Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:55:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126452 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #210 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 03:59:00 pm »

Ông Tư Chua vấp nhiều hơn. Tám Doãn mang danh sách tập kết của xã Linh Giang xuống huyện, Ban tập kết rà lại và gạch tên ông. “Nguyên chủ tịch hả ? Không được. Cho đi chủ tịch đương chức thôi, tàu biển đông nghẹt rồi !”. Tiếp đó là cái nháy mắt của anh cán bộ mới ngoi lên, đang nhấp nhổm cuốn gói theo vợ con đã cho đi trước vào Quảng Ngãi: “Cường hào gian ác, ra Bắc làm gì thêm quấy rầy ?”. Tám Doãn về xã không dám kể hết, may sao ông Tư Chua đã nói thay:

- Chú Tám biết nhà tôi đó. Tôi đi, bỏ bà Tư ai nuôi, hay phải ở mướn bồng con cho thằng Quýt ? Tôi không gì cũng già rồi, đóng góp bấy nhiêu năm lên voi xuống chó đủ rồi, đi hay ở cũng một lòng trung với Cụ Hồ, với Đảng mình, hễ sai trái gì thì sau hai năm xin lãnh một hòn đạn của anh em đồng chí !

Ba người thân nhất của Năm Chò nơi quê gốc đã ở lại cả ba, khổ chưa !

Anh đuổi kịp tiểu đoàn tại huyện Sơn Tịnh, thuộc Quảng Ngãi. Trong buổi họp đầu tiên với liên chi ủy, anh kể hết những băn khoăn của mình đối với người kháng chiến cũ không ra đi. Các đồng chí đang bóp trán thì anh chính trị phó tiểu đoàn giơ tay. Anh này mới về thay đồng chí cũ bị sốt rét ác tính gần chết. Tuy thuộc thành phần bần nông nhưng anh chỉ xuống ruộng khi hành quân trượt chân, gần đây được đưa vượt cấp từ đại đội phó lên chính trị phó tiểu đoàn sau bốn tháng đi phát động giảm tô. Anh ta thấy cần phải xây dựng cho tiểu đoàn trưởng thoát khỏi tư tưởng dao động, cầu an, hoài nghi, thiếu tin tưởng ở đường lối đấu tranh hòa bình của Đảng và sức mạnh của nhân dân miền Nam, sẽ buộc đối phương thi hành hiệp định quốc tế được ký kết long trọng với sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc. Khi anh bắt đầu phân tích sâu sắc về ảnh hưởng của thời kỳ làm lính thực dân đế quốc đối với đồng chí Năm Chò, chính trị viên tiểu đoàn bỗng cắt ngang rất phũ:

- Bấy nhiêu đủ rồi, đừng đi tới chỗ phá hoại hòa bình thế giới ! Ta tính giùm anh Năm coi có cách gì gỡ rối được không? Bàn mấy cũng không tìm được cách gì cả...

Chiếc xe ngựa rẽ dừng trước quán chỉ khiến Năm Chò ngửng nhìn dửng dưng. Người đánh xe là một cậu trẻ mặc bộ xi-ta cũ, nặng nề bước xuống và đi vào quán với một cây nạng chống vào nách bên phải. Tiếp một xe thứ hai với Chín Mén ngồi trước, nhảy phịch xuống đất và ném dây cương vào một cành cụt của cây phi lao bên cửa, cười hoang hoác khi đi vào:

- Bữa nay trúng lắm nghen bà xã. Khách ra hồi cư, khách vô tìm chồng con, giới đàn bà vừa sùi sụt vừa đưa tiền, đỡ lắm... Ủa nè, ai như Năm Phi Đao vậy ta ?

- Chớ ai vô đó nữa ?

- Trời đất, tưởng mày lên ông bự chê tao không ghé ! Mụ tao để khách ngáp ruồi à ? Ồ, có cay có chua, khá. Ba kí thịt trâu đây, trâu to sụp hố què chân, nhúng dấm gấp mụ !

Năm Chò ngắm anh bạn cũ từ đầu tới chân, cười:

- Bỏ giùm tao cái tên Chín Mén 1 đi mày. Đổi ra Chín Bồ, Chín Bịch, Chín Ú, chớ cái bụng sệ ra bằng heo chửa cứ Mén hoài !

Chín Mén cười đến ho sặc:

- Đúng miệng lưỡi Năm Phi Đao, chẳng sai một li ông cụ ! Tao sệ là tại bà xã. Bả nuôi heo, nuôi con hay nuôi chồng đều thiệt khéo, mập tròn hết.

Anh ta cố ý nói to cho vợ nghe, vừa lúc chị vợ bưng đặt trên bàn cái âu đất nung đựng than hồng, bên trên có cái bát nhôm chứa dấm bắt đầu sủi. Chị dọn thêm đĩa rau thơm, chén tương ngọt, lọ tỏi ớt ngâm, đặt lên trên vài cái bánh tráng nướng, lườm anh chồng đang mở nút một cái be sành:

- Sơ sơ thôi ông, đông khách, lát phải đi tiếp.

- Thằng út đâu ?

- Vô xóm rồi. Hở một lát lại chạy tới con Lụa, chắc nên chuyện.

Đĩa thịt trâu ra mắt cuối cùng xắt ngang thớ mỏng tang, mịn và hồng như bò non. Chín Mén rót ra hai ly rượu nếp thơm lùng, không nhuộm:

- Nhịn thèm mấy năm, giờ mới kiếm được thứ đặc biệt, để dành chớ không dám đụng vô, mày thấy bụi phủ đầy bình đó... Dạo này mày mấy chai một ngày?

- Chừa rồi, lính chiến mà. Có khi vài tháng không một giọt, đi chiến dịch kiếm đâu ra.

- Chịu mày giỏi. Ăn chơi trời sợ, thiên lôi đánh trật búa, khi tu thì chừa ráo cạo... A-lê, cụng ly mừng tái kiến !

Rượu quả là đặc biệt. Năm Chò đã chừa tật ngưu ẩm, chỉ nhấp thong thả để hưởng vị thơm ngon trên lưỡi. Đúng với lệ chung của những bữa cơm khách, Chín Mén nhấc bánh tráng lên bẻ đánh rốp báo hiệu mở màn cuộc nhậu. Năm Chò ăn nhúng tái. Chín Mén chỉ khỏa nhanh miếng thịt qua dấm sôi, gần như ăn sống.

- Mày bây giờ hai ngựa hai xe, giàu rồi hả ?

- Nhờ ơn bộ đội đó. Thằng út em ruột tao đi lính trung đoàn 803, bị bom cụt chân, về ở với tao trót năm chẳng kiếm ra việc gì cho đáng việc. Mới đây bộ đội rao bán đồ dư, tao vét hết tín phiếu, đập vô cái xe đạp nữa, mua được con ngựa tốt với cái xe hư, sửa cho thằng Út chạy. Đi đâu tao cũng kèm đằng sau, hễ có trục trặc tao lo, chớ nó chân gỗ khó xoay lắm. Tao cho nó con Nu già hiền hơn, nay ngựa thuần cương thạo rồi. Kiếm được nghề rồi, nó đang kiếm vợ, hì hì... Cỡ tao đã kể vô chủ tư bản chưa ?

Năm cười xòa:

- Không ốm không đau, làm giàu mấy lát... Ít nữa làm lễ chiến thắng to lắm, biết chớ ?

- Biết thừa. Cán với quân ngồi xe tao nói miết. Xe hơi kéo đại bác cũng tới sân vận động rồi, nghe nói duyệt binh lớn lắm, lễ cát-to giuy-dê hồi Tây chỉ bằng ngón út. Tao thèm coi quá mà gác nghiêm lắm, có giấy mới vô được. Còn làm lễ Ihành lập đại đoàn sư đoàn gì đó nữa. So với hồi tụi mình ở khố đỏ...

- Mày muốn vô coi không ?

Chín Mén đặt ly xuống, mở to mắt:

- Ngu, tao ngu thiệt. Ngồi với ông bự mà quên xin giấy ! Cho tao vô nghen. Xưa nay chưa có lễ nào to tới vậy, sắp tới cũng chẳng còn mà coi, uổng đời.

- Cho mày vô, mà ngồi xe ngất ngưởng, có lính giẹp đường, xếp hàng đầu !

- Tàu bay giấy !

Năm Chò nói ý mình. Anh em thương bệnh binh ở quân y viện muốn dự lễ, số bị nhẹ tự đi được, còn mươi anh em trúng chân hay chưa đủ khỏe cũng muốn đi. Anh định xếp vài cái xe ngựa cho họ ngồi vào dự, với biển căng hai bên “Xe thương binh dự lễ”, có y tá và cán bộ mang giấy đi kèm. Đánh xe phải là người đáng tin cậy. Chín Mén đã từng giấu Việt Minh trong nhà, lâu nay cũng được tiếng tốt trong giới đánh xe...

- Phải, phải, mày nhắc tao mới nhớ hồi bóng tối tao có chút công đó, quên ráo. Tao sơn lại xe, chải ngựa, mượn đồ xi-ta mặc vô, bảnh hơn xà-ích đánh xe cho quan giám binh Tây. Bảng treo thì mày biểu viết thiệt đẹp nghen.

- Có điều... mày đừng phiền... bà xã kèm hai đứa nhỏ ngồi với thương binh không tiện...

- Ối, đừng sợ ! Hội hè là ngày bả phát tài. Khiêng bả thả vô sân, bả cũng lén trốn về bán quán ! Sắp nhỏ vô đó, ai lo chuyện ỉa đái, đói khát, khóc đòi về ? Hai xe đủ không mày ? Còn vài đứa nữa cũng tốt nết lắm, cho đánh xe vô được chớ ? Còn thứ lưu manh cầm cương thì lạy sống cũng không cho, lỡ ăn tiền của Tây ném vài trái lựu thì tao bị xử tử oan !

Thỏa thuận cuối cùng là bốn xe. Hai người được chọn sau là một bác có ba con liệt sĩ, một trung đội phó xuất ngũ. Cả bốn xe đều phải chỉnh tề như xe giám binh, ngựa chứng phải thay, cờ mũi xe phải mới. Chín Mén nhận chỉ huy.

Năm Chò vui vẻ đạp về trung đoàn.

Trong dịp lễ lớn sắp tới, anh bị điều lên Ban tham mưu trung đoàn để tổ chức duyệt binh. Bộ đội đang tập đi đều hàng tám, thêm cái động tác đi nghiêm với chân duỗi và tay đánh ngang vú mới trông hơi tức cười, trong đội hình lại oai phong lẫm liệt. Nỗi băn khoăn dày vò anh về người ở lại chìm sâu dưới những trăm lo toan hàng ngày, chỉ trồi lên hành hạ anh về đêm, mỗi ngày đêm như thế lặng lẽ khắc sâu thêm đường nhăn trên trán và để lại thêm một vài sợi bạc trên tóc.



-----------------------------------------------------------------------
1. Mén: bé, nhỏ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #211 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 04:02:36 pm »

*
*     *

Lễ mừng chiến thắng lớn chưa từng có của bộ đội và nhân dân liên khu Năm đã xong, chỉ rủi ro một chút là trời kéo mây mù, tiếp đổ mưa. Các phóng viên chụp ảnh và quay phim của liên khu và Bộ tổng tư lệnh vò đầu bứt tai, trong khi lính rỉ tai nhau: “Lễ này mưa mù là phải, thống nhứt xong mới có lễ nắng đẹp”.

Sân vận động đầy nghẹt những đơn vị bộ đội đã vào lần lượt suốt đêm, đúng giờ phút quy định nhằm tránh chen chúc, tranh chỗ. Đại biểu nhân dân phải hạn chế. Hàng vạn dân dầm mưa đứng đầy hai bên đường đợi lễ tan, bộ đội đi đều ra khỏi sân, để căng mắt tìm người thân trong những khối diễu hành. Tìm cầu may thôi, chỉ mươi phút đã hoa mắt váng đầu, thấy anh nào cũng giống người đang tìm, đành nán đợi hàng quân cuối cùng qua hết mới lau mắt và xoa dầu cù là vào thái dương.

Các trung đoàn tiểu đoàn lại nhích dần đến cảng Quy Nhơn theo kiểu cuốn chiếu. Hai tàu biển lớn của Ba-lan và Na-uy chạy con thoi đón vợi người ở phố cảng, lập tức có đơn vị khác lắp vào đợi sẵn. Riêng các bộ phận cồng kềnh như quân y không phải bước tới xếp hàng từng chặng ngắn như thế, mà lâu lâu mới chuyển một chặng dài, dừng ở nơi có tiện nghi khá nhất. Vì thế quân y viện 108 còn ở lại gần thị xã Quảng Ngãi sau khi trung đoàn đã tiến tới một quãng xa.

Bốn xe thương binh vào sân dự lễ đã thu hút sự chú ý chung. Chín Mén rất chững chạc dẫn đầu, bên cạnh có Năm Chò ngồi với phù hiệu sao tròn hai vành vàng của cán bộ tiểu đoàn trở lên. Bộ phận gác cổng quen mặt anh do đến thu xếp nhiều lần, chỉ đứng nghiêm chào và giẹp đường xe đi. Phía trước lễ đài không còn chỗ, ở đấy có mấy đơn vị danh dự vác quân kì, đội nhạc binh, đoàn phóng viên, những dãy pháo cối chiến lợi phẩm to nhất. Bốn chiếc xe vẫn được đỗ hàng đầu, nhưng là đầu mút, không thể ưu tiên hơn nữa.

Trong xe Chín Mén có một anh thương binh cao lớn, râu quai nón cạo xanh má, đầu băng trắng và tay trái bó bột, chống gậy đi nhúc nhắc. Chín Mén không thể ngờ đó là thằng nhỏ Sáu Cam mà vợ trước của anh bắt gánh nước thuê trả tiền cơm trọ. Cam đã dặn anh Năm Chò đừng giới thiệu, đừng nhắc tích cũ, để anh Chín quên luôn đi là hơn.

Cam bị thương khá nặng nhưng không chết. Sau hai đợt mổ, bác sĩ nói đùa đã thu được nửa ki-lô sắt vụn trong thịt Cam. Tám vết thương tất cả, mất máu nhiều, nhưng sức trai khỏe và thuốc dùng hào phóng nên mau lại sức - khi biết ta ngừng bắn rút quân, các thầy thuốc trút cho Cam nhiều thứ thuốc quí để dành dùng đủ một mùa chiến dịch. Nay Cam chỉ còn cánh tay trái gãy xương, trong khi hai vết ở trán và đùi đang kéo da non. Vết rạch bụng tưởng nguy, may chưa xé rách màng bụng, chưa phá ổ bụng, lại lành trước.

Anh Năm Chò chạy lo việc đơn vị, gần cuối buổi đến giúi cho Cam mấy chữ nguệch ngoạc: “Xong lễ, E mình cuốn chiếu một khúc nữa. Anh cả đã về tới đây, khỏe. Ảnh có ghé qua Linh Lâm, ở đó thường hết, địch chưa lên tới vùng trên, mới quản dọc đường Một. Anh sẽ ghé thăm em nay mai”.

Hôm nay nắng ráo, Cam ra sân chống gậy tập đi. Nằm mãi, chân tay bị chuột rút và tê dại, lưng dễ bị loét. Đi được hơn năm chục thước mới đau đùi, tiến bộ rồi. Chỉ phải cưỡng lại những cơn ngứa của thịt lên da non, ngứa cả bên trong lớp bó bột mới rầy.

Chiếc máy bay thứ ba trong ngày lừ lừ qua thấp, lấy đường Một làm cữ để đáp xuống sân Qui Nhơn. Loại Ca-ta-li-na bụng chửa, đậu thủy bộ đều được. Máy bay vào Sài Gòn bay xa ngoài biển... Bấy nhiêu năm qua, tiếng ù ù trên trời luôn luôn gây phản xạ y hệt: tìm chỗ núp, sửa vòng ngụy trang, chờ lệnh bắn hay lệnh chạy xa chỗ quả khói chỉ điểm. Nay mới luyện phản xạ mới: nó bay kệ nó, việc ta ta làm.

Có thêm tiếng ù ù trên quốc lộ. Tiếng ô-tô. Quân y viện đóng tạm trong một trường tiểu học khung tre lợp lá dừa dựng kín dưới rặng tre cao, cách đường cái năm chục thước. Đường vào mới mở rộng gần đây, khi các em nghe tin thương binh được xe đưa đón. Sửa xong đường mới bật cười: đó chỉ là những chiếc xe ngựa lóc cóc chạy đêm với cái đèn dầu lúc lắc trên càng của thời chiến.

Chiếc xe Gíp chạy chậm xem đường, rẽ vào trường. Lại một vị cấp côi nào đó sực nhớ tới thương binh, đến nói mươi câu an ủi. Mới hôm kia, một ông phái viên béo trắng của liên khu đến bằng ngựa, mời thương binh dồn vào phòng lớn - hai lớp đã tháo liếp cho thông - giảng một giờ về hiệp định, đả thông tư tưởng, chỉnh đốn tác phong, hẹn chắc hai năm sẽ thống nhứt chẳng sai. Thương binh không vỗ tay hoan hô nhiệt liệt, không đáp từ hứa hẹn, cũng không thắc mắc xin hỏi. Ông phái viên ra đi, trên bộ mặt béo trắng ẩn hiện chập chờn hai vẻ ngược nhau: thỏa mãn với bài diễn thuyết của mình, khó chịu trước sự thờ ơ đáng trách của thương binh đối với quốc gia đại sự. Ngả lưng xuống tấm ván cửa kê trên ghế dài làm giường, anh tiểu đoàn trưởng nằm hên Cam thở mệt nhọc:

- Tay đó mình biết, đại đội trưởng quân nhu, cả đời chưa hít mùi khói súng. Ba hoa thề thốt làm gì để về sau phải chối quanh lánh mặt ! Thà cứ nói rằng chúng ta là lính cách mạng, hễ còn giặc thì lính còn đánh, hễ cách mạng chưa xong thì còn phải đấu tranh, vậy thôi !

Xốc một làn bụi mỏng, chiếc Gíp vòng tránh trụ cờ mới dựng, đỗ ngay trước thềm. Ba anh cán bộ bước xuống nhìn quanh, sửa áo mũ, đi vào căn phòng giáo viên có dán tờ giấy chữ to: Quân y trưởng. Ngồi chỗ góc sân, Cam nhận ra ngay Năm Chò trong nhóm, hai anh kia lạ mặt.

Mươi phút sau, y tá ra sân gọi to mời thương binh vào họp ở phòng lớn. Đợi mươi phút nữa, nhóm khách cùng đi với bác sĩ quân y trưởng vào phòng. Bác sĩ nói hồ hởi:

- Xin giới thiệu với các đồng chí, có đồng chí Phan Chanh, chính ủy trung đoàn thuộc Tình nguyện quân Hạ Lào - Đông Bắc Miên, nhơn khi đơn vị hành quân tập kết qua đây, ghé chào và chúc sức khỏe anh em ta !

Lần này thương binh vui vẻ vỗ tay. Lính với nhau cả, nhưng ai cũng biết lính Hạ Lào phải đi xa và chịu khổ rất nhiều, còn gian nan hơn lính Cực nam là nơi mỗi ngày chỉ được một ca nước. Anh cùng đi có lẽ là thư kí, không nghe giới thiệu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #212 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 04:03:57 pm »

Cam không tin ở mắt mình nữa. Cam chờ gặp một anh Chanh quấn váy kẻ ô xanh đỏ quanh lưng, trùm khăn trên đầu, đi chân đất, như mấy cán bộ đội Hạ Lào về phép luân lưu gặp Cam đã tả. Đây khác hẳn. Anh Cả Chanh như vừa rời tiệm hớt tóc và tiệm may hạng nhất tới thẳng quân y. Anh mặc bộ áo quần kiểu đại quân hay đại cán gì đó, Cam chỉ thoáng thấy mấy anh từ Bộ tổng tư lệnh vào diện trong dịp lễ: áo bốn túi bằng thứ vải xanh lá trơn đẹp, quần ủi nổi đường li sắc lẻm, giày da đen có cổ đế cộp đánh bóng soi gương được, mũ phủ vải mới đính sao hai vành vàng, súng ngắn có dây choàng vai đeo bên sườn trái, xắc-cốt da cùng màu vàng sẫm với bao súng. Cán bộ liên khu chưa có ai sang đến thế. Mà lại đi xe Gíp chạy xăng, có thư kí xách cặp theo sau !

Cả Chanh nhận ra Cam ngay, anh nháy mắt gật đầu rồi thong thả đi từng giường. Nhiều cán bộ nhận ra “ông Chanh xe lửa”, tán chuyện thoải mái. Sau nửa giờ anh mới đến chỗ Cam, người cuối cùng, rỉ nhỏ: “Ta ra sân một lát, em !”.

Cam chống gậy nhúc nhắc bước ra, Cả Chanh và Năm Chò đỡ hai bên. Sau phút mừng đầu tiên, Cam thấy cái cảm giác ngờ ngợ không vui cứ tăng dàn. Chẳng ai ép anh Chanh chịu cực mãi, trên cấp cho thì hưởng thôi, nhưng giữa lúc lính và dân đang thiếu thốn, anh xài bảnh quá cũng khó coi. Cán bộ trung đoàn đã oách vậy, các cấp rất cao chắc phải ngất trời: ăn cơm như tiệc, đi máy bay riêng, một lô hầu cận theo sau, đi đâu lính dàn ra đón tới đó...

Ba người ngồi xuống cái ghế dài kê dưới bóng cây để thương binh hóng mát. Cả Chanh tủm tỉm nói ngay:

- Năm Chò biết rồi, em Sáu chưa biết. Anh đóng kịch khá đó chớ ?

- Đóng kịch ...

- Đóng kịch tập kết, rồi ở lại miền nam.

- Ủa... bộ đội mà, sao anh... nó giết mất còn gì ?

- Nó muốn giết, ta đừng để nó giết !

- Anh về thành phố... hay ở bí mật ?

- Tùy cơ ứng biến. Hễ thằng Ngô Đình Diệm biết nể hiệp định, ta về thành phố lập hội, đóng trụ sở, trương cờ. Nó khủng bố thì về nông thôn, vô rừng núi. Được như các đảng cộng sản Tây Âu là hay nhứt, mà chắc không được, Mỹ với Diệm chống cộng trắng trợn lắm, ác hiểm lắm. Mình làm đúng hiệp định, đưa quân đội với chính quyền đi. Nhưng Đảng mình là đoàn thể nhân dân, dân có quyền tự do lập đoàn thể, đảng viên ở lại chẳng có vi phạm vi phiếc gì hết. Lý thuyết vậy, thực tế bây giờ là nó lùng giết mình, mình phải lánh né cái đã...

Cam thốt ra câu hỏi nóng cháy của mọi người:

- Anh Cả có tin hai năm nữa thống nhứt không ?

- Cứ rán hết mức, hai năm xong càng hay, chưa xong phải làm tiếp chớ chịu bỏ à ? Hồi mới đánh Tây, chẳng ai nghĩ đánh tới chín năm, anh cũng vậy, trên nói trường kỳ anh cho là mấy ổng phòng xa, hà hà...

Cả Chanh thu xếp việc rút quân ở mặt trận Tây-Nam khá chật vật, phải phóng người đi gọi các đội Xung phong công tác ở sát biên giới Thái-lan, thuốn sâu vào địch hậu Đông Bắc Miên. Rứt ra khỏi dân thật không dễ, phải thăm viếng chào hỏi, đợi làm lễ chúc phước cho các mẹ vui lòng, năn nỉ các cô đã dìm thuyền nơi vắng để giữ chân anh em. Chanh được thư hỏa tốc gọi về khu. Anh Hai Thỉnh trao điện tối mật: Chanh sẽ ở lại miền Nam, cần về ngay Quảng Nam nhận chỉ thị mới. Đến trạm biên giới, một thư của anh Tô Xáng đợi sẵn, dặn Chanh phải ghé Linh Lâm để chào từ biệt đi tập kết, có thể cho một người tin cậy trong nhà biết mình ở lại nhưng phải cấm để lộ, địch biết sẽ hại cả nhà. Thư cũng hướng dẫn đường dây băng núi vào Quảng Ngãi gặp liên khu ủy, nhận thêm chi thị về tổ chức bí mật của Đảng.

Chanh chỉ ở Linh Lâm hai ngày, đủ đi chào và bàn việc nhà. Năm Bưởi không đi được, ông Tư Chưa không muốn đi. Hai Thùy được biết chồng ở lại, cũng tháo gánh không chịu đi, Chanh dỗ mãi chẳng ăn thua. Chị lựa lời nói với chòm xóm: “Đợi ảnh bấy nhiêu năm còn được, hai năm nữa là bao !”.

Anh băng núi đi xuống, vòng tránh những chỗ địch đóng, đến thị xã Quảng Ngãi kịp dự lễ chiến thắng 2 tháng 9. Bàn xong công việc, liên khu còn buộc anh đóng kịch thêm một tuần: mượn đồ sang đi phô trương nhiều nơi, vì quá nhiều người biết mặt anh trong những năm làm xe lửa, sau đó đóng vai dân ruộng hay dân buôn luồn núi trở về Quảng Nam tìm anh Tô Xáng.

Nghe thủng chuyện, Cam mới thấy mình quá trẻ con. Trước mắt Cam, anh Cả lớn vọt lên như hồi xưa ở Qui Nhơn Cam đã trông thấy sau những ngày ăn xin đói khát. Những gì nữa đang đợi người anh chưa từng được hưởng chút gì từ ngày biết Đảng, chỉ cống hiến và hi sinh ?
Năm Chò rủ tất cả ra quán Chín Mén làm một chầu tiễn đưa. Cả Chanh bằng lòng ngay, chỉ dặn ra đó phải giúp anh diễn tiếp vai kịch sắp xuống tàu. Chín Mén lóa mắt khi gặp lại ông Cả Trà oai hơn giám binh đến bằng xe hơi với cả bộ ba Hội An năm xưa. Anh ta cười đứt đôi cái mặt, giới thiệu với khách ăn ngồi đầy quán về ba người đi tập kết. Sáu Cam không giấu mình nữa và anh Chín đã quên hẳn chuyện người vợ cũ.

- Cụng li anh Cả ! Hai năm nữa ta làm lễ tái kiến, ở đây hay Hội An gì đó, em xin chôn mấy bình đặt biệt chờ ba anh em trở về cố quận !
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #213 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 04:06:07 pm »

*
*     *

Đồng chí giao liên trẻ măng, vác rựa cõng gùi như người lên núi róc vỏ sim hay bứt mây, dừng lại nói với Cả Chanh:

- Chỗ này ngó xuống thấy rõ nhứt đây anh, lên khúc nữa là khuất.

- Ta nghỉ chút hè.

Chanh đặt cây đòn gánh có cuộn dây dừa buộc ở đầu, cởi mấy cúc áo trên hứng gió, nhưng vẫn giữ cái tay nải quàng chéo trên lưng, đúng thói quen ở Lào phòng địch đánh úp.

Trở về Quảng Nam, Chanh phải vòng xa hơn trên đồi gò, tới đây rẽ lên núi hẳn. Đối phương đã tiếp quản thêm một quãng nữa, cắm thêm một số bót gác phía tây quốc lộ Một khi con đường “tập kết trễ ngày” bị lộ. Sau những vụ khủng bố đẫm máu không dấu được, nhân dân cả vùng tự do lẫn vùng bị chiếm đấu tranh rất dữ, chúng chùn tay phần nào, bắt và giết người kín đáo hơn.

Từ mỏm cao này nhìn xuống thấy được hai chỗ chúng đóng quân, với cờ tam tài và cò sọc dưa treo song song trên chỗ hơi cao, chỉ khác trước là không rào dày đặc và không bắn pháo cối cầm canh ra chung quanh. Bọn tâm lí chiến làm ăn ráo riết. Vừa kéo cờ lên buổi trưa, xế chiều đã có loa chạy khắp nơi mời đồng bào đi coi phim không mất tiền, đêm đã có một vùng đèn điện sáng rực và ca nhạc vang dội qua máy phóng thanh. Nếu “đồng bào thân quí” lánh né liên tiếp mấy đêm không đến, chúng mới cho quân vác súng đi lùa tới dự mít-tinh ban ngày, bắt đầu hăm dọa. Trong khi đó gián điệp của chúng luồn vào vùng ta phá rối đủ cách, từ cắt dây điện thoại đến gài mìn chỗ trẻ em hát múa.
Chanh ở lại vùng tự do chẵn mười ngày. Một vùng tự do đang thu hẹp dần, co dần hai đầu, để biến hẳn sau hạn cuối ba trăm ngày.

Anh gặp may khi vào tới liên khu ủy. Chánh văn phòng là người quen cũ ở nhà lao Công-tum, mừng rỡ xô ghế bước ra vồ lấy anh trong khi hai máy điện thoại trên bàn cùng réo - có tất cả năm máy dã chiến kê thành dãy. Anh Hồng Long đi tàu biển ra Bắc gặp Tổng quân ủy vừa về, đã quy định xếp ưu tiên một cho các đồng chí ở lại cần gặp anh. Bí thư liên khu ủy làm việc với Trung ương chưa xong. Đặc biệt có anh Bảy Quý, ủy viên Trung ương và phó Ban tổ chúc cũng theo tàu vào, hỏi thăm Chanh nhiều nhưng nay không gặp được: anh đang ở các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, giúp xây dụng các tỉnh ủy bí mật tại vùng đất cũ của mình.

Anh Hồng Long tiếp Chanh ngay chiều hôm ấy, với bộ mặt thiếu ngủ bơ phờ. Vừa bắt tay xong, anh hỏi một câu không ngờ:

- Chanh bên Lào về, có thèm thịt chó không ?

Chanh ngẩn ra, phì cười:

- Thứ đó ở đâu chẳng thèm !

- Hai Thỉnh về đây họp, được chế độ bồi dưỡng chiến trường, hắn ta dặn cấp dưỡng mỗi ngày mua cho một món thịt chó, hồi nào ngán sẽ báo lại. Tưởng mệ là dân Huế, mệ kiêng thứ đó chớ ! Mà sao hắn nói dân Lào tởm cái món cờ tây ?

- Khu bộ đóng trong rừng sâu, kiếm đâu ra cờ tây ! Tụi tôi sống với dân, họ không ăn mà cũng chẳng cấm. Hễ thôi không nuôi nữa, họ nhắn anh em tới bắt, thường họ dắt chó ra rừng cột vô gốc cây, anh em mình đem đi xa mà chén với nhau, tránh làm trong làng là được.

- Ồ, vậy tối nay cậu ăn mộc tồn nhà mình. Phu nhơn mình nấu thứ đó khéo đặc biệt, bả mới kiếm được một con giá rẻ còn to, tính tiễn đưa mấy đồng chí trở vô lại Cực Nam.

Anh Long ngoáy vội mấy chữ, bước ra hè gọi một chú bé đang gọt cây súng gỗ nơi góc sân: “Đem về nhà bác, đưa cho bác gái nghen”.

Cơ quan liên khu ủy và bộ tư lệnh liên khu đóng tạm trong một khu nhà tre lá dựng tách ra khỏi xóm cho đỡ lộ bí mật. Trong khi đợi xuống tàu, anh Long và vợ con ở một gian nhỏ chỗ khuất. Dân khu Năm được bộ đội nam tiến tập cho nấu và ăn chó, nhưng phụ nữ thạo nấu cầy còn rất hiếm. Chỉ đôi người như chị Long, vốn là du kích Ba Tơ đã nhào vô chém lốp xe Nhật, mới ngang tàng học cái nghề thiên hạ ngán ấy.
Ba đồng chí cán bộ tổ chức và bảo vệ được gọi đã đến. Năm người bắt tay vào việc. Theo đề nghị của anh Xáng bí thư Quảng Nam, liên khu ủy đã chỉ định Chanh làm phó bí thư tỉnh ủy bí mật, vì Chanh có kinh nghiệm hoạt động xây dựng cơ sở mật hồi Pháp thuộc cũng như ở địch hậu Hạ Lào sau này, lại quen nhiều với cán bộ các tỉnh bạn, thạo đường sá, thạo nếp sống thành thị. Những hiểu biết ấy sẽ giúp anh đối phó với vô vàn tình huống phức tạp sắp gặp nay mai. Chanh phải học thuộc lòng hàng loạt tên người, bí danh, bí số, mật hiệu (Chanh thoáng nhớ anh Bảy Quý năm xưa: bắt học thuộc lòng và trả bài cẩn thận !).

Chanh thấy như mình mang đến một tấm bản đồ in sẵn, vô danh. Từng đồng chí một dùng bút màu riêng, đang lần lượt vẽ lên đấy những đường ngoằn ngoèo, những dấu chéo, tròn, tam giác, ghi rất nhiều tên không in, nhiều con số khó đoán. Hệ thống tổ chức mới của Đảng hộ liên khu và các tỉnh sẽ hoạt động khác hẳn...

- Ta trở lại thời kỳ tiền khởi nghĩa, anh Long hè ?

Anh Hồng Long trầm giọng:

- Với những khó khăn lớn hơn... Ở vùng bị chiếm hay tranh chấp còn đỡ, hầu hết cơ sở ta nằm chìm, chỉ một số ít cán bộ với du kích ra mặt chống địch, nay cho đổi vùng, mai phục, tập kết, dễ thôi. Ở bốn tỉnh tự do tất cả đều công khai, địch biết rõ danh sách đảng viên, đoàn viên, hội viên các Hội cứu quốc, chẳng sót ai. Nếu ai dính vô kháng chiến đều đi cả thì phải tập kết toàn dân, cả lão thành cứu quốc, nhi đồng cứu quốc ! Địch biết ta quá rõ, mà ta biết bọn thù mới lại quá ít. Thằng Mỹ chống cộng khác thằng Pháp ra sao ? Thằng Diệm khác Bảo Đại ra sao ? Tôi hỏi nhiều, mà các đồng chí ở Tổng quân ủy và Bộ tổng tư lệnh chưa giải đáp được mấy, hứa sẽ nghiên cứu thêm thật gấp. Đành vậy, trên tìm hiểu thì ta cũng tìm hiểu, vừa thăm dò vừa tiến công, tự nghĩ cách ứng phó thôi !
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #214 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 04:08:48 pm »

Sau ba ngày làm việc ở liên khu, Chanh mượn áo quần và xe hơi sắm vai tập kết. Gặp Năm Chò và Sáu Cam trước, để lâu khó tìm. Tiếp đó anh đi gặp “giới xe lửa”. Giám đốc hỏa xa bây giờ là một lái xe ở ga Tua-chàm, cơ sở của anh Bảy Quí từ 1942, sau Tổng khởi nghĩa vào bộ đội, được điều về làm xe lửa khi đang giữ chức trung đoàn phó. Theo lời ông Hai Rề thì anh này được công nhân khen là chí công vô tư, lãnh đạo khá, nhưng chuyên môn thua xa Cả Chanh.

Giới xe lửa sẽ tập kết theo những chuyến tàu cuối cùng, bởi phải lo chở người và hàng về khu vực ba trăm ngày. Ông Hai Rề ra khỏi hố khám gầm xe đã nhiều năm, bớt cái tật ngưỡng thiên, chỉ thỉnh thoảng hất cao cái đầu như người chợt nghe tiếng máy bay. Ông buồn rầu cho biết trường hợp Bảy Tộ hi sinh cứu xe. Đêm ấy Bảy Tộ lái một chuyến tàu công hành chở toàn bộ đội, thương binh, chất nổ. Qua cửa Sa Huỳnh bị pháo tàu chiến bắn chặn mất một tiếng, tiếp đợi sửa đường ray chừng tiếng rưỡi nữa, đến Tam Quan khi đã sáng bạch. Hối hả trút người xuống, rồi Bảy Tộ cho tàu chạy trở ra núp đường hầm, toa trước máy sau. Bốn chiếc Co-bra cổ ngỗng bay đến, có lẽ tình cờ chộp được mồi ngon, đã vượt một quãng rồi còn quay lại, nhào xuống ném bom. Đầu máy rất hiếm quí, mà hơn một tấn chất nổ nếu trúng bom thì cũng rất nguy. Bảy Tộ bị nhiều mảnh bom, vẫn đứng mở hết ga cho đoàn tàu chạy thục mạng, lao tuột vào hầm sâu. Khi anh em thắp đuốc chạy tìm thấy thì Tộ đã hãm máy nằm hấp hối.

Thợ xe lửa chết và bị thương nhiều hơn hồi còn Cả Chanh, do máy bay đánh nhiều hơn, vào sâu hơn, rà bắn đến từng con trâu một cố gây nạn đói: “Giết một trâu bằng giết mười lính Việt Minh”, chúng rao như thế. Nghề chài lưới cũng tan hoang. Vũ khí Mỹ tốt hơn Pháp mỗi năm đổ vào một nhiều.

- Cả nè, nhắm chừng cha không kịp về thăm con Thùy đâu. Để cha viết thơ, gặp ai trở về ngoải nhờ chuyển cho nó. Ra Bắc chưa biết ai ở đâu làm gì, cha con mình nhớ tìm nhau nghen. Cha thì chắc vô hỏa xa rồi. Con thì ở quân đội, làm chánh ủy, vậy là thuộc Ban chánh trị... ờ, Tổng cục chánh trị, cha cứ gởi vài ba lá cho con ở Tổng cục chính trị, thời nay nó đụng...

Chanh muốn ôm ghì ông cha vợ, nói thật luôn, lại cố ghìm được. Ông sẽ chật vật viết thư, lận đận đi tìm con rể, chán rồi cũng thôi. Nay ông đang lãnh thư ký công đoàn hỏa xa, không nắm quyền hành gì mà lại làm dâu trăm họ.

Tuy anh Hồng Long cho phép xài xăng thả giàn vì ta ít xe, Chanh chỉ dám chường mặt thiên hạ đến Bồng Sơn rồi trở ra. Vây vo bấy nhiêu đủ rồi. Tin mới từ Quảng Nam dội vào ngày càng đáng lo.

Một nhóm cán bộ tỉnh đoàn thanh niên cứu quốc đi “tập kết trễ” cho biết Hai Khánh và Bảy Suyền trong Ban địch vận tỉnh đã về thành Đà Nẵng, chưa chửi ta trên đài hay ký truyền đơn rải máy bay như một số nhảy trước.

Số “tập kết chạy hoảng” tăng lên từng ngày. Đó là những cán bộ được bố trí ở lại hay cảnh nhà khó khăn phải ở lại dưới nhiều hình thức: ở công khai làng quê, đổi vùng và giấu tông tích, sống bí mật nơi rùng núi. Khi thấy địch bắt giết nhiều, cơ sở chịu đòn không nổi khai báo nhiều, họ đưa gia đình hoặc một mình chạy bừa vào vùng ta xin tập kết. Một trong những người gặp Cả Chanh dọc đường là anh Tám Lự, cố nông ở xóm Ấp Linh Lâm, được đội phát động đưa lên làm trưởng ban giảm tô xã Linh Giang nhưng không biết làm việc, nay đem một vợ năm con chạy vào, còn gửi lại ba đứa cho bà con nội ngoại. Nghe Tám Lự kêu đói khổ, mà đúng đói khổ thật, Chanh vét hết số tín phiếu ít ỏi còn lại biếu anh, anh còn năn nỉ xin thêm để “ăn rau cháo chờ tàu”.

Lại hiện ra thêm những trường hợp không ngờ, là số “tập kết đối phó”. Đó thường là số trẻ tuổi độc thân, lâu nay tránh đi bộ đội ta, nay sợ địch bắt lính, rất dễ bị địch vung  tiền biến thành lưu manh, chỉ điếm, lâu dần thành kẻ ác. Cơ sở ta, cả cha mẹ số này nữa, xúm vào dỗ dành họ đi tập kết, nói khoác lu bù về thiên đường miền Bắc, họ chỉ gật đầu một cái là mổ heo giết gà làm lễ tiễn đưa gấp để chặn đường lui.

Còn nữa. Còn những trai gái trẻ hay người vợ lớn tuổi từ các huyện bị chiếm và các thành thị của Bắc Quảng Nam, vào tìm cha anh chồng con đi đánh giặc nhiều năm, quyết theo tìm tận miền Bắc, cũng ngây ngất vì không khí “xả láng ta với ta” đầy men say, đột ngột đến Ban tập kết đòi đi. Còn những gia đình gốc Bắc đã định cư từ xưa trong này, nhận được thư họ hàng ở Thái Bình hay Vĩnh Yên gửi vào theo tàu biển, bỗng nôn nao xin trở về quê cha đất tổ. Còn những đứa đã qua nhiều lớp huấn luyện của CIA và Phòng Nhì, nay nhận kế hoạch rình mò và phá hoại cùng với nhiều vàng, nhiều giấy bạc Đông Dương và giấy bạc miền Bắc, khoác khăn gói nghiễm nhiên xuống tàu Ba-lan...

Lác đác cũng gặp những bèo bọt trôi ngược dòng. Một lính trẻ lên cơn nhớ nhà nhớ vợ không chịu nổi, bỏ trốn. Một viên chức đã cưỡng được căn bệnh bất mãn, nay nó tái phát nặng hơn. Một cán bộ xã nghe tin cha già mẹ héo bị địch bắt, quay về đầu hàng. Và đôi người như Hai Khánh... người đồng chí tài hoa sắc sảo năm xưa mà Cả Chanh quí mến, cũng được Đảng coi trọng, đã vất bỏ tất cả để rẽ cương lối khác. Chanh hỏi lại liên khu ủy cho chắc: quả thật Hai Khánh không phải do ta gài vào hàng ngũ địch. Thêm một bài học nữa để “ông Cả Tin” trắng mắt ra. Đố ai bẻ thước mà đo lòng người !

Hai miền Nam Bắc chưa tách rời nhau mà trước mắt Cả Chanh đã hiện lên một rừng câu hỏi, cứ như bãi rau dớn với những đợt xoáy tròn mọc bên bờ suối.

Và lúc này, ngồi lặng trên mỏm núi, Chanh nhìn xuống vùng tự do liên khu Năm khi nó sắp thuộc về quá khứ.

Anh Hồng Long bảo ta giữ cơ sở ở đây khó hơn các nơi bị chiếm hay giành giật. Đúng vậy. Chúng ta rời những nơi ấy với vô vàn thương nhớ ít lo ngại. Anh tránh không nhắc đến nỗi đau của người cộng sản liên khu Năm khi phải trao đất và dân đã bóc hết lớp vỏ bí mật vào tay quân cướp nước (báo chí đổi gọi là đối phương, in cả ảnh lính ta và lính Pháp cắm hoa đầu nòng súng ngồi toét miệng cười với nhau, tùy ý các vị thôi chứ đối với tôi giặc vẫn là giặc, máu đã ngừng chảy đâu !). Sẽ biến đi khu căn cứ lớn nằm giữa bốn bề giặc vây đánh, cắn răng giữ được qua suốt chín năm xương máu. Tiếc buốt ruột một mảng Tổ quốc độc lập treo lơ lửng quãng giữa, đầu không đến trời chân không đến đất, xa Trung ương và xa cả Trung ương cục miền Nam mà vẫn bám chắc bộ óc của Đảng. Giày đinh của Pháp - Mỹ - ngụy sắp đạp trên dải đất nghèo và hẹp đã sinh ra và nuôi lớn những vạn người cầm súng nối tiếp nhau, đã làm ra và khiêng gánh những vạn tấn súng đạn, gạo muối, áo quần đến các tuyến lửa Bắc Nam Tây Đông, sang tận Lào Miên giúp bạn.

Lớp người mai sau sẽ học rất kỹ về chiến thắng Điện Biên “chấn động địa cầu”. Chắc chắn phải thế. Nhưng họ sẽ dừng hay chăng khi lật đến phần đuôi được ghi nhan đề chung là “Các chiến trường phối hợp” ? Họ có tò mò đọc những dòng rút gọn viết về chiến dịch bão táp giải phóng Bắc Tây Nguyên, trận diệt gọn binh đoàn cự phách GM.100 từ Triều Tiên sang, cuộc đánh vật dữ dội để hất xuống biển hơn bốn chục tiểu đoàn ùa lên chiếm vùng ta ? Họ đủ kiên nhẫn hay không để nghe kể rằng bộ đội chữa sốt rét bằng một viên kí-ninh vàng hòa cho sáu bảy người uống, xỏ tai búi tóc đóng khố để kéo từng người dân Thượng đến với Bok Hồ, chết lặng lẽ không tìm ra hài cốt bởi tất cả những ai nhớ chỗ chôn đều lần lượt ngã theo ? Họ sẽ cười, ngáp, nhún vai, hay sẽ động lòng thương xót khi biết chiến sĩ ta có thể sống hàng năm bằng củ rừng, lá cây, ốc suối, cũng có thể tắt thở sau vài giờ sốt mê man và bị vắt đói bò khắp thân, hút cạn máu ? Họ sẽ tiếp bước cha anh lao vào những chỗ mũi nhọn cách mạng, hay cố xua đi những kỷ niệm lẩm cẩm, u ám và lỗi thời của cha anh ?

- Đi anh hè. Đường vô nóc ông Xim đêm khó mò lắm.

Phải đi. Đường dài còn muôn ngàn trắc trở, khi trời tối giữa núi cũng như khi dạo đường phố dưới nê-ông xanh đỏ, khi đầu gối thúc cằm leo vào nóc Thượng và cả khi bấm nút thang máy vút lên lầu mười.

- Ờ, ta đi.

Nhấc cây đòn gánh lên vai áo bà ba vá một mảnh to, úp cái nón lá rách vành lên đầu, Cả Chanh đi tiếp.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #215 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2016, 02:43:36 pm »

Chương XX


Sáu Cam cõng ba-lô, chống gậy ngắn bằng trúc già, đi nhúc nhắc trên sân rộng của Trạm thu dung, tay trái co duỗi đều đều theo một góc hẹp. Kể ra tập đi ngoài vườn xoài cổ thụ thì mát đầu êm chân hơn, nhưng Cam cố ý biểu diễn cho các thầy thuốc biết anh đủ sức ra viện.

Trong nhà, các sòng tu-lơ-khơ dàn ra khắp nơi, ồn nhức óc, khiến các tiên ông cờ tướng từng lúc phải gào lên: “Bớt bớt cái loa chớ !”. Bộ đội sau đình chiến đánh tu-lơ-khơ mọi nơi mọi lúc. Dân làng chê thẳng: “Chưa bao giờ thấy quân mình ham đánh bạc tới vậy”. Chê rồi lại xóa lỗi: “Thì cũng để anh em giải trí cho khuây, nằm gác tay nghĩ riết rồi sanh nghĩ bậy”. Về sau “phong trào cơ bích” được uốn nắn lại, giảm dần để nhường thì giờ cho lao động giúp dân và tập văn nghệ. Riêng những nơi đón thương bệnh binh như trạm này thì cho chơi thả cửa, chỉ buộc ngừng vào giờ thể dục trị liệu, nghỉ, ăn, làm thuốc.

Các đơn vị từ những nơi xa xôi hiểm hóc nhất đều chở, khiêng, dìu tất cả thương bệnh binh của mình về, dù đồng bào năn nỉ xin giữ lại nuôi cho lành rồi đi sau. Vài đơn vị xuống tàu đầu tiên thiếu kinh nghiệm, giấu giếm theo thương bệnh binh vì sợ anh em tủi thân, oán trách: “Băng rừng rúc núi về đây còn được, huống chi có tàu đưa xe đón, bước thêm mấy bước tới đất xã hội chủ nghĩa rồi nghĩ sau !”. Chẳng ngờ chặng đường biển trung bình ba mươi sáu tiếng ra Cửa Hội lại cam go đến thế. Thương bệnh binh gặp sóng to gió lớn đã nôn mửa, ngất, vết thương bật máu, bệnh nặng thêm, một người chết trên tàu. Có thể dìu nhau leo cầu thang xếp từ thuyền hay tàu há mõm lên boong tàu lớn, nhưng đôi người đã phải dùng cần cẩu nâng đặt chật vật xuống xà-lan đang chồm chúi giữa sóng Cửa Hội.

Trạm thu dung được đặt gấp rút trong khu vực ba trăm ngày, mé trên cảng Qui Nhơn chừng năm sáu cây, sát bên một làng may mắn không bị Tây đốt trong chiến dịch Át-lăng vì nằm nơi khuất nẻo. Các đơn vị ta xếp hàng tiến từng quãng xuống cảng, dừng đâu giúp dân đó: dựng nhà, làm trường, đắp đường, đào kênh, thi nhau để kỷ niệm lại trước khi tập kết. Đến đây, anh em xúm vào giúp trạm thu dung của quân y liên khu. Cũng chẳng mất đi đâu: cuối ba trăm ngày, mọi thứ của Trạm sẽ được tặng lại dân làng để làm trường học.

Trung đoàn đã xuống tàu cùng đại đoàn mới lập. Ban chỉ huy đến thăm Cam, giao lại cả xấp hồ sơ cá nhân bởi ngại ra Bắc có thể bị điều động lung tung, nhất là cán bộ trung đội trưởng trở lên. Hồ sơ có thêm hai bản sao công văn: đề nghị đề bạt, đề nghị huân chương. “Cậu đỡ rồi, cầm hết cho chắc, nắm đằng chuôi đi. Ra ngoải, rán xin cho được về 108 nghen, hễ gặp trục trặc gì thì biên thơ hay đánh điện, tụi mình sẽ làm công văn kêu đích danh cậu...”

Trung đoàn còn tặng Cam một đồng hồ Ni-klex cũ nhưng còn tốt. Một đồng chí tham mưu cùng đi rỉ tai cho biết nó từ đâu ra. Trong một đợt kiểm tra bất ngờ, anh em tìm thấy trong ba-lô của một đại đội phó hậu cần hơn hai chục đồng hồ, một mớ nhẫn và lập-lắc vàng có khắc tên, chừng mười ngàn đồng Đông Dương. Cậu này nắm bộ phận thu dọn chiến trường trong chiến dịch vừa rồi, về vét chiến lợi phẩm nhét túi trong khi thương binh nằm rên mất máu. Chưa bán vì đem cả đống tín phiếu ra Bắc cũng vô dụng. Nay đang giam đợi giải ra ở tù, lính đòi xử thật nặng làm gương.

Năm Chò đến sau, tươi roi rói, chưa mở miệng đã móc thư ra khoe. Mấy anh ở xưởng Cao Thắng II băng núi mới đến Bình Định. Họ nán lại Linh Lâm chôn kỳ hết số súng hư đạn thối không chở đi được, đã gặp anh Năm ở Gò Găng. Một cái nháy mắt dành cho người tin cậy: “Là đồ hư thối nhưng đã sửa rồi. Tụi nó đang giết dân mình kia... Thiệt thà là cha đứa dại !”. Không ít đơn vị và địa phương đã quá thật thà, nơm nớp sợ “vi phạm” đến từng câu nói !

Họ đưa thư mới nhất của chị Năm Bưởi. Chị báo rằng một trung đội lính Diệm đã lên chợ Huề Bình tuyên truyền vài ngày rồi rút, trong đó thằng Bảy Bòng đeo lon hạ sĩ dẫn đường nhưng chưa chỉ điểm bắt ai. Chị gạch dưới một câu bí hiểm: Báo tin anh mừng là có rồi, em đang rán giữ. Cam quá dốt nên phải hỏi, anh Năm rạng rỡ khoe chị Bưởi đã có thai. Việc gia đình chưa thêm gì mới.

Địch vẫn gờm xứ núi Linh Lâm, chưa dám vào cái ổ “Việt Minh rặt” ấy. E rằng khi dám vào, chúng sẽ phá dữ hơn vùng xuôi.

Tiếng gọi khàn khàn dội tới chỗ Cam:

- Thằng Cam nghỉ đi. Mày làm bung da non lại hành tao thêm cực !

- Cháu đạt một cây số rồi đó bác.

- Cây ! Cây xoài hay cây tre ? Tao ngó chừng mày miết, mắt kém chớ chưa đui !

Ông quân y trưởng tóc bạc này tên là Cừng, lính lén gọi là Gừng để chê cụ cay nghiệt. Cụ không giận: “Gừng càng già càng cay, càng nên thuốc, kêu vậy cũng hay”. Cụ là y sĩ Đông Dương lớp xưa, có bốn con đi bộ đội, anh trẻ nhất hăm mốt tuổi hi sinh mấy tháng trước đình chiến. Từ đó cụ thấy chiến sĩ trẻ “giống thằng út tao” ngày càng nhiều. Đố ai buộc được cụ kêu anh em bằng đồng chí, hễ không mày tao thì ắt là bác cháu. Cụ thương bộ đội hết lòng, mổ thương binh suốt ngày đêm đến ngã ngất, vừa mở mắt đã hỏi: “Còn sót thằng chó con nào không ?”.

Cam vâng lời cụ Gừng, đi vào nơi yên tĩnh là phòng sách báo. Cụ quân y trưởng bước theo, nhấc thử cái ba-lô rỗng, bật “xì” một tiếng:

- Qua mắt ai chớ đừng hòng phỉnh tao, Cam ! Chưa đi là chưa đi !

Cụ thích đến đây khi rảnh. Ngồi nhiều ở phòng sách báo thường là cán bộ ba mươi tuổi trở lên, ham đọc và viết thư hơn đánh bài đánh cờ. Cam bị cụ ép làm chủ bút bích báo vì tình cờ cụ moi ra thằng đặc công này đã học chuyên khoa văn học ở miền Bắc. Bù lại những giờ Cam gò lưng tô màu chép bài, cụ cho Cam đi chơi tùy ý, không phải theo qui định nghiêm ngặt là đi đâu phải từng tổ ba người, đề phòng điệp gây sự hay nhớ nhà bất tử.

Trong phòng đang có mươi cán bộ trung, đại đội. Họ ngừng đọc và viết để đợi cụ Gừng kể nỗi lòng sâu kín mà họ đã nghe hàng chục lần.

- Tao ngó thằng Cam mà rầu. Tống cổ tụi bay, tao rảnh nợ chớ được ăn giải ăn giỗ gì. Đi trước đi sau tụi bay cũng tập kết chớ ai dám bỏ lại. Bay coi tao như thằng gác tù, tao ức lắm. Coi đó, dân mình đang thiếu ăn mặc, thuốc men, mà nuôi tụi bay như nuôi gà thiến tế đình. Thứ gì ngon dân đem tới, quà gì quý Cụ Hồ gởi vô theo tàu, trên dồn hết cho tụi bay mau lành mau mập... Ban tập kết tới đây nói đứt lưỡi chuyện sóng gió ngoài biển, thêm chuyện không đủ xe cộ chở tụi hay đi khỏi Cửa Hội, thêm cái lạnh nhức xương ngoài đó... Coi bộ nếm lạnh mới có mình thằng Cam, chớ lũ trẻ khờ câm. Cam, mày nói cái lạnh ngoài đó coi. Phải mặc tới thứ áo bông dày có tay, phủ bụng, đắp mền bông nặng tới năm sáu ký, đầu đội mũ bông bịt tai, chân đi giày có tất, hai tay xỏ vô găng như chực đánh bốc-xơ, tức là quyền Ăng-lê đó. Đêm nằm phải hốt rơm trải cả gang tay dưới lưng không thì run hết đêm. Cứ hỏi thằng Cam với anh em ngoài Bắc vô thử tao bày đặt hay không. Đó là chưa kể khi tụi bay theo đơn vị lên núi cao, xứ Thổ xứ Thái, đất phủ tuyết với nước đóng băng, bay chịu không thấu lăn đùng ra làm tội anh em. Phải biết thương đồng đội với chớ !

Thương binh liếc nhau tủm tỉm. Ngồi quanh cụ Gừng là những cán bộ hàng ngày phải giảng cho chiến sĩ những điều na ná nhu thế, nhưng đến nay lâm sự chính họ đang lo ngay ngáy, lo bị tách khỏi đơn vị cũ. Trong những năm đánh nhau có rất nhiều chế độ chính sách phải tạm gác, tạm hoãn, tạm ghi để đấy, nay đến lúc giải quyết thì họ có thể bị bật đi xa tít tắp, ra khỏi quân đội không chừng ...

- Về đơn vị vận tải K.83 hả ? Giải thể rồi, mỗi người một nơi, sổ sách nộp liên khu hết. Quân rút, vận cho ai nữa ? ... về tiểu đoàn độc lập 59 ? Nhập vô E.803 rồi. Để coi.. 803 đủ cán bộ đại đội, vừa đề bạt vừa bổ sung, không nhận thêm. Chẳng lẽ để đơn vị thiếu chỉ huy, đợi các đồng chí về ? Mà ra viện có còn sức nắm đơn vị không hay phải chuyển qua công tác nhẹ, hay phải ra khỏi quân đội ? Tiểu đoàn 76 Nam Tây Nguyên ? Xuống tàu tháng trước, ra Bắc chưa biết xếp ở đâu, ghép vô sư nào, cứ ra rói hỏi thêm...

Đó mới là một liên khu, và cũng chỉ vài tháng sau lệnh ngừng bắn. Nghe đâu ra Bắc còn xốc xới mạnh hơn nữa, tất nhiên thôi, miền Bắc rộng mênh mông thế, và cán bộ không thể đưa xuống làm đội viên để lắp đâu cũng được. Sáu Cam chỉ có hai việc chưa xét là đề bạt, khen thưởng, chứ lắm đồng chí khác có hàng lô mối dây ràng rịt vào đơn vị cũ: sắp kết nạp Đảng, sửa soạn cưới một cô văn công hay y tá, tiền chưa truy lĩnh, cả đồng hồ và nhẫn đồng đội giữ hộ khi bị thương cũng chưa kịp nhận lại ! Rủi ro mà đơn vị đóng sát Thượng Lào, mình bị điều về Quảng Bình thì sầu đời quá, mới qua chiến tranh ác liệt đâu có sẵn tàu xe cho người thân đi tìm nhau ngay !

Chẳng ai đem kể tồng tồng những chuyện ấy với cụ quân y trưởng gần sáu mươi tuổi. Cụ bước xuống Cửa Hội, chỉ cần ới một tiếng qua điện thoại là từ ông tư lệnh liên khu trở xuống, ai ở gần nhất phải vội đánh xe tới rước.

- Mới tháng trước đây thôi, gặp hồi trở lạnh, tao kể cho sắp nhỏ mấy năm tao học trường Thuốc Hà Nội phải khổ vì lạnh ra sao. Mấy thằng vắt mũi chưa sạch, lên lớp cho tao vầy đây: “Bác khác, tụi cháu khác. Bác học làm quan đốc-tờ, bác là học sinh tiểu tư sản, nhà giàu đứt tay ăn mày đổ ruột. Tụi cháu nông dân mặc áo lính, từ nhỏ đã chai sạn rồi, chịu cực dễ hơn bác”. Nghe mà điên đầu ! Tao vừa học vừa kèm trẻ kiếm ăn, khi túng quá phải rửa nứa hay đẩy xe bò ngoài bến sông Hồng tới khuya, nó lại nói tao tiểu tư sản sướng quá hư thân !

Một mũi nhọn nào đó chích nhẹ trong ngực Cam. Một kỉ niệm không vui.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #216 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2016, 02:46:43 pm »

Đầu năm nay, trước khi mở chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Cam dự một lớp chỉnh huấn ngắn ngày dành cho cán bộ trung đại đội. Cam đưa ra ba thắc mắc:

- Đội phát động giảm tô quy cho cha là cường hào gian ác, xong đi biến, rõ ràng quy sai. Nay Cam phải khai thế nào về thành phần gia đình ?

- Các văn kiện đều viết rằng sau ba năm làm nghề khác thì thay đổi thành phần bản thân. Tại sao mãi đến nay anh Năm Chò vẫn phải để trong lý lịch là “binh sĩ đế quốc” mà không đổi ra “quân nhân cách mạng” ?

- Tại sao đã là học sinh thì cứ phải thêm “tiểu tư sản” kèm theo ?

Lãnh đạo chỉnh huấn là một cán bộ dân chính mới đưa vào quân đội, chuyên mở lớp về phát động nông dân. Anh đến họp tổ và trả lời riêng thắc mắc của Cam vì thấy chưa đáng đưa ra nói trước cả lớp.

Trường hợp Năm Chò sẽ hỏi lại cấp trên. Đội phát động đã quy, dù đồng ý hay không, Cam vẫn phải ghi đúng như thế về thành phần gia đình, nếu cần thì viết ý kiến mình ở phần tự khai trong ruột lý lịch. Tiểu tư sản học sinh là đúng, vì đi học càng lâu thì con người càng quen lối sống tiểu tư sản, nhiễm sâu tư tưởng tình cảm tiểu tư sản qua sách vở, bài giảng...

Cam định ngậm miệng nghe thôi, nhưng cái máu “Quảng Nam hay cãi” hừng hực bốc nhanh:

- Theo ý đồng chí, hễ tôi cứ ở mướn giữ ngựa nhà quan phủ thì là cố nông, về cày ruộng rẽ với cha mẹ thì được xếp bần nông. Bậy cái là tôi được Chánh phủ nuôi cho học hết Trung học bình dân, bộ đội khu Tư cấp sanh hoạt phí cho học tiếp chuyên khoa, vậy là tôi biến thành tiểu tư sản. Từ đó suy ra đi học là sai, là dại, dù tôi học nhà trường kháng chiến, phải chưa ? Học càng ít, tinh thần cách mạng càng cao, phải chưa ? Trường ta là nơi đào tạo từ công nông ra tiểu tư sản đồng loạt, phải chưa ?

Đồng chí kia rõ là chỉ quen nói chứ không quen nghe, đỏ bừng mặt. Anh em đều biết đồng chí mới thoát mù chữ, nhắc nhau ghi thắc mắc nộp lên phải viết chữ to và rõ, càng ngắn càng tốt, và chớ nên cười khi ông ấy viết trên bảng những chữ lạ: tổ quất, dan sơn, dăm tô dăm tứt. Mà ông ấy lại ưa tự tay viết bảng đen “để học viên vừa nghe vừa coi cho nhớ lâu”. Phó chính ủy trung đoàn làm phó cho ông ấy phải bỏ nhỏ với cán bộ của mình: “Dụng nhơn như dụng mộc, trong phát động phải dùng những người như ảnh mới kiên quyết làm tới tới”.

Cam không nghĩ mình sẽ lay chuyển được tảng đá trước mặt, nhưng cũng không chờ đợi cặp mắt trừng trừng với cái giọng trấn áp ấy:

- Đó, chỉ bấy nhiêu câu là đủ thấy đồng chí Cam lộ rõ bản chất tiểu tư sản ! Nói vậy còn nhẹ, thiệt ra phải truy kích tới cùng để thấy tư tưởng địa chủ đang phản ứng giai cấp. Cuộc cách mạng ruộng đất long trời lở đất vậy, toàn dân hò reo hưởng ứng, một mình đồng chí lo vạch lá tìm sâu là sao ? Ngay trong bộ đội ta, các đồng chí thuộc gia đình địa chủ đều hứa hẹn cắt đứt quan hệ với gia đình, mấy đồng chí hứa hôn với con địa chủ cũng dứt khoát thẳng tay. Đồng chí khoe hồi nhỏ ở mướn, ăn cơm vay cày ruộng rẽ, tôi chưa biết đúng sai. Bây giờ khác rồi. Trong lúc bộ đội đổ máu, nông dân một nắng hai sương làm ra cơm gạo, đồng chí ngồi năm này qua năm khác trên ghế nhà trường lật từng trang sách, vậy có công bằng không ? Ăn bám Chánh phủ để đi học miết vậy, không biết xấu hổ à ?

- Tôi không việc gì xấu hổ. Tôi đi Nam tiến đánh giặc từ mười ba tuổi, nay đang chỉ huy bộc phá. Đồng chí đã đổ giọt máu nào cho Tổ quốc chưa, hay là chỉ bám chắc hậu phương, đợi cờ đến tay để ngoi lên làm ông lớn ? Tôi cũng căm thù địa chủ đến xương tủy, nhưng tôi không chống địa chủ bằng lưỡi mà bằng tính mạng của mình ! Hừ, hết bản chất tiểu tư sản tới tư tưởng địa chủ, phản ứng giai cấp, lưỡi không xương...

Cam vừa nói vừa biết mình đang quá lời, nhưng không kìm lại được. Tổ trưởng hối hả cắt, can đôi bên, còn xuýt xoa gỡ tội cho cậu tổ viên trẻ:

- Anh thông cảm cho, tụi tôi lính chiến ăn nói thô kệch...

- Học tới tú tài thì thô kệch cái thớ gì !

Đồng chí lãnh đạo chộp cái làn dẹt bằng cói đan theo kiểu cặp da, nhấc cái nón lá Gò Găng móc trên phên úp lên đầu, vùng vằng ra về. Ông ấy mặc quân phục xi-ta nhưng thích có những thứ của nông dân kèm theo người, tỏ ra mình giữ được gốc gác. Cả tổ cán bộ cùng bàn quanh vụ đấu khẩu, trừ vài người dè dặt còn hầu hết thấy Cam nói đúng. Cam chờ đợi mình bị cảnh cáo về thái độ, hay nhẹ hơn là một chầu mổ xẻ trước cả lớp. Không gì xảy ra. Người tổng kết cuối khóa lại là anh phó chính ủy, ông cán thường tự xưng là “nông dân thuần túy” kia đã đi giảng bài nơi khác. Phó chính ủy chỉ dành vài câu cho một số đồng chí thiếu bình tĩnh trong khi tranh luận, gây ra hiểu lầm đáng tiếc. Ít lâu sau Cam mới được rỉ tai cho biết: ông kia đề nghị đuổi Cam ra khỏi Đảng và cách chức xuống đội viên. Bị trung đoàn ủy chống bằng phiếu kín, ông nổi cáu bỏ đi tuy chưa hết khóa.

Đến đấy Cam thốt giật mình. Một cái gì như phản ứng ngược buộc Cam phải nghĩ: mình từ nông dân mà ra, tại sao bị một ông cán bộ nông dân cho roi vọt nặng tay đến thế ? Mình có biến chất, nhiễm sâu tư tưởng tiểu tư sản hay địa chủ như ông ta đập chăng ? Hay mình mắc bệnh hoài nghi, cái gì cũng lật xem mặt phải mặt trái, đòi mắt thấy tay sờ mới chịu thừa nhận, khác với đồng chí đồng đội có lòng tin đơn giản hơn ? Nói cho cùng, lòng tin đơn giản trong cách mạng là đúng hay sai ? Cam chưa tự trả lời được những câu hỏi rối rắm ấy. Gạt bỏ chúng đi cũng chẳng được, chúng cứ luồn lách lúc nhúc như đỉa ruộng tháng Năm. “Chà, lời xưa bảo đa thư thì loạn tâm. Mình học lem nhem, chưa đa thư mà đã đa tư thế này, quả là mua dây buộc mình !”.

... Cụ Gừng gặp lúc rảnh việc, nán lại kể chuyện hơi lâu, kéo từng khói ngắn từ cái ống vố to tướng nhồi thuốc rê. “Cái píp này bằng tuổi thằng Hai tao, thằng tiểu đoàn phó đó”. Anh em ban đầu chỉ nghe vì lễ phép, dần dà bị cuốn theo những kỷ niệm của cụ về đời sống Hà Nội và các thành thị trong những năm hai mươi, ba mươi, với nhiều chuyện lạ hết sức.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #217 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2016, 02:52:16 pm »

Tiếng vó ngựa lọc cọc kèm tiếng cán roi kê vào nan hoa thay chuông nổi to dần. Ít ai để ý. Tiếp phẩm của trạm thường thuê xe ngựa chở gạo củi về, gần đây họ đâm ra ngại gánh. Nhưng lần này thêm tiếng rì rì của ô-tô chạy chậm theo sau, báo rằng thương binh nặng sắp đến. Người trong các nhà đều túa ra sân.

Hai chiếc xe ngựa chở thương binh vừa và nhẹ. Từng người được đỡ xuống, dìu vào chỗ nghỉ. Chiếc xe Uy-Iix của Mỹ cỡ nhỏ, được sửa bên trong để xếp gọn bốn cáng trọng thương, chở ba người nằm in lìm phủ chăn. Một cô y tá nhảy xuống, moi túi dết lấy giấy tờ, được cụ Gừng đứng chìa tay đợi sẵn.

Cô này trông khá lạ mắt. Đầu tóc kẹp không mũ, mặc một bộ quân phục đàn ông còn cứng nước hồ nhưng đã nhàu, quá dài nên phải gấp nhiều nếp ở tay áo ống quần. Chân cô lại đi một đôi giày rừng của quân ngụy, đế cao-su dày nặng in vết răng chó trên đất mềm. Cái túi dết bên sườn, khâu chữ thập đỏ, làm bằng thử vải dày màu chàm dệt rất nhiều sợi chỉ vàng chỉ bạc và chạy nhiều sọc đỏ.

Trong khi y tá khiêng ba cáng thương vào phòng cấp cứu, cô lúng túng hỏi cụ Gừng:

- Dạ thưa bác... cháu xin gặp đồng chí quân y trưởng... cháu tới lần đầu chưa biết...

- Là tao đây, khỏi tìm đâu xa. Ờ mà tao quên bọc cái kính lão theo, mày nói miệng cho mau. Bao nhiêu, phân loại gì, đơn vị ?

- Dạ, ba trọng thương, chín trung thương, không có khinh thương. Còn thêm tám trung thương ở sân bay, xe đi đón lượt nữa. Bộ đội tình nguyện Hạ Lào - Đông Bắc Miên.

- Ủa, tụi bay khiêng thương về tới đây ?

- Dạ không, số bị nhẹ đi bộ theo đơn vị, số nặng hay trúng chân, khiêng đường trường không nổi, ta phải đấu dữ lắm tụi Pháp mới cho một chuyến khường bin... à, tàu bay... chở anh em từ Pạc-xê về Quy Nhơn. Giằng co miết nó mới chịu nhận số hai chục thương binh với hai y tế, bấy nhiêu thôi.

- Cố tổ thằng Tây ! Tao chữa lành tù binh của nó tới số ngàn, mấy kỳ trao trả còn vét đủ thứ xe cộ đưa tới cảng. Đứa nào đứa nấy đỏ au, đứa chưa lành cũng chụp tay tao mà hôn hít, khóc, cảm ơn cứu mạng !

Anh y sĩ trực ra sân, giúi cái kính lão vào tay cụ Gừng, nói gọn:

- Báo cáo, không ai biến chứng. Đang cho hồi sức, một tiếp xê-rom.

Cụ đeo kính, lật nhanh các giấy giới thiệu, bật kêu:

- Mày nói hai chục, ở đâu thêm năm đứa khinh thương nữa: Nhận thêm gián điệp hả ? Hay mày để rớt trên tàu bay ?

- Hì hì... thưa bác, có tờ giấy dưới cùng... Anh em đó lánh né theo đơn vị, tới đợt kiểm tra chót ở cảng mới lộ, quân y giữ lại bắt đi sau. Cũng là tha-hẳn a-xả xơ-mắc... dạ, là lính Hạ Lào hết thảy, họ ghép vô đoàn cháu về thu dung cho tiện.

Từ nãy Cam đã thấy cô y tá này rất quen và chưa nhớ ra gặp ở đâu. Đứng sau nghe lỏm câu chuyện, Cam thốt lẩm bẩm: “Hoàng Lan, đúng Lan rồi !”. Anh Chanh có kể lướt qua vụ đính hôn của Lan ở Lào, Cam cười dài. Thời buổi này người ta cưới tập thể cả chục đôi một lần, lại đi bày cái trò cũ rích ! Đợi cụ Gừng cầm xấp bệnh án đi vào nơi cấp cứu, Cam bước tới:

- Chào Hoàng Lan ! Đã quên hẳn chưa ?

Lan mở to mắt nhìn anh bộ đội cao chừng thước bảy, râu quai nón bọc nửa mặt, ngập ngừng:

- Đồng chí... dạ, anh là ... xin lỗi, tôi chưa kịp nghĩ...

- Lấy chồng nhớ mặt chồng thôi, bạn cũ quên ráo. Tản cư Sông Vệ, hai nhà bị chung một trái bom...

- Ui trời, anh Sáu Cam ! Thay đổi dữ ác vậy, hoại, mắt thánh mới nhìn ra !

Cam xốc ba-lô của Lan đưa vào phòng khách, cố giấu bước chân tập tễnh. Lan chạy đi thăm thương binh và bàn giao một lúc lâu, khi quay lại Cam đã kịp bày trên bàn một ấm tích nước chè, hai cái cốc gọt bằng vỏ dừa nâu bóng, một lạng kẹo thèo lèo mua ở căng-tin, loại kẹo tổng hợp bốc mỗi thứ một nhúm.

Cô gái trước mặt Cam càng nhìn thấy hiện thêm những nét hồi nhỏ ở Sông Vệ. Có lẽ vì cô giống bà mẹ chết bom với cặp mắt to và đăm chiêu, với khuôn mặt tròn, má tròn, cằm tròn, miệng cũng tròn, tất cả dường như bị đặt lầm chỗ trên cái cổ ba ngấn và thân hình thon dẻo, cao dong dỏng. Ở rừng núi lâu mà không bị nước da xanh sạm với môi thâm, hẳn y tá biết tự chống sốt rét. Vừa từ Lào vù thẳng về nước, Hoàng Lan còn nói chen tiếng Lào như lính tình nguyện quen nói với nhau.

- Anh Cam sang ghê ta ! Mà anh không giống hồi trước chút xíu, giờ như Tây lê-dương ngó lạ hoắc... Hôm đám cưới, Lan tiếc hoài không có anh Cả Chanh thay mặt nhà gái, chỉ có mấy chị em bệnh xá. Anh biết anh Tám Thống không ? Hụ chắc bò ? Không à ? Tại anh Tám đó. Mới nghe ta rục rịch tập kết là ảnh đòi cưới liền tay, một hai phải cưới. Thôi, cho nó xong trớt đi... Thiệt tội nghiệp lính Hạ Lào. I-tôn ại noọng thẹ ! Chỉ có số đơn vị ở gần biên giới mình kịp kéo về liên khu Năm thôi, qua thị xã Công-tum, đồn Mang Đen mình diệt, đổ dốc xuống Sơn Hà, tới Quảng Ngãi. Các mặt trận xa rút về không kịp, Pha-lăng chặn hết đường, phải hành quân băng xéo qua Trung Lào ra thẳng Quảng Bình. Anh Cam nghĩ coi, mùa mưa này mà lặn lội rừng núi, sông suối ! Nhiều anh sang Lào từ Bốn mươi chín, Năm mươi, nhiều chị Việt kiều ở Thái-lan qua, ở Pạc-xê hay Thà-khẹc, bây giờ phải chịu pây tậu hôm thang phu 1 tận miền Bắc luôn, mất về thăm quê, mất gặp cha mẹ vợ con, lại đi xa gấp đôi, thương lắm anh ơi ! Anh Thống lại ở lại tìm mồ mả liệt sĩ, Lan ở lại giúp chữa thương binh cho đủ sức kéo bộ đường trườn, mắc kẹt cả hai. Bây giờ anh Thống theo đơn vị Châm-pa-xắc ra Quảng Bình. Ảnh tự an ủi là ở liên khu chẳng còn ai, nhà ảnh chết ráo y như Lan vậy, còn số họ hàng thì hai năm sau gặp lại cũng được. Lan sửa soạn đi bộ với ảnh, mà trúng dịp chuyển thương mới theo khường bin. Với lại... bí mật, anh Sáu đừng cười nghen.. Lan thấy mình hơi khác khác... phải lo liệu...

- Lan khác lắm chớ ! Qua từng ấy năm nhứt định là khác rồi !

- Ông khờ lắm ông tướng ơi ! Để sau rồi hiểu... Tức cười, thằng Tây làm Ủy ban liên hợp với ta ở Pạc-xê nói tiếng Việt róc róc mà lại dốt tiếng Lào, nó khoe cha nó mở đồn điền ở Quảng Nam, nó gởi lời hỏi thăm ông Phan Chanh là hàng xóm cũ, ông Năm Chò là người rình giết hụt nó nhiều lần. Tới vụ tàu bay chở thương thì nó lắc đầu miết như người kinh phong: thiếu tàu bay, tàu cũ lắm mà còn bị các ông bắn hư, không an toàn, chở thương lỡ rớt chết chùm thì các ông kiện rùm beng ai chịu nổi, nói nghe tức ói. Anh Thỉnh chính ủy đấu lý suốt không được, phải dọa đóng quân tại chỗ không đi đâu hết, thêm Ủy ban quốc tế khuyên vô, nó mới chịu. Vậy chớ khi lên tàu bay Lan cũng sợ, lỡ bay qua chỗ vắng nó hất anh em mình xuống thì nguy. Anh Thỉnh cười, nói chờ điện của ta từ Quy Nhơn đánh qua ảnh mới nhúc nhích... Trong giấy của y tế Hạ Lào ghi chuyển Lan cho quân y liên khu, xếp ở đây hay cho đi trước tùy lòng.

Cụ Gừng đến mé sau từ nãy, nói ồm ồm:

- Mày mang lính bệnh lính què tới thì mày ở đây lo cho tụi nó, chớ bỏ cho ai ? Còn thằng Cam nữa, râu xồm mà dại, nó nói khác khác là nó mang bầu, bấy nhiêu không đoán ra ! Tao coi bản sao giấy đi đường của Pháp, thấy ký dưới là thằng thiếu tá Pi-e La-phác-sơ, tao dự trao trả thương binh Pháp ở Quy Nhơn mấy lần, không gặp thằng này. Chắc nó họ hàng gì đó với lão Lê-ông La-phác-sơ, thằng chủ đồn điền bợm ghiền mở đồn điền, vậy nó là con lão Lê-ông đích thị ? Lão Lê-ông nói tiếng Việt cũng rành lắm, ăn được cả thịt chó chấm mắm ruốc !

Cam bật cười to:

- Cùng một chuyện mà cháu ba lần bị mắng là ngu, dại, khờ !

- Chuyện gì ?

- Chuyện đàn bà chửa ! Anh Năm Chò một lần, cô Lan một lần, tới bác là lần thứ ba. Các bà cứ như đố mẹo: có rồi, khác khác...

Lan đỏ mặt, cười rũ. Đợi cụ Gừng đi khỏi, Lan mới thì thào:

- Con gái mới lấy chồng hay giấu chuyện đó, xấu hổ chết. Chẳng hiểu tại sao Lan đem kể thẳng với anh... Chắc tại hồi xưa hai nhà như một, bây giờ thì... thì Lan không còn ai nữa... hết trơn...

Đợt thương binh thứ hai chưa đến. Hoàng Lan lẳng lặng sang phòng hồi sức xem lại ba trọng thương, giữa những cặp mắt tò mò nhìn theo kiểu ăn mặc lạ mắt của cô.

Các sòng tu-lơ-khơ đã vãn nhiều, đỡ ồn. Anh em cũ xúm vào số trung thương và khinh thương mới đến, hỏi đủ chuyện hành quân trên trời dưới đất. Ban đồng ca của trạm bắt đầu ôn hài hát mới cho đêm liên hoan quân dân sắp tới:

... Hai năm nữa con sẽ về
Hai năm nữa con sẽ về
Xóm làng mừng vui đón con, hoa tươi trên đầu súng...


Cam khập khiễng đi vào chỗ góc dành cho nhóm bích báo, soạn các thứ mực xanh, tím, hòa mấy viên ki-na-crin vàng và lấy lọ thuốc đỏ sát trùng ra, vẽ tiếp những hoa bướm với bồ câu hòa bình trên tờ giấy to. Cam mỉm cười tự nhủ: “Hãy bớt nghĩ ngợi bao đồng đi cho dễ sống, Cam ơi !”.


------------------------------------------------------------------------
1. Tiếng Lào: đi tập kết đường núi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #218 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2016, 02:55:00 pm »

*
*     *


Chọn được một chỗ ngồi sát be tàu, có thể nhìn thấy rõ hướng tây và không vướng ai cả, Cam đặt cái ghế xếp tự làm và ngồi lì đấy đợi giờ kéo neo.

Chiều nay đẹp tuyệt. Vào cuối tháng mười một dương lịch này, vùng nam đèo Hải Vân đã hết mùa mưa lũ nhưng chưa bị nhiều gió bấc, nền trời trong veo dâng rất cao, không khí êm mát rười rượi. Mặt biển chỉ gợn sóng lưỡi búa nhỏ, nghe bảo tàu ra khỏi vịnh mới gặp sóng lừng, say sóng hay không đợi ra khơi mới biết.

Hôm trước, cụ Gừng đã dễ dãi cho chủ bút bích báo theo mình xuống Qui Nhơn để sắm mấy thứ cho câu lạc hộ của Trạm. Ở suốt ba trăm ngày đâu có thể tạm bợ. Nhờ giấy của cụ, Cam được vào vùng cấm sát bến cảng, xem cảnh tàu lớn dùng cần cẩu nhấc những khẩu đại bác chiến lợi phẩm, tiếp đó là mấy con voi vận tải. Một số cán bộ đơn vị tưởng Cam là người của cảng, đứng phân bua rất dài rằng đó là những chàng voi có huân chương, khôn như người và hơn người nữa, biết tụ núp máy bay, tự bỏ lá ngụy trang cho mình, biết cứu hàng trên lưng khi trúng bom đạn, biết góp sức luyện voi non mới vực thành voi thuần. Ngựa hay trâu còn bán được cho dân để thu hồi tín phiếu, giống voi thì bán cho ai ? Lùa thả vào núi chúng không chịu đi, mà có đi cũng sẽ bị lính địch lùng hắn chết lấy ngà... Chắc hẳn anh đã cãi nhiều phen nên luôn lý lẽ rất hùng hồn, trôi chảy, trong khi các nài voi và bộ đội choàng lót dưới bụng voi những tấm lưới đan bằng sợi dây dừa to buộc ghe bầu, chằng níu rất chắc. Voi đứng im cho làm, cứ thế bước xuống xà-lan như thú rừng mắc lưới. Cam mượn cái ống dòm, xem cảnh cẩu voi lên tàu: chúng bơi bơi bốn chân, chổng vòi lên, há mồm, chắc là rống khẽ nôn không vọng tới bờ, trong khi quản tượng đứng trên lưng chúng, tay níu thừng, dẫm chân hết lời dỗ dành.

Chiếc tàu Ba-lan Ki-lin-xki sơn màu sữa không vào gần bãi được, phải chuyển tải bằng tàu há mồm của Pháp với xà-lan, thuyền buồm của ta. Mỗi lần cụ Gừng gửi đi “một gói sắp nhỏ”, tức vài chục thương binh ra viện, các thày thuốc lại dặn đứt lưỡi về các qui định xuống tàu lên bến, các hộ lý và đội phụ nữ trong làng đến giúp Trạm lại tíu tít giúp anh em sửa soạn. Ba-lô buộc chắc và trơn tru, không vướng các mấu móc. Thức ăn khô phải đủ cho hai ngày đêm, trên tàu chỉ cấp nước sôi hay nước vô trùng. Tất nhiên thương binh không thể nhai gạo rang như lính chiến, phải có bánh tét, bánh nổ, một chồng bánh tráng gạo để nhúng nước ăn với tôm thịt kho mặn nhồi ống. Mỗi người một thứ vỏ hộp hay túi chịu nước để nôn, ai hay say sóng phải dán cả chồng túi bằng lưỡi rựa nóng rạch trên ni-lông đi mưa. Cả giấy đi ngoài cũng phải chọn thứ giấy dễ rã trong nước, thứ giấy rơm nội mỏng là tốt nhất. Phải tăng liều thuốc phòng sốt rét, ai cũng mang trong máu cả mớ kí sinh trùng đang rình khi mệt trên biển là quật tiếp luôn cho đứ đừ. Cụ Gừng tất tưởi chạy kiểm tra, la rầy, nhắc mỗi ngày chục lần: “Tụi bay ăn chưa no, lo chưa tới...”.

Vẫn chưa hết. Còn qui định không được hoan hô hay tỏ ra vui thích quá đáng khi tàu há mồm của Pháp ghé vào bãi đón quân ta, cần hoan hô vang dội khi vào sát cầu phao và thang xếp của tàu lớn Ba-lan. Nếu trúng chuyến tàu thuê của Na-uy thì cứ lẳng lặng mà lên, họ lạnh như tiền thì ta cứ tỉnh bơ như hành khách mua vé.

Chiếc Ki-lin-xki trông xa tưởng to vừa thôi, khi lên mới thấy là cả một thành phố nổi. Thủy thù dàn trên cầu phao, đỡ từng người mất thăng bằng, dìu người yếu hay cõng nặng lên cầu thang xếp lắc lư. Những đồng chí phe ta, sao mới gặp đã muốn ôm ghì đến thế !

Thương binh được phép lên boong thượng hóng gió, trong khi người khỏe phải xuống thẳng sàn hai, sàn ba, nhận chỗ nằm trên những giường ba bốn tầng chưa hết mùi thơm nồng của gỗ thông mới đóng để biến chiếc tàu chở hàng này thành tàu chở quân. Điện sáng rực, quạt chạy trong khi những ống thông gió hình ống vố chưa lùa không khí xuống vì tàu đứng im. Bộ đội chơi gì thì chơi nhưng chịu khó khom lưng vì giường tầng đóng thấp, và chỉ lên boong thượng vào những giờ cho phép. Cứ thế các chuyến tàu há mồm trút người từng đợt vào bụng tàu lớn chứa mãi không đầy.

Cam ngồi lạng chỗ cũ, nhìn vào đất liền.

Nắng chiều từ phía tây chiếu xuống hiên đã nhồi các màu xanh vào nhau cho ngả dần sang đen. Các lớp phông đang trộn lẫn. Mới ban nãy, Cam còn nhận ra được chân sóng sủi trắng, bãi cát vàng, rặng dừa xanh sẫm, vùng đất bằng hơi nhạt màu hơn, lớp núi gần pha xanh trời, những rặng cao và xa hơn chìm vào nền xanh lơ ở nơi đất trời không còn ranh giới. Cam đã nổ nhiều cân bộc phá và tưới máu ở nơi mịt mù kia, và bây giờ tất cả đang ép sát vào nhau, ghép lại thành bức tường nhà cháy nhô đỉnh long lở và thân phủ muội dày đặc, cả một dãy tường như thế đang đợi bàn tay ta xây lại.

Còi tàu nổi lên ba hồi dài ù ù.. Máy kéo xích neo dưới ghế Cam quay rong róc. Động cơ đã rền dưới sâu từ nãy, giờ bùng to hơn. Con tàu chuyển mình rất êm, chỉ lắc nhẹ, Cam cúi nhìn xuống biển mới thấy mũi tàu bắt đàu rạch sóng cho sủi một dải bọt đang dài thêm dần. Ngửng lên, lại tưởng như tàu đứng im, khẽ đung đưa tại chỗ. Cuộc chia tay xa bờ thật là lặng lẽ, không chút nào giống cảnh xe lửa rời sân ga hay con thuyền tách khỏi bến với rất nhiều người vẫy nhau, gọi nhau, dán mắt vào nhau trong phút cuối. Dọc br tàu lúc này, cả một dãy thương binh và bộ đội đứng ngồi chen chỗ nhìn vào đất liền, không một cử động hay lời nói.

Tự dưng Cam muốn thoát ra khỏi cái dáng hòn vọng phu này, nó kéo dài vì tàu chạy chậm và biển rộng. Cam vén tay áo trái lên, nắn cùi tay và tập co duỗi. Cùi tay trúng mảnh pháo sau khi tháo bột đã hiện rõ bị tật, tập ít lâu sẽ duỗi thẳng được nhưng chỗ khớp vẹo sẽ thành cáng vá, các thầy thuốc hội chẩn cho biết nó còn lại chừng sáu bảy chục phần trăm sức cũ. “Vậy là may đó Cam, khỏi bị tháo khớp hay cưa bỏ”, cụ Gừng bảo thế, Cam thấy phải. Những người thương tật hay tự so sánh với anh em rủi ro hơn, và tất cả đều thấy mình may mắn khi nhớ tới các đồng chí họ đã đưa xuống huyệt... Cam thoáng buồn cười khi nhìn tay áo xi-ta xám mới được phát “để ra Bắc cho chỉnh tề”. Tin báo trước rằng bộ đội sẽ nhận ở Cửa Hội mỗi người một bộ “đại quân” với áo vá vai hai túi bỏ ngoài quần, nhưng đồ xi-ta còn dùng xen kẽ ít lâu nữa. Vẫn những bộ nhuộm xám với nhiều chỗ đậm nhạt khác nhau đo cắt ở nhiều súc vải, vẫn những cúc vỏ dừa lâu nay, nhưng lứa quân trang may sau đình chiến này đã chiếu cố mốt mới của lính, cắt cầu vai và nắp túi to tướng, quần ống bó và nếp lơ-vê cao đến một tấc. Bộ cuối cùng của kháng chiến mà, chiều lòng nhau tí !

Cậu cưa chân ngồi bên Cam gọi khẽ:

- Xuống anh hè. Lạnh rồi.

Con tàu đã ra khỏi vịnh, gió thổi mạnh hơn. Tất cả các đèn điện đầu đuôi cao thấp cùng bật sáng, hai đèn pha quét qua lại trên biển. Cam không muốn nhìn đất quê hương chìm biến vào đêm, đứng lên, xếp ghế cầm tay, ghé vai cho bạn vịn, bước tới giữa boong.

Chỗ đầu cầu thang rất dốc đi xuống sàn dưới có dựng một cửa vòm gỗ hình hộp che mưa nắng. Cam dừng trước cửa, hấp háy đôi mắt chói đèn, từ khoang tàu rộng đầy người thốc lên tiếng cười đùa, màn tuồng và ca bài chòi nghêu ngao, reo cắt phăng teo. Gió lùa qua các ống thông tận đáy đẩy ngược lên cửa mùi nồng nồng của hơi người đông đúc pha lẫn khói thuốc rẻ tiền, cái mùi ấm áp quen mũi ở nơi lính ôm nhau úp thìa ngủ chen chúc mùa rét. Trong Cam bỗng cồn lên, trào lên mãi niềm vui được hòa vào đám trai trẻ nhộn nhịp kia, được hóa thành một tế bào giữa đoàn quân thắng trận đang ra đi.

Đà Nẵng 11.1987
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #219 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2016, 10:31:50 am »

NGƯỜI CÙNG QUÊ
(TIỂU THUYẾT)
Tập III

Tác giả: Phan Tứ
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 1996
Khổ 13 x 19
Số trang: 682 (2 quyển)




   


Chương 1


Buổi sáng cuối hè ấy, dường như tất cả các hoa phượng đỏ và vàng trên đường Lê Thánh Tôn cùng nở vét sòng một lần cuối trước khi tàn rụng vào đầu thu. Ve sầu trên dãy sấu cổ thụ dọc đường Lý Thường Kiệt cũng thi sức réo từ sáng sớm tuy đêm qua đã hòa nhạc rất khuya.
Một anh bộ đội đang đi dọc Lý Thường Kiệt về phía Lê Thánh Tôn. Anh này cao hơn mức trung bình, mặt lún phún râu quai nón, mặc bộ quân phục đại quân vá vai hai túi được phát cho cấp trung đội trưởng trở xuống, đeo lủng lẳng một bên vai cái ba-lô lép kẹp, kiểu đeo đỡ nóng lưng của người lính đi xa đơn vị.

Ngôi nhà lớn bệ vệ có chữ đắp nổi rất chung chung là “Đại học Việt Nam” đang dậy tiếng loa phóng thanh báo tin trúng và trượt trong kỳ thi vào Trường đại học Tổng hợp. Anh bộ đội càng đến gần tiếng loa càng bước ngập ngừng, như tim óc muốn đi mà đôi chân ngại nhích tới thất bại.

Anh tới cổng vào sân trường khi một loạt trai gái trẻ tuồn ra. Nhìn qua nhận thấy ngay ai trúng ai trượt. Trúng thì mặt đỏ, cười nói ríu rít, từng lúc cố tự hãm và vui mừng trước các bạn rủi ro, buông đôi câu an ủi chung chung. Thất bại thì cố gượng cười để buông đôi lời tỏ vẻ bất cần, cũng dễ thấy “tiếu tựa văn nhân lạc đề thi”, trước khi nhanh chóng tách khỏi đám đông để tìm nơi giải sầu. Anh bộ đội chọn một người mặc quân phục giống hệt mình, mũ còn quân hiệu như mình, ghé lại hỏi:

- Thế nào, xướng danh tới đâu rồi cậu?

- Sắp xong khoa học tự nhiên, chưa tới các khoa xã hội.

- Phần cậu ra sao?

- Vỏ chuối. Lính đi thi hầu hết vỏ chuối. Chả có thì giờ học ôn, ganh đua thế nào được với học sinh trong thành. Tớ thi vào Lý, đề ra hỏi điện, mà chục năm nay tớ chỉ dùng đuốc với đèn dầu. Vào đi cậu, sắp sang phần xã hội đấy. Chúc may mắn hơn tớ!

Anh bộ đội bắt tay người bạn chưa biết tên, đi vào sân trong trường vừa lúc máy phóng thanh báo tin sang các khoa Xã hội. Khoa Sử đọc trước, một chọi hai. Khoa Ngữ Văn một chọi năm, lại thêm cả một loạt ưu tiên cho các dân tộc thiểu số, cho học sinh nữ. Nhà trường dành ba điểm ưu tiên cho thương binh, bộ đội trên năm năm chiến đấu, trên tổng số 40 điểm, nhưng chỉ tính riêng số này cũng đã gấp đôi chỉ tiêu được tuyển vào năm đầu khoa Ngữ Văn.

- Số ba: Nông Thị Ân. Số chín: Nguyễn Châu Bình. Số mười bảy: Phan Cam. Số hai mươi ba: Trần Đình Giang...

Anh bộ đội Sáu Cam đã rập chân đứng nghiêm và đáp “có” thật to khi tên mình được gọi giống hệt khi điểm danh ở đơn vị, khiến cho các thí sinh trên sân trong của Trường đại học đều quay lại nhìn và bật cười to nhỏ, gái che miệng và trai cười ra tiếng, ồn ào hô hố.

Mười phút sau, Cam lại đeo ba-lô một bên vai, ra khỏi cổng trường. Có một mảnh đất tí xíu bên kia đường Lê Thánh Tôn, cắm biển là Vườn hoa Tao Đàn. Cam ngồi xuống một ghế đá gra-ni-tô sứt mẻ, nhìn lại quãng đường Lý Thường Kiệt và Lê Thánh Tôn mới đi qua sáng nay. Sợ mình nghe lầm, Cam còn ghé xem danh sách trúng tuyển được đánh máy và dán bên trong một tủ lưới mắt cáo. Đúng thật rồi. Anh lặng lẽ đi ra, không quen ai để tán ríu rít như mấy cô cậu sát bên cạnh.

Hai con đường Cam quen qua lại trong đợt thi bỗng dưng đổi màu. Lá xanh tươi hơn, hoa đỏ, vàng nổi sáng hơn, tiếng ve vui hơn. Cam hỏi giờ một cậu trẻ tuổi lững thững đến ngồi ghế đá bên cạnh, vò nát điếu thuốc lá trong đôi bàn tay chán chường. Còn những ba tiếng nữa mới có xe lửa ngược lên thị xã Phú Thọ. Và còn sáu ngày nữa Cam mới hết hạn phép. Nằm trạm đón tiếp quân nhân trên đường Cột Cờ thì suốt ngày nhức tai vì loa truyền thanh và các sòng tu-lơ-khơ trong căn buồng kê mười sáu giường chân niễng. Về căn buồng tí xíu của Hoàng Lan trong bệnh viện Phủ Doãn, dứt khoát không được. Đành la cà đâu đấy quanh hồ Gươm đã được đám miền Nam tập kết gọi là hồ Tìm Kiếm. Thế nhưng... sao mình chợt mệt mỏi đến thế? Đời lính chiến đấu có hai kiểu mệt. Đánh trận bị thua, không thắng không bại cũng là thua, lính mệt đấy nhưng vẫn bị nỗi đau chích nhoi nhói vào thịt, buộc từng người bật dậy, sửa soạn cho trận phục thù sắp tới. Cái mệt sau khi thắng lớn lại khác. Thân thể và đầu óc lính ta đều đòi được nghỉ, được ngủ, được ăn, được tắm giặt sau những đêm ngày ác liệt, và đòi hỏi ấy rất chính đáng, không ai chối cãi được. Một cơn mệt thắng trận như thế đang tỏa khắp người Cam, sau nhiều tháng năm tìm chỗ khuất trong doanh trại chong đèn học gạo rất khuya, chỉ tắt một lúc khi trực ban và tổ tuần tra chộp được, đợi họ đi xa là thắp lại.

Cam móc quai ba-lô vào cánh tay trái, duỗi tay vịn dài trên lưng ghế đá, móc quai mũ đính quân hiệu dưới cằm, nhắm mắt. Lập tức, anh cảm thấy chiếc chế xoay tròn dưới thân mình, từ từ bốc lên cao...

Một bàn tay đập trên vai Cam. Lại vỗ mạnh hơn.

- Nè anh lính Cụ Hồ, dậy, kẻ cắp lấy sạch trơn rồi kìa !

Cam dụi mắt nhìn quanh, bỗng chồm đứng. Mũ và ba-lô biến từ bao giờ? Cam bước ra xa ghế, ngó quanh, chẳng thấy một ai. Tiếng cười rộ lên sau lưng khiến anh quay lại. Thêm một lần sửng sốt nữa: anh Năm Chò và anh Ba Dĩnh chứ ai đâu xa lạ. Năm Chò cúi xuống lôi ba-lô và mũ của Cam giấu dưới ghế đá ra, vẫn cười:

- Mày sống miết với dân ruộng dân rừng, về Hà Nội lũ móc túi được món phát tài. Hỏi mày luôn: đậu hay rớt?

- Đậu anh à. Chắc là đội sổ. Họ không báo điểm từng người.

- Làm điệu hoài. Anh em ở Đoàn 81 nói mày học giỏi lắm, năm ngoái Ban chính trị thiếu trợ lý văn hóa không cho mày đi thi vô đại học, bị đấu một trận ra trò, năm nay mới chịu nhả mày ra, phải chưa? Qua bấy nhiêu năm trung đội trưởng mà vẫn mặc vá vai hai túi à?

Cam cười xòa, quay sang hỏi chuyện anh Ba Dĩnh.

Anh Ba lên tới chính ủy trung đoàn, gần cuối kháng chiến đạp phải mìn Gip phải cưa chân dưới gối, lắp chân giả. Sau một năm tập kết, anh được điều về làm bí thư Đảng ủy một khu mỏ ở Quảng Ninh. Còn Năm Chò không dính mảnh dính đạn lần nào, rất khỏe, nhưng văn hóa quá thiếu, thi vào Học viện quân sự bị trượt, thi vào lớp bồi dưỡng cán bộ trung cấp trượt, thi vào trường Lục quân đào tạo cán bộ sơ cấp cũng trượt nốt. Ưu tiên đến mấy cũng không bù nổi. Hai năm trước, nghe lời rủ của Ba Dĩnh, anh chuyển ngành về vùng mỏ, nhưng nhất định không nhận làm anh cán bộ tổ chức bên cạnh Ba Dĩnh:

- Mày biết đó, Ba. Làm tổ chức thì phải biết nghề, biết người. Nghề mỏ tao dốt đui, làm sao đánh giá được năng lực anh em. Còn người là dân tứ xứ, người Việt cũng cả chục tỉnh kéo tới, chưa kể người Hoa, người Nùng, người Thổ Thái Mèo Mường, tao từ trong Nam ra Bắc lần đầu, biết gì mà tổ chức họ. Để tao cuốc than vài ba năm đã.

Anh làm đúng như đã nói. Ban đầu cuốc than trên tầng lộ thiên, thoáng gió nhưng phơi nắng và lương thấp. Nửa năm sau anh xuống lò, cuốc xúc trong đáy hầm sâu. Cậu thợ phụ đun xe vào loại khỏe và chăm. Lương chính của anh cộng với tiền sản phẩm được trên dưới 150 ngàn, gần sấp đôi lương cán bộ tiểu đoàn. Tuy vậy, anh đang tính chuyển về nông trường Sao Vàng ở Thanh Hóa. Ở đấy anh sẽ nhận lương bằng một phần ba so với khi làm thợ mỏ. Anh chưa nói vì sao định làm thế.

Mắt anh Năm Chò sáng lên khi nghe Cam còn thừa sáu ngày phép. Anh xốc cái ba-lô lép kẹp của Cam ngoặc vào vai:

- Mày đi thăm vùng mỏ với tao, với anh Ba. Tao phải về chào từ biệt anh em vài ngày, gói ghém đồ đạc mang về nông trường. Anh Ba có cùng rủ mày hay biểu mày can gián tao, mày cứ lờ đi cho tao nhờ, hẹn rồi nghen. Mày còn gì ở trạm Cột Cờ không?

- Sạch trơn anh à. Còn một gói sách giáo khoa em gửi ở nhà Hoàng Lan, khi trở về Phú Thọ em ghé lấy.

- Sao mày không ở nhà con Lan cho yên tĩnh mà học ôn?

- Cậu Thống đi xa, em tới ở dễ mang tiếng. Vợ lính vắng chồng...

- Phong kiến bỏ mẹ! Mà cũng phải... Tao đi hè.

Chiếc xe com-măng-ca vẫn đợi từ nãy bên kia đường, cậu lái ngủ gật. Ba người cùng đẩy một quãng cho xe nổ máy, chạy xuống Hải Phòng, sẽ đi tiếp ca-nô đến thị xã Hòn Gai.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM