Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:25:02 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu  (Đọc 56405 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #50 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:57:00 am »


        Nhưng rồi bỗng vào khoảng cuối tháng 4 năm 1947, nhân có lệnh bãi bỏ kiểm duyệt, báo chí Sài Gòn liền đăng tin về “bức công hàm 19 tháng 4 của Việt Minh gửi tân cao ủy”1.

        Không thể làm ngơ trước một vấn đề nóng bỏng mà báo chí đã tung ra, Bôla buộc phải có hành động lừa bịp là cử cố vấn chính trị Pôn Muýt “một nhà xã hội học có tiếng, một người am hiểu về Việt Minh” ra miền Bắc.

        Mặc dù Bôla nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng “Pôn Muýt ra công cán Bắc Kỳ để thăm dò đối phương về khả năng tiến tới một cuộc thương thuyết”, nhưng các ký giả bám sát tình hình chính trị ở Pari, Hà Nội cũng như ở Sài Gòn, bám sát lời nói và việc làm của viên cao ủy mới, đều tỏ ra nghi ngờ thiện chí của Bôla. Dư luận phán đoán rằng, thực tế một tháng qua cho thấy khó có thể có một cuộc thương thuyết đứng đắn, vì nhiều lẽ:

        Một là, khi Bôla vừa lên đường sang Đông Dương thì nội các Ramađiê bị cải tổ. Phe Đờ Gôn trở lại hoạt động và chiếm thế mạnh trong Chính phủ, công khai chống lại thương thuyết, nhất là sau khi các bộ trưởng cộng sản đã bị gạt ra ngoài chính phủ.

        Hai là, vừa đặt chân đến Sài Gòn, viên cao ủy mới đã bị những chủ đồn điền cao su, chủ nhà băng và hầm mỏ, tóm lại là những người “thuộc phái chống điều đình với Việt Minh” bao vây và khống chế.

        Ba là, phe “quốc gia”, được sự gợi ý của cao ủy, đang tích cực hoạt động “để mời quốc trưởng Bảo Đại trở về nước”.

        Chính vì vậy, dư luận không ngạc nhiên khi biết những “điều kiện” mà Bôla chỉ thị cho Pôn Muýt đặt ra với phía Việt Nam như sau:

        - Việt Minh phải ngừng ngay các cuộc xung đột.

        - Việt Minh phải hạ vũ khí và trao cho phía Pháp, một nửa số trang bị của mình.

        - Phải để cho quân Pháp được tự do đi lại trong khu vực hiện dưới quyền kiểm soát của Việt Minh.

        - Phải thả hết tù binh, con tin và lính Pháp đào ngũ.

        Đó là những điều kiện mà dư luận khẳng định rằng tất phải dẫn đến sự thất bại trong chuyến công cán của Pôn Muýt vì đó chẳng qua vẫn chỉ là thủ đoạn điều đình để mà không điều đình với Việt Minh như đã từng diễn ra dưới thời Thủ tướng Blom.

        Trung tuần tháng 5, người ta thấy một sự phối hợp khá chặt chẽ giữa hoạt động của Pôn Muýt, Bôla và Côxtơ Phlorê.

        Tại một địa điểm gần thị xã Thái Nguyên, trong những lần gặp gỡ với đại diện Chính phủ kháng chiến từ 9 đến 12 tháng 5, Pôn Muýt đã buộc phải ghi nhân những lời bác bỏ của phía Việt Nam về những điều kiện do phía Pháp nêu lên và buộc phải ghi nhận lập trường trước sau như một của nhân dân Việt Nam là độc lập và thống nhất.

        Cuộc “điều đình” không thành. Tại Pari, báo Pháp Lơ Phigarô số ra ngày 14 tháng 5 đăng lời tuyên bố lừa bịp của Bộ trưởng chiến tranh Pháp Côxtơ Phlorê sau chuyến công cán sang Đông Dương về (chuyến công cán thứ hai trong vòng không đầy ba tháng). Ông ta nói: “Tôi nghĩ rằng ở Đông Dương không còn vấn đề quân sự. Chúng ta đã hoàn toàn thắng lợi bằng súng đạn (!). Từ nay, tình hình sẽ phát triển trên bình diện chính trị. Các ủy viên cộng hòa đã quy tụ được dân chúng chung quanh lá cờ Pháp”(!)

        Trong khi đó thì, tại Hà Nội, ngày 15 tháng 5, cao ủy Bôla đọc một bài diễn văn, khẳng định lập trường của Pháp: một là, Pháp sẽ tiếp tục có mặt ở Đông Dương; hai là, Đông Dương sẽ ở trong Khối Liên hiệp Pháp. Viên cao ủy giải thích: “hai điều đó không hề có nghĩa là một sự áp đặt, vì kỷ nguyên đế quốc đã cáo chung và thay vào đó là kỷ nguyên của tình thân hữu... nền hòa bình sẽ đến với dân tộc Việt Nam... Nước Pháp sẽ chấp nhận sự hợp tác với tất cả các đảng phái và không công nhận một đảng phái nào có thể độc quyền đại diện cho cả dân tộc Việt Nam...

        Rõ ràng lời nói và việc làm của những kẻ đại diện giới cầm quyền Pháp, từ Bộ trưởng chiến tranh Phlorê, cao ủy Bôla đến phái viên Pôn Muýt, đều nhằm chuẩn bị cho một mưu đồ mới, sau khi đã cố tình chặt đứt cái cầu mong manh trong quan hệ với đại diện chân chính của nhân dân Việt Nam đang kháng chiến.

--------------------
        1. Theo báo chí Sài Gòn, bức công hàm đến đây vào ngày 26 tháng 4. Nội dung gồm mấy điểm như sau:

            - Chiến tranh tiếp diễn chỉ gây thêm thù hằn giữa hai bên.

            - Cao ủy mới đến hãy tỏ rõ thiện chí của người đại diện xứng đáng của Nước Pháp Mới như dư luận tiến bộ ở Pari mong muốn.

            - Phía Việt Nam sẵn sàng mở lại cuộc thương thuyết với Pháp.

            - Muốn tái thương thuyết phải chấm dứt các cuộc xung đột.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #51 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:58:58 am »


Phần hai

CHUI SÂU VÀO ĐƯỜNG HẦM


Chương bốn

LEO CAO NGÃ ĐAU

CÔNG THỨC XALĂNG - BẢO ĐẠI

        “Hơn bốn tháng kháng chiến toàn quốc đã chứng tỏ địch không thể dùng vũ khí tối tân mà tiêu diệt quân chủ lực của ta. Chúng phải đổi một giá rất đắt mới chiếm được một ít thành phố”1.

        Nhận định quan trọng trên đây của Đảng vào lúc phần lớn bộ đội Vệ quốc đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ chiến lược trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc và đã rút khỏi các đô thị về giúp đỡ các địa phương triển khai thế toàn dân đánh giặc.

        Trong khi các cơ quan tuyên truyền của địch làm rùm beng về cái gọi là quân Pháp đã làm chủ được các thành phố, giới cầm quyền ở Pari đã sớm nhận thấy những khó khăn chồng chất của nước Pháp không cho phép họ kéo dài cuộc chiến tranh quá hao người tốn của. Tình hình nước Pháp đòi hỏi họ phải nhanh chóng đánh một đòn quyết định nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến kết thúc giai đoạn thứ nhất của cuộc chiến tranh xâm lược cổ truyền – giai đoạn chiếm đóng, tạo điều kiện tập hợp bọn tay sai lập chính quyền bù nhìn trong cả nước, thực hiện giai đoạn thứ hai: giai đoạn bình định.

        Tại Pari một mưu đồ quân sự có tầm quan trọng về chiến lược đã được phác ra từ đầu mùa hè 1947. Viên tướng được trao nhiệm vụ thực hiện chủ trương chiến lược trên đây là Xalăng, người được coi là am hiểu Đông Dương vào bậc nhất trong hàng ngũ sĩ quan cao cấp của nước Pháp.

        Trung tuần tháng 5, Xalăng được vời đến gặp Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại. Trước khi vào đề, Mutê hỏi:

        - Tướng quân đã từng quen biết Cụ Hồ Chí Minh, đã từng theo Cụ trong cuộc hành trình dài (Hà Nội - Pari tháng 6 năm 1946). Vậy theo ý tướng quân, tại sao tình hình lại xảy ra đến nông nỗi này?

        - Thưa ngài bộ trưởng, sau thất bại ở Đà Lạt và Phôngtennơblô, tất cả đã tan vỡ. Những sai lầm mà Sài Gòn phạm phải (ý nói hành động cố tình gây chiến của Đácgiăngliơ và Valuy), đường lối chính trị của Pari, sự thiếu hiểu biết của Chính phủ (Pháp) về Hiệp định 6 tháng 3, về tầm vóc của sự đảo lộn làm rung chuyển trật tự cũ ở châu Á và về quy mô của phong trào dân tộc... tất cả những điều đó đã trở thành tiền đề cho những biến cố dẫn chúng ta đến cuộc chiến tranh thực sự như hiện nay...

        Đề cập đến mưu đồ quân sự sắp tới, Mutê nói: “Những lực lượng cần ném vào cuộc chiến tranh lúc này quá lớn so với khả năng của Pháp...”. Theo ông ta, “nước Trung Hoa đỏ ngày càng lan rộng xuống phía Nam...” vì vậy, Xalăng phải sang Đông Dương để “đưa các đơn vị quân Pháp lên vùng biên giới Bắc Kỳ... (nhằm đè bẹp lực lượng kháng chiến của Việt Minh) trước khi quân cộng sản Trung Hoa đến cửa ngõ biên giới”.

        Nhớ lại hồi đầu năm, tướng Lơcléc sang thanh tra chiến trường Đông Dương về có nói lại ý kiến của tổng chỉ huy Valuy đề nghị mở cuộc hành quân lên “bịt biên giới” trước nguy cơ tràn ngập của những binh đoàn từ phương Bắc xuống. Hồi đó, trong giới quân sự và dân sự cỡ lớn ở Pari đã có những ý kiến phản đối chủ trương chiến lược đó của Valuy. Có người nói thẳng ra rằng: từ thực tế các cuộc đàm phán ở Trùng Khánh trước đây giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch do Mỹ đứng ra làm trung gian, cần đánh giá cho đúng khả năng hòa hoãn giữa các thế lực lớn. Tình huống “biển người” từ phương Bắc vượt biên giới vào đọ súng với quân đội viễn chinh Pháp là một khả năng cần dự kiến, nhưng không nên quá lo lắng trước một sự kiện xa vời. Quân viễn chinh Pháp không được đánh giá thấp đối thủ trực tiếp đang tự lực và kiên trì chiến đấu không khoan nhượng ngay trên mảnh đất Đông Dương đang trong thế bị bao vây bốn phía này. Thực tế đã chỉ rõ, trong ba năm qua, những người kháng chiến Việt Nam không hề chờ đợi ai và chính họ lúc này đang làm cho quân Pháp bị tiêu hao liên tục. Những người lính Việt Minh đó mới là đối thủ bằng xương bằng thịt mà quân Pháp phải gờm sợ.

        Tất nhiên, hồi đó (đầu năm 1947) Xalăng không thể đồng tình với ý kiến trên đây. Tâm lý vô cùng chủ quan của một sĩ quan thực dân từng sống hơn hai mươi năm trên mảnh đất Đông Dương khiến viên tướng không thể tán thành bất cứ ai (kể cả Lơcléc) đánh giá cao lực lượng vũ trang kháng chiến. Xalăng cho rằng mấy chiến sĩ du kích chân đất ở cái xứ Đông Dương này đâu phải là mối nguy cơ ghê gớm. Một cuộc hành binh quy mô lớn cũng đủ tiêu diệt gọn bọn họ ở sào huyệt Việt Bắc. Còn đối với cái “biển người” phương Bắc thì y có phần ngại. Vì vậy, Xalăng chấp nhận ngay ý đồ chiến lược do Mutê đề ra. Viên tướng hứa sẽ bắn một mũi tên nhằm hai đích (diệt Việt Minh và chặn quân Trung Cộng) để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, tránh cho nước Pháp khỏi lao sâu vào một cuộc chiến kéo dài mà (như Mutê vừa nói) tiềm lực không cho đế quốc Pháp theo đuổi.

        Đến gặp bộ trưởng chiến tranh, Xalăng được Côxtơ Phlorê hứa hẹn sẽ tăng viện binh để thực hiện nhiệm vụ chiến lược “bịt biên giới - tiêu diệt Việt Minh” mà Chính phủ vừa trao. Ngày 16 tháng 5, Xalăng vội vã lên đường vì tổng chỉ huy Valuy “đang ở vào tình thế cô độc... sau cái chết bất ngờ vì tai nạn máy bay của các đại tá Đebơ và Guýpphlê”2 (Dèbes và Gufflet).

        Trên đường bay sang Đông Dương, điều khiến Xalăng suy nghĩ nhiều chính là chiến trường Bắc Kỳ, một nơi đầu sóng ngọn gió. Chỉ mới một năm (6-1946 - 5-1947) đã bảy người3 thay nhau đứng mũi chịu sào trên mảnh đất nóng bỏng này.

        Vừa đặt chân đến Sài gòn, Xalăng đã được cao ủy Bôla giục khéo: “Tướng quân nên ra Bắc sớm và tôi hy vọng rằng tình hình ngoài đó sẽ mau chóng ổn định”. Về quân sự, Bôla tỏ ra tin tưởng vào “tài thao lược của viên tướng rất am hiểu miền thượng du Bắc Kỳ” trong đòn chiến lược quyết định sắp tới. Còn về chính trị, viên cao ủy đang chờ đợi một tiếng nói của “nhân vật quốc gia đầy uy tín” (!) từ Hồng Công vọng về. Chỉ có tiếng nói hưởng ứng của cựu hoàng Bảo Đại lúc bấy giờ đang nổi danh là “ông vua hộp đêm” ở Hồng Công thì công thức Xalăng + Bảo Đại do Pari xếp đặt mới hình thành.

        Từ đầu năm 1947, tại vùng tạm bị chiếm, người ta thấy ban hành một “mật lệnh” để các cấp chỉ huy Pháp xúc tiến những cuộc điều tra bí mật về “tình cảm của dân chúng đối với cựu hoàng Bảo Đại”. Người dân được hỏi: “Các người có muốn công dân Vĩnh Thụy (tên cúng cơm của Bảo Đại) trở về nắm chính quyền với cương vị là người đứng đầu nhà nước hay không?”. Kết quả cuộc thăm dò cho biết: “Chính những người lính được cử đi điều tra dư luận đã sớm thấy một sự thật là: Chẳng mấy người biết gì về công dân Vĩnh Thụy hoặc cựu hoàng Bảo Đại, trái lại, không một ai là không biết Cụ Hồ Chí Minh”... Sau khi vạch trần sự việc trên đây, Paya viết tiếp: “Mặc dù vậy, Pari vẫn quyết định chơi con bài (Bảo Đại) này...”4. Trong khi đó, tại Hồng Công, Bảo Đại cũng chuẩn bị lên tiếng hòng tạo sức nặng cho cuộc vận động của cao ủy Bôla bớt phần nhạt nhẽo và trơ trẽn.

---------------------
        1. Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ hai (4-1947), Văn kiện quân sự của Đảng, t.2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 122.

        2. Đebơ chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ; Guýpphlê - tham mưu trưởng quân viễn chinh Pháp.

        3. Xalăng, Valuy, Crêpanh, Moóclie, Đebơ, Gonnê, rồi lại Xalăng.

        4. Claude Paillat, Dossier secret de l’ I.C (Hồ sơ mật về Đông Dương), Les Presses de la Cité, Paris, 1964, tr. 148-149.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #52 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 12:59:46 am »


TÌNH HÌNH KHÔNG ĐƠN GIẢN

        Qua tin tức thu lượm được từ Bộ tham mưu Pháp ở Sài gòn, ngay từ ngày đầu tiên trở lại Đông Dương, tướng Xalăng đã nhận thấy hình thái chiến trường đang diễn biến theo chiều hướng ngày càng không lợi cho quân đội viễn chinh Pháp.

        Tại Nam Bộ, mặc dù tướng Nyô có trong tay 21 tiểu đoàn, 9 cụm pháo, 5 chi đoàn thiết giáp với tổng số 25.000 lính Âu, 3.000 lính Bắc Phi, 10.000 lính ngụy chính quy, 4.800 lính ngụy địa phương, nhưng về chất lượng chiến đấu chủ yếu chỉ có thể trông vào 4 tiểu đoàn lê dương, 3 tiểu đoàn pháo. Số còn lại là những đơn vị lai tạp, tổ chức chắp vá sức chiến đấu kém. Kết luận của Xalăng: “Lực lượng như vậy là quá ít, binh lính lại quá mệt mỏi, sĩ quan thiếu, trang bị đã không đủ lại hư hỏng nhiều...”.

        Tại Trung Bộ, vẫn theo nhận xét của Xalăng, tướng Lơbrít (Lebris) chỉ đủ lực lượng để duy trì trật tự tối thiểu trong vùng quân Pháp kiểm soát.

        Nơi Xalăng cho rằng đáng lo ngại hơn cả là chiến trường miền Bắc, nơi có quá nhiều vấn đề phải được giải quyết. Viên tướng này đặc biệt lo ngại nhận thấy lực lượng của ta sau khi rút khỏi các đô thị đang không ngừng phát triển và lớn mạnh. Theo Xalăng, Pháp cần thiết và cấp bách tập trung nỗ lực vào vùng trung du và thượng du Bắc Bộ. Để thực hiện được điều đó, viên chỉ huy mới của chiến trường Bắc Đông Dương thấy nhất thiết phải được tăng viện 20 tiểu đoàn mà cao ủy Bôla và tổng chỉ huy Valuy đã hứa.

        Xalăng ra Hà Nội ngày 23 tháng 5. Ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên với những sĩ quan của sư đoàn bộ binh thuộc địa thứ 9, Xalăng đã nhận ngay ra “những bộ mặt mệt mỏi khiến người ta có cảm giác rằng họ vừa trải qua những ngày đau khổ...”.

        Sau đó một ngày, Xalăng vội vã đi kinh lý các địa bàn mà viên chỉ huy mới này cho là xung yếu ở Bắc Đông Dương.

        Nếu trước đây (khi còn ngồi ở Pari) Xalăng đã từng nghĩ rằng “một trong những kỳ công của quân đội Pháp” đã diễn ra ở Nam Định, thì lúc vừa đặt chân đến thành phố này và được “nghe thuật lại một cách chính xác về những trận chiến đấu ác liệt” đã xảy ra ở thành Nam, Xalăng mới biết rằng quân Pháp “đang đứng trước một đối thủ mà họ không thể coi thường”.

        Đến thăm quân Pháp ở Hải Phòng và qua báo cáo của viên đại tá Đômécgơ (Domergue), Xalăng lại thêm một nhận xét: “Tương lai khiến cho tôi lo lắng vì chúng ta có quá ít lực lượng”.

        Tại Lạng Sơn, khi viên chỉ huy mới của chiến trường miền Bắc đến thăm binh lính Pháp ở khu nhà ăn thì họ đã đón tiếp Xalăng bằng những tiếng hô đòi hồi hương. Lần đầu tiên nghe thấy thế, Xalăng tự an ủi rằng những tiếng hô ấy “không có gì là ác ý cả vì thời gian họ ở đây đã quá lâu rồi, và họ đang mong đợi được thay thế càng sớm càng tốt”1. Nhưng trong thâm tâm tướng Xalăng không khỏi lo lắng việc thay phiên sẽ đặt bộ chỉ huy Pháp trước một tình thế bất lợi là “mất đi những đơn vị có chất lượng tuyệt diệu” (!). Đến thăm giám mục Hétđơ (Hedde) ở địa phận Lạng Sơn, Xalăng được nghe những lời tâm tình không có gì đáng gọi là khích lệ: “Tướng quân không thể nào thắng được trong cuộc chiến tranh tàn khốc ở cái xứ này đâu...”.

        Sau mười ngày đi kinh lý, trở về Hà Nội, Xalăng rút ra một kết luận chung là: “Tình hình rõ ràng không giản đơn chút nào”. Chẳng những viên tướng này lo lắng về việc hồi hương của sư đoàn 9 mà điều khiến hắn ta phải suy nghĩ nhiều là quân đội Pháp đang đứng trước một đối thủ mà lực lượng đang không ngừng được củng cố và tăng cường. Đúng như giám mục Hétđơ ở Lạng Sơn đã nhận xét: Việt Minh có một sức mạnh thật đáng lo ngại.

        Đầu tháng 6, cực chẳng đã, Xalăng buộc lòng phải chuẩn bị cho sư đoàn 9 hồi hương. Là sư đoàn đầu tiên sang Đông Dương trong cuộc chiến tranh xâm lược thứ hai của đế quốc Pháp, 9e DIC được coi là đơn vị “đã trải qua những ngày chiến đấu ác liệt với một đối phương cứng rắn và bền bỉ”. Trong buổi lễ tống tiễn sư đoàn này (9 tháng 6), Xalăng bày đủ mọi trò, nào là duyệt binh, tuyên dương, nào là gắn mề đay... Nhưng cuối cùng, chính viên tướng này đã than thở: “Vấn đề ra đi của sư đoàn 9 đã để lại cho mọi người một ấn tượng không đẹp đẽ gì”, bởi vì, nếu kẻ đi không thể nào xua đuổi được hình ảnh những ngày tháng khủng khiếp đã qua thì kẻ mới đến đã sớm thấy gánh nặng ngày càng tăng.

        Quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương được khoác một tên mới: Quân đội Pháp ở Viễn Đông (TFEO). Bọn thực dân Pháp tưởng rằng tước bỏ cái vỏ “viễn chinh” đi thì chúng có thể lừa bịp mọi người về bản chất của đội quân xâm lược nhà nghề đang hàng ngày gây biết bao tội ác trên bán đảo Đông Dương này.

        Ngày sư đoàn 9 ra đi cũng là ngày Xalăng nhận được báo cáo của viên đại tá Xide (Sizaire, chỉ huy quân Pháp ở Lạng Sơn), về “những hoạt động của quân cộng sản ở vùng biên giới”, những hoạt động mà viên tướng chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ coi là “một sự cảnh cáo đối với tương lai quân đội Pháp trên chiến trường miền Bắc”. Xalăng vội cử viên trưởng phòng quân vụ vào Sài Gòn để đốc thúc vấn đề tăng viện, hòng đối phó với những tháng khó khăn sắp tới. Mười ngày trôi qua không chút tin tức, viên tướng này phải đích thân lao vào Sài Gòn gặp Valuy để giãi bày về những nỗi lo âu đối với tình hình lực lượng quá ít ỏi có trong tay...

        Lúc này cao ủy Bôla đang có mặt ở Pháp để cố nài xin bằng được 20 tiểu đoàn và các phương tiện cần thiết cho cuộc hành binh sau mùa mưa mà Pari đã trao cho bọn tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương. Xalăng được Valuy cho biết mục tiêu của cuộc hành binh đó nhằm “bịt kín biên giới, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với (Quân giải phóng) Trung Quốc để loại trừ mọi sự viện trợ từ ngoài vào; truy lùng và tiêu diệt Việt Minh đến tận sào huyệt của họ, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ...”. Xalăng hết sức đồng tình và tình nguyện trực tiếp đảm nhiệm tổ chức cuộc hành binh quan trọng mà Sài Gòn và Pari đã đề ra. Dù sao, đó là công việc sau mùa mưa. Điều mong đợi trước mắt của Xalăng là có thêm binh lực để đối phó với tình hình đáng lo ngại lúc này khi mà số quân thay thế chỉ mới đủ bù vào sư đoàn 9 hồi hương.

---------------------
        1. Sư đoàn 9e DIC (trong đó có trung đoàn 21e RIC đóng ở Lạng Sơn) theo hợp đồng, chỉ tình nguyện sang Đông Dương một năm, đáng ra phải được hồi hương từ tháng 9 năm 1946.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #53 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:00:55 am »


MỤC TIÊU VIỆT BẮC

        Qua những trang hồi ký của tướng Xalăng, ta thấy vào mùa hè năm 1947, những người chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương cũng như giới cầm quyền Pháp ở Pari đã cố tình làm ngơ trước những bức thư đầy thiện chí mà Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa gửi cho họ. Những bức thư đó một lần nữa kêu gọi Chính phủ Pháp hãy tìm cách chấm dứt chiến tranh - một cuộc chiến tranh chỉ đưa nước Pháp đến chỗ ngày càng thêm kiệt quệ - và lập lại hòa bình thực hiện chính sách đã được nêu lên trên tờ Bình dân số ra ngày 12 tháng 12 năm 1946, một chính sách hữu nghị và tin cậy lẫn nhau, trên cơ sở tôn trọng nền độc lập thống nhất của Việt Nam trong Khối Liên hiệp Pháp. “Đó là một đường lối khôn ngoan mà Chính phủ Pháp cần theo đuổi. Và cũng chỉ có như vậy, quyền lợi của Pháp ở Việt Nam mới được tôn trọng và phát triển”.

        Giới cầm quyền Pháp im hơi lặng tiếng. Bọn đại diện của họ ở Đông Dương ra sức xuyên tạc thiện chí của phía Việt Nam. Thậm chí đến năm 1971, Xalăng vẫn chưa tỉnh ngộ và còn phun ra những lời cực kỳ phản động. Trong tập 2 cuốn Hồi ký (xuất bản năm 1971), Xalăng cho rằng lời lẽ trong những bức thư của Chính phủ Việt Nam “ngấm đầy thuốc độc, rằng nguồn hy vọng có thể hợp tác đã không còn nữa... vì Việt Minh đã trở thành đối thủ của tôi” (!). Chính với những ý nghĩ vô cùng ngoan cố đó mà từ tháng 6, Xalăng hung hăng bắt tay vào công việc chuẩn bị hòng đánh một đòn quân sự quyết định.

        Phối hợp với hành động quân sự của Pháp ở Đông Dương là những lời tuyên bố của Bảo Đại từ Hồng Công vọng về. Tháng 7 năm 1947, “vua hộp đêm” lên tiếng: “Nếu mọi người Việt Nam đặt tín nhiệm vào tôi, nếu sự có mặt của tôi ở Việt Nam có thể góp phần vào việc kiến lập những quan hệ tốt đẹp giữa người Việt Nam và người Pháp, tôi rất sẵn sàng trở về nước...”. Cũng trong dịp này, trên nhiều tờ báo ở Hà Nội và Sài Gòn, người ta thấy đăng những tin tức về những cuộc “biểu tình ủng hộ cựu hoàng”, những bức điện “của nhiều đoàn thể quần chúng” (?) gửi sang Hồng Công “thỉnh cầu cựu hoàng về nước để điều đình với Pháp...”.

        Giữa lúc hai vai kép chính của tấn tuồng (Xalăng và Bảo Đại) đang dạo những lời giáo đầu thì nhà đạo diễn Bôla từ Pari trở lại Đông Dương, mang theo kịch bản đã được giới cầm quyền Pháp chính thức phê duyệt.

        Đó là bản chỉ thị dày 20 trang, mang số 3739 được bộ Pháp quốc hải ngoại soạn thảo từ tháng 3, bao gồm 7 điểm:

        1. Nước Pháp muốn các quốc gia, các lãnh thổ hải ngoại (tức các thuộc địa Pháp) phải tôn trọng hiến chương của Khối Liên hiệp Pháp, phải nhận thức được nhiệm vụ do hiến chương đã quy định, phải tôn trọng quyền lợi của nước Pháp.

        2. Dù nước Pháp không muốn khôi phục chủ quyền dưới hình thức như trước đây, cũng không muốn chống lại nguyện vọng của các nước ở Đông Dương, quyền lợi của Pháp ở bán đảo này vẫn phải được bảo vệ. Đó là điều không thể bàn cãi, không thể nói đến chuyện hòa giải.

        3. Chính phủ nhận định rằng bản tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của tướng Đờ Gôn đã không có hiệu lực đối với Việt Nam cho nên đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như hiện nay.

        4. Bởi vậy quân đội Pháp ở Đông Dương có nhiệm vụ khôi phục và duy trì trật tự an ninh, chống lại âm mưu thôn tính và xâm lược của người An Nam (!), giữ vững các căn cứ của Pháp trên các địa bàn xung yếu: các đường giao thông chiến lược, các sân bay, hải cảng, các trung tâm kinh tế quan trọng.

        5. Vấn đề thống nhất của Việt Nam vẫn chỉ có thể được giải quyết bằng trưng cầu ý dân.

        6. Riêng tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, cuộc chiến càng kéo dài càng lợi cho Việt Minh, cho nên nước Pháp cần nhanh chóng tìm biện pháp có hiệu quả để thoát khỏi tình trạng ngày càng bất lợi đó.

        7. Đối với vùng thượng du Bắc Kỳ, phải tìm mọi cách ngăn cản không để Việt Minh tiếp xúc được với phong trào cách mạng ở Trung Quốc. Việc phát triển quân ngụy tại các vùng dân tộc ít người (sau khi chiếm đóng các vùng đó) là điều cần thiết để thực hiện chủ trương nói trên.

        Thế là rõ. Không dùng được bản tuyên bố 24 tháng 3, đế quốc Pháp tất phải tiếp tục dùng vũ lực. Chiến trường chủ yếu là miền Bắc Việt Nam và mục tiêu trọng điểm là vùng rừng núi Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #54 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:01:46 am »


        Ngày 24 tháng 7, nhận được bản chỉ thị từ tay cao ủy Bôla, Xalăng tỏ ra hài lòng và hứa sẽ “hoạt động trong phạm vi trách nhiệm ở miền Bắc để thực hiện một cách có hiệu quả nhất” ý đồ của giới cầm quyền Pháp. Được sự hướng dẫn của Bôla và Valuy, viên chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc đi sâu thêm một bước tìm hiểu đối tượng tác chiến và chiến trường hòng hoàn chỉnh kế hoạch cuộc hành binh mùa khô sắp tới.

        Ta hãy xem viên tướng này hiểu như thế nào về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, hiểu gì về căn cứ địa Việt Bắc.

        … “Thật là một điều thần bí khi cả một dân tộc đứng sau người lãnh đạo của mình và sẽ đi theo người lãnh đạo đến cùng... Quân đội, từ nhân dân mà ra, đã phục tùng người lãnh đạo đó... Họ cho rằng muốn xứng đáng được hưởng hòa bình, tuyệt đối không thể không chiến đấu... Và cuộc chiến tranh đã nổ ra, rất tàn khốc...”.

        “… Biết rằng không đủ sức giữ Hà Nội lâu dài, Chính phủ của họ đã áp dụng ngay một đường lối chỉ đạo khiến cho quân đội tránh khỏi bị tiêu diệt. Cuộc chuyển quân (để bảo toàn lực lượng) đã được chuẩn bị chu đáo và diễn ra trên trục đường chính: Hà Đông - Sơn Tây - Phú Thọ - Tuyên Quang... Từ đó, ông Giáp lặng lẽ xây dựng bộ đội của mình...”.

        “… Trong phạm vi khu tứ giác Chợ Chu - Tuyên Quang - Chiêm Hóa - Chợ Rã, đối phương tổ chức một căn cứ để điều khiển động viên kháng chiến. Bắc Cạn là thủ đô chính trị và tinh thần của căn cứ đó. Căn cứ quân sự được nối liền với Trung Quốc bằng hai đường: Bắc Cạn - Cao Bằng - Quảng Uyên và Tuyên Quang - Lao Cai - Hồ Khẩu...”.

        “… Nếu ở đồng bằng chỉ có một số ít dân quân đánh bằng cạm bẫy trên đường giao thông, thì ngược lại, ở phía Bắc này, lực lượng kháng chiến có chừng mười lăm tiểu đoàn. Họ tiếp tục tuyển mộ lính và đào tạo cán bộ. Kẻ thù đã tổ chức cả một hệ thống kháng chiến rất chặt chẽ, không những bảo vệ được ở mức cao nhất các cơ quan lãnh đạo mà hoàn toàn còn có thể tiến hành một cuộc chiến đấu phòng ngự bền bỉ, ác liệt...”.

        “… Vùng này dựa trên cơ sở các dân tộc ít người, đã trải qua hai năm dưới chính thể vững chắc của Việt Minh... Muốn lôi kéo dân chúng về phía chúng ta, chúng ta phải thể hiện quyết tâm và nêu lên những điều cam kết về chính sách của chúng ta sau này...”1.

        Có điều Xalăng và đồng bọn không thể ngờ tới là, trong lúc họ đang cố tìm hiểu căn cứ địa kháng chiến Việt Nam để định kế hoạch tác chiến sau mùa mưa thì, từ trung tuần tháng 6, Hội nghị quân sự lần thứ ba của các lực lượng kháng chiến Việt Nam đã phán đoán được âm mưu chiến lược sắp tới của địch và đề ra những biện pháp quan trọng về các mặt để tiêu diệt lực lượng địch, làm thất bại cuộc tiến công của chúng và bảo vệ hậu phương kháng chiến.

        Càng về cuối mùa mưa quân Pháp càng ráo riết chuẩn bị cho cuộc hành binh sắp tới.

        Muốn đọ sức với một đối thủ không thể coi thường, trên một chiến trường rừng núi bao la như Việt Bắc, điều lo lắng lớn nhất của Xalăng và bộ tham mưu Bắc Đông Dương là vấn đề lực lượng.

        Sau khi sư đoàn 9eDIC hồi hương và lá cờ hiệu của nó được đưa vào “bảo tàng truyền thống các chiến tích của quân đội thuộc địa”, các trung đoàn quân Pháp ở Đông Dương vẫn giữ phiên hiệu cũ, kể cả các trung đoàn của sư đoàn 9 đã giải tán.

        Theo báo cáo của cơ quan tham mưu Pháp, bước vào mùa khô 1947, binh lực Pháp ở Bắc Đông Dương gồm:

        - Từ Lạng Sơn đến vùng mỏ Đông Bắc có trung đoàn 21eRIC (2 tiểu đoàn), được tăng cường một số đơn vị ngụy ở vùng duyên hải, tương đương một tiểu đoàn.

        - Ở vùng Hải Phòng và đồng bằng ven biển có trung đoàn 23eRIC (2 tiểu đoàn), cộng thêm một số thân binh2công giáo.

        - Vùng Tây Bắc có hai tiểu đoàn ngụy Thái.

        - Tại Hà Nội, Nam Định và vùng phụ cận hai thành phố trên có trung đoàn 6eRIC (3 tiểu đoàn).

        - Trên chiến trường Thượng Lào (chủ yếu là ở vùng Sầm Nưa) có hai đơn vị biệt kích ngụy Lào, tương đương hai tiểu đoàn.

        - Trung đoàn 3e REI gồm ba tiểu đoàn rải ra trên các trục giao thông chính ở đồng bằng Bắc Bộ.

        - Bán lữ đoàn dù cơ động gồm ba tiểu đoàn, trong đó có một tiểu đoàn dù biệt kích. Đây là lực lượng dù cơ động chiến lược do viên đại tá Xôvanhắc (Sauvagnac) chỉ huy.

        - Bán lữ đoàn Marốc (nòng cốt lấy từ trung đoàn Marốc thứ 5 (5eRTM) và một số của trung đoàn RICM - tình nguyện ở lại - chuyển sang). Bán lữ đoàn này (gồm 2 tiểu đoàn) cũng là lực lượng cơ động chiến lược, do viên đại tá Bôphrơ (Beaufre) chỉ huy.

        - 13 chi đoàn cơ giới và 1 chi đoàn xe tăng.

        - 1 trung đoàn pháo binh thuộc địa Marốc (RACM) gồm 7 pháo đội 105 milimét và 2 trung đội 155 milimét.

        - 1 tiểu đoàn pháo độc lập, chuyển từ trung đoàn pháo binh Angiêri thứ 69 sang (69e RAA).

        Tổng cộng toàn bộ lực lượng chiếm đóng và cơ động chiến lược của Pháp trên chiến trường Bắc Đông Dương chỉ gồm khoảng 20 tiểu đoàn. Theo bọn chỉ huy Pháp nhận xét thì lực lượng này không đủ để vừa đối phó với đối phương vừa mở cuộc tiến công lên Việt Bắc, một cuộc tiến công mà Valuy và Xalăng trù tính phải dùng chừng 20.000 quân, kéo dài trong sáu tháng

--------------------
       1. Raoul Salan, Mémoires (Le Việt Minh - mon adversaire (Việt Minh đối thủ của tôi), Presse de la Cité, Paris, 1971, tập 2, tr. 60-70...101.

        2. Lực lượng vũ trang tay sai tại chỗ (chủ yếu là thanh niên công giáo). Chức năng chủ yếu là bảo vệ địa phương, giáo phận.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #55 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:04:33 am »


LỰC LƯỢNG NHỎ, MƯU ĐỒ LỚN

        Để tìm lối thoát về quân số, tháng 7 năm 1947, tướng Valuy về Pháp xin quân tăng viện để thực hiện kế hoạch tiến công trong thu đông. Chính phủ Pháp cho viên tổng chỉ huy biết rằng tình hình khó khăn của nước Pháp chỉ cho phép tập trung một lực lượng chừng 12.000 để tiến hành một chiến dịch trong vòng ba tháng, với điều kiện là ngay sau khi cuộc hành binh chấm dứt, phải điều trả về “chính quốc” lực lượng cần thiết để Chính phủ gửi sang đối phó với phong trào nổi dậy ở Mađagaxca, nơi đang làm cho Pari lo lắng.

        Trở lại Đông Dương, Valuy không còn cách gì khác hơn là rút bớt lực lượng ở chiến trường miền Nam để đưa ra Bắc từ 3 đến 5 tiểu đoàn cùng với một số máy bay và phương tiện thả dù, nhằm đáp ứng yêu cầu của Xalăng trong cuộc hành binh sắp tới.

        Được lời hứa về binh lực của tổng chỉ huy, tướng Xalăng khẩn trương hoàn tất kế hoạch tác chiến mùa khô.

        Viên chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ nhiều lần dẫn bọn chỉ huy thuộc quyền bay đi trinh sát dọc quốc lộ số 1, 2, 3, 3b và 4, các con sông chính liên quan đến cuộc hành binh (sông Thao, sông Lô, sông Gâm) và các thị trấn Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng - những thị trấn chỉ còn là những đống gạch vụn. Tất nhiên, Xalăng cũng phải nhiều lần giật gấu vá vai để điều chỉnh lực lượng mỗi khi được thêm từng tiểu đoàn tăng viện theo lối nhỏ giọt. Hắn phác ra những nét lớn của cuộc tiến công lên Việt Bắc như sau:

        - Quân dù thiện chiến sẽ được ném thẳng xuống thị xã Bắc Cạn, trung tâm của căn cứ địa đối phương, với nhiệm vụ “bắt gọn Chính phủ kháng chiến”.

        - Hai gọng kìm lớn sẽ ôm lấy toàn bộ vùng rừng núi Việt Bắc, truy lùng và tiêu diệt lực lượng vũ trang của đối phương, phá hoại kho tàng, “làm tệ liệt tiềm lực chiến tranh của đối phương”.

        - Hướng Tây và Tây Bắc (Hòa Bình, Yên Bái, Lao Cai) sẽ là hướng vừa phối hợp vừa nghi binh.

        - Mọi nhu cầu vật chất của cuộc hành binh sẽ được huy động từ đồng bằng lên, vì ít có khả năng vơ vét tại chỗ.

        Được phổ biến dự kiến kế hoạch trên đây, bọn chỉ huy cấp dưới của Xalăng, nhất là những viên chỉ huy sẽ trực tiếp phụ trách các cánh quân trong cuộc hành binh, không khỏi ngạc nhiên và lo ngại. Họ thấy chỉ riêng trên hướng chính của chiến dịch, với một địa bàn rộng trên 60.000 kilômét vuông, với những gọng kìm dài từ khoảng 300 đến 400 kilômét, rõ ràng cuộc hành binh đòi hỏi một lực lượng lớn hơn rất nhiều so với số quân có thể huy động được.

        Đám cầm đầu dân sự và quân sự ở vùng duyên hải, Thượng Lào và Tây Bắc (những địa bàn không quan hệ trực tiếp đến chiến dịch) cũng tỏ ra nghi ngờ kết quả của cuộc hành binh. Mácsăng, khi ấy còn là đại tá chỉ huy quân Pháp ở Thượng Lào, phản đối chủ trương mở cuộc tiến công lên Việt Bắc, một việc quá sức quân đội Pháp. Còn Misôđen (Michodel), một viên “quan cai trị” thực dân cáo già đã từng ở Đông Dương với Xalăng hồi những năm 1925-1937, đã nói thẳng ra rằng cuộc hành binh không thể đạt kết quả vì “Việt Minh có tài bẻ gãy các mũi tiến công, làm rối loạn đội hình đối phương, lại có tài thoát khỏi thế bị bao vây... Họ có thể sống dài ngày trong rừng, biết nhận địa hình thông thạo, có thể xuất quỷ nhập thần... Tóm lại, họ là những người không thể nào tóm bắt được...”.

        Với binh lực hạn chế, chính Xalăng cũng cảm thấy cuộc hành binh lên Việt Bắc là một kế hoạch mạo hiểm, nhất là ở hướng trọng điểm (Bắc Cạn) sẽ diễn ra trong điều kiện thả dù rất khó khăn. Nhưng viên tướng này tin vào lời hứa tăng viện của Valuy, tin vào “đòn bất ngờ thọc thẳng vào tim quân thù” và cũng tin vào một “kế hoạch nghi binh chiến lược” để đánh lạc hướng đối phương, một kế hoạch Valuy đã phê chuẩn.

        Vào khoảng tháng 8, người ta thấy trên một số tờ báo ở Hà Nội, Sài gòn và cả ở Pari nữa, thường có những tin (do bộ tham mưu của Xalăng cố tình tung ra) nói rằng sau mùa mưa, quân Pháp chỉ còn chiếm đóng Nam Bộ, một phần biên giới Tây Bắc và Đông Bắc cùng với vùng duyên hải Bắc Bộ, còn phần lớn đất đai miền Bắc Đông Dương (kể cả Hà Nội) sẽ được trao trả cho chính quyền bù nhìn.

        Một việc làm, hai mục đích. Về quân sự, đánh lạc hướng chú ý của Việt Minh, tạo thêm thế bất ngờ. Về chính trị, một miếng mồi tung ra để nhử “cựu hoàng” đang còn do dự nửa ở nửa về.

        Xalăng và bộ tham mưu Pháp ở miền Bắc rất tin rằng “báo chí sẽ tiếp tay một cách vô ý thức” cho chúng và một khi đối phương đã bị lừa thì phần thắng sẽ nắm chắc trong tay.

        Nhận thấy trong việc vận dụng công thức Xalăng + Bảo Đại, phe quân sự có vẻ đứng trước triển vọng tốt đẹp, cao ủy Bôla thấy cần hành động mạnh tay hơn. Một hành động lừa bịp về chính trị càng trở nên cần thiết khi mà dư luận ngày càng bất lợi đối với việc lôi kéo Bảo Đại về nước. Tại Pháp báo chí tiến bộ không ngừng đòi Chính phủ phải điều đình với Cụ Hồ Chí Minh, phải chấm dứt cuộc chiến tranh bẩn thỉu ở Đông Dương. Ngay tại Sài Gòn, 300 nhà trí thức Việt Nam cũng ra kiến nghị đòi Pháp phải dàn xếp với Chính phủ kháng chiến để đình chỉ cuộc xung đột. Điều đáng chú ý là người đầu tiên ký vào bản kiến nghị lại là viên thư ký của cái gọi là “Hội đồng Nam Kỳ tự trị” do chính người Pháp nặn ra. Trong khi đó thì tin tức về việc Ấn Độ và Pakixtan chuẩn bị tuyên bố độc lập (vào ngày 15 tháng 8 năm 1947) đã gây một tiếng vang trong các đô thị do Pháp kiểm soát.

        Cái được gọi là “hành động mạnh tay” của Bôla là gì. Viên cao ủy dự định sẽ đọc một bài diễn văn ở Hà Nội vào đúng ngày 15 tháng 8, để tuyên bố lừa bịp rằng Pháp “sẽ ngừng bắn” vào trưa hôm đó để xúc tiến việc đàm phán trên cơ sở công nhận nền “độc lập của Việt Nam”

        Dù biết rằng ý đồ trên đây của viên cao ủy chỉ là một hành động bịp bợm, tổng chỉ huy vẫn thấy trò chơi của Bôla “sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, nguy hại đến tinh thần quân đội viễn chinh”. Để kịp thời chặn bàn tay của viên cao ủy, Valuy bí mật báo cáo về Pari và ngày 12 tháng 8 (ba ngày trước khi “trò chơi chính trị mạo hiểm” diễn ra) Bôla được gọi cấp tốc về Pháp để “trả lời những câu chất vấn của Chính phủ”.

        Gặp Bôla ngày 19, Thủ tướng Ramađiê nói toạc ra rằng không được đùa với lửa bằng một lời tuyên bố “ngừng bắn”. Hơn thế nữa “càng không được nghĩ đến chuyện điều đình với Việt Minh”. Theo Thủ tướng Pháp, điều đình sẽ thất bại vì: “một là, không dễ gì thuyết phục được Việt Minh trong các cuộc đàm phán; hai là, các đảng phái quốc gia (ý nói bọn tay sai mà Pháp đang lên tiếng tập hợp) sẽ bị tiêu diệt, Pháp sẽ không còn chỗ bám và như vậy sẽ mất hết quyền lợi” (?). Ramađiê chỉ thị: Bằng bất kỳ giá nào cũng phải kiên trì con bài Bảo Đại. Cựu hoàng là “một nhân vật quốc gia, tuy phải lưu vong nhưng chưa cạn chí” (!). Phải hỗ trợ cho “giải pháp Bảo Đại” bằng một nỗ lực quân sự, đánh đòn quyết định để chấm dứt phong trào kháng chiến. Chính phủ sẽ cố gắng đưa thêm lực lượng sang để Xalăng thành công trong cuộc hành binh sắp tới. Tóm lại, phải áp dụng thành công công thức mầu nhiệm: Xalăng + Bảo Đại. Không có con đường nào khác.

        Trở lại Đông Dương, cao ủy Bôla thấy mình như “lớn lên” sau trận xát xà phòng và những lời giáo huấn của Thủ tướng. Cuộc vận động chính trị tiếp tục diễn ra sôi nổi hơn, nhịp nhàng hơn trong sự phối hợp giữa Sài Gòn, Hồng Công và Pari.

        Chưa bao giờ ngài cao ủy tin tưởng vào thắng lợi cả về chính trị lẫn quân sự như những ngày tháng 9 đáng ghi nhớ ấy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #56 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:05:39 am »


ĐÒN ĐÁNH THẲNG VÀO TIM QUÂN THÙ

        Tin tức từ Hồng Công vọng về cho biết, ngày 5 tháng 9, Bảo Đại ra “tuyên bố báo chí” cho biết cựu hoàng sẵn sàng tiếp các đại diện dân chúng để bàn về việt đức vua về nước nếu quốc dân yêu cầu. Chỉ bốn ngày sau, một tốp gọi là “phái đoàn quốc gia gồm 24 người thuộc đủ mọi thành phần trong nước” (!) nhưng “do Pháp chọn lọc và sắp xếp” đáp máy bay sang Hồng Công để “trình lời thỉnh cầu của dân chúng lên cựu hoàng Bảo Đại”.

        Trong lúc các con rối đang múa may, kêu gào ầm ĩ trên đảo Hồng Công đàng điếm thì, ngày 10 tháng 9, tại Hà Đông, một thị trấn hầu như bị san phẳng, Bôla đọc một bài diễn văn do Văn phòng của Bộ Pháp quốc hải ngoại chuẩn bị sẵn trong dịp viên cao ủy về Pháp tháng trước, một bài diễn văn mà ngay báo chí của bọn tay sai cũng phải nhận là “đầy những lời mơ hồ và mâu thuẫn”.

        Để khỏi lộ mặt là cái loa của giới cầm quyền phản động Pháp, Bôla huênh hoang tuyên bố rằng đó là ý kiến “của cả dân tộc Pháp”. Mặc dù cố che đậy bằng những danh từ bóng bẩy và những luận điệu mơ hồ, bài diễn văn của viên cao ủy cấp tiến (!!) cũng lộ rõ những quan điểm phản động của thực dân Pháp đã bị báo chí tiến bộ Pari lên tiếng phản đối:

        Một là, không công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, không công nhận Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh là người đại diện chân chính của toàn dân Việt Nam.

        Hai là, công khai ve vãn bọn tay sai hòng tiến tới thiết lập chế độ đối lập với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

        Ba là, thách thức nhân dân Việt Nam, nếu không chấp nhận “chế độ tự trị” được đưa ra dưới hình thức tối hậu thư trong bài diễn văn (hoặc chấp nhận hoặc không chấp nhận, không mặc cả), Pháp sẽ tổ chức chính quyền bù nhìn và quân đội tay sai để đánh lại nhân dân Việt Nam mà bọn thực dân Pháp quen gọi là “quân phiến loạn Việt Minh”.

        Tóm lại, như báo Sự thật của ta số ra ngày 15 tháng 9 đã kịp thời lên án, bài diễn văn của Bôla “vẫn một giọng trịch thượng, tỏ ra thực dân Pháp vẫn tham lam, mê muội... không tự biết mình”.

        Đúng vào ngày Bôla diễn thuyết ở Hà Đông, Thủ tướng Ramađiê tuyên bố trong cuộc họp báo ở Pari rằng, Chính phủ Pháp hoàn toàn nhất trí về những vấn đề do cao ủy đề ra. Ramađiê không ngần ngại tiết lộ rằng bài diễn văn đã được nghiên cứu kỹ ở Pari, rằng Thủ tướng và các bộ trưởng hoàn toàn đồng tình vì nội dung của nó “hoàn toàn phù hợp với truyền thống tự do của nước Pháp” (!).

        Trong khi Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam phát đi lời tuyên bố bác bỏ luận điệu lừa bịp và khiêu khích của Bôla và cho rằng bài diễn văn nói trên hoàn toàn không có giá trị thì tại Hồng Công, ngày 18 tháng 9, Bảo Đại lại lên tiếng: “Tôi vì hạnh phúc của dân (?) mà thoái vị. Nay nếu dân lại thuốn tôi ra giúp nước (?) và điều đình với Pháp thì tôi sẵn sàng chấp nhận cho hợp với nguyện vọng chung...”.

        Như nhiều ký giả Pháp hồi đó nhận xét, lời tuyên cáo Bảo Đại tung ra sau bài diễn văn của Bôla chứng tỏ cựu hoàng đã hoàn toàn chấp nhận những điều do Pari vạch ra...” vì lời tuyên cáo phát đi từ Hồng Công “phù hợp với khuôn khổ mà cao ủy đề xướng”.

        Trung tuần tháng 9, trong khi Bôla dàn những màn kịch ầm ĩ để dọn đường cho tên tay sai số một về nước và Xalăng đang hối hả chuẩn bị cho cuộc hành binh mùa khô thì trong cả nước, nhất là ở Việt Bắc và trung du, quân dân Việt Nam khẩn trương chuẩn bị mọi mặt theo tinh thần bản chỉ thị sửa soạn phá những cuộc tiến công lớn của địch.

        Sau các hội nghị quân sự lần thứ 4 và thứ 5, quân và dân các địa phương được lệnh phá hoại triệt để hơn nữa các thị trấn mà địch có thể đánh tới, các đường giao thông mà cơ giới địch có thể đi qua. Tại các vùng nông thôn, các làng chiến đấu được xây dựng và củng cố theo phương hướng “hình thành những hệ thống kháng chiến như những tấm lưới bổ vây quân địch”. Việc sơ tán kho tàng, làm “vườn không nhà trống” được xúc tiến khẩn trương. Vừa thực hiện chủ trương “từng địa phương tiến tới tự túc”, vừa triển khai rộng khắp công tác giao thông vận tải bằng phương tiện thô sơ, đề phòng trường hợp địch khống chế các đầu mối giao thông chủ yếu và chia cắt chiến trường. Việc phát triển dân quân du kích, bổ sung trang bị và huấn luyện cho lực lượng vũ trang các địa phương được xúc tiến khẩn trương nhận thực hiện “nhiệm vụ căn bản là phát động chiến tranh du kích”, không những ở Việt Bắc mà cả trong các địa phương để sẵn sàng phối hợp với Việt Bắc. Nhiều đơn vị Vệ quốc đoàn được điều về các địa bàn xung yếu để sẵn sàng đánh địch và dìu dắt dân quân, du kích, tự vệ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #57 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:06:26 am »


        Cả nước gấp rút chuẩn bị về mọi mặt theo khẩu hiệu “sẵn sàng đập tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp”. Sau bài diễn văn của Bôla, Thông cáo của Thường vụ Trung ương: cuộc tiến công đó không những đã trở nên một việc tất yếu mà nó sẽ diễn ra rất quyết liệt.

        Bộ chỉ huy Pháp không lường được điều khẳng định của đối phương. Họ đinh ninh rằng quân dân Việt Nam đã bị lừa vì “sáng kiến nghi binh chiến lược” mà Xalăng mất nhiều công phu tung ra trên báo chí.

        Vào khoảng hạ tuần tháng 9, kế hoạch tiến công được xây dựng hoàn chỉnh sau khi Bộ chỉ huy Pháp đưa thêm ra miền Bắc một lực lượng cao nhất, kể cả gần 30 máy bay khu trục và vận tải, 3 tiểu đoàn lính Âu - Phi, các phương tiện thả dù... Theo kế hoạch này:

        - Lực lượng tham gia gồm 16 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 3 đại đội cơ giới, gần 800 xe vận tải các loại, 2 phi đội với khoảng 40 máy bay (một phi đội trinh sát và ném bom, một phi đội vận tải), 3 đơn vị thủy đội xung kích (dinassaut) với khoảng 40 tàu, xuồng LCT, LCM, LCVP. Tổng cộng toàn bộ lực lượng quân Pháp tham gia chiến dịch tiến công lên Việt Bắc lên tới khoảng 20.000 tên1.

        - Trung tâm của chiến dịch là thả quân dù thiện chiến của binh đoàn “S” xuống để “bắt gọn Chính phủ kháng chiến” mà chúng nghi là ở khu vực thị xã Bắc Cạn. Đây là “hướng quyết định” của toàn bộ cuộc hành binh do viên đại tá Xôvanhắc (Sauvagnac phụ trách.

        - Hai gọng kìm lớn mở ra trên hai hướng Đông và Tây:

        Hướng Đông do binh đoàn “B” dưới quyền chỉ huy của viên đại tá Bôphrơ (Beaufre). Nhiệm vụ của binh đoàn “B” là tiến quân từ Lạng Sơn theo đường số 4 lên chiếm đóng Cao Bằng sau đó đưa một bộ phận tiến về Bắc Cạn hỗ trợ cho binh đoàn “S”. Với kết quả đó, biên giới sẽ bị “bịt kín” thêm trên đoạn từ Lạng Sơn đến Cao Bằng và quân dù ở Bắc Cạn không bị cô lập.

        Hướng Tây do binh đoàn “C”, dưới quyền chỉ huy của viên đại tá Commuynan (Communal). Nhiệm vụ của binh đoàn “C” là theo các sông Hồng, sông Lô, sông Gâm, tiến từ Hà Nội, qua Việt Trì, Tuyên Quang lên Chiêm Hóa.

        - Vào khoảng trung tuần tháng 10, gọng kìm sẽ khép lại ở Đài Thị (đông bắc Chiêm Hóa 12km) tạo thành thế bao vây toàn bộ căn cứ địa kháng chiến, thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào tiêu diệt bộ đội chủ lực, phá hủy kho tàng, làm tê liệt guồng máy kháng chiến, hủy diệt tận gốc mọi tiềm lực chiến tranh của nhân dân Việt Nam.

        - Tây Bắc và vùng Hưng Hóa - Sơn Tây được coi là hướng vừa nghi binh, vừa phối hợp với hướng chính (Việt Bắc).

        - Lực lượng dù dự bị sẵn sàng ở Hà Nội để tung vào hướng nào cần tăng viện, ứng cứu.

        Toàn bộ chiến dịch tiến công quy mô lớn này được mệnh danh là “Kế hoạch Clôclô (Cloclo)” do tướng hai sao Xalăng, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Đông Dương, đích thân chỉ huy.

        Nếu trước đây, khi lực lượng huy động chưa đầy đủ đã có lúc Xalăng nghĩ rằng cuộc tiến công lên Việt Bắc là một chủ trương mạo hiểm thì khi đã có trong tay chừng 20.000 quân với những tin tức tình báo thu lượm được, viên tướng này lại tin tưởng có thể nắm chắc phần thắng. Chính vì vậy mà ngay từ đầu ngoài việc vạch kế hoạch cụ thể cho bước một của cuộc hành binh (bước một mang bí danh Lêa (Léa)2, Xalăng thấy chưa cần vạch bước tiếp theo cho chiến dịch tiến công. Viên tướng tin rằng với “Léa” (nhảy dù xuống Bắc Cạn, hợp điểm của hai gọng kìm ở Đài Thị, lùng quét trong vòng vây), quân Pháp chắc chắn đạt được mục tiêu chiến lược đề ra cho cuộc hành binh.

        Ngày 7 tháng 103 được Bộ chỉ huy quân Pháp chọn làm ngày xuất phát “đánh thẳng vào tim quân thù”.

        Khốn nỗi, mãi đến 23 tháng 9 khi viên đại tá Lécmít (Lhermitte) bắt đầu tung bọn ngụy Thái ra các hướng Lao Cai, Than Uyên, Nghĩa Lộ, Yên Bái để thực hiện kế hoạch nghi binh và phối hợp, thì việc chuẩn bị trên hướng đường số 4 của Bôphrơ vẫn chưa xong. Mãi đến ngày 4 tháng 10, ngày mà tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn Marốc thứ 6 (3/6 RTM) đã tiến lên Sơn Tây, Trung Hà, Hưng Hóa, binh đoàn “B” vẫn chưa hoàn tất việc chuẩn bị. Xalăng phải thân hành lên Lạng Sơn để đốc thúc viên đại tá Bôphrơ “phải phi nước đại” để chuẩn bị cho kịp tham gia chiến dịch. Điều lo ngại của Xalăng là nếu cánh quân hướng Đông tiến chậm so với kế hoạch, binh đoàn “S” sau khi nhảy dù xuống sẽ bị cô lập và uy hiếp trong một thời gian dài giữa vùng căn cứ bao la của đối phương.

--------------------
        1. Các binh đoàn lấy chữ cái đầu tiên người chỉ huy: S: Sauvagnac, B: Beaufre, C: Communal.

        2. Tên một ngọn đèo cao 1.400 mét trên đường số 3, giữa Nguyên Bình và Bắc Cạn.

        3. Ngày 13 tháng Chín âm lịch, đầu tuần trăng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #58 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:08:07 am »


TỪ “LÊA” ĐẾN “XANHTUYA”

        Sáng sớm 7 tháng 10, sau khi được phân đội trinh sát khí tượng bay về báo cáo tình hình thời tiết thuận lợi, Xalăng hạ lệnh ngay cho viên thiếu tá Clôdông (Clauzon) chỉ huy toán quân dù đầu tiên xuất phát. Bọn này nhảy xuống thị xã Bắc Cạn lúc 8 giờ 15 phút.

        Từ 11 giờ hôm đó và liên tiếp nhiều lần ngày hôm sau (8 tháng 10), Xalăng đích thân đáp máy bay Catalina, có gắn máy vô tuyến điện liên lạc với quân dưới đất, bay lên Bắc Cạn. Ngay trong ngày đầu, viên chỉ huy cuộc hành binh đã liên tiếp nhận được “những tin vui lớn”. Xôvanhắc báo cáo: nào là binh đoàn “S” chiếm được nơi này nơi kia trong thị xã Bắc Cạn, nào là “đã bắt gọn được Chính phủ của ông Hồ Chí Minh”...

        Tin tức đặc biệt quan trọng là điện báo cáo hồi 11 giờ 35 phút ngày 7 tháng 10 của binh đoàn “S”. Xôvanhắc cho biết: “Ông Hồ Chí Minh bị bắt đã yêu cầu chấm dứt chiến tranh”. Xalăng vội vã bay về Hà Nội để báo cáo một cách dè dặt cho (cao ủy Bôla) ở Sài Gòn về “tin vui kỳ lạ” đó. Nhưng rồi ngày hôm sau, cũng chính binh đoàn “S” của Xôvanhắc lại gửi cho viên tướng chỉ huy chiến dịch những bức điện nội dung hoàn toàn trái ngược. Ví dụ: “Yêu cầu tăng viện gấp... Chúng tôi đang bị tiến công...”. Những bức điện liên tiếp trong ngày 8 của binh đoàn Xôvanhắc yêu cầu cứu nguy khiến tướng Xalăng phải thay đổi kế hoạch: Đình chỉ việc ném quân dù xuống Chợ Đồn, dùng lực lượng lính dù dự bị chiến dịch do Phôxây Phrăngxoa (Fossey François) chỉ huy tung xuống Bắc Cạn để ứng cứu cho binh đoàn “S”.

        Mặc dù, cuối cùng Xalăng cũng thả được chừng 1.200 quân dù trong vài ngày đầu xuống Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, nhưng chiến tích đó không làm cho cao ủy Bôla và quyền tổng chỉ huy Báttê1hài lòng. Số là ngày 8 tháng 10, ngay sau khi nhận được tin “đã bắt gọn Chính phủ kháng chiến”, hai ngài hấp tấp đáp máy bay ra Bắc. 14 giờ, vừa đáp xuống sân bay, hai ngài “rất tươi cười và chưa kịp nói lên lời chúc tụng chiến tích kỳ diệu chưa từng có” thì Xalăng đã vội cải chính: “Chúng tôi - chúng ta đã bị lừa”... Tất nhiên cao ủy và quyền tổng chỉ huy đành lóc cóc trở về Sài Gòn, “sau khi đã bỏ bữa cơm chiều và gửi lại cho Xalăng những lời không phải là... biểu dương”2.

        Trên hướng Đông, tức gọng kìm chủ yếu, Bôphrơ phải đợi sẩm tối ngày 7 mới cho xuất quân. Đường số 4 bị phá quá nhiều đến nỗi viên đại tá này không thể để toàn binh đoàn “B” hành quân theo đội hình đã dự kiến. Hắn buộc phải xé lực lượng ra thành 5 đơn vị, có công binh phối thuộc lần lượt tiến quân theo kiểu sâu đo, vừa đi vừa sửa đường, sửa cầu, lại vừa phải đề phòng bị quân ta phục kích. Cứ như thế, hành quân liên tục 24 giờ liền trong ngày đầu tiên, toàn binh đoàn “B” vẫn không đến được đích đã định trong kế hoạch. Trước nguy cơ việc chiếm thị xã Cao Bằng có thể bị chậm lại, ngày 9 tháng 10, Xalăng phải vội vã ném một tiểu đoàn dù dự bị xuống Cao Bằng, chốt một số vị trí xung yếu phía đông - nam thị xã này để yểm trợ và đón binh đoàn “B”.

        Sau gần 6 ngày hành quân căng thẳng, ngày 12 tháng 10, cánh quân do Bôphrơ chỉ huy mới đến thị xã Cao Bằng. Vừa tới nơi đã nhận được lệnh phải phái ngay lính da đen thuộc trung đoàn Marốc RICM theo hai đường số 3 và 3b, xuống Bắc Cạn để yểm trợ cho binh đoàn “S” và quân dù ở Chợ Đồn và Chợ Mới đang “bị cô lập như ba hòn đảo chơi vơi giữa biển cả”. RICM tiến về Bắc Cạn đâu có dễ dàng vì phải đối phó với các cuộc phục kích ở dọc đường, nhất là trên chặng từ Nguyên Bình và Ngân Sơn đến Phủ Thông. Không những lính Marốc không yểm trợ được cho đồng bọn ở Bắc Cạn mà RICM bị nguy ngập đến nỗi Xôvanhắc buộc phải tung một bộ phận quân dù đi ngược đường lên ứng cứu. Mãi đến ngày 16, hai toán quân mới gặp nhau và yểm trợ cho nhau tiến về Bắc Cạn.

        Trên hướng Tây, binh đoàn “C” không xuất phát được đúng thời gian quy định (ngày 7). Không những vì nước sông còn cao (tàu xuồng không chui qua cầu Long Biên được) mà việc chuẩn bị cũng chưa thật đầy đủ. Sau “hai ngày chờ đợi hết sức căng thẳng”, sáng ngày 9, toàn binh đoàn mới luồn qua cầu để tiến ngược sông Hồng. Nhưng ra khỏi thành phố Hà Nội chưa bao xa, nhiều tàu của thủy đội xung kích thứ 2 (2e dinassaut) đã mắc cạn. Chỉ còn lại hai phần ba lực lượng (thủy đội 1 và 3) tiếp tục hành quân, chật vật lắm 4 ngày sau (ngày 12) mới tới Phủ Đoan.

-------------------
        1. Từ đầu tháng 10, Valuy về Pháp công cán. Quyền chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương được trao cho đô đốc Báttê (Battet).

        2. Trong Hồi ký của mình, Xalăng dành cả một chương “Sự kiện Catalina” để nói rõ về cái tin vịt này. Theo Xalăng có thể đó là do dụng ý xấu của hiệu thính viên Tăngghi (Tanguy) nào đó. Mãi đến 1971, Xalăng vẫn không rõ nguồn gốc tin “bắt được Chính phủ kháng chiến” do đâu mà ra, nếu không phải do đối phương cố tình dùng kỹ thuật vô tuyến điện đưa hắn vào tròng?
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #59 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:09:33 am »


        Theo kế hoạch, chỉ còn một ngày nữa, hai binh đoàn “B” và “C” đã phải hợp điểm ở Đài Thị. Vậy mà vào ngày đó, 13 tháng 10, gọng kìm đường sông của Commuynan mới đuổi tới Tuyên Quang, một thị xã chỉ còn là đống gạch vụn. Không thể tiếp tục cuộc hành quân với lực lượng lớn và trang bị nặng, viên đại tá chỉ huy binh đoàn “C” hạ lệnh để pháo và hai phần ba lực lượng ở lại Tuyên Quang. Hắn chọn lọc và biên chế một tiểu đoàn biệt kích, trang bị nhẹ, dùng tàu nhỏ, theo sông Gâm tiến gấp lên Chiêm Hóa.

        Vừa qua ngã ba sông được chừng vài chục kilômét, do nước sông chảy quá xiết, đoàn tàu chạy chậm dần và “trở thành những mục tiêu rất tốt của các mũi súng phục sẵn hai bên bờ (sông Gâm)”. Toàn tiểu đoàn biệt kích phải bỏ tàu, hành quân bộ theo đường rừng dọc sông. Tướng Xalăng sau này thú nhận rằng đây là một tình huống quá bất ngờ mà bộ chỉ huy Pháp không hề lường tới, một tình huống đã buộc “một đơn vị toàn lính da trắng phải hành quân lần đầu tiên trong vùng rừng núi hiểm trở” lại luôn luôn bị phục kích, một cuộc hành quân “vượt quá sức chịu đựng của con người...”.

        Sau gần một tuần lễ hành quân ròng rã, ngày 17, tiểu đoàn biệt kích đã sứt mẻ và mệt lả mới kéo đến Chiêm Hóa. Phải còn hàng ngày đường nữa mới tới Đài Thị. Mặc dù đã chậm gần một tuần so với kế hoạch “khép gọng kìm”, tiểu đoàn biệt kích không còn đủ sức lê bước tiếp tục cuộc hành quân. Kế hoạch hợp điểm ở Đài Thị hoàn toàn bị phá sản. Chẳng những quân Pháp không khép được gọng kìm quy mô binh đoàn vào ngày 13 mà thực tế không cho phép chúng hợp điểm với quy mô tiểu đoàn vào bất kỳ ngày nào trong trung tuần tháng 10. Dù sau đó chúng có thực hiện được thì việc hợp vây về mặt chiến dịch cũng không còn ý nghĩa và tác dụng thực tế nữa.

        Dù ngồi ở Hà Nội hay bay đi bay lại trên bầu trời Việt Bắc trong những ngày chiến dịch đang diễn biến, Xalăng cũng không thể hình dung nổi đối phương đã “đón tiếp” các cánh quân Pháp ra sao.

        Lính dù vừa đặt chân xuống thị xã Bắc Cạn, gần 80 tên đã ngã gục trước mũi súng của học sinh trường Võ bị Việt Nam. Tiếp đến chiếc máy bay chở viên đại tá Lămbe (Lambert) bị dính đạn của quân dân Cao Bằng ngày 9 tháng 10. Lămbe tham mưu trưởng quân viễn chinh Pháp ở miền Bắc Đông Dương, tan xác cùng với 10 sĩ quan tham mưu cao cấp. Toàn bộ kế hoạch cuộc hành binh mùa khô của Pháp lọt vào tay các chiến sĩ Việt Nam. Liên tiếp trong các ngày 12, 13, 14, nhiều tàu xuồng địch bị bắn đắm ở Đoan Hùng, Bình Ca, Khoan Dụ (Tuyên Quang). Cuộc đổ bộ của Pháp lên Bình Ca (13-10) bị đẩy lùi. Quân dù chưa đứng vững chân ở Chợ Mới đã bị tập kích (15-10).

        Tại nhiều chiến trường khác, quân Pháp và tay sai cũng được “chia lửa” với đồng bọn ở Việt Bắc. Trong khi quân Pháp ở Gia Lâm (đêm 11-10), Sơn Tây (ngày 13-10) và ở ngoại ô Sài Gòn - Chợ Lớn, ở Long Xuyên (trung tuần tháng 10) bị đánh mạnh thì một số tên tay sai đầu sỏ cũng bị đền tội trước mũi súng của các đội danh dự Việt Nam. Tên Việt gian Trương Đình Tri bị bắn ở Hà Nội ngày 10-10, tên Nguyễn Văn Sâm ở Sài Gòn ngày 11-10.

        Để kịp thời chỉ đạo hoạt động của quân và dân Việt Nam trong lúc chiến dịch của địch đang phát triển, ngày 15 tháng 10, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra chỉ thị “phải phá cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp”. Sau khi biểu dương thành tích chiến đấu của quân dân Việt Bắc và các chiến trường phối hợp, vạch rõ âm mưu chiến lược và cách đánh của địch, Ban Thường vụ còn chỉ ra chỗ mạnh và chỗ yếu của chúng trong cuộc tiến công lên Việt Bắc, đồng thời nêu lên nhiệm vụ về quân sự và về các mặt khác để quân và dân cả nước đẩy mạnh hoạt động nhằm “làm cho địch thiệt hại để (chúng) không thể gượng lại được sau chiến dịch mùa đông này”1.

        Được sự chỉ đạo và uốn nắn của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, các đơn vị bộ đội chủ lực đã cùng nhân dân và lực lượng vũ trang các địa phương ra sức giết giặc lập công.

        Những chỗ yếu, chỗ sơ hở của Pháp đã trở thành những mục tiêu của các lực lượng vũ trang kháng chiến. Nhiều vị trí Pháp mới chiếm đóng bị bộ đội Việt Nam tập kích (Chợ Mới, Bắc Cạn...). Nhiều đoàn tàu, đoàn xe Pháp bị phục kích. Trên sông Lô, sông Gâm, nhiều canô, tàu chiến Pháp bị bắn chìm cùng với hàng trăm tên bị giết ở Khoan Dụ, Đoan Hùng, Khe Lau... Tại Tuyên Quang, quân Pháp bị tiêu hao nhiều đến nỗi chúng phải gọi thị xã này là “nghĩa địa khổng lồ”.

-------------------------
        1. Văn kiện Đảng 1945-1947, Nxb Sự thật Hà Nội 1969, tr. 159.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM