ບົດທີສອງ
ຫ້ອງຮຽນປີກຽມພາສາລາວ
ພວກເຮົາແມ່ນນັກສຶກສາຕ່າງປະເທດ, ຮຽນຢູ່ຫ້ອງປີກຽມ ພາກວິຊາພາສາລາວ-ສື່ສານມວນຊົມຄະນະອັກສອນສາດ ມະຫາວິທະຍາໄລແຫ່ງຊາດ.
ນີ້ແມ່ນຫ້ອງຮຽນຂອງພວກເຮົາ. ຢູ່ຕໍ່ໜ້ານັກຮຽນມີໂຕະຂອງອາຈານ. ຢູ່ເທິງຝາ ມີກະດານໃຫຍ່ແຜ່ນໜຶ່ງ, ແຜນທີ່ປະເທດລາວໜຶ່ງແຜ່ນ. ຢູ່ຂ້າງກະດານ ມີກັບເຝິດໜຶ່ງກັບ, ເຝິດອີກຫລາຍກ້ານ ແລະໝອນລຶບກະດານໜຶ່ງອັນ. ມີປື້ມສາມຫົວ. ບິກໜຶ່ງກ້ານ, ສໍດຳໜຶ່ງກ້ານ, ແລະຢາງລຶບໜຶ່ງອັນຢູ່ເທິງໂຕະອາຈານ.
ຫ້ອງຮຽນຂອງພວກເຮົາມີນັກສຶກສາທັງໝົດຊາວຄົນ: ແມ່ຍິງແປດຄົນ ແລະຜູ້ຊາຍສິບສອງຄົນ. ພວກເຮົາມາຈາກຫລາຍປະເທດຕ່າງກັນ: ເຈັດຄົນມາຈາກຫວຽດນາມ, ຫ້າຄົນມາຈາກກຳປູເຈຍ, ສີ່ຄົນມາຈາກຈີນ, ສອງຄົນມາຈາກເກົາຫລີ, ໜຶ່ງຄົນມາຈາກຍີ່ປູ່ນ ແລະອີກໜຶ່ງຄົນມາຈາກຕວັກກີ. ດຽວນີ້ພວກເຮົາຮູ້ຈັກກັນດີແລ້ວ ແລະກໍກາຍເປັນໜູ່ທີ່ຮັກແພງກັນ. ທຸກໆມື້ພວກເຮົາຮຽນດ້ວຍປື້ມແບບຮຽນພາສາລາວຫລາຍຊະນິດ. ນອກຈາກຮຽນພາສາລາວກັບອາຈານຢູ່ໃນຫ້ອງແລ້ວ, ພວກເຮົາຍັງເຝິກຫັດເວົ້າພາສາລາວກັບນັກສຶກສາລາວນຳອີກ.
Bốt thi soỏng
Hoọng hiên pi kiêm p’ha sả Lao
P’huộc hau mèn nắc sức sả tàng pạ thệt, hiên dù hoọng pi kiêm p’hạc vi xa p’ha sả Lao-sừ sản muôn xôn khạ nạ ắc sỏn sạt mạ hả vi thạ nha lay hèng xạt.
Nị mèn hoọng hiên khoỏng p’huộc hau: dù tò nạ nắc hiên mi tộ khoỏng a chan. Dù thâng phả mi kạ đan nhày p’hèn nừng, p’hẻn thì pạ thệt Lao nừng p’hèn. Dù khạng kạ đan mi kắp phớt nừng kắp. Phớt ịc lải cạn lẹ mỏn lứp kạ đan nừng ăn. Mi pựm sảm hủa, bíc nừng cạn, sỏ đăm nừng cạn, lẹ dang lứp nừng ăn dù thâng tộ a chan.
Hoọng hiên khoỏng phuộc hau mi nắc sức sả thăng mốt xao khôn: mè nhing pẹt khôn lẹ phu xai síp soỏng khôn. P’huộc hau ma chạc lải pạ thệt tàng kăn : chết khôn ma chạc Việt Nam, hạ khôn ma chạc Campuchia, sì khôn ma chạc Chin, soỏng khôn ma chạc Kau Lỉ, nừng khôn ma chạc Nhì Pùn lẹ ịc nừng khôn ma chạc Tuốc Ki. Điêu nị p’huộc hau hụ chắc kăn đi lẹo lẹ ko kai pên mù thì hắc p’heng kăn. Thúc thúc mự p’huộc hau hiên đuội pựm bẹp hiên p’ha sả Lao lải khạ nít. Noọc chạc hiên p’ha sả Lao kặp a chan dù nay hoọng lẹo, p’huộc hau nhăng đạy phấc hắt vạu p’ha sả Lao kắp nắc sức sả Lao năm ịc.ຄຳສັບ Khăm sắp Từ vựng:ນັກສຶກສາ
Nắc sức sả: sinh viên
ຕ່າງປະເທດ
Tàng pạ thệt: nước ngoài
ປີກຽມ
Pi kiêm: năm dự bị
ພາກວິຊາ
P’hạc vị xa: môn, khoa
ສື່ສານມວນຊົມ
Sừ sản muôn xôn: thông tin đại chúng
ຄະນະ
Khạ nạ: ban
ອັກສອນສາດ
Ắc sỏn sạt: văn chương
ຫ້ອງຮຽນ
Hoọng hiên: phòng học
ຕໍ່ໜ້າ
Tò nạ: trước mặt
ນັກຮຽນ
Nắc hiên: học sinh
ອາຈານ
A chan: giáo sư
ຢູ່ເທິງ
Dù thâng: ở trên
ຝາ
Phả: tường, vách
ກະດານ
Kạ đan: bảng. gỗ tấm
ແຜ່ນ
P’hèn: tấm, mảnh
ແຜນທີ່
P’hẻn thì: bản đồ
ຢູ່ຂ້າງ
Dù khạng: ở bên cạnh
ກັບ
Kắp: hộp
ເຝິດ
Phớt: bút dạ
ກ້ານ
Kạn: cây (bút)
ໝອນລຶບກະດານ
Mỏn lứp kạ đan: miếng xoá bảng
ແມ່ຍິງ
Mè nhinh: phụ nữ
ຜູ້ຊາຍ
P’hụ xai: nam giới
ສິບສອງ
Síp soỏng: mười hai
ຕ່າງກັນ
Tàng kăn: khác nhau
ຈີນ
Chin: Trung Quốc
ເກົາຫລີ
Kau lỉ: Triều Tiên
ຍີ່ປູ່ນ
Nhì pùn: Nhật Bản
ຕວັກກີ
Tuốc Ky: Thổ Nhĩ Kỳ
ຮູ້ຈັກ
Hụ chắc: biết rõ, làm quen
ກາຍເປັນ
Kai pên: trở thành
ຮັກແພງ
Hắc p’heng: yêu thương
ປື້ມແບບຮຽນ
Pựm bẹp hiên: sách giáo khoa
ຊະນິດ
Xạ nít: loại, kiểu
ນອກຈາກ
Noọc chạc: ngoài ra
ຍັງ
Nhăng: còn
ນຳອີກ
Năm ịc: cùng với
Dịch nghĩaBài thứ hai
Lớp học năm dự bị tiếng Lào
Chúng tôi là sinh viên nước ngoài, học ở lớp dự bị môn tiếng Lào - thông tin đại chúng ban văn học trường đại học quốc gia.
Đây là phòng học của chúng tôi. Trước mặt học sinh là bàn của giáo sư. Ở trên tường có một tấm bảng lớn, một tấm bản đồ nước Lào. Ở cạnh tấm bảng có một chiếc hộp đựng vài cây bút dạ và một miếng xoá bảng. Có ba quyển sách, một cây bút bi, một cây bút chì đen và một cục tẩy gôm ở trên bàn giáo sư.
Lớp học của chúng tôi có tất cả 20 sinh viên gồm 8 nữ và 12 nam. Chúng tôi đến từ nhiều nước khác nhau: bảy người đến từ Việt Nam, năm người đến từ Campuchia, bốn người đến từ Trung Quốc, hai người đến từ Triều Tiên, một người đến từ Nhật Bản và một người nữa đến từ Thổ Nhĩ Kỳ. Hiện nay chúng tôi đã hiểu biết nhau và đã trở thành bạn thân thiết của nhau. Hàng ngày chúng tôi học bằng nhiều loại sách giáo khoa tiếng Lào. Ngoài việc học tiếng Lào với giáo sư ở trên lớp rồi, chúng tôi còn được thực tập nói tiếng Lào cùng với sinh viên Lào nữa.