t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:57:59 pm » |
|
Khi những chiếc F-105 và F-4 tiến hành các cuộc tập kích kéo dài ba giờ vào Bắc Việt Nam, chúng cần tiếp dầu trên không từ Boeing KC-135 ngay sau khi cất cánh và sau khi rời Bắc Việt Nam. Tuyến tiếp dầu trên không là một cải tiến. Trước chiến tranh Việt Nam, tiếp dầu trên không thường tạo điều kiện cho việc triển khai hơn là được triển khai. Trước cuối năm 1966, có khoảng 30 KC-135 tại Thái Lan: 10 chiếc tại Takhli và 20 chiếc tại U-Tapao – một căn cứ nằm cách 70 dặm về phía nam Bangkok sát vịnh Thái Lan. Dầu được chở bằng tầu thuỷ đến U-Tapao và phương pháp vận chuyển được ưa thích nhất là dúng xe chở đến các căn cứ phía bắc. Mỗi KC-135 có thể chở khoảng 50 nghìn cân (Anh) dầu trên một lần xuất kích, đủ để nạp cho bốn máy bay chiến đấu trong vòng nửa giờ mà vẫn còn thừa; sau phi vụ buổi sáng, KC-135 có thể hạ cánh, nạp dầu và tiếp tục phi vụ buổi chiều. Điều này rút ra từ trong phần lớn kế hoạch bay của lực lượng tiếp dầu. Các buổi sáng và buổi chiều, máy bay tiếp dầu bày trên vùng trời Bắc Thái Lan theo quỹ đạo dình thuôn được gọi là “lối mòn” nạp dầu cho máy bay chiến đấu trên đường bay lên phía bắc và sau đó gặp họ tại Lào với đủ lượng dầu để về nhà.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 10:11:01 pm » |
|
Những chiếc KC-135 khác cất cánh từ đảo Okinawa Nhật Bản để nạp cho B-52 trong phi vụ bay 10 giờ từ Guam, cách Việt nam và Lào hai nghìn dặm về phía đông; mỗi B-52 ngốn hết toàn bộ một khoang dầu. Kể cả đưựoc tiếp dầu trên không, máy bay B-52 cúng không thể chở hết trọng tải tối đa 30 tấn bom ở khoảng cách lớn như vậy và khối lượng bom được giảm xuống còn 20 tấn hoặc ít hơn. Nhưng số bom đó vẫn gấp 10 lần mà trọng tải của một F-105 hoặc F-4 mang được trong các phi vụ tới Bắc Việt nam. Không quân Mỹ đã làm việc để thuyết phục người Thái cho phép B-52 được hoạt động từ sân bay mới xây dựng tại U-Tapao, kể từ đó máy bay ném bom khổng lồ có thể bay tới mục tiêu với toàn bộ trọng tải mang bom mà không cần tiếp dầu trên không. Máy bay B-52 và KC-135 thuộc về Bộ tư lệnh không quân chiến lược, người ta cố gắng tiến hành chiến tranh thông thường bằng cách làm mai một khả năng ném bom hạt nhân. Kể từ khi B-52 thực hiện các phi vụ khoảng 20 nghìn feet tại Đông Nam Á (30 nghìn feet trên Bắc Việt Nam), Bộ tư lệnh không quân chiến lược lo ngại rằng tổ lái sẽ mất kỹ năng vì các phi vụ thấp trước ảo ảnh chiến tranh hạt nhân với Liên Xô. Hậu quả là, các tổ lái B-52 quay về Hoa Kỳ sau nhiệm kỳ 6 tháng làm nhiệm vụ tạm thời ở Thái Bình Dương. Dù chính sách này không có ý nghĩa với tổ lái KC-135, Nhưng họ cũng tham gia Việt Nam theo nhiệm kỳ. Trong khi những phi đội máy bay chiến đấu bắt đầu tham gia chiến tranh theo nhiệm kỳ, những phi công của họ cũng như nhân viên mặt đất tại tất cả những sân bay (bao gồm U-Tapao), cuối cùng nhận ra là phục vụ “vô thời hạn”. Nhưng ở Đông Nam Á, “vô thời hạn” có nghĩa 12 tháng hoặc ít hơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 10:30:29 pm » |
|
Gần như cả năm 1965, những phi đoàn máy bay chiến đấu đến từ Nhật Bản và Hoa Kỳ thực hiện nhiệm kỳ bốn tháng tại Thái Lan. Đến cuối năm đó, các phi đoàn bắt đầu ở lại trong thời hạn chiến tranh. Mỗi sân bay ở Thái Lan có một không đoàn gồm 4 phi đoàn máy bay (hơn 70 máy bay trong sân bay chật chội chung đụng với các loại máy bay khác). Đến cuối 1966 các phi đoàn không quân được mang số hiệu và giữ đến hết Sấm Rền: phi đoàn không quân chiến thuật 355 tại Takhli (gồm F-105), phi đoàn không quân chiến thuật 388 tại Korat (F-105), phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 tại Ubon (F-4), và phi đoàn không quân chiến thuật 366 tại Đà Nẵng, Nam Việt nam (F-4). Các máy bay trinh sát (RF-101 và RF-4) và máy bay chiến đấu (F-104 và sau này là F-4) tại Udorn hợp thành phi đoàn trinh sát chiến thuật 432. Đa số nhân viên mặt đất quay vòng sau một năm. Hàng năm vào ngày kỷ niệm khi phi đoàn đến, nhiều người được về nước và được thay bằng những người mới mà phần lớn chưa từng trải ở Đông Nam Á. Phi công được thay theo lịch khác, họ có thể được về nước sau khi hoàn thành một trăm phi vụ ở Bắc Việt nam – giống như những phi công F-86 trong chiến tranh Triều Tiên trở về nước sau một trăm phi vụ ở Bắc Triều Tiên. Thông thường để đạt mức này cũng phải mất bảy hoặc tám tháng, nhưng điều này còn phụ thuộc vào biến đổi chính trị và mùa theo mức độ can thiệp của Mỹ ở Bắc Việt nam. Khi không bay vào Bắc Việt Nam, những tổ lái bay ở Lào, nơi họ có thể có thể cũng bị bắn, nhưng không được nhận điểm phi vụ theo hướng một trăm lần “gặp địch”.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 11:04:41 pm » |
|
Trong khi một số tổ lái tình nguyện quay lại lần thứ hai, hoặc thậm chí lần thứ ba, thì phần đông không muốn đặt vận may của mình trước phòng không Bắc Việt. Không chỉ đến khi Không quân Mỹ yêu cầu nhiều người đã hoàn thành phục vụ “vĩnh viễn” ở Đông Nam Á quay lại phục vụ ở đó, nhưng những người ngồi sau F-4 đôi khi tình nguyện trở lại để ngồi ghế trước. Sự phổ biến “phục vụ một lần ở Đông Nam Á” đối với phần đông nhân viên không quân tương phản không những nhiệm kỳ lặp lại được giao cho các phi công ở Bộ tư lệnh không quân chiến lược, mà còn với những người trên tàu sân bay hải quân. Tuy thế, chính sách “phục vụ một lần” quảng bá tính nguy hiểm cũng như lợi thế nghế nghiệp trong chiến đấu của hầu hết quân chủng. Tất cả những điều tốt là về tinh thần, hơn nữa là có chiều sâu kinh nghiệm trên chiến trường Đông Nam Á với giá trị đáng kể. Không chỉ là cái giá phải trả. Đầu chiến tranh, đa số phi công tham gia chiến đấu sau nhiều năm bay ở nơi khác, nhưng việc thay thế những đơn vị được đào tạo ở Hoa Kỳ dẫn đến tăng tỷ lên những phi công mới và những phi công máy bay chiến đấu được chuyển loại từ phi công ném bom và vận tải. Đối với nhân viên mặt đất, phục vụ một năm hình như chưa hợp lý. Một năm ở Đông Nam Á thì ở Thái Lan có thể dễ chịu hơn là ở Nam Việt Nam nhiều. Các căn cứ ở Nam Việt Nam là mục tiêu thường xuyên của tên lửa, cối và đặc công. Những sân bay ở Thái Lan bị tấn công chỉ vài lần (chủ yếu là đặc công) từ sau 1968. Thức tế, Bangkok là chọn lựa ưa thích khi có một tuần nghỉ ngơi của những người phục vụ tại Nam Việt Nam. Nhân viên mặt đất ở Thái Lan chưa hề than phiền rằng họ không có chương trình nghỉ an dưỡng; và cũng không được hưởng miễn giảm thuế thu nhập áp dụng cho tất cả những nhân viên phục vụ ở Nam Việt nam. Tổ lái ở Thái Lan thực tế có thuận lợi hơn, nhưng tất nhiên, Thái Lan sau này nhận những nhiệm vụ nguy hiểm hơn so với tổ lái ở Nam Việt nam
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 11:30:39 pm » |
|
Việc nhân viên mặt đất “phục vụ thời hạn một năm” ở Thái Lan càng ngày càng ít ý nghĩa. Khi những căn cứ ở Thái Lan mở rộng năm 1965 và 1966, điều kiện sinh hoạt khiêm tốn so với mức sinh hoạt dường như xa hoa những năm sau. Một số tiện nghi không làm việc, lều hơi bị xẹp khi keo dán chảy mềm dưới sức nóng nhiệt đới , lũ dê nuôi thả để giữ cỏ không mọc cao ở Takhli trở thành nguồn mùi hôi thối, mãi sau này mới thay bằng người cắt cỏ. Năm 1967, một quan chức Lầu Năm Góc đến Takhli và các căn cứ khác ở Thái Lan báo cáo rằng “những viên chỉ huy phi đoàn phải tập trung phát triển và duy trì căn cứ (cỏ xanh v.v) nhiều hơn những gì được trông đợi ở khu vực chiến đấu. Bể bơi đã xuất hiện thành công sớm ở các căn Thái Lan – nó phù hợp với cái nóng nhiệt đới vì việc bố trí điều hòa nhiệt độ tại khu nghỉ xem ra rất khó kể cả cho phi công. Các câu lạc bộ giả tỏa căng thẳng do chiến đấu cũng như sự nhàm chán của công việc bàn giấy. Ngay ngoài căn cứ, gái điếm Thái không cần khách và trạm xá tại mỗi căn cứ phải xử lý khoảng một nghìn ca bệnh hoa liễu một năm. Các chàng trai Mỹ và các cô gái Thái cũng phát triển các mối quan hệ lâu dài. Có cái gì đó mê hoặc trong văn hóa duyên dáng của Thái Lan. Thậm chí cả những người phải bay lên phía bắc nơi người sống sótchắc chắn mất bạn, Thái Lan vẫn để lại những kỷ niệm đáng nhớ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 08:36:47 pm » |
|
Tuy thế dân Thái Lan hầu như là thiên đường đối với các chàng trai Mỹ, giới lãnh đạo Thái Lan khéo léo khai thác mối quan hệ của họ với Hoa Kỳ mà không bị nó nuốt chửng. Trong thế kỷ XIX, các vua Xiêm (sau này là Thái Lan) đã thành công trong việc duy trì độc lập đất nước như là khu vực đệm giữa Burma (thuộc Anh) và Đông Dương (thuộc Pháp). Việc ngả theo hướng Anh những năm đó được đối trọng hơn sự cộng tác với người Nhật trong thế chiến II, khi Thái Lan tuyên chiến với Anh và Hoa Kỳ. Cùng với cải cách điền địa và độc lập với các cường quốc phương Tây khiến nước này miễn dịch với hấp lực của chủ nghĩa cộng sản. Thậm chí sau khi quyền lực rơi vào tay giới độc tài quân sự vào những năm 1930, vị vua theo đạo phật vẫn còn là biểu tượng mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc Thái. Khu vực nghèo nàn và dễ bị ảnh hưởng nhất của Thái Lan là cao nguyên Korat, nơi những sân bay Mỹ bắt đầu phải bơm rất nhiều tiền. Mặt khác, cơ hội hữu xạ tự nhiên của những người cộng sản bị kẹt vào giữa những sân bay Mỹ với dân chúng không những nghèo mà còn có quan hệ gần gũi với Lào. Có nhiều người gốc Lào (dân Thái) sống ở Thái Lan hơn là tại Lào, và phong trào cộng sản hình như đã có chỗ dựa để vượt qua sông Mekong. Nhưng sự nổi dậy không mấy tiến bộ nhiều trừ những người Việt nam tị nạn. Những đặc công bị bắt trong các cuộc tấn công ít ỏi vào những sân bay Mỹ ở Thái Lan khóa ra là những người gốc Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 08:47:21 pm » |
|
Từ khi Thái Lan là bức tường chống lại cộng sản, Hoa Kỳ nghiêng về dạng chính phủ độc tài rất đáng chỉ trích. Thực tế, viện trợ quân sự do Mỹ cung cấp từ thập kỷ 1950 đã củng cố sự duy trì Quân đội Thái trong chính phủ. Khi Nguyên soái Sarit Thanarat chết năm 1963 (bỏ lại vợ và hơn 50 người thiếp), ông ta tỏ ra thành công trong vai trò thủ tướng hơn người kế tục màu mè là tướng Thanom Kittikachorn. Thanom tiếp tục chính sách của Sarit trong quan hệ với quân đội Mỹ để chống lại sự xâm lược của Trung Quốc. Không lực Thái nhỏ bé của ít ảnh hưởng không được để ý dến nhiều trên kế hoạch của Thanom. Sự hiện diện của không lực Hoa Kỳ ở Thái Lan ohát triển lớn mạnh ngoài cơ cấu quân sự Mỹ tại đây. Trong số 34 nghìn quân nhân Mỹ ở Thái Lan cuối năm 1966, có 24 nghìn là không quân. Tất nhiên, Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự tại Thái Lan vẫn là một sĩ quan lục quân: thiếu tướng Richard G. Stilwell (ông ta không phải mặc dù nhiều người nhầm là con hoặc cháu tướng Joseph W. Stilwell, tư lệnh Mỹ chiến trường Trung Quốc-Miến Điện-Ấn Độ trong thế chiến II). Trong khi, không lực Hoa Kỳ đưa nhiều người và máy bay vào Thái Lan, Stilwell vẫn cố là kênh duy nhất của không lực Hoa Kỳ đối với đại sứ Mỹ, Graham A. Martin, người hậu thuẫn cho mọi cuộc hội đàm với tướng Thanom và chính phủ của ông. Nhưng Martin từng phục vụ trong không quân Mỹ trong thế chiến II, và không quân Mỹ đã tiếp cận với ông với Tùy viên Không quân, đại tá Roland K. McCoskrie.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 09:12:31 pm » |
|
Bất chấp nỗ lực của đại tá McCoskrie với đại sứ Martin, Thủ tục thông qua dưới sự quản lý của Lục quân thường Không quân thất vọng. Tháng 1-1966, không quân Mỹ củng cố vị trí bằng cách cử một thiếu tướng tới Udorn để giám sát không quân Mỹ tại Thái Lan. Vị chie huy mới, thiếu tướng Charles R. Bond, Jr., là một trong những con Hổ Bay của thiếu tướng Claire L. Chennault ở Trung Quốc trong thế chiến II, khi ông bắn hạ 9 máy bay Nhật. Bond nhận lệnh thực hiện các chiến dịch ném bom Bắc Việt Nam của tư lệnh không quân Mỹ ở Nam Việt Nam, trung tướng Joseph H. Moore. BTL của Moore mang tên Sư đoàn không quân số 2 cho tới mùa xuân 1966 thì trở thành Không đoàn 7. Để làm vừa lòng chính phủ Thái Lan (Thái Lan muốn giấu sự liên hệ của mình với cuộc chiến ở Việt nam), không quân Mỹ coi Bond là cấp dưới của Không đoàn 13 tại Philippines. Để hợp thức hóa đống bùng nhùng này, Bond được coi là phó tư lệnh Không đoàn 13/7. Từ khi tư lệnh Không đoàn 7 và tham mưu của ông điều hành trực tiếp các phi đoàn tại những sân bay ở Thái Lan, Bond không thể chie huy được gì. Ông ta có một vị trí kỳ lạ nhất trong lịch sử không lực Hoa Kỳ. Khi ông định hoà giải giữa hai Tư lệnh không đoàn - hai đại sứ ở Thái Lan và Lào và tướng Stilwell, Bond thường gây nhiều bất hoà hơn là hòa hợp. Stilwell có cái nhìn ảm đạm về vai trò của Bond và phàn nàn rằng cả bản thân Stilwell, đại sứ và là tướng Thanom không bị chê trách về việc bổ nhiệm Bond. Trên thực tế, Tham mưu trưởng không quân, tướng John P. McConnell, đã được đại sứ Martin thống qua trong chuyến thăm Washington. Khi bị Stilwell đối đầu, Martin chỉ có thể vỗ vai vị tư lệnh để không phải đưa yêu cầu qua kênh chính thức.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 09:36:40 pm » |
|
Vài tháng sau khi cử tướng Bond tới Thái Lan, Tham mưu trưởng không quân Mỹ cử trung tướng William W. Momyer từ Bộ chỉ huy huấn luyện không quân để thay thế tướng Moore - lúc đó đang là tư lệnh Không đoàn 7 tại Nam Việt Nam. Tướng McConnell quyết định sự thay đổi này theo lời khuyên của tướng không quân về hưu Elwood R. “Pete” Quesada, một chỉ huy không quân nổi tiếng trong thế chiến II và là tư lệnh đầu tiên Bộ chỉ huy không quân chiến thuật sau chiến tranh. Lúc nghỉ hưu, Quesada luôn là người bảo vệ có thế lực máy bay tiêm kích trong thời kỳ tên lửa và máy bay ném bom chiến lược chiếm ưu thế trong không quân Mỹ. Thượng nghị sỹ Stuart Symington (Đại biểu Đảng Dân chủ, Bang Missouri), người từng là bộ trưởng không quân đầu tiên, đề nghị Quesada đi thăm Đông Nam Á và xem xét xem có thể làm một cái gì đó nhằm tăng cường vai trò không lực tại đây. Quesada kết luận rằng Moore là khá phụ thuộc tướng William C. Westmoreland - tư lệnh liên quân tại Nam Việt Nam. Moore và Westmoreland lớn lên cùng nhau tại Spartanburg, Nam Carolina, và có quan hệ gần- quá gần theo như Quesada lo lắng. Moore tới Nam Việt Nam năm 1964 cùng với Westmoreland và chỉ huy Sư đoàn không quân số 2 (sau này là Không đoàn 7) tại sân bay Tân Sơn Nhất nằm ngoại ô thành phố Sai Gòn. Mặc dù Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại Việt nam (MACV) của Westmoreland đóng ở trung tâm Sài Gòn thời gian đó, nhưng cuối cùng ông dời nó đến một toà nhà mới được đặt biệt hiệu là “Lầu Năm góc Phương Đông” tại Tân Sơn Nhất. Các trụ sở của Bộ chỉ huy liên quân Westmoreland đa số là các sĩ quan lục quân, và nhiều người trong không quân Mỹ phàn nàn rằng vấn đề không quân không được chú ý phù hợp. Quesada muốn thay thế Moore bằng một tướng ít ba phải và nổi tiếng với niềm tin cao nhất vào việc sử dụng máy bay chiến đấu. “Spike” Momyer chỉ huy một quân đoàn máy bay chiến đấu ở Bắc Phi trong thế chiến II, khi không quân lục quân bị phê phán về phát triển học thuyết lâu dài. Không có một chỉ huy lục quân nào có thể tranh luận được với Momyer về không lực. Ông có trí tuệ thực thực tiễn và nghiêm túc được thừa hưởng người cha là một luật sư từng dạy ở Đại học tổng hợp Chicago.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2010, 09:37:16 pm » |
|
Cha Momyer qua đời khi ông 14 tuổi đã chấm dứt việc bắt ông phải trở thành luật sư nhưng cũng sớm kết thúc thời được chơi thể thao, ông phải làm việc sau giờ học. Có lần ông nhìn thấy Charles A. Lindbergh và chiếc máy bay Spirit of St. Louis hạ cánh tại một căn cứ Không quân Lục quân gần nhà Momyer ở Muskogee, Oklahoma. Sau khi mẹ ông chuyển gia đình đến Seattle, Momyer bỏ qua đại học tổng hợp Washington và tới thẳng Sở chỉ huy không quân. Ông luôn lao động chăm chỉ và thay vì 5 năm học đại học ông đã trở thành chỉ huy một tốp máy bay chiến đấu. Sức nặng của trách nhiệm sớm đã khiến ông không vui tính như phần lớn các phi công tiêm kích. Ban tham mưu tập đoàn không quân Mỹ số 7 sớm nhận ra viên tư lệnh mới của họ luôn tất cả cho công việc và ông biến công việc của họ thành của mình. Trí thông minh và lòng yêu công việc cho phép ông không cần phải dùng quyền lực, ông là chính mình trong công việc. Một vài người e ngại bởi trí thông minh và lối sống khổ hạnh của ông, điển hình là lệnh cấm hút thuốc khi họp ban tham mưu. Ông không ưa kiểu tự do chủ nghĩa thường có ở chiến trường. Ông yêu cầu quân phục đúng quy định, chỗ làm việc sạch sẽ với những luống hoa-sở thích cuối cùng của ông thường là chủ đề đàm tiếu.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
|