Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:48:09 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu  (Đọc 56393 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #150 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:27:48 pm »

       
ĐOẠN TUYỆT VỚI THÓI QUEN VỐN CÓ

        Ở Pari, Mayê đã xuống, Lanien đã lên. Ở Sài Gòn, Đờgiăng U(Maurice Dejean) đã đến, Lơtuốcnô đã đi. Dư luận cho rằng việc thay đổi một “nhân vật chính trị thuộc địa” bằng một “nhân vật ngoại giao chính cống” là một sự kiện có ý nghĩa. Việc đặt một quan chức ngoại giao đứng đầu phủ cao ủy khiến nhiều ký giả Pháp và nước ngoài nghĩ đến một sự chuyển hướng căn bản về đường lối chính trị. Người ta dự đoán đây là dấu hiệu tiến tới “chính sách bỏ rơi” hoặc ít nhất cũng tỏ ra là Pari muốn tìm một giải pháp thương lượng. Nhưng đó chỉ là ý kiến của các phóng viên, của những người ngoài cuộc. Còn đối với Nava vấn đề có khác. Từ khi được cựu Thủ tướng Mayê vời tới, viên tướng này vẫn nghĩ rằng mình có thể kiêm luôn cả chức cao ủy Đông Dương (giống hệt như suy nghĩ của Lơcléc tám năm trước). Nay Pari cử Đờgiăng sang, điều đó có nghĩa là viên tướng tổng chỉ huy chưa hẳn đã được Chính phủ tín nhiệm đầy đủ về chính trị.

        Thông cảm với nỗi lòng của Nava, tham mưu trưởng lục quân Pháp - tướng Blăng (Blanc) - đã viết thư cho Bộ trưởng chiến tranh Sơvinhê, nói thẳng ra rằng không nên để Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chịu sự chi phối của “một quan chức dân sự cao cấp thiếu trách nhiệm thực tế và thiếu thẩm quyền phán xét”. Bức thư mỏng manh của Blăng tất nhiên chẳng ngăn nổi Đờgiăng vào ngồi trong phủ cao ủy ở Sài gòn.

        Thật dễ hiểu vì sao tổng chỉ huy Nava không vui khi trở lại Đông Dương, khác hẳn với lần sang nắm tình hình khi mới nhậm chức hơn hai tháng trước. Trong một buổi gặp mặt nhân viên Bộ tham mưu ở Sài Gòn với những lời nửa kín nửa hở, Nava đã thổ lộ nỗi lòng và sự phản ứng của mình: “Người ta cử tôi sang đây vì tôi chưa biết gì về cuộc chiến tranh này. Tôi chưa hề có ý kiến gì phác ra từ trước. Tôi sẽ điều hành cuộc chiến tranh theo như điều lệnh quy định, không hề bị ảnh hưởng bởi những thói quen vốn có”. (Nava thừa hiểu rằng cái gọi là “thói quen vốn cso” đó đã từng dẫn đến hiện tượng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược giữa cao ủy và tổng chỉ huy từ thời Đácgiăngliơ - Lơcléc tám năm về trước).

        Ngay từ đầu, Nava đã tỏ ra muốn đoạn tuyệt với quá khứ, trước hết bằng việc thay đổi bộ mặt những người cầm đầu, từ các cấp chỉ huy chiến trường đến cơ quan tham mưu, “để cho quân viễn chinh được chế ngự bằng một tinh thần hoàn toàn mới”.

        Nava chê bai cả ê kíp do Đờlát mang sang, cả ê kíp thuộc quyền Xalăng trước đây và không yêu cầu ai trong bọn họ ở lại Đông Dương. Thật ra những người “bị chê bai” này cũng chỉ mong có thế, vì “nhiệm kỳ Đông Dương” của họ đã bị kéo dài (từ 24 tháng thành 36 tháng), hơn nữa họ cũng chẳng muốn chứng kiến những giờ phút hoàng hôn của cuộc chiến tranh mà họ đã dấn thân vào trong mấy năm qua. Bởi vậy, khi Nava tỏ ý muốn “cầm cái chổi to tướng để quét sạch..., kể cả cấp thấp nhất trong cơ quan tham mưu” thì những người thuộc ê kíp cũ lập tức sẵn sàng chuẩn bị vali xuống tàu.

        Tư lệnh không quân Sátxanh về nước, Lôranh (Laurin) thay thế, Ala lên đường, thay vào ghế tham mưu trưởng là tướng Gămbiê (Gambiez); ba trong số năm tư lệnh phân khu đồng bằng Bắc Bộ cũng ra đi. Cử ai thay thế tướng Đờ Linarét chỉ huy miền Bắc Đông Dương là vấn đề khiến Nava suy nghĩ cân nhắc. Liệu có thể chọn Cônhi, người đang chỉ huy phân khu bắc đồng bằng được không? Nhớ lại ý kiến của Xalăng trước đây: “Cônhi hoạt bát, thông minh nhưng có tham vọng không lường được là muốn trở thành nhân vật số một ở đất Bắc Bộ, lại có chiều hướng không chấp hành mệnh lệnh và thường làm nảy sinh nhiều chuyện lủng củng khiến tổng chỉ huy phải đứng ra dàn xếp... Tướng quân có thể sử dụng ông ta, nhưng phải quản lý chặt...”. Thế là con ngựa bất kham Cônhi toại nguyện, trở thành nhân vật số một ở Bắc Bộ cộng thêm một ngôi sao thứ ba trên cầu vai1.

        Học đòi thói kiêu căng của Đờlát, vừa được thăng quan tiến chức, Cônhi đã huênh hoang với cấp dưới: “Các anh cần được chỉ huy cho ra trò, các anh sẽ được như thế”(!).

        Sau khi lắp xong bộ máy mới, một trong những lo lắng nổi bật của Nava là vấn đề binh lực. Qua cuộc họp của Hội đồng quốc phòng, thái độ thiếu mặn mà của những người có trách nhiệm trong Chính phủ và trong quân đội cho thấy không có gì đáng gọi là khích lệ về khả năng tăng viện.

        Trước khi trở lại Đông Dương, Nava đã đi gõ cửa các cơ quan có thẩm quyền nhưng kết quả thật là bi đát.

        Về không quân: Song song với ý định phát triển lực lượng cơ động chiến lược, Nava hy vọng được thêm không quân để chi viện cho các đơn vị chiến đấu. Những yêu cầu tăng viện không được đáp ứng. Trước mắt, không có lực lượng nào ngoài tài sản Xalăng để lại: chừng 70 máy bay Đacôta, biên chế thành ba phi đoàn vận tải; 150 máy bay chiến đấu các loại; 19 máy bay lên thẳng nhưng chỉ 4-5 chiếc bảo đảm chất lượng. Nghe tin Mỹ có thể cung cấp thêm máy bay nhưng bộ không quân Pháp không đủ nhân viên kỹ thuật và người lái.

        Về bộ binh: Từ yêu cầu hai sư đoàn rút ở khối NATO, Chính phủ giảm xuống 12 rồi lại xuống 9 tiểu đoàn, toàn là những đơn vị mới thành lập. Người ta còn báo trước cho viên tổng chỉ huy biết rằng: 9 tiểu đoàn này là khoản ứng trước số quân dự định tăng viện trong năm 1954! Riêng về sĩ quan, các tiểu đoàn Pháp ở Đông Dương hiện thiếu 50-60% cán bộ chỉ huy, vậy mà Pari không cho thêm người nào.

---------------------
       1. Nava không lường trước được rằng từ đó bắt đầu bao chuyện không hay đã xảy ra giữa hai người, đến nỗi khi cả hai viên bại tướng đã cùng nhau cuốn gói về Pháp mà vẫn còn viết sách, viết báo, “bút chiến” đổ lỗi cho nhau, đến nỗi Chính phủ Pháp phải yêu cầu họ vì sĩ diện quốc gia mà im đi cho!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #151 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:29:43 pm »


        Nava thấy càng cần phải gấp rút đẩy mạnh việc phát triển “quân đội quốc gia” (ngụy) để bù vào số quân tăng viện hạn chế của chính quốc. Một tổ chức mới ra đời: Phái bộ hỗ trợ quân sự (MAM) đặt bên cạnh bộ chỉ huy quân viễn chinh để chuyên lo kế hoạch phát triển quân lực quốc gia. Trước mắt (trong đợt 1 từ giữa 1953 đến giữa 1954) tập trung phát triển các tiểu đoàn khinh quân, đào tạo sĩ quan bản xứ và từng bước thành lập thêm các tiểu đoàn hoàn chỉnh để hình thành các GM người Đông Dương. Trong quá trình thành lập các tiểu đoàn khinh quân, phải từng bước giao cho họ các vùng Pháp đang kiểm soát để tập trung quân Âu - Phi xây dựng lực lượng cơ động chiến lược (sau Hưng Yên, Mỹ Tho, sẽ giao tiếp Bùi Chu, Phan Rang, Phan Thiết, Nha Trang và miền Tây Nam Bộ). Việc thay thế các đơn vị Âu - Phi chiếm đóng bằng các đơn vị khinh quân cần làm thận trọng “để tránh những thất bại to lớn ở từng địa phương”, nhất là ở Bắc Bộ.

        Thái độ của Mỹ ngày càng lộ rõ là họ muốn nắm “quân đội quốc gia” (ngụy), với lý do để quân đội này tự quản mới “tạo được không khí chính trị và tâm lý có lợi cho công cuộc chống cộng”. Nava thấy bàn tay của ông bạn Hoa Kỳ thọc ngày càng sâu vào Đông Dương quả là một vấn đề tế nhị và phức tạp đối với Pháp vì, để thực hiện được kế hoạch chiến lược hiện nay, một yếu tố rất quan trọng là viện trợ của Mỹ phải được ngày càng tăng. Chuyến đi không thuận lợi hồi tháng 3 của cựu Thủ tướng Mayê sang Oasinhtơn là một bằng chứng về yêu sách của họ. Thống chế Gioăng chỉ nhấn mạnh yêu cầu Mỹ viện trợ nhưng không chú ý đúng mức “mặt trái của vấn đề” mà chỉ có người chỉ huy trực tiếp ở chiến trường mới thấy rõ.

        Do khó khăn không vượt qua nổi về quân số, Nava buộc phải nghĩ đến trên 20 tiểu đoàn Âu - Phi tinh nhuệ đang bị trói chân ở phòng tuyến boong ke, một phòng tuyến đã bất lực không bao giờ phát huy được hai tác dụng mà người đẻ ra nó (ý nói Đờlát) đã vạch ra là bẻ gãy các cuộc tiến công ồ ạt của địch vào đồng bằng và kiểm soát sự xâm nhập của đối phương.

        Nếu hủy bỏ thẳng thừng một công trình vĩ đại và tốn kém vừa được xây dựng sẽ gây phản ứng chính trị và tâm lý bất lợi, mặc dù bỏ phòng tuyến sẽ “rút chân” được một lực lượng lớn, rất hấp dẫn tương đương với 8 GM. Biện pháp dung hòa mà Nava tìm ra là vẫn để phòng tuyến boong ke nhưng dần dần thay thế các đơn vị Âu - Phi bằng các đơn vị phụ lực quân1. Nhưng đạt tới đích đó (phụ lực quân thay thế quân viễn chinh ở phòng tuyến Đờlát) là cả vấn đề về thời gian và tiền bạc. Phải làm dần.

        Tìm quanh tìm quẩn, cuối cùng Nava nhớ ra Nà Sản, “con đê ngăn sóng” mà Xalăng đã dày công xây đắp, nơi đang giam chân sáu tiểu đoàn bộ binh. Sáu tiểu đoàn! Con số tuy nhỏ những cũng có nghĩa là có thêm được 2 GM.

        Nhớ lại hai tháng trước, khi sang nắm tình hình chiến trường, ngày 22 tháng 5, Nava bay lên thăm Nà Sản và thấy không nên tiếp nhận cái “tài sản đã nhiễm độc” này của Xalăng. Ngay hồi đó, Nava đã tuyên bố trước mặt Bộ trưởng chiến tranh Sơvinhê rằng: “Việt rút quân khỏi Nà Sản sẽ là một trong những hành động chỉ huy đầu tiên của tôi và tôi sẽ không bao giờ lặp lại những chuyện tương tự (ý nói phòng thủ theo kiểu tập đoàn cứ điểm) đó nữa”. Cônhi, viên tướng “to xác” mới nhận chức chỉ huy Bắc Đông Dương cũng tán thành việc rút quân khỏi tập đoàn cứ điểm này để dồn lực lượng về giữ vùng đồng bằng có ích vì “Nà Sản không phục vụ cho cái gì cả”.

        Ngày 5 tháng 8, mệnh lệnh chiến đấu quan trọng đầu tiên của ngài tổng chỉ huy mới là một mệnh lệnh rút lui: rút quân khỏi Nà Sản bằng đường hàng không. Mấy ngày sau, bằng một cầu hàng không hoạt động liên tục trong các ngày 8, 9 và 12, 150 lần chiếc máy bay đã tha về đồng bằng sáu tiểu đoàn bộ binh và 1.500 tấn trang bị. Với Nava và Cônhi, đây là một thắng lợi vì rút bằng máy bay, rõ ràng đối phương đã không kịp phản ứng.

        Trong thâm tâm, Nava cũng nghĩ rằng, về thế chiến lược trên chiến trường Tây Bắc và Thượng Lào mà nói, bỏ Nà Sản không phải là không đau xót vì đường Hòa Bình - Sơn La mở thông đến Tuần Giáo rồi qua Điện Biên Phủ, xuống lưu vực sông Nậm U về hướng Luông Pha Băng... Nhưng vấn đề quan tâm hàng đầu lúc này là quả đấm chiến lược, là đội quân tổng dự bị. Tạm phải bỏ đất, đành chịu. Khốn nỗi ở Pari không ít người phản ứng, trong đó có cựu tổng chỉ huy Xalăng. Viên tướng này “thấy nhói trong tim” và nghĩ rằng rút quân khỏi Nà Sản là “bản nhạc dạo cho cuộc rút chạy khỏi xứ Thái”.

        Do kết quả vận dụng nguyên tắc “tân quan - tân chính sách”, đoạn tuyệt với quá khứ, cho nên đến trung tuần tháng 8 năm 1953, tình hình đã có đôi chút thay đổi so với ba tháng trước. Dàn nhạc mới do Hăngri Nava làm nhạc trưởng đã ngồi yên chỗ. Phòng tuyến boong ke vây quanh đồng bằng mà tướng Đờlát tốn bao tinh lực nặn ra, nay chỉ còn là một chuỗi cứ điểm vô dụng, bỏ thì thương vương thì tội và chìm đắm dần trong sự lãng quên. Nà Sản “con đê ngăn sóng” đã từng là đề tài cho biết bao bài báo, cuốn phim, đã từng là công cụ để tướng Xalăng tự đề cao một thời mỗi khi có khách vãng lai thăm viếng, nay chỉ còn là những lô cốt bắt đầu rậm cỏ.

        Đồng bằng, Tây Bắc, Thượng Lào các tiểu đoàn khinh quân, đội quân cơ động chiến lược... tất cả, tất cả như một mớ bòng bong làm rối tinh đầu óc viên tổng chỉ huy khi mùa mưa sắp qua, mùa khô sắp tới.

---------------------
        1. Supplétif Các đơn vị bản xứ, chức năng tạp dịch nhiều hơn là chiến đấu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #152 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:30:53 pm »


TIẾN CÔNG! CHỦ ĐỘNG TIẾN CÔNG!

        Một số ký giả quân sự nước ngoài thường nói rằng Nava là viên tổng chỉ huy có tư tưởng tiến công, chủ động tiến công... Ông ta không bao giờ chịu để cho đối phương quyền chủ động... Ông ta luôn luôn dùng hành động tiến công để buộc họ phải chấp nhận chiến đấu, để rồi dồn họ vào thế phòng ngự...

        Ngay trong bức thư đầu tiên ra mắt ba quân ngày 22 tháng 6, Nava cũng đã nói lên tư tưởng chiến lược của mình: “… trong chiến tranh, thật là một sai lầm lớn nếu đánh giá thấp đối phương, nhưng cũng thật là một sự đần độn nếu đánh giá quá cao địch thủ của mình. Tình hình đối với chúng ta là thuận lợi, chiến thắng là điều chắc chắn nhưng nó chỉ đến với ai biết nắm lấy nó. Người ta chỉ có thể thắng bằng cách tiến công...”.

        Sự thật là trong vòng 5 tháng sau khi nhận chức (tháng 6 đến tháng 11 năm 1953), nhân lúc đối phương đang chuẩn bị đòn tiến công chiến lược Đông Xuân của họ, Nava đã “chủ động ra quân” chừng độ 20 lần, nhỏ là ném mấy chục tên biệt kích xuống vùng rừng núi Tây Bắc, lớn là huy động 30 tiểu đoàn mở một cuộc càn quét dài ngày ở vùng châu thổ sông Hồng. Binh lực to nhỏ khác nhau, chiến trường Nam - Bắc khác nhau tất nhiên mục đích ra quân cũng khác nhau: 12 cuộc càn quét trong vùng tạm chiếm (5 ở Nam Bộ, 7 ở Bắc Bộ); ba cuộc hành binh giải tỏa ở Thượng Lào và vùng bờ biển Trung Bộ, ba cuộc hành binh biệt kích ở vùng rừng núi biên giới Việt – Trung, một cuộc hành binh thăm dò và phá kế hoạch chuẩn bị của đối phương, v.v... Có những cuộc hành binh nhằm mục tiêu khá hấp dẫn như tiêu diệt trung đoàn nọ, cất vó trung đoàn kia, đánh què sư đoàn khác của đối phương.

        Đi tuyên truyền cho tư tưởng chủ động tiến công của mình, tất nhiên Nava cũng biết làm như Đờlát trước đây là giật dây các cơ quan thông tin tô điểm cho những “chiến tích” đầu tiên của ngài tổng chỉ huy mới. Khốn nỗi, hồi đó cũng như sau này, nhiều ký giả và sử gia phương Tây đã không chiều lòng tướng quân. Họ buộc phải nói lên sự thật ít nhiều.

        Có thể dẫn chứng một số “chiến tích” nổi bật nhất của viên tổng chỉ huy được thiên hạ coi là có nhãn quan chiến lược rộng.

        Trước hết là cuộc hành binh Chim én (Hirondelle), hành động tiến công thứ nhất của Nava.

        Phòng nhì cho biết ở phía bắc thị xã Lạng Sơn có những chân hàng quan trọng, chứa đến 8.000(?) súng máy do Pháp chế tạo. Bộ chỉ huy các lực lượng không vận được lệnh hành động gấp nhằm phá hủy các hang động dùng làm kho chứa vũ khí đó. Theo chỉ thị của bộ tham mưu, kết quả của cuộc hành binh tùy thuộc hoàn toàn vào yếu tố bí mật về ngày tháng và mục tiêu. Mọi biện pháp nghiêm ngặt được áp đụng để đánh lạc hướng và giữ bí mật bất ngờ cho cuộc tập kích.

        Trước hết là cuộc duyệt binh nhân ngày 14 tháng 7 (ngày Quốc khánh Pháp) ở Hà Nội với mục đích bên trong là để tập trung máy bay và quân dù. Lệnh hành quân chỉ được phòng tác chiến thảo ra 48 giờ trước khi triển khai lực lượng. Người chỉ huy các lực lượng không vận (tướng Gin) hạ đạt mệnh lệnh hồi 15 giờ ngày 16. Cấp chỉ huy đại đội chỉ được một giờ chuẩn bị trước khi cất cánh. Hồi 0 giờ ngày 17: báo động, chuẩn bị, binh lính bị cấm trại. 7 giờ sáng 17: máy bay cất cánh. Tóm lại: bí mật cho đến phút cuối cùng.

        Yêu cầu đặt ra là phải bất ngờ chiếm thị xã (theo tin tức của phòng nhì, đối phương không có lực lượng đáng kể ở đây), chiếm những hang động chứa vũ khí, phá hủy nhanh và rút nhanh, không để đối phương kịp điều chủ lực đến đối phó. Khó khăn: bãi nhảy dù là vùng rừng núi rậm rạp, ít đường sá, đường rút lui quá dài (từ Lạng Sơn đến Tiên Yên khoảng 100 kilômét) lại phải qua sông ở thị trấn Lộc Bình.

        Lực lượng ném xuống Lạng Sơn gồm ba tiểu đoàn dù, do đại tá Đuycuốcnô chỉ huy, mang theo một tấn thuốc nổ. Lực lượng từ Tiên Yên lên đón gồm ba tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn biệt kích, một số đơn vị chiến xa, công binh... do đại tá Rabơranh (Raberin) chỉ huy. Cuộc hành binh đặt dưới quyền chỉ huy chung của Gin, tư lệnh lực lượng không vận, viên đại tá vừa được đề bạt cấp tướng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #153 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:31:49 pm »


        8 giờ 10 phút, 85 lần chiếc Đacôta bắt đầu thả quân xuống phía bắc thị xã Lạng Sơn.

        Các ký giả tả lại: Trời nắng đẹp. Quân dù vừa nhảy xuống, chưa kịp tập hợp đội hình đã bị quân đối phương đánh trả quyết liệt... Sau đó là những tiếng nổ rồi vội vã rút quân. Tiếp đến là một cuộc thử thách về tinh thần và thể lực trong cuộc hành quân không dám quay đầu lại suốt 48 giờ liền về hướng Tiên Yên. 23 giờ ngày 18, gặp quân bộ từ dưới lên đón. Quân dù vừa lên xe, cũng là lúc những phân đội đầu tiên của Việt Minh kéo đến... Không kịp, xe đã chuyển bánh... Những tràng súng máy bắn đuổi...

        Quy mô lớn, phương tiện hiện đại, hành động chớp nhoáng. Đúng như vậy. Nhưng vấn đề được nhiều người quan tâm là kết quả cuộc hành binh.

        Những con số thông báo của Bộ tham mưu Pháp khiến cho người ta nghi vấn, kể cả các ký giả Pháp. Ví dụ: trước đây Bộ tham mưu Pháp cho biết ở Lạng Sơn, kho Việt Minh có tới 8.000 khẩu súng máy do Pháp chế tạo; nay lại thông báo là có 1.000 khẩu súng Tiệp? Một điều ngạc nhiên hơn nữa là, phải chăng lính Việt Minh giàu có và nghiện chè tới mức phải dự trữ trong hang động ở tận biên giới... 7 tấn chè để uống dần, v.v... Hồi đó, báo Pháp Lơ Phigarô và Nước Pháp, Người quan sát, cũng như Rôcôn, tác giả cuốn Tại sao Điện Biên Phủ đã đánh giá kết quả của trận đánh. Đại ý như sau: Vì sợ bị phục kích, không dám tiến sâu vào phía trong nên hai tiểu đoàn quân dù chỉ phá hủy được một số lương thực và vài chiếc ô tô vận tải đỗ bên đường. Sợ ở lâu bất lợi nên 13 giờ (ngày 17) quân dù đã phải rút lui. Rõ ràng có sự lúng túng trong việc điều tra lực lượng và sự vận chuyển của đối phương. Quân dù đã vồ hụt. Công việc vận chuyển của Việt Minh đâu phải chỉ ở Lạng Sơn vì họ có hàng vạn dân công đảm nhiệm ở khắp nơi. Pherăngđi, sĩ quan phòng nhì kiêm ký giả, bổ sung: “Người ta phải công nhận một sự thật là vì quá lo cho việc vội vã rút quân nên việc phá hoại chỉ thực hiện được một phần rất nhỏ. Số vũ khí bị phá hủy chẳng có gì đáng kể. Quen thói tò mò, phòng nhì đã điều tra kết qủa và được biết rằng những khẩu súng máy của Việt Minh vẫn nguyên vẹn. Người ta gọi người phụ trách việc phá hoại lên để hỏi thì viên sĩ quan này thú nhận rằng vì quá vội vã nên thuốc nổ chỉ đặt ở ngoài cửa hang (cốt cho có tiếng nổ!). Như vậy tất nhiên là chẳng động chạm gì được đến kho súng... Chiến tranh, các thông cáo chính thức, thành tích, kết quả bao giờ cũng là những vấn đề thật tế nhị, luôn luôn đòi hỏi hết sức thận trọng”.

        Mécglen (Albert Merglen). tác giả cuốn Chiến tranh bất thình lình, thì căn cứ vào số lính bị tổn thất trong cuộc tập kích để rút ra kết luận: “Không nên dừng lâu trên khu vực hành động đầu tiên, nếu không sẽ bị phơi mình trước đối phương phản kích với số quân đông”.

        Tất cả những nhận xét trên đây chắc chắn không làm cho tổng chỉ huy hài lòng, nhất là về kết quả cuộc ra quân đầu tiên. Chắc tướng quân cũng không muốn có thêm những lời bàn.

        “Chiến tích” nổi bật thứ hai của Nava là cuộc hành binh Camácgơ (Camargue) ở vùng Hải Lăng - Phong Điền (Thừa Thiên) nhằm “cất vó” trung đoàn 95, khai thông trục đường Đà Nẵng - Quảng Trị. Trục giao thông này đòi hỏi quân Pháp phải trả một giá quá đắt vì các đoàn xe luôn luôn “rơi vào những trận địa phục kích của những người lính bận đồ đen của trung đoàn 95 bộ binh Việt Minh, đơn vị thiện chiến, từ hai năm nay đã lọt vào hoạt động phía sau quân Pháp”.

        Theo Bécna Phôn, “với một sự châm biếm đúng với nghĩa đen của nó và hợp với suy nghĩ của mọi người lính Pháp, quãng đường này đã được đặt tên là con đường không vui”1.

        Lực lượng huy động cho cuộc hành binh này gồm 4 binh đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 3 thiết đoàn, 1 thủy đội, 2 trung đoàn pháo binh, 12 tàu chiến, 160 xe lội nước, 60 máy bay trinh sát vận tải và ném hom. Người ta nhận xét rằng với lực lượng trên 30 tiểu đoàn, Camácgơ là “một trong những chiến dịch lớn nhất ở Đông Dương và cũng tương đương với lực lượng được dùng trong các cuộc đổ bộ trên các chiến trường Thái Bình Dương hoặc Địa Trung Hải trong Chiến tranh thế giới thứ hai”. Đứng trước một lực lượng như vậy, lại bị ép giữa xe bọc thép ở phía tây, quân đổ bộ và xe lội nước ở phía đông, “rõ ràng trung đoàn 95 và quân du kích hình như ít có hy vọng thoát khỏi vòng vây”.

-------------------------
        1. Theo xác định của Phôn (trong các cuốn Street without joy và Indochine 1946-1962), con đường không vui dài khoảng 15 kilômét, nằm dọc kênh Vân Trình, song song với đường số 1 (đoạn Mỹ Chánh - Quảng Trị). Phía đông là bờ biển Tân An - Mỹ Thủy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #154 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:32:51 pm »


        Quyết tâm của Bộ chỉ huy Pháp đã rõ ràng, phải tiêu diệt trung đoàn 95, giải tỏa “dứt điểm” (une fois pour toutes) cho xong “con đường không vui”. Quân đông, quyết tâm lớn và người thực hiện cũng cự phách:

        1. Binh đoàn A, do đại tá Béctây (Berteil) chỉ huy, đổ bộ lên hướng đông bắc (Tân An, Mỹ Thủy).

        2. Binh đoàn B, do đại tá Côrai (Corail) chỉ huy, ép từ hướng tây bắc (Quảng Trị) sang phía đông đường 1.

        3. Binh đoàn C, do trung tá Gôchiê chỉ huy, ép từ hướng tây nam (Mỹ Chánh) lên.

        4. Binh đoàn D, do trung tá Lơ Hagrơ (Le Hagre) chỉ huy, đổ bộ lên hướng đông nam (Lại Hà).

        5. Quân dù, dự bị chiến dịch, do trung tá Lănggle chỉ huy.

        6. Hai trung đoàn pháo binh do trung tá Pirốt chỉ huy.

        Toàn bộ cuộc hành binh quy mô lớn này do tướng Lơblăng, tư lệnh quân Pháp ở chiến trường Trung Trung Bộ chỉ huy.

        Các tướng tá Pháp chỉ thấy khó khăn duy nhất là địa hình (cả thiên nhiên và nhân tạo). Các làng chiến đấu cách nhau 100-200 mét dọc “con đường không vui”, đã thật sự là “những đốt xương sống của cuộc kháng chiến” ở vùng này. Nối liền giữa các làng là những hệ thống địa đạo. Trạm xá, kho tàng, hầm trú ẩn... đều ở ngầm dưới đất “khiến cho việc càn quét khó đạt tác dụng phá hoại”. Bụi rậm, lũy tre đã hạn chế rất nhiều khả năng quan sát, kể cả của máy bay. Việc cơ động của người và cơ giới trên những cồn cát xen kẽ đồng muối và bãi lầy... thật không dễ dàng.

        6 giờ ngày 28 tháng 7, cuộc hành binh bắt đầu.

        Hướng đông: đổ bộ chậm 2 giờ so với kế hoạch. Lý do: say sóng. Lúc đầu đối phương im lặng, khi cuộc vây ép bắt đầu lúc 8 giờ 30. Bỗng súng cối từ các làng bắn vào pháo tự hành của tiểu đoàn 1erREC. Tiểu đoàn Tabo 9 kêu cứu. Tiểu đoàn Marốc 2 (II/4RTM) bị hỏa lực đối phương chặn lại. Trung tá Gôchiê yêu cầu tăng viện. 10 giờ 35, tiểu đoàn dù 2 được tung xuống. Chưa đủ. Tướng Blăng hạ lệnh điều thêm năm đại đội từ Huế ra. 15 giờ bắt đầu nhảy xuống, nhưng bì bõm qua đầm lầy, mãi sẩm tối mới tiếp cận đội hình phía trước. 11 giờ, tiểu đoàn dù 3 ở Đà Nẵng nhận lệnh xuất phát nhưng 15 giờ mới xuất phát được. Lý do: trục trặc vì kỹ thuật thông tin. Máy bay tới nơi song gió mạnh gấp đôi tốc độ gió cho phép thả dù1. Nhưng cần có gấp một lực lượng tung xuống khu vực cồn cát phía đông lên lệnh vẫn ban ra: dù gặp nguy hiểm cũng phải nhảy xuống. Kết quả: “Gió như những quả đấm vô hình đánh vào quân dù... Nếu không trở thành những bia thịt thì khi rơi xuống đội hình cũng rất phân tán” (cách khu vực quy định 2 - 3 kilômét!). Quân dù rơi xuống bãi lầy, bờ đê, xuống biển và rơi vào cả khu vực đối phương. Mười phần trăm lính dù bị chết, bị thương. Súng cối, súng không giật, quân dụng... không thu hồi được. Toàn tiểu đoàn dù số 3 chỉ còn là “những người lính bộ binh, phân tán mà hiệu suất chiến đấu thật đáng nghi ngờ...”.

        Đêm đến. Người ta nghĩ rằng quân địch đã bị nhốt chặt trong cái túi chữ nhật 14 kilômét × 3 kilômét. Nếu quả đúng như vậy thì mẻ cá quá lớn. Nhưng liệu đối phương còn có ở trong lờ (nasse) hay đã lọt ra ngoài?

        Có lệnh siết chặt vòng vây. Nhưng bỗng phát hiện phía tây - nam có nhiều khoảng cách (theo nguyên văn: lỗ thủng). Đối phương đã lợi dụng những ngòi lạch phản kích và dồn ép binh đoàn C sát kênh Vân Trình, trên một đoạn dài khoảng gần 10 kilômét...

        Tiếng súng không ngớt, nhưng rồi một đêm đã trôi qua. Đó là một đêm mà trên các hướng bọn lính phải “chôn chân dưới ruộng lầy, bùn ngập gối, tai giỏng lên, mắt nhìn như khoan” vào màn đêm dày đặc, luôn luôn giật mình mỗi khi một chú ếch nhảy trên mặt bùn...”

        Tảng sáng, trên các hướng, xe tăng, xe lội nước, lính bộ binh, lính dù... tiếp tục khép chặt vòng vây. Đến 13 giờ, các binh đoàn hướng đông (A và D) tới kênh Vân Trình, đối mặt với binh đoàn C. Toàn “con đường không vui” bị lọt thỏm như cá nằm trong lờ. Một hình ảnh hiện ra trước con mắt phóng viên quân sự ngoại quốc đi theo cuộc hành binh: “Những hàm thép của một đội quân hiện đại, với lực lượng hải quân, xe lội nước, máy bay (do một bầy tướng tá Pháp chỉ huy) đang khép lại, vây chặt lấy đám dân cày trang bị thô sơ được điều khiển bởi những cán bộ du kích chưa hề có trình độ quân sự bằng một hạ sĩ của quân đội khố xanh... Lực lượng Pháp dàn trận đông gấp mười lần lực lượng đối phương, nhưng bên trong cái bẫy vừa được giương lên hình như chẳng có cái quái gì...”.

---------------------
        1. Lính dù bản xứ, dù mang toàn bộ trang bị cũng chỉ nhẹ bằng nửa lính dù Âu - Phi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #155 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:33:55 pm »


        36 giờ sau giờ “H”, cuộc hành binh Camácgơ đã lộ rõ chiều hướng thất bại, những cuộc lùng sục vẫn tiếp diễn. Thỉnh thoảng, bọn lính đang lội bì bõm trong đồng lầy, bỗng một tiếng rú nổi lên rùng rợn rồi một tên lính lăn ra. Người ta vực hắn ra khỏi bùn và nước: hắn đã sa vào một hố chông!

        Sức bền bỉ của “những hàm thép” cũng có hạn. Chiều 30, có lệnh bắt đầu lui quân. Ngày 4 tháng 8, cuộc hành binh Camácgơ kết thúc.

        Không ít lời bàn của những người biết về “chiến tích” trên con đường không vui. Xin tóm tắt:

        Về quy mô, lực lượng:

        Camácgơ là một cuộc hành binh quá tốn kém. Phía Pháp đông gấp 10 - 15 lần đối phương nhưng chưa tiếp cận được ngưỡng cửa của chiến thắng. Để có lực lượng đồ sộ đó, Pháp đã phải rút ruột ở các tiểu khu, trong khi, chính những nơi đó cũng đang ở vào tình trạng khẩn cấp vì thiếu quân một cách bi đát. Việc sử dụng cơ giới ồ ạt như vậy đã phản lại ý đồ của bộ chỉ huy hành binh: đối phương phát hiện ngay từ đầu và đã kịp thời đối phó, vì họ dựa vào dân, rất thạo tin tức và mạnh hơn hẳn trong việc tìm hiểu ý đồ đối thủ của mình.

        Về địa hình và dân tình:

        Đây là một địa hình lạ không những đối với quân Pháp ở chiến trường khác đến mà cả với bọn ở miền Trung. Địa hình này lại không thích hợp với hoạt động cơ giới, tốc độ tiến của bộ binh và cơ giới rất chậm (trung bình 1,5 kilômét/giờ) lại rất phân tán trên một diện gấp đôi thông thường (một tiểu đoàn rải ra trên 3 kilômét), tạo nên những “lỗ hổng” trên những hướng có ngòi lạch, đầm lầy. Trong khi đó đối phương lại rất thông thạo địa hình, họ dựa vào các ổ đề kháng để chống lại. Họ được dân che chở “một yếu tố mà phía Pháp hoàn toàn không có”. Khi cần, họ dễ dàng luồn lách qua các khoảng cách. “lỗ thủng của lưới bao vây”, để lui quân, nhất là trong đêm tối.

        Về kết quả:

        Rõ ràng không tương xứng với quy mô cuộc hành binh. “Nếu người ta tin ở báo chí thì về hình thức cuộc hành binh đạt được kết quả to lớn” vì nó chứng tỏ “sức chiến đấu mới và sức cơ động của quân Pháp”, chứng tỏ các lực lượng đồ sộ được huy động vào việc bình định một vùng đầm lầy. Trong các báo cáo của họ, từ cơ quan tham mưu cuộc hành binh đến sĩ quan cơ sở, “các cấp thường chọn lọc những từ, những ý hay nhất để nói lên nhận xét của mình”. Nhưng thật ra thì “khi cái bẫy khổng lồ đã sập xuống cũng là lúc trung đoàn 95 đã biến đâu mất”. Nếu thành tích đúng như người ta tính sổ (phía Pháp thiệt hại 117, phía đối phương 182) thì vấn đề cần xem xét là trong số 182 người đó, ai thuộc trung đoàn 95, ai là du kích và ai là những nông dân bình thường? Kết quả duy nhất là: sau cuộc hành binh, nếu quân Pháp đóng lại thì cũng chỉ có “vài ba chục làng tạm thời dưới sự kiểm soát của họ mà thôi”.

        Tóm lại, Camácgơ lại một lần nữa chứng minh rằng các cuộc hành binh tương tự trên mảnh đất Việt Nam này đều không thoát khỏi một mâu thuẫn: tiến lướt nhanh thì không sục sạo được; tiến chậm thì dễ bị đánh trả. “Một mâu thuẫn không có giải pháp đáng hài lòng trong suốt cuộc chiến tranh”.

        Trung đoàn 95 đã thoát khỏi vòng vây để rồi vài tháng sau đó (ý nói vào khoảng Đông Xuân 1953-1954) trở lại chiến trường cũ, “một chiến trường vốn là khu săn bắn của họ” và những trận phục kích bất tận lại diễn ra...

        Do kết quả đáng buồn của Camácgơ nên trước sau “con đường không vui” vẫn chỉ là con đường không vui đối với quân viễn chinh Pháp và Camácgơ trước sau cũng chỉ là đầm lầy1.

        Một tháng rưỡi sau khi đã thu quân khỏi “con đường không vui”, ngày 20 tháng 9, Nava lại gửi thư cho tướng sĩ, nhắc lại yêu cầu tiến công, chủ động tiến công... vì hình như ba quân chưa thấu suốt tư tưởng chiến lược của thống soái. “...Tôi xin nhắc lại rằng các bạn phải ra tay trước, phải hành động nhanh hơn đối phương, phải điều khiển chiến trận... Các bạn phải nắm lấy quyền chủ động bằng những cuộc hành binh có tính chất tiến công nhanh chóng và kịp thời cho đến khi Việt Minh thật sự cảm thấy là họ bị săn đuổi(!)...”.

        Để chứng minh cho “tư tưởng tiến công” của mình, hơn ba tuần sau Nava tập trung 22 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn cơ giới, cùng một số đơn vị không quân, hải quân mở cuộc tiến công ra hướng tây - nam Ninh Bình. Theo đài phát thanh của quân đội viễn chinh, cuộc hành binh này “lớn nhất chưa từng thấy từ thời tướng Lơcléc đến nay”, nhằm mục đích thọc sâu vào vùng căn cứ đối phương, phá kế hoạch chuẩn bị tiến công của hai sư đoàn 304 và 320 vào đồng bằng. Tướng Gin, viên tướng vừa được đề bạt, có biệt hiệu là “thần khổng lồ chột mắt” lại được giao nhiệm vụ chỉ huy cuộc hành binh mang tên Hải âu (Mouette) này. Chắc hẳn Nava cho rằng Chim én mảnh khảnh đã không làm nên chuyện ở Lạng Sơn ba tháng trước nên phải dùng Hải âu to xác (32 tiểu đoàn các loại) để tạo điều kiện cho tướng Gin lập công.

---------------------
        1. Nava sính chơi chữ: Camargue là tên một vùng đầm lầy ở hạ lưu sông Rôn (Rhône) bên Pháp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #156 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:34:31 pm »


        Ngày 15 tháng 10, trong khi đại quân dò dẫm theo kiểu nhảy cóc ra hướng Rịa để mò đến Nho Quan “tìm và đánh què sư đoàn 320” thì một cánh quân khác đổ bộ lên bờ biển bắc Khu 4 nhằm “chiếm Thanh Hóa và giam chân không cho sư đoàn 304 thâm nhập vào đồng bằng”.

        Báo chí và đài phát thanh của Pháp thi nhau nói về chuyện tướng Nava đã giành được quyền chủ động chiến lược, đang đánh chiếm tỉnh Thanh Hóa đông người nhiều của. Tiếng vang bay về tận Pari, nơi Quốc hội Pháp đang họp và “đang chờ một tin thắng lợi quân sự để kích thích việc thông qua ngân sách mới”, đồng thời có món quà tất niên mang sang Oasinhtơn để tiện ăn nói về vấn đề viện trợ.

        Khốn nỗi, trên chiến trường phía nam đồng bằng Bắc Bộ, sự thật lại không đáng khích lệ như Pari mong muốn. Ngay từ hôm đầu ra quân, “họ (quân Pháp) đã bị chặn lại nhiều lần và ở đây (trên đường Rịa - Nho Quan) đã diễn ra những trận đánh ác liệt”. Trong mấy trận phục kích lớn ở phía nam Rịa chừng 10 kilômét, ngày 27 tháng 10; một tiểu đoàn của GM 4 bị diệt gọn. Hôm sau đến lượt tiểu đoàn 3 ngụy Thái (3e BAT), tiếp đến là hai đại đội lê dương... (Trong tài liệu tổng kết sau này, bộ tham mưu quân ngụy nhận xét rằng “trong những trận đánh đó, Pháp thấy bộ đội Việt Minh rất thiện chiến nên (quân Pháp) rất lo ngại mỗi khi đụng độ... Hơn nữa, mỗi sư đoàn Việt Minh có thành phần quân số cao hơn so với phía Pháp”).

        Trong khi đó thì “tại vùng đồng bằng đã bị trống rỗng, quân phiến loạn thừa cơ nổi lên” (ở Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương), bức hàng và bức rút nhiều vị trí, diệt hàng chục đại đội khinh quân trong đó có hai tiểu đoàn khinh quân vừa thành lập xong đã bị diệt gọn. Trên chiến trường trung du, khoảng 40 trận phục kích, tập kích, phá hoại cầu đường liên tiếp diễn ra.

        Những sự thật đó cũng không cánh mà bay về tận Pari (lại chỉ tại các phóng viên!). Ngày 27 tháng 10, tờ báo cánh hữu Thế giới bỗng đưa ra những dòng tai hại: “Nhiều người trong Chính phủ biết rõ rằng, những tin tức tung ra từ mấy tuần nay về tình hình chiến sự ở Việt Nam là không đúng sự thật. Những lời lẽ tuyên truyền quá đáng đó chỉ nhằm gây một không khí thuận lợi cho việc vay tiền Mỹ. Về binh lực chỉ trong khoảng 20 ngày qua, quân đội Pháp đã bị thiệt hại nặng. Cứ theo đà này thì quân tăng viện chỉ đủ bù vào số quân bị tổn thất...”

        Mặc dù được tờ Báo Pari (Paris Press) ngày 2 tháng 11 đỡ đòn bằng những lời khá giật gân1, mặc dù được phó tổng thống Mỹ Níchxơn (Richard Nixon) đến tận chiến trường tây - nam Ninh Bình để khích lệ (4-11), nhưng đứng trước thế trận ngày càng bất lợi vì bị đánh mạnh cả phía trước cả phía sau, ngày 6 tháng 11, tổng chỉ huy Nava buộc phải hạ lệnh rút quân. Sau 23 ngày, dù không đạt được bất kỳ mục tiêu nào đề ra cho cuộc hành binh Hải âu đã vội cụp cánh lao về đồng bằng.

        Để gỡ thể diện, ngày 7 tháng 11, tướng Cônhi họp báo, cải chính những điều y đã trót dại nói ra từ mấy tuần trước: “chúng tôi không có ý định chiếm Nho Quan vì như thế chẳng có lợi gì. Chúng tôi cũng chẳng có ý định chiếm Thanh Hóa mà đó chỉ là nhằm đánh lừa Việt Minh thôi”. Khi bị chất vấn về kết quả của cuộc hành binh, viên tướng to xác này đã ứng khẩu một cách khá trơn tru: “Chúng tôi đã loại sư đoàn 320 ra ngoài vòng chiến (!), đã giam chân được sư đoàn 304 ở Thanh Hóa (!), đã trì hoãn được cuộc tiến công của Việt Minh vào đồng bằng Bắc Bộ”.

        Tiếp theo lời của Cônhi là nhật lệnh (cùng ngày) của tổng chỉ huy Nava: “Chiến dịch Hải âu là một trong những đòn đầu tiên của tôi đánh vào đối phương. Thành công của Hải âu là chúng ta đã giành được thời gian. Chúng ta đã buộc bộ tư lệnh Việt Minh phải xét lại kế hoạch tiến công của họ. Chúng ta đã nắm quyền chủ động và chúng ta sẽ giành quyền chủ động đó...”.

        Tất nhiên đó là nhật lệnh, mà đã là nhật lệnh công khai nhằm lên dây cót cho tướng sĩ thì phải nói như vậy. Còn trong nội bộ thì, ngay trong báo cáo ngày 10 tháng 11, gửi về Pari, Nava cũng không dám giấu giếm mà buộc phải thừa nhận rằng: “Chúng tôi (Nava, Cônhi, Gin) đều thống nhất ý kiến cho rằng chất lượng quân viễn chinh kém đến nỗi nếu chạm trán với đối phương ở ngoài tầm yểm trợ của pháo binh (trên 10 kilômét) thì bộ binh của chúng ta (quân Pháp) nhất định bị đánh bại”. Và Nava thêm rằng “những trận đánh vừa qua đã tỏ rõ chất lượng bộ binh của Việt Minh ngày càng tăng. Điều đó không khỏi làm cho tôi rất lo lắng đến một tương lai gần đây, khi chúng ta chạm trán không phải với một sư đoàn mà với toàn bộ chủ lực tác chiến của họ hơn hẳn chúng ta về số lượng...”.

        Chim én bay lướt ngoài vòng, Camácgơ sa lầy, rồi đến Hải âu gãy cánh. Thực tế kết quả ba chiến dịch “chủ động tiến công” điển hình trong ba tháng qua (từ tháng 7 đến 10-1953) liệu đã đủ để viên tổng chỉ huy mới dự đoán trước thế trận sẽ diễn biến ra sao khi đối phương chính thức ra tay đánh đòn quyết định trong mùa khô sắp tới?

-------------------------
        1. “Tướng Nava đã thắng hiệp đầu trong cuộc đọ sức tay đôi với tướng Giáp”(!).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #157 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:36:14 pm »


KHI MÙA KHÔ TỚI

        Quá trình thực hiện kế hoạch chiến lược của Nava (trước hết trên các mặt phát triển quân bản xứ, xây dựng lực lượng tổng dự bị chiến lược, hành quân bình định vùng “đồng bằng có ích”) cũng là quá trình bộ chỉ huy Pháp tập trung theo dõi chủ trương chiến lược của đối phương trong thu - đông sắp tới. Đó thật sự là một thử thách lớn đối với phòng nhì bộ tham mưu quân viễn chinh.

        Chịu chung số phận như các ngành khác trong cơ quan tham mưu, phòng nhì bị xáo trộn về mặt nhân sự khi Xalăng đi, Nava đến. Đại tá Ghibô (Guibaud) thay đại tá Bútxari cầm đầu cơ quan tai mắt của tổng chỉ huy. Chưa có “thâm niên Đông Dương” như Bútxari nên Ghibô không khỏi lúng túng, mặc dầu viên sĩ quan tình báo này được coi là “một người làm ăn có bài bản”.

        Trong quá trình theo dõi hoạt động của đối phương, nếu phòng nhì của Nava tự hào rằng họ “nắm rất vững các bước phát triển lực lượng của Việt Minh” (đến cấp trung đội!), thì họ lại ngập ngừng khi kết luận về mục tiêu chiến lược sắp tới của đối phương. Điều đó một phần do thái độ của tổng chỉ huy. Theo các nhân viên tham mưu Pháp, có lẽ bản thân Nava là viên tướng sành sỏi nghề tình báo cho nên sớm phát hiện sự bất lực của phòng nhì và không tin rằng cơ quan này có thể giải đáp được những vấn đề có tầm chiến lược cần tìm hiểu về đối phương. Không phải Nava coi thường các tin tức thâu lượm được nhưng người ta nhận thấy đôi khi Nava tỏ ra quá thận trọng (thận trọng tới mức nghi ngờ) đối với những ý kiến của phòng nhì. Trước những tin tức mà bao giờ tổng chỉ huy cũng là người được báo cáo đầy đủ nhất và sớm nhất, Nava thường đòi xác minh lại và trong nhiều trường hợp, khi vấn đề được xác định thì đã quá muộn.

        Sau khi quân Pháp rút khỏi Nà Sản (8 - 12 tháng 8-1953), trong cơ quan tham mưu thường có những ý kiến phán đoán khác nhau về chủ trương chiến lược của đối phương trong mùa khô tới.

        Có ý kiến cho rằng đối phương sẽ mở chiến dịch tiến công vào vùng châu thổ sông Hồng để, nếu không hoàn toàn làm chủ được địa bàn chiến lược đông người nhiều của này thì cũng làm cho “vùng đồng bằng có ích” bị ruỗng nát thêm, đồng thời giam chân khối cơ động chiến lược của Pháp đang được khẩn trương xây dựng và tập trung ở đây. Những người ủng hộ ý kiến này (trong đó có tướng Cônhi, chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc) nhận định rằng đối phương không đủ sức mở các chiến dịch tiến công trên những chiến trường xa các căn cứ của họ ở vùng thượng du Bắc Bộ vì không vượt nổi những khó khăn về tiếp tế, hậu cần.

        Trái với nhận định trên đây, phòng nhì cho rằng hướng tiến công chiến lược sắp tới của đối phương không những diễn ra trên chiến trường rừng núi vùng tây bắc Đông Dương mà họ còn vươn xa hơn nữa xuống phía Nam, sau khi đã quét sạch các vị trí của Pháp ở cực bắc Thượng Lào. Phòng nhì không tin rằng đối phương không “bước qua được cái đòn gánh” của tổng chỉ huy Nava đã chắn ngang vĩ tuyến 18 (Đèo Ngang - Viêng Chăn). Họ còn lập luận rằng đồng bằng Bắc Bộ (với sự tồn tại của phòng tuyến Đờlát, với khối cơ động chiến lược đông và mạnh) là một hướng chiến lược không hấp dẫn đối với Việt Minh. Có nhiều khả năng đối phương chọn hướng nào quân Pháp phòng thủ kém hơn so với các nơi khác, quân bản xứ (ngụy) tại chỗ không đủ sức đương đầu trong những trận đánh không cân sức. Hướng chiến lược đó, theo phán đoán của phòng nhì, có thể là Thượng Lào, Đường 41 bỏ ngỏ là một trục giao thông mà đối phương có thể đi lại tự do.

        Thế bố trí chiến lược hiện nay cho thấy phía Pháp không đủ lực lượng cần thiết để phản ứng nếu một chiến dịch quy mô lớn diễn ra trên chiến trường tây bắc Đông Dương. Đó không những vì chiến trường quá xa các căn cứ của Pháp ở đồng bằng mà còn vì địa hình khắc nghiệt ở vùng rừng núi không cho phép quân Pháp tiếp nhận một trận đánh bất lợi như vậy.

        Phòng nhì cho rằng đối phương có đủ sức bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch trên chiến trường xa căn cứ của họ. Theo tài liệu của bộ tham mưu Pháp, bấy giờ không những đối phương có một lực lượng vận tải bằng cơ giới khá lớn mà còn có cả một hệ thống vận tải khổng lồ vô tận về người và xe đạp, đủ sức len lỏi vào những địa bàn rất xa, rất sâu. Pháp đã từng tỏ ra bất lực trước hệ thống vận chuyển kỳ lạ này.

        Tại vùng đồng bằng sông Hồng, vẫn theo phán đoán của phòng nhì, bộ đội địa phương và dân quân du kích Việt Minh đã đứng vững và làm cho tình trạng “ruỗng nát” trở nên rất nghiêm trọng trên một địa bàn rộng, gồm khoảng 5.000 làng xã trong tổng số 7.000 làng xã đồng bằng. Chỉ riêng lực lượng tại chỗ của đối phương (trong đó có trung đoàn 42, “trung đoàn hăng nhất, nguy hiểm nhất và bất trị nhất”) cũng đủ buộc Pháp phải giam chân phần lớn lực lượng dự bị chiến lược để bảo vệ các vị trí. Vì thế quân chủ lực của Việt Minh có thể tự do hoạt động trên các chiến trường lựa chọn ngoài vùng châu thổ sông Hồng.

        Còn tổng chỉ huy Nava thì sao? Bản thân viên tướng này cũng đang bị giằng xé giữa hai yêu cầu: 1. Tập trung lực lượng ở đồng bằng để bảo vệ địa bàn chiến lược hết sức xung yếu và đang bị uy hiếp này đồng thời để hoàn tất xây dựng đội dự bị cơ động, “quả đấm chiến lược”; 2. Sẵn sàng lực lượng tung đi cứu nguy nếu chiến trường Thượng Lào bị uy hiếp. Theo chỉ thị của Pari, bảo vệ Thượng Lào đã trở thành một yêu cầu chính trị quan trọng đối với quân viễn chinh Pháp. Nhưng vấn đề đặt ra là phải dùng hình thức nào để phòng thủ Thượng Lào có hiệu quả nhất và với giá rẻ nhất?
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #158 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:36:59 pm »


        Theo các phương án đã từng được đem ra trao đổi với Xalăng hồi tháng 5, Nava thấy rõ ràng Pháp không đủ lực lượng (quân số và phương tiện cơ động đường không) để kết hợp phòng ngự trực tiếp và phòng ngự từ xa, cụ thể là vừa chốt giữ các đầu mối giao thông chiến lược bên này và bên kia biên giới Việt - Lào (Mường Khoa, Sốp Nao, Điện Biên Phủ...), vừa tung quân vào một vùng trọng yếu nào đó do đối phương kiểm soát (ví dụ vùng Yên Bái) để “giam chân” một bộ phận chủ lực của họ, nhằm đỡ đòn cho cả Thượng Lào và đồng bằng sông Hồng. Điều đắn đo đối với Nava là “phương án kết hợp” trên đây không những ít có khả năng thu hút chủ lực của đối phương1mà còn dẫn đến nguy cơ đồng bằng bị bỏ trống một thời gian ít nhất là ba tuần lễ.

        Nava cũng nghĩ đến hình thức phòng ngự vận động ngay trên đất Lào nhưng phương án này đã nhanh chóng bị gạt bỏ vì quân Pháp không đủ điều kiện về trang bị và trình độ chiến thuật để tác chiến vận động trên địa hình khắc nghiệt ở vùng rừng núi tây bắc Đông Dương.

        Trong lúc cơ quan tham mưu theo dõi cuộc vật lộn giữa các phương án tác chiến chiến lược đang thai nghén trong đầu óc viên tổng chỉ huy thì ngày 15 tháng 9, Giăng Pherăngđi (Jean Ferrandi), một sĩ quan tình báo thuộc loại cựu Đông Dương, được đại tá Béctây, tham mưu phó phụ trách kế hoạch hành binh, gọi lên để tham khảo ý kiến. Pherăngđi đã nhiều lần theo Xalăng qua lại Điện Biên Phủ trong những ngày sóng gió nổi lên ở Tây Bắc tháng 11 năm trước. Qua một tấm ảnh do mấy bay chụp và được phóng rất lớn, viên tham mưu phó quân viễn chinh Pháp chăm chú nghe giới thiệu cụ thể về cái lòng chảo khổng lồ Điện Biên Phủ.

        Mặc dù đại tá Béctây không hề tiết lộ ý đồ chiến lược của tổng chỉ huy và còn yêu cầu Pherăngđi giữ kín về “cuộc tìm hiểu bình thường” này, nhưng từ trung tuần tháng 9, trong cơ quan tham mưu bắt đầu có những tiếng thì thào về khả năng Điện Biên Phủ được chọn làm chiến trường để đập tan ý đồ chiến lược của Việt Minh. Người ta cũng thấy nảy sinh sự so sánh giữa Nà Sản với Điện Biên Phủ. Cùng ở vùng rừng núi Tây Bắc những nếu Nà Sản không có gì đặc biệt so với bất kỳ một cánh đồng nào trên vùng thượng du thì, với những điểm cao trùng điệp bao quanh, càng xa cánh đồng Mường Thanh núi càng cao dần, Điện Biên Phủ đúng là một lòng chảo khổng lồ. Các cán bộ tham mưu phán đoán rằng nếu tổng chỉ huy Nava có ý định chiếm đóng Điện Biên Phủ nhằm ngăn chặn những đơn vị chủ lực lớn của đối phương thì vị trí này phải trở thành một căn cứ không quân - lục quân lớn hơn nhiều so với Nà Sản.

        Cơ quan tham mưu chưa có cơ sở để tin rằng Nava sẽ trở lại hình thức phòng ngự bằng tập đoàn cứ điểm. Người ta còn nhớ, ngay từ mùa hè khi lên thăm Nà Sản, viên tổng chỉ huy mới đã từng phê phán “cái tài sản bị nhiễm độc” do Xalăng để lại và đã tỏ thái độ xem thường “hệ thống những con nhím”. Việc rút quân khỏi Nà Sản đã chẳng chứng minh thái độ khinh miệt đối với biện pháp phòng ngự cứng đờ đó sao? Phải chăng sau khi suy đi tính lại, tổng chỉ huy đã thấy hình thức phòng ngự bằng tập đoàn cứ điểm là một biện pháp chiến lược mầu nhiệm để, nếu không đủ sức ngăn chặn chủ lực đối phương lọt qua thì ít nhất cũng làm thất bại những cuộc tiến công của họ vào những vị trí quan trọng nhất của Pháp.

        Sau khi tìm hiểu ý định của tổng chỉ huy, người ta được biết rằng vấn đề quan trọng đối với tướng Nava lúc này không phải là tên gọi (là vị trí, là con nhím, là tập đoàn cứ điểm gì gì cũng được) mà là nên thiết lập “cái đó” ở đâu?

        Luông Pha Băng, Viêng Chăn và Lai Châu đều không thuận tiện cho việc sử dụng không quân. Hơn thế nữa, Lai Châu lại quá xa đường tiến quân của đối phương sang hướng Lào. Chẳng lẽ cho quân chiếm đóng lại Nà Sản? Không! Thể diện của tổng chỉ huy không cho phép làm việc đó! Vậy thì vị trí duy nhất thích hợp để lập một căn cứ không quân - lục quân chỉ có thể là Điện Biên Phủ, một địa điểm cần chiếm đóng để bảo vệ Thượng Lào đã được Xalăng nêu lên trong tài liệu bàn giao ngày 25 tháng 5 năm 1953.

        Nguyên nhân cuộc “tìm hiểu bình thường” của tham mưu phó Béctây với Pherăngđi về chiến trường Điện Biên Phủ hồi trung tuần tháng 9 đến nay đã sáng tỏ.

        Trong tháng 10, khi phòng nhì thông báo về những hoạt động đầu tiên của đối phương cũng là lúc tổng chỉ huy dần dần khẳng định kế hoạch của mình. Điện Biên Phủ quả là quá xa các căn cứ ở đồng bằng và địa hình cũng không hoàn toàn thuận lợi. Tuy nhiên, đưa quân lên đây sẽ tạo điều kiện cho Lai Châu khỏi bị “lạnh chân”, bọn biệt kích đang hoạt động ở vùng bắc Sơn La khỏi bị “hở sườn” và điều chủ yếu là chốt chặt cửa ngõ sang hướng Thượng Lào trên trục đường Tuần giáo - Mường Khoa.

        Sau khi hiệp định Pháp - Lào được ký kết (28-10-1953) trong đó có điều khoản xác định nhiệm vụ “bảo vệ Thượng Lào”, quyết tâm chiến lược trên đây của viên tổng chỉ huy càng được khẳng định.

        Mọi việc chuẩn bị để thực hiện kế hoạch Caxto (Castor) được xúc tiến khẩn trương để sẵn sàng ném quân lên chiến trường Tây Bắc, chiếm đóng Điện Biên Phủ. Tuy có lời bàn ra tán vào trong cơ quan tham mưu những không ai dám hỏi vì sao Điện Biên Phủ không được ghi trong kế hoạch chiến lược của Nava ngay từ đầu? Phải chăng đưa quân lên Điện Biên Phủ là biểu hiện đầu tiên của sự bị động về chiến lược, là sự giằng xé trong việc bố trí binh lực giữa rừng núi và đồng bằng? Không ai tiện hỏi và tất nhiên tổng chỉ huy Nava cũng không tiện và không cần giải thích.

---------------------
        1. Các cuộc hành binh Hải cẩu (Phoque) cuối năm 1950 và Loren (Lorraine) cuối năm 1952 đã chứng minh điều đó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #159 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 11:39:31 pm »


DƯỚI CHIẾC Ô CỦA CHÚ SAM

        Ngay từ khi sang nhậm chức ở Đông Dương, Nava đã đánh hơi thấy hình như ở Pari, người ta không còn quan tâm nhiều đến cuộc chiến tranh Đông Dương. Người ta chỉ mong sao cho quân viễn chinh không bị dồn vào tình thế nguy ngập. Thế nhưng, tướng Nava lại không muốn như vậy. Sang Đông Dương “với danh nghĩa là một nhà chiến lược tuyệt vời”1. Nava muốn làm nên “một cái gì”, và để đạt được “cái gì” đó, không thể không trông cậy vào bàn tay hào hiệp của chú Sam. Việc thảo luận kế hoạch chiến lược hồi tháng 7 đã chứng minh: nước Pháp đã quá kiệt sức, việc tăng cường viện trợ của Mỹ đã trở thành yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định.

        Từ mùa hè năm 1953, báo chí Pari đã từng vạch trần tính chất phụ thuộc vào Mỹ của giới cầm quyền Pháp trong việc thực hiện kế hoạch Nava. Thủ tướng Lanien đã công khai tuyên bố trước quốc hội rằng kế hoạch Nava không những được Chính phủ Pháp tán thành mà còn được Chính phủ Mỹ hoan nghênh. Kế hoạch đó cho phép Pari “hy vọng đủ mọi điều” trước hết là hy vọng Mỹ tăng cường viện trợ.

        Về phía Hoa Kỳ, từ khi cuộc chiến tranh Đông Dương bước sang năm thứ tám, khi giới cầm quyền ở Pari công khai thú nhận rằng Pháp không thể giành được thắng lợi về quân sự thì điều lo ngại lớn đối với Oasinhtơn là Pháp thua trận hoặc bỏ cuộc. Trong cuộc họp với một số nghị sĩ quốc hội tháng 7 năm 1953 ở Oasinhtơn, bộ trưởng ngoại giao Đalét (Foster Dulles) khẳng định “sức kháng cự của Pháp tan rã sẽ là mối đe dọa đối với quyền lợi trọng yếu của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương”. Một tháng sau, khi hiệp nghị Bàn Môn Điếm chặn đứng quân Mỹ và chư hầu ở vĩ tuyến 38, trong một báo cáo tại quốc hội, Tổng thống Aixenhao (Dwight Eisenhower) nhận xét rằng nếu không có sự giúp đỡ của nước ngoài (tức là Mỹ) thì Pháp không đủ sức giữ những điều cam kết cả ở châu Âu và châu Á... Nước Pháp đã phải chịu những thiệt hại nặng nề về sỹ quan và binh lính, phải tiêu phí mỗi năm hơn một tỷ đô la để theo đuổi cuộc chiến tranh gay go khó khăn. Họ không thể đảm đương được toàn bộ chiến phí và đã làm ảnh hưởng đến sự đóng góp vào những nỗ lực quân sự ở châu Âu... Nhắc lại thuyết Đôminô, Tổng thống Mỹ dự đoán Miến Điện, Ấn Độ, Inđônêxia sẽ bị uy hiếp nếu cộng sản thắng ở Đông Dương. Theo quan điểm của Aixenhao, viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho các lực lượng chống cộng ở Đông Dương là cách rẻ nhất để tránh mối đe dọa nghiêm trọng nền an ninh Mỹ (!). Phụ họa với tổng thống, thượng nghị sĩ Menxphin (Mike Mansfield) cũng cho rằng viện trợ mà Hoa Kỳ bằng lòng gánh chịu ở Đông Dương là nhằm phục vụ công cuộc phòng thủ riêng của Mỹ cũng như cho cuộc phòng thủ chung của “thế giới tự do”.

        Từ cuối năm 1953, vấn đề can thiệp vào Đông Dương đã được Nhà trắng đặt lên hàng đầu.

        Kết quả tất yếu là viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp ở Đông Dương đã tăng vọt từ 285 tỷ phrăng năm 1953 (tức 43% chiến phí của Pháp) lên 555 tỷ phrăng năm 1954 (tức 73% chiến phí của Pháp, mức cao nhất của viện trợ Mỹ cho Pháp ở Đông Dương)2.

        Viện trợ Mỹ đổ vào càng nhiều thì yêu sách của Mỹ càng tăng và mâu thuẫn quyền lợi giữa Pháp và Mỹ càng sâu sắc.


---------------------
        1. James Fox, tác giả bài “Ông Giáp, người chiến thắng ở Điện Biên Phủ”, tạp chí The Sunday Times Magazine số 5-11 và 12-11-1972.

        2. Theo tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, tỷ lệ đó lên tới 78%.

        Nếu trong cả ba năm 1950-1952, Mỹ chỉ đưa vào Đông Dương 228 máy bay và một số trang bị khác thì trong hai năm 1953-1954, viện trợ của Mỹ lên tới 285 máy bay các loại, 60 tàu xuồng, 100 xe tăng và thiết giáp, 7.000 xe vận tải. Nhịp độ viện trợ tăng lên rất nhanh: năm 1952 từ 8.000 đến 17.000 tấn/tháng; năm 1953 từ 20.000 đến 25.000 tấn/tháng; năm 1954, có tháng lên tới 40.000 tấn (4-1954) thậm chí 80.000 tấn (6-1954), tức là gấp mười lần so với tháng ít nhất trong năm 1952, gấp bốn lần so với tháng ít nhất trong năm 1953.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM