Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:24:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 45887 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #140 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2025, 07:35:24 pm »

CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH TRỰC TIẾP ĐẬP TAN NỖ LỰC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH ĐỜ LÁT CỦA THỰC DÂN PHÁP

Đại tá, TS NGUYỄN VĂN LƯỢNG
Trưởng phòng Kế hoạch, quản lý khoa học và đào tạo,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thất bại trong Thu - Đông 1950, quân Pháp bị mất quyền chủ động, phải chuyển sang trạng thái phòng ngự. Lúc này giới chóp bu quân sự Pháp ở Đông Dương xuất hiện mâu thuẫn trong xây dựng kế hoạch chiến lược, đó là sử dụng tập Trung hay phân tán lực lượng; giữa giành đất, giành dân và thu hẹp phạm vi chiếm đóng. Sau các chuyến thị sát nắm tình hình, tướng Gioăng đã đệ trình với Chính phủ Pháp những giải pháp mới nhằm đối phó với tình thế ở Đông Dương. Quan điểm của ông ta là không phân tán lực lượng để chiếm đóng, mà tập trung xây dựng lực lượng thành các binh đoàn cơ động; đồng thời xây dựng, tổ chức quân đội các quốc gia liên kết (Quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia) đủ mạnh làm nhiệm vụ bình định.


Để thực hiện đề xuất trên, Chính phú Pháp thấy cần phải có một viên tướng tài ba để "chèo chống trước những cơn sóng gió", nên đến đầu tháng 12 năm 1950 đã điều Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Latre de Tassigny), nguyên là chỉ huy Tập đoàn quân số 1 và đang là Tổng Thanh tra Quân đội, được cử giữ chức Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nhận nhiệm vụ mới, Đờ Lát sắp xếp lại bộ máy chỉ huy quân sự ở Đông Dương đổ dồn mọi nỗ lực bình định đồng bằng Bắc Bộ, nhằm xoay chuyển tình hình, giành lại quyền chủ động trên chiến trường và tiến tới phản công.


Đờ Lát vạch kế hoạch nhanh chóng củng cố quân đội viễn chinh và xây dựng, phát triển quân đội quốc gia Việt Nam (quân ngụy); tập trung các tiểu đoàn Âu - Phi tổ chức thành các binh đoàn cơ động (GM); lập phòng tuyến để bảo vệ trung du và đồng bằng Bắc Bộ; đẩy mạnh càn quét bình định vùng chiếm đóng, mở rộng vùng chiếm đóng, đánh phá căn cứ du kích, khu du kích; sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ, gấp rút chuẩn bị, tạo điều kiện phản công giành lại quyền chủ động chiến lược.


Thực hiện kế hoạch trên, chỉ trong 6 tháng đầu năm 1951, ở đồng bằng Bắc Bộ, địch đã tiến hành hơn 49 cuộc càn quét lớn nhỏ vào các vùng du kích và vùng ven. Đờ Lát cũng đề nghị với Chính phủ Pháp tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh nhiều hơn nữa cho Đông Dương và để tổ chức phòng thủ Bắc Bộ. Đến cuối năm 1950, tổng lực lượng quân Pháp ở Đông Dương có 239.000 quân, trong đó có 117.000 lính Âu - Phi (riêng số binh lính Pháp có 63.000), còn lại chủ yếu là quân ngụy. Lực lượng trên được bố trí ở Bắc Bộ 64 tiểu đoàn (54%), Trung Bộ có 20 tiểu đoàn (17%), Nam Bộ có 23 tiểu đoàn (19%), còn lại là Campchia và Lào 11 tiểu đoàn (10%)1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 20). Cùng với phân chia lực lượng, Đờ Lát còn tập trung xây dựng các công trình quân sự, như sân bay Cát Bi, Kiến An (Hải Phòng), đặc biệt là phòng tuyến gồm hệ thống công sự boongke và vành đai trắng chạy bao quanh vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, từ Đông Triều đến Sơn Tây, nối liền với phòng tuyến sông Đáy vây chặt đồng bằng Bắc Bộ. Đờ Lát cho ràng, với hệ thống phòng tuyến này sẽ ngăn chặn được lực lượng ta từ vùng rừng núi, nhất là từ căn cứ địa Việt Bắc xuống. Đồng thời siết chặt vùng kiểm soát, mở các cuộc hành quân càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến cuối năm 1951, Pháp đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng tuyến phòng thủ boongke, gồm 80 vị trí lớn nhỏ, 800 lô cốt với đầy đủ vũ khí và lực lượng.


Có thể nói, "Kế hoạch Đờ Lát" đã vực dậy một bước tinh thần quân đội viễn chinh, biết tập trung lực lượng nhanh chóng vào chiến trường trọng điểm, phát huy tối đa sức mạnh của binh khí kỹ thuật hiện đại để ngăn chặn ta trong đánh vận động cũng như trong đánh điểm. Với cuộc "chiến tranh tổng lực", thực dân Pháp đã mở hàng trăm cuộc càn lớn nhỏ và đạt được một số thành công tạm thời trong âm mưu bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến cuối năm 1950, Bộ Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho rằng "cán cân đã nghiêng về Pháp, đã đến lúc có thể dứt khoát từ bỏ thái độ phòng ngự mà Pháp đã chịu đựng từ năm 1948 nhất là từ cuối năm 1950, để chuyển sang thế tiến công"1 (Yves gras, Histoire de la guerre d'Indochine, Pion, 1978 (Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương), Bản dịch lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Đến tháng 10 năm 1951, Bộ chỉ huy quân Pháp huy động 10 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn dù và các đơn vị binh chủng yểm trợ tiến công vào Thanh Hóa, nhằm thọc sâu vào vùng tự do, phá hậu phương của ta, buộc chủ lực ta phải giao chiến ớ địa bàn mới lạ, xa căn cứ Trung ương. Nhưng, cuộc tiến công vào Thanh Hóa bị bỏ dở nên Đờ Lát thực hiện ý định "đánh đòn quyết định" bằng cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình.


Về phía ta, sau thắng lợi ở biên giới năm 1950, Trung ương Đảng chủ trương mở một số chiến dịch lớn nhằm tiến công tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch củng cố, bình định của chúng, phát triển chiến tranh du kích, giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, từ cuối năm 1950 đến đầu năm 1951, ta đã mở các chiến dịch: Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung nhằm tiến công vào phòng tuyến trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhưng "cả ba chiến dịch ta chỉ thu được kết quả hạn chế, địch bị thiệt hại nặng, nhưng ta cũng bị tiêu hao lớn"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Tập V, Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 148). Những hạn chế của các chiến dịch này để lại kinh nghiệm sâu sắc cho các cấp lãnh đạo, chỉ huy ở cả cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, đặc biệt là chưa đánh giá đúng về khả năng của ta và sức phòng thủ của địch trên chiến trường Bắc Bộ. Do vậy, đến cuối năm 1951, thế trận chiến tranh nhân dân ở đồng bằng Bắc Bộ bị suy giảm nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (10.1951) chủ trương: "Ra sức tiêu diệt sinh lực địch, tiến tới giành ưu thế quân sự, phá kế hoạch phòng ngự của địch ở trung châu Bắc Bộ"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), tr. 575). Tuy nhiên,đến thời điểm này ta vẫn chưa chọn được địa bàn phù hợp cho hoạt động của bộ đội chủ lực, chưa chọn được hướng tiến công và kế hoạch tác chiến nhằm phá ý đồ giành quyền chủ động của địch trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Ngày 13 tháng 10 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưu báo cáo kế hoạch tác chiến lên Tổng Quân ủy, trong đó có dự kiến: Nếu địch tiến công Hòa Bình thì lực lượng địa phương sẽ đối phó trước, sau đó sẽ sử dụng lựclượng của 3 đại đoàn: 308, 304 và 320 để đánh và có thể mở chiến dịch phản công. Các đại đoàn 316 và 320 thọcsâu vào vùng trung du, đồng bằng, mở mặt trận ở vùng sau lưng địch1 (Sư đoàn 316, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 52). Dự kiến phương án đánh địch khi chúng tiến công Hòa Bình của Bộ Tổng Tham mưu đã thể hiện tư tưởng chỉ đạo của cơ quan tham mưu chiến lược: Vừa chuẩn bị tiến công nhưng sẵn sàng phương án cho phản công.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #141 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2025, 07:37:13 pm »

Ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe), dưới sự chỉ huy của Đờ Linarét (De Linares), các GM (1,2, 3), tiểu đoàn dù lê dương và 2 đại đội Commăngđô số 21, 22 chia thành 3 mũi tiến công Chợ Bến, mở đầu cho kế hoạch tái chiếm Hòa Bình. Sau khi chiếm được Chợ Bến, ngày 14 tháng 11, dưới quyền chỉ huy của Tướng Xalăng (Salan), Phó Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã mở cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm Hòa Bình. Lực lượng của cuộc hành quân này gồm 20 tiểu đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng được chia thành 4 cánh quân, hình thành 2 gọng kìm từ Sơn Tây - Trung Hà xuống và từ Xuân Mai lên. Ngoài ra, một lực lượng dự bị gồm tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh 105mm và 1 đại đội xe tăng sẵn sàng ứng chiến khi cần thiết.


Trước tình hình đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã báo cáo Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị về "Chủ trương mở Chiến dịch Hòa Bình và điều chỉnh kế hoạch hoạt động Thu - Đông sang tiến công nơi địch mới chiếm. Hòa Bình sẽ là hướng chính, các nơi khác phối hợp. Mục đích chính của Chiến dịch Hòa Bình là tiêu diệt sinh lực địch ở chiến trường Hòa Bình, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích nơi khác"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu, 1963, tr. 50). Chủ tịch Hồ Chí Minh và BộChính trị hoàn toàn nhất trí với nhận định, chủ trương của Tổng Quân ủy và khẳng định: "Đây là cơ hội tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng và quyết tâm đánh thắng"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu, 1963, tr. 55). Để đập tan cuộc hành quân chiếm đóng Hòa Bình của địch, Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch, cử đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng và thành lập Đảng ủy Chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách Bí thư, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Phó Bí thư.


Theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch sử dụng Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 đánh địch trên hướng chủ yếu, tiêu diệt sinh lực địch, phá vỡ tuyến phòng ngự sông Đà, trong đó Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 142) đánh địch bên tả ngạn sông Đà, có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình. Trên hướng thứ yếu, Đại đoàn 304 có nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6. Các đại đoàn 308, 316, 320... thực hiện đánh phân tán địch ở vùng trung du, đồng bằng phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình.


Trong đợt 1 của chiến dịch (10 - 26.12.1951), các đại đoàn 312, 308, 304 tập trung tiến công địch trên tuyến sông Đà - Ba Vì để vừa triệt đường tiếp tế của địch trên sông, vừa nối thông hành lang tiếp tế của ta, khi có điều kiện sẽ phát triển sang hữu ngạn sông Đà, Đường số 6. Mục tiêu ban đầu của chiến dịch là tiến công vào khu vực phòng ngự then chốt của địch ở Tu Vũ - Chẹ. Sau hơn hai tuần chiến đấu, trên mặt trận sông Đà - Đường số 6, ta đã tiêu diệt 10 đại đội tỉnh nhuệ của địch, phần lớn là lính Âu - Phi, bắn chìm 7 canô, tàu, xuồng, bắn bị thương hai chiếc trên sông Đà, uy hiếp hệ thống phòng thủ sông Đà, Ba Vì, Đường số 6 của địch1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 27). Phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình, các đại đoàn 320, 316 tiến sâu vào vùng sau lưng địch, nhất là ở Bắc Ninh, Phát Diệm (Ninh Bình), buộc địch phải điều lực lượng từ Hòa Bình về đối phó.


Sau những thắng lợi trong đợt 1 của chiến dịch, ta đã thực hiện được ý định vừa kìm giữ địch ở Hòa Bình, vừa căng kéo địch ở vùng sau lưng. Do vậy, bước vào đợt 2 của chiến dịch (27 - 31.12.1951), ta vẫn tiếp tục lấy phân khu Sông Đà - Ba Vì làm hướng tiến công chính để tiêu diệt nhiều sinh lực địch, tạo điều kiện cho vùng sau lưng phát triển chiến tranh du kích. Trong đợt này ta chỉ giữ được tuyến hành lang vận chuyển qua sông Đà, uy hiếp mạnh Đường số 6, làm chủ Điểm cao 600 ở khu vực Ba Vì. Ta cũng bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt địch trong vận động và bị những tổn thất trên Đường số 6. Tuy nhiên, mặt trận sau lưng địch ở vùng đồng bằng Bắc Bộ của ta lại hoạt động mạnh, rộng khắp, thu được nhiều thắng lợi to lớn. Kết quả đó một phần do Chiến dịch Hòa Bình mang lại, vì các đại đoàn của ta đã ngăn chặn không cho địch rút từ Hòa Bình về tăng cường cho vùng đồng bằng.


Sau đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định: Quân địch đã bị tổn thất nặng nề, kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của chúng ngày càng gặp khó khăn, nhất là về giao thông, tiếp tế vì đường sông Đà bị tê liệt, Đường số 6 đang bị uy hiếp mạnh... nhưng nếu ta tiếp tục đánh mạnh cũng có thể buộc địch phải nghĩ đến việc rút khỏi Hòa Bình2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Sđd, tr. 30). Trên cơ sở nhận định đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịchhạ quyết tâm trong đợt 3 (7.1 - 25.2.1952): Tiêu diệt gọn một phần sinh lực địch, đẩy mạnh công tác địch vận, tiếp tục bám sát địch và bao vây chặt địch ở thị xã Hòa Bình. Trên khu vực Chẹ và Đá Chông, ta thực hiện kiềm chế địch, tiếp tục cắt sông Đà. Ở vùng sau lưng địch, ta đẩy mạnh chống càn để phối hợp với mặt trận Hòa Bình, Đường số 6...


Với quyết tâm cao và sử dụng lực lượng hợp lý nên từ ngày 7 tháng 1 năm 1952, ta đã đánh mạnh các vị trí phòng ngự của địch trên Đường số 6, thị xã Hòa Bình, sau đó đánh cắt Đường số 6 và bao vây cô lập thị xã Hòa Bình, buộc địch phải thả dù tiếp tế. Mặt trận sau lưng địch bị đánh mạnh, thị xã Hòa Bình bị bao vây cô lập, đây là thời cơ thuận lợi cho các đại đoàn tiến công địch... Đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi.


Qua hơn hai tháng chiến đấu, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà với diện tích gần 2.000km2 với gần 20 nghìn dân. Trên Mặt trận Hòa Bình, ta diệt 5.317 tên địch, bắt 593 tên, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy thu phát thông tin, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 canô, phá hủy 246 xe quân sự1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Tập V, Phát triển thể tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 442). Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã phá được ý đồ giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, làm cho thực dân Phập lún sâu vào thế bị động chiến lược. Ngược lại, ta bắt đầu chuyển sang thế phản công và từng bước giành lại thế chủ động trên chiến trường. "Nếu kế hoạch chiến lược của De Lattre đã có lúc phần nào thành công trong việc dựa vào đồng bằng ngăn chặn được ta,thì nay với thất bại Hòa Bình, cả phòng tuyến xây dựng kiên cố của ông ta trở nên vô ích, tình thế ở đồng bằng Bắc Bộ vẫn bị đảo lộn có lợi cho ta. Chiến tranh trở lại thế trận không phân tuyến. Chiến tích cuối cùng của y trở thành chiến bại cuối cùng"1 (Trận đánh ba mươi năm, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 475).


Chiến dịch Hòa Bình đã lùi xa 70 năm, nhưng giá trị và ý nghĩa lịch sử của chiến dịch vẫn còn hiện hữu, có sức lan truyền mạnh mẽ về ý chí quyết tâm giành thắng lợi của quân và dân ta trước một đội quân nhà nghề thực dân Pháp với trang bị vũ khí hơn ta gấp nhiều lần. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã để lại nhiều kinh nghiệm lịch sử, đặc biệt là việc nhận định, dự kiến về địch và xác định những chủ trương, biện pháp của Tổng Quân ủy; công tác tham mưu, chỉ đạo, điều hành tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu nên đã nhanh chóng giành thế chủ động trong chiến dịch và cả chiến trường Bắc Bộ. Các đại đoàn của ta không chỉ tập trung đánh địch ở Hòa Bình mà còn đánh địch ở vùng sau lưng, đẩy chúng vào thế mâu thuẫn giữa tập trung với phân tán, giữa bình định với mở rộng địa bàn. Ngay phía Pháp cũng phải thừa nhận "chúng ta đã bị thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó, đã tạo thế lợi cho đối phương đưa được các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng"2 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951-2.1952), Ha Nội, 1991, tr. 40).


Với giá trị và ý nghĩa lịch sử của Chiến dịch Hòa Bình, chúng ta có thể vận dụng vào nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cơ quan chỉ huy cấp chiến dịch, chiến lược, dự bảo sát đúng đối tượng tác chiến, trên cơ sở đó tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ để sẵn sàng đối phó với những nguy cơ chiến tranh, những tác động của yếu tố an ninh phi truyền thống nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
Logged
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #142 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2025, 02:25:12 pm »

SỰ PHỐI HỢP GIỮA BỘ ĐỘI CHỦ LỰC VỚI LỰC LỰỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG Ở TRUNG DU VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Trung tá, ThS NGUYỄN HÀ HẢl
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong Chiến dịch Hòa Bình, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, cùng với chiến trường phía trước1 (Do các đại đoàn 304, 308, 312, 351 đảm nhiệm), Bộ Tổng Tham mưu xây dựng kế hoạch tác chiến vùng địch hậu (trung du và đồng bằng Bắc Bộ). Theo đó, Đại đoàn 316, được tăng cường thêm Trung đoàn 246 trực thuộc Bộ, hoạt động ở Bắc Giang, Bắc Ninh, đưa Trung đoàn 98 vào địch hậu ở vùng Gia Bình, Lương Tài (Bắc Ninh), đẩy mạnh du kích chiến tranh, mở rộng căn cứ địch hậu ở huyện Gia Lương. Trung đoàn 174 hoạt động ở tuyến ngoại, tiêu diệt một số cứ điểm; sẵn sàng tiêu diệt quân địch nếu chúng đánh ra vùng tự do Bắc Đường số 13. Khi có thời cơ, cho một bộ phận vào địch hậu. Trung đoàn 176 bố trí đề phòng địch đánh ra Đường số 4, có thể cho một bộ phận xuống Đường số 13 hoạt động. Đại đoàn 320 đưa Trung đoàn 64 vào địch hậu ở Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân (tỉnh Hà Nam); một trung đoàn hoạt động ở Kim Sơn, Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình); một trung đoàn làm dự bị.


Để chỉ đạo mọi hoạt động của cả ba thứ quân, Ban Chỉ đạo Mặt trận Trung du và Mặt trận Liên khu 3 được thành lập. Các mặt trận phối hợp được yêu cầu hết sức khẩn trương tranh thủ thời gian hoạt động sớm; vừa hoạt động vừa chuẩn bị và mạnh dạn đưa lực lượng vào địch hậu.


Một là, bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động ở hậu phương của địch

Tháng 11 năm 1951, hòa nhịp với mặt trận chính diện, các đại đoàn 316 và 320 bắt đầu vượt qua "vành đai trắng" và phòng tuyến boongke1 (Sau khi được Chính phủ Pháp cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương (1950), Đại tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattrẹ de Tassigny) vạch một kế hoạch chiến lược đối với trung du và đồng bằngBắc Bộ là: Xây dựng phòng tuyến boongke, thiết lập "vành đai trắng" bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với chủ lực đối phương xâm nhập; đánh phá hậu phương của Việt Minh bằng nhiều mặt; tiến hành "chiến tranh tổng lực", binh định vùng đã chiếm và đánh phá vùng du kích, huy động sức người, sức của, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh), tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm. Ngày 20 tháng 11 năm 1951, Đại đoàn 316 nhận được lệnh chuyển vào hoạt động trong vùng sau lưng địch gồm các tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc... Trung đoàn 246 của Bộ được điều về tăng cường cho Đại đoàn 316 trong đợt hoạt động này. Để tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 98 tiến sâu vào lòng địch, đêm mùng 6 tháng 12, Tiểu đoàn 249, do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu An chỉ huy, tiến công đồn Larivê. Đây là một vị trí boongke thuộc tiểu khu Phù Lỗ của địch. Đến 3 giờ 51 phút (7.12), tên đồn trưởng và số quân địch còn lại phải hạ vũ khí đầu hàng. Thắng trận này ta buộc địch phải lúng túng đối phó trên phòng tuyến Vĩnh Phúc ngay sát Hà Nội, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của Đại đoàn trên hướng Bắc Ninh. Đây là trận đầu tiên quân ta đánh tiêu diệt đồn địch, có công sự boongke tại vành đai, góp phần phối hợp với Mặt trận Hoà Bình.


Ở hướng Bắc Ninh (9.12), Tiểu đoàn 215 Trung đoàn 98 hoàn thành công tác chuẩn bị đánh Thứa (huyện Lương Tài), nằm sâu trong vùng cơ sở của ta tại phía Nam Bắc Ninh, có cơ quan hành chính quận và sở chỉ huy tiểu khu địch. Vị trí địch ở đây được xây dựng và củng cố lại nhiều lần, công sự tương đối vững chắc. Quanh đồn có hào nước sâu cắm chông tre và hệ thống hàng rào dây thép gai cùng các bãi mìn. Các lô cốt trong vị trí được cải tạo bằng xi măng chắc chắn. Lực lượng địch có một đại đội ngụy và hơn 1 trung đội bảo an, được trang bị đầy đủ. Đêm mùng 9 tháng 12, Tiểu đoàn 215, do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đức Y chỉ huy, bao vây vị trí địch theo kế hoạch đã định. 2 giờ ngày 10 tháng 12, quân ta bắt đầu nổ súng. Kết thúc trận đánh, ta thu trên 100 súng các loại, trong đó có 1 khẩu ĐKZ 57mm, 2 khẩu cối 81mm, 3 khẩu đại liên, 8 trung liên, 15 tấn đạn cùng nhiều quân trang, quân dụng. Sáng ngày 10 tháng 12, do chưa biết vị trí Thửa bị tiêu diệt, địch cho 1 tiểu đội từ đồn Phương Xá (cách Thứa 50km) đến thăm dò. Chúng lọt vào trận địa phục kích của ta và bị bắt gọn.


Bị bất ngờ, địch hết sức lúng túng, tung gián điệp trà trộn trong nhân dân để đi dò la tình hình. Sau khi phát hiện ở Bắc Ninh có chủ lực ta, thực dân Pháp vội vã điều gấp một bộ phận lực lượng cơ động từ Hoà Bình về để đối phó.

Ngày 15 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 174 được lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh vận động gấp vào Bắc Ninh cùng Trung đoàn 98 mở rộng hoạt động. Cùng đi với Trung đoàn 98 trong cuộc hành quân có Đại đội sơn pháo 75mm. Tiểu đoàn 215, sau thời gian củng cố, cũng được lệnh trở lại chiến trường. Tiểu đoàn 999 Trung đoàn 176, từ phía Lạng Sơn tiến xuống Hải Ninh tiễu phỉ, sẵn sàng đánh địch nếu chúng tiến công ra Đường số 4. Tiểu đoàn 888 Trung đoàn 176 vào vùng Yên Dũng (Bắc Giang) để hỗ trợ cho các lực lượng của Đại đoàn hoạt động phía Bắc Ninh. Sau khi vào tới phía Bắc Bắc Ninh, Trung đoàn 174 được lệnh đánh 2 vị trí cầu Ngà và Phố Mới. Đêm 22 tháng 12, đơn vị nổ súng. Đại đội 671 Tiểu đoàn 215 diệt gọn vị trí cầu Ngà trong đêm. Nhưng bên đồn Phố Mới, Tiểu đoàn 255 gặp khó khăn. Tới gần sáng, quân ta vẫn không giải quyết được đồn, buộc phải rút quân.


Đối với Đại đoàn 320, mở màn đợt hoạt động đơn vị quyết định đánh vào thị trấn Phát Diệm và vị trí Ngô Khê. Thời gian nổ súng đã được Bộ Tổng Tư lệnh ấn định vào đêm mùng 9 tháng 12 để thu hút sự chú ý của địch và giành một chiến thắng vang dội, tạo điều kiện cho những bước phát triển sau1 (Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc, Lịch sử bộ đội Thông tin liên lạc, Tập 1, tác giả tự in, Hà Nội, 1985, tr. 242). Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình) là sào huyệt của địch ở Ninh Bình. Ngay từ khi đặt chân lên đất Phát Diệm (tháng 10.1949), thực dân Pháp đã tìm mọi cách lôi kéo đồng bào chống phá cách mạng. Chúng tuyên truyên lừa bịp, lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để chia rẽ lương - giáo. Lập trại giam ngay trong nhà thờ chính, ngày ngày tra tấn dã man đồng bào vô tội. Lực lượng địch ở đây có một trung đoàn, được trang bị đầy đủ vũ khí, lại được pháo binh từ Phúc Nhạc và các vị trí trên Đường số 59 sẵn sàng chi viện2 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam Ninh, Hà Nam Ninh - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1986, tr.250). Địch chia Phát Diệm thành 2 hệ thống chiếm đóng gồm: Khu Trì Chính do quân Liên hiệp Pháp đóng giữ và khu Thượng Kiệm do quân ngụy đóng giữ. Chúng biến những khu nhà vững chắc ở đây thành một hệ thống cứ điểm với hơn 10 vị trí, nằm sâu trong thị trấn, rải suốt chiều dài 2km.


Đêm mùng 9 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52, Đại đoàn 320, được đồng bào lương - giáo Yên Mô và Kim Sơn che chở, đã "nhảy dù" thành công vào xung quanh các cứ điểm của địch tại thị trấn Phát Diệm. 2 giờ 50 phút ngày 10 tháng 12, cuộc công kích bắt đầu. Sau 1 giờ công kích, ta đã tiêu diệt và làm chủ hầu hết các vị trí địch ở khu Trì Chính, Kiến Thái, như nhà Lê Phát, nhà Công binh, nhà hát Họ Mạc, nhà Chỉ huy của tên Trung úy Sagôn. Quân ta chiếm trận địa pháo, phá hủy 2 khẩu pháo 105mm và 75mm. Trong khi đó, bên tả ngạn sông Trì Chính quân ta đã tiêu diệt và làm chủ khu Thượng Kiệm, chiếm hết các vị trí nhà Phủ Chiểu, nhà Hai Vỡi, vị trí Đại đội 5, Tiểu đoàn ngụy số 18 BVN1 (BVN viết tắt từ Bataillon du Vietnam (Tiểu đoàn bộ binh người Việt)), diệt vị trí chùa Phú Vinh và bao vây tiêu diệt quân địch chạy vào nhà thờ Phát Diệm2 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam Ninh, Hà Nam Ninh - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1986, tr. 252).


Sau Phát Diệm, ta chuẩn bị tiến công Ngô Khê, Ngô Khê là vị trí địch nằm cạnh nhà thờ Cát Lại, án ngữ Đường số 62, sát đê sông Châu, có công sự cải tiến, do một đại đội ngụy binh chiếm giữ. Từ khi địch chiếm Ngô Khê, con đường liên lạc của ta đi qua 3 huyện: Lý Nhân, Bình Lục và Duy Tiên sang cả Hưng Yên, Thái Bình bị cắt đứt. Được sự che chở giúp đỡ của nhân dân, 2 tiểu đoàn Hưng Công và Đồng Mít (Trung đoàn 64), có bộ đội địa phương phối hợp, đã bao vây và bất ngờ nổ súng tiến công vị trí Ngô Khê vào lúc 1 giờ 45 phút ngày 11 tháng 12 năm 1951. Sau gần 4 giờ tiến công, kết hợp với địch vận, quân địch buộc phải đầu hàng. Chiến thắng Ngô Khê làm cho hệ thống ngụy quân, ngụy quyền địa phương rung chuyển. Nhiều ban tề trong tỉnh như An Nông, Thọ Vực (Duy Tiên) phải chạy vào những nơi địch kiểm soát. Hai khu du kích Lý Nhân và Duy Tiên được khôi phục và nối liền, có 200 ngụy binh bỏ ngũ.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #143 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2025, 02:27:40 pm »

Hai là, làm nòng cốt tham gia phá tề, trừ gian, xây dựng cơ sở trong vùng địch hậu

Đối với Đại đoàn 320, đi đôi với công tác phá tề trừ gian, các đơn vị của Đại đoàn đã cùng với lực lượng địa phương ra sức tranh thủ nhân dân, xây dựng cơ sở, phát động du kích chiến tranh. Nhiều thôn trước đó gần một năm ta không thể vào hoạt động, thì nay bộ đội ta đã làm cho đồng bào tin tưởng ở cuộc kháng chiến, ở chính sách đoàn kết, chính sách tôn giáo của Đảng. Nhiều nơi nhân dân kêu gọi con em đang ở trong hàng ngũ địch không cầm súng chống lại bộ đội, trở về với kháng chiến. Trên 800 ngụy binh, vệ sĩ đã nghe tiếng gọi của Tổ quốc, của gia đình, bỏ hàng ngũ giặc trở về1 (Sư đoàn 320, Đại đoàn Đồng Bằng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr.233).


Riêng Trung đoàn 64, sau chưa đầy một tháng hoạt động, đã cùng nhân dân địa phương tiêu diệt 45 vị trí tề vũ trang, phá 312 ban tề trong tổng số 380 ban tề của Hà Nam2 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1991, tr. 541, 542). Trung đoàn đã khuếch trương thắng lợi, tạo được chỗ đứng vững chắc, mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời với số vũ khí thu được đã giúp địa phương xây dựng thêm lực lượng vũ trang tập trung và bán tập trung. Toàn tỉnh Hà Nam đã kiện toàn được 3 đại đội địa phương tinh, xây dựng thêm 1 đại đội. Ở mỗi huyện kiện toàn 2 trung đội và xây đựng thêm 1 trung đội. Vũ khí, trang bị tương đối đầy đủ. Cũng trong khoảng thời gian đó, Trung đoàn 48 đã diệt, giải tán 115 ban tề, cả tỉnh Ninh Bình chỉ còn sót lại 6 ban tề3 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1991, tr. 541, 542).


Cuối tháng 12 năm 1951, sau khi mở rộng được vùng giải phóng, tạo được bàn đạp đứng chân ở Ninh Bình, Thường vụ Liên khu uỷ 3 và Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng quyết định cho Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 tiến sâu vào vùng địch hậu vùng Nam Nam Định, cùng lực lượng vũ trang tại chỗ tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, đồng thời mở tiếp đường để chuẩn bị vượt sông Hồng đánh sang Tả Ngạn4 (Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiếnchống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Ha Nội, 1990, tr. 315). Đêm 28 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 52 cùng quân dân địa phương tiến côngHải Lạng, Phù Sa và bốt Nam Trực. Tiểu đoàn 66 đánh bốt Ngoại Đê, huyện Nam Trực. Do nắm địch không chắc, chuẩn bị chưa chu đáo nên ta không tiêu diệt được địch. Tuy vậy, sự xuất hiện của chủ lực đã làm địch hoang mang. Binh lính địch ở Phù Sa, Liễu Đề phải bỏ đồn tháo chạy. Nắm cơ hội đó, Huyện ủy Nghĩa Hưng lãnh đạo quân và dân địa phương kết hợp tiến công quân sự với chính trị, binh vận, diệt vị trí bộ phận lính dõng ở Chương Nghĩa và phá tan toàn bộ tổ chức hội tề của địch ở miền trung huyện Nghĩa Hưng. Để phối hợp hoạt động, các đại đội 91 và 33 bộ đội địa phương Nam Định, do đồng chí Đặng Thiết, Tỉnh đội phó chỉ huy, tiến công bốt dõng Ngoại Đông (Trực Ninh). Khi quân ta đến nơi, địch thấy không thể kháng cự nổi đã vội vã vượt sông rút về bốt Thái Lãng (xã Trực Nội). Tiếp đó, đêm 29 và ngày 31 tháng 12, các đại đội này tổ chức tiến đánh bốt Nam Long (xã Trực Tuấn). Nhưng khi các đơn vị vận động tới thì quân địch đã rút bỏ từ chiều. Quân ta tiến lên vị trí An Lãng (xã Phương Định), nhưng địch đã rút chạy về Cổ Lễ1 (Đảng ủy - Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Nam Định, Nam Định - Lịch sử kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 178).


Sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương đã làm cho cả hệ thống ngụy quân, ngụy quyền được địch xây dựng trên địa bàn Hà Nam và 3 huyện phía Bắc Nam Định rung chuyển. Đặc biệt trong dịp này, ta đã xoá sổ "Đội biệt kích Hổ xám", một ám ảnh kinh hoàng đối với đồng bào đôi bờ tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng2 (Đội trưởng của Đội biệt kích này là tên Văngđăngbe (Vandenberg), con nuôi của Đờ Lát). Bị một đòn bất ngờ, địch choáng váng và ra sức đề phòng quân ta tiến công. Tướng Xalăng (Raoul Salan) - người kế nhiệm của Đờ Lát, phải chỉ thị cho quân lính: "Ban đêm mọi cửa ra vào và cửa sổ phải đóng chặt và từngoài không thể mở được. Các sĩ quan, ban ngày và nhất là ban đêm luôn phải giữ vũ khí trong tay"1 (Sư đoàn 320, Đại đoàn Đồng Bằng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr.242).


Về phía ta, tình hình kháng chiến ở địch hậu trung du và đồng bằng Bắc Bộ thời điểm này đã phát triển hơn trước. Ta khôi phục và mở rộng được các khu du kích và căn cứ du kích. Các khu du kích đã nổi liền từ hữu ngạn sang tả ngạn sông Hồng, từ đồng bằng lên trung du, uy hiếp hậu phương địch khiến cho chúng đối phó rất khó khăn. Các binh đoàn cơ động của địch phải chạy như "đèn cù" ứng cứu cho mặt trận chính diện và địch hậu. Thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở mặt trận sau lưng địch đã làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của toàn bộ Chiến dịch Hoà Bình. Việc ta bao vây chặt thị xã Hoà Bình, đánh địch trên Đường số 6, đã tạo điều kiện cho quân và dân đồng bằng và các chiến trường sau lưng địch hoạt động mạnh, khiển cho địch phải thừa nhận: "ông Giáp tổ chức một chiến dịch kéo cưa để hạ thủ tại chỗ chúng ta"2 (Siêu Hải, Khắc Tính, Đoàn voi thép trong chiến dịch Hoà Bình, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1966, tr. 46).
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #144 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2025, 02:30:27 pm »

Ba là, kết hợp tiến công địch, phát động chiến tranh du kích và mở rộng căn cứ ở địa phương

Trước tình hình quân địch dần lâm vào thế bị động trên các chiến trường, để tích cực phát huy thắng lợi, đánh mạnh vào chô yếu của địch, ngày 14 tháng 1 năm 1952, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái chỉ thị cho Đại đoàn 316 đẩy mạnh các hoạt động trong vùng sau lưng địch, chuẩn bị sẵn sàng chống trả các cuộc càn quét lớn của chúng. Bản chỉ thị viết: Chiến trường trung du là một chiến trường rất quan trọng, vừa qua đã làm cho địch phải lúng túng, phải điều các trung đoàn cơ động về đối phó, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến trường chính, đã mở rộng được khu Nam tỉnh Bắc Ninh và thâm nhập hầu hết các địa phương". Yêu cầu: "Đại đoàn phải tăng cường hoạt động và khẩn trương mở rộng thêm các khu Căn cứ du kích của ta trong thời cơ này"1 (Sư đoàn 316, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 73). Chấp hành chỉ thị của cấp trên, Đảng ủy và Ban Chỉ huy Đại đoàn quyết định cùng với Tỉnh ủy Bắc Ninh, Bắc Giang triển khai kế hoạch chống càn quét, đồng thời đưa lực lượng phát triển nhanh chóng sang phía Nam Sách (Hải Dương).


Đầu năm 1952, Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 chuyển xuống hoạt động ở Nam phần Bắc Ninh. Khác với khi mới vào, lần này Trung đoàn bắt đầu bằng những trận đánh nhỏ nhưng chắc thắng. Ngày 23 tháng 1 năm 1952, 2 tiểu đoàn 249 và 255 (Trung đoàn 174) được lệnh bí mật vượt sông Thái Bình, sang phối hợp chiến đấu với Tiểu đoàn Bạch Đằng (chủ lực của tỉnh Quảng Yên). Ngày 24 tháng 1, địch cho quân càn quét Nam Sách. Theo kế hoạch đã định, Tiểu đoàn Bạch Đằng ở lại chống càn, diệt 300 tên, phối hợp với dân quân Nam Sách bức rút các đồn hương dõng và tháp canh còn lại trên Đường số 17, giải phóng phần lớn huyện2 (Ban Chỉ huy quân sự tinh Hải Hưng, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Himg, Hà Nội, 1988, tr. 310), mở ra một vùng du kích mới nối liền một dải với khu Nam phần Bắc Ninh. Trong khi 2 tiểu đoàn 249 và 255 đánh địch phía Nam Sách, thì Tiểu đoàn 215 phối hợp với du kích và nhân dân Gia Lương, có một số tề ngụy được giác ngộ làm nội ứng, đã tổ chức đánh vào Trạm Trai, diệt và bắt sống 55 tên địch, thu toàn bộ vũ khí. Cùng thời gian này, một bộ phận Trung đoàn 98 phối hợp với dân quân, du kích bao vây bức hàng vị trí Mão Điền, bên bờ sông Đuống, thu 30 súng, giải tán 80 nhân viên ngụy quyền mới về tập trung ở đồn. Sau một thời gian hoạt động, Đại đoàn 316 phối hợp với lực lượng địa phương đã cắt được Đường số 38, diệt các đồn Thiên Thai, Lạc Thổ và uy hiếp mạnh Đường số 5, phát triển thêm vùng du kích.


Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, tranh thủ nhân dân, phá khối ngụy quân, ngụy quyền, Thường vụ Liên khu ủy 3 và Ban Chỉ đạo mặt trận quyết định đưa toàn bộ Đại đoàn 320, các trung đoàn 42, 46 vào địch hậu hoạt động1 (Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 318). Trong vòng nửa tháng hoạt động ở Nam Định, các đơn vị của Đại đoàn 320, được sự phối hợp chặt chẽ của lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, đã phá 80 ban tề, giải phóng hàng trăm kilômét vuông và hàng vạn nhân dân, tạo điều kiện cho Đại đoàn vượt sông Hồng sang tả ngạn. Sau 5 ngày đêm hành quân luồn qua hệ thống chiếm đóng dày đặc trên 5 huyện, 2 tỉnh, vượt qua 2 con sông, ngày 17 tháng 1 năm 1952, cánh quân thứ nhất của Đại đoàn 320 đã từ phía Nam thị xã Nam Định, vượt sông Hồng, đặt chân lên đất Thái Bình. Ngay khi mới tới Thái Bình (ngày 26.1), Tiểu đoàn Đống Đa cùng Đội du kích Nguyên Thị Chiên phục kích địch ở Thanh Nê, bắt gọn một trung đội Âu - Phi. Thừa thắng, Tiểu đoàn Đống Đa, được sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương, đã diệt đồn An Bồi và quận lỵ Tiền Hải, mở rộng vùng giải phóng Nam Kiến Xương2 (Bộ Chỉ huyquân sự tỉnh Thái Bình, Thái Bình kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 - 1954), Hà Nội, 1989, tr. 275), làm rung chuyển cả hệ thống phòng ngự của địch ở phía Nam thị xã Thái Bình.


Vào lúc quân ta bước vào đợt 3 của chiến dịch, lực lượng cơ động của địch bị điều đi đối phó ở Hoà Bình nên đã tạo ra những khoảng trống rất lớn ở vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ. Nắm được thời cơ đó, các đại đoàn 316 và 320 cùng các lực lượng địa phương tiến công liên tiếp, đánh thắng giòn giã, phát động chiến tranh du kích, mở toang vùng địch chiếm, thiết lập hàng chục căn cứ du kích, vùng du kích liên hoàn với nhau, làm đảo lộn thế trận đồng bằng Bắc Bộ theo hướng có lợi cho ta. Sau những cuộc hành quân bị thất bại và trước sức chiến đấu dẻo dai của lực lượng vũtrang của ta, tướng Xalăng phải thốt lên: "Họ là một đội quân biết lấy sức sống của mình từ nhân dân"1 (Sư đoàn 316, Tập 1,Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 77, 82).


Đầu tháng 2 năm 1952, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Đại đoàn tiếp tục đẩy mạnh tác chiến, mở rộng phạm vi hoạt động. Bản chỉ thị viết: "Địch đánh ra Hoà Bình là để tạo ra sự thay đổi về chiến lược ở Bắc Bộ. Đánh ra được, chúng có khả năng rút lui được. Nhưng rút lui hay không, không phải do chính diện Hoà Bình quyết định mà chính là do vùng sau lưng của chúng bị uy hiếp nhiều hay ít"2 (Sư đoàn 316, Tập 1,Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 77, 82).


Trung tuần tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 98 được lệnh vượt sông Đuống, tiến vào hoạt động ở các vùng Tiên Du, Từ Sơn (Bắc Ninh). Đây là những địa bàn quan trọng tiếp giáp với Hà Nội, địch còn kiểm soát và khống chế được nhân dân. Cơ sở kháng chiến và những hoạt động của ta ở vùng này còn yếu. Ngày 22 tháng 2 năm 1952, bộ đội tổ chức tiến công làng tề Đồng Kỵ (Từ Sơn). Đây là một trung tâm tề điệp, ác ôn mà địch đã bỏ nhiều công sức xây dựng. Từ nhiều năm, Đồng Kỵ trở thành bàn đạp đánh phá phong trào cách mạng trong vùng, đồng thời là tấm lá chắn bảo vệ an toàn cho Đường số 1 và thị xã Bắc Ninh. Tối 22 tháng 2, Tiểu đoàn 938 nổ súng đánh vào làng. Địch lợi dụng hầm hào, ngõ ngách và các khu nhà tầng chống trả. Các đơn vị vừa đánh địch vừa dùng loa kêu gọi, giải thích chính sách, quyết tâm giải quyết xong Đồng Kỵ trước khi trời sáng. Đại đội 34 Tiểu đoàn 215 được lệnh chi viện cho Tiểu đoàn 938. Lúc này, sức chống cự của địch đã yếu. Sau khi Đại đội 34 đánh chiếm khu cố thủ giữa làng, ổ đề kháng cuối cùng của địch cũng bị dập tắt.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #145 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2025, 02:31:57 pm »

Cùng thời gian này, Trung đoàn 174 vượt sông Thái Bình sang hoạt động tại Bình Giang (Hải Dương), Tiểu đoàn 888 tiến sang Vĩnh Phúc. Cuối tháng 2, khi vào tới Bình Giang, Trung đoàn 174 nhận lệnh chuẩn bị tiêu diệt đồn Vân Độ, một cứ điểm tiền tiêu của tiểu khu quân sự Phương Điếm. Vị trí Vân Độ (tức Đô) án ngữ cả một vùng sông Đĩnh Đào, uy hiếp các xã của Gia Lộc và Bình Giang. Tại đây có một đại đội lính Liên hiệp Pháp đóng giữ, có hoả lực mạnh và công sự boongke kiên cố. Đêm 26 tháng 2, sau khi triển khai xong đội hình, Tiểu đoàn 249 Trung đoàn 174 nổ súng tiến công đồn Vân Độ. Bằng hoả lực áp đảo và lối đánh táo bạo, chỉ trong vòng 40 phút, Tiểu đoàn 249 đã diệt gọn đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí. Đây là trận đánh có ý nghĩa lớn về quân sự, có tiếng vang về chính trị và tâm lý kể từ ngày Đại đoàn 316 vào Hải Dương. Đây cũng là lần đầu tiên trên địa bàn địch hậu tả ngạn xuất hiện lối đánh dùng sức mạnh hoả lực - xung lực đột phá và tiêu diệt một vị trí kiên cố1 (Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Hải Hưng, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng, tác giả tự in, Hà Nội, 1988, tr. 313).


Ngày 23 tháng 4 năm 1952, các hoạt động của Đại đoàn 316 trong vùng sau lưng địch chính thức kết thúc. Sau 5 tháng chiến đấu, Đại đoàn đã cùng lực lượng vũ trang các địa phương mở rộng vùng giải phóng mới rộng trên 300km2 với 107 làng xã, mở đường nói liền giữa các căn cứ của ta từ Hải Dương, Hưng Yên tới Bắc Ninh, Bắc Giang, giành lại kho nhân, vật lực vùng trung du, đồng bằng, góp phần làm thất bại âm mưu chiếm đóng Hoà Bình của địch, đẩy chúng ngày càng lún sâu vào thế bị động chiến lược.


Trong khi đó, sau khi đánh một số trận giành thắng lợi Đại đoàn 320 chủ trương đánh đòn quyết định vào hệ thống chiếm đóng Kiến Xương - Tiền Hải của địch. Trước hết là tiêu diệt La Cao - nơi đặt cơ quan chỉ huy của 19 đồn, bao gồm cả Liên hiệp Pháp và vệ sĩ Thiên Chúa giáo thuộc 2 huyện Kiến Xương, Tiền Hải. Đây là trận tiêu diệt đồn lớn đầu tiên bằng xung lực ở Thái Bình của quân và dân ta. Cùng với chiến thắng của Đại đoàn 320, Tiểu đoàn 66 cùng bộ đội huyện và du kích Kiến Xương, Vũ Tiên đã chủ động vây ép, bức hàng, bức rút một loạt 10 đồn tổng dõng, vệ sĩ.


Chưa đầy một tháng đánh địch, Đại đoàn 320 và quân, dân Thái Bình đã giải phóng được một vùng rộng lớn bao gồm: Tiền Hải, Kiến Xương và phía Nam Vũ Tiên1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình, Thái Bình kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 - 1954), tác giả tự in, Hà Nội, 1989, tr. 276), phục hồi khu du kích liên huyện Vũ Tiên, Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Phụ Dực. Hệ thống tề dõng - chính quyền cơ sở của địch ở Thái Bình, bị tan rã từng mảng lớn.


Hoạt động của Binh đoàn cơ động số 4 cũng không xoay chuyển được tình thế, Bộ Chỉ huy quân Pháp vội điều thêm Binh đoàn cơ động số 7 về Thái Bình, bổ sung lực lượng cho cuộc hành binh Cơraxanh, nhằm đánh Thái Ninh, Thụy Anh, đẩy lui chủ lực Việt Minh, bảo vệ cho quân cảng Hải Phòng. Sáng ngày 15 tháng 2, cuộc hành binh bắt đầu. Trong suốt 5 ngày địch càn quét, bộ đội chủ lực cùng bộ đội địa phương và du kích đã đánh địch quyết liệt tại Ô Trình, Hoành Sơn, Hạ Đồng (Thụy Anh), Vị Dương (Thái Ninh). Tại Hoành Sơn và Hạ Đồng, địch bị tổn thất nặng nhất, mặc dù đã bắn vào khu vực nhỏ này hơn 4.000 quả đạn pháo. Ngày 20 tháng 2, địch buộc phải rút quân. Thừa thắng, các đơn vị chống càn đã bao vây và diệt đồn Trà Linh (Thụy Anh).


Trong đợt hoạt động từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1952, Đại đoàn 320 đã cùng quân và dân Thái Bình tiêu diệt, làm bị thương và bắt hàng nghìn tên địch, trong đó có hàng trăm lính Âu - Phi, giải phóng gần hết 4 huyện: Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Tiên, Thái Ninh, khôi phục lại một phần khu du kích Tiên - Duyên - Hưng. Địch phải co vào chống giữ, không tự do hoạt động như trước2 (Tổng cục Chính trị, Tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 281).


Sau khi Chiến dịch tiến công Hoà Bình kết thúc, Đại đoàn 320 vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi cán bộ và chiến sĩ. Bộ Tổng Tư lệnh quyết định đề nghị tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho Đại đoàn 320. Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Trung đoàn 48 bốn chừ vàng: "Giúp dân đánh giặc" và Trung đoàn 64 được tặng bốn chữ vàng: "Dũng cảm đánh hăng".


Có thể thấy, nhờ có chủ trương chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nên lần đầu tiên kể từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định đưa 2 đại đoàn vào hoạt động ở vùng sau lưng địch tại trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Việc đưa 1/3 đại đoàn chủ lực (nếu tính cả Đại đoàn công pháo 351, lúc đó ta có 6 đại đoàn) vào địch hậu, phối hợp với các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương mở mặt trận phối hợp chiến đấu với Mặt trận Hoà Bình buộc quân Pháp phải cùng một lúc đối phó với cuộc tiến công của quân và dân ta trên cả hai mặt trận là thành công lớn của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh.


Vào hoạt động ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, các đại đoàn chủ lực được sự hậu thuẫn to lớn của nhân dân, đã kết hợp nhịp nhàng với lực lượng vũ trang địa phương, trở thành nòng cốt cho các hoạt động "chia lửa" của chiến trường sau lưng địch với chiến trường chính ở Hòa Bình, Đường số 6, sông Đà. Kể từ khi đích nhảy dù đánh chiếm Hoà Bình tới kết thúc chiến dịch, ở đồng bằng Bắc Bộ ta đã giải phóng hơn 4.000km2 đất đai, với gần 2 triệu đồng bào1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 5, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 464). Phần lớn kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ trong nửa cuối năm 1950 và cả năm 1951 của địch bị phá vỡ. Mưu đồ phản công tiêu diệt bộ đội chủ lực ta của thực dân Pháp bị thất bại. Tất cả những thành quả Đờ Lát xây dựng trong một năm đã từng bước bị phá sản. Khối ngụy quân, ngụy quyền tan vỡ từng mảng; trên 1.000 hương đồn, chiếm 3/4 tổng số hương đồn của địch ở đồng bằng Bắc Bộ bị phá vỡ. Nhiều nơi chỉ còn 5 đến 6 ban tề chạy thoát lên vị trí địch chiếm đóng. Tỉnh trưởng ngụy quyền các tỉnh: Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Ninh và Phúc Yên đều chạy trốn về Hà Nội. Cơ sở chính trị và vũ trang của ta cũng phát triển mạnh ở các vùng có đông đảo đồng bào theo đạo Thiên Chúa (kể cả những vùng đạo toàn tòng). Âm mưu lợi dụng thần quyền để chia rẽ lương - giáo, phá khối đoàn kết toàn dân của thực dân Pháp bị đánh bại một bước quan trọng. Tại trung du và đồng bằng Bắc Bộ, chiến tranh du kích có điều kiện phát triển mạnh mẽ, trở thành một cao trào tiến công và nổi dậy, chống phá càn quét, bình định của địch, nhiều khu du kích và căn cứ du kích được mở rộng. Phòng tuyến Đờ Lát với những công sự vững chắc, được xây dựng rất tốn kém cũng không ngăn chặn được các đại đoàn chủ lực của ta xâm nhập vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ. "Đờ Lát đã phải lao vào cuộc chiến gay go và tốn kém và cũng từ đây nước Pháp hoàn toàn mất chủ động buộc phải quay về phòng ngự"1 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1991,tr. 548). Tướng Xalăng đã phải thừa nhận: "Ngày cũng như đêm từng giờ, từng phút đặt ra cho tôi biết bao vấn đề nan giải. Việc nỗ lực bình định ở châu thổ sông Hồng đã trở nên vô ích, không những quân Pháp không xoá được những chấm đỏ (ký hiệu địch ghi tren bản đồ thể hiện khu du kích và căn cứ du kích của ta) mà ngược lại các căn cứ du kích và khu du kích trong Hoà Bình được mở rộng hơn bao giờ hết"2 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, tác giả tự in, Hà Nội, 1991,tr. 548).
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #146 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:21:04 pm »

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

ThS NGUYỄN THỊ MINH HƯƠNG
Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam


Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trải qua nhiều cuộc kháng chiến chống các thể lực ngoại xâm để giành và bảo vệ độc lập Tổ quốc, ước vọng hòa bình lại càng cháy bỏng trong trái tim mỗi người dân đất Việt. Phụ nữ Việt Nam chính là người nuôi dưỡng mạch nguồn khát vọng đó và hun đúc sâu sắc thêm truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, gìn giữ và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam độc lập, Hòa Bình và phát triển. Trong Chiến dịch Hòa Bình (12 1951 - 2.1952), lực lượng phụ nữ đã có đóng góp không nhỏ vào thắng lợi chung. 70 năm đã trôi qua nhưng dấu ấn về Chiến dịch Hòa Bình vẫn là niềm tự hào của các thế hệ phụ nữ Việt Nam. Phụ nữ Việt Nam tham gia Chiến dịch Hòa Bình được thể hiện trên một số nội dung sau:


Một là, sự chung sức đồng lòng của phụ nữ đã góp phần đem lại thắng lợi của chiến dịch

Sau thất bại tại ở biên giới Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị ta đánh mạnh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã khiến quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Thực dân Pháp đã chọn phương án đánh chiếm Hòa Bình, địa bàn giáp Thủ đô Hà Nội để giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Ngày 9 và ngày 14 tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp mở hai cuộc tiến công ra Chợ Bến và Hòa Bình nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây", lập phòng tuyến Sông Đà nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4 của ta. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng nhận định tình hình địch và quyết định đề nghị Trung ương mở Chiến dịch Hòa Bình. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596). Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy tranh thủ thời gian để "vừa chuẩn bị vừa ra trận"2 (Những lài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 72) đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ, chiến dịch được chia làm 3 đợt tấn công và buộc quân Pháp phải rút khỏi Hòa Bình.


Quá trình chuẩn bị và trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, phụ nữ Liên khu 3, Liên khu 4 và đặc biệt là phụ nữ tỉnh Hòa Bình đã hăng hái tham gia phục vụ chiến dịch. Ở đồng bằng Bắc Bộ, mặt trận sau lưng địch, phụ nữ tham gia du kích, trực tiếp chiến đấu tiêu diệt địch. Cùng với đó, các chị còn tham gia dân công làm đường, tải đạn, tải lương, tải thương... Vượt lên trên sự nguy hiểm đến tính mạng, sự thiếu thốn về vật chất và thể lực nhỏ yếu, phụ nữ vẫn luôn có mặt và góp phần vào thắng lợi của chiến dịch khiến kẻ thù cũng phải khiếp sợ. Tiêu biểu như mế Thanh đã hơn 80 tuổi ở Cao Phong, Kỳ Sơn vẫn tha thiết xin gia nhập đoàn dân công phục vụ chiến dịch, không trực tiếp cầm súng được thì me tình nguyện nấu cơm, đun nước phục vụ bộ đội. Các chị như chị Hữu, chị Khuyên trong Hội Phụ nữ thị xã ngày đêm liên lạc chặt chẽ với bộ đội, cung cấp thông tin về tình hình địch, dẫn đường cho bộ đội, làm công tác địch vận. Tỉnh hội Phụ nữ Hòa Bình trực tiếp đảm nhiệm trạm quân y ở xã Vĩnh Đông. Chị em không ngại gian khổ, hy sinh ngày đêm làm nhiệm vụ tải thương trong chiến đấu, chăm sóc thương bệnh binh. Ở trạm Suối Chuộn, chỉ có 3 chị mà chăm sóc hơn 300 thương binh, có chị nhiều đêm thức trắng lấy thân mình làm điểm tựa cho thương binh nặng chợp mắt, có chị nhận chăm sóc đến 30 thương binh1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 142-143, 138).


Tại mặt trận sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ, các địa phương đẩy mạnh chiến tranh du kích kết hợp với bộ đội chủ lực, dân quân du kích đánh mạnh tạo điều kiện cho bộ đội tiêu diệt lớn khi có thời cơ. Thời điểm này, phong trào toàn dân hỗ trợ, xây dựng lực lượng vũ trang sôi nổi, rộng khắp đồng bằng Bắc Bộ. Các bà, các mẹ, các chị có "Hội mẹ chiến sĩ", "Hũ gạo kháng chiến" với nhiệm vụ đỡ đầu chiến sĩ, thương bệnh binh, ủng hộ lương thực, thực phẩm cho kháng chiến. Ở khắp các thôn xóm, bản làng, các tầng lớp phụ nữ tham gia tích cực sản xuất, hăng hái vận chuyển vũ khí lương thực, thuốc men phục vụ bộ đội và kháng chiến. Nhiều chị em ngày đêm tham gia bắc cầu, làm đường, làm bè mảng dựng lán trại phục vụ bộ đội hành quân. Nhiều nữ thanh niên các dân tộc xung phong vào các đội tải thương, phục vụ trong các trạm quân y2 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 142-143, 138).


Trong những năm tháng lịch sử đó, phụ nữ cùng nhân dân tỉnh Hòa Bình đã thi đua sản xuất, nâng cao năng suất đóng góp hàng tấn gạo và lương thực phục vụ cho bộ đội chiến đấu. Cùng tham gia chiến dịch với Hòa Bình, phụ nữ ở các tỉnh bạn cũng đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị như: Tại Thái Bình, đông đảo phụ nữ giáo dân tham gia vận động binh lính đào ngũ, không làm bia đỡ đạn cho quân Pháp. Để phá âm mưu chia rẽ lương giáo, lôi kéo đồng bào công giáo, phụ nữ Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình đã phối hợp với các tỉnh có đông giáo dân tuyên truyền vận động giúp bà con ổn định tư tưởng, nhận thức đúng về chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, nhận ra bản chất phản động của giặc để đề cao cảnh giác.


Song song với các hoạt động hỗ trợ bộ đội chiến đấu, Hội Phụ nữ còn tổ chức vận động nhân dân đấu tranh đòi lại ruộng đất, đắp đê để phát triển sản xuất. Nhiều nơi, chị em bị địch uy hiếp nhưng vẫn bám ruộng, cày cuốc, cắt cỏ đảm bảo sản xuất chuẩn bị lương thực cho các chiến dịch. Các chị đã chiến đấu chống địch bằng nhiều cách, nhiều hình thức. Vùng địch tạm chiếm, giặc vào làng cướp bóc, vơ vét, các bà, các mẹ, các chị lăn xả giằng co, vác gậy đuổi đánh khiến giặc khiếp sợ mà chùn bước. Các tầng lớp phụ nữ đã cùng nhân dân đoàn kết, dũng cảm, bền bỉ đấu tranh chống giặc phá lúa, hoa màu, nhà cửa, dồn làng, dồn dân vào trại tập trung để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần đập tan âm mưu "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của địch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #147 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:23:36 pm »

Tất cả phụ nữ bất kể vùng tự do, vùng tạm chiếm hay khu du kích đều tham gia dân công phục vụ các yêu cầu kháng chiến như chuyển thóc gạo, vận chuyển vũ khí, chiến lợi phẩm, phục vụ thương binh... Nhiều chị em tham gia dân công dài ngày với nhiều vất vả, khó khăn, Hội Phụ nữ đã kịp thời động viên hỗ trợ. Ở mỗi trung đội, đại đội nữ dân công đều có cán bộ phụ nữ làm công tác giáo dục, động viên, chăm lo sinh hoạt cho chị em. Với tinh thần "tất cả để chiến thắng", phụ nữ và nhân dân Liên khu 3 đã đóng góp rất lớn về sức người, sức của cho các chiến dịch, trong đó có Chiến dịch Hòa Bình. Theo số liệu thống kê, phục vụ cho Chiến dịch Hòa Bình, toàn Liên khu 3 đã huy động hơn 10 triệu lượt dân công, trong đó phụ nữ chiếm 50%1 (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Lịch sử phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1955), Nxb Lao động, Hà Nội, 2000, tr. 221). Hàng nghìn phụ nữ vùng địch tạm chiếm vượt qua những đồn bốt địch, những đoạn sông địch kiểm soát, các cánh đồng chiêm lầy lội để đem đến cho bộ đội những hạt gạo không chỉ thấm mồ hôi mà nhiều khi còn thấm cả máu. Các địa phương đã huy động hàng vạn dân công tham gia phục vụ chiến dịch, trong đó đa phần là chị em phụ nữ, thường xuyên bám đội hình để vận chuyển lương thực, đạn dược ra mặt trận và cáng thương bệnh binh ra tuyến sau...


Không chỉ tham gia các hoạt động tại hậu phương, các bà, các mẹ, các chị em còn tích cực tham gia các hoạt động giao thông liên lạc, một công việc cực kỳ quan trọng trong các chiến dịch. Các bà, các mẹ, các chị em đã vận chuyển vô số công văn, tài liệu, truyền đạt mệnh lệnh, chỉ thị, nắm bắt tình hình, đưa đón cán bộ, chiến sĩ ra vào vùng địch hậu được bí mật, an toàn. Họ đã góp phần rất lớn giữ vững đường dây liên lạc giữa các tuyến trong tỉnh, giữa tỉnh với Liên khu và Trung ương, phục vụ đảm bảo sự lãnh đạo thông suốt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy cam go và quyết liệt. Những người phụ nữ anh hùng đã rất khéo léo, linh hoạt, quyết liệt trong công tác địch vận, ngụy vận, đấu tranh chống địch bất thanh niên, chồng con đi lính. Không chỉ vận động, giúp bà con nhận rõ âm mưu của địch, khuyên họ bỏ ngũ trở về, chưa về được thì trốn tránh không đi càn phá, nếu phải đi thì không bắn phá. Nhiều người dân được vận động đã lập công như cung cấp thông tin về quân số, súng đạn, các kế hoạch chuyển quân, càn phá của địch... Các bà, các mẹ, các chị em còn tham gia các đội nữ du kích trực tiếp chiến đấu với sự kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Các hình thức đánh du kích như đánh mìn, làm hố chống,cạm bẫy... đã được các chị em chủ động tìm địch đánh bằng vũ khí thô sơ, những dụng cụ có tại chỗ. Họ đã cùng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương đánh công đồn, diệt bốt địch mở rộng khu du kích, đánh phá địch càn quét, giành nhiều thắng lợi lớn.


Các chị em tham gia đội nữ du kích đồng bằng Liên khu 3 là nữ nông dân, hội viên phụ nữ cứu quốc ưu tú, các chị tham gia ban chỉ huy thôn xã, nhiều chị đã vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các chị kiên cường đánh giặc, không chịu khuất phục trước kẻ thù tàn bạo, giữ vững truyền thống anh hùng, bất khuất của phụ nữ Việt Nam, của người chiến sĩ, người đảng viên Đảng Cộng sản. Đó chính là truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh, sự giác ngộ cách mạng, quyết tâm theo Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân cả nước chiến đấu, giành độc lập, tự do, bình đẳng.


Chiến dịch Hòa Bình thắng lợi đã đập tan kế hoạch chiếm đóng, âm mưu lập lại "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp trên đất Hòa Bình, giải phóng 5.000km2 đất đai khu vực Hoà Bình - sông Đà với gần 2 triệu dân, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4; đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp1 (http://tinhuyhoabinh.vn/chuyenmuc/chitietchuyenmuc/tabid/236/title/2518/ctitle/299/TopMenuĩd/276/cMenu0/276/cMenul/292/cMenu2/299/Default.aspx). Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi Bộ Chỉ huy Chiến dịch và các chiến sĩ Mặt trận Hoà Bình, dân công phục vụ và đồng bào địa phương: "So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta, và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công, nhưng bộ đội phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất hơn nữa để tranh lấy thắng lợi to hơn nữa"1 (https://edu.viettel.vn/vtu-xuyenmoc-thhuynhrninhthanh/tai-nguyen-day-hoc/bai-viet/lich-su-viet-nam/su-kien-lich-su/chien-dich-hoa-binh-1951-1952.html).


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình có ý nghĩa vô cùng quan trọng, sau này Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: "Không có Chiến dịch Hòa Bình thì sẽ không có chiến thắng ở Hồng Cúm, Him Lam, Độc Lập..."2 (http://www.baohoabinh.coin.vn/231/141199/Chien-dich-Hoa-Binh-ghi-dau-su-tham-bai-cua-quan-Phap.htm). Trong chiến thắng đó có sự đóng góp không nhỏ của nhiều tầng lớp chị em phụ nữ tại Hòa Bình và các địa phương lân cận. Các bà, các mẹ, các chị, các em với tinh thần yêu nước tha thiết, sự nhân ái, đôn hậu cùng truyền thống đảm đang, anh hùng, dù ở vùng tự do, vùng căn cứ du kích hay tạm chiếm đều không ngại gian khổ, hy sinh, tích cực tham gia kháng chiến, chăm nuôi bộ đội, thương binh, hăng hái đi dân công, phục vụ các chiến dịch. Ở mặt trận nào, các bà, các mẹ, các chị em cũng hết lòng chăm sóc, bảo vệ cán bộ, bộ đội, đóng góp sức người, sức của, làm tròn trách nhiệm nghĩa vụ của người công dân với kháng chiến thể hiện tha thiết niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến trường kỳ của cả dân tộc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #148 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:25:13 pm »

Hai là, phát huy thành quả Chiến dịch Hòa Bình phụ nữ Việt Nam góp phần tham gia giữ vững chủ quyền biên giới, hải đảo và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

Chiến dịch Hòa Bình với sự tham gia đóng góp không nhỏ của các tầng lớp phụ nữ - một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng, lực lượng không thể thiếu trong chiến dịch. Phát huy truyền thống rạng ngời non sông của con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, các tầng lớp phụ nữ Việt Nam tiếp tục cùng với Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững chủ quyền biên giới, hải đảo và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.


Nhận thức đúng đắn về vai trò, tiềm lực của phụ nữ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách nhằm tạo cơ hội cho người phụ nữ khẳng định vị thế của mình. Sự chăm lo, thiết thực của Đảng và Nhà nước là niềm động viên to lớn, cổ vũ, khích lệ các tầng lớp phụ nữ phát huy truyền thống tốt đẹp, đoàn kết, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, đóng góp trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.


Tiếp bước truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ, trong nhiều năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động nhiều phong trào thi đua, cuộc vận động nhằm phát huy cao nhất tinh thần tự hào, tiềm năng, sức sáng tạo của phụ nữ Việt Nam hướng tới "xây dựng người phụ nữ Việt Nam phát triển toàn diện", rèn luyện các phẩm chất đạo đức "tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang" gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời cùng chung sức, chung lòng thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương...


Các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các đơn vị Quân đội đã đồng hành, phối hợp triển khai nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, dân trí cho cán bộ, hội viên, phụ nữ và cộng đồng vùng biên giới, hải đảo - góp phần tăng tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được đến trường ngày càng cao, hỗ trợ học bổng, vận động hàng nghìn trẻ em bỏ học quay lại trường học. Xây dựng nhiều mô hình phát triển kinh tế gia đình giúp đồng bào phát triển sản xuất, tăng năng suất cây trồng vật nuôi, từng bước xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, đem lại sự khởi sắc cho những vùng đất nơi biên cương của Tổ quốc. Phụ nữ là điểm tựa vững chắc, do đó, các cấp Hội đã tổ chức nhiều hoạt động chăm lo cho đời sống vật chất và tinh thần cho chiến sĩ và gia đình chiến sĩ. Thường xuyên thăm hỏi, động viên, tặng quà các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo. Cùng với đó, quan tâm làm tốt công tác chăm sóc, phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình chính sách... Tất cả nhằm để các chiến sĩ ấm lòng, giữ vững tay súng, yên tâm công tác nơi biên giới, hải đảo xa xôi của Tổ quốc. Với tinh thần "uống nước nhớ nguồn", nhiều năm qua, các cấp Hội Phụ nữ đã triển khai các hoạt động thiết thực như: Nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; chăm sóc, đỡ đầu gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng; hỗ trợ mẹ, vợ, con cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thể hiện trách nhiệm, tấm lòng, tình cảm cao đẹp, sự tri ân của người phụ nữ Việt Nam. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đối với cán bộ, chiến sĩ và những người dân đã và đang tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Đặc biệt, Chương trình "Đồng hành cùng phụ nữ biên cương" giai đoạn 2018 - 2020 đã trở thành điểm sáng thể hiện sự chung tay của các tầng lớp phụ nữ, nhân dân và lực lượng chiến sĩ Biên phòng Được phát động thực hiện từ năm 2018, đến nay sau hơn 2 năm thực hiện, Chương trình đã huy động được hơn 110 tỷ đồng1 (Trong đó: Hỗ trợ gần 10 nghìn con giống, hỗ trợ vốn vay gần 4 tỷ đồng, gần 1 nghìn công trình dân sinh, gần 300 mái ấm tình thương, trên 70 nghìn suất quà tặng 7 nghìn suất học bổng cho học sinh nghèo vượt khó, tổ chức gần 500 lớp tập huấn truyền thông nâng cao năng lực cho phụ nữ, tổ chức khám chữa bệnh cho gần 15 nghìn người...) với nhiều hoạt động hỗ trợ cụ thể cho 155 xã biên giới đặc biệt khó khăn (vượt 65 xã so với kế hoạch). Trong đó, riêng số tiền vận động qua cổng thông tin nhân đạo 1400 là gần 4 tỷ đồng để hỗ trợ mô hình sinh kế tại 39 xã thuộc Chương trình.


Hiện nay, 100% các xã biên giới, hải đảo của 44 tỉnh, thành đều có hội phụ nữ cơ sở. Hoạt động của các cấp Hội đã tập trung ưu tiên cho các xã, các thôn, bản biên giới vùng sâu, vùng xa, chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hoá các loại hình sinh hoạt nên nhiều cơ sở Hội phụ nữ có tỷ lệ hội viên tham gia sinh hoạt cao. Kết quả của Chương trình cũng mở ra một chặng đường đồng hành tiếp theo dài hơi hơn với các hoạt động được củng cố, phát triển phù hợp với tình hình mới đang diễn ra trên tuyến biên giới địa đầu của Tổ quốc.


Trong bối cảnh đất nước đang trải qua giai đoạn khó khăn, thử thách chống đại dịch COVID-19, các tầng lớp phụ nữ Việt Nam trên khắp mọi miền Tổ quốc đã phát huy truyền thống tốt đẹp, đoàn kết, đồng lòng, vượt lên gian khó, thử thách, bằng những việc làm, hành động thiết thực đã chia sẻ, động viên, khích lệ cán bộ, hội viên, phụ nữ, đặc biệt là các chị em vùng tâm dịch vững vàng, lạc quan, quyết tâm chống dịch. Nhiều chương trình, mô hình thể hiện tinh thần tương thân tương ái như "Triệu phần quà san sẻ yêu thương", "Gian hàng 0 đồng", "Phiên chợ Online", "Tất cả vì miền Nam thân yêu"... đã được các cấp Hội triển khai kịp thời, hỗ trợ, cung cấp nhu yếu phẩm cho phụ nữ, người dân khó khăn bởi dịch bệnh COVID-19. Hàng triệu suất ăn mang trọn tình cảm hậu phương được gửi đến các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại các khu Cách ly, các chốt kiểm dịch. Bên cạnh đó, phụ nữ tiếp tục là hậu phương trực tiếp ngay trong tâm dịch khốc liệt nhất. Chương trình "Đồng hành vượt cạn" mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc do Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đã góp phần san sẻ gánh nặng lo toan cho hàng nghìn thai phụ có hoàn cảnh khó khăn tại Thành phố.


Phụ nữ Việt Nam trên tuyến đầu hay hậu phương đều là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phối hợp và hỗ trợ. Điều đó một lần nữa khẳng định tinh thần đoàn kết, yêu nước, nhân hậu, "thương người như thể thương thân", không ngại gian khó của dân tộc Việt Nam. 70 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay với những thành tựu đáng tự hào, từng bước sánh vai cùng các cường quốc, nhưng ký ức về cuộc chiến khốc liệt,những chiến công, sự hy sinh anh dũng, ý chí chiến đấu của hàng vạn anh hùng liệt sĩ, thương bệnh binh, trong đó có không ít chị em phụ nữ vẫn mãi được lưu giữ trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam. Trong những tháng ngày này, chiến sĩ, nhân dân và phụ nữ cả nước lại hướng về kỷ niệm 70 năm Chiến dịch Hòa Bình năm 1951, cùng ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc, truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đồng hành cùng phong trào phụ nữ cả nước phát huy vai trò, tiềm năng của các tầng lớp phụ nữ, nỗ lực học tập, lao động sáng tạo để viết tiếp truyền thống của các thế hệ phụ nữ Việt Nam anh hùng và cùng xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, hòa bình và phát triển.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #149 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:29:26 pm »

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá, ThS ĐỖ MẠNH CƯỜNG
Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Từ cuối năm 1950, nhằm tiếp tục chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny), Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương thực hiện ý định phòng ngự và binh định đồng bằng Bắc Bộ bằng cách gấp rút tập trung lính Âu - Phi, xây dựng các binh đoàn cơ động chiến lược, phát triển quân ngụy. Với nhận định: "Bắc Bộ quyết định số phận Đông Dương"1 (Trận đánh 30 năm, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 2), Đờ Lát xây dựng tuyến phòng thủ bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, "gồm 113 vị trí với 1.300 lô cốt do 20 tiểu đoàn Âu - Phi chiếm đóng, cùng với một "vành đai trắng" ở ngoài rộng từ 5 đến 10km"2 (Dẫn theo: Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 124); đồng thời, sử dụng lực lượng lớn tổ chức càn quét, lùng diệt lực lượng vũ trang của ta. Ngày 9 tháng 11 năm 1951, Đờ Lát huy động 20 tiểu đoàn bộ binh tiến công ra Hòa Bình, hòng kéo chủ lực ta ra nơi chúng chuẩn bị sẵn để tiêu diệt, nối lại hành lang Đông - Tây.


Để đánh bại âm mưu của địch, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Chỉ thị xác định: "Lúc này là cơ hội rất tốt cho chiến tranh du kích ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng Hà phát triển, hoạt động mạnh mẽ và liên tiếp để tiêu diệt địch, khôi phục, củng cố và mở rộng căn cứ du kích. Đó cũng là cơ hội tốt để tiến hành công tác vận động ngụy binh"1 (Dẫn theo: Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dượng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 145, 146). Đối với quân và dân đồng bằng Bắc Bộ, đây là cơ hội thuận lợi để "uy hiếp hệ thống chiếm đóng của địch, uy hiếp các đường giao thông quan trọng, các đô thị làm tê liệt tinh thần ngụy quân, ngụy quyền, dìu dắt nhân dân"2 (Dẫn theo: Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dượng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 145, 146).


Tháng 11 năm 1951, Hội nghị Liên khu ủy 3 họp, đề ra nhiệm vụ cho bộ đội địa phương. Trên cơ sở đó, Bộ Tư lệnh Liên khu 3 giao nhiệm vụ cho các tỉnh: Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên và Kiến An: Củng cố cơ sở du kích xã; khôi phục các căn cứ du kích bị mất, củng cố và mở rộng các căn cứ du kích mới; củng cố cơ sở chính trị. Tiếp đó, ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng quán triệt nhiệm vụ, xác định Kế hoạch Đông - Xuân nhằm đẩy mạnh tác chiến, phối hợp với Mặt trận Hòa Bình, tập trung đánh mạnh sau lưng địch, phá vỡ hệ thống chiếm đóng của chúng, tranh thủ nhân dân, phục hồi cơ sở, mở rộng và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích. Các đơn vị, địa phương khẩn trương triển khai chuẩn bị chiến đấu. Ở các tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương và Kiến An, các đơn vị bộ đội địa phương được lệnh luồn sâu vào vùng tạm chiếm đánh địch. Các thị xã Hà Đông và Sơn Tây vừa huy động nhân tài vật lực bảo đảm cho các đại đoàn chủ lực tác chiến trên mặt trận chính diện vừa tích cực chuẩn bị đánh địch ngay tại địa phương, phát triển chiến tranh du kích3 (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu III (1945 - 1955), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 301).


Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch tiến công Hòa Bình mở màn bằng trận đánh công kiên vào cứ điểm Tu Vũ của Trung đoàn 88 Đại đoàn 308. Cùng thời gian, quân và dân đồng bằng Bắc Bộ cũng mở đợt tiến công địch.

Ở Hữu ngạn, Bộ Tư lệnh Liên khu 3 sử dụng 2 trung đoàn chủ lực cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh tác chiến ở Hà Nam, Nam Định. Tại Hà Nam, đêm mùng 10 rạng sáng ngày 11 tháng 12, được sự giúp đỡ của nhân dân và phối hợp của 2 tiểu đoàn Hưng Công và Đồng Mít thuộc Trung đoàn 64, lực lượng vũ trang tỉnh tiến công vị trí Ngô Khê (Bình Lục). Sau gần 4 giờ chiến đấu, ta buộc địch phải đầu hàng. Trong ngày 11 tháng 12, địch điều 1 đại đội biệt kích từ Phủ Lý đến tiếp viện, bị bộ đội ta chặn đánh tại làng Tái Kênh (Thanh Liêm), diệt 60 tên. Ngày 12 tháng 12, địch tập trung ở Đường số 21 (địa phận Bình Lục) theo sông Sắt tới giải vây cho An Bài, Hàng Mạc, cũng bị ta chặn đánh, diệt khoảng 100 tên. Hệ thống ngụy quân, ngụy quyền địa phương rung chuyển. Nhiều ban tề ở An Nông, Thọ Vực (Duy Tiên) phải lánh vào khu vực địch kiểm soát. Hai khu du kích Lý Nhân và Duy Tiên được khôi phục và nối liền, có 200 ngụy binh bỏ ngũ. Sau gần một tháng hoạt động, quân và dân tỉnh Hà Nam tiêu diệt 45 vị trí tề vũ trang, phá trên 300 trong tổng số 380 ban tề1 (Dẫn theo: Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, Hà Nội, 1991, tr. 541). Lực lượng vũ trang Hà Nam kiện toàn 3 đại đội, xây dựng 1 đại đội; mỗi huyện kiện toàn 2 trung đội và xây dựng 1 trung đội, với vũ khí trang bị tương đối đầy đủ.


Ở Nam Định, quân và dân ta tổng phá tề, mở rộng khu du kích trong hai huyện Giao Thủy, Hải Hậu, 10 xã của huyện Trực Ninh, miền hạ huyện Nghĩa Hưng, 5 xã của huyện Ý Yên, 10 xã ở huyện Vụ Bản, 2 xã ở huyện Mỹ Lộc. Đêm 28 tháng 12 năm 1951, lực lượng vũ trang địa phương cùng với Trung đoàn 52 tiến công Hải Lạng, Phù Sa và bốt Nam Trực. Tiểu đoàn 66 đánh bốt Ngoại Đê (huyện Nam Trực). Sự xuất hiện của chủ lực đã làm địch hoang mang. Binh lính ở Phù Sa, Liễu Đề bỏ đồn tháo chạy. Phát huy thắng lợi, Huyện ủy Nghĩa Hưng lãnh đạo quân, dân địa phương diệt vị trí dõng vũ trang Chương Nghĩa và phá tan tổ chức hội tề ở miền trung huyện Nghĩa Hưng. Cũng trong đêm, các đại đội 91 và 33 phát triển nhanh về xã Thiện Đạo, huyện Trực Ninh, tiến công bốt dõng Ngoại Đông. Thấy quân ta đến, địch vượt sông Rõng rút chạy về bốt Thái Lãng (xã Trực Nội). Đêm 29 và ngày 31 tháng 12, các đại đội này tổ chức tiến đánh bốt Nam Long (xã Trực Tuấn)1 (Dẫn theo: Đảng ủy - Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Nam Định, Nam Định - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.tr. 178).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM