Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:55:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126575 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #240 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2016, 10:28:18 am »

Rồi một kẻ thân tín của ông phủ Đỉnh đến báo tin: mật vụ của ông Ngô Đình Nhu đang theo dõi Khánh, nghi là Việt Cộng nằm vùng. Khánh phân vân: hay lại một đòn âm của ông phủ đang muốn đưa Khánh về làm quản lý đồn điền của ông, lúc này đã lan qua sông Linh và lấy thêm được tới vài trăm mẫu tây của khu đất La-phác-sơ?

Khi Mỹ Duyên xẹt qua chớp nhoáng và bảo Khánh sắp bị bắt, khuyên Khánh cố chịu đòn đừng khai bậy, thì đã rõ sấm sét đã rùng rùng trên đầu. Khánh xếp đồ vào va-li định trốn gấp vào Sài Gòn với me và em gái, bị chộp ngay tại trận lúc gần nửa đêm, ném lên xe cây với còng khóa tay và giẻ nhét miệng, hai chiếc va-li được coi như tang chứng tự biết có tội.

Ở miền Nam có quá nhiều tổ chức rình mò đơm đặt, mỗi cơ quan lại chia nhiều phe cánh thuộc phe ông nọ bà kia, cố chặn nhau và hạ thủ lẫn nhau đến rối mù. Khánh bị giam non một tháng, nếm ba lần tra điện, một lần “tàu ngầm” rót nước xà phòng, hai trận, “tẩm quất” bằng roi da đóng đinh và roi tre ba cạnh khá nhừ tử. Khánh chẳng có gì để khai, cũng chẳng khai vấy đổ vạ cho ai. Các bạn tù xúm vào săn sóc Khánh, phần lớn là đảng viên cộng sản không chịu ký ly khai, chống xé cờ Đảng và đạp lên ảnh Cụ Hồ.

Một chế độ mà Khánh không chấp nhận, sao lại sinh ra những con người tốt bụng đến thế? Còn một chế độ mà Khánh thấy hợp với mình hơn, lại hành hạ Khánh hung bạo đến thế?

Không gì báo trước, Khánh được gọi ra khỏi nhà lao, cho tắm rửa, cắt tóc, thay áo quần, đưa đến Ty Công an ở đường Gia Long, Đà Nẵng. Một đại tá đeo ba bông mai bạc, một thư ký, và ông phủ Đỉnh ngồi sẵn đón Khánh, một mâm cà phê bánh ngọt đặt trên bàn. Viên đại tá hầu như độc tấu trọn buổi.

Đợt bắt giam và khai thác tàn nhẫn vừa qua được coi như tại Việt Cộng cố ý phao tin chia rẽ, khiến hàng ngũ quốc gia nghi ngờ lẫn nhau. Ngô tổng thống đã xóa tan sự hiểu lầm ấy. Ông cố vấn Trung phần Ngô Đình Cẩn đích thân duyệt hồ sơ của giáo sư Ung Viết Khánh và xóa tội. Ông tỉnh phó Ung Viết Đỉnh đích thân đứng ra bảo lãnh. Tốt rồi. Nhưng để chấm dứt mọi sự phiền nhiễu về sau-cần nói rõ là khó tránh khỏi-giáo su Khánh nên tình nguyện vào quân lực Việt Nam cộng hòa, tỏ thực tâm muốn theo về chính nghĩa của cụ Ngô, chung sức diệt cộng, bài phong, đả thực. Để giáo sư biết mình được trọng dụng, chúng tôi đã xét tỉ mỉ chức vụ và cấp bực của giáo sư khi cộng tác với Việt Minh, sẵn sàng phong cấp đại úy và xếp giáo sư vào ngành tâm lý chiến, thích hợp với năng lực của giáo sư hơn các ngành khác. Sau một thời gian ngắn, rất ngắn, với vài thành tích tỏ rõ sự tâm phục của mình, giáo sư có thể lên thiếu tá mà không ai dám ghen tị...

Khánh chợt để ý thấy ông phủ Đỉnh đeo cây thánh giá bạc trên ngực, nhân lúc ông cởi cúc áo vét-tông cho đỡ nóng. Con tắc kè đổi sắc nhanh thật. Từ Việt quốc nhảy sang Cần lao nhân vị, từ thờ ông bà sang thờ Chúa, từ tri phủ sang chủ tịch Liên Việt sang phó tỉnh trưởng, thời nào ông vẫn ngoi lên đỉnh sóng được. Gọi ông là phủ Đỉnh quả là chẳng sai một ly ông cụ nào!

Khánh xin được suy nghĩ thêm về những lời căn dặn của đại tá. Ông này cười khẩy, mặt lạnh hẳn đi, cái giọng Bùi Chu gần nguyên vẹn trở nên gằn gằn:

- Tùy giáo sư, nghĩ bao lâu cũng được!

Sau một lần tra điện và một đợt nước vôi vào phổi nữa, Hai Khánh run tay điền vào bản rô-nê-ô in sẵn, ký tên xin đầu hàng. Rất nhanh, từ thân tù kiệt quệ anh bước vào quân lực, nhận lon ba bông mai vàng đại úy, để ít lâu sau được vinh thăng lên thiếu tá. Khánh đã chứng minh được lòng trung thành với Ngô tổng thống bằng những chiến công chẳng mấy ồn ào của ngành tâm lý chiến.

Và Khánh nghĩ: mình còn dám chê ai là tắc kè!

*

Kéo theo mình cả một làn hơi say người của nước hoa Pháp, một làn mây trắng của voan nhẹ Ca-sơ-mia, Mỹ Duyên đi xem tất cả căn hộ của Hai Khánh, soát từng bức tường, nền nhà, trần buồng, căn bếp, chỗ tắm và vệ sinh. Khánh ngây mặt nhìn theo và hít những mảng sương khói sau lưng người yêu đã Âu hóa hơn cả các mụ đầm Pháp và Mỹ ở Đông Dương.

Duyên châm một điếu thuốc lá dành cho phụ nữ, dài và nhỏ bằng mút đũa, lắc đầu:

- Thiếu bàn tay người đàn bà. Anh phải lấy vợ đi, ba mươi lăm tuổi chớ nhỏ nhít gì nữa!

- Ba mươi sáu. Duyên ba mươi ba. Trai ba mươi tuổi đang xoan, gái thế nào xin tự biết. Đợi Duyên lấy chồng trước đã.

- Bộ anh lẫn rồi hả? Ông chồng ngồi lù lù trong tỉnh đường đó, gần sáu chục mà trẻ măng. Răng giả, tóc nhuộm, diện mốt cực kỳ, vẫn bao gái mỗi tháng thay một ả. Còn anh, lấy vợ cho có người đỡ đần, chơi bời bấy nhiêu là vừa. Tu thân đi!

Thoát cái, Mỹ Duyên bỏ giọng bỡn cợt, nói khẽ:

- Một lão Tây già, giàu ngầm cực kỳ, nhờ em mách mối gặp anh. Lão đoán chắc anh còn nhớ tên là Lê-ông La-phác-sơ, chủ đồn điền ở Linh Lâm hồi xưa,...

- Sao không nhớ! Tưởng lão đói thuốc phiện chết lâu rồi, hay là sang An-giê-ri với thằng con, hay về Pháp... Thằng thiếu tá Pi-e La-phác-sơ còn ở Bắc Phi chứ? Nghe bảo con gì em thằng Pi-e lấy chồng chủ đồn điền cao su trong Nam phần. Thằng Pi-e chưa hề bị ta bắt, mà nó theo lũ bạn tù binh cũ đến gặp anh, quậy phá om sòm tới mờ sáng, anh phải bí mật cuốn khăn gói đi thuê nhà ở riêng trong hẻm phố người Tiều, cho khỏi phiền ngài tỉnh phó. Tức cười, nhậu say vô là nó túm anh tâm sự lè nhè là cha nó mê thuốc phiện hơn con gái, là em gái nó lấy phải thằng chồng bụng phệ, mũ ni che tai, sống với Pháp, Mỹ, ông Diệm, Việt Cộng hay Việt Minh gì gì cũng được, miễn là mức thuế vừa phải. Bí quá thì hắn bán vườn cao-su, nhảy sang nước khác biết dùng nghề cao-su của hắn. Hắn giỏi nghề lắm lắm, nhưng ngán các biến động chính trị.., nè, lão Lê-ông còn nhắc anh thiệt à?

- Nhớ. Mà ngày càng nhớ. Lão chạy con thoi giữa Sài Gòn, Nông Pênh, Viêng Chăn, Băng Cốc, ghi hết lý lịch tụi mình đó. Ngoài sáu mươi mà đầu óc chẳng thua máy tính IBM.

- Tình báo Pháp hả? Hay làm việc cho CIA?

- Ngược lại. Lão lánh né tụi đó như rắn độc.

- Này, Xi-mô-nét, chỉ nên thả vịt vào các bản tin hay bài báo thôi nhé, đừng cho bồ xơi vịt giấy. Quỳ xuống, xưng tội đi, hỡi quỷ Xa-tăng mang hình Vệ-nữ!

- Chớ có phạm thượng. Vệ-nữ đang là thần Flô-ra rắc sang giàu xuống kẻ khù khờ là anh. Mèo mù sắp vớ được cá rán, hiểu chưa?

- Chưa... Hình như một lần Duyên kể hồi xưa đụng đầu với thằng Pi-e ở đồn điền cao-su của em nó, khi đi với một thằng Mỹ phóng viên kiêm điệp viên. Sau đó về Sài Gòn, Pi-e theo tán em riết. Thế mà chẳng bị phe nào quấy rầy, quái thật.

Mỹ Duyên bật cười lanh lảnh, lắc lư mái tóc và khuôn mặt vừa được mỹ viện sửa sang rất đắt tiền, trẻ lại đến năm bảy tuổi:

- Xin tự giới thiệu lần thứ n-ième, kẻ nữ nhi này là phóng viên và thông tấn viên cho hàng chục hãng thông tấn, báo chí và đài phát thanh ở Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Đức, Úc-đại-lợi, thỉnh thoảng cũng bí mật bán tin và ảnh cho các nước cộng sản nữa. A free-lance reporter in South-East Asia, please mind that! 1 Em chưa hề làm quan chức Bảo Đại, cán bộ Việt Minh, sĩ quan ông Diệm, hồ sơ tư pháp trắng xóa, muốn gây sự cũng chẳng có cớ. Còn cái vụ anh mới nhắc đó, là Pháp với Mỹ nán gân nhau qua loa, em lén thu bằng cái rì-coóc-đơ nhỏ giấu trong xắc, để dành đó, về sau ai mua thì bán... Lão Lê-ông dò ra chỗ này; anh chơi thân với trung tá Bửu Thái, đúng chưa?

- Bạn học cũ ở trường Luật, cũng hay lui tới. Mà sao?

- Cậu ta đến đây thăm anh hay anh vô sân bay chơi?

- Có đi có lại. Hắn lấy bà vợ già mà giàu sụ, ngoài xe nhà binh đưa đón còn sắm thêm xe du lịch Pác-ka rất bảnh. Lão Lê-ông định giở ngón gì mà thò mũi sâu thế?

- Em cũng có nguồn moi tin riêng, sẽ nói sau. Lão là thường dân, là Pháp, không xin được giấy vào chỗ máy bay vận tải quân sự. Bửu Thái thì không muốn ra ngoài nhiều, lộ mặt. Lão Lê-ông tính nhờ anh năm ngày chuyển cho Thái một gói quà, vậy thôi.

- Tưởng gì!

- Mỗi lần chuyển trót lọt, lão xin tạ anh hai trăm ngàn hay ba trăm ngàn, bằng loại giấy bạc gì tùy anh chọn.

Hai Khánh ngây mặt ra, cứng lưỡi. Rồi một tia chớp chợt lóe: lão Lê-ông nghiện thuốc phiện chắc là buôn thuốc phiện. Thuốc phiện thô là thứ cồng kềnh, chắc lão buôn hê-rô-in tinh chế, sơ chế, hay ít nhất cũng là moóc-phin, Khánh nhớ có đọc một bài nghiên cứu khá sâu về các loại ma túy từ vùng Tam giác vàng tuôn đi khắp thế giới.

Mỹ Duyên cười tươi:

- Anh đoán đúng rồi đó. Bửu Thái nắm trong tay tám chiếc vận tải C.47, hai chiếc C.54 mới mua thêm, mà hắn chỉ dùng vài tay phi công tin cậy nhứt để chuyển hàng ra khỏi nước, hay đón hàng từ Thượng Lào mang về. Nếu anh ưng bụng, lão chịu ứng tiền cho anh mua một xe riêng, anh tự lái, từ đây vô sân bay anh xẹt vô tiệm mua thứ gì đó, gói quà đút dưới ghế lái, xong.

- Nhưng.... nhưng mà ông Diệm cấm ghê lắm, kêu gọi biểu tình cấm tứ đổ tường, bỏ tù cả ngàn người nghiện...

- Là để quét dư đảng Bình Xuyên, giành mối lợi đó thôi. Hết đợt lâu rồi. Bây giờ Sài Gòn có tới ba chục ngàn tiệm hút. Chánh quyền Mỹ rót tiền cho CIA bao nhiêu cũng thiếu. Ông Nhu cố vét thêm tiền cho các khoản chi quá lớn: mộ thêm thiệt nhiều mật vụ, tình báo, đút tiền mua các tướng tá cứ hằm hè đảo chánh, nuôi cả một đảng Cần lao nhân vị, với lại còn phải chuyển vốn riêng qua Thụy Sĩ phòng khi bị lật nhào nữa chớ… Lão Lê-ông hồi Pháp là chuyên gia ma túy, kiếm được cả triệu đôn, hồi Diệm hò hét thì lão rút vô bí mật, thuê máy bay tư của mấy hãng bay con thoi giữa Thượng Lào với Nam phần, Thái-Lan, do bọn phi công người Coóc-xơ giải ngũ lập ra. Tốn kém, mà dễ bị soát xét, hãng tư mà. Lão mò ra được Bửu Thái, mò ra anh, móc xích sang em. Lão thuê một dược sĩ có bằng, mở tiệm thuốc tây che mắt thế gian, thuê em viết một bài đăng báo Pháp về cuộc sống của những người Pháp lương thiện ở lại Đông Dương sau khi quân viễn chinh rút, trong đó lão được “bêu dương” là một trình dược viên cao tuổi và nghèo khổ đã ngoi lên mở được tiệm tân dược ích nước lợi nhà. Dám trả em hai trăm ngàn đó nghen!

“Mình đang trượt dài xuống vũng bùn. Nhận vàng của ông cha dượng, ngậm tăm để ông ra đi theo chính quyền bán nước và Quốc dân đảng, bỏ hàng ngũ kháng chiến về thành, đầu hàng đòn tra tấn, nhận lon sĩ quan, tới nay buôn lậu đồ quốc cấm kiếm tiền... đến một lúc nào đó, mình sẽ xé cờ đạp ảnh, gào thét chống cộng, tự tay bắn chết đồng chí cũ để tỏ dạ trung thành với Mỹ-Diệm, có khi phải tập uống máu ăn gan cộng sản. Không thể bước lùi hay tự níu giữ trên sườn dốc lầy lội... Khánh ơi, ai chịu để cho mày mai danh ẩn tích trong cái xã hội đầy hiểm ác này, làm một anh giáo quèn dạy ngoại ngữ, trùm chăn đợi ngày thống nhất đoàn tụ?”

Một làn môi thơm lướt nhẹ trên má Khánh. Duyên ra về. Trong làn sương mù của tấm voan Ca-sơ-mia và làn gió thơm lừng của nước hoa Cô-ty hay Sa-nen chẳng biết, nàng bước ra cửa. Nhưng nàng lại quay lui mấy bước, đứng bên Khánh, thì thào:

- Em hiểu anh. Anh mệt mỏi sau bấy nhiêu năm kháng chiến. Anh muốn nghỉ ngơi, học thêm, sống đời cao ẩn ở thành phố, học luật, soạn sách, làm người trí thức hữu dụng. Nhưng họ không để anh yên đâu. Họ treo anh lên đánh nhừ tử vì nghi anh do Việt Cộng để nằm vùng. Họ lại vật anh ra xổ điện vô người vì nghi anh là tình báo Pháp. Anh muốn vượt giới tuyến ra Bắc, ngoài ấy không tù đày nhưng chẳng tin anh đâu, dùng anh làm người dịch các bản tin phương Tây là cùng. Du học nước ngoài thì chẳng có ai bảo lãnh, chẳng ai gởi tiền nuôi, mà mua được cái giấy xuất biên cả bạc triệu, kiếm đâu ra? Em còn để dành cho anh một lối thoát cuối cùng nữa, chưa tới lúc nói ra. Cứ nghĩ thêm về vụ làm giàu với lão Lê-ông đi, đừng áy náy, lương tâm nên dành cho chỗ khác!

Duyên mở chốt cửa, thấy ngay một thằng bé chừng hơn mười tuổi đúng sát bên ngoài như rình nghe trộm. Mặt nó giống Khánh như lột, mặc sơ-mi trắng toạc vai và lấm bùn, quần xanh cũng bê bết đất, đi chân đất. Nàng đoán ra ngay đứa con bỏ rơi mà cô Năm Bưởi đã đem trả.

Đáp tiếng “chào cháu” của Duyên, nó làu bàu gì trong miệng như “đồ đĩ ngựa”, không nghe rõ. Câu chuyện giữa Khánh với Duyên nhiều tiếng lóng và tiếng Pháp, Anh, nói thì thầm, may ra nó không hiểu. Hú vía!


------------------------------------------------------------------------
1. Tiếng Anh: Một phóng viên tự do ở Đông Nam Á, xin nhớ cho.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #241 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2016, 10:35:44 am »

*

Không đợi Hai Khánh mờ miệng nhận lời, một tuần sau Mỹ Duyên tự lái vào chỗ Khánh ở một chiếc xe Fiat loại phế thải, vỏ xây xát và đôi chỗ móp méo chưa sửa, được cái cốp sau đuôi khá to và có thể lật băng-két sau làm chỗ chất hàng, kiểu xe nhà buôn hạng trung cần lãi hơn mốt.

Duyên chặn ngay lời chê của Khánh, rỉ tai:

- Lão Lê-ông biếu anh đấy. Máy lắp mới tinh, bảy mươi hai ngựa chạy trên hai trăm cây số giờ, xe quân sự rớt sau xa. Biển số xe có tới ba tấm, nút bấm ở đây, bị rượt lần đầu ghi số nhứt, điện thoại chặn đường gặp số hai, vù tới chặng ba số lạ hoắc. Sức mấy mà tìm các thứ xe cà cộ, xe tư hay tắc-xi cà-là- tàng chạy đầy phố... Với lại anh vừa lên thiếu tá, chưa kịp hốt bạc làm giàu, cứ giả nghèo giả khổ là tụi nó ít nghi. Nghi gì hả? Nghi ăn tiền CIA, nghi ăn tiền Pháp, nghi Việt Cộng bơm tiền cho anh nằm vùng, nghi tới bàn tay Mạc-tư-khoa hay Bắc Kinh... Anh lái trong thành phố phải hết sức khiêm tốn, cùng lắm mới xoay bảng số, vù hết tốc độ, cho cảnh sát ăn bụi.

- Em nói lương tâm dành chỗ khác. Dành ở đâu?

- Tương lai trả lời. Lão Lê-ông giao hẹn mỗi gói quà sẽ dưới mười ki-lô, ngụy trang trong thùng thuốc tây, đồ hộp hàn kín, sữa bột Ghi-gô gởi cứu tế nạn nhân An-giê-ri, đủ thứ. Hai ngày nữa, anh ghé nhận chuyến quà đầu tiên ở tiệm Hu-man-xây-vơ 1  hai tạ thứ thiệt, mười ký hàng lậu. Hai giờ chiều tới là vừa, giờ thiên hạ mệt đừ ngáp ngủ.

- Xe chưa sang tên anh...

- Giấy tờ đủ hết đây. Vài chục ngàn, ba phút xong gọn.

Khánh lại đầu hàng một lần nữa.

Lão Lê-ông làm đúng lời hứa. Lão trả Khánh hai trăm năm chục ngàn vì chuyến đầu gửi ít hê-rô-in, chia cho Mỹ Duyên năm chục ngàn, theo giá chợ đen thì cả hai được chừng năm ngàn đô-la. Bửu Thái kín miệng, nhưng chắc được gấp năm bảy lần bấy nhiêu. Mụ vợ già luôn miệng khoe được hưởng gia tài đôi bên phụ mẫu nên phất tấy lên, nay mới biết là phun hỏa mù.

Các bạn sĩ quan vẫn thương hại thằng Khánh tồ tệch ngộc nghệch, đeo lon cấp tá mà chỉ biết ngồi cạo giấy với lũ tâm lý chiến, ở căn nhà trần trụi với đồ đạc mua vét chợ trời, mua rẻ được cái xe Fiat cóc gặm mà lái tắc-xi chẳng thèm, không thuê nổi người ở dọn dẹp nấu ăn, còn nói chi tới lấy vợ và bao thêm gái!

Năm ngày sau, chuyến quà thứ hai, Khánh nhận ba trăm ngàn, mười tháng lương thiếu tá độc thân. Duyên mang tiền đến đưa tận tay Khánh, không nhận phần mình:

- Em làm môi giới một lần, được chia bấy nhiêu đủ rồi. Giúp cho anh phất lên thôi. Anh đừng mua sắm đồ bảnh, đừng để nhiều tiền mặt trong nhà, gởi ngân hàng chừng vài triệu thôi, hễ lộ thì nói là hưởng gia tài hay là me anh cho làm vốn. Còn thì gởi ngân hàng Hồng-công hay Xin-ga-po, bọn Ba Tàu kín miệng lắm. Chuyển thành đô-la hay frăng Thụy-sĩ, giàu nữa thì đưa vô number-banking 2 , như đám tỷ phú hay làm, nay chưa cần. Anh thấy không, em có xe hơi hạng sang, mà tới đây toàn đi xích-lô, mưa to mới thuê tắc-xi. Thiếu tá nghèo thì bồ cũng chịu nghèo theo chớ sao... Lão Lê-ông muốn gặp anh đó. Anh hẹn ngày, lão xếp chỗ, báo tin sau.

- Dám đưa anh lọt vô hang ổ sao?

- Đời nào! Chắc là tầng chót vót ở khách sạn nào đó trong Chợ Lớn. Lão ranh lắm, biết hết chuyện anh bị vật nhào xuống đánh gần chết, lại bị đè ngửa ra gắn lon quan ba cạo giấy.

- Làm tay sai ông Nhu thì cái gì chẳng biết!

- Cố Nhu là thái thượng hoàng thôi. Tể tướng vụ này là Trần Kim Tuyến, trùm mật vụ. Mà ngay trong số mật vụ cũng một số ít được giao việc thôi. Lựa người kỹ lắm, có khi một cha lái xích-lô máy, một bà buôn cá lại ngon xơi hơn trung tướng hay quốc vụ khanh. Đồng ý gặp chớ? Xô-gla-xen? Ain-ver-xtan-đen? Con-for-mee? Đac-cor-đô? Hảo 3.

Khánh bịt tai làm bộ nhức đầu, lại buông tay:

- Méo mó nghề nghiệp rồi, thưa bà... quên, thưa cô nhà báo. Mới nhập cảng thêm được mấy thứ tiếng giả cầy nữa?

- Đủ lòe ngài giáo sư ngoại ngữ bị mất dạy, được nếm đòn để vô khuôn phép...

Cặp tình nhân sà vào tay nhau chỉ được vài phút. Tiếng chuông ngoài cổng mắc vào nhà bỗng réo lanh lảnh, ngừng, réo dài hơn, rồi réo mãi đến váng óc. Mỹ Duyên chạy vội đến trước gương tủ, sửa lại đầu tóc và cài lại cúc áo ngực. Khánh cũng vội vào buồng tắm lấy khăn ướt lau vội mấy vết son trên mặt và cổ. Chuông cứ réo. Chỉ có tay nào cấp tướng hay bọn an ninh quân đội mang lệnh bắt đến mới hách đến thế.

Quanh vườn và sân cỏ xây tường cao quá đầu, trên căng thêm sáu đường kẽm gai, mé trong thêm kẽm gai xoắn ruột cà nữa. Từ khi tin đưa dồn dập về Việt Cộng chuyển qua nổ súng, quân chủ lực Bắc Việt lũ lượt kéo vào theo đường núi, võ khí Nga Xô, Trung Cộng kiểu mới nhất trên vai, các ngài cao cấp và các vị cố vấn Hoa-kỳ ngày càng lo giữ. Lưới thép chống B.40 và B.41 được xuất xưởng và chở sang từng ngàn tấn mỗi chuyến, chất đầy nghẹt các hải cảng, căng đầy chung quanh các dinh thự, tiệm rượu dành riêng cho người Mỹ - For Americans only. Về sau, khi lính Mỹ da đen, dân Mỹ tứ xứ pha màu đen, vàng, In-di-an tức da đỏ, các biểu ấy được ghi thêm bên dưới thật đậm nét: Người da màu không được vào (No colored people allowed). Sĩ quan người Việt dù deo cả chùm mai bạc của cấp tá, nếu không có một ông Tây nào mũi lõ mắt xanh khoác tay dẫn vào, đều bị lễ phép mời ra, mà kẻ đuổi lại là một tay anh chị đâm thuê chém mướn dưới trướng ông Bảy Viễn lừng lẫy một thời, lên cấp tướng mà còn mù chữ.

Cổng nhà riêng của thiếu tá Hai Khánh được lắp tôn kín bưng, chỉ chừa một lỗ vuông nhỏ đủ thấy mặt khách. Khánh ra mở cổng, cẩn thận nhìn qua lỗ vuông, chẳng thấy ai cả. Mà chuông cứ gào trong nhà như hóa dại. Anh cáu sườn, rút súng Côn 45 lên đạn cầm tay, đột ngột giật toang tấm cửa bọc tôn, chĩa súng vào đứa trẻ đang ấn chuông như hóa dại. Nó đứng trên cái ghế đẩu mượn ở quán cóc gần cổng, vừa bấm chuông vừa nói chuyện tục tĩu với lũ trẻ đứng vây quanh. Lại thằng Chung !

Lũ trẻ chạy vù như bầy chim sẻ. Thằng Chung bước xuống đất, cười tươi, chẳng hề để ý đến vẻ mặt hầm hầm và cây súng chực nhả đạn:

- Tụi nó nói ba đang chơi đĩ trong nhà. Chơi đĩ lâu thì tốn tiền, hại sức. Nó biểu con leo lên chế, bấm chuông miết miết cho ba dứt sớm con đĩ ngựa ra chưa hả ba? Tụi nó nói thứ đĩ này xài bảnh hạng nhứt, ba mà bị nó đá đít là trụi lủi, cho thằng Chung đi ăn mày. Hễ đi ăn mày thì con về Linh Lâm ở với mẹ Bưởi, mẹ Thùy, thôi luôn ba đó nghen!

Chưa bao giờ nó nói cái giọng bụi đời sừng sỏ ấy với Khánh. Ai mới bày cho nó? Mỹ Duyên đang ở trong nhà, không thể nạt nộ bắt nó im. Khánh đút súng vào bao, dịu giọng:

- Con đừng hỗn. Bà đó là vợ nhỏ của ông nội con, con phải kêu là bà Ba. Bà tới bàn chuyện công vụ với ba. Ai bày con kêu là đĩ?

- Tụi nó... Cả con nít, người lớn...

- Thôi, vô cất cặp sách, chào bà Ba đàng hoàng, rồi ba cho tiền đi coi phim, ăn cà-rem.

Thằng bé reo khẽ một tiếng, chạy ù vào nhà, chắp tay chào bà rất lễ phép, vất cặp sách, nhào ngay ra cửa. Khánh rút ví cho nó hai chục, nó thò tay rút thêm một tờ mười đồng nữa, cười hi hí, vù luôn ra cổng.

Mỹ Duyên cũng xách ví ra về. Nàng buông khẽ:

- Thằng Chung  của anh đổi nết ghê quá. Được mười tuổi chưa?

- Mười một. Nhiễm bệnh xã hội rất nhanh, chuyên cúp cua chơi rông.

Khánh tiễn Duyên qua cổng trạm gác khu gia binh, vẫy xích-lô, lật mũ chào kiểu dân sự cho mọi người trông thấy, kèm những tiếng thưa dạ thật lễ phép cùng tiếng “dì” rõ to.

Mấy ngày sau, trong bữa cơm tối, thằng Chung bật hỏi:

- Chạy áp-phe là sao hả ba?

- À... tức là buôn đàng này bán đàng kia, kiếm tiền lời từng chuyến, không mở tiệm. Con nghe ai nói vậy?

- Họ nói bà Ba không phải đĩ ngựa đâu. Bả chạy áp-phe với ba thôi. Ba nghèo, bả như bà hoàng, có bắt bồ cũng lựa cỡ đại tá hay cấp tướng. Như ba thì chơi nhà thổ trong khu gia binh mỗi đêm một hai trăm là cháy túi. Cả xóm đồn vậy đó ba.

Khánh kinh hoàng đến tắc họng.

Thằng Chung đẹp như thiên thần, bò theo ôm chân mẹ Xùi chờ một bàn tay vuốt má, sẵn sàng nhảy chồm chồm, trên hai gối chú Hánh đang đợi lấy đồ may gấp, yêu thương tất cả những người yêu nó, là đứa trẻ hàng chục năm ám ảnh Khánh đến cái độ phải bày mưu tính kế để lâu lâu được ôm nó trong tay một lần, nay được trả vào tay Khánh chưa bao lâu đã trở giọng con ranh con lộn khủng khiếp. Mươi năm nữa, nó sẽ ném vào mặt ba nó những gì nữa? Trong tay Hai Thùy nuôi dạy, sao nó ngoan đáng yêu đến thế? Vào tay Khánh, sao nó sừng sỏ ngổ ngáo đến thế?

Lấy vợ ư? Còn lạ gì cái cảnh dì ghẻ con chồng quanh năm kình lộn, nhất là bà dì ghẻ có con riêng, vài lần xử kiện con anh con em đánh con chúng ta là đủ bạc tóc, chưa kể cả số chục số trăm người họ hàng hang hốc phía bên cha đẻ, mẹ đẻ, cha dượng, mẹ trưởng, mẹ kế, vợ anh, xúm vào vắt sữa con bò bị buộc dây mũi vào cọc này. Sự đời nó thế: của cải có thể mất, chức tước bị xóa, bằng cấp bị thu, chỉ có thứ chỗ ngồi trong dòng họ là không bao giờ đổi, từ khi mới đẻ tới giờ xuống mồ.

Để tránh thuê người ở, Khánh tìm được gia đình một thượng sĩ ở gần cổng khu sĩ quan, nhận nấu cơm tháng cho hai cha con. Trong nhà có chị vợ dậy sớm làm bánh bèo bánh cuốn gánh đi bỏ mối, bận mấy đứa con nhỏ không thể mở quán ngồi luôn ở chợ. Bà dì không con cháu về ở chung đấy, giúp việc vặt, mỗi ngày đến quét dọn buồng Khánh một tiếng, nhận áo quần về giặt ủi kiếm tí tiền còm. Nhà này ăn ở biết điều, năm đứa con đều chăm và ngoan. Thượng sĩ Chính Bổn này hồi chống Pháp có vào du kích vài năm, bị thương ở chân đi hơi nhúc nhắc, phải xuất ngũ trước Giơ-ne-vơ bốn năm, về dựa bà con ở Đà Nẵng để chữa vết thương rồi ở lại luôn, bị hốt bừa vào lính Bảo an, chuyên đi gác xách vì không chạy được. Anh ta đang nhờ Khánh xếp làm lái xe riêng cho thiếu tá, Khánh khuyên anh ta học lớp lái tiểu xa lấy bằng trước đã. Nhà Chín Bổn chỉ cách nhà Khánh vài chục thước, gọi to cũng nghe, xe Khánh đỗ ngay trước thềm rất tiện. Nhưng gặp lúc đang làm ăn với Lê-ông La-phác-sơ, Khánh chỉ tự mình lái, Chín Bổn ghé qua lau sửa xe, có khi mượn tập lái qua lại trong khu gia binh cũng được.

Lũ con Chín Bổn gờm thằng Chung ngày một rõ. Nó góp nhặt ở đâu về những lời mất dạy, những lối cư xử quái gở nhất, ít chờ đợi nhất. Bên trong cái hình vóc rất cân đối, bộ mặt trắng trẻo đẹp trai, là một dòng máu đang pha thêm mực đen mỗi ngày vài giọt. Từng lúc, Khánh nhớ nó đến phát cuồng, khi gặp nó một lát lại tức điên với kiểu hỗn xược đâm họng luôn luôn khác hôm qua.

Cả nhà Chín Bổn cùng khuyên: “Đợi nó lớn, nó khôn ra”.

Nó sẽ khôn ra hay thêm tồi tệ? Nó sẽ thôi ném đá vào cửa sổ, hay sẽ thay đá bằng lựu đạn? Nó đấm bạn bằng tay, sẽ ngừng đấm hay thay bằng mũi dao, họng súng Côn 45?



------------------------------------------------------------------------
1. Tiếng Anh: Cứu nhân loại.
2. Tiếng Anh: gửi tài sản ở ngân hàng bàng bí số.
3. Tiếng Nga, Đức, Tây-ban-nha, Pháp, Hoa, cùng một nghĩa: Đồng ý chứ?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #242 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2016, 02:55:25 pm »

*

Vào cuối giờ làm chiều, Khánh xếp gọn chồng báo dày hơn một tấc lại, tắt quạt. Ba sĩ quan và hạ sĩ quan dưới quyền cũng sắp xếp ra về. Bộ phận Khánh chuyên đọc và moi tất cả các tin tức của các hãng thông tấn, báo chí, đài phát thanh trên thế giới, cả Âu Mỹ, phe cộng sản, thế giới thứ ba, cung cấp những bản trích hay tóm tắt cho các cơ quan trong quân lực Việt Nam Cộng hòa. Một việc không mật nhưng tốn nhiều thì giờ, mà các vị tướng hay nhóm đứng đầu Dinh độc lập phải dành hầu hết thì giờ để kiếm tiền, kiếm chức, kiếm tay chân làm đảo chính khi có dịp.

Chuông dây nói réo trên bàn Khánh. Máy thành phố, không phải đường dây nội bộ. Giọng Mỹ Duyên nói chỉ đủ nghe:

- Anh Hai đó hả... Em đây. Ông Lê mời anh chiều nay đi nhậu ở quán bà Bảy, cuối giờ. Đi chớ?

- Ô-kê!

Ông Lê là lão Lê-ông. Quán bà Bảy là tên mật của một tiệm may, không có thứ gì ăn nhậu, nhưng có nhiều buồng kín để khách vào thay quần áo, lại có hành lang sâu luồn tới một con hẻm rất vắng, trốn sang phố khác nếu biết cách mở vài chỗ tủ xoay, gương lật ngược, cửa nhà xí đã hỏng.

Khánh gặp lại một lão Tây La phạt khác xưa quá quắt. Chàng tròn mắt nhìn cái sọ không có tóc, chỉ sót mấy sợi lông nâu mé trên tai, thân thể chỉ còn xương và gân, bộ mặt róc hết thịt như đầu lâu. Thế nhưng Mỹ Duyên đã dặn nhiều lần là lão ranh ma như quỷ. Lão không cố ý lừa ai, trả công xá phải chăng, nhưng đừng cả tin mà dại, cứ tiền trao cháo múc là nhất.

Chuyến hàng này nhỉnh hơn mấy lần trước, lão Lê-ông trả bốn trăm ngàn. Lão đưa gói giấy bạc, nhắc Khánh một câu khiến Khánh và Duyên cùng giật mình:

- Nếu bọn mật vụ nắm được số tiền ông gởi ngân hàng đã lên tới gần một triệu trong thòi gian ngắn, ông sẽ đối đáp thế nào?

- Ờ... Hưởng gia tài chăng?

- Nó phăng mối rất nhanh. Ai chia gia tài? Một cú điện thoại là biết được ngay. Vậy ư? Ai cho vay?

Ba người đều nói tiếng Pháp để tránh bị nghe lỏm hay hiểu sai ý nhau. Đợi vài phút, lão mới đủng đỉnh:

- Tôi đứng tên thì rất đáng ngờ. Tốt nhất là bà Mỹ Duyên đây cho vay... hay là bà cho ông cầm cố thứ gì đấy, lấy tiền xây nhà riêng chứ ở trung khu gia binh gò bó lắm.

- Cầm đồ... lấy gì mà cầm?

- Chiếc xe Fiat đấy. Bà cho ông cầm, trao tiền mặt, nhưng bà đã có xe riêng đẹp hơn, ký giấy cho ông mượn dùng tạm ít lâu nữa...

- Ai lại thế! Xe ấy của ông, máy còn tốt nguyên...

- Giấy tờ sang tên ông tất cả rồi. Bà Duyên nghĩ sao?

Mỹ Duyên bật cười:

- Cũng chỉ còn cách ấy. Cho anh Hai mượn xài bao lâu cũng được. Em không dám lái thứ đó đâu, bề ngoài như giẻ rách mà bay như hỏa tiễn, bể sọ như chơi. Gớm, bữa hôm anh nghi hai đứa bị bám đuôi trên quốc lộ, anh vù đúng nửa phút là rớt rụng sạch trơn. Mà sao trên bảng tốc độ nó chỉ để mức cao nhứt là trăm hai chục cây số/giờ, ông La-phác-sơ?

- Bảng giả, tôi dặn ông Hai rồi. Một cây số trên bảng là hai cây số trên đường. Tôi thử một lần bằng máy đo chính xác, mức cao nhất của nó là hai trăm sáu chục, đủ sức cho tất cả các xe ăn bụi... Tôi khuyên ông Hai nhé: mức ngân hàng dừng dưới một triệu, kiếm thêm bao nhiêu ông dự trữ vàng chứ đừng ham kim cương hay các loại ngọc, ông không sành hay trúng đồ giả. Chôn giấu mươi cân vàng là quá dễ. Mong rằng chúng ta sẽ làm ăn với nhau lâu dài. Nguồn của cải từ Tam giác vàng tuôn đi khắp thế giới sẽ không bao giờ cạn: chính quyền thuộc địa Đông Dương cần, quân viễn chinh Pháp cần, phe ông Diệm hò hét rất ồn nhưng đang rất cần, Mỹ đóng vai đạo đức nhưng CIA đang cần. Tôi đang xoay tiền cho Bửu Thái lên đại tá nắm số tàu bay vận tải ở đây, nhưng Nguyễn Cao Kỳ đã ngửi mùi nhựa nâu đẻ ra đô-la, chặn Bửu Thái đòi chia phần, chắc phải mất với thằng Kỳ năm bảy triệu là ít...

Lão châm một điếu thuốc lá quấn tay có mùi riêng, Hai Khánh nhận ra ngay mùi khen khét của ma túy. Lão trầm ngâm:

- Cách vài tháng, tôi theo một đoàn sĩ quan lên Linh Lâm, thăm lại cảnh cũ người xưa, cũng tìm một dropping zong 1   nơi đất quen. Đồn điền cũ của tôi bị ông phủ Đỉnh chiếm một phần, dân công giáo di cư chiếm số còn lại, Quốc dân đảng ly khai ông Diệm ra hàng rồi chẳng tính làm gì, chỉ đáng lo là Việt Cộng bắt đầu cầm súng đi diệt ác trừ gian. Ông Hai về thăm quê, khổ hơn trước rồi đó. Tôi chống gậy đi quanh xóm Linh Lâm, chẳng ai gây sự mà cũng chẳng ai niềm nở, chỉ dặn mãi là dạo này Việt Cộng về võ trang tuyên truyền nhiều, bắt giết hai người có nợ máu với dân, gài cáo trạng trên xác. Họ không gây sự với tôi vì mấy chục năm qua tôi chỉ là Pháp kiều, họ nói rõ là cho qua chuyện cũ. Coi như họ dễ tính, biết điều. Bỏ qua vụ ruộng đất, ta lao vào chuyện mới này kiếm ăn dễ hơn nhiều, ông bà cứ cân nhắc sẽ thấy tôi có lý.

Chuyến con thoi này cũng trót lọt nữa.

Theo lời Duyên, Khánh tìm lại căn nhà thuê năm kia trong hẻm phố người Hoa làm chỗ hẹn hò. Chòm xóm chung quanh chỉ biết Khánh là ông giáo nghèo, độc thân, hay bị cảnh sát quấy rầy nhưng rốt cuộc vẫn sống yên lành, dạy tư kiếm ăn. Trời nắng đi xe đạp cọc cạch, mưa vừa đi bộ, mưa quá to mới kêu xích-lô. Ông bà chủ không biết Khánh ngày nay làm gì, chỉ xuýt xoa:

- Cả nhà tôi nghe thầy Hai bị bắt lên bắt xuống hoài, thương để bụng chớ đâu dám ho he, theo kháng chiến cực khổ trăm đường, các ông cầm quyền nói đả thực mà cứ nhè mấy ông chống thực dân mà đả hoài hoài. Thôi thì thầy Hai về ở với tụi tôi cho vui, tiền nong chẳng phải tính gì, thầy ra đi cả xóm dân nghèo đây nhắc thầy biết, người kháng chiến về thiệt là theo đạo Cụ Hồ, chẳng tôn giáo nào mà yêu nước thương dân in hệt Cụ Hồ dạy, xin lạy Cụ trăm lạy ngàn lạy, mong Cụ đừng bỏ dân miền Nam mình. Có tiền thầy trả, không tiền thì để đó tới ngày nước mình thống nhứt, mình xóa hết đi cho gọn. Coi như phần đóng góp vô kháng chiến là xuôi hết, phải không thầy?

Lũ trẻ con quanh xóm tự dưng bật hát to:

- Xiao pín yiao ai lai xai ù
Ni xấn ươn ai lai xai ườ
Xoong bọọng xin, xoong tẹng tín...


Tầng bốn nhà trước mặt, một ngôi nhà mới mọc hơn năm, chợt dậy lên tiếng cười hô hố chen lẫn tiếng lách cách của những thẻ bài mà-chược. Ông chủ nhà Khánh lắc đầu:

- Kêu miết là bài trừ tứ đổ tường, mà ngó qua bên kia thấy đủ mọi thứ: tầng một, rượu; tầng hai, đĩ; tầng ba, thuốc phiện; tầng bốn, cờ bạc. Mỗi tháng bỏ nửa triệu nuôi cảnh sát với du côn, yên ổn lắm, chẳng cần che giấu gì hết.

Khánh bằng lòng thuê lại căn buồng nhỏ năm kia, ngả giá phải chăng, chỉ thẹn thò nói khẽ rằng đang cầu thân với một cô góa chồng tuổi hơn ba mươi, cả hai đều xấu hổ vì muộn chồng muộn vợ, thỉnh thoảng xin được gặp nhau ở đây. Ông chủ cười muốn sặc:

- Thầy rước luôn chị ta về ở chung cho gọn. Gần bốn chục cái xuân xanh, chưa vợ con, mắc cỡ nữa thì bạc hết tóc!

Chỗ ở của Khánh trong khu gia binh đã lộ liễu, còn thêm thằng Chung phá quấy. Nó hết gọi Mỹ Duyên là đĩ ngựa, tới mụ áp-phe, gần đây đổi gọi là me Tây, là gái lộn chồng-chồng nào nó không biết vì chưa từng gặp ông phủ Đỉnh từ ngày về ở với cha. Khánh đành phải tìm chỗ trốn con trai khi cần gặp người tình.



-----------------------------------------------------------------------
1. Tiếng Anh: khu vực máy bay thả hàng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #243 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2016, 02:58:15 pm »

Chương 6


Suốt đêm ấy, trong căn lều rách tướp giữ rẫy của bà con Cà-tu, có bốn người nằm chung với nhau mà không một lúc ngủ chung. Không ngủ được. Sáng mai sớm, giao liên đến đón khi gà gáy đầu. Anh Tô Xáng ra họp Trung ương với bộ râu mép của cai lục lộ, cùng anh Hai Thỉnh với tất cả bộ dáng tư sản vòng quanh Đông Dương sang trọng của anh. Còn lại ở chỗ căn cứ vùng Cà-tu này đồng chí Thanh Trà tức Phan Chanh, mới nhìn là một ông lão người dân tộc ở Tây Quảng Nam, xỏ tai búi tóc cởi trần đóng khố, cõng lek vác dáo, miệng còn nhai trầu bỏm bẻm và nói nhiều thứ tiếng Cà-tu, Ve, Cà-dong, Kor. Người cuối cùng là đồng chí Pheng, mặc phạ-xà-lùng và áo ngắn Lào từ bên kia mang sang, bắt liên lạc với bên ta, nói gì cũng phải qua anh Hai Thỉnh hay Cả Chanh dịch nghĩa. Từ những năm trước cùng đi với Chanh, anh đã có màu da sẫm, mái tóc búi ca-rê, thân gầy, đôi chân trổ chàm từ trên tới dưới đầu gối, nên có lẽ anh là người ít đổi hình dạng nhất trong bốn người Lào-Việt nằm trên sạp và võng đêm nay.

Các bạn Lào đã khởi nghĩa võ trang sau khi các lãnh tụ Pa-thét Lào thoát nhà giam và thoát án xử khó tránh khỏi cùa Mỹ-ngụy Lào. Phái Việt Nam đã có Nghị quyết Trung ương 15 cho phép dùng võ khí để tự vệ, không để địch giết cộng sản xả láng nữa. Anh Tô Xáng được cử ra Trung ương dự Đại hội III của Đảng, còn được nhận lời dặn quyết liệt của Cả Chanh: hễ anh biểu quyết giải phóng miền Nam và thống nhứt nước nhà bằng hòa bình, tôi sẽ là đứa đầu tiên bỏ phiếu khai trừ anh ra khỏi Đảng, vì lý do anh là phần tử cơ hội, đầu hàng. Tình nghĩa chúng ta sẽ được đo bằng lá phiếu của anh, nếu cần tôi xin trả tiền mấy bữa cháo cá của anh chị trên sông Cửa Đợi hay sông Linh! Anh chị ghét tôi mãn đời, tôi xin chịu tội trước anh chị, mà không chịu tội trước Dân, trước Đảng!

Có người dè dặt, có người bạo mồm như Chanh, nhưng không khí chung của cuộc họp tỉnh ủy là thế-cuộc họp của số đồng chí còn sót lại trong tỉnh ủy. Chưa cộng được con số đúng, đã ước tính được đến chín mươi phần trăm đảng viên ở lại trong tỉnh đã bị giết, bị tù gần đày xa, bị đánh tàn phế, đã ký giấy xuất thú đầu hàng để sống gắng gượng từng ngày quản thúc, cũng có kẻ trở mặt thành chó ngựa cho giặc trăm phần trăm. Đã có Nghị quyết Trung ương 15 thật đấy, nhưng Đại hội Ba sẽ duyệt hay bác bỏ?

Đối với đồng bào lối xóm, cả những đảng viên ít học ở thôn xã, bất cứ anh nào cõng bao chống gậy đi đêm đều là cán bộ, đều nói tiếng nói của Đảng cả, dù đó chỉ là một anh tiếp phẩm đi lùng mua muối cho cơ quan huyện. Các tỉnh ủy viên, khu ủy viên gánh trách nhiệm đổi với từng câu từng chữ trong nghị quyết của từng cấp, nói lịch sự là sai một ly đi một dặm, nói sừng ngổ như cậu Bảy Chẩn “đái một bãi đái, sái một chuyến buôn”.

Nhắc tới thằng Chẩn, cả tỉnh ủy hay rơi vào một phút ngậm ngùi. Ai cũng muốn gài cho nó một cái hiệu thật độc đáo: thằng liếng khỉ, thằng rắn mắt, thằng con ranh con lộn, thằng đá cá lăn dưa, ôi đủ thứ. Nhưng khi tỉnh ủy tự bầu bổ sung thay một vị kỳ cựu ra đầu thú giặc, nó trúng hầu hết số phiếu kín, chỉ thiếu lá phiếu của chính nó. Các đồng chí nghĩ kỹ lại đi, tôi mới hăm tám tuổi, tánh nết như Tôn Ngộ Không, chẳng gương mẫu chút xíu nào hết, đưa tôi vô cho nát tỉnh ủy à? Uy tín chẳng có, nói ai dám nghe? Vậy mà cứ trúng. Nó gương mẫu theo kiểu lính đánh Tây, việc vặt nó chẳng kể, vào việc lớn nó nghiêm đến phát khiếp. Nó ở chung cơ quan với anh Tô Xáng “cai lục lộ”, nhưng lăn lộn với bà con Thượng và Kinh mỗi tháng ít nhất hai mươi ngày đêm, khó biết nó ngủ lúc nào, lên biên giới Lào hay xuống đồng bằng lúc nào.

Lần đầu gặp Cả Chanh từ cánh Nam Quảng Nam về họp, nó đã phong luôn cho anh là “ông cụ người Thượng”, tiếp đó nó tự rút gọn thành “cụ Thượng”, hiểu là cụ Thượng thư hay cụ Thượng du đều được. Nó bị địch phục bắt mươi ngày trước khi họp tỉnh ủy. Cơ sở báo tin về, đau buốt ruột: nó bị một tên phản bội nhận ra, chỉ nhất định nói tên giả, tuổi giả, quê giả, là thanh niên trốn quân dịch phải lên rừng, đói quá tìm về xin ăn các làng. Bọn ác ôn giết lầm hơn bỏ sót, tra đánh đủ kiểu không được gì, nổi điên, rút dao rừng Mỹ chặt tay trái nó. Im lặng. Chặt tiếp tay phải nó, im lặng. Chặt chân trái nó, im lặng. Chặt nốt chân phải nó, im lặng. Khi tự biết trong thân cạn máu, nó mới lấy hết sức nói to: “Trong số đứng đây, tao tin có đứa sẽ còn lương tâm để về sau dám nhắc chuyện cũ. Tao chính tên là Hồ Văn Chẩn, Bảy Chẩn, tỉnh ủy viên Quảng Nam, đến hơi thở cuối cùng vẫn tự hào là người cộng sản, không hề khai báo một câu, không hề phản Dân phản Đảng. Tao chết để cho dân mình sống, Đảng mình sống. Thằng nào dám nói sai, tao về vặn họng cả nhà, ba đời không cho ngóc đầu lên nổi. Hễ nhắc tên tao, Hồ Văn Chẩn, tụi bay phải khấn kèm theo là “Đảng Lao Động Việt Nam muôn năm” với “Cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. Khấn vậy, tao mới phù hộ cho cả nhà làm ăn khá giả, con cháu mạnh khỏe... Tao chết trúng ngày thiêng, giờ thiêng, bay liệu hồn mà khấn cho đúng. Còn cái bọn ăn gan uống máu đâu, bay để đó cho cách mạng trị, tao cũng  về trị cho trắng máu... Hẹn gặp nhau trước tòa Diêm Vương nghen!”.

Lời trối trăng độc đáo của đồng chí tỉnh ủy viên rất trẻ chẳng ngờ lại gây tiếng vang hiếm có trong ngụy quân và ngụy quyền, đang đua nhau theo các tôn giáo theo chủ nghĩa duy linh của Ngô tổng thống: số kiếm chức kiếm quyền xin cải đạo Công giáo như ông phủ Ung Viết Đỉnh, số chờ thời Mỹ giúp theo đạo Tin lành, số đông muốn được giữ thờ ông bà và làm điều lành đều xin theo đạo Phật, được cúng dường vừa phải và không phải dẹp bài vị ông bà cha mẹ, hợp lý người dân cày, mà cũng tránh được tiếng theo cộng sản vô thần. Đến cái ông tỉnh ủy Hồ Văn Chẩn này thì thật khác lạ, buộc phải khấn thêm Đảng Lao Động Việt Nam với Cụ Hồ Chí Minh mới chịu phù hộ. Xin sẵn sàng khấn, Cụ Hồ với Đảng mình thì nằm sẵn trong ruột gan xương cốt mỗi người dân rồi, kính phục thương yêu đã lâu quá rồi, ông Bảy Chẩn cho phép khấn-hồi xưa chê là phong kiến-là hay, là phải. Chỉ xin được khấn thầm cho chánh quyền khỏi bắt, bấy nhiêu thôi.

“Cụ Thượng” Cả Chanh được cử làm quyền bí thư tỉnh ủy Quảng Nam thay “ông cai lục lộ” Tô Xáng. Lập tức trước mắt Chanh trồi lên cả một núi việc phải làm, đến dễ sợ. Bà con Thượng hối hả cắm chông, đặt bẫy thò, hàng trăm kiểu chông thò khó đoán biết được, anh chị em Kinh đi đâu cũng sợ rút gân, đoạn đường trước tự đi nay phải nhờ du kích-cả bà già, trẻ em-dẫn đi mới thoát. Quân địch hay gián điệp xưa lùng lội thả cửa, nay co vòi nhiều. Nhưng địch quật lại ngay: dồn dân xuống vùng chúng kiểm soát, chặn muối vải sắt lên vùng Thượng, cho máy bay trinh sát và chiến đấu lên tìm nơi xối bom đạn, cấp giấy cho từng người lên xuống.

Là một trong những đồng chí đòi nổ súng ồn ào nhất trước Nghị quyết 15, Cả Chanh phải chịu tự mình tháo gỡ trước hết.

Các bạn Lào sang gặp tỉnh ủy, dù thân thương nhau vô vàn, nhưng kiếm đâu ra võ khí giúp các bạn, khi chính anh cũng chỉ có cây súng lục ba nòng tự tạo để giữ thân? Anh đã sục nhiều lần trong các hang đá giấu vũ khí cỡ nhỏ của CK.II để lại. Kho lớn nhất bị sụp, cả mảng núi đè lên. Các kho nhỏ chứa lựu đạn và mìn còn lấy được, nhưng bị ẩm lâu năm, lựu đạn đem thử mười quả hỏng đủ mười. Chông thò cản giặc được phần nào đấy, nhưng các cánh các mũi võ trang tuyên truyền từ căn cứ miền núi phóng xuống vùng ven núi, húc ngay vào các hàng rào chống Cộng lởm chởm đủ thứ rào hào gai chông, với hàng trung đội biệt kích, dân vệ, thôn vệ, thanh niên diệt cộng núp đằng sau, với cả ngàn dân bị ép buộc mang gậy dây và dao phay rựa bò túa ra hò hét: “Ươ làng, Việt Cộng về!”. Vài phút sau đó, các bà mẹ chiến sĩ năm xưa nhét gói gạo muối gói sẵn vào túi con cháu, buộc gói cá thu cá ngừ kho khô vào bao lưng anh nào đó đã xô tay đẩy đi, lại đánh mõ giơ đuốc đầu lửa và gào: “Uơ làng xóm, Việt Cộng về!”.

Không ít anh em từ thành phố lên hay từ miền Bắc vào, sau một cuộc thử lòng đau đớn như thế, trở về căn cứ trên núi bỏ cơm nằm dài: “Đồng bào miền Nam theo địch hết rồi, mình giải phóng ai?”. Một huyện ủy viên xa dân lâu ngày, khi bị xua đuổi tàn tệ đến thế, đã hét trả lại thật to: “Tới ngày giải phóng miền Nam, làng này sẽ bị khai trừ khỏi dân tộc, đi đâu thì đi!”.

Rồi dần dần mối tơ vò cũng được gỡ từng nút. Nước với dầu chẳng bao giờ pha lẫn được. Các mẹ lại ki cóp từng lon gạo nhúm muối cho “mấy đứa”, các cô em đánh mõ la làng lại giấu các thứ nuôi người trong gánh tro bón ruộng hay đôi giỏ cắt lá phân xanh, thanh niên diệt cộng gửi đạn và lựu đạn cho cách mạng kèm lời xin lỗi: “Mỗi lần tôi gửi chút ít thôi, gửi nhiều tụi nó nghi, thu súng lại hết”. Rồi các gia đình có con đi lính cộng hòa chánh quy, lính bảo an ở tỉnh, lãnh súng dân vệ ở xã, đều cố tìm gặp cán bộ mình trong những đêm thì thào nơi vắng nhất: làm sao đưa thằng trai nhà tôi đi mà địch nó không kiếm cớ bắt quy khu, không đưa vô khu trù mật cũng bắt đi thiệt xa như dinh điền trên Cao Nguyên cả nhà tôi, các anh xếp đặt giùm…

Lớp trai trẻ bị săn lùng ráo riết nhất. Lên núi theo Bộ đội giải phóng-thường gọi tắt là Lực lượng-thì cực quá chịu không nổi, ăn sắn chấm muối cũng chỉ dám chấm đũa đứng chứ không dám chấm đũa nghiêng, mà có khi cả tháng không có gì mà chấm. Nhà giàu còn có tiền mua giấy miễn hoãn từng đợt cho các con, càng lắm con trai càng tốn kém. Nhà nghèo cho con “chạy trong”, tìm nơi lánh né, gặp hồi không kịp trốn bố ráp mới phải xì tiền ra mua thêm những ngày sống bấp bênh. Con nhà thương binh liệt sĩ được chọn cho đi đường núi ra Bắc học, tiếp đó có thể được xuất dương du học nhiều năm, là một vinh dự rất hiếm hoi, mỗi xã năm bảy ngàn người mới được một vài em.

Trốn đâu, chạy đâu, kiếm đâu ra tiền hối lộ, chữ nghĩa đâu khi ra Bắc với học lực mới thoát mù chữ và lứa tuổi quá lớn? Ở miền Nam bỗng hiện ra những em bé mười bốn tuổi cao một mét sáu và nặng sáu chục ký, những ông già cầm thẻ cử tri năm mươi tuổi mà mới kịp nuôi một chòm ria mép lưa thưa, như cùng thi nhau đóng kịch mà diễn viên tự kiếm tiền trả cho bọn cảnh sát chuyên lùng đám “trốn quân dịch”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #244 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2016, 03:13:45 pm »

Tiếng gà rừng gáy te te giọng thanh thé. Cà Chanh biết chừng một giờ sau sẽ được nghe tiếng hú của vượn gọi sáng trên các đỉnh cây cao. Ông “cụ Thượng” sống với chúng nó nhiều năm rồi, từ tiếng chim “Có bóp thì bóp” cho đến khi lũ chim bồ chao kéo bày cãi nhau trong bụi rậm với tia nắng đầu tiên.

Bữa tiệc tiễn đưa tối qua chợt nhớ lại khiến Chanh bật cười khẽ. Anh Tô Xáng treo võng ngay cạnh lên tiếng ngay, tỉnh rụi:

- Cũng không cưa gỗ được chút nào hả?

- Anh kéo bộ một ngày dốc mới phải cưa. Tôi ở lại mặc súc li bì... Nhớ bữa cơm chiều mà tức cười.

- Khá quá chớ sao lại cười?

- Thôi, ông cai lục lộ rán chợp mắt một lát. Dốc Quảng Nam, gan cộng sản, coi thử ai hơn ai. Ông đổ xuống lại làm khổ anh em.

- Còn khuya!

Ông Bát Đập cãi gượng tí chút, rồi bắt đầu thở đều, chắc giả vờ ngủ cho Chanh vui bụng. Từ trưa hôm qua, biên bản bàn giao đã được ký, và đồng chí quyền bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị cho anh phải ngủ thêm trước khi lên đường... Tội nghiệp thằng Chanh! Lỡ nó gục xuống, ai sẽ thay nó, cái thằng đặc giống Quảng Nam hay cãi, bao giờ cạn lý mới chịu thua, nhưng đã chịu thua thì chẳng ai làm được hơn nó? Đáng lẽ nó đi họp Đại hội Ba của Đảng mới phải, nhưng tỉnh ủy đã bỏ phiếu kín, anh hơn nó chỉ hai phiếu, dù anh đã gặp riêng từng đồng chí để xin phiếu cho nó. Thôi giẹp, giẹp hết, đi là đi, nó hi sinh sẽ có người thay. Nhưng ai thay, ai thay được một đứa như nó?

Cả Chanh không ngủ được, mà nghĩ đến chuyện khác xa anh Xáng. Sau hai giờ làm việc với anh Hai Thỉnh và đồng chí Pheng-anh Thỉnh sang để cùng đi với anh “cai lục lộ”, anh Pheng qua biên giới bắt liên lạc với ta-Chanh xuống bếp bên suối xem bữa cơm tiễn đưa ra sao.

Bác cấp dưỡng ngoài ngũ thập, rời nhà lên núi, khoe với Chanh là tự bỏ ra một bộ bà ba đen vợ từ đồng bằng mới gửi lên, đổi được một chú cầy ngót mười ki-lô, nấu bảy món đãi khách. “Tuyệt vời, tuyệt diệu, ăn vô bảy ngày còn thơm trong miệng”. Chanh điếng người, chẳng lẽ làm bác ấy cụt hứng, nhưng người khách Lào không quen ăn chó. Hỏi một lát, hóa ra anh em đi tát vũng hôm kia đã ăn tất cả các thứ cá vảy trắng, cá tràu, cá rô, còn năm bảy con cá trê thả ngâm cho nhả chất bẩn, chưa ăn. “thứ cá ở hố mả, dơ lắm, ngâm vài ngày chưa sạch đâu”. Chanh tự tay lóc thịt thứ pa-đúk, băm sống, bảo anh chị em cơ quan rang cháy và giã mịn bột nếp, kiếm rau thơm, đồ xôi-anh chị em cơ quan chán ngấy sắn luộc và củ mài luộc, đã nghĩ ra hàng chục kiểu ăn, trong đó có món xôi đồ với gạo nếp rẫy. Bữa cơm thết khách vắng món thịt chó nhưng có những đĩa lạp cá trê sống, bát canh măng nêm lá da nang, xôi nếp kèm củ mài thơm ngọt, anh Pheng vừa ăn vừa khen mãi. Anh Tô Xáng không quen các món Lào, được cho ăn lạp khụa, là cá trê băm sống đã kho lại cho chín. Và cái khoản rượu tà-vạc đặc sản vùng Cà-tu này bốc men nhẹ, vị ngọt và đắng như bia đậm, anh em đã cõng về căn lều cả một ché, nhậu suốt ba tiếng không hết hai phần ba.

Sắp chia tay rồi. Cuộc chia tay dưới bom đạn, giữa vòng vây của Mỹ và các đạo quân ngụy giăng khắp Đông Dương, luôn luôn có thể là lần vĩnh biệt. Cả bốn đồng chí trằn trọc trong lều giữ rẫy, trên võng và trên sạp tre đều biết cần ngủ để mai leo dốc sớm, nhưng không ai ngủ được, không ai nỡ ngủ, mà ai cũng phải giả vờ ngủ.

Rồi cuối cùng các đôi vượn vẫn hú tìm nhau trên ngọn cây cao. Từng người được giải thoát, nhỏm dậy vươn vai ngáp, tuy suốt đêm chưa từng chợp mắt. Bác cấp dưỡng khệ nệ xách lên lều một gùi cơm nắm trong lá chuối hơ héo, một chùm ống tre lồ-ô đầy nước chè rừng có quai đeo vai bằng mây đan. Chắc bác cũng không hề ngủ.

Anh Pheng sẽ ra đi với một tổ trinh sát của ta, xoi đường liên lạc từ vùng núi Quảng Nam với tỉnh Miền Đông của các bạn Pa-thẹt Lao, cái tên lẩm cẩm bị đưa vào hiệp định Giơ-ne-vơ. Tên gì cũng được, chỉ cần dân Lào hiểu đó là Lao Cụ-xạt (Cứu quốc), là Lao It-xa-la (Giải phóng Lào). Đặt ra bao nhiêu tên mới, như đám chính khách Lào làm không ngớt, người Lào chỉ cần nghe cái tên gốc của những người cách mạng gốc, là đủ hiểu ai là cách mạng giả, ai thật.

Anh Bát Đập sẽ ra đi theo giao liên cùng anh Hai Thỉnh ra Bắc dự Đại hội Ba của Đảng, mang theo lời hăm dọa và lòng tin yêu của tỉnh ủy Quảng Nam, trước hết là của Cả Chanh. Cả gia đình anh đang bị địch quy khu ở Tam Kỳ, có thể bị địch giết sạch trong mấy phút. Chị Xáng không tập kết được vì vướng bầy con, sau đình chiến còn thêm hai cháu ngoại nữa. Cũng như vợ con Cả Chanh, chị bị giữ chắc, hăm dọa liên miên, nhưng chưa bị bỏ bao thả sông chỉ vì địch cần chị làm con tin.

Giao liên đến, một đồng chí đoàn viên Thanh niên Lao động người Ve mới “hai chục mùa rẫy”. Anh Tô Xáng ngẩn mặt ra như sợ quên cái gì, vẫy Chanh ra góc suối vắng, nói lại đến lần thứ bao nhiêu không nhớ:

- Hễ Trung ương kêu thì mày phải ra Bắc. Ra thì đem vợ con theo, chớ có bỏ lại. Không nghe lời, tao tẩy chay mày.

- Còn vợ con anh, vợ con Năm Chò, thí hết cho địch à?

- Thằng lỳ, lỳ vừa vừa chớ...

Anh đặt hai tay trên vai Chanh, nấc dồn trong cổ, bỗng ôm ghì Chanh, cọ bộ râu mép cứng rậm vào má Chanh. Qua bấy nhiêu năm cùng làm Cách mạng tháng Tám, cùng đánh Pháp ở nhiều mặt trận, cùng cãi nhau những trận nảy lửa sau đình chiến, cái thằng tự gọi là “phu xe lửa” này đang gánh trên vai những gì anh trút lại sau khi Trung ương nhận là nó đúng. Miền Nam phải tự vệ bằng võ trang, nếu không Đảng  bộ miền Nam sẽ bị tiêu diệt trong cuộc chiến tranh một phía.

Và ngay lúc này, anh Xáng lại phải ra đi, nhấc gánh đặt sang người không ngớt cãi lại mình trong nhiều năm. Gặp anh Bảy Quý, “ông già Cửa Đại” đã luống  tuổi, anh sẽ trả lời sao nếu bị hỏi: “Thằng Chanh chết, nhắm ai thay được nó?”. Nói là để tập thể bầu, được thôi, nhưng chính anh Xáng sẽ bỏ phiếu bầu ai? Tắc tị. Bí rị. Chỉ mong sao nó đừng nghẻo củ từ, xuôi cẳng sáo trước khi có đứa trẻ hơn đủ sức thay nó...

Cả Chanh rất ngại những cảnh chia tay trên sân ga hồi làm hỏa xa, khi lời tiễn đưa đã nói hết, nước mắt đã ráo, mà kẻ ở người đi cứ phải ngây mặt ngó nhau trong khi xe lửa cứ ỳ ra đấy. Tiễn nhau trên núi rừng này gọn hơn nhiều. Bây giờ các đồng chí đã đi theo giao liên, khuất cả rồi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #245 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:15:26 pm »

Anh ngồi xuống một thân cây đổ ngay trước lều, chợt cảm thấy mỏi nhừ khắp thân thể, đến từng sợi gân, khớp xương, chân tóc. Dù lăn ra sạp cũng không ngủ bù được, anh biết. Đã quá lâu anh không còn biết giải trí, họa chăng chỉ đỡ căng đầu khi làm rẫy, kiếm măng rau, soát bẫy thú, đan gùi hay lek trong ánh lửa bếp hay que thông nhựa.

Bàn tay trái anh buông thõng bỗng âm ấm, ướt dần. Chanh cúi xem. Con chó của anh biếu anh Xáng ở lại với anh, vẫn nhớ chủ cũ, liếm tay chủ, nhận theo anh.

Con Dồ, chó săn nòi của ông Tư Chua, bị thằng Ba Mít tức Hùng Minh đòi giết trong mấy năm đầu kháng chiến. “Cả nước được lệnh giết chó để du kích dễ đánh giặc. Bác là chủ tịch xã phải gương mẫu trước chớ!”. Ông Tư Chua không nỡ xử tử con chó tuyệt khôn của mình, mang nó lên gửi làng Thượng cho anh Tơ-rin nuôi hộ. Nó lấy vợ trên ấy, một cô chó vàng giữ nhà rất xinh đẹp, đẻ hai đợt được hơn chục con. Chồng là chó săn lông xanh lá, chuyên săn thú dữ, vợ là chó giữ làng suốt đêm thức đuổi chồn cáo, hai giống gặp nhau sinh được lũ con được cả làng ưa thích. Ông Tư chọn được ba con khôn nhất, một ông nuôi, một cho Tư Quýt, một cho Cả Chanh. Con chó Cả Chanh được cả cơ quan xúm vào tập luyện, nó như con chó xiếc, gần như hiểu tiếng người: nó đi hai chân, vẫy tay bao lần thì nó sủa bấy nhiêu tiếng, anh em đi đâu nó chạy trước chừng trăm thước, gặp “mùi ta” thì không sủa, quay lại rít khẽ báo hiệu, ngửi mùi địch là ka-ki dày ngấm mồ hôi và xà-phòng lạ thì vừa lùi vừa sủa vang ầm, địch có bắn thì nó bò thấp trở về. Gia tài anh Tô Xáng để lại quý nhất là Dồ Con, và nó quen sống với hai ông chủ, chỉ cần Cả Chanh xua tay và anh Xáng gọi là nó biết phải đi trinh sát cho ông chủ nào. Từ khi nó lập công cứu cơ quan tỉnh thoát một trận tập kích-gián điệp dẫn một đại đội biệt kích định đánh úp lúc tờ mờ sáng - Dồ Con được xếp hẳn vào làm nhân viên cơ quan, lãnh xuất ăn như người, dự chung mâm với người. Nó chỉ ngạc nhiên vài lần đầu, sau đó khi nghe mõ báo cơm nó cũng chĩnh chện đến ngồi vào mâm, hơi lùi về mé sau ra vẻ khiêm tốn, chờ suất ăn của nó được dọn và nhận câu mời đùa của bác cấp dưỡng gấp mười tuổi nó: “Mời cậu Dồ Con cầm đũa trước”. Nó thò mõm kéo cái mẹt và cái máng tre đựng suất của nó lùi ra sau nửa sải tay, ăn không chừa một hột cơm vãi.

Mỗi người khách đến cơ quan thường phải nghe vài ba lần kể thành tích của Dồ Con. Trong trận tập kích nói trên, nó nghe tiếng giầy rừng sột soạt từ xa, chỉ lẳng lặng bò sát đất ra đánh hơi. Đúng mùi địch chẳng sai, chúng tiến vào rất chậm vì phải đợi tảng sáng mới nổ súng, cho khỏi bắn lầm nhau. Nó lặng lẽ vào lán cơ quan, cắn tay áo hay góc võng từng người một đánh thức dậy không hề gây tiếng động, chỉ rít khẽ trong mũi. Nửa giờ sau, địch bắn pháo hiệu loe lóe, nổ súng như bão vào cơ quan, lao vào kiếm tai hoặc đầu cộng sản lãnh thưởng, thì bốn căn lều lợp lá mây, lá tà-vạc, tranh, lau, đều trống hoang toàng. Địch chỉ còn biết chọc thủng mấy cái soong nhôm gần nát, quật vỡ một mớ ống tre chứa nước hay thức ăn, châm lửa đốt các lều để về treo ảnh làm “Lễ chiến thắng” và kiếm tiền tiêu thêm. Dồ Con được từng anh chị em ôm ghì hôn hít, nó hiểu công lao hay không chẳng biết, chỉ biết là ai cũng thương yêu nó. Con số yêu thương được nâng lên ba người: ông Thượng có râu, ông Râu mép, ông Râu mép in ít thôi không thấy trở về, thường nghe gọi là anh Chẩn, mỗi lúc rảnh lại gọi nó ra bờ suối tập vô số trò lạ, sau đó lại tắm xà-phòng cho nó và cho một món ngon gì đấy để dành trong bao lưng. Ông Chẩn này không thấy trở lại. Ông đi đâu, ai biết được?

- Dồ ơi, lên đây con!

Giọng ông chủ Chanh sáng nay sao mà dịu, mà buồn. Nó đợi tí nữa, thì ông Thượng nhiều râu và nồng mùi khói củi vỗ tay trên sạp, mới nhảy lên sạp tre thật nhẹ, nép mình bên Chanh, khẽ hít và rên trong mũi để nhận chủ. Và khi ông chủ có mùi bếp Thượng rất đậm vòng cánh tay phải ôm nó, Dồ Con hiểu ngay rằng nó sẽ sống rất lâu với người đã ẵm nó từ khi nhỏ xíu, nhường nó cho nhiều ông chủ khác mà vẫn yêu thương nó. Mãi khi ông chủ Thượng đã ngáy phì phò, nó vẫn lặng lẽ liếm tay Chanh.

Cả Chanh lại leo núi trở về cánh Nam Quảng Nam, với Dồ Con chạy trước chừng trăm thước dò đường, với ba đồng chí tỉnh ủy về các huyện kể thuộc lòng nghị quyết mới. Nhớ đến đâu nói đến đấy, không được mang tài liệu theo người. Anh dùng dằng đôi chút khi đến trạm giao liên Bà-lam, nơi thường phóng cơ sở Thượng xuống nhà anh với mảnh cuội dẹt đập vỡ đôi làm tín hiệu. Nhưng cả đoàn cùng  đi đã buộc anh ở lại thăm nhà. Ai cũng biết Hai Thùy và Chanh thương yêu nhau kinh khủng, đã hai con với nhau mà như vợ chồng mới cưới, chẳng giống các đồng chí cao tuổi được cha mẹ đi hỏi vợ khi còn nhỏ, hay những cậu trẻ yêu vợ đấy nhưng coi đó là tầm thường, yếu đuối, ai nhắc tới lại gạt phắt. Còn Cả Chanh với chị Thùy không một lần che giấu tình vợ chồng, trước mặt bọn địch buộc phải “ly hôn cộng sản” cũng như trước những ông bà cán bộ chê trách “tình cảm cá nhân” khi đất nước ly loạn. “Tôi yêu vợ tôi chớ không mê vợ người khác. Hai chúng tôi sống nay chết mai, hễ sai chỗ nào xin các đồng chí cứ nói”, và chẳng ai nói được gì cho ra lẽ. Và vợ chồng Cả Chanh cứ yêu.

Lần này Thùy không lên núi, mà gửi con em Út Thanh Yên bồng con lên cho ba nó thỏa lòng hôn hít. Chị không chịu ký giấy ly hôn đã in mẫu sẵn, với thằng trưởng ban tố cộng và Ba Mít ngồi hờm sẵn trước mặt. “Giết tôi thì giết đi, chẳng sá gì một mạng cho thợ may nghèo đói”. Bọn địch không dám giết, không dám đẩy chị đi tù xa, không dám đẩy chị vào những lớp tố cộng gay gắt nhất, bởi chúng nó sợ. Các mũi súng của Giải phóng đã đẩy đạn lên nòng, chĩa vào những kẻ trước hết được xếp loại ác ôn. Ba Mít sợ. Cả Hội đồng xã sợ. Bọn lính Bảo an bị đưa lên xứ núi Linh Lâm, đóng đồn mới ở ngã tư sông Linh gặp đường 56, đều sợ. Kiếm được gì, bọn xã quận hưởng hết. Bọn Bảo an do tỉnh đưa lên lập đồn chỉ ăn đạn chứ ăn gì. Dân vệ, thôn vệ chỉ vặn cổ trộm gà, chụp bao cát đựng tro trộm heo, và hứng chịu vô số tràng chửi rủa, đúng có và oan cũng chẳng ít.

Cả Chanh thất vọng khi thấy Út Thanh yên cõng con Thanh Bình đến trạm Bà-Lam, chỉ trong vài phút thôi. Rồi anh vồ lấy đứa con gái thứ hai đã ra đời thay thằng con đầu chết cháy đã làm vợ anh loạn óc. Con bé Thanh Bình của anh tính đủ năm đã lên chín, đi mỏi lại bắt o út cõng, gây giờ thụt lùi mãi như trâu mới vực thấy ách trước cái ông râu tóc rậm rì và bốc mùi khét, dù Chanh đã thay mặc bà ba, bỏ khố và tấm dồ nhuộm chàm. Mỗi lần dầm mưa hay ngã xuống suối, lại một lần hong lửa bếp, tẩm vào than và áo quần thêm một lớp khói củi đọng thành mồ hóng.

Chanh ôm con. Nó giãy ra, kêu o út, réo đòi mẹ. Anh ứa nước mắt vài lần, tự lau kín đáo, nhưng không giấu được con Út Thanh Yên. Nó mười bảy tuổi, đi liên lạc và tiếp tế cho ta suốt ba năm qua. Nó nói đĩnh đạc đến nỗi Chanh sửng sốt:

- Em quen mấy anh tập kết về, trên núi xuống, con nít sanh sau đâu biết cha nó là ai. Anh đừng phiền tụi nhỏ, về sau tự nó thương nhó đi tìm cha mẹ đó anh... Chị Thùy bị Ban tố cộng kêu xuống chợ Huề Bình từ sáng tới giờ chưa về...

Tim Chanh nẩy mạnh trong ngực. Anh ngừng thở, định hỏi, nhưng nghẹn họng không nói được. Còn may trời đã nhá nhem trước cửa hang đá, Thanh Yên không thấy mặt tái dần, thong thả tiếp:

- Cha với chị Năm coi giấy hôm qua, hoảng lắm. Cũng tính theo chị Hai xuống xã coi tụi nó giở trò gì, mà bị xếp loại A tình nghi can cứu, nó bắt trụm cả gói, mà cũng không được phép ra khỏi thôn. Em phải lo cho con Bình, con Lúa... chắc anh nhớ, nó là con chị Năm với anh Chò... Vậy mới nhớ đến anh Bảy Bòng. Anh đưa trung đội dân vệ lên ráp cộng sản ở mấy dương gò dọc sông Linh, về nhậu ở chợ Linh Lâm. Em chạy tới kêu ảnh, trúng bữa nhậu. Ảnh kéo em vô quán, biểu rót rượu cho đầy ly hết thảy, rồi nói trước mặt dân vệ, hội đồng xã, đứng dậy giơ ly lên nói tỉnh rụi, chắc không say đâu: “Con em tôi báo tin Ban tố cộng quận Tây Quảng đạt lệnh bắt chị Hai Thùy sáng mai xuống nghe cái gì đó. Tôi sẽ chở chị Hai xuống xã bằng xe đạp, ngồi đó cả ngày với cây Bar, năm trăm đạn... cả nhà tôi, tính hết quốc gia với cộng sản, tôi phục nhứt là anh Cả Chanh, thương nhứt là chị Hai Thùy, ghét thằng đần nhứt mà tham nhứt là thằng Tư Quýt, vừa bực vừa thương là cha tôi với chị Năm Nhím. Mẹ tôi xin để ngoài vòng... Mai, đứa nào muốn tâu nịnh với cấp trên cứ việc tâu, tôi đi tù năm ba năm cũng chẳng sao, khi về sẽ nói với nhau bằng thuốc nổ. Tôi leo núi lùng Cộng sản trước mắt các chiến hữu, đổ mồ hôi sôi nước mắt chớ không phải ngồi bàn giấy ôm con dấu như ông Hùng Minh kia, ăn hối lộ như mỏ khoét, theo Việt Minh rồi phản Việt Minh, theo quốc gia rồi chưa biết ngày nào phản quốc gia...”. Lạ thiệt đó anh, ai cũng vỗ tay hết, thằng Ba Mít trở cờ cũng bộp bộp mấy tiếng. Em tưởng ảnh nói rồi quên, mà mới sáng sớm ảnh đã đi cái xe bình bịch của quận cấp cho xã, tới đón chị Hai, đằng sau cột một cây trung liên với cái ba- lô đạn to tướng. Ảnh nói với cha: “Con chĩa súng vô mặt nhau, chẳng ai nể ai, con út nhỏ nhắc lại mấy lời anh nói hôm qua cho cả nhà hiểu bụng anh. Hễ tự ý sửa, anh về vặn họng đó nghen!” Chắc tụi nó thấy anh Bảy dữ dằn vậy, không dám sanh sự đâu anh!

Cả Chanh không nghe rõ những lời cuối. Anh đang bị rối. Trong đầu anh đang thêm một con đỉa to tưởng, cỡ đỉa voi vùng bưng bên Lào đang bò quanh co mãi. Tại sao gia đình mình lại rối đến thế?

Qua hai lần về thăm nhà trong đêm khuya, mẹ đã bớt lo ngại con dâu cả Hai Thùy bỏ chồng tập kết và chịu ký giấy ly hôn theo lệnh chính quyền mới, bớt nói “chặn họng” trước vì hiểu lầm, vì con dâu thờ đạo Chúa Trời sẽ vất hết bài vị ông bà cha mẹ ra vườn hay xuống ao. Hai Thùy cười rất lành: “Bà con thờ Chúa là tại ông bà biểu thờ. Anh Chanh với con có thờ ai đâu? Tụi con thờ ông bà cha mẹ, là những người có sống thiệt, có công sanh thành dưỡng dục đối với tụi con, mẹ thấy sai chỗ nào?”. Tất nhiên là không sai. Bà mẹ chồng chỉ thêm là nên thờ Phật để tu tâm dưỡng tánh. Chỉ mươi ngày sau, lá cờ năm màu và tờ phái đã được bày trong nhà Hai Thùy. Thùy ngừng đạp máy may, vẫn cười nhẹ: “Con rước Phật về nhà, chớ không rước Pháp với Tăng đâu. Rước đủ Tam pháp bảo, phải đợi anh Cả quyết định. Hồi nào ảnh về, mẹ hỏi giùm con”.

Nụ cười hiền của Hai Thùy đã tước võ khí tất cả những ai không ưa vợ chồng Chanh, kể cả những ai đầy thù hận đối với cộng sản, với kháng chiến, với cả “bọn theo đạo Chúa bỏ ông bà”. Còn đối với bà mẹ chồng đầy nghi ngờ và bắt đầu khắc nghiệt, chiều ý Cả Chanh là hợp đạo tam tòng. Trong đêm về thăm nhà, Cả Chanh vẫn mang bộ lốt lởm chởm râu tóc của ông già Thượng, nhưng mỗi lời của anh được coi như lời của cách mạng, chỉ có Bảy Bòng vắng mặt và Tư Quýt tranh gia tài không muốn gặp. Bà Chanh thấy mình đã xử oan đối với con dâu, cũng rầu với thói tham vặt của Tư Quýt và cái giọng hợm giàu của Ba Song, ngày càng đến với Hai Thùy nhiều hơn, tuy vẫn ở nhà vườn cũ để “giữ phần cho thằng Cả”, và hay đánh tiếng với chòm xóm là ông Tư Rèn dạo này cần được bà coi ngó nhiều hơn, xuống sức lắm.

Thế nhưng Cả Chanh xót xa nhất vì một mũi gai không ai biết: dường như cả nhà anh và vợ con anh đều chịu ơn che chở của Bảy Bòng, đứa em đã bỏ kháng chiến theo quân ngụy, nay là thượng sĩ quân Bảo an, cảnh sát trưởng xã, đảng viên Cần lao nhân vị của Diệm-Nhu, được cơ sở ta xếp loại ác ôn phải xử tử. Bảy Bồng che chở cho gia đình vì chưa cạn hết tính người, nhưng nó săn lùng cộng sản ráo riết, sẵn sàng chặt đầu cắt tai kiếm thưởng, còn thêm tin đồn là nó nhiều lần ăn gan và uống rượu máu cộng sản. Thật không? Thật không hở trời? Tại sao cách mạng đã lép vế đến cái độ cả một nhà theo cách mạng bấy nhiêu năm bỗng phải núp bóng một “ác ôn phò trợ”? Về sau anh em gặp lại nhau, bốn đốm lửa mắt xói vào nhau, hai họng súng chĩa vào nhau, ai sẽ bóp cò trước một giây?

Khi phút ấy đến, Chanh có run tay vì nhớ Bảy Bòng phục anh nhất, quý chị Hai Thùy nhất, và đã xử sự y hệt như lời? Phần anh, phần anh là thế, nhưng thằng em bóp cò trước thì sao? Lúc này anh là quyền bí thư tỉnh ủy, anh chết là sự rất thường, nhưng ai sẽ lo cho bấy nhiêu đồng chí, cơ sở, hơn một triệu đồng bào đang cần đến anh? Chết và sống đối với anh từ lâu đã lùi rất xa mọi thứ lo toan, nhường chỗ cho hàng chục hàng trăm mối lo lớn hơn, xa hơn, như các đồng chí đi trước hay nhắc: “Sống hay chết là phụ, làm trọn nhiệm vụ trước Dân trước Đảng mới là chuyện chính. Xin bàn vô chuyện chính”.

Con bé Thanh Bình nhất quyết không chịu ăn các thứ mà ông già Thượng hôi khét lòm kia bày trước mặt nó. Cơm gì mà nấu trong ống tre, nặc mùi ruột tre? Cái bánh nếp lột ra dỗ nó ăn, nhân chuối ngon ngọt chứ không phải bánh tét mẹ nó làm? Bát canh của ông già Thượng cũng hôi rình thứ lá cây gì trên núi? Nó kéo áo o út đòi về mãi không được, o út nói chuyện mê mải, nó lăn ra sạp ngủ thiếp lúc nào chẳng biết, người lớn hay bàn nhau những chuyện chẳng ai muốn nghe.

Rất khuya, bị cơn đói đánh thức dậy, nó lờ mờ nhớ o út đã đưa nó lên núi và buộc nó gọi một ông già Thượng lạ mặt là “Ba con đó”. Và khi mẹ ôm ghì nó, nức nở: “Con gặp ba con, không biết à?”, nó bỗng ôm lại mẹ, con biết chớ, mà ba khác quá. Mẹ cho con lên núi gặp lại ba, con khờ quá mẹ ơi, chắc ba ghét con lắm, con gặp lại cho ba đừng ghét nữa. Mẹ lau mắt, chỉ nói thêm: anh Tuấn con chết bom rồi, ba với mẹ còn một đứa là con, ba ghét sao được? Ba buồn thì chắc là buồn, thôi rán chịu, về sau con làm cho ba vui là được. Con nghe lời ba với mẹ là cả nhà mình vui nhứt.

Sáng hôm sau, Chanh lại dậy theo tiếng vượn hú trên vách đá, ăn uống cơm lam bị con hất ra khỏi tay, mang theo khúc bánh tét nhân chuối đã bóc ra phải gói lại, thay mặc cái khố và tấm dồ choàng, chống ngược cây giáo để xốc gùi đứng dậy. Con chó Dồ dò đường chừng trăm thước đàng trước, tới cậu giao liên cầm cái ná to và đeo hai ống tên, tới Chanh cõng gùi bằng đôi vai gò xuống như cái gùi bỗng trở nên quá nặng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #246 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:16:59 pm »

*

Lò rèn ông Tư Chua đặt dưới những tán cây dầu lai già, mé sau nhà ở của Cả Chanh vài chục thước, vừa đủ chống cháy lan, đã được lợp thêm một lớp đất sét nhồi rơm với phân trâu, một lớp mái bằng sạp tre ngâm. Ông Tư bị vài lần hoảng khi các cháu nội ngoại của ông chơi gần lò gặp cơn gió mạnh, những quả dầu lai to gần bằng nắm tay rụng từ trên cao xuống đầu vào lưng lũ trẻ, chúng khóc ré và chạy tán loạn, may không đứa nào bị nặng, chỉ u đầu và đau vai, đau lưng.

Hồi Cả Chanh được nghỉ chữa bệnh cho Thùy và cho mình, anh thường leo lên các cây dầu lai, cưa hay chặt bớt những cành nhô ra chỗ nhà ở, chỗ đi lại, khỏi lo trái rụng trên đầu. Qua chục năm, chẳng ai lo chuyện vặt ấy nữa, khi lò rèn chưa có và lũ trẻ còn nằm trong nôi. Bây giờ khác rồi.

Ông Tư đi hỏi mua tre, chẳng nhà nào nhận bán nhà treo bảng đen loại A tình nghi can cứu. Ông mướn người giúp leo cây, sửa mái, chẳng ai nhận thuê. Nhưng chỉ một vài hôm sau, dân Linh Lâm đến nhà ông, vác theo vài cây tre mà ông biết đã ngâm tới mọc rong rêu, ném uỳnh xuống, nói to là trả công rèn cuốc rựa gì đó mà ông chưa hề làm cho họ. Đống tre chất cao đến nỗi thằng Ba Mít đại diện xã phải đến căn vặn hồi lâu. Còn những đám trẻ không nhận ông thuê, lại đến vì không đủ tiền trả công rèn, nói phải làm một buổi thay cho một ang lúa nhưng nấn ná tới ba ngày, năm ngày. Rốt cuộc, ông chỉ tốn mấy bó chè tươi và mấy xấp thuốc Thượng, mà cả lò rèn lẫn nhà ở đều đổi mới.

Dường như cả cái làng Linh Lâm này phải tập trí trá. Giặc ở xã, ở quận, giặc chống cộng nằm ngay trong nhà ông Tư Chua và anh Cả Chanh. Không biết bao lần có một người Kinh hay Thượng bỗng mang tiền, mang đùi heo rừng, mang quế đến tiệm may chị Hai, ném vào đấy, nói là trả công may, dù Thùy xem sổ ghi hằng ngày không hề có tên họ. Ngay cả những thôn xóm công giáo di cư cũng dần dà quen cái nếp “trả nợ khống” như thế, tuy có nhiều vị chánh trương, trùm trưởng đã trình Cha và báo cáo con chiên biết Hai Thùy là đứa bỏ đạo, không đạo, lấy thằng chồng cộng sản “vô Tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo thần linh”. Nhưng họ vẫn ngoảnh lưng đối với các tiệm may di cư, đến may ở tiệm chị Hai. Chị may kỹ, giá phải chăng, cho thiếu nợ, và chẳng thấy khô khan với ai cả, dù đã rước cờ Phật và tờ phái của đạo Phật về nhà theo ý muốn của nhà chồng. Mình may đồ cho mình, cho chồng con, chớ có may cờ cho đạo nào đâu. Và cứ thế họ kéo đến tiệm may chị Hai, lò rèn ông Tư, bỏ sau lưng những đồng đạo vừa tham vừa vụng. Dần dà nữa, họ ngồi kể lể dây mơ rễ má với cả nhà “thân cộng”, có biển treo đàng trước, trong khi chờ may đồ hay sửa thứ gì bằng sắt thép.

Cộng sản xấu ở đâu chẳng biết, nhưng cộng nhà này thì dễ thân, dễ gần, thật thà tốt bụng. Dân Linh Lâm biết thế từ lâu, nay dân công giáo “theo Chúa vào Nam” cũng nhận ra thế.

Sáng nay tiếng búa lò rèn ông Tư nổi lên sớm. Không phải ba thứ tiếng búa quen nghe của ông Tư rèn lớn, tiếng búa nhẹ hơn của con cháu hay đám trai trẻ làm nguội những  thứ rèn xong, tiếng gõ đập vô tội vạ của bà con đến lò tự sửa đồ sắt hỏng. Tiếng búa sớm nay dịu nhẹ như thợ kim hoàn đập vàng bạc khi mạnh nhất cũng chỉ bằng thợ dát nồi đồng hay thợ gò đồ nhôm đi rong kiếm việc.

Tiếng búa lạ ấy là của Năm Bưởi.

Ông Tư cùng một thợ phụ đi đốt than, bỏ lò vắng. Bưởi đã tập cho con Thanh Bình biết thổi bễ hai ống đều tay, nó làm được khá. Sau nhiều năm ở tù, nhiều đợt tra tấn quá dữ, Bưởi về nhà với thân hình còm cõi, hay khạc ra máu, mang thêm nỗi đau phải trả thằng Chung cho Hai Khánh, cha nó. Cô xã đội ngổ ngáo năm xưa, với gò má nhọn và nhiều mụn cá, dám ngồi rèn hay đánh búa chẳng thua ai, đi đâu cũng khoác cây súng kỵ binh Nhật, lý sự đến mức bị gọi lóng là Năm Nhím. Nay chỉ là người đàn bà khặc khừ, xếp loại A bảng đen, cấm ra khỏi thôn, mà không cấm cũng không tự đi nổi.

Hai người đã vực Năm Bưởi sống lại: ông Tư và chị Thùy.

Cha với chị thắt lưng mình và bóp miệng con cháu để chạy thuốc thang cho Bưởi ra sao, chị biết hết. Hễ nói thì bị gạt ngay: nói bậy, nhà ăn mặc đủ hết, còn người còn của...

Và Năm Bưởi khỏe lại sau nhiều tháng được săn sóc. Năm lân la ghé chỗ bàn may chị Thùy, thùa khuy, khâu cúc, đuổi đi chẳng được. Năm lo ăn uống giặt giũ cho con mình, con chị hai. Rồi lo hết việc nhà cho cha với chị rảnh tay làm ăn. Hôm nay, khi cha vắng lò, Năm muốn thử lại mình mà không bị đuổi.

Con dao cau lưỡi mỏng cán dài, phải rất sắc, cha nhận làm một chục, thép có đấy nhưng việc quá nhiều. Bưởi thử sức bằng thứ dao ít nặng công nhưng cần tay khéo. Cha mua rẻ được mớ thép phế thải của xe quân sự, xe Gip hay Uy-lít Mỹ, đã chặt khúc để sẵn. Bưởi ngồi lò một mình, chỉ cần nhắc con Binh tăng giảm mức thổi bễ, tự đập bằng  búa tay là vừa, mệt đâu nghỉ đấy. Bộ phổi tốt hơn trước, máu không ra theo đờm nữa, chỉ từng  lúc khó thở cần ngưng tay.

Con Bình nhắc Bưởi nhiều lần trong khi thụt bễ:

- Nghỉ đi o. Mặt o tái rồi kia. Ông với mẹ cấm o rồi mà!

- Sức mấy mà cấm con Năm Nhím!

- Sao lại Nhím? Nhím là ai, o?

Bưởi cười, nghỉ uống nước mấy phút, lại rèn tiếp.

Tối ấy, ông Tư gánh đôi giỏ than trĩu đòn về lò, thấy một chục lưỡi dao cau đã rèn và làm nguội xong, đúng  “mác lò ông Tư”, chỉ còn phải đóng cán gỗ, cái đó thì Bưởi còn vụng lắm.

Ông Tư không bao giờ để con cháu thấy mình yếu lòng. Ông xuống suối tắm xong, lên vặn cổ một con gà mái tơ, tự mình hầm một nồi cháo gà với nếp, buộc Năm Bưởi phải ăn ít nhứt hai tô, nếu chưa hết thì ông không cầm đũa.

Bà Tư bỗng sang thăm con cháu. Ông lại ép ăn. “Mấy tháng nay mới nấu một gà, đừng tiếc nghe bà!”.

Từ hôm ấy, việc cơm nước trong nhà được giao cho con Thanh Bình, chỉ bày vẽ vài lần là nó thạo từng bước: nấu cơm, luộc rau, hâm cá, đun canh. Các thứ gì rắc rối đã có người lớn nhắc, nó nghe và nhẩm đến thuộc lòng. Nó làm việc nhà với ý nghĩ ám ảnh: cha lội rừng rúc núi, mẹ thức khuya may đồ, ông nội với các o xúm lo cho nó ăn no ngủ ấm, nó lại nỡ hắt hủi ông già nhiều râu tóc mà o Út gọi là cha nó. Phải chuộc tội, chuộc tội.

Năm Bưởi trong bữa cơm chung được nghe nhiều lời can ngăn, rốt lại ông Tư phong  cho chị một chức mà Xưởng quân giỏi CK.II rất nể: kiểm tra kỹ thuật.

Hồi ấy, có những  anh chỉ huy nóng tính đã cùng  đi với lính gánh trả mìn điếc, lựu đạn câm, đạn tịt hay nổ phá nòng, đến ngay chỗ làm việc của Ban lãnh đạo xưởng, quát tháo và rút súng lục dọa, xong rồi tự tay đập từng trái lựu đạn hay giật từng quả mìn chục ki-lô, vất dưới các thứ bàn ghế bằng tre nứa khiến cho cả cơ quan chạy tán loạn. Ông Tư hay đến Xưởng, có lần phải nhào tới ôm ghì một anh như thế, hét vào tai: “Anh chẳng nể ai, cũng  phải nể thằng chủ tịch già này chút chớ!”. Anh kia giật mình ngừng tay. Anh cáu với đồng đội chứ không bực với nhân dân, ý dân là ý trời, dân ghét thì bộ đội coi như lúa đời, tàn rụi. Và ông chủ tịch này lại có tóc hoa râm, râu chòm, nghe nói được dân tin yêu lắm. Ông Tư dắt tay anh tiểu đoàn trưởng hùng hổ kia về nhà, mời anh một bữa tối có thịt khỉ và cá chình sông Linh-ngon bằng mười cá chình biển. Sáng sau, anh ra về sau khi chắp hai tay vái ông Tư : “Ba cho con cơm tối cơm sáng, con vái một vái. Ba cho con một bài học về tình nghĩa đồng chí, xin cho con thêm ba vái nữa.. Con thề xin chừa cái thói hung dữ”. Vài tháng sau, một đồng đội của anh mang đến một gói to kèm mấy chữ run rẩy: “Con còn sống vài giờ nữa thôi, con xin được ba nhận làm ba nuôi. Con gởi ba chút kỷ niệm đời lính nghèo không có gì hơn, ba nhận cho con đỡ tủi thân. Ba nói giùm con thương quý cả nhà. Con sắp chết, chữ khó đọc, ba… biểu... đọc ba nghe... Con đi đây...”. Ông Tư chồm lên, đòi đi đám tang. Không có tang. Anh tiểu đoàn trưởng đánh Tây trên đèo Hải Vân, cho quân về trước để nắm trung đội chặn hậu, trúng bom tan xác. Tây nó ném các mảnh xác còn lại xuống biển hết cho đỡ thối, đơn vị chỉ làm lễ truy điệu khi được tin đích xác là anh đã chết. Ông Tư hỏi từng tí, bởi tên thật anh tự nhận làm con nuôi ông cũng chưa biết. Té ra anh là người Thổ ở tận Lạng Sơn, mang cái tên thật khó đọc, vào Nam phải đổi tên Kinh cho dễ nói. Cái gói anh gửi chứa một chiếc dù sĩ quan Pháp, tốt hơn dù lính dù hàng, bốn phía đều in MADE IN USA, đồ Mỹ. Ông Tư giấu kỹ món quà, và mỗi lần thắp hương cho đứa con nuôi rơi vào tay ông như quả thị rớt bị bà già, ông lại bày các thứ dễ kiếm ở Linh Lâm như thịt khỉ, cá chình kho, nhà không sẵn thì hỏi vài ba nhà cũng kiếm được đủ cho con nuôi vui bụng.

Năm Bưởi biết mình đang kế vị những người đã bị anh con nuôi đuổi chạy, đã lập ngay tổ kỹ thuật ở xưởng để khỏi bị dọa ghê gớm như “hồi chín năm”. Làm kỹ thuật chỉ cần biết nhiều, tinh mắt, giữ được khách cho “mác ông Tư Chua”, thay cho các lò lôm côm làng nhàng khác. Đôi lúc chị phải tự tay đập, gọt, giũa tí chút, nhưng không phải làm nặng.

Và cứ như vậy, lò ông Tư Chua cùng tiệm chị Hai Thùy hút khách hàng về mình. Chỉ riêng Út Thanh Yên vắng nhà nhiều hơn. Trẻ con hỏi mãi, chỉ được nghe chung chung: “O út kiếm nghề làm ăn”, khi ỡm ờ thì nói: “O út bắt bồ rồi, phải kiếm chồng chớ”. Người lớn sao mà lắm chuyện khó hiểu!

Sự thật là Út Thanh Yên đã được vào Đoàn Thanh niên Lao động, xếp cảm tình Đảng, đang dự nhiều lớp về Đảng và Đoàn ở vùng núi của Tây Quảng, có thể được phép thoát ly lên xanh. Thanh Yên đã mười bảy tuổi, ai bàn sự khôn dại tùy ý, chỉ xin được vài ba năm cùng chịu đựng với các anh chị là đủ cho cả một đời khỏi nghĩ mình xa lánh đất nước, cách mạng, xa những người đáng kính yêu nhất. Cô út chỉ đủ sức nghĩ tới đó.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #247 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:21:09 pm »

Chương 7


Lá thư dài tám trang đến với Hoàng Lan như một viên ngói từ tầng bốn hay năm rơi xuống đầu. Lan sửng sốt, choáng váng đến cả tuần quên ăn ngủ, một hai giờ sáng lại bật đèn đọc lại tới bao lần không nhớ, đến thuộc lòng mà vẫn phải đọc, cố tìm bên dưới những trang giấy mỏng một con lươn, con rắn, con đỉa nào đó nằm nép ở nơi khuất kín nhất. Nhưng không tìm ra gì cả, mà chỉ gặp mấy tiếng hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc. Cái hạnh phúc vô cùng khao khát đang đến với Hoàng Lan. Anh Cam ơi, em sẽ liều hay sẽ lùi?

Lá thư viết:

Anh đang ở Nông trường Sao Vàng, Thanh Hóa. Anh Năm Chò lên đường vào Nam, cười tươi cả ngày. Anh khóc thầm vì bị từ chối chưa được vào. Sáng mai anh sẽ đi thăm các gia đình đã nuôi anh khi là lính Lục quân rày đây may đó, cũng như khi là lính 304.

Anh viết ngay một câu bấy lâu đọng dưới lưỡi, kẻo qua trang sau thì tất cả can đảm của anh sẽ rơi rụng hết: anh yêu em, anh yêu con em, anh muốn là chồng em, em có chịu làm vợ anh không? Lan ơi Lan, trả lời thật rõ đi em...


Những trang sau nhắc lại vô vàn kỷ niệm ở Sông Vệ, hay khi Lan đã lấy chồng và mang bụng chửa về nước, ra Bắc mới sinh đứa con anh Tám Thống, anh Cam từng lúc đến thăm như người bạn được cả nhà quý mến. Bạn thôi. Nhưng chồng tái giá lại rất khác, khác quá xa.
Hoàng Lan trả lời rất ngắn bằng điện tín: “Về Hà Nội bàn sau”.

Mùa hè 1960, anh Cam lang thang khắp Thanh Nghệ Tĩnh, chỉ gửi thư về. Anh xin được giấy vào Vĩnh Linh nữa. Nhưng thư nào của anh đều nhắc lại ý cũ. Hoàng Lan muốn phát điên lên mất.

Cứ gửi thư xong lại đi rong ruổi, ai muốn lấy vợ theo kiểu tài tử như anh? Khốn khổ, em lại không thể quên anh, hãy cho em được gặp anh đàng hoàng một chút chứ! Anh luôn nhắc là anh yêu em, sao không để em gặp và nói yêu anh? Lẽ nào tình yêu là độc quyền của đàn ông con trai?

Nhưng anh Tùng lớp trưởng biết tính Cam. Cuối đợt nghỉ hè, Cam vừa trở về nằm giường hai tầng trong ký túc ở Phúc Xá, anh mắt lồi đã quay điện thoại báo ngay cho Hoàng Lan, còn thêm là Sáu Cam đang buồn vì nhiều bạn vào Nam mà nó không được về vì các vết thương cũ và tay trái rất yếu, nó cần được an ủi.

Chỉ mấy câu ấy đã buộc Hoàng Lan tức tốc đạp xe lên Phúc Xá. Bãi rác hôi nồng trong tiết nắng ngày mưa đêm, khúc vào ký túc ngập bùn và không điện, Lan vác xe lên vai, xắn quần quá gối, chỉ nhớ một điều là ảnh buồn, đang cần an ủi. Ảnh đã bao lần đến với mẹ con Lan với nụ cười phớt đời của lính, ai đoán được ảnh có thể rầu rĩ?

Bác thường trực cấm Lan vào buồng sinh viên đang giờ học. Lan nhờ một cậu đi qua ghé gọi anh Sáu Cam. Tay này nháy mắt: “Ai jấn, nhi-viét -xta mới gọi được”. Chẳng hiểu tiếng Hoa tiếng Nga là gì, Lan cứ gật bừa. Năm phút sau Cam ra chỗ thường trực, vì ký túc sinh viên không bao giờ tránh gọi nhau khi tình yêu gọi, theo lệ “dễ người dễ ta”.

Cam với Lan đi quên đường, quên giờ, quá nửa đêm Cam mới giật mình, tính về leo qua tường ký túc. Lan nói đanh:

- Anh về ngủ nhà em. Sợ lắm à?

- Hàng xóm, bà Béo, con nít... anh giữ tiếng cho Lan...

- Anh chưa vợ, em góa chồng. Anh sợ về sau bị các cô Y Dược hay Sư phạm vạch tội, đúng chưa?

Thằng Nhứt gửi sang buồng chị bạn của Lan đang ngáy như cưa gỗ. Hai người về buồng Lan. Lan chỉ hỏi lại mấy câu cũ:

- Nói dứt điểm đi, anh yêu em hay thương hại mẹ con em?

- Anh yêu em, việc quái gì phải nói dối.

- Không thương hại cảnh mẹ góa con côi?

- Không. Nếu thương hại, phải thương cả triệu người khổ hơn mẹ con em trước đã. Mà anh chỉ yêu được một người là Lan.

- Về sau anh có hối không?

- Khó nói trước, còn tùy Lan nữa chứ. Bị đẩy tới chân tường anh có thể hối. Vui vẻ với nhau, biết điều với nhau, chác không ai hối. Anh hứa trước là bốc đồng, nói nhảm.

- Rất tốt, rất thẳng thắn. Đêm nay chúng mình là vợ chồng!

Lần đầu tiên trong đời, Sáu Cam biết làm chồng. Lan càng biết rõ Cam hơn, những vụng về của trai tân đối với đàn bà đã một đời chồng con rất dễ nhận ra.

Lan tỉnh giấc, thấy Cam đang nhen bếp lò đun trấu. Giấy loại, củi vụn, cái chai làm nòng đã rút, lửa đang bén trấu. Lan đến phía sau, vòng tay ôm Cam:

- Ông lính ơi, ai lôi ông dậy lập công với em?

- Ôi, lính chiến khác phóng văn lình xa lắm. Bốn giờ sáng đã bị trực ban thổi tu-huýt, chạy nhào ra sân xếp hàng “không ba sáu chín”, chậm vài phút đã bị cảnh cáo đêm, khi điểm danh.

Cam đặt ấm nước lên bếp, quay lại bế xốc Lan trên tay, đặt trên giường. Hai đôi môi gắn mãi vào nhau, đến khi Cam nhấc mặt lên, thì thào:
- Hôm nay chúng mình đi đăng ký.

Hà Nội có nhiều thứ đăng ký quá đỗi, Lan không nghĩ ra ngay.

- Đăng ký gì hả anh?

- Gái trai thì chỉ có đăng ký kết hôn thôi. Sáng nay tụi mình đi rủ bạn làm chứng, lấy giấy cơ quan xác nhận chưa vợ chưa chồng. Chiều, chờ lâu nhứt là một tiếng, cầm giấy kết hôn. Sửa soạn vài ngày, liên hoan nhẹ trà thuốc ở chỗ em, cho cánh sinh viên vui tán phét một giờ ở ký túc, xong hết!

Một luồng máu nóng rực tuôn thẳng lên mặt Hoàng Lan, quét băng đi mối lo canh cánh “mình yêu ta thật hay là yêu chơi”. Đôi má Lan đỏ hồng lên, mắt Lan óng ánh dưới làn nước nóng.

- Anh cho em nghĩ thêm...

- Nghĩ quanh, nghĩ quẩn, đâm ra nghĩ bậy!

Lan ra ngoài đánh răng, rửa mặt như người mất hồn. Gái hóa tái giá, mình chỉ trẻ hơn anh Cam nửa năm tuổi, mình già trước, mình ấn con anh Tám Thống vào tay ảnh. Hoãn binh đã. Một năm hạnh phúc, mấy chục năm chịu đựng nhau, thà Lan cứ ở góa...

- Tay cao, tay ngang, tay sau, tay trước... Hồi tĩnh, chạy thường, thở sâu... thở đúng động tác chứ cháu... Chuẩn bị tắm. Vào nhà lấy áo quần, chạy thường, chạy!

Hai chú cháu vọt ra khỏi buồng, cười rúc rích, lao vào một buồng mở cửa trong dãy nhà tắm tập thể. Lan nghe thằng Nhứt kêu lạnh, tiếp giọng Cam rất nghiêm:

- Lính Cụ Hồ không biết nóng lạnh. Chạy thường, chạy!

Mười lăm phút sau, hai chú cháu ngồi vào bữa sáng của Lan. Bánh cuốn Thanh Trì chấm nước mắm cà cuống, cán bộ lương nghèo được thế là sang. Và thằng Nhứt chỉ nói chuyện với chú Cam:

- Sao chú không về ở luôn đây với má con cháu?

- Sao hả... ờ... má cho phép, chú mới về ở được.

- Má, sao không cho phép?

Lan ngây người ra một lát mới hỏi lại:

- Con muốn chú Cam thay ba Thống không?

- Con muốn. Chú Cam vui hơn ba.. Ba chết rồi, chú về thay ba. Má bảo chú về ở với nhà mình đi má. Chú chỉ huy con hay lắm.

Lan nhờ bạn báo đi làm trễ đôi chút, để nói nốt câu chuyện:

- Em không cần nghĩ, chính anh mới cần nghĩ thêm. Thân phận em, anh biết hết rồi, khỏi cần kể lể. Anh trẻ, là trí thức, đảng viên, cán bộ, đường đời anh còn xa lắm. Em không thể tròng vô cổ anh nhiều gánh nặng, níu anh lại. Ta hẹn với nhau vầy nè: hoãn chuyện vợ chồng vài tháng, thôi cứ cho là ba tháng, để anh cân nhắc so sánh hết mức. Anh chọn lựa kỹ rồi mới lấy vợ. Trong ba tháng đó, anh cứ về với em đàng hoàng, như chồng, chưa cưới... Hàng xóm đây anh đừng ngại, họ đang giục em tái giá.

- Còn họ hàng anh Thống, còn thằng Nhứt?

Lan ngập ngừng:

- Phía anh Thống chỉ có bà Ất thôi, cũng là bà con xa. Bả nói với em mấy lần, hễ em lấy chồng khác thì để bả nuôi con anh Tám. Lần đầu bả nói là quyền của bả, em phải giở lý ra, đừng thấy em lễ phép mà tưởng em ngu. Hai lần sau bả nói tình, nuôi giúp em vài năm cho nó cứng cáp, em đưa tiền ăn cũng được. Tánh nết bả đồng bóng, mỗi ngày ít nhứt một lần xô xát, các con bả lớn lên đều đi ở nhà tập thể, ký túc, nhà bạn thân, bả buồn lắm. Bả nuôi thằng Nhứt, anh cũng khỏi vướng... là nói hễ anh cưới em... còn không thì cứ như cũ, má với con...

- Lan nghĩ kỹ chưa?

Câu hỏi ném tới bằng giọng gay gắt. Lan luống cuống ngước lên: anh Cam giận ra mặt.

- Em cho con về ở với một bà đồng bóng mà chồng con bả chịu không nổi. Trong nhiều năm, bả sẽ dạy nó hàng ngàn làn: má là người bạc bẽo, ông Cam kia chia rẽ má con cháu, cháu bị hắt hủi và chiếm đoạt hết các thứ ba Thống vun đắp cho cháu. Hừ, vui lắm, hai đứa mình thêm một kẻ thù là thằng Nhứt!

- Ôi anh, em làm sao bây giờ?

- Chẳng sao hết. Anh sẽ mua cót hay giấy dầu về ngăn căn buồng này ra. Phần trong là của chúng mình. Phần ngoài là góc học tập của thằng Nhứt, còn chỗ thì kê thêm bàn trà tiếp khách bàng chỗ quán nước vỉa hè thôi, giường thằng Nhứt kê gần cửa sổ thành giang sơn riêng khi nó vào vỡ lòng. Nó sống với má như xưa, thêm một người rất yêu nó là chú Cam...

Cam không nói thêm được nữa, khi Lan đã lao cả người vào anh, ghì anh đến tức thở:

- Anh Cam ơi, suốt đời anh cứ tốt bụng với má con em được như lời không?

- Cứ nghĩ đi. Coi thử thằng này có dối trá bao giờ không!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #248 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:22:28 pm »

*

Lan ân hận nhiều khi đặt mức ba tháng suy nghĩ lại cho Cam. Nhưng anh Cam cứ giữ nếp con nhà lính, nói gì cũng cắn cưa không đổi, đến cái độ Lan mong anh ấy bớt máy móc đi. Anh là chiếc xe tăng T.34 lừ lừ đi vào trận, đừng ai hòng xô đẩy ra khỏi con đường nó chọn.

Mỗi cuối tuần, anh vẫn đến với Lan và con. Một chị bạn biết ý, nhận đưa thằng Nhứt đi xem phim ở rạp Kim Đồng gần đấy cùng với con chị, mỗi tối thứ bảy, thêm tối chủ nhật nữa khi cần. Chị thường đi với vài ba cháu nghiện phim thiếu nhi ở Kim Đồng, khi về thường có một cháu lớn nào đó nhận cõng thằng Nhút đã ngủ mềm vào cuối buổi chiếu, đem về xếp chỗ cho nó ngủ chung giường màn trong nhà mình.

Chỉ một lần, chẳng biết nghe lỏm hay ai xui, nó hỏi chú Cam:

- Chú về ở với má, cháu phải đi nhà khác, đúng không chú?

- Ai nói thế?

- Bà Ất nói.

- Cháu không thích chú ở chung à?

- Cháu thích. Thích lắm chú ơi. Chú thích ở với cháu không?

Cam xốc nó lên, thổi phù-pụp vào rốn nó như mấy năm trước. Nó cười tít, giãy: “Cháu lớn rồi chú. Hồi cháu con nít mới chơi thổi rốn”.

Chú Cam đặt nó xuống, nói như với người lớn:

- Chú thương yêu cháu. Cháu lớn rồi, đi học võ lòng rồi, chú xếp chỗ cho cháu nằm giường riêng, có góc học tập riêng, có chỗ tiếp bạn riêng, có tủ sách vở riêng. Được không?

- Được, được, cháu được lắm. Mà chú xếp ở đâu?

- Ở với má, với chú chứ đâu!

Nhứt cứ sợ chú Cam đùa với trẻ con rồi quên. Trong những ngày tiếp đó, nó nhắc mãi đến má sốt ruột. Nhưng chiều thứ bảy là ngày chú Cam thường đến, nó thấy chú vác vào nhà một bộ giường chân niễng thấp vừa tầm nó leo, một bộ bàn ghế trẻ em vỡ lòng, nhiều thứ nữa. Chú kê giường bàn cho nó, dán lên vách những tờ giấy màu có lời Bác Hồ dạy, lịch ảnh thiếu niên thổi kèn, một tờ mà chú đọc là thời gian biểu, một khung cỡ nhỏ chứa được mươi tập sách vở, sơn màu hồng tươi. Tuyệt vời, mê ly, vượt tất cả ước mơ của nó. Má với chú bàn nhau qua loa, rồi má đạp xe đi nửa giờ, đem về một bộ màn trắng tinh chưa giặt nước hồ, căng dây đóng đinh buộc cho nó. Giang sơn riêng của nó được xếp bên cửa ra vào, có cửa sổ đưa gió thẳng vào giường.

Tối ấy nó hỏi má đến ba lần: “Bao giờ chú Cam mới về nhà mình, má?”. Má nói gì ấp úng, chỉ giục nó ăn, giục đi ngủ. Nó cởi trần mặc quần đùi, nằm trên giường mới màn mới, sờ mó mọi thứ rất lâu mới ngủ lịm.

Đêm ấy Hoàng Lan thức khuya đợi anh Cam. Anh không đến. Chắc lại về nằm giường hai tầng trong ký túc, theo đúng cái hạn ba tháng suy nghĩ. Ôi cái miệng độc hại của mình, vênh mặt hếch mũi làm cao thì đành chịu phạt, biết sao đây?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #249 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 02:24:35 pm »

*

Anh Sáu Cam làm đúng như lời hẹn cắn cua. Rốt cuộc, Hoàng Lan phải tự hẹn ngày cưới, vào dịp nghỉ Tết. Cam cười, nói một câu khó hiểu: “Núi không đến với Mô-ha-mét, thì Mô-ha-mét phải đến với núi thôi”. Lại một kiểu nói lóng nào đó của sinh viên đại học Ngữ Văn thôi, Lan chỉ gật đầu cho phải đạo và cho anh vui. Lan nhớ anh ngày đêm, thằng Nhứt nhắc anh ngày đêm chịu sao nổi nữa!

Nhưng sát dịp nghỉ, ký túc xá chợt rối mù.

Cái anh Hóa bị hạ từ phó văn phòng Trường xuống phó phòng hành chính, nay bị hạ lần thứ hai, đều với tội ăn cắp của công. Hắn về làm trưởng Ban quản lý ký túc, nhân khi nhà trường kêu gọi sinh viên cần công, kiệm học, xếp mọi việc trong ký túc cho sinh viên làm cả. Ngay khi anh chị em đi trồng ngô khoai trên bãi sông Hồng hay bên đất thừa của sân bay Gia Lâm, đẩy xe bò đi xin phân khắp nơi về bón, chia nhau thu dọn sửa sang ký túc, hắn đều làm giấy thanh toán như thuê người ngoài, lấy bỏ túi gấp mười số lương.

Sinh viên được nghỉ Tết một tuần. Hắn viết phấn trên bảng, chia việc rất khoa học cho các buồng: làm vệ sinh nhà bếp, nhà tắm, nhà xí, trang trí đón khách, gác bảo vệ ngày và đêm, không quên khoản nào. Chỉ có một khoản ghi nhỏ bên dưới: Ban quản lý, cấp dưỡng, bảo vệ được nghỉ năm ngày. Ông hiệu trưởng hay ông bí thư Đảng ủy mỗi năm đến thăm chỗ sinh viên ăn ở một hai lần (thường được báo trước, thu dọn trước), đến Phúc Xá ắt sẽ khen, sẽ coi lại kỷ luật cậu Hóa có quá nghiêm không.

Thế nhưng, sinh viên các buồng không có cơm ăn, đã kiếm nơi tạm trú suốt dịp Tết. Chỉ sót lại mỗi buồng lèo tèo vài cô cậu miền Nam hay người dân tộc ở quá xa, ở tận Quảng Bình Vĩnh Linh đi về không kịp vào học kỳ hai, sẽ quần quật làm thay bộ phận phục vụ, thay các bạn về nhà về quê. Số người ở lại ký túc sẽ bằng một nửa các bộ phận quản lý, cấp dưỡng, bảo vệ hằng ngày, còn phải lo giữ bộ mặt ký túc xá khi Ban giám hiệu trịnh trọng đến chúc Tết.

Anh chính trị viên mắt lồi Lê Tùng bị sinh viên các buồng đến mỗi ngày mươi lần, vì là Đảng ủy viên nhà trường. Anh kéo một loạt đại biểu theo mình, mặc bộ quân phục bốn túi và đi đôi giày da mới nhất, đến buồng riêng khá rộng của anh Hóa. Đôi bên cãi lý với nhau kéo dài. Anh Tùng nói ngắn thôi:

- Tôi đã soạn các thứ để về Hải Phòng ăn Tết với vợ con. Nếu các đồng chí quản lý không đổi ý, tôi sẽ ở lại với anh chị em, sau đợt nghỉ chúng tôi sẽ làm biên bản, sẽ đề nghị dùng ai bỏ ai. Dùng mới khó, bỏ rất dễ thôi anh Hóa à.

Tưởng anh Tùng chỉ dọa thôi, chẳng ngờ vài hôm sau tay Hóa bị ngừng việc, làm kiểm điểm vì tội vét của công.

Hóa đến năn nỉ anh Tùng nhiều lần, nhờ anh che chở. Lần nào anh cũng gọi Cam với vài lớp trưởng hay phó đến cùng nghe. Và anh trả lời luôn ngắn gọn:

- Tôi ở lại để xem sinh viên sống qua mấy ngày Tết ra sao. Đám trẻ không dám nói thẳng, tôi hay đồng chí Cam đây dám nói. Chắc anh có cái ô che chở. Chúng tôi sẽ quật đổ cả ô lẫn anh. Chờ đấy xem ai thắng ai!

Nhưng riêng đối với Cam, anh Tùng chỉ rỉ tai: “Cưới nhanh đi, tao dự vì thương cả bốn chúng mày, xong tao chuồn gấp. Hơi đâu bám theo đứa trộm cắp!”.

Đám cưới diễn ra trong khu vực tập thể bệnh viện Phủ Doãn, được đổi tên mới là Bệnh viện hữu nghị Việt-Đức nhưng chả ai quen gọi. Chú rể lóng ngóng, cô dâu ấp úng, anh quản trò gây cười chật vật, bà con đến chỉ tán chuyện với nhau nhiều hơn, chè nước bánh kẹo để lại quá nửa. Đời sống mới thường thế. Chỉ đống quà và các phong bì để lại giúp tân hôn là đủ gấp bốn năm lần tiền cưới xin.

Quá mười một giờ đêm, Sáu Cam ôm ghì vợ:

- Hết lo chưa? Còn gây sự với anh nữa không?

- Hết trơn. Thỏa mãn bần cố không?

- Chấm dứt cái cảnh cơm treo mèo nhịn, ắt là thỏa.

- Nhỏ nhỏ chút anh, con nó dậy...

Bên kia tấm vách còn mùi sơn, thằng Nhứt ngáy giòn. Nó đã khoe với lũ trẻ lớp vỡ lòng là chú Cam sắp về thay ba nó, chú thương  nó nhất nhà, mà nhà nó chỉ có hai mẹ con. Công đoàn và chi đoàn bệnh viện họp kín, đã góp tiền làm một tấm vách bằng cót khung gỗ, sơn hai mặt bằng sơn màu chồi non, có cửa bằng gỗ dán đi khóa về mở. Vẫn cái tay cán bộ tổ chức ưa “truy động cơ” muốn ngăn cản:

- Lo cho chị Lan thế, đến anh chị em khác lấy vợ lấy chồng thì sao? Tạo ra tiền lệ ưu đãi...

Bí thư chi đoàn và thư ký công đoàn đều nói lạnh:

- Không phải ai cũng là vợ liệt sĩ, sống mẹ góa con côi.

- Xin thêm: không phải cũng chiếm được một căn hộ sáu chục mét vuông, không kể hành lang và khu tiện nghi riêng, như anh bây giờ.

Ông “động cơ” bỗng dưng hóa điếc và câm đến cuối cuộc họp.

Vợ chồng rón rén ra gian ngoài. Trên phần dành riêng cho nó, thằng Nhứt ngáy giòn, chỉ mặc quần đùi may-ô, đạp tung chăn. Trời đã khá rét, nhưng nó lý sự với má: “Chú Cam nói lính Cụ Hồ không biết nóng lạnh”. Lan đắp chăn cho con, lấy kim băng cài chăn vào chiếu.

Trở vào gian trong, Cam chợt ngờ ngợ: Tấm ảnh viền đen phóng to của anh Tám Thống trong khung  kính, thường  vẫn đặt trên nóc tủ đầu giường Lan, đã biến mất.

- Ảnh anh Thống đâu rồi, Lan?

Lan luống cuống:

- Em cất... trong tủ...

- Sao em cất?

- Em lấy chồng, mắt ảnh ngó tụi mình chằm chằm, em ngại...

- Ngại thì đưa đây anh. Chúng mình kính mến anh Tám, coi như người anh cả của hai đứa, còn phải nhắc thằng Nhứt nhớ ba nó cả đời. Ba Thống với chú Cam, hai người đều thương yêu nó, thay nhau săn sóc nó, sai chỗ nào em cứ nói!

Lan mở tủ đưa tấm ảnh. Ngay sau đó, Cam lấy búa và đinh đóng treo ảnh ngay trên bàn nước-một bộ bàn ghế nhỏ kê gian ngoài. Các hạn đến thăm và tặng quà nhiều, Cam đều nhắc: “Anh Tám Thống là bạn và cấp trên cũ của tôi, hi sinh rồi, ảnh đây này”. Đôi khi Cam còn thêm: “Một người vô cùng tốt”.

Lan hơi khiếp sợ kiểu đi xe tăng T.34 của Cam. Nhưng khá lâu sau khi tái giá, nghe con mình khoe ba Thống đền nợ nước và chú Cam về thay ba nó, Lan mới hết lo. Lan khuyên chồng bảo nó gọi bàng ba. Cam trả lời gọn:

- Bao giờ nó thấy anh xứng đáng thay ba nó, tự nó sẽ cho anh làm ba. Em đừng ép mình, ép nó.

Ôi anh Sáu Cam, anh có tốt mãi với mẹ con em thế không? Lan tự hỏi mình thêm một lần nữa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM