Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức một thời hoa lửa-Phần 5  (Đọc 237251 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
xuanxoan
Thành viên
*
Bài viết: 954


« Trả lời #180 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2012, 08:58:42 am »

 


     Xin lỗi vì viết không phù hợp với nội dung bài viết của đồng đội.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2012, 01:49:39 pm gửi bởi xuanxoan » Logged
xuanxoan
Thành viên
*
Bài viết: 954


« Trả lời #181 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2012, 09:01:35 am »

Tôi xóa vì không phù hợp với phần bác tường đang viết. Xin lỗi.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2012, 01:47:52 pm gửi bởi xuanxoan » Logged
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #182 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2012, 09:04:22 am »

NGÀY NÀY 40 NĂM VỀ TRƯỚC (tiếp)

Vào lửa và nỗi đau

Nửa đêm cả đại đội tập trung ở sân c bộ dưới trời mưa to, mang tiếng đại đội nhưng chỉ là 2 trung đội với khoảng mười lăm tay súng. Ông Nghĩ dẫn quân đi, ông Trọng và Trình ba toác ở nhà, cả Bắc điếc nữa. Bắc đơn vị không cho đi vì nó không nghe được tiếng pháo rít trên đầu, nhiều lần đi với nó tôi phải kéo nó nằm xuống để tránh những quả pháo nổ gần. Chính vì không nghe được mà nó đã hy sinh khi dính một mảnh pháo vào gáy lúc về gần đến hầm, trong một đêm đi tải gạo và đạn sau đó hơn 1 tháng.

Trinh sát dẫn chúng tôi ra đến lộ 4, vượt qua đống đổ nát của dẫy nhà ven đường nơi mấy cái xe thiết giáp bị cháy nhưng lần này không rẽ phải như những lần vào chốt đưa cơm mà chúng tôi cứ men theo lộ mà đi. Nước mưa táp vào mặt làm nhòe nhoẹt mắt kính nhưng vẫn bám được đội hình nhờ ánh sáng của hỏa châu địch, qua một khoảng ruộng lầy thụt đến một rặng tre tan hoang, cậu trinh sát ra hiệu chúng tôi dừng lại rồi biến về phía trước. 4 chúng tôi cụm lại sau một gò mộ ngổn ngang những bia mộ xen lẫn các hố pháo, hố bom. Chỗ chúng tôi liên tục bị những quả cối cá nhân nã vào, nhìn những quả đạn đỏ lừ lướt qua đầu nổ phía sau, quả thì nổ phía trước, phía bên cạnh. Tôi lăn ngay vào một hố pháo gần đấy, hố sâu khoảng 50cm lại ngập nước, mỗi khi úp mặt để tránh thì coi như phải nín thở để khỏi sặc nước. Chợt phát hiện bóng mấy người lố nhố ở đoạn hào gần đấy, tôi lao ngay xuống, Phồm, Bình và Lào đều ở đó. Đây là khu vực chốt của c6 thuộc d2, họ có các đường hào dẫn tới các hầm chốt khá hoàn chỉnh. Trong một ngách hào tôi thấy mấy bóng người nằm chồng chất lên nhau - đó là những anh em hy sinh đang chờ vận tải chuyển ra ngoài. Ngồi bệt dưới hào, bùn nước ngang bụng mấy anh em tranh thủ chợp mắt một lúc trong lúc chờ trinh sát dẫn đi tiếp. Một khoảng thời gian khá lâu chúng tôi bị dựng dậy để đi tiếp. Qua dãy chốt của c6 chúng tôi lom khom tiến về phía trước giữa các đống nhà đổ nát, chợt một loạt tiếng nổ liên tục, rất đanh rất gần chỗ chúng tôi, chùm đạn đỏ lừ sát trên đầu chúng tôi lao vào khu vực chốt của c6. Có một ổ đại liên của địch rất gần đây trong một căn nhà đổ nào đó. Một đường hào cạn (có thể là đường tăng) cắt ngang thấp hẳn xuống so với xung quanh tới gần 1 mét rộng đến gần năm chục mét chi chít hố pháo. Chúng tôi qua khỏi con hào đó tới một khu vực xung quanh rất nhiều dẫy nhà dài đổ nát, cả đại đội nép dưới chân những đống gạch vụn khi được biết đã đến nơi. Hình như chúng tôi vào quá sâu thì phải vì căn cứ những luồng đạn đại liên cũng như tiếng nổ của M79 ở phía sau lưng chúng tôi. Anh Tạo đi hội ý với đại đội bò về chỗ chúng tôi: “Các tiểu đội tản ra, tranh thủ đào công sự , trời sáng đến nơi rồi. Cố gắng trụ lại chờ lệnh mới. Làm một hơi thuốc rồi đi”. Tôi rút cái điếu cài ở yếm đạn đưa cho anh, mấy anh em chụm đầu trong một cái hố để hút thuốc, rất cẩn thận còn phải lấy vải mưa chùm lên cho khỏi phát sáng ra ngoài. Theo Phồm bò ra cách đấy chưa đầy hai chục mét thì một chớp đỏ kèm theo tiếng oành của M79. Một bóng người đang dẫy dụa xung quanh là khói đạn khét lẹt. Tôi và Phồm lao về phía đó. Trời ! Anh Tạo từ  cổ đến ngực bị nát bét đầm đìa máu. Thường giữ chặt người anh, tay bịt lấy miệng không cho tiếng rên la phát ra vì địch đang ở rất gần ngay tại bên kia ngôi nhà đổ. Bàng hoàng nhìn anh ưỡn người và đuối dần, chúng tôi vuốt mắt cho anh, đặt anh dựa vào đống gạch vụn và lấy vải mưa phủ cho anh. “Anh Tạo ơi ! Em vẫn nhớ tới câu nói của anh đêm hôm trước khi anh không ngủ được nhớ tới gia đình. Phải chăng đó là một điềm báo trước...”.

Trời đã tạnh, chỗ chúng tôi nằm cạnh một vườn chuối xơ xác đổ ngổn ngang. Đào vội mấy cái hố cá nhân dưới chân đống đổ nát của ngôi nhà. Được cái đất ở đây mềm do mấy hôm mưa nên đào cũng dễ, tranh thủ lôi mấy cây chuối phủ lên làm nóc hầm. Mỗi hố cá nhân cách nhau khoảng 5,7 mét để hỗ trợ lẫn nhau. Trời sáng dần, tôi quan sát xung quanh nhận thấy chúng tôi đang nằm tại một khu trường học khá lớn bởi rất nhiều bàn ghế học sinh, bảng đen lẫn trong đống gạch vụn. Ngay sau lưng chúng tôi, nơi anh Tạo nằm là một dãy lớp học. Trước mặt, không xa lắm khoảng năm chục mét là một con sông nhỏ - sau này mới biết đây là sông Vĩnh Định chảy ra Thạch Hãn tại Chợ Sãi. Vườn chuối khá rộng chạy từ dãy lớp học cho tới sát bờ sông. Chếch về phía phải quãng độ 200 mét có một cây cầu sắt còn sót lại vài thanh dầm và lan can, có một nền đường khá cao chạy qua cầu dẫn tới một khu vực rất nhiều nhà cửa cây cối đổ nát. Sau này tôi mới biết đây chính là cầu Sãi bắc qua sông Vĩnh Định trên trục đường 4 chạy từ  QL1 chỗ cầu Ga bắc qua sông Thạch Hãn, qua Thị xã Quảng Trị để ra Cửa Việt. Con đường này chạy qua thôn Đầu Kênh như tôi đã nói ở đoạn trên. Hai đầu cầu sắt lố nhố những bóng áo rằn ri của địch. Mấy khối nhà đổ xung quanh vọng ra tiếng gọi nhau thậm chí có cả tiếng còi thổi toét...toét. Xung quanh toàn là địch và hình như chúng chưa phát hiện ra chúng tôi. Có tiếng gầm rú của xe tăng địch từ  phía cầu vọng lại - chính vì thế càng khẳng địch đoạn hào cạn mà đêm qua chúng tôi vượt qua chính là đường cơ động của xe tăng địch. Có thể ở đây nằm sâu trong khu vực của địch nên hầu như không bị một quả pháo nào có chăng chỉ bị pháo của ta mà thôi, mà pháo của ta đâu có nhiều đạn để bắn.

Bỗng dưng hàng loạt cối M79 dồn dập nã vào đầu dãy lớp học, bị lộ rồi, tiếng đạn nổ chát chúa cùng  mùi khói đạn khét lẹt. Từ sau những khối nhà đổ phía đường tăng khoảng hơn hai chục tên lính lom khom xông vào hướng của b2 cách chỗ chúng tôi khoảng 4,5 chục mét. Hai quả B40 nổ trúng đám lính, số còn lại tản ra có mấy thằng hướng về phía tiểu đội tôi. Tim đập thình thịch, bụng thắt lại, hai tay run run vì lần đầu tiên trực diện nhìn thấy lính địch, tôi lẩy bẩy đưa khẩu AK hướng về phía thằng gần nhất, nòng súng cứ rung lên bần bật không thể nào ổn định được đầu ngắm. Nhìn sang bên chỗ Phồm, nó lom khom trong hố mồm cắn chặt quai mũ tai bèo, hai tay hai quả lựu đạn, trước mặt để mấy quả thủ pháo và lựu đạn. Dáng vẻ lì lợm của nó làm cho tôi yên tâm phần nào, nó nhìn sang tôi gật gật đầu như để động viên. Bắt chước nó, tôi lôi mấy quả lựu đạn đặt trước mặt. Khoảng cách với địch ngắn dần, thằng đi đầu cách tôi khoảng hai chục mét, nó quỳ xuống giương một khẩu súng nòng to ngắn về hướng dãy lớp học, một tiếng cạch đanh gọn rồi một chớp lửa đỏ cùng tiếng oành dội phía phải chúng tôi. Đây là thằng xạ thủ M79 đây, nghĩ đến đây tôi rút chốt quả US và tung về phía trước, liên tiếp tôi tung thêm 2 quả lựu đạn tấn công nữa, liền sau đó chỗ Lào bùng lên một chớp lửa đỏ của B40, quả đạn nổ tung vào giữa đám lính địch đang xông lên phía b2. Hàng loạt cối cá nhân nã liên tục vào chỗ chúng tôi, tôi chúi đầu trong công sự để tránh. Bỗng có tiếng thình thịch kèm theo tiếng còi toét...toét, tôi bật dậy, ngay trước mặt tôi chưa đầy chục mét một bóng áo rằn ri đang lao đến tay cầm khẩu cực nhanh, nó há hốc mồm có lẽ không ngờ thấy đối phương từ dưới đất bật lên, tôi găm một loạt đạn vào tên lính cũng chẳng kịp bắn điểm xạ như đã được huấn luyện, đồng thời lăn ra khỏi hố lao sang một hố pháo ngập nước gần đấy. Liên tiếp quét thêm vài loạt vào tụi lính khiến chúng phải lùi ra xa sau những dẫy nhà đổ. Không ngờ Lào đang nằm trong hố pháo với vết thương ở cổ máu chảy ướt sũng cả vạt áo, nước trong hố cũng chuyển sang mầu hồng vì máu của Lào. Tôi băng cho nó nhưng không làm sao cầm được máu, mấy cuộn băng thẫm đẫm máu, cũng chẳng nhớ là chặn động mạch ở đâu nữa. Phồm cởi luôn áo của Lào quấn lấy chỗ bị thương ở cổ rồi lấy 1 cuộn băng buộc lại. Chúng tôi kéo Lào về hầm, nó phều phào không ra tiếng ra hiệu cho uống nước. Bình tông của tôi bị một mảnh đạn từ lúc nào chảy gần hết nước, còn bao nhiêu tôi cho Lào uống từng tí một, nó mất máu nhiều quá, cho uống nhiều lúc này sẽ chết mất... Chúng tôi giờ chỉ còn 3 thằng, phía lớp học không biết còn ai không. Định vứt nắp cơm đã nhão nhoét vì ngấm nước, nhưng Phồm ngăn lại và lấy dao gọt bỏ lớp vỏ ngoài. Không ngờ miếng cơm lại ngon thế, vị ngòn ngọt của nắm cơm làm cho tôi tỉnh hẳn. Lúc này Bình đang cảnh giới, tôi bò lại chỗ nó đưa nắm cơm nhưng nó đang gặm lương khô, nó vừa nhai giọng nghẹn lại: “Thằng Lào liệu có sao không anh, nó cùng quê với em...”.

Nằm trong hố pháo ngập nước nơi  Lào bị thương, vẫn còn mầu hồng hồng của máu, bên dưới là lớp nước bùn, trời nắng to, hơi nước bốc lên hầm hập, khát nước quá mà bình tông lại thủng, tôi đành lấy cái ca bình tông gạn lấy lớp nước ở trên để uống. Mùi bùn lẫn máu tanh tanh, khăn khẳn như muốn lộn mửa, nhưng chỉ còn cách nhấp thật nhanh để cho đỡ cơn khát. Khẩu B40 của Lào còn 4 quả, tôi còn mấy quả lựu đạn và thủ pháo, đạn AK còn nhiều. Phồm ra hiệu cho chúng tôi lui về phía vườn chuối, ở đây có mấy đoạn rãnh và nhiều hố pháo có thể làm công sự  nhưng phía bờ sông lại quá trống trải. Từ bên kia sông vọng sang tiếng ì ầm của xe địch, thấp thoáng giữa những khu nhà đổ nát là bóng lính địch - sau này mới biết đấy là làng Cổ Thành nằm sát Thị xã...

(Trích Ngược dòng ký ức)

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17230.140.html
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17230.150.html


Ngày xưa là trường tiểu học cộng đồng


Trận chiến của chúng tôi diễn ra ở đây, phía sau là nơi anh Tạo hy sinh


Sông Vĩnh Định chảy qua trước cổng trường (bờ trái), bên kia sông là làng Cổ thành


Cầu Chợ Sãi tháng 4/2001


Cầu Chợ Sãi tháng 7/2012
[/i]
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2012, 11:28:44 am gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
chienc3.1972
Thành viên
*
Bài viết: 861


« Trả lời #183 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2012, 09:41:40 am »

@Xuanxoan: Bọn tôi vui vẻ nhận lời mời của bác và sẽ thực hiện khi nào có điều kiện thích hợp. Grin
Khi hành quân vào Nam năm 1972, qua vùng rừng núi Quảng Ninh (Quảng Bình) lính nhà ta nặng è cổ, có thằng tiểu đội tôi vứt cả bao ruột tượng gạo dọc đường. Thế là anh em bị đói. Dọc đường tới chỗ nghỉ nấu ăn tôi lao xuống suối vơ một nắm tướng môn thục về rửa sạch, thái ra nấu với ruốc mặn, cho chút mì chính vào. Lính ăn cơm chan chan húp hụp sì sụp khen ngon. Chắc là lúc đó đói quá thấy ngon thôi. (kiểu như mèo Trạng Quỳnh ý). Chứ có mẹ gì mà ngon hả bác. Thứ đó nó giống như bèo tây (lục bình) ăn nhạt thếch, chỉ thích hợp để nấu cám heo thôi.
Logged
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #184 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2012, 10:12:00 am »

ĐI TÌM QUÊ ANH TẠO

Nhắc lại câu chuyện 40 năm về trước và về anh Tạo và Lào đã hy sinh ngày 16/9/1972. Sau này khi ký HĐ Paris 1973, khu vực này thuộc địch kiểm soát cách tuyến giáp ranh với ta chừng 200m. Ngày ấy chúng tôi chỉ biết anh Tạo quê ở Phúc Yên mà thôi. Sau này khi tôi đi viện trở về tôi đã tìm cách ra tuyến chốt Chợ Sãi để nhìn về phía cầu Chợ Sãi và khu trường học để nhớ lại anh Tạo, Lào, Triệu và những anh em đã hy sinh ngày hôm ấy. Tôi đã liên hệ với đơn vị và được biết thông tin về anh: Vũ Văn Tạo, sinh năm 1949 quê Nam Anh, Kim Anh, Vĩnh Phú. Hy sinh 16/9/1972 tại Nại Cửu, Triệu Long, QT. Tọa độ nơi hy sinh là X: 33.350 và Y: 55.500. Thực ra khu vực chúng tôi tác chiến hôm đó là Chợ Sãi chứ không phải Nại Cửu. Sau chiến tranh tôi đã để tâm đi tìm quê anh nhưng huyện Kim Anh sau trở thành huyện Mê Linh và xã Nam Anh không có.

Tình cờ c3 của tôi có L. là y tá nguyên là cán bộ khung huấn luyện của f304B cùng với anh Tạo đã cung cấp cho tôi thông tin về anh Tạo. Số là L. và anh Tạo nằm trong số cán bộ khung sau khi bàn giao quân cho e101 thì họ cũng nằm trong số cán bộ khung được tăng cường cho đơn vị chiến đấu. Anh Tạo về c3 cùng chúng tôi, còn L. về là y tá cho c4 (c hỏa lực của tiểu đoàn).

Sau này L.về c3 chúng tôi. Hết chiến tranh anh ta lại về với nghề giáo viên cấp 2 ở quê Lập Thạch, Vĩnh Phú. Trong 1 buổi tập huấn bồi dưỡng giáo viên của tỉnh, tình cờ L. ngồi cạnh 1 GV quê ở gần TX Phúc Yên có biết anh Tạo, L. nổ rất kinh về trận chiến ngày hôm đó và cho biết chứng kiến anh Tạo hy sinh (thực chất hôm đó c4 hỏa lực nằm ở phía sau). Người GV đồng hương với anh Tạo về nói chuyện với người nhà anh Tạo, và gia đình đã lên tận nhà L. ở Lập Thạch để mời L. đi QT để chỉ nơi chôn cất của anh Tạo. Đến nước này L. mới cho biết chỉ được nghe chúng tôi kể lại và hẹn liên lạc với chúng tôi. Khi L. gọi điện cho tôi và cho địa chỉ, số ĐT của gia đình anh Tạo, tôi có bảo với L. những thông tin về LS chỉ khi mình biết chắc chắn hãy báo cho gia đình LS biết, biết không rõ ràng là có tội với LS. Trường hợp này may mà có chúng tôi là người trong cuộc nếu không gia đình người ta sẽ nhìn nhận chúng ta là những thằng chém gió chẳng hay ho gì.

Ngày 3/9/2006 tôi, Phượng (trước ở c4 về sau về c3) và Chienc3 lúc ấy còn ở Thái Nguyên cùng đi xe máy về quê anh Tạo tại thôn Khả Gio, xã Nam Viêm, TX Phúc Yên. Nơi chúng tôi đến là nhà ông Thanh, bố vợ của con trai anh Tạo. Ông Thanh cũng là 1 CCB cùng trang lứa người làng với anh Tạo đã tốn rất nhiều thời gian để tìm thông tin về nơi hy sinh của anh Tạo.

Năm 1972, anh Tạo hy sinh khi cháu Thành con trai anh chưa đầy 1 tuổi. Sau này vợ anh đi bước nữa và đến tuổi đi học Thành được đón về Trường con em LS Nguyễn Viết Xuân để được nuôi dạy. Năm 1988 cháu Thành được cho đi học công nhân tại CHDC Đức. Sau khi thống nhất nước Đức, cháu định cư ở lại nước Đức và làm điều dưỡng tại 1 BV tại Đức. Tình cờ vợ cháu (con gái ông Thanh) cũng là người làng, và mọi sự liên lạc với cháu đều qua ông Thanh. Bữa cơm hôm đó chúng tôi cũng đã gặp vợ của anh Tạo. Qua câu chuyện của chúng tôi về phút cuối cùng của anh Tạo, cả nhà và cả chúng tôi đều nghẹn ngào. Nếu như không gặp chúng tôi, ông Thanh dự định sẽ vào QT để đi tìm mộ của anh Tạo.

Cháu Thành có mua 1 căn nhà nhỏ tại TX Phúc Yên để có chỗ thờ cúng bố và cho mấy đứa em (cùng mẹ khác cha) ở và trông nom.


Di ảnh và bàn thờ anh Tạo tại TX Phúc Yên


Ông Nguyễn Trường Thanh, người đã làm cầu nối để chúng tôi tìm về quê anh Tạo

Năm sau, trong dịp về VN, cháu Thành cùng ông Thanh và mấy người em đến thăm gia đình tôi. Chúng tôi nói với cháu rằng khả năng tìm thấy di cốt của bố cháu là không thể, chỉ còn cách đến nơi bố cháu hy sinh đưa một nắm đất về quê để giải quyết vấn đề tâm linh. Chúng tôi sẵn sàng đi với cháu làm việc ấy như là đã làm với những đồng đội khác.
      
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2012, 11:10:49 am gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #185 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2012, 10:29:01 am »

NGÀY NÀY 40 NĂM VỀ TRƯỚC

Vào lửa và nỗi đau (tiếp)

...Có một điều lạ cho đến bây giờ tôi chưa hiểu thực sự trận đánh hôm ấy. Được phổ biến là đi tập kích vì mang rất nhiều lựu đạn và thủ pháo để đánh hầm. Không biết có phải lạc đường hay không mà khi trinh sát đưa chúng tôi vào cũng chẳng cho biết đâu là hầm của địch để mà đánh rồi họ rút về, lúc đó đã gần sáng rồi chỉ còn cách trụ lại cho đến đêm. Mà cũng lạ xung quanh toàn là địch nhưng khi buổi sáng chúng tôi chạm súng với những tốp lính đang chốt giữ các mục tiêu mà thôi. Thực sự ác liệt phải đến buổi chiều hôm đó khi địch từ bên kia sông tràn sang tăng cường cho tụi bên này để đánh bật chúng tôi ra. Từ quá trưa chúng tôi thấy nhiều xe GMC đổ quân, lại còn nghe thấy tiếng eo éo của con gái, rồi có cả xe sơn chữ thập đỏ ở tấm bạt bên hông xe. Phía cầu, tiếng xe tăng địch gầm rú lúc to lúc nhỏ mà không phát hiện chúng ở đâu. Nhìn thấy quân địch lố nhố bên kia sông cộng với tiếng gầm rú của các loại xe cộ của chúng lại khiến bụng tôi thót lại tạo thành cảm giác mót tiểu liên tục. Có lẽ cổ nhân dậy cũng đúng sợ vãi cả ... Phía đầu cầu bên này tôi thấy địch đang tập trung quân quãng chừng mấy chục tên, nhưng hình như hướng tiến công của chúng không phải ở đây mà dọc theo con lộ thì phải. Chắc chắn ở hướng đó là quân ta căn cứ vào tiếng nổ đặc trưng của AK và B40, B41. Từ đây ra đến chỗ quân ta cũng phải đến 3-400 mét.

Một loạt cối cá nhân nổ ngay gần chỗ tôi, tôi cảm giác mặt mũi rát ràn rạt, răng lợi tê như  bị ai gõ vào. Một cảm giác lạo xạo, mặn mặn trong mồm nhổ ra thấy máu và nửa cái răng cùng một vật xam xám như hạt ngô - thì ra đó là 1 mảnh cối làm bay nửa cái răng hàm trên của tôi. Một mảnh nữa làm xước cánh mũi trái, may mà không bay mất mũi.

Lại một đợt tấn công nữa từ phía đường tăng, sau tiếng còi của tên chỉ huy tụi lính ào lên nhưng chúng bị khựng lại vì hỏa lực của ta từ phía lớp học quét sang. Một mũi chừng chục tên tạt sang phía chúng  tôi, thằng đầu tiên cao to chạy rất nhanh về phía tôi, nó lăm lăm 1 quả US, chỉ kịp hướng mũi súng về nó tôi kéo một loạt đạn, tiếng nó hự rất to và đổ vật xuống ngay cách mép công sự của tôi quãng 5,7 mét. Quả lựu đạn của nó văng ra gần chỗ tôi, tôi chỉ kịp tụt xuống hố thì phát nổ. Bùn đất văng tung tóe, tôi tung hú họa liên tiếp 2 quả thủ pháo về phía trước, lớp khói tan, trước mặt trận địa của chúng tôi địch để lại mấy xác chết. Cái thằng gần tôi chưa chết hẳn nó rên la: “Long...Long ơi...cứu tao với...Đ.má...tao chết mất...Long...”. Địch đã lui về chỗ cũ, thay vào đó chúng liên tục dùng M79 nã vào trận địa của chúng tôi. Một khẩu 12 ly 8 từ phía cầu bắn như vãi đạn, nhưng luồng đạn khá cao có lẽ chúng chưa xác định chính xác được mục tiêu.

Bất chợt trời đang nắng như thế thì mưa sập xuống, mưa như đổ nước, các hầm hố đầy ắp nước, những giọt nước mưa ngọt mát từ vành mũ chảy xuống bàn tay chụm lại xua tan cơn khát. Nhưng mưa như thế này làm cho mắt kính nhòe nhoẹt bắn chác làm sao đây. Tôi lui lại hầm nơi Lào nằm, Phồm cũng đang ở đây, nước trong hầm xâm xấp bụng, nước mưa vẫn tuôn qua nóc hầm làm bằng những thân cây chuối. Lào vẫn còn thở nhưng rất khó khăn, chiếc áo quấn quanh cổ đẫm máu nhưng cũng đã đông lại. Chúng tôi lấy vải mưa phủ lên cho nó khỏi bị nhiễm nước mưa. Cũng chỉ còn cách như vậy để chờ đến đêm tìm cách đưa ra.

Có tiếng hú...hú… rất lạ và bên kia sông những quầng lửa kèm theo một loạt tiếng nổ liên tiếp, lính địch hoảng loạn chạy tung tóe, thì ra là DKB của ta kích vào đó nhưng cũng không nhiều lại bắn sâu vào phía trong. Loạt DKB đó mà lui ra phía bờ sông thì sẽ hiệu quả hơn.

Mưa lại tạnh, bên kia sông thấy địch tập trung đông, rồi thấy mấy cái bóng con gái trong màu áo blu trắng đang léo xéo chạy ra chạy vào sau mấy căn nhà đổ sập. Một ý nghĩ thoáng qua, tôi rê mũi AK về phía đó để nấc bắn phát một. Một thằng lính trong bộ rằn ri chui ra cùng một đứa con gái. Nó cầm một khẩu M79 chĩa sang bên chúng tôi tay kia chỉ chỏ, con bé ưỡn ẹo tay cầm khẩu súng của thằng lính đưa cho, thằng lính đứng sau lưng ôm lấy hông con bé, một tiếng cạch đồng thời tiếng quả đạn nổ ở phía vườn chuối bên này. Không thể chấp nhận chuyện như thế, tôi chỉnh lại thước ngắm và xiết cò. Chỉ một phát thôi, con bé bật ngửa ra phía sau, vạt áo blu trắng ở hông nó loang máu, thằng lính ngồi thụp xuống kéo con bé vào sau ngôi nhà đổ, khoảng cách từ chỗ tôi sang chỗ đó khoảng 150 mét. Lúc đó sao bình tĩnh thế mà lại không mưa nên nhìn rất tốt. Sau này nhiều khi nghĩ lại mình có ác quá không, nhưng khi nói chuyện với những anh em ở trong B dài thì trong đó họ ghét nhất pháo Mỹ, nhì pháo đĩ (pháo dàn, pháo bầy của Mỹ thì bắn nhiều với mật độ dầy và đủ loại, còn pháo do mấy con đĩ đú đởn bắn lung tung chẳng theo quy luật nào mà lần) thì nó rất xứng đáng được hưởng phát đạn đó.

Phía bờ sông súng nổ dồn dập, một tốp địch từ dưới sông nhô lên, chúng đã đặt một khẩu trung liên quét về phía chúng tôi. Đạn M79, đạn trung liên xé nát những thân cây chuối quanh chúng tôi, chúng còn xa quá không thể dùng lựu đạn được, tôi cắm quả đạn vào khẩu B40 của Lào và đưa lên vai, run run hướng về phía bờ sông, địch từ dưới sông ùa lên, phía Bình và Phồm đã nổ súng hất địch trở lại. Khoảng hai chục tên lính rằn ri nhô lên khỏi bờ sông, chúng có vẻ thiện chiến hơn bọn trước bởi thằng nào cũng khoác áo gi-lê chống đạn trên áo cài toàn lựu đạn, khoảng cách thu hẹp dần, đến tầm của B40 tôi nhổm dậy xiết cò, một tiếng ục làm tai tôi ù đặc, khói lửa đỏ chùm lên, tôi chỉ kịp lao theo sang hố bom bên cạnh thì mấy quả M79 liên tục nổ chát chúa vào chỗ tôi vừa nằm. Cùng với quả B40 của tôi, bên phía lớp học cũng liên tiếp phóng mấy quả B40 phía đám địch, chúng dạt hết xuống sát sông. Chợt phía phải chúng tôi địch bắn một loạt đạn cối nhưng tiếng nổ không to và liền sau đó những lớp khói vàng cuồn cuộn bốc lên, theo chiều gió tạt về phía chúng tôi. Mắt mũi cay xè, cổ họng tắc lại, nước mắt giàn giụa, bụng thót như muốn ói ra...chúng tôi đã dính đạn hóa học của địch. Trong túi cứu thương có một ống thuốc phòng độc nhưng có kịp lấy ra đâu, tôi úp mặt xuống hố nước cho đỡ cay mắt và  lấy khăn mặt cài bên hông nhúng nước hố bom bịt chặt mũi mồm lại, dù sao cũng đỡ hơn chỉ có nước mắt vẫn còn ứa ra cay xè. Một trận mưa nữa ập đến, chính trận mưa này đã tẩy sạch khu vực nhiễm độc của khói đạn hóa học. Chúng tôi bỏ mũ, ngửa mặt lên cho nước mưa xối lên mặt, lên mũi, lên mắt cho sạch hết hơi độc bám vào, nước mưa theo miệng qua cổ họng xuống dạ dày là dịu đi cái rát, cái cay của hơi độc nhưng mùi vị hăng nồng của nó cũng không thể xua đi hết được. Phải mấy tháng sau, cái cảm giác đó mới hết.

Trời tối sầm, những hạt mưa tát vào mặt lạnh lạnh có lẽ vì đói, vì rét, vì liên tục khô lại ướt và nhất là vì sợ khi chung quanh toàn là địch, liệu tối rút ra có được không ? Phía cầu tiếng rú của xe tăng địch lại rộ lên, những loạt 12 ly 8 bắn rất căng vào khu lớp học của b2, từ các vị trí chốt của địch xung quanh khu trường học chúng  liên tục dùng cối cá nhân bắn vào chỗ chúng tôi. Chính vị trí của tiểu đội tôi gần bờ sông lại ít bị cối nhất. Giờ xe tăng địch mà xuất hiện thì chỉ còn có 3 quả đạn, có thể đủ cầm cự chờ đến đêm xuống. Khu vườn chuối chỗ chúng tôi nước ngập xâm xấp, qua màn mưa nặng hạt vuốt không kịp, mắt kính nhòe nhoẹt vì nước mưa cộng với mắt vẫn còn cay xè vì khói độc đã hạn chế tầm nhìn rất nhiều. Phía sau tôi nghe tiếng ục của B40, quả đạn lướt trên đầu chúng tôi và nổ tung cách chỗ chúng tôi không xa, trong lúc đang lấy nước mưa xoa mắt, xoa mũ, xoa mặt cho hết hơi độc bám vào người thì địch đã từ dưới bờ sông lặng lẽ ùa lên chỗ chúng tôi, b2 phía sau phát  hiện ra trước đã nổ súng chặn lại. Lần này lợi dụng trời mưa địch tấn công từ 2 phía: từ bên kia vượt sông đánh vào chỗ vườn chuối bên cánh trái, phía cầu chúng dùng đại liên yểm trợ cho bọn từ đường tăng đánh trực diện còn bọn ở các chốt trong các khu nhà quanh đấy liên tục dùng M79 bắn vào trận địa của chúng tôi. Tôi dùng AK lia vào toán địch gần nhất, nhưng chúng chỉ lui lại và tản ra sau mấy bức tường đổ. Chúng quét cực nhanh liên tiếp về phía chúng tôi, từ phía trái tiếng Phồm hét: “Tường...B40”, tôi vơ lấy khẩu B40 đã cắm sẵn quả đạn, chẳng kịp ngắm chỉ kịp chĩa mũi súng về đám lính đang núp sau bức tường đổ và xiết cò. Quả đạn nổ tung nơi bức tường đổ nhưng vì quá gấp, tầm súng lại hơi thấp nên luồng lửa phụt về phía sau sát miệng hố bom làm cho hơi nóng hắt vào lưng nóng dẫy. Những thằng lính còn lại chạy dạt ra phía bờ sông. Địch tiếp tục đổ quân từ dưới sông lên nhưng lần này chúng ở khá xa, không tiến công chúng tôi mà lại đi theo hàng một lầm lũi theo vệt đường tăng tiến về khu vực sau trường học. Chúng định làm gì ? Vào thay chốt hay sao mà đứa nào cũng mang ba-lô sau lưng hoặc tăng cường quân để hôm sau tiếp tục phản kích. Nhưng chắc chắn phía đó là quân ta. Mưa vẫn tiếp tục, trời cũng đã nhập nhoạng, hỏa châu địch liên tiếp soi sáng cả khu vực. Bây giờ cảm giác đói mới đến, nhai trệu trạo bánh lương khô mà miệng đắng ngắt vì hơi độc lúc ban chiều. Người tôi bã ra có lẽ sự căng thẳng của một ngày đã làm cho cơ thể tôi muốn chùng xuống. Trận đụng độ đầu tiên đến với tôi là như vậy. Còn đêm nay thế nào và cả ngày mai nữa...

(Trích Ngược dòng ký ức)

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17230.150.html
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17230.160.html


Trên nền cũ của trường học


Xưa là trường tiểu học cộng đồng, bây giờ là trường tiểu học Triệu Thành

« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2012, 11:05:46 am gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
thaiminhhung
Thành viên
*
Bài viết: 760


CHÀO NHÉ MÁI TRƯỜNG ƠI !


« Trả lời #186 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2012, 08:07:30 am »

     Vào ngày này 40 năm về trước, những người lính C1, D1, E101, F325 vào chốt khi vào toàn C có 72 người hầu hết là anh em SV ĐHXD, chỉ còn lại một số người lính cũ quê Quảng Ninh, Thái Bình vào trước khoảng 10 ngày, chúng tôi xuất phát từ cứ khoảng 17h30. Khi đó chúng tôi không biết vào vị trí nào, nhưng sau đó BCH Đại đội nói, chốt Nại Cửu khi vào tới chốt là ban đêm nên không ai biết đó là đâu chỉ có C trưởng, các trinh sát và liên lạc viên biết . Sau khi vào chốt B chúng tôi được phân vào sát bờ sông ( bây giờ mới biết là sông Vĩnh Định như ảnh bác LXT ). Khi vào đến nơi thì đã có tin A cối bị trúng đạn và xoá sổ trong số đó có anh bạn Tân "quẩy" K15M. May mà Tân chỉ bị thương.
Một đêm yên tĩnh nhưng để chuẩn bị cho một ngày chiến đấu ác liệt vào ngày hôm sau khi mà địch bắt đầu tấn công...
Logged

Bừng bừng cháy, lửa nhiệt tình đầy niềm tin mơ ước bao la
Ta về đây vui ca vang, bài ca đi dựng xây nước nhà....
chienc3.1972
Thành viên
*
Bài viết: 861


« Trả lời #187 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2012, 08:32:23 am »

Vậy là C1 vào trước C3 một ngày. Các bác còn biết địa chỉ đến, đến nơi có công sự sẵn còn C3 bọn tôi đi vô định, gần như bị bỏ rơi, cả đêm 15 và ngày 16/9 trơ mặt trên một khoảng vườn chuối lúp xúp bên bờ sông (sau này mới biết là sông Vĩnh Định). Cho đến bây giờ tôi vẫn "phục" cán bộ chỉ huy của mình. Grin Mà C1 đông quân nhỉ. C3 được non nửa số đó thôi.
Logged
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #188 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2012, 11:45:50 am »

Hồ sơ tư liệu

NGUYỄN THÁI - NGƯỜI TIÊN ĐOÁN SỰ SỤP ĐỔ DÒNG HỌ NGÔ

QĐND - Thứ Tư, 12/09/2012, 16:5 (GMT+7)

QĐND-Phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn, ngày 26-6-1954, một chuyến hạ cánh được chờ đợi lâu trong một ngày nắng nóng. Từ cửa máy bay, hé ra mấy người nhỏ thó giữa đám người Tây, trong đó có một vị áo thụng, khăn xếp, mặt mũi bồn chồn. Đó là Ngô Đình Diệm (SN 1901), vừa được Bảo Đại, dưới sức ép của ngoại trưởng Mỹ Phốt-xtơ Đa-lét (Foster Dulles), tấn phong Thủ tướng ở Pa-ri trước đó vài hôm.

Ngựa giữa dòng

Chỉ có đôi trăm người công giáo đứng đón “nhà chí sĩ” - quân cờ mới của cuộc be chắn “triều cường đỏ”, theo thuyết Domino. Diệm ngao ngán ngắm buổi chiều tàn tạ của nền thực dân Pháp, lắc đầu theo cung cách một “mệ” Huế: “Biết tình hình rứa, về mà chi”.

Tiến lại gần Diệm là một thư sinh dáng ký giả, nói nhỏ, cũng bằng giọng Huế: “Cụ bình tâm đi, vạn sự khởi đầu nan”. Chui vào xe, Diệm vẫy đám người một cái cho ra vẻ vĩ nhân, nhưng không thể cười nổi. “Chưa bao giờ là người của nhân dân, và không định làm người của dân, Diệm sẽ luôn quan tâm đến việc mình được phục tùng nhờ nắm được quyền bính, hơn là được lòng dân”, cuốn “Viên quan của chiến tranh lạnh: Ngô Đình Diệm và cội nguồn của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, 1950-1963” của Sét Gia-cốp (Seth Jacobs), NXB Rowman & Littefield Publishers, 2006, nhận định.

Người vừa trấn an Diệm cũng ngao ngán nhìn theo ông ta. Tên anh ta là Nguyễn Thái (sinh năm 1930), thành viên Hoàng tộc theo công giáo này hẳn đã dự cảm những sự kiện kịch tính nhất của cuộc chiến cho đến nay là dài ngày nhất của Mỹ.

Oa-sinh-tơn (Washington) đã ra tay phò trợ(1). Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao (Eissenhower) gửi công hàm chính thức cho “Thủ tướng” Ngô Đình Diệm cho biết, từ đây Mỹ, chứ không còn là Pháp, sẽ viện trợ trực tiếp cho chính quyền Bảo Đại.

Ngưu tầm mã

Sau khi được Hồ Chí Minh tha ra khỏi trại tù năm 1946, Ngô “chí sĩ” vật vờ cho tới 1950 thì xuất ngoại, tìm con đường khác. Vì tận dụng uy tín của tòa thánh Vatican để được Bảo Đại bổ nhiệm làm Thủ tướng chẳng thành, càng ngày số mệnh như càng đẩy Diệm vào nguyện vọng tìm chỗ đứng trong bàn tay thực dụng của chú Sam.


Nguyễn Thái (ngoài cùng bên trái) trong chuyến công cán tại Hàn Quốc, thập niên 60 của thế kỷ 20.

Một tia hy vọng bỗng sáng lên năm 1952, khi gặp được Nguyễn Thái, một người bà con của đại thần Nguyễn Hữu Bài, người từng cưu mang Diệm thuở thiếu thời. Thái vừa tốt nghiệp báo chí tại Đại học Coóc-neo (Cornell), lúc đó là Chủ tịch Hội Sinh viên công giáo Việt tại Hoa Kỳ. Diệm nhờ Nguyễn Thái kết nối ông ta với một số chính trị gia và viện sĩ Hoa Kỳ, trong vận động xây dựng “lực lượng thứ ba” ở Việt Nam: Chủ trương giành độc lập từ tay Pháp, nhưng không phải là cộng sản. Thái đồng ý giúp Diệm, vì Ngô “chí sĩ” được tiếng là từng dựng Đảng Đại Việt phục hưng chống Pháp, sau khi từ chức Thượng thư bộ Lại triều Nguyễn năm 1933…

Trở thành Quốc trưởng trong một cuộc trưng cầu dân ý bị xem là gian lận(2), Diệm cử Nguyễn Thái đứng đầu Việt Tấn Xã – cơ quan thông tấn cho “chính thể” mới: Việt Nam cộng hòa (1955 – 1975), thoát thai từ Quốc gia Việt Nam (1949 – 1955) của Cựu vương Bảo Đại.

“Chim báo bão”

Nhưng năm 1959 là lúc Nguyễn Thái chán ngán với tập đoàn gia đình trị Ngô Đình Diệm, vì bọn họ nhanh chóng bộc lộ sự dốt nát và tham nhũng. Như con “quạ trắng” giữa đám ô lại triều Ngô, Nguyễn Thái chỉ giao du với mấy người “đàng hoàng” như: Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn… Để rồi sau chiến tranh, mới biết họ là… cộng sản. Thái đâu được ưa chuộng trong chính giới Sài Gòn, chẳng qua người ta thấy “tay Thái này” có nhiều quan hệ với “kèo trên”, cả ở Oa-sinh-tơn, nên makeno (mặc kệ nó).

Sách “Viên quan của chiến tranh lạnh: Ngô Đình Diệm và cội nguồn của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, 1950-1963” của Seth Jacobs, NXB Rowman & Littefield Publishers, 2006.

Năm 1961, Nguyễn Thái từ chức Tổng giám đốc Việt Tấn Xã, trở lại Mỹ, để “cảnh cáo” chế độ Diệm. Năm 1962, Thái làm phương Tây rúng động vì cuốn sách Is South Vietnam Viable? (Liệu Nam Việt Nam có tồn tại được?). Trong lời mở đầu, Thái viết:

“Vì từng làm việc mật thiết với chế độ này trong suốt 7 năm qua, nên tôi nhận thấy chế độ này (Diệm) không có khả năng thu phục được sự ủng hộ của dân. Ngay cả những người lúc đầu ủng hộ chế độ cũng không còn chịu đựng được tình trạng tham nhũng, giả dối và vô hiệu năng, gây ra những phe nhóm gồm toàn những kẻ ăn bám và nịnh hót, để nhũng lạm chế độ này trước khi nó sụp đổ”.

Từ điển bách khoa mở wikipedia đã liệt kê Nguyễn Thái là quan chức cao cấp đầu tiên vạch mặt Diệm. Không đầy một năm sau ngày Thái ấn hành cuốn sách, Diệm bị khử trong một cuộc đảo chính do những “người Mỹ trầm lặng” hậu thuẫn. Chính quyền mới của nền “Việt Nam Cộng hòa” có lời mời “nhà tiên tri” Nguyễn Thái, quay về Sài Gòn. Sau một cuộc trao đổi kiệm lời với chính phủ gồm toàn các tướng mà tham nhũng thì cũng “toàn tập”, Thái đã sang ngang, chọn cuộc đời doanh nghiệp tư nhân. Ông khởi nghiệp bằng mở một đại lý độc quyền cho hãng Honda ở Sài Gòn, Iba Ltd.

Khi “thần đô-la” giáng thế

Ngày ấy, Nguyễn Thái nhớ lại, Honda chưa bước ra khỏi cái nhà xưởng bằng gỗ ở Nhật được bao lâu, tuy cũng đã mở được đại diện ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những quan hệ “xịn” của Thái ở Nam Việt Nam đã giúp Honda cán đích trong cuộc đua của các hãng sản xuất xe phương Tây.

Sách “Liệu Nam Việt Nam có tồn tại được?” của Nguyễn Thái, NXB Carmelo & Bauermann (1962).

Những cuộc chạy cửa sau ở cả Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn và hậu cần quân đội Mỹ đã mở lối cho một triệu chiếc Honda nhập vào Nam Việt Nam bằng tiền chùa viện trợ của Mỹ, theo từ điển wikipedia tiết lộ. Cùng kỳ, guồng máy quân sự Mỹ cũng quay tít như bánh Honda với cú tăng kỷ lục của quân lực Mỹ tới 10 lần chỉ trong hai năm 1964-1965, và sẽ còn tăng lên tới hơn nửa triệu trong vòng 3 năm tới. Xe máy Honda được dùng cho phi công Mỹ và không quân Sài Gòn, đi từ compound (trại lính) ra phi trường, lưu hành trong các căn cứ quân sự Mỹ rộng mênh mông trên khắp miền Nam. Trùm tình báo Mỹ ở Nam Việt Nam Côn-bai (W.Colby) cũng quá giang trên một chiếc Honda, để rồi “chém gió” về việc mình dám ra ngoài vào ban đêm ở vùng ngoại ô.

Sau cuộc chơi biến Honda 67 thành quân dụng ở miền Nam, “đũa thần” quan hệ của Thái cũng soi đường cho chủ trương cấp xe Honda 50 cho các quý phu nhân của sĩ quan Sài Gòn. Chính sách này ăn rơ với các ý đồ mị dân của Lầu Năm Góc phương Đông và Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trong nỗ lực xây dựng bộ máy quân phiệt Sài Gòn thành một giai cấp đặc quyền đặc lợi…

Soi vào bảng số liệu phát triển của chính quyền Việt Nam Cộng hòa 1972 – 1975, cuộc chơi như thế thuộc sơ đồ “các công ty thương mại trả tiền mặt thông qua chính quyền để mua hàng nước ngoài, gọi là “nhập cảng với ngoại tệ sở hữu”, đã tăng từ 90 triệu USD (1965) lên 247 triệu USD (1968), tới 427 triệu USD (1969)”…

Báo Chính luận ra ngày 17, 18-8-1969 tố cáo chính quyền Sài Gòn cấm nhập cảng xe hơi, xe gắn máy để đầu cơ “phiếu” mua xe hơi, xe gắn máy trên thị trường đen, mỗi phiếu lên tới vài trăm đồng tiền Sài Gòn. Trong khi đó, giá của một chiếc Honda 67 là khoảng 400 nghìn đồng…

Trong lần Thái xuống bỏ mối hàng ở Huế giữa năm 1967, Quân Giải phóng đánh Khách sạn Hương Giang, nơi ông tá túc. Một phát B40 đã thổi bay một góc phòng, và cả chiếc chân trái của Nguyễn Thái.

Từ đầu thập kỷ 70, Thái sang sống ở Mỹ và lại tiếp tục cảnh báo các chiến hữu ở Sài Gòn về “Ngày tận thế”. Cuộc chơi tiền – hàng - tiền bằng “hàng ế” Nhật - Mỹ tiếp tục tạo bộ dạng phồn vinh nửa vời về kinh tế, khoác hờ lên sự sụp đổ hoàn toàn không tránh nổi của chính quyền Sài Gòn…

Lá rụng về cội

Năm 1990, Nguyễn Thái trở thành cựu quan chức cao cấp VNCH đầu tiên chính thức trở về Việt Nam thống nhất. Trong chuyến đi này, ông đã hẹn ước với những người anh em khác về tư tưởng là không truy kích nhau nữa. Thái muốn “nhờ” Hà Nội đòi hộ số tiền hơn mười triệu USD mà “đế chế Honda” chưa chịu quyết toán cho ông, do sự kiện VNCH sụp đổ năm 1975. Điều này không đạt được do xu thế chung “khép lại quá khứ”, nhưng Nguyễn Thái vẫn không hài lòng với cách làm ăn không sòng phẳng của “đối tác” Nhật.

Nay nhìn lại bóng câu của tiền tài, danh vọng vút qua cửa sổ cuộc đời, Nguyễn Thái, từng có tên trong danh sách Ai là Ai (Who is Who – những người nổi tiếng) của châu Á thập kỷ 60 của thế kỷ 20, đã nỗ lực thăm viếng các nước từng nằm trong Vành đai sắt của chiến tranh Lạnh ở Đông Âu. Tại đó, ông cổ súy sự thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc cho một thời cuộc mới, cũng là nơi ông gõ cửa vào nhà các Việt kiều “gốc cộng sản” như về nhà. Tại Mỹ, Nguyễn Thái vẫn còn vài niềm an ủi. Chẳng hạn, ông từng là thành viên Viện Nghiên cứu quốc tế của Đại học Stan-phót (Stanford), thuộc hàng danh tiếng nhất phương Tây.

---------------
Lê Thành

(1)   J. Dunningan và A. Nofi, Những bí mật nhỏ bẩn thỉu của cuộc chiến tranh Việt Nam, (Dirty Little Secrrets of the Vietnam war), tr. 257.

(2) Vietnam, Karnow, trang 223 – 224.


http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/89/70/84/84/84/206373/Default.aspx
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Chín, 2012, 11:53:37 am gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #189 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2012, 12:17:15 pm »

Bác Tường: Theo em nhớ đây là nhân vật được nhắc đến nhiều trong các đoạn hồi ký của các bác Hai Trung, Hai Nhạ v.v... hay gọi là "Thái đen" - Tổng Giám đốc Việt Tấn Xã, nếu nói về nghề báo học ở Mỹ thì ông ta còn là đàn anh của bác Hai Trung. Ông ta dự cảm chính xác thật, qua đó cũng cho thấy vì nhiều lý do cái chất dân chủ phương Tây khó bám vào những xã hội nửa phong kiến nửa thực dân như Việt Nam thời xưa lắm.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM