Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:40:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bay đến Hà Nội và thoát về  (Đọc 93221 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #90 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:24:37 pm »

Khi được chỉ thị đưa chính sách mới này vào chương trình huấn luyện, trung tướng Sam Maddux, Jr. (Bộ chỉ huy đào tại không quân) phản đối rằng điều này sẽ đi ngược lại với Điều III Bộ luật Hướng dẫn: “Tôi sẽ không chấp nhận việc phóng thích kèm theo lời hứa hoặc sự ủng hộ sự ủng hộ đặc biệt từ phía kẻ thù”. Đây đúng rồi chính xác quan điểm của giới lãnh đạo tù binh ở Hà nội. Sau khi phát giác việc tra tấn tung ra từ đợt thả tù binh 1969, Hà Nội không cho tù binh Mỹ có cơ hội hành động theo quan điểm của chính sách mới của Mỹ cho tới tận 1972. Trong bất kỳ trường hợp nào, đa số tù binh tiếp tục tin rằng việc thả sớm là vi phạm Bộ luật Hướng dẫn.
Thái độ của tù binh về việc thả sớm có thể đã hạn chế việc dần dần trao đổi tù binh mà Bắc Việt đang nghiêng về. Tiếp theo sau đợt thả đầu tiên đầu năm 1968 ba thuỷ thủ Mỹ bị Bắc Việt nam bắt, ba người này đã được trở lại Hà Nội theo máy bay Uỷ ban kiểm soát quốc tế. Hộ tống họ là hai nhà báo Mỹ, Harry S. Ashmore (Encyclopaedia Britannica) và William C. Baggs (báo Miami News), người được Bộ ngoại giao yêu cầu phải tìm kiếm sự trao đổi tù binh lớn hơn. Bắc Việt hình như không quan tâm, và trong bất kỳ trường hợp nào sáng kiến này bị nhấn chìm trong sự kích động tổng lệnh hạn chế ném bom của thống Johnson và tuyên bố rằng ông đừng tìm kiếm chủ đề này nữa.
Khách tham quan Mỹ đến Bắc Việt Nam có xu hướng thông cảm với Bắc Việt hơn là với tù binh Mỹ của họ, đặc biệt bởi vì những khách tham quan như thế không chấp thuận chiến dịch ném bom mà những tù binh đã tiến hành. Những khách tham quan có suy nghĩ khác đi không được cấp visas. Trong chuyến thăm Ashmore-Baggs, những người Mỹ nổi tiếng nhất đang trú tại khách sạn Thống Nhất (Reunification) ở Hà nội là phóng viên truyền hình CBS Charles Collingwood và nhà văn Mary McCarthy. Trong trường hợp McCarthy, bà không có sự thương cảm với tù binh Mỹ, nhẫn tâm khinh bỉ họ. Sau khi tiếp chuyện đại tá Risner và một tù binh khác, bà nói họ là “những trường hợp đáng khinh thiếu tinh thần”, người đã làm cho các giám thị nhà tù băn khoăn về chất lượng giáo dục Đại học của Mỹ - ”ngây thơ, suy nghĩ ngờ nghệch, tính trẻ con”. Bà cho rằng những tù binh không hoàn toàn tin bà, nhưng bà không hề nghi ngờ họ bị tra tấn.
Mặc dù Hà Nội kiên quyết khước từ mọi đề xuất thả số lượng lớn tù binh Mỹ trước khi ngừng bắn, chính phủ Mỹ tiếp tục tìm kiếm một sự trao đổi, đặc biệt sau khi chính quyền Nixon lên cầm quyền. Bộ trưởng quốc phòng Laird bối rối vì đã hứa hẹn với những gia đình tù binh rằng tù binh Mỹ sẽ không bị bỏ rơi bởi Việt nam hoá chiến tranh. Khi lính Mỹ rời Nam Việt nam, Mỹ sẽ dùng đòn bẩy mạnh thế nào để trao đổi tù binh? Laird tìm kiếm trao đổi tù binh ngay khi có thể làm được, nhưng tất nhiên, Bắc Việt có chút khích lệ hợp tác vấn đề khác hơn là quay về vấn đề tù binh - một kết quả họ hình như không vội vã để gặt hái.
Đầu năm 1970, Laird trình ra Bộ ngoại chiến đấu dịch của ông thuyết phục chính phủ Nam Việt nam thả càng nhiều càng tốt một số tù binh trong số 7 nghìn tù binh dvn. Tổng thống Thiệu từ chối thả những tù binh xương bọc da mà không có cam đoan rằng Bắc Việt sẽ có đáp ứng tương tự, nhưng Thiệu trả 62 tù binh bệnh tật và 24 ngư dân cho Bắc Việt Nam tháng 7-1970.
Mặc dù Bắc Việt Nam không có dấu hiệu đáp lại, Thiệu đồng ý vào tháng 5-1971 gửi hơn năm trăm tù binh ốm yếu và bị thương. Sau khi Hội chữ thập đỏ quốc tế xác định rằng chỉ có 13 người muốn quay về Bắc Việt nam, tuy thế, Bắc Việt từ chối không nhận bất cứ người nào. Đây là một cảnh gợi lại chiến tranh Triều Tiên, khi không muốn tù binh Trung Quốc về nhà trong suốt hai năm trở ngại ngừng bắn. Trong cả hai trường hợp, Hoa Kỳ phản đối sự hồi hương cưỡng bức và chính phủ cộng sản tránh công khai hành động không đẹp quanh việc họ từ chối nhận người của mình. Có sự tương đồng nông cạn giữa thái độ theo hướng Bắc Việt nam thả tù binh Mỹ, nhưng tù binh Mỹ liều lĩnh muốn về nhà tất cả với cùng nhau - và chính phủ của họ rất muốn nhận họ trở về.
***
Một điều của Bộ luật Hướng dẫn ủng hộ tù binh Mỹ từ chối “lời hứa khi được phóng thích”, càng thúc đẩy họ “làm mọi nỗ lực vượt ngục và giũp những người khác vượt ngục”. Tương phản với sự giải thích rất nghiêm khắc, đa số tù binh làm “lời hứa khi được phóng thích” (mở rộng nó cho toàn bộ những người được thả), họ nghiêng về câu “vượt ngục”. Đại tá Risner làm mất can đảm kế hoạch vượt ngục năm 1966 nói rằng vượt ngục là không khả thi vì không có sự giúp đỡ từ brrn ngoài. Trong khi người Mỹ có khả năng phá trại tù, nhưng họ không thể hoà vào dân địa phương.
Cơ hội tốt nhất để vượt ngục xảy ra sớm sau khi bị bắt, đặc biệt gần khu phi quân sự. Cộng với nỗ lực thành công của thiếu tá Day, đại uý Lance P. Sijan had tránh bị bắt trong sáu tuần và sau khi bị bắt đã chạy thoát trong thời gian ngắn. Nhưng đói, bị thương, và tra tấn đưa họ đến thiệt hại, và cá nhân Sijan nhận Huân chương danh dự; ông là người đầu tiên tốt nghiệp Học viện không quân kiếm được Huân chương, và Học viện đặt tên ông cho một chung cư ở ngoại ô.
Một tù binh đưa về Hà Nội, những cơ hội vượt ngục của anh ta giảm bớt. Chỉ hai nỗ lực vượt ngục nổi lên ở đó trong toàn bộ những năm tù binh Mỹ bị giam cầm. Trường hợp đầu tiên đầy hứa hẹn xuất hiện khi Bắc Việt quyết định mở một nhà tù mới trong một toà nhà cũ gần nhà máy điện Yên Phụ trong khi nó đang nằm dưới sự không kích mùa hè năm 1967. Tù binh Mỹ gọi nhà tù này là “Chim bẩn”, bởi vì khói bụi nhà máy điện phủ lên mọi thứ. Khi trung tá hải quân George T. Coker và đại uý không quân George G. McKnight được đưa vào gần “Lãnh thổ chim bẩn”, họ nhìn thấy dịp may sự canh phòng lỏng lẻo và có đường dẫn ra sông Hồng. Đem ngày 12-10, họ tháo khoá cửa phòng giam và trốn ra sông. Dòng nước giúp họ bơi được, chừng 15 dặm trước khi bình minh buộc họ phải tìm kiếm nguỵ trang tại bờ sông bùn lầy và trống trải. Do vậy, họ bị những nông dân phát hiện bắt giữ.
Tấm gương can đảm âm mưu vượt ngục của Coker-McKnight làm giảm bớt những hình phạt gay gắt về sau này cho cả những người bị bắt lại cũng như những tù binh đồng nghiệp. Nhưng có một âm mưu vượt ngục nữa tại nhà tù “Zoo” ở phía nam Hà Nội. Tại đó giam giữ nhiều phi công bị bắn rơi năm 1967, có tới 70 sĩ quan trẻ. Nhiều trong số họ tù binh nhà tù “Zoo” phải chịu đựng đau khổ do sự vượt ngục không thành của hai đại uý không quân John A. Dramesi và Edwin L. Atterberry.
Mặc dù thiếu tá Conrad W. Trautman, một sĩ quan lớn tuổi, đã nghi ngờ thành công của cuộc vượt ngục và từ chối chấp thuận mó, nhưng ông không thể tự mình phủ quyết nó. Vào đêm mưa ngày thứ bẩy 10-5-1969, Dramesi và Atterberry nhẩy lên trần buồng giam, chạy cắt ngang sân nhà tù, và bò qua tường. Do Atterberry có kinh nghiệm từng là thợ mắc dây điện thoại, ông biết cách chập điện dây đèn chiếu sáng chạy dọc trên tường. Trong khi những lính canh cố gắng chữa điện tại cầu dao chính, Dramesi và Atterberry trèo qua tường và dùng những thứ kiếm được suốt nhiều tháng để nguỵ trang chính họ như những người nông dân gồng gánh. Họ qua những phố mà không bị phát hiện, nhưng tránh ban ngày họ phải ẩn vào bụi vào những bụi cây nhiều giờ trước khi bình minh. Cách trại “Zoo” vài dặm lính canh cử đi tìm kiếm đã phát hiện ra họ.
Atterberry đã chết dưới bàn tay những người tra tấn Bắc Việt nam. Dramesi lại chứng tỏ bản thân anh ta là người cực kỳ bền bỉ. Đây là âm mưu vượt ngục lần thứ hai - ông thực hiện lần vượt ngục đầu tiên khi chân phải vẫn còn một viên đạn nằm trong và bị bong gân cổ sau khi bị bắn rơi gần Đồng Hới. Cả hai lần ông đều thoát khỏi hình phạt sẵn sàng chờ đợi âm mưu vượt ngục khác. Nhưng việc Dramesi không chịu đựng và chống lại sự tra tấn và kiên trì vượt ngục không làm ông nổi tiếng. Many người chịu đựng tra tấn do việc làm của ông ta, đã không thích những âm mưu vượt ngục.
Mối quan hệ giữa âm mưu vượt ngục lần thứ 2 của Dramesis và sự tra tấn was là không thể quên được bởi vì sự đau khổ này sau này được cải thiện nhiều trong cuộc sống nhà tù. Với đa số tù binh, không có hoặc rất ít tra tấn sau khi Hồ Chí Minh qua đời ở độ tuổi 79 ngày 3-9-1969. Phải chăng người ta thay thế người cầm đầu hệ thống trại tù và có những sự thay đổi những thay đổi tích cực sau cái chết của Hồ Chí Minh hoặc việc Bắc Việt nam tra tấn tù binh được đưa ra công khai, chỉ có ít tù binh muốn liều lĩnh trở về chịu sự tra tấn vì âm mưu vượt ngục có ít triển vọng thành công.
Nếu sự giúp đỡ bên ngoài là cần thiết cho việc vượt ngục thành công, như đại tá Risner đã tranh luận, sau đó những người bạn tù của họ không thể có nhiều hy vọng trở về nhà trước khi kết thúc cuộc chiến tranh. (về điểm này có thể chấp nhận được đối với đa số họ). Người Mỹ đã có thời gian khó khăn để cướp những tù binh từ một thành phố được bảo vệ khá tốt. Những triển vọng cứu tù binh được cải thiện với những tù binh bị giam ở ngoai vi Hà Nội. Mùa xuân 1970, những phân tích tình báo không quân dựa trên không ảnh cho thấy có tù binh Mỹ bị giữ ở một vùng đất cách phía tây Hà nội khoảng 24 dặm, gần thị trấn Sơn Tây. Tăng thêm khả năng chú ý, những tù binh tạo dấu hiệu sự hiện diện của họ bằng cách phơi quần áo và xếp những tảng đất .
Đây không phải lần đầu tiên một trại tù được xây dựng ở Sơn Tây. Trong thế chiến II người Nhật đã giam lính Việt nam ở đó, và tại thời điểm đó Nguyễn Cao Kỳ (phó tổng thống tương lai Nam Việt nam) còn là đứa bé con ở thị trấn này. 25 năm sau, vào mùa hè năm 1970, một đội đặc nhiệm hỗn hợp Mỹ luyện tập công việc cứu tù binh ở Sơn Tây tại căn cứ không quân Eglin (Florida), nơi huấn luyện những chiến dịch đặc biệt.
Thiếu tướng Leroy J. Manor chỉ huy cả hai Lực lượng chiến dịch đặc biệt của không quân và đội đặc nhiệm hỗn hợp for cuộc tập kích Sơn Tây. Ông có nhiều kinh nghiệm chiến đấu ý tưởng thế chiến II, khi ông lái P-47 ở châu Âu. Trong khi chỉ huy phi đoàn máy bay chiến thuật số 37 tại Phủ Cát (Bình Định) năm 1968, Manor đã bay vào gói mục tiêu 1. người thứ hai là viên chỉ huy đội đặc nhiệm cuộc tập kích Sơn Tây - đại tá Arthur D. “Bull” Simons từ Trung tâm chiến tranh đặc biệt của lục quân tại Fort Bragg, Bắc Carolina. Simons (cựu chiến binh trong thế chiến II đặc biệt những chiến dịch ở Philippines) sẽ lãnh đạo cuộc tập kích xuống Sơn Tây, lúc ấy Manor theo dõi cuộc hành quân từ trung tâm liên lạc ở Sơn Trà, gần Đà Nẵng. Từ đêm này sang đêm kia những biệt kích tập tành tại Eglin với một mô hình trại giam Sơn Tây và được dỡ đi ban ngày để che mắt vệ trinh trinh sát Liên Xô.
Đội đặc nhiệm của Manor đã sẵn sàng vào tháng 10, nhưng tổng thống Nixon quyết định hoãn lại cuộc hành quân đến tận tháng 11 - sau cuộc bầu cử giữa kỳ và sau khi Nixon có thể có một lời đề nghị tới Trung Quốc cải thiện mối quan hệ. Tháng 11 cũng bị chuyển xa thêm vì bài diễn văn Nixon đọc ngày 7-10-1970 đưa ra đề nghị ngừng bắn (với tất cả các bên) và trao đổi tất cả 30 nghìn tù binh cộng sản tại những nhà tù Nam Việt nam lấy một số nhỏ những tù binh chiến tranh bị cộng sản giam giữ. Vì Manor muốn một phần tư mặt trăng chiếu đủ ánh sáng nhưng không quá sáng, nên thời gian thuận lợi là từ 21 đến 25-11-1970.
Đội đặc nhiệm của Manor đến sân bay Takhli, Thái Lan, ngày 18-11-1970. Sau 5 năm chiến đấu, những F-105 của phi đoàn không quân chiến thuật 355 vừa rời Đông Nam Á như là một phần rút quân của Nixon.
Không may Takhli không có đường liên lạc được bảo mật với Sở chỉ huy không quân Mỹ số 7 hoặc trung tâm chỉ huy Sơn Trà. Trong khi một hệ thống liên lạc tạm thời được đặt ở đây, hai máy bay T-39 bay con thoi báo cáo thời tiết từ Sài Gòn đến Takhli, nơi Manor chỉ còn vài giờ trước khi cuộc tập kích. Trước ngày 20-11, Manor được nói rằng cơn bão Patsy sẽ gây ảnh hưởng đến thời gian của phi vụ vào những đêm đã được ấn định nights (21 đến 25-11), và ông quyết định tiến hành cuộc tập kích sớm hơn một ngày.
Đại tá Simons đưa 55 lính lên khoang máy bay vận tải, bay tới sân bay Udorn, ở đây họ được chuyển sang 3 trong số 6 chiếc trực thăng của không quân trực chỉ Sơn Tây. Sau khi tiếp dầu ở Lào, sáu trực thăng và 5 chiếc máy bay cánh quạt A-1 được dẫn đường tới Bắc Việt Nam bởi hai máy bay vận tải bốn động cơ C-130E đi kèm những chiến dịch đặc biệt. Khi họ đến trại tù, hai chiếc C-130 bò lên cao 1500 feet và thả pháo sáng trên đầu trại giam và một trung tâm huấn luyện gần đó.
Họ cũng bắn đạn xuống trung tâm huấn luyện để lừa nhóm bộ đội tại đây. Biện pháp này chứng tỏ không cần thiết, bởi vì trực thăng của Simons đã hạ cánh tại trung tâm huấn luyện (có thể là Sở chỉ huy của lính Trung Quốc) thay vì hạ cánh xuống trại giam theo đúng kế hoạch - sai lầm may mắn này là đã giết và làm bị thương nhiều lính mà lực lượng Simons không bị thiệt hại. Trại giam bản thân nó cũng chỉ được bảo vệ sơ sài, vì tù binh đã được chuyển đi hết từ ba tháng trước đó, thậm chí trước khi đội đặc nhiệm của Manor hình thành(1). Những biệt kích đột nhập gần như vào trái tim của Bắc Việt Nam và trở về nhà với một người bị thương nhẹ ở mắt cá chân, và không giải thoát được tù binh.
______________________

(1) Trại giam Sơn Tây nằm ở nam sông Hồng gần sông Con, thường bị lụt vào mùa hè năm 1970. Sự thật việc mực nước dâng cao sát trại tù là lý do Bắc Việt quyết định chuyển tù binh đi. cuốn Raid của (New York, 1976) Benjamin F. Schemmer đã thảo luận một sự gắn kết giữa lụt và những chiến dịch làm mưa nhân tạo tại Lào. Khi biết thông tin về những chiến dịch này, thượng nghị sỹ Claiborne Pell (đảng Cộng Hoà, Rhode Island) đã thành công trong việc nhận nhân viên Bộ quốc phòng và cung cấp Tiểu ban đối ngoại của ông một tin tức tuyệt mật về chủ đề này vào tháng 3-1974; phiên điều trần này được tiến hành công khai vào tháng 5-1974 dưới têng gọi “biến đổi thời tiết”. Cuộc hành quân Popeye (nhiều người biết rõ về về sự chỉ dẫn của nó) bắt đầu tại Lào vào cuối năm 1966, và hơn hai năm sau những máy bay RF-4 cũng tạo mầm những đám mây giáp khu vực vùng cán xoong Bắc Việt. Sau khi kết thúc Sấm Rền, những máy bay WC-130 và RF-4 tiếp tục tạo mầm những đám mây tại Lào mãi tới tháng 7-1972; những chiến dịch làm mưa nhân tạo ở Bắc Việt Nam chưa bao giờ được hồi phục lại sau năm 1968. Tổng cộng khoảng 2.600 lượt xuất kích ném gần 50 nghìn gói thuốc tạp mầm (chỉ khoảng 1.100 gói trong số này rơi xuống Bắc Việt nam). Rất ngờ rằng mưa nhân tạo ở Đông Nam Á làm được những sự thay đổi nhận thấy được. Nó không (và không có ý định) tăng những cơn mưa lớn trong vùng. Kết quả tạo ra những cơn mưa lớn trên đường mòn Hồ Chí Minh có thể chưa bao giờ đo được, bởi vì chẳng có sự định vị những cơn mưa từ năm này sang năm khác trong bất kỳ trường hợp nào. Rainfall ở Đông Nam Á luôn là nặng hạt và to. Tại đồng bằng sông Hồng Bắc Việt nam, yếu tố quan trọng nhất gây ra lụt là những cơn bão từ biển. Trong những chiến dịch Popeye, xem Van Staaveren, Ngăn chặn, đánh chặn ở bắc Lào, pp 226-28; John F. Fuller, Thor’s Legions: Sự ủng hộ thời tiết đối với không lực Hoa Kỳ và Lục quân, 1937-1987 (Boston, 1990), pp 291-94; Charles C. Bates và John F. Fuller, America’s Thời tiết Warriors (College Station, Tex., 1986), pp 224-32; và Craig Stevaux, “Thời tiết War”, Vietnam, Dec. 1997, pp 31-36.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #91 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:25:20 pm »

Henry Kissinger cũng khiển trách việc cuộc tập kích vào trại giam không người này coi đó “sự thất bại quá lớn của tình báo”, nhưng một vài ngày trước khi cuộc tập kích, Cục tình báo quân đội đã kết luận rằng tù binh có thể đã được chuyển đi. Bộ trưởng quốc phòng Laird và đô đốc Moorer, Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, cũng thiên về cuộc tập kích, có khả năng sau khi bàn với Nixon (nếu không phải Kissinger) về những tin tức tình báo mới nhất. Khi Laird làm chứng trước khi uỷ ban đối ngoại Thượng nghị viện, ông bỏ sót một đề cập sự đánh giá này và tuyên bố nhiều lần rằng máy chụp ảnh trên máy bay trinh sát không thể nhìn qua trần nhà được.
Thượng nghị sỹ Fulbright và nhiều người trong uỷ ban tỏ ra bối rối, không những về cuộc tập kích, mà còn về những cuộc không kích được tiến hành ngày hôm sau ném bom lại vùng cán xoong Bắc Việt nam. Thêm nữa, có sự hỗn độn đáng kể giữa hai chiến dịch này. Chính quyền lúc đầu tuyên bố chỉ không kích tại vùng cán xoong ngày 21-11. Nhưng Hà Nội phàn nàn với báo chí về việc ném bom gần Hà Nội và thậm chí nói rằng tù binh Mỹ đã bị thương khi trại giam họ bị tấn công. Theo sau những lời tố giác này, bộ trưởng Laird bắt đầu nói với dân Mỹ về cuộc tập kích Sơn Tây.
Laird dẫn Manor và Simons đến một cuộc họp báo và nói những nhân viên không quân thuộc hải quân đã thu hút sự chú ý của địch xa cuộc tập kích bằng cách thả pháo sáng gần Hải Phòng (họ không được phép thả bom). Không may, sau đó Laird bị lật tẩy. Dần dần báo chí biết rằng cả máy bay của hải quân và không quân đã đánh lạc hướng phòng không địch bằng cách phóng tên lửa Shrike vào gần Hà Nội và Hải Phòng, một trong những máy bay này (một chiếc F-105 “Con chồn hoang” của không quân) trúng phải SAM và chỉ có thể quay về Lào trước khi tổ lái nhảy dù (cả hai được cứu thoát), rằng những chiếc A-1 đã oanh tạc một chiếc cầu gần trại giam để cắt đứt khỏi lính địch, và rằng biệt kích tham gia cuộc tập kích Sơn Tây đã tấn công một kho hàng quân của địch gần trại giam. Việc giải thích lung tung câu chuyện cuộc tập kích Sơn Tây khiến nhiều người Mỹ có ấn tượng rằng chính phủ của họ đã khôi phục ném bom đồng bằng sông Hồng và sau đó lừa dối việc này.
Chính quyền Nixon thể hiện việc thực hiện hai chiến dịch mạo hiểm về mặt chính trị. Với việc tấn công Campuchia và ném bom vùng cán xoong Bắc Việt vào mùa xuân, mức độ chỉ trích được khích lệ bởi hai chiến dịch. Thêm nữa, thậm chí việc thất bại cuộc tập kích Sơn Tây cũng gây được hình ảnh đầy đủ để giảm bớt bớt chỉ trích việc ném bom ở vùng cán xoong.
Một mặt, khó chứng minh sáu giờ ném bom tại vùng cán xoong đã có thành công nhiều. Với cuộc hành quân lớn hơn vào mùa xuân, chính quyền Nixon gọi của không kích ngày 12-11 là “phản ứng tự vệ”, nhưng bây giờ một quan chức nặc danh Bộ quốc phòng tiết lộ rằng sự thật máy bay cường kích tấn công không những trận địa SAM và pháo cao xạ mà còn tấn công hàng tiếp liệu chứa trong các kho dự trữ mùa khô trên đường mòn Hồ Chí Minh. Một mạng lưới đường tại Lào vào mùa khô có thể cho vận chuyển nhiều hơn tiếp liệu tới Nam Việt nam.
SAM và pháo cao xạ ở vùng cán xoong Bắc Việt đe doạ không những máy bay trinh sát ở Bắc Việt Nam, mà còn đe doạ cả B-52 và máy bay cường kích tấn công hệ thống giao thông tại Lào. Đây là một sự thật mà chính quyền Nixon hy vọng thuyết phục Bắc Việt từ bỏ bắn vào máy bay trinh sát Bắc Việt nam. Sau trận không kích tháng 5-1970, máy bay trinh sát ít gặp sự chống đối trừ một chiếc RF-4C của không quân bị bắn rơi hôm thứ sáu 13-11, làm chết cả hai phi công .
Cuộc không kích mang tên “Con mồi tự do” ngày 21-11 kéo dài chỉ sáu giờ bởi vì cơn bão Patsy đang đổ bộ vào bờ biển Việt nam.
Tập đoàn không quân số 7 và hạm đội 7 tiến hành hơn hai trăm lượt xuất kích (phần lớn là F-4 của không quân và A-7 của hải quân) cho cuộc hành quân. Các phi công nói đã bắn trúng có lẽ 90 xe tải và ba kho chứa dầu, nhưng ít chắc chắn hơn về trận địa SAM. Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, đô đốc McCain, thông báo cho đô đốc Moorer rằng bốn trận địa SAM đã bị đánh, nhưng “chỉ có hai tổ hợp SAM được ghi nhận”.
Về sau này những phi đoàn tham gia đã biết được sự không may mắn của họ với cách “Con mồi tự do” tiến hành. Buổi chiều ngày 20-11, Tập đoàn không quân số 7 thông báo cho những phi đoàn tại Udorn, Ubon, và Korat, Thái Lan, cũng như Đà Nẵng và Phủ Cát (Bình Định) rằng họ sẽ sớm tung máy bay nhưng các các tư liệu về mục tiêu đánh phá được dán kín. Mãi đễn giữa đêm khuya họ được phép vào những tư liệu này, và sau đó những mục tiêu được phân cho từng phi đoàn. Việc cấm đoán này gây khó chịu đặc biệt cho phi đoàn 388 tại Korat, phi đoàn này đang chuẩn bị cung cấp “Con chồn hoang” giúp đỡ những phi đoàn khác.
Việc thiếu thời gian chuẩn bị chiến dịch “Con mồi tự do” là do những mệnh lệnh đặc biệt giữ bí mật mà họ nghĩ là cần thiết nếu nhiệm vụ vụ giải thoát tù binh ở Sơn Tây không phải là nguy hiểm. Các mệnh lệnh “Con mồi tự do” được gửi bằng những thông điệp “kênh đen” được chuyển đi chậm nhất và được bảo vệ cẩn mật nhất. Tập đoàn không quân số 7 bắt đầu gửi từng đoạn mệnh lệnh cho phi đoàn 432 ở Udorn trước khi 7 giờ chiều. Nhưng phi đoàn không nhận được lệnh này cho đến tận nửa đêm ngày 20-11.
Trong thời gian ấy, những phi đoàn đang tiến hành những phi vụ bình thường cũng như giúp cuộc tập kích Sơn Tây và chuẩn bị những phi vụ bình thường hàng ngày mà họ được phân công. Những phi vụ bình thường hàng ngày không bị huỷ bỏ cho mãi đến 7 giờ chiều, gần ba giờ trước khi những phi đoàn được tung ched vào cuộc hành quân lớn nhất trong vòng sáu tháng. Khi họ tất tả chuẩn bị chiến dịch “Con mồi tự do”, những phi đoàn khó tin rằng họ thực tế sẽ bay đối mặt với cơn bão đang ập vào. Nhưng lúc 4 giờ sáng ngày 21-11, ngay khi những người cuộc tập kích Sơn Tây trở về, những phi đoàn được lệnh thi hành chiến dịch “Con mồi tự do”.
Theo chỉ thị, những phi đoàn đánh phá mục tiêu theo những đợt, mỗi đợt một tá máy bay. Các phi công ưa thích không đánh theo đợt mà chia thành tốp gồm bốn chiếc có hai làm trinh sát vũ trang thường sử dụng trong gói mục tiêu 1 và trên đường mòn Hồ Chí Minh. Phòng không ở vùng cán xoong và ở những mục tiêu không cho phép đưa ra những đội hình kềnh càng đến mức để cho nhiều xe tải phát hiện chạy thoát mà không bị hư hại.
Như mọi chiến dịch trên không chống Bắc Việt nam, chiến dịch Con mồi tự do và cuộc tập kích Sơn Tây làm kẻ địch ít bị thiệt hại hơn là báo hiệu cho họ. Lần này tín hiệu cũng có chút tốt đẹp, trong lúc không bị chết một người nào và chỉ có một máy bay F-105 “Con chồn hoang” rơi khi bảo vệ cuộc tập kích. Những người thừa hưởng chính của trận cuộc tập kích là những tù binh Mỹ ở Bắc Việt nam. Lo sợ những âm mưu khác cứu tù binh Bắc Việt rút hết tù binh về tập trung their ở Hoả Lò, “Hà Nội Hilton”. Thậm chí trại “Zoo” ở góc thành phố cũng được sơ tán đồng thời. Tại nhà giam Hoả Lò, hơn ba trăm tù binh Mỹ phải sống ở những chái nhà hở, chứa từ 20 đến 50 người trong một buồng giam.
Việc tập hợp nhiều tù binh cũng đem lại một củng cố tinh thần lớn hơn, và tù binh gọi chái nhà họ đang ở là “trại tù Thống nhất”. Một tù binh lớn tuổi, đại tá John P. Flynn, giữ chức tư lệnh phi đoàn tù binh chiến tranh đồng minh số 4 - họ gọi như vậy bởi vì người Mỹ đã tham chiến 4 cuộc chiến tranh đồng minh trong thế kỷ 20 và chỉ ít bạn đồng minh người Nam Việt nam và Thai bị giam cùng với họ. Bắc Việt sớm đưa những tù binh gây rối ra khỏi trại Thống Nhất, một số họ được đưa đến những trại nằm ngoài Hà Nội. Nhưng đối với đa số tù binh Mỹ, cuộc sống trong trại giam cuối cùng cũng đi đến giống với những trại tù Đức trong thế chiến II.
Chính quyền Nixon miêu tả cuộc tập kích Sơn Tây như là một cố gắng không những cắt ngắn sự tù đầy mà còn hơn thế nữa là cứu mạng sống người Mỹ. Bắc Việt vừa mới đây trao cho bà Cora Weiss, một nhà hoạt động chống chiến tranh của bang New York City, tên của 17 người Mỹ đã chết ở Bắc Việt nam - bao gồm mười một người mà Hoa Kỳ có chứng cớ họ bị bắt. Trong trường hợp đại uý không quân Wilmer N. Grubb, Bắc Việt từng đưa ra những bức ảnh Wilmer N. Grubb xuất hiện trong trạng thái khoẻ mạnh sau khi bị bắt tháng 1-1966. Tháng 11-1970 không những họ tiết lộ Grubb đã chết, mà còn cái chết của anh ta xảy ra chỉ chín ngày sau khi bị bắt - trước khi báo chí cộng sản đưa ra bức ảnh của anh ta.
Mặc dù việc đưa tên những tù binh đã chết là một bước tích cực ở mức độ nào đấy chính sách nhân đạo mà Bắc Việt Nam bắt đầu bổ xung một năm trước đó, những cái tên này truyền đạt ấn tượng của tình hình tuyệt vọng hơn những tình thế đang được cải thiện đối với tù binh. Với vụ cuộc tập kích Sơn Tây, ấn tượng này tạo ra suy đoán hợp lý rằng Bắc Việt có thể đưa ra khỏi Hà Nội những tù binh thể trạng tiều tuỵ để khách tham quan không nhìn thấy họ.
Sự điên dại được khuấy động bởi bản danh sách của bà Weiss đã giúp ngăn bớt nối lo sợ của gia đình những tù binh về sự liều lĩnh mà cuộc tập kích Sơn Tây tiến hành để cứu tù binh. Mặc dù tác động tích cực của cuộc tập kích sau đó không thể được biết bởi những người vợ và bố mẹ tù binh, Liên đoàn những gia đình tù binh đã hoan nghênh cuộc tập kích như là bằng chứng rằng chính quyền Nixon thực tế muốn làm một cái gì đó cho những tù binh bị tù khá lâu. Một số gia đình thất vọng với giới lãnh đạo, và một người vợ chỉ trích những nỗ lực giải thoát tù binh như là một mánh khoé vô đạo lý rằng “người ta đã chùi sạch những trận ném bom ra những tin quan trọng trên mắt báo”. Đa số những gia đình phát biểu với báo chí, tuy thế, là những người nhiệt tình.
Vợ của đại uý không quân Howard J. Hill, thí dụ, không biết rằng chồng bà đã được chuyển từ một trại ở phía tây Hà nội đến trại “Hilton” tốt hơn. Nhưng bà nói báo chí rằng bà “đang gào rú với sự vui sướng hoàn toàn” và rằng cuộc tập kích không dẫn đến những điều kiện tồi tệ hơn cho chồng bà: “Nếu có một thứ gì đấy, tôi nghĩ Hà nội sẽ đủ sức đối xử tốt hơn với họ. Nếu những trực thăng mang về được những tù binh trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, một số có thể nằm trên bờ vực của cái chết, điều này sẽ chuốc tội Bắc Việt nam như thế nào?”
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #92 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:26:02 pm »

8. Phi vụ của tướng Lavelle

Ham muốn về âm mưu cứu tù binh tại Sơn Tây đặc biệt mạnh mẽ trong số những người biết những tù binh đang bị giam ở Bắc Việt nam. Nhiều người trong không quân Mỹ từng làm việc với những tù binh này, và những mối quan hệ cá nhân đặt ra đằng sau sự phục vụ cùng nhau. Trung tướng John D. Lavelle lần đầu tiên gặp đại tá Flynn, người có cấp bậc cao nhất trong hàng ngũ tù binh, khi họ là những đứa trẻ học trường dòng Cleveland, Ohio. Lavelle nhiều hơn 6 tuổi và đã hẹn hò chị gái của Flynn. Nhưng Lavelle có mối giao thiệp trực tiếp với cuộc tập kích, và chí khí yếu ớt mối giao thiệp này khẳng định chiều sâu sự nghiệp của chính ông hình như đã rơi xuống.
Mặc dù là phó tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, nhưng Lavelle không được biết gì về cuộc tập kích trước và hoặc thậm chí sau khi sự kiện đã xảy ra - mãi tới khi ông nhìn thấy bộ trưởng Laird nói chuyện với nhân dân trên truyền hình. Sếp của Lavelle, tướng Joseph Nazzaro, đã được giới thiệu cùng với những thành viên chủ chốt trong ban tham mưu của mình, một nhóm mà Lavelle bị loại trừ ra khỏi. Trong cuộc tập kích, Nazzaro dời khỏi trụ sở trong một trong những chuyến đi thường xuyên của ông thăm các đơn vị; như thường lệ, ông được tháp tùng bởi các thành viên chủ chốt của tham mưu của mình. Khi tình báo báo cáo có tiếng rất to đài phát thanh Bắc Việt nam, Lavelle cố gắng thông báo cho đô đốc McCain, Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, và cuối cùng được một trong những thuộc cấp của McCain nói rằng nên bỏ qua toàn bộ câu chuyện đi.
Sau những năm đày ắp những công việc nặng nề, Lavelle đơn thuần đang nghĩ chuyện. Âm mưu ban đầu là làm một quyết định trong khi sếp của ông vắng mặt bị chấm dứt nhanh khi Nazzaro trở về. Dù quyền lực yếu, Lavelle vẫn ở lại căn cứ không quân Hickam, Hawaii, bất cứ khi nào Nazzaro không có mặt ở căn cứ thậm chí vài giờ. Điều này nghĩa là bất cứ lúc nào Lavelle muốn dời căn cứ, ông phải xin phép Nazzaro.
Lavelle phản ánh tình trạng khó xử của ông lên Tham mưu trưởng không quân Mỹ, tướng Ryan, người mà Lavelle có một số bất đồng trong nhiệm vụ trước đây. Họ rất khác nhau về cá tính. Ryan rất cẩn thận, trầm lặng, hầu như không cởi mở. Lavelle có thói đàn đúm và bốc đồng.
Trước khi chạm trán với Ryan, tính bốc đồng của Lavelle thực tế làm ông khó khăn. Là tư lệnh không lực số 17 năm 1967, Lavelle gần như đưa lực lượng báo động của mình tại căn cứ không quân Wheelus (Libya), đánh chặn những máy bay MiG của Algeri không mang dấu hiệu trên đường họ hạ cánh tại một sân bay gần đó; bất cứ sự đương đầu nào cũng có thể nổ ra, bởi vì Libya đang nổi loạn chống lại sự ủng hộ của Mỹ cho Israel trong “chiến tranh sáu ngày”. Lavelle lâm vào khó khăn thậm chí nhân viên của ông đã khởi động máy, nhưng ông giữ họ trên mặt đất. Mặc dù nhiệm vụ sắp tới của ông đến sớm hơn ông nghĩ, đó là một nhiệm vụ quan trọng.
Trong suốt ba năm, Lavelle lãnh đạo Nhóm kế hoạch liên lạc Bộ quốc phòng, một tổ chức hỗn hợp đã được thành lập ở Washington để bổ xung cho kế hoạch của Bộ trưởng quốc phòng McNamara nhằm xây dựng hàng rào điện tử chống lại sự thâm nhập của Bắc Việt nam vào Nam Việt nam. Lavelle nắm quyền lãnh đạo nhóm này trước khi McNamara rời khỏi Bộ quốc phòng và tập trung vào đề án có không quân tham gia, đó là một cánh đồng những bộ cảm biến trên đường mòn Hồ Chí Minh được theo dõi bởi Lực lượng đặc nhiệm Alpha tại căn cứ không quân Nakhon Phanom (Thái Lan).
Khi đặt thành phần không quân Mỹ vào đề án hàng rào, Lavelle gặp ít nhiều chống đối từ những binh chủng khác. Thuỷ quân lục chiến đã hy vọng xây dựng một hàng rào được bảo vệ tốt dọc theo khu phi quân sự cách bờ biển 30 dặm, và họ vui vẻ tránh tham gia vào cái mà đối với họ hình như là một ý tưởng tồi. Tướng Ryan hoài nghi hiệu quả của những bộ cảm biến và ông không muốn góp những F-4 được trang bị đặc biệt để thả chúng một cách chính xác - đó là sử dụng các trạm dẫn đường từ mặt đất cho hoa tiêu tầm xa (loran).
Thời điểm này thậm chí Lavelle đề nghị từ chức cả công việc của mình lẫn không quân. Tuy thế, Ryan đã hiểu được những thuận lợi trong đề án Lavelle (bao gồm tài trợ cho đạn dược mới, cộng với những ưu thế dẫn đường tầm xa ném bom trong mọi thời tiết thậm chí không cần những bộ cảm biến), và mối quan hệ Ryan-Lavelle không bị mất di vì chuyện hàng rào.
Cảm thấy rằng những triển vọng sự nghiệp của mình có thể tốt hơn nếu ông trở lại không quân, Lavelle làm cho họ biết rằng ông muốn một nhiệm vụ của không quân. Nhưng khi Ryan đề cập khả năng của Lavelle chặn lại giá thành cao tại nhà máy Lockheed, nơi sản xuất máy bay vận tải khổng lồ C-5 đang gây tranh cãi, Lavelle dùng những luận cứ của mình chống lại sự điều hành của không quân trong nhà máy với thứ trưởng John L. McLucas và bộ trưởng Robert Seamans. Ryan hình như khá giận dữ đến mức Lavelle tin rằng sự nghiệp của mình đến đây là chấm hết, sự giải thích, cái đó theo quan điểm của ông được ủng hộ bởi người sếp mới, tướng Nazzaro.
Gần một năm sau khi bổ nhiệm Lavelle đến Hawaii, tuy thế, tướng Ryan cho ông một ngôi sao thứ tư và cử ông đến Sài Gòn làm tư lệnh Tập đoàn không quân số 7. Khi Lavelle nhận chức tư lệnh cuối tháng 7-1971, ông giống như một sự lựa chọn tự nhiên, bởi vì người tiền nhiệm của ông tại Tập đoàn không quân số 7, tướng Lucius D. Clay, Jr., cũng đi trước ông làm Phó tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương; bây giờ Clay đang trở lại để thay thế Nazzaro sắp về hưu. Nhưng Lavelle không nghiêng về cung cấp cho Ryan nhiều điểm cho sự thăng tiến mà Lavelle kết luận là do gợi ý của người sếp mới của ông, tướng Abrams.
Lavelle trở nên quen biết nhiều với Abrams trong khi làm việc về hàng rào điện tử, và Lavelle biết rằng người tiền nhiệm của Clay ở chức tư lệnh Tập đoàn không quân số 7, tướng Brown, đã vận động hành lang để hoặc Lavelle hoặc tướng J. C. Meyer (Phó tham mưu trưởng của Ryan) trở thành tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 khi Ryan đưa Clay sang việc khác.
Lần này Ryan đi cùng với sự thăng tiến Lavelle, điều kiện chứng tỏ rằng Tham mưu trưởng xem công việc của Bộ chỉ huy Tập đoàn không quân số 7 đang giảm bớt quan trọng. Trước hết, phần lớn lính Mỹ có xu hướng rút khỏi Nam Việt nam trước khi bầu cử tổng thống 1972, và Thái Lan ngày càng ít nhiệt tình tiếp đón lính Mỹ khá đông. Trước khi nhận nhiệm vụ ở Việt nam, Lavelle dùng một tuần ở Washington để cố gắng gặp Ryan, nhưng phải thu xếp một cuộc gặp với phó tham mưu trưởng. Meyer chẳng đưa ra chỉ thị nào khác ngoài việc cải tiến mối quan hệ với lục quân.
Lavelle phát hiện ra rằng sự mắc míu ra giữa Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Việt nam, và Tập đoàn không quân số 7 ở Sài Gòn xoay quanh hai sếp tình báo. Vì sếp tình báo của Lavelle đang quay cuồng, nên vấn đề này được giải quyết sớm. Nhưng vấn đề chính của Lavelle mới chỉ vừa bắt đầu.
Khi gió mùa tây nam đến, Bắc Việt bắt đầu chuẩn bị tăng vận chuyển tiếp liệu lên qua vùng cán xoong ở Lào từ tháng 11 đến tháng 3. Năm nay việc bảo vệ cũng tăng lên. Cộng với pháo cao xạ là chỗ dựa của phòng không ở giáp vùng cán xoong Lào và Bắc Việt nam, Bắc Việt tăng cường số lượng trận địa SAM ở vùng cán xoong Bắc Việt từ hai hoặc ba tá, và những trận địa tên lửa đầu tiên nghi ngờ rằng cũng có mặt tại Lào. Trong thời gian ấy, Bắc Việt đã xây dựng đường băng mới bằng ghi sắt hoạt động trong mọi thời tiết tại Quan Lang ở sông Cả, khoảng 50 dặm về phía tây bắc Vinh, và họ đang sửa chữa phi trường dùng trong thời tiết tốt tại Đồng Hới cách bắc khu phi quân sự chỉ 35 dặm.
Phòng không ở vùng cán xoong Bắc Việt Nam và Lào đang có sự tương đồng với phòng không mạnh mẽ gần Hà Nội và Hải Phòng. Nỗi khiếp sợ của những B-52 đối với lực lượng phòng không tại đây tăng lên vào ngày 4-10, khi lần đầu tiên, một MiG đánh chặn B-52 tại Lào, và 20-11, khi một MiG bắn tên lửa vào một B-52 gần đèo Mụ Giạ. Mặc dù không có B-52 nào bị MiG hoặc SAM bắn rơi trong thời kỳ 1971-72, nhưng một tên lửa SAM đã bắn rơi một chiếc C-130 (Gunship) tại Lào cuối tháng 3. Trước đó, những nỗ lực của tướng Lavelle để chống lại sự tăng cường của Bắc Việt nam và phòng không của nó khiến ông gặp nhiều khó khăn.
Ngày 22-3-1972, tướng Lavelle được gọi về Washington, ở đây tướng Ryan yêu cầu tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 khai thác một hệ thống báo cáo giả để che đậy những cuộc tập kích không được phép vào Bắc Việt Nam. Tướng Lavelle nói rằng ông đã được khuyến khích bởi những sếp của ông tiến hành những cuộc tập kích như thế và rằng và báo cáo giả là do hiểu lầm và sự quá hăng hái của cấp dưới.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #93 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:27:03 pm »

Một trong những diện mạo kỳ cục của nhiệm vụ của Lavelle là việc ném bom tương đối vụn vặt mà ông chịu trách nhiệm tiến hành một cách bất hợp pháp - dưới 30 phi vụ, khoảng 150 lượt xuất kích - trong những cơ hội đặc biệt ông được phép tiến hành những cuộc tập kích lớn hơn xuống Bắc Việt nam. Không giống như những cuộc tập kích không hợp pháp của mình, những cuộc tập kích được phép có thời gian lớn hơn được xác định bởi cả yếu tố chính trị mà Lavelle không kiểm soát nổi.
Trước khi Lavelle nhận chức tư lệnh, chính quyền Nixon muốn tấn công những mục tiêu Bắc Việt nam. Cuộc không kích phản ứng tự vệ lớn đầu tiên kết hợp sự xâm lược Campuchia vào mùa xuân 1970 và cuộc không kích thứ hai kết hợp với trận tập kích Sơn Tây vào mùa thu. Khi bộ binh Nam Việt nam tấn công trung tâm hậu cần của Bắc Việt nam tại vùng cán xoong ở Lào trong tháng 2 và tháng 3 năm 1971, không quân Mỹ được phép đánh trận địa SAM, xe vận tải, và các kho hàng ở vùng cán xoong Bắc Việt với khoảng ba trăm lượt xuất kích; một số lần xuất kích này là vào ngày 20, 21, và 28-2, nhưng phần lớn là vào ngày 21, 21 và 22-3, trong lúc quân đội Nam Việt nam rút khỏi Lào.
Tháng 9-1971, gần hai tháng sau khi Lavelle nhận chức tư lệnh, ông có dịp may hợp pháp đầu tiên tiến hành không kích lớn vào Bắc Việt nam. Lavelle không nhiệt tình về lệnh cấm ông đánh những mục tiêu trong vòng 20 dặm khu phi quân sự, và thậm chí ông buồn vì phải tiến hành trong thời tiết xấu. Nhưng Washington đồng ý hoãn thêm một ngày, và ngày 21-9, Lavelle cho gần hai trăm lượt xuất kích đánh ba kho chứa xăng dầu. Thời tiết khá xấu nên hải quân chỉ có bốn lượt xuất kích, và Tập đoàn không quân số 7 hoàn toàn dựa vào F-4 được dẫn bởi hệ thống dẫn đường tầm xa mà Lavelle đã mất công để xây lắp được coi như là một phần của hàng rào McNamara. Không mất một máy bay nào cả, ông tuyên bố đã phá huỷ khoảng 30 téc xăng chôn dưới đất tổng cộng khoảng 150.000 gallons (khoảng 600.000 lít). Theo quan điểm của Lavelle, lượng xăng dầu này bị phá huỷ không xứng đáng với nỗ lực bỏ ra, nhưng ông tự hào đã chỉ huy một cuộc không kích lớn đầu tiên được dẫn đường tầm xa.
Người ta chưa bao giờ nói tại sao Lavelle được phép tiến hành cuộc không kích đầu tiên được dẫn đường tầm xa, nhưng ông không ngạc nhiên khi biết rằng đây là một phần của quá trình. Những cuộc đàm phán bí mật của Henry Kissinger với Bắc Việt ở Paris chẳng đi đến đâu cả. Bất chấp lời đề nghị của vào tháng 5-1971 về ngừng bắn, cái đó không đòi Bắc Việt nam rút quân ra khỏi Nam Việt nam, chính phủ Bắc Việt nam yêu sách rằng chính phủ Thiệu ở Nam Việt nam phải bị loại bỏ trước khi ngừng bắn. Cuộc không kích được dẫn đường tầm xa phục vụ cho câu trở lại của tổng thống Nixon đối với thất bại của những cuộc đàm phán bí mật.
Mặc dù những cuộc đàm phán với Bắc Việt không tiến triển tốt, Nixon và Kissinger được khuyến khích bởi sự tiến bộ trong việc cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô. Nixon có kế hoạch viếng thăm chưa từng thấy đến Bắc Kinh và Moscow năm 1972. Thêm nữa, một tuyên bố gây ngạc nhiên vào tháng 7-1971 rằng Trung Quốc sẽ tiếp đón Nixon vào tháng 2-1972 đã làm lạnh mối quan hệ giữa Bắc Việt Nam và Trung Quốc. Bằng những biểu hiện này, Nixon đã giành được đủ sự ủng hộ của dân chúng Hoa Kỳ để liều lĩnh tiến hành một số cuộc ném bom hạn chế ở Bắc Việt nam. Tin rằng Bắc Việt đang chuẩn bị một cuộc tổng tấn công năm 1972, tháng 12-1971 Nixon cho phép những cuộc tập kích lớn nhất đầu tiên xuống Bắc Việt nam kể từ sau chiến dịch Sấm Rền.
Tập đoàn không quân số 7 và hạm đội 7 tiến hành khoảng một nghìn lượt xuất kích ném bom Bắc Việt nam từ 26-12 đến 30-12, trong thời gian lễ Giáng sinh và Tết dương lịch. Lần đầu tiên kể từ Sấm Rền, cuộc không kích được phép lên xa phía bắc đên vĩ tuyến 20 - hơn hai trăm dặm cách phía bắc khu phi quân sự, chỉ cách Hà nội 75 dặm về phía nam. Mặc dù ngày lễ Giáng sinh thời tiết trong xanh, thời tiết bỗng dưng xấu đi vào buổi sáng ngày 26-12 đúng lúc hai phi đội F-4 của không quân tiến sát doanh trại quân đội và xưởng sửa chữa xe tải ở Thanh Hoá. Các máy bay tấn công bay dưới độ cao 1500 feet và bị rơi một F-4, hình như do đạn cao xạ. Những ngày còn lại của chiến dịch kéo dài 5 ngày này, việc ném bom phải tiến hành xuyên qua những đám mây. Những F-4 Tập đoàn không quân số 7 được dẫn đường tầm xa đã có hai phần ba lượt xuất kích, trong lúc những A-6 của hải quân dùng radar gắn trên máy bay của họ để dẫn những F-4 và A-7 (của tàu sân bay) tới những mục tiêu của họ.
Gạt ra bên cạnh dấu hiệu chính quyền Nixon có thể sắn lòng trở lại ném bom toàn diện Bắc Việt nam, những cuộc tập kích tháng 12-1971 không thu được những kết quả gây ấn tượng. Hiệu quả hệ thống dẫn đường tầm xa ném bom đòi hỏi việc chụp ảnh phải chú giải mối quan hệ mục tiêu chính với hệ thống dẫn đường; công việc gian khổ này không được làm cho phần lớn lãnh thổ Bắc Việt nam. Trong bất kỳ trường hợp nào, khoảng cách từ trạm dẫn đường càng lớn, thì sự chính xác càng thấp. Chỉ khoảng một phần tư bom trúng gần mục tiêu để gây được thiệt hại theo đánh giá của việc chụp ảnh.
Cuộc không kích vào phi trường Quan Lang nằm trong số chính xác nhất, với hơn 160 hố bom trong những bức ảnh sau khi khoảng hai trăm quả bom được ném xuống. Nhưng thậm chí ở đây đường băng bằng ghi sắt bị trúng bom chỉ mười bốn chỗ và nhanh chóng được sửa chữa. Truyền hình Đông Đức đã cho thấy hai MiG-21 bị lật tung lên. Cuộc không kích 13 kho dầu chôn dưới đất tuần đó, theo đánh giá phá huỷ được từ 194.000 gallons đến 870.000 gallons trong số khoảng 3,500.000 gallons.
***
Tướng Lavelle không bằng lòng với cơ hội hiếm hoi để ném bom Bắc Việt Nam trong thời tiết xấu. Ông muốn được phép đánh phá phòng không Bắc Việt nam và lực lượng bộ binh Bắc Việt nam tại thời gian do chính ông chọn. Nhưng chính quyền Nixon không chấp thuận cho Lavelle nhiều quyền như thế, ít nhất là một cách chính thức. Về cá nhân, Nixon cằn nhằn việc không quân thể hiện kém và thiếu sự nổi bật trong giới lãnh đạo quân sự. Trong khi Nixon ngưỡng mộ sự can đảm lính không quân, bộ binh và thuỷ thủ, thì ông đánh giá thấp các tướng và đô đốc. Tổng thống thích trích dẫn lời bình của H.G. Wells rằng trí tuệ quân sự là xoàng bởi vì những người thông minh không chịu theo sự nghiệp quân sự.
Từ khi bắt đầu cầm quyền, Nixon mong mỏi kết thúc chiến tranh thậm chí trong khi rút quân bộ binh khỏi Nam Việt nam và không phải trở lại chiến dịch ném bom kéo dài ở Bắc Việt nam. Vì không quân Mỹ không chứng tỏ họ có khả năng làm công việc thần kỳ này cho ông, nên ông đổ lỗi cho giới lãnh đạo không quân và hứa hẹn với các phụ tá của mình rằng ông sẽ ném bom Bắc Việt Nam triệt để trước khi rút quân hoàn toàn.
Tuy thế, Nixon đã cẩn thận tiếp tục công khai ném bom của Bắc Việt nam trong thời gian có giới hạn để giảm đến mức tối thiểu sự phản đối. Trước khi tung ra những cuộc tập kích lớn nhất trong khi phần lớn sinh viên đại học Mỹ đang về nhà nghỉ lễ Giáng sinh, Nixon làm nản lòng thêm sự đối lập của sinh viên luôn nguội lạnh bởi xổ số quân dịch, cắt giảm chế độ bắt lính quân dịch, và cắt giảm sự tham gia của bộ binh chiến đấu Mỹ. Tình hình ở Việt nam trở nên tồi tệ trước khi tổng thống sẵn sàng cho phép những chiến dịch ném bom kéo dài đối với Bắc Việt nam.
Trong thời gian ấy, Lavelle nhiều lần đòi sử dụng tối đa quyền mà ông ta có. Đây cũng chẳng phải là cái gì mới trong cuộc đối thoại. Tướng Clay và tướng Abrams đã yêu cầu mở rộng quyền suốt nhiều tháng, và bộ trưởng Laird đã nhiều lần từ chối. Ngày 24-7-1971, ngay trước khi Lavelle nhận chức tư lệnh, Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, đô đốc Moorer, truyền đạt sự khước từ mới nhất của Laird tới tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương - đô đốc McCain - với lời cảnh báo “sử dụng tất cả thuận lợi” của quy tắc hiện hành. Đô đốc McCain đến lượt mình thúc đẩy “sử dụng tối đa”, và tướng Abrams trong một trong những thông điệp chính thức đầu tiên của ông gửi tướng Lavelle đã đánh vần sự giải thích của quy tắc hiện hành:
“Sự cài răng lược và hỗ trợ lẫn nhau của hệ thống phòng không Bắc Việt nam đã tạo thành mối nguy hiểm không chấp nhận được đối với tổ lái mưu toan xác định từng trận địa tên lửa SAM và pháo cao xạ. Theo đó, trong sự kiện có tên lửa SAM hoặc pháo cao xạ bắn lên hoặc kích hoạt chống lại máy bay của chúng ta, điều đó được coi là xứng đáng cho lực lượng máy bay hộ tống tiến hành không kích phản ứng tự vệ tức thời chống lại bất cứ phần tử nào có thể nhận biết được của tổ hợp phòng không đang bắn lên hoặc kich hoạt.
Những từ “cài răng lược” và “bắn lên hoặc kích hoạt” sẽ cung cấp những chỉ dẫn chính của cơ sở hợp lý của tướng Lavelle đối với cách của ông sử dụng tối đa quy tắc đó. Trước khi nhận chức chỉ huy, tổ lái F-105 “Con chồn hoang” được phép bắn tên lửa Shrike vào bất cứ trận địa SAM mà radar của nó đang theo dõi một máy bay F-105 hoặc máy bay hộ tống nó. Một F-105 không phải chờ trận địa SAM bắn lên, chỉ cần kích hoạt radar của nó là vừa đủ để thiết bị cảnh báo radar mang trên máy bay F-105 và F-4 phát hiện. Theo quan điểm của tướng Lavelle, thật là ngốc nếu cứ chờ tín hiệu của thiết bị cảnh báo radar, bởi vì thiết bị này chỉ phát âm thanh báo động đối với radar của SAM. Trong một hệ thống cài răng lược, những radar cảnh báo sớm và radar điều khiển MiG - có thể đưa những dữ liệu này vào trận địa tên lửa, bởi vậy radar của trận địa sẽ không kích hoạt phát sóng cho đến phút cuối cùng. Lavelle đã tranh luận rằng Tập đoàn không quân số 7 nắm chắc hệ thống phòng không của địch đã kích hoạt mỗi lần máy bay Mỹ bay vào Bắc Việt nam. Kể từ đây, bất kỳ máy bay nào tấn công vào phòng không Bắc Việt Nam nhất thiết phải làm sau khi hệ thống phòng không Bắc Việt nam kích hoạt và do vậy cũng nằm trong khuôn khổ những quy tắc chiến đấu được Lavelle phiên dịch.
Sự giải thích của Lavelle cho phép Tập đoàn không quân số 7 lập kế hoạch tấn công vào phòng không Bắc Việt nam và thực hiện những kế hoạch này không cần chờ Bắc Việt bắn trước. Trong khi cấp trên của ông được phấn khích, bởi sự giải thích một cách tự do quy tắc chiến đấu, điều này có khả năng không phải rằng họ là những người không có trí tuệ. Cách quen thuộc thổi phồng những quy tắc, và người ta khai thác hiệu quả đặc biệt này bởi hải quân, là “nhử mồi”. Máy bay trinh sát sử dụng làm con mồi; ngay khi Bắc Việt phản ứng, những mục tiêu được lựa chọn trước đã bị lực lượng chờ gần đấy ném bom. Ưu thế của hải quân trong việc nhử mồi là họ có lực lượng không kích đông hơn. Trong khi Lavelle chấp thuận điều này, ông không thích sử dụng những phi công của ông làm con mồi. Nhử mồi hình như đối với ông là trò yếu đuối, nguy hiểm và không cần thiết.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #94 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:27:32 pm »

Lavelle khẳng định rằng nhiều ý tưởng của ông bẻ cong quy tắc được khẳng định bởi chuyến thăm của Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân tới Nam Việt nam đầu tháng 11-1971. Thời điểm này, Lavelle liên quan đến việc hai MiG-21 có mặt tại phi trường Quan Lang, đang đe doạ B-52 tại Lào. Khi Lavelle gợi lại cuộc nói chuyện của họ, Moorer chỉ ra rằng cuộc không kích phản ứng tự vệ có thể đánh trúng phi trường thậm chí đó là một vùng đất rộng thường xuyên được máy bay hải quân tuần tra. Hồi ức của Moorer, mặt khác, là ở chỗ ông và Lavelle đã thảo luận những bức ảnh do máy bay trinh sát chụp, không phải là cuộc không kích phản ứng tự vệ.
Ngày 8-11, một máy bay RF-4 của không quân cùng hai F-4 hộ tống đã bay trên phi trường Quan Lang. Họ báo cáo rằng pháo cao xạ đang bắn vào họ và họ tấn công phi trường. Những máy bay MiG không bao giờ nhìn thấy ở đây, nhưng các F-4 vẫn ném bom gần đường băng. Lavelle chỉ cho Moorer những bức ảnh phi trường trống rỗng ngay trước khi vị chủ tịch rời Việt nam. Ngay sau đó Lavelle biết được từ phía tướng Clay rằng tướng Ryan phàn nàn rằng cuộc tập kích Quan Lang phá hoại được ít thế vậy. Lavelle kết luận rằng sai lầm của ông là đã đưa một lực lượng khá nhỏ chỉ mang phần nhiều là bom bi để áp đảo súng phòng không.
Đây không phải là lần đầu tiên Washington hình như khuyến khích dùng những cuộc không kích thông thường phản ứng tự vệ đánh phá những mục tiêu hơn là đánh phá súng phòng không bắn vào máy bay trinh sát. Tiếp theo cuộc tập kích Sơn Tây, tổng thống Nixon nói tại một cuộc họp báo rằng nếu máy bay Mỹ bị bắn lên, ông sẽ “ra lệnh phá huỷ trận địa tên lửa và những tổ hợp quân sự xung quanh trận địa hỗ trợ nó”. Trước đó tất nhiên, Nixon sẵn sàng phái những cuộc không kích đặc biệt đánh phá những kho tiếp liệu ở Bắc Việt Nam dưới chiêu bài phản ứng tự vệ.
Mùa xuân 1971, bộ trưởng Laird thậm chí gợi ý sử dụng những cuộc không kích thông thường phản ứng tự vệ để đánh phá pháo chiến trường. Khi Laird đến Sài Gòn đầu tháng 12, ông nói chuyện với Lavelle tại nhà riêng đại sứ Bunker. Khi Lavelle gợi lại cuộc nói chuyện của họ, Laird chỉ ra rằng Lavelle lẽ ra đừng hỏi bộ trưởng quốc phòng để giải thích một cách hơi tự do những quy tắc, nhưng điều mà Lavelle giải thích một cách hơi tự do những quy tắc, Laird sẽ hậu thuẫn cho ông ta hoặc ít nhất không hỏi ông ta.
Lavelle nghĩ rằng bức thông điệp được truyền đạt bởi trung tướng John W. Vogt, sĩ quan không quân, giám đốc Tham mưu trưởng liên quân. Vogt đại diện cho đô đốc Moorer tại một hội nghị tổ chức ở Hawaii thảo luận cách bảo vệ tốt nhất B-52 tại Lào. Tướng Bruce K. Holloway, Tư lệnh SAC, tỏ ra lo ngại về mối đe doạ của MiG nên ông không dám cho B-52 ở Đông Nam Á cất cánh được trong vài ngày. Phó tư lệnh của Lavelle, thiếu tướng Winton W. Marshall, từ Hawaii trở về báo cáo với Moorer rằng muốn được giải thích tự do những quy tắc và rằng hội nghị đã quyết định tăng cả hai số lượng phi vụ trinh sát và số lượng máy bay hộ tống máy bay trinh sát cũng như B-52.
Giữa tháng 12, Lavelle tham dự hội nghị các tư lệnh không quân tại căn cứ không quân Andrews gần Washington. Trong khi ông ở đó, 5 máy bay F-4 của không quân bị bắn rơi ở Lào - ba chiếc trong số này do MiG bắn rơi ở bắc Lào. Đây là ba ngày tồi tệ nhất mà không quân Mỹ từng nếm mùi kể từ sau chiến dịch Sấm Rền. Lavelle sau này nhớ lại rằng tướng Meyer, phó tham mưu trưởng không quân, mời ông đến Lầu Năm Góc để nghe họp bàn việc làm thế nào phá huỷ trạm radar Mộc Châu, trạm này điều khiển các máy bay MiG trên vùng trời bắc Lào. Nhưng Mộc Châu nằm ở xa bắc vĩ tuyến 20 Bắc Việt Nam và ngoài giới hạn đối với máy bay trinh sát không tính đến việc hộ tống chúng. Khi Lavelle nhớ lại cuộc gặp, ông không được hỏi về ném bom Mộc Châu - ném bom nó như thế nào.
Sau đó, hai chiếc F-105 “Những con chồn hoang” tấn công trạm radar Mộc Châu bằng tên lửa chống radar Standard. Trạm radar từ lâu vẫn đang nằm chờ bị tấn công, bởi vì những F-105 nguỵ trang như là những F-4 (không mang tên lửa Standard hoặc Shrike kiểu cũ) mà bật tín hiệu mã nhận dạng điện tử. Sự đánh lừa về mặt chiến thuật là hiếm xảy ra trong cuộc chiến trên bầu trời Đông Nam Á, và nó được được Tập đoàn không quân số 7 nghĩ ra tỏ ra thích hợp hơn kế hoạch của tham mưu không quân. Khi Tập đoàn không quân số 7 báo cáo về sự nới rộng mới phản ứng tự vệ, đô đốc Moorer thông báo cho tướng Abrams rằng cuộc tấn công radar điều khiển MiG là không được phép - hoặc là được tiến hành những chiến dịch kiểu này ở bắc vĩ tuyến 20 trừ khi truy kích nóng máy bay MiG. Trước cuối tháng 1-1972, tuy thế, Moorer được Laird đồng ý cho phép không kích phản ứng tự vệ đánh phá các trạm radar điều khiển MiG nằm ngoài gói mục tiêu 6 báo cáo lúc nào MiG xuất hiện trên không đe doạ máy bay Mỹ.
Mặc dù cuộc không kích Mộc Châu là một trong những cố gắng đầu tiên của Lavelle mở rộng quy tắc chiến đấu, nhưng đó là lần cuối cùng mà ông báo cáo những chi tiết cho các sếp của ông.
Khi ông phái 5 chiếc F-4 đánh phá phi trường Đồng Hới ngày 23-1, tổ lái nói rằng không thấy có phản ứng của địch trước khi họ ném bom phi trường. Báo cáo đầu tiên này gửi đến Lavelle ở Sở chỉ huy Tập đoàn không quân số 7, và ông phàn nàn với phó chỉ huy chiến dịch, thiếu tướng Alton D. Slay, rằng tổ lái không nên báo cáo “không có phản ứng của địch”.
Cuộc tấn công Đồng Hới và phần nhiều những cuộc tấn công không hợp pháp tiếp theo được tiến hành bởi phi đoàn trinh sát chiến thuật 432 tại sân bay Udorn, Thái Lan, dưới sự chỉ huy của đại tá Charles A. Gabriel. Không giống như những phi đoàn tại Thái Lan, phi đoàn 432 có cả máy bay trinh sát lẫn máy bay chiến đấu, và do vậy quyền phản ứng tự vệ, có thể thật hoặc trả vờ.
Yêu cầu báo cáo mới của Lavelle đặt trước Gabriel những vấn đề mà Lavelle có thể chẳng biết gì về nó. Chẳng có cách chân thực nào dịch nổi bức thông điệp tướng Lavelle rằng hệ thống phòng không Bắc Việt luôn kích hoạt chống lại máy bay Mỹ. Bức thông điệp sau khi hành động phải công bố chính xác thực chất sự phản ứng của địch - súng nào bắn lên hoặc radar SAM nào theo dõi.
Tướng Slay và đại tá Gabriel tạo ra hệ thống báo cáo đưa số liệu giả vào những thông điệp chính thức sau khi hành động tới Washington và đưa những số liệu chính xác vào thông điệp theo kênh riêng chỉ chạy từ Gabriel đến Slay. Quy trình này giống với lần tổng thống Nixon ba năm trước cho phép nguỵ trang những cuộc tập kích B-52 ở Campuchia. Vì Lavelle hình như chưa khi nào nhìn thấy những thông điệp chính thức (cái đó có thể đọc dễ dàng tương tự người ta điền số liệu), ông có thể nắm rằng họ đơn thuần làm ra sự tham khảo mơ hồ đối với sự kích hoạt hệ thống phòng không kẻ thù. Trong thực tế họ thường ghi rõ việc bắn lên của địch, mà điều này lại không hề xảy ra.
Slay và Gabriel gọi những cuộc không kích đặc biệt do họ chỉ huy là “nặng nề” vì họ phải tung ra từ 4 đến 12 “máy bay hộ tống”, ít khi theo thường lệ là hai chiếc. Tổ lái được lệnh ném bom không cần biết súng phòng không của địch có bắn bắn lên hay không. Thường là những mục tiêu của họ không phải là pháo cao xạ, trận địa SAM, hoặc thậm chí những sân bay, mà là xe chở SAM và xe tải. Ngay khi xe tải sang vượt sang Lào, chúng là những mục tiêu hợp pháp, nhưng khi những ô tô này còn ở trên đất Bắc Việt Nam thì khả năng cơ sở hợp lý nhất là những xe tải này đang chở tiếp liệu cho những trận địa phòng không. Trong trường hợp xe tăng, những xe này đang tập hợp ở vùng cán xoong Bắc Việt để xâm lược Nam Việt nam, Lavelle không thể tìm ra cơ sở hợp lý để tấn công chúng thậm chí vận dụng cả sự giải thích quy tắc quy về phản ứng tự vệ; ông đành phải không ném bom xe tăng. Trong thời gian ấy, Slay và Gabriel quyết định bức thông báo chính thức sau khi hành động không nên nói về việc phá huỷ xe tăng, mà đơn thuần chỉ dùng công thức “những kết quả không được quan sát”.
Những cuộc không kích bất hợp pháp của Lavelle lẽ ra không gây được ấn tượng ở Washington nếu không có báo cáo của nhân viên tình báo tại Udorn, trung sĩ Lonnie D. Franks, anh ta viết việc này gửi cho một trong những thượng nghị sĩ bang Iowa của mình, Harold E. Hughes, một người thuộc đảng Dân Chủ và tích cực chỉ trích những nỗ lực chiến tranh. Tướng Ryan cử tổng thanh tra không quân Mỹ, trung tướng Louis L. Wilson, đi điều tra. Một cuộc điều tra nhỏ được tiến hành, bởi vì Lavelle, Slay, và Gabriel sắn lòng nói cái gì mà họ đang làm. Lavelle giải thích rằng ông không thông báo đầy đủ cho Ryan và Clay bởi vì điều đó có thể đưa họ vào tình thế khó xử. Tướng Abrams ủng hộ Lavelle khẳng định không nhận ra việc vi phạm quy tắc chiến đấu.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #95 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:29:23 pm »

Theo chuỗi chính thức chỉ huy, Tham mưu trưởng không quân Mỹ không có quyền lãnh đạo tư lệnh Tập đoàn không quân số 7, người trực tiếp làm việc cho những tư lệnh liên quân của lục quân hoặc hải quân ở Sài Gòn và Hawaii. Nhưng mỗi binh chủng đều mong xoá sạch những tai tiếng của chính họ nhanh chừng nào hay chừng ấy. Trong khi tướng Lavelle và bạn của ông nghĩ rằng tướng Ryan nên bênh vực Lavelle thay vì bắt ông ta về hưu, Ryan cố gắng làm giảm thiểu những tai tiếng tai hại đối với không quân. Việc báo cáo giả (mở rộng quy tắc chiến đấu) hình như đối với Ryan là vấn đề lớn.
Đây là không phải lần đầu tiên Ryan phải rứt bỏ một sĩ quan, người đang cố gắng nguỵ trang việc phá bỏ quy tắc. Mùa hè năm 1967, trong lúc chỉ huy không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, Ryan đã phát hiện rằng đại tá Jacksel M. Broughton, phi đoàn phó tư lệnh tại Takhli, đã phá huỷ chứng cớ sự kiện việc một phi công oanh tạc tàu thuỷ Liên Xô Turkestan. Mặc dù Broughton anh dũng nhận tội, Ryan và Bộ trưởng không quân Mỹ Seamans đồng ý rằng công khai hoá việc Lavelle anh dũng nhận lỗi là không đúng lúc. Họ khuyên Bộ trưởng quốc phòng Laird cất chức chỉ huy của Lavelle và cho phép họ nói chuyện này với vị chủ tịch Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện và chủ tịch Uỷ ban quân lực Nhà Trắng.
Tuy thế, Laird thậm chí tỏ ra thận trọng hơn và yêu cầu giới lãnh đạo không quân Mỹ từ bỏ nói chuyện với những lãnh tụ Quốc hội về vấn đề này. Ông nói Seamans và Ryan rằng công khai hoá việc Lavelle ném bom có thể khuyến khích Bắc Việt tiến hành xâm lược mà họ đang chuẩn bị tung ra. Laird đích thân nói chuyện với thượng nghị sỹ Symington và một số người khác, nhưng hình như không nói hoàn toàn câu chuyện.
Việc Laird lặng lẽ thuyên chuyển Lavelle sau đó trở thành nổi bật. Thượng nghị sỹ Hughes khăng khăng đòi tăng hình phạt không những tướng Lavelle mà còn cả người khác. Vị thượng nghị sỹ không thích một sự thật là Lavelle về hưu trước khi người ta thuyên chuyển ông ra khỏi chức chỉ huy Tập đoàn không quân số 7, ông ta nhận tiền lương hưu ở mức tướng bốn sao mặc dù Thượng nghị viện bác bỏ gợi ý của Ryan thăng cấp cho Lavelle từ thiếu tướng lên trung tướng trong danh sách về hưu. Tiền hưu ở mức tướng bốn sao trả cho Lavelle theo quy tắc được áp dụng chỉ đối với người về hưu ốm đau - cái đó cũng giúp bớt nhiều thuế thu nhập. Đây là việc ngoại lệ đối với những sĩ quan làm việc suốt cả sự nghiệp và sau đó ốm đau phải về hưu, nhưng trong trường hợp Lavelle, thực tế này khuấy động sự nghi ngờ; trong số bệnh tật của ông có vấn đề về tim khiến ông qua đời 7 năm sau đó.
Thượng nghị sỹ Hughes làm việc ở uỷ ban quân lực, mà Uỷ ban này đang tổ chức phiên điều trần về việc Lavelle không những được thăng cấp thăng cấp trong danh sách về hưu mà còn việc tướng Abrams với tư cách Tham mưu trưởng lục quân bổ nhiệm ông ta. Những phiên điều trần việc gây ấn tượng nhất của Uỷ ban là việc điều tra ném bom Bắc Việt Nam từ năm 1967, khi uỷ ban đã ủng hộ các tham mưu trưởng liên quân trong nỗ lực của họ đòi bỏ bớt kiềm chế áp đặt bởi Bộ trưởng quốc phòng McNamara và tổng thống Johnson. Một lần nữa, thượng nghị sỹ Stennis ngồi ghế chủ tịch, nhưng lần này uỷ ban hình như ủng hộ việc kiềm chế hoặc ít nhất phản đối bất cứ sự chọc thủng kiểm soát của phái dân sự đối với phái quân sự.
Tướng Abrams, đô đốc Moorer, và tướng Ryan cả 3 người đều chối việc họ đã nói Lavelle vi phạm vỡ quy tắc chiến đấu. Lavelle chỉ khẳng định rằng ông tin rằng sự giải thích tự do của mình về quy tắc chiến đấu được hỗ trợ bởi những huấn thị của họ để sử dụng hết quy tắc. Nếu ông đã nhận những chỉ thị rõ ràng hơn, ông chẳng phải nói gì cả về chúng trước Uỷ ban Thượng nghị viện - hoặc làm bởi vì ông muốn để bảo vệ cấp trên của ông hoặc bởi vì ông tin vào sự biện hộ nào đấy rằng sự giải thích quy tắc đang thắng thế tại Quốc hội. Cuộc điều trần trước đó do uỷ ban quân lực tổ chức là hữu nghị hơn, và nhóm này hoan nghênh Lavelle trình ra sáng kiến làm một thứ gì đó chống lại sự tăng cường của địch.
Trong trường hợp phi trường Quan Lang, tuy thế, Lavelle tường thuật câu chuyện có khả năng đưa cấp trên của ông vào chỗ khó. Đô đốc Moorer và tướng Ryan ít nhiều vất vả để bác bỏ sự bất đồng của Lavelle rằng họ chờ đợi tổ lái của Lavelle không kích những máy bay MiG trên mặt đất. Moorer khẳng định rằng ông chỉ quan tâm vào những bức ảnh xác định có máy bay MiG ở đó hay không, nhưng Ryan phàn nàn về chất lượng ném bom và lời khai của ông hoàn toàn không xua tan ấn tượng rằng những mục tiêu bị trượt là nhiều hơn súng phòng không. Quy tắc chiến đấu tìm kiếm những cuộc tấn công tự giới hạn vào những máy bay MiG đang bay trên không; những máy bay MiG trên mặt đất và đường băng của sân bay bị giới hạn. Chỉ những mục tiêu hợp pháp trên mặt đất đối với phản ứng tự vệ thông thường là pháo cao xạ và SAM đang bắn vào máy bay Mỹ hoặc ít nhất bắn theo máy bay Mỹ. Hình như không có sự quan tâm nhiều trong số những thượng nghị sĩ của uỷ ban quân lực đang tìm kiếm vấn đề này.
Thượng nghị sỹ Hughes quay lại chú ý đến Lavelle, cấp trên, cấp dưới của Lavelle. Suốt hai năm, Hughes đã theo dõi danh sách thăng tiến để ngừng sự thăng tiến của bất cứ sĩ quan nào nhúng tay vào những phi vụ bất hợp pháp hoặc làm báo cáo giả. Nhưng đến năm 1973 những sự phát giác hệ thống làm báo cáo giả được chấp thuận bởi tổng thống Nixon về ném bom Campuchia đã cắt xén chiến dịch của Hughes chống lại cấp dưới của Lavelle. Dù vậy, đa số đồng nghiệp của Hughes thấy rõ sự xuất sắc ở vị thế tướng Ryan mà cấp dưới của tướng Lavelle không có cách nào hiểu được nổi những mệnh lệnh mệnh lệnh họ nhận được từ Lavelle xuất phát từ cấp cao nào? Ba cấp dưới của họ thu được bốn sao (Slay, Gabriel, và phó tư lệnh của Gabriel, Jerome F. O’Malley), và một trong những người này trở thành Tham mưu trưởng không quân (Gabriel).
Không những người này bị ảnh hưởng trực tiếp, mà còn tất cả những sĩ quan có lý do cân nhắc những hành động của tướng Lavelle. Giống như ông ta, họ có thể là đối tượng bị gây sức ép từ cấp trên để bẻ cong quy tắc. Giống như ông ta, họ muốn bẻ cong quy tắc để giúp đỡ cấp dưới giải quyết vấn đề. Sự cứng rắn lớn nhất của tướng Lavelle với tư cách tư lệnh là sự lo lắng của ông về an toàn của những người này. Nhưng ở Việt nam mối lo lắng của ông đã đưa ông vào khó khăn, đưa họ vào khó khăn, đưa không quân Mỹ vào khó khăn - tất cả đều vì mục đích ném bom khá được xem nhẹ để gây nhiều sự khác nhau. Một người đàn ông ít khoan dung có thể coi thường mạng sống những người đàn ông của mình dám bẻ cong quy tắc theo cách có thể chấp nhận được. Một người đàn ông thông minh sẽ tránh sự liều lĩnh cho sự chính trực của mình và của người khác để ít có lợi cho nỗ lực chiến tranh. Thậm chí trước khi ông có thể về hưu, sự xâm lược của Bắc Việt nam đối với Nam Việt nam đã biện hộ quân sự và sự vô nghĩa quân sự của sự ném bom không hợp pháp của ông trở nên rành mạch.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #96 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:30:25 pm »

9. Linebacker

Sự xâm lăng của Bắc Việt nam đối với Nam Việt nam vào mùa xuân 1972 sớm trở thành làm đổ chính quyền Thiệu. Trong khi gần như tất cả bộ binh Mỹ đã được rút về nước, sức mạnh trọng yếu của không quân Mỹ vẫn còn ở chiến trường và được bổ xung nhanh chóng. Tổng thống Nixon chứng tỏ thiện chí dùng không lực Mỹ ở mức ít kiềm chế hơn người tiền nhiệm, và bộ đội Bắc Việt phô bầy họ trước không lực Mỹ khi những xe tăng của họ chạy trên những con đường và pháo của họ khạc lửa hỗ trợ những chiến dịch thông thường.
Sự thành công của không lực Mỹ trong việc ngăn chặn Bắc Việt xâm lược có thể bị che lấp bởi sự sụp đổ của Nam Việt nam dưới một cuộc tổng tấn công tương tự chỉ ba năm sau, khi Quốc hội Mỹ không cho không lực Mỹ tham chiến. Nhưng năm 1972, tổng thống Nixon sử dụng không lực Mỹ thuận lợi hơn tổng thống Johnson, và không quân Mỹ thể hiện rằng họ có vũ khí mới mạnh mẽ bằng bom dẫn bằng laser.
Từ khi mang bom dẫn bằng laser đưa sang Đông Nam Á năm 1968, không quân Mỹ đã phát hiện ra một số ít mục tiêu là tốt cho bom dẫn bằng laser và đã dùng hàng nghìn bom này cắt đứt những con đường tại Lào trước khi Bắc Việt tổng tấn công năm 1972.
Để đẩy lùi cuộc tổng tấn công, không quân Mỹ đã sử dụng khoảng bốn nghìn quả riêng ở Bắc Việt Nam, và trước khi kết thúc cuộc chiến tranh, toàn bộ số bom ném xuống ở Đông Nam Á vượt quá 28 nghìn quả - gấp ba lần số bom dùng trong chiến tranh vùng Vịnh hai thập kỷ sau, nhưng đưa vào Đông Nam Á đánh phá những mục tiêu tầm xa hẹp hơn và ít công khai hơn bom dẫn sau này ở Tây Nam Á. Sự chính xác do dẫn đường bằng laser thường có nghĩa là có thể bỏ qua kiểu cũ ném nhiều bom xuống để có một hoặc hai quả trúng mục tiêu. Một máy bay F-4 mang hai bom dẫn bằng laser bây giờ có thể ném một nhịp cầu, có lẽ hai. Nhưng những bom “thông minh” này đòi hỏi thời tiết tốt, và để chống hệ thống phòng không mạnh mẽ của Bắc Việt nam những bom này được ném chỉ vào ban ngày (bởi vì những máy bay phản lực không mang theo thiết bị nhận dạng mục tiêu ban đêm tin cậy trên mười nghìn feet). May mắn, Bắc Việt tung ra đợt tổng tấn công chỉ vài tuần trước khi thời tiết tốt để ném bom.
Mãi đến 30-3-1972 bắt đầu Bắc Việt Nam mở đầu cuộc xâm lược, tận dụng hoàn toàn mây trừ gió mùa đông bắc khô để chuyển tiếp liệu vào những kho dự trữ hàng gần nơi xuất phát tấn công. Hai sư đoàn vượt qua khu phi quân sự giữa Bắc và Nam Việt nam và một phần ba di chuyển từ Lào về phía đông theo hướng Quảng Trị. Trong vòng một tuần, nhiều sư đoàn Bắc Việt nam tác chiến sâu xuống phía nam - hai sư đoàn tác chiến ở Tây Nguyên, đe doạ cắt đôi Nam Việt nam bằng cách phối hợp với những đơn vị Việt Cộng sẵn sàng hành quân dọc bờ biển. Sài Gòn nằm trong dải của một sư đoàn Bắc Việt nam khác và hai sư đoàn Việt Cộng đổ xuống từ Campuchia vào An Lộc. Cả thảy, đợt tổng tấn công vào dịp lễ phục sinh này sử dụng hơn một trăm nghìn lính và hàng trăm xe tăng trong những trận công kích riêng rẽ và rộng lớn.
***
Trước khi những cơn mưa gió mùa tây nam dọn sạch những đám mây và sương mù và cho phép máy bay Mỹ tấn công, lính Bắc Việt nam có hai tuần lễ không bị những cuộc không kích chính xác của Mỹ. Đây là thất bại đối với quân đội Mỹ, nó thậm chí còn là thất bại nặng hơn đối với tổng thống Nixon. Khi Nixon gặp Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân ngày 4-4-1972, Nixon yêu cầu đô đốc Moorer truyền đạt tới tướng Abrams - tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn, cần phải sử dụng không lực Mỹ “công kích tối đa”. Nixon lo lắng rằng chỉ có 136 lượt xuất kích chiến thuật chống lại quân xâm lược gần khu phi quân sự trong 24 giờ qua. Moorer giải thích rằng do vấn đề thời tiết và nhấn mạnh rằng những B-52 đang ném bom qua những đám mây. Mặc dù việc sử dụng B-52 lôi cuốn tổng thống, ông không thấy bớt nguôi ngoai. Moorer được phép ngày 2-4 không kích tới 25 hải lý bắc khu phi quân sự. “Điều này đối với tôi hình như toàn bộ không quân với tất cả khả năng chỉ để làm một cuộc chiến tranh trên sa mạc vào tháng 7”, Kissinger sau này nhớ lại. “Tôi cho rằng nếu họ không thể bay được họ có thể đi taxi về phía bắc 25 dặm”.
Ngày hôm sau Nixon phàn nàn với bộ trưởng tư pháp John Mitchell rằng thời tiết thật ra không phải là vấn đề: “Thời tiết không xấu. Không quân chẳng ra làm sao cả - tôi nghĩ, họ không bay”. Dù thiếu kiên nhẫn, Nixon chỉ ra rằng ông sẵn sàng ra tay. “Chưa từng bao giờ ném bom tàn nhẫn giống như họ đang ném bom lần này”, ông tuyên bố, “nhưng các bạn phải có thời tiết”.
Ông gặp tân tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 - tướng John W. Vogt, người từng là giám đốc Tham mưu trưởng liên quân. Nixon nói với Vogt rằng ông ta phải làm công việc bất kể thời tiết như thế nào - sử dụng tối đa B-52. Nếu Vogt không thành công ở Việt nam, tổng thống nhấn mạnh, không quân Mỹ không thể mong đợi sự ủng hộ của Nhà Trắng; ngoài ra, đây có thể là trận chiến đấu lớn cuối cùng của không quân Mỹ và sẽ là bi thảm cho binh chủng kết thúc sự nghiệp chiến đáu trong nhục nhã. Nhớ lại những hạn chế đối với các tư lệnh trước kia của Tập đoàn không quân số 7, Vogt yêu cầu cho quyền để làm việc - ông muốn là phó tư lệnh của tướng Abrams và không đơn thuần là về không quân; Nixon nói với Kissinger phải làm việc đó và điều này được làm hai tháng sau. Trong bất kỳ trường hợp nào, Nixon khuyên Vogt đứng bên Abrams và liên lạc trực tiếp với Washington. Nixon cam đoan với Vogt rằng Vogt có toàn quyền ông cần, nhưng Vogt sau này hối tiếc rằng tổng thống không viết cam đoan này bằng văn bản.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Nixon muốn cho viên tư lệnh không quân tự do hành động, nhưng cũng tương tự như mọi người Vogt có một sự thúc ép bên trong. Việc chọn ông làm tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 đã nhấn mạnh sự lôi cuốn mật thiết của Lầu Năm Góc và Nhà Trắng theo hướng chiến tranh không quân. Ông là một sĩ quan tham mưu tài giỏi, thân cận với đa số các sếp, đô đốc Moorer, và có quan hệ tốt với Henry Kissinger. Thêm nữa, Kissinger đã gợi ý Nixon thay thế Lavelle bằng Vogt. Vogt từng học Ivy League (Yale, Columbia, và Harvard, nơi lần đầu tiên gặp Kissinger), nhiều lần thực hiện nhiệm vụ tham mưu chủ chốt, và do thiếu năng lực chỉ huy nên ông bị gạt khỏi đa số những tướng không quân. Từ những năm 1940, khi là một phi công ưu tú và chỉ huy phi đội máy bay ở châu Âu, Vogt đã chỉ huy một đơn vị ở chiến trường. Nhưng ông đã được giao nhiệm vụ nặng nề hơn trong kế hoạch phát triển và chính sách về Đông Nam Á từ 1954, khi ông được cử đến Paris sau khi Pháp thua ở Điện Biên Phủ. Lúc bắt đầu Sấm Rền, ông làm việc ở văn phòng bộ trưởng quốc phòng, giúp McNamara và Paul Nitze chọn lựa danh sách mục tiêu. Trong phần lớn thời gian Sấm Rền, Vogt là phụ tá kế hoạch và chiến dịch của không quân Mỹ ở Thái Bình Dương tại Hawaii, nơi ông làm việc cho tướng Ryan (trước khi Ryan trở thành Tham mưu trưởng không quân).
Ở Sài Gòn, người ta thấy Vogt thường trả lời những cuộc gọi điện thoại từ đô đốc Moorer. Đôi khi phiền toái, những cuộc điện thoại này chỉ ra việc tiến triển tăng lên của Tư lệnh Tập đoàn không quân số 7. Vì phần lớn bộ binh Mỹ sẵn sàng về nước, nên không quân cũng phải tính đến. Dù vậy, sếp của Vogt ở Sài Gòn, tướng Abrams, không được sự ủng hộ ủng hộ chính quyền Nixon.
Nixon và Kissinger đổ lỗi cho Abrams về số phận buồn thảm mà quân đội Nam Việt nam gánh chịu tại Lào đầu năm 1971. Trước mắt họ Abrams hình như là một tư lệnh chán nản và thất bại, người sau đó ba năm nỗ lực cũng không đủ khả năng thực hiện những yêu cầu chiến đấu mới.
Nixon đã làm một nỗ lực khập khiễng để khắc phục cái mà Kissinger gọi là “bệnh tâm thần phân liệt được thể chế hoá” của hệ thống gói mục tiêu phân chia trách nhiệm cho cuộc chiến tranh trên không ở Bắc Việt nam. Nhưng khi Bộ trưởng quốc phòng Laird và đô đốc Moorer phản đối cố gắng thay đổi thể chế hoá trong thời điểm giữa cuộc khủng hoảng, Nixon chùn bước. Nhờ sự ủng hộ tại Quốc hội, Laird tiếp tục quyền hành xử hoàn toàn với tổng thống. Hai người này xử lý rất khác nhau về sự xâm lược của Bắc Việt nam. Laird nhìn thấy sự xâm lược như là cơ hội thử thách tốt Việt nam hoá chiến tranh. Bởi vậy, ông nghĩ tốt nhất đừng làm một cái gì đặc biệt cho Nam Việt nam, và ông cực lực phản đối ném bom trở lại Bắc Việt nam; ở phía đối lập ông được Bộ trưởng không quân Mỹ Seamans lặng lẽ ủng hộ. Trong những cuộc khủng hoảng trước đó, Nixon tìm kiếm làm việc với những người quanh Laird bằng cách làm việc trực tiếp trực tiếp với đô đốc Moorer ở Washington và đại sứ Bunker ở Sài Gòn; Bunker truyền đạt hướng dẫn “kênh bí mật” từ Kissinger tới các tướng Generals Abrams và Vogt. Trong thời gian ấy, Laird có thể gây sức ép của mình lên Moorer, và kết quả là Laird đôi khi đặt giới hạn cho việc ném bom trở lại ở Bắc Việt nam.
Tình thế của Moorer đặc biệt khó xử bởi vì mối quan hệ của ông với Kissinger từng va chạm bởi những sĩ quan liên lạc của Moorer trong văn phòng Kissinger - chuẩn đô đốc Rembrandt C. Robinson và người kế nhiệm của ông, chuẩn đô đốc Robert O. Welander, đã dùng tay trong Charles Radford, nhân danh Moorer, đánh cắp những bài báo nhậy cảm (về Trung Quốc và Pakistan) từ Kissinger. Người làm tay trong, đã đưa một số bí mật này cho người phụ trách chuyên mục báo và chuyển cho các đồng nghiệp Morman, Jack Anderson, cũng như Welander, và Kissinger đã đóng cửa văn phòng sĩ quan liên lạc. Có lẽ Nixon nghi ngờ rằng Kissinger khao khát về thắng lợi ngoại giao của mình đã đưa ra công khai trên báo chí, nên mối quan hệ của Moorer với tổng thống không có sự dung thứ.
Cả Nixon và Kissinger vẫn cần Moorer như cách để thu thập những người đối lập quanh Bộ trưởng quốc phòng Laird để sử dụng quyền lực quân sự của họ. Nhiều cuộc đấu đầu giữa Nhà Trắng và Laird ở dạng những cuộc nói chuyện qua điện thoại giữa trợ lý quân sự của Kissinger, thiếu tướng Alexander M. Haig, Jr. (lục quân), và trợ lý quân sự của Laird, thiếu tướng Robert E. Pursley (không quân). Haig đã tốt nghiệp học viện quân sự Mỹ West Point năm 1947 hai năm trước khi Pursley tốt nghiệp. Cả hai người thăng tiến tới thiếu tướng nhờ các sếp dân sự của họ. Sau khi kiếm được bằng thạc sĩ về kinh doanh từ Harvard, Pursley là trợ lý quân sự cho ba bộ trưởng quốc phòng, bắt đầu từ Robert McNamara năm 1966. Đây là Laird, tuy thế, người hai lần thăng cấp cho ông. Trong thời gian ấy, Haig là trợ lý quân sự cho bộ trưởng lục quân Cyrus Vance trước khi trở thành tiểu đoàn trưởng ở Việt nam.
Một sự kiện đặc biệt tiêu cực trong mối quan hệ giữa Pursley và Haig (và các sếp dân sự của họ) là việc Bắc Triều Tiên bắn rơi một máy bay trinh sát EC-121 ngày 15-4-1969. Nixon ra lệnh cho một lực lượng đặc nhiệm hải quân vào vùng lãnh hải Triều Tiên, và ông trở nên thiếu kiên nhẫn khi không có sự di chuyển nào xảy ra. Các cuộc gọi liên tiếp của Haig tới Pursley để lại Haig ấn tượng rằng Pursley đang lẩn tránh. Cuối cùng kết luận rằng Laird đã không truyền lệnh của tổng thống, Nhà Trắng gửi lệnh trực tiếp xuống cho hải quân. Ba năm sau khi xảy ra sự việc đáng buồn này, Nhà Trắng mở lại cuốn băng ghi âm cuộc điện thoại của Pursley. Pursley vẫn còn ngu dốt về sự thật rằng mùa xuân 1972, khi ông thăm Haig để làm lành. Haig phát giác rằng Nhà Trắng đang giữ một cuộn băng trong dó Pursley thúc giục một vị tướng không quân Mỹ cho ông ta về hưu, nhưng Laird nói với Pursley nhận một công việc ở Nhật Bản. Cũng như Haig, Pursley trở nên có nhiều ảnh hưởng với tổng thống. Vì Haig không chia sẻ với Kissinger nghiêng về ném bom Bắc Việt nam để phục vụ chính sách ngoại giao, Haig có thể kiên định bênh vực Nixon thiên về dùng sức mạnh không lực Mỹ.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #97 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:31:09 pm »

Nixon và Moorer nhanh chóng tăng cường không lực Mỹ ở Đông Nam Á. Trong khi Việt nam hoá chiến tranh bỏ lại không lực Mỹ ở chiến trường, sự dư thừa ít nhiều lực lượng đang đương đầu với cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Sau đó riêng không quân Mỹ có hơn 1.700 máy bay ở Nam Việt nam và Thái Lan, không tính đến số máy bay khác, như B-52 ở Guam và Okinawa. Giờ đây chỉ có dưới 800 máy bay ở Đông Nam Á, và một nửa số này ở Nam Việt nam dự kiến hoặc là đưa sang tới Thái Lan hoặc mang về Hoa Kỳ. Nixon cho phép, nhưng ông thay đổi bằng cách đưa 350 F-4 và 50 B-52 vào Thái Lan, và 150 B-52 về Guam.
Triển khai máy bay tới Thái Lan bao gồm những F-4E mới, mỗi chiếc có pháo 20 ly gắn ở mũi. 72 chiếc F-4E từ Bắc Carolina và Florida chen chúc nhau ở sân bay Udorn và Ubon cùng với hơn 100 F-4 từng ở đó. Những F-4D cũ cũng đưa về tới Thái Lan. Thêm nữa, toàn bộ phi đoàn máy bay chiến thuật số 49 gồm 72 F-4D từ New Mexico đến tăng cường cho sự hiện diện của Mỹ ở sân bay Takhli. Từ khi phi đoàn không quân chiến thuật 355 rút đi năm 1970, Phần của Mỹ tại căn cứ này chỉ còn trần trụi điện, nước, giường chiếu, và đồ gỗ. Sự thiếu thốn như thế được cải thiện vào đúng lúc phải đối xử với phi đoàn không quân chiến thuật 366, chuyển từ Đà Nẵng về Takhli vào tháng sáu. Phi đoàn không quân chiến thuật 388 tại Korat (sân bay nhà của F-105 “Những con chồn hoang” và máy bay gây nhiễu EB-66) cũng thu hút nhiều F-4, và những máy bay, giống như những F-4 ở Takhli, dành nhiều cố gắng ném bom lính Bắc Việt tại Nam Việt nam. Điều đó đã bỏ lại trách nhiệm chính những chiến dịch ở Bắc Việt Nam cho phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 tại Ubon và phi đoàn trinh sát chiến thuật 432 tại Udorn.
Trong khi có 150 máy bay ít hơn khả năng trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân, những tàu sân bay hoạt động ở Vịnh Bắc Bộ tăng cường từ 2 đến 5 chiếc trước đó xuống còn bốn chiếc, một chiếc hoạt động thường xuyên hơn trên tuyến này từ năm 1968. Thuỷ quân lục chiến đưa hai phi đoàn F-4 và một phi đoàn A-6 đến một căn cứ bỏ hoang gần Nam Phong, cách Udorn 50 dặm về phía nam; thuỷ quân lục chiến vào những lều bạt, trồng những bụi hoa hồng, và đặt tên căn nhà mới của họ là “Vườn hồng”. Một số lượng B-52 nhiều gấp 2 lần chưa từng có ở Đông Nam Á và dư thừa loại bom mới dẫn bằng laser dùng cho F-4 của không quân Mỹ, Nixon tập hợp lại thành một hạm đội trên không dữ dội hơn Bắc Việt đã từng chạm trán.
Nixon nhấn mạnh nhiều lần yêu cầu của ông tăng thêm B-52. Đầu tháng 2, ông đáp ứng yêu cầu của Abrams trở lại ném bom của Bắc Việt nam bằng cách đưa 29 máy bay B-52 đến Guam. U-Tapao (Thái Lan), đưa tổng số tối đa 51 máy bay B-52 và số lượng gần bằng như thế máy bay tiếp dầu. Nhờ ưu thế ở gần, những B-52 tại U-Tapao có giá trị hơn những máy bay đậu ở Guam, cách đó 2.400 dặm. Nhưng Guam là căn cứ mới được triển khai B-52. Căn cứ không quân Kadena (Okinawa) không được dùng làm căn cứ cho B-52, bởi vì Nixon đồng ý trao trả Okinawa cho Nhật vào tháng 5. Người Nhật cho phép máy bay tiếp dầu, không phải B-52, được sử dụng Kadena. Guam phải thu hút chừng 150 B-52,vượt xa khả năng mà căn cứ Andersen có thể xử lý một cách thoải mái.
Phản ứng tức thời của Nixon đối với cuộc tổng tiến công Lễ phục sinh là triển khai 54 máy bay B-52 đến Guam và 36 máy bay F-4 đến sân bay Ubon (Thái Lan). Như vậy Nixon có tổng cộng 134 chiếc B-52 để dùng ở chiến trường, nhưng ông sớm nhận ra rằng kế hoạch của ông sử dụng những máy bay này ở Bắc Việt Nam thường xuyên vấp phải sự phản đối của Abrams và Laird, vì họ dùng B-52 ở Nam Việt nam trong lực lượng tấn công. Trong sự tức giận, vào tháng 5 Nixon gọi thêm 100 chiếc B-52 khác. Không ai ở Lầu Năm Góc hoặc Thái Bình Dương có thể hình dung được làm thế nào nhết thêm 100 chiếc B-52 vào Guam.
Sau cuộc hội đàm thất bại với Nixon về sự triển khai mới, Moorer kể cho các tham mưu của mình câu chuyện về một chủ trang trại định chở bốn tấn gà tây trên chiếc xe tải hai tấn bằng cách giữ một nửa gà tây trên không.
Tập đoàn không quân số 8 ở Guam cuối cùng cũng thu xếp nhận 58 chiếc B-52 bằng cách đóng một trong hai đường băng sân bay Andersen và dùng nó làm bãi đỗ. Những chỗ đỗ cũ cho B-29 từ thế chiến II đơn giản không dùng được cho những chiếc B-52 to hơn.
Tư lệnh Tập đoàn không quân số 8, trung tướng Gerald W. Johnson, sau này nhớ lại rằng một chiếc B-29 nhú ra “đưa hộp số chính và mọi thứ khác đang treo ở phía trên … và sau khi họ quay vào chỗ, chúng tôi chạy ra ngoài để nhận những máy bay và thấy chúng chìm chỗ đỗ hẹp chỉ còn cách một bước chân”. Trong hai tháng khi đội xây dựng “Ong biển” của hải quân xây dựng bãi đỗ mới và mở rộng bãi cũ, Johnson chỉ có một đường băng cất cánh. Ông cho làm sạch cỏ một đường băng cũ từ thế chiến II đường băng để hạ cánh khẩn cấp, và trạm không quân hải quân cũng sử dụng cho mục đích này.
Việc ăn ở cho những người đến triển khai B-52 cũng gây ra nhiều vấn đề. Căn cứ không quân Andersen, chỉ vài tuần trước đó có dưới ba nghìn người, bây giờ phải phục vụ hơn chín nghìn người. Với 2 nghìn người, điều đó nghĩa là phải sống ở lều bạt; với 200 người có thể sống ở những khách sạn sang mà du khách Nhật bản thường dùng. Đa số mọi người phải mất nhiều công sức và thời gian để sửa sang lại nhà. Sau nhiều năm “vận hành kiệt sức”, Andersen và U-Tapao (Thái Lan), bắt đầu những phi vụ vừa nhiều nguy hiểm và nhiều rủi ro để cứu Nam Việt nam.
Những nguy hiểm mới đối mặt B-52 là không những là SAM gần khu phi quân sự và thậm chí tại Nam Việt nam, mà còn do quyết định của tổng thống Nixon đưa B-52 vào sâu Bắc Việt Nam. Ít nhất từ khi những cuộc tập kích vụng trộm của B-52 vào Campuchia năm 1969, Nixon quan tâm đặc biệt đến B-52. Trong Sấm Rền, Những cuộc tập kích B-52 vào Bắc Việt Nam bị giới hạn phía nam vùng cán xoong và những con đèo vào Lào. Nhưng Nixon không có chia sẻ nỗi sợ hãi của Johnson về phản ứng ở Moscow và Bắc Kinh, cả hai nước này hưởng ứng với những lời đề nghị của Nixon. Nixon không bị cản trở bởi khả năng mà hoả lực phòng không mạnh mẽ quanh Hà Nội và Hải Phòng có thể gây thiệt hại cho B-52.
Nixon vẫn còn chưa ra lệnh ném bom ngay lập tức Hà Nội và Hải Phòng. Phải mất một tuần để ông chấp thuận một loạt thay đổi trong giới hạn ném bom Bắc Việt nam thậm chí đến vĩ tuyến 19, nơi bị ném bom trong sáu tháng của Sấm Rền. Hình như Moorer đề xuất những hành động gây ấn tượng để tổng thống phê chuẩn. Nhưng Moorer cũng chẳng thấy chịu nhìn ra sự quá dư thừa không lực Mỹ sắp đổ xuống Đông Nam Á, và Laird thì đang chống đối bất cứ cuộc ném bom nào xuống Bắc Việt nam. Tuy thế, ngày 8-4-1972 khi Nixon lại phàn nàn rằng chỉ thấy những chiến dịch “thông thường”, Moorer hứa rằng ít nhất sáu B-52 sẽ không kích mục tiêu nằm sâu ở Bắc Việt Nam trước bình minh ngày 10-4.
Mười hai chiếc B-52 từ U-Tapao đánh phá kho dầu và nhà ga Vinh trước bình minh ngày 10-4. Để đưa 12 chiếc máy bay ném bom này vào Bắc Việt Nam, một hạm đội gồm 53 chiếc đóng vai trò yểm trợ. Những máy bay hải quân A-6 và A-7 bắt đầu tấn công những trận địa SAM. F-105 “Những con chồn hoang” sau đó trấn áp những trận địa này, trong lúc đó 20 F-4 rải một đường nhiễu kim loại cho B-52. đây là lần sử dụng đầu tiên nhiễu kim loại kể từ thế chiến II. Những F-4 không thể vươn tới độ cao của B-52 (trên 35 nghìn feet), và B-52 muốn bay càng cao hơn tầm bắn súng phòng không càng tốt. Như vậy, B-52 bay dọc theo phía trên đường rải nhiễu kim loại, đám nhiễu này che giấu được vị trí chính xác của họ khỏi radar Bắc Việt nam và báo động radar đang dõi theo dải bay của họ..
Bắc Việt bắt đầu phóng SAM vào những kẻ tấn công thậm chí trước khi họ vượt qua biên giới từ Lào vào Bắc Việt Nam. Hơn 30 tên lửa tạo thành vòng cung đội hình B-52, chẳng trúng cái gì cả trừ việc phá vỡ kế hoạch bay thẳng và độ cao. Những phi công B-52 đã theo lệnh “ấn nút” bất chấp SAM hoặc MiG làm nhiễu, và MiG không tới gần thách thức cuộc tập kích ban đêm này - vì rằng, họ chỉ có kinh nghiệm bay ban ngày.
Mười hai chiếc B-52 thả tổng cộng gần tám trăm quả bom, phần nhiều là bom có sức công phá mạnh 750 cân Anh và 500 cân Anh, nhưng bao gồm một số bom bi. Cuộc tập kích, tuy vậy không hiệu quả, có thể do tổ lái cố gắng dùng dẫn đường định vị bằng rada mặt đất để ném bom.
Vinh nằm ở khá xa những trạm radar ở Thái Lan và Nam Việt nam, dường như B-52 có ý định giữ vững đường bay thẳng và độ cao để thả bom. Moorer ra lệnh cuộc tập kích nữa ngày 13-4, lần này vào sâu phía bắc và thêm B-52 nữa (tổng cộng 18 chiếc, tất cả chỉ thả bom sức công phá cao và tất cả dùng máy ném bom bằng radar gắn trên máy bay chứ không sử dụng hệ thống dẫn đường từ mặt đất. Lưu tâm đến mức độ không chính xác cuộc tập kích Vinh, mục tiêu mới được chọn tương đối biệt lập với khu dân cư cũng như tầm quan trọng của nó. Sát ngay nam vĩ tuyến 20 có phi trường Bái Thượng (Thanh Hoá) (sân bay Sao Vàng gần Lam Sơn, Thanh Hoá -ND), tổ hợp phi trường được mở rộng để hỗ trợ không lực gồm hơn hai trăm máy bay MiG (gấp đôi số lượng trong Sấm Rền). Một lần nữa B-52 đã ném bom ngay trước khi bình minh. Họ phá huỷ một MiG-17 trên mặt đất và không có chiếc MiG nào tới gần chống lại họ; họ bỏ lại 17 hố bom trên đường băng. Bắc Việt phóng một lượng lớn SAM nhưng kết quả thì ít ỏi.
Các tham mưu trưởng liên quân đã vạch kế hoạch ở Hawaii một cuộc tập kích không kích thứ ba, ba ngày sau cuộc thứ hai. Lần này những mục tiêu sẽ là Hải Phòng và Hà Nội. Đề xuất tăng quy mô tập kích lên 40 chiếc B-52, tuy thế, việc đưa mười tám chiếc B-52 đánh phá kho dầu tại Hải Phòng trước khi bình minh kéo theo hơn một trăm máy bay không quân và hải quân tấn công những mục tiêu Hải Phòng và Hà Nội vào ban ngày. Thậm chí lực lượng B-52 tuy đã được cắt giảm, cũng là khá nhiều đối với Abrams, người phản đối đưa B-52 ra khỏi Nam Việt nam trong khi An Lộc dưới nhiều sức ép. Khi nhận bức thông điệp của Abrams, Nixon tỏ ra bối rối bởi vì ông ngờ rằng cuộc chiến ở An Lộc xấu đi, người ta đổ lỗi cho ông việc chuyển B-52 ra ném bom Bắc Việt nam. Kissinger, người từng ủng hộ tập kích, bây giờ suy nghĩ khác. Nhưng Moorer chỉ ra rằng những B-52 đã sẵn sàng xung trận và sẽ phải thả bom xuống Vịnh Bắc Bộ. Nixon quyết định cho phép phi vụ tiến hành theo dự định.
Một B-52 bỏ cuộc do hỏng máy, nhưng 17 chiếc còn lại thả bom trước khi bình minh ngày chủ nhật 16-4-1972, và phá huỷ hoặc làm hư hỏng hơn 30 téc xăng tại Hải Phòng. Dù không thả nhiễu kim loại tạo thành đường, hơn một trăm SAM đã bắn trượt B-52 và phần lớn số máy bay hộ tống. Nhưng một tên lửa bắn rơi một chiếc F-105 “Con chồn hoang” dù nó được bảo vệ bằng máy bay F-4 thả nhiễu kim loại. Sau khi nghỉ một ngày, hải quân mất một chiếc A-7 khi đánh phá những kho hàng ở Hải Phòng.
Cuộc tập kích của những F-4 vào một kho dầu gần Hà Nội đã không bị mất chiếc nào, và hỗ trợ cho những F-4 tuần tra trên không thậm chí bắn rơi ba MiG-21. Tướng Vogt vẫn không hoàn toàn hài lòng với công việc ngày hôm đó. Một số lúng túng của ông xuất phát từ vai trò toàn cục của chính ông trong kế hoạch được vạch ra phần nhiều ở Hawaii do một toán hỗn hợp dưới sự lãnh đạo của một đô đốc và một đại tá từ Bộ tư lệnh không quân chiến lược. Vì kho dầu Hà nội nhỏ hơn nhiều kho dầu Hải Phòng và vì 17 chiếc B-52 có thể ném tổng cộng số bom gấp 10 số bom của 32 chiếc F-4, cuộc tập kích F-4 của Vogt cũng chẳng hoành tráng - dù cho những F-4 được khen vì tỷ lệ phá huỷ cao. Lúc đó, Vogt khoác lác rằng cuộc tập kích bằng F-4 này là “một trong những cuộc tập kích tốt nhất chưa từng có” ở khu vực Hà nội. Nhưng ông bực mình vì hoàn toàn không trúng mục tiêu; chúng có khả năng làm thương vong dân thường và thúc Washington phải đặt ra giới hạn những mục tiêu quan trọng. Vogt trở nên càng muốn sử dụng tối đa bom dẫn đường.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #98 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:31:56 pm »

Bất cứ thứ gì mà Vogt làm, lần đầu tiên kể từ khi cuộc tổng tấn công Lễ phục sinh, tổng thống không thất vọng. “Tốt”, Nixon nói với Tham mưu trưởng, “chúng ta sẵn sàng bỏ lại thẻ gọi điện thoại tuần này”. Nhìn vào sự đánh giá này, những cuộc tập kích của B-52 ở Bắc Việt Nam bị giới hạn để tiếp tục trong một lúc nào đó lâu hơn. Khoảng một tuần sau, lần không kích ngày 21-4 và 23-4 dùng gần 40 lượt xuất kích B-52 đánh phá những kho hàng gần Thanh Hoá. Đa số xuất kích theo kế hoạch những mục tiêu khác ở Thanh Hoá, như chiếc cầu nổi tiếng từng đứng vững trước khá nhiều cuộc tấn công trong Sấm Rền, đã bị huỷ bỏ do thời tiết xấu. Chiếc B-52 được hộ tống thường lệ là những F-4 và F-105 “Những con chồn hoang”, nhưng lần đầu tiên bay trên Bắc Việt Nam một chiếc B-52 bị thương do trúng SAM. Chiếc máy bay bị thương này còn kịp ném hết bom và hạ cánh xuống Đà Nẵng với ba trong số tám động cơ bị ngừng. Đây là chiếc máy bay B-52 thứ hai bị thương trong chiến đấu, chiếc thứ nhất trúng SAM ba tuần trước đó gần Quảng Trị, Nam Việt nam.
Những cuộc tập kích Thanh Hoá nhằm để tăng sức mạnh của Henry Kissinger trong chuyến thăm Moscow từ 20 đến 24-4. Trong khi chủ trương không kích nam vĩ tuyến 20, Kissinger thúc ép tổng thống không ném bom trở lại gần Hà Nội và Hải Phòng ít nhất cho đến khi Kissinger đàm phán với Liên Xô ở Moscow và Bắc Việt ở Paris, nơi ông có kế hoạch gặp Lê Đức Thọ ngày 2-5-1972. Kissinger hy vọng đạt được “cuộc gặp thượng đỉnh” cho Nixon ở Moscow, vào cuối tháng 5 Nixon sẽ ký hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược. Nhưng Nixon nghĩ rằng việc đe doạ ngừng cuộc gặp thượng đỉnh có thể thuyết phục Liên Xô gây sức ép lên Bắc Việt Nam. Trong chuyến đi thăm Moscow tháng 4-1972, Kissinger phớt lờ những chỉ thị của Nixon.
Trước thời gian Kissinger gặp Lê Đức Thọ, Bắc Việt chiếm được thành phố Quảng Trị và không có ý thương lượng. Kissinger trở lại Washington mà không có một luận cứ ngoại giao mạnh chống lại mong muốn của Nixon dùng B-52 chống lại Hà Nội. Kissinger quay lại sự lựa chọn quân sự mà lần đầu tiên ông từng cân nhắc năm 1969 - thả mìn các cảng Bắc Việt và ngăn chặn đường vận tải bằng không kích. Những cố gắng của Sấm Rền ngăn chặn những con đường giao thông từ Bắc Việt Nam vào Lào và Nam Việt nam đã bỏ lại Hải Phòng và các cảng của Bắc Việt nam tự do nhập khẩu hàng hoá từ Liên Xô, Trung Quốc, và các nước khác. Cảng Sihanoukville (Campuchia) cũng là nơi vận tải tiếp liệu cho lực lượng cộng sản ở Nam Việt nam cho tới khi chính quyền Lon Nol đóng cửa nó năm 1970. Sự xâm lược của Bắc Việt nam đối với Nam Việt nam cần một lượng lớn đạn dược và tiếp liệu khác, Kissinger thấy khả năng lớn trong việc ngăn chặn cùng một lúc vận tải trên biển và trên bộ.
“Sự hoà dịu” Nixon đã tạo ra đủ để Liên Xô và Trung Quốc không làm ông phải sợ hãi như Johnson lo rằng hai nước này can thiệp quân sự. Nixon có cuộc gặp thượng đỉnh ở Bắc Kinh vào tháng 2-1972. Liên Xô có thể không từ bỏ cuộc gặp thượng đỉnh vào tháng 5, nhưng họ không có có xu hướng làm gì về mặt quân sự hơn là tái cung cấp cho Bắc Việt nam - việc này có thể bị gây khó khăn do thả mìn những hải cảng. Liên Xô sau này buộc phải vận chuyển hàng tiếp liệu qua một quốc gia ít thân thiện là Trung Quốc, nếu Trung Quốc cho phép. Nixon rất thích sự táo bạo của đề xuất, và sau một thời gian làm rối trí trong việc đưa B-52 ném bom trở lại. Ngày 4-5-1972, ông huỷ bỏ kế hoạch tập kích B-52 và máy bay chiến đấu vào Hà Nội và Hải Phòng dự kiến vào tháng 5, 6 và 7-1972.
Nixon muốn làm một việc chắc chắn rằng hành động của ông ở Việt nam tương phản rõ ràng với người tiền nhiệm. Cựu tổng thống Johnson đóng góp trực tiếp cho quyết tâm của Nhà Trắng, nói rằng những sai lầm của ông là hậu quả của việc nghe những lời khuyên chống lại bản năng của chính ông. Nixon nói với những phụ tá thân cận của ông rằng ông có kinh nghiệm những vấn đề như thế. Khi Bắc Triều Tiên bắn rơi chiếc máy bay EC-121 năm 1969, ông suýt nữa theo bản năng của mình ném bom Bắc Triều Tiên. Khi ông đưa lính Mỹ vào Campuchia năm 1970, ông suýt nữa theo bản năng của mình mở một chiến dịch ném bom toàn diện Bắc Việt nam thay vì một số ít lượt xuất kích sau đó. “Nếu chúng ta làm điều này khi đó, thì cuộc chiến tranh chết tiệt này không còn đến bây giờ”.
Ôm chặt ý định thả mìn và đánh chặn, Nixon rất bí mật tiến hành công việc chuẩn bị. Trước lúc Nixon cho phép Hội đồng an ninh quốc gia thảo luận đề xuất ngày 8-5, thì ông đã sẵn sàng quyết định từ trước. Tuy thế, ông vượt qua những kiến nghị nghe những lời chỉ trích. Đúng như ông đoán, Bộ trưởng quốc phòng Laird phản đối kế hoạch, và Laird được CIA ủng hộ ở phe đối lập. Họ đã tranh luận rằng Bắc Việt có thừa đủ đủ kho dự trữ hàng tiếp liệu cho tổng tấn công và trong bất kỳ trường hợp nào không lực Mỹ cũng thất bại ngăn chặn những con đường từ Trung Quốc đến Bắc Việt Nam. Kissinger sau này nói trong hồi ký của mình về sự đồng ý của ông lúc đó rằng hiệu quả chiến dịch ném bom đến khá chậm để ngăn Bắc Việt tổng tấn công: “Tôi đồng ý, nhưng tôi lo lắng với những hành động của Hà nội sau khi tổng tấn công”.
Bốn ngày trước cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia, Nixon gọi đô đốc Moorer vào phòng riêng trong toà nhà văn phòng điều hành cổ để nhận quan điểm của chủ tịch hội đồng và cho ông biết kế hoạch theo cách lặng lẽ. Moorer cam đoan với tổng thống rằng chính Moorer đã từng vạch kế hoạch hành quân như thế tám năm trước khi ông chỉ huy hạm đội 7 và rằng những chuẩn bị cần thiết có thể được làm mà báo chí chẳng biết được một tý gì hết về việc này. Moorer nói là làm. Khi Nixon phát biểu trên truyền hình buổi chiều 8-5-1972 rằng một chiến dịch mới đang thực hiện, ông gây cho dân Mỹ và Bắc Việt nam ngạc nhiên.
Tướng Abrams, tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn, nằm trong số những người Mỹ ngạc nhiên bởi việc thả mìn Hải Phòng. Bất ngờ hải quân rút bỏ sự yểm trợ hoả lực đối với những chiến dịch trên bộ theo dự kiến tại Nam Việt nam. Mối quan hệ giữa Abrams và đô đốc John McCain - tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, ở Honolulu, luôn căng thẳng. Lần này Abrams phàn nàn chua chát với trợ lý bộ trưởng quốc phòng đang ở thăm về sự thiếu hợp tác của hải quân, biết rằng những tàu hải quân đã được kéo đi để hỗ trợ thả mìn Hải Phòng. Điều này là tín hiệu rõ ràng nhất rằng Abrams mất lòng tin của chính quyền. Ít nhất ông cũng chẳng ngày nào còn phải tranh luận chống lại việc điều chuyển B-52 từ những mục tiêu ở Nam Việt nam sang không kích Bắc Việt Nam. Trong một lúc nào đó công việc này nên tốt nhất là giao cho máy bay chiến đấu.
***
Khi tổng thống Nixon xuất hiện trên truyền hình quốc gia để nói với đồng bào của mình về việc thả mìn các hải cảng Bắc Việt nam, lúc đó là 9 giờ tối ngày 8-5-1972. Ở Hải Phòng lúc đó là chín giờ sáng ngày 9-5-1972.
Trong lúc Nixon phát biểu, máy bay A-6 từ tàu sân bay Coral Sea thả thuỷ lôi xuống con kênh hẹp nối cảng Hải Phòng với Vịnh Bắc Bộ. Như Nixon giải thích, thuỷ lôi sẽ chưa bị kích hoạt trong vòng ba ngày, trong lúc đó có 28 tàu nước ngoài ở cảng Hải Phòng có thể tự do nhổ neo. Điều làm cho họ không rời được cảng Hải Phòng té ra là do Bắc Việt nam chối đưa tàu lai dắt khi nào những tàu này chưa dỡ xong hàng. Họ vẫn còn ở đó cho tới năm sau. Tại sao Bắc Việt không đưa tàu rà mìn vào kênh, đô đốc Moorer khẳng định rằng đây là những thuỷ lôi nổ theo từ tính; chính hải quân Mỹ đã rà phá mìn khi kết thúc chiến tranh.
Một ngày sau khi thả mìn cảng Hải Phòng, bắt đầu một chiến dịch đánh phá đường bộ từ biên giới Trung Quốc qua Bắc Việt Nam. Trong tháng 4, máy bay chiến thuật không quân và hải quân xuất kích hai nghìn lượt tấn công Bắc Việt nam, một số đánh phá vùng cán xoong trong một chiến dịch gọi là “tàu hoả tự do”; máy bay chiến thuật cũng phối hợp với B-52 tấn công một số mục tiêu bắc vĩ tuyến 19. Giờ đây B-52 được rút ra khỏi Bắc Việt nam, và khi họ trở lại vào tháng sáu, thì nó chỉ hoạt động ở vùng cán xoong. Số lượt xuất kích tấn công Bắc Việt nam, mặt khác, tăng gấp ba lần lên đến sáu nghìn lượt một tháng - bao gồm khoảng một nghìn trong gói mục tiêu 6.
Mặc dù những đợt không kích đầu tiên ngày 10-5-1972, đã bay dưới tên gọi cũ “Sấm Rền”, nhưng chiến dịch mới này được gọi là “Linebacker”.
Tên gọi của chiến dịch thường xuất phát ngẫu nhiên từ những danh sách chấp thuận và không có ý nghĩa nào khác, nhưng “Sấm Rền” và “Linebacker” hình như có nhiều sự lựa chọn hơn. Cái tên “Sấm Rền” đã truyền đạt chính sách leo thang của chiến dịch này, “Linebacker” là thuật ngữ bóng đá gợi ý bản chất phòng vệ của chiến dịch mới. Có lẽ đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà nhiều phi công là những cổ động viên bóng đá giống như tổng thống của họ; Người ta biết rằng Nixon thậm chí so sánh đường lối quốc tế với môn thể thao mà ông ưa thích. Chiến dịch ném bom cố gắng ngăn chặn đường tiếp liệu của Việt nam. Sấm Rền cũng từng là một chiến dịch đánh chặn quy mô lớn. Tại sao Linebacker lại thành công hơn? Người đề xướng ra chiến dịch Linebacker nhìn thấy sự thật là lực lượng bộ binh lớn của Bắc Việt nam lần đầu tiên xài nhanh đạn dược và tiếp liệu tại Nam Việt nam, trong lúc Nixon đi nước cờ táo bạo để đóng cửa các cảng Bắc Việt nam. Một yếu tố hy vọng khác trong phương trình mới này là bom dẫn bằng laser.
“Laser” là từ viết tắt của “ánh sáng được khuyếch đại bởi sự phát bức xạ đồng thời”. Chùm tia ánh sáng mạnh này ra đời lần đầu tiên tại Hughes năm 1960. Những nhà khoa học quân sự tại Huntsville, Alabama, bắt đầu khai thác những ưu thế của tia laser để dẫn đường cho tên lửa. Dựa vào chùm tia laser mạnh, họ giảm được trọng lượng của một máy phát laser đủ cho máy bay chở được. Chùm tia laser có thể định rõ (hoặc “chiếu sáng”) mục tiêu một cách hoàn toàn để một tên lửa gắn đầu thu laser bắn trúng. Khi nguồn tiền chi cho nghiên cứu laser bị cạn năm 1965, nhóm nghiên cứu ở Huntsville đưa ý tưởng của họ tới Bộ tư lệnh hệ thống không quân Mỹ. Đại tá Joseph Davis tại căn cứ không quân Eglin chuyển những nỗ lực này từ tên lửa sang bom rơi tự do. Một F-4 có thể dễ dàng chở một máy định hướng laser gắn với người vận hành hệ thống vũ khí ở ghế sau, trong lúc bộ đầu dò bằng laser gồm những bộ cảm biến gắn vào bom sẵn sàng thu nhận tín hiệu. Davis ủng hộ hoàn tất những đề xuất sản xuất đầu dò bằng laser từ một vài hãng; Texas Instruments và North American Aviation tham gia thi đua. Những cuộc thử nguyên mẫu năm 1966 cho thấy thiết kế của Texas Instruments rẻ hơn.
Dù áp dụng dễ dàng thiết bị dẫn đường bằng laser cho bom 750 cân Anh, thì việc thử ở Đông Nam Á trong mùa hè năm 1968 càng tăng sức thuyết phục rằng bom 2.000 cân Anh cũng có thể làm được như vậy. Bom dẫn bằng laser rõ ràng đắt tiền hơn bom thường, và không quân Mỹ muốn có cú đấm đủ mạnh để cắt cầu nó. Sau một thời gian ngắn sử dụng ở vùng cán xoong Bắc Việt, Sấm Rền kết thúc có nghĩa là trong ba năm, bom laser được dùng phần lớn ở Lào, nơi có ít mục tiêu tốt. Phá huỷ những chiếc cầu nhỏ và xuyên qua cửa hang là những nhiệm vụ thích hợp nhất ở đây, nhưng chọc thủng những con đường lầy lội vẫn phổ biến hơn.
Thậm chí Nhà Trắng từng cho phép những cuộc tập kích vào vùng Hà nội-Hải Phòng trong những năm “phản ứng tự vệ”, nhưng bom dẫn bằng laser vẫn không được sử dụng. vấn đề này không những chỉ đơn thuần bom dẫn đường bằng laser đòi hỏi thời tiết tương đối trong trẻo để hoạt động, mà còn ở chỗ không quân Mỹ vẫn còn chưa làm thế nào để định vị mục tiêu mà không phải phơi những máy bay phát tia laser ở độ cao nguy hiểm dễ bị lực lượng phòng không mạnh của địch bắn rơi. Vì mục tiêu phải được chiếu liên tục suốt thời gian bom lao xuống, nên máy bay chiếu tia laser phải bay theo quỹ đạo trên đầu mục tiêu cho đến khi tất cả bom được một trong những máy bay F-4 thả xuống hết. Mặc dù chỉ có một chiếc F-4 được thả bom dẫn bằng laser, phòng không cộng sản tại Lào và Nam Việt nam là quá yếu cho những máy bay AC-130, C-130, và OV-10 cũng như những F-4 bay theo quỹ đạo để chiếu tia laser.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #99 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:34:00 pm »

Những F-4 có thể dùng cùng một quỹ đạo bay chiến thuật chiếu tia laser tại vùng cán xoong Bắc Việt Nam, nhưng thả bom dẫn bằng laser trong khu vực phòng không mạnh gần Hà Nội và Hải Phòng đòi hỏi công nghệ định vị mới. May mắn, trước mùa xuân 1972, Tập đoàn không quân số 7 có một cái mấu ở cánh treo máy laser định vị mục tiêu trong khi bay lượn - cho phép máy bay chiếu vào mục tiêu bằng cách xoay chuyển một cách độc lập với những thao tác F-4; chiếc máy bay F-4 định vị tia laser không phải bay theo quỹ đạo và bản thân nó có thể ném bom. Không may, Tập đoàn không quân số 7 chỉ có sáu chiếc “Pave Knife” và không có triển vọng nhận thêm những chiếc mới vào mùa hè ấy.
Do vậy tướng Vogt bố trí phần tham gia của không quân trong Linebacker sử dụng tối đa sáu chiếc “Pave Knife” dành riêng cho chúng. Điều này có nghĩ phải hộ tống chúng bằng những đội hình lớn giống như đội hình ông đã sử dụng cho B-52 vào tháng 4 vừa rồi. Trước tiên, tám chiếc F-105 “Những con chồn hoang” dẫn đầu, nhưng những chiếc sau phải phối hợp với những F-4 ở toán săn MiG, vì những tên lửa chống radar của F-105 chỉ tấn công radar mà không tấn công bệ phóng SAM; nên những F-4 mang bom bi CBU-52, loại bom gây thiệt hại cho thiết bị, máy móc mạnh hơn loại bom bi CBU-24 để sát thương người trong Sấm Rền. Thông thường, lực lượng máy bay thả nhiễu kim loại dưới 20 chiếc F-4 cho B-52 - thông thường tám chiếc F-4 thả nhiễu kim loại, nhưng đôi khi phải lên đến mười sáu chiếc. Thoạt đầu chúng chỉ là những máy bay không cần hộ tống, nhưng khi MiG trở nên hoạt động tích cực và thành thục hơn, thì phải thêm tám chiếc F-4 khác để hộ tống F-4 thả nhiễu kim loại. Lực lượng không kích hiếm khi quá tám chiếc F-4, bởi vì khói bụi tung lên do bom nổ ngay lập tức làm nhiễu bộ dẫn đường bằng laser của những máy bay sau. Lực lượng không kích có sự hộ tống sát sườn gồm tám F-4, không tính đến một tá máy bay khác hoặc một số lượng nhiều hơn nữa F-4 bay tuần tra bên ngoài. Lúc khởi đầu Linebacker, máy bay hỗ trợ đông hơn máy bay tấn công theo tỷ lệ hơn 3/1; đầu mùa hè, tỷ lệ này vượt 5/1, và chưa tính đến máy bay hỗ trợ từ xa, chẳng hạn EB-66 (gây nhiễu), EC-121 (cảnh báo MiG), và KC-135 (tiếp dầu).
Những gói không kích lớn của Vogt dành bốn “Pave Knife” suốt chiến dịch. Chỉ hai máy bay mang máy định vị laser “Pave Knife” bị bắn rơi, cả hai đều vào tháng 7 - chiếc đầu tiên là F-4 mang “Pave Knife” bị tên lửa SAM bắn rơi và chiếc thứ hai là F-4 bốc lửa và nổ lốp khi cất cánh. Vogt chống lại Washington và Hawaii gây sức ép tăng số lượng máy bay ném bom phải trả giá đắt cho hộ tống. Chỉ khi thời tiết bắt đầu xấu đi vào tháng 8 và tháng 9, ông cho phép dùng nhiều bom không đẫn đường trong gói mục tiêu 6 với một lượng nhỏ hộ tống. Thậm chí sau khi tổng số lượt xuất kích của không quân, hải quân và thuỷ quân lục chiến không vượt quá con số hai trăm hàng ngày bằng lúc bắt đầu Linebacker; chiếm khoảng một phần ba khả năng huy động được số lượt xuất kích ở Đông Nam Á. Trước cuối mùa hè, các máy bay đã phối hợp tại vùng cán xoong Bắc Việt Nam với khoảng 20 lượt xuất kích B-52 hàng ngày (một phần năm khả năng huy động).
Từ khi bắt đầu Linebacker, hai trăm lượt xuất kích một ngày đối với Bắc Việt Nam hình như là khá ít cho tổng thống Nixon. “Tôi đang lo âu bởi kế hoạch quân sự chỉ có 200 lượt xuất kích đối với Bắc Việt Nam là ảm đạm, cái đó là đặc trưng của việc ném bom dưới thời chính quyền Johnson…” ông viết cho Kissinger vào tháng 5. Nixon nhấn mạnh rằng Mỹ có đủ sức mạnh đánh tan “khả năng gây chiến” của Bắc Việt nam, và rằng chỉ có vấn đề là liệu chính quyền có dám sử dụng sức mạnh này hay không. “Điều làm khác biệt tôi với Johnson - ông tuyên bố - đó là điều tôi đã dám nói toạc ra”.
Nhưng Nixon không đơn giản ra lệnh cho giới quân sự tăng thêm nỗ lực đối với Bắc Việt nam. Ông chỉ thị Kissinger bắt giới quân sự và Hội đồng an ninh quốc gia tham mưu đưa ra “một số ý tưởng của chính họ”. Kết quả của chỉ thị này là vạch kế hoạch trong mùa hè đưa B-52 ném bom Hà Nội. Trong thời gian ấy, tình hình chiến sự ở Nam Việt nam được cải thiện vững chắc đã làm Nixon giảm bớt khăng khăng làm một cái gì đó quyết liệt hơn ở Bắc Việt nam.
Tuy thế, tướng Vogt tiếp tục phải nghe đô đốc McCain ở Hawaii tăng cường lượt xuất kích đối với Bắc Việt nam, đặc biệt gói mục tiêu 6. Do Vogt nhấn mạnh đến ném bom dẫn bằng laser, cuộc chiến tranh của không quân ở Bắc Việt Nam năm 1972 hình như khác nhiều so với hải quân. Số lượt xuất kích ném bom Bắc Việt nam của hải quân nhiều gấp khoảng hai lần so với không quân, và số lượt xuất kích của hải quân phân bố chống lại nhiều mục tiêu hơn. Không những kế hoạch của hải quân tấn công nhiều hơn mục tiêu cố định mỗi ngày (thường bốn hoặc năm trong khi không quân Mỹ chỉ một hoặc hai), nhưng số lượt xuất kích trinh sát vũ trang của hải quân thường tấn công một tá hoặc nhiều hơn những mục tiêu cố định ở gói mục tiêu 6.
Vogt hạn chế trinh sát vũ trang của không quân ở Bắc Việt Nam hầu như hoàn toàn đối với gói mục tiêu 1, nơi có ít mục tiêu cố địuh và bom dẫn bằng laser cũng đóng một vai trò quan trọng chống lại pháo binh và xe tăng (hai thứ này bị công kích bằng bom dẫn bằng laser tại Nam Việt nam, nơi Tập đoàn không quân số 7 ném khoảng nửa số bom dẫn bằng laser). Trong gói mục tiêu 1 và Nam Việt nam, Vogt có thể dùng hệ thống dẫn đường laser cũ hơn với máy bay định vị bay trên mục tiêu. Sự nhấn mạnh về bom dẫn đường không được chia sẻ với hải quân, hải quân ném dưới năm trăm quả bom dẫn bằng laser và dẫn bằng truyền hình xuống Bắc Việt nam trong khi Tập đoàn không quân số 7 ném xuống chừng bốn nghìn quả.
Vogt khăng khăng ném bom dẫn bằng laser bởi vì gây được những kết quả đáng chú ý về độ chính xác hơn ném bom trước đây. Ông có thể tính được từng phi vụ phá huỷ mục tiêu của nó trừ thời tiết nhiều mây. Tuy vậy, Tập đoàn không quân số 7 đã ngừng sử dụng bom dẫn bằng truyền hình trong gói mục tiêu 6, thậm chí mặc dù cả hải quân và không quân Mỹ đã phát triển một loại bom nặng hơn 2.000 cân Anh (và như thế đã bù lại thiếu hụt bom Walleye của hải quân trong Sấm Rền). Trong khi những tổ lái F-4 không kích có hiệu quả bằng bom dẫn bằng laser từ độ cao tầm trung trên mười nghìn feet, thì việc có được độ tương phản đày đủ để “khoá” những quả bom dẫn bằng truyền hình khá đắt tiền đòi hỏi họ phải bay thấp hơn vào phòng không địch.
Dẫn đường bằng laser không phải không có trở ngại riêng của nó. Tại khu vực nguy hiểm cao nó không thể được dùng về ban đêm vì những bộ cảm biến ban đêm trên F-4 yếu và phải dựa vào tổ lái nhìn thấy mục tiêu bằng mắt thường. Không những mây cản trở định vị mục tiêu, mà việc mây bay qua cũng có thể làm nhiễu laser suốt thời gian bom đang rơi. Khói và bụi có thể làm cho bom bị mù. Tất nhiên Bắc Việt cũng cố gắng làm tăng thêm vấn đề này bằng cách thả khói, nhưng thường một cơn gió nhẹ không đủ làm quang quẻ mục tiêu đủ lâu đẻ bom rơi trúng. Sau khi một vài quá trúng mục tiêu tạo ra bụi và khói có thể làm cho những quả bom sau bị trượt.
Sự thiếu hụt hệ thống dẫn đường bằng laser buộc Tập đoàn không quân số 7 tập trung đa số chúng ở phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 tại sân bay Ubon (Thái Lan).
Phi đoàn này đã làm tất cả các vụ ném bom dẫn bằng laser của không quân trong gói mục tiêu 5 và 6 và cũng như phần lớn bom ném trong gói mục tiêu 1 và Nam Việt nam. Trong Sấm Rền, phi đoàn số 8 mệnh danh là “sát thủ MiG” và đặc biệt trong những chiến dịch không chiến, khi những F-105 tại Takhli và Korat phải vứt bỏ đa số số bom. Trong thời kỳ “phản ứng tự vệ”, phi đội số 555 “Bộ ba Nickel” nổi tiếng và những trận không chiến đã chuyển sang phi đoàn trinh sát chiến thuật 432 (được hỗ trợ bởi phi đoàn 366 và phi đoàn 388). Dưới sự chỉ huy của đại tá Carl Miller, phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 trong Linebacker kiếm được một biệt danh mới “Chiếc cầu Busters”. Miller đã lái F-84 trong chiến tranh Triều Tiên và F-100 ở Nam Việt nam ngay từ đầu 1967. Ông từng đích thân dẫn đầu nhiều phi vụ ném bom dẫn bằng laser vào Bắc Việt Nam.
Miller không tập trung vào ném bom dẫn đường đơn độc. Vào tháng 4 các phi đội gồm 4 chiếc F-4 của ông đã tạo ra một cái buồng cho hai phi đội gồm hai F-4 của căn cứ không quân Seymour Johnson, Bắc Carolina. Hai phi đội có nhiệm vụ tạm thời này kết hợp với AC-130 hỗ trợ bộ binh Nam Việt nam, cũng như những phi vụ tại Lào và Campuchia. Bốn phi đội F-4 của Miller có những nhiệm vụ khác ngoài việc ném bom dẫn đường. Họ thả nhiễu kim loại cho B-52 và cho máy bay ném bom của chính họ, và họ cung cấp kiểm soát trên không trong gói mục tiêu 1, cả ngày lẫn đêm. Để thực hiện nhiều chức năng này, Miller có một căn cứ đông nghịt với khoảng một trăm F-4 và một tá AC-130.
Như biệt danh của họ “Chiếc cầu Busters” được thử thách, đây là ném bom dẫn đường cho những tổ lái phi đội máy bay chiến thuật số 8 nổi tiếng nhất năm 1972, và những mục tiêu chính của họ là những chiếc cầu. Sự phát triển của bom dẫn đường gắn chặt với ném bom cầu cống kể từ thế chiến II. Trong khi những chiếc cầu giống như những chiếc cầu bắc qua sông Seine ở Pháp bị cắt đứt bởi bom không dẫn đường, các phi công phải khá nguy hiểm bay ở tầm thấp để ném trúng cầu. Trước khi kết thúc cuộc chiến tranh, tuy thế, không quân của lục quân Mỹ đã phát triển thiết bị dẫn đường cho bom bằng vô tuyến có thể gắn vào bom 1.000 cân Anh và 2.000 cân Anh. Những quả bom chính xác sơ khai có thể được dẫn chỉ theo đường cong, không phải tầm xa. Mặc dù máy bay B-24 thả chúng có thể đứng ở độ cao tám nghìn feet, nhưng nó phải vẫn nằm trên đầu mục tiêu trong khi các phi công cố gắng dẫn bom bằng mọi cách. Những quả bom như thế chỉ được dùng ở Miến điện, nơi mà phòng không tương đối yếu và ở đó chừng năm trăm bom dẫn đường bằng vô tuyến đã thành công phá huỷ được hơn 20 chiếc cầu.
Trong chiến tranh Triều Tiên, không quân Mỹ sử dụng bom dẫn đường bằng vô tuyến được cải tiến. Việc đưa thêm điều khiển, tuy có chút ít cải thiện độ chính xác của bom dẫn đường bằng vô tuyến và cũng chẳng giảm bớt nhược điểm máy bay ném bom. Trong khi những phi công B-29 có thể phán đoán đường cong chính xác, họ gặp khó khăn điều chỉnh tầm xa. Ở Triều Tiên, việc bom dẫn đường 1.000 cân Anh chạm đúng chiếc cầu mà không đủ sức phá sập nó đã kích thích không quân Mỹ làm một loại bom 12.000 cân Anh. Khi nó trúng một chiếc cầu, quả bom lớn này phá huỷ nó, nhưng tổ lái tỏ ra bị mất tinh thần lúc bom nổ khi chạm đất; một máy bay bị thương khi bay sát ngôi nhà tại tầm thấp có thể bị thổi bay nếu nó cố gắng ném tống bom dẫn đường lớn.
Quay lại Bắc Việt nam, hải quân và không quân Mỹ thoạt đầu dùng bom dẫn đường khá nhẹ với một số chiếc cầu. Những tên lửa Bullpup của hải quân (không quân cũng dùng chúng) được làm từ bom dẫn đường bằng vô tuyến trong chiến tranh Triều Tiên có thêm một động cơ tên lửa, nhưng điều này không đem lại an toàn bởi vì máy bay phải ở đủ gần để phi công nhìn thấy được mục tiêu - và khói động cơ tên lửa giúp súng địch phán đoán vị trí máy bay. Bullpup 250 cân Anh có sức công phá nhỏ. Trong bất kỳ trường hợp nào, Bullpup không thể dùng để chống lại phòng không mạnh mẽ trải khắp Bắc Việt Nam. Bom Walleye của hải quân dẫn bằng truyền hình dùng đánh phá những chiếc cầu được bảo vệ tốt hơn, bởi vì nó cho phép máy bay rời khỏi khu vực sau khi khoá mục tiêu. Nhưng những mẫu bom Walleye trong Sấm Rền có sức công phá quá nhẹ (1.100 cân Anh với đầu đạn nổ 825 cân Anh) không đủ sức phá sập nhịp cầu của những chiếc cầu vững. Chiếc cầu khó nhai nhất ở Bắc Việt Nam là cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã (Thanh Hoá).
Chỉ hai nhịp cầu đặt trên một trụ bằng bê tông, chiếc cầu này mất 7 năm xây dựng và tới tận 1964 vẫn chưa xong. Bắc Việt quan tâm đặc biệt đến độ bền vững của cầu không những vì cầu có đường ray duy nhất của đường sắt Bắc-Nam song song với quốc lộ chính, mà còn bởi vì chính họ đã phá sập cầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ bố trí hai đầu máy xe lửa chứa đầy thuốc nổ đâm đầu vào nhau để phá cầu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM