Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:46:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nó và tôi  (Đọc 305835 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nguyentrongluan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1246


« Trả lời #190 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2012, 07:15:58 am »

Nguyễn trọng Luân đk 2 cuốn nhé
Logged
hatuyenha
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2403


« Trả lời #191 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2012, 10:15:14 am »

 Mình mong các bạn đăng ký cho khí thế chứ vẫn biết nhiều đại gia không muốn xuất tên nhưng sẽ ủng hộ nhà văn của lính nhiệt tình . Đặc biệt năm nay kỷ niệm 40 năm trận chiến khốc liệt ở Quảng Trị . Sự đăng ký này làm vững tâm tác giả " Nó và tôi " các bạn ạ .
 Ai lấy sách trong TP Bác cứ đăng ký nhé , mình muốn nhờ Lomesome@ giúp đỡ như bà chủ quán Lyzzy@ vẫn nhờ ấy . Nhờ cả Thượng sĩ già @ của trang nữa .
 Tác giả sức khỏe yếu lại chưa in sách bao giờ nên bỡ ngỡ , mình mong cả trang ta góp sức.
Logged
vanson307
Thành viên
*
Bài viết: 388


« Trả lời #192 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2012, 11:53:35 am »

Tôi là vanson307 đăng ký 01 cuốn nếu có thì nhận ở đâu các Bác
Logged
nhuthin
Thành viên
*
Bài viết: 80


« Trả lời #193 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2012, 09:26:27 am »

      Rất cám ơn anh, chị, em đã quan tâm và sẽ ủng hộ cuốn sách của tôi.
      Xin chia sẻ cùng anh em một bài nữa


                                                                                       CHỮ ...ĐÓI


          Phàm là lính chiến, đa phần, có lúc đều  trải qua cái đói.

          Không kể các bác thời chống Pháp, anh em ở chiến trường chống Mỹ những năm 60 của thế kỷ trước, khi mà đường mòn Hồ Chí Minh chỉ có gùi và xe thồ, thì càng xa hậu phương càng hay đói. Thế hệ lính chúng tôi đầu những năm 70, khi con đường huyền thoại được mở rộng, hàng sư đoàn vận tải cơ giới  vào chiến trường, vậy mà đôi khi vẫn đứt bữa. Đường ta mở rộng một, thì bom đạn kẻ thù mở rộng gấp mười. Vẫn cam go lắm.

         Ngay chiến trường Quảng Trị năm 1972, nhiều  lúc đói hoa cả mắt. Cầm khẩu súng đầu ruồi cứ nhảy bên này, qua bên kia, tiêu diệt được một tên địch cứ ngỡ là hai .

         Hồi giữ chốt Tám Cát, Thanh Hội ven biển, những ngày biển động, gió mùa đông bắc thổi qua vịnh Bắc Bộ, trời mù, hải quân thả từng bè gạo xuống biển. Gạo được đóng trong hai bao nilon xanh của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, ngoài bọc bao tải đay dạt vào bờ, chúng tôi ra lấy về. Có những hôm trời quang, từng đàn trực thăng của Hạm đội 7 và không lực VNCH, bay rợp biển xả súng vào các bè gạo. Gạo đến tay chúng tôi đã nhão nhoét. Kiểu tiếp tế đổ xuống sông, xuống biển, mười phần được một  như vậy, không biết có quân đội nào áp dụng không?

       Đã kể đến đói, phải nói đến khát. Những ngày nằm trong chốt An Tiêm, Chợ Sải, đêm đêm anh nuôi đem vào cho một bi đông nước dùng cả ngày. Không đánh đấm gì còn được, nhưng khi phải đấu súng thì dốc ngược bi đông mấy lần là cạn. Có những trận đánh chỉ xoay quanh cái giếng, nguồn nước của cả đôi bên. Máu chảy cũng nhiều như nước vậy.

      Chiến dịch Xuân Hè năm 1975, ngày  25/4, đại quân ém trong rừng cao su ven Long Thành.  Đã hai ngày, không một  giọt nước. Khát khô, khổ. Một lính pháo cao xạ 37 ly, đem một bi đông nước đi qua. Thàng M quỳ xuống lạy một lạy, mủi lòng anh ta chìa bi đông ra cho một ngụm. Nhưng thằng M cứ giữ chặt lấy chiếc bi đông không rời. Anh ta đấm đá giằng lại khóc. Cả khẩu đội 37 ly đang chờ anh về. Nhưng anh không kịp về. Một loạt bom bất ngờ dội xuống. Những quả bom quái ác nổ ngay trên thân cây cao su, chụp xuống. Anh tựa lưng vào gốc cao su, toang ngực, mắt trừng trừng . Bạn anh bị một mảnh to bằng ba ngón tay cắm phập vào mông kêu oai oái. Chúng tôi lôi anh ta vào hầm pháo, loay hoay không biết xử trí ra sao. Nhổ mảnh bom như cái sừng tê giác ra không được, mà kỳ lạ, chưa thấy giọt máu nào tuôn ra chẳng biết có nên băng bó hay không nữa?   Người lính của trung đoàn pháo phòng không 367 ấy giờ ra sao? Tiểu đoàn 2,  E 101 F 325 hôm ấy thiệt hại rất nặng nề.

       Năm giờ chiều, pháo binh của ta bắt đầu nã, mở màn chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Tiểu đoàn vận động qua một trảng cỏ lấp sấp nước. Anh em vục mặt xuống, uống cả cỏ lẫn bùn. Vào ven thị trấn Long Thành, một con mương nước “sạch”  hơn sông Tô Lịch một chút. Tiểu đoàn lại tranh thủ giải khát thêm một lần.

        Lúc ấy ai mà nghĩ đến hậu quả của chất độc màu da cam, da quit, da mít, da  gì?

        Kể sơ qua cái đói và khát thế,  với anh em ở Tây Nguyên hay sâu hơn nữa thì có lẽ cũng chỉ là muỗi.

        Hồi còn cầm bút, chúng tôi có thói quen đọc sách. Thói quen lâu ngày ngấm vào người thành nghiện. Vào chiến trường,  lại thêm một nỗi khổ: đói chữ.

         Những lúc trước hòn tên mũi đạn, chẳng nói làm gì. Khi ngưng tiếng súng một chút là cơn nghiện lại kéo về. Tôi thường sục sạo vào những ngôi nhà hoang. Thứ nhất là xem có gì ăn được và thứ nhì có gì đọc được. Tất thẩy, từ chưởng Kim Dung, đến tạp chí, sách giáo khoa, vở học trò vv đều khuân về.

       Vớ được cuốn   sách dạy tiếng Anh của Lê Bá Kông tập năm với những  bài dịch sang tiếng Việt của các học giả  rất hay như” Người Hoa Kỳ với xe hơi” hay “Sự tương đồng và dị biệt giữa tiếng Anh và tiếng Mỹ”. Rồi tạp chí Sử Địa với nhiều thông tin lý thú,  hay tạp chí  Sóng Thần, sách tâm lý chiến của QLVNCH, không phải toàn bài bỏ đi. Một vài phóng sự của các phóng viên chiến trường cũng rất khá. Với tôi, đó là liều  thuốc an thần hữu hiệu sau mỗi trận đánh.

       Huế giải phóng ngày 25/3 năm 1975, trong một ngôi nhà vô chủ bên An Cựu, trên giá sách tôi sáng mắt khi thấy bốn tập thơ “Thơ, thơ”, “Gửi hương cho gió” của Xuân Diệu, “ Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính và “Lửa Thiêng” của Huy Cận, biết là hơi phạm luật nhưng vội cất biến vào balo. Trận Phan Rang, bốn tập thơ ấy bị cháy xém một góc, giờ tôi vẫn giữ làm kỷ niệm.

       Ngày 30/4/1975, Sài Gòn giải phóng, đơn vị đóng quân bên quận Chín. Sau mấy ngày thăm thú “Hòn ngọc viễn đông”, tôi và Phùng nằm bẹp ở nhà. Chủ nhà, không biết trước đây  làm gì nhưng có một tủ sách rất phong phú. Chúng tôi vùi đầu vào cho thỏa cơn đói chữ.

     Chỉ trong hai tuần nhưng tôi cũng đọc được kha khá.  Tiểu thuyết “ Anh em nhà Ka-ra-ma-zop” của Đôt-tôi-ep-xky. “Phía Tây không có gì lạ”,  của E. Remarque. Hồi còn đi học, chúng tôi được dạy về Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa hiện thực, Chủ nghĩa hiện thực XHCN vv, nhưng qua những tác phẩm của Remarque, tôi thấy nó chẳng thuộc chủ nghĩa gì, bao trùm lên cả là chủ nghĩa nhân văn cao cả khiến con người trở nên tinh khiết hơn, cao thượng hơn.

      Tôi còn đọc cả “Dịch hạch” của A Camus, và “ Hóa thân” của F Kafkaz, nhưng thú thực chẳng hiểu gì cả. Chỉ thấy nỗi lo lắng mơ hồ.

       Hai năm sau, ngồi trên giảng đường khoa Ngữ Văn của  trường ĐHTH Hà Nội, chúng tôi được học Văn học Phương Tây, với chuyên  đề “Trào  lưu văn học hiện sinh”. Giáo sư Đỗ Đức Hiểu hỏi: Ai đã đọc tác phẩm của A Camus. Chỉ có sáu sinh viên Văn Khoa Sài Gòn được gửi ra Bắc và một vài sinh viên hiếm hoi giơ tay. Nhờ có bài giảng khúc triết của vị  giáo sư uyên bác, tôi đã dần hiểu được phần nào về hoàn cảnh và sức lan tỏa của trào lưu vang bóng một thời  ấy. Nhân loại trải qua hai cuộc đại chiến. Thân phận con người trở nên nhỏ bé, sự bất an và cái tôi trong sâu thẳm của mỗi cá nhân được đào sâu đến tận cùng. Con người cảm giác bơ vơ trước sự đổ vỡ của trật tự cũ, nhưng cái mới vẫn còn đang manh nha. Như lời của một nhân vật trong truyện “Anh em nhà Ka-ra-ma-zop”: “Chúa đã chết ai muốn làm gì thì làm”.  Hay : “Ta không là gì cả , hoàn toàn không là gì cả”, của Kafka.


      Mạn đàm quanh chữ đói, có vẻ hơi lạc đề, nhưng chữ đói mở rộng không chỉ là nhu cầu của cái dạ dày bé nhỏ mà còn là nhu cầu tinh thần của mỗi con người.

     Thậm chí bây giờ vẫn thấy đói.

      Một lần, khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ trước, tôi có gặp nhà thơ Huy Cận ở tòa soạn báo Nhân Dân, khi ông đang ký nhận nhuận bút. Thay cho lời chào, tôi đọc một câu trong tập “Lửa thiêng” của ông : “ Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”

      Ông ngước mắt nhìn tôi và đáp lại :“ Bây giờ vẫn còn sầu”

      Một con người với đường thơ và quan lộ, khó ai sánh nổi mà vẫn còn sầu. Thế  mới biết nhu cầu cho tinh thần quả là không  giới hạn.

    Còn  ta, một người  bình thường, trải qua một mùa “đại chiến”, vẫn còn thấy đói, âu cũng là lẽ thường tình.

    

                                                                                                      Tháng Tư, năm 2012
                                                                                                                                       Như ThÌn
 

  

  

  

        

  
  

  


« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2012, 09:28:11 pm gửi bởi nhuthin » Logged
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #194 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2012, 09:46:02 am »

     Rất cám ơn anh, chị, em đã quan tâm và sẽ ủng hộ cuốn sách của tôi.
      Xin chia sẻ cùng anh em một bài nữa


                                                                         CHỮ ...ĐÓI


          Phàm là lính chiến, đa phần, có lúc đều  trải qua cái đói.

          Không kể các bác thời chống Pháp, anh em ở chiến trường chống Mỹ những năm 60 của thế kỷ trước, khi mà đường mòn Hồ Chí Minh chỉ có gùi và xe thồ, thì càng xa hậu phương càng hay đói. Thế hệ lính chúng tôi đầu những năm 70, khi con đường huyền thoại được mở rộng, hàng sư đoàn vận tải cơ giới  vào chiến trường, vậy mà đôi khi vẫn đứt bữa. Đường ta mở rộng một, thì bom đạn kẻ thù mở rộng gấp mười. Vẫn cam go lắm.

         Ngay chiến trường Quảng Trị năm 1972, nhiều  lúc đói hoa cả mắt. Cầm khẩu súng đầu ruồi cứ nhảy bên này, qua bên kia, tiêu diệt được một tên địch cứ ngỡ là hai .

         Hồi giữ chốt Tám Cát, Thanh Hội ven biển, những ngày biển động, gió mùa đông bắc thổi qua vịnh Bắc Bộ, trời mù, hải quân thả từng bè gạo xuống biển. Gạo được đóng trong hai bao nilon xanh của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, ngoài bọc bao tải đay dạt vào bờ, chúng tôi ra lấy về. Có những hôm trời quang, từng đàn trực thăng của Hạm đội 7 và không lực VNCH, bay rợp biển xả súng vào các bè gạo. Gạo đến tay chúng tôi đã nhão nhoét. Kiểu tiếp tế đổ xuống sông, xuống biển, mười phần được một  như vậy, không biết có quân đội nào áp dụng không?

       Đã kể đến đói, phải nói đến khát. Những ngày nằm trong chốt An Tiêm, Chợ Sải, đêm đêm anh nuôi đem vào cho một bi đông nước dùng cả ngày. Không đánh đấm gì còn được, nhưng khi phải đấu súng thì dốc ngược bi đông mấy lần là cạn. Có những trận đánh chỉ xoay quanh cái giếng, nguồn nước của cả đôi bên. Máu chảy cũng nhiều như nước vậy.

      Chiến dịch Xuân Hè năm 1975, ngày  25/4, đại quân ém trong rừng cao su ven Long Thành.  Đã hai ngày, không một  giọt nước. Khát khô, khổ. Một lính pháo cao xạ 37 ly, đem một bi đông nước đi qua. Thàng M quỳ xuống lạy một lạy, mủi lòng anh ta chìa bi đông ra cho một ngụm, Nhưng thằng M cứ giữ chặt lấy chiếc bi đông không rời. Anh ta đấm đá giằng lại khóc. Cả khẩu đội 37 ly đang chờ anh về. Nhưng anh không kịp về. Một loạt bom bất ngờ dội xuống. Những quả bom quái ác nổ ngay trên thân cây cao su, chụp xuống. Anh tựa lưng vào gốc cao su, toang ngực, mắt trừng trừng . Bạn anh bị một mảnh to bằng ba ngón tay cắm phập vào mông kêu oai oái. Chúng tôi lôi anh ta vào hầm pháo, loay hoay không biết xử trí ra sao. Nhổ mảnh bom như cái sừng tê giác ra không được, mà kỳ lạ, chưa thấy giọt máu nào tuôn ra chẳng biết có nên băng bó hay không nữa?   Người lính của trung đoàn pháo phòng không 367 ấy giờ ra sao? Tiểu đoàn 2,  E 101 F 325 hôm ấy thiệt hại rất nặng nề.

       Năm giờ chiều, pháo binh của ta bắt đầu nã, mở màn chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Tiểu đoàn vận động qua một trảng cỏ lấp sấp nước. Anh em vục mặt xuống, uống cả cỏ lẫn bùn. Vào ven thị trấn Long Thành, một con mương nước “sạch”  hơn sông Tô Lịch một chút. Tiểu đoàn lại tranh thủ giải khát thêm một lần.

        Lúc ấy ai mà nghĩ đến hậu quả của chất độc màu da cam, da quit, da mít, da  gì?

        Kể sơ qua cái đói và khát thế,  với anh em ở Tây Nguyên hay sâu hơn nữa thì có lẽ cũng chỉ là muỗi.

        Hồi còn cầm bút, chúng tôi có thói quen đọc sách. Thói quen lâu ngày ngấm vào người thành nghiện. Vào chiến trường,  lại thêm một nỗi khổ: đói chữ.

         Những lúc trước hòn tên mũi đạn, chẳng nói làm gì. Khi ngưng tiếng súng một chút là cơn nghiện lại kéo về. Tôi thường sục sạo vào những ngôi nhà hoang. Thứ nhất là xem có gì ăn được và thứ nhì có gì đọc được. Tất thẩy, từ chưởng Kim Dung, đến tạp chí, sách giáo khoa, vở học trò vv đều khuân về.

       Vớ được cuốn   sách dạy tiếng Anh của Lê Bá Kông tập năm với những  bài dịch sang tiếng Việt của các học giả  rất hay như” Người Hoa Kỳ với xe hơi” hay “Sự tương đồng và dị biệt giữa tiếng Anh và tiếng Mỹ”. Rồi tạp chí Sử Địa với nhiều thông tin lý thú,  hay tạp chí  Sóng Thần, sách tâm lý chiến của QLVNCH, không phải toàn bài bỏ đi. Một vài phóng sự của các phóng viên chiến trường cũng rất khá. Với tôi, đó là liều  thuốc an thần hữu hiệu sau mỗi trận đánh.

       Huế giải phóng ngày 25/3 năm 1975, trong một ngôi nhà vô chủ bên An Cựu, trên giá sách tôi sáng mắt khi thấy bốn tập thơ “Thơ, thơ”, “Gửi hương cho gió” của Xuân Diệu, “ Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính và “Lửa Thiêng” của Huy Cận, biết là hơi phạm luật nhưng vội cất biến vào balo. Trận Phan Rang, bốn tập thơ ấy bị cháy xém một góc, giờ tôi vẫn giữ làm kỷ niệm.

       Ngày 30/4/1975, Sài Gòn giải phóng, đơn vị đóng quân bên quận Chín. Sau mấy ngày thăm thú “Hòn ngọc viễn đông”, tôi và Phùng nằm bẹp ở nhà. Chủ nhà, không biết trước đây  làm gì nhưng có một tủ sách rất phong phú. Chúng tôi vùi đầu vào cho thỏa cơn đói chữ.

     Chỉ trong hai tuần nhưng tôi cũng đọc được kha khá.  Tiểu thuyết “ Anh em nhà Ka-ra-ma-zop” của Đôt-tôi-ep-xky. “Phía Tây không có gì lạ”, “Chuyến thư miền nam”, của E. Remarque( Giải Nobel văn học). Hồi còn đi học, chúng tôi được dạy về Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa hiện thực, Chủ nghĩa hiện thực XHCN vv, nhưng qua những tác phẩm của Remarque, tôi thấy nó chẳng thuộc chủ nghĩa gì, bao trùm lên cả là chủ nghĩa nhân văn cao cả khiến con người trở nên tinh khiết hơn, cao thượng hơn.

      Tôi còn đọc cả “Dịch hạch” của A Camus, và “ Hóa thân” của F Kafkaz, nhưng thú thực chẳng hiểu gì cả. Chỉ thấy nỗi lo lắng mơ hồ.

       Hai năm sau, ngồi trên giảng đường khoa Ngữ Văn của  trường ĐHTH Hà Nội, chúng tôi được học Văn học Phương Tây, với chuyên  đề “Trào  lưu văn học hiện sinh”. Giáo sư Đỗ Đức Hiểu hỏi: Ai đã đọc tác phẩm của A Camus. Chỉ có sáu sinh viên Văn Khoa Sài Gòn được gửi ra Bắc và một vài sinh viên hiếm hoi giơ tay. Nhờ có bài giảng khúc triết của vị  giáo sư uyên bác, tôi đã dần hiểu được phần nào về hoàn cảnh và sức lan tỏa của trào lưu vang bóng một thời  ấy. Nhân loại trải qua hai cuộc đại chiến. Thân phận con người trở nên nhỏ bé, sự bất an và cái tôi trong sâu thẳm của mỗi cá nhân được đào sâu đến tận cùng. Con người cảm giác bơ vơ trước sự đổ vỡ của trật tự cũ, nhưng cái mới vẫn còn đang manh nha. Như lời của một nhân vật trong truyện “Anh em nhà Ka-ra-ma-zop”: “Chúa đã chết ai muốn làm gì thì làm”.  Hay : “Ta không là gì cả , hoàn toàn không là gì cả”, của Kafka.


      Mạn đàm quanh chữ đói, có vẻ hơi lạc đề, nhưng chữ đói mở rộng không chỉ là nhu cầu của cái dạ dày bé nhỏ mà còn là nhu cầu tinh thần của mỗi con người.

     Thậm chí bây giờ vẫn thấy đói.

      Một lần, khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ trước, tôi có gặp nhà thơ Huy Cận ở tòa soạn báo Nhân Dân, khi ông đang ký nhận nhuận bút. Thay cho lời chào, tôi đọc một câu trong tập “Lửa thiêng” của ông : “ Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”

      Ông ngước mắt nhìn tôi và đáp lại :“ Bây giờ vẫn còn sầu”

      Một con người với đường thơ và quan lộ, khó ai sánh nổi mà vẫn còn sầu. Thế  mới biết nhu cầu cho tinh thần quả là không  giới hạn.

    Còn  ta, một người  bình thường, trải qua một mùa “đại chiến”, vẫn còn thấy đói, âu cũng là lẽ thường tình.

    

                                                                                                      Tháng Tư, năm 2012
                                                                                                                                       Như ThÌn
 

  

@NT: Cám ơn bạn lại cho chúng tôi 1 bài viết mới đầy sự triết lý của những thằng lính qua cửa tử để nhìn lại chặng đường đã qua.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2012, 01:13:38 pm gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
vanson307
Thành viên
*
Bài viết: 388


« Trả lời #195 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2012, 11:51:34 am »

Chào Bác nhuthin, đọc bài viết của Bác làm em bồi hồi nhớ lại về cái ĐÓI.Tuổi thơ của em đã đói, chứng kiến về cái đói của nhiều gia đình khác thời bao câp , thế mà cũng từ những gia đình bữa no, bữa đói ấy  biết bao người con đã lên đường tiến ra các mặt trận và lập lên biết bao chiến công lưu vào sử sách. Thế mà Bác biết không, ngày chiến đấu ở MT 579, hướng Đền Preavihia, cái đói người lính có thể vượt qua được vậy mà CÁI KHÁT người lính nhiều lúc lại phải đầu hàng, như trận đánh căn cứ 547 của f307 mùa khô năm 1983 ta đã bị thua vì thiếu nước uống cảnh lính chiến vứt bỏ lương khô, gạo sấy đi để rút lui quá đau sót phải không Bác.Những người lính dũng cảm, can trường nơi trận mạc, vũ khí mạnh hơn địch, kinh nghiệm chiến đấu có thừa mà thua vì lý do THIẾU NƯỚC thôi Bác ạ. Sau này vào mùa khô năm 1984 trong trận đánh lại cũng chính căn cứ đó ta đã chuẩn bị nước uông đầy đủ hơn nên dù địch mạnh hơn hẳn trước do đã có sự phòng bị ma ta đã đánh và thắng lợi vang dội.
Logged
hatuyenha
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2403


« Trả lời #196 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2012, 04:49:06 pm »

   Đọc bài " Đói " của em chị lại nghẹn ngào , thương những người lính trận mạc . Đói , khát, thèm đọc như em đã kể làm chị nhớ đến cuốn chuyện " Bông Hồng vàng " của Pautopxki thời ở rừng bọn chị đọc đến nát cả quyển chuyện .
   Mong sách của em nhanh đến tay người đọc để nhiều người hơn biết đến cái nhân văn của người lính .
   Rất cám ơn em.
Logged
TiepTS21
Thành viên
*
Bài viết: 227


« Trả lời #197 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2012, 10:45:47 pm »

Đọc trang của bác mà em thấy rất gần, nhất là bác kể về chuyện bác và các đồng đội ở Hải Phòng, đúng tính cách của cái dân Hải Phòng: Ngang bướng, lì đón cả trong chiến đấu và trò bầy hây, và có chút yêng hùng nữa, pha lẫn chút lãng tử. Có lẽ tính cách đấy được nhà văn Nguyên Hồng mô tả trong tác phẩm Bỉ vỏ với cái tính của anh chàng Năm Sài Gòn và cô nàng Tám Bính.
Em xin đăng ký bác 02 cuốn, và em ở trong Tp HCM nhận sách và chuyển tiền như thế nào bác?
Logged
linhcnn72
Thành viên
*
Bài viết: 56


« Trả lời #198 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2012, 11:09:33 pm »

@NT
Chính trong lần hành quân và ém trong rừng cao su gần Long thành,lần đầu tiên trong đời tôi mới biết cơn khát nó khủng khiếp thế nào.Không chịu nổi, tôi liều đục hộp cá của Canada ra húp nước ,mà làm sao có thể đỡ khát bằng cái thứ đó chứ,thế là khát vẫn hoàn khát mà còn mất toi hộp cá to tướng.Chiều hôm tiến đánh Long thành lại còn khiếp hơn ,vớ được cái hố cá nhân ven đường có một tí nước bùn cũng đành cố gạn để uống! Khi lội qua mương nước "sạch",tôi chơi nguyên bộ lao xuống nước uống lấy uống để, còn lấy đầy bi đông.Đến cửa ngõ Long thành, thấy có gói đường trong ba lô bị chảy,tiếc của tôi hòa luôn nước đó uống vậy mà cũng chẳng sao.Nhưng sách mới là cơn khát nặng nhất. Cả mấy năm ở QT mà không có gì để đọc.Chỉ duy nhất có một quyển thơ mua được ở Đông hà,có những bài của Dương hương ly... Ở Long thành,vớ được tờ báo lá cải cũng đọc ngấu nghiến và lúc đó mới biết thằng Tầu đã ăn cướp Hoàng sa. Đến SG thì quá đã, tha hồ đọc. Có quyển như"phía tây không có gì lạ" ngoài Bắc đã dịch từ 1969 nhưng còn rất nhiều quyển khác như "bố già", "papilon" vv...lúc ấy mới biết.
Logged
MUCTAU
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 534


« Trả lời #199 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2012, 02:35:44 am »

Em xin đăng ký một cuốn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM