) ; 6.1980, trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371, Quân chủng Không quân ; 8.1982, học tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Vô-rô-si-lốp (Liên Xô) ; 9.1984, phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 372 Quân chủng Không quân.

4.1990, sư đoàn trưởng Sư đoàn 372 Quân chủng Không quân ; 2.1993, bổ túc cán bộ cao cấp tại Học viện Chính trị Quân sự ; 12.1993, phó tư lệnh Quân chủng Không quân ; 12.1997, tư lệnh Quân chủng Không quân ; 7.1999 đến 3.2002, tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.2002, phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi về hưu (1.1.2008).



Tiêu đề: Trung tướng Phạm Phú Thái, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Hai, 2011, 05:39:11 pm
(http://img545.imageshack.us/img545/6537/trungtuongphamphuthai.jpg)

Trung tướng Phạm Phú Thái (30.12.1949) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, Phó Tư lệnh thứ Nhất Quân chủng Phòng không Không quân.

2 Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công (2 hạng Nhì, 4 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Là phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 4 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 4 Huy hiệu Bác Hồ.

Thiếu tướng (4.1998), Trung tướng (1.2008).


Trung tướng Phạm Phú Thái quê tại xã Đình Phùng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, có bố là cụ Phạm Thuần nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ. Ông nhập ngũ ngày 5 tháng 7 năm 1965, được kết nạp vào Đảng ngày 20 tháng 11 năm 1968 (chính thức ngày 20 tháng 2 năm 1970).

7.1965, chiến sĩ Dự khóa bay Cục Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1965, học viên lái máy bay tại Trường Không quân Liên Xô ; 2.1968, sĩ quan lái máy bay tại Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh Không quân (KQ), Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 3.1972, đại đội trưởng lái máy bay Đại đội 1, Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ.

2.1977, trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 9.1977, học tại Học viện Không quân Ga-ga-rin (Liên Xô) ;

8.1980, thanh tra bay Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng KQ ; 11.1982, trung đoàn trưởng Trung đoàn 929 Sư đoàn Không quân 370 và trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371, Quân chủng KQ ; 2.1986, phó sư đoàn trưởng Huấn luyện, phó sư đoàn trưởng kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng KQ.

5.1988, sư đoàn trưởng Sư đoàng Không quân 371, Quân chủng KQ ; 9.1989, học bổ tục tại Học viện Chính trị Quân sự ; 9.1990, học bổ tục tại Học viện Quân sự cấp cao ; 3.1991, phó tham mưu trưởng Quân chủng KQ ; 9.1993, tham mưu trưởng Quân chủng KQ ; 7.1995, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng KQ ; 7.1999, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không Không quân ; 2002, phó tư lệnh thứ nhất Quân chủng PKKQ ; 31.12.2007, Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu (2008). 



Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Đăng Kính, Viện trưởng Viện Kiểm sát QS Trung ương
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Hai, 2011, 06:43:56 pm
(http://img831.imageshack.us/img831/5522/thieutuongnguyendangkin.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Đăng Kính (19.8.1941) từng giữ các chức vụ : Cục phó Cục Huấn luyện – Nhà trường Quân chủng Không quân, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công (3 hạng Nhất, 2 Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Là phi công trưc tiếp chiến đấu, bắn rơi 6 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 6 Huy hiệu Bác Hồ.

Thiếu tướng (10.1994).


Thiếu tướng Nguyễn Đăng Kính quê tại xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông nhập ngũ ngày 23 tháng 3 năm 1959, được kết nạp vào Đảng ngày 25 tháng 3 năm 1966 (chính thức ngày 25 tháng 12 năm 1966).

Lúc còn nhỏ, do hoàn cảnh gia đình khó khăn (bố ông là du kích thời Kháng chiến chống Pháp, bị thương nặng phải mổ đi mổ lại nhiều lần, ông chỉ học hết lớp 4 hệ 10 năm. Năm 1957, ông xin vào làm nhân viên thông tin tuyên truyền tại xã nhà ; 3.1959, ông nhập ngũ, là chiến sĩ rồi tiểu đội trưởng của Trung đoàn 250, Bộ Tư lệnh Phòng không (PK) ; 10.1961, được cử đi học lái máy bay chiến đấu tại Trường Không quân Liên Xô. Đây là lớp học tiêm kích đầu tiên của Việt Nam gồm 40 người do ông Nguyễn Hồng Nhị (sau là Thiếu tướng) làm đoàn trưởng.

10.1965, về nước, là phi công lái máy bay rồi trung đội trưởng Đại đội 2, Trung đoàn Không quân 921 Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 2.1968, đại đội phó Đại đội 2 và Đại đội 5, Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ.

Là phi công trực tiếp chiến đấu, ông bốn lần bị bắn rơi (1.1966 tại Thái Nguyên, 2.1.1967 khi cả biên đội của ông bị 56 chiếc « con ma » vây, 4.1967 tại Hữu Lũng- Lạng Sơn, lần cuối tại Nà Sản – Sơn La) và 6 lần bắn rơi máy bay Mỹ.

11.1967, được sự yểm trợ của phi công Vũ Ngọc Đỉnh, ông bắn rơi một chiếc máy bay trinh sát điện tử RB66 tại Lang Chánh (Thanh Hóa) ; 1.1968, cùng với phi công Đồng Văn Song, ông tiếp tục hạ thêm một chiếc RB66 ; 26.1.1968, cùng với phi công Vũ Xuân Thiều ông, với 2 quả tên lửa RC12 điều khiển bằng hồng ngoại, bắn rơi một chiếc « con ma » của Hạm đội 7  Hoa Kỳ trên vùng trời Vinh (Nghệ An) ;  7.1968, ông bắn rơi một máy bay trinh sát tầm thấp không người lái tại Ninh Bình ; cũng trong năm 1968, ông tiếp tục bắn rơi một máy bay không người lái và một « con ma » (tại Thiên Cầm, Cẩm Xuyên) rồi chuyển sang bay đêm bám đuổi theo B52, C130 bảo vệ bộ đội.

8.1970, đại đội trưởng Đại đội 7 và Đại đội 3 Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 8.1971, đại đội phó Đại đội 5, Trung đoàn 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 2.1972, trung đoàn phó Trung đoàn 927, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 8.1972, theo học tại Học viện Không quân Liên Xô ; 7.1974, phó Ban rồi trưởng Ban (12.1974) Nghiên cứu Sư đoàn 371, Quân chủng PKKQ.

9.1975, tham gia viết giáo trình huấn luyện tại Bộ Tham mưu PKKQ, 6.1977, phó trưởng Phòng Khoa học Quân sự Bộ Tham mưu Quân chủng KQ ; 5.1978, phó trưởng Phòng Quân huấn Bộ Tham mưu Quân chủng KQ ; 4.1979, trưởng phòng Quân huấn Bộ Tham mưu Quân chủng KQ.

4.1980, trưởng Phòng Kế hoạch, Cục Huấn luyện – Nhà trường Quân chủng KQ ; 7.1981, phó cục trưởng, trưởng Phòng Kế hoạch, Cục Huấn luyện – Nhà trường Quân chủng KQ ; 12.1983, trưởng Phòng Cán bộ Quân chủng KQ.

1.1988, cán bộ chuyên trách, phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân chủng KQ ; 4.1989, chuyển sang công tác tại Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương ; 6.1989, theo học chuyên tụ tại Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội ; 6.1990, viện phó Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương ; 12.1994, phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương cho đến khi về hưu (8.2006). Ông hiện là đại biểu Quốc hội khóa 12.



Tiêu đề: Đại tá Trần Ngọc Lân, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Hai, 2011, 07:25:35 pm

(http://img215.imageshack.us/img215/631/daitatranngoclan.jpg)

Đại tá Trần Ngọc Lân (6.1938) từng giữ các chức vụ : Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 367, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Đại tá (4.1989).


Ông quê tãi xã Khánh Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Nhập ngũ ngày 1 tháng 2 năm 1964, được kết nạp vào Đảng tháng 7 năm 1966 (chính thức 7.1967).

Tập kết ra Bắc, 3.1954 là học sinh Trường miền Nam thành phố Hải Phòng ; 10.1958, học sinh Trường Bổ túc Công nông ; 10.1959, sinh viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

2.1964, chiến sĩ Đại đội 5, Trung đoàn 228B Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1965, sĩ quan điều khiển tên lửa – trưởng xe YA Đại đội 1, Tiểu đoàn 61, Trung đoàn Tên lửa 236, Quân chủng Phòng không Không quân.

1.1968, trợ lý huấn luyện tên lửa Phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu, Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1969, bồi dưỡng xạ kích tên lửa tại Trường Sĩ quan Phòng không ; 2.1970, trợ lý huấn luyện tên lửa Phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu, Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1972, trưởng Tiểu ban Tác huấn Trung đoàn Tên lửa 277 (tham gia huấn luyện chuyển loại tên lửa tại Liên Xô) ; 1.1973, trợ lý huấn luyện Tên lửa Phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân.

10.1976, trưởng Ban Huấn luyện Sư đoàn Phòng không 367, Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1979, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 263, Sư đoàn Phòng không 367, Quân chủng Phòng không ; 8.1983, sư đoàn phó Sư đoàn Phòng không 367, Quân chủng Phòng không.

12.1987, sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 367, Quân chủng Phòng không ; 10.1994, phó tư lệnh Quân chủng Phòng không cho tới khi về hưu (8.2000).



Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Văn Thân, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Hai, 2011, 07:49:34 pm
(http://img231.imageshack.us/img231/1513/trungtuongnguyenvanthan.jpg)

Trung tướng Tiến sĩ Nguyễn Văn Thân (18.11.1945) từng giữ các chức vụ : quyền Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Tư lệnh – Phó Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không Không quân.

Ngoài ra ông còn từng là Đại biểu Quốc hội khóa 11.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Thiếu tướng ( 4.1998), Trung tướng (7.2003).


Ông quê tại thông Xuân Vũ, xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Nhập ngũ tháng 4 năm 1962, được kết nạp vào Đảng ngày 26 tháng 3 năm 1965 (chính thức 26.3.1966).

4.1962, chiến sĩ bộ binh Tiểu đoàn 12, Trung đoàn 68, Sư đoàn 304, rồi chiến sĩ Trung đoàn 228B ; 3.1965, văn thư bảo mật rồi trắc thủ (8.1965) Đại đội 1, Tiểu đoàn 61, Trung đoàn Tên lửa 236, Quân chủng Phòng không Không quân.

4.1967, sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 61, Trung đoàn Tên lửa 236, Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa ; 11.1967, học viên Trường Cao đẳng Phòng không Ô-đéc-xa (Liên Xô) ; 12.1972, dịch tiếng Nga tại Trung đoàn 172, Bộ Tư lệnh Hải quân ; 12.1973, tiểu đoàn phó quấn sự Tiểu đoàn 52, Trung đoàn Tên lửa 267, Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1974, phiên dịch tiếng Nga cho Đoàn Học viên Cán bộ Cao cấp Quân chủng Phòng không Không quân tại Liên Xô.

7.1975, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 81, Trung đoàn Tên lửa 238, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1977, nghiên cứu sinh cao học tại Học viện Quân sự Cấp cao ; 8.1978, tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 277 chuyển loại tên lửa Von-ga tại Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không.

3.1979, phó trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 277, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ; 8.1981, trung đoàn trưởng Trung đoàn 277 ; 10.1983, nghiên cứu sinh khoa học quân sự tại Liên Xô.

18.2.1987, phó sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 369, Quân chủng Phòng không ; 14.10.1987, lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Phòng không 378, Quân chủng Phòng không, Phó Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn ; 8.1991, phó Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Bộ Tham mưu.

9.1993, tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 4.1994, học bổ tục tại Học viện Chính trị Quân sự ; 7.1995, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 2.1996, học bổ túc tại Học viện Quốc phòng ; 2.1997, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 3.1998, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng, phụ trách Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng.

6.1999, phó tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng ; 7.2.2002, tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, phó bí thư Đảng ủy Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu (2.2007).



Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Ngọc Văn, Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Hai, 2011, 08:48:51 pm
(http://img143.imageshack.us/img143/7111/trungtuongnguyenngocvan.jpg)

Trung tướng Nguyễn Ngọc Văn (1944) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 14, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Bắc, quyền Tư lệnh Quân khu 1, Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Quốc phòng.

Trung tướng (2002).


Ông quê tại xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Học hết lớp 4 (hệ 10 năm), năm 1961, ông nhập ngũ, sau 3 tháng huấn luyện tân binh, ông được cử đi học lớp khẩu đội trưởng pháo binh.

Năm 1962, đơn vị ông về đóng quân tại Tiên Yên, Quảng Ninh, tại đây, ông học bổ túc hết chương trình cấp 2 (tức Trung học Cơ sở bây giờ) rồi sau đó được cử đi học tại Trường Sĩ quan Pháo binh.

Năm 1965, ra trường, ông được phân công về Trung đoàn 247 đóng quân tại Xuân Hòa làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô Hà Nội chống chiến tranh leo thang của Đế quốc Mỹ ra bầu trời miền Bắc ; 1966, trợ lý tham mưu của Trung đoàn 246 đóng quân tại Tuyên Quang tới năm 1967 cùng đơn vị vào chiến đấu tại Chiến trường B5 (Quảng Trị) : tham gia Chiến dịch Mậu thân 1968 được đề bạt đại đội trưởng Hỏa lực, rồi cán bộ tiểu đoàn trong các chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào…

Năm 1970, khi đang là tiểu đoàn trưởng độc lập, ông được điều sang làm trung đoàn phó Trung đoàn hỗn hợp chiến đấu tại Cửa Việt trong đội hình Sư đoàn 325 ; 1973, được cử đi học bổ túc cán bộ trung đoàn nâng cao rồi về công tác tại Phòng Tác chiến Quân khu Trị Thiên Huế.

Năm 1975, ông về công tác tại Phòng Tác chiến Quân khu 4, tiếp tục theo học hết chương trình cấp 3 (hết năm 1976) tại Trường Văn hóa Quân đội ; Năm 1978, đi học tại Học viện Quốc phòng, ra trường về làm Sư đoàn phó Sư đoàn 337, Quân đoàn 14, Quân khu 1 phòng thủ tại Biên giới Lạng Sơn rồi Sư đoàn trưởng cho đến Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 14 (1986). Sau đó ông được cấp trên giao nhiệm vụ làm Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn, tổ chức mạng lưới quân sự làm nhiệm vụ phòng thủ thay cho cả Quân đoàn 14 rút về phía sau.

Năm 1988, Tham mưu phó Quân khu 1đến năm 1989 về là Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Hà Bắc. Năm 1993, ông tiếp tục đi học đến 1995 lên là Phó Tư lệnh Quân khu 1. Từ cuối 1996 đến 1997, là Thiếu tướng Phụ trách Quân khu 1. Năm 1998 là Viện phó, rồi Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng. Năm 2002, được phong Trung tướng cho tới năm 2004 về hưu. Ông hiện đang sống tại quê nhà xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang sau 43 năm mặc áo lính.

Theo Báo Bắc Giang



Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: dinhba trong 25 Tháng Hai, 2011, 09:08:38 pm
.

Người mã hoá bức điện mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp



 (http://antg.cand.com.vn/Uploaded_ANTG/honghai/28_dong954.jpg)
Đồng chí Nguyễn Đức Mãi.


Ông đã dành trọn tuổi thanh xuân của mình trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, ông cũng chứng kiến bao đồng chí đồng đội đã ngã xuống trước ngày toàn thắng. Giữa những năm tháng máu lửa bi hùng đó, ông đã dịch, mã hóa và truyền đi hàng trăm ngàn trong tổng số gần 51 triệu bức điện của toàn ngành cơ yếu quân đội.

Ông cũng là người vinh dự được cấp trên lựa chọn để mã hóa và truyền đi bức điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa...". Đó là Đại tá Nguyễn Đức Mãi, nguyên cán bộ cơ yếu Đoàn 559...

Không khó để tìm ra nhà Đại tá Nguyễn Đức Mãi ở thành phố Vinh, Nghệ An. Căn nhà nhỏ, giản dị nằm sâu trong ngõ số 10, đường Nguyễn Văn Cừ, nhưng dường như hỏi ai cũng đều biết ông. Thoạt nhìn không ai nghĩ người cựu binh này đã bước sang tuổi 85. Mấy năm gần đây, tuy bị căn bệnh tim hành hạ, nhưng do luyện tập dưỡng sinh thường xuyên, trông da dẻ ông vẫn hồng hào, giọng nói hào sảng. Đôi mắt ông rực sáng lên khi hồi ức lại những năm tháng thời chiến tranh máu lửa...

Tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám 1945, sau đó công tác tại Huyện ủy Kỳ Anh (Hà Tĩnh), tháng 7/1950, chàng thanh niên trẻ Nguyễn Đức Mãi vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đó ít ngày, ông xung phong nhập ngũ. Sau huấn luyện, ông được đơn vị cử đi học một lớp cán bộ công tác chính trị, đến năm 1952, sau nhiều lần thử thách, ông tiếp tục được đi học lớp cơ yếu. Từ đó, cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với tín hiệu, ký hiệu, con số của ngành mật mã.

Gần chục năm sau đó, ông lăn lộn trên khắp các chiến trường miền Trung; đóng quân trên đảo từ Mũi Gòn, Hòn Én (Hà Tĩnh) đến Hòn La (Quảng Bình), đến miền Tây Vĩnh Linh trong biên chế quân số của Tiểu đoàn 25 thuộc Tỉnh đội Quảng Bình. Theo yêu cầu ngày càng cấp bách của chiến trường miền Nam, Đoàn 559 ra đời và ngày càng lớn mạnh; từ quy mô cấp sư đoàn đến binh đoàn bao gồm nhiều binh chủng hợp thành dưới sự chỉ huy của Tướng Đồng Sĩ Nguyên. Lực lượng cơ yếu của Đoàn 559 giữ vai trò "kết nối" sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu đến khắp các chiến trường. Ông là thế hệ lính cơ yếu đầu tiên của đơn vị chiến lược này.


 (http://antg.cand.com.vn/Uploaded_ANTG/honghai/28_dong954-400.jpg)
Đồng chí Nguyễn Đức Mãi (người ngồi ngoài cùng bên phải) trong những năm ở Trường Sơn.

Lúc đầu đơn vị đóng quân tại Khe Hó (Vĩnh Linh), trụ sở đầu tiên của Đoàn 559, sau đó đơn vị rút về Làng Ho (Quảng Bình). Giai đoạn này cũng chính là thời điểm khó khăn nhất của đơn vị, vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng. Trên đường Trường Sơn, lực lượng cơ yếu được thành lập 9 trạm, bắt đầu từ Làng Ho qua vùng Hạ Lào, Ka Ra Chê (Campuchia) rồi vòng về Lộc Ninh. Bấy giờ, điều kiện vô cùng khó khăn, ăn trong hang đá, ngủ dưới tán cây rừng, đối mặt với cái đói triền miên, rồi rắn độc, sốt rét, bom đạn của kẻ thù. Trong khi đó, địch lại liên tục tung các toán gián điệp, biệt kích và tổ chức các đợt hành quân quy mô lớn để càn quét, tìm diệt lực lượng ta, nên cứ hai ba hôm cả đơn vị lại phải di chuyển một lần để đảm bảo tuyệt đối bí mật.

Giai đoạn khó khăn nhất của ông và đồng đội phải trải qua, chính là những thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh. Lực lượng cơ yếu Đoàn 559 vừa phải chiến đấu như những đơn vị chủ lực thực sự trong Chiến dịch đường 9 Nam Lào, đợt Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, đợt phản công mùa hè năm 1972, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trong những thời khắc bi hùng nhất của cuộc chiến tranh, chính ông đã chứng kiến và mai táng hàng chục đồng đội mình, trong tổng số gần 600 cán bộ cơ yếu của Đoàn 559 ngã xuống trong những trận đánh, trận phục kích, trận B52 rải thảm của địch. Công việc cơ yếu khi đó chủ yếu được tiến hành vào ban đêm. Ban đầu, trang thiết bị thiếu thốn, chủ yếu làm thủ công nên càng khó khăn bội phần. Tuy nhiên, các ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đảm bảo liên lạc thông suốt, an toàn và bí mật tuyệt đối trong suốt những năm ác liệt của cuộc chiến tranh...

Lật giở từng trang kỷ yếu về các thế hệ lính cơ yếu, trong đó có bức điện mật do chính tay ông mã hóa và truyền đi năm xưa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khuôn mặt ông ngập tràn xúc động. Ông vẫn coi đó là vinh dự nhất của cuộc đời mình. Ngày 7/4/1975, ông nhận được chỉ thị từ Ban Cơ yếu Bộ Tổng tham mưu, giao một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đó là mã hóa bức điện mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, truyền tới tất cả các đơn vị trên đường Trường Sơn, với nội dung: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận. Giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc tới đảng viên và chiến sĩ".

Ông kể: "Nhận được nội dung bức điện mật quan trọng này, lúc đó tôi rất lo, làm sao hoàn thành thật tốt nhiệm vụ, chẳng nghĩ được điều gì khác cả". Ông phải mã hóa bức điện theo mã mới và phát trên làn sóng vô tuyến đến các đơn vị đang làm nhiệm vụ bảo vệ đường Hồ Chí Minh và đội hình hành quân đang rầm rập tiến vào Nam. Khi phát lên vô tuyến thì có nghĩa là cả quân ta và quân địch đều thu được tín hiệu, nên yếu tố bảo mật là quan trọng nhất. Giây phút đó ông đã rất hồi hộp và lo lắng, nhưng bản lĩnh người chiến sĩ cơ yếu được tôi luyện mấy chục năm trên đường Trường Sơn đã khiến ông xác định tư tưởng, tập trung vào công việc.


 (http://antg.cand.com.vn/Uploaded_ANTG/honghai/29_buc954-400.jpg)
Bức điện mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngày hôm sau, ông và anh em trong đơn vị cơ yếu phải dò sóng, nghe ngóng xem kẻ địch có phát hiện được nội dung bức điện không, nhưng "nó" đã được đảm bảo yếu tố bí mật tuyệt đối, các lực lượng của địch không có phản ứng lớn. Tuy nhiên, phải nhiều ngày sau, khi tiếp nhận, mã dịch và chuyển ra Bắc những trận đánh thắng của quân và dân miền Nam trên khắp các chiến trường, ông mới cảm thấy sung sướng và thở phào nhẹ nhõm vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, kịp thời truyền đạt sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, trực tiếp là Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Mệnh lệnh của Đại tướng ngay sau đó đã được các cánh quân tiếp nhận và là "kim chỉ nam" tiến thẳng vào sào huyệt của kẻ thù. "Khi tiếp nhận tin và mã dịch bức điện báo tin quân ta đã tiến quân vào Dinh Độc Lập, anh em trong đội cơ yếu của tôi đã ôm nhau khóc òa sung sướng" - ông Nguyễn Đức Mãi xúc động kể tiếp. Vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, ông lại là người vinh dự đầu tiên ở Đoàn 559 mã dịch và truyền đi bức mật điện của Bộ chỉ huy mặt trận cánh Đông do Trung tướng Lê Trọng Tấn chuyển về Bộ Tổng tham mưu thông báo quân ta đã chiếm lĩnh Dinh Độc Lập, tiếp nhận sự đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các chính quyền ngụy Sài Gòn...

Đất nước hoàn toàn giải phóng, Đại tá Nguyễn Đức Mãi tiếp tục gắn bó với ngành cơ yếu, nhưng trên cương vị Hiệu trưởng Trường Mật mã thuộc Bộ Quốc phòng. Đến năm 1991, ông mới chính thức nghỉ hưu. 41 năm quân ngũ là ngần ấy năm ông làm nhiệm vụ người chiến sĩ cơ yếu. Dù ở cương vị nào ông vẫn thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu: "Mật mã phải bí mật, nhanh chóng, chính xác. Các chú làm mật mã phải bí mật và đoàn kết". Ông và đồng đội của mình, đã đóng góp những chiến công thầm lặng cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Trong những ngày tháng 4 lịch sử này, ký ức một thời hoa lửa lại có dịp tràn về, khiến người cựu binh già bồi hồi, xao xuyến...

  Phan Hoạt - Mạnh Hà

Theo CAND.COM



Tiêu đề: Thiếu tướng Võ Minh Cẩm, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Hai, 2011, 09:14:46 pm
(http://img42.imageshack.us/img42/3406/thieutuongvominhcam.jpg)

Thiếu tướng Tiến sĩ Võ Minh Cẩm (25.4.1948) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không, Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Thiếu tướng (7.2003).


Thiếu tướng Võ Minh Cẩm quê tại xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Nhập ngũ ngày 20 tháng 7 năm 1969, được kết nạp vào Đảng ngày 3 tháng 1 năm 1969 (chính thức ngày 3 tháng 10 năm 1969). Ông là con trai của Thiếu tướng Võ Bẩm.

7.1965, học viên thợ máy Cát Bi trực thuộc Cục Không quân ; 12.1967, tổ trưởng máy bay Đại đội 13, Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1969, học viên dự khóa kỹ thuật Phòng không Không quân ; 9.1969, học viên Trường Cao đẳng Kỹ thuật Không quân Ki-ép (Liên Xô) ; 9.1974, kỹ sư thực tập Đại đội 13, Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1975, trợ lý Phòng Kỹ thuật, Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1975, trợ lý kỹ thuật đoàn lắp ráp Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

9.1975, trợ lý Phòng Nghiên cứu Kỹ thuật, Sư đoàn Không quân 370, Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1976, trợ lý phòng nghiên cứu Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, dự khóa nghiên cứu sinh Đoàn 871, Tổng cục Kỹ thuật ; 8.1977, nghiên cứu sinh tại Học viện Giu-cốp-xki (Liên Xô).

8.1980, trợ lý Phòng Nghiên cứu Kỹ thuật, Viện Kỹ thuật Không quân, Quân chủng Không quân ; 3.1982, trưởng Ban Kết cấu Phòng Kỹ thuật máy bay, Viện Kỹ thuật Không quân ; 4.1988, trưởng Phòng Máy bay Động cơ – Cục Kỹ thuật Không quân ; 3.1989, chủ nhiệm Kỹ thuật Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Không quân.

4.1990, phó chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Không quân ; 5.1999, phó chủ nhiệm Kỹ thuật, Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.2000, phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu (1.8.2007).



Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Ngọc Nguyên, Phó Tư lệnh Quân chủng PK-KQ
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Hai, 2011, 09:59:00 pm
(http://img402.imageshack.us/img402/6104/thieutuongphamngocmau.jpg)

Thiếu tướng Phạm Ngọc Nguyên (2.9.1949) từng giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (2.2006).


Thiếu tướng Phạm Ngọc Nguyên quê tại thôn Dưỡng Thông, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nhập ngũ ngày 1 tháng 8 năm 1967, được kết nạp vào Đảng ngày 8 tháng 4 năm 1975 (chính thức 8.1.1976). Ông là con trai Thượng tướng Phạm Ngọc Mậu.

8.1967, nhập ngũ tại Cục Cán bộ ; 10.1967, học viên Trường Cao đẳng Phòng không Ô-đéc-xa (Liên Xô) ; 10.1973, sĩ quan điều khiển Đại đội 1, Tiểu đoàn 84, Trung đoàn Tên lửa 238, Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1974, Đội cải tiến Tên lửa, Xưởng A-31, Quân chủng Phòng không Không quân.

7.1975, trợ lý kỹ thuật Trung đoàn Tên lửa 267, Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1976, học viên đào tạo cán bộ chỉ huy Trường Phòng không, Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1977, đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ; 3.1978, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ;

5.1979, tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 161, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ; 20.6.1980, trung đoàn phó kỹ thuật kiêm chủ nhiệm kỹ thuật Trung đoàn Tên lửa 276, Quân chủng Phòng không ; 9.1981, học tại Học viện Phòng không Ka-li-nin (Liên Xô) ; 9.1983, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 276, Quân chủng Phòng không ; 11.1984, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 276, Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không.

1.1988, tham mưu phó Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không ; 4.1989, học bổ túc chiến thuật phòng không tại Liên Xô ; 26.5.1989, sư đoàn phó Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng Phòng không ; 1.1991, sư đoàn phó Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ; 12.1993, sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không ; 6 .2000, chủ nhiệm hậu cần Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.2005, phó tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân cho đến khi về hưu (2010).



Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: Quân khí viên trong 26 Tháng Hai, 2011, 11:57:05 am
Các bác có biết Trung tướng Đàm Quang Long, nguyên phó tư lệnh QK7, quê ở Diên Lạc- Diên Khánh- Khánh Hòa không ạ?
Em thấy hình như không có ảnh và tư liệu về vị tướng này!


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: panphilov trong 26 Tháng Hai, 2011, 04:46:07 pm
Các bác có biết Trung tướng Đàm Quang Long, nguyên phó tư lệnh QK7, quê ở Diên Lạc- Diên Khánh- Khánh Hòa không ạ?
Em thấy hình như không có ảnh và tư liệu về vị tướng này!

Mình không biết tướng nào tên là Đàm Quang Long cả. Với lại, họ Đàm là họ dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc, cho nên nếu quê Khánh Hòa thì họ Đàm theo mình là không chính xác. Căn cứ vào thông tin bạn đưa ra theo mình đó là Thiếu tướng Đặng Quang Long quê tại Thanh Minh - Diên Khánh - Khánh Hòa. Trước có bác PallMall hỏi về tướng Đặng Quang Long rồi, rất tiếc là mình không có ảnh, thông tin thì cũng không nhiều.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: trantrung trong 26 Tháng Hai, 2011, 05:30:44 pm
Còn một người rất nổi tiếng trong miền Nam thời chống Pháp đó là thi tướng Huỳnh Văn Nghệ . Mặc dù trên thực tế ông chỉ được mang quân hàm thượng tá nhưng nhân dân miền Nam luôn coi ông là một vị tướng quân tài ba lỗi lạc . Không biết trên này đã có chưa .


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: Tr kỹ thuật trong 26 Tháng Hai, 2011, 06:02:24 pm
Thắc mắc :

Em đã xem gần hết mà không thấy tiểu sử của Thiếu tướng Võ văn Dần (tư lệnh Quân đoàn 4 từ 82-88) các bác có thì đưa lên cho em biết với.Cảm ơn các bác.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: Quân khí viên trong 26 Tháng Hai, 2011, 06:16:27 pm
Mình không biết tướng nào tên là Đàm Quang Long cả. Với lại, họ Đàm là họ dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc, cho nên nếu quê Khánh Hòa thì họ Đàm theo mình là không chính xác. Căn cứ vào thông tin bạn đưa ra theo mình đó là Thiếu tướng Đặng Quang Long quê tại Thanh Minh - Diên Khánh - Khánh Hòa. Trước có bác PallMall hỏi về tướng Đặng Quang Long rồi, rất tiếc là mình không có ảnh, thông tin thì cũng không nhiều.
[/quote]

Bác nói rất chính xác! Cụ Long quê ở thôn Thanh Minh - xã Diên Lạc- Diên Khánh - Khánh Hòa cách nhà em khoảng 4km. Con cháu cụ đều dân gốc ở đây cả và là họ Đàm. Có thể khi hoạt động cụ đổi tên. Tên ở nhà lúc còn thanh niên của cụ  không phải là Long. Hiện cụ đang sống ở TP Hồ Chí Minh, ít khi về quê, có lẽ sức khỏe cũng yếu lắm rồi. Để bữa nào rảnh em hỏi lại tụi nó( mấy người cháu kêu cụ bằng bác cũng ngang tuổi em). Khi về hưu cụ mang hàm trung tướng!


Tiêu đề: Thiếu tướng Thanh Quảng, Trưởng ban - Bí thư Ban Cán sự Đảng ngoài nước
Gửi bởi: panphilov trong 01 Tháng Ba, 2011, 08:49:02 pm
Thiếu tướng Thanh Quảng (tên thật : Nguyễn Văn Thanh, tên khác : Hồ Tú Nam, 5.5.1924 – 17.9.1992) từng giữ các chức vụ : Phó Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng – Quân ủy Trung ương, Bí thư Tổng Thư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tây Bắc, Chính ủy Quân khu Trị Thiên, Chính ủy Học viện Lục quân Đà Lạt.

Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Quân công hạng nhì, ....

Thượng tá (12/1958), Đại tá (4/1966), Thiếu tướng (4/1974).


Trước Cách mạng tháng 8, ông theo học tại Trường Kỹ nghệ Thực hành ở Huế. Tại ngôi trường này, nhiều tướng lĩnh khác cũng từng theo học như Thượng tướng Trần Văn Trà, Thượng tướng Trần Sâm.

Tháng 8 năm 1947, ông là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình ; Tháng 5 năm 1951, ông được điều động lên Việt Bắc, giữ các chức vụ Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng, Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương, Bí thư cho Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Tháng 12 năm 1964, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tây Bắc ; 5.1966, Phó Chính ủy Quân khu Trị Thiên rồi Chính ủy Quân khu (2.1975).

Tháng 9 năm 1976, Chính ủy Học viện Lục quân Đà Lạt ; 12.1977, chuyển ngành làm Thứ trưởng thường trực Bộ Vân Tư ; 1982, Phó Bí thư – Phó Trưởng ban rồi Bí thư – Trưởng ban (1985) Ban Cán sự Đảng ngoài nước trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho đến khi nghỉ hưu năm 1988.

Thông tin do thành viên hoangnamanh cung cấp



Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: dinhba trong 02 Tháng Ba, 2011, 09:18:03 pm
Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: Khúc ca xưa vang vọng đến bây giờ

(http://antgct.cand.com.vn/Uploaded_ANTGCT/maiphuong/6_trung113.jpg)

Cách đây hơn một năm, Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu rời xa chốn quan trường. Hơn 45 năm gắn với cuộc đời binh nghiệp, giờ đây ông mới có những khoảng lặng cho riêng mình, cởi bỏ khỏi chiếc áo phong sương của một đời lính, thanh thản với niềm vui tuổi già. Nhưng một người lính đã từng đi qua trận chiến như ông và may mắn được trở về, vẫn thấy mình mắc nợ với cuộc đời, với đồng đội.

Một vị tướng đi qua nhiều cuộc chiến tranh, cả thời chiến lẫn thời bình như ông, thì câu chuyện không phải là của ngày hôm nay, mà đó là những ký ức, vẫn còn nguyên vẹn, tươi rói như mới chỉ xảy ra ngày hôm qua. Bởi ông còn lưu giữ trong mình quá nhiều những kỷ niệm, về đồng đội năm xưa, những con người vô danh đã bị cuốn trôi trong lớp bụi của thời gian

Ông sinh ra ở một miền quê nghèo của Nghệ An nắng cháy, xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, một cậu bé quê tinh nghịch thông minh. Quê hương của Nguyễn Mạnh Đẩu là những vùng cát pha nắng chói chang, và gió Lào hầm hập, những con người phải quằn mình trước khắc nghiệt của khí hậu, là những ngày theo cha đi ăn cơm tập thể của quân đội, và đầm mình thỏa thích trong dòng sông Lèn thơ mộng, có lần suýt chết đuối vì không biết bơi.

Đó là một tuổi thơ dữ dội với nhiều biến cố trong đời sống riêng của gia đình, khiến cậu bé Đẩu sớm trưởng thành, đĩnh đạc. Lần đầu tiên nhìn thấy máy bay Mỹ, khi đó Nguyễn Mạnh Đẩu tròn 16 tuổi, cậu nằng nặc xin thêm một tuổi và trốn cha đi bộ đội. Ngày lên đường nhập ngũ của Đẩu vì thế không có người đưa tiễn, cậu bé sống mũi cay cay, khi nhìn thấy vòng tay ấm áp của những người thân tiễn người đi chiến trận.

Lúc đó, cậu mới chạnh lòng. Nhưng ý đã quyết, Nguyễn Mạnh Đẩu trở thành chiến sĩ giải phóng quân hoạt động trên những vùng chiến sự ác liệt ở Lào, Quảng Trị - Thừa Thiên.  Và trong những ngày cận kề với cái chết, ông đã viết nhật ký, viết với tâm thế của một người lính ra trận không xác định ngày về. Những dòng nhật ký được viết vội sau từng trận đánh, của một chàng trai trẻ muốn dành niềm tự hào cho cha, và trong những trang đầu tiên của cuốn nhật ký, ông viết: "Sau khi tôi hy sinh, hãy gửi lại cho cha để ông có quyền tự hào về con trai mình, đã sống và chiến đấu trong những ngày khói lửa".

Nhưng cuốn nhật ký đã bị lưu lạc và ông may mắn được trở về. Đó là khi ông tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đại đội đặc công của ông được giao nhiệm vụ đánh vào cao điểm 550, nhằm tiêu diệt Lữ đoàn 147 của địch. Ông đã bị thương nặng, đến nỗi rất nhiều người nghĩ rằng ông đã hy sinh. Một đồng đội đã cầm cuốn nhật ký, và gửi lại nơi hậu cứ. Nhưng sau nhiều cuộc càn quét, người lính ấy cũng đã bị thương và bỏ lại một chân ở chiến trường, và ông đã không thể giữ lại cuốn nhật ký.

(http://www.cand.com.vn/Uploaded_ANTGCT/maiphuong/6_cuon113-400.jpg)
Cuốn hồi ký vừa xuất bản của
Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu.

Hơn 40 năm đã đi qua, nhưng đến bây giờ, ông vẫn nhớ như in từng dòng nhật ký đó, chuyện cách đây một, hai năm có thể quên, nhưng câu chuyện hào sảng của một chàng trai 20 tuổi đi vào chiến trận với tâm thế lãng mạn, lạc quan đó thì làm sao có thể quên. Đó là những tháng ngày chiến đấu vô cùng ác liệt mà những người lính như ông đứng mong manh giữa sự sống và cái chết.

Rất nhiều đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh trong những trận chiến ác liệt. Có nhiều chiến thắng, nhưng có rất nhiều mất mát, có những cái chết của đồng đội còn ám ảnh ông đến tận bây giờ. Khe Sanh, Đường 9, không có trận chiến nào khốc liệt hơn thế, và hình ảnh đồng đội, những chiến sĩ liên lạc vượt nguy hiểm khi gặp được đơn vị đã đói lả chỉ còn thoi thóp, những cái bắt tay của đại đội trưởng bộ binh trước giờ xung trận và mãi mãi không trở về…

Tất cả đều trở thành nỗi ám ảnh trong tâm khảm Nguyễn Mạnh Đẩu. Ông đã không thể đi tiếp cùng đồng đội trong cuộc  tiến về giải phóng miền Nam mà lùi lại hậu cứ, về công tác ở Tổng cục Chính trị năm 1972. Và sau này đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau, Cục trưởng Cục Chính sách, Phó hiệu trưởng về Chính trị Trường Lục quân 1 và Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật.

Trở về thời bình, mang tâm thế của một chiến binh đã từng đi qua chiến trận, hiểu được nỗi mất mát, hy sinh, hiểu được cái giá của hòa bình đã trả bằng biết bao máu xương của đồng đội, dù bận trăm công ngàn việc ở những cương vị mới, nhưng Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu vẫn dành một góc riêng cho đồng đội năm xưa. Nhiều câu chuyện buồn thời hậu chiến đã được ông tìm hiểu, hóa giải, về những vấn đề chính sách.

Có những việc ông làm được, nhưng có những việc ông đã bó tay vì sự đã rồi, nhìn đồng đội âm thầm chịu thiệt thòi mà đau xót… Và ông lại bước tiếp trong một cuộc chiến khác. Trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, ông cùng đồng đội tham gia vào nhiệm vụ bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật - một thành tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và tiềm lực Quốc phòng của đất nước.

Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu đã cầm bút từ sự thôi thúc, viết để tri ân những đồng đội không còn nữa. Cuốn hồi ký do chính tự tay ông chấp bút đã tái hiện một không gian lịch sử hào hùng nhưng cũng đầy bi tráng của dân tộc.

Ông tâm sự: "Hơn 60 tuổi đời, chẵn 45 năm quân ngũ, ôn lại những nẻo đường đã qua, hiện lên trong tâm trí tôi như những thước phim quay chậm. Những thước phim lung linh sắc màu thời gian, bao kỷ niệm, ký ức, những hình ảnh thân thuộc. Tương tư gõ vào kỷ niệm. Tôi bồi hồi nhớ về quê hương, gia đình yêu dấu, nhớ lại cánh đồng lúa chiêm mùa một nắng hai sương, với hạt gạo củ khoai cha mẹ tảo tần nuôi tôi từng ngày khôn lớn, nhớ lại người thân bè bạn một thời hồn nhiên trìu mến…".

Nguyễn Mạnh Đẩu đã viết bằng cảm xúc thật của một người đi qua cuộc chiến, nếm trải những mất mát đau thương của đồng đội, vì thế cuốn hồi ký thực sự làm lay động lòng người. Đó không chỉ là những hào quang của chiến thắng, mà có cả sự mất mát, cả những đau thương. Ông viết bằng cả sự chiêm nghiệm về cuộc đời.

Những nẻo đường thời gian của ông không viết nhiều về mình mà đầy ắp những sự kiện về đồng đội, bởi với ông, sự sống còn hôm nay của Nguyễn Mạnh Đẩu có một phần xương máu của đồng đội ông năm xưa. Kể cả những hồi ức trong thời bình, ông cũng khiêm nhường nép mình trong dòng chảy chung của dân tộc. Chuyện đời, chuyện thế sự, lúc buồn lúc vui, âu cũng là lẽ thường tình.

Có một nhà văn Pháp đã nói rằng, viết hồi ký là khi đã đến lúc thấy những khát vọng, những hoài vọng về cuộc đời đã hết. Thế nên quá khứ với Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu không phải là hào quang của chiến thắng, của những đối đãi trọng vọng khi còn chức tước. Quá khứ của ông được viết nên bằng máu và nước mắt của đồng đội, là nỗi day dứt còn đó về những mất mát thời hậu chiến, là những dự định còn dang dở…

Giống như trên một chuyến tàu, đã đến lúc dừng ga, và bước xuống, trong tư thế của một kẻ sĩ luôn biết người biết ta, thấu hiểu thời cuộc. "Trên tàu/ Người giàu ngồi chễm chệ toa sang/ kẻ nghèo hèn ngồi bệt toa đen/ Vốn thế/ Một diện tích nhỏ nhoi rành rẽ/ Phân biệt Anh, Tôi/ Xuống tàu/ tất cả như nhau/ còn ai hay số ghế chỗ ngồi/ quên lãng/ Đoàn tàu đầy ắp lữ hành…

Nhưng đằng sau những chiến công của một vị tướng đã đi qua thời chiến và thời bình ấy, vẫn thấy bóng dáng của một tâm hồn thi sĩ, nhiều chiêm nghiệm trước cuộc đời. Những câu thơ cất lên từ trong tâm hồn của những hoài bão, khát vọng, từ những suy tư sâu sắc về thời cuộc, từ một tâm hồn đa cảm, tinh tế. Và trong một lần trở lại chiến trường xưa ông viết:  Những cánh rừng cao su bạt ngàn/ gợi lại cho ta/ một thời trận mạc/ Người lính kiêu hùng/ có trái tim biết hát/ Khúc ca xưa/ vang vọng đến bây giờ...

Vâng, những khúc ca của người lính trong trận mạc sẽ còn mãi trong hành trình dài của đất nước, bởi chính họ đã góp phần viết nên những trang sử hào hùng và bi tráng của dân tộc hôm nay

  Khánh Linh  CAND.COM



Tiêu đề: Thiếu tướng Phan Khắc Hải, Tổng Biên tập Báo Quân đội Nhân dân
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Ba, 2011, 08:49:12 pm
(http://img198.imageshack.us/img198/3895/thieutuongphankhachai.jpg)

Thiếu tướng Thạc sĩ Phan Khắc Hải (Phong Hải, 1.12.1941) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm – Đảng ủy viên Cục Chính trị Quân khu 4, Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân – Đảng ủy viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, Thường vụ- Phó Tổng thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, Chủ tịch Công đoàn ngành in Việt Nam, Chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Lao động (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (10.1994).


Ông xuất thân trong một gia đình ngư dân trong làng vạn chài ở vùng biển Lý Hòa, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Quê hương ông là một mảnh đất nghèo, hiếu học. Riêng làng ông đã có tới 5 vị Tiến sĩ được ghi danh trên văn bia tại Quốc Tử Giám. Ngày tháng sinh trong bài viết này là lấy theo hồ sơ, giấy tờ công tác của ông, chứ ba mẹ ông vì nhà đông con mà không nhớ ngày sinh của ông. Tuy nhiên, với tinh thần hiếu học của quê hương, với khát vọng con mình được ghi danh vào sử sách quê nhà, mẹ ông vẫn cố gắng quanh năm đòn gánh nuôi ông ăn học.

Từ lúc còn nhỏ, ông đã theo anh trai đi kháng chiến, lên các vùng tự do ở Tróoc, Cự Nẫm để theo học tại chiến khu. Học hết cấp 2, ông là một trong những thanh niên hiếm hoi của làng, của huyện đỗ vào trường Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh. Hồi đó, cả đặc khu Vĩnh Linh – Quảng Bình chưa có trường cấp 3, cả Hà Tĩnh cũng chỉ có một trường nổi tiếng đó là trường Phan Đình Phùng.

Năm cuối cấp 3, ông được gọi nhập ngũ. Tết năm đó, ông không dám nói với bố mẹ, vì ông là niềm tự hào cũng như kì vọng của gia đình, dòng họ, tiếp nối truyền thống khoa bảng tiến sĩ của quê hương, làng mạc. Ngày ông chính thức nhập ngũ chỉ sau Tết cổ truyền không lâu, nhằm ngày 20 tháng 2 năm 1961. Ông được phân công về đơn vị Trung đoàn 290 Ra-đa Sông Mã trực thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không, đóng quân ở núi Quyết, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Sau thời gian huấn luyện, tháng 10 năm 1963, cấp trên thấy ông có trình độ học thức liền phân công ông làm giáo viên văn hóa của Trung đoàn đồng thời cử ông theo học khóa bồi dưỡng giáo viên của Trường Văn hóa Tổng cục Chính trị.

Cuối năm 1963, trước yêu cầu của chiến trường miền Nam, cấp trên có chỉ thị tuyển một số cán bộ, chiến sĩ có trình độ học vấn đi B. Ông viết thư tình nguyện xung phong và được chọn trong đội hình vượt Trường Sơn của đơn vị trinh sát bộ binh, huấn luyện tại Lữ đoàn 338. Tháng 6 năm 1964, sau một thời gian huấn luyện vô cùng vất vả và khẩn trương, ban ngày học tập chính trị, kỹ chiến thuật bộ binh, trinh sát, sửa chữa vũ khí… ban đêm đeo ba lô luyện tập hành quân, vượt núi, (thời gian này ông làm văn thư rồi quản lý đại đội) ông cùng đơn vị hành quân vượt Trường Sơn vào chiến đấu tại phía Tây Thừa Thiên thuộc Phan khu Bắc Trị Thiên. Tại đây, ngày 3 tháng 5 năm 1964, ông được chuyển Đảng chính thưc sau đúng một năm tròn đứng trong hàng ngũ dự bị Đảng viên. Sau khi được kết nạp Đảng, ông được cấp trên điều về Phòng Chính trị Phân khu Bắc Trị Thiên làm công tác chính trị, tham gia viết báo.

Là phóng viên, biên tập viên rồi phụ trách tờ báo Quân giải phóng của Cục Chính trị Phân khu Bắc Trị Thiên, ông đồng thời là ủy viên Chi hội Văn nghệ Giải phóng khu Trị Thiên Huế. Là phóng viên chiến trường, ông có mặt và tham gia hầu hết những chiến dịch quan trọng trên chiến trường Trị Thiên thời kháng chiến chống Mỹ như : chiến dịch Mậu Thân 1968, chiến dịch Cocava mùa Xuân năm 1969, chiến dịch ở đồng bằng Hương Thủy, Hương Trà, Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào…

Sau chiến dịch Đường 9 Nam Lào, tháng 7 năm 1971, ông được cử đi học đào tạo chính trị viên tiểu đoàn tại Học viện Chính trị ; 7.1972, tiếp tục được cử đi học đào tạo giáo viên nghiên cứu lý luận tại Học viện Chính trị ; 9.1974, ông chuyển về làm biên tập viên Công tác Đảng, công tác chính trị tại tạp chí Quân đội Nhân dân Bộ Quốc phòng, phó bí thư Đảng ủy Toàn soạn tạp chí Quân đội Nhân dân Tổng cục Chính trị, nghiên cứu sinh tại Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc (1977 – 1980).

Tháng 7 năm 1980, sau khi kết thúc khóa nghiên cứu sinh tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, ông tiếp tục trở lại công tác tại tạp chí Quân đội Nhân dân ; 6.1982, biên tập viên rồi phó bí thư Đảng ủy Tòa soạn tạp chí Quân đội Nhân dân ; 10.1988, ông được điều vào Quân khu 4 công tác tại Cục Chính trị với chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị.

Tháng 5 năm 1989, ông ra Hà Nội giữ chức vụ Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân, đảng ủy viên Tổng cục Chính trị, thường vụ Đảng ủy Báo Quân đội Nhân dân. Thời kỳ ông về báo cũng chính là thời điểm đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Báo Quân đội nhân dân với vị thế của mình làm sao để bắt kịp vào nhịp sống đổi mới trên các lĩnh vực của xã hội, của đất nước, vừa thể hiện được quan điểm tư tưởng của Đảng, và nhà nước, vừa thể hiện sự uyển chuyển, phù hợp, kịp thời, thực sự là một bài toán khó mà bao giờ cũng cần có lời giải tốt đẹp nhất.

8.1997, ông chuyển ngành sang làm thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, ủy viên Ban Cán sự Đảng, Bộ Văn hóa Thông tin. Thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam (khóa 6), thường vụ phó tổng thư ký, ủy viên Đảng đoàn Hội Nhà báo Việt Nam (khóa 7) ; 1998, Chủ tịch Công đoàn ngành in Việt Nam (1998 – 2003), 2001, chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu (7.2004).

Tham khảo: Báo Công an Nhân dân điện tử



Tiêu đề: Thiếu tướng Vũ Tần, Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Ba, 2011, 12:29:47 am
(http://img683.imageshack.us/img683/2357/thieutuongvutan.jpg)

Thiếu tướng Vũ Tần (19.8.1942) từng giữ các chức vụ : Phó Tùy viên Quân sự Việt Nam tại Ba Lan, Cục trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Phòng Đối ngoại Bộ Quốc phòng(?).

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Hữu nghị do Cộng hòa Liên bang Nga trao tặng…

Thiếu tướng (11.1999)


Ông quê tại xã Lâu Thượng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nhập ngũ ngày 8 tháng 4 năm 1959, được kết nạp vào Đảng tháng 12 năm 1966 (chính thức ngày 13 tháng 9 năm 1967).

4.1959, chiến sĩ, tiểu đội trưởng Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 316 tại Lào ; 5.1961, theo học tiếng Nga tại Trường Văn hóa Lạng Sơn ; 6.1964, phiên dịch tiếng Nga cho Học viện Quân sự.

7.1965, phiên dịch tiếng Nga tại Trung đoàn Tê lửa 238, Trung đoàn 285, Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, đại đội phó Tên lửa, Đại đội 1, Tiểu đoàn 72, Trung đoàn Tên lửa 285, Sư đoàn Phòng không 375, Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1970, học viên bổ túc cán bộ tiểu đoàn tên lửa, trung đoàn tên lửa tại Trường Sĩ quan Phòng không ; 7.1971, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 71, Tiểu đoàn 72, Trung đoàn Tên lửa 285, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng Phòng không Không quân ; 7.1972, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 74, Tiểu đoàn 72, Trung đoàn Tên lửa 285, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng Phòng không Không quân.

3.1976, học viên nghiệp vụ đối ngoại quân sự ; 7.1977, trợ lý Phòng Nghiệp vụ 1, Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng; 9.1980, phó tùy viên quân sự Việt nam tại Ba Lan ; 8.1984, học viên Học viện Chính trị Quân sự ; 8.1985, phó Phòng Ngoại vụ Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng.

1.1989, trưởng Phòng Quốc tế, Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng kiêm Bí thư Đảng ủy Cục ; 3.1992, phó cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Cục ; 8.1993, học viên Học viện Quốc phòng ; 6.1995, cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng kiêm Bí thư Đảng ủy Cục cho đến khi về hưu (7.2003).





Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Ba, 2011, 04:32:49 am
(http://img217.imageshack.us/img217/1526/thieutuonglexuantau.jpg)

Thiếu tướng Anh hùng Lê Xuân Tấu (Kim Thanh, 10.9.1944) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Hạ Sĩ qua Xe tăng II, Tư lệnh Binh chủng Tăng – Thiết giáp.

Huân chương Chiến công Giải phóng (hạng Nhì, Ba)… Được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 19 tháng 5 năm 1972 khi đang là thiếu úy, đại đội trưởng Đại đội Xe tăng số 3, Tiểu đoàn Xe tăng số 3, Lữ đoàn Xe tăng 203, Bộ Tư lệnh Tăng – Thiết giáp.

Thiếu tướng (7.2003).


Thiếu tướng Lê Xuân Tấu quê ở xã Đôn Nhân, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông nhập ngũ ngày 5 tháng 4 năm 1963, đươc kết nạp vào Đảng ngày 25 tháng 10 năm 1967.

Từ năm 1968 đến năm 1972, ông cùng đồng đội tham gia đánh 5 trận, trận nào cũng dũng cảm, xông xáo, tích cực tiến công tiêu diệt địch, chỉ huy mưu trí, linh hoạt và chi viện tốt cho đồng đội chiến đấu.

Trong trận đánh địch ở Tà Mây (Quảng Trị) ngày 24 tháng 1 năm 1968, là trưởng xe đi đầu, khi tiến đến, cửa mở, xe bạn bị hỏng, ông nhanh chóng cho xe mình xông thẳng vào vị trí địch, bắn sập nhiều lô cốt và ụ súng. Mặc dù địch chống cự điên cuồng, ông vẫn bình tĩnh, dũng cảm lái xe vượt làn đạn địch, dẫn dắt bộ binh thọc sâu, chia cắt, tiêu diệt gọn một tiểu đoàn địch.
 
Trận đánh địch ở Làng Vây (Quảng Trị) ngày 7 tháng 2 năm 1968, ông chỉ huy trung đội chi viện tốt cho bộ binh diệt gọn quân địch trong khu vực được phân công, sau đó phát triển đánh sang khu vực khác, chi viện đắc lực cho đơn vị bạn.

Trận đánh địch ở Y Tu - Bản Nhích ngày 10 tháng 6 năm 1971, ông là đại đội trưởng, chỉ huy 3 xe tăng cùng bộ binh tiêu diệt gọn quân địch ở Y Tu. Cuối trận đánh, mặc dù 2 xe bị hỏng, song ông vẫn cùng đồng đội trong xe nhanh chóng đưa xe thọc sâu vào Bản Nhích, chi viện cho đơn vị bạn chiến đấu, tiêu diệt toàn bộ 2 tiểu đoàn, 1 đại đội và 2 trung đội nguỵ Lào, góp phần giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven.

Hoà bình lập lại, từ năm 1980 đến năm 1985, ông được cử đi học tại Học Viện xe tăng của Liên Xô ; Từ năm 1986 đến năm 1992, Hiệu trưởng Trường Hạ sĩ quan xe tăng II ; Từ năm 1993 đến năm 2002, Đại tá- Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng, Bộ Tư lênh Tăng-Thiết giáp ; Tháng 7 năm 2003, ông  được phong quân hàm Thiếu tướng - Tư lệnh Binh chủng Tăng-Thiết giáp cho đến khi về hưu (5.2005).

Bài viết: dựa theo Trang Thông tin Điện tử tỉnh Vĩnh Phúc






Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Văn Thực, Viện phó Viện Chiến lược Quân sự
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Ba, 2011, 10:30:56 pm
(http://img263.imageshack.us/img263/3392/thieutuongnguyenvanthuc.jpg)

Thiếu tướng Anh hùng Nguyễn Văn Thực (25.3.1943) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Phòng không, Giám đốc Học viện Phòng không, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 25 tháng 8 năm 1970 khi đang là trung úy, sĩ quan điều khiển tên lửa thuộc Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (28.10.1994).


Thiếu tướng Nguyễn Văn Thực quê ở thôn Phù Lập, xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Lạc (nay là Vĩnh Tường), tỉnh Vĩnh Phúc, sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo. Ngày 3 tháng 7 năm 1963, ông viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ khi mới tròn 20 tuổi. Ngày 14 tháng 9 năm 1964, ông được kết nạp Đảng (chính thức ngày 14 tháng 9 năm 1965).

7.1963, chiến sĩ Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 36, Sư đoàn 308 ; 9.1963, chiến sĩ Đại đội 3, Trung đoàn 228B, Bộ Tư lệnh Phòng không (PK), Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ, 22.10.1963), rồi chuẩn bị học tên lửa ở Trại Cờ, Hiệp Hòa, Bắc Giang và học ngoại ngữ (tiếng Nga, tiếng Trung) đồng thời làm giáo viên văn hóa của Trung đoàn (dạy toán).

5.1965, học chuyển loại binh chủng tên lửa, chiến sĩ trắc thủ điều khiển tên lửa tại Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn tên lửa 236, Quân chủng PKKQ ; 4.1966, sĩ quan điều khiển tên lửa thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Quân chủng PKKQ ; 8.1967, trưởng xe điều khiển tên lửa thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa (Sư đoàn 369), Quân chủng PKKQ và là chi ủy viên Đại đội 1.

Từ 1965 đến năm 1968, ông tham gia hơn 100 trận, luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công, đi sâu nghiên cứu các thủ đoạn đánh phá, phán đoán nhanh chóng, chính xác xử trí khôn khéo, bình tĩnh, dũng cảm, góp phần bắn rơi 21 máy bay trong nhiều tình huống phức tạp khác nhau như: khi địch rải nhiều loại nhiễu khác nhau, thay đổi chiến thuật tập kích, hoặc cho máy bay bay ở nhiều độ cao nhằm khống chế, vô hiệu hoá lực lượng phòng không, tên lửa mặt đất…

Nổi bật là trong trận đánh ngày 23 tháng 7 năm 1966, tại Thượng Thuỵ, Gia Lâm, trong lúc trận địa tên lửa bị máy bay Mỹ khống chế, bắn phá dữ dội, ông vẫn bình tĩnh điều khiển tên lửa bắn rơi một máy bay F 105 ; 12.8.1967, tại trận địa Chèm- Hà Nội, mặc dù Không quân Mỹ cho nhiều tốp máy bay vào đánh phá Hà Nội, có sử dụng nhiều loại nhiễu, nhưng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo điều khiển tên lửa bắn rơi 1 máy bay RF-5C bằng phương pháp 3 điểm ; 10.1.1968, tại trường 200, Không quân Mỹ tiếp tục chiến thuật thả nhiều loại nhiễu và tổ chức hàng chục tốp máy bay từ nhiều hướng khác nhau đánh vào Hà Nội, ông vẫn bình tĩnh phán đoán xử trí chính xác, từng tình huống điều khiển 2 quả đạn bắn rơi 1 chiếc máy bay F4, cũng sau trận này Bộ tư lệnh PK đã đúc rút và phổ biến kinh nghiệm cho các đơn vị về cách đánh tập trung dứt điểm, hiệu quả ; 22.11.1968, tại trường 400, bằng 1 quả tên lửa, do chính ông điều khiển đã góp phần bắn rơi 1 máy bay không người lái 147-J.

1.1969, đại đội phó Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ và là chi hủy viên Đại đội 1 ; 8.1969, đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ và là đảng ủy viên Tiểu đoàn ; 11.1969, học viên Lớp Đào tạo Chỉ huy Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không tại Đại đội 3, Tiểu đoàn 5, Trường Sỹ quan Phòng không, Quân chủng PKKQ ; 4.1971, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ ; 7.1971, học viên đào tạo chỉ huy tham mưu tên lửa phòng không tại Trường Phòng không Ô-đéc-xa của Liên Xô ; 1974, chính trị viên kiêm bí thư Liên Chi ủy Đoàn lưu học sinh quân sự Việt Nam tại Ô-đéc-xa.

10.1976, quyền Trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ ; 11.1977, học văn hóa (ngoại ngữ) tại Trường Vă hóa Quân đội ; 9.1978, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK. Là phó bí thư Đảng ủy Trung đoàn, Đảng ủy viên Sư đoàn. ; 5.1980, sư đoàn phó Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK ; 9.1980, học viên Học viện Bộ Tổng Tham mưu các Lực lượng Vũ trang Liên Xô mang tên Vô-rô-si-lốp, theo học Lớp Chỉ huy Tham mưu cấp chiến dịch chiến lược.

8.1982, phó sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK ; 4.1985, phó hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Tên lửa – Ra-đa (từ 1988 là Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Phòng không) kiêm Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Trường.

3.1991, hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Phòng không kiêm Bí thư Đảng ủy Trường, Đảng ủy viên Quân chủng PK ; 9.1993, giám đốc Học viện Phòng không, Phó Bí thư Đảng ủy Học viện, Đảng ủy viên Quân chủng ; 12.1999, phó viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu (4.2003).





Tiêu đề: Trung tướng Chu Tự Di, Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị
Gửi bởi: panphilov trong 26 Tháng Ba, 2011, 08:09:15 am
(http://img683.imageshack.us/img683/9634/chutudi.jpg)

Trung tướng Chu Tự Di (Bí danh: Lê Thái, 1928 - 0h55' 2.7.2010), từng giữ chức vụ Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê tại xã Văn Nhuệ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, là cán bộ tiền khởi nghĩa (tham gia hoạt động Cách mạng trước tháng 8 năm 1945).

Huân chương Ðộc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.




Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Kiệm, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 26 Tháng Ba, 2011, 08:15:19 am
(http://img233.imageshack.us/img233/821/nguyenvankiem.jpg)

Trung tướng Nguyễn Kiệm (tên thật: Nguyễn Văn Kiệm, 1931 - 22h20' 20.7.2010), từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Quân đoàn 1, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng), quê tại xã Hồng Phong, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Huân chương Quân công hạng Nhì, hai Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...


Tiêu đề: Thiếu tướng Lã Hồng Phương, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Tư, 2011, 03:28:11 am
(http://img52.imageshack.us/img52/6751/img0775fu.jpg)

Thiếu tướng Lã Hồng Phương (tên thật : Lã Văn Nhật, 26.3.1939) từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa tư tưởng, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ.

Thiếu tướng (10.1994)


Ông quê tại thôn Trịnh Hưởng, xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, nhập ngũ ngày 15 tháng 3 năm 1959, được kết nạp Đảng ngày 15 tháng 4 năm 1962 (chính thức ngày 15 tháng 1 năm 1963).

6.1956, tham gia dân quân tại quê nhà ; 3.1959, nhập ngũ, là chiến sĩ pháo thủ, khẩu đội trưởng, trung đội trưởng thuộc Đại đội 172, Trung đoàn Pháo phòng không 240, Bộ Tư lệnh Phòng không (PK) ; 4.1963, xuất ngũ, tham gia Ban Quản trị hợp tác tại quê nhà, là chính trị viên phó Xã đội và là tuyên huấn xã.

4.1965, tái ngũ, là trung đội phó, trung đội trưởng, chính trị viên trung đội thuộc Đại đội 516, Tiểu đoàn 51, Trung đoàn Pháo Phòng không 240, Bộ Tư lệnh Phòng không Hải Phòng, Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 7.1966, trợ lý thanh niên Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 4.1967, chính trị viên Đại đội 515, Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 7.1967, trợ lý thanh niên Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 9.1969, trợ lý Đảng vụ Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng PKKQ ; 10.1970, trợ lý cán bộ Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 12.1971, trợ lý cán bộ Phòng Chính trị Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 4.1975, chủ nhiệm chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 240, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ.

5.1977, chủ nhiệm chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 240, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK ; 8.1978, phó chính ủy Trung đoàn Pháo Phòng không 240, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK.

6.1979, chính ủy Trung đoàn Pháo Phòng không 225, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK ; 8.1980, trưởng Ban Cán bộ Sư đoàn Phòng không 369, Quân chủng PK ; 9.1982, học văn hóa Trường Văn hóa Quân chủng PK ; 9.1983, bổ túc tại Học viện Chính trị Quân sự ; 1.1984, trưởng Phòng Cán bộ Cục Chính trị Quân chủng PK.

2.1986, phó chủ nhiệm chính trị Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK ; 12.1987, phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK ; 10.1992, chủ nhiệm chính trị Quân chủng PK ; 1994, học chính trị cao cấp, Học viện Chính trị Quân sự ; 12.1994, chủ nhiệm chính trị Quân chủng PK cho đến khi nghỉ hưu (10.2001).





Tiêu đề: Thiếu tướng Đinh Văn Bồng, Giám đốc Học viện Phòng không Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Tư, 2011, 08:57:20 pm
(http://img703.imageshack.us/img703/5917/thieutuongdinhvanbong.jpg)

Thiếu tướng Tiến sĩ Đinh Văn Bồng (7.1946) từng giữ các chức vụ : Giám đốc Học viện Không quân, Giám đốc Học viện Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng…

Thiếu tướng (2.2002)


Ông người dân tộc Tày quê tại xã Hồng Định, huyện Quảng Yên, tỉnh Cao Bằng. Nhập ngũ ngày 25 tháng 11 năm 1965, được kết nạp Đảng ngày 1 tháng 6 năm 1969 (chính thức 1 tháng 3 năm 1970).

11.1965, chiến sĩ dự khóa bay Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1966, học viên lái máy bay tại Trường Không quân Liên Xô ; 10.1969, sĩ quan lái máy bay thuộc Đại đội 8, Trung đoàn Không quân 923, Bộ Tư lệnh Không quân (KQ), Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 8.1972, chuyển loại sang lái máy bay Mig. 21 thuộc Trung đoàn KQ 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 10.1973, đại đội phó Đại đội 3, Trung đoàn KQ 927, Sư đoàn KQ 371, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ.

5.1975, chính trị viên bay F-5, Đại đội 1, Trung đoàn KQ 935, Sư đoàn 372, Quân chủng PKKQ ; 2.1978, trung đoàn phó Trung đoàn KQ 935, Sư đoàn 372, Quân chủng KQ ; 9.1978, theo học tại Học viện KQ Ga-ga-rin Liên Xô.

7.1982, trung đoàn trưởng Trung đoàn KQ 927, Sư đoàn 371, Quân chủng KQ ; 6.1987, sư đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn KQ 370, Quân chủng KQ.

3.1991, sư đoàn trưởng Sư đoàn KQ 370, Quân chủng KQ ; 6.1995, giám đốc Học viện Không quân ; 7.1999, giám đốc Học viện Phòng không Không quân cho đến khi về hưu (2007).





Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Đức Côn, Phó Giám đốc Chính trị Học viện PKKQ
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Tư, 2011, 12:12:16 am
(http://img703.imageshack.us/img703/2474/thieutuongnguyenduccon.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Đức Côn (12.2.1945) từng giữ các chức vụ : Phó Giám đốc về Chính trị Học viện Phòng không, Phó Giám đốc về Chính trị Học viện Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Huy chương Vì sự nghiệp xây dựng Công đoàn, Huy chương Vì sự nghiệp Dân vận, Huy chương Vì công tác Tổ chức Xây dựng Đảng, Huy chương Vì sự nghiệp Dân số, Huy chương Vì sự nghiệp Kiểm tra của Đảng.

Thiếu tướng (7.2003).


Thiếu tướng Nguyễn Đức Côn quê tại thôn Doãn, xã Tiên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ông nhập ngũ ngày 24 tháng 2 năm 1965, được kết Đảng ngày 2 tháng 10 năm 1966 (chính thức ngày 2 tháng 10 năm 1966).

7.1962, Bí thư Chi đoàn Trường Phổ thông Duy Tiên (nay là Trường THPT Duy Tiên A), tỉnh Hà Nam ; 2.1965, học viên Kỹ thuật Ra-đa của Trường 300 ; 6.1965, tiểu đội trưởng trắc thủ Đại đội 43, Trung đoàn 293.

10.1967, trung đội phó Ra-đa, Đại đội 14, Trung đoàn 293, Binh chủng Ra-đa, Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 1.1968, phụ trách trung đội trưởng Ra-đa, Đại đội 41, Trung đoàn 290, Binh chủng Ra-đa, Quân chủng PKKQ ; 4.1970, học viên hệ đào tạo ở Học viện Chính trị ; 1.1973, chính trị viên phó, Đại đội 43, Trung đoàn 293, Sư đoàn 373, Quân chủng PKKQ ; 5.1973, trợ lý Câu lạc bộ Phòng Chính trị Binh chủng Ra-đa (F373), Quân chủng PKKQ.

4.1978, trợ lý Đảng ủy Binh chủng Ra-đa (F373), Quân chủng Phòng không (PK) ; 7.1980, phó chính ủy Trung đoàn 291, Binh chủng Ra-đa, Quân chủng PK ; 4.1981, học viên bổ tục tại Ki-ép, Liên Xô ; 8.1981, trợ lý thanh niên Quân chủng PK ; 2.1984, trưởng Ban Thanh niên Quân chủng PK.

1.1988, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK ; 5.1989, phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK ; 3.1993, bổ túc cao cấp hệ A tại Học viện Chính trị Quân sự ; 9.1993, phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng PK, thường vụ Đảng ủy Cục Chính trị, Đảng ủy viên Quân chủng ; 10.1994, hoàn thiện đại học, Học viện Chính trị Quân sự, Đảng ủy viên Quân chủng PK ; 12.1997, phó giám đốc về chính trị kiêm bí thư Đảng ủy Học viện PK ; 5.1999, phó giám đốc về chính trị kiêm bí thư Đảng ủy Học viện PKKQ cho đến khi về hưu (1.10.2005).





Tiêu đề: Trung tướng Đào Trọng Lịch, Thứ trưởng BQP kiêm Tham mưu trưởng QDNDVN
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tư, 2011, 10:31:49 pm
(http://img811.imageshack.us/img811/6830/trungtuongdaotronglich.jpg)

Trung tướng Đào Trọng Lịch (5.12.1939 – 25.5.1998) từng giữ các chức vụ : Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lai Châu – Thường vụ Tỉnh ủy, Tư lệnh kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu 2, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam – Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Ngoài ra ông còn từng là : Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Cứu hộ Cứu nạn Chính phủ.

Huân chương Quân công hạng Ba (truy tặng), Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (1990), Trung tướng (1998).


Ông quê tại thôn Hòa Lan, xã Lũng Hoa, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nhập ngũ tháng 11 năm 1957, được kết nạp Đảng tháng 10 năm 1960.

1957, tham gia du kích xã Lũng Hoà ; 11.1957, nhập ngũ ; 11.1961, được cử đi học tại Trường Sỹ quan Lục quân.

5.1964, lần lượt giữ các chức vụ: Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng và Tham mưu phó Trung đoàn thuộc Sư đoàn 316 ; 5.1973, được cử đi học tại Học viện Quân sự; 9.1974, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, Sư đoàn 316, tham gia chiến đấu ở Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh.

8.1979, được cử đi đào tạo tại Học viện Quân sự cấp cao ; 7.1981, lần lượt giữ các chức vụ : Phó sư đoàn trưởng, kiêm Tham mưu trưởng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316 thuộc Quân khu 2.

8.1987, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lai Châu, Thường vụ Tỉnh uỷ Lai Châu ; 9.1991, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2 ; 2.1992, Tư lệnh Quân khu 2, Phó bí thư Đảng uỷ Quân khu 2. 4.1997, được điều động về công tác tại Bộ Quốc phòng, giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam ; 12.1997, được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
          
1.1994, tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng và Đại hội Đảng lần thứ VIII, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Đảng uỷ Quân sự Trung ương ; 11.1997, là Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương.

Ngày 25 tháng 5 năm 1998, ông mất trong một tai nạn máy bay tại Lào khi ông cùng đoàn công tác, gồm 20 sĩ quan và tướng lĩnh cao cấp Việt Nam, bay từ Viêng-chăng về Xiêng Khoảng.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam




Tiêu đề: Phó Đô đốc Nguyễn Văn Tình, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Hải quân
Gửi bởi: panphilov trong 26 Tháng Tư, 2011, 04:44:13 pm
(http://img811.imageshack.us/img811/8864/phododocnguyenvantinh.jpg)

Phó Đô đốc – Anh hùng Nguyễn Văn Tình (2.10.1945) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Binh chủng Đặc công, Phó Tư lệnh về Chính trị - Bí thư Đảng ủy Quân chủng Hải quân.

Ngoài ra ông còn từng là Ủy viên Trung ương Đảng khóa 9.

Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 2 Nhì, 2 Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng… Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân tháng 11 năm 1960.

Chuẩn Đô đốc (12.2001), Phó Đô đốc (2004).


Ông quê tại xã Giao Yến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, nhập ngũ ngày 10 tháng 10 năm 1963, được kết nạp Đảng ngày 15 tháng 9 năm 1966 (chính thức 15.9.1967).

10.1963,  chiến sỹ Lữ đoàn 330, Sư đoàn 304 ; 2.1964, chiến sỹ cận vệ thuộc Phòng Hành chính Bộ Tư lệnh Hải quân.

3.1965, hạ sỹ đơn vị Đặc công nước thuộc Đội 1, Bộ Tư lệnh Hải quân ; 11.1965, trung sỹ Đại đội 1 Đặc công nước, Đội 1, Bộ Tư lệnh Hải quân ; 11.1966, phân đội phó rồi phân đội trưởng, Phó Bí thư Chi bộ Phân đội 1, Đội 1 Đoàn 126 Đặc công Hải quân ; 10.1968, trợ lý Tham mưu, Ban Tham mưu Đoàn 126 Đặc công Hải quân ; 6.1969, đội phó, Đảng uỷ viên Đội 33 Đoàn 126 Đặc công Hải quân ;

9.1969, đội trưởng, Chi uỷ viên Đội 11, Đoàn 126 Đặc công Hải quân ; 7.1970, học viên tại Tiểu đoàn 9, Học viện Chính trị ; 9.1971, chính trị viên lớp đào tạo sỹ quan đặc công nước thuộc Tiểu đoàn 8 Đoàn 126 Đặc công Hải quân.

8.1972, chính trị viên phó Tiểu đoàn 8, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, Đảng uỷ viên Tiểu đoàn ; 2.1973, chính trị viên phó Tiểu đoàn 3, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, Đảng uỷ viên Tiểu đoàn ; 1.1974, trợ lý Ban Chính trị Đoàn 126 Đặc công Hải quân ; 7.1974, tổ trưởng tổ học tập, Chi uỷ viên lớp đào tạo cán bộ chủ trì chính trị trung cấp thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 9, Học viện Chính trị.

8.1976,  chính trị viên Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 126 Hải quân, Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn, Đảng uỷ viên Lữ đoàn ; 11.1977, tổ trưởng học tập, Chi uỷ viên Đội 1, Đoàn 564 Trường Văn hoá Quân khu 3.

10.1978, học viên Trường Ngoại ngữ Quân sự ; 10.1980, học tại Học viện Quân chính Lê Nin Liên Xô, Đảng uỷ viên Tuỳ viên Quân sự 343 ; 7.1984, đoàn trưởng Đoàn Đặc công 861 (Nay là Đoàn 126 Hải quân ), Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn.

9.1989, học viên lớp đào tạo 10, Hệ đào tạo thuộc Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1991, đoàn trưởng Đoàn 126, Đảng uỷ viên Binh chủng Đặc công, Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn 126 ; 4.1994, Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng ; 7.1997, học bổ túc tại Học viện Chính trị Quân sự ; 8.1998, Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng ; 11.1999, Phó Tư lệnh Quân sự Quân chủng Hải quân ; 2.2000, Phó Tư lệnh về chính trị Quân chủng Hải quân, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng cho đến khi về hưu (1.7.2008).

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.



Tiêu đề: Thiếu tướng Vũ Anh Thố, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Tư, 2011, 06:52:04 am
(http://img685.imageshack.us/img685/1534/thieutuongvuanhtho.jpg)

Thiếu tướng Vũ Anh Thố (tên thật : Vũ Văn Thố, 14.1.1943) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng…

Thiếu tướng (11.1999).


Ông quê tại xã Yên Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, nhập ngũ tháng 9 năm 1962, được kết nạp Đảng tháng 6 năm 1966 (chính thức 3.1967).

9.1962, chiến sĩ Trung đoàn 46, Quân khu Hữu Ngạn ; 12.1962, chiến sĩ cao xạ 37 mm, Tiểu đoàn 24, Quân khu Hữu Ngạn ; 4.1964, học viên Trường Sĩ quan Cao xạ, Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ).

10.1965, trung đội trưởng thuộc Đại đội 1, Trung đoàn Tên lửa 236, Quân chủng PKKQ ; 11.1965, trung đội trưởng, trưởng xe YA kiêm sĩ quan điều khiển thuộc Tiểu đoàn 93 rồi Tiểu đoàn 91, Trung đoàn Tên lửa 278, Quân chủng PKKQ.

4.1969, trưởng xe YA, sĩ quan điều khiển thuộc Tiểu đoàn 94, Trung đoàn Tên lửa 261, Sư đoàn Phòng không (PK) 361, Quân chủng PKKQ ; 4.1970, học viên bổ túc cán bộ đại đội tên lửa Trường Sĩ quan PK, Quân chủng PKKQ ; 9.1971, giáo viên xạ kích tên lửa, Trường Sĩ quan Cạo xạ, Quân chủng PKKQ ; 6.1972, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 172, Trung đoàn Tên lửa 277, Quân chủng PKKQ.

4.1973, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 64, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ ; 3.1975, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 61, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ.

10.1975, theo học lớp đào tạo cán bộ trung đoàn tên lửa, Trường Sĩ quan PK, Quân chủng PKKQ ; 8.1978, tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK.

9.1979, trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK ; 4.1982, quyền trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 277B, Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK kiêm Bí thư Đảng ủy Trung đoàn ; 2.1985, học viên Học viện Quân sự Cấp cao khóa 7, đào tạo cán bộ chiến dịch chiến lược.

7.1987, sư đoàn phó về quân sự  Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 1.1988, sư đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 10.1989, quyền  sư đoàn trưởng Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK.

3.1991, sư đoàn trưởng Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK, phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn ; 12.1997, phó tư lệnh Quân chủng PK ; 7.1999, phó Tư lệnh Quân chủng PKKQ cho đến khi về hưu (1.1.2007).



Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: dinhba trong 28 Tháng Tư, 2011, 02:05:14 pm
.


.

(http://i705.photobucket.com/albums/ww54/cuongnam/trni-1.jpg)
Thiếu tướng anh hùng Trần Đối

Sinh ra tại vùng quê Quảng Nam truyền thống anh hùng; năm 14 tuổi, ông đã theo cách mạng, làm giao liên, liên lạc. Năm 16 tuổi, ông vào bộ đội. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, về sư đoàn 308, đóng quân trên quê hương Phú Thọ. Những năm 60, theo tiếng gọi của quê hương Miền Nam ruột thịt, ông lại trở về Nam, chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên (B3).

Tới năm 1971, ông được bổ nhiệm giữ chức Trung Đoàn trưởng E.24 cho tới năm 1973, ông được điều về làm sư trưởng Sư đoàn 5…

Ngày ông vế làm Trung đoàn trưởng, tôi mới chỉ là một chiến sĩ Vệ binh, chuyên đi bảo vệ ông…Nhiều năm sau ngày giải phóng,tôi vẫn hỏi han về tình hình của ông và gia đình, xong tôi nghĩ mình chỉ là người lính nên cũng không dám mạnh dạn chủ động  liên lạc với ông…

Thấm thoắt đã hơn 30 năm…

Thật bất ngờ, năm 2004, qua website của E.24, sau đợt tìm mộ và đưa hài cốt của anh Nguyễn Trọng Tín- nguyên C trưởng C13 từ Gò Công về quê, chúng tôi được biết nhiều thông tin của đồng đội phía Nam; và với những tấm hình mà gia đình LS Tín chụp tại Vĩnh Phú, gởi vào đăng tải trên trang E.24, ông đã nhận ra tôi cùng số ĐT của tôi…

 Qua điện thoại, ông đã thăm hỏi tôi và gia đình tôi, cùng ôn lại những kỷ niệm ở Tây Nguyên và ở đồng bằng Nam Bộ...

Ông hỏi tôi : Nhớ kỷ niệm nào nhất về ông? Tôi nói: Kỷ niệm mà tôi không thể quên về ông là năm 1971, khi ỏ Tây Nguyên, ông bảo tôi là “Đi hành quân nên mặc quần đùi, cho đỡ rách quần áo, vì chiến trường còn khó khăn lắm, chưa có quân trang bổ sung”…

Năm 1972, “Chiến dịch Nguyễn Huệ, ông nói với cán bộ và anh em trinh sát vệ binh: Đơn vị ta có vinh dự là đơnvị đánh mở màn chiến dịch! Ngày 30/3/1972, trung đoàn 24 đánh căn cứ Xa Mát, Tây Ninh. Sau 3 ngày, ta đã giải phóng và tiêu diệt hoàn toàn căn cứ này và sau đó đánh chặn ở Thiện Ngôn, tiêu diệt hoàn toàn chiến đoàn 44 của Ngụy quyền Saigon. Sau trận đánh này, ông điện cho ông Lanh, ông Thẩm (K6) và giao nhiệm vụ đặc biệt cho tôi: Đưa đoàn phóng viên chiến trường đi quay phim, chụp ảnh đi cùng đơn vị… Tôi đã đưa các phóng viên tới C11, C12, C10, qauy trực tiếp những xác xe tăng, xe bọc thép và quân địch bị ta tiêu diệt… Sau đó, ông điện trực tiếp xuống đơn vị khen ngợi tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đơn vị giao cho. Cuộc điện thoại này, ông và tôi kể cho nhau nghe, cùng ôn lại những kỷ niệm một thời lửa đạn… cho tới hết một cạc diện thoại 200 ngàn…

Nhưng điều tôi không ngờ nhất là, ông từ Sài Gòn bay ra Hanoi và đi xe tới tận nhà tôi, thăm hỏi gia đình tôi ân cần như người thân trong nhà vậy! Sau đó, ôn bảo tôi gọi điện cho một số anh em CCB E.24 ở Phú Thọ tới, cùng ăn cơm, giản dị và  thân mật như ngày nào đó còn ở chiến trường. Tôi và các anh em cùng trào rơi nước mắt! Thật không ngờ, một vị Anh hùng, một Vị Tướng, cách xa hơn 2000km  mà lại đến tận nhà thăm chiến sĩ cũ sau 33 năm xa cách!.. Ông nói: Đây là nơi Đất Tổ, cội nguồn. Tôi phải đến với Tổ tiên, đến với đồng đội… Sau đó ông chỉ đạo: Anh em E.24 ở Phú Thọ phải thành lập Ban Liên Lạc Truyền thống tại Phú Thọ.  Theo lời dặn dỗ của ông và sự nhất trí cao của Đại tá Nguyễn Công Đào, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn E.24, trưởng ban LL.TT Trung đoàn 24,  chúng tôi  đã thành lập được BLL.CCB.E24 tại Phú Thọ do tôi làm trưởng ban.

Trần Đối - Một vị tướng anh hùng mà bình dị mà chúng tôi không thể nào quên!

Theo Nguyễn hải Cảng




Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hải, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng PKKQ
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Tư, 2011, 06:23:21 am
(http://img836.imageshack.us/img836/1402/thieutuongnguyenmanhhai.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hải (15.3.1948) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công ( 2 hạng Nhất, 2 Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng…

Thiếu tướng (12.2004).


Ông quê tại thôn La Nguyên, xã Minh Quang, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ ngày 12 tháng 8 năm 1964, được kết nạp Đảng ngày 31 tháng 5 năm 1967 (chính thức 31.5.1968).

8.1964, chiến sĩ Đoàn Quân nhạc, Đại đội 4, Bộ Tư lệnh Thủ đô ; 12.1966, tiểu đội phó Đoàn Quân nhạc, Bộ Tư lệnh Thủ đô ; 10.1968, học lái máy bay MiG.21 tại Liên Xô.

11.1972, sĩ quan lái máy bay tại Đại đội 9, Trung đoàn Không quân (KQ) 927, Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 7.1975, trung đội trưởng lái máy bay thuộc Đại đội 3, Trung đoàn KQ 927, Quân chủng PKKQ.

8.1978, chính trị viên Phi đội 9, Trung đoàn KQ 927, Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng KQ.

12.1979, trung đoàn phó Trung đoàn KQ 927, Sư đoàn KQ 371, Quân chủng KQ ; 9.1982, trung đoàn trưởng Trung đoàn KQ 927 ; 6.1983, học văn hóa tại Trường Văn hóa Không quân ; 8.1983, học viên Học viện Quân chính Lê-nin (Liên Xô).

10.1987, phó chủ nhiệm chính trị Sư đoàn KQ 371, Quân chủng KQ ; 10.1988, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn KQ 371 ; 5.1989, phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn KQ 371.

2.1993, bổ tục tại Học viện Chính trị Quân sự ; 8.1993, phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn KQ 371 ; 2.1995, phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng KQ ; 7.1997, chủ nhiệm chính trị Quân chủng KQ ; 5.1999, phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng PKKQ ; 2.2001, chủ nhiệm chính trị Quân chủng PKKQ ; 12.2004, phó tư lệnh về chính trị Quân chủng PKKQ ; 10.2005, phó tư lệnh Quân chủng PKKQ cho đến khi về hưu (1.8.2008).



Tiêu đề: Thiếu tướng Đinh Trọng Kháng, Chính ủy Học viện Phòng không Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Năm, 2011, 06:57:34 am
(http://img827.imageshack.us/img827/5417/thieutuongdinhtrongkhan.jpg)

Thiếu tướng Đinh Trọng Kháng (19.10.1949) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Phó Giám đốc về Chính trị Học viện Phòng không Không quân, Chính ủy Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 2 Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng Phụ nữ.

Thiếu tướng (2.2007).


Ông quê tại xã Quỳnh Tiến, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ ngày 30 tháng 11 năm 1967, vào Đảng ngày 30 tháng 11 năm 1969 (chính thức 30.11.1970).

11.1967, chiến sĩ dự khóa Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân (PKKQ) ; 10.1968, học viên lái máy bay Trường Không quân (KQ) Liên Xô ; 10.1972, phi công lái máy bay chiến đấu thuộc Trung đoàn KQ 921, Sư đoàn KQ 371, Quân chủng PKKQ.

6.1973, phi công bay đêm thuộc Đại đội 5, Trung đoàn 921, Sư đoàn KQ 371, Quân chủng PKKQ ; 3.1975, trung đội trưởng bay thuộc Đại đội 5, Trung đoàn KQ 921, Sư đoàn KQ 371, Quân chủng PKKQ.

10.1975, đại đội phó bay đem Đại đội 5, Trung đoàn KQ 921, Sư đoàn KQ 371, Quân chủng PKKQ ; 7.1981, học viên Học viện KQ Ga-ga-rin (Liên Xô) ; 10.1984, trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Trung đoàn KQ 921, Sư đoàn KQ 371, Quân chủng KQ.

4.1987, trung đoàn trưởng Trung đoàn KQ 921, Sư đoàn KQ 371, Quân chủng KQ ; 7.1990, sư đoàn phó phụ trách huấn luyện Sư đoàn KQ 371, Quân chủng KQ ; 9.1990, học viên bổ túc lý luận chính trị Học viện Chính trị ; 8.1991,  sư đoàn phó về chính trị Sư đoàn KQ 371, Quân chủng KQ.

4.1995, học viên lớp bổ túc cao cấp Học viện Chính trị Quân sự ; 11.1995, sư đoàn phó về chính trị Sư đoàn KQ 371, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 12.1999, phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng PKKQ ; 6.2005, phó giám đốc về Chính trị Học viện Phòng không Không quân ; 5.2006, Chính ủy Phòng không Không quân cho đến khi về hưu (2010).



Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: dinhba trong 06 Tháng Năm, 2011, 02:04:26 pm
Người viết “Bản quân lệnh” ngày giải phóng Sài Gòn


(http://i705.photobucket.com/albums/ww54/cuongnam/thiutncngtrang-2-1.jpg)
Thiếu tướng Nguyễn công Trang
Quê quán: xã Lam Cầu – Duy Tiên – Hà Nam.


Sự kiện 30-4-1975 đã đi qua, người ta thường nhớ tới thời khắc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Tuy nhiên xảy ra ngay sau đó một sự kiện ít được chú y – đó là việc Đài Phát thanh Sài Gòn mỗi giờ phát lại nội dung Bản thông cáo số 1 (hay còn là Bản quân lệnh giới nghiêm) để bảo đảm trật tự, an toàn cho thành phố, tránh cho Sài Gòn khỏi rơi vào hỗn loạn, cướp bóc.

Hay tin người viết “Bản quân lệnh giới nghiêm” đọc trong ngày 30-4 tại Sài Gòn năm 1975 vẫn còn sống. Tôi tìm đến nhà tác giả, mới hay ông ở gần cơ quan tôi, hàng ngày vẫn đi bộ dọc phố Lý Nam Đế, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Ông chính là Thiếu tướng Nguyễn Công Trang, nguyên Phó Chính ủy Binh đoàn Hương Giang, người trực tiếp có mặt trong buổi trưa 30-4-1975 tại Dinh Độc Lập, chứng kiến sự đầu hàng vô điều kiện của nội các Dương Văn Minh và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Khi tôi hỏi lý do nào khiến ông viết bản quân lệnh đó thì ông cho biết:

– Rút kinh nghiệm từ bài học giải phóng Đà Nẵng, Bộ chỉ huy đơn vị vào giải phóng đã không đặt ra những quy định cụ thể để đảm bảo trật tự cho thành phố, dẫn đến việc người dân tự ý phá kho gạo khu vực bán đảo Sơn Trà lấy gạo ăn, gây mất trật tự.

Vì vậy, sau khi Dương Văn Minh được quân giải phóng đưa lên xe Jeep tới Đài Phát thanh Sài Gòn (đường Nguyễn Bỉnh Khiêm) phát lệnh cho ngụy quân đầu hàng vô điều kiện; các đồng chí Nguyễn Hữu An – Tư lệnh, Hoàng Đan – Phó Tư lệnh Binh đoàn Hương Giang, cùng một số cán bộ chỉ huy có mặt trong Dinh Độc Lập lúc ấy đã cắt cử, phân công nhau nắm diễn biến của cánh quân trên các hướng.

Sài Gòn chưa ngưng tiếng súng. Lúc ấy khoảng 12 giờ trưa, đại diện Bộ chỉ huy chiến dịch, đại diện Trung ương, Chính phủ vẫn ở phía sau, nên ngoài việc tiếp tục giải phóng thành phố, binh đoàn vẫn phải quản lý, bảo đảm an ninh trật tự. Trước yêu cầu khó khăn đặt ra, Thiếu tướng Nguyễn Công Trang (lúc ấy là đại tá), Phó Chính ủy binh đoàn cùng với một số cán bộ đang có mặt trong dinh đã nảy ra ý định viết “Bản quân lệnh giới nghiêm” để đảm bảo cho thành phố không rơi vào cảnh hỗn loạn.

Viết xong, ông đưa cho Tư lệnh An và Phó Tư lệnh Đan, phái viên Nguyễn Nam Long của Bộ chỉ huy chiến dịch (đi cùng) đọc góp ý, sau đó đưa ra đài. Khoảng 13 giờ chiều hôm đó, Đài Phát thanh Sài Gòn đã đọc bản quân lệnh ngay sau lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh. Nội dung bản quân lệnh gồm:

1. Quy định sĩ quan, binh sĩ, cảnh sát, tình báo, mật vụ, lực lượng vũ trang ngụy quyền Sài Gòn phải ra trình diện và nộp vũ khí tại Ủy ban Quân quản.

2. Công chức các cấp không được phá hoại công sở, sẵn sàng nhận lệnh. Các ngành điện, nước, bưu điện, truyền thanh, vệ sinh công cộng phải điều hành công việc thường xuyên. Công nhân phải giữ vững máy móc, xí nghiệp.

3. Cấm các hành động gây rối, phá hoại trật tự trị an, xâm phạm tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản chính quyền cách mạng. Cấm các luận điệu chiến tranh tâm lý gây hoang mang, chia rẽ, không được gây tiếng nổ, bắn súng bừa bãi.

4. Ai ở đâu ở đó. Từ 18 giờ tối 30-4 đến 6 giờ sáng 1-5 không ai được đi lại trong thành phố. Mọi nhà phải treo cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng…

Do kịp thời thông báo Bản quân lệnh trên toàn thành phố mà đêm 30-4 năm ấy, Sài Gòn đã bình yên. Điện trên các ngõ đường được thắp sáng. Hôm sau, ngày 1-5, thành phố bước vào một trang sử mới.

HOÀNG GIA MINH





Tiêu đề: Thiếu tướng Bùi Đăng Phiệt, Phó Tư lệnh QC Phòng không Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 10 Tháng Năm, 2011, 04:00:49 pm
(http://img155.imageshack.us/img155/4889/thieutuongbuidangphiet.jpg)

Thiếu tướng Bùi Đăng Phiệt (1.9.1948) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Không quân (KQ), Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) kiêm Bí thư Đảng ủy Cục, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiếng chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệm kiểm tra của Đảng, Huy chường Vì sự nghiệp dân vận của Đảng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ, Huy chương Vì sự nghiệp Công tác tổ chức xây dựng Đảng.

Thiếu tướng (7.2003).


Ông quê tại thôn Lũng Quý, xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, nhập ngũ ngày 28 tháng 11 năm 1966, được kết nạp Đảng ngày 26 tháng 3 năm 1968 (chính thức ngày 26 tháng 3 năm 1969).

8.1966, sinh viên Trường Đại học Thủy Lợi ; 11.1966, nhập ngũ, là chiến sĩ Tiểu đoàn 80, Trung đoàn Tên lửa 257, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 7.1968, học viên khoa Vô tuyến điện, Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự ; 11.1973, trợ lý Ban Tên lửa, Phòng Kỹ thuật Sư đoàn PK 363, Quân chủng PKKQ.

4.1976, học chuyển loại cán bộ chỉ huy Trường Sĩ quan PK, Quân chủng PKKQ ; 7.1977, đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 81, Trung đoàn Tên lửa 238, Sư đoàn PK 363, Quân chủng PK ; 1.1978, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 84, Trung đoàn Tên lửa 238, Sư đoàn PK 363, Quân chủng PK ; 6.1978, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 81, Trung đoàn Tên lửa 238, Sư đoàn PK 363, Quân chủng PK.

2.1979, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 82, Trung đoàn Tên lửa 238, Sư đoàn PK 363, Quân chủng PK ; 9.1980, học viên Học viện PKKQ Quốc gia Liên Xô Giu-cốp-xki ; 8.1984, trung đoàn phó rồi trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 253, Sư đoàn PK 365, Quân chủng PK.

5.1987, lữ đoàn phó rồi lữ đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Lữ đoàn Tên lửa 255, Sư đoàn PK 363, Quân chủng PK, là Đảng ủy viên Lữ đoàn, Sư đoàn PK 363, Quân chủng PK ; 5.1989, lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Tên lửa 255, Sư đoàn PK 363, Quân chủng PK ; 9.1990, học viên Hệ đào tạo khóa 11, Học viện Quân sự cấp cao.

7.1992, sư đoàn phó Sư đoàn PK 365, Quân chủng PK ; 5.1993, sư đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn PK 378, Quân chủng PK ; 6.1995, sư đoàn trưởng Sư đoàn PK 378 ; 5.1997, sư đoàn trưởng Sư đoàn PK 377 ; 6.1998, chủ nhiệm kỹ thuật Quân chủng PK, là Đảng ủy viên Quân chủng ; 5.1999, chủ nhiệm kỹ thuật Quân chủng PKKQ, bí thư Đảng ủy Cục và là Đảng ủy viên Quân chủng ; 2.2002, học viên bổ túc chính trị hệ A rồi là phó tư lệnh Quân chủng PKKQ, ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng cho đến khi về hưu (2009).



Tiêu đề: Thiếu tướng Đỗ Ngọc Phụ, Phó Chính ủy QC Phòng không Không quân
Gửi bởi: panphilov trong 16 Tháng Năm, 2011, 03:14:36 am
(http://imageshack.us/m/844/4929/thieutuongdongocphu.jpg)

Thiếu tướng Đỗ Ngọc Phụ (15.10.1948) từng giữ các chức vụ : Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị Sư đoàn Phòng không 363 – Quân chủng Phòng không (PK), Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ).

2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng…

Thiếu tướng (2.2006).


Ông quê tại thôn Tân Liễu, xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, nhập ngũ ngày 28 tháng 4 năm 1966, được kết nạp Đảng ngày 27 tháng 3 năm 1968 (chính thức ngày 27.3.1969).

4.1966, chiến sĩ mới thuộc Đại đội 6 AM, Trung đoàn Pháo PK 241, Quân chủng PKKQ ; 9.1966, chiến sĩ Đại đội 7 AM, Trung đoàn Pháo PK 218, Quân chủng PKKQ ; 12.1967, tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 7 AM, Trung đoàn Pháo PK 218, Quân khu 4.

1.1969, trung đội phó thuộc Đại đôi 5 AM, Trung đoàn Pháo PK 218 ; 1.1970, trung đội trưởng thuộc Đại đội 7 AM, Trung đoàn Pháo PK 218 ; 7.1971, chính trị viên phó Đại đội 5 AM, Trung đoàn Pháo PK 218 rồi chính trị viên Đại đội (11.1971).

3.1974, theo học bổ túc chính trị viên tại Đoàn 569, Bộ Tư lệnh 559 – Đường Trường Sơn ; 1.1975, chính trị viên phó Tiểu đoàn 10, Trung đoàn 218, Sư đoàn PK 367, Quân chủng PKKQ.

12.1975, trợ lý Đảng vụ Trung đoàn Pháo PK 218, Sư đoàn PK 367 ; 1977, học viên Trường Văn hóa Quân đội ;

10.1980, học viên Trường Quân chính Lê-nin của Liên Xô ; 10.1984, trợ lý Phòng Tổ chức Cục Chính trị, Quân chủng PK ; 10.1985, phó chủ nhiệm chính trị Lữ đoàn PK 225, Quân chủng PKKQ, đảng ủy viên Lữ đoàn.

9.1987, lữ đoàn phó chính trị Lữ đoàn PK 225, Sư đoàn PK 363, Quân chủng PK kiêm bí thư Đảng ủy Lữ đoàn ; 4.1990, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn PK 363, Quân chủng PK và là đảng ủy viên Sư đoàn.

4.1992, phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn PK 363 kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn ; 10.1997, bổ túc tại Học viện Chính trị Quân sự (hệ A) ; 2.1998, phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn PK 363 kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn ; 12.1999, phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng PKKQ rồi chủ nhiệm (2.2005) ; 2.2007, phó chính ủy Quân chủng PKKQ cho đến khi về hưu (2009).



Tiêu đề: Thiếu tướng Cao Xuân Khương, Phó Tư lệnh Quân khu 4
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Năm, 2011, 07:49:15 pm
(http://img263.imageshack.us/img263/9248/thieutuongcaoxuankhuong.jpg)

Thiếu tướng Cao Xuân Khuông (1942) từng giữ các chức vụ : Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Nghệ An, Phó Tư lệnh Quân khu 4.

Ông quê tại xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Năm 1960, 18 tuổi, sau khi tốt nghiệp cấp 3 ông nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện tân binh, ông được bổ sung về Tiểu đoàn 925 Quân khu 4 đóng tại Kỳ Sơn giáp biên giới Việt Lào. Tại đây, ông cùng đơn vị làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn tiêu diệt các băng đảng thổ phỉ ở Noong Hẹt và Nậm Vang. Khi nạn phỉ ở khu vực biên giới tạm yên, với những thành tích chiến đấu đạt được, năm 1961 ông được chọn đi đào tạo sĩ quan tại Trường Sĩ quan Lục quân 1.

Năm 1964, sau khi tốt nghiệp, với tài bắn súng ngắn ông được giữ lại Trường làm giảng viên phụ trách công tác huấn luyện. Trước tình hình chiến sự ở miền Nam và Quân khu 4 đang vào giai đoạn ác liệt của giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông xin đơn vị cho về chiến đấu trên chiến trường quê hương.

Vào thời điểm ông về lại trên chiến trường quê hương, Quân khu đang xúc tiến thành lập Tiểu đoàn 924 để hoạt động trên chiến trường Thượng Lào, ông được bổ nhiệm làm trung đội trưởng Trung đội 2 lên đường tiếp tục tham gia làm nghĩa vụ Quốc tế. Thời gian này, ở xã Mường Lống thuộc huyện Kỳ Sơn, xảy ra vụ thổ phỉ từ bên kia biên giới xâm nhập vào giết chết gần 20 công nhân lâm nghiệp, Trung đội của ông chỉ huy lại được trên điều động trở về tiêu diệt nhóm phỉ này.

Cuối năm 1965, ông về làm trợ lí Ban Tác chiến, Cơ quan Tham mưu của Sư đoàn 324 rồi cùng Sư đoàn vào Nam chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Tại đây, ông tiếp tục được cử về đơn vị chiến đấu làm đại đội trưởng và đồng đội đã tham gia nhiều chiến dịch quan trọng như : Đường 9 Khe Sanh (1968), Cồn Tiên – Dốc Miếu (1968), Đường 9 Nam Lào (1971), Bảo vệ thành cổ (1972), chống địch lấn chiếm tại Cửa Việt (1973)…

Năm 1970, nhận quyết định của Quân khu, ông về Quảng Trị làm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Bộ đội địa phương. Năm 1972, với những thành tích tại Thành cổ, Tiểu đoàn do ông chỉ huy đã được Chính phủ lâm thời miền Nam trao tặng danh hiệu Anh hùng, riêng ông được vinh dự ra báo cáo thành tích tại Bộ Tổng Tham mưu.

Sau khi hòa bình lập lại, 1975, ông được điều về làm  phó Phòng Tác chiến Quân khu 4 sau khi Quân khu cùng với Quân khu Trị Thiên chia tách, chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ An - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, rồi Phó Tư lệnh Quân khu 4 (1995) cho đến khi về hưu.

Tham khảo: Báo Phụ nữ Today



Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Chiêu, Viện trưởng Viện Bảo tàng Quân đội
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Bảy, 2011, 06:00:23 pm
(http://img839.imageshack.us/img839/7487/lechieu.jpg)

Thiếu tướng Lê Chiêu (tên thật : Lê Văn Thảo, 27.5.1922 – không rõ) từng giữ các chức vụ : Phó Bí thư Quân khu ủy Khu 2, Phó Chủ tịch Mặt trận bảo vệ Hà Đông – Hòa Bình, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 3, Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị, Chính ủy Sư đoàn 312, Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân, Chính ủy Đoàn chuyên gia 478, Viện trưởng Viện Bảo tàng Quân đội (nay Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì An ninh Tổ quốc… Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974).


Ông sinh tại thôn Đông Ba, xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, lúc nhỏ học tiểu học ở Trường Chi Chi (Hà Nội) rồi học trung học tại Trường tư thục Thăng Long. Do sự yêu mến và gắn bó với các thầy tại Trường Thăng Long như Hoàng Minh Giám, hiệu trưởng, Võ Nguyên Giáp, thầy giáo dậy sử, ông chủ động tìm đến với chủ nghĩa cộng sản và tham gia Cách mạng.

Năm 1939, 17 tuổi, ông xung phong làm liên lạc cho thành ủy Hà Nội. Lúc bấy giờ, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp phong trào Cách mạng, những sách báo công khai của Đảng đều bị cấm, các tổ chức hợp pháp và nửa hợp pháp đều phải rút lui vào hoạt động bí mật. Do sự dũng cảm, khôn khéo hoạt động giữa vòng vây của thực dân Pháp, cũng như sự nỗ lực phấn đấu rèn luyện, đóng góp cho Cách mạng, tháng 2 năm 1941, ông được kết nạp vào Đảng.

Từ tháng 2 năm 1941, khi hoạt động gây cơ sở tại Nhà máy Phan Ninh (Hà Nội), ông đã tuyên truyền, vận động gây dựng cơ sở Cách mạng trong nhà máy, đồng thời gây dựng cơ sở Cách mạng trong hàng ngũ học sinh, sinh viên nhiều trường tại Hà Nội. Thời gian này, ông lần lượt được cử là Thành ủy viên Thành ủy Hà Nội rồi Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội.

Trong Cách mạng tháng 8 (1945), ông là Chi đội trưởng phụ trách lực lượng phía Tây, tham gia giành chính quyền tại nhiều địa phương trên địa bàn Hà Nội.

Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông được điều sang Quân đội giữ chức vụ đại đội trưởng, chính trị viên đại đội, chính trị viên Tiểu đoàn 56 bảo vệ Mặt trận Hà Đông. Tháng 1 năm 1947, ông được giao chức vụ trưởng phòng kiểm tra Khu 2, phó bí thư Quân khu ủy Khu 2, phó chủ tịch Mặt trận bảo vệ Hà Đông, Hòa Bình. Từ tháng 4 năm 1948 đến năm 1958, ông lần lượt giữ các chức vụ giáo viên, trưởng Phòng Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân, Hiệu trưởng Trường Thiếu sinh quân, phó bí thư Đảng ủy kiêm chủ nhiệm chính trị Trường Sĩ quan Lục quân. Từ năm 1958 đến 1962, ông là chính ủy Sư đoàn 312. Từ năm 1962 đến 1964, ông được cử đi học tại Trường Quân chính Lenin của Liên Xô.

Sau khi tốt nghiệp, từ năm 1965 - 1980, ông lần lượt giữ các chức vụ:  chủ nhiệm chính trị Quân khu 3, cục trưởng Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị, chính uỷ Sư đoàn 312, chính uỷ Trường Sĩ quan Lục quân, chính uỷ Đoàn chuyên gia 478. Tháng 3 năm 1981, ông được giao giữ chức Viện trưởng Viện Bảo tàng Quân đội nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cho đến khi về hưu năm 1987.

Theo Bảo tàng Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Trung tướng Trương Đình Thanh, Tư lệnh Quân khu Bốn
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Bảy, 2011, 06:44:00 am
(http://img269.imageshack.us/img269/4678/truongdinhthanh.jpg)

Trung tướng Trương Đình Thanh (8.12.1944 – 26.1.2005) từng giữ các chức vụ: Tư lệnh kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu 4.

Huân chương Ðộc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến công Giải phóng (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Thiếu tướng (1992), Trung tướng (2003).


Trung tướng Trương Đình Thanh sinh tại xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông nhập ngũ tháng 2 năm 1961, được kết nạp vào Đảng tháng 10 năm 1964.

1961, được cử đi học tại Trường Quân sự Quân khu 4; 1962 - 1975, lần lượt giữ các chức vụ tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó, trung đoàn trưởng Trung đoàn 6 Phú Xuân trực thuộc Quân khu Trị Thiên Huế.

1976 - 1980, được cử đi đào tạo tại Học viện Lục quân rồi Học viện Quốc phòng; 1981 - 1984, lần lượt giữ các chức vụ Sư đoàn phó Sư đoàn 324, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 342 của Quân khu 4; 1985, tiếp tục được cử đi đào tạo tại Học viện Quân sự Frunze của Liên Xô.

1986 - 1994, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Quân khu 4; 1995, được cử đi học lớp lý luận chính trị cao cấp tại Học viện Chính trị Quân sự; 7.1995, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng rồi Phó Tư lệnh Quân khu 4; 2.2002 Tư lệnh Quân khu 4.

Trung tướng Trương Đình Thanh mất ngày 26.1.2005 trong một tai nạn máy bay khi ông cùng đoàn cán bộ Quân khu 4 và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ An đi kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu của bộ đội tại đảo Hòn Mê.



Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Văn Tấn, Tư lệnh - Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Bảy, 2011, 10:22:22 am
Trung tướng Nguyễn Văn Tấn (Ba Tấn, 7.1941 – 14.10.2007) từng giữ các chức vụ : Sư đoàn trưởng Sư đoàn 339, Tham mưu trưởng Mặt trận 979, Tư lệnh kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu 9.

Thiếu tướng (6.1992), Trung tướng (11.1999).


Trung tướng Nguyễn Văn Tấn sinh tại xã Lộc Giang, huyện Ðức Hòa, tỉnh Long An, trong một gia đình nông dân nghèo.

Năm 1960, ông tham gia phong trào Ðồng Khởi ở địa phương,  làm công tác thanh niên và dân quân, du kích. Tháng 8 năm 1965, ông xung phong vào bội đội của chủ lực Miền. Từ năm 1965 đến tháng 3 năm 1979, ông lần lượt trưởng thành từ chiến sĩ, cán bộ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn thuộc Trung đoàn 1, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4.
 
Từ tháng 4 năm 1979 đến tháng   7 năm 1982,  ông  là trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, rồi phó tham mưu trưởng  Sư đoàn 9. Từ tháng 8 năm 1982 đến tháng 2 năm 1987, ông về đảm trách sư đoàn phó, tham mưu trưởng, rồi sư đoàn trưởng Sư đoàn 339.

Từ tháng 3 năm 1988, ông đảm trách tham mưu trưởng Mặt trận 979, Quân khu 9. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Cam-pu-chia về nước, ông lần lượt được giao giữ trọng trách: phó tham mưu trưởng (10.1989), phó tư lệnh  (7.1995) rồi tư lệnh Quân khu 9 (11.1996) cho đến khi về hưu (11-2000).




Tiêu đề: Trung tướng Đỗ Mạnh Đạo, Phó Tư lệnh Chính trị - Bí thư Đảng ủy Quân khu 3
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Bảy, 2011, 10:59:37 am
Trung tướng Đỗ Mạnh Đạo (1929 – 18h15’ 25.6.2006) từng giữ các chức vụ : Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Thông tin Liên lạc, Chính ủy Sư đoàn 320B, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân đoàn 1, Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 3.

Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Huy hiệu Hồ Chí Minh.

Đại úy (1958), Đại tá (2.1977), Thiếu tướng (4.1984), Trung tướng (4.1989).


Trung tướng Đỗ Mạnh Đạo sinh tại thôn Nhân Nhuế, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong một gia đình Cách mạng. Lúc còn nhỏ, ông được gia đình cho ăn học tới nơi tới chốn và sớm giác ngộ Cách mạng.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Ðoàn Thanh niên cứu quốc địa phương và làm công tác bình dân học vụ xã. Tháng 1 năm 1946 được kết nạp Ðảng tại Chi bộ Nhân Nhuế, huyện Mỹ Lộc. Tháng 8 năm 1946, ông nhập ngũ.

Từ năm 1962 đến năm 1965, ông được cử đi học chính trị tại Bắc Kinh (Trung Quốc), về nước tiếp tục công tác ở Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị ; 5.1966 đến 3.1968, được cử đi phái viên chiến trường Quân khu 5 ; 4.1968 trưởng Phòng Công tác Cơ sở Cục Tổ chức; 3.1969 chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Thông tin; 12.1972 phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc; 3.1974 chính ủy Sư đoàn 320b, Quân đoàn 1.

Tháng 12 năm 1977, ông là chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 1; 3.1979, phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 1; 8.1980 phó tư lệnh về chính trị Quân đoàn 1; 8.1982 chủ nhiệm chính trị Quân khu 3; 10.1985 phó tư lệnh chính trị kiêm chủ nhiệm chính trị Quân khu 3.

Tháng 10 năm 1989, ông là bí thư Ðảng ủy kiêm phó tư lệnh chính trị Quân khu 3. Tháng 6 năm 1991, là đại biểu dự Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ VII. Tháng 1-1993 ông được Ðảng, Nhà nước, Quân đội cho nghỉ chờ hưu.


Tiêu đề: Đại tá Trần Dụ Châu, Giám đốc Nha Quân nhu
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Bảy, 2011, 07:24:45 am
Đại tá Trần Dụ Châu (1906 – 6.9.1950) từng giữ chức vụ Giám đốc Nha Quân nhu trực thuộc Cục Quân nhu (tiền thân của Tổng cục Cung cấp tức Tổng cục Hậu cần ngày nay).

Đại tá (1948), bị tước quân hàm (1950).


Trần Dụ Châu sinh năm 1906 tại một tỉnh miền Trung (có tài liệu nói là Thừa Thiên). Sau khi đỗ tú tài, được chính quyền thực dân Pháp tuyển vào làm thư kí cho Tòa sứ Pháp tại tỉnh. Là người có học thức, Trần Dụ Châu tham gia viết bài cho báo « Thanh Nghệ Tĩnh ». Có tài liệu nói do  vừa đi làm vừa viết báo, sợ bị lộ chuyện công sở Tòa sứ cho Trần Dụ Châu nghỉ việc.Cũng có tài liệu nói do Trần Dụ Châu chủ động xin thôi việc.

Sau khi dời Tòa sứ, Trần Dụ Châu chuyển sang làm nhân viên Quận Hỏa xa Bắc Trung Kỳ, đến khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, 9.3.1945, thì được bổ nhiệm làm trưởng phòng kế toán Quận Hỏa xa Bắc Trung Kỳ.

Cách mạng tháng 8  năm 1945 thành công, Trần Dụ Châu tham gia một cách hăng hái các hoạt động trong các tổ chức cứu quốc, đồng thời tiếp tục công tác trong ngành hỏa xa của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Thời gian này, Trần Dụ Châu hiến cho Chính phủ một phần tài sản của mình và hoạt động trong Ủy ban Công sở, Nha Hỏa xa Việt Nam và Hội Công nhân Cứu quốc Hỏa xa. Theo những lời khai sau này, thì thời gian làm ở Quận Hỏa xa Bắc Trung Kỳ, nhờ quen biết người Nhật, ngày Nhật đảo chính Pháp, Trần Dụ Châu lấy được một kho vải ở huyện Đức Phong (tỉnh Quảng Ngãi ?) bán đi và mua được một căn biệt thự ở Đà Lạt.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, 12.1946, Trần Dụ Châu được điều ra Bắc và được giao một nhiệm vụ hết sức quan trọng là tổ chức vận chuyển một kho hàng lớn gồm hơn ngàn tần gáo muối từ Vân Đình, Hà Đông (Hà Nội ngày nay) lên Việt Bắc giao lại cho ngành hậu cần quân đội. Mặc dù, lúc này đã có dư luận là Trần Dụ Châu bớt xén số hàng được phân công vận chuyển, nhưng do là người năng nổ, tháo vát, có đầu óc kinh doanh, có kinh nghiệp trong công việc và lại là người có học thức, cho nên Trần Dụ Châu tiếp tục được trọng dụng.

Ngày 19 tháng 3 năm 1947, Trần Dụ Châu được điều sang quân đội công tác tại Cục Quân nhu và giữ chức vụ Giám đốc Nha Quân nhu phụ trách thu mua, cung ứng lương thực, quân trang, quân dụng, thuốc men và đạn dược cho các đơn vị bộ đội. Nhờ làm tốt công việc được giao, năm 1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên, Trần Dụ Châu được phong quân hàm Đại tá. Lúc đó, Cục Quân nhu do ông Vũ Anh làm cục trưởng chỉ đảm nhiệm chức năng quản lí quản trị, còn Nha Quân nhu mới thực sự là đơn vị trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ sản xuất.

Do hành vi tham ô, nhận hối lộ, lừa trên dối dưới, kết bè kéo cánh, trù dập cán bộ nhân viên dưới quyền và lối sống xa đọa, ngày 5 tháng 9 năm 1950, tại Thái Nguyên, Trần Dụ Châu và bè cánh (Phạm Toàn, Phó của Trần Dụ Châu, và Lê Sĩ Cửu, cán bộ Nha Quân nhu) đã được đưa ra xét xử tại Tòa Án binh do Thiếu tướng Chu Văn Tấn (sau này là Thượng tướng) làm Chánh án và Thiếu tướng Trần Tử Bình làm Công tố viên. Tòa đã tuyên phạt Trần Dụ Châu tử hình và tịch thu ¾ tài sản. Sau đó 15’, Tòa tiếp tục đọc công lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh về việc tước quân hàm của Trần Dụ Châu. Theo quy định, Trần Dụ Châu đã gửi thư xin giảm tội lên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau một đêm thức trắng, đã bác thư của Trần Dụ Châu đồng thời chỉ đạo cho Báo Cứu quốc đăng công khai sự việc vào ngày 27 tháng 9 năm 1950 nhằm làm gương cho các cán bộ và làm yên lòng đồng bào chiến sĩ.

Một ngày sau, tức 6 tháng 9 năm 1950, vào lúc 6 h, Trần Dụ Châu bị đưa ra pháp trường xử bắn, đúng 10 ngày trước khi Chiến dịch Biên Giới diễn ra, trước sự chứng kiến của đại diện Bộ Tư pháp, Nha Công an, Cục Quân nhu và một số cơ quan khác.

Theo cáo trạng và lời khai của Trần Dụ Châu, bè đảng cùng các nhân chứng thì trong thời gian làm Giám đốc Nha Quân nhu Trần Dụ Châu đã biển thủ công quỹ một số tiền lớn so với thời bấy giờ là 57.959 đồng, 149 đôla Mỹ, các tài sản khác trị giá 143.900 đồng. Hồi đó, giá gạo ở Thái Nguyên – Bắc Cạn là 50 đồng/một kg,và chiến sĩ ngoài mặt trận mỗi ngày được cấp vài lạng gạo và hơn 10 đồng tiền thức ăn. Các thủ đoạn Trần Dụ Châu dùng là ăn bớt, cùng bè cánh lập hóa đơn khống, khai man để hưởng phần chên lệch… Ngoài ra, Trần Dụ Châu còn nhận hối lộ, chuyên quyền, độc đoán, sống sa đoạ, đồi truỵ. Uỷ ban Tiếp liệu Thu - Đông 49, các kho số 1, 4, 10 thường xuyên nộp cho Trần Dụ Châu tiền tiêu, rượu, đồ hộp, hải sản khô, thuốc lá, quần áo, chăn len... ; tuyển người, thải người theo sở thích cá nhân, vung tiền bao gái; có lần dùng ôtô công đưa gái đi chơi ở Bắc Cạn ; quan hệ bất chính với một nữ nhân viên, bổ nhiệm làm “bí thư văn phòng” của Nha, làm việc cùng buồng, ăn ở cùng nhà với Châu. Giữa lúc nữ bí thư đi dự lớp huấn luyện thì Trần Dụ Châu lại đưa từ Phú Thọ về cơ quan một cô gái giới thiệu là em nuôi, suốt ngày ở trong buồng riêng của mình dẫn đến một cuộc đánh ghen ầm ĩ. Mỗi lần đi công tác ở Liên khu 10 gồm các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Trần Dụ Châu đều đưa bạn bè đi ăn uống tại các quán ăn sang trọng ở Hanh Cù, tiêu tốn nhiều tiền công quỹ. Tiêu biểu là việc Trần Dụ Châu tổ chức đám cưới cho Bùi Minh Trân, trưởng Ban Mậu dịch của Quân giới Liên khu Việt Bắc tiêu tốn hàng vạn đồng gây dư luận trong đồng bào và chiến sĩ. Báo Cứu quốc lúc đó cũng có bài phê phán chuyện này và nhiều đơn tố cáo cũng xuất hiện từ đây. Trong Nha Quân nhu, những cán bộ chiến sĩ không đồng tình với Trần Dụ Châu, tố cáo lên trên đều bị thẳng tay trù dập, thuyên chuyển, sa thải hay bị Trần Dụ Châu báo cáo lên trên là vu khống, cố ý gây chia rẽ nội bộ, cố ý gây bất lợi cho Cách mạng, Kháng chiến và nhân dân hiểu nhầm….

Theo đánh giá của nhiều người thì Trần Dụ Châu là một trí thức có tài, tinh thông nghiệp vụ nhưng là một người cơ hội chủ nghĩa và khá thức thời. Từ việc chuyển từ Sở Pháp sang Quận hỏa xa Bắc Trung Kỳ, đến việc kết thân với người Nhật rồi nhanh chóng hiến tài sản cho Cách mạng. Đặc biệt, Trần Dụ Châu đã biết lợi dụng chính sách thu hút, trọng dụng trí thức ngoài Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tiến thân rất nhanh trên con đường làm « quan Cách mạng », đề từ đó th   am ô, biển thủ, sống xa đọa… Tuy chỉ bắt đầu tham gia Cách mạng sau ngày 19.8.1945, sau 2 năm, Trần Dụ Châu đã là Đại tá, sĩ quan cao cấp lúc bấy giờ, và đứng đầu một Nha hết sức quan trọng của Quân đội.

Sưu tầm và tổng hợp


Tiêu đề: Đại tá Phạm Trinh Cán, Chánh án Tòa án binh Trung ương
Gửi bởi: panphilov trong 01 Tháng Tám, 2011, 05:30:53 am
(http://img17.imageshack.us/img17/2083/images593467c.jpg)

Đại tá Phạm Trinh Cán (1912 – 2003) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục Quân pháp Bộ Quốc phòng, Chánh Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu kiêm Chánh án Tòa án binh Trung ương.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời tỉnh Quy Nhơn (tức Bình Định ngày nay), Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ (nay là Đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia  Hà Nội).

Đại tá (1948).


Ông sinh tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Lúc còn nhỏ, sau khi học hết trung học và có bằng tú tài, ông tiếp tục theo học ngành luật tại Trường Cao đẳng Đông Dương. Thời gian này, vừa đi học ông vừa đi dạy tư tại Trường Trung học Tư thục Thăng Long cùng các thầy giáo Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp…

Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội rồi được cử vào làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời tỉnh Quy Nhơn (nay là tỉnh Bình Định). Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12.1946), ông lên Chiến khu Việt Bắc. Do trước Cách mạng học Trường Luật, cho nên ông được điều sang Quân đội làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân pháp Bộ Quốc phòng. Năm 1948, trong đợt phong quân hàm tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông vinh dự được phong quân hàm Đại tá. Thời gian làm Cục trưởng Cục Quân pháp, ông được phân công trực tiếp chỉ đạo tiến hành điều tra vụ án Trần Dụ Châu nổi tiếng lúc bấy giờ.

Sau khi kết thúc điều tra và chuyển giao vụ án Trần Dụ Châu về Ban Thanh tra Bộ Quốc phòng, khoảng nửa đầu năm 1950, Đại tá Phạm Trinh Cán thôi giữ chức vụ cục trưởng Cục Quân pháp, chuyển giao chức vụ cho ông Ngô Minh Loan, sang Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Chánh Văn phòng kiêm  Chánh án Tòa án binh Trung ương.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông chuyển ngành sang công tác tại Bộ Giáo dục và lần lượt giữ chức vụ Phó rồi Chánh Văn phòng Bộ. Đại tá Phạm Trinh Cán về hưu năm 1973 khi đang giữ chức vụ hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Ngoại ngữ trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Ông mất năm 2004 tại Hà Nội.

Đại tá Phạm Trinh Cán là bố của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, từng là Tổng Thư kí và Phó Chủ tịch của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ.

Tham khảo : Bee.net


Tiêu đề: Đại tá Phạm Hoàng, Tư lệnh đầu tiên Binh chủng Công binh
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Tám, 2011, 05:19:02 pm
(http://img62.imageshack.us/img62/1937/daitaphamhoang.jpg)

Đại tá Phạm Hoàng (tên thật : Phạm Khắc Hệ, 1911 – 17.9.1979) từng giữ các chức vụ : Cục phó Cục Quân nhu (tiền thân của Tổng cục Cung cấp tức Tổng cục Hậu cần ngày nay), Trung đoàn trưởng (đầu tiên) Trung đoàn Công binh (đầu tiên) 151, Cục trưởng Cục Công binh, Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (tức Học viện Kỹ thuật Quân sự ngày nay).

Đại tá (1974)


Ông sinh tại xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương trong một gia đình trí thức. Ông nội ông đỗ đại khoa Tiến sĩ Đệ nhị giáp, bố ông đỗ Hậu bổ (đào tạo viên chức hành chính) nhưng không ra làm quan mà ở nhà dậy học.

Năm 1937, ông tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương khóa 8 (1932 – 1937). Sau khi tốt nghiệp, ông là trưởng Phòng Nhà cửa của Hãng Hàng không Đông Dương, cố vấn doanh trại Quân đội Pháp. Là viên chức cao cấp được hưởng mọi chế độ đãi ngộ như một viên chức mang quốc tịch Pháp. Thời bấy giờ, gia đình ông ở tại số nhà 113 Hàng Bạc ngày nay.

Cùng với lớp thanh niên trí thức tiến bộ ngày đó, ông tham gia Cách mạng trong những ngày Tổng khới nghĩa rồi được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Hải Dương. Ngày 22 tháng 9 năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng, rồi được cử đi học tại Trường Ngoại ngữ do Bộ Giáo dục mở tại Việt Bắc. Ngày 3 tháng 10 năm 1947, mở đầu cho cuộc tấn công của thực dân Pháp lên Việt Bắc trong Chiến cuộc Thu Đông 1947, Trường bị máy bay oanh tạc, 45 học viên được phái về cơ quan Trung ương, riêng ông, Phạm Hoàng – trưởng lớp, được điều lên Văn phòng Trung ương Đảng giúp việc cho tổng bí thư Trường Chinh.

Năm 1948, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, ông được điều sang công tác bên Quân đội giữ cương vị Cục phó Cục Quân nhu. Thời gian này, chính ông là một trong những người có nhiều ý kiến trái chiều nhất đối với Đại tá Trần Dụ Châu, giám đốc Nha Quân nhu. Tháng 5 năm 1949, ông chuyển sang công tác tại Cục Công binh, là phó cục trưởng. Tháng 1 năm 1951, chuyển thể Cục Công binh thành Trung đoàn Công binh 151, đơn vị công binh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông là trung đoàn trưởng, trực tiếp chỉ huy bộ đội công binh tham gia các chiến dịch lớn từ Biên giới phía Bắc đến Đồng bằng Bắc Bộ rồi tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Năm 1953, Trung đoàn do ông chỉ huy được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí tặng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhì (tức Huân chương Chiến công).

Trong cuốn sách « Điện Biên Phủ - Chiến dịch lịch sử », Đại tướng Hoàng Văn Thái viết : Ngày 8 tháng 5 năm 1954, khi thất bại và đầu hàng, từng đoàn tù binh đi trên các trục đường kéo pháo về trại tập trung đã hết sức ngạc nhiên, không hiểu vì sao ta đã làm được những công trình to lớn như vậy sát tập đoàn cứ điểm, họ phải thốt lên: Chỉ với việc làm được những trục đường này, các ông đã thắng chúng tôi rồi… Trung đoàn Trưởng, Trung đoàn 151 Công binh là đồng chí Phạm Hoàng, một kiến trúc sư tham gia Cách mạng từ những ngày đầu Tổng Khởi nghĩa, là một cán bộ có quyết tâm và trách nhiệm cao, có tính kế hoạch chu đáo trong việc làm.

Tháng 8 năm 1954, ông được giao giữ trọng trách chủ nhiệm Cục Công binh. Từ năm 1955 đến 1965, là tham mưu trưởng rồi cục trưởng Cục Công binh. Trong thời gian này, ông là người trực tiếp chỉ đạo, thiết kế hệ thống sân bay quân sự từ Vĩnh Linh đến Yên Bái, từ Kiến An đến Hòa Lạc, Cẩm Thủy, Gát, Thọ Xuân…, các hệ thống sơ tán máy bay, các công trình phòng tránh, kể cả những công trình đào sâu vào trong lòng núi để cất giấu máy bay. Với Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, chính ông cũng là người chỉ đạo, thiết kế bến cảng, cầu tàu, căn cứ xuất phát của những con tầu không số. Rồi các trận địa Ra-đa trên dãy núi Tam Đảo…

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh khi còn sống đã từng nói : Rất hoan nghênh và cảm ơn Bộ tư lệnh Công binh và đồng chí Tư lệnh Phạm Hoàng đã làm được công trình quan trọng này (cầu tàu bến cảng ở Đồ Sơn). Chúng ta có được những công trình như thế này, có được những con người như thế này làm gì mà không đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Bên cạnh các công trình quân sự, Đại tá Phạm Hoàng còn hết sức chú ý đến vấn đề nhà ở cho các đồng bào dân tộc, quy hoạch đường sá, giếng nước, khu nuôi trâu bò, gia súc, khu vệ sinh…, cũng như vấn đề nhà cửa, sinh hoạt, đi lại của người dân Đồng bằng sông Cửu Long.

Từ năm 1965 đến năm 1974, ông là hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự. Năm 1974, ông là ủy viên Hội đồng Quốc gia giám sát Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong 2 năm 1977 đến 1979, ông làm chuyên viên phụ trách thiết kế xây dựng Tổng cục Hàng không Dân dụng, Bộ Quốc phòng cho đến khi mất ngày 17 tháng 9 năm 1979.

Theo Blog "Kiến trúc Việt"


Tiêu đề: Võ Chí Công, Chính ủy Quân khu 5
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Chín, 2011, 12:25:42 am
(http://img684.imageshack.us/img684/4282/vochicong.jpg)

Võ Chí Công (7.8.1912 – 8.9.2011) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên  Trung đoàn 93 Liên khu 5, Phó Ban Tổ chức Cán bộ kiêm Thanh tra Liên khu 5, Chính ủy Quân khu 5, Đảng ủy viên Đảng Ủy Quân sự Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Bí thư Khu ủy Khu 5, Phó Bí thư Trung ương cục miền Nam, Phó Ban đại diện Trung ương Đảng tại miền Nam phụ trách Khu 5, Bộ trưởng Bộ Hải sản, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp kiêm Trưởng ban Cải cách Nông nghiệp miền Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ (có thời gian gọi là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Chủ tịch nước) ; và là : Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 3 đến khóa 6), Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa 7, 8 ), Ủy viên Bộ Chính trị (khóa 5, 6), Đại biểu Quốc hội (khóa 6 đến 8 ).

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,… Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.


Ông tên thật là Võ Toàn, còn gọi là Năm Công, sinh tại làng Tam Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ (nay là thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) trong một gia đình nhà Nho giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Cha ông, cụ Võ Nghiệm,  vừa là thầy giáo dậy chữ đầu tiên vừa là đồng chí đồng đội sau này của ông. Trước Cách mạng tháng 8, cụ Võ Nghiệm tham gia Cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và cũng có thời kì sinh hoạt trong chi bộ Đảng bao gồm anh em họ hàng do con mình lãnh đạo. Chính cụ Võ Nghiệm là người đầu tiên truyền cho con mình lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc thông qua tấm gương của những chí sĩ đất Quảng như : Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Sau khi mất, cụ được Chính phủ truy tặng liệt sĩ ; Mẹ ông, cụ Nguyễn Thị Thân, vừa gánh vác công việc gia đình giúp chồng con yên tâm tham gia Cách mạng, đồng thời cũng là cơ sở hay lui tới của các chiến sĩ Cách mạng trong vùng thời kì tiền khởi nghĩa. Sau này, cụ được Chính phụ phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Ông tham gia hoạt động Cách mạng từ rất sớm, tháng 5 năm 1930, và thuộc lớp những nhà Cách mạng thế hệ thứ 2, những người tham gia Cách mạng sau khi Đảng ra đời. Từ năm 1930 đến năm 1934, ông tham gia vào phong trào thanh niên tại địa phương đo Đảng lãnh đạo. Tháng 5 năm 1935, ông được kết nạp Đảng, và năm 1936,  được cử làm bí thư chi bộ ghép một số tổng của phủ Tam Kỳ. Sau đó, ông lần lượt là : Bí thư Phủ ủy lâm thời Tam Kỳ (đầu 1939), Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam – Đà Nẵng do ông tự động ra các phủ huyện phía bắc của tỉnh tìm mối thành lập lại sau khi Mặt trận Bình dân sụp đổ (3.1940), phụ trách các cơ sở Đảng từ Đà Nẵng đến Phú Yên (10.1941). Đầu năm 1942, thực dân Pháp khủng bố phong trào Cách mạng tại các tỉnh miền Trung, nhiều cán bộ Xứ ủy Trung Kỳ bị bắt, một số tạm thời chuyển vùng hoạt động, bắt liên lạc với cấp trên tiếp tục hoạt động. Ông lánh vào Phan Thiết, Bình Thuận hoạt động, rồi tiếp tục lên Đà Lạt gây dựng cơ sở. Tháng 6  năm 1942, bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Trương Hoàn bị bắt, ông điều về giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy lần thứ 2. Tháng 8 năm 1942, các tỉnh ủy Quảng Nam – Hội An – Đà Nẵng hợp nhất lại, ông tiếp tục được cử làm bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng.

Là một cán bộ cốt cán của Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng, một trong những nơi mà phong trào Cách mạng bị thực dân Pháp đàn áp dã man trong cả nước, ông có công lớn trong việc gây dựng cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng Cách mạng thời kì đầu của Đảng bộ, có đóng góp to lớn làm chuyển biến phong trào của quần chúng. Thời kì hoạt động Cách mạng từ năm 1936 đến năm 1942, ông từng 2 lần bị thực dân Pháp bắt nhưng đều thoát được. Lần thứ nhất đó là khi ông còn làm bí thư chi bộ liên tổng ở phủ Tam Kỳ, cơ sở bị vỡ, có người khai cơ sở Đảng, ông bị bắt, tuy nhiên cha ông nhận ở tù thay. Lần thứ hai, bị bắt và bị tra hỏi, ông không khai, không đủ chứng cứ, thực dân Pháp giam ông 3 tháng rồi phải thả. Tháng 10 năm 1943, do bị phản bội của Cao Tiến Khai được kết nạp bổ sung vào cán bộ thoát li của Tỉnh ủy, ông cùng một số cán bộ Tỉnh ủy như các ông Nguyễn Sắc Kim và Lê Bá bị bắt giam, kết án chung thân, giảm xuống còn 25 năm, giam tại nhà lao Hội An, sau đó bị đày lên Buôn Ma Thuột giam cầm cố không cho ai gặp. Tại đây, ông tham gia nhóm trung kiên cùng các nhà Cách mạng nổi tiếng khác như các ông Nguyễn Chí Thanh, Trần Hữu Dực, Trương Chí Cương và Trần Tống tích cực hoạt động lãnh đạo các hoạt động bí mật trong nhà lao, chống lại tư tưởng dao động có phần hữu khuynh của một số ít người, đồng thời bàn cách vượt ngục. Tháng 5 năm 1944, ông cùng các ông Nguyễn Chí Thanh, Trần Hữu Dực, Trương Chí Cương nhờ các đồng chí cùng giam đánh vào má cho sưng lên, giả bệnh quai bị để được cho ra nằm ở buồng cách ly để thoát. Ở phòng cách ly, tù nhân thường không bị cùm vào buổi tối, không có lính gác và chỉ cần dỡ ngói là ra ngoài nhà giam. Tuy nhiên, không biết vì lí do gì, kế hoạch bị bại lộ, tối đó Pháp cho lính canh phòng cách ly, cuộc vượt ngục bị thất bại. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, nhằm mị dân và lôi kéo người dân Việt Nam, phát-xít Nhật cho thả nhiều tù chính trị, và ông cũng được thả trong đợt này.

Sau khi được thả tự do, ông về Nha Trang rồi nhờ người mua vé tàu về Tam Kỳ, Quảng Nam được phân vào Ban Cứu quốc của Tỉnh bộ Việt Minh Quảng Nam làm trưởng Ban Khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 18 tháng 8 năm 1945, Quảng Nam trở thành 1 trong 4 tỉnh của cả nước giành chính quyền thành công đầu tiên. Cũng cần nói thêm về dấu ấn Võ Chí Công trong việc thành công này. Lúc đầu, ban lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng thống nhất chủ  trương tổ chức quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền ở các phủ huyện trước sau đó mới tập trung lực lượng giành chính quyền ở tỉnh lị Hội An. Tuy nhiên, khi trực tiếp đi thực tế ở Hội An, nhận thấy thời cơ ở đây đã chín muồi, ông đã báo cáo xin kiến nghị Tỉnh ủy thay đổi kế hoạch, khởi nghĩa giành chính quyền ở Hội An trước. Sự thành công của khởi nghĩa ở Hội An ngày 17 tháng 8 năm 1945, khiến cho các phú huyện hoang mang, dẫn đến ngay ngày hôm sau khởi nghĩa nhanh chóng thành công trong toàn bộ tỉnh.

Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử làm Trưởng ty Tư pháp tỉnh Quảng Nam, rồi Chính ủy Trung đoàn 93. Từ năm 1946 đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ : Phó Ban Tổ chức Cán bộ và làm thanh tra Liên khu 5 (1946), Bí thư Ban Cán bộ Đông Bắc Cam-pu-chia kiêm Khu ủy viên Khu 5 (1951), Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng (1952), Đoàn ủy viên cải cách ruộng đất ở Việt Bắc (1954). Chính ông là một trong những người phát hiện và báo cáo với Trung ương những sai lầm gây mất đoàn kết ở nông thôn, đồng thời chủ trương không thực hiện cải cách ruộng đất, mà chỉ thực hiện giảm tô, hiến ruộng đất.



Tiêu đề: Võ Chí Công, Chính ủy Quân khu 5 (P2)
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Chín, 2011, 12:26:28 am
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được Trung ương cử « tập kết ngược » trở lại Khu 5 hoạt động bí mật, giữ chức vụ Phó Bí thư Khu ủy. Cuối năm 1957, ông ra Bắc dự hội nghị Bộ Chính trị bàn về tình hình Cách mạng miền Nam. Là một người luôn gắn bó với dân, bám sát thực tiễn Cách mạng miền Nam, ông là một trong những người tích cực ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam, đồng thời đóng góp những ý kiến xác đáng góp phần làm lên Nghị quyết 15 nổi tiếng trong lịch sử. Tên tuổi ông gắn liền với phong trào Đồng khởi tại các tỉnh khu 5 mà nổi tiếng với khúc dạo đầu Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi. Ông đã tổng kết khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi và phát động tại Quảng Nam cũng như trên toàn Nam Trung Bộ. Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3, ông được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy Khu 5. Ngày 23 tháng 1 năm 1961, Trung ương Cục miền Nam được thành lập, ông được phân công làm Phó Bí thư Trung ương Cục. Sau khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, năm 1962, ông được bầu là Phó Chủ tịch, đại diện Đảng tại Mặt trận. Năm 1964, trước tình hình Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, mà Quảng Nam Đà Nẵng là một trong những chiến trường trọng điểm, nơi đặt nhiều căn cứ lớn của Mỹ ngụy, trên cương vị Phó Bí thư Trung ương Cục, ông được cử phụ trách Bí thư Khu ủy Khu 5 kiêm Chính ủy Quân khu 5.

Năm 1964, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, có sự khủng hoảng liên tục trong chính quyền ngụy quyền miền Nam ; Dương Văn Minh lên thay rồi bị lật, Nguyễn Khánh và ông Trần Văn Hương lên thay rồi tiếp tục bị lật đổ và thay bằng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ. Thất bại trong chiến tranh đặt biệt, Mỹ tính toán chuyển sang chiến tranh cục bộ, giữa lúc đó, ông từ Trung ương Cục miền Nam về Khu 5, với những kinh nghiệm của Đồng Khởi ở miền Nam, ông góp phần quan trọng lãnh đạo đưa phong trào quần chúng nổi dậy giành thắng lợi, góp phần giành lại nhiều vùng nông thôn, đồng bằng. Trong việc dám đánh và biết cách đánh Mỹ trên chiến trường Khu 5, trên cương vị Bí thư Khu ủy và Chính ủy Quân khu, ông chủ trương củng cố tinh thần, đẩy lùi sự dao động và tư tưởng sợ Mỹ trong đồng bào và chiến sĩ của Khu. Sự trở về Khu 5 của ông gắn liền với phong trào đánh Mỹ, tìm Mỹ mà diệt được phát động trên toàn Khu với sự ra đời của hàng loạt các vành đai diệt Mỹ, căn cứ kháng chiến, cùng với các thắng lợi của quân và dân khu 5 trước Mỹ ngụy ngày càng phát triển với chiến thắng đầu tiên, trận Núi Thành. Thời kì sau Hiệp định Paris, ông và ông Hai Mạnh (tức Đại tướng Chu Huy Mân) đi họp ngoài Trung ương, các ông trong Khu ủy Khu 5 và Quân khu ủy ở lại đã cho thi hành Hiệp định một chiều, làm cho phong trào Cách mạng của Khu gặp nhiều khó khăn, mất đất, mất dân, mất quyền chủ động trên chiến trường. Trở về từ ngoài Bắc mang theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương, ông đã góp phần chỉ đạo chuyển hướng phong trào đi lên.

Sự nắm bắt kịp thời, mau lẹ tình hình để ra quyết lược đúng đắn của ông còn thể hiện trong việc chỉ đạo Khu 5 tham gia vào Chiến dịch Xuân 1975. Tháng 3 năm 1975, sau khi chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi, Bộ Chính trị điện cho ông lên Daklak để gặp các ông Văn Tiến Dũng và Bùi San (khi đó đang là Phó Bí thư Thường vụ Khu ủy, sau này là Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Tiểu ban Dân tộc). Trên đường đi, thấy quân ngụy đã rút khỏi Buôn Ma Thuột và Pleiku, ông thấy rằng thời cơ đã đến lên điện ra xin Bộ Chính trị cho Khu 5 đánh luôn và không lên gặp các ông Văn Tiến Dũng và Bùi San nữa, và về ngay cơ quan Khu ủy họp Thường vụ Khu ủy rồi về ngay Quảng Đà (Quảng Nam Đà Nẵng) để chuẩn bị. Ông chỉ thị : « Một là dùng lực lượng quân sự và chính trị địa phương giải phóng; hai là có Sư đoàn 2 tham gia; thứ ba là phải chờ lực lượng Bộ Tổng tham mưu nhưng nếu chờ thì phải 15 đến 20 ngày mới lật được tình thế. ». Chính nhờ chỉ đạo kịp thời của ông trên cơ sở tình thần tự giải phóng Đà Nẵng đã góp phần nhanh chóng giải phóng thành phố này, đập tan 10 vạn quân ngụy, làm tinh thần ngụy quân sụp đổ nhanh chóng, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam trong một thời gian ngắn.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông được chỉ định là Phó Ban đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ tại miền Nam, trực tiếp chỉ đạo Khu 5. Năm 1976, ông được bầu là đại biểu Quốc hội Khóa 6, giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Hải sản trong Chính phủ Việt Nam thống nhất. Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử vào Bộ Chính trị. Năm 1978, ông là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và là Trưởng Ban cải tạo Nông nghiệp miền Nam. Thời gian này, ông góp phần không nhỏ trong việc khôi phục sản xuất nông nghiệp tại miền Nam vốn bị tiêu điều trì trệ bởi chiến tranh và chính sách ấp chiến lược ấp trù mật của Mỹ ngụy. Tháng 4 năm 1981, ông tiếp tục được bầu vào Quốc hội Khóa 7 và tiếp tục giữ chức vụ Phó Thủ tướng, khi ấy gọi là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 3 năm 1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng kiêm thường trực Ban Bí thư.

Tháng 6 năm 1986, ông tiếp tục được phân công giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị và tham gia Quân ủy Trung ương. Tháng 4 năm 1987, ông lại tiếp tục được bầu vào Quốc hội Khóa 8, được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Chủ tịch nước) và là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 7 (6.1991), Khóa 8 (6.1996). Ông mất ngày 8 tháng 9 năm 2011, tại thành phố Hồ Chí Minh hưởng thọ 99 tuổi, sau một thời gian lâm bệnh vì bệnh tuổi già.

Ông là một trong những người đề xuất và góp phần quan trọng, đi đầu và có công đầu vào công cuộc Đổi mới của nước ta. Từ rất sớm, ông đã ủng hộ cải cách hợp tác xã, cởi trói cho người xã viên, tăng tính tự chủ cho họ, là tiền đề quan trọng cho khoán hộ, trực tiếp sau này. Thời kì là bộ trưởng Bộ Hải sản, tư duy đầu tiên của ông là qua mấy chục năm tồn tại các hợp tác xã và quốc doanh đánh bắt cá, quy mô chúng quá lớn cho nên mặc dù có đầy đủ phương tiện nhưng làm ăn ngày càng thua lỗ, không phát triển được vì bị động trước khó khăn của nền kinh tế, gò bó trong cơ chế quản lý bao cấp và luôn ỷ lại Nhà nước... Từ thực tế này, ông đã tìm hiểu và đề nghị Chính phủ cho tổ chức lại các hợp tác xã nghề cá theo thuyền nghề truyền thống, các quốc doanh đánh cá được phép sử dụng phương tiện sẵn có, tự lực, tự lo liệu nhiên liệu, Nhà nước không cung cấp nữa đã góp phần giúp họ tự xóa bỏ bao cấp vươn lên vượt khó, đẩy mạnh hoạt động một cách chủ động đem lại kết quả tự nuôi mình và phát triển.

Đặc biệt trên mặt trận Nông Lâm nghiệp, trong một thời gian dài các xã và quốc doanh làm ăn ngày càng xuống dốc, dần tan rã, xã viên bỏ làm chung hoặc làm nghề khác vì đói kém, tiêu cực. Những năm 1979-1980, một số nơi đã "phá rào" tìm cách "làm chui" bỏ cách khoán đội, khoán việc kiểu cũ, thực hiện khoán hộ hoặc khoán trực tiếp cho người lao động đã đưa lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Trước tình hình này, ông đã luôn trăn trở và quyết định đi đến tận những nơi làm chui, gặp xã viên, khảo sát tình hình thực tế, đặc biệt là Hợp tác xã (HTX) Đồ Sơn (Hải Phòng) nơi làm chui đầu tiên và nhiều HTX ở Thái Bình, Hà Nam Ninh… Từ kinh nghiệm thực tiễn, ông viết thư cho Tỉnh ủy Vĩnh Phú chỉ đạo điểm cách khoán mới này ở HTX Thổ Tang, Vĩnh Tường, là cái nôi của phong trào "làm chui, khoán hộ". Qua sơ kết thí điểm và thực tế nhiều nơi, ông đã ủng hộ cách làm mới này và đề nghị Bộ Chính trị và Chính phủ cho tổ chức lại các HTX nông nghiệp, đồng thời Đảng và Nhà nước có thái độ rõ ủng hộ cách khoán mới trong các HTX. Đến tháng 1 năm 1981, Bộ Chính trị quyết định đổi mới cách khoán trong nông nghiệp, ông được giao nhiệm vụ dự thảo nội dung chỉ thị về việc này. Từ kinh nghiệm thực tế đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, ông được cử làm Trưởng tiểu ban nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và đã đề nghị ban hành nhiều chủ trương và biện pháp đổi mới góp phần quan trọng về đổi mới quản lý kinh tế chung và xây dựng đường lối đổi mới toàn diện.


Tiêu đề: Đỗ Mười, Tư lệnh - Chính ủy Liên khu 3, Chính ủy Quân khu Tả Ngạn
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Chín, 2011, 02:31:21 am
(http://img405.imageshack.us/img405/2892/domuoi.jpg)

Đỗ Mười (tên thật : Nguyễn Duy Cống, 2.2.1917) từng giữ các chức vụ : Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 3, Chính ủy Quân khu Tả Ngạn, Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hải Phòng.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Nam Định, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu 3, Bí thư Khu ủy Tả Ngạn kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến và Hành chính Khu, Bí thư Thảnh ủy Hải Phòng, Bộ trưởng Bộ Nội thương, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Trưởng Phái đoàn Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng), Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ; và là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 2, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các Khóa 3 đến 8, Ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị Khóa 4, Ủy viên Bộ Chính trị Khóa 5 đến 8, Tổng Bí thư Đảng Khóa 8, Đại biểu Quốc hội Khóa 2, 5 đến 8.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất…, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.


Ông sinh tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong một gia đình trung nông, tham gia Cách mạng từ năm 1936, thời kì Mặt trận Bình dân, được kết nạp vào Đảng năm 1939.

Năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù và giam tại Hỏa Lò, Hà Nội ; 3.1945, ông tham gia vượt ngục cùng các ông Trần Đăng Ninh (sau là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp) và Trần Tử Bình (sau được phong Thiếu tướng trong đợt phong tướng đầu tiên vào năm 1948, Ủy viên Trung ương Đảng và là Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc), tham gia Tỉnh ủy Hà Đông, trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền rồi trở thành Bí thư Tỉnh ủy ở đây (8.1945).

Trong Kháng chiến chống Pháp, từ năm 1946 đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Nam Định, Khu ủy viên Khu 3, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Phó Bí thư Liên khu ủy Khu 3 kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 3, Bí thư Khu ủy Khu Tả Ngạn kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Khu và là Chính ủy Quân khu.

Năm 1955, Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hải Phòng, được bầu bổ sung Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng (3.1955) ; 1956, thứ trưởng Bộ Nội thương, rồi Bộ trưởng (1958) và là đại biểu Quốc hội Khóa 2 ; 1960, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Từ năm 1961 đến 1969, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Trưởng Phái đoàn Thanh tra của Chính phủ ; 1971, Phó Thủ tướng phụ trách Văn phòng Kinh tế Phủ Thủ tướng ; 1973, Bộ trưởng Bộ Xây dựng và là đại biểu Quốc hội Khóa 5 và 6.

Năm 1976, tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời được cử là Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị tiếp tục giữ chức vụ Phó Thủ tướng ; 1977, là phó thủ tướng phụ trách cải tạo Công Thương nghiệp Xã hội Chủ nghĩa, chỉ đạo cải tạo Công Thương nghiệp XHCN tại miền Nam ; 1981, phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng) và được bầu vào Quốc hội Khóa 7 ; 1982, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Năm 1986, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư và là đại biểu Quốc hội Khóa 8 ; 1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ; 1991, tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ; Từ năm 1997 đến 2001, cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Theo Trang Thông tin Đảng Cộng sản Việt Nam


Tiêu đề: Dương Hữu Miên, Phó Tư lệnh Khu Tả Ngạn, Chỉ huy trưởng Mặt trận Đường 5
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Chín, 2011, 06:09:01 am
(http://img580.imageshack.us/img580/5792/duonghuumien.jpg)

Liệt sĩ Dương Hữu Miên (bí danh : Chính Tâm, 1912 – 2.7.1954) từng giữ các chức vụ : Tham mưu trưởng Tiếp phòng quân Hải Dương, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42, Chỉ huy trưởng Mặt trận Hải Kiến, Chỉ huy trưởng Mặt trận Đường 5, Phó Tư lệnh Khu Tả Ngạn.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.


Ông quê ở xã Quảng Châu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Trước Cách mạng tháng 8, ông từng đi lính khố xanh và làm tới quản cơ. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, ông được cử giữ chức Chỉ huy trưởng Bảo An binh Thái Bình. Là một người có tinh thần yêu nước, trong Cách mạng tháng 8, ông đã đứng về phía Cách mạng, đưa toàn bộ lực lượng Bảo an binh và cảnh sát Thái Bình về với nhân dân góp phần giành chính quyền không tốn một viên đạn. Trước đó, do sự vận động của các cán bộ Việt Minh đặc biệt là ông Nguyễn Tài (tức Nguyễn Tài Khoái hay Tĩnh), ông đã ngầm chuyển cho Việt Minh 50 khẩu súng.

Cách mạng tháng 8 (1945) thành công, ông gia nhập Việt Nam giải phóng quân, sau đổi tên thành Vệ quốc đoàn, và được kết nạp vào Đảng tháng 4 năm 1946. Thời gian này, ông lần lượt giữ các chức vụ : đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng rồi tham mưu trưởng Tiếp phòng quân tỉnh Hải Dương.

Cuối năm 1946, để chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến, ông được điều về Hải Phòng làm trung đoàn phó Trung đoàn 41 (sau đổi tên là Trung đoàn 42) và tham gia vào Ủy ban Bảo vệ thành phố cùng các ông : Đinh Thịnh, Nguyễn Văn Kha, Vũ Quốc Uy, Trần Thành Ngọ. Năm 1947, ông thay ông Đinh Thịnh giữ chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 kiêm chỉ huy trưởng Mặt trận Kiến Hải và đồng thời là chủ tịch Ủy ban Bảo vệ thành phố.  

Ngày 25 tháng 8 năm 1948, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, Liên khu 3 được thành lập bao gồm các tỉnh tả hữu ngạn sông Hồng theo sắc lệnh 120SL do chủ tịch Hồ Chí Minh kí. Trung đoàn 42 là một trong những đơn vị chủ lực của Liên khu 3, hoạt động trong vùng địch hậu gồm các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên và 2 bên bờ sông Luộc, và là đơn vị hoạt động địch hậu xuất sắc nhất của Liên khu.

Tháng 2 năm 1948, nhằm ngăn chặn việc vận chuyển (đường bộ, đường sắt) quân cùng trang thiết bị, vũ khí của quân Pháp từ cảng Hải Phòng lên Hà Nội rồi ra các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, Liên khu ủy Khu 3 quyết định thành lập Mặt trận đường 5 do ông là trung đoàn trưởng, ông Nguyễn Năng Hách, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Hải Dương làm chính ủy, ông Đặng Tính, Liên khu ủy viên làm Bí thư Đảng ủy. Dưới sự chỉ huy của ông, đường số 5 thật sự là con đường tử địa của thực dân Pháp với huyền thoại « sấm đường 5 ».

Tháng 5 năm 1952, Liên khu 3 được tách thành 2 Khu là Tả Ngạn và Hữu Ngạn. Khu Tả Ngạn do ông Đỗ Mười làm Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến. Khi Khu ủy thành lập Quân khu Tả Ngạn do ông Đỗ Mười làm tư lệnh kiêm chính ủy, Dương Hữu Miên tham gia Đảng ủy Quân khu cùng các ông Văn Tiến Dũng, Nguyễn Khai, là Tư lệnh phó đồng thời tiếp tục là chỉ huy trưởng Mặt trận đường 5.

Dương Hữu Miên hy sinh ngày 2 tháng 7 năm 1954 trong khi đi làm nhiệm vụ. Có thể nói trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động liên tục trong vùng địch hậu đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh, bám dân bám giặc. Theo nguyên tổng bí thư Đỗ Mười thì mặc dù xuất thân là lính khố xanh rồi Bảo an binh, nhưng ông luôn « tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và sự nghiệp Cách mạng của dân tộc. Là người chỉ huy có bản lĩnh, trong tình huống nào cũng bình tĩnh, sáng suốt, gan dạ và có quyết tâm, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, sống chan hòa với cán bộ, chiến sĩ, có nghị lực khắc phục khó khăn trong công tác và sinh hoạt ». Tên của ông đã được đặt tên cho một con phố ở thành phố Hưng Yên, và được ghi trong Từ điển Quân sự Việt Nam.

Theo Nhân vật Lịch sử Hải Phòng tập 3.


Tiêu đề: Trần Kiên, Phó Tư lệnh Quân khu 5 - Thường trực Quân khu ủy
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Chín, 2011, 04:45:49 am
(http://img199.imageshack.us/img199/9267/trankien.jpg)

Trần Kiên (15.5.1920 – 13h30’ 26.5.2004) từng giữ các chức vụ : Trung đội trưởng Đội Du kích Ba Tơ, Phó Ban Quân sự Khu 5, Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 5, Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Ngãi, Phó Tư lệnh Quân khu 5 – Thường trực Quân khu ủy – Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 773.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum - Liên tỉnh Ủy viên 4 tỉnh Tây Nguyên, Ủy viên thường vụ Khu ủy Khu 5, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Trung Trung Bộ, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai – Kon Tum, Bí thư Tỉnh ủy Đắc Lắc, Bộ trưởng Bộ Lâm Nghiệp, Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình (Quảng Ngãi + Bình Định), Bí thư Trung ương Đảng – Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương, Đại biểu Quốc hội Khóa 6.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương thành Đồng hạng Nhì, Huân chương Giải phóng hạng Nhất… Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Ông tên thật là Nguyễn Tài, bí danh Quốc Sơn, sinh tại xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình nông dân nghèo, bắt đầu tham gia hoạt động Cách mạng năm 1936, được kết nạp vào Đảng ngày 15 tháng 7 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1945.

Năm 1936, thời kì Mặt trận bình dân, ông hoạt động trong các tổ chức quần chúng hợp pháp, dưới sự  lãnh đạo của Ðảng; làm liên lạc cho cán bộ cách mạng ở  Ba Tơ, rồi tham gia Việt Minh tại địa phương. Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945, ông tham gia Ðội Du kích Ba Tơ, là Tiểu đội trưởng, Trung đội phó, Trung đội trưởng  và tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại Quảng Ngãi.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông tiếp tục công tác trong Quân đội, là Ðại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó rồi Trung đoàn  trưởng ; về Ðảng, là Bí thư cán sự huyện Ðắk Glây, huyện Plei Kon, Tỉnh  ủy viên, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Gia Kon (nay là Gia Lai và  Kon Tum). Cuối năm 1954, ông được phân công ở lại hoạt động ở miền Nam.

Từ cuối năm 1954 đến năm  1960, ông là Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum và Liên tỉnh ủy viên liên tỉnh 4 (Tây  Nguyên) ; Cuối 1960, Phó ban Quân sự Khu 5 ; 1962 – 1964, Khu ủy viên,  Ủy viên Thường vụ Khu ủy 5, Thường trực Quân khu ủy, kiêm Chủ nhiệm  Hậu cần Quân khu 5.

Từ năm 1964 đến 1965, ông là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, kiêm Chính trị viên Tỉnh  đội ; 1966 – 1969, Thường vụ Khu ủy 5, Phó Tư lệnh Quân khu 5, Thường  trực Quân khu ủy, 1970, Thường vụ Khu ủy 5, phụ trách công tác tổ chức ; 1971 – 1975, Thường vụ Khu ủy 5, Cục trưởng Cục Hậu cần  Quân khu 5, Thường trực Quân khu ủy, có thời gian trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Ðoàn 773, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng Trung Trung Bộ.

Tháng 12 năm 1975, ông được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai-Kon Tum ; Tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Ðảng (12.1976), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương ; 1977 - 1978, Bí thư Tỉnh ủy Ðắc Lắc.

Từ năm 1979 đến năm 1980, ông là Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp ; 12.1980, Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình (nay là Quảng Ngãi và Bình Ðịnh) ; Tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Ðảng (3.1982), được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương  bầu vào Ban Bí thư Trung ương và làm Trưởng ban Ủy ban Kiểm tra Trung  ương ; Tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Ðảng (12.1986), ông tiếp được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương  bầu lại vào Ban Bí thư Trung ương và làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra  Trung ương cho đến khi về hưu; Ông là đại biểu Quốc hội Khóa 6.


Tiêu đề: Trần Hữu Dực, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Chín, 2011, 04:17:02 am
(http://img43.imageshack.us/img43/5170/tranhuuduc.jpg)

Trần Hữu Dực (15.1.1910 – 21.8.1993) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy (đầu tiên, thời tiền khởi nghĩa) Quảng Trị, Xứ ủy viên Trung Kỳ phụ trách 11 tỉnh Nam Trung Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Quảng Trị, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (đầu tiên) tỉnh Quảng Trị, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời Trung Bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Trung Bộ, Đổng lý sự vự Bộ Nội vụ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước kiêm Trưởng Ban Công tác Nông thôn Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nông trường, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Bí thư Khu ủy Trị Thiên, Trưởng Ban Công tác Đặc biệt của Đảng và Nhà nước, Phó Thủ thướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ; và là Ủy viên Trung ương Đảng các Khóa 1 đến 4, Đại biểu Quốc hội các Khóa 1 đến 7.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Ông sinh tại làng Dương Lệ Đông, tổng An Dạ, phủ Triệu Phong (nay thuộc xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) trong một gia đình nông dân nghèo hiếu học, cả ông nội và cha đều là những nhà Nho trường làng.

Huyện Triệu Phong vốn là cái nôi Cách mạng của tỉnh Quảng Trị và cũng là quê hương của nhiều nhà Cách mạng nổi tiếng như Tổng Bí thư Lê Duẩn, Thiếu tướng Lê Chưởng, Đại tướng Đoàn Khuê, Đại tá Phan Phác, Trung tướng Đoàn Chương… Lúc còn nhỏ, 7 – 8 tuổi, ông đã có dịp tiếp xúc với tư tưởng yêu nước thông qua những người bạn của ông nội ở trong Hội Văn thân khi đến chơi nhà, đàm đạo bình luận, từ chuyện Pháp chiếm Việt Nam đến chuyện khởi nghĩa đánh Pháp, chiếu Cần Vương, rồi chuyện cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu… vả cả về nhà Cách mạng Nguyễn Ái Quốc.

Do hoàn cảnh gia đình, lớn tuổi ông mới được đi học. Cũng chính ông nội là người theo dõi, động viên ông học hành, đồng thời hướng ông tới nhận thức, hành động của một người dân yêu nước. Năm 12 tuổi, ông phải nghỉ học đi làm. Năm 13, 14 tuổi, ông chuyển qua dạy tư, để cho đỡ vất vả và có thời gian nghiên cứu sách vở, tự học mở mang kiến thức. Năm 15 tuổi, ông nội mất, hoàn cảnh gia đình ngày càng khó khăn, sa sút, ông bỏ dạy về quê với ý định đi làm phụ giúp gia đình. Lao động một thời gian, hoàn cảnh gia đình vẫn không khấm khá thêm, lại chứng kiến những bất công diễn ra hàng ngày ở làng xã, ông tiếp tục con đường dạy học tại làng và bắt đầu dấn thân vào con đường Cách mạng khi mới chỉ 15 tuổi.

Năm 1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhà Cách mạng Trần Phú thành lập Hội Phục Việt ở thành phố Vinh, Nghệ An. Cùng thời gian này, tháng 11 năm 1926, sau một thời gian suy nghĩ, tìm tòi hướng đi, Trần Hữu Dực đã tổ chức một cuộc họp tại nhà mình thành lập tổ chức Ái hữu Dân đoàn. Đây là một tổ chức yêu nước, độc lập, không hề chịu ảnh hưởng của bất kì tổ chức đảng phái nào khi đó, nhằm tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt già trẻ gái trai, với mục đích làm cho ngày càng nhiều người dân biết nước mình bị Pháp cướp, phần đông vua quan nhà Nguyễn vì lợi ích của bản thân gia đình mà cam chịu làm tay sai cho Pháp, trong khi đại bộ phận người dân Việt Nam chịu khổ cực, vì vậy người Việt phải cùng nhau, thân ái, đoàn kết đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, xóa bọ chế độ vua quan phong kiến làm cho nước nhà được độc lập phú cường. Hội Ái hữu Dân đoàn tổ chức họp mỗi tháng một lần do ông là nòng cốt, chủ động biên soạn tài liệu, điều lệ hoạt động cũng như nhiệm vụ mục đích của hội. Ở tuổi 16, có thể nói ông nghĩ được như vậy, dám làm như vậy quả thực là hiếm có.

Sau một năm thành lập, Ái hữu Dân đoàn ngày càng phát triển mạnh. Thời gian này, hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lan rộng. Các thành viên của Ái hữu Dân đoàn có điều kiện giao lưu, tiếp xúc và tiếp nhận tư tưởng của Chủ nghĩa Marx Lenin cũng như con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc thông qua tài liệu, sách báo cũng như những bài nói chuyện của hội viên Thanh niên. Đây cũng là giai đoạn mà tư tưởng của Trần Hữu Dực trưởng thành mạnh mẽ, và ngày càng thấy rõ vai trò quan trọng của người nông dân trong công cuộc đánh đuổi thực dân, lật đổ phong kiến. Chính vì vậy, trong quá trình tập hợp lực lượng, ông đặc biệt chú ý đến những người nông dân trong tỉnh, và trên thực tế Hội Ái hữu Dân đoàn đã trở thành tiền thân của Hội Nông dân Quảng Trị. Do chủ trương đúng đắn của ông trong việc chọn lực lượng nòng cốt của hội, mà đến năm 1928, hoạt động của hội đã bướng sang một thời kì mới, mạnh mẽ, hiệu quả hơn, và tinh thần Cách mạng của ông đã được Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Trị chú ý. Sau quá trình tìm hiểu vận động, Tỉnh bộ quyết định kết nạp Ái hữu Dân đoàn.

Tham gia Việt Nam Cách mạng Thanh niên giúp Trần Hữu Dực có dịp tìm hiểu kĩ càng hơn về Marx – Lenin, về Cách mạng Nga, và đặc biệt những số báo Người cùng khổ gửi từ Pháp về nước cùng những bài giảng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong các lớp bồi dưỡng ở Quảng Châu. Từ nhận thức mới, phải và chỉ có thành lập các tổ chức cộng sản mới có thể lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập thắng lợi, tháng 5 năm 1929, ông tham gia thành lập nhóm cộng sản đầu tiên của tỉnh Quảng Trị gồm 7 người trực thuộc Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.


Tiêu đề: Trần Hữu Dực, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Chín, 2011, 04:17:53 am
Đầu năm 1929, ông chuyển lên An Tiêm, xã Triệu Thành để dạy học, thức chất là để có điều kiện hoạt động Cách mạng ráo riết hơn. Tháng 6 năm 1929, trong một lần tham gia rải truyền đơn, Trần Hữu Dực bị bắt lần thứ nhất và bị giam tại nhà lao Quảng Trị. Tại đây, ông cùng một số đảng viên cùng các hội viên Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã tổ chức đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù đối với tù nhân, giúp đỡ nhau khi ốm yếu. Đồng thời, ông còn vận động mọi người bớt suất ăn hàng ngày mua giấy bút xuất bản tờ báo Tiến lên do ông làm chủ bút, giới thiệu về Đông Dương Cộng sản Đảng và chủ trương của nó. Tờ báo có tác dụng rất lớn trong việc tuyên truyền và giác ngộ Cách mạng cho quần chúng nhân dân Quảng Trị nhất là tầng lớp thanh niên. Tờ báo đồng thời cũng là tài liệu hướng dẫn cho  những đảng viên bên ngoài lãnh đạo phong trào quần chúng.

Tháng 1 năm 1930, ngay sau khi ra tù, ông nhanh chóng bắt mối với các đảng viên tiếp tục xây dựng và phát triển các cơ sở Đảng, thống nhất nội dung hoạt động của các chi bộ. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản trong nước diễn ra dưới sự chỉ đạo của nhà Cách mạng Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngày 21 tháng 4 năm 1930, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ Quảng Trị được thành lập gồm ông, cùng 2 ông Lê Thế Tiết, Nguyễn Hữu Mão và do ông Lê Thế Tiết làm bí thư. Tháng 10 năm 1930, Tỉnh ủy bị vỡ, 2 ông Lê Thế Tiết và Nguyễn Hữu Mão bị bắt giam, Tỉnh ủy chính thức được thành lập gồm 5 ủy viên do ông làm Bí thư.

Tại phiên họp đầu tiên, Tỉnh ủy do ông lãnh đạo đã đề ra nhiều chủ trương biện pháp để lãnh đạo, phát triển phong trào đấu tranh trong toàn tỉnh Quảng Trị, đồng thời quyết định duy trì tờ Tiến Lên làm cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ, và ra tờ Bạn Dân cày, sau đổi tên thành Mặt trận đỏ (có phụ trang nói về vấn đề Phụ nữ) lưu hành trong các hội quần chúng. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy do ông đứng đầu, phong trào đấu tranh ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh phát triển rất mạnh mẽ. Thực dân Pháp ra sức khủng bổ, nhiều đảng viên bị bắt trong đó có ông. Ông bị kết án 7 năm đày đi Lao Bảo lần thứ hai. Tại Lao Bảo, ông tiếp tục tham gia đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù thực dân, không ngừng tự và giúp các đồng chí của mình giữ vững tinh thần Cách mạng, nâng cao trình độ. Tại đây, ông viết tác phẩm « Các nước trên Thế giới » giúp mọi người mở rộng kiến thức. Đầu năm 1937, thực dân Pháp đày ông lên Buôn Ma Thuột.

Năm 1938, mãn hạn tù, ông trở về quê vừa giải quyết công việc gia đình, vừa tìm hiểu phong trào, bắt liên lạc với tổ chức, chủ động bàn bạc với Tỉnh ủy quyết tâm thoát ly hoạt đông, rồi tham gia Xứ ủy Trung Kỳ phụ trách 11 tỉnh Nam Trung Bộ. Đó là tháng 2 năm 1940, Hội nghị Xứ ủy Trung Kỳ họp để nghiên cứu nghị quyết lần thứ 6 của Trung ương Đảng, quyết định thành lập Mặt trận Phản đế Đồng minh thay cho Mặt trận Dân chủ. Có thể nói rằng Trần Hữu Dực là một trong những nhà Cách mạng bị bộ máy cầm quyền thực dân phong kiến bắt bớ, tra tấn dã man và bỏ tù nhiều năm nhất. Đến năm 1941, do có nội phản, ông tiếp tục bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ 3. Lúc đầu, ông bị giam ở nhà lao Bình Thuận, bị dùng đủ cực hình để tra tấn, không khai thác được gì thực dân Pháp lại đầy ông lên Buôn Ma Thuột. Như vậy trong vòng 15 năm trước Cách mạng, ông đã bị bắt giam 3 lần, bị kết án tổng cộng 29 năm tù, 22 năm quản thúc tại các nhà tù khét tiếng của miền Trung như Quảng Trị, Lao Bảo (2 lần), Buôn Ma Thuột (2 lần).

Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, tù nhân chính trị được thả, ông trở về quê tham gia vào Ban lãnh đạo Tỉnh ủy, gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Cách mạng tháng 8 thành công, ngày 31 tháng 8 năm 1945, ông được bầu vào Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ. Tiếp đó, vào ngày 2 tháng 9, trong cuộc họp các đại biểu Trung Kỳ, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Trung Bộ với sự tín nhiệm tuyệt đối. Thời gian từ năm 1945 đến 1947, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Trung Bộ dưới sự lãnh đạo của ông đã góp phần quan trọng vào công việc xây dựng chính quyền Cách mạng ở khu vực Trung Bộ, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho hai năm đầu tiên của cuộc Kháng chiến chống Pháp.

Giữa năm 1948, Trần Hữu Dực được Trung ương điều động ra Việt Bắc. Từ năm 1948 đến năm 1950, ông là Ủy viên Đảng Đoàn Chính phủ, Bí thư Đảng bộ các cơ quan Đảng Dân chính Trung ương và là Đổng lý sự vụ Bộ Nội vụ. Từ năm 1950 đến năm 1957, ông được điều sang công tác bên Quân đội giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh, rồi sau Chiến thắng Điện Biên Phủ là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Cuối năm 1957, khi đất nước bắt đầu thành lập Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, ông chuyển ngành khỏi Quân đội và được cử làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban này đồng thời là lãnh đạo đầu tiên góp phần xây dựng ngày thống kê Việt Nam. Năm 1958, ông được phân công làm Trưởng Ban Công tác Nông thôn của Trung ương Đảng, kiêm Trưởng Ban Liên lạc Nông dân toàn quốc. Đầu năm 1960, ông được phân công xây dựng các nông trường quốc doanh, và đứng đầu (Bộ trưởng) ngành kinh tế mới ra đời đó là Bộ Nông trường Quốc doanh. Giữa năm 1962, ông được cử làm Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp Phủ Thủ tướng, kiêm Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp và là Trưởng Ban Phòng chống lụt bão Trung ương.

Năm 1968, ông lên làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Tổng Thư ký Hội đồng Chính phủ kiêm Trưởng Ban Nội chính Trung ương. Năm 1973, ông được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ. Năm 1977, ông chuyển sang Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao giữ chức vụ Viện trưởng. Năm 1982, ông được Quốc hội cử vào Ủy ban Lập pháp cho đến khi về hưu. Trần Hữu Dực là đại biểu Quốc hội liên tục từ Khóa 1 đến Khóa 7, và là Ủy viên Trung ương Đảng từ Khóa 1 đến Khóa 4.

Tham khảo : Báo Quảng Trị, Báo Đảng


Tiêu đề: Đại tá Hoàng Anh, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chính ủy Quân khu 4
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Mười, 2011, 05:01:19 am
(http://img40.imageshack.us/img40/9152/daitahoanganh.jpg)

Đại tá Hoàng Anh (10.2.1912) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Chính ủy Quân khu Trị Thiên Huế kiêm Bí thư Quân Khu ủy.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Phó Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Thừa Thiên, Bí thư Thừa Thiên, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Phân khu Bình Trị Thiên, Bí thư Liên khu ủy Khu 4, Bộ trưởng Bộ Tài chính kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp, Phó Thủ tướng kiêm Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ; và là Đại biểu Quốc hội Khóa 1, 2, 3 và 6, Ủy viên Trung ương Đảng và tham gia Ban Bí thư.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất,…, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1954)


Ông sinh ngày 10 tháng 2 năm 1912, có tài liệu ghi là 28 tháng 3 năm 1911, tại xã Phong Thái, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong một gia đình nông dân, ngoài ra ông còn các bí danh Bình và Hoàng.

15 tuổi, do hoàn cảnh gia đình sa sút, ông nghỉ học ở nhà làm ruộng. Năm 1936, ông tham gia Mặt trận Dân chủ rồi Mặt trận Phản đế Đông Dương đấu tranh hợp pháp đòi quyền lợi cho nhân dân cũng như cải cách sự cai trị của thực dân phong kiến. Năm 1938, Mặt trận Bình dân sụp đổ, thực dân Pháp đàn áp phong trào, ông bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ cùng với các ông Nguyễn Vịnh (tức Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), Tố Hữu… và được kết nạp vào Đảng tại đây.

Tháng 5 năm 1945, ông ra tù, bắt liên lạc và tham gia hoạt động trong Mặt trận Việt Minh của tỉnh Thừa Thiên. Ngày 23 tháng 5, ông tham gia Hội nghị Ban Chấp hành Việt Minh tỉnh Thừa Thiên và được bầu vào Ban Thường vụ gồm 5 người gồm ông và các ông Lê Dĩnh, Lê Tự Đồng, Trần Thanh Từ do ông Mỹ Sơn làm bí thư. Trong quá trình chuẩn bị tổng khởi nghĩa, giành chính quyền, ông được Việt Minh Thừa Thiên giao nhiệm vụ tiếp xúc và vận động các bộ trưởng trong Chính phủ thân Nhật do ông Trần Trọng Kim đứng đầu. Ngày 20 tháng 8, ông được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên, ngày 23 tháng 8, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Thừa Thiên được thành lập, ông tiếp tục giữ chức vụ Phó Chủ tịch. Chính ông cùng với ông Phan Tử Lăng (trước Cách mạng là Chỉ huy trưởng Bảo An binh Trung Kỳ, sau tham gia Cách mạng được phong hàm Đại tá trong đợt phong quân hàm tướng đầu tiên, năm 1948, và là Cục trưởng Cục Quân huấn đầu tiên) chỉ huy tổ bắt giữ nhóm nhảy dù của Thiếu tá Castella (đặc phái viên của tướng De Gaulle).

Tháng 1 năm 1946, trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội Khóa 1. Tháng 3 năm đó, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thừa Thiên. Sau khi Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, tháng 11 năm 1946, ông tham gia Ủy ban Kháng chiến Thừa Thiên. Khi Ủy ban Hành chính Kháng chiến Thừa Thiên được thành lập, ngày 28 tháng 7 năm 1947, ông giữ chức vụ Chủ tịch, rồi giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Phân khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Bình Trị Thiên. Năm 1948, ông được chỉ định làm Bí thư Liên Khu ủy Liên khu 4.

Tháng 2 năm 1951, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (tên gọi lúc đó của Đảng) ; 11.1953, được Trung ương điều vào làm Chủ nhiệm Việt Minh Thanh Hóa, tổ chức và chỉ đạo mở đường 41 lên Điện Biên Phủ, chuẩn bị công tác chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ sẽ mở vào đầu năm 1954 ; 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được Trung ương điều sang công tác bên Quân đội với quân hàm Đại tá phụ trách theo dõi thi hành của Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Sau khi kết thúc nhiệm vụ theo dõi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tiếp tục công tác trong Quân đội, giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp (1956 – 1958), đồng thời tham gia Quân ủy Trung ương ; 6.1958, Bộ trưởng Bộ Tài chính và được bầu bổ sung vào Ban Bí thư Trung ương Đảng (11.1958) ; 1960, tiếp tục được bầu vào Quốc hội Khóa 2 (1 trong 4 đại biểu lưu nhiệm của Thừa Thiên), tiếp tục giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính, đồng thời kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính – Thương nghiệp, và tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng cùng Ban Bí thư ; 1.1963, thôi làm Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính Thương nghiệp.

Năm 1964, ông tiếp tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội lưu nhiệm của Thừa Thiên trong Quốc hội Khóa 3, và tiếp tục là Bộ trưởng Bộ Tài chính ; 4.1965, chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp ; 11.1967, thôi chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp quay trở lại Quân đội và được điều động vào làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Trị Thiên Huê cho đến tháng 12 năm 1969 thì thôi luôn chức vụ Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp Trung ương. 


Tháng 4 năm 1971, ông quay về Trung ương và được cử giữ chức vụ Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương (đến tháng 4 năm 1974 thì thôi giữ chức vụ này). Tại Quốc hội Khóa 6, Quốc hội Thống nhất năm 1976, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội và được cử giữ chức vụ Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tháng 2 năm 1977, ông tiếp tục được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính lần thứ 2 và giữ chức vụ này cho đến khi về hưu, tháng 5 năm 1982.


Tiêu đề: Lê Thiệu Huy, Thần đồng Đông Dương, Tham mưu trưởng Liên quân Việt Lào
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Mười, 2011, 03:02:34 pm
(http://img502.imageshack.us/img502/8555/anhlslethieuhuycopie.jpg)

Anh hùng Liệt sĩ Lê Thiệu Huy (6.3.1921 – 21.3.1946) từng giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân Việt Lào.

Huân chương Quân công hạng Ba (truy tặng 1957), Huân chương Độc lập của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (truy tặng 1991).

Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 9.2.2011 theo quyết định 161/QĐ-CTN của Chủ tịch Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.


Ông sinh tại làng Trung Lễ, xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình Nho học yêu nước. Ông nội ông là một nhà Nho nghèo. Bố ông, Giáo sư Hán Nôm Lê Thước (13.4.1891 – 1.10.1975), trước Cách mạng, từng đỗ Giải Nguyên Nho học, rồi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương và là giáo sư tại Trường Quốc học Vinh (Nghệ An), Trường Bưởi (Hà Nội), Trường Đào Duy Từ (Thanh Hóa) cũng như Đốc học Lạng Sơn. Trong Kháng chiến chống Pháp, cụ Lê Thước được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban Tăng gia Sản xuất Thanh Hóa, và được bầu vào Ban Chấp hành Mặt trận Liên Việt toàn quốc. Sau năm 1954, cụ về công tác tại Bộ Giáo dục tham gia soạn thảo sách giáo khoa văn, sử, địa… ; đồng tham gia Ban phụ trách Bảo tồn Bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa xây dựng các tủ sách Hán Nôm, tủ hồ sơ di tích lịch sử và danh nhân đất Việt… ; và là một trong những học giả hiếm hoi uyên bác về Hán Nôm của nước ta.

Lúc còn nhỏ, thời kì cụ Lê Thước làm giáo sư tại Trường Quốc học Vinh, ông ở cùng mẹ và ông bà nội tại quê nhà, và được ông nội dạy chữ Nho khi mới lên 5 tuổi. Năm 1927, bố ông được chuyển ra Hà Nội dạy học, ông cùng mẹ ra theo và thi vào lớp 3 Trường Tiểu học Sinh Từ gần Văn Miếu. Tháng 9 năm 1931, ông vào học lớp 9 tại Trường Trung học Bảo hộ mang tên Albert Sarraut (tức Trường Bưởi, hay Trường Chu Văn An ngày nay), cùng học chung với con cái người Pháp. Năm học tiếp theo, do sức học vượt trội hơn hẳn so với các bạn cùng lớp, ông được đặc cách vượt qua lớp 8 vào thẳng lớp 7 (trường Pháp thời bấy giờ tính từ trên xuống dưới). Từ đó đến năm 1940, không năm nào ông không đứng đầu lớp. Tháng 6 năm 1939, ông thi tốt nghiệp tú tài toán học phần một đỗ đầu, hạng ưu, và còn đỗ cả tú tài triết học loại giỏi. Năm 1940, ông tiếp tục thi đậu tú tài phần hai ban toán và triết đạt hạng ưu và khá.

Do luôn luôn đứng đầu lớp trong suốt những năm học tại trường Trung học, ông được bạn bè gọi là « vô địch », và được giới trí thức cũng như học sinh sinh viên cả nước biết tới với biệt danh « Thần đồng Đông Dương ». Do những thành tích như vậy, Toàn quyền Đông Dương đã mời mẹ ông lên gặp mặt, tuyên dương gia đình về dạy dỗ con cái, đồng thời cấp học bổng cho ông qua Pháp học mà không đòi hỏi bất cứ một điều kiện gì. Cần phải nói thêm cho rõ ở đây rằng, thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp chia nước ta ra làm 3 miền với những quy chế khác nhau, miền Bắc và Trung do Nhà Nguyễn cai quản dưới sự bảo hộ của họ, miền Nam trực tiếp cai trị bởi họ. Tại miền Nam, thực dân Pháp hộ trợ và cho đi qua Pháp du học không hề hạn chế, trong khi ở miền Trung và đặc biệt miền Bắc, rất hạn chế, nếu có đi thì phải chịu những ràng buộc ngặt nghèo như nhập quốc tịch Pháp hay về phải làm việc cho Pháp… Cho nên, điều dễ thấy, sau Cách mạng, số lượng trí thức ở Pháp về thường có gốc gác ở trong Nam, và trường hợp của Lê Thiệu Huy là rất hiếm. Tuy nhiên, do chiến tranh Thế giới thứ 2 bùng nổ trên đất Pháp, ông không qua Pháp học được mà ở lại nước học Trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương (nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà nội).

Tháng 6 năm 1942, ông thi đậu cử nhân khoa học, chuyên ngành Toán lý thuyết. Đúng một năm sau, tháng 6 năm 1943, ông tiếp tục thi đậu cử nhân khoa học, chuyên ngành Vật lý và Hóa lý thuyết. Đánh giá về ông, nhà toán học gốc Do thái, Giáo sư Burcher nói « Tôi chưa bao giờ thấy có sinh viên nào xuất chúng hơn Lê Thiệu Huy, và cũng không dám mơ thấy được người thứ hai tài ba đến nhường vậy », còn Giáo sư Hoàng Xuân Hãn nói « Tôi có 2 người học trò, đều quê Đức Thọ. Một là Lê Văn Thiêm, hai là Lê Thiệu Huy, học giỏi ít ai sánh bằng ».

Là một người sẵn lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, Lê Thiệu Huy luôn hướng về các phong trào yêu nước của thanh niên, học sinh, sinh viên lúc bấy giờ như tham gia hướng đạo sinh, hát các bài hát yêu nước, đi xe đạp từ Bắc vào Nam... Lại nói thêm về cụ Lê Thước, trong quá trình dạy học, cụ luôn khéo léo lồng ghép, khơi dậy trong học trò của mình tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc cùng nỗi nhục mất nước cũng như trách nhiệm trước vận mệnh của Tổ quốc. Những hành động và tư tưởng của cụ có những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với Lê Thiệu Huy.  

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), do lời khuyên của các trí thức tiến bộ, những huynh trưởng trong phong trào hướng đạo sinh như Tạ Quang Bửu, Phan Anh, và bạn bè ông cùng một số sinh viên rời Hà Nội vào Huế học tại Trường Thanh niên tiền tuyến. Trường Thanh niên tiền tuyến là ngôi trường « xanh vỏ đỏ lòng », bề ngoài do Chính phủ bù nhìn thân Nhật Trần Trọng Kim thành lập, thực chất được lãnh đạo bởi những trí thức yêu nước như Tạ Quang Bửu, Phan Anh, ủng hộ Việt Minh. Nhiều bộ trưởng, tướng lĩnh, cán bộ và sĩ quan cao cấp cùng giáo sư đã xuất thân từ ngôi trường này. Cách mạng tháng Tám nổ ra tại Huế, Lê Thiệu Huy tham gia giành chính quyền tại đây cùng những học viên của Trường Thanh niên tiền tuyến, và họ đóng một vai trò quan trọng then chốt. Ngày 29 tháng 8 năm 1945, ông cùng các học viên đi bộ ra cách Huế 20 cây số bất ngờ bắt 6 người Pháp giả bộ Đồng minh nhảy dù.

Là một người thông thạo và biết nhiều thứ tiếng như Pháp, Anh, La tinh, Trung Quốc và sau này là Lào, Thái, đầu tháng 9 năm 1945, ông được Trung ương gọi ra Hà Nội làm việc tại Bộ Ngoại giao, là thư ký riêng của Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Chí Minh đồng thời được cử làm liên lạc với Phái Bộ Đồng minh.

Tháng 10 năm 1945, ông được Bộ Quốc phòng phái vào Trung Bộ tổ chức phòng thủ con Đường số 9 nối Đông Hà với Savanakhet (Lào). Thời gian này, thực dân Pháp đang lăm le trở lại xâm chiếm toàn bộ Đông Dương, và Mặt trận Đường 9 là một trong những mặt trận trọng điểm, được tổ chức đầu tiên. Lê Thiệu Huy đã cùng đồng đội chiến đấu nhiều trận oanh liệt tại Mường Phìn, Sê Pôn. Ngày 2 tháng 12 năm 1945, ông cùng đồng đội phá tan một căn cứ của Pháp ở Keng Khang (Trung Lào). Ngày 19 tháng 12 năm 1945, ông chỉ huy một đơn vị đập tan cuộc hành binh táo bạo của Pháp định chiếm Mường Phin (Trung Lào). Rời Mặt trận Đường 9, trên cương vị Tham mưu trưởng Liên quân Việt Lào, ông cùng Hoàng thân Suvanuvong tổ chức phòng tuyến bảo vệ Thà Khẹt. Ngày 21 tháng 3 năm 1946, quân Pháp ồ ạt tấn công Thà Khẹt, Liên quân Việt Lào mặc dù chiến đấu anh dũng nhưng lực lượng yếu hơn và trang bị kém phải lui quân. Thà Khẹt thất thủ, Liên quân phải vượt sông Mê Kong rút lui trong điều kiện bị quân Pháp truy đuổi và máy bay bắn phá. Ngày 21 tháng 3 năm 1946, Lê Thiệu Huy hi sinh trong quá trình vượt sông khi lấy thân mình cố gắng chắn đạn cho Hoàng thân Suvanvong. Trong thư chia buồn gửi cho gia đình giáo sư Lê Thước, Hoàng thân viết “Thưa ngài! Anh Lê Thiệu Huy - người con yêu quý bậc nhất của ngài mất đi, không riêng gì gia quyến mất đi một người con yêu dấu nhất mà nước Việt Nam và nhân dân Lào mất đi một người chiến sỹ đầy tinh thần hy sinh vì công lý. Riêng tôi, cái chết của anh Lê Thiệu Huy không khỏi làm cho tôi bùi ngùi, thương tiếc… tinh thần cao cả ấy đã nhắc nhở cho thanh niên Lào, cho nhân dân Lào luôn bền bỉ chiến đấu tiêu diệt đế quốc dành độc lập cho đất nước”.




Tiêu đề: Trần Lê, Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 5, Chính ủy Quân khu 6
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Mười, 2011, 03:55:29 am
(http://img27.imageshack.us/img27/9371/tranle.jpg)

Trần Lê (5.2.1921 – 2.4.2003) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 5, Chính ủy Quân khu 6.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Việt Minh rồi Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, Ủy viên Liên Khu ủy Khu 5, Bí thư Liên tỉnh ủy (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai thượng), Bí thư Khu ủy Khu 6 (Đắc Lắc, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng), Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao ; và là Đại biểu Quốc hội các Khóa 1, 7 ; Ủy viên Trung ương Đảng các Khóa 4, 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Ông tên thật là Lê Tuệ, sinh tại xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nông dân. Sớm tiếp thu tư tưởng yêu nước, ông bắt đầu tham gia Cách mạng từ những năm 1936 – 1939, khi còn là học sinh, trong phong trào đấu tranh dân chủ và báo chí công khai do Đảng lãnh đạo. Từ năm 1938, ông tham gia hoạt động trong tổ chức Đoàn Thanh niên Dân chủ của huyện Duy Xuyên, và được kết nạp Đảng tháng 2 năm 1943. Cùng năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt và đày lên nhà lao Buôn Ma Thuột, và bị giam với nhiều nhà Cách mạng nổi tiếng khác.

Tháng 3 năm 1945, lợi dụng thời điểm Nhật đảo chính Pháp, theo sự lãnh đạo của Đảng bộ nhà lao, ông cùng với nhiều tù chính trị khác vượt ngục, chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi liên lạc với tổ chức Đảng, ông được phân công về hoạt động tại tỉnh Bình Định, là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy lâm thời. Cách mạng tháng 8 thành công, ông được chỉ định làm Chủ tịch Việt Minh Bình Định, rồi Bí thư Tỉnh ủy (đầu năm 1946). Trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội Khóa 1.

Trong Kháng chiến chống Pháp, từ năm 1949 đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ như : Ủy viên Liên Khu ủy Khu 5, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 5, phụ trách Trường Đảng Liên Khu ủy Khu 5…

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông không tập kết ra Bắc mà được phân công ở lại chiến trường miền Nam trên cương vị Bí thư Liên tỉnh ủy Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai thượng. Năm 1958, ông ra miền Bắc trong đoàn cán bộ Liên khu 5, tham gia đóng góp vào « Đề cương Cách mạng miền Nam » và dự Hội nghị lần thứ 15 Trung ương Đảng bàn về Cách mạng miền Nam.

Tháng 7 năm 1961, nhằm đáp ứng yêu cầu về xây dựng hành lang chiến lược Bắc Nam thông suốt và từng bước xây dựng vùng căn cứ Nam Trung Bộ gồm cả Nam Tây Nguyên tiếp giáp Đông Nam Bộ, Khu 6 được thành lập gồm các tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng, ông được Trung ương chỉ định làm Bí thư Khu ủy Khu 6 rồi sau đó kiêm luôn Chính ủy Quân khu 6.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, năm 1976, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng. Tháng 5 năm 1980, ông ra Bắc giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, rồi Viện trưởng (1988) cho đến khi về hưu. Thời gian này, ông lại được bầu vào Quốc hội Khóa 7. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng các Khóa 4 và 5.

Tham khảo: Tạp chí Kiểm sát


Tiêu đề: Lê Văn Hiền, quyền Chính ủy Quân khu 6, Phó Bí thư Quân khu ủy
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Mười, 2011, 04:52:27 pm
(http://img198.imageshack.us/img198/636/levanhien.jpg)

Lê Văn Hiền (1925 – 8h45’ 2.8.2010) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên Tỉnh đội Ninh Thuận, Chính trị viên Tỉnh đội Bình Thuận kiêm Trưởng Ban Quân sự, Chính ủy tiền phương A Quân khu 6, Phó Chính ủy thứ Nhất Quân khu 6 kiêm Phó Bí thư Quân khu ủy, quyền Chính ủy Quân khu 6.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận, Thường trực Liên tỉnh ủy 3 (Đắc Lắc, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng), Ủy viên thường vụ, thường trực Khu ủy Khu 6, Bí thư Tỉnh ủy Thuận Hải ; và là Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 4, 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Ông còn có tên khác là Lê Văn Toàn, sinh tại xã Hòa Vinh, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên trong một gia đình trung nông.

Cuối năm 1944 đầu năm 1945, là cơ sở đơn tuyến hoạt động tại tỉnh Phú Yên ; 3.1945 đến 1.1946, phụ trách Thanh niên Cứu quốc, Tự vệ mật, tham gia Ủy ban khởi nghĩa, Ủy ban Việt Minh, Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
 
Từ 2.1946 đến 3.1946, chuyển qua quân đội công tác tại Đại đoàn 27 ; 4.1946 đến 9.1946, Bí thư Công vận tỉnh, phụ trách Liên hiệp Công đoàn tỉnh, Ủy viên Ủy ban Mặt trận tỉnh Phú Yên ; 10.1946 đến 1.1947, chuyển công tác vào tỉnh Ninh Thuận ; 2.1947 đến 7.1948, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, Tỉnh ủy viên, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Thuận ; 8.1948 đến 7.1949, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận ; 8.1949 đến 7.1950, Ủy viên Thường vụ, Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận, phụ trách Dân vận – Mặt trận.
 
Từ 8.1950 đến 5.1951, thành viên Đoàn đại biểu Đảng bộ Liên khu V dự Đại hội Đảng toàn quốc lần II ; 5.1951 đến 11.1951, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội, Quyền Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận ; 12.1951 đến 8.1954, Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh Đội Ninh Thuận.
 
Từ 8.1954 đến 5.1957, được phân công ở lại hoạt động bí mật tại miền Nam là Ủy viên liên Tỉnh ủy 3 (Đắc Lắc, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng), Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận ; 5.1957 đến 4.1960, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa, kiêm Thường trực Liên Tỉnh ủy 3 ; 5.1960 đến 5.1961, Thành viên Đoàn đại biểu Đảng bộ Liên khu V dự Đại hội Đảng toàn quốc lần III.
 
Từ 5.1961 đến 6.1968, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận kiêm Trưởng Ban quân sự, Chính trị viên Tỉnh đội, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VI. Chính ủy tiền phương A Quân khu VI trong chiến dịch Mậu Thân ; 7.1968 đến 10.1968, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VI, phụ trách Dân vận – Mặt trận;
 
Từ 11.1968 đến 6.1969, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Tiền phương A, Quân khu VI. Tháng 7/1969: Ủy viên Thường vụ, Thường trực Khu ủy Khu VI ; 9.1969 đến 1.1976, Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Phó Bí thư Quân khu ủy, Phó Chính ủy thứ nhất Quân khu VI; 3.1974 đến 4.1975, quyền Bí thư Khu ủy, Quyền Chính ủy Quân khu VI.
 
Từ 2.1976 đến 12.1986, Bí thư Tỉnh ủy Thuận Hải; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 4, 5 ; 1.1987 đến 3.1988, giúp Tỉnh ủy Thuận Hải trong lúc chờ Ban Bí thư Trung ương Đảng bố trí công tác ; 4.1988 đến 8.1988, Phái viên, công tác viên Ban Nội chính Trung ương Đảng cho đến khi nghỉ hư (1.9.1988). Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục làm cộng tác viên cho Ban Nội chính Trung ương đến tháng 12 năm 1992.


Tiêu đề: Đại tá Nguyễn Hữu Trí (Tư Bốn), Đoàn trưởng Đoàn Tình báo 22
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Mười, 2011, 09:36:34 pm
(http://img17.imageshack.us/img17/917/nguyenhuutri.jpg)

Đại tá Anh hùng Nguyễn Hữu Trí (28.12.1926 – 1993) từng giữ các chức vụ : quyền Trưởng phòng Tình báo Chiến lược Miền (J22), Đoàn trưởng Đoàn Tình báo 22 trực thuộc Bộ Tham mưu Quân Giải phóng miền Nam, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Huân chương Chiến công (2 hạng Nhì, 2 hạng Ba)…

Ông được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 20 tháng 9 năm 1971, và là người thứ 2 của Ngành Tình báo Chiến lược Quân sự nhận Danh hiệu này sau Đại tá Đinh Thị Vân (1916 – 1995).


Ông tên thật là Nguyễn Văn Bốn, hay còn gọi là Tư Bốn, sinh tại xã Vĩnh Lợi, huyện Gò Công, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình đông anh em có bố là thợ kim hoàn. Ông là con trai thứ ba cho nên thường được gọi là Tư Bốn. Trong Kháng chiến chống Pháp, hai anh trai ông đi bộ đội và đều hy sinh. Một em trai khác của ông cũng đi bộ đội, nhưng do bệnh tật, phải giải ngũ về sống với gia đình tại Sài Gòn (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh).

Ông tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945, gia nhập Cộng hòa vệ binh tháng 10 cùng năm, được ít lâu thì chuyển sang công tác trinh sát. Thời gian đầu của Kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt là trinh sát viên ở Khu 7, tổ trưởng trinh sát thuộc Phòng tham mưu Khu 8, trung đội trưởng trinh sát thuộc Phòng tham mưu Khu 9.

Năm 1949, ông được giao nhiệm vụ tổ chức mua thuốc tây, hóa chất, thuốc nổ, điện đài... ở vùng tạm chiếm và vận chuyển những hàng hóa đó ra vùng căn cứ Khu 9. Không những hoàn thành tốt nhiệm vụ này, ông còn xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc ở Sài Gòn và trực tiếp đưa thư từ, tài liệu vận động cách mạng tới một số nhân sĩ, trí thức… Vì vậy mà được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Có lần bị địch bắt và tra tấn rất dã man song ông vẫn kiên trì bảo vệ bình phong, giữ vững khí tiết nên cuối cùng địch phải thả vì không tìm ra chứng cớ để kết tội.

Do những thành tích trong công tác và chiến đấu, tháng 6 năm 1951, ông vinh dự được kết nạp Đảng. Năm 1953, ông được rút về làm Trưởng Ban Hành chính Quản trị của Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, cuối năm 1954 ông tập kết ra Bắc và giữ chức vụ Trưởng Ban Hành chính Trung đoàn 78, rồi được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân. Tháng 12 năm 1959, tốt nghiệp, ông được điều về Cục Tình báo với quân hàm Trung úy, và được huấn luyện tương đối bài bản về chính trị và nghiệp vụ tình báo trong 2 năm 1960 và 1961. Tháng 1 năm 1963, ông theo đường biển vào Nam chiến đấu, rồi được cử là tổ trưởng điệp báo, có nhiệm vụ tạo lập bình phong, chỗ đứng chân, từng bước hợp pháp hóa tại địa bàn Sài Gòn.

Với nhiệm vụ mới, ông tìm lại, rồi mau chóng vận động được em ruột là Nguyễn Hữu Nghĩa tham gia công tác tình báo. Ông còn chắp nối với bà Trịnh Thị Ngọc Sương, người vẫn thủy chung chờ đợi ông gần 10 năm trời. Em ruột bà Sương là Trịnh Hoài Châu thì tham gia công tác tuyên huấn của Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn từ năm 1954, hoạt động trong bộ phận in báo và truyền đơn. Năm 1958, bà Châu bị bắt khi đang là Đảng viên dự bị, đã kiên quyết không khai nhận gì, và được thả vào năm 1962, rồi về nhà vừa lo làm ăn sinh sống vừa tìm cách chắp nối liên lạc với tổ chức. Nguyễn Hữu Nghĩa, Trịnh Thị Ngọc Sương, Trịnh Hoài Châu lập tức trở thành ba cộng sự đắc lực, giúp đỡ ông rất nhiều trong việc phát triển công tác.

Thông qua quan hệ của bản thân và khai thác các mối quan hệ của người thân, bạn bè, ông đã xây dựng được nhiều cơ sở bảo đảm đáng tin cậy như các ông Đỗ Ngọc Diệp (công chức ngành hàng hải), Lâm Văn Tường (chủ xe đò), Lý Sến (tiểu thương), A Khải (kế toán viên), Lê Văn Nghiêm (lái xe tắc-xi), Võ Văn Ngưu (thợ mộc). Nhờ họ mà đêm mùng 1, trưa, chiều mùng 2 tháng 11 năm 1963, bằng 3 bức điện đài, ông đã kịp thời báo cáo Cục Tình báo về tình hình đảo chính lật đổ anh em ông Diệm và Nhu. Tháng 7 năm 1964, khi nhu cầu liên lạc tăng cao, ông đón được điện đài viên Nguyễn Thế Huỳnh vào, làm việc an toàn, có hiệu quả cho tới khi ông Huỳnh được rút về (11.1965). Riêng ông Đỗ Ngọc Diệp dưới sự dìu dắt và chỉ đạo của ông sau này còn trực tiếp xây dựng được điệp viên, và được giao nhiệm vụ như một tổ trưởng điệp báo.

Cũng thông qua quan hệ của bản thân và khai thác các mối quan hệ của người thân, bạn bè mà ông còn tiếp cận được, đồng thời đi sâu quan hệ, chuyển hóa, giác ngộ, từng bước nâng cao nhận thực và trình độ chính trị, nghiệp vụ cho nhiều sĩ quan, công chức ngụy như các ông Trần Văn Bèo, Lê Văn Phủ, Phan Đình Thu, Lê Văn Đức, Trần Văn Lộc, Nguyễn Công Tuấn thành điệp viên trong lưởi của mình. Nhiều người trong số họ đã chui sâu, leo cao trong hàng ngũ địch, đi vào những mục tiêu chiến lược quan trọng. Ví dụ: điệp viên Trần Văn Bèo từ nhân viên Phòng Quân huấn, Trường Sĩ quan Thủ Đức, lên phó ban Quân lực ở Bộ Tổng tham mưu ngụy, thân cận với nhiều tướng lĩnh như Trần Văn Minh, Vĩnh Lộc, Trần Ngọc Tám, Đặng Văn Quang; Điệp viên Lê Văn Phủ từ thiếu úy ở một đơn vị lẻ thuộc Sư đoàn 7 chuyển về Phòng Quản trị - Kế hoạch của Nha tổng giám đốc bảo an, sau lên Trưởng ban Thống kê - Bộ tư lệnh bảo an rồi lên Bộ Tổng tham mưu làm sĩ quan giúp việc cho tướng ngụy Trần Ngọc Tám, phụ tá Tổng Tham mưu trưởng; Trần Văn Lộc từ huấn luyện viên ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung lên làm sĩ quan hành chính - quản trị rồi chủ sự Phòng Hành chính - Quản trị ở Phủ tổng thống, thân cận với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng như Nguyễn Văn Vỹ, Chung Tấn Cang; Trịnh Hoài Châu từ làm ăn bên ngoài vào làm ở Nha Kế hoạch - Bộ Phát triển nông thôn; Nguyễn Hữu Nghĩa từ chạy xe tắc-xi vào làm tài xế riêng cho Đại tá, Trưởng phòng 1 - Bộ Tổng tham mưu ngụy. Họ đã liên tục thu thập được những tin tức, tài liệu có giá trị về nhiều mặt, trong đó có một số tin tức, tài liệu được Cục Tình báo đánh giá là chiến lược, cao sâu.

Bản thân Nguyễn Hữu Trí cũng rất chủ động mở rộng, đi sâu quan hệ nên đã khéo léo khai thác được từ Nguyễn Mộng Bích (Đại tá, giám đốc Nha Quân pháp), Trần Văn Triều (sĩ quan không quân), Hồ Văn Tiêu (nhân vật Công giáo), Nguyễn Hữu Lương (nhân vật Phật giáo), Lê Thương (nhạc sĩ)... được nhiều tin tức, tài liệu có giá trị về quân sự, chính trị của Mỹ ngụy. Từ năm 1963 đến năm 1970, lưới điệp báo của ông đã có vai trò như một trong vài lưới hiệu lực chủ yếu của tình báo chiến lược về quân sự. Đặc biệt, tuy số lượng điệp viên, quan hệ điệp báo, cơ sở bảo đảm... của lưới là khá lớn và nhiều người được xây dựng thông qua quan hệ “bắc cầu” song ông vẫn bảo đảm tốt yêu cầu cự ly, đơn tuyến trong lưới, vì vậy mà khi một nữ giao thông viên nối lưới với trung tâm chỉ huy bị nghi ngờ, bắt giữ cùng tài liệu đã không lây lan rộng.

Cuối tháng 4 năm 1970, ông được trên rút ra vùng giải phóng để bảo đảm an toàn, và được bổ nhiệm Phó phòng Tình báo chiến lược miền (J22) tháng 2 năm 1971. Đầu năm 1973, ông được cử phụ trách Ban Tình báo ngoại giao của Phòng và tham gia Đoàn Đại biểu Quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ủy ban Quân sự 4 bên, vào làm việc tại trại David ở Sài Gòn. Giữa năm 1973, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông lại trở về vùng giải phóng, làm phó phòng rồi từ tháng 4 năm 1974 làm quyền trưởng phòng Tình báo chiến lược miền. Tháng 12 năm 1974, khi Phòng Tình báo chiến lược miền chuyển thành Đoàn tình báo 22 thuộc Bộ tham mưu miền, ông được bổ nhiệm quyền đoàn trưởng. Trên những cương vị ấy, ông đã lãnh đạo, chỉ huy lực lượng tình báo chiến lược miền hoàn thành tốt nhiệm vụ nắm địch, phục vụ chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và điều tra mục tiêu, chuẩn bị cho bộ đội tác chiến trong những năm tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, ông tiếp tục công tác trong ngành tình báo một thời gian rồi chuyển sang làm Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi về hưu.

Theo Báo Quân đội Nhân dân Điện tử.


Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Đình Thiệp, Chính ủy Quân khu Việt Bắc, Viện trưởng VKSQS
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Mười, 2011, 06:43:15 am
(http://img10.imageshack.us/img10/7163/ledinhthiep.jpg)

Thiếu tướng Lê Đình Thiệp (1.1.1914 – 20.3.1988) từng giữ các chức vụ : Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 349, Phó Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Trường chỉnh huấn cán bộ trung cao Quân đội, Phó Chính ủy kiêm Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu Việt Bắc, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Bí thư Đảng ủy Đảng bộ Tổng cục Chính trị, Bí thư Ban cán sự Việt Kiểm sát Quân sự Trung ương, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị Quân sự.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Huyện ủy Đông Anh (Hà Nội), Thường vụ Tỉnh ủy Phúc Yên, Phái viên kiểm tra Liên khu Việt Bắc, Thường vụ Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Lao động & Thương binh & Xã hội)

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 15.4.2011), Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1961 ?)


Ông sinh tại thôn Du La, xã Cẩm Chế, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương trong một gia đình nông dân nghèo. Tham gia Cách mạng tháng 3 năm 1937, được kết nạp vào Đảng tháng 10 năm 1939.

Từ 3.1937 đến 10.1939, tham gia Hội ái hữu thợ giặt, Tự vệ Đỏ của thành phố Hà Nội, và gia nhập Đoàn Thanh niên phản đế ; 11.1939 đến 12.1958, ông lần lượt là : Bí thư Chi bộ phố Hàng Mành, Ủy viên Ban Chấp hành Công hội Đỏ thành phố Hà Nội, phụ trách binh vận ở tổng Sơn Tây, công tác tại Ban Kinh tế và Ban Công tác Đội bảo vệ an toàn khu của Trung ương, Bí thư Huyện ủy Đông Anh, Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên, phái viên kiểm tra Liên khu Việt Bắc, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 349, Phó Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Trường Chỉnh huấn cán bộ trung cao Quân đội, Phó Chính ủy kiêm Phó Bí thư Quân khu ủy Việt Bắc.

Từ 1958 đến 8.1969, giữ các chức vụ : Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Tây Bắc, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Bí thư Đảng ủy Đảng bộ Tổng cục Chính trị, Bí thư Ban Cán sự Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị Quân sự.

Tháng 9.1969, chuyển ngành giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Nội vụ(nay là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) cho đến khi về hưu tháng 7 năm 1977.


Tiêu đề: Đại tá Hà Kế Tấn, Tư lệnh Liên khu 3, Đại đoàn trưởng đầu tiên ĐĐ 350
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Mười Một, 2011, 04:34:59 am
(http://img249.imageshack.us/img249/8328/haketan.jpg)

Đại tá Hà Kế Tấn (1914 – 1997) từng giữ các chức vụ : Thường vụ Quân khu ủy Khu Việt Bắc, Chính ủy Mặt trận Đường 4 kiêm Chính ủy Trung đoàn 28 Lạng Sơn, Tư lệnh Liên khu 3 kiêm Thường vụ Khu ủy, Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy (đầu tiên) Đại đoàn 350 (nay là Đoàn B50) bảo vệ Trung ương và Hà Nội, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Trưởng Ban Công vận Xứ ủy Bắc Kỳ, Trưởng Ban Chỉ huy Công trường Bắc Hưng Hải, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi kiêm Chủ nhiệm Ủy ban trị thủy và khai thác sông Hồng, Bộ trưởng đặc trách khởi công công trình Thủy điện sông Đà, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Bí thư Ban cán sự Tòa án Nhân dân tối cao kiêm Chánh án ; và là Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 3 (dự khuyết), 4.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1958).


Ông sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914 (có tài liệu ghi 1912) tại làng Mông Phụ, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội). Quê hương ông là một vùng địa linh nhân kiệt, với các tên tuổi như : Bố cái Đại vương Phùng Hưng, Tiên vương Ngô Quyền, Thám hoa Giang Văn Minh, Phó bảng Kiều Oánh Mậu, và Khâm sai Đại thần Phan Kế Toại (sau là Phó Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Bố ông vốn làm nghề thợ mộc, là một tay thợ có tiếng trong vùng, chuyên việc tu sửa đình, chùa, cầu, và đóng đồ gỗ dân dụng, từng được quan lại và nhân dân trong vùng phong làm « mục xứ ». Thuở nhỏ, mẹ ông mất sớm, ông thường theo bố đi khắp nơi hành nghề, ở các làng quê, có khi ra khỏi thị xã Sơn Tây, lên tận Phú Thọ để nhận làm công cho một xưởng đóng gỗ kiểu mới với tiền công rẻ mạt.

Năm 1936, ông về Hà Nội tìm việc làm cùng một số người bạn giữa lúc Đảng đang lãnh đạo phong trào đấu tranh dân chủ phát triển rộng khắp. Bên Pháp, Mặt trận bình dân lên cầm quyền. Thời gian này, ông bắt đầu giác ngộ Cách mạng, và tham gia cùng một số bạn bè vận động cho phong trào Đông Dương đại hội, rồi ra nhập Nghiệp đoàn để đi vận động công nhân trong các công xưởng, nhà máy; mua đọc báo Tin tức, Bạn dân, Ngày nay, và vận động các tầng lớp cá nhân quyên tiền bạc ủng hộ báo Đảng cùng nhà Cách mạng Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam); tổ chức huấn luyện cho các nhóm công nhân có tình cảm về giai cấp vô sản, sơ giải các phương pháp tổ chức đấu tranh và vận động nhân dân, bầu đồng chí Khuất Duy Tiến vào Nghị viện Thành phố Hà Nội và đồng chí Phan Thanh (quê ở Quảng Nam) vào Nghị viện Dân biểu Bắc Kỳ. Tháng 6 năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng, sau đó được tổ chức bầu cử vào ban lãnh đạo Nghiệp đoàn của các giới lao động ở Hà Nội và trực tiếp vận động phong trào gồm giới thợ xẻ và thợ mộc, được cử vào Ban lãnh đạo công nhân đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện đời sống, chống đánh đập, phân biệt đối xử, tạo quyền bình đẳng.

Cuối tháng 4 năm 1940, ông bị mật thám bắt và bị đày lên giam giữ tại Căng Bá Vân cùng giam với nhiều nhà Cách mạng khác như Trần Huy Liệu, Đào Gia Lựu, Vương Thừa Vũ, Bùi Lâm… Ở trong tù, ông không ngừng đấu tranh, tập hợp các đồng chí để cùng sinh hoạt và tổ chức đấu tranh đòi cai ngục trả đủ tiêu chuẩn, thả những người bị bắt oan sai, sinh hoạt khám chữa bệnh, nghỉ ngơi và tổ chức 8 ngày tuyệt thực khiến cho thực dân Pháp phải chùn tay. Tháng 8 năm 1944, theo chỉ thị của Trung ương và quyết định của tổ chức, ông được bố trí vượt ngục, ra ngoài hoạt động bí mật và được Trung ương Đảng cử làm trưởng ban công vận xứ uỷ Bắc Kỳ.

Đầu tháng 5 năm 1945, ông được phân công phụ trách hai tỉnh: Nam Định và Hà Nam. Sau đó, được Trung ương điều động làm Thường vụ Liên khu uỷ, phụ trách việc xây dựng các lực lượng quân sự toàn Lhu Việt Bắc, trực tiếp làm Chính uỷ mặt trận đường số 4, kiêm Chính uỷ Trung đoàn 28 Lạng Sơn, rồi được giao nhiệm vụ đi chuẩn bị mở chiến dịch đường số 18 (Hoàng Hoa Thám), và chiến dịch Quang Trung (Liên khu 3). Sau khi chiến dịch Quang Trung, Trung ương Đảng lại quyết định cử ông tham gia Thường vụ khu uỷ và trực tiếp làm Tư lệnh Liên khu 3. Tháng 5 năm 1954, Liên khu 3 đã có những trận đánh thắng lợi, để phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ tư lệnh Liên khu đã trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy lực lượng chiến đấu từng bước để giải phóng hoàn toàn các tỉnh thuộc Liên khu, ông chỉ huy bộ đội lần thứ 2 tiến vào giải phóng Thành phố Nam Định, sau đó lại trực tiếp truy kích quân Pháp lên tận đường số 6.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hoà bình được lập lại ở miền Bắc, ông được Trung ương Đảng giao cho nhiệm vụ tổ chức Đại đoàn 350 (nay là Đoàn B50) bảo vệ Trung ương và Hà Nội và trực tiếp làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ. Sau đó, trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, Miền Bắc phải khẩn trương khắc phục hậu quả chiến  tranh, xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và công cuộc cải tạo xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, ông được Trung ương quyết định cử làm Trưởng Ban Chỉ huy Công trường Bắc Hưng Hải (công trình trị thuỷ đầu tiên của miền Bắc) với nội dung và ý nghĩa kết quả lớn nhằm khai thác trị thuỷ sông Hồng tại địa phận 3 tỉnh: Bắc Ninh – Hải Dương- Hưng Yên.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9.1960), ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng, sau đó được Quốc hội cử vào trọng trách mới Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban trị thuỷ và khai thác sông Hồng và được cử làm Bộ trưởng đặc trách việc khởi công công trình thuỷ điện sông Đà. Ngày 1 tháng 4 năm 1980, ông được Trung ương có quyết định thôi giữ chức Bộ trưởng phủ Thủ tướng để làm Bí thư Ban cán sự Toà án nhân dân tối cao và trực tiếp đảm nhận chức Chánh án cho đến khi nghỉ hưu. Tại Đại hội Hội cựu chiến binh Thành phố Hà Nội ( năm 1993), ông được Đại hội suy tôn và bầu là chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành phố.


Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Bích, Khu Bộ phó Khu 9, Đại biểu Quốc hội Khóa I
Gửi bởi: panphilov trong 13 Tháng Mười Một, 2011, 07:03:32 am
(http://img80.imageshack.us/img80/7426/ongngocbichcopie.jpg)

Nguyễn Ngọc Bích (18.5.1911 – 4.12.1966) từng giữ chức vụ Khu bộ phó Khu 9. Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốc hội Khóa I - Ủy viên Thường vụ Quốc hội.

Kỹ sư, Bác sỹ Nguyễn Ngọc Bích sinh tại làng An Hội, tổng Bảo Hựu, huyện Bảo An, nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông là con thứ Tư trong số 8 người con của nhân sĩ Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951), người từng giữ đến chức vụ Đốc phủ sứ trong chính quyền Phong kiến Thực dân, Giáo tông của đạo Cao Đài, và được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) truy tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất do những công lao của ông hướng đạo Cao Đài đi theo Kháng chiến. Em ông, Kỹ sư Liệt sỹ Nguyễn Ngọc Nhựt (1918-1952) từng du học tại Pháp và là Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ.

Khi còn nhỏ, ông ở cùng với bố, sinh sống ở nhiều nơi như Cần Thơ, Hà Tiên, Cần Giuộc và chủ yếu học tại Cần Giuộc. Năm 1926, 15 tuổi, ông lên Sài Gòn (nay là tp. Hồ Chí Minh) học và tốt nghiệp tú tài với số điểm rất cao, được đi du học bên Pháp. Tại Pháp, ông lần lượt học và lấy bằng kỹ sư của các trường Bách khoa Paris, Cầu đường Paris. Đây là 2 trường đại học danh tiếng của nước Pháp, cũng như trên Thế giới từ trước đến nay.

Sau khi tốt nghiệp, ông về nước làm việc cho chính quyền bảo hộ, tại Sở Thủy lợi Sóc Trăng cho đến ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945). Sau Cách mạng tháng Tám rồi Nam Bộ Kháng chiến (23.9.1945), ông tham gia Kháng chiến ở khu căn cứ Sóc Trăng, phụ trách các đơn vị làm nhiệm vụ phá cầu, đường (như các cầu Cái Răng, Nhu Gia…) chặn bước tiến của quân Pháp của các Tướng Valluy, Nyo…, rồi được cử làm Khu Bộ phó Khu 9.

Tháng 7 năm 1946, trên đường lên Đà Lạt dự Hội nghị Sơ bộ Việt Pháp để chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau sẽ diễn ra ở Pháp, ông bị thực dân Pháp bắt. Bị tra tấn và mặc dù dấu tung tích, nhưng người Pháp vẫn nhận ra ông sau một thời gian. Tướng Boyer de Latour tức giận định đưa ông ra Tòa án Tối cao xử tử hình với tội danh phản bội đất nước do ông có quốc tịch Pháp. Tuy nhiên, do trong Hội nghị Sơ bộ có điều khoản trao đổi tù binh, đồng thời do tác động của bạn bè của ông ở bên Pháp, thực dân Pháp buộc phải trả lại ông vào danh sách tù binh và buộc phải quay trở lại Pháp vào năm 1948.

Trở lại Pháp, ông kết hôn với bà Henriette Bui, người được coi là nữ bác sỹ đầu tiên của Việt Nam.  Thời gian đầu mới qua lại, ông mở hiệu sách rồi theo học ngành Y. Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp Y khoa, nhận bằng bác sỹ, ông không hành nghề mà ở lại dạy Vật Lý tại Trường Y cho tới khi qua đời, sau này, gia đình ông đưa hài cốt về Việt Nam.


Tiêu đề: Đàm Minh Viễn, Tham mưu trưởng Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Mười Một, 2011, 06:30:37 am
(http://img443.imageshack.us/img443/1403/damminhvienm.jpg)

Liệt sỹ Đàm Minh Viễn (1919-1946) từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Tham mưu Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ. Ngoài ra, ông là người đã tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên, Đội Nhi đồng Cứu quốc đầu tiên, Bí thư Tỉnh đoàn Thanh niên Cứu quốc Cao Bằng đầu tiên, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn. Ông là một trong 40 học trò được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp rèn luyện, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào Cách mạng Việt Nam thời kỳ tiền Khởi nghĩa.

Ông tên thật là Đàm Văn Lân, ngoài ra còn có bí danh là Đức Thanh, Minh Viễn và Kỹ Sư, sinh tại làng Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng trong một gia đình dân tộc Tày giàu truyền thống yêu nước. Gia đình ông có 7 anh em, trong đó người anh cả là Đàm Văn Lý (bí danh là Quý Quân) sinh năm 1915, tham gia Cách mạng từ rất sớm, vào Đảng năm 1932, năm 1936 là Châu Ủy viên Hà Quảng, năm 1939 bị bắt và đầy lên Sơn La, năm 1940 lãnh đạo tổ chức vượt ngục nhưng bị bắt lại rồi bị sát hại ; người em út của ông là Đàm Ngọc Lưu tức Thượng tướng Đàm Quang Trung, sau này là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (tức Phó Chủ tịch nước bây giờ).

Nà Nghiềng là từ được đọc chệch từ từ Nà Nghèng  trong tiếng Tày, có nghĩa là ngang ngạnh, là vùng đích nổi tiếng « nghịch » từ xưa. Đến thời tiền Khởi nghĩa vẫn mang tiếng « nghèng » nhưng với ý nghĩa kiên cường, không chịu khuất phục trước cường quyền, bạo lực. Phong trào chống Pháp ở Nà Nghiềng nói riêng và Hà Quảng nói chung có từ rất sớm. Ngôi làng này đã sinh ra nhiều nhà Cách mạng, tướng lĩnh và lãnh đạo cấp cao sau này ví dụ như : Thiếu tướng Lê Quảng Ba tức Đàm Văn Mông, anh em Đàm Minh Viễn, Đàm Quang Trung…; rồi Liệt sỹ Đàm Văn Nhủng tức Xuân Trường, 1 trong 34 người có mặt trong ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, được ghi nhận là Liệt sỹ đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam kể từ ngày 22.12.1944 trở về sau.

Là người được học hành từ nhỏ, ông theo anh trai là Đàm Văn Lý tham gia hoạt động Cách mạng từ rất sớm, năm 1930 khi ông mới 11 tuổi. Đó là tháng 6 năm 1930 khi chi bộ Đảng đầu tiên của Cao Bằng ra đời, rồi năm 1935 Châu ủy Hà Quảng được thành lập, mà anh trai ông giữ vai trò nòng cốt, ông là một trong những người đi đầu trong phong trào, tự nguyện đến những vùng sâu, vùng xa và khó khăn để tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia, ủng hộ Cách mạng.

Cuối năm 1936, đầu năm 1937, trong Phong trào « Đông Dương đại hội » ông nhiệt tình tham gia kêu gọi đồng bào các dân tộc trong vùng góp tiền, gạo, làm đơn để đoàn đại biểu của châu do anh trai ông dẫn đầu về Hà Nội gặp thống sứ đòi giảm thuế thân. Do thực dân Pháp đàn áp, khủng bố ác liệt, ông cùng một số cán bộ cốt cán sang Trung Quốc hoạt động, được dự lớp huấn luyện cán bộ ở Tĩnh Tây do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… giảng dạy.

Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, sống và làm việc tại hang Pác Bó, ông được trực tiếp sống và làm việc cùng lãnh tụ, được giao nhiệm vụ soạn thảo Điều lệ Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Sau đó, ông lại trực tiếp đem bản điều lệ này đi phổ biến, tuyên truyền, và giác ngộ một nhóm thanh niên đầu tiên tại Nà Mạ, xã Trường Hà (Hà Quảng) gồm các ông : Bát Ngư, Phục Quốc, Phục Hưng…

Sau đó, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ngày 20.4.1941, Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên ra đời do ông làm Bí thư, đồng có nhiệm vụ thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc trong cả nước. Cùng với nhiệm vụ thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc, ông còn có nhiệm vụ tuyên truyền, giác ngộ Cách mạng cho thiếu niên, nhi đồng, và ngày 15.5.1941, ông đã tổ chức Đội Nhi đồng Cứu quốc đầu tiên do Nông Văn Dền (tức Kim Đồng) làm đội trưởng. Thời gian này, để dễ bề hoạt động, ông sang Trung Quốc học nghề xiếc và nhận bán thuốc cho hiệu thuốc Hồng Khê chữa các bệnh thông thường. Vừa biểu diễn xiếc, vừa rao bán thuốc, ông đã thu hút rất đông thanh thiếu niên từ các thôn bản đến xem, từ đó có điều kiện nắm tình hình, tìm ra những thanh niên tốt để kết bạn, giác ngộ Cách mạng hoặc tranh thủ sự ủng hộ của họ.

Tháng 6 năm 1941, Đảng bộ Hà Quảng tổ chức Đại hội lần thứ I, Đàm Minh Viễn và các ông Lê Quảng Ba, Hoàng Tô, Hoàng Sâm (sau là Thiếu tướng), Thụy Hùng được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện. Cuối năm 1941, thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tỉnh ủy Cao Bằng thành lập Đội Du kích tập trung do ông Lê Quảng Ba làm Đội trưởng, ông là một trong 12 đội viên đầu tiên. Tháng 8 năm 1942, Đại hội đại biểu Việt Minh châu Hà Quảng đã tín nhiệm bầu ông và các ông Hoàng Tô, Nông Thị Trưng, Dương Đại Lâm (sau là Đại tá), Tư Bào vào Ban Việt Minh châu Hà Quảng, riêng ông được phân công phụ trách Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Nhi đồng Cứu quốc.

Tháng 11 năm 1942, tại Đại hội đại biểu Việt Minh toàn tỉnh lần thứ I đã bầu Ban Việt Minh tỉnh và bầu Ban Chấp hành các hội Cứu quốc, ông lại được bầu vào Ban Việt Minh, giữ chức Bí thư Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh. Trước yêu cầu phát triển ngày càng mạnh của phong trào Đoàn Thanh niên Cứu quốc cả tỉnh, Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn tỉnh (ngày 22 tháng 12 năm 1942) đã bầu Đàm Minh Viễn làm Bí thư Tỉnh đoàn (đầu tiên) thanh niên Cứu quốc tỉnh.

Giữa năm 1943, thực hiện chủ trương của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, của liên Tỉnh ủy Cao Bắc Lạng và của Nghị quyết Đại hội đại biểu Việt Minh toàn tỉnh lần thứ Nhất, Huyện ủy Hà Quảng thành lập Các đội Nam tiến, Đông tiến, Tây tiến phối hợp với 19 đội khác trong tỉnh xuất phát từ Cao Bằng tiến về Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang nhằm nối liền căn cứ địa Cao Bằng với các tỉnh trung du và miền xuôi. Đàm Minh Viễn được giao nhiệm vụ tham gia lãnh đạo Đội Đông tiến về Lạng Sơn,  sau đó tiếp tục hoạt động, củng cố, xây dựng và phát triển phong trào cách mạng, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền ở đây.

Là một người có năng lực và xông xáo nên công việc Nam tiến ở Lạng Sơn phát triển rất nhanh. Chỉ trong thời gian ngắn, các tổ chức Việt Minh ở Xuân Sơn được củng cố và phát triển đến các vùng thuộc châu Thạch An, như Bốc Thượng, Nà Ngòa, Nà Đoỏng, Nà Kể, Nà Mu, Nà Cọn, Nặm Tàn, giáp với Cao Môn, Bắc Khê thuộc tỉnh Lạng Sơn. Ở các nơi này đã mở được khoảng mười lớp huấn luyện, cũng như ở Đào Ngạn và Nhượng Bạn, mỗi lớp khoảng mười hai đến hai mươi người, thời gian trên dưới mười ngày.

Giữa năm 1945, Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh chuyển về Tân Trào, Tuyên Quang, chuẩn bị Đại hội Quốc dân Đồng bào, tiến tới lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền. Đàm Minh Viễn được tin tưởng điều từ Lạng Sơn về cùng đội vũ trang do mình lãnh đạo bảo vệ cơ quan Trung ương rồi Đại hội.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh trở lại xâm lược Nam Bộ, Đàm Minh Viễn lại được giao trọng trách chỉ huy một đội quân Nam tiến chi viện cho đồng bào Nam Bộ, rồi dẫn đầu Phái đoàn Bộ Tổng tư lệnh thị sát, lãnh đạo, động viên cán bộ chiến sĩ tại các chiến trường Tây Nguyên, Nam Trung Bộ rồi Nam Bộ… Ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị mở rộng tại một xã bên sông Vàm Cỏ Đông. Hội nghị bàn về thực hiện chỉ thị của Trung ương, bố trí cán bộ theo quyết định của Trung ương. Hội nghị quyết định giải thể Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, thành lập Ủy ban kháng chiến miền Nam do ông Cao Hồng Lãnh (Hồng Lĩnh) làm Chủ tịch, ông Trần Ngọc Danh làm Chủ nhiệm Chính trị, cụ Tôn Đức Thắng (sau này là Chủ tịch nước) làm Chủ nhiệm Hậu cần, còn ông là Chủ nhiệm Tham mưu và là người trẻ nhất. Sau hội nghị, ông làm việc tại Ủy ban Kháng chiến miền Nam, được giao trực tiếp chỉ huy một đơn vị bộ đội cấp trung đoàn, cho đến khi hy sinh vào năm 1946.

Tham khảo : Báo CAND, Báo Cao Bằng…


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Nam Hồng, Tư lệnh Binh chủng Pháo binh
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Mười Một, 2011, 04:46:17 am
Thiếu tướng Nguyễn Nam Hồng (bí danh Sơn Nam, 2.10.1930) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Pháo binh Quân đoàn 29, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh, Tư lệnh kiêm phó Bí thư Đảng ủy Binh chủng Pháo binh.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng,…, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1981), Thiếu tướng (1989).


Ông sinh tại xã Nghĩa Long, nay thuộc phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang trong một gia đình nho học, khá giả, được học hành cẩn thận. Ông nhập ngũ tháng 7 năm 1945, khi mới 15 tuổi, được kết nạp Đảng ngày 25 tháng 7 năm 1955.

7.1945, chiến sĩ Giải phóng quân Nghĩa Lộ, Yên Bái ; 11.1945, tiểu đội trưởng Trung đoàn Phú Yên, tỉnh Yên Bái ; 1.1947, trung đội trưởng trinh sát Tiểu đoàn 478, Trung đoàn Bắc Bắc ; 1.1949, trợ lý rồi quản trị trưởng Đại đội Vận tải, Liên khu Việt Bắc ; 1.1951, học viên Khóa 6 Trường Sĩ quan Lục quân ; 1.1952, trung đội trưởng trực thuộc Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 44, Liên khu 4.

2.1955, phái viên huấn luyện tác chiến, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 20; 3.1956, lần lượt giữ các chức vụ : trợ lý trinh sát, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 78, Sư đoàn 325. Trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội (1958), ông được phong quân hàm Trung úy.

5.1964, trợ lý Phòng Pháo binh Quân khu 4, trợ lý Phòng Pháo binh Trị Thiên, phó Phòng Pháo binh Sư đoàn 324 ; 5.1973, học viên lớp tham mưu tại Học viện Quân sự ; 2.1974, phó Phòng Tác chiến Binh chủng Pháo binh rồi được cử đi học tại Liên Xô.

5.1975, trưởng Phòng Tác chiến, Tham mưu phó Binh chủng Pháo binh kiêm Chủ nhiệm Pháo binh Quân đoàn 29 ; 6.1980, theo học tại Học viên Quân sự cấp cao, Bộ Quốc phòng ; 7.1981, lần lượt giữ các chức vụ : trưởng Phòng Tác chiến, Tham mưu phó, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh ; 7.1988, Tư lệnh kiêm phó Bí thư Đảng ủy Binh chủng Pháo binh cho đến khi về hưu (4.1997).


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Tức, Trưởng Khoa Trinh sát Học viện Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 01 Tháng Mười Hai, 2011, 05:12:46 am
(http://img836.imageshack.us/img836/2750/thieutuongnguyentuccopi.jpg)

Thiếu tướng Nguyễn Tức (1932) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Trinh sát Mặt trận B3 (Tây Nguyên), Chủ nhiệm Trinh sát Quân đoàn 3, Trưởng Khoa Trinh sát – Quân sự nước ngoài, Học viện Quân sự cấp cao rồi Học viện Quốc phòng.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng,…, Huân chương Ít-xa-la do Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng.

Đại tá (1983), Thiếu tướng (1994).


Ông sinh tại làng Phú Mại, xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Làng Phú Mại quê ông nằm trên dải đất ven đê sông Cầu, cách dòng Lục Đầu Giang và đến Kiếp Bạc không xa, bên kia sông là làng gốm Phù Lãng, Bắc Ninh, nổi tiếng.

Năm 1947, ông gia nhập đội du kích bảo vệ làng, xã, và được kết nạp vào Đảng năm 1949 khi mới 17 tuổi. Năm 1952, ông nhập ngũ, rồi được biên chế vào tiểu đoàn pháo lựu pháo 105 ly sang thành phố Liễu Châu, Trung Quốc, tập huấn. Đầu năm 1954, ông cùng tiểu đoàn về nước tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân và tốt nghiệp vào tháng 8 năm 1958. Đầu năm 1962, sau khi kết thúc khóa huấn luyện quân báo, ông lên đường vào Nam chiến đấu, gắn bó hơn 10 năm với Chiến trường B3 (Tây Nguyên) trên cương vị chỉ huy trinh sát của Chiến trường, tham gia đầy đủ các trận đánh lớn ở đây. Ông tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, rồi trong đội hình Quân đoàn 3 tiến vào giải phóng Sài Gòn – Gia Định (thành phố Hồ Chí Minh ngày nay), tham gia bảo vệ Biên giới Tây Nam rồi phía Bắc.

Cuối năm 1982, sau khi kết thúc khóa học về lý luận, nghệ thuật quân sự, công tác tham mưu chỉ huy, ông được giữ lại làm giảng viên tại Học viện Quân sự cấp cao (từ năm 1994 là Học viện Quốc phòng). Năm 1984, ông được bổ nhiệm làm Trưởng Bộ môn Trinh sát thuộc Khoa Trinh sát – Quân sự nước ngoài. Năm 1987, ông được bổ nhiệm làm Phó khoa Trinh sát – Quân sự nước ngoài, rồi Trưởng khoa năm 1993 cho đến khi về hưu năm 2000 khi ở tuổi 67.

Trong thời gian công tác tại Học viện Quân sự cấp cao và sau này là Học viện Quốc phòng, Thiếu tướng Nguyễn Tức tham gia viết và chủ biên nhiều tài liệu về quân báo, trinh sát, nắm địch cho các học viên cũng như các trường trong Quân đội, và tài liệu chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ. Nhiều lần ông đi giảng dạy trực tiếp tại các quân binh chủng, quân khu, quân đoàn, và được mời đi giảng dạy tại nước ngoài. Ông là người có sáng kiến đề nghị cấp trên tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn tại Học viện cho cán bộ cao cấp trong toàn quân nhằm nâng cao sự hiểu biết về tư tưởng chiến lược quân sự Việt Nam, nguyên tắc tổ chức chiến dịch, chiến đấu tấn công, phòng ngự cấp sư đoàn, quân đoàn và quân khu trong công tác quân báo trinh sát. Từ đó, vị thế của Khoa Trinh sát không những chỉ nâng tầm trong Học viện mà còn đối với Tổng Cục II (tức Tổng Cục Tình báo Quốc phòng).

Theo Báo Bắc Giang.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: Mig21Bis_1 trong 01 Tháng Mười Hai, 2011, 11:00:36 pm
Anh Ba Kiên – Vị tướng của lính, của dân


Là người đã có ít năm ở chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi hiểu một ngày, một đêm ở chiến trường là thế nào. Một ngày một đêm ở chiến trường là bom rơi, đạn nổ, là đói khát, là máu chảy, là đau đớn và chết chóc, là nỗi sợ hãi và lòng kiêu hãnh… và tôi thật sự khâm phục những người đã có gần nửa đời người tham gia trận mạc ở chiến trường. Anh Ba Kiên là một trong những con người đó.

Anh Ba Kiên - tên gọi thân thiện của Anh hùng LLVTND - Thượng tướng Phan Trung Kiên, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quả thật, nếu không có hai sự tình cờ, thì tôi - mặc dù khi đó tôi là Đại tá, Tổng Biên tập Báo CAND và ANTG - hai tờ báo có thương hiệu của làng báo chí Việt Nam - vẫn chỉ đứng xa để chiêm ngưỡng anh Ba Kiên.

Lần tình cờ thứ nhất là tôi nhận được một cú điện thoại của anh Ba Kiên. Anh gọi từ Bình Dương. Anh bảo, anh đang ở xóm mồ côi tại ấp 4, xã Trừ Văn Thố, huyện Bến Cát. Xóm mồ côi này có 14 gia đình với 50 nhân khẩu, là những người nghèo khó lang bạt tứ xứ các nơi về tá túc tại đây đã 16 năm vẫn chưa được cấp hộ khẩu, cấp chứng minh và điều đau lòng nhất là các cháu nhỏ không được học hành. Anh buồn và chợt nhớ đến tôi - một người mà anh nghe đâu đó nói rằng, tờ báo mà tôi làm Tổng Biên tập không bao giờ bỏ rơi những mảnh đời bất hạnh, vì thế mà anh tìm điện thoại gọi cho tôi.

Lẽ đương nhiên khi một vị tướng như anh Ba Kiên ra tay cùng với Báo CAND và ANTG của chúng tôi thì "xóm mồ côi" đã không còn "mồ côi" nữa. Hộ khẩu của 14 gia đình nghèo khó đã được cấp và các cháu nhỏ của xóm mồ côi đã được học hành, và anh Ba Kiên đã trở thành ông nội của gần 30 cháu của "xóm ông Ba Kiên" - tên gọi mới của "xóm mồ côi".

Và lần tình cờ thứ hai. Một lần, khi đến nhà người bạn thân của tôi - Giáo sư, Tiến sĩ, thi sĩ Hoàng Quang Thuận - trong tủ sách ngồn ngộn những sách, tôi chợt nhìn thấy gáy bìa một cuốn sách có tên "Lẽ sống" và hình anh Ba Kiên đeo quân hàm Thượng tướng với khuôn mặt đôn hậu, ánh mắt vui và đôi bàn tay ấm áp ôm chặt một người mẹ có mái đầu bạc trắng như cước. Tôi không biết bức ảnh đó được chụp trong hoàn cảnh nào. Nhưng tôi thầm phục nghệ sĩ nhiếp ảnh nào đó đã chụp ra con người anh Ba Kiên. Vì thế, tôi hỏi mượn bạn tôi cuốn sách "Lẽ sống" viết về anh Ba Kiên.

Cả đêm đọc sách viết về anh Ba Kiên, tôi thổn thức và có những trang nước mắt cứ chực trào theo con chữ. Mồ côi từ khi tròn 10 tuổi và đi theo cách mạng chỉ vì lòng căm thù giặc. Giặc ác quá. Giặc bắn giết người thân, làng xóm của anh. Và thế là anh phải đánh giặc. Vậy thôi. Với 20 năm đánh giặc ở vùng đất thép Củ Chi, với một tập sách và một tập ảnh, thật khó liệt kê được hết cuộc sống và chiến đấu của anh Ba Kiên cùng đồng đội và nhân dân của anh.

Nhưng một ví dụ mà tôi, một người lính, sẽ mãi mãi không bao giờ quên. Đó là hình ảnh anh Ba Kiên - một Đại đội trưởng với 60 người lính giải phóng đã mưu lược thuyết phục được chiến đoàn 46 với 1.860 sĩ quan và binh sĩ của quân đội ngụy - Sài Gòn đầu hàng, tránh được cuộc chiến đẫm máu trong trận đánh cuối cùng ở cửa ngõ Sài Gòn trước giờ lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kiêu hãnh tung bay trên nóc Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975.

Để làm được việc này, không chỉ đòi hỏi ở Ba Kiên lòng dũng cảm, ở ý chí quyết chiến, quyết thắng của người lính cách mạng mà cái chính ở anh Ba Kiên là lòng vị tha, nhân văn, ở lòng tin và tình thương yêu con người. Chắc hẳn, khi quyết định một vấn đề trọng đại liên quan tới sự sống và cái chết của hàng nghìn sinh mạng cả phía địch và phía ta, anh Ba Kiên là người hiểu hơn ai hết nỗi mất mát của những người thân khi có cha, chồng, anh hoặc em chết ở nơi sa trường…

Vì thế, với tôi, anh Ba Kiên luôn là một vị tướng của lính và của dân.

Nguồn: http://antg.cand.com.vn/vi-vn/tulieu/2011/1/74441.cand


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: Mig21Bis_1 trong 02 Tháng Mười Hai, 2011, 12:31:20 am
Vị Tư lệnh và con đường dài nhất thế giới


Dài nhất thế giới? Thú thực có lẽ không ít người từng ngan ngán lẫn sợ cùng dị ứng với những cái to nhất, lớn nhất, dài nhất, những ghinet Việt này khác mà người ta đã tri hô lên một cách vội vã...


(http://antg.cand.com.vn/Uploaded_ANTG/hientk1/8_thieu1042.jpg)
Thiếu tướng Hoàng Kiền.

Nhưng với trường hợp này thì đành “bó tay chấm com” bởi đành phải gọi sự vật bằng cái tên của nó! Quả là dài nhất thế giới bởi con đường bê tông với chiều rộng 3,5m, nền đường 5,5m vắt qua 25 tỉnh, thành từ Quảng Ninh đến Kiên Giang với chiều dài 10.000km! Con đường ấy theo tiến độ, đến năm 2015 sẽ hoàn thành.

Đương cai quản con đường bê tông dài nhất thế giới ấy là một vị tướng. Thiếu tướng Hoàng Kiền. Tướng Hoàng Kiền, ông là ai?

Người quen, đường lạ?

Đó là con đường tuần tra biên giới (ĐTTBG) đất liền viền quanh dải đất thiêng hình S của Tổ quốc từ Móng Cái đến Hà Tiên. Con đường đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, một tuyến đường lịch sử đang dần được hình thành. 5 năm qua, hơn 1.500km đường như thế đã được hoàn thành.

Kế hoạch từ năm 2011 đến 2015, con đường lại tiếp tục vươn tiếp. Đang phải dằng dặc 8.500km nữa. Những khúc đường kết tinh bao gian nan gắng gỏi của những người lính!

Những người lính? Tại sao không? Chủ trương lớn mang tầm chiến lược của đất nước, bảo vệ giữ gìn cương vực chủ quyền quốc gia, công việc khó khăn gian nan ấy, ngày 14/3/2007 đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định trao cho Bộ Quốc phòng đảm nhiệm. Tôi cứ lẩn thẩn rằng, Bộ Giao thông Vận tải,  Bộ Xây dựng và  không ít bộ ngành khác thiếu chi những đơn vị làm đường thiện chiến nhưng Chính phủ đã chọn Bộ Quốc phòng hẳn là có lý do?  Bộ trưởng Phùng Quang Thanh, có lẽ làm cái việc chọn mặt gửi... đường đã trực tiếp giao cho Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam mà cụ thể là  tướng Hoàng  Kiền làm chủ đầu tư Ban quản lý Dự án Đường tuần tra biên giới gọi tắt là Ban Quản lý dự án (QLDA) 47.

Những người lính làm đường! Có lẽ thiên hạ đã quá quen với việc ấy... Nhưng ĐTTBG do Thiếu tướng Hoàng Kiền (một nhân vật hơi bị lạ, có vẻ như đang còn chìm khuất trong mặt bằng tướng lĩnh, chuyện đó xin được nói sau) đảm trách thì lại gây nhiều điều bất ngờ?

Bởi  đường chi mà lạ? Địa hình phức tạp, khó khăn thì phải tránh ra chứ? Nhưng những người lính làm đường lại cứ nhắm tuyến vào những địa hình gian nan bất lợi nhất về mặt kinh tế lẫn kỹ thuật thì cũng hơi bị lạ? Nhưng đấy cũng là điểm khác biệt lớn nhất là đặc thù và cũng là khó khăn nhất của việc thi công ĐTTBG. Yêu cầu số 1 khi xây dựng là phải bám sát biên giới quốc gia, trung bình cách đường biên 100m. Trường hợp đặc đặc biệt được cách tối đa 1.000m, nhiều đoạn chạy chính trên đường biên giới. ĐTTBG thường phải bám theo đỉnh núi, hoặc xuống khe suối rất sâu. Nếu ở chỗ khác thì người ta có thể tránh những đèo cao vực sâu, làm đường ở chân núi. Nhưng ĐTTBG thì không thể tránh được, đơn giản tránh thì sẽ cách xa đường biên và không còn đáp ứng được tiêu chí đặc thù của đường biên giới.

Theo quy hoạch, chúng ta phải làm mới khoảng 10.000 km. Cứ tưởng tượng, nếu chúng ta đi đường ôtô từ Hà Nội vào TP HCM là khoảng 1.600km, nhưng độ dài của ĐTTBG gấp 7 lần và tất nhiên, khi thi công sẽ khó khăn hơn nhiều so với việc làm tuyến đường số 1. Làm xong thì nó sẽ là con đường bê tông xi măng dài nhất Việt Nam và có lẽ cũng là một trong những con đường bê tông xi măng dài nhất  thế giới!

Đó là thông tin ghi nhận qua một lần ngồi vội nhân  buổi chia vui với Ban QLDA 47 đã hoàn thành bước đầu 1.500km ĐTTBG. Không thể không biên ra đây những thông tin mang tầm cấp chiến lược.

 ĐTTBG được xây dựng đã tạo điều kiện thuận lợi cho Bộ đội Biên phòng tuần tra, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới, chống vượt biên, chống xâm nhập trái phép, chống buôn lậu vận chuyển ma túy qua đường biên giới. Tạo điều kiện thuận lợi cho Bộ đội Biên phòng di chuyển, thành lập mới các đồn, trạm biên phòng, góp phần củng cố các khu vực ở tuyến phòng thủ biên giới. Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phân giới cắm mốc biên giới, ổn định tình hình an ninh ở nhiều khu vực nhạy cảm.

Ấn tượng không chỉ có vậy... Một lần (cũng là gặp vội) với tướng Hoàng Kiền, chúng tôi đã nghe ông bật mí rằng, với hơn 1.500km ĐTTBG đã hoàn thành, theo đơn giá năm 2009, đơn giá bình quân là 7 tỉ đồng Việt Nam/1km so với định mức 8,18 tỉ VND/1km so với suất đầu tư của Bộ Xây dựng!

Nghe mà hơi gai gai?! Bởi những người anh em làm đường của ngành xây dựng khéo mà... tự ái khi nghe công bố đơn giá ấy? Lại nữa, từng nghe thiên hạ đang rầm lên những là thất thoát này khác trong xây dựng cơ bản, nhất là trong lĩnh vực làm đường, Ban QLDA 47 của Bộ tổng Tham mưu có phép mầu, bí quyết gì chăng?

Góp phần giải đáp những băn khoăn hoặc lẫn tò mò ấy, rất nhanh, những người lính ở Bộ Tổng tham mưu đã giúp chúng tôi có một chuyến cơ động mới đây. Chúng tôi đã không chọn Dự án ĐTTBG khu vực Tây Bắc giai đoạn 2006-2010  đã thông tuyến (226/228km đã xong nền đường) và đang đẩy nhanh tiến độ đổ bêtông mặt đường. Chúng tôi ngược về miền Tây Thanh Hóa, nơi đó đơn vị 319 đang mở những mét đường đầu tiên của tuyến ĐTTBG Việt - Lào.

Mùa xuân biên giới thơ mộng ở đâu nhưng tại nơi đóng quân cùng địa bàn thi công của những người lính mở ĐTTBG là mây mù giăng đặc. Không khí ẩm có cảm giác vo được từng vốc nước. Mọi thứ ẩm xì, nhão nhoét. Và vắt lăm le chực búng vào cổ cùng chỗ kín...

Gặp chủ đầu tư công trình. Đã đành. Ngồi chuyện với các kỹ sư, những người lính thợ và công nhân, tất nhiên dễ thôi. Nhưng phải gặp cả bên cung cấp vật liệu thi công và bên tư vấn giám sát để họ cởi mở, bộc bạch ra điều này nhẽ khác thì chả dễ chút nào! Đành phải có cách này cách khác...

Ghi nhận đầu tiên. Những đơn vị tham gia thi công ĐTTBG là những lực lượng thi công chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp từ khâu thiết kế, cấp phối bê tông, kiểm tra vật liệu đầu vào, giám sát thi công, kiểm tra bê tông sau thi công, đảm bảo chất lượng nền đường mặt đường bê tông xi măng v.v... Phải chăng đây là bí quyết (bí quyết là cách gọi cho sang thôi! Bởi cứ răm rắp, cứ nghiệt ngã theo quy trình, quy định thi công cộng với thứ quân lệnh như sơn mà không ít đơn vị mần đường hoặc vô tình hoặc cố ý sao nhãng để kiếm chác?) để làm nên kỳ tích (mà có thể gọi là huyền thoại?) để Ban QLDA 47 đạt được đơn giá 7 tỉ/km  ĐTTBG? Chợt nghĩ đến câu thành ngữ một thời nước sông công lính nhất là lính làm đường.

Một lần phóng viên ảnh Xuân Gụ của Báo Quân đội nhân dân sau chuyến đi với những đơn vị thi công ĐTTBG về thảy cho bộ phận Thư ký tòa soạn một xấp ảnh. Bên Thư ký tòa soạn cứ nằng nặc phải tìm bằng được một tấm ảnh có cảnh những người lính giăng hàng đang làm đường cho có khí thế (!?) Xuân Gụ cáu, các bố xưa rồi, bây giờ quân đội làm đường không phải như trước nữa!

Không phải như trước, tất nhiên không phải 100% cơ giới là máy móc, nhưng hầu như tất cả những đơn vị thi công đều mua sắm hoặc thuê những thiết bị thi công đường hiện đại tiên tiến. Tất nhiên tiến độ chất lượng nhanh hơn, tốt hơn. Và tất nhiên khâu đưa các loại thiết bị phương tiện thi công lên những địa hình phức tạp, công sức người lính cũng gian nan hơn nhiều lắm!

Xuống bể lên rừng vì chủ quyền an ninh quốc gia

Không biết có kilômét ĐTTBG nào tướng Hoàng Kiền gặp lại những khúc cua cheo leo thuở là anh lính Trường Sơn mở đường vào các chiến trường? Bây giờ trên chiếc Uoát lắc lư oặt người qua những khúc ngoặt chóng mặt của tuyến ĐTTBG mới mở, tôi mơ màng nghĩ tới thời điểm năm 2015, 10 ngàn cây số ĐTTBG sẽ vo vo bánh xe du lịch của các con dân nước Việt lần lượt thẩm định lại cảm giác chủ quyền cương vực lãnh thổ quốc gia qua 25 tỉnh, thành!

Động thái nhồi lắc ấy chợt cho cảm giác những lần ra Bạch Long Vĩ và Trường Sa.

Rân rân cảm giác phục lẫn ngại. Bởi leo Trường Sơn hay ra Bạch Long Vĩ, Trường Sa thì cũng chỉ dẫm lại, dẫm lên theo những vệt chân của người lính Hoàng Kiền.

 Yên hàn. Người lính công binh mở đường Trường Sơn Hoàng Kiền không trở về quê hương Giao Thủy. Học viện Kỹ thuật quân sự đã cung cấp cho Quân chủng Hải quân một sĩ quan công binh có hạng. Từng nằm nghe sóng ở Bạch Long Vĩ và không dám thuật ra đây những công trình quân sự lẫn dân sự được gọi mật danh là công trình xa trên hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc. Những công trình ấy không ghi trên biển đồng bia đá tên người chỉ huy lẫn phiên hiệu những đơn vị thi công. Nhưng chắc chắn trong những hồ sơ lưu trữ có những dòng đại loại, sĩ quan cấp tá Hoàng Kiền từng ròng rã 3 năm làm nhiệm vụ tại hòn đảo này...

Sâu đậm trong tâm trí vị tướng từng là Tư lệnh Quân chủng Công binh là những năm xa khi còn đang phụ trách Đoàn 83 Hải quân. Hơn một tháng trời ròng rã được tháp tùng chuyến công tác đặc biệt của Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân vào những năm tháng cam go nhạy cảm của chủ quyền cương vực quốc gia về lãnh hải... Tầm nhìn nhạy cảm chiến lược nhưng thiết thực hiệu quả của vị đô đốc ấy đã tìm thấy hiệu ứng tức thì ở viên sĩ quan phụ tá! Làm được không cậu? Báo cáo thủ trưởng, khó nhưng phải cố...

Việc phải làm phải cố ấy là xây dựng gấp những công trình phòng thủ và sinh hoạt trên những hòn đảo nổi, đảo chìm ở quần đảo Trường Sa. Đưa những loại vật liệu thông dụng như sắt thép, xi măng, bê tông trên lộ hải dằng dặc mấy trăm hải lý bây giờ còn đương là gian nan nữa là những năm cuối 80 của thế kỷ trước! Đơn giản cái máy cắt sắt khi ấy không kiếm đâu ra, chả lẽ giữa muôn trùng sóng gió như thế giăng trần sức lính ra để chặt để đục và làm mồi cho nước mặn? Hoàng Kiền phải xoay xỏa nhờ ông bạn làm ở tàu viễn dương sang Nhật mua mấy chục cái cả máy đầm lẫn máy trộn bê tông.

Đo đạc tính toán kỹ càng, những thiết bị chuyên dụng ấy từ trong đất liền đã làm vơi biết bao khó nhọc của người lính công binh hải quân và làm bền chắc thêm, chất lượng thêm những công trình phòng thủ tại nơi tiền tiêu của Tổ quốc. Từng được ngắm ngó rờ rẫm bởi tò mò và thán phục những khối bê tông cốt thép chắc khừ lẫn khéo léo che chở  vũ khí, khí tài và nơi ăn ngủ, nơi chứa nước ngọt của những người lính đảo tại đảo chìm X., đảo chìm B., đảo H.,  đảo M. v.v... bây giờ ngồi hầu chuyện vị tư lệnh đang lo xây hơn 10 ngàn cây số đường chủ quyền cương vực cứ rân rân nhiều thêm cảm giác tự hào thán phục.

Ròng rã 10 năm, từ năm 1989 đến 1998, Đoàn trưởng Công binh 83 Hải quân Hoàng Kiền, tính sao hết những lần ra Trường Sa, cùng lính phơi mặt với sóng gió với biển mặn trên  hàng chục đảo lớn nhỏ chủ quyền. Tổ quốc ơi, tiếng chúng tôi kêu lên mà mắt chúng tôi nhìn xuống. Câu thơ Trần Đăng Khoa có vẻ đúng hơn cả với những người lính công binh Hải quân từng xây dựng công trình trên những đảo chìm Trường Sa. Phải nhìn xuống để mà lo việc, làm việc cho kỹ, cho chất lượng! Ròng rã 10  năm, những người lính có thể thay, nhưng khung cán bộ thì phải giữ phải trụ lại với công trình trên đảo đá.

Có hai thứ ở Trường Sa mà giờ nghĩ lại vẫn sợ lẫn ngạc nhiên nên phải hỏi thêm tướng Hoàng Kiền. Ấy là công trình trên một số đảo chìm. Đầu tiên là khung gỗ là nơi tập kết vật liệu. Kể ra thì vô số sáng kiến của lính ta để giữa ngầu ngầu bọt sóng ấy (thơ Trần Đăng Khoa) dần dà sinh thành giọt máu thiêng - mọc lên một công trình chắc khừ như một thứ cột mốc chủ quyền khổng lồ! Thứ nữa là con kênh để cho tàu vào trên đảo Đ.

Bạn thử tưởng tượng dưới mức nước chỉ hơn 1m lại có một vùng đá nhiều ha. Tạo một con kênh để tàu vào ra, nói thì dễ nhưng gian nan thay. Phương tiện thi công có thể bây chừ có nhưng thử lùi lại những năm cuối 80 ấy? Vậy mà chỉ bằng thuốc nổ và cung cách làm việc sáng tạo khoa học, đơn vị của Hoàng Kiền  suốt 4 tháng trời đã bền bỉ khéo léo đào ngầm tạo ra một con kênh rộng 50m, sâu 5m, dài 750m. Con kênh ấy không những bây giờ vẫn hữu dụng mà vẫn tiếp tục giá trị trong  rất nhiều năm nữa... Đô đốc Giáp Văn Cương khi trực tiếp chứng kiến công trình hoàn thành, nhìn tàu ta vào ra đảo đã ôm lấy Hoàng Kiền và những người lính công binh của mình mà khóc!

Lặng lẽ những lên rừng rồi lặng lẽ mười mấy năm xuống bể và bây giờ lại... lên rừng. Tướng Hoàng Kiền là thế! Có lẽ khó mà tính đếm những gian nan của người vợ là cô giáo cấp 2 Giao Thủy -  Nam Định từng biền biệt xa chồng. Cũng như khó tính đếm những gian nan, những chiến công  mà người chiến binh Hoàng Kiền vun đắp cho cương vực chủ quyền quốc gia trong những ngày xanh hòa bình nhưng lặng lẽ còn ít người biết đến ấy...

Nguồn: http://antg.cand.com.vn/vi-vn/tulieu/2011/3/74765.cand


Tiêu đề: Đại tá Đặng Tính, vị Chính ủy "Dao pha" của Đường Trường Sơn
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Mười Hai, 2011, 07:55:41 am
(http://img15.imageshack.us/img15/4742/daitadangtinh.jpg)

Đại tá Liệt sỹ Đặng Tính (1920 - 4.4.1973) từng giữ các chức vụ : Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Dương, Chính ủy Mặt trận Đường 5, Mặt trận tả ngạn sông Hồng, Chính ủy Liên khu 3, Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, Phó Cục trưởng Cục Dân quân, phụ trách Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu, Thành viên Đoàn Đại biểu Quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, Trưởng Đoàn Đại biểu Quân đội Nhân dân Việt Nam và Bộ đội Pathet Lào trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến tại Lào, Cục trưởng (đầu tiên) Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam, Cục trưởng Cục Không quân, Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Chính ủy Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn.

Ngoài ra, ông còn từng là : Bí thư Huyện ủy huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hải Dương, Phó Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, Liên khu Ủy viên Liên khu 3, Bí thư Tỉnh ủy - Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Thái Bình, Đại biểu Quốc hội Khóa 3 và 4.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)…

Đại tá (1958).


Đại tá Đặng Tính tên thật là Đặng Văn Ty, sinh tại thị trấn Phả Lại, nay là phường Phả Lại, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Tổ tiên ông vốn gốc tại xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội, đến đời cụ ông thì chuyển về Phả Lại sinh sống.

Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm. Cuối năm 1944, là tổ trưởng Việt Minh, Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng thị trấn Phả Lại ; 5.1945, Đội trưởng Đội Vũ trang, Tuyên truyền và Tự vệ Chiến đấu huyện Chí Linh ; 8.1945, Bí thư Việt Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng, kiêm Bí thư Huyện ủy huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

3.1946, Tỉnh ủy viên tỉnh Hải Dương phụ trách các huyện Nam Sách, Chí Linh, Đông Triều, Kinh Môn ; 10.1946, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ tỉnh Hải Dương ; 1947, Chính trị viên Chi đội Tự vệ Chiến đấu, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Dương, Phó Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương, Khu ủy viên Liên khu 3.

4.1950, Chính ủy Mặt trận Đường 5, Mặt trận tả ngạn sông Hồng kiêm Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Thái Bình ; 4.1951, Chính ủy Liên khu 3, Tư lệnh Khu Tả Ngạn ; 10.1953, Cục phó Cục Dân quân, phụ trách Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu, thành viên Đoàn  Đại biểu Quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Giơ-ne-vơ (1954) ; 8.1954, Trưởng Đoàn Đại biểu Quân đội Nhân dân Việt Nam và Bộ đội Pathet Lào trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến tại lào ; 3.1955, thành viên Ủy ban chống ép di cư tại Thanh Hóa.

5.1955, Cục trưởng đầu tiên Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam ; 1.1959, Cục trưởng Cục Không quân ; 1961, học tại Học viện Không quân Trung Quốc ; 10.1963, Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1967, Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1971, Chính ủy Đoàn 559 theo đề nghị trực tiếp của Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên khi ông được quyền chọn chính ủy Trường Sơn từ trong số các Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chính ủy Quân khu, Quân Binh chủng.

Trong thời gian chiến đấu tại Đường Trường Sơn, với tác phong sâu sát, chịu khó tìm hiểu, qua một thời gian ngắn làm việc với các cơ quan, trao đổi với Tư lệnh, ông đã nắm bắt được tình hình, nhiệm vụ của Bộ tư lệnh trong kế hoạch 1971-1972 và những bước tiếp theo. Rất tâm đắc với những tổng kết có giá trị từ kinh nghiệm xương máu của đồng đội qua 13 năm chiến đấu trên đường Trường Sơn, ông đã tóm tắt thành những câu thơ và ghi chép lại trong nhật ký của mình để truyền đạt cho bộ đội dễ nhớ. Trong phiên họp Đảng ủy đầu tiên trên cương vị mới, cũng là phiên họp thông qua quyết tâm Chiến dịch vận chuyển mùa khô 1971-1972 mang tên “Chiến dịch Đồng Xoài”, ông đã đề nghị với Đảng ủy và Bộ tư lệnh được cùng Phó chính ủy Lê Xy - người có kinh nghiệm về lãnh đạo chỉ huy vận tải trên tuyến - phụ trách chỉ huy tiền phương “Chiến dịch Đồng Xoài” để được thâm nhập thực tế. Ông đã xuống các đơn vị cơ sở, các điểm chốt công binh, trạm giao liên, trạm phẫu thuật... để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của anh em chiến sĩ. Bộ đội Trường Sơn rất ấn tượng với hình ảnh người Chính ủy từng cầm kéo cắt tóc cho chiến sĩ, từng lợp lán cùng bộ đội, nói chuyện thời sự, làm thơ và đọc thơ cho chiến sĩ nghe...

Đại tá Đặng Tính hy sinh ngày 4 tháng 4 năm 1973 trong lần đi kiểm tra lần cuối trước khi ra Bắc nhận quyết định làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Và nếu không hy sinh, năm 1974, ông sẽ được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên từng bảo rằng việc Chính ủy Đặng Tính hy sinh là một tổn thất rất nặng nề, bởi sau chuyến thị sát, Tư lệnh và Chính ủy sẽ dự tính thực hiện những kế hoạch có tính chiến lược. Mọi ý định vẫn còn đang dang dở thì ông đã mãi mãi đi xa… Trước khi kết thúc bài viết, xin ghi lại đây một số nhận xét về Đại tá Đặng Tính của cấp trên, đồng cấp, cũng như cấp dưới, những người đã từng sống và chiến đấu với ông.

“Có thể nói, đồng chí Đặng Tính như một “con dao pha”, từ Tư lệnh Khu Tả ngạn chuyển lên Cục Dân quân, từ Cục Dân quân chuyển sang Cục Tác chiến rồi sau đó lại phụ trách một công việc hoàn toàn mới mẻ là xây dựng không quân non trẻ của Quân đội ta… Trong các lĩnh vực, “con dao pha” ấy đều tỏ ra sắc bén” (Đại tướng Văn Tiến Dũng).

“Tôi đã biết anh từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, anh là một con người dày dạn kinh nghiệm chỉ đạo xây dựng Đảng và công tác chính trị, dày dạn kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu, xây dựng tổ chức…” (Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên)

“Tôi biết Đại tá Đặng Tính từ khi anh làm Cục trưởng Cục Không quân vào những năm đầu hòa bình trên miền Bắc. Khi tôi đang là cán bộ Cục Tổ chức, đã có nhiều lần được làm việc với anh và được biết anh là một cán bộ chính trị tiêu biểu cho hàng ngũ cán bộ chính ủy cấp quân khu, quân - binh chủng…Người mà hầu hết chiến sĩ trong Quân chủng đều biết mặt; người hiền lành, điềm đạm, dễ gần và hết sức khiêm tốn; người lãnh đạo rất dân chủ, hết lòng yêu thương và giúp đỡ cán bộ cấp dưới... Làm công tác Đảng, công tác chính trị ở chiến trường Trường Sơn, có được sự chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của một cán bộ chủ trì mẫu mực về phong cách, tầm nhìn như anh Đặng Tính, tôi thấy mình có một may mắn, hạnh phúc lớn” (Thiếu tướng Võ Sở)


Tham khảo: Báo Quân đội Nhân dân.


Tiêu đề: Thiếu tướng Lê Văn Chiểu, người Việt đầu tiên học chế tạo vũ khí tại LX
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Mười Hai, 2011, 03:10:29 am
(http://img822.imageshack.us/img822/1381/thieutuonglevanchieu.jpg)

Thiếu tướng Phó Giáo sư Lê Văn Chiểu (15.5.1926) từng giữ các chức vụ : Phó Phòng Kỹ thuật Tổng cục Hậu cần, Trưởng Phòng Nghiên cứu Vũ khí – Viện Nghiên cứu Kỹ thuật, Hiệu phó Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự), Phó Tư lệnh Kỹ thuật Đặc khu Quảng Ninh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ… Đặc biệt, ông đã được Nhà nước trao tặng 2 Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ.

Thiếu tướng (1984).


Ông vốn nguyên quán tại huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, sinh ra và lớn lên tại Phú Nhân thuộc thành nội Huế, lúc còn nhỏ học tiểu học tại Trường Paul Bert, rồi trung học tại Trường Tư thục Thuận Hóa. Năm 1946, sau khi đỗ tú tài tại Trường Quốc học Huế, ông ra Hà Nội theo học Ngành Toán đại cương. Mùa Đông năm 1946, hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến của Hồ Chủ tịch, ông « xếp bút nghiên », xung phong vào lực lượng công binh, tham gia vào 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thủ đô.

Khi Trung đoàn Thủ đô rút lên Việt Bắc, đầu năm 1947, Lê Văn Chiểu được cử làm thư ký cho ông Hoàng Đạo Thúy - Hiệu trưởng Trường Lục quân. Vũ khí của bộ đội đầu Kháng chiến chống Pháp rất thiếu thốn và còn thô sơ, chủ yếu là gậy gộc, giáo mác… trong khi phải đương đầu với cả một cỗ máy chiến tranh hiện đại của Pháp. Ngành Quân giới non trẻ đứng trước yêu cầu phải tập hợp những trí thức yêu nước để tự nghiên cứu, chế tạo vũ khí. Lúc ấy, những ai giỏi Toán đều được gọi vào đây. Những sinh viên còn chưa rời ghế nhà trường, chưa trải qua đào tạo cơ bản về vũ khí như Lê Văn Chiểu, chiếm đa số.

Về Cục Quân giới, ông được phân công về Phòng Xạ thuật (hay còn gọi Thuật phóng) của Nha Nghiên cứu Kỹ thuật - cơ quan nghiên cứu, chế tạo vũ khí, hàng quân dụng đầu tiên của Quân đội. Cuối năm 1948, yêu cầu đặt ra là phải có súng lớn để xuyên phá được hệ thống công sự bê tông của Pháp, Nha Nghiên cứu Kỹ thuật triển khai nghiên cứu súng không giật SKZ 60. Ban nghiên cứu gồm 5 người do ông Nguyễn Trinh Tiếp - Trưởng phòng Xạ thuật - là trưởng ban, chủ trì đề tài. Lê Văn Chiểu được phân công phụ trách tiến hành các bước thử nghiệm và phụ trách sản xuất loạt « 0 » tức loạt súng thử nghiệm. Với những thành tích của mình, năm 1949, ông được kết nạp Đảng.

Năm 1951, mặc dù vẫn còn đang trong thời kì kháng chiến, Chính phủ bắt đầu gửi lớp học sinh đầu tiên sang Liên Xô, với kỳ vọng họ sẽ là những viên gạch hồng xây dựng Cách mạng trong tương lai. Lê Văn Chiểu có vinh dự và may mắn được nằm trong lớp du học sinh đầu tiên ấy. Họ gồm có 21 người, trong đó có 4 người theo học đại học gồm ông (trẻ nhất) và 3 người khác là : Phạm Đồng Điện (sau này là Hiệu trưởng Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội), Nguyễn Đức Thừa (sau này là Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội), Hoàng Bình (sau này là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp). Trước khi lên đường, ông và Đoàn đã được Hồ Chủ tịch đến thăm và trực tiếp dặn dò (18.7.1951).

Lê Văn Chiểu là người duy nhất học về vũ khí. Ông học ở Trường Đại học Tổng hợp Bauman, Khoa Cơ khí Quốc phòng, Ngành Vũ khí Tự động trong năm năm rưỡi (từ 9.1951 đến 3.1957). Ngành này đào tạo kỹ sư để có thể thiết kế các loại súng từ đại liên cho tới đại bác 30mm (cho máy bay). Để bồi dưỡng kiến thức cơ bản, ông được gửi học từng thầy riêng, một thầy kèm một trò, học các môn khoa học cơ bản và kỹ thuật cơ sở chung. Có lẽ đây là trường hợp đặc biệt nhất của các du học sinh ở Liên Xô lúc đó. Trong 3 năm cuối cùng, ông được học và thực tập cùng với sinh viên Liên Xô.

Sau khi tốt nghiệp với bằng đỏ, về nước, ông được bổ nhiệm Phó Phòng Kỹ thuật thuộc Tổng cục Hậu cần (1957-1960), rồi Trưởng Phòng Nghiên cứu Vũ khí – Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Quân sự (1960-1966).

Năm 1962, trên chiến trường Mỹ-ngụy dùng mìn Cờ-lây-mo để phục kích bộ đội. Đó là loại mìn vỏ nhẹ, dùng thuốc nổ để phóng mảnh về phía trước. Lê Văn Chiểu nghe nói Liên Xô cũng có mìn định hướng, nhưng lại chưa có trong danh mục vũ khí viện trợ. Năm 1963, ông và các cộng sự bắt tay nghiên cứu loại mìn này. Ông tìm thấy trong nội dung một báo cáo khoa học đăng trong tạp chí Vật lý Ứng dụng của Liên Xô mô tả toán học hiện tượng nổ của một tấm phẳng thuốc nổ ghép sát với một tấm vật liệu rắn. Kết quả này cho phép tính tốc độ văng của tấm vật liệu rắn và những yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ của nó. Một điều đáng nói là không biết vô tình hay cố ý mà Tạp chí trên đã in sai công thức tính toán mà không đính chính. Ông cùng đồng nghiệp đã tính toán, chứng minh, xác định được lỗi in sai của công thức trong phần tóm tắt tổng kết công trình.

Từ các cơ sở ấy, Lê Văn Chiểu đã xây dựng được lý luận tính toán thiết kế mìn phóng mảnh định hướng. Sau đó đã làm các mẫu thử với nhiều hình dạng, kể cả dùng bánh thuốc TNT 200g có sẵn gọt mặt 100 × 200 hình máng chữ V và dán mảnh vào đó. Các cuộc thử nghiệm ở bãi thử công binh tại Đáp Cầu cho kết quả tốt. Nhằm đưa nhanh kết quả phục vụ cho chiến trường miền Nam, vì nhận thấy mìn định hướng cấu tạo rất đơn giản, có thể làm được tại chỗ nên ông và đồng nghiệp đã viết tài liệu hướng dẫn thiết kế và chế tạo, in rô-nê-ô trình lên Bộ Quốc phòng gửi vào Nam qua đường liên lạc.

Sau khi nhận được bản thiết kế, Quân giới Miền đã làm thử 8 quả định hướng cỡ 300mm nặng 11kg. Thấy uy lực của loại mìn này, Quân Giải phóng đã sản xuất hàng loạt và phát triển thêm một số loại hình thù như hình tròn, hình chữ nhật, với các kích cỡ khác nhau. Mìn định hướng trở thành vũ khí lợi hại, giúp quân và dân miền Nam đánh trực thăng, chống địch càn quét, đánh ca-nô trên sông, đánh xe tăng, mở cửa đột phá qua rào dây thép gai nhiều lớp của Mỹ ngụy một cách gọn ghẽ…

Năm 1965, Mỹ ngày càng leo thang chiến tranh, có ưu thế trên chiến trường nhờ hỏa lực mạnh. Từ yêu cầu chiến trường lúc đó, bộ đội cần có vũ khí gọn nhẹ nhưng uy lực mạnh, bắn đồng loạt từ xa, tiêu diệt trên diện rộng, tầm bắn chính xác. Lúc bấy giờ, Quân đội đã được Liên Xô viện trợ tên lửa BM 14-17, giàn phóng 17 ống dày 2,6mm, cỡ nòng 140mm, đặt trên ô tô, toàn bộ nặng khoảng 2,5 tấn. Tuy nhiên, giàn phóng này chỉ bắn từng phát liên tiếp, không thể bắn đồng thời một loạt. Đạn nặng khoảng 40kg, có mấu hãm giữ trên bệ với lực 200kg. Giàn phóng ấy tuy hiện đại nhưng rất cồng kềnh, nặng nề, bất tiện cho tác chiến. Bộ tư lệnh Binh chủng Pháo binh đặt vấn đề xem có cách nào để cải tiến cho dễ cơ động hơn không. Nhiệm vụ ấy được giao cho Cục Nghiên cứu kỹ thuật (Bộ Quốc phòng).

Quá trình nghiên cứu được tiến hành trong năm 1965, do Lê Văn Chiểu là chủ nhiệm đề tài. Sau thời gian nghiên cứu, ông quyết định mẫu thực nghiệm như sau: Bệ phóng gồm ống phóng bắt vào bệ gỗ. Ống phóng làm bằng tôn thép mỏng cuộn lại, dài 1140mm, ghép mép và hàn có đánh 4 đường sống dọc lồi vào bên trong, tiếp tuyến với mặt hình trụ của đạn. Tấm gỗ của bệ làm bằng ván dày 2cm bản rộng 25cm, dài 120cm. Tiện lợi ở chỗ, bệ tên lửa làm bằng gỗ này không cần vận tải vào Nam mà có thể dễ dàng làm tại chỗ dựa theo bản thiết kế. Toàn bộ bệ chỉ nặng khoảng 10,5kg. Khi thử nghiệm, bệ phóng được kê đầu trên túi đất, chèn thêm các túi đất lên trên và quanh tấm gỗ để cố định bệ. Góc bắn được lấy 45 độ, điểm hỏa bằng 6 quả pin 1,5V. Thử nghiệm cho thấy luồng phụt không làm hư hại bệ phóng, có thể dùng lại được. Tầm bắn của giàn tên lửa mới này khoảng 8km, so với tầm bắn của BM 14-17 là 10km. Tuy nhiên, độ chính xác của giàn tên lửa mới lại khá cao. Giàn phóng ứng dụng có 12 ống, bắn đồng loạt. Theo biên chế mẫu, mỗi tiểu đội sẽ được tổ chức thành hai cụm, mỗi cụm 6 khẩu. Vũ khí mới này được mang tên là A12. Ống phóng tên lửa A12 rất gọn nhẹ, sức người vác được.

Ứng dụng thực tiễn đầu tiên của A12 là khi nó được quyết định sử dụng để tấn công Sân bay Đà Nẵng vào rạng sáng ngày 27 tháng 2 năm 1967. Trận tập kích thành công và đã phá hủy, làm hư hỏng 94 máy bay, 200 xe quân sự, tiêu diệt và làm bị thương nhiều lính Mỹ-ngụy. Trận này được đánh giá là một trong những trận đánh lớn của Quân Giải phóng nói chung và Pháo binh Miền nói riêng tại thời điểm đó, là cột mốc đánh dấu sự thay đổi trong tương quan hỏa lực của hai bên trên chiến trường. Ngay sáng hôm sau, các hãng tin của nước ngoài đồng loạt đưa tin về trận đánh này.

Năm 1966, khi đang say mê với công việc nghiên cứu vũ khí, ông bất ngờ được cấp trên giao cho nhiệm vụ mới đó là Nghiên cứu lập phương án xây dựng cơ sở đào tạo kỹ sư quân sự trong nước. Ngày 28 tháng 10 năm 1966, Phân hiệu II Đại học Bách khoa (tên gọi của Đại học Kỹ thuật Quân sự lúc đó) đã được thành lập. Lê Văn Chiểu được bổ nhiệm là Phó hiệu trưởng, phụ trách công tác huấn luyện và nghiên cứu. Trong khoảng 14 năm (1966- 1979), ông góp phần xây dựng nền móng vững chắc của Trường.

Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, Lê Văn Chiểu rời mái trường Đại học Kỹ thuật Quân sự ra khu vực biên giới giữ chức vụ Phó tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh (1979-1981), rồi sau đó ông lần lượt giữ các chức vụ Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật (1981-1988) và Phó chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cho đến khi về hưu (1995).

Với những đóng góp to lớn của mình cho sự phát triển của Ngành Khoa học Kỹ thuật Quốc phòng, Thiếu tướng Lê Văn Chiểu đã được nhận hai Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 ngày 18 tháng 8 năm 1997 vì đã tham gia nghiên cứu, chế tạo ra hai vũ khí nổi tiếng, đó là súng không giật SKZ (nằm trong giải thưởng cho nhóm tác giả chế tạo ra “Một số vũ khí đặc biệt trong kháng chiến chống Pháp như súng không giật SKZ và SS trong thời gian 1945-1954”) và tên lửa A12 (nằm trong giải thưởng cho nhóm tác giả chế tạo ra “Một số vũ khí đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ: Như A12, DKB nối tầng, các loại vũ khí phá chướng ngại FR, thủy lôi APS trong thời gian 1960-1972”). Trong số những người được giải thưởng cùng ông, có nhiều người đã từng là học trò của ông, từng được ông hướng dẫn từ những bài vỡ lòng về chế tạo vũ khí. Năm 2002, Thiếu tướng Lê Văn Chiểu tiếp tục nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ vì đã tham gia nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các loại mìn, lựu đạn, thủ pháo và thiết bị điều khiển nổ có tính năng đặc biệt trong kháng chiến, với cương vị là cán bộ chủ trì và tham gia chính.

Thiếu tướng Lê Văn Chiểu là người đầu tiên được Liên Xô đào tạo bài bản về chế tạo và thiết kế vũ khí. Có thể nói rằng ông cũng là người cuối cùng được Liên Xô đào tạo bài bản về vấn đề này, vì sau ông, Liên Xô biên soạn giáo án riêng cho sinh viên nước ngoài, với chương trình dạy rất hạn chế, và chỉ dạy về cơ khí cơ bản, hoặc là đào tạo về khai thác vũ khí, chứ không dạy về thiết kế vũ khí nữa.


Tham khảo : Báo Quân đội Nhân dân, Di sản các nhà khoa học VN.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: dinhba trong 08 Tháng Mười Hai, 2011, 09:11:45 pm
Có bác nào quê Quảng Ngãi biết về hai Tướng Cơ yếu thì thông tin cho em biết với nhỉ.
Em xin cảm ơn!

Một cụ là Nguyễn Duy Phê - nguyên Phó ban Cơ yếu Trung ương
Một cụ là Nguyễn Chánh Cân - nguyên Cục trưởng Cục Cơ yếu BTTM

Cả hai cụ trước đây đều là Hiệu trưởng trường trung cấp mật mã BTTM.

Không biết các cụ bây giờ có còn mạnh khỏe.


Tiêu đề: Thiếu tướng Phạm Như Vưu, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và CN-QP
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Mười Hai, 2011, 03:45:58 am
(http://img827.imageshack.us/img827/9605/thieutuongphamnhuvuu.jpg)

Thiếu tướng Phạm Như Vưu (bí danh : Như Vũ, 10.9.1920) từng giữ các chức vụ : Trưởng Ban Vũ khí - Ủy ban Kháng chiến tỉnh Phú Thọ, Trưởng Ban Vũ khí Phòng Dân quân Liên khu 10, Trưởng ban Chế tạo Vũ khí – Nha Giám đốc Công binh xưởng – Cục Quân giới, Chủ nhiệm Môn Quân giới – Trường Sĩ quan Hậu cần (nay là Học viện Hậu cần), Trưởng Phòng Huấn luyện, Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân giới, Phó Tư lệnh Quân khu 1, Tham mưu trưởng rồi Phó Chủ nhiệm thứ Nhất Tổng cục Kỹ thuật, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huy chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)…

Thiếu tướng (1983 ?)


Ông sinh tại xã Đông Hoàng, huyện Thái Ninh (nay thuộc huyện Đông Hưng), tỉnh Thái Bình. Sau khi học xong sơ cấp (1936), ông lần lượt làm việc tại Nhà máy Chế tạo Cơ khí Hải Phòng, rồi Nhà máy đạn Phú Thọ của chính quyền thực dân Pháp. Trong thời kì làm công nhân tại Phú Thọ, ông giác ngộ và tham gia Việt Minh tại đây từ trước Cách mạng tháng 8 cho đến trước ngày Toàn quốc Kháng chiến (3.1945-6.1946). Trước khi Toàn quốc Kháng chiến nổ ra, ông còn làm công tác dân vận tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ từ tháng 7 năm 1946.

Kháng chiến Toàn quốc bùng nổ, 12.1946, ông được bầu vào Ủy ban Kháng chiến tỉnh Phú Thọ, là Ủy viên phụ trách Ban Vũ khí của tỉnh. Một năm sau, 12.1947, ông được điều lên Phòng Dân quân của Liên khu 10 giữ chức vụ Trưởng Ban Vũ khí. Tháng 12 năm 1949, bước vào thời kì mới của công cuộc Kháng chiến, Phạm Như Vưu được điều sang công tác bên Quân đội, là Trưởng Ban Chế tạo Vũ khí của Nha Giám đốc Công binh xưởng trực thuộc Cục Quân giới. Tháng 7 năm 1951, ông nằm trong số 21 du học sinh đầu tiên được Chính phủ cử sang Liên Xô học tập để phục vụ cho công cuộc xây dựng và kiến quốc sau này, cũng như xây dựng Quân đội.

Tháng 5 năm 1956, sau 5 năm theo học tại Trường Cao đẳng Quân khí Tula của Liên Xô, Phạm Văn Vưu về nước và được phân công về phụ trách công tác giảng dạy tại Trường Sĩ quan Hậu cần (nay là Học viện Hậu cần) trên cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Quân giới. Từ tháng 11 năm 1958, ông chuyển về công tác tại Cục Quân giới, lần lượt giữ các chức vụ : Trưởng Phòng Huấn luyện (11.1958), Cục phó (10.1960), rồi Cục trưởng (8.1964).

Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, 2.1979, ông được cử lên làm Phó Tư lệnh phụ trách Kỹ thuật của Quân khu 1, rồi lại được rút về làm Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật. Từ tháng 10 năm 1983 cho đến khi về hưu (1993), ông tiếp tục giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm thứ Nhất Tổng cục Kỹ thuật, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

Tham khảo : Di sản Các nhà Khoa học VN.


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Quỳ, Giám đốc HV-KTQS, Phó Chủ nhiệm Tổng cục KT
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Mười Hai, 2011, 04:48:49 am
(http://img638.imageshack.us/img638/5030/nguyenquy.jpg)

Thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Quỳ (28.12.1930) từng giữ các chức vụ : Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự, Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, 2 Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba),…, Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ dành cho tập thể.

Tiến sĩ (1962), Phó Giáo sư (1980), Giáo sư (1984) Chuyên ngành Hóa Lý.

Thiếu tướng (1989 ?)


Ông sinh tại xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Thời kì Kháng chiến chống Pháp, ông theo học cấp 2 tại vùng kháng chiến, rồi làm giáo viên cấp 2, Bí thư Chi bộ tại Trường cấp Trung học An Nhơn, Bình Định.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông tập kết ra Bắc trong khi ra đình vẫn ở trong vùng chiếm đóng, rồi được cử sang Trung Quốc học Sư phạm cao cấp. Năm 1955, ông tiếp tục được chọn sang Cộng hòa Dân chủ Đức học về kỹ thuât hóa. Năm 1960, sau 5 năm 3 tháng, ông tốt nghiệp kỹ sư và đứng hạng Hai, được Bộ Quốc phòng gửi công văn xin biệt phái vào Quân đội, rồi được lựa chọn cho ông chuyển tiếp nghiên cứu sinh về đồng vị phóng xạ, và nước.

Năm 1962, về nước, Bộ Giáo dục cũng có ý muốn ông về Bộ công tác, tuy nhiên ông vẫn lựa chọn ở lại công tác trong Quân đội, và được điều về Viện Kỹ thuật Quân sự công tác tại Phòng Hóa học, một thời gian sau thì được cử làm Phó phòng. Thời gian đầu, ông tham gia nghiên cứu bảo quản vũ khí và trang thiết bị quân sự, nhất là chống ăn mòn, chống ẩm và han gỉ khí tài điện tử, bảo quản khí tài quang học…

Năm 1965, Không quân Mỹ bắt đầu leo thang ra bắn phá miền Bắc. nhiều hoạt động chiến đấu, lao động phải thực hiện ban đêm. Nhưng thắp đèn, đốt lửa lại dễ bị Không quân Mỹ dùng thiết bị hồng ngoại phát hiện, bắn phá. Nguyễn Quỳ lại được Viện Kỹ thuật Quân sự giao tìm cách chế tạo các thiết bị có tính năng phát sáng mạng phục vụ cho chiến đấu và sản xuất. Đến năm 1970, những miếng hợp chất phát sáng do nhóm của ông phát triển và nghiên cứu đã có mặt khắp chiến trường.

Ngoài chất phát sáng, ông còn tham gia nghiên cứu nhiều hóa chất cực kỳ hữu dụng cho bộ đội đặc công như thuốc nổ lỏng. Chất nổ lỏng giúp khi đánh phá hầm ngầm, chất nổ bốc hơi, “luồn lách” vào cả những ngõ ngách, công phá mạnh gây khiếp vía quân thù; lại có thể ngụy trang mang vào thành phố tiện lợi. Ông còn tham gia và chỉ đạo sản xuất sơn, bột ngụy trang, ngòi điện hóa… rất cần cho bộ đội đặc công.

Giáo sư Nguyễn Quỳ đã chủ trì biên sọan 2 cuốn sách: Ăn mòn kim lọai trong công tác bảo quản (1965), Sổ tay bảo quản (1970). Đặc biệt, là một chuyên gia về ăn mòn, bảo quản năm 1969, khi Bác Hồ mất, ông đã vinh dự được tham gia nhóm nghiên cứu, bảo quản Nhà sàn và các di vật của Người …

Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1977 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Viện phó Viện Kỹ thuật Quân sự cho đến năm 1980 thì được điều sang làm Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự. Từ năm 1989 cho đến khi về hưu 1998, trong vòng 10 năm liền, ông giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Tham khảo: Báo Quân đội Nhân dân, Báo Bình Định, Nhân tài Đất Việt.


Tiêu đề: Nguyễn Văn Xuân, Đại biểu QH Khóa 1, Trưởng phòng Quân giới đầu tiên
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Giêng, 2012, 04:49:32 am
(http://img97.imageshack.us/img97/5517/nguyenngocxuan.jpg)

Nguyễn Văn Xuân (1902 - 1981) từng giữ các chức vụ : Trưởng phòng Quân giới đầu tiên, Cục phó Cục Quân giới kiêm Bí thư Đảng ủy Cục, Cục trưởng Cục Quân giới. Ngoài ra, ông cũng từng là : Đại biểu Quốc hội Khóa 1 tỉnh Hưng Yên, Bộ trưởng Không bộ trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, Trưởng Ban Thanh tra Bộ Công nghiệp.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…


Ông tên thật là Nguyễn Ngọc Xuân, sinh ra và lớn lên tại thôn Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình giàu truyền thống Nho học, yêu nước. Ông là con cháu hàng điệt của chí sĩ Cần vương Đỗ Uẩn, từng đỗ cử nhân và giữ chức tri phủ Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Phó sứ Sơn phòng Nghệ An ; cháu của các nhà yêu nước Đỗ Cơ Quang (1878 - 1914)  và Đỗ Thị Tâm ( ? - 1930) ; anh em họ với các ông Đỗ Chu Tuấn (1919), Đại biểu Quốc hội Khóa 1, Trần Xuân Độ (1894 - 1997), Chính ủy đầu tiên Quân khu 7 thời tướng Nguyễn Bình rồi Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên.

Năm 1924, ông ra Hà Nội theo học tại Trường Kỹ nghệ Hà Nội, rồi làm thợ tại các xưởng Trường Thi, La Phù, và Phòng Thí nghiệm Khoáng chất Hóa học của Chính quyền thực dân Pháp tại Hà Nội. Năm 1929, Nguyễn Ngọc Xuân ra nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, được giao phụ trách việc in báo « Đường Cách mạng », và đảm nhiệm việc liên lạc và vận chuyển vũ khí mua được từ Hải Phòng lên.

Trước Cách mạng, ông đã từng bị thực dân Pháp bắt, xử tù chung thân và bị đày đi nhiều nhà tù khét tiếng như Côn Đảo, Hỏa Lò, căng Vụ Bản (Hòa Bình). Thời gian ở trong tù, ông nhận thấy Quốc dân đảng đã dần bước đi chệch hướng so với lí tưởng ban đâu, thêm vào đó thời gian ở Côn Đảo được gần gũi với những người cộng sản, ông có cảm tình rồi dần giác ngộ lý tưởng cộng sản.

Năm 1936 được thả, nhưng vẫn bị quản thúc, theo dõi ở quê, ông đã tìm mọi cách để bắt liên lạc với Đảng. Lúc bấy giờ, tình hình Cách mạng trong nước phát triển mạnh, do có kiến thức về công nghiệp và hóa chất, ông được tổ chức giao nhiệm vụ chế tạo một số vũ khí và lựu đạn. Ngoài vốn kiến thức đã được học, ông không ngừng tự học để có thêm những hiểu biết về thuốc nổ và mày mò chế thử được thuốc đen và phuy-mi-nát thủy ngân, một loại thuốc gợi nổ rất cần trong sản xuất vũ khí.

Năm 1944, Cách mạng đã thành lập căn cứ ở Cao-Bắc-Lạng. Lực lượng vũ trang tập trung đã hình thành và phát triển, nhu cầu về vũ khí có những đòi hỏi mới. Ngoài chiến lợi phẩm thu được trong chiến đấu, cần phải tổ chức sản xuất để phục vụ chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Xứ ủy Bắc Kỳ khẩn trương chỉ đạo xây dựng xưởng sản xuất vũ khí bí mật ở thị xã Bắc Ninh và giao nhiệm vụ cho ông cùng ông Ngô Gia Khảm thành lập xưởng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nguyễn Ngọc Xuân được bầu vào danh sách Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên tiến hành vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông vinh dự được bầu làm đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên, và giữ ghế Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ.

Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập ngành quân giới, ông được giao nhiệm vụ làm Chánh Phòng quân giới, tiền thân của Cục Quân giới sau này, phụ trách việc thu mua vũ khí và tổ chức các cơ sở sản xuất vũ khí. Tháng 3 năm 1946, khi Cục Quân giới được thành lập theo Sắc lệnh 34/SL của Chính Phủ, ông là Phó cục trưởng Cục Quân giới kiêm Bí thư Đảng ủy Cục quân giới.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12.1946), ông cùng cán bộ và công nhân của ngành quân giới vận chuyển máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu ra khu căn cứ, vượt qua khó khăn, gian khổ, vừa di chuyển, vừa ổn định tổ chức, triển khai sản xuất rồi trực tiếp tham gia chiến đấu. Khi Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn, cách cơ quan có 500m, ông đã cùng đồng đội cất giấu tiền bạc, tài liệu, máy móc để khỏi lọt vào tay địch, rồi hướng dẫn cả đoàn cán bộ và công nhân về Thái Nguyên. Địch lại nhảy dù ở Làng Ngò và Vũ Nhai, ông lại cùng anh em bám máy, bám xưởng, tiếp tục sản xuất, chiến đấu.

Hòa bình lập lại trên miền Bắc, năm 1955 ông được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Quân giới cho đến năm 1958 thì được điều về Bộ Công nghiệp làm Trưởng ban thanh tra của Bộ. Năm 1962, vì lí do sức khỏe, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Một tháng sau ông bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, 19 năm sau (1981), thì qua đời.

Tham khảo : Báo Quân đội Nhân dân.


Tiêu đề: Trần Xuân Độ, Chính ủy đầu tiên Quân khu 7
Gửi bởi: panphilov trong 09 Tháng Giêng, 2012, 08:12:43 pm
(http://img717.imageshack.us/img717/1254/txdocopie.jpg)

Trần Xuân Độ (1894 – 1997) từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ (Chính ủy đầu tiên) Khu 7. Ngoài ra, ông còn từng là Phụ trách Công tác Đảng (Bí thư Tỉnh ủy) Bà Rịa – Vũng Tàu, Thư ký Công đoàn miền Tây Nam Bộ, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huy chương Vì sự nghiệp Ngoại giao, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng…


Trần Xuân Độ, tên thật là Trần Hữu Tộ, sinh tại xã Bồ Đề, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông là con cháu hàng điệt của chí sĩ Cần vương Đỗ Uẩn, từng đỗ cử nhân và giữ chức tri phủ Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Phó sứ Sơn phòng Nghệ An ; cháu của các nhà yêu nước Đỗ Cơ Quang (1878 - 1914)  và Đỗ Thị Tâm ( ? - 1930) ; anh em họ với các ông Đỗ Chu Tuấn (1919) và Nguyễn Văn Xuân (1902 - 1981) đều là Đại biểu Quốc hội Khóa 1.

Mồ côi cả cha lẫn mẹ ngay từ lúc lên 7, tuổi thơ lam lũ nghèo khổ tại quê nhà khiến ông sớm phải thoát li làm thợ ở Hải Phòng. 12 tuổi, ông may mắn gặp được người cai tốt bụng, xin cho học nghề tiện ở Nhà máy Nguyễn Hữu Thu. Nhờ học hành chăm chỉ, ông nhanh chóng trở thành thợ giỏi, tay nghề cao. Tuy nhiên, vì tính tình cương trực, không can tâm chịu sự đè nén, bóc lột của chủ và cai, ông đã phải chuyển hết nhà máy này đến nhà máy khác. Thời gian làm công nhân ở Hải Phòng, ông gặp gỡ nhiều thợ tâm huyết, có lí tưởng đánh Pháp giành độc lập dân tộc, đặc biệt có nhà Cách mạng nổi tiếng Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt (1905-1992), sau là Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.

Những năm 1924 - 1925, phong trào yêu nước tại Hải Phòng phát triển rất cao với nhiều khuynh hướng khác nhau. Có thể kể ra đây cuộc tranh luận giữa hai người bạn thân Trần Xuân Độ - Hạ Bá Cang. Mặc dù xu hướng yêu nước khác nhau, nhưng vì là bạn bè chung ý chí, tinh thần yêu nước nên các ông đều không tuyệt giao, mà thoả thuận sẽ gặp nhau, hiểu nhau sau. Chính ông Hạ Bá Cang sau này đã nhận xét 'Sau nhiều lần tranh cãi rất gay go, anh Độ và tôi đều nhận thấy rằng, mặc dầu lập trường hai bên có khác nhau, song dù theo chủ nghĩa quốc gia hay chủ nghĩa  quốc tế, chúng ta cần phải cùng nhau thống nhất hành động chống bọn cướp nước'.

Khoảng giữa năm 1926, khi đang làm công nhân tại Nhà máy Cơ khí Cô-rông, vì tham gia tích cực vào phong trào phản đối chính quyền thực dân phong kiến kết án tử hình cụ Phan Bội Châu rồi phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh, Trần Xuân Độ bị đuổi ra khỏi nhà máy cùng với người bạn Hạ Bá Cang, để tránh sự theo dõi của mật thám Pháp, ông tạm lánh qua Lào làm thợ mỏ cho hãng Các-rích, rồi tiếp tục phải lánh qua Thái Lan. Tại Thái Lan, ông gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, và là một trong những hội viên nòng cốt đầu tiên ở đây.

Ngày 25 tháng 12 năm 1927, Việt Nam Quốc dân Đảng được thành lập, với mục tiêu ‘Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ, đặc biệt là các lân quốc: Ai Lao (Lào), Cao Miên (Cam-pu-chia)’. Việt Nam Quốc Dân Đảng cử người liên lạc với nhiều đảng phái, hội yêu nước trong đó có Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội để bàn thảo việc thống nhất về tổ chức, hoạt động trong công cuộc giải phóng dân tộc, nhưng việc bất thành do những bất đồng trong quan điểm.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, thời gian này Trần Xuân Độ có xu hướng khác với phong trào do những người cộng sản lãnh đạo. Ông ủng hộ phương hướng hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng, nên hăng hái lên đường băng rừng về nước và ra nhập Đảng này vào tháng 10 năm 1928. Ngày 10 tháng 2 năm 1930, Khởi nghĩa nổ ra một cách bị động rồi nhanh chóng bị dập tắt và đàn áp dã man, đảng viên Quốc dân Đảng bị truy nã gắt gao trong cả nước. Để bảo vệ đảng đồng thời trấn an tinh thần của đảng viên, ông xung phong vào Ám sát Đoàn và được lãnh tụ Nguyễn Thái Học (1902 - 1930) cử làm Trưởng Ban đóng tại Hàng Bột.

Ngày 2 tháng 3 năm 1930, mật thám Pháp bao vây trụ sở của Ám sát Đoàn, Trần Xuân Độ bị bắt cùng 4 đồng chí khác của ông trong đó có 2 nữ. Lúc đầu, thực dân Pháp giam ông ở Hỏa Lò. Mặc dù bị đánh chết đi sống lại, nhưng ông không khai nửa lời, kể cả tên thật. Đem ông ra đối chất với các tù chính trị, không ai chịu nhận là quen ông, thực dân Pháp hỏi sang những người tù thường trước ở Hải Phòng. Những người tù thường chỉ nhớ mang máng tên và họ của ông, và thực dân Pháp cần có một cái tên để hoàn thành hồ sơ của ông cho nên ghi bừa là Trần Xuân Độ. Đấy là nguyên nhân xuất xứ cái tên của ông sử dụng khi tham gia Cách mạng.

Bị kết án chung thân cầm cố, ông bị phát vãng lên nhà tù Sơn La, rồi bị đày ra Côn Đảo cùng nhiều đảng viên Quốc dân Đảng khác. Trong 15 năm bị giam cầm ở Côn Đảo, ông lúc nào cũng tỏ ra là một ‘Chiến đấu viên’ trung kiên, bất khuất. Điển hình là việc ông nhịn đói 22 ngày (?) để phản đối chính sách đối đãi với tù chính trị của thực dân Pháp. Tại đây, ông đã gặp gỡ với 2 đảng viên Quốc dân Đảng ở trong Nam là các ông Trần Huy Liệu (1901 - 1969), sau là Viện trưởng Viện Sử học, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Nguyễn Phương Thảo (1906 - 1951), sau là Trung tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh Nam Bộ, và kết thành bộ ba thân thiết.

Ở Côn Đảo, Trần Xuân Độ còn gắn bó với nhiều người tù Cộng sản, những nhà Cách mạng nổi tiếng như : Tôn Đức Thắng (1888 - 1980), sau là Chủ tịch nước ; Phạm Văn Đồng (1906 - 2000), sau là Thủ tướng ; Hà Huy Giáp (1908 - 1995), sau là Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Bộ Văn hóa, Ủy viên Trung ương Đảng ; Ung Văn Khiêm (1910 - 1991), sau là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Ủy viên Trung ương Đảng ; Lê Duẩn (1907 - 1986), sau là Tổng Bí thư ; TrầnTử Bình (1907 - 1967), sau là Thiếu tướng Tổng Thanh tra Quân đội, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc ; Ngô Gia Tự (1908 - 1935), Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ năm 1930 ; Phạm Hùng (1912 - 1988), sau là Chủ địch Hội đồng Bộ trưởng ; Nguyễn Thanh Sơn (1910 - 1996), Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ sau là Đại biểu Quốc hội Khóa 1, Đại tá, Thứ trưởng Bộ Tài chính ; Nguyễn Kim Cương (1906 - 1994), sau là Thứ trưởng Phủ Thủ tướng ; Lương Khánh Thiện (1903 - 1941), sau là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Thảnh ủy Hà Nội rồi Hải Phòng ; Tống Văn Trân (1905 - 1935), sau là Xứ ủy viên Nam Kỳ phụ trách Sài Gòn - Gia Định ; Lê Văn Lương (1912 - 1995), sau là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội ; Nguyễn Văn Linh (1915 - 1998), sau là Tổng Bí thư... Tại Côn Đảo, ông gặp lại người bạn thời còn hoạt động trong phong trào công nhân, học sinh, sinh viên ở Hải Phòng – Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt.

Thời gian ở Côn Đảo đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong tư tưởng cũng như nhận thức về con đường Cách mạng giải phóng dân tộc của bộ ba Trần Xuân Độ, Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo. Suy nghĩ về nguyên nhân thất bại nhanh chóng của phong trào do Quốc dân Đảng lãnh đạo, Trần Xuân Độ nhận thấy sự bất hợp lý trong đường lối, chủ trương cũng như biện pháp đấu tranh, tập hợp lực lượng. Hơn nữa, ông cũng nhận thấy nhiều đảng viên Quốc dân Đảng không còn lí tưởng như lúc mới ra đời nữa. Hành động chọc mù mắt người bạn Nguyễn Phương Thảo là một trong những sự kiện trực tiếp khiến ông đoạn tuyệt với đảng này. Quá trình tiếp xúc với những người tù Cộng sản, được trao đổi và trước tấm gương của họ, ông cùng hai người bạn là Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo có cảm tình, và dần quay sang ủng hộ lập trưởng Chủ nghĩa Quốc tế Vô sản trong việc đánh đuổi thực dân, giành độc lập cho dân tộc.

(còn tiếp)


Tiêu đề: Trần Xuân Độ, Chính ủy đầu tiên Quân khu 7 (Phần II)
Gửi bởi: panphilov trong 09 Tháng Giêng, 2012, 09:19:57 pm
Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 9 năm 1945 ông cùng khoảng 1700 bạn tù được đón về đất liền, phân công đi các nơi phục vụ cho việc xây dựng chính quyền nhân dân, chuẩn bị Kháng chiến.  Ngày 25 tháng 10, ông cùng các ông Nguyễn Tấn Phúc (còn gọi là Nguyễn Văn Phúc), Hồ Tri Tân, Trần Ánh Sáng trong đoàn tù chính trị Côn Đảo được Xứ ủy Nam Kỳ cử về Bà Rịa - Vũng Tàu củng cố tổ chức Đảng và Mặt trận Việt Minh. Lúc này, Bà Rịa - Vũng Tàu đều chưa thành lập Tỉnh ủy, hoạt động của các đảng viên tập trung vào việc xây dựng chính quyền, xây dựng Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể, tuyên truyền và huấn luyện cán bộ. Công tác xây dựng Đảng mới chỉ bắt đầu tập hợp số đảng viên cũ và đưa cán bộ có năng lực nắm giữ các cương vị chủ chốt của chính quyền, lực lượng vũ trang, Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể. Trước hoàn cảnh đó, Trần Xuân Độ phụ trách công tác Đảng, tương đương Bí thư Tỉnh ủy. Với vốn lý luận được học tập trong nhà tù Côn Đảo, Trần Xuân Độ cùng người bạn Nguyễn Tấn Phúc, Phụ trách Mặt trận Việt Minh, đã mở nhiều lớp huấn luyện chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chương trình Việt Minh ở Bà Rịa và Vũng Tàu. Đó cũng là giai đoạn quân và dân Bà Rịa - Vũng Tàu nhà khẩn trương chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái chiếm.

Ngày 10 tháng 12 năm 1945, Hội nghị mở rộng Xứ ủy Nam Kỳ họp tại Đức Hòa, Long An, đã quyết định thành lập Ủy ban Hành chính Kháng chiến miền Nam do ông Cao Hồng Lĩnh (1906-2010), sau là Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng phụ trách Ban Cán sự Đảng ngoài nước, làm Chủ tịch. Hội nghị quyết định chia Nam Bộ thành ba khu: Khu 7, Khu 8 và Khu 9. Khu 7 gồm thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa (Vũng Tàu được sáp nhập vào Bà Rịa). Và cặp bạn tù thân thiết Nguyễn Bình - Trần Xuân Độ được cử làm Khu bộ trưởng (tương đương Tư lệnh) và Chủ nhiệm Chính trị bộ (tương đương Chính ủy).

Mặc dù là Chủ nhiệm Chính trị bộ Khu 7, nhưng thực tế Trần Xuân Độ vẫn ở Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phong trào Kháng chiến ở địa phương. Hội nghị hợp nhất các cơ quan Quân - Dân - Chính - Đảng hai tỉnh Bà Rịa và Vũng Tàu được tổ chức cuối tháng 12 năm 1945, đề ra chủ trương củng cố Đảng và Mặt trận Việt Minh. Mặc dù chưa tuyên bố thành lập Tỉnh ủy, chưa cử ra Ban chấp hành lâm thời, ông vẫn giữ cương vị lãnh đạo cao nhất về công tác Đảng và Mặt trận Việt Minh. Trong cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng, ông thường xuyên kiểm tra hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, giáo dục đạo đức, bồi dưỡng lý luận và phương pháp công tác cho cán bộ.

Những ngày đầu của Kháng chiến tại Bà Rịa - Vũng Tàu xảy ra sự việc Trịnh Ngọc Hiền và Phan Đình Tân phản bội, ra mặt chống phá Cách mạng. Sau khi ổn định bộ máy, Hiền tự xưng là Tổng tư lệnh và tuyên bố nắm quyền quản lý và chỉ huy toàn bộ lực lượng vũ trang trong tỉnh, ra lệnh buộc Ủy ban hành chính phải giao nộp hết vàng bạc và tất cả của cải đã vận động nhân dân đóng góp để mình quản lý và nuôi quân. Trịnh Ngọc Hiền và Phan Đình Tân bí mật tổ chức truy lùng cán bộ Việt Minh thủ tiêu Đảng viên Cộng sản. Đối với nhân dân thì lực lượng này ra mặt cướp bóc trâu bò, lúa gạo, tiền bạc với danh nghĩa là trưng mua bằng giấy viết tay, rồi bắt phụ nữ có nhan sắc đến phục vụ tại Tổng hành dinh. Ngày 10 tháng 1 năm 1946, Trần Xuân Độ về công tác tại Long Điền và bị lực lượng thân binh của Hiền - Tân bắt giam. Tình cờ trong lực lượng thân binh người vốn là công nhân ở Hải Phòng, từng quen biết và kính trọng ông nên đã mở cửa nhà giam lúc nửa đêm cho ông trốn đi.

Trung tuần tháng 2 năm 1946, sau khi Bà Rịa - Vũng Tàu bị thực dân Pháp đánh chiếm, Trần Xuân Độ cùng các Đảng viên trung kiên như Nguyễn Tấn Phúc, Bùi Công Minh, Hồ Thị Trinh, Hồ Thị Tường, Hồ Sỹ Nam, Nguyễn Thị Hồng... về Long Mỹ xây dựng căn cứ Kháng chiến. Tại đây, tháng 3 năm 1946, ông chủ trì Hội nghị Tỉnh bàn về các hoạt động quân sự, xác định nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang là phải bám địa bàn chiến đấu, tổ chức một trận đánh hiệp đồng ở nhiều địa điểm trong tỉnh, đánh địch càn quét, lấn chiếm, vi phạm Hiệp định, nhằm cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân Tỉnh. Cũng tại Hội nghị Cán bộ Tỉnh tháng này, ông tiếp tục được cử đứng đầu Ban lãnh đạo kháng chiến ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Cuối năm đó, ông nhận quyết định chuyển hẳn về công tác tại Bộ Tư lệnh Khu 7. Đầu tháng 10 năm 1946, trên cương vị Chủ nhiệm chính trị bộ Khu 7, ông về Long Mỹ trực tiếp chỉ đạo củng cố chính quyền và các đoàn thể của Bà Rịa - Vũng Tàu, và chủ trị Hội nghị Mặt trận Việt Minh của Tỉnh.

Thời gian ở Bộ Tư lệnh Khu 7, Trần Xuân Độ rất tâm đầu ý hợp với Tư lệnh Nguyễn Bình trên nhiều phương diện. Trong tác phẩm “Nguyễn Bình - Huyền thoại và sự thật”, nhà văn Nguyên Hùng cũng đã nhiều lần nhắc đến ông. Ở Trần Xuân Độ toát lên một thái độ kiên quyết đánh Pháp tới cùng, một thái độ cứng rắn trên cơ sở sự từng trải từ thời kỳ Khởi nghĩa Yên Bái (1930) rằng không đời nào Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam thông qua thương lượng, ngoại giao. Tiêu biểu là chuyện ông phản đối việc gặp gỡ, thương nghị với viên Đại tá Fehler, Chỉ huy trưởng Khu Đông của Pháp, mà thực chất là để thăm do nắn gân Bộ Tư lệnh Khu 7 đồng thời hòa hoãn tạo điều kiện cho Pháp đánh Khu 8 và 9, trong khi các trí thức và chỉ huy như Phạm Thiều, Lê Đình Chi, Võ Bá Nhạc tán thành. Theo Trần Xuân Độ “Thằng Tây là thằng thực dân, muốn nuốt chứ không bao giờ nhả. Nó bày truyện thương lượng với mình là tính cầm chân mình ở Khu 7 để đánh chiếm hai khu 8 và 9. Đó là kế bẻ đũa từng chiếc như anh Nhạc vừa nói. Biết tẩy của chúng rồi, tại sao chúng ta lại đi thương thuyết với chúng làm chi cho mất thời giờ? Với thực dân thì chỉ có đánh với đánh thôi!”. Sau có điện của Trung ương cho biết ý kiến của ông mặc dù là thiểu số, nhưng đúng.

Sau sự kiện trên, Trần Xuân Độ xin Xứ ủy Nam Kỳ cho thôi chức Chủ nhiệm Chính trị Bộ Khu 7, và về Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục công tác cũ, thích hợp với ông hơn. Xứ ủy thấy đề nghị của ông hợp lý, chấp thuận và điều ông Nguyễn Văn Trí (Hai Trí) về thay.

Cuối năm 1948, ông được Trung ương điều ra Bắc. Sau đó dự họp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951) rồi trở về miền Nam, được Xứ uỷ chỉ định làm Thư ký công đoàn miền Tây Nam bộ. Từ tháng 7 năm 1954, kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình lập lại ở Việt Nam và các nước Đông Dương, Trần Xuân Độ tập kết ra Bắc. Năm 1955 ông được chính phủ cử làm Đại sứ (đầu tiên) Việt Nam dân chủ cộng hoà tại nước Cộng hoà nhân dân Triều Tiên. Từ ấy ông chuyển sang hẳn làm công tác ngoại giao cho đến ngày nghỉ hưu. Ông mất ngày 3 tháng 12 năm 1997 thọ 104 tuổi. Hiện nay, tại thành phố Vũng Tàu có một con đường mang tên ông. Cuộc đời của ông đã được khắc họa trong hồi ký "Chiến đấu viên họ Trần" do nhà văn Việt Hùng (Hùng Lí) chắp bút.


Tiêu đề: Lê Văn Sỹ, Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, Chính ủy đầu tiên Khu 8
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Giêng, 2012, 08:36:40 pm
(http://desmond.imageshack.us/Himg210/scaled.php?server=210&filename=levansy.jpg&res=medium)

Liệt sĩ Lê Văn Sỹ (1910 - 1948) từng giữ chức vụ Chính ủy đầu tiên Khu 8. Ngoài ra, ông còn từng là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Xứ Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn.

Ông tên thật là Võ Sỹ, quê ở thôn Minh Tân, xã Đức Minh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1925, ông tham gia tổ chức Công ái xã, và trở thành hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vào năm 1927, tích cực tham gia phát triển Hội tại quê nhà. Tháng 8 năm 1929, ông bị bắt tại nhà lao Quảng Ngãi, rồi lần lượt bị giam tại nhà ngục Quy Nhơn, Kon Tum.

Tháng 10 năm 1931, hết hạn tù, trở về quê hương, ông bắt liên lạc với tổ chức tiếp tục hoạt động khôi phục phong trào cũng như tổ chức Đảng vốn bị chính quyền thực dân phong kiến khủng bố dã man sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Tháng 1 năm 1932, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Tuy nhiên, trong năm này, ông bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ 2, bị đày ra Lao Bảo, rồi Côn Đảo cùng đợt với 2 nhà Cách mạng khác là các ông Võ Thúc Đồng (1914-2007), từng là Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, và Hà Thế Hạnh vào tháng 6 năm 1935.

Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 9 năm 1945, ông được đón về đất liền cùng đoàn tù chính trị Côn Đảo và được phân công ở lại hoạt động ở miền Nam, tham gia Xứ ủy Nam Kỳ trên cương vị Xứ Ủy viên. Thời gian này, ông lấy tên là Lê Văn Sỹ. Đầu tháng 12 năm 1945, khi Khu 8 được thành lập, ông được Xứ ủy chỉ định làm Chính ủy đầu tiên. Khi quân Pháp đánh chiếm được thị xã Sa Đéc, ông cùng Bộ Tư lệnh Khu đưa lực lượng xuống Khu 9 lập chiến khu. Sau đó một thời gian, ông được điều ra miền Trung, rồi ra Bắc vào cuối năm 1946.

Đầu năm 1947, ông cùng đoàn cán bộ vào Nam do ông Lê Duẩn (1906-1986), sau là Tổng Bí thư, dẫn đầu, và được cử giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Lê Văn Sỹ hy sinh tháng 10 năm 1948 trong một cuộc càn quét của quân Pháp vào vùng Láng Le, Vườn Thơm (nay thuộc Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh). Tên ông đã được đặt cho một con đường, một cây cầu, một trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh. Tại thành phố Quảng Ngãi, cũng có một con đường mang tên ông.


Tiêu đề: Hoàng Dư Khương, Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ, Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Giêng, 2012, 10:25:31 pm
(http://img851.imageshack.us/img851/8452/hoangdukhuongcopie.jpg)

Hoàng Dư Khương (2.2.1911 – 13.12.1983) từng giữ chức vụ Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9. Ngoài ra, ông còn từng là : Xứ ủy viên Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, Chủ nhiệm Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ, Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, Phó Bí thư Liên khu Ủy miền Đông Nam Bộ, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy chương 40 năm tuổi Đảng.


Ông tên thật là Hoàng Xan sinh tại xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Trước Cách mạng, sau khi đỗ thành chung, năm 1933, ông thi đỗ vào Trường Bá nghệ Huế. Năm 1935 học xong, năm 1936 ông bắt đầu giác ngộ và tham gia hoạt động Cách mạng trong phong trào Đông Dương Đại hội. Năm 1937, ông chuyển vào Sài Gòn hoạt động trong phong trào công nhân cao su tại đồn điền Dầu Tiếng, rồi xin vào làm công nhân hỏa xa ở ga Tháp Chàm, Bình Thuận. Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và hoạt động trong phong trào công nhân, lao động Sài Gòn – Chợ Lớn.

Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, Hoàng Dư Khương tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở Sài Gòn – Gia Định và được cử vào Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, phụ trách Kỳ bộ Việt Minh. Trong 2 năm 1948 – 1949, ông vào phụ trách Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, rồi được điều về Khu 9 làm Chính ủy Bộ tư lệnh Khu. Năm 1950, khi Nam Bộ được tổ chức lại thành 2 Phân liên khu miền Đông và miền Tây, ông được cử làm Phó bí thư Liên khu miền Đông Nam Bộ cho đến ngày đình chiến (7.1954). Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được phân công ở lại hoạt động tại miền Nam, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ.

Năm 1957, do cơ sở nội thành bị vỡ, ông bị bắt cùng nhiều đồng chí khác. Biết ông là cán bộ lãnh đạo cao cấp ở miền Nam, chính quyền Diệm tìm mọi cách chiêu dụ và mời ông “hợp tác”, nhưng ông cương quyết cự tuyệt. Sau đó, Hoàng Dư Khương bị tra tấn dã man rồi bị đày ra Côn Đảo.

Tại Côn Đảo, ông tham gia lãnh đạo phong trào đấu tranh của tù chính trị, cùng các đồng chí trong nhóm trung kiên kiên quyết chống lại âm mưu « li khai » bất chấp mọi cực hình, đàn áp dã man, chịu đựng mọi đói khát, hành hạ. Cuối cùng, không khuất phục được ý chí của ông, chính quyền Diệm đưa ông vào giam ở Chuồng Cọp nhiều năm khiến hai chân bại liệt không đi lại được.

Sau Hiệp định Paris (1973), ở Côn Đảo nổi lên cuộc đấu tranh đòi thả tù chính trị. Để che giấu tội ác, chính quyền Thiệu lựa chọn một số tù già yếu, bệnh tật, tàn phế đưa về đất liền, rồi tìm cách “phóng thích” chứ không trao trả chính thức như điều đã thỏa thuận trong Hiệp định. Trong số này có Hoàng Dư Khương. Ông bị đưa về sân bay Biên Hòa, thay vì đến sân bay Lộc Ninh (địa điểm trao trả), rồi giữ tại nhà giam Bình Dương, báo cho thân nhân đến nhận. Biết tin này, Khu ủy Sài Gòn – Gia Định đã bố trí cơ sở tìm cách liên lạc đón ông trốn thoát, đưa về căn cứ. Do hai chân bị liệt, sức khỏe suy kiệt, ông được đưa, sau đó, ra Hà Nội tiếp tục điều trị, nhưng không thể nào hồi phục được. Vì lí do sức khỏe suy giảm nghiêm trọng, ông được cho nghỉ hưu.

Sau giải phóng, ông chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sống cùng gia đình, và mất tại đây vào ngày 13 tháng 12 năm 1983. Tên của ông đã được đặt cho một đường và một trường tiểu học ở Đà Nẵng, và được đặt cho một đường tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tham khảo : Danh nhân đất Quảng


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: thainhi_vn trong 21 Tháng Giêng, 2012, 12:33:13 pm
Hôm trước rảnh rỗi ngồi thống kê một số thông tin về các Đại tướng quân đội ta, nay pót lên để mọi người xem chơi. Các thông tin này chỉ tính tới thời điểm pót bài.

Những chi tiết đáng chú ý về các Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam

Về xuất thân

Có 6 người gốc miền Bắc (Văn Tiến Dũng - Hà Nội, Hoàng Văn Thái - Thái Bình, Lê Trọng Tấn - Hà Nội, Nguyễn Quyết - Hưng Yên, Phạm Văn Trà - Bắc Ninh, Phùng Quang Thanh - (Hà Nội), 5 người gốc miền Trung (Võ Nguyên Giáp - Quảng Bình, Nguyễn Chí Thanh - Thừa Thiên Huế, Chu Huy Mân - Nghệ An, Lê Đức Anh - Thừa Thiên Huế, Đoàn Khuê - Quảng Trị). Chỉ duy nhất có 1 người gốc miền Nam (Lê Văn Dũng - Bến Tre).

Hà Nội là địa phương xuất thân nhiều đại tướng nhất (3 người). Kế đó là Thừa Thiên Huế (2 người). Các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Bến Tre, mỗi tỉnh xuất thân một người.

Có 9 người tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam từ năm 1945. Xuất thân nghề nghiệp trước khi gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, có 1 người là trí thức (Võ Nguyên Giáp), 4 công nhân (Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Lê Đức Anh, Nguyễn Quyết), 3 nông dân (Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Đoàn Khuê) và 1 là binh sĩ thuộc địa (Lê Trọng Tấn). Ba người còn lại tham gia sau năm 1945 là Phạm Văn Trà (1953), Lê Văn Dũng (1963), Phùng Quang Thanh (1967) và đều theo binh nghiệp từ năm 18 tuổi.

Về các cương vị trong quân đội

Dưới đây là thống kê những chức vụ chủ chốt trong quân đội do các đại tướng từng nắm giữ

    Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang: 1 người (Võ Nguyên Giáp)
    Bí thư Quân ủy Trung ương: 2 người (Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng)
    Bộ trưởng Quốc phòng: 6 người (Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Phạm Văn Trà, Phùng Quang Thanh)
    Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị: 4 người (Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết, Lê Văn Dũng)
    Tổng Tham mưu trưởng: 8 người (Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Phạm Văn Trà, Lê Văn Dũng, Phùng Quang Thanh)

Có 2 người từng nắm giữ 3 chức vụ chủ chốt là Võ Nguyên Giáp (Tổng tư lệnh, Bí thư Quân ủy, Bộ trưởng Quốc phòng) và Văn Tiến Dũng (Bí thư Quân ủy, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng), 5 người từng nắm giữ 2 chức vụ là Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Phàm Văn Trà, Phùng Quang Thanh (đều cùng nắm giữ Tổng Tham mưu trưởng rồi Bộ trưởng Quốc phòng) và Lê Văn Dũng (Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị). Bốn người còn lại chỉ giữ một chức vụ là Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết (đều là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn (đều là Tổng Tham mưu trưởng).

Về các chức vụ Đảng, tất cả 12 người đều từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó có 8 người được bầu vào Bộ Chính trị, 2 người vào Ban Bí thư.

Đến thời điểm này, có 9 người đã được trao tặng Huân chương Sao vàng, huân chương cao quý nhất của nhà nước Việt Nam. Hai người được trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Về thời điểm thụ phong

Có 3 người được phong trong thời gian Chiến tranh Việt Nam, 5 người được phong trong thời gian xung đột biên giới Phía Bắc và Tây Nam. Bốn người còn lại được phong vào thời bình.

Độ tuổi trung bình của các đại tướng khi thụ phong là 60 tuổi.

Có 9 người được phong tướng trước 1975, trong đó có 5 người thụ phong hàm tướng vượt cấp gồm Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh (thụ phong thẳng hàm Đại tướng), Văn Tiến Dũng, Chu Huy Mân (thăng vượt cấp từ Thiếu tướng lên Thượng tướng) và Lê Đức Anh (thăng vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng).

Các năm 1984, 1990 và 2007 đều có 2 đại tướng được phong trong năm.

Giai đoạn 1984-1986 có nhiều đại tướng tại nhiệm nhất: 6 người (Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Chu Huy Mân, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng Tham mưu trưởng Thứ nhất Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia Lê Đức Anh)

Các kỷ lục cá nhân

    Người nắm giữ chức vụ nhà nước cao nhất: Lê Đức Anh, Chủ tịch nước (1992-1997)
    Người nắm giữ chức vụ quân đội cao nhất: Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và dân quân (1946-1975)
    Người giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên: Võ Nguyên Giáp, nhậm chức ngày 3 tháng 11 năm 1946
    Người giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng lâu nhất: Võ Nguyên Giáp, 32 năm 96 ngày
    Người giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng ngắn nhất: Lê Đức Anh, 4 năm 175 ngày
    Người giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên: Hoàng Văn Thái, nhậm chức ngày 2 tháng 3 năm 1946
    Người giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng lâu nhất: Văn Tiến Dũng, 24 năm 165 ngày
    Người giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng ngắn nhất: Lê Đức Anh, 63 ngày
    Người giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đầu tiên: Nguyễn Chí Thanh, nhậm chức ngày 11 tháng 7 năm 1950
    Người giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị lâu nhất: Nguyễn Chí Thanh, 10 năm 248 ngày
    Người giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị ngắn nhất: Nguyễn Quyết, 3 năm 309 ngày
    Người giữ quân hàm hiện dịch dài nhất: Võ Nguyên Giáp, 43 năm, 204 ngày
    Người giữ quân hàm hiện dịch ngắn nhất: Lê Trọng Tấn, 1 năm, 343 ngày
    Người thụ phong trẻ nhất: Võ Nguyên Giáp, 36 tuổi 148 ngày
    Người thụ phong già nhất: Lê Trọng Tấn, 70 tuổi 352 ngày
    Người có tuổi thọ cao nhất: Võ Nguyên Giáp, 100 tuổi 149 ngày
    Người có tuổi thọ cao nhất còn sống: Võ Nguyên Giáp, 100 tuổi 149 ngày
    Người có tuổi đời nhỏ nhất: Nguyễn Chí Thanh, 53 tuổi 186 ngày
    Người có tuổi đời nhỏ nhất còn sống: Phùng Quang Thanh, 62 tuổi 353 ngày
    Người có nhiều yếu tố nhất: Võ Nguyên Giáp (7 yếu tố)

Mời các bác tham gia bổ sung thêm  ;D


Tiêu đề: Đại tá Bùi Thanh Khiết, Phó Chính ủy Quân khu 7, Quân khu 8
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Giêng, 2012, 04:19:17 am
(http://img194.imageshack.us/img194/381/daitabuithanhkhietcopie.jpg)

Đại tá Bùi Thanh Khiết (Lâm Thanh, 30.12.1924 – 7.1.1984) từng giữ các chức vụ: Trưởng Phòng Chính trị Bộ tư lệnh Khu 7, Trưởng Phòng Chính Bộ Tư lệnh Khu 8, Trưởng Phòng Chính trị Tỉnh đội Long Châu Hà, Phó Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 330, Phó Chính ủy Quân khu 7, Phó Chính ủy Quân khu 8, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Ban liên hợp Quân sự bốn bên tại trại David, Cục phó Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định.

Ngoài ra, ông còn từng là: Khu ủy viên Khu 8, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo kiêm Bí thư Đảng ủy Bộ, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Quốc hội, Trưởng Ban Thư ký, Ủy ban cải cách Giáo dục Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Đào tạo, Bồi dưỡng và Phân phối cán bộ Khoa học Kỹ thuật Trung ương. Ông là Đại biểu Quốc hội Khóa 7, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 4.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)…


Ông quê tại xã Tân An, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, tham gia Quân đội từ năm 1945, chiến đấu tại chiến trường miền Đông và Tây Nam Bộ. Từ năm 1947 đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ Trưởng Phòng Chính trị Bộ tư lệnh Khu 7, Trưởng Phòng Chính Bộ Tư lệnh Khu 8, Trưởng Phòng Chính trị Tỉnh đội Long Châu Hà. Năm 1955, tập kết ra Bắc, ông là Chính ủy Trung đoàn rồi Phó Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 330 – Cửu Long.

Năm 1964, ông trở về miền Nam tham gia đánh Mỹ, trải qua các cương vị Phó Chính ủy Quân khu 7, Phó Chính ủy Quân khu 8 và tham gia Khu ủy Khu 8. Trong các năm 1973 – 1974, ông là Phó trưởng Đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban liên hợp Quân sự bốn bên tại trại David. Trước khi bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông được cử giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tham gia Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, phụ trách khối dân vận.

Đất nước thống nhất, ông chuyển ngành làm giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, rồi được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đạo tạo kiêm Bí thư Đảng Đoàn Bộ vào cuối năm 1976. Tại Đại hội Ban chấp hành Trung ương Đảng Khó 4, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. Đại tá Bùi Thanh Khiết là Đại biểu Quốc hội Khóa 7, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kĩ thuật của Quốc hội (1981). Ngoài ra, ông còn là Trưởng ban Thư ký, Ủy ban Cải cách Giáo dục Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Đào tạo, Bồi dưỡng và Phân phối Cán bộ Khoa học Kĩ thuật Trung ương.

Đại tá Bùi Thanh Khiết mất ngày 7 tháng 1 năm 1984 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tên ông đã được đặt cho một con đường, một trường tiểu học tại thành phố này.


Tiêu đề: Lê Thanh Nghị, Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chính ủy BTL Khu 3
Gửi bởi: panphilov trong 26 Tháng Giêng, 2012, 04:47:37 pm
(http://img191.imageshack.us/img191/6661/lethanhnghi.jpg)

Lê Thanh Nghị (6.3.1911 – 16.8.1989) từng giữ các chức vụ : Ủy viên Ủy ban Quân sự Bắc kỳ - trực tiếp chỉ đạo Khởi nghĩa Vũ trang tại Liên khu 3, Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu 3. Ngoài ra, ông còn từng là : Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ, Bí thư Khu ủy Khu 3, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Khu 3, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp Chính phủ, Trưởng Ban Công nghiệp Trung ương rồi Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Nhà nước.

Ông là Đại biểu Quốc hội từ Khóa 2 đến 7, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Khóa 1 và 2, Ủy viên Trung ương Đảng từ Khóa 2 đến 5, Ủy viên Bộ Chính trị từ Khóa 2 đến 4, Bí thư Trung ương Đảng Khóa 4, Thường trực Ban Bí thư Khóa 4.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng…


Ông tên thật là Nguyễn Khắc Xướng, có tài liệu ghi là Nguyễn Khắc Xứng, sinh ra trong một gia đình Nho giáo lâu đời, giàu truyền thống hiếu học và yêu nước tại làng Thượng Cốc, huyện Tứ Kỳ, nay thuộc xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Ông là hậu duệ đời thứ 13 của tướng Nguyễn Công Nguyên dưới triều vua Lý Nhân Tông. Dòng họ ông thời phong kiến có 5 người đỗ đại khoa là Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Khắc Hải, Nguyễn Trọng Hổ, Nguyễn Địch Giáo, nổi tiếng nhất là Nguyễn Quý Tân, đỗ năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) và thường được gọi là Nghè Tân. Thời hiện đại, bên cạnh Nguyễn Khắc Xướng, dòng họ ông còn có nhà Cách mạng Nguyễn Hới, giác ngộ từ rất sớm, năm 1926 đã tham gia các khóa đào tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu.

Bố ông là cụ Nguyễn Năng Việt (1874 – 1950), thường gọi là Khóa Việt, làm nghề dạy học, mẹ ông là bà Nguyễn Thị Mùi, làm nghề nông. Ông có 8 anh chị em, trong đó có 4 anh em trai là các ông Nguyễn Khoái tức Lê Thành Lập (1904 – 1985) nguyên Ủy viên Chính trị Liên khu 3, Tổng Thư ký Mặt trận Liên việt toàn quốc, Nguyễn Năng Hách (1914 – 1981) nguyên Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Hải Dương trong Kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Thiệu Ước tức Lê Thành Ân. Tất cả anh em ông đều sớm giác ngộ Cách mạng, đều là những cán bộ lãnh đạo đầu tiên, cốt cán của Đảng tại địa phương trước năm 1945, và sau này là những cán bộ cao cấp của Nhà nước và Đảng.

Năm 1927, ông tham gia vào các khóa học do nhóm Việt Nam Cách mạng Thanh, một thời kì vẫn bị gọi nhầm là Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, niên đầu tiên của làng tổ chức tại miếu Cốc do anh trai ông Nguyễn Khoái, khi ấy đóng giả là thầy giáo nên dân làng vẫn gọi là giáo Khoái, và ông Nguyễn Hới tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Sau khi kết thúc khóa học, ông ra Hải Phòng làm thợ điện ở Nhà máy điện Cửa Cấm được một thời gian thì thất nghiệp phải xin ra vùng Mỏ Quảng Ninh làm ở Nhà máy điện Vàng Danh rồi trở về Vàng Danh làm phu mỏ. Tại đây, ông bắt đầu những hoạt động Cách mạng đầu tiên và được kết nạp vào Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1929. Ông tham gia cùng chi bộ, lãnh đạo công nhân đấu tranh với chủ mỏ, đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện đời sống. Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, ông được kết nạp Đảng và lấy tên mới là Lê Thanh Nghị để hoạt động.

Tháng 5 năm 1930, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt, giam tại nhà tù Hải Phòng cùng với các ông Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Lương Khánh Thiện, bị kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo. Năm 1936, Mặt trận bình dân Pháp lên cầm quyền, ân xá tù chính trị ở Đông Dương, ông được trở về quê nhưng vẫn bị quản thúc. Chính quyền khi đó cho ông vào làm bàn giấy ở toà sứ để dễ quản lý, nhưng ông không nhận, mà xin làm ở Nhà máy nước Ninh Giang để có điều kiện hoạt động. Một thời gian sau, ông bắt được liên lạc với tổ chức Đảng, hoạt động bí mật ở Hải Dương và Hải Phòng, xây dựng nhiều cơ sở Đảng, rồi chuyển lên tham gia Thành uỷ Hà Nội.

Cuối năm 1937, Lê Thanh Nghị lại được cử về tiếp hoạt động và xây dựng phong trào ở Hải Dương. Giữa năm 1939, ông được bầu vào Xứ uỷ Bắc kỳ, tham gia Ban cán sự liên tỉnh B (các tỉnh thuộc Khu 3 ngày nay). Đầu năm 1940, ông bị bắt lần thứ hai, bị kết án 5 năm tù, đày đi Sơn La. Đầu năm 1945, ra tù, trở về đúng lúc cao trào cứu nước do Đảng lãnh đạo thông qua Mặt trận Việt Minh dâng cao, ông được chỉ định vào thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ, dự hội nghị ngày 9 tháng 3 của Ban Thường vụ Trung ương mở rộng bàn về chủ trương đánh đuổi phát xít Nhật, thành lập chính quyền Cách mạng, rồi được cử vào Uỷ ban quân sự Bắc kỳ, trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang ở vùng Châu thổ sông Hồng. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông vẫn tiếp tục là Xứ uỷ viên Bắc Kỳ rồi Thường vụ Xứ ủy (1946), phụ trách các tỉnh duyên hải Bắc Bộ.

Toàn quốc kháng chiến, Lê Thanh Nghị được điều về làm Bí thư Khu uỷ Ba, kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Khu, tham gia lãnh đạo các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm kháng chiến. Đầu năm 1948, ông làm Phó Bí thư Liên khu Ba, rồi cuối năm đó được rút lên Việt Bắc giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, rồi cuối năm 1949 lại trở về làm Phó Bí thư Liên khu uỷ khu Ba. Tại đại hội Đảng lần thứ hai (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp làm Bí thư Liên khu uỷ, kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Khu 3 và Chính uỷ Bộ tư lệnh Liên khu Ba. Những năm 1953-1954, ông kiêm luôn Bí thư Thành uỷ Hà Nội. Như vậy, thời kỳ trước Cách mạng, trong Cách mạng và trong Kháng chiến chống Pháp, ông gắn bó với Liên khu Ba và là một trong những lãnh đạo chủ chốt của Đảng ở đây.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, cuối năm 1954, ông làm Chánh Văn phòng Trung ương Đảng và giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (cuối năm 1955). Tháng 10 năm 1956, ông được bầu vào Bộ Chính trị và là Ủy viên Bộ Chính trị liên tiếp 2 Khóa sau đó (3 và 4). Năm 1960, ông là Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp của Chính phủ, kiêm trưởng Ban Công nghiệp Trung ương (1967). Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông phụ trách công tác ngoại giao về việc viện trợ cho Việt Nam.

Từ năm 1974 đến năm 1980, ông tiếp tục làm Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, là Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng (1980). Từ tháng 7 năm 1981 đến tháng 12 năm 1986, ông được Quốc hội bầu làm Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước.

Ông mất ngày 16 tháng 8 năm 1989 tại Hà Nội và được chôn cất tại Nghĩa trang Mai Dịch. Tên ông đã được đặt cho các đường phố tại nhiều địa phương trong cả nước như Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng… Tại Hải Dương quê hương ông, có nhiều trường học mang tên ông, và vào năm 2002, một nhà lưu niệm ông đã được xây dựng trên căn nhà cũ của ông tại làng Thượng Cốc, xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc.

Tham khảo: Trang Thông tin Điện tử tỉnh Hải Dương.


Tiêu đề: Vũ Đình Liệu, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chính ủy Quân khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Giêng, 2012, 04:28:09 am
(http://img692.imageshack.us/img692/3356/vudinhlieu.jpg)

Vũ Đình Liệu (10.8.1918 – 22h 17.6.2005) từng giữ các chức vụ : Tỉnh ủy viên phụ trách Quân sự tỉnh Trà Vinh, Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 9. Ngoài ra, ông còn từng là : Chủ nhiệm Việt Minh huyện Châu Thành, Tỉnh ủy viên tỉnh Trà Vinh kiêm Bí thư Huyện ủy Châu Thành, Ủy viên Thường vụ tỉnh Vĩnh Trà (Vĩnh Long và Trà Vinh), Phó Bí thư Tỉnh ủy bí mật Trà Vinh, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau (Cà Mau và Bạc Liêu), Bí thư Khu ủy Khu 9, Phó Ban Tuyên huấn Trung ương, Bí thư Thành ủy và Chủ tịch Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang (thành phố Cần Thơ và Hậu Giang), Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng), Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 4, 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Ông sinh ra tại xã Đa Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh trong một gia đình có truyền thống yêu nước, nguyên quán tại xã Khánh Tôn, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, tham gia hoạt động Cách mạng từ tháng 7 năm 1945. Trong quá trình tham gia hoạt động Cách mạng, ông còn có các bí danh là Tú Đình và Tư Bình.

Trước năm 1945, ông từng đỗ tú tài và làm nghề dạy học tại quê. Trong Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở quê nhà. Tháng 12 năm 1945, ông gia nhập Quốc gia Tự vệ cuộc (tiền thân của Công an Nam Bộ), rồi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 10 năm 1946. 3.1946 – 10.1947, Phó Chủ nhiệm, rồi Chủ nhiệm Việt Minh huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ; 10.1947 – 9.1948, Huyện uỷ viên huyện Châu Thành ; 9.1948 – 10.1949, cán bộ Ban Tuyên huấn tỉnh Trà Vinh ; 1950 – 1951, Tỉnh uỷ viên kiêm Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Trà Vinh phụ trách Quân sự, rồi phụ trách Tuyên huấn ; 1951 – 1952, Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Châu Thành ; 1952 – 1954, Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Trà (nay là Vĩnh Long và Trà Vinh).

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được phân công ở loại hoạt động bí mật tại miền Nam. Từ năm 1954 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh uỷ bí mật Trà Vinh ; 1957 - 1960, phó Bí thư Tỉnh uỷ, rồi Bí thư Tỉnh uỷ Cà Mau (nay là Cà Mau và Bạc Liêu) ; 1961 – 1975, lần lượt được chỉ định là Liên tỉnh Uỷ viên, rồi Khu uỷ viên, Uỷ viên Thường vụ Khu uỷ và Bí thư Khu uỷ Khu 9, kiêm Chính uỷ Quân khu.

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 ông là phó Ban Tuyên huấn Trung ương rồi uỷ viên Thường vụ Thành uỷ, phó Chủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông được bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp làm phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch Uỷ Ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 3 năm 1979 đến tháng 3 năm 1982, ông chuyển xuống làm Bí thư Tỉnh uỷ Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang). Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 (3.1982), ông tiếp tục được bầu làm uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng), và giữ chức vụ này cho đến khi về hưu tháng 5 năm 1991.

Tên ông đã được đặt cho một trường phổ thông trung học tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, Trường Phổ thông Trung học Vũ Đình Liệu (trước đây là Trưởng Phổ thông Trung học Châu Thành), đồng thời cho một quỹ học bổng khuyến học dành cho sinh viên các tỉnh Trà Vinh và Nam Định.


Tiêu đề: Nguyễn Hùng Phước, Hùm xám miền Tây, Khu bộ phó Khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Hai, 2012, 08:04:32 pm
Liệt sĩ Nguyễn Hùng Phước (1922 ? – 1948), Hùm xám miền Tây, từng giữ các chức vụ : Phụ trách Quân sự trong Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Vĩnh Long trong thời kì Nam Kỳ khởi nghĩa 1940, Khu Bộ phó Khu 9.

Ông sinh năm 1922 tại thành phố Cần Thơ, tham gia hoạt động Cách mạng từ rất sớm, trước năm 1940, tại Bạc Liêu. Tháng 5 năm 1940, ông cùng em trai Nguyễn Hùng Minh được Xứ ủy Nam kì điều vào tham gia chi bộ lãnh đạo của tỉnh lỵ Bạc Liêu làm công tác vận động quần chúng và binh vận, đây cũng là thời kì phong trào Cách mạng gặp khó khăn do bị khủng bố, đàn áp. Một thời gian ngắn, ông cùng em trai lại được điều ra Vĩnh Long, tham gia ban khởi nghĩa, phụ trách quân sự.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Nam Kỳ khởi nghĩa nổ ra, tỉnh trưởng Vĩnh Long theo lệnh của Thống đốc Nam Kỳ cho giới nghiêm một số nơi, không cho binh lính bản xứ ra khỏi trại, các cơ quan trọng yếu, nhà tù được tăng cường canh gác, tổ chức nhiều toán tuần tra và chốt các ngả đường xung yếu. Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo Khởi nghĩa Vĩnh Long quyết định chuyển hướng hành động, cử Nguyễn Hùng Phước cùng Nguyễn Hùng Minh chỉ huy lực lượng đột phá lên bến phà Mỹ Thuận tìm cách phá phà, chặn đường tiến quân của Pháp từ Sài Gòn xuống. Trên đường đi, thấy quân Pháp kiểm soát chặt, ông quyết định không tấn công phà Mỹ Thuận mà chuyển sang lộ 7 (nay là quốc lộ 53) đốt phá cầu Ông Me, cầu Long Hồ gây trở ngại giao thông, rồi kéo vào Nhà việc Long Hồ đốt cháy toàn bộ tài liệu sổ sách, cắt dây điện, dựng chướng ngại vật theo đường, rải truyền đơn truyền lệnh Khởi nghĩa. Đêm 23 tháng 11, ông chỉ huy đơn vị đột nhập vào trụ sở tề xã Phước Hậu, Chánh Hội đốt hết sổ sách, thu 2 súng, tổ chức mít tinh mừng thắng lợi.

Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, Nguyễn Hùng Phước và em trai bị thực dân Pháp bắt giam, kết án tù và bị đày ra Côn Đảo. Tháng 9 năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, ông cùng đoàn tù khoảng 1700 người được chính quyền Cách mạng đón về đất liền. Tối ngày 23 tháng 9 năm 1945, chiếc ca nô « Giải phóng » do ông cùng em trai đích thân cầm lái chở các ông Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Phan Trọng Tuệ… do đi chệch hướng về Cồn Nóc, cửa biển Mỹ Thanh, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Ông Tôn Đức Thắng được Xứ ủy điểu về Ủy ban Kháng chiến miền Nam, ông Phan Trọng Tuệ và hai anh em ông được giữ ở lại trong đó ông Phan Trọng Tuệ được cử làm Chủ nhiệm Chính trị bộ Khu 9, ông là Khu bộ phó, em ông được cử phụ trách Công binh xưởng của Khu. Lúc này, ông Huỳnh Phan Hộ là Khu trưởng, một Khu bộ phó khác là Kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích.

Cùng với Khu bộ trưởng Huỳnh Phan Hộ, Nguyễn Hùng Phước góp phần quan trọng vào việc xây dựng, phát triển, chỉ huy các lựng lượng vũ trang của Khu trong thời kì đầu của Kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, là chỗ dựa vững chắc cho Kháng chiến ở các tỉnh miền Tây, nhất là sau khi tình hình Kháng chiến ở Khu 8 ở khó khăn, bộ chỉ huy và lực lượng chủ chốt ở Khu 8 phải rút xuống Khu 9. Đặc biệt, với tài chỉ huy của mình, ông đã chỉ huy lực lượng xunh kích của Khu 9, với lối đánh táo bạo bất ngờ, khiến cho quân Pháp phải chùn chân. Nhiều trận đánh và một số cán bộ chỉ huy quân sự trong đó có ông đã được nhân dân "huyền thoại hóa" như Khu bộ trưởng Vũ Đức, Khu bộ trưởng Huỳnh Phan Hộ, Khu bộ trưởng Trương Văn Giàu, Trưởng Ban Quân sự tỉnh Bạc Liêu Tào Văn Tỵ, dũng sĩ của Quốc gia tự vệ cuộc tỉnh Cần Thơ Lê Bình... Bản thân Nguyễn Hùng Phước được quân dân miền Tây gọi là « Hùm xám miền Tây », chi đội xung kích do ông trực tiếp chỉ huy được mệnh danh là « Chi đội Hùm xám », các chiến sĩ của ông được gọi là « Những con Hùm xám ». Năm 1948, chi đội ông là cơ sở để hình thành lên Tiểu đoàn 308 chủ lực của Khu.

Sau khi Khu trưởng Huỳnh Phan Hộ hy sinh, đến lượt Nguyễn Hùng Phước hy sinh vào năm 1948 khi đang trực tiếp chỉ huy một trận đánh. Tên của ông đã được đặt cho một con đường tại thành phố Sóc Trăng.


Tiêu đề: Nguyễn Văn Trấn, Đại biểu Quốc hội Khóa 1, Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Hai, 2012, 06:36:49 pm
(http://desmond.imageshack.us/Himg535/scaled.php?server=535&filename=nguyenvantran.jpg&res=medium)

Nguyễn Văn Trấn (Bảy Trấn, 21.3.1914 – 1.5.1998) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm Chính trị bộ (Phó Chính ủy) rồi Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9.

Ngoài ra, ông còn từng là : Tỉnh ủy viên tỉnh Chợ Lớn, Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, Ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ và Sài Gòn, Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc (Công an) Nam Bộ, Bí thư Khu ủy Khu 9, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng, Vụ trưởng Vụ Thủ tướng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Ban Tuyên giáo Trung ương, Vụ trưởng Vụ Giáo dục (phổ thông) Ban Khoa giáo Trung ương, Ủy viên Ủy ban Thống nhất Quốc hội. Ông là Đại biểu Quốc hội Khóa 1 đến Khóa 4 ( ?).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất…


Ông sinh tại ấp 6, làng Tân Nhựt, Chợ Đệm, huyện Bình Chánh, tỉnh Long An, tức quận Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, trong một gia đình địa chủ khá giả. Năm 1927, ông lên Sài Gòn theo học tại Trường Pétrus Ký (giờ là Trường PTTH Lê Hồng Phong) và đỗ tú tài phần nhất năm 1930. Do ảnh hưởng bởi tư tưởng của các cụ Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, ông quyết định thôi học và tham gia vào các hoạt động yêu nước và dân chủ.

Thời gian này, ông bắt đầu đến với làng báo, cộng tác và viết cho các tờ báo tiến bộ tại miền Nam lúc bấy giờ như Chuông rè, Tranh đấu, Vô sản… do các ông như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Dương Bạch Mai… lãnh đạo. Nhờ tiếp xúc với những người cộng sản thuộc cả Quốc tế 3 và 4, ông bắt đầu giác ngộ lí tưởng Cộng sản và dấn thân vào phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, đòi quyền dân tộc, dân chủ và dân sinh.

Có lẽ ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất tới ông thời kì này là hai ông Nguyễn Văn Tạo (1908 – 1970) và Nguyễn Văn Trân (1908 - ?), chính hai ông, những người Cộng sản thuộc Quốc tế 3, là những người dìu dắt ông nghiệp vụ làm báo cũng như tham gia vào các hoạt động Cách mạng do Đảng lãnh đạo. Cả hai ông Nguyễn Văn Tạo và Nguyễn Văn Trân đều có thời gian dài du học tại Pháp, đều tham gia vào phong trào đấu tranh do Đảng Cộng sản Pháp (ĐCS-P) lãnh đạo, đều là những Đảng viên ĐCS-P.

Ông Nguyễn Văn Tạo từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương ĐCS-P phụ trách các vấn đề thuộc địa, từng tham gia Đoàn Đại biểu ĐCS-P tham gia Đại hội 6 Quốc tế Cộng sản tại Liên Xô diễn ra từ ngày 7 tháng 7 đến 1 tháng 9 năm 1928. Sau này, ông từng là Đại biểu Quốc hội từ Khóa 1 đến Khóa 3 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) và là Trưởng Ban Thống nhất Quốc hội.

Còn ông Nguyễn Văn Trân từng được cử vào Đoàn Đại biểu ĐCS-P tham dự lễ kỉ niệm 10 Cách mạng tháng 10, có vinh dự có mặt trong bàn chủ tịch và được yêu cầu giới thiệu về Việt Nam trước toàn thể đại biểu nhiều nước. Ông có thời gian theo học tại Trường Phương Đông của Quốc tế Cộng sản tại Mátx-cơ-va cùng khóa với nhiều tên tuổi của Cách mạng Việt Nam như các ông Nguyễn Thế Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Trần Phú, Bùi Lâm, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai, Trần Đình Long, Bùi Ái. Ông từng phụ trách nhóm giang hồ Bình Xuyên của thầy nghề võ Nguyễn Văn Mạnh (Tám Mạnh) đưa nhóm này tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa và Nam Bộ kháng chiến, và sau Cách mạng từng giữ chức Chủ tịch tỉnh Chợ Lớn.

Nguyễn Văn Trấn tìm gặp Nguyễn Văn Trân vào khoảng năm 1933 để xin bồi dưỡng về chính trị. Lúc này, ông Trân, đã được Quốc tế Cộng sản phái về nước hoạt động từ mùa hè năm 1930, đang bị thực dân Pháp cầm cố tại gia, ngoài mặt thì cùng ông Nguyễn An Ninh đi bán dầu cù là, thực chất vẫn âm thầm hoạt động, tham gia đào tạo cán bộ cho Xứ ủy Nam kỳ và giúp đỡ ông Nguyễn Văn Tạo vừa chân ướt chân ráo về nước, chưa có chỗ đứng. Nhân dịp này, ông Nguyễn Văn Trân cũng giới thiệu Nguyễn Văn Trấn với ông Tạo để dìu dắt trở thành nhà báo tài năng. Ngờ đâu, ông Tạo với ông lại là họ hàng xa. Sau đó, được sự giới thiệu của hai ông Trân và Tạo, Nguyễn Văn Trấn qua Liên Xô và được nhận vào học tại Trường Đại học Phương Đông, rồi về nước vào khoảng đầu năm 1935, đúng vào thời kỳ của Mặt trận Dân chủ và Đông Dương đại hội.

Về nước, Nguyễn Văn Trấn tiếp tục viết cho các báo công khai do Đảng lãnh đạo trong Mặt trận Dân chủ như Tiền Phong (ra đời tháng 5 năm 1937) do ông Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo, Dân chúng do ông Dương Bạch Mai làm chủ nhiệm. Đặc biệt, ngày 22 tháng 7 năm 1938, Đảng lại xuất bản thêm tờ Dân chúng tiếng Việt với sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, tuy lấy danh nghĩa là “cơ quan lao động và quần chúng” nhưng thực chất đây tờ báo của Trung ương Đảng. Ông tham gia biên soạn tờ báo này cùng các ông bà Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Thị Lựu…, và là một trong những người tích cực đem báo chí của Đảng, nhất là tờ Dân chúng về phổ biến ở tỉnh Chợ Lớn.

Giai đoạn 1936 – 1939, cũng là giai đoạn Đảng tranh thủ Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền đẩy mạnh việc khôi phục, phát triển lực lượng vốn bị thiệt hại nằng nề sau cao trào 1930 – 1931. Những đảng viên trẻ trí thức trưởng thành từ quần chúng cảm tình giai đọan 1930 – 1931, có trình độ và năng lực như Nguyễn Văn Trấn trở thành những vốn quý. Bên cạnh việc đấu tranh trên mặt trận báo chí công khai, ông còn tham gia vào việc lãnh đạo phong trào, tham gia vào Tỉnh ủy Chợ Lớn. Vì chưa bị lộ, lúc này, ông hoạt động công khai. Gia đình ông ở Chợ Đệm trở thành nơi qua lại, chỗ hội họp của các lãnh đạo Tỉnh ủy, rồi sau này là Xứ ủy Nam Kỳ.

Đặc biệt, tháng 8 năm 1936, tại nhà ông diễn ra cuộc họp quan trọng của Tỉnh ủy Chợ Lớn, có tính quyết định đối với phong trào Cách mạng của tỉnh trong thời kỳ mới. Buổi họp có mặt các ông Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Văn Tiếp, Trương Văn Bang, Trương Văn Nhâm, Trương Văn Khải, Trần Chí Nam, Chung Văn Năm, Nguyễn Thị Một… bàn và thành lập Ủy ban hành động của tỉnh do ông Nguyễn Văn Trân, ủy viên Ủy ban Hành động Trung ương kiêm nhiệm Chủ tịch, các ủy viên: Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Văn Tuôi, Trần Chí Nam, Một Thế, Bảy Vồ, Lê Văn Ngà, Chung Văn Năm, Nguyễn Văn Nhâm, Nguyễn Văn Tốt,..., và ông.

Đến đây xin nói thêm, báo Dân chúng thời kỳ đó đã làm một cuộc Cách mạng báo chí là không xin phép nhà cầm quyền Pháp. Ðây là vấn đề pháp lý rất tinh tế. Luật báo chí bên Pháp quy định không cần phải xin phép. Báo mới ra chỉ cần nạp bản và lo đủ thủ tục như trình báo rõ tên báo, tên người quán lý cùng địa chỉ. Nhưng chính quyền thực dân cầm quyền sợ dân thuộc địa hưởng quyền tự do báo chí như dân bên nước mình nên họ ra sắc lệnh phải xin phép mới được in báo. Luật sư nổi tiếng Phan Văn Trường từng hành nghề mấy chục năm ở Pháp gợi ý cứ việc ra báo mà không cần xin phép vì theo tinh thần luật pháp thì một sắc lệnh của Toàn quyền Ðông Dương không thể qua mặt được một đạo luật do Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất của Pháp vạch ra.

(còn nữa)


Tiêu đề: Nguyễn Văn Trấn, Đại biểu Quốc hội Khóa 1, Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9 (P-II)
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Hai, 2012, 12:31:39 am
(tiếp theo và hết)

Lo ngại ảnh hưởng của tờ Dân chúng, ngày 7 tháng 3 năm 1939, mật thám Pháp ập vào khám xét tòa soạn. Mặc dù không tìm ra chứng cứ phạm pháp nào, mật thám cũng bắt ông cùng với những thành viên cốt cán khác như Nguyễn Văn Kỉnh, Trần Văn Kiết… Trong phiên tòa xét xử ông cùng các đồng chí của mình đã cho người dân Sài Gòn thấy và bị chinh phục thái độ đường hoàng, hiên ngang, tự bào chữa bằng lập luận đanh thép, dõng dạc bác bỏ từng lời buộc tội trong bản cáo trạng của viên biện lý người Pháp. Tuy nhiên, các ông vẫn bị kết án, ông cùng ông Nguyễn Văn Kỉnh bị giam một thời gian ngắn rồi thả, riêng ông Trần Văn Kiết bị đưa lên khám lớn ở Sài Gòn giam rồi lại tiếp tục bị đưa tới căng Tà Lài (9.1939).

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Nam Kỳ Khởi nghĩa nổ ra. Ở Trung Quận, Chợ Lớn, trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, nhiều lãnh đạo Quận ủy bị bắt, bị lộ. Với vị trí là “quận châu thành” duy nhất của Chợ Lớn, có đường huyết mạch nối thẳng vào thành phố, ngoài nhiệm vụ khởi nghĩa tại chỗ, Xứ ủy chỉ đạo phải đưa 200 quân vào thành phố, phối hợp với 300 quân của Bà Điểm – Hóc Môn đánh Khám Lớn (lực lượng Trung Quận) và chiếm khu Tòa án (lực lượng Hóc Môn – Bà Điểm). Nguyễn Văn Trấn được Tỉnh ủy và Xứ ủy cử về trực tiếp lãnh đạo cùng với các ông Dương Công Nữ, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Văn Nhâm, Nguyễn Văn Hoành, Lê Công Phép, Nguyễn Văn Thép …

Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại và bị đàn áp dã man, lại thêm Nhật tiến sát biên giới Việt Trung tiến quân vào Đông Dương, do đó Pháp tăng cường truy quét các phần tử nguy hiểm cho an ninh trật tự của người Pháp. Những người ghi tên vào sổ đen đều bị bắt, trước nhất là những người làm chính trị, đặc biệt là Cộng sản. Kế đến là các giáo phái làm chính trị như Cao Ðài, Hòa Hảo. Sau cùng tới các tay du đãng, giang hồ. Trước tình hình này, Nguyễn Văn Trấn phải tạm lánh về vùng rừng miền Đông Nam bộ, đó là khu vực Bến Tranh, Dầu Tiếng. Tại đây, ông gặp và kết giao thân thiết với hai tay giang hồ vừa mới từ Côn Đảo về lẩn trốn, đó là Bảy Viễn và Mười Trí, những thủ lĩnh của Bình Xuyên sau này. Người dân Bến Tranh không biết ba ông là ai, chỉ quen gọi họ lần lượt là thầy Năm Dầu Tiếng, thầy Tư Hoảnh-xăng và ông Năm Mắm. Chính nhờ mối thân giao này, sau này, tháng 5 năm 1948, ông được Tư lệnh Nguyễn Bình giao cho công việc thuyết khách Bảy Viễn, khuyên Bảy Viễn về Nam Bộ nhận chức Khu bộ trưởng Khu 7 mà không theo Tây. Và cũng theo Bảy Viễn thì chính Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Văn Trân và Trần Văn Giàu là những người có tác động lớn khiến ông này và Mười Trí đi theo Cách mạng.

Sau vụ Bảy Viễn và Mười Trí gây ra vụ cướp táo bạo bằng ô-tô chủ Sở Cao su Dầu Tiếng gần ngân hàng ngay Sài Gòn mà giới báo trí thời bấy giờ cho rằng giống như đánh cướp phóng xe kiểu Hoa Kỳ, mật thám Pháp dò ra tung tích của hai người này. Mười Trí nhanh chân trốn được về Sài Gòn, Bảy Viễn và Nguyễn Văn Trấn bơi qua sông trốn. Tuy nhiên, không cần mất nhiều thời gian, mật thám bắt được Bảy Viễn và Mười Trí, mặc dù không liên quan gì đến vụ cướp, tuy nhiên do sợ bị lộ, ông tiếp tục chạy về vùng rừng núi Nam Trung bộ, khu vực núi Laba, động Bàn Tiên, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tạm lánh.

Tại khu vực động Bàn Tiên, ông cùng với hai người Cộng sản lánh nạn khác gặp gỡ lập lên một nhóm 3 người, mà ông là Tam ca, dưới vỏ bọc một « đạo » để che mắt mật thám Pháp, chờ thời. Hai người Cộng sản kia là Đại ca Hành (nổi tiếng với biệt tài bắn súng), Nhị ca Tươi. Sau này, họ đều trở thành những lãnh đạo cốt cán của lực lượng an ninh, vũ trang Sài Gòn, Chợ Lớn trong và sau Cách mạng tháng Tám 1945.

Năm 1944, tình hình tạm yên, Nguyễn Văn Trấn trở về Chợ Lớn tìm cách móc nối với tổ chức Đảng để tiếp tục hoạt động. Đây là thời kì Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 sắp kết thúc, Đảng chủ trương đẩy mạnh khôi phục và phát triển lực lượng bị tổn thất nằng nề sau sự kiện 1940, chuẩn bị sẵn sàng tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Ông gặp Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu và được bổ sung vào Xứ ủy là Xứ ủy viên phụ trách các tỉnh miền Đông và một số trọng điểm tại Sài Gòn – Chợ Lớn đồng thời tiếp tục là Tỉnh ủy viên Chợ Lớn. Bên cạnh đó, ông cùng với ông Trần Văn Giầu là những người tiên phong của Xứ ủy nhận trách nhiệm trí vận, và góp phần đáng kể vào sự thành công vận động tầng lớp trí thức Nam Bộ ủng hộ và tham gia Cách mạng giành độc lập dân tộc. Theo Hồi ký Trần Văn Giầu là trong Xứ ủy lúc đó, chỉ có hai ông là tự tin và « dám » tiếp xúc với giới trí thức.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (3.9.1945), tình hình Cách mạng diễn ra hết sức khẩn trương và mau lẹ. Nguyễn Văn Trấn được phân công vào Xứ ủy tiền phong chỉ đạo khởi nghĩa, đặc biệt là Sài Gòn – Chợ Lớn và các khu vực lân cận. Ngày 15 tháng 8, Xứ ủy quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa mà đại diện có cả những Đảng viên và trí thức, thanh niên. Ông và ông Trần Văn Giàu cũng được phân công vào Ủy ban này đại diện cho những người Cộng sản. Từ ngày 16 đến ngày 22, trong vòng chưa đầy một tuần, Xứ ủy tiến hành ba cuộc họp lịch sử tại Chợ Đệm, tại và gần nhà ông, để bàn về thời điểm cũng như kế hoạch khởi nghĩa. Về sau, những người nghiên cứu lịch sử vận gọi đây là ba lần hội nghị chợ Đệm, vào các ngày 16, 20 và 22 tháng 8, và cả ba đều do Nguyễn Văn Trấn lo liệu. Bên cạnh đó, ông còn được Xứ ủy phân công về Chợ Lơn, phối hợp với Tỉnh ủy chỉ đạo chuẩn bị sẵn sàng đưa quần chúng và lực lượng vũ trang vào Sài Gòn hỗ trợ cho lực lượng tại chỗ.

Sau khi Khởi nghĩa giành chính quyền thành công tại Sài Gòn, ngày 26 tháng 8 năm 1945, Quốc gia tự vệ cuộc (tiền thân của Công an Nam Bộ) được thành lập trực thuộc Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ. Nguyễn Văn Trấn lúc ấy đang là thành viên của Ủy ban được chỉ định làm Giám đốc, đảm trách nhiệm tổ chức và xây dựng lực lượng này từ người bên Tổng Công đoàn. Tham gia lãnh đạo và xây dựng lực lượng Công an Nam Bộ khi ấy còn có Đại ca Hành và Nhị ca Tươi của ông.

Ngày 1 tháng 6 năm 1946, cả nước đi bầu Quốc hội Khóa 1 của nước Việt  Nam Dân chủ Cộng hòa, Nguyễn Văn Trấn trúng cử Đại biểu Quốc hội khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn. Cùng năm này, khi Bộ Tư lệnh Khu 9 được thành lập do ông Huỳnh Phan Hộ là Khu trưởng, ông Phan Trọng Tuệ làm Chủ nhiệm Chính trị bộ (Chính ủy), ông được cử xuống miền Tây làm Phó Chủ nhiệm Chính trị bộ. Ngày 26 tháng 5 năm 1948, Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ họp hội nghị lịch sử tại Nhơn Hòa, Hòa Lập có đầy đủ ban Thường vụ gồm các ông Phạm Ngọc Thuần, Nguyễn Bình, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Thành Vĩnh, Kha Vạn Cân, Lê Quẩn, Diệp Ba, Lê Ðình Chi, Trịnh Ðình Trọng, Phan Văn Chương, và đại diện Bình Xuyên Lê Văn Viễn (Bảy Viễn), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Trần Văn Ðối, Nguyễn Văn Hoạnh. Ông và Khu phó Khu 7 Huỳnh Văn Nghệ cũng được mời dự, riêng ông với ông Diệp Ba được chỉ định làm thư ký. Hội nghị đề bạt Bảy Viễn làm Khu bộ trưởng Khu 7 và kéo ông về làm Chủ nhiệm Chính trị bộ Khu 7. Tuy nhiên, ông đã từ chối và sau đó có vụ việc Bảy Viễn nhập thành theo Tây. Thời gian ở Khu 9, ông tiếp tục tham gia viết báo và lãnh đạo báo chí Khu.  

Khoảng cuối năm 1948, khi ông Phan Trọng Tuệ về Sài Gòn – Chợ Lớn nhận nhiệm vụ mới, Nguyễn Văn Trấn lên làm Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9. Năm 1950, ông là một trong những đại diện của Xứ ủy Nam Bộ lên đường ra Bắc dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 lịch sử. Sau Đại hội, ông được giữ lại công tác tại Trung ương làm Phó Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông là Vụ trưởng thuộc Phủ Thủ tướng, chuyển sang công tác giảng dạy tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc một thời gian, rồi lên Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng giữ chức Vụ trưởng Vụ trưởngVụ Giáo dục. Ngày 15 tháng 2 năm 1968, Ban Tuyên giáo Trung ương chính thức chia Ban, phân công 16 cán bộ chuyển sang làm việc ở Ban Khoa giáo Trung ương, trong đó có ông giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Giáo dục (phổ thông) Ban Khoa giáo Trung ương. Ngày 30 tháng 4 năm 1963, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá 2, Ủy ban Thống nhất Quốc hội được thành lập, Nguyễn Văn Trấn được bầu làm thành viên của Ủy ban này cho đến năm 1974. Thời gian ở miền Bắc, ông tiếp tục là Đại biểu Quốc hội của tỉnh Sài Gòn – Chợ Lớn. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông chuyển vào Nam sinh sống tại quê nhà.

Sau khi về hưu, Nguyễn Văn Trấn cộng tác với nhiều báo, tiếp tục viết bài, đồng thời viết nhiều sách khảo cứu, tự thuật. Có thể kể đây một số tác phẩm của ông như : Chúng tôi làm báo (1977), Chợ Đệm quê tôi (1985), Chuyện trong vườn Lý (1988), Lô-gíc vui (Nhà xuất bản Sự thật 1992), Trương Vĩnh Ký, con người và sự thật (1994). Khi Báo tuổi trẻ cười ra đời, theo gợi ý của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt ông được mời làm cố vấn bởi ông có một thời gian viết báo châm biếm thực dân Pháp ở Khu 9. Chính ông là người nghĩ ra nhân vật Hai Cù Nèo, và định ra phong cách cho nhân vật này. Mặc dù sau này nhân vật Hai Cù Nèo còn do nhiều người khác viết, nhưng tất cả mọi người đều cố bám theo phong cách cũng như cách hành văn của ông.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: quankhu9 trong 16 Tháng Hai, 2012, 03:18:13 pm
Nhờ bác panphilov  kiếm dùm tư liệu ông : Đại tá Đặng văn Tố ( Đặng Thanh Cao ) từng giữ chức phó tư lệnh quân khu 8 1971-1973
Thank


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Hai, 2012, 12:53:04 am
Nhờ bác panphilov  kiếm dùm tư liệu ông : Đại tá Đặng văn Tố (Đặng Thanh Cao) từng giữ chức phó tư lệnh quân khu 8 1971-1973.Thank

Chào bác quankhu9. Rất xin lỗi bác là em không sưu tập được tư liệu nào về Đại tá Đặng Văn Tố. Em sẽ hỏi, nếu có thông tin gì thì sẽ trả lời bác sau. Tiện đây, bác có thể cho em hỏi là tại sao bác quan tâm đến cụ Tố, liệu bác có quan hệ gì với cụ không ạ?



Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: quankhu9 trong 17 Tháng Hai, 2012, 08:15:49 pm
Nhờ bác panphilov  kiếm dùm tư liệu ông : Đại tá Đặng văn Tố (Đặng Thanh Cao) từng giữ chức phó tư lệnh quân khu 8 1971-1973.Thank

Chào bác quankhu9. Rất xin lỗi bác là em không sưu tập được tư liệu nào về Đại tá Đặng Văn Tố. Em sẽ hỏi, nếu có thông tin gì thì sẽ trả lời bác sau. Tiện đây, bác có thể cho em hỏi là tại sao bác quan tâm đến cụ Tố, liệu bác có quan hệ gì với cụ không ạ?




Chào bác panphilov mình là cháu nội của ông , nhưng hiện nay mình không có tư liệu nhiều về ông
Rất mong được bác giúp đỡ
Thank!



Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: quankhu9 trong 17 Tháng Hai, 2012, 08:35:02 pm
Gỏi bác panphilov tham khảo
Các bác có nhìn thấy các quyết định như vậy chưa
(http://ni2.upanh.com/b3.s25.d1/55f4f084b0a1475b2004a033cc601bcd_41028052.ongnoi3.jpg)
(http://ni2.upanh.com/b4.s15.d1/5934bf5857409ae22dccc90ee81353e3_41026902.ongnoi1.jpg)
(http://ni5.upanh.com/b2.s25.d2/c227d2cfdad188e0320f019cc82ee627_41028355.ongnoi4.jpg)
 
Hình ảnh Chiến dịch biên giới tây nam
(http://ni8.upanh.com/b6.s24.d1/65b119ba08fc8df7d567d9e6b0ce1fc0_41027588.ongnoi21.jpg)


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Hai, 2012, 09:45:07 pm
Chào bác quankh9. Trong những tài liệu bác gửi, em nhận ra một số cụ sau đây:

- Nguyễn Văn Thạnh (Mười Thi) - sau là Trung tướng, Chính ủy Quân khu 9.
- Lê Minh Đào (Ba Đào) - sau là Đại tá, Phó Tư lệnh Quân khu 8.
- Trần Độ (Chín Vinh hay Trần Quốc Vinh) - sau là Trung tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội.
- Dương Cự Tẩm (Dương Thanh) - sau là Trung tướng, Chính ủy Quân khu 7.

Cụ Trần Dân Tiên thì em không có nhớ. Trong những cụ trên, thì hiện chỉ có 2 người còn sống đó là cụ Thạnh và cụ Tẩm. Bác có thể liên hệ với hai cụ để tìm hiểu thông tin về ông nội bác. Địa chỉ thì em gửi trong hòm thư cá nhân của bác. Nếu có gì bác hồi âm lại, mình sẽ lại liên hệ với người khác để hỏi.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: quankhu9 trong 18 Tháng Hai, 2012, 08:50:54 am
Ông Ba Đào đã mất rồi bạn ạ!

Thêm Tư liệu
(http://ni8.upanh.com/b2.s24.d2/5a38df2e47f037fbb860cb8732ed659a_41037778.ongnoi6.jpg)
(http://ni8.upanh.com/b4.s3.d1/c212bdfd12563f5731dd900c26a9797e_41037818.ongnoi7.jpg)


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: quankhu9 trong 18 Tháng Hai, 2012, 09:18:14 am
(http://ni2.upanh.com/b5.s15.d1/9f490cca02d11fc455ac9309e5980a19_41051972.ongnoi112.jpg)

Đại Tá Đặng Văn Tố ( 22/04/1922 - 30/11/2000 )


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Đệ, vị tướng của Chiến trường Vĩnh Trà, Tư lệnh QK 9
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Hai, 2012, 06:19:39 am
(http://desmond.imageshack.us/Himg526/scaled.php?server=526&filename=trungtuongnguyende3.jpg&res=medium)

Trung tướng Anh hùng Nguyễn Đệ (Ba Trung, 1928 – 1998) từng giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng Quân khu 9, Chỉ huy phó rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận Vĩnh Trà, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 339, Tư lệnh Mặt trận 797, Tư lệnh Quân khu 9. Ngoài ra, ông còn từng là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa 7.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (2 Nhất, 1 Nhì, 1 Ba), Huân chương Chiến công (6 Nhất, 1 Nhì, 2 Ba), 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất,…, Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân năm 1998.

Trung tướng (1988).


Ông sinh ra tại xóm Bàn Thạch, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nông dân nghèo. Chưa đầy 4 tuổi, mồ côi cha, 3 năm sau, mẹ đi bước nữa rồi theo chồng vào Nam sinh sống để lại ông ở quê nhà. 7 tuổi, ông đã phải đi ở đợ cho một gia đình hào phú trong làng, trông con rồi chăn bò cho họ, chịu nhiều đắng cay, tủi nhục, đói rách và thường xuyên bị đánh đập, đông thì ngủ chuồng bò trông trộm, rồi có lúc phải ăn cám lợn. Thời gian đi ở đợ, ông nhiều lần chịu không được, bỏ trốn ra chợ ăn xin và đều bị bắt lại.

Đi ở nhà người được 4 năm, mẹ ông từ miền Nam trở về, gom góp trả cho chủ nhà 30 đồng chuộc con, rồi đưa ông vào Sở Cao su Bình Ba tại Xuân Lộc (nay là huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai). Tại đây, mới chỉ hơn 10 tuổi, ông đã phải sống cuộc sống cực khổ của đời phu đồn điền. Năm 13 tuổi, chịu không nổi, mẹ con ông phải chạy trốn lên Sài Gòn kiếm sống. Mẹ thì làm nghề gánh nước mướn và bán chè rong, còn ông thì đi bán báo và bán kem dạo. Cuộc sống ở Sài Gòn cũng không dễ dàng gì, mẹ con ông lại chạy về huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa (nay là tỉnh Đồng Nai). Ở đây, mẹ ông phải đi ở đợ, còn ông, chưa đầy tuổi 15, được nhận vào làm cho một tiệm may. Nhờ thông minh, cần cù và chịu khó học hỏi, một năm sau, ông đã trở thành thợ may giỏi và được người chủ tiệm tốt bụng giúp mở tiệm riêng. Tiệm may ngày càng đắt khách, từ đây cuộc sống của hai mẹ con ông trở lên dễ chịu hơn.

Tháng 4 năm 1945 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Nguyễn Đệ, đưa ông đến với con đường Cách mạng giải phóng dân tộc. Lúc bấy giờ, có một người tên Phú, thủ lĩnh Thanh niên Tiền Phong tại Long Thành, tìm đến vận động ông gia nhập. Lúc đầu, ông được giao nhiệm vụ rải truyền đơn, rồi làm liên lạc cho Mặt trận Việt Minh huyện. Do tích cực, hăng hái trong hoạt động, ông được tham dự lớp bồi dưỡng chính trị, rồi được cử làm thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong xã Phước Thiềng của huyện Long Thành. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, ông chỉ huy đoàn biểu tình của huyện tiến về Sài Gòn tham gia Tổng khởi nghĩa.

Cách mạng tháng Tám vừa mới thành công, thực dân Pháp núp bóng quân Anh trên danh nghĩa Đồng minh quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Nguyễn Đệ được cấp trên phân công tuyển chọn lực lượng thanh niên làm nòng cốt cho việc thành lập Vệ Quốc đoàn, tổ chức vũ trang đầu tiên của huyện Long Thành. Đầu năm 1946, ông được cử xuống Bà Rịa xin viện binh, trong khi quân Pháp đánh phá và bao vây hết các ngả đường. Không thể trở về Long Thành, ông xin gia nhập Vệ Quốc đoàn Bà Rịa – Vũng Tàu và chiến đấu tại đây. Là đội trưởng Đội Quyết tử, trong một lần đột nhập vào vùng địch hậu, ông bị sa vào tay quân Pháp. Bất chấp mọi hình thức tra tấn dã man, ông nhất mực không khai dù có lúc cái chết đã cận kề. Không thể khai thác được gì, quân Pháp thôi tra tấn nhưng vẫn giam giữ ông trong ngục. Trong một đêm tối trời, ông và hai người bạn tù vượt ngục.

Cuối năm 1946, Nguyễn Đệ tham gia đoàn được cử ra Bắc theo học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây, đồng thời chuyển một số tài liệu quan trọng ra Trung ương. Đoàn của ông theo đường Tây Nguyên rồi vượt dãy Trường Sơn ra Bắc. Trên đường hành quân, ông và đồng đội còn có nhiệm vụ tổ chức, giúp đỡ nhân thành lập chính quyền Cách mạng tại những nơi mà đoàn đi qua, đồng thời vận động và tổ chức thành lập các trạm giao liên nối liền tuyến hành lang khoảng 300 km từ Ninh Thuận đến Khánh Hòa. Trong chuyến ra Bắc lần này, ông bị thương nặng vào tay bởi một mũi tên tẩm thuốc độc lúc bị phục kích, lạc đồng đội, phải một mình trong rừng sâu nhiều ngày liền, rồi kiệt sức do đói lả và vết thương làm thối thịt trước khi được một gia đình người dân tộc cứu sống. Đây cũng là thời điểm Toàn quốc Kháng chiến bắt đầu nổ ra, Kháng chiến chống Pháp lan rộng khắp cả nước, ông ở lại Phú Yên trực tiếp tham gia chiến đấu.

Tháng 5 năm 1947, do tình hình thay đổi, Nguyễn Đệ từ Phú Yên được lệnh trở về Nam Bộ để nhận nhiệm vụ mới Đội trưởng kiêm Chính trị viên Đội Biệt động, Vũ trang và Tuyên truyền tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sau một tháng thành lập, Đội do ông chỉ huy tổ chức đánh trận đầu và diệt gọn tiểu đội tuần tiễu của Pháp. Từ năm 1947 đến năm 1954, với nhiều cương vị khác nhau, ông đã chỉ huy các đơn vị tham gia nhiều trận đánh trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tham gia góp phần đánh bại chiến thuật tháp canh De Latour của quân Pháp.

Năm 1954, sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Nguyễn Đệ lên đường ra miền Bắc tập kết, rồi sau đó được cử đi học tại Trường Sỹ quan Lục quân tại Quế Lâm, Trung Quốc. Rời trường trở về nước, ông được giao làm Chính trị viên Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 78, Sư đoàn 330. Năm 1956, ông lại tiếp tục được cử đi theo học 2 năm tại Trường Sỹ quan Lục quân trong thời gian 2 năm, rồi được giao nhiệm vụ làm Tiểu đoàn trưởng kiêm Chính trị viên Tiểu đoàn 306. Tháng 4 năm 1960, sau khoảng thời gian 6 năm tập kết, ông được cử trở lại miền Nam chiến đấu. Trước lúc lên đường, ông cùng với 53 đồng chí khác được Bác Hồ, Tổng Bí thư Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp gỡ, dặn dò và động viên.

Sau hơn 4 tháng hành quân vất vả vượt rừng Trường Sơn, đối diện với đói rét, bệnh tật cùng sự truy lùng của địch, Nguyễn Đệ và các đồng đội mới về tới Trung ương Cục miền Nam. Ông được phân về Khu 9 giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân khu, rồi tiếp tục được điều về tăng cường cho tỉnh Cà Mau. Và từ đây, ông kinh qua nhiều nhiệm vụ quan trọng khác nhau, luôn có mặt ở những vùng trọng điểm để xây dựng và củng cố lực lượng chiến đấu. Từ Vĩnh- Trà (Vĩnh Long, Cà Mau), đến Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng đều in dấu chân ông.

Tháng 10 năm 1963, khi đang chỉ huy trận đánh ở Đầm Dơi, Nguyễn Đệ bị thương vào đùi. Khi chuyển về đến bệnh viện dã chiến thì vết thương đã nhiễm trùng uốn ván. Ông khẩn thiết xin các y - bác sỹ tìm cách bảo toàn đôi chân, để ông có cơ hội tiếp tục đi chiến đấu. Cuối cùng, các y - bác sỹ đã cứu ông bằng cách rạch vết thương, rưới nước muối để diệt vi trùng. Vô cùng đau đớn nhưng ông vẫn cắn răng chịu đựng và chiến thắng để ít lâu sau lại có mặt ở chiến trường để chỉ huy các trận đánh.

Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, trên cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 306 kiêm Chỉ huy phó Mặt trận Vĩnh - Trà, Nguyễn Đệ tham gia chỉ huy đánh chiếm và giữ thị xã Vĩnh Long trong vòng 6 ngày. Từ năm 1970 đến năm 1975, ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 kiêm Chỉ huy trưởng Mặt trận Vĩnh Trà chiến đầu trên Chiến trường Trà Vinh. Đây là thời kì Mỹ-ngụy tập trung đánh phá ác liệt.  Phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương, ông chỉ huy Trung đoàn vừa đánh địch vừa mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang Quân khu 9 phát triển trở lại. Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi Sài Gòn được giải phóng, với cương vị chỉ huy Lực lượng Quân Giải phóng Vĩnh – Trà, ông tổ chức bao vây thị xã Vĩnh Long và buộc tỉnh trưởng phải đầu hàng vô điều kiện.

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nguyễn Đệ được cấp trên giao trọng trách Sư đoàn trưởng Sư đoàn 339. Khi Chiến tranh Biên giới Tây Nam nổ ra, ông được cử làm Tư lệnh mặt trận 797, chỉ huy Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc rồi giúp nước bạn thoát khỏi họa diệt chủng.  Năm 1986, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu 9, tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 7. Trung tướng Nguyễn Đệ nghỉ hưu vào năm 1996 tại Cần Thơ.

Tham khảo: Báo Nghệ An.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2012, 07:06:54 am
Trích từ cuốn hồi ức "Đời chiến sĩ" của Đại tướng Phạm Văn Trà:

Nói về anh Ba Trung, trong một lần vui chuyện khi cùng anh công tác ở Bộ Tư lệnh Quân khu 9, tôi có nêu một băn khoăn: Với bề dày chiến công, đóng góp xứng đáng của anh cho sự nghiệp kháng chiến, anh Ba rất xứng đáng được phong Anh hùng.

Nghe tôi nói vậy, anh Ba cười, rồi tâm sự:

- Cơ quan chính trị và nhiều anh em cũng nghĩ vậy, nhưng khi có ý định đề nghị lên trên, thì được một đồng chí cấp trên nói rằng: Ông Ba đã là Trung tướng, ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu…, không hơn Anh hùng rồi sao? Trên đã có ý như vậy, nên mình bảo cơ quan thôi không làm thủ tục nữa.

- Không thể như vậy, danh hiệu Anh hùng và chức vụ hoàn toàn khác nhau - Tôi trả lời.

Anh Ba cười xuề xòa: Biết vậy, nhưng thôi!

Cái đơn giản, lành lặn, hồn hậu của anh Ba Trung là như vậy đó!

Sau đó, Bộ Tư lệnh Quân khu và những người thân, người đồng chí của anh lặng lẽ, khẩn trương xúc tiến việc đề nghị trên phong tặng danh hiệu Anh hùng cho anh Ba Trung. Cuối cùng thì ngày 25 tháng 6 năm 1998, anh Ba Trung cũng được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Được tin, tôi mừng hơn là khi tôi được phong Anh hùng, bởi cả cuộc đời anh luôn trọn niềm tin vào cách mạng, vào Đảng và cống hiến cho đất nước, nhân dân.


Vậy mong thủ trưởng Panphilov giúp xác định đúng thời gian nào ông Nguyễn Đệ được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: 1978 hay 1998?


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Hai, 2012, 07:44:15 pm
Vậy mong thủ trưởng Panphilov giúp xác định đúng thời gian nào ông Nguyễn Đệ được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: 1978 hay 1998?

Cám ơn bác! Em đã sửa lại rồi nhé.


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng, Chỉ huy trưởng QS Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Ba, 2012, 05:47:27 pm
(http://desmond.imageshack.us/Himg600/scaled.php?server=600&filename=thieutuongnguyennamhung.jpg&res=medium)

Thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng (1930) từng giữ các chức vụ : Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 800 T1, Tham mưu phó rồi Sư đoàn phó Sư đoàn 5, Trưởng Phòng Tác chiến Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 303, Tham mưu phó – Trưởng Phòng Tác chiến Quân khu 7, Tư lệnh Mặt trận 779, Chỉ huy trưởng Quân sự Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công Giải phóng (1 hạng Nhì, 3 hạng Ba), Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Quân kỳ Quyết thắng,…, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1988 ?)


Ông tên thật là Nguyễn Văn trịnh, sinh ra và lớn lên  tại ấp Tân Kiều, làng An Phú Tây, tổng Long Hưng Trung, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn ( nay là xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh) trong một gia đình nghèo, bần nông. Mồ côi mẹ từ khi mới lên 2 tuổi, năm 1944, lúc 14 tuổi, ông bà nội và cha ông bỏ nhà ra đi biền biệt, để lại ông cùng anh trai, Ba Trình, ở quê tự nuôi sống nhau. Năm 1945, anh trai ông tham gia lực lượng Thanh niên Tiền phong giành chính quyền, đi Kháng chiến để ông ở quê một mình, rồi bị quân Pháp chôn sống tại cầu Bà Tàng vào năm 1946.

Chịu ảnh hưởng của anh trai, năm 1946 ông nhập ngũ tham gia Kháng chiến và để trả thù cho anh trai, là chiến sĩ của Chi đội 25 rồi Trung đoàn 397 chiến đấu tại Mặt trận miền Đông Nam Bộ, được kết nạp vào Đảng năm 1949. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, năm 1954, ông tập kết ra Bắc, rồi được cử đi học Đại học ở trường Sĩ quan Lục quân tại Sơn Tây vào năm 1957. Tại đây, ông được gặp Bác Hồ lần thứ nhất khi tham dự diễn tập chuẩn bị cho lễ duyệt binh tại sân bay Bạch Mai.

Đầu năm 1961, trước yêu cầu mới của cách mạng miền Nam, ông vượt Trường Sơn trở về quê hương tham gia chiến đấu. Trước khi lên đường, ông được gặp Bác Hồ lần thứ hai khi Người đến thăm hỏi và động viên đoàn cán bộ đi B. Ông từng là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 800 của T1 lập nhiều chiến công, trong đó có thành tích góp phần vào chiến thắng Bình Giã (12.1964). Sau đó, ông lần lượt giữ các chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 4, Tham mưu trưởng Trung đoàn 4, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4. Năm 1969, là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Nai, rồi Tham mưu phó Sư đoàn 5.

Sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, trước yêu cầu mới của Cách mạng miền Nam, ông được cử ra Bắc tiếp tục học tập. Tháng 3 năm 1975, sau thắng lợi của chiến dịch Tây nguyên, ông xin Bộ Quốc phòng về Nam để kịp cùng với Sư đoàn 5 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng  hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước trên cương vị Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng.

Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Tháng 10 năm 1975, ông được cấp trên điều lên làm Trưởng phòng tác chiến Bộ Tham mưu Quân khu 7. Ngày 20 tháng 8 năm 1978, ông về nhận nhiệm vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 303 tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam, rồi sang làm nghĩa vụ Quốc tế giúp nước bạn. Tháng 10 năm 1979, ông được lệnh tổ chức Sư đoàn 303 hành quân ra Hà Nam Ninh.

Tháng 4 năm 1983, ông quay về làm Tham mưu phó, Trưởng phòng tác chiến Quân khu 7. Từ năm 1986 đến 1989, ông lại được điều sang Chiến trường Campuchia làm Tư lệnh Mặt trận 779. Năm 1990, ông về Vũng Tàu làm Chỉ huy trưởng quân sự đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo cho đến khi về hưu tháng 6 năm 1996.

Tham khảo : Trang Thông tin Trường THCS Tân Kiên, Báo Bà Rịa – Vũng Tàu.  


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, ông "Nhất Thước" vị tướng trên nghị trường
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Ba, 2012, 04:07:30 am
(http://desmond.imageshack.us/Himg850/scaled.php?server=850&filename=trungtuongnguyenquocthu.jpg&res=medium)

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước (3.2.1926) từng giữ các chức vụ : Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên, Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên, Tư lệnh Quân đoàn 3 kiêm Bí thư Đảng ủy Quân đoàn, Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu, Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam. Ngoài ra, ông còn từng là : Đại biểu Quốc hội từ Khóa 8 đến Khóa 10, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 6.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sỹ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương Vì Thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp nhân đạo, Huy chương Vì sự nghiệp phụ nữ, Huy chương Vì sự nghiệp công đoàn.

Thiếu tướng (1980), Trung tướng (1987).


Ông sinh ra và lớn lên tại xã Nghi Diễn, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, tham gia Cách mạng từ tháng 4 năm 1945 trong phong trào Việt Minh tại địa phương, là cán bộ tiền khởi nghĩa, rồi nhập ngũ tháng 7 năm 1949, và được kết nạp vào Đảng ngày 1 tháng 7 năm 1947, chính thức ngày 1 tháng 12 năm 1947.

Từ 4.1945 đến 12.1945, ông hoạt động trong phong trào Việt Minh xã Nghi Diễn ; 1.1947, Bí thư huyện đoàn rồi nhân viên toà án huyện Nghi Lộc, tham gia phong trào bình dân học vụ ; 7.1949, nhập ngũ và được cử đi học tại Trường Sỹ quan Lục quân (nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn) ; 1.1952, Trung đội trưởng thuộc Đại đội 123, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325.
 
Từ 1.1954 đến 12.1959, ông là Phó ban Tác huấn Sư đoàn 325 ; 1.1960, Trưởng ban Tác huấn Sư đoàn 325 ; 6.1965, đi B với bí danh Phương, là Phó ban Tác huấn Mặt trận Tây Nguyên ; 1968, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 rồi 28 (năm 1970) Mặt trận Tây Nguyên ; 1972, Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên rồi Tham mưu trưởng chiến dịch Tây Nguyên ; 4.1975, Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đoàn 3, Đảng uỷ viên Quân đoàn, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, rồi được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao.
 
Từ 7.1978 đến 12.1979, ông là Phó tư lệnh, quyền Tư lệnh Quân đoàn 3, Phó bí thư Đảng uỷ Quân đoàn ; 1.1980, học viên Học viên Học viện Quân sự cấp cao rồi Tư lệnh Quân đoàn 3 kiêm Bí thư Đảng uỷ Quân đoàn ; 1981, học viên Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc ; Đầu năm 1983, đi học bổ túc tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Liên Xô mang tên Vô-rô-si-lốp ; 12.1983, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 4, Đảng uỷ viên, Thường vụ Đảng uỷ Quân khu.
 
Từ 4.1987 đến 12.1996, ông là Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Phó bí thư Đảng uỷ Quân khu. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, 12.1986, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng. Sau đó, 4.1987, tại cuộc bầu cử Quốc hội Khóa 8, ông trúng cử đại biểu Quốc hội, và liên tục là thành viên của Quốc hội các Khóa 9 và 10 ngay cả sau khi ông được Nhà nước cho nghỉ chờ hưu, 1.1997. Từ tháng 12 năm 1997 đến tháng 12 năm 2002, ông tham gia Ban lãnh đạo Hội Cựu chiến binh Việt Nam trên cương vị Phó chủ tịch Hội.

Lúc còn công tác trong Quân đội, trên chiến trường cũng như thời bình, rồi đến khi trở thành đại biểu của dân trong Quốc hội, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nổi tiếng là người thẳng thắn, cương trực, tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm cao. Là một vị tướng trên nghị trường, ông thường được nhắc đến và ca ngợi như người đứng đầu của bộ tứ “Nhất Thước, nhì Trân, tam Lân, tứ Quốc” dám phản ánh và đấu tranh với tệ quan liêu, tiêu cực và nạn tham ô, nhũng nhiễu của các cán bộ thoái hóa, biến chất, ngay cả cho đến bây giờ khi ông đã nghỉ hưu hẳn.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tiêu đề: Phạm Hùng, chính uỷ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Ba, 2012, 04:01:10 pm
Tóm tắt tiểu sử cố thủ tướng Phạm Hùng

Ông tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11-6-1912 tại xã Long Hồ, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Ông là anh cả trong số 9 anh chị em gồm 5 trai và 4 gái. Ông đã từng được ông nội mời thầy dạy võ tại nhà để tự vệ.

Thưở nhỏ, ông học ở trường làng, rồi lên học trường tỉnh, thi đỗ vào trường Collège de My Tho, là một trong hai trường trung học ở lục tỉnh Nam Kì lúc ấy. Trong số bạn bè cùng học với ông có ông Trần Đại Nghĩa, sau sang Pháp học đến năm 1946 theo Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến.

Năm 1928-1929, ông hoạt động trong phong trào thanh niên và học sinh, tham gia tổ chức “Nam Kì học sinh Liên hiệp hội” và “Thanh niên Cộng sản Đoàn”.

Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, hoạt động qua các cấp Chi ủy xã, Huyện ủy và Tỉnh ủy Mĩ Tho.

Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình vì vụ trừng trị hương quản Trâu tàn ác. Nhưng do phong trào đấu tranh của nhân dân ta trong nước cùng với Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp, thực dân Pháp phải giảm án xuống chung thân khổ sai và đày ông đi Côn Đảo.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, ông ra khỏi nhà tù đế quốc, được bầu vào Xứ ủy Nam Bộ.

Năm 1946, ông được bầu làm Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ. Ông đảm nhiệm chức vụ Phó Giám đốc Sở Công an Nam Bộ (ông Ba Diệp làm Giám đốc).

(http://img190.imageshack.us/img190/6677/10518928.jpg)

Đồng chí Phạm Hùng năm 1948

Năm 1949, ông ra Việt Bắc báo cáo và nhận chỉ thị từ Trung ương.

Năm 1950, tại Đại hội Công an toàn quốc tổ chức ở Việt Bắc, ông tham gia Chủ tịch đoàn và trình bày bản đề án “Công an nhân dân”.

Năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1952, khi thành lập Trung ương Cục miền Nam, ông được chỉ định làm Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, sau đó làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam kiêm Bí thư và Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Cùng năm 1952, ông lập gia đình với bà Mai Khanh, một cán bộ kháng chiến.

Năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam được kí kết, ông làm Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ.

(http://img845.imageshack.us/img845/5640/73681442.jpg)

Đồng chí Phạm Hùng (người đi trước), Trưởng đoàn đoàn Đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam
trong Ban Liên hợp đình chiến Nam Bộ đi dự hội nghị (1954)

Năm 1955, ông làm trưởng phái đoàn liên lạc Quân đội Nhân dân Việt Nam cạnh Ủy ban Quốc tế tại Sài Gòn.

Năm 1956, tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, ông được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Cùng năm này, ông làm Trưởng ban Thống nhất Trung ương.

Năm 1957, ông được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng.

Năm 1958, tại Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II), ông được bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Tháng 4 năm 1958, ông được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Năm 1960, đồng chí được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng bầu làm Ủy vên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, tiếp tục làm Phó Thủ tướng Chính phủ.

Tháng 10 năm 1967, ông được Bộ Chính trị phân công làm Bí thư Trung ương Cục miền Nam và Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam sau khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ trần. Ông đảm đương cương vị một người lãnh đạo cao nhất trên chiến trường miền Nam đến khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thời kì chiến đấu ở miền Nam, ông có bí danh là Bảy Cường.

(http://img850.imageshack.us/img850/2397/64557504.jpg)

Đồng chí Phạm Hùng, năm 1967

(http://img37.imageshack.us/img37/8014/91774181.jpg)

Đồng chí Phạm Hùng tại căn cứ Dương Minh Châu (1973)

Năm 1975, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông là Chính ủy Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Năm 1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ. Năm 1980, kiêm giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3-1982) của Đảng, ông được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, tiếp tục làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), ông được bầu vòa Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị.

Quốc hội khóa VIII kì họp thứ nhất (6-1987) đã bầu ông làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ông là đai biểu Quốc hội các khóa II, III, VI, VII và VIII.

Hồi 13 giờ 35 phút ngày 10-3-1988, Thủ tướng Phạm Hùng qua đời đột ngột tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Do những cống hiến của mình đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và đối với sự nghiệp tăng cường đoàn kết quốc tế, ông đã được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Huân chương Sao Vàng; Nhà nước Liên Xô trao tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười, Huy chương Vì sự nghiệp củng cố liên minh chiến đấu; Nhà nước Cộng hòa Cuba trao tặng Huân chương Che Guevara, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc trao tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất và Huy chương vì anh em chiến đấu; Nhà nước Cộng hòa nhân dân Bulgaria trao tặng Huân chương G. Dimitrov.

Tổng hợp theo
- Nhân vật chí trên website của Đài truyền hình tỉnh Vĩnh Long
- Phạm Hùng, nhà lãnh đạo trung kiên, mẫu mực, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2003


Tiêu đề: Thiếu tướng Đào Huy Vũ, Chỉ huy Quân sự đầu tiên Binh chủng Tăng Thiết giáp
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Ba, 2012, 04:10:41 pm
Thiếu tướng Đào Huy Vũ (13.10.1924 – 11.2.1986) từng giữ các chức vụ : (quyền) Tư lệnh đầu tiên Binh chủng tăng thiết giáp, Trung đoàn trưởng (đầu tiên) Trung đoàn xe tăng (đầu tiên) 202, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp, Trưởng Khoa thiết giáp Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Hai), Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng…

Thiếu tá (1958), Trung tá (1960), Thượng tá (1966), Đại tá (1973), Thiếu tướng (1979).


Thiếu tướng Đào Huy Vũ tên thật là Đào Hữu Vũ, sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, là cán bộ tiền khởi nghĩa. Ông tham gia Cách mạng từ tháng 6 năm 1942, nhập ngũ tháng 8 năm 1945, được kết nạp Đảng tháng 4 năm 1946 (chính thức tháng 1 năm 1947).

Lúc còn nhỏ, mặc dù nhà nghèo, nhưng gia đình vẫn cố lo cho ông ăn học. Hiếu học, chăm chỉ học tập, cần cù lao động, ông đỗ bằng certificat của Pháp (tương đương cấp tiểu học bây giờ) và được bổ làm hương sư (thày giáo làng). Sớm giác ngộ Cách mạng, 18 tuổi, Đào Huy Vũ tham gia vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc tại địa phương từ tháng 6 năm 1942. Do hành cảnh gia đình, để có tiền nuôi sống bản thân, đồng thời tiếp tục dấn thân vào con đường giải phóng dân tộc, ông còn tranh thủ đi bán rượu do nhà tự nấu kết hợp với tuyên truyền Cách mạng. Trong một lần đi bán rượu và vận động quần chúng, ông bị nhà đoan (douane – tiếng Pháp : thuế) bắt.

Tháng 8 năm 1945, Đào Huy Vũ tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại huyện nhà (huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội). Ngày 23 tháng 9 năm 1945, núp bóng quân Anh, trên danh nghĩa Đồng minh, thực dân Pháp nổ súng quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Khắp các địa phương miền Bắc, phong trào tòng quân vào Nam chiến đấu phát triển sôi nổi, mạnh mẽ. Trong không khí đó, tháng 12 năm 1945, chi tay học trò trường làng, ông tình nguyện gia nhập Vệ quốc quân, xung phong Nam tiến, tham gia đánh Pháp ở Mặt trận Tây Nguyên.

Sau khi Mặt trận Tây Nguyên, rồi Nha Trang – Khánh Hòa bị vỡ, để chuẩn bị cho Toàn quốc Kháng chiến, nhiều đơn vị Nam tiến cùng chỉ huy quân sự được lệnh trở ra Bắc. Tầm tháng 11 năm 1946, Đào Huy Vũ đã có mặt tại Mặt trận Hà Nội, được điều về làm trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5, Trung đoàn Vĩnh Phúc do ông Chu Huy Mân làm trung đoàn trưởng. Từ ngày Toàn quốc Kháng chiến, 19.12.1946, đến tháng 4 năm 1948, ông trưởng thành từ trung đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng (của Trung đoàn 66, Đại đoàn 304). Tháng 10 năm 1953, ông được rút về Bộ Tổng Tham mưu làm trợ lý. Thời kì Kháng chiến chống Pháp, ông tham gia nhiều trận đánh và chiến dịch lớn trên Chiến trường Bắc Bộ như Hòa Bình, Quang Trung, Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ…

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, khoảng giữa năm 1955, Đào Huy Vũ cùng nhiều cán bộ chiến sĩ được Bộ Tổng Tư lệnh lựa chọn, tập trung học tập bổ túc văn hóa tại Trường Văn hóa Quân đội nhằm tạo nguồn đưa đi đào tạo cán bộ chỉ huy, tham mưu, quân binh chủng kỹ thuật. Ngày 24 tháng 8 năm 1956, 2 đoàn cán bộ, chiến sĩ được cử sang Quế Lâm, Trung Quốc đào tạo về tăng thiết giáp. Ông là đoàn trưởng đoàn thứ nhất gồm 55 người  học về chỉ huy kỹ thuật và tăng thiết giáp.

Ngày 2 tháng 9 năm 1959, Thiếu tướng Trần Văn Quang, Phó Tổng Tham mưu trưởng, sang Trung Quốc thăm đoàn học viên, đồng thời thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng công bố Nghị định 449/NĐ về việc thành lập trung đoàn xe tăng đầu tiên mang phiên hiệu 202. Ngày 5 tháng 10, Bộ Quốc phòng kí quyết định thành lập Trung đoàn 202 (mật danh H02) do Đào Huy Vũ làm trung đoàn trưởng, ông Đặng Quang Long làm chính ủy. Từ khi thành lập cho đến ngày 13 tháng 7 năm 1960, dưới sự chỉ huy của ông, Trung đoàn lần lượt về nước huấn luyện trong tình hình cụ thể đất nước, làm nòng cốt trong việc phát triển các đơn vị tăng thiết giáp trong toàn quân.

Ngày 22 tháng 6 năm 1965, Trung đoàn xe tăng thứ 2 được thành lập trên cơ sở các học viên từ Liên Xô về, mang phiên hiệu 203. Cùng này, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 101/QĐ-QP thành lập Bộ Tư lệnh Tăng thiết giáp, Đào Huy Vũ được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh, Ủy viên Thường vụ kiêm quyền Tư lệnh trong một thời gian dài từ tháng 6 năm 1965 đến tháng 9 năm 1971.  Do trong thời gian này không có Tư lệnh, nên có thể coi ông là chỉ huy quân sự đầu tiên của Binh chủng. Tháng 9 năm 1971, Đại tá Nguyễn Thế Lâm (Thiếu tướng, 1974) được điều về làm Tư lệnh, Đào Huy Vũ thôi quyền Tư lệnh và chỉ giữ chức vụ Phó Tư lệnh.

Đào Huy Vũ là con người của hành động và thực tiễn. Chính ông là người, vào năm 1964, đã sáng suốt đề xuất phương châm nổi tiếng “xe chưa vào được thì người vào trước để lấy xe địch đánh địch”. Phương châm này đã được sử dụng đầy hiệu quả trong suốt thời kì Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ năm 1964 đến năm 1975, góp phần làm cho Bộ đội tăng thiết giáp càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành. Cũng chính Đào Huy Vũ là người đề xuất với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đưa xe tăng vào chiến đấu tại Chiến trường miền Nam, tạo lên bất ngờ đối với Mỹ-ngụy ngay ở trận đầu xuất quân làm lên truyền thống “đã ra quân là chiến thắng” của Binh chủng.

Đầu năm 1967, sau khi được cấp trên thông báo chuẩn bị để đưa xe tăng vào chiến trường Đường 9 - Khe Sanh, lúc đó với cương vị Phó Tư lệnh Binh chủng ông đã đề xuất nhiều phương án có giá trị về nghệ thuật quân sự góp phần làm lên các Chiến thắng Tà Mây, Làng Vây, Đường 9... Từ 14 tháng 10 đến 3 tháng 12 năm 1967, Đào Huy Vũ trực tiếp dẫn đầu một nhóm cán bộ bí mật vào chiến trường nghiên cứu tình hình. Sau khi Thường vụ Đảng ủy Binh chủng quyết định phương án hành  quân bằng xích ông lại là người trực tiếp điều hành, chỉ huy toàn bộ cuộc hành quân. Từ ngày 10 đến 28 tháng 2, ông tiếp tục dẫn đầu đoàn cán bộ 5 người của Binh chủng trực tiếp chỉ đạo Đại đội 6 tăng thiết giáp hành quân chi viện cho Tiểu đoàn 198 tăng thiết giáp tại Đường 9. Hay trực tiếp chỉ đạo Đại đội 16 tăng thiết giáp hành quân vào Chiến trường Tây Nguyên (B3)…

Tháng 6 năm 1970, ông tham gia đoàn cán bộ sang Chiến trường nước bạn Lào thị sát, chuẩn bị phương án đưa xe tăng vào tác chiến trong Chiến dịch Cánh đồng chum – Xiêng Khoảng, và được cử ở lại tham gia Mặt trận Cánh đồng chum với tư cách phái viên Binh chủng.  Tại đây, do bị bom đánh vào khu vực hầm chỉ huy, ông bị bỏng và hỏng một mắt, phải đưa bằng trực thăng về hậu phương cấp cứu.

Tháng 12 năm 1974, Đại tá Đào Huy Vũ chính thức là Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông là phái viên Bộ Tổng Tham mưu tại Bộ Chỉ huy Chiến dịch phụ trách tác chiến của lực lượng tăng thiết giáp. Khi đội hình Cánh quân Duyên Hải chuẩn bị tiến công tuyến phòng thủ từ xa Phan Rang, ông đề nghị trực tiếp đi với Lữ đoàn 203 trên quan điểm “Đây là lần đầu sử dụng tập trung cả lữ đoàn lại vận dụng tác chiến theo hình thức “đánh trong hành tiến”, vì vậy sẽ có nhiều cái mới nảy sinh. . .” . Phương án này đã được Trung tướng Lê Trọng Tấn, chỉ huy cánh quân Duyên Hải phê chuẩn.

Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tháng 9 năm 1978 ông được cử đi học tại Trường Đảng Nguyễn Ái quốc. Sau khi kết thúc khóa học, tháng 9 năm 1980 ông được điều về làm công tác giảng dậy, nghiên cứu và tổng kết tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là học viện Quốc phòng), là Trưởng khoa Thiết giáp. Ông mất ngày 11 tháng 12 năm 1986 tại Hà Nội vì bệnh ung thư phổi do di chứng chất độc màu da cam nhiễm phải trong những ngày ở Chiến trường Đường 9 – Khe Sanh.

Đào Huy Vũ là người say mê nghiên cứu khoa học quân sự. Học tập, nghiên cứu luôn là niềm say mê và hứng thú của ông. Vốn là một nhà giáo nên việc học của ông luôn có bài bản và theo đúng nguyên tắc chặt chẽ do mình tự đặt ra. Ông đã để lại cho Binh chủng nhiều tác phẩm tổng kết về chiến đấu của xe tăng trong thời kì Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mỗi lần ra nước ngoài công tác học tập ông đều bỏ tiền cá nhân mua sách mang về góp vào thư viện Binh chủng. Ông am hiểu sâu sắc về khoa học quân sự và là người có kinh nghiệm trong sử dụng bộ đội tăng - thiết giáp trên chiến trường. Có thể nói từ trận đầu ở Làng Vây cho đến việc sử dụng tăng - thiết giáp trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 đều có công lao đóng góp của ông.

Tham khảo : Theo vết xích xe tăng – Tập 1, Biên niên sự kiện Ngành Kỹ thuật Tăng Thiết giáp, Sách Họ Đào Việt Nam.


Tiêu đề: Thiếu tướng Đào Đình Sung, Phó Tư lệnh QĐ1, Phó GĐ Học viện Quốc phòng
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Ba, 2012, 05:28:54 am
Thiếu tướng Đào Đình Sung (1925 – 4.1.2001) từng giữ các chức vụ : Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36 (F308), Tham mưu phó rồi quyền Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308, Trưởng Ban Tác chiến Mặt trận Quảng Đà, Phó Tư lệnh kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 1, Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (12.1985)


Ông quê tại xã Thượng Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1947, được kết nạp Đảng tháng 12 năm 1948 (chính thức tháng 3 năm 1949).

Trong Kháng chiến chống Pháp, từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 5 năm 1954, ông lần lượt trưởng thành từ chiến sĩ (Đại đội 1, Tiểu đoàn 29, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308), đại đội phó rồi đại đội trưởng Đại đội 11 (Tiểu đoàn 29, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308) (1.1952), tiểu đoàn phó rồi tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 89 (Trung đoàn 36, Đại đoàn 308), chỉ huy Tiểu đoàn tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, đặc biệt là đánh đồi Độc Lập.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 8 năm 1954 ông được cử đi học tại trường Trung cao cấp Quân sự tại Bắc Sơn. Tháng 7 năm 196, ông tiếp tục được cử đi học tại Học viện Quân sự Nam Kinh Trung Quốc. Về nước, tháng 4 năm 1963, ông quay trở về công tác tại Sư đoàn 308 trên cương vị Tham mưu phó Sư đoàn. Tháng 5 năm 1964, ông thôi giữ chức Tham mưu phó và là trung đoàn trưởng Trung đoàn 36 của Sư đoàn.

Tháng 3 năm 1968, ông lên đường vào Nam chiến đấu tại Mặt trận Quảng Đà (Quảng Nam – Đà Nẵng) thuộc Quân khu 5 và lần lượt giữ các chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, Trưởng ban tác chiến Mặt trận. Tháng 2 năm 1969, ông là chỉ huy trưởng Khu Đông, Khu Trung Mặt trận. Tháng 9 năm 1971, ông ra Chiến trường Trị Thiên giữ chức vụ Sư đoàn phó Sư đoàn 308. Lúc này, Thượng tá Trương Đình Mậu vừa lên thay Đại tá Nguyễn Hữu An, vừa được điều sang Mặt trận Cánh đồng Chum, làm Sư đoàn trưởng. Tháng 6 năm 1972, trong đợt 2 của Chiến dịch Trị Thiên, ông Trương Đình Mậu chuyển công tác khác, ông tạm giữ quyền Tư lệnh Sư đoàn một thời gian cho đến khi ông Nguyễn Hữu An về nắm lại Sư đoàn vào cuối tháng 6 năm 1972. Cuối tháng 11 năm 1972, Đại tá Nguyễn Hữu An được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Mặt trận B5 (Trị Thiên Huế), ông chính thức trở thành Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 chỉ huy Sư đoàn chiến đấu tại Đông Hà, Quảng Trị. Khi Quân đoàn 1 được thành lập, 24 tháng 10 năm 1973, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng đầu tiên, cùng Quân đoàn tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, tháng 12 năm 1979 ông được điều về làm Phó Tư lệnh, kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 1. Tháng 7 năm 1986, ông về làm Phó giám đốc Học viện Quân sự cấp cao cho đến khi về hưu tháng 12 năm 1990. Thiếu tướng Đào Đình Sung mất tại Hà Nội ngày 4 tháng 1 năm 2001.

Tham khảo : Sách Họ Đào Việt Nam, Chiến trường mới (Thượng tướng Nguyễn Hữu An), Kỉ niệm những ngày bên Sư trưởng (Thiếu tướng Hoàng Kim).


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Ba, 2012, 01:57:04 pm
Về tiểu sử thiếu tướng Đào Đình Sung:
Bổ sung một số chi tiết từ các hồi ký "Chiến trường mới" của thượng tướng Nguyễn Hữu An và bài "Kỷ niệm những ngày bên sư trưởng" của đại tá Hoàng Kim nguyên chính ủy sư đoàn 308 đăng trong tập "Nguyễn Hữu An vị tướng trận mạc":
- Tháng 1 năm 1969 cụ An về làm sư trưởng 308 thay cụ Vũ Yên. Trong bộ tư lệnh sư đoàn khi đó thượng tá Trương Đình Mậu làm sư đoàn phó, lúc đó cụ Đào Đình Sung đang ở Quảng Đà.
- Hết chiến dịch Đường Chín Nam Lào (khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1971) thì cụ An sang Cánh Đồng Chum, tư lệnh sư đoàn là thượng tá Trương Đình Mậu, khả năng lúc này cụ Đào Đình Sung về làm sư đoàn phó.
- Chiến dịch Quảng Trị 72 đợt đầu tháng 4 tư lệnh sư đoàn 308 vẫn là cụ Mậu. Chỉ từ đợt 2 tiếp tục chuẩn bị và tấn công Đông Hà khi đó cụ Mậu chuyển công tác, cụ Sung mới làm quyền tư lệnh.
- Cuối tháng 6 năm 72 cụ An được gọi từ Lào về đưa vào nắm lại 308, đến cuối tháng 11 cụ An lên Phó tư lệnh B5, khi đó cụ Sung chính thức làm sư trưởng 308.  
Bác panphilov kiểm tra lại xem có đúng không, tôi sợ các gia phả có thể có một số chi tiết không thật chuẩn?


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Ba, 2012, 04:47:33 pm
Về tiểu sử thiếu tướng Đào Đình Sung:
Bổ sung một số chi tiết từ các hồi ký "Chiến trường mới" của thượng tướng Nguyễn Hữu An và bài "Kỷ niệm những ngày bên sư trưởng" của đại tá Hoàng Kim nguyên chính ủy sư đoàn 308 đăng trong tập "Nguyễn Hữu An vị tướng trận mạc":
...
Bác panphilov kiểm tra lại xem có đúng không, tôi sợ các gia phả có thể có một số chi tiết không thật chuẩn?

Cám ơn bác. Theo những thông tin bác đưa ra, em đã bổ sung trong bài viết ở trên. Bác xem như thế đã được chưa? Thông tin của dòng họ như vậy là chưa đủ, trong quá trình viết lại, em cũng đã phải thêm một số chi tiết.



Tiêu đề: Đại tá Nguyễn Mạnh Quân, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân II
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Tư, 2012, 05:13:32 am
(http://desmond.imageshack.us/Himg189/scaled.php?server=189&filename=daitanguyenmanhquan.jpg&res=landing)
Đại tá Nguyễn Mạnh Quân (1923 – 1988) từng giữ các chức vụ : Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Nam Định, Tham mưu trưởng Liên khu 3, Phó chủ nhiệm Hệ giáo dục quân sự Học viện Quân chính, Hiệu phó Trường Sĩ quan Lục quân (nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn), Cục trưởng Cục Quân huấn, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên, Sư đoàn trưởng (đầu tiên) Sư đoàn 10, quyền Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2 (nay là Trường Đại học Nguyễn Huệ).

Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến (hạng Nhất, Nhì), Huân chương chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương chiến thắng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương chiến sỹ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng…

Trung tá (1958), Thượng tá (1966 ?), Đại tá (1975).


Ông tên thật là Nguyễn Thế Minh sinh ra và lớn lên tại huyện Gia Khánh, phủ Trường An, nay thuộc xã Ninh Khang, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, là cán bộ tiền khởi nghĩa. Được sự vận động của Mặt trận Việt Minh, ông tham gia phong trào cứu quốc trước năm 1945, rồi giành chính quyền tại địa phương trong Cách mạng tháng 8. Cách mạng thành công, ông được kết nạp Đảng, nhập ngũ, là trung đội trưởng Trung đội Giải phóng quân của huyện nhà.

Trong Kháng chiến chống Pháp, 1946 – 1954, ông trưởng thành từ cán bộ tiểu đoàn (1946), Trung đoàn 46 (1948), đến trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 (cuối 1953), tham gia Tây Tiến, rồi chiến đấu tại khắp địa bàn Liên khu 3 như Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình... Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông chỉ huy Trung đoàn về tiếp quản Nam Định, được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố, rồi về Bộ Tư lệnh Liên khu 3 giữ chức vụ Tham mưu trưởng (10.1954). Khi Liên khu 3 giải thể để thành lập hai Quân khu Hữu Ngạn và Tả Ngạn, ông tiếp tục là Tham mưu trưởng Quân khu Hữu Ngạn.

Năm 1958, trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội, ông được phong quân hàm Trung tá. Năm 1959, ông sang Liên Xô theo học tại Học viện Quân sự Frunze cho tới cuối năm 1962 thì về nước và được điều về công tác tại Học viện Quân chính ; 10.1963, Phó chủ nhiệm Hệ giáo dục quân sự Học viện Quân chính ; 3.1964, Hiệu phó Trường Sĩ quan Lục quân (Trường Sĩ quan Lục quân 1 nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn) .

Tháng 5 năm 1969, ông được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Quân huấn. Trong thời gian này, ông có các chuyến đi thực tế tại các Chiến trường miền Đông Nam Bộ, Lào phục vụ cho công tác huấn luyện. Tháng 4 năm 1970, ông được cử vào chiến trường Tây Nguyên, giữ chức Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng. Ông đã tham gia xây dựng các kế hoạch, cũng như trực tiếp chỉ huy bộ đội trong nhiều chiến dịch. Trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên, ông được phân công theo dõi và trực tiếp chỉ huy Trận Đắc Tô - Tân Cảnh, tiêu diệt cụm cứ điểm phòng ngự này, đồng thời tấn công Chỉ huy sở Sư đoàn 22 ngụy, khiến sư đoàn trưởng và sư đoàn phó bỏ mạng, toàn bộ Bộ tham mưu bị bắt sống, các Trung đoàn 42, 47 gần như bị xóa sổ.

Ngày 20 tháng 9 năm 1972, Sư đoàn 10, Đắc Tô, được thành lập, Thượng tá Nguyễn Mạnh Quân được giao nhiệm vụ kiêm Sư đoàn trưởng đầu tiên. Cuối tháng 5 năm 1973, ông được phân công kiêm quyền Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên một thời gian ngắn thay ông Hoàng Minh Thảo, trước khi ra Bắc tiếp tục giữ chức vụ Cục trưởng Cục Quân huấn (1974).

Đầu năm 1975, ông tham gia công tác chuẩn bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh. Cuối năm 1975, ông cùng một số cán bộ Cục Quân huấn được phân công tham gia tổng kết Chiến dịch tại Đà Lạt, rồi được giữ lại làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2 (5.1976). Năm 1977, ông lâm bệnh nặng, phải ra Bắc, nghỉ dưỡng bệnh và mất tại Hà Nội vào năm 1988.


Tiêu đề: Nguyễn Tường Lân, nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn (Đoàn 559)
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Tư, 2012, 04:08:29 am
(http://desmond.imageshack.us/Himg849/scaled.php?server=849&filename=nguyentuonglan.png&res=medium)

Kỹ sư Nguyễn Tường Lân (Mạc Quân, 1921) từng giữ các chức vụ Thành viên Bộ Tư lệnh Quân khu 4 phụ trách bảo đảm giao thông vận tải, Phó Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn – Đoàn 559 phụ trách mở đường, bảo đảm giao thông chi viện cho miền Nam.

Ngoài ra, ông còn từng là Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến huyện Kiến Xương, Chánh Văn phòng rồi Bí thư Chi bộ Ủy ban Kháng chiến tỉnh Nam Định, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến huyện Hải Hậu, Viện trưởng Viện Thiết kế Đường sắt, Thứ trưởng thường trực - Thường vụ Đảng ủy Bộ Giao thông Vận tải kiêm Trưởng Ban B67 phụ trách đảm bảo thông tuyến đường Trường Sơn phía tây Quảng Bình, Đại diện Bộ Giao thông Vận tải ở Quân khu 4, Phó Tư lệnh trực chiến Bộ Tư lệnh Bảo đảm Giao thông Vận tải tại Khu 4, Tổng giám đốc (đầu tiên) Tổng Công ty Xây dựng Thăng Long (tên lúc đó Xí nghiệp Liên hiệp cầu Thăng Long), Tổng cục trưởng Tổng cục Giao thông Vận tải Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Ủy viên Ủy ban phân vùng kinh tế Trung ương, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt, Tổng cục trưởng Tổng cục Đường biển, Trưởng đoàn Chuyên gia Giao thông Vận tải và Bưu điện tại Cam-pu-chia, Ủy viên danh dự Bam Chấp hành Hội Truyền thống Trường Sơn Việt Nam, và Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 4.

Huân chương Độc lập (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng…


Ông sinh năm 1921, có tài liệu ghi 1923, tại xã Động Trung, phủ Kiến Xương, nay là xã Vũ Trung, huyện Kiến  Xương, tỉnh Thái Bình, trong một gia đình có truyền thống Nho học, yêu nước và Cách mạng. Ông nội ông là nghĩa sĩ Văn thân, từng cầm quân đánh Pháp tại Nam Định (1883). Trong dòng họ ông có nhiều người tham gia các phong trào yêu nước, Cách mạng đầu thế kỉ 20 (Quang Phục Hội, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Phong trào do Đảng lãnh đạo…) tiêu biểu là chú họ ông, nhà Cách mạng Liệt sĩ Nguyễn Danh Đới (9.1905 – 8.1943), nguyên Bí thư Kỳ bộ Bắc Kỳ của Việt Nam Cách mạng Thanh niên trực tiếp phụ trách Hà Nội, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thái Bình, tù Côn Đảo (1929-1934). Nhà Cách mạng Nguyễn Danh Đới chính là bố của Phó Giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân (Nguyễn) Trung Kiên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin.

Năm 1940, sau khi học xong Tú tài phần Nhất tại Hà Nội, do không có điều kiện học lên cao nhưng cũng không muốn làm việc cho chính quyền bảo hộ, ông ở lại Hà Nội dạy học tư, chuyên về tiếng Pháp cho con em các gia đình người Hoa, Ấn Độ. Nhờ người chú ruột có quen biết với ông chủ tờ báo Tin Mới, Mai Văn Hàm, giới thiệu, ông được nhận vào làm kí giả của báo. Sau đó, ông xin lên Cao Bằng, vừa viết báo, vừa dạy học. Năm 1942, ông bị trục xuất khỏi Cao Bằng đồng thời bị xa thải khỏi báo Tin Mới vì đã trực tiếp gặp viên quan năm (đại tá) Pháp, Chánh sứ Cao Bằng, để ‘phỏng vấn’ vụ lính Pháp tại đây ‘mua’ 20.000 cây tre của đồng bào Hòa Anh để làm doanh trại nhưng… không trả tiền.

Theo lời khuyên của người chú họ Nguyễn Danh Đới, ông trở về Thái Bình dạy chữ cho trẻ em trong họ, trong làng, và bắt đầu tham gia hoạt động Cách mạng từ năm 1943 trong Mặt trận Việt Minh với bí danh Mạc Quân. Năm 1944, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Cứu quốc Động Trung (một tổ chức bán vũ trang do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo), rồi tham gia lãnh đạo giành chính quyền tại quê nhà trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia công tác chính quyền tại địa phương, là Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời xã Động Trung. Năm 1946, ông được cử giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến huyện Kiến Xương do ông Phạm Kim Tôn (1914 – 1989) làm Chủ tịch, rồi được kết nạp Đảng vào tháng 10 năm 1946. Ông Phạm Kim Tôn là một trong 2 người mà vào năm 1929, nhân kỉ niệm Cách mạng tháng Mười Nga, đã tham gia treo cờ đỏ lưỡi liềm trên cổng phủ Kiến Xương, dán truyền đơn lên tường nhà tri phủ. Trước khi về hưu, ông Phạm Kim Tôn là Cục phó Cục Vật tư Bộ Nông nghiệp, Huân chương Độc lập hạng Ba.

Năm 1947, ông được điều sang tỉnh Nam Định, lần lượt giữ các chức vụ : Chánh Văn phòng Uỷ ban Kháng chiến Tỉnh, thư ký Đảng đoàn Chính quyền Tỉnh, Bí thư Chi bộ Văn phòng Uỷ ban Hành chính Kháng chiến Tỉnh, rồi chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Hải Hậu. Năm 1948, ông được điều động lên công tác tại Chiến khu Việt Bắc, rồi năm 1950 được cử sang Trung Quốc học đại học tại Học viện Giao thông Đường Sơn. Đầu năm 1954, về nước, là kỹ sư tập sự, ông được cử làm trợ lý Công trường 1B ở Lạng Sơn đang mở để phục vụ cho công việc kéo pháo từ Trung Quốc về Việt Nam tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chính ông là người đã đề xuất, phụ trách kỹ thuật xây dựng cầu Khánh Khê lịch sử nối liền Cao Lộc và Văn Quan, đảm bảo đưa xe pháo vào chiến trường an toàn, đúng thời hạn theo yêu cầu của cấp trên.

Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ ‘lừng lẫy năm Châu, trấn động Địa cầu’ lịch sử, ông về Hà Nội và được điều sang công tác tại Tổng cục Đường sắt, là đội trưởng Đội Cầu phủ Lạng Thương (1955), khôi phục chiếc cầu bị phá hủy nặng nhất trên tuyến đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan nằm trên địa phận tỉnh Lạng Sơn. Có thể nói, Nguyễn Tường Lân là chỉ huy đầu tiên của đội ngũ những người công nhân xây dựng cầu đường sắt Việt Nam. Sau cầu Phủ Lạng Thương, ông tiếp tục là đội trưởng các đội cầu Phủ Lý (Hà Nam), 1955; Ninh Bình, Đò Lèn (Thanh Hóa), 1956; Làng Giàng (Lào Cai), 1957 ;… Năm 1958, ông được điều về làm Viện trưởng đầu tiên của Viện Thiết kế Đường sắt mới được thành lập.

Năm 1963, Kỹ sư Nguyễn Tường Lân được điều lên giữ chức vụ Thứ trưởng kiêm Thường trực Đảng ủy Bộ Giao thông Vận tải phụ trách Khoa học, Kỹ thuật và Xây dựng, trực tiếp giúp việc và cố vấn cho Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ (1917 – 1991). Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ cho máy bay ra miền Bắc đánh phá các thành phố, các khu công nghiệp, các đầu mối giao thông. Hệ thống cầu, cống trên Quốc lộ 1, từ Vĩnh Linh ra nam Thanh Hoá là mục tiêu đánh phá ác liệt. Để ứng phó với tình hình nhiệm vụ mới, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ đã phân công ông vào tăng cường cho Ban đảm bảo giao thông Khu 4, với tư cách là đại diện Bộ (gọi tắt là B4). Giữa năm 1965, tại Binh trạm 12, dưới chân đèo Mụ Giạ, ông được đích thân Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, trên đường vào chiến trường, truyền đạt chỉ thị của Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho ông ‘Đảm bảo giao thông vận tải ở tuyến lửa Khu 4. Trong mọi tình huống phải giành thế chủ động, quyết thắng âm mưu địch ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam", và "Khu 4 phải lo chân hàng cho 559, là hậu phương trực tiếp của Bộ Tư lệnh 559 - Nơi trung chuyển, vận chuyển tiếp hàng vào phía trong, rồi vào các chiến trường. Lúc này, tình hình ‘chân hàng cho 559’ đang hết sức ‘bê bối’. Trong thời gian này, ông còn được cử tham gia Bộ Tư lệnh Quân khu tham gia chỉ huy bảo đảm giao thông vận tải trên các tuyến đường huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam, đồng thời là Trưởng Ban B67 của Bộ phụ trách đảm bảo thông tuyến đường Trường Sơn phía tây Quảng Bình.

(còn nữa)


Tiêu đề: Nguyễn Tường Lân, nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn (Đoàn 559) - PII
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Tư, 2012, 10:10:27 pm
(tiếp theo và hết)

Vào một ngày tháng 12 năm 1965, Nguyễn Tường Lân nhận được điện của ông Phan Trọng Tuệ nội dung : ‘Quân ủy Trung ương đã thống nhất với đề nghị của Tổng cục Hậu cần và Bộ Giao thông Vận tải, biệt phái ông sang làm Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559’. Ngay lập tức, ông về Bộ, nhận quyết định điều động, rồi vào Đại diện Bộ ở Khu 4, bàn giao công việc cho ông Dương Bạch Liên, Thứ trưởng thường trực của Bộ. Hai ngày trước khi vào Đường Trường Sơn, ông có vinh dự hết sức to lớn là được Bác Hồ gọi lên gặp, trực tiếp giao nhiệm vụ và dặn dò ‘Thanh niên là những người chủ tương lai của đất nước. Hiện nay trên Trường sơn có nhiều thanh niên xung phong được điều lên cùng bộ đội, cán bộ, công nhân các ngành nghề khác. Ở nhà các cháu có cha mẹ, anh chị chăm sóc. Trên Trường Sơn các Lãnh đạo Đoàn phải thay cha mẹ chăm sóc các cháu, phải chăm sóc các cháu thật tỷ mỷ. Các cháu nữ phải có quả bồ kết để gội đầu, chiếc lược bí để chải tóc. Các cháu nam phải có quả bóng, cây đàn để vui chơi, giải trí khi rảnh rỗi. Phải tổ chức tốt việc học tập văn hoá cho các cháu, để mỗi năm các cháu có thể lên được một lớp’.

Bộ Tư lệnh Trường Sơn lúc bấy giờ do Đại tá Hoàng Văn Thái (1920 – 2000) (sau là Trung tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật) làm Tư lệnh, Đại tá Vũ Xuân Chiêm (1923) (sau là Trung tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) làm Chính ủy, ông là Phó Tư lệnh trực tiếp chỉ huy việc mở Đường 20 – Quyết Thắng từ tây Quảng Bình vào A Sầu, A Lưới, tây Thừa Thiên, và những con đường mới vào chiến trường đảm bảo giao thông vận tải chi viện chiến trường cả trong mùa mưa. Sáng ngày 21 tháng 1 năm 1966, mồng một Tết Bính Ngọ, tại Công trường Đường 20, thay mặt Bộ Tư lệnh 559, ông là người phát lệnh khởi công con đường lịch sử này. Trong thời gian này, ông đã chỉ huy hợp đồng 3 trung đoàn bộ đội, 8.000 Thanh niên xung phong, 2.000 cán bộ và công nhân kỹ thuật … chọc thủng trên 100km núi đá Trường Sơn mở thông đường 20 phá thế độc tuyến Đường 12, bắt đầu đảm bảo vận tải bằng cơ giới cả mùa mưa và mùa khô trên Trường Sơn chi viện cho chiến trường.

Năm 1968, Nguyễn Tường Lân lại được rút về làm Phó Tư lệnh trực chiến Bộ Tư lệnh Bảo đảm Giao thông Vận tải chi viện tiền tuyến đóng tại Quân khu 4. Năm 1972, khi khởi công xây dựng cầu Thăng Long, ông lại được điều về làm Thứ trưởng kiêm Tổng Chỉ huy công trình xây dựng lớn nhất cả nước thời đó. Ngày 6 tháng 7 năm 1973, Xí nghiệp Liên hiệp cầu Thăng Long, một tổ chức xây dựng chuyên ngành cầu lớn đầu tiên của Việt Nam tiền thân của Tổng Công ty Xây dựng Thăng Long, được thành lập, ông được cử làm Giám đốc đầu tiên, và giữ chức vụ này cho đến tháng 8 năm 1974. Tháng 3 năm 1972, khi chuẩn bị mở chiến dịch Quảng Trị, ông lại được điều động trở lại Khu 4, làm Phó Tư lệnh Bộ Chỉ huy chi viện tiền tuyến, trực tiếp chỉ huy việc bảo đảm giao thông vận tải phục vụ đưa pháo 130 ly cùng khí tài và đạn dược vào Vĩnh Linh.

Năm 1975, sau chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi, thống nhất đất nước, Nguyễn Tường Lân được cử vào miền Nam, tham gia Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trực tiếp làm Tổng cục trưởng Tổng cục Giao thông Vận tải chỉ đạo tiếp quản, khôi phục và quản lý các hoạt động của ngành Giao thông – Vận tải phía Nam. Năm 1976, ông được cử kiêm Tổng cục phó Tổng cục Đường sắt - Phó ban Chỉ đạo khôi phục tuyến đường sắt Thống nhất, trực tiếp chỉ huy việc khôi phục tuyến đường sắt từ thành phố Hồ Chí Minh ra Đà Nẵng. Trong năm này, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông được bầu vào Ban Chấp hành, là Ủy viên dự khuyết, Thứ trưởng Thường trực Bộ Giao thông Vận tải sau kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục đường Biển. Ngày 30 tháng 9 năm 1977, Chính phủ quyết định thành lập Ủy ban phân vùng kinh tế trung ương để giúp Hội đồng Chính phủ tổng hợp và chỉ đạo công tác quy hoạch và phân vùng kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất trong cả nước, do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị làm Trưởng ban, ông được cử tham gia Ủy ban trên cương vị Ủy viên.

Năm 1980, cảng Hải Phòng được quân sự hóa, mọi công việc chỉ huy, bốc xếp hàng hóa tại cảng đều giao quân đội đảm nhận. Sau một thời gian, nhận thấy mô hình này hoạt động không hiệu quả, cảng Hải Phòng trở lại mô hình hoạt động của một thương cảng. Nguyễn Tường Lân lại được cử về kiêm chức Bí thư Đảng ủy, Giám đốc cảng Hải Phòng, trực tiếp lãnh đạo việc khôi phục hoạt động của cảng đúng với nghĩa là một thương cảng. Năm 1981, ông nhận nhiệm vụ Trưởng đoàn chuyên gia Giao thông - Bưu điện của Việt Nam sang giúp nước bạn Cam-pu-chia. Sau gần ba năm, trở về nước ông tiếp tục đảm nhận công việc Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, phụ trách phía Nam cho tới khi nghỉ hưu (1989).   

Sau khi về hưu, thời gian đầu, ông sống tại thành phố Hồ Chí Minh, vẫn tiếp tục làm cố vấn cho nhiều công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải. Năm 1995, ông cùng bạn bè góp vốn mở Công ty TNHH Tiến Phát do ông làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị, chuyên về cầu cống, đường, điện… Tuy nhiên, công việc làm ăn không được như mong muốn. Cùng năm này, ông nhận lời Ban Quản lý dự án Đường 5 về làm tư vấn. Tuy nhiên, đến năm 1997, vì nhiều lí do, ông chủ động xin nghỉ, và từ đây chấm dứt các hoạt động liên quan đến cầu đường. Cũng trong năm 1997, với tâm nguyện đóng góp cho quê hương, tạo công ăn việc làm cho bà con ở quê nhà, vợ chồng ông quyết định đầu tư số tiền để dành được mở 2 trang trại tại các xã Vũ Trung, Vũ Quý (Kiến Xương, Thái Bình) trồng cây ăn quả, đào ao thả cá nuôi tôm, làm chuồng trại chăn nuôi (bò sữa, gà, ngan…)… Năm 2001, vợ chồng ông lại bán căn nhà tại thành phố Hồ Chí Minh, sống hẳn ở quê nhà. Tháng 7 năm 2011, Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh Việt Nam được thành lập, ông được mời làm Ủy viên danh dự Ban Chấp hành Hội.

Là một trí thức, nhà báo trước năm 1945, cán bộ tiền Khởi nghĩa - tham gia Cách mạng từ năm 1943, một trong những du học sinh lớp đầu tiên được Nhà nước cử đi học ở nước ngoài, một trong số ít kỹ sư cầu đường đầu tiên được đào tạo bài bản của Việt Nam, với hơn 40 năm hoạt động trong ngành Giao thông Vận tải, gần 30 chục năm giữ chức vụ Thứ trưởng phụ trách Khoa học, Kỹ thuật và Xây dựng phải kiêm nhiệm nhiều thứ – một khoảng thời gian kỉ lục!, Nguyễn Tường Lân đã đảm nhận nhiều cương vị lãnh đạo chủ chốt khác nhau trên nhiều lĩnh vực khác nhau, lúc làm cầu, lúc làm đường, từ giao thông đến vận tải, từ đường sắt đến đường biển, đâu đâu cũng có mặt ông từ hậu phương ra tiền tuyến, từ Bắc vào Nam rồi sang nước bạn, từ rừng núi biên giới, trung du xuống đồng bằng… Lúc ông còn công tác, đồng nghiệp, cấp dưới rồi công nhân ngành Giao thông Vận tải vẫn thường gọi vui ông là ‘trùm vận tải’, ‘trùm cầu đường, ‘trùm bốc xếp’, và ‘trùm thủy thủ đường biển’ bởi công lao to lớn của ông trong vai trò ‘tư lệnh’ những ngành này. Có thể nói rằng, Nguyễn Tường Lân là người khai sinh ra ngành xây dựng cầu và đường sắt Việt Nam, từ cây cầu tạm đầu tiên cuối thời kì Kháng chiến chống Pháp (cầu Khánh Khê), phục vụ cho việc kéo pháo về nước góp phần quan trọng cho chiến thắng Điện Biên Phủ, đến những cây cầu trên khắp miền Bắc nửa cuối những năm 50 của Thế kỉ 20 (Phủ Lý, Ninh Bình, Đò Lèn, Làng Giàng…) và rồi cây cầu dài, hiện đại đầu tiên của Việt Nam (cầu Thăng Long), từ vai trò đội trưởng đầu tiên của những đội cầu đầu tiên đến Viện trưởng Viện Thiết kế Đường sắt, rồi Giám đốc đơn vị xây dựng cầu đầu tiên (tiền thân của Tổng Cty Xây dựng Thăng Long), và rồi lãnh đạo việc khôi phục tuyến Đường sắt Bắc Nam sau chiến tranh… Với ngót chục năm lăn lội và gắn bó với Tuyến lửa Khu 4 rồi Đường Trường Sơn, từ những ngày đầu giặc Mỹ leo thang ra bắn phá miền Bắc cho đến ngày toàn thắng, Nguyễn Tường Lân có đóng góp không nhỏ nếu không muốn nói là chủ chốt đối với việc đảm bảo giao thông chi viện cho chiến trường miền Nam, cho sự phát triển và mở rộng của con đường lịch sử - Đường mòn Hồ Chí Minh. Nhắc đến Đường Trường Sơn, bên cạnh những tên tuổi như Võ Bẩm, Phan Trọng Tuệ, Đinh Đức Thiện, Đồng Sĩ Nguyên, Đặng Tính, không thể không nhắc tới cái tên Nguyễn Tường Lân, người chỉ đạo xây dựng Đường 20 Quyết thắng và hàng loạt những cung đường mới sau đó. Ông là Phó Tư lệnh một binh đoàn lớn, duy nhất cho đến thời điểm này, chưa từng đi bộ đội trước đó.

Tuy nhiên, cuộc đời của ông không phải không có những thăng trầm, đúng như câu thơ mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương mến tặng ông trong lần thi sĩ về thăm huyện Kiến Xương cuối năm 1946 : "Lạ mà quen đấy, ơn ngòi bút/Thăng với trầm ư, mặc cánh diều". Trong quá trình công tác đã có những ngày tháng ông ăn không ngon, ngủ không yên vì bị quy trách nhiệm "oan" trong một số công việc, từng suýt bị cách chức. Không ít ý kiến đề xuất tâm huyết, xác đáng của ông lúc còn đương chức và cả sau này khi đã về hưu, như cơ cấu, tổ chức lại ngành Giao thông Vận tải hay xây dựng hẳn một đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng tránh xa các khu dân cư thay cho việc mở rộng đường 5 như hiện nay… đã không được chấp thuận, đến nay vẫn còn là nỗi buồn trong lòng ông. Những nỗi buồn này còn có thể bù đắp, che lấp bởi những ‘chiến công’ ông đạt được trong gần nửa thế kỉ ‘dấn thân’. Thế nhưng, nỗi buồn về đời tư không trọn vẹn, những bất hạnh khi về già thì khó ai có thể tưởng tượng nổi. Vợ chồng ông không có con, nghe lời khuyên của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, những năm ông ở Trường Sơn, ở nhà bà xin một đứa trẻ bị bỏ rơi trong bệnh viện về làm con nuôi với hi vọng làm chỗ dựa lúc tuổi già. Nhưng thật đáng buồn, người con nuôi này lại nghiện ngập, "phá gia chi tử", nay vào trại mai ra trại, ông vẫn phải dành một phần lương hưu gửi vào trại nuôi con. Việc làm trang trại ở Thái Bình của ông không thành công cũng một phần là do người con. Năm 2003, ông bị ngã, lệch đĩa đệm, phải đi mổ, rồi năm 2009 lại tiếp tục phải mổ mắt, thị lực kém, đi lại khó khăn. Năm 2008, tai họa tiếp tục ập xuống đầu ông khi vợ ông qua đời. Không chốn nương tựa, ông về Hà Nội nương tựa vợ chồng người em. Thế những, vượt lên tất cả, ông vẫn sống lạc quan, yêu đời, giống như lời ‘nhắn nhủ’ khi xưa của thi sĩ Vũ Hoàng Chương ‘Thăng với trầm ư, mặc cánh diều’, với thú vui nhất là xem bóng đá.


Tham khảo : Phan Trọng Tuệ - Vị Tư lệnh đầu tiên của Đường Trường Sơn huyền thoại, Từ điển Thái Bình, Báo Công an Nhân dân.


Tiêu đề: Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ, nguyên Phó Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Tư, 2012, 04:24:14 am
(http://desmond.imageshack.us/Himg10/scaled.php?server=10&filename=thieutuonghuynhnghi.jpg&res=landing)

Thiếu tướng Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Huỳnh Nghĩ (20.2.1930) từng giữ các chức vụ : Trưởng phòng Quân huấn Quân đoàn 3, Hiệu trưởng Trường Quân chính Quân đoàn 3, Trưởng Khoa Chiến dịch rồi Phó Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Giáo dục, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1994), Tiến sĩ (1990), Giáo sư (1996), Nhà giáo Nhân dân (1997).


Ông quê tại xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nhập ngũ và tham gia Cách mạng năm 1950, được kết nạp vào Đảng năm 1953. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu trên chiến trường Liên khu 5. Từ năm 1950 đến năm 1964, ông trưởng thành từ chiến sĩ cho tới tham mưu trưởng tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 812.

Năm 1964, ông vào Chiến trường Tây Nguyên (B3) chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 95, lần lượt giữ các chức vụ : Trưởng Ban Tác chiến, Tham mưu trưởng, Trung đoàn trưởng (1972) ; 1974, Trưởng phòng Quân huấn  Quân đoàn 3, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên rồi Chiến dịch Hồ Chí Minh ; 1979, Hiệu trưởng Trường Quân chính Quân đoàn 3 ; 1980, Trưởng khoa Nghệ thuật Chiến dịch Học viện Lục quân Đà Lạt ; 1990, Phó Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt cho đến khi về hưu (2000).

Cho đến khi về hưu, Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ đã chủ biên 4 công trình cấp Bộ Quốc phòng, xuất bản sáu cuốn sách bao gồm : Buôn Mê Thuột - trận đánh lịch sử  (đã dịch ra tiếng Anh) ; Lịch sử Hoài Nhơn, Tam Quan truyền thống đấu tranh Cách mạng ; Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 ; Chiến dịch đường 9 Nam Lào năm 1971 ; Chiến dịch Plei Me năm 1965 ; Chiến dịch Đắc Tô năm 1967.

Tham khảo : Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Tiến sĩ Bình Định.


Tiêu đề: Thiếu tướng Hà Quốc Toản, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Quân đoàn 3
Gửi bởi: panphilov trong 09 Tháng Tư, 2012, 10:11:31 pm
(http://desmond.imageshack.us/Himg100/scaled.php?server=100&filename=thieutuonghaquoctoan.jpg&res=landing)

Thiếu tướng Hà Quốc Toản (1924 – 2003) từng giữ các chức vụ: Phó Chính ủy rồi Chính ủy Trung đoàn 93, Sư đoàn 316, Phó Chủ nhiệm Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 335, Quân khu Tây Bắc, Trưởng Phòng Cán bộ, Cục Chính trị, Quân khu Tây Bắc, Chủ nhiệm Chính trị, Phó Chính ủy rồi Chính ủy Sư đoàn 316, Phó Chính ủy, Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 3, Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh tỉnh Thái Bình.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1989).


Thiếu tướng Hà Quốc Toản quê tại xã Thái Thọ, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Là cán bộ tiền Khởi nghĩa, ông tham gia Cách mạng từ tháng 3 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1946. Từ tháng 3 năm 1946 đến năm 1950, ông trưởng thành từ chiến sĩ tới trung đội trưởng Bộ đội địa phương trực thuộc Tỉnh đội Thái Bình ; 1952 – 1953, chính trị viên Đại đội 53, Tiểu đoàn 439, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 ; 1953 – 1955, chính trị viên phó Tiểu đoàn 938, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 ; 1955 – 1959, phó chính ủy rồi chính ủy Trung đoàn 98, Sư đoàn 316.

Từ năm 1959 đến năm 1960, ông được cử đi học tại Trường Chính trị trung cao ; 1960 – 1963, phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm chính trị Lữ đoàn 335, Quân khu Tây Bắc ; 1963 – 1964, trưởng Phòng Cán bộ, Cục Chính trị, Quân khu Tây Bắc ; 1964 – 1969, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 316, Quân khu Tây Bắc ; 1969 -  1973, phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 316 ; 1973 – 1978, chính ủy Sư đoàn 316, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Năm 1978, ông được bổ nhiệm chức vụ phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 3 ; 1980 – 1983, phó tư lệnh về chính trị (tương đương chính ủy) Quân đoàn 3 ; 1983 – 1985, chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 3 ; 1985 – 1989, phó tư lệnh về chính trị kiêm chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 3. Sau khi về hưu, từ năm 1989 đến 1998, ông là chủ tịch đầu tiên Hội cựu Chiến binh Việt Nam tỉnh Thái Bình.


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Quang Việt, nguyên Chính ủy, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng
Gửi bởi: panphilov trong 12 Tháng Tư, 2012, 05:57:11 am
(http://desmond.imageshack.us/Himg26/scaled.php?server=26&filename=thieutuongnguyenquangvi.jpg&res=landing)

Thiếu tướng Nguyễn Quang Việt (1917 – 1995) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên Tỉnh đội Thủ Dầu Một rồi Thủ Biên, Chính ủy kiêm Phó Tư lệnh Công an Vũ trang (Bộ đội Biên phòng), Phó Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Bộ đội Biên phòng. Ngoài ra, ông còn từng là : Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thái Bình trước 1945, Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một rồi Thủ Biên, Thứ trưởng Bộ Công an.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất…

Thiếu tướng (1977).


Thiếu tướng Nguyễn Quang Việt tên thật là Nguyễn Ngọ, hay còn gọi là Bảy Việt, quê tại xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Là cán bộ tiền Khởi nghĩa, trước năm 1945 ông từng là tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thái Bình, bị bắt và đầy ra Côn Đảo (1942).  

Tháng 8 năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, ông được đón về đất liền cùng với khoảng 1700 tù chính trị khác, được phân công công tác tại miền Tây Nam Bộ (cụ thể là tỉnh Sa Đéc trực thuộc Khu 8 ) phụ trách chính trị Vệ quốc Đoàn Sa Đéc lúc đó do ông Nguyễn Hữu Xuyến (1917 – 2007) làm chỉ huy trưởng. Sau này, ông Nguyễn Hữu Xuyến là Trung tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 9 (sau khi đã hợp nhất với Quân khu 8 ). Tháng 7 năm 1946, khi Chi đội 18 được thành lập trên cơ sở các đơn vị Vệ quốc Đoàn Sa Đéc, Nguyễn Quang Việt được cử giữ chức vụ Chính ủy, ông Nguyễn Hữu Xuyến là Chi đội trưởng. Tháng 10 năm 1947, Chi đội 18 tổ chức lại thành Trung đoàn 115, ông và ông Nguyễn Hữu Xuyến tiếp tục là chính ủy và trung đoàn trưởng. Đầu năm 1948, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sa Đéc, ông được bầu vào Tỉnh ủy, là Ủy viên Thường vụ. Ngày 9 tháng 9 năm 1949 diễn ra hội nghị lớn chưa từng có ở Nam Bộ - Hội nghị cán bộ quân sự toàn Xứ. Hội nghị được tiến hành tại một hội trường mới dựng lên ở giữa hai xã Hậu Thành và Nhơn Hòa Lập phía bờ nam kinh Dương Văn Dương, ông có mặt trong đoàn đại biểu của Khu 8, gồm các cán bộ trung đoàn trở lên, tham dự Hội nghị này.

Ngày 18 tháng 11 năm 1949, Bộ Tư lệnh Nam Bộ ra mệnh lệnh số 137 thành lập các Liên trung đoàn, Trung đoàn 301 sáp nhập với trung đoàn 310 thành Liên trung đoàn 301-310, Nguyễn Quang Việt được Xứ ủy điều từ Khu 8 về Khu 7 làm Chính ủy Liên trung đoàn và giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một. Tháng 5 năm 1951, Trung ương Cục quyết định tổ chức, bố trí lại chiến trường. Toàn Nam bộ được tổ chức thành hai phân liên khu: Phân liên khu miền Đông và phân liên khu miền Tây. Hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên, ông tiếp tục là bí thư Tỉnh ủy Thủ Biên – Chính trị viên Liên trung đoàn 301 – 310 đồng thời là Phân liên khu Ủy viên kiêm Chính trị viên Tỉnh đội do ông Huỳnh Văn Nghệ (1914 – 1977), nguyên khu bộ trưởng Khu 7, làm tỉnh đội trưởng. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Nguyễn Quang Việt, trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Thủ Biên kiêm Chính trị viên Tỉnh đội, phụ trách việc thực thi Hiệp định trên địa bàn Tỉnh, cũng như việc chuyển quân tập kết, và chuẩn bị cho thời kì đấu tranh Cách mạng mới, cho đến cuối năm 1954 thì ra Bắc.

Sau khi ra Bắc, năm 1959 khi Công an Nhân dân Vũ trang được thành lập, Nguyễn Quang Việt được cử giữ chức vụ Chính ủy kiêm Phó Tư lệnh hàm Đại tá. Năm 1960, ông là thứ trưởng Bộ Công an và liên tục giữ chức vụ này đến khi về hưu năm 1980. Tháng 12 năm 1967, để tăng cường lực lượng cho An ninh Miền, Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang đã tổ chức huấn luyện 1 đợt cán bộ chi viện cho lực lượng An ninh Vũ trang Miền, trên cương vị thứ trưởng Bộ Công an kiêm Chính ủy Công an Nhân dân Vũ trang, ông dẫn đầu một đoàn cán bộ 40 người vào Chiến trường B2 – Nam Bộ và giữ chức vụ Phó Ban An ninh Miền. Năm 1970, ông ra lại miền Bắc, vẫn giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an, từ năm 1975 đến năm 1977 còn kiêm thêm Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang.


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Tư, 2012, 06:32:19 pm
(http://desmond.imageshack.us/Himg11/scaled.php?server=11&filename=thieutuongnguyenvannam.jpg&res=landing)

Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam (1914 – 6g30ph 23.9.2007) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên Giải phóng Quân tỉnh Thái Bình, Trưởng Phòng Chính trị rồi Trưởng Ban Kiểm tra Liên khu 3 kiêm Phó Bí thư Liên khu Ủy, Ủy viên Kiểm tra Liên khu 3, Phụ trách Hậu cần Liên khu 3, Cục trưởng Cục Quân giới, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Tư lệnh Quân khu 3, Viện trưởng Việt Kiểm sát Quân sự Trung ương.

Ngoài ra, ông còn từng là : Liên huyện Ủy viên Kiến Xương, Thái Ninh, Thụy Anh, Bí thư Huyện ủy Kim Bảng, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời huyện Tiên Hưng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chưong Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy chương Kháng chiến do Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng, Huy chương Bảo vệ Pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, Kỉ niệm chương bị giặc bắt và tù đày, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam tên thật là Phạm Luận, trong quá trình hoạt động Cách mạng còn có các bí danh Quân và Thái, quê tại làng Nam Huân, nay thuộc xã Đình Phùng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Là cán bộ tiền Khởi nghĩa, hoạt động Cách mạng trước năm 1930, ông vào Đảng tháng 9 năm 1929, từng bị bắt giam nhiều lần, từng bị đầy đi Côn Đảo, nhập ngũ năm 1945.

Tháng 9 năm 1929, ông là Bí thư Chi bộ tại địa phương. Tháng 11 năm 1929, nhân kỉ niệm Cách mạng tháng Mười Nga, ông cùng với ông Phạm Kim Tôn (1914 – 1989) đã cùng nhau treo cờ đỏ lưỡi liềm trên cổng phủ Kiến Xương, dán truyền đơn lên tường nhà tri phủ, bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ nhất. Ông Phạm Kim Tôn sau này trước khi về hưu là Cục phó Cục Vật tư Bộ Nông nghiệp, Huân chương Độc lập hạng Ba. Đầu năm 1930, ông được phụ trách một cửa hàng buôn bán tạp hóa, đây thực chất là cơ quan liên lạc và tin tài liệu của Tỉnh ủy Thái Bình, bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ hai. Sau 4 tháng, được trả tự do, ông được chỉ định vào liên Huyện ủy Kiến Xương, Thái Ninh và Thụy Anh, được giao tổ chức cơ quan in của tỉnh, rồi tham gia lãnh đạo cuộc biểu tình ở Tiền Hải ngày 14 tháng 10 năm 1930. Ngày này về sau được lấy làm ngày Truyền thống Nôn dân Việt Nam.

Để tránh thực dân Pháp khủng bố sau vụ ‘tiếng trống Tiền Hải’, ông được Xứ ủy Bắc Kỳ điều về thị xã Hà Nam phụ trách huyện Kim Bảng, rồi được được điều ra Cẩm Phả, vùng mỏ Hà Tu tại thị xã Hồng Gai, Quảng Ninh, hoạt động trong phong trào công nhân mỏ. Tháng 1 năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ ba, bị kết án 20 năm tù, bị đầy ra Côn Đảo. Tháng 10 năm 1936, do ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp, ông được ân xá trước thời hạn sau hơn 5 năm ngồi tù. Thời kì này, ông trở về quê nhà tham gia hoạt động Cách mạng một cách công khai, trong phong trào dân chủ. Tháng 6 năm 1940, Pháp bị phát xít Đức xâm chiếm, quân Nhật lăm le vào Đông Dương. Trước tình hình đó, thực dân Pháp ra sức đàn áp phong trào Cách mạng tại Việt Nam. Tháng 6 năm 1940, ông bị bắt giam lần thứ tư, bị đày đi các nhà lao ở Hà Giang, Thái Nguyên rồi Nghĩa Lộ.

Tháng 3 năm 1945, nhân cơ hội Nhật đảo chính Pháp, ông được chi bộ Đảng trong tù tổ chức cho vượt ngục cùng nhiều tù chính trị khác, như ông Nguyễn Văn Đồi tức Trung tướng Vương Thừa Vũ (1910 – 1980) nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trở về Thái Bình, ông được giao phụ trách phong trào Cách mạng tại hai huyện Tiên Hưng và Duyên Hà. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành chính quyền ở phủ lỵ Tiên Hưng, được chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban Giải phóng lâm thời của huyện, rồi được điều lên tỉnh phụ trách Chính trị viên Giải phóng Quân tỉnh Thái Bình.

Từ tháng 4 năm 1946 đến Toàn quốc Kháng chiến (12.1946), ông lần lượt là Chính trị viên Trung đoàn tại Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình ; 1.1947, Trưởng Phòng Chính trị, Trưởng Ban Kiểm tra Liên khu Ba, Phó Bí thư Liên khu Ủy ; 1.1948, Ủy viên Thanh tra Liên khu ủy ; 7.1950, phụ trách Hậu cần Liên khu Ba – sau này chức vụ này gọi là Chủ nhiệm Hậu cần ; 10.1953, Cục trưởng Cục Quân giới.

Tháng 3 năm 1961, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần ; 1.1965, lại về Quân khu Ba giữ chức vụ Phó Tư lệnh ; 30.10.1967, ông về làm Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao kiêm Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương thay ông Lê Đình Thiệp (1914 – 1988), Thiếu tướng, đi nhận công tác khác. Từ tháng 8 năm 1971 đến tháng 7 năm 1974, ông còn kiêm thêm chức vụ Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thể thao Quân đội. Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam nghỉ hưu từ ngày 2 tháng 10 năm 1979, và sống tại Hà Nội cho tới khi mất năm 2007.


Tiêu đề: Nguyễn Văn Trí (Hai Trí) chính ủy khu 7, khu 9, phó chính ủy khu 8
Gửi bởi: Clovet trong 15 Tháng Tư, 2012, 06:35:13 pm
Nguyễn Văn Trí (Hai Trí)

(http://dongthap.gov.vn/wps/wcm/connect/883da60041091ace8934ef82111acd8f/nguyen-van-tri.jpg?MOD=AJPERES)
- Nguyễn Văn Trí (Hai Trí) nguyên là Đảng Viên Đảng Cộng Sản Đông Dương, Chính Ủy quân khu 7, quân khu 9, Phó Chính Ủy quân khu 8, Xứ Ủy Viên Nam Bộ, Phó Trưởng Ban Thống Nhất Trung Ương, Thứ Trưởng Bộ Nông Trường VIệt Nam.

- Tên thật: Nguyễn Văn Trí.
- Bí danh: Hai Trí
- Năm sinh: 1912 (trên giấy tờ 1913)
- Quê quán: Tiền Giang.
- Ông thi đỗ vào trường Collège de My Tho, là một trong hai trường trung học ở lục tỉnh Nam Kì lúc ấy, là bạn học cùng lớp của ông Phạm Hùng (sau là Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng)
- Ông tham gia Cách mạng từ năm 1926, được ông Trần Nguyên Phụ (nguyên là lãnh đạo nghĩa quân Đề Thám) giới thiệu gia nhập Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội, và được cử đi học tại Trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc).
- Năm 1927, ông về nước. Năm 1929 gia nhập An Nam Cộng Sản Đảng, trong Ban Chấp Hành đặc ủy Hậu Giang cùng các ông: Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Thanh Sơn,… [1]
- 1930, Ông vào Đảng Cộng Sản Đông Dương, là tỉnh ủy viên Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre. Ông là người xây dựng cơ sở Đảng đầu tiên của tỉnh Bến Tre (2)
- Năm 1931, ông bị bắt và kết án tử hình cùng với các ông Phạm Hùng, Nguyễn Văn Tây. Nhưng do phong trào đấu tranh của nhân dân ta trong nước cùng với Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp, thực dân Pháp phải giảm án xuống chung thân khổ sai và đày ông đi Côn Đảo. (3)
- 1945, Cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Trà Vinh (4).
- Tháng 4 – 1946, lực lượng kháng chiến ở khu 8 và khu 9 còn rất ít. Ông Nguyễn Văn Trí mang theo một Đại đội của Khu 7, từ chiến khu Đ về  cùng với ông Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Kỉnh được giao nhiệm vụ xây dựng căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười. Trong thời gian này ông đã xây dựng trường Quân Chính Khu 8,và tuyển mộ được khóa đầu tiên, sau này có nhiều cán bộ trở thành tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam như: Trung tướng Nguyễn Văn Tiên (nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 307 huyền thoại, nguyên Tư Lệnh Bộ tư lệnh không quân), Thiếu tướng Trần Mạnh ( nguyên Phó tư lệnh quân chủng không quân), Đại tá Nguyễn Văn Tòng(nguyên phó chính ủy, Chủ nhiệm chính trị Quân khu 9).
- Cuối năm 1946, để tăng cường công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, Xứ Ủy lâm thời điều động đồng chí Nguyễn Văn Trí từ khu 8 về làm Chủ nhiệm chính trị khu 9, Huỳnh Kim Trương làm Tham mưu trưởng.(10)
- 1946 - 1949, Ông làm Thường vụ khu ủy, Bí Thư quân khu Ủy,  Chính ủy khu 7 thay cho ông Trần Xuân Độ, trung tướng Nguyễn Bình làm tư lệnh(5).
- Cuối tháng 7 năm 1948, trên bờ kênh Năm Ngàn giữa chiến khu Đồng Tháp Mười, Đại hội đại biểu xứ Đảng bộ  Nam Bộ lần thứ nhất được triệu tập. Ông được bầu làm Xứ Ủy viên Xứ ủy Nam Bộ cùng các đòng chí: Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Văn Tây, Nguyễn Thị Thập, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Trấn, Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Thái Bường.
- 1949 – 1950, Ông về làm Khu uỷ viên Khu 8, Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh Quân Khu 8.
-  Năm 1950, Xứ uỷ Nam Bộ quyết định thành lập Tỉnh căn cứ Đồng Tháp, ông được củ làm Bí thư tỉnh ủy(6)
-  5-9-1951  Trung ương thành lập Ban căn cứ địa Nam Bộ do ông Nguyễn Văn Trí làm Trưởng ban. Tại chiến khu Đ, Ban Căn cứ địa họp và xác định xây dựng một hệ thống căn cứ địa chính cho toàn chiến trường Nam Bộ, gần chiến khu Đ. Đó là các chiến khu: Minh Châu, Đồng Tháp Mười và U Minh.(7)
- 1954, ông được phân công làm Phó Chánh Văn phòng Ban Thi hành Hiệp định đình chiến Trung Ương, sau Ban đổi tên là Ban Thi Hành Hiệp Định Giơnevơ.
- 1957, Ông Nguyễn Văn Trí được phân công làm Phó trưởng ban Thống nhất TW, ông Phạm Hùng làm trưởng Ban.(8)
- Một trong những nhiệm vụ của Ban Thống Nhất Trung ương là chăm lo đời sống cho hơn 180.000 cán bộ, con em, gia đình cán bộ tập kết. Trước tình hình đó, năm1960, ông đề xuất với Thủ Tướng Chính phủ thành lập Bộ Nông Trường để xây dựng hệ thống nông trường toàn quốc, giải quyết công ăn việc làm, cuộc sống cho cán bộ tập kết. Chính phủ chấp thuận và phân công làm Thứ trưởng Bộ Nông trường nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với những đóng góp của ông trong thời kỳ này, ông được nhà nước trao tặng Huân chương Lao Động.
- Ông Nguyễn Văn Trí từ trần năm 1965 và được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh vào năm 1997.
- Ông được nhà nước trao tặng các huân huy chương:
            -  Huân chương Hồ Chí Minh 1997
            -  Huân chương Lao Động hạng III.
            -  Huân chương chiến thắng hạng I (9).
                -  Huân chương Kháng Chiến hạng I
============================================================================


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Tư Cường, nguyên Tư lệnh Binh chủng Đặc công
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Tư, 2012, 06:31:03 am
(http://desmond.imageshack.us/Himg9/scaled.php?server=9&filename=thieutuongnguyentucuong.jpg&res=landing)

Thiếu tướng Anh hùng Nguyễn Tư Cường (1927 - 2003) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Bộ đội Đặc công Miền, Tham mưu phó, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, Phó Chủ tịch Hội đồng Quân sự, Tư lệnh kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Binh chủng Đặc công, Trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự Đặc công tại Cu-ba.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 5 hạng Nhì, 5 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng… Ông được phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 7 tháng 5 năm 1956 khi đang là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Đặc công 323, Đại đoàn 324.

Đại úy (1958), Thiếu tướng (1985).


Ông tên thật là Nguyễn Cụ hay còn gọi là Tư Cường, quê tại xã Ninh Đa, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, nhập ngũ năm 1945, được kết nạp Đảng năm 1946. Trong Kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), ông chiến đấu tại Mặt trận Nha Trang – Khánh Hòa, Liên khu 5, trưởng thành từ chiến sĩ, trung đội trưởng đến cán bộ tiểu đoàn, tham gia chiến đấu và chỉ huy 101 trận, góp phần tiêu diệt 605 địch (cá nhân ông diệt 294), bẩy lần bị thương vẫn không rời trận địa.

Năm 1945, lúc còn là chiến sĩ, ông đã đánh 7 trận, có trận bị lạc nhịn đói 10 ngày phải tìm lá cây, củ rừng ăn nhưng vẫn quyết tâm luồn rừng tìm về đơn vị. Năm 1947, trong trận phục kích ở đèo Phượng Hoàng trên đường 21, Nguyễn Cụ chỉ huy 1 trung đội bộ đội địa phương phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực. Giữa lúc trận chiến đấu đang giằng co ác liệt, ông dẫn đầu trung đội vòng bên sườn rồi bất ngờ xung phong vào giữa đội hình quân Pháp, gây rối loạn, diệt 75, đốt cháy 5 xe, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực diệt gọn gần một tiểu đoàn. Trận Hòn Khói năm 1948, ngay phút đầu Nguyễn Cụ đã xông lên vượt qua hàng rào dây thép gai, ném lựu đạn vào lỗ châu mai diệt địch trong lô cốt, yểm hộ cho đơn vị tiến vào. Sau khi xông lên gác, bắn chết đồn trưởng, ông bị thương nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huy trung đội diệt đồn, bắt sống 38 địch, thu toàn bộ vũ khí.

Những năm 1948 – 1949, nhiều lần quân Pháp tập trung lực lượng tiến công trung đội của Nguyễn Cụ, hòng tiêu diệt lực lượng vũ trang của địa phương, có lần địch huy động một trung đoàn có máy bay, pháo binh yểm hộ, bao vây bộ đội và cơ quan chính quyền địa phương. Ông chỉ huy đơn vị ngoan cường chiến đấu suốt một ngày, cơ động chặn địch hết nơi này đến nơi khác, bảo vệ cho cơ quan rút lui an toàn. Một lần, có 40 cán bộ huyện, xã đi hội nghị về nghỉ tại đơn vị, mới mờ sáng đã bị một đại đội địch bao vây, ông dũng cảm chỉ huy trung đội đánh lui địch, diệt một tiểu đội, bảo vệ được cán bộ.

Trận Vạn Khê năm 1952, biết tin địch sắp đi càn, trong khi cơ sở ta chưa chuẩn bị kịp để đối phó, Nguyễn Cụ bí mật đưa trung đội lọt qua nhiều vòng kiểm soát và bố trí trận địa phục kích ngay gần cửa đồn. Địch vừa ra khỏi cửa bị đánh bất ngờ, một tiểu đội bị diệt, hoang mang chạy vào đồn cố thủ, bỏ ý định đi càn ngày hôm đó. Trận Đại Mỹ năm 1953, đồn giặc bố phòng rất nghiêm ngặt, Nguyễn Cụ đã táo bạo và kiên trì bò vào tận đồn điều tra tỉ mỉ, sau đó chỉ huy đơn vị tiến công chớp nhoáng, diệt các mục tiêu rất chính xác bằng thủ pháo, tiêu diệt gọn 2 trung đội, rồi rút ra an toàn.

Tháng 1 năm 1954, đặc công tỉnh Khánh Hoà nhận nhiệm vụ hiệp đồng với bộ binh tiêu diệt đồn Cầu Đúc (Ninh Hoà), nhằm phối hợp với các đơn vị bạn trên chiến trường Liên khu 5. Đồn nằm sâu trong hậu phương địch, được canh gác và bố phòng chặt chẽ nên công tác điều tra gặp nhiều khó khăn. Ban ngày tổ cán bộ dựa vào cơ sở nhân dân để lấy tin tức. Ban đêm các chiến sĩ tiềm nhập vào trong hàng rào điều tra. Có lần tổ trinh sát gặp địch đi tuần, phải nằm lại ẩn nấp. Khi địch đến, địch dừng lại nghỉ, hút thuốc lá rồi ném mẩu thuốc đang cháy dở vào lưng chỉ huy Nguyễn Cụ, ông cắn răng chịu bỏng, nằm im giữ bí mật trận đánh. Sau 7 ngày đêm trinh sát nắm địch, trận đánh được tiến hành dưới sự chỉ huy của ông, 32 chiến sĩ đặc công bí mật tiềm nhập vào trong đồn, đồng loạt đánh sập các lô cốt, các ụ súng, diệt sở chỉ huy, tạo điều kiện cho 4 trung đội bộ binh tiêu diệt địch. Sau 2 giờ 30 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, bắt 30 địch thu 20 tấn đạn, nhiều súng và quân trang quân dụng.

Tháng 5 năm 1954, Nguyễn Cụ chỉ huy 3 tiểu đội đột nhập nhà lao Ninh Hòa diệt gọn hai trung đội địch, giải thoát 600 cán bộ du kích và đồng bào bị giam giữ. Năm 1955, ông làm nhiệm vụ mang báo cáo phong trào mọi mặt của tỉnh ủy Khánh Hòa ra để vào hòm thư “chết” của Trung uơng đặt ở Khu Giới tuyến (Quảng Trị) và nhận ở đó những chỉ thị của trung ương mang về lại Khánh Hòa. Trong thời kì Kháng chiến chống Pháp, ông đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 17 lần được Liên khu 5 và tỉnh khen.

Sau khi tập kết ra Bắc, ông được phân công về Đại đoàn 324 giữ chức vụ tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Đặc công 323 của Sư đoàn, và được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vào năm 1956. Trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội, năm 1958, ông được phong quân hàm Đại úy. Đến năm 1960, Tiểu đoàn 323 đã đưa gần hết lực lượng trở về miền Nam chiến đấu, còn khung huấn luyện ở lại tiếp tục làm nhiệm vụ huấn luyện tăng cường cho miền Nam. Trên cơ sở khung này, Trường Đặc công của Quân khu 4 được thành lập (Tiểu đoàn 30) do ông làm Tiểu đoàn trưởng, rồi kiêm Chính ủy (10.1960).

Trong Kháng chiến chống Mỹ, ông lần lượt giữ các chức vụ : trung đoàn trưởng Trung đoàn Trinh sát Đặc công (1966), Phó Tư lệnh Đặc công Miền (1969). Ông là người có công lớn trong việc xây dựng, phát triển và lãnh đạo Bộ đội Đặc công, đồng thời trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh trên các Chiến trường miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Trong đó, tiêu biểu là trận đánh ngày 26 tháng 2 năm 1969, của 2 tiểu đoàn đặc công miền và du kích Củ Chi có pháo binh hỗ trợ, vào căn cứ Đồng Dù (cách Sài Gòn 30 km) do Sư đoàn 25 Tia chớp nhiệt đới của Mỹ đóng giữ, tiêu diệt nhiều địch, phá hủy và làm hư hỏng 50 máy bay, 12 khẩu pháo, 176 xe quân sự, 29 hầm ngầm, 1 kho xăng, và 1 kho đạn…

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, ông lần lượt giữ các chức vụ sau trong Bộ tư lệnh Đặc công : Thượng tá - Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng (1980) ; được bầu vào Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Binh chủng, Đại biểu dự khuyết của Binh chủng đi dự Đại hội Đảng toàn quân chuẩn bị cho Đại hội 5 của Đảng (1982), Đại tá – Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng (1983) ; Phó Chủ tịch Hội đồng Quân sự (1984), thời kì này Đảng chủ trương thay đổi cách lãnh đạo trong quân đội thông qua việc xóa bỏ hình thức chính ủy, chính trị viên rồi đảng ủy quân sự thay vào đó là hội đồng quân sự ; trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự Đặc công tại Cuba (9.1984) ; Tư lệnh Binh chủng kiêm Phó Bí thư Đảng ủy (9.1985) ; Đại biểu Binh chủng đi dự Đại hội Đảng toàn quân, chuẩn bị cho Đại hội 6 của Đảng. Là Đại biểu toàn quân đi dự hội nghị của Đảng (1986). Sau khi nghỉ hưu vào năm 1992, ông cùng bạn bè mở Công ty Tư Cường do ông làm tổng giám đốc cho đến khi mất vào năm 2003 tại Hà Nội.

Tham khảo : Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Anh hùng LLVTND tong Kháng chiến chống Pháp, Lịch sử Bộ đội Đặc công QĐNDVN 1967-2007, 50 năm Lực lượng Vũ trang Quân khu 7.


Tiêu đề: Trung tướng Nguyễn Văn Thái, Phó Giám đốc Chính trị Học viện QS Đà Lạt
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Tư, 2012, 08:18:39 pm
(http://desmond.imageshack.us/Himg201/scaled.php?server=201&filename=trungtuongnguyenvanthai.jpg&res=landing)

Trung tướng Nguyễn Văn Thái (1930) từng giữ các chức vụ: Phái viên Tổng cục Chính trị tại Chiến dịch Lý Thường Kiệt, Phó Chủ nhiệm Chính ủy Sư đoàn 9, Chủ nhiệm Chính trị rồi Chính ủy Sư đoàn 7, Phó Chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng – Công tác Chính trị Học viện Quân sự cấp cao, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị, Phó Giám đốc Chính trị học viện Quân sự Đà Lạt.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (1 hạng Nhì, 2 Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40, 50 và 60 năm tuổi Đảng…

Đại úy (1958), Thiếu tướng (1985), Trung tướng (1994).


Ông sinh ra và lớn lên tại thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Ngày 20 tháng 11 năm 1945, ông xung phong nhập ngũ, là thư ký, rồi chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 2 Giải phóng quân, Tiểu đoàn Cảnh vệ trực thuộc Thị đội Thái Bình. Tháng 9 năm 1950, ông là trưởng Ban Văn thu Tỉnh đội Thái Bình, và sau đo là chính trị viên Đại đội Lê Lợi trực thuộc Tỉnh đội.

Năm 1952, ông được Tỉnh đội Thái Bình cử đi học tại Trưởng Bổ túc Chính trị viên Liên khu 3. Sau khóa học, ông được điều lên Tây Bắc làm phái viên đi chiến dịch Lý Thường Kiệt, rồi về Cơ quan Chính trị Quân khu, và sau đó là bí thư cho Phó Chính ủy Quân khu, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, hòa bình được lập lại trên miền Bắc, năm 1956 ông được điều về công tác tại Tổng cục Chính trị, được phong quân hàm Đại úy tháng 12 năm 1958 trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội. Tháng 7 năm 1965, ông lên đường hành quân vào Nam chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 325C với chức vụ Hiệp lí viên, rồi lần lượt giữ các chức vụ : chính ủy Trung đoàn 3, Sư đoàn 325 (12.1968), Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 9, Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính ủy Sư đoàn 7 (12.1972).

Trong thời gian chiến đấu ở Chiến trường miền Nam, ông đã tham gia nhiều chiến dịch lớn, quan trọng như : Mậu Thân 1968, Chiến dịch 150 ngày chốt chặn Tàu Ô – Xóm Ruộng (1972), Chiến dịch Đường 14 – Phước Long cuối 1974 đầu 1975, Chiến dịch Dầu Tiếng – Đường 20 (3.1975), Xuân Lộc (4.1975), Chiến dịch Hồ Chí Minh (4.1975)… Ngày 2 tháng 5 năm 1975, ông vinh dự có mặt trong cuộc họp báo lịch sử diễn ra tại dinh Độc Lập.

Sau ngày thống nhất đất nước, ông làm nhiệm vụ quân quản tại Quận 1, Quận 2 (cũ), Quận 4 và Quận Bình Thạnh. Năm 1978, ông được điều ra Bắc, về công tác tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) làm phó chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng – Công tác Chính trị. Tháng 1 năm 1984, ông quay về công tác tại Tổng cục Chính trị, là cục phó rồi cục trưởng Cục Tuyên huấn, được phong Thiếu tướng năm 1985. Tháng 1 năm 1992, ông vào Nam làm phó giám đốc về chính trị Học viện Quân sự Đà Lạt cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1999. Từ năm 2002 tới nay, ông là trưởng Ban Liên lạc Hội đồng hương tỉnh Thái Bình tại thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Thiếu tướng Tô Thuận, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Tư, 2012, 12:29:13 am
(http://desmond.imageshack.us/Himg851/scaled.php?server=851&filename=thieutuongtothuan.jpg&res=landing)

Thiếu tướng Tô Thuận (1926 - 1g55ph 22.4.2011) từng giữ các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo binh 40 Mặt trận Tây Nguyên (B3), Chủ nhiệm Pháo binh Quân khu 5, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công (hạng Hai, Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng,  Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất do Nhà nước Cam-pu-chia trao tặng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1985).


Thiếu tướng Tô Thuận sinh ra và lớn lên tại thôn Thái Hòa, làng Thượng Tầm, nay thuộc xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, là cán bộ tiền khởi nghĩa, tham gia Cách mạng trước tháng 8 năm 1945, nhập ngũ tháng 8 năm 1945, Đảng viên từ tháng 8 năm 1948.

Sau khi Cách mạng thành công, ông nhập ngũ là chiến sĩ Vệ quốc đoàn Thái Bình. Khi Trung đoàn 41 (sau đổi tên thành Trung đoàn 42 Trung Dũng) được thành lập tháng 11 năm 1945, ông trở thành tiểu đội trưởng thuộc Trung đội 3, Đại đội 18 đánh Pháp ở khu vực Đồng Thiện, Kiến An (Hải Phòng). Đầu năm 1947, khi quân Pháp đánh chiếm thị xã Hải Dương, trung đội ông chuyển dần sang đây rồi gia nhập vào Đại đội 11, rồi ít lâu sau chuyển về Đại đội 20 đóng quân tại làng Vạc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thời gian này, đơn vị ông chiến đấu trên đường 5 tại khu vực Cống Tranh, Kẻ Sặt, Châu Khê, cầu Thịnh Vạn, Mao Điền, Quán Gỏi, chùa Hồ Liễu…

Cuối năm 1947, ông được bổ nhiệm làm trung đội phó Trung đội 3, rồi chuyển sang Đại đội 74, Trung đoàn 64. Từ năm 1948 đến kết thúc cuộc Kháng chiến chống Pháp, ông cùng đơn vị chiến đấu trên địa bàn Khu 3 tại các tỉnh Thái Bình, Kiến An, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên. Tháng 7 năm 1954, ông chuyển sang chiến đấu tại Binh chủng Pháo binh, là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 45, cùng Trung đoàn tham gia tiếp quản Hải Phòng ngày 13 tháng 5 năm 1955.

Trong Kháng chiến chống Mỹ, khi Không quân Mỹ leo thang ra bắn phá miền Bắc (1964 – 1966), ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn 208 Pháo binh bảo vệ bờ biển Thanh Hóa. Trung đoàn ông đã sử dụng pháo 122ly bắn cháy 3 tàu chiến Mỹ, nhiều năm liền được tặng cờ luân lưu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thành tích huấn luyện và xây dựng.

Năm 1967, với kinh nghiệm đưa pháo lên cao chi viện cho bộ binh, ông được giao chỉ huy Trung đoàn 208 vượt Trường Sơn vào chi viện cho pháo binh Mặt trận B3 – Tây Nguyên. Vào Tây Nguyên, quý 2 năm 1968, theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh, Trung đoàn 208 hợp nhất với các Trung đoàn 158 và 40 hình thành lên Trung đoàn 40 mới, với 10 tiểu đoàn: 4 tiểu đoàn (31, 32, 33, 34) trang bị ĐKB, súng cối 120mm, 82mm, ĐKZ; 2 tiểu đoàn (41,42) trang bị pháo 105mm, 85mm; 2 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, Tiểu đoàn 30 súng máy phòng không 12,7mm, Tiểu đoàn 16 xe tăng PT-76 và 4 đại đội trực thuộc là 17, 18, 19, 20 với đầy đủ thành phần: pháo mặt đất, pháo phòng không, xe tăng..., do ông làm Trung đoàn trưởng. Về thực chất, tổ chức của Trung đoàn 40 tương đương với một lữ đoàn cứng.

Sau một thời gian làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 40, năm 1973, ông được điều về làm Chủ nhiệm Pháo binh Quân khu 5 cho đến hết Kháng chiến chống Mỹ. Điểm nổi bật ở Tô Thuận là có cách đánh sáng tạo, hiệu quả: Tháo pháo cơ giới ra từng bộ phận để khiêng, kéo pháo lên núi cao và gần đồn địch, bắn thẳng vào lô cốt công sự chỉ huy địch, có sức công phá lớn bảo đảm bộ binh ta đột phá, xung phong đánh chiếm tiêu diệt quân địch nhanh, ta thương vong thấp, tốn ít đạn. Sau tổng kết: Đưa pháo xe kéo "lên cao, vào gần bắn thẳng".

Sau năm 1975, ông ra Bắc, được cử đi học, rồi về công tác tại Binh chủng Pháo binh, được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1985. Trước khi về hưu, Thiếu tướng Tô Thuận là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng.


Tiêu đề: Trung tướng Trần Văn Nghiêm, Cục phó Cục Tác chiến, Tư lệnh Quân khu 9
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Năm, 2012, 09:41:58 pm
Trung tướng Trần Văn Nghiêm (1923 – 28.5.1985) từng giữ các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, Cục phó Cục Tác chiến, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Tư lệnh Đoàn 232, Trưởng Ban Tổng kết Chiến tranh Miền, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu 9.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng…

Thiếu tướng (1977), Trung tướng (1984?).


Sinh ra trong một gia đình công chức ở Ninh Sơn, Ninh Bình, sớm tiếp thu những ảnh hưởng của phong trào Cách mạng, tháng 5 năm 1945 khi vừa 22 tuổi, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc rồi giành chính quyền ở thị xã Ninh Bình. Cuối 1945, ông được điều vào Quân đội, được cử đi học Trường Cán bộ Việt Nam (tiền thân của Võ bị Trần Quốc Tuấn).

Trong Kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 64 (sau trực thuộc Đại đoàn 320 Đồng Bằng) từ những ngày đầu thành lập tháng 1 năm 1946, từng là tiểu đoàn trưởng rồi trung đoàn trưởng, tại đồng bằng Bắc bộ. Năm 1951, ông được điều về công tác tại Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.

Trong Kháng chiến chống Mỹ, năm 1963, ông là Cục phó Cục Tác chiến. Năm 1964, ông lên đường Nam tiến vào chiến đấu tại Chiến trường Nam Bộ (B2), từng đảm nhiệm các chức vụ : Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Tư lệnh Quân khu 9, Phó Tư lệnh Binh đoàn 232 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh; từng tham gia chỉ huy và phụ trách công tác tác chiến nhiều chiến dịch như : Chiến dịch đập tan cuộc hành quân Juntion city, Phước Long - Bù Đốp, Đường 22, Nguyễn Huệ, rồi Chenla 1, Chen-la 2 trên Chiến trường Campuchia…

Sau khi đất nước thống nhất, ông được điều về làm Trưởng ban Tổng kết Chiến tranh Miền, Phó Tư lệnh (1977), rồi Tư lệnh Bộ Tư Quân khu 9 (1979) khi đã sát nhập Khu 8 vào. Trung tướng Trần Văn Nghiêm mất ngày 28 tháng 5 năm 1985 tại Hà Nội vì bệnh hiểm nghèo.

Tham khảo: Câu lạc bộ Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn (phía Nam).


Tiêu đề: Thiếu tướng Vũ Hải, Cục trưởng các Cục: Dân quân Tự vệ, Kinh tế, Quân lực
Gửi bởi: panphilov trong 15 Tháng Năm, 2012, 08:15:48 am
(http://desmond.imageshack.us/Himg135/scaled.php?server=135&filename=thieutuongvuhaicopie.jpg&res=landing)

Thiếu tướng Vũ Hải (1925) từng giữ các chức vụ: Phó Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 3, Trưởng Phòng Chính trị Cục Dân quân, Phó Hiệu trưởng kiêm Bí thư Trường Huấn luyện Chiến tranh Du kích, Cục trưởng Cục Dân quân Tự vệ Bộ Tổng Tham mưu, Cục trưởng Cục Quân lực, Cục trưởng Cục Kinh tế Bộ Quốc phòng, Phó Đoàn Chuyên gia Quân sự tại Cam-pu-chia, Hiệu trưởng Trường Huấn luyện Đào tạo Bồi dưỡng Chuyên gia Quân sự Cam-pu-chia.

Ngoài ra, ông còn từng là: Bí thư Huyện ủy kiêm Bí thư Huyện bộ Việt Minh Cẩm Giàng (Hải Dương), Tỉnh ủy viên Tỉnh Hải Dương, Trưởng Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Thái Bình, Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Thái Bình, Phó Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình kiêm Trưởng Ban Tổ chức, Vụ phó Vụ Động viên Kinh tế tại Ủy ban Khoa học Nhà nước.

Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Hai, Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 2 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến (chống Mỹ) hạng Nhất. Nhà nước Cam-pu-chia tặng Huân chương Giải phóng Dân tộc hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1983).


Ông tên thật là Vũ Kim Sa, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở xã Trực Nội, phủ Thái Ninh, nay thuộc thôn Ký Con, xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, tham gia Cách mạng trước năm 1945, Đảng viên tháng 12 năm 1945, nhập ngũ tháng 10 năm 1950.

Lúc còn nhỏ, do hoàn cảnh gia đình, sau khi đỗ bằng tiểu học Pháp – Việt, 16 tuổi ông đã phải thoát ly ra đình kiếm sống, làm thuê tại các vùng mỏ Đông Triều, Mạo Khê. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Đông Triểu, rồi được điều về huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương phụ trách các xã ở phía Nam huyện. Tháng 12 năm 1945, ông được kết nạp Đảng.

Năm 1946, ông là Bí thư Huyện bộ Việt Minh kiêm Bí thư Huyện ủy Gia Lộc (Hải Dương), rồi Bí thư Huyện bộ Việt Minh kiêm Bí thư Huyện ủy Cẩm Giàng (Hải Dương). Tháng 4 năm 1947, ông được bầu vào Tỉnh ủy Hải Dương, rồi chuyển sang Thái Bình lần lượt giữ các chức vụ Trưởng Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy (7.1947), Thường vụ Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy (1948), Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Trưởng Ban Tổ chức (1949).  

Tháng 10 năm 1950, trước yêu cầu mới của công cuộc Kháng chiến chống Pháp, ông được điều động vào Quân đội giữ chức vụ Phó Phòng Chinh trị Bộ Tư lệnh Liên khu 3. Tháng 2 năm 1952, ông là trưởng Phòng Chính trị Cục Dân quân, rồi Bí thư kiêm Phó Hiệu trưởng Trường Huấn luyện Chiến tranh Du kích.

Sau khi Kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông lần lượt giữ các chức vụ: cục trưởng Cục Dân quân Rự vệ Bộ Tổng tham mưu (1960), biệt phái làm vụ phó Vụ Động viên Kinh tế tại Uỷ ban Khoa học Nhà nước (1970), cục trưởng Cục Quân lực (1974), cục trưởng Cục Kinh tế Quân sự Bộ Quốc phòng (1977), phó Đoàn Chuyên gia Quân sự giúp Cam-pu-chia (1981), hiệu trưởng Trường Huấn luyện Đào tạo Bồi dưỡng Chuyên gia Quân sự Cam-pu-chia (1985) cho đến khi về hưu năm 1991.  


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Duy Thái, Phó Chủ nhiệm các Tổng cục Hậu cần, Kỹ thuật
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Sáu, 2012, 04:00:43 pm
(http://desmond.imageshack.us/Himg37/scaled.php?server=37&filename=thieutuongnguyenduythai.jpg&res=landing)

Thiếu tướng Nguyễn Duy Thái (14.1.1914 – 1.12.1995) từng giữ các chức vụ : Tổng Giám đốc các xưởng Quân giới, Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân giới, Cục trưởng Cục Quản lý Công nghiệp trực thuộc Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.  Ngoài ra, ông còn từng là Thứ trưởng Bộ Cơ khí Luyện kim, Thứ trưởng Bộ Lao động, Đại biểu Quốc hội Khóa 3.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất…

Thiếu tướng (1985).


Ông sinh ra và lớn lên tại làng Phương Lưu, huyện Hải An, nay thuộc phường Đông Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Quê gốc tại xã Đông Lĩnh, huyện Phủ Dực, nay thuộc xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Bố ông, cụ Nguyễn Duy Mận, do hoàn cảnh gia đình khó khăn đã chuyển ra thành phố cảng mưu sinh từ năm 1909.

Khi còn đi học, ông là một học sinh thông minh, hiếu học của Trường An Dương rồi Trường Bonal (nay là Trường THPT Ngô Quyền) của Hải Phòng. Nhà nghèo, đông con nên bố mẹ dồn sức cho ông, con cả. Để phụ giúp gia đình, ngoài giờ đi học, ông còn làm thêm nhiều công việc tăng gia như bắt tôm, bắt cá. Học giỏi, luôn đứng đầu lớp, nhưng nhà nghèo không có tiền lên Hà Nội học tiếp, năm 1929 ông thi và đỗ vào Trường Kỹ nghệ Hải Phòng. Có năng khiếu về các môn khoa học, đặc biệt là toán nên Nguyễn Duy Thái được chọn vào học thiết kế cơ khí. Đứng đầu lớp năm thứ nhất và năm thứ hai, kết thúc năm thứ ba thi tốt nghiệp đứng đầu Trường, “Một học sinh xuất sắc giỏi toàn diện” là lời nhận xét của thầy chủ nhiệm người Pháp ghi trong học bạ của ông.

Ở đây, xin nói thêm về Trường Bonal  tức trường Trung học Phổ thông Ngô Quyền ngày nay. Trường thành lập ngày 15 tháng 10 năm 1920, là trường trung học đầu tiên của vùng Duyên Hải Bắc Kỳ, trường không chỉ tuyển sinh ở Hải Phòng mà còn có học sinh của các tỉnh: Hải Dương, Thái Bình, Quảng Yên,… Các học sinh đều phải trải qua những kỳ thi tuyển ở lớp đồng ấu, lớp nhì năm thứ nhất và lớp cao đẳng tiểu học, đặc biệt muốn vào lớp trung học thì phải là những học sinh khá và giỏi, vì số dự thi ngày càng đông mà số tuyển chọn hàng năm không đổi, chỉ tuyển 45 học sinh. Do đặc điểm tuyển chọn như vậy nên trường trung học Bonnal có tính chất như một trường chuyên hiện nay.

Trường Bonal là một ngôi trường có bề dày truyền thống, không những của Hải Phòng mà của Việt Nam,  một trong những cái nôi của phong trào Cách mạng tại Hải Phòng, nơi sản sinh cho đất nước nhiều lãnh đạo cấp cao trên nhiều lĩnh vực, nhà khoa học cũng như văn nghệ sĩ nổi tiếng như các ông : Nguyễn Văn Linh (1915-1998), nguyên Tổng Bí thư; Nguyễn Bình (1906-1951), Trung tướng – Anh hùng Liệt sĩ, nguyên Tư lệnh Nam Bộ; Hoàng Thế Thiện (1922-1995), Thiếu tướng, nguyên Chính ủy Bộ đội Trường Sơn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Lưu Văn Lợi (1914), Đại tá, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng Ban Biên giới Chính phủ; Trần Đình Cửu (1925-2002), Thiếu tướng, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 7; Lưu Văn Mẫn, nguyên Phó Văn phòng Trung ương Đảng, Phó Ban Tài chính – Quản trị Trung ương; Phạm Văn Thái tức Trần Kiên, nguyên Phó Tổng Biên tập Báo Nhân dân; Văn Cao (1923-1995), nhạc sĩ, tác giả Quốc ca, Giải thưởng Hồ Chí Minh; Vũ Quý, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Xây dựng; Đỗ Nhuận (1922-1991), Đại tá – Nhạc sĩ, nguyên Tổng Thư ký đầu tiên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Giải thưởng Hồ Chí Minh; Thế Lữ (1907-1989), nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động sân khấu, Nghệ sĩ Nhân dân, nguyên Chủ tịch đầu tiên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Khóa 2; Nguyễn Đình Thi (1924-2003), nguyên Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Giải thưởng Hồ Chí Minh; Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960), nhà văn, nhà viết kịch, nguyên Uỷ viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 1, Giải thưởng Hồ Chí Minh; Nguyễn Lân (1906-2003), Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân, Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ, Vũ Khiêu (1916), Giáo sư, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Giải thưởng Hồ Chí Minh… Từ trước năm 1930, phong trào Cách mạng đã có trong học sinh Trường Bonnal. Đó là ‘Học sinh Đoàn’ do ông Nguyễn Văn Linh phụ trách.

Năm 1932, Nguyễn Duy Thái trúng tuyển viên chức, được nhận vào làm việc ở ngành hoả xa. Năm 1933, ông đăng kí theo học lớp hàm thụ đại học của Trường Eyrolle (Pháp) chuyên ngành kỹ sư thiết kế cơ khí. Cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới những năm 1935 - 1936 đã ảnh hưởng xấu tới công việc của nhiều người, riêng ông bị mất việc vào đúng thời điểm vừa lập gia đình, phải lang thang tìm việc ở Hà Nội, Vinh, Quy Nhơn, rồi sang tận Lào làm thuê gần một năm. Năm 1936, khi tình hình kinh tế trở lên ổn định, ông lên đường về nước, suýt bỏ mạng dọc đường vì bệnh sốt rét ác tính. May thay, lúc đó ông gặp nhà Cách mạng Trần Danh Tuyên, được giúp đỡ cho nên mới có thể về đến Hải Phòng đoàn tụ cùng gia đình. Ông Trần Danh Tuyên (1911 – 1997) sau này từng là Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Vật tư, Phó trưởng Ban Đối ngoại Trung ương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Công đoàn Việt Nam, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng Khóa 3, Đại biểu Quốc hội từ Khóa 1 đến 6.

Cuối năm 1936, nhờ có nhận xét tốt trong học bạ, Nguyễn Duy Thái được nhận vào làm kỹ thuật viên Nhà máy Đóng tàu Ca-rông tại Hải Phòng. Nhà máy Đóng tàu Ca-rông là một trong cái nôi của phong trào công nhân thành phố Cảng, gắn liền với những tên tuổi: Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt (1905-1992), sau là Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao; Trần Xuân Độ (1894 – 1997), nguyên Chính ủy đầu tiên Quân khu 7. Năng lực làm việc tốt lại cần cù, nên sau một thời gian ngắn, lương tháng của ông chỉ đứng sau kỹ sư trưởng người Nhật. Năm 1938, thầy giáo Camboulive dạy nghề cho ông trước đây, được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường Bách nghệ Hà Nội (số 2F Quang Trung ngày nay) đã mời ông về dạy kỹ thuật chuyên môn cho học sinh năm thứ hai và năm thứ ba niên khoá 1938-1939.

Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, do bí mật vận động thanh niên không đi lính cho Pháp, Nguyễn Duy Thái bị mật thám tình nghi, gọi chất vấn. Đúng lúc đó thì giám đốc nhà máy Ca-rông có thư mời ông về làm kỹ sư trưởng thay người Nhật đã bỏ việc. Vừa làm, vừa tiếp tục học hàm thụ đại học, cuối năm 1941, ông mới chính thức thi đậu bằng kỹ sư thiết kế cơ khí của Trường Eyrolle, hưởng lương 120 đồng/ tháng.

Chủ Nhà máy Dancette ở Hải Phòng từ lâu đã khâm phục tài năng của Nguyễn Duy Thái, nhân việc thay đổi giám đốc ở Ca-rông, đã mời ông về làm kỹ sư trưởng với mức lương gấp đôi (240 đồng/ tháng). Thời gian này, ông góp vốn với bạn bè để thành lập Công ty “Phương xa” của riêng người Việt, chế tạo que hàn và ca-nô, đồng thời tham gia Hội ái hữu, truyền bá tư tưởng yêu nước, độc lập dân tộc. Trước những hoạt động yêu nước của ông, mật thám Pháp vẫn bí mật theo dõi, mặc dù lúc này ông chưa tham gia bất cứ đoàn thể nào do Đảng lãnh đạo. Tháng 8 năm 1943, Nguyễn Duy Thái bị bắt khi đang cùng bạn bè hát Quốc tế ca. Chủ Nhà máy Dancette lo mất kỹ sư chủ chốt, đã tìm cách bảo lãnh cho ông được trả tự do. Cơ quan an ninh Pháp đồng ý với điều kiện ông phải bị quản thúc tại nhà, không được rời Hải Phòng.

Hai năm 1944-1945, cao trào kháng Nhật - Pháp phát triển ngày càng mạnh, ảnh hưởng của Việt Minh lan rộng, Nguyễn Duy Thái tham gia Mặt trận Việt Minh tại Hải Phòng, được giao nhiệm vụ bí mật huy động công nhân rèn giáo mác, vũ khí, dán truyền đơn, tuyên truyền chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa khi thời cơ tới. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại thành phố Cảng và được cử làm Phó chủ tịch Ủy ban Kỹ nghệ Hải Phòng. Ủy ban này có nhiệm vụ quản lý một số lượng lớn các cơ sở sản xuất tư nhân vắng chủ ở Hải Phòng sau khi Cách mạng thành công.

Tháng 12 năm 1945, Nguyễn Duy Thái được kết nạp vào Đảng và được giao nhiệm vụ phối hợp tổ chức vận chuyển trang thiết bị, vật tư và tài liệu kỹ thuật từ Hải Phòng về Xưởng quân giới ở Chí Linh của Đệ Tứ Chiến khu. Tháng 8 năm 1946, trước nguy cơ chiến tranh lan rộng ra cả nước, Nguyễn Duy Thái được điều sang Quân đội, công tác trong ngành quân giới non trẻ. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng CSVN, từ cuối tháng 10 năm 1946, tất cả các binh công xưởng sản xuất, sửa chữa vũ khí thuộc Vệ quốc đoàn, do Cục Chế tạo Quân giới quản lý. Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng CSVN bổ nhiệm làm Tổng giám đốc các binh công xưởng.

Ngày 4 tháng 2 năm 1947, Cục Chế tạo Quân giới đổi tên thành Cục Quân giới, cơ quan được kiện toàn thành 3 nha và một phòng. Nha Nghiên cứu Kỹ thuật do ông Trần Đại Nghĩa, Cục trương kiêm Giám đốc, có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế thử các loại vũ khí mới theo yêu cầu chiến đấu, nâng cao chất lượng, hiệu quả các vũ khí sản xuất, các vật liệu thay thế. Nha Giám đốc binh công xưởng do Nguyễn Duy Thái làm Giám đốc, có nhiệm vụ chỉ đạo kế hoạch và kỹ thuật sản xuất của các binh công xưởng, các ty quân giới, đồng thời chỉ đạo sản xuất, cải tiến kỹ thuật ở các xưởng; thiết kế, vẽ kiểu một số loại vũ khí như mìn, lựu đạn, súng cối… Nha Mậu dịch do ông Nguyễn Ngọc Xuân (1902-1981) Cục phó kiêm Giám đốc, có nhiệm vụ tìm nguồn vật tư và tổ chức thu mua máy móc, nguyên vật liệu cần thiết cho sản xuất quân giới. Phòng Văn thư do ông Vũ Văn Đôn phụ trách, chịu trách nhiệm quản lý hành chính, kế toán tài vụ và vận tải. Năm 1951, ông là Cục phó Cục Quân giới.

Sau Kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Duy Thái tiếp tục giữ chức vụ Cục phó Cục Quân giới cho tới năm 1960 là Cục trưởng. Năm 1964, ông là Cục trưởng Cục Quản lý Công nghiệp trực thuộc Tổng cục Hậu cần, rồi Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (1968). Tháng 10 năm 1969, ông chuyển ngành sang làm Thứ trưởng Bộ Cơ khí Luyện kim, rồi Thứ trưởng Bộ Lao động. Tháng 4 năm 1978, ông được điều trở lại Quân đội giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật cho đến khi về hưu năm 1989. Ông được phong Thiếu tướng năm 1985 và là Đại biểu Quốc hội Khóa 3.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: hatuyenha trong 08 Tháng Sáu, 2012, 09:07:19 am
 Cô spam vậy , nhắn tin cho cháu mãi không được vì hòm thư đầy , cô mới mua lại được vài trăm cuốn : Nguyễn Sơn _ Lưỡng quốc tướng quân . Có thông tin cháu cần , cháu xóa hòm thư bớt để cô gửi tin cho cháu.

 Rất khâm phục và rất cám ơn sự kiên trì của cháu với các tướng lĩnh trong QDNDVN , đặc biệt là các cụ từ thời xưa lại trong các quân khu phía Nam . Cháu thật tuyệt vời xứng đáng là "Kho tư liệu sống về tiểu sử các tướng lĩnh của QDNDVN anh hùng".


Tiêu đề: Re: Trung tướng Lê Quang Đạo, vị Chủ tịch Quốc hội là tướng trong Quân đội
Gửi bởi: linh thong tin trong 08 Tháng Sáu, 2012, 07:27:02 pm
(http://img573.imageshack.us/img573/3862/trungtuonglequangdao.jpg)

Trung tướng Lê Quang Đạo (8/8/1921 – 24/7/1999), nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2003), Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Huân chương Itxala (Itxala: Nhân dân) của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.



Itxala là tự do. Paxaxôn mới là nhân dân.


Tiêu đề: Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tùng, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự Đồng Nai
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Sáu, 2012, 01:48:08 pm
(http://desmond.imageshack.us/Himg43/scaled.php?server=43&filename=thieutuongnguyenthanhtu.jpg&res=landing)

Thiếu tướng Anh hùng Nguyễn Thanh Tùng (1933) từng giữ các chức vụ : Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 46 - Phòng Quân báo Miền, Phó Phòng Đặc công Miền, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc công 113 (Đoàn 113), Chỉ huy phó Đoàn Đặc công 27, Chỉ huy phó Đoàn Đặc công 429, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 310, Tham mưu trưởng tiền phương Quân khu 7, Phó Tư lệnh Mặt trận 779, Chỉ huy phó – Tham mưu trưởng rồi Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai, Chủ tịch Hội cựu Chiến binh tỉnh Đồng Nai - Ủy viên thường vụ Trung ương Hội. Ngoài ra, ông còn từng là Đại biểu Quốc hội Khóa 8 và 9.

Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), 5 Huân chương Chiến công giải phóng, 3 lần là Dũng sĩ, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, … Ông được phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 6 tháng 11 năm 1978 khi đang là Trung tá, Chỉ huy phó Đoàn Đặc công 429, Quân khu 7.


Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo tại ấp Bàu Sen, xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Là anh cả trong một gia đình đông anh em (ngày ông lên đường nhập ngũ, mẹ ông đang mang theo người em thứ 8 ), ngay từ nhỏ ông đã phải tiếp xúc và làm quen với công việc đồng áng như làm cỏ, bón phân, cày ruộng, và đập lúa… Ngày ông lên đường nhập ngũ, mẹ ông phải giấu con bán mấy giạ lúa vì sợ ông không đồng tình. Tuy nhiên, số tiền bán được cũng chỉ đủ mua cho ông một tấm áo vải đen dài tay, một chiếc khăn rằn mà không thể cố thêm chiếc quần cộc cho đủ bộ.

Sự kiện trực tiếp, có ảnh hưởng lớn, ghi dấu ấn đậm nét suốt cuộc đời ông, đưa ông đến với Cách mạng giải phóng dân tộc, trở thành người lính Cụ Hồ đó là dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 5 năm 1947. Ngày hôm đó, tại ấp Cây Trường, xã Hảo Đước, trong tầm đại bác của giặc vì tỉnh lỵ Tây Ninh rất gần, đặc biệt cách thành Nguyễn Thái Học do một đơn vị biệt động ngụy đóng không xa, nhân dân dựng lên một sân lễ rồi huy động tới vài ngàn người về dự mừng ngày sinh nhật Cụ Hồ. Trên khán đài có một cán bộ còn khá trẻ, người tầm thước, mặt hiền trong bộ đồ bà ba đen quen thuộc đứng lên diễn thuyết về Bác, về nhà Cách mạng Nguyễn Ái Quốc… Sau này, ông mới rõ người cán bộ đó chính là nhà Cách mạng - Anh hùng Liệt sĩ Hoàng Lê Kha (1917 – 1960), nguyên Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh, bị sát hại theo luật 10.59 dưới chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm. Thông qua buổi diễn thuyết, ông hiểu hơn về Bác Hồ, về Cách mạng, đồng thời nung nấu quyết tâm lên đường đánh giặc.

Ngày 4 tháng 4 năm 1948, Nguyễn Thanh Tùng lên đường tòng quân cứu nước ở tuổi 15, và được biên chế vào Bộ đội Sivotha do người Anh hùng Ngô Thất Sơn tức Trịnh Ngọc Ảnh (1919 – 1949) chỉ huy, chiến đấu trên Chiến trường Tây Ninh, Đông Nam Bộ. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông lên đường tập kết ra Bắc, là tiểu đội trưởng Tiểu đội trinh sát trực thuộc Tiểu đoàn 196, Sư đoàn 338 – Đông Nam Bộ. Năm 1959, ông chuyển về công tác tại Tiểu đoàn Trinh sát 74, Cục 2, Bộ Tổng Tham mưu rồi được cử đi đào tạo chỉ huy tại Trường Sĩ quan Lục quân (Trường Đại học Trần Quốc Tuấn bây giờ).

Dịp ra Tết năm 1961, Thiếu úy Nguyễn Thanh Tùng cùng nhiều cán bộ và chiến sĩ miền Nam tập kết khác được tập trung tại Hòa Bình, tăng cường luyện tập, chuẩn bị vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu. Trong thời gian này, ông cùng đồng đội có nhiệm vụ rèn luyện thể lực và tập bắn đạn thật, làm quen với các loại súng Mỹ. Sau hơn một tháng luyện tập, các ông được đưa về Cầu Phùng để các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội thăm hỏi, động viên, bồi dưỡng thêm về tinh thần, vật chất, hoành chỉnh trang bị cho mọi người, đồng thời tổ chức biên chế lại trước lúc lên đường. Trong thời gian này, ông có vinh dự cùng các đồng chí của mình được đón Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm. Đoàn trở về Nam lần này mang tên Phương Đông 2, do ông Lê Quốc Sản (Tám Phương, sau là Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 9) làm đoàn trưởng, ông Nguyễn Hồng Lâm (Hai Bứa, sau là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 7) làm đoàn phó. Đoàn khởi hành vào một ngày tháng 3 năm 1961, vào 3 giờ sáng. Trước khi đi vào Khu 4, đoàn xe đi một vòng quanh Hà Nội để mọi người có thể ngắm nhìn phố phường lần cuối trước khi lên đường. Nhiều thành viên của Đoàn sau này đều trở thành những chỉ huy quân sự chủ chốt trên Chiến trường miền Nam, tướng lĩnh.

Sau hơn 5 tháng hành quân dọc đường Trường Sơn, đầu tháng 9 năm 1961, Đoàn Phương Đông 2 về tới Căn cứ R đóng tại đồi 300 Bình Long. Lúc bấy giờ, Cách mạng miền Nam đã chuyển sang giai đoạn chiến lược mới. Đế quốc Mỹ thi hành chiến lược chiến tranh đặc biệt bằng quân đội Sài Gòn với tiền, vũ khí và chỉ huy của Mỹ. Thời kì đen tối của Cách mạng miền Nam đã qua, thời kì ta chỉ đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ là chủ yếu, không được vũ trang, còn quân đội Sài Gòn thì tha hồ bắt giết cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ủng hộ Cách mạng. Đặc biệt, sau Đồng khởi, Lực lượng Quân Giải phóng ra đời và phát triển nhanh chóng, đòi hỏi một đội ngũ lớn các cán bộ lãnh đạo quân sự. Thiếu úy Nguyễn Thanh Tùng được phân công về Lữ đoàn 2 do ông Nguyễn Thành Cộng là lữ đoàn trưởng, Tạ Minh Khâm lữ đoàn phó.

Ngay sau khi về Trung đoàn 2, Nguyễn Thanh Tùng ngay lập tức cùng Lữ đoàn hành quân ba tháng rưỡi về Chiến khu Đ ở Mã Đà, Đồng Nai. Với bản tính hăng hái, lại được trang bị thêm nghề trinh sát đặc công nên qua các chặng đường trọng điểm phục kích ngăn chặn của Mỹ-VNCH, ông thường được phân công theo dõi, bám nắm địch để Trung đoàn vượt qua. Tại Chiến khu Đ, Lữ đoàn tiếp nhận quân số, trang bị vũ khí và chính thức trở thành Trung đoàn 2 – một trong số ít những đơn vị chủ lực của Chiến trường miền Nam lúc bấy giờ (lúc này, cấp tổ chức cao nhất mới chỉ là trung đoàn). Nhiệm vụ chủ yếu lúc này là học tập chính trị, quán triệt tình hình Cách mạng miền Nam, chuẩn bị chiến trường để đối phó lại âm mưu thủ đoạn của Mỹ-ngụy. Nguyễn Thanh Tùng là một trong những cán bộ đầu tiên được điều về xây dựng Đại đội 20 Trinh sát (Trung đoàn 2). Thời gian này, ông được phân công biệt phái về tỉnh Biên Hòa gặp ông Trần Công An (Hai Cà, sau là Đại tá) Tỉnh đội trưởng giúp đỡ tìm quân. Sau đó, ông được điều về công tác tại Đại đội 21 Trinh sát (Trung đoàn 2) trên cương vị Chính trị viên phó Đại đội.

Trận đầu ra quân của đại đội 21 là Trận đánh thí điểm ấp chiến lược Bàu Bàng mùa khô năm 1962. Nguyễn Thanh Tùng được phân công đi với mũi chủ công. Trận này, Đại đội giành thắng lợi, bắt một địch, phá bung ấp chiến lược, hỗ trợ đắc lực cho nhân dân nổi dậy chống lại kìm kẹp trở về quê cũ làm ăn. Sau trận đánh, tháng 12 năm 1962, ông cùng Đại đội hành quân xuống đồng bằng, đóng tại ấp 3, Bờ Cảng, xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, bên cạnh Trung đoàn bộ.

Vào trung tuần tháng 12 năm 1963, lúc này Đại đội 21 trực thuộc Trung đoàn 762 (mật danh Q762), vẫn là chủ lực mạnh cơ động của Trung đoàn, tiếp tục chiến đấu ở làng 2 Dầu Tiếng. Thời điểm này, trình độ tác chiến, tổ chức của bộ đội ta còn yếu, vũ khí còn thiếu, tuy nhiên với quán triệt từ trên xuống là phải đánh một trận thắng lợi, làm nức lòng chiến sĩ, gây tiếng vang lớn với đồng bào, khiến cho quốc sách của chính quyền Sài Gòn phải lung lay..., Đại đội cũng quyết tâm đánh, vấn đề chỉ huy được đặt ra hết sức cấp bách, quan trọng và là yếu tố quyết định. Trong cuộc họp Đảng bộ Đại đội, 100% cán bộ chiến sĩ tán thành để Nguyễn Thanh Tùng chỉ huy Trung đội 1 trong mũi chủ công.

Trong trận đánh này, ông đã khéo léo kết hợp giữa yếu tố quân sự với yếu tố chính trị, linh hoạt trong cách xử lí sáng tạo tình huống tác chiến, hạn chế tối đa thương vong cho bộ đội. Thông thường, khi pháo hiệu phát ra, bộ đội phải lao lên nhằm bảo đảm yếu tố bất ngờ, không cho địch kịp trở tay. Nhưng trong trận này, ông lại làm khác đi đó là sau khi pháo hiệu tắt thì mới cho bộ đội xung phong. Vì trong tình huống này, khoảng cách xung phong lớn, nếu không như thế, lúc vượt qua bãi trống, địch quan sát rõ và sẽ ngăn cản quyết liệt mũi đột kích bằng hệ thống hỏa lực mạnh, gây thương vong lớn. Bên cạnh với việc tấn công về quân sự, với nhãn quan của một người Chính trị viên phó, ông tổ chức cho bộ phận binh vận kêu gọi binh lính VNCH trong ấp chiến lược thức tỉnh, quay về cùng với nhân dân, vùng lên phá ấp chiến lược. Lúc đơn vị rút về vị trí trú quân, ông đã hết sức nhanh nhậy phán đoán việc một số đơn vị của địch nhanh chóng được tung ta đi hành quân càn quét tìm diệt Đại đội. Vì thế trên đường trở về, qua gần khu vực đồn Cà Tông, khi Đại đội gặp một tiểu đoàn chặn đánh, trong khi các cán bộ Đại đội còn đang lúng túng bởi vũ khí đã cạn, định đông hơn lại được trang bị đầy đủ, nguy cơ thương vong lớn là khó tránh khỏi, thì ông đã kịp thời dẫn đầu một mũi thọc sườn, cắt ngang đội hình địch. Cú đánh hiểm và bất ngờ đã làm tiểu đoàn VNCH tản ra, một số bị tiêu diệt, nhân cơ hội đó Đại đội tổ chức vòng tránh vượt qua một cách an toàn, chỉ bị thương vong một số và mất một khẩu cối 60ly.

(còn nữa)


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: dinhba trong 01 Tháng Bảy, 2012, 05:07:58 pm
Tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Thiếu tướng Võ Khắc Sương (26/06/2012)

(http://www.angiang.gov.vn/wps/wcm/connect/a16df5004bc14007b2d8bb07fcdaa883/ttvokhacsuong.png?MOD=AJPERES&CACHEID=a16df5004bc14007b2d8bb07fcdaa883)

Theo thông báo chính thức từ Bộ Tư lệnh Quân khu 9, ngày 27/4/2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký Quyết định số 543/QĐ-CTN về việc truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVT ND) cho đồng chí Thiếu tướng Vũ Khắc Sương, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 364, Tỉnh đội An Giang; vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đồng chí Thiếu tướng Vũ Khắc Sương còn có các tên gọi Võ Khắc Sương, Võ Văn Cẩn, Năm Sương sinh năm 1924 tại tỉnh Bến Tre. Đồng chí tham gia cách mạng từ sau tháng 8/1945. Đầu 1953, đồng chí được cử đi học quân sự tại Trung Quốc. Ra trường đồng chí trở về công tác tại Sư đoàn 330.

Tháng 8/1962 đến 1972, đồng chí được Bộ Tư lệnh Miền bổ nhiệm giữ chức Tỉnh đội phó - Tham mưu trưởng rồi Tỉnh đội trưởng An Giang. Đồng chí đã chỉ huy hàng trăm trận đánh lớn, nhỏ, trong đó có một số trận đánh tiêu biểu như: tập kích Chi khu Kiên Lương, trận cầu sắt Vĩnh Thông và cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt 128 ngày đêm trên đồi Tức Dụp…Hầu hết những trận đánh của đồng chí tham gia chỉ huy đều giành thắng lợi vang vội, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, có ý nghĩa chính trị, quân sự sâu sắc.

Những ngày đầu bảo vệ biên giới Tây Nam, với cương vị là chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh An Giang, đồng chí Năm Sương đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh củng cố LLVT tỉnh, huy động toàn dân tham gia chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, lãnh thổ. Năm 1991, đồng chí được nghỉ hưu. Năm 2009, do tuổi cao sức yếu, đồng chí Năm Sương đã từ trần, hưởng thọ 86 tuổi. Với 63 năm tuổi Đảng, 46 năm tuổi quân, đồng chí được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý.

Dự kiến, lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT ND do Chủ tịch nước truy tặng cho đồng chí Thiếu tướng Vũ Khắc Sương sẽ được lãnh đạo, chính quyền và nhân dân thành phố Long Xuyên tổ chức trang trọng vào dịp kỷ niệm 65 năm ngày Thương binh – liệt sĩ sắp tới./.
                                                                                            

 Văn Tranh
Theo báo điện tử An Giang


Tiêu đề: Re: Thượng tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị lâu năm nhất
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Bảy, 2014, 08:25:18 am
(http://img838.imageshack.us/img838/9512/tuongsonghao.jpg)

Thượng tướng Song Hào (20/08/1917-1h22' 09/01/2004), nguyên: Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Trưởng Ban kiểm tra của Quân ủy Trung ương, Ủy viên Tổng Quân ủy, Chính ủy Khu Tây Bắc, Chính ủy Liên khu 10.

Ngoài ra ông từng là: Đại biểu Quốc hội (khóa 4, 5, 6), Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1960-1986), Bí thư Trung ương ĐCSVN (1976-1982), Chủ tịch lâm thời Hội cựu chiến binh Việt Nam, Trưởng ban kiểm tra Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Trung tướng (1959), Thượng tướng (1974)


Thượng tướng Song Hào, tên khai sinh là Nguyễn Văn Khương, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1917 tại xã Hào Kiệt (nay là xã Liên Minh), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936, trong Phong trào Mặt trận bình dân. Năm 1937, ông phụ trách tổ chức Ái hữu thợ thêu, Thanh niên dân chủ (sau này là Mặt trận phản đế) tại quê hương. Tháng 4 năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; được cử làm Thư ký Ban Thường trực Liên đoàn Lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.

Đầu năm 1940, ông bị đế quốc Pháp bắt, kết án 7 năm tù và bị giam ở các nhà tù: Nam Định, Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình, Chợ Chu. Ở trong tù, ông luôn giữ vững khí tiết cách mạng, tích cực tham gia các cuộc đấu tranh. Năm 1943, ông được chỉ định làm Bí thư chi bộ tại nhà tù Chợ Chu, đã cùng các ông đảng viên trong chi bộ liên lạc với các đảng bộ ngoài nhà tù để hoạt động. Tháng 8 năm 1944, ông đã vượt ngục khỏi nhà tù Chợ Chu về vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên hoạt động, được chỉ định làm Chính trị viên Đội tuyên truyền cứu quốc quân hoạt động ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Tháng 12 năm 1944, ông được chỉ định làm Bí thư Khu căn cứ Nguyễn Huệ.

Tháng 8 năm 1945, ông được cử làm đại biểu đi dự Đại hội Quốc dân tại Tân Trào. Sau đó ông phụ trách cứu quốc quân cướp chính quyền tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Cuối năm 1945, ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ phụ trách liên tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Tháng 12/1947, ông là Chính ủy Liên khu 10, Khu ủy viên, Bí thư Quân khu ủy. Đến năm 1950, ông là Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng Lào. Năm 1951, ông là Chính ủy Đại đoàn 308, Bí thư Đại đoàn ủy. Đến tháng 5 năm 1955, ông được cử làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Quân ủy viên.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (năm 1960), lần thứ IV (năm 1976) và lần thứ V (tháng 3/1982) của Đảng, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử giữ chức Ủy viên Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương (khóa III). Được Ban Chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Trưởng ban Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Tháng 3 năm 1961, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương.

Tháng 4 năm 1982 đến tháng 02 năm 1987, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội. Tháng 02 năm 1990 đến tháng 12 năm 1992, ông được chỉ định làm Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Tham khảo : Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


(http://i441.photobucket.com/albums/qq136/conech2008/Scan-140723-0055.jpg)

(http://i441.photobucket.com/albums/qq136/conech2008/Scan-140723-0056.jpg)

(http://i441.photobucket.com/albums/qq136/conech2008/Scan-140723-0057.jpg)

(http://i441.photobucket.com/albums/qq136/conech2008/Scan-140723-0058.jpg)

(http://i441.photobucket.com/albums/qq136/conech2008/Scan-140723-0053.jpg)

(http://i441.photobucket.com/albums/qq136/conech2008/Scan-140723-0054.jpg)


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: Angiang trong 23 Tháng Tám, 2014, 03:24:19 pm
Tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Thiếu tướng Võ Khắc Sương (26/06/2012)


Cùng phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân chung đợt này có thiếu tướng Lê Xã Hội nguyên Phó tư lệnh Quân Khu 9.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt
Gửi bởi: thainhi_vn trong 24 Tháng Tám, 2014, 12:02:53 am
Những kỷ vật của Thượng tướng Đinh Đức Thiện và Trung tướng Trần Quý Hai (hai khay bên trái)