Ôi may quá các bạn của tôi. Gia đình cô em vợ tôi cũng có một ông anh chồng là LS tên Đặng Bá Miện, quê Đồng Hỉ Thái Nguyên, lính D9 E66 hi sinh tháng 6/1972 tại khu vực Điểm cao 105Bắc, cho tới nay vẫn chưa tìm thấy mộ. Gia đình đã lên Sư 304 làm thủ tục xin hướng dẫn tìm mộ LS rồi nhưng đơn vị vẫn botay.com. Các bạn làm gắt vụ này cho gia đình ăn theo với.
Các cơ sở tìm điểm cao 105 bắc tại Hải Lăng, Quảng Trị năm 1972:
1. tài liệu 1:
... Điểm cao 105 bắc nằm trong vùng giáp ranh giữa đồng bằng và rừng núi, cách thị xã Quảng Trị về phía tây nam chừng 10 km. Từ điểm cao 105 ta có thể quan sát rõ các trận địa pháo, cum xe cơ giới, kho tàng và sự vận chuyển trên quốc lộ 1 từ cầu Xuân Lâm đến thị xã Quảng Trị. Điểm cao 105 nằm sát trục đường vận chuyển số 2 của ta (từ ngoài vào), do đó địch quyết tâm chiếm 105 để cắt đường vận chuyển của ta, đồng thời bảo vệ sườn phía tây nam thị xã Quảng Trị và làm bàn đạp đánh chiếm các điểm cao 132, Động Ông Do.
2. Tài liệu 2:
...Ngày 17 tháng 8 năm 1972, sư đoàn dù ngụy lại mở đợt phản kích thứ năm đánh ra hướng tây, trên hướng của Sư đoàn 304 đảm nhiệm. Địch tiến công vào các trận địa thốt của ta gần khu vực điểm cao 235, uy hiếp các trận địa pháo của Trung đoàn 68. Trung đoàn 24 được sư đoàn giao nhiệm vụ diệt dịch ở điểm cao 235. Trung đoàn 66 chiến đấu quyết liệt ở điểm cao 105 bắc. Sư đoàn chủ trương giữ vững các điểm cao quan trọng: 105 bắc, 367, động Ông Do...
và
... Sau khi chiếm điểm cao 367, ngày 11 tháng 11, địch chiếm mỏm A, mỏm chính của Động Ông Do. Trước tình hình đó, sư đoàn đã lệnh cho trung đoàn 66 tổ chức phản kích đánh bật địch khỏi mỏm A. Cuộc chiến đấu ở Động Ông do diễn ra quyết liệt hàng tháng trời. Ta và địch giành nhau từng thước đất, có những căn hầm phải giành đi giật lại năm, bảy lần. Đến ngày 12 tháng 12, địch chiếm được Động Ông Do, sau đó chiếm các điểm cao 105 bắc, 132 do trung đoàn 141 chốt giữ. Địch vẫn không đẩy được ta ra xa đường 1 để làm bàn đạp tiến công sang bắc Thạch Hãn....
3. tài liệu 3:
... Sau khi các Sư đoàn 308/ F308 và 304/ F304 rời khỏi Quảng Trị, toàn bộ khu vực từ Tích Tường, Như Lệ đến Đối Dá, Động ông Do rộng khoảng 35 km2 do Sư đoàn 312/F312 đảm nhiệm. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tư lệnh Lã Thái Hòa, Tham mưu trưởng Nguyễn Duy Hàn và sự giúp đỡ của cơ quan tham mưu Mặt trận B5, cơ quan tham mưu sư đoàn đã nghiên cứu, xác định các khu vực phòng thủ quan trọng gồm: Tích Tường, Như lệ Đá Đứng. Thạch Lệ cụm điểm cao 15-29-52. cụm điểm cao 134-165 - Khe Trại, cụm điểm cao 132-105, đồi Giang và Động Tiên. Địa hình các khu vực này đều trống trải, đồi cỏ tranh xen lẫn sim mua. Trên cơ sở đánh giá, phân tích địa hình các khu vực, khả năng và điều kiện chiến đấu của từng đơn vị, Bộ tư lệnh sư đoàn quyết định tổ chức lực lượng chiến đấu và bố trí các cụm phòng ngự từ Tích Tường - Như Lệ đến các điểm cao 52-29-15, trong đó cụm điểm cao 52-29-15 là cụm trận địa then chốt trong thế trận phòng ngự của sư đoàn.
Trung đoàn 141 do đồng chí Đào Quý Khê chỉ huy chuyển từ khu vực Tân Tẹo về phòng ngự trận địa ở cụm điểm cao 105-132, đồi Giang, đồi Ba Cây. Đứng sau trung đoàn 141 là trung đoàn 165 mới được củng cố, tổ chức phòng ngự trên các cụm điểm cao 165- 134, Khe Trại, đồng thời làm lực lượng dự bị của sư đoàn. Để tăng cường chỉ đạo, chỉ huy trên các hướng phòng ngự, Bộ tư lệnh sư đoàn đặt Sở chỉ huy cơ bản ở Chùa Nga và tổ chức Sở chỉ huy phía trước ở cánh bắc (hướng trung đoàn 209). Đồng chí Nguyễn Chuông - tham mưu trưởng sư đoàn được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy trung đoàn 141. Đồng chí Nguyễn Xuyên - phó chính ủy sư đoàn chỉ đạo trung đoàn 209.