Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:54:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bay đến Hà Nội và thoát về  (Đọc 93255 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #50 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:41:33 pm »

Bom bi làm giảm thiệt hại khi bổ nhào ném bom, nhưng nó ít tác dụng khi máy bay trên đường tới mục tiêu. Trước khi máy bay cường kích bổ nhào theo hướng mục tiêu, nỗi khiếp sợ nhất của họ là SAM, khoảng 20 dặm.
Việc sơ tán trận địa tên lửa có nghĩa là phi công phải bắt đầu để ý tới tên lửa ít nhất cách Hà nội 60 dặm. Trước 2-12-1966, sự đáp trả của Mỹ đối với SAM hình như mới tương xứng. Chỉ 34 máy bay bị rơi so với 11.000 tên lửa phóng lên.
Ngày 2-12, tuy thế, có tám máy bay Mỹ rơi, bao gồm 5 chiếc trúng SAM. Hải quân không rơi chiếc nào hôm đó khi ném bom xưởng sửa chữa ô tô Văn Điển ở ngoại vi Hà nội. Năm máy bay bị rơi khi tấn công kho dầu, không quân Mỹ mất bốn chiếc (bao gồm ba chiếc do SAM hạ) khi ném bom kho dầu Ha Gia gần sân bay Phúc Yên (25 dặm về phía tây bắc Hà nội). Tuy thế, SAM có ít ngày thành công như vậy trong năm sau, Mỹ đánh giá sự tỷ lệ thành công của SAM suy giảm, từ 30 lần phóng tới 50 lần phóng mới hạ được một máy bay Mỹ .
Yếu tố chính trong chiến đấu với SAM sau tháng 2-12-1966 là việc tăng thêm máy gây nhiễu. Không có máy bay nào bị SAM bắn rơi ngày 2-12 khi mang máy gây nhiễu. Vài tuần sau, có đủ máy gây nhiễu trang bị cho gần hết F-105 hoạt động ở vùng châu thổ sông Hồng. Trước giữa năm 1967, máy bay F-105 và F-4 mỗi cái mang hai máy gây nhiễu.
Máy bay chiến tranh điện tử EB-66 (chuyển đổi từ máy bay ném bom) buồng chứa bom dùng để chở máy phát lớn. Máy gây nhiễu công suất thấp có nhược điểm không đủ sức chống lại SAM: hai EB-66 bị SAM bắn rơi năm 1966, và chiếc EB-66 thứ ba bị rơi vào tháng 2-1967. Ngoài tầm của SAM, nhiễu EB-66 phát ra không đủ mạnh để che giấu những máy bay F-105 và F-4 khi họ gần Hà Nội. Bằng máy gây nhiễu, F-105 và F-4 tự cung cấp bức màn sương điện tử cho chính họ. Việc định vị một máy bay mang một hoặc hai máy gây nhiễu, tuy thế, vẫn chưa nguỵ trang bảo vệ đủ trừ khi máy bay bay theo đội hình với máy bay mang máy gây nhiễu khác. Việc phát nhiễu tương đối yếu là do máy đặt ở trong cánh máy bay, nhưng có lợi là điều chỉnh giới hạn trên không và dễ dàng chuyển máy gây nhiễu từ máy bay này sang máy bay kia.
Vào cuối năm 1966 và đầu năm 1967, các phi đoàn máy bay F-105 ở Thái Lan thí nghiệm những đội hình khác nhau để xem đội hình nào được bảo vệ tốt hơn.
Thực tế họ chọn những đội hình mỗi chuyến bay gồm bốn máy bay bên trong một cái hộp rộng một dặm và sâu một nghìn feet, để nhiễu phát ra tạo một khoảng rộng chắc chắn chống radar Bắc Việt nam; nếu một máy bay tản ra khá xa, thì từng máy bay hiện riêng rẽ tên màn hình radar địch.
Các hộp liên kết cùng nhau thành hộp lớn hơn để toàn bộ đội hình trở thành một khối giống nhau trên màn hình radar - gây khó khăn nhiều cho SAM, thật không may mắn, lại khó dự đoán trước MiG.
Trước khi máy gây nhiễu ra đời, có tranh luận trong việc làm thế nào tránh né để tránh SAM. Hải quân tránh sự cứng nhắc của không quân với đội hình mang máy gây nhiễu, vì những dụng cụ gây nhiễu trong khoang máy bay hải quân tạo ra những vị trí giả hơn là làm loá màn hình radar bằng nhiễu; trở ngại là ở chỗ đưa vào những mục giả như thế, máy bay hải quân cũng hiện lên trên màn hình radar địch. Hải quân điều chỉnh những đội hình của mình để sử dụng tốt nhất thiết bị đánh lừa và giữ đội hình đủ lỏng lẻo để chạy thoát.
Chiến thuật của không quân cũng chẳng phải là giống nhau, và các phi đoàn F-105 ở Thái Lan việc khai thác máy gây nhiễu theo cách khác nhau. Phi đoàn 388 tại Korat áp dụng nó nhanh hơn, trong lúc phi đoàn 355 tại Takhli lại nghi ngờ máy gây nhiễu và vẫn giữ chiến thuật cũ. Phi đoàn 355 tiếp tục bay vào vùng châu thổ ở độ cao 5 nghìn feet và ngóc lên khoảng 12 nghìn feet trước khi lao xuống mục tiêu.
Quy trình của phi đoàn 355, để tránh radar cần có sự bảo vệ về mặt địa lý, đặc biệt là vùng tây bắc Hà nội. Ở đây có tầm nhìn nhỏ do có những ngọn núi cao khoảng bốn nghìn feet cách Hà nội trong vòng 30 dặm. Những phi công F-105 lan truyền biệt danh mỉa mai “Núi Thần Sấm” (tức dãy Tam Đảo) với hiểu biết đáng yêu rằng dãy núi cứu họ, đây cũng là một nấm mộ đá chôn vùi nhiều đồng đội của họ. Rặng núi bắt phi đoàn 355 phải bay tại độ cao 5 nghìn feet. Tại độ cao ấy, máy bay có thể bay dưới những đám mây, phi công có thể nhìn thấy SAM phóng lên và bay lắt léo trước khi tên lửa đạt tốc độ tối đa. Vì máy gây nhiễu cũng làm nhiễu loạn thiết bị cảnh báo SAM đặt trên F-105, những phi công phi đoàn 355 thường tắt máy gây nhiễu của mình.
Dù có sự biện hộ bảo thủ như thế, phi đoàn 388 vẫn ôm chặt máy gây nhiễu và đề nghị họ bay ở tầm cao hơn. Thay vì tiếp cận mục tiêu tại 5 nghìn feet và ngóc lên khoảng 12 nghìn, phi đoàn 388 bay đến ở độ cao 12 nghìn feet và không cần vọt lên. Kỹ thuật giúp phi công nhiều thời gian tìm kiếm mục tiêu và giảm bớt sự đạn bắn trúng máy bay trước khi lao xuống. Việc thay thế sợi dây lỏng lẻo các phi đội bằng đội hình trong hộp hẹp đã đem toàn bộ đội hình tới mục tiêu nhanh hơn nhiều, đến mức các pháo thủ phải lựa chọn trong số họ. Nhưng vẫn còn vấn đề co cụm nếu máy bay không lượn vòng đủ nhanh. Việc lượn vòng theo hướng mục tiêu từ phía đội hình mang máy gây nhiễu cũng chứng minh là thoả đáng ít hơn so với đối với sự chính xác, vì chỉ chiếc máy bay bay đầu tiên dễ dàng giành được 45 độ bổ nhào ưa thích; ba chiếc còn lại phải bổ nhào không sâu (ít chính xác và nguy hiểm hơn) vì họ xa mục tiêu hơn.
Vì những lý do nói trên, phi đoàn 355 khăng khăng không thực hiện đội hình mang máy gây nhiễu trước khi bổ nhào. Nhưng cuối tháng 3-1967, phi đoàn 355 bắt đầu tiến vào tại độ cao 12 nghìn thời tiết tốt và leo cao tới 15 nghìn feet trước khi lao xuống. Phi đoàn 355 giữ lại sự thích hợp khi bay vào dưới trần bay thấp vì tránh SAM xuyên thủng những đám mây.
Sự khác nhau về độ cao theo hướng máy gây nhiễu ECM làm tăng sụ khác nhau trong từng trải chiến đấu. Vì Korat gần vùng cán xoong Bắc Việt nam cho những phi vụ không phải nạp dầu, phi đoàn 388 xuất kích nhiều hơn vào “những gói dễ dàng” hơn phi đoàn 355 tại Takhli cách 100 dặm về phía tây.
Sử dụng tiết kiệm máy bay tiếp dầu nghĩa là những F-105 tại Takhli luôn cần nạp dầu, thường được phái đến đồng bằng sông Hồng. Sự mất mát máy bay ở Takhli là lớn hơn, nhưng giới lãnh đạo của họ tin rằng phi đoàn này sẽ học được cách giữ thân cẩn thận. Mặc dù phi đoàn 355 là phi đoàn đầu tiên nhận máy gây nhiễu, nhưng ít gây ấn tượng với họ. Ấn tượng nhất là phi đoàn máy bay chiến thuật số 8, phi đoàn F-4 tại Ubon. Dùng máy gây nhiễu chống SAM cho phép F-4 bay ở độ cao cao hơn có thể phát hiện ra MiG dễ dàng hơn. Độ cao cao hơn cũng giúp F-4 tăng cường bảo vệ F-105. Tại tầm thấp, F-105 bay nhanh hơn những máy bay MiG, nhưng tại tầm cao chiếc cánh nhỏ của F-105 làm nó cơ động ít hơn MiG hoặc F-4(1).
______________________
(1) Phi đoàn không quân chiến thuật 355 không hoàn toàn chuyển đổi thành đội hình mang máy gây nhiễu ECM do phi đoàn không quân chiến thuật 388 áp dụng cho mãi tới tháng 8-1967, khi đại tá John C. Giraudo giữ chức tư lệnh chỉ huy. Trước khi nắm chức tư lệnh tại Takhli, Giraudo dừng chân tại Korat thăm một ông chủ cũ, chuẩn ướng William S. Chairsell, người sắp dời đi sau một năm chỉ huy phi đoàn 388. Giraudo rất quan tâm chiến thuật để làm giảm mất mát, vì ông từng bị bắn rơi và bị bắt làm tù binh trong cả thế chiến II và lẫn chiến tranh Triều Tiên. Không giống như Chairsell, bản thân Giraudo đã bay nhiều phi vụ vào Bắc Việt Nam. Xem bài trung tá Charles M. Heltsley phỏng vấn thiếu tướng John C. Giraudo, Treasure Island, Florida, 8-12 tháng 1-1985, AFHRA 1105191. Cách nhìn của Chairsell với phi đoàn 388, xem bộ phim của không lực Hoa Kỳ “There Is a Way” (nghĩa là cách chạy thoát khỏi một trăm phi vụ ở Bắc Việt nam). Đánh giá phi đoàn 355 trước thời Giraudo, xem cuốn sách nổi tiếng phó tư lệnh phi đoàn năm 1966-67, đại tá Jack Broughton (Dãy Tam Đảo và tiến đến khu buôn bán).
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #51 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:48:09 pm »

Khi F-105 tăng cường sử dụng máy gây nhiễu vào tháng 12-1966, những máy bay MiG của Bắc Việt nam trở nên xông xáo hơn dường như chúng đang cố thay thế SAM và nắm được thuận lợi những đội hình cứng nhắc mang máy gây nhiễu. Có lẽ không có mối quan hệ trực tiếp giữa máy gây nhiễu và MiG, vì MiG có lẽ chỉ đơn thuần chống lại những cuộc tấn công gần Hà nội, Hải Phòng, và Phúc Yên. Một giải thích khác là vòng huấn luyện phi công MiG, sự bí mật của họ xuất hiện một vài tháng.
Dù sao, hoạt động của MiG làm các quan chức ở Đông Nam Á và Washington lo ngại. Vào tháng 12, những máy bay MiG bắn rơi hai F-105 trong khi một MiG bị bắn hạ.
Trong ba ngày hoạt động mạnh, những máy bay MiG buộc 19 trong số 74 máy bay không kích phải vứt bỏ bom và, trong một vài trường hợp, vứt cả máy gây nhiễu.
Vấn đề máy bay MiG được mang ra thảo luận tại hội nghị những tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương tổ chức tại Philippines. Tướng Momyer và đại tá Robin Olds, tân tư lệnh phi đoàn F-4 tại Ubon, thảo luận với nhau trong bữa rượu cocktails. Cả hai ông từng là phi công giỏi trong thế chiến II, và cha Olds đã leo lên chức thiếu tướng trong không lực Hoa Kỳ trước khi hy sinh. Gạt ra một bên những từng trải họ chia sẻ, Momyer và Olds là rất khác nhau - một vị tướng thấp tính khổ hạnh tương phản với vị đại tá cao sôi nổi và vui vẻ. Giống như nhiều người, Olds chơi thể thao và có cơ bắp to, và việc ông cưới một diễn viên điện ảnh làm ông có danh tiếng hơn.
Cuộc nói chuyện của Olds với Momyer dẫn đến một chiến dịch giàu sức tưởng tượng mang mật danh Bolo (con dao Philippine), làm Bắc Việt có lẽ trả giá 7 trong số 115 máy bay MiG của họ. Vì không quân và hải quân không được phép tấn công những sân bay MiG, nên máy bay MiG có thể bị tiêu diệt bằng cách lôi họ vào không chiến. Đại tá Olds đã thành công thuyết phục Bắc Việt rằng những máy bay F-4 chuẩn bị không chiến là những F-105 nạp đầy bom, và “những F-105” này có ý định ném bom sân bay MiG lớn nhất Bắc Việt nam tại Phúc Yên.
Máy gây nhiễu đóng một vai trò quan trọng trong thủ đoạn này, vì từ xa chúng đã được F-105 sử dụng. Máy gây nhiễu giúp việc nguỵ trang F-4 cũng như F-105, và nếu Bắc Việt phóng SAM hơn là đưa MiG lên, thì F-4 có lợi do máy gây nhiễu bảo vệ. Số lượng máy gây nhiễu đủ xác định được tầm hoạt động của MiG: Cứ một máy trên một máy bay, thì 57 máy gây nhiễu cho phép 12 đợt bay gồm bốn F-4 thừa dự phòng. Olds dự kiến dùng 7 đợt của phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 và 5 từ phi đoàn 366 tại Đà Nẵng. Thêm vào một máy bay radar EC-121, một máy bay EB-66 trinh sát điện tử và gây nhiễu, tám F-104 để bảo vệ EB-66 và những F-4 trợ giúp khi cần, 24 chiếc F-105 để trấn áp SAM, và 25 máy bay KC-135 tiếp dầu cho máy bay trên đường tới Bắc Việt Nam và trở về căn cứ. Lực lượng được thiết kế giống như một trận đánh lớn khác thường, với những đội hình nhằm những sân bay MiG từ phía tây và phía đông cùng một lúc.
Hải quân và không quân đôi khi thu được hiệu quả qua những chiến dịch song hành. Trong trường hợp này, hải quân đồng ý rút lui, trong khi không quân Mỹ phái những F-4 của Ubon từ phía tây và những F-4 của Đà Nẵng từ phía đông.
Việc ngừng ném bom dịp Tết tạo đủ thời gian chuyển đổi máy gây nhiễu từ F-105 sang F-4 không gây ra thay đổi nhận thấy được trong máy bay F-105 ném bom thông thường.
Những máy bay C-130 chở máy gây nhiễu từ Takhli và Korat đến Ubon và Đà Nẵng - nhiều phi công F-105 bực mình vì không thể được biết cái gì đang làm.
Suốt đêm tết dương lịch, nhân viên bảo trì lắp máy gây nhiễu vào F-4. Các bộ phận được chở sang từ Hoa Kỳ, nhưng một phần vẫn phải ráp lại tại Thái Lan.
Đa số phi công cất cánh bay đầu giờ chiều ngày 2-2 thậm chí chưa hề nhìn thấy máy bay địch, đã nổ súng. Olds đã bắn rơi 13 máy bay phát xít Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai, và người phó của ông, đại tá Daniel “Chappie” James, Jr. (sau này lên tướng 4 sao không quân), từng chiến đấu trong chiến tranh Triều Tiên, thậm chí họ đã phải chạm trán với máy bay MiG của Bắc Việt nam. Mặc dù những F-4 thường tuần tra các khu vực rộng để tìm kiếm máy bay MiG, nhưng MiG vẫn làm nhiễu F-105 và tránh F-4(1).
Kế hoạnh tiến hành chiến dịch Bolo có thay đổi đáng kể. Lực lượng ở Đà Nẵng phán đoán thời tiết không thuận lợi và chỉ có một chuyến bay thâm nhập vùng châu thổ. Olds liều lĩnh quyết định dùng lực lượng của mình xuyên qua những đám mây dầy đặc. Ông dự định đi thấp dưới dãy núi Tam Đảo tại độ cao 5 nghìn feet, để có thể phần nào nhìn thấy SAM. Do những đám mây 7500 feet, ông ước chừng có lẽ không nên dưới những đám mây đó, và thế là bay tại độ cao 12 nghìn feet. Bay vào ở độ cao như vậy là bình thường, nhưng sự tin tưởng của ông vào máy gây nhiễu lại là khá táo bạo. Bốn SAM bay lên và trượt mục tiêu do lề rộng. Olds mong đợi máy bay MiG thách thức ông ngay khi ông bắt đầu xuống thấp dưới dãy núi Tam Đảo. Khi tốp dẫn đầu bay ngang qua Phúc Yên khoảng ba giờ chiều, thì những máy bay MiG vẫn chưa cất cánh. Sau đó có lẽ một tá MiG-21 bay lên; theo tin tình báo của Mỹ, Bắc Việt nam chỉ có 13 MiG-21. Một số máy bay trong số gần một trăm MiG-17 và MiG-15 cất cánh từ những sân bay phía đông Hà Nội. Những chiếc máy bay cũ, bay chậm không tham gia đánh chiến đấu ở tây bắc Hà nội.
Trận chiến trên vùng trời Phúc Yên kéo dài gần 15 phút, chỉ đủ thời gian cho một tốp đầu tiên 3 máy bay tiến vào trong khoảng thời gian 5 phút.
Không bị thiệt hại nào cả, những phi công F-4 nói là bắn rơi ít nhất 7 những máy bay MiG(2). Mười phút sau, tốp thứ hai bay tới, những máy bay MiG sống sót đã né tránh dưới những đám mây và hạ cánh. Nếu tất cả diễn ra theo kế hoạch, khoảng thời gian trống giữa các máy bay F-4 gây khó khăn cho MiG hạ cánh, buộc MiG phải chiến đấu hoặc hết dầu. MiG chỉ có thể bay khỏi phi trường của mình chừng một giờ; còn F-4, được nạp dầu khi bay vào và bay ra, có thể bay trên đầu Phúc Yên chừng 20 phút và chỉ 5 phút dùng thùng dầu phụ - kể từ đây khoảng cách 5 phút giữa các tốp. Những đám mây, đã che chở cho những F-4 cũng như F-105 cho đén phút cuối cùng, cũng lại giúp những MiG sống sót chạy thoát.
__________________________
(1) Trong thế chiến II, Olds phục vụ ở Nhóm máy bay 479 dưới quyền của trung tá Hubert “Hub” Zemke, người sau này là tư lệnh nổi tiếng của Nhóm máy bay 56, “Đàn sói Zemke”. Tại Đông Nam Á, phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 được gọi là “Đàn sói Olds”.
(2) Istvan Toperczer phát hiện rằng Bắc Việt chỉ mất 5 MiG-21 ngày hôm đó. Xem sách của ông Cuộc chiến tranh trên không chống Bắc Việt nam: Lực lượng không quân nhân dân Việt nam (Carrollton, Texas, 1998), p 17.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #52 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:59:07 pm »

Nhân dịp này, radar Bắc Việt Nam thử nghiệm một cải tiến, nhưng không phân biệt nổi giữa F-4 và F-105. Khi đó, những tên lửa Mỹ đã có chất lượng tốt hơn súng và tên lửa địch. Nếu máy bay MiG mang một tên lửa nào đấy, họ không bị bắn. Một mặt, thời gian đó F-4 không có súng. Việc Mỹ cực kỳ quan tâm đến sự chính xác của tên lửa được điều chỉnh hợp lý. Bốn MiG bị Sparrow - tên lửa dẫn bằng radar - bắn rơi và ba MiG - do Sidewinder tầm nhiệt. Olds và phi công phụ phụ trách radar, thiếu uý Charles C. Clifton, đã bắn rơi một MiG bằng một tên lửa Sidewinder. Ba chiến thắng nữa vào tháng 5 đưa Olds là sát thủ MiG tới tận 1972, khi không quân và hải quân có 5 sát thủ MiG (mỗi người bắn rơi ít nhất nhất 5 MiG).
Gần một tuần sau chiến dịch Bolo, hai F-4 trả vờ làm một máy bay trinh sát bằng cách bay sát nhau để họ chỉ là một điểm trên màn hình radar.
Thủ đoạn này hiệu nghiệm, và thêm hai MiG-21 bị bắn rơi mà không mất một F-4 nào cả. Nhưng MiG không hợp tác để lặp lại chiến dịch Bolo ngày 23-1. Olds tranh luận chống lại việc lặp lại Bolo, và ông không cầm đầu phi vụ. Những máy bay MiG nằm lại trên mặt đất và SAM vẫn phóng lên, một F-4 bị rơi.
Phi công MiG không phải là ngu ngốc. Khi sự tự tin trở lại, những máy bay MiG trở thành nguy hiểm hơn. Một lần F-4 yểm trợ những đội hình F-105. Khi một đội hình bị MiG quấy nhiễu, F-4 vứt bỏ bom và đuổi theo máy bay MiG. Sự đối phó hiệu quả nhất đối với những máy bay MiG kể từ khi chính quyền Johnson cho phép ném bom những sân bay MiG.
***
Đầu năm 1967, chính quyền Johnson thậm chí thả ra những mục tiêu bị trì hoãn vào tháng 11, cho phép ném bom những sân bay MiG. Ngày 22-2-1967, tổng thống chấp thuận một trong những mục tiêu bị trì hoãn - đó là khu gang thép Thái Nguyên.
Tướng Wheeler nghĩ ông thấy sự thay đổi lớn ở Johnson, hứa hẹn cho phép tấn công nhiều mục tiêu ở đồng bằng sông Hồng khi thời tiết tốt.
Wheeler nói với đô đốc Sharp rằng “chiều hướng mới cấp bách” này là do một số lượng lớn hàng tiếp vận từ Bắc Việt nam chảy vào nam trong thời gian ngừng bắn dịp Tết (từ 8 đến 13-2-1967). Tình báo Mỹ đánh giá hơn 20 nghìn tấn. Vì lệnh ngừng bắn không áp dụng với Lào, chỉ một số ít chuyển qua đường mòn Hồ Chí Minh. Phần lớn hàng tiếp vận được chở bằng tàu thuyền chạy dọc bờ biển theo hướng khu phi quân sự, mà phía bắc của nó Bắc Việt có hai sư đoàn, trong đó một phần ba đang trên đường. Theo Cục tình báo quân đội, 20 nghìn tấn hàng có thể nuôi ít nhất một sư đoàn Bắc Việt nam trong sáu tháng. Tập đoàn không quân số 7 ước lượng 20 nghìn tấn đó có thể nuôi tám sư đoàn bảo vệ hoặc 30 sư đoàn Việt Cộng trong một năm, nếu mỗi sư đoàn chỉ chiến đấu một ngày trên một tháng. Trong bất kỳ trường hợp nào, sự tăng lượng hàng hoá tiếp vận dịp Tết sự đóng góp quan trọng với lính Bắc Việt nam đóng tăng cường dọc theo khu phi quân sự.
Cho dù tin tình báo về nồ lực chở hàng của Bắc Việt, việc ngừng ném bom Bắc Việt Nam dịp Tết đã mở rộng từ bốn ngày đến sáu ngày trong khi Harold Wilson, thủ tướng Anh, đã thảo luận triển vọng hoà bình với Alexei Kosygin, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô.
Khi hội đàm, Wilson nghe thấy rằng một người Mỹ theo đường lối cứng rắn lo ngại rằng Bắc Việt sẽ đưa ba sư đoàn qua khu phi quân sự nếu dừng ném bom. Tổng thống Johnson ra lệnh sự thâm nhập của Bắc Việt vào Nam Việt nam phải được kết thúc trước khi ngừng ném bom; Quan điểm của Mỹ là sẽ dừng ném bom nếu Bắc Việt cam kết riêng sự thâm nhập sẽ làm sau dịp ngừng bắn (có lẽ vài ngày hoặc vài tuần sau đó). Johnson đề xuất việc chấm dứt đưa thêm lính Mỹ vào Nam Việt nam và thêm rằng sẽ ngừng ném bom Bắc Việt Nam sau khi sự thâm nhập dừng lại. Ông gửi đề xuất của mình trong bức thư gửi Hồ Chí Minh cũng như qua Wilson và Kosygin.
Trong đêm trước khi Kosygin rời London, Johnson đồng ý gia hạn ngừng ném bom nếu Bắc Việt Nam đảm bảo rằng họ cũng ngừng ngay lập tức đưa quân và tiếp liệu vào Nam Việt nam. Việc ném bom được trở lại ngay sau khi Kosygin rời London. Mặc dù thời gian để Bắc Việt nam đồng ý là rất ngắn, Kosygin ủng hộ đề xuất này. Theo tin tình báo thu được cuộc nói chuyện của Kosygin với Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, Kosygin nói rằng có “một khả năng lớn đạt được mục đích, nếu người Việt nam hiểu được tình thế hiện tại. Tất cả những cái mà họ làm là đưa ra một lời tuyên bố tin cậy”.
Trước khi việc ném bom bắt đầu trở lại ngày hôm ấy, 13-2-1967, Đài phát thanh Hà nội truyền đi một bức thư Hồ Chí Minh gửi Giáo hoàng Giáo Hoàng Paul VI, trong đó Hồ Chí Minh yêu cầu ngừng ném bom vô điều kiện. Hai ngày sau, Hồ Chí Minh gửi thư từ chối tới Johnson. Cuộc đàm phán Wilson-Kosygin ở London kết thúc thời kỳ đặc biệt những hoạt động ngoại giao được bắt đầu bằng chuyến thăm Moscow của bộ trưởng ngoại giao Anh Brown tháng 11-1966(1).
______________________
(1) Khi Bắc Việt từ chối ngừng đưa quân đội và hàng tiếp tế vào Nam Việt nam, họ bắt đầu quảng cáo rằng đàm phán hoà bình có thể tiến hành sau khi chấm dứt ném bom. Ngày 28-1-1967, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh nói với nhà báo cộng sản người Úc Wilfred Burchett, và ngay sau đó, thượng nghị sỹ Robert Kennedy nghe tại Paris rằng Bắc Việt coi ý kiến của Nguyễn Duy Trinh là một lời tuyên bố quan trọng. Về quan điểm của Mỹ và Việt nam đối với ý nghĩa của sáng kiến này, xem Robert S. McNamara, James G. Blight, và Robert K. Brigham, with Thomas J. Biersteker và đại tá Herbert Y. Schandler, Argument Without End: In Search of Answers to the VietnamTragedy (New York, 1999), trang 278-283.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #53 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:01:14 pm »

Một thời gian sau, không quân Mỹ ném bom khu gang thép Thái Nguyên, cách Hà nội 35 dặm về phía bắc và cách thành phố nhỏ Thái Nguyên ba dặm về phía nam. Trung Quốc bắt đầu xây dựng nhà máy này năm 1958 để sử dụng quặng sắt ở vùng núi bắc châu thổ sông Hồng. Việc sản xuất bắt đầu từ năm 1963, và trước 1967 nhà máy đóng xà lan và làm các phuy dầu từ thép nhập khẩu. Xưởng cán thép của nhà máy mới bắt đầu vận hành. Chỉ còn có hai nhà máy luyện kim khác ở Bắc Việt nam, nhưng cả hai đều nhỏ hơn nhiều. Trong khi chúng được thiết kế sản xuất có lẽ 15 nghìn tấn một năm, thì nhà máy thép Thái Nguyên thiết kế sản xuất hơn ba trăm nghìn tấn gang và hai trăm nghìn tấn thép. Khu liên hợp, bao gồm một nhà máy điện, chiếm hai dặm vuông nằm dọc đường sắt nối nó với Hà Nội. Khoảng mười nghìn người làm việc tại đó - nhà máy lớn nhất ở Bắc Việt nam.
Trước tháng ba-1967 khi không quân Mỹ bắt đầu không kích khu gang thép, Thái Nguyên dựng lên một lực lượng phòng không cực kỳ mạnh. Trong tám ngày của tháng 1 và tháng 2-1967, không quân Mỹ khoảng 100 lượt xuất kích ném bom nhà ga thành phố, và kho chứa hàng. Trong khi chỉ có một máy bay bị rơi trong các phi vụ trước đó, lực lượng phòng không bị thiệt hại nặng khi không quân Mỹ trở lại tấn công khu gang thép.
Hơn hai tuần lễ sau khi tổng thống Johnson chấp thuận mục tiêu này, thời tiết đủ trong sáng cho cuộc ném bom ngày 10-3. Những máy bay F-105 từ Korat tiến đánh không bị mất mát, nhưng đội hình Takhli phía sau họ lâm vào khó khăn.
Tốp bay gồm bốn F-105 “Bàn tay sắt” (bao gồm hai F-105F “Con chồn hoang”) đi trước đội hình Takhli. Cao xạ Bắc Việt nam bắn rơi chiếc máy bay đi đầu và bắn bị thương chiếc thứ hai khi họ bổ nhào về phía một trận địa SAM.
Trong khi những máy bay từ Takhli ném bom xuống khu gang thép, thì hai máy bay “Bàn tay sắt” tấn công trận địa SAM. Đại uý Merlyn H. Dethlefsen, phi công chiếc máy bay thứ ba (F-105F), sau đó được thưởng huân chương danh dự vì 4 lần tấn công trận địa tên lửa. Dù phải đối đầu với MiG-21 và máy bay của ông hứng chịu thiệt hại do cao xạ bắn phải, ông chiến đấu anh dũng - trước tiên bắn Shrikes và thả bom bi, sau đó ném bom. Phi công phụ của ông, đại uý Kevin A. Gilroy, nhận huân chương chữ thập của không quân Mỹ(1).
Một tốp máy bay F-4 từ Ubon theo sau F-105 từ Takhli. Cách mục tiêu 25 dặm, một F-4 trúng đạn cao xạ và bắt đầu thiếu dầu. Trong khi lao xuống mục tiêu, chiếc F-4 thứ hai cũng bị trúng đạn. Bằng mọi cách vẫn không thể quay lại máy bay tiếp dầu, cả hai tổ lái nhảy dù ở Lào và được cứu thoát(2).
Ngày hôm sau, 13-3-1967, khi trở lại ném bom Thái Nguyên, hai phi đoàn đổi chỗ cho nhau để phi đoàn 355 từ Takhli ném bom mục tiêu trước tiên. Phi đoàn 388 Korat lại ném bom mà không bị mất mát gì, trong lúc ba F-105 của Takhli bị rơi - hai chiếc do cao xạ bắn và một chiếc do SAM. Phi đoàn Takhli vẫn khăng khăng tiến vào ở tầm thấp, nhưng tất cả máy bay bị rơi trên đầu mục tiêu, trong lúc họ lao xuống hoặc vọt lên. Sáu máy bay Mỹ bị rơi khi cố gắng phá huỷ khu gang thép, nhưng nó vẫn hoạt động. Không quân vẫn còn những mục tiêu cần ném bom trong một tháng rưỡi tiếp theo. Nhưng do hiệu quả đánh phá lực lượng phòng không, không quân Mỹ mất không nhiều máy bay trong thời gian đó. Cộng vào việc sử dụng bom bi, nỗ lực này đã phá huỷ nhiều súng phòng không. Những thiệt hại về máy bay trong ngày đầu tiên buộc lực lượng không kích ngày hôm sau phải coi những trận địa pháo cao xạ là mục tiêu chính. Ít nhất một khẩu pháo cao xạ (85 ly) bị phá huỷ. Sự nản lòng tăng lên là do sự xuất hiện lần đầu tiên ở các trận địa pháo cao xạ các pháo thủ vẫn có thể chiến đấu trong khi được bảo vệ bê tông lớp tường chống bom bi.
Cần quay lại một lần nữa xem xét toàn bộ ba trăm lượt tấn công (khoảng 750 tấn bom) là do cả kích thước mục tiêu và ném bom không chính xác. Để ném bom chính xác hơn, ba F-105 từ Korat đã bay thấp tấn công nhà máy điện của liên hợp gang thép Thái Nguyên. Thành công của phi vụ này ngày 16-3 dẫn tới phi vụ tương tự ngày 30-3-1967, khi ba F-4 từ Ubon cố gắng ném bom lò luyện thép; sau này đánh giá của tình báo hoài nghi về lời tuyên bố rằng cuộc không kích đã làm hư hại nghiêm trọng. Tuy thế, đến cuối tháng 4 khu gang thép không hoạt động nữa, và các cuộc ném bom cũng thôi.
______________________
(1) Một tháng sau một phi đội “Con chồn hoang” khác của Takhli cũng kiếm được một cặp huân chương như trên. Giống Dethlefsen và Gilroy, thiếu tá Leo K. Thorsness và đại uý Harold E. Johnson trở về một cách an toàn từ cuộc trình diễn kiếm được huân chương, nhưng Thorsness bị bắn rơi mười một ngày sau đó và ngồi tù ở Bắc Việt nam đến hết chiến tranh.
(2) Về câu chuyện đáng chú ý hai máy bay bị hư hỏng ra sao tại Lào, xem chương 11, trang 290.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #54 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:03:26 pm »

Tân tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng John D. Ryan, chẳng vui lòng trong hai tháng không phá được khu gang thép Thái Nguyên. Thời tiết xấu làm cho những phi đoàn của ông phải huy bỏ phải huỷ bỏ hoặc chuyển hướng hơn 60 cuộc không kích đánh phá nhà máy đó. “Vấn đề lớn nhất mà chúng tôi đối mặt trong không kích là thời tiết”, Ryan nói về sau này, “và chúng tôi không có khả năng chiến đấu trong mọi thời tiết”.
Khi nhận chức tư lệnh từ tướng Harris ở Hawaii đầu tháng 2-1967, Ryan đã từng bước tụt khỏi vị trí cao nhất trong Bộ tư lệnh không quân chiến lược. Biện pháp không bình thường cử một tư lệnh SAC đến PACAF loé lên chuyện vỉa hè rằng người ta sẽ tách Bộ chỉ huy Thái Bình Dương khỏi hải quân. Nhưng việc đưa ông về Washington năm 1968 làm phó tham mưu trưởng không quân Mỹ chỉ ra rằng ông vẫn được kế tục nhăm chức Tham mưu trưởng.
Suốt thời gian ở Hawaii, Ryan có giọng nói cứng rắn về việc tăng cường khả năng ném bom trong thời tiết xấu và về ban đêm. Ryan ở Hawaii gần một tháng và đã yêu cầu Tham mưu không quân ở Washington về những số liêu so sánh trong khả năng sử dụng radar vào ném bom. Sau khi không quân Mỹ dẫn ra một loạt các cuộc thử trên F-105, F-4, và máy bay kiểu mới General Dynamics F-111, Tham mưu không quân kết luận rằng máy bay F-111 là hy vọng tốt nhất vừa đủ chính xác trong tầm nhìn hạn chế. Sự chính xác của máy bay F-105 và F-4 không đủ sử dụng hiệu quả đánh phá những mục tiêu ban đêm. Nhưng không có chiếc F-111 nào có thể được đưa tới Đông Nam Á trước khi 1968. Trong thời gian ấy, Ryan cố gắng dùng máy bay F-105 ném bom đêm và ném bom trong mọi thời tiết.
Sự thúc đẩy gốc rễ đưa máy bay F-105 vào vai trò này xuất phát từ phi đoàn không quân chiến thuật 388 tại Korat. Đầu tháng 9-1966, phi đoàn 388 sử dụng radar máy bay ném bom đèo Mụ Giạ tại đầu đường mòn Hồ Chí Minh; những chỗ dốc tạo sự phản hồi tốt cho radar máy bay, và sự chính xác có thể kiểm tra được bằng radar mặt đất tại Thái Lan. Được cổ vũ bởi thành công vừa qua, phi đoàn 388 yêu cầu Tập đoàn không quân số 7 cho phép thử dùng máy bay trang bị radar ném bom ở đồng bằng sông Hồng. Khi Ryan làm tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, đề xuất của phi đoàn Korat phải chờ ông.
Ryan muốn một máy bay dùng radar ném bom phải thành công giống như Grumman A-6 “Kẻ đột nhập”. A-6, tuy thế, ném bom chính xác hơn F-105 có thể đạt kết quả về ban đêm hoặc trong thời tiết xấu. Ryan nhạy cảm đối với sự giúp đỡ của hải quân trong việc ném bom đêm xuống Thái Nguyên và những mục tiêu khác. “Hải quân có thể xem chúng tôi là rất chưa chín chắn và không có khả năng vào lúc họ đang có thuận lợi”, ông nhớ lại, “vì họ có máy bay A-6 và A-6 là máy bay ném bom trong mọi thời tiết”. Giống Ryan, đô đốc Sharp cho rằng Lực lượng đặc nhiệm 77 phải đưa nhiều A-6 đánh phá vùng châu thổ và một số đánh vùng cán xoong. Sharp có khả năng làm giảm bớt tình thế này bằng cách thuyết phục tướng Westmoreland cho phép 24 máy bay A-6 của thuỷ quân lục chiến đóng tại Nam Việt nam đi ném bom vùng cán xoong, mười tám A-6 ném bom vùng châu thổ. Nhưng thiết bị điện tử trên máy bay bị kém do vấn đề bảo trì, và rất có khả năng tăng số lượng A-6 ở Đông Nam Á trước khi cuối 1967.
Về máy bay ném bom trong mọi thời tiết và ban đêm, Ryan chọn F-105F “Con chồn hoang”. Giống như A-6, F-105F có 2 người lái và radar địa hình địa hình (mặc dù nó không tốt như A-6). Trong tháng 3 và tháng 4, 12 tổ lái được huấn luyện tại Nhật Bản, nơi máy bay của họ được biến cải. Có thêm sự cải tiến về radar, nhân viên bảo trì tại sân bay Yokota đặt một nút bấm thả bom sau khoang lái. Mặc dù phi đoàn Korat vạch kế hoạch thâm nhập và ném bom khoảng 12 nghìn feet, Ryan đề nghị bay càng thấp càng tốt, theo ông dưới một nghìn feet. Đây là kỹ thuật được A-6 sử dụng, và máy bay F-105 tự thân đã được thiết kế để ném bom ở tầm thấp. Nhưng sự kém cỏi của kiểu radar địa hình trên F-105F có nghĩa là tổ lái bay dưới một nghìn feet là liều lĩnh vì dễ va chạm với mặt đất, đó là chưa đếm xỉa đến hoả lực từ đất bắn lên.
Việc Ryan nhấn mạnh vào ném bom tầm thấp là sự diễn giải học thuyết của Bộ chỉ huy không quân chiến thuật cũng như Bộ tư lệnh không quân chiến lược. Trong chiến tranh Triều Tiên, không quân Mỹ đã phát triển một máy tính dùng thả bom trang bị cho máy bay cường kích để có thể ném bom hạt nhân ở tầm thấp(1). Trước khi quăng bom, máy bay bắt đầu bò lên cao thật nhanh. Sau khi quăng bom, máy bay quay lộn ngược lại một đoạn ngắn. Vì bom được quăng ra vẫn lơ lửng, máy bay có thời gian thoát ra trước khi bom nổ. Thiết kế để thả bom hạt nhân, máy bay F-105 có một máy tính quăng bom.
Không cần phải quăng những quả bom thường nặng 750 cân Anh, nhưng máy tính có thể cải thiện độ chính xác khi ném bom ban đêm. Ngay khi mục tiêu xuất hiện trên màn hình radar, máy bay giữ nguyên đường đi và máy tính thả bom một cách tự động. Để đạt được phá hoại đáng kể, tuy thế, cần phải có độ chính xác lớn hơn so với ném bom hạt nhân. Thậm chí nếu một sĩ quan vận hành radar có thể nhận dạng chính xác mục tiêu, thì máy tính không hẳn cung cấp sự chính xác cần thiết.
Bốn tổ lái “đội đột kích của Ryan” (như cách họ gọi tự nhận) đến Korat cuối tháng 4-1967. Cả thảy có tám phi công. Tuy thế, sau khi tổ lái đầu tiên 12 người, những hoa tiêu chính là những sĩ quan chiến tranh điện tử được huấn luyện để dùng radar, và cùng tổ lái ấy có thể bay F-105F như “Những con chồn hoang” hoặc như “đội đột kích của Ryan”. Tất cả những người này được chọn một cách ngẫu nhiên. Các phi công ngồi ghế sau nói họ cảm thấy không may vì ngờ rằng các phi vụ của họ nguy hiểm hơn lái A-6 của hải quân. Dù sao đi nữa, Ryan có nhiều thành công khi ông nói với các chiến sĩ của mình ở Nhật Bản trước khi họ bay tới Thái Lan. Những tổ lái đã phải vượt qua cay đắng với tình thế của mình trong khi người ta đề cao những F-105F do những tổ lái vàng ngồi tại vị trí phi công phụ.
“Đội đột kích của Ryan” đã bay những phi vụ đầu tiên đêm 24-4. Một máy bay đi ném bom phà Ròn tại vùng cán xoong và một chiếc khác ném bom nhà ga Yên Bái bên sông Hồng khoảng 75 dặm về phía tây bắc Hà nội. Các dấu vết cung cấp tín hiệu radar phản hồi tốt, nhưng bóng đêm làm hạn chế đánh giá hư hại mục tiêu, khi những hố bom sót lại của vụ ném bom trước đó. Những kết quả được cải thiện không đạt được do những vụ ném bom này hoặc những vụ ném bom xuống Thái Nguyên và những mục tiêu khác ở vùng châu thổ. Sau đó, đêm 12-5, một F-105 bị rơi khi đánh phá phà Ròn. Lý do máy bay rơi không được biết, và người ta lo ngại rằng máy bay đâm phải đồi. Ba ngày sau, một chiếc F-105F khác bị pháo cao xạ bắn rơi trong lúc ném bom ban đêm xuống ga Kép, đông bắc Hà nội. Bắc Việt bắn vào những đội đột kích bằng đèn pha và lưới đạn, buộc những F-105F phải bỏ dở phi vụ ở vùng châu thổ.
Trong khi hoạt động ban đêm của F-105F bị hạn chế cho gói mục tiêu 5 và vùng cán xoong, một số phi vụ ban đêm của F-4D vẫn tiến hành ở vùng châu thổ. F-4D, mà máy tính của nó làm cho tín hiệu phản hồi của radar tốt hơn, bắt đầu thay thế F-4C ở Đông Nam Á trước cuối tháng 5. Không giống như F-105F, F-4D ném bom về ban đêm thâm nhập vùng châu thổ và ném bom ở độ cao khoảng 12 nghìn feet. Do dùng máy gây nhiễu, những F-4D đã bay theo tốp bốn máy bay. Cũng như những F-105, tuy thế, ném bom bằng radar rất không chính xác. Những quả bom được ném về ban đêm bằng radar bởi F-4D hoặc và F-105F trúng đất trung bình là ba nghìn feet từ điểm ngắm, hoặc xa gấp hai lần so với A-6. Không quân Mỹ hy vọng rằng F-111 có khả năng ném phần lớn bom của nó bên trong hai trăm feet từ tâm mục tiêu. Trong thời gian ấy, những máy bay F-4D và F-105F quấy rối đối phương một cách tốt nhất. Tướng Ryan dễ dàng tự nhận những hạn chế của những vụ đột kích của mình. “Nhưng đó”, ông quả quyết, “là một địa ngục có nhiều thứ tốt hơn là cứ ngồi chờ thời tiết tốt”.
______________________
(1) Người phát minh ra hệ thống ném bom ở tầm thấp là thiếu tá John A. Ryan, Jr., không có quan hệ gì với tướng John D. Ryan.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #55 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:04:51 pm »

Giữa tháng 4-1967, một tuần trước khi “đội đột kích của Ryan” tiến hành phi vụ đầu tiên của họ, thời tiết vùng đồng bằng sông Hồng bắt đầu trong sáng. Gió mùa thổi từ đông bắc xuống tây nam xua tan mây. Bầu trời sáng sủa cho hải quân một cơ hội ném bom những nhà máy điện Hải Phòng, những mục tiêu đã bị trì hoãn từ tháng 11 và được tổng thống Johnson cho phép cuối tháng 3. Thời tiết đã gặp phải sự trì hoãn thứ hai (khi Johnson thăm Nam Mỹ) bảo vệ những nhà máy điện hơn một tháng. Ngày 20-4-1967, hải quân tiến hành 53 lượt xuất kích ném bom những nhà máy điện. 42 đợt khác sẽ hoàn thành công việc trước cuối tháng 5.
Một trong những nhà máy điện (nhà máy điện Thượng Lý - ND) cách trung tâm Hải Phòng dưới một dặm (Sở dầu trúng bom mùa hè năm trước cách trung tâm Hải Phòng hai dặm). Tại cuộc họp báo tại Lầu Năm Góc, tân trợ lý bộ trưởng quốc phòng về công chúng, Phil Goulding, lẩn tránh câu hỏi liệu ném bom những nhà máy điện có phải là leo tháng hay không: “Chúng tôi không nhìn nhận việc này theo bất cứ kiểu nào”. Những người khác ít thận trọng hơn. Thượng nghị sỹ Richard Russell (đảng Cộng Hoà, Georgia), Chủ tịch Uỷ ban quân lực, nói ông cho rằng những cuộc không kích là những bước đầu tiên theo hướng bịt cảng Hải Phòng. Thậm chí bước đi này không phải là sự leo thang, ngoại trưởng Rusk nói với một nhóm người Đảng Cộng hoà bang Illinois, bởi vì những người cộng sản đang đánh mìn Cảng Sài gòn.
Ngày 22-4-1967, theo gương cuộc tấn công nhà máy điện, tổng thống Johnson thông qua một danh sách mục tiêu mới. Nhà máy xi măng Hải Phòng, là mục tiêu chưa bị chạm tới do sự trì hoãn từ tháng 11 trước đó, có thể bị ném bom. Là khách hàng chính của một trong những nhà máy điện vừa bị ném bom, nhà máy xi măng thực tế đang gặp khó khăn. Máy bay hải quân mau lẹ ra tay, và Bắc Việt Nam phải bắt đầu nhập khẩu xi măng. Lệnh hạn chế đưa ra vào tháng 12 tấn công bên trong 10 hải lý từ trung tâm Hà Nội đã được rút đi cho phép không kích vào ba mục tiêu: một trạm biến thế, một nhà ga, và một chiếc cầu.
Trung tâm liên kết trong lưới điện Bắc Việt Nam là trạm phân phối điện Đông Anh, 7 dặm về phía tây bắc trung tâm Hà Nội. Trạm phân phối này truyền một năng lượng điện từ một nhà máy điện đang vận hành tới một nhà máy sắp ném bom. Trạm phân phối điện này nối nhà máy nhiệt điện Hà nội công suất 32.500 kilowatt với những nhà máy nhiệt điện nhỏ hơn ở Việt Trì (nằm cạnh sông Hồng 30 dặm về phía tây bắc Hà nội), Thái Nguyên, Bắc Giang (25 dặm về phía đông bắc Hà nội), Hải Phòng, Uông Bí (10 dặm về phía bắc Hải Phòng), và Hòn Gai (sát bờ biển, 20 dặm phía đông Uông Bí). Lưới điện cũng đi về phía nam qua nhà máy điện Hà Nội đến Nam Định.
Trước 22-4-1967, tất cả những nhà máy điện trong mạng lưới điện vùng châu thổ bị ném bom trừ nhà máy lớn nhất ở Hà nội. Ngoài mạng lưới, còn có một vài nhà máy cố định khác và mọc lên lượng lớn máy phát điện di động. Nhà máy điện di động lớn nhất trong số ba nhà máy nhiệt điện chạy than có công suất 1.500 kilowatt do Tiệp Khắc sản xuất. Những nhà máy này có thể nối điện vào kho hàng quân sự cũng như những nhà máy nhỏ. Liên Xô trang bị hàng trăm máy phát điện diesel công suất 200 kilowatt. Bắc Việt cũng còn có khoảng 75 máy thuỷ điện nhỏ, đa số dưới 50 kilowatt. Khi Bắc Việt phân tán công suất điện đề phòng Mỹ ném bom, đề án xây dựng nhà máy thuỷ điện Lang Chi (Thác Bà - ND) công xuất 112.500 kilowatt, cách Hà nội 60 dặm về phía thượng lưu sông Hồng. Do chiến dịch leo thang đánh phá nguồn điện, Bắc Việt có khả năng điều chỉnh được bởi việc phân tán ra bằng máy phát chạy dầu. Trạm phân phối điện Đông Anh về mặt logic phải bị ném bom sớm hơn, nhưng nó chỉ được phép sau khi đa số những nhà máy điện cố định đã bị đánh bom. Trạm phân phối điện Đông Anh tỏ ra là mục tiêu khó gặm, và mãi tới tháng 11-1967 Tập đoàn không quân số 7 mới phá huỷ được nó .
Tập đoàn không quân số 7 có những vận may đối với những mục tiêu khác ở Hà nội. Những F-105 bấy giờ có thể ném bom một cách hợp pháp ga Gia Lâm, nó từng bị ném bom nhầm vào tháng 12-1966. Ga Gia Lâm cách trung tâm Hà Nội hai dặm về phía đông bắc. Tập đoàn không quân số 7 ném bom đường sắt và cầu quốc lộ qua sông Đuống cách ga Gia Lâm 1 dặm về phía đông bắc. Ngày 29-4, mười sáu F-105 đánh phá cầu Đuống bằng bom 3.000 cân Anh và ba bom 750 cân Anh; hai trong sáu nhịp cầu sụp đổ, cắt đứt đường từ nối Hà Nội với cả hai tuyến đường sắt tới Trung Quốc. Đường sắt đi Hải Phòng, tuy thế, nằm ở bờ nam sông Đuống, bị tách khỏi Hà Nội và đường bộ tại phía nam cầu Long Biên, phía tây Gia Lâm. Bởi vì phá huỷ cầu Long Biên cũng sẽ cắt đứt đường sắt tới Trung Quốc, theo quan điểm quân sự, tấn công vào cầu Đuống tốt hơn là hướng vào cầu Long Biên. Nhưng chính quyền Johnson chưa sẵn sàng để không kích những mục tiêu khá gần trung tâm thành phố. Trong thời gian ấy, Bắc Việt bắt đầu sửa chữa cầu Đuống và bắc một cầu tạm.
Sự lựa chọn mục tiêu của tổng thống Johnson ngày 22-4 không những phái những máy bay ném bom tới Hà Nội, mà còn là lần đầu tiên cho phép chúng không kích những máy bay MiG trên mặt đất. Những sân bay phản lực chính tại Phúc Yên và Gia Lâm vẫn chưa bị tấn công, cùng với hai sân bay khác gần Hải Phòng, nhưng Johnson cho phép tấn công hạn chế vào sân bay Kép (37 dặm về phía đông bắc Hà nội) và Hoà Lạc (19 dặm phía tây Hà nội). Đường băng của hai sân bay này mới được kéo dài, và sân bay Hoà Lạc có khả năng sử dụng máy bay phản lực lần đầu tiên. Đô đốc Sharp gợi ý tấn công nhẹ vào hai trong số 5 sân bay MiG vì sợ rằng chính quyền Bắc Việt nam khiếp sợ và dời máy bay MiG sang Trung Quốc. Có lẽ một phần tư trong số khoảng 120 máy bay MiG của Bắc Việt nam đang nằm ở sân bay Mông Tự (Mengtzu), cách phía bắc biên giới 50 dặm. Buộc máy bay MiG Bắc Việt chuyển sang Trung Quốc làm cho họ mất thuận lợi, vì MiG mang ít dầu nên có ít thời gian chiến đấu trên vùng châu thổ. Nhưng chính quyền Johnson lo ngại việc này làm tăng thêm sự lôi cuốn Trung Quốc vào chiến tranh.
Kể từ tháng 5-1966, khi một F-105 bắn rơi một chiếc MiG rơi ở nội địa Trung Quốc, chính quyền Mỹ yêu cầu máy bay chiến đấu không được xâm phạm không phận Trung Quốc. Các máy bay tiến gần biên giới Trung Quốc được EC-121 (máy bay radar hải quân), hoặc radar trên tàu thuỷ cảnh báo. Vì năng lực hạn chế để lôi máy bay ra khỏi nhiễu mặt đất, một chiếc EC-121 dẫn đường cho máy bay trước tiên bằng cách gửi một tín hiệu gây ra tín hiệu phản hồi nhận dạng của họ. Khi thoát ra hoặc đuổi theo máy bay MiG gần biên giới, phi công tắt máy phản hồi nhận dạng. Bởi vậy, không quân Mỹ khó bác bỏ những tố cáo lặp đi lặp lại của Trung Quốc rằng máy bay Mỹ đã vi phạm không phận của họ.
Tuy thế, chính quyền Johnson rốt cuộc cũng ném bom một số sân bay Bắc Việt nam. Tập đoàn không quân số 7 do tư lệnh phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 chỉ huy - đại tá Olds - bay đi ném bom máy bay MiG đậu trên mặt đất ở sân bay Hoà Lạc.
Ngày 24-4-1967, ông dẫn tám F-4 ném bom mục tiêu mới. Bom bi của họ trúng khoảng một tá máy bay MiG trên mặt đất. Phía ông mất một máy bay, nhưng thiếu tá Thomas M. Hirsch, phi công chiếc F-4 đầu tiên ném bom máy bay MiG, nói là phá hỏng 5 chiếc; chỉ huy của anh ta phá hỏng ít nhất hai chiếc. Đây là những chiếc MiG đầu tiên trong số 50 MiG bị phá huỷ trên mặt đất trước khi cuối tháng 5. không thể kiểm chứng những lời nói của họ, và những máy bay MiG, cho dù bị trúng những viên bom bi có thể được sửa chữa. Tuy thế, trận bom của không quân xuống Hoà Lạc và của hải quân xuống Kép tạo cho MiG xông xáo hơn trong các trận không chiến.
F-4 và F-105 của không quân và bắn rơi 21 máy bay MiG vào tháng 5 và bị rơi hai F-4, trong lúc máy bay hải quân bắn rơi ba MiG mà không bị tổn thất. Một phần ba chiến thắng của không quân là do súng, bao gồm ba chiếc đầu tiên bởi súng của F-4. Trong khi F-4 không có súng gắn sẵn, một súng 20 ly gắn dưới thân máy bay. Nhưng tốc độ bắn rất thấp ít tạo thành công trong không chiến. Một sĩ quan mới của phi đoàn không quân chiến thuật 366 tại Đà Nẵng, đại tá Frederick C. “Boots” Blesse, thuyết phục tướng Momyer cho phép phi đoàn thí nghiệm mang súng mới. Sự thuyết phục là cần, vì Momyer từ lâu phản đối gắn súng vào F-4. Blesse là một phi công ưu tú trong chiến tranh Triều Tiên, nổi tiếng trong không quân Mỹ với cuốn sách“Không can đảm - không vinh quang”, một sự hướng dẫn rất tuyệt vời trong chiến thuật không đối không xuất bản lần đầu tiên trong Fighter Weapons Newsletter tháng 1-1954. Ông ta có một cái nhìn ảm đạm về việc F-4 không gắn súng. Máy bay MiG có thể sát khá gần F-4 để bắn tên lửa thành công, những nhiễu mặt đất có thể làm nhiễu hệ thống dẫn đường tên lửa tại tầm thấp. Phân tích của Blesse củng cố bởi thành công của phi công F-105 sử dụng súng trong hoàn cảnh như thế.
Súng gắn trên máy bay giúp phi đoàn 366 có thêm nhiều chiến thắng hơn phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 ở Ubon vào tháng 5-1967 (tháng có nhiều không chiến trong chiến dịch Sấm Rền). Đây là một góp ý rất đáng giá vì phi đoàn 366 đã không tham gia không chiến suốt vài tháng và chưa hề có nhiều chú ý như phi đoàn số 8. Mặc dù phi đoàn 366 có thành công, nhưng phi đoàn số 8 nổi tiếng hơn. Đại tá Blesse chửi rủa sự không đày đủ không những trong hào quang quanh vị tư lệnh phi đoàn số 8, đại tá Olds, mà còn cả cái biệt danh của phi đoàn: “Đàn sói”. Đương nhiên báo chí thích viết về “Đàn sói” hơn là “phi đoàn không quân chiến thuật 366”. Các phi công của Blesse nổi lên với biệt hiệu - “Súng máy bay” - và họ đã sơn một phù hiệu của phi đoàn lớn nhất trên thế giới xuống nền nhà chứa máy bay.
Từ xa nhiều dặm phi công có thể nhìn thấy một Con ma khổng lồ dáng khôi hài mang súng và tuyên bố không những kiêu hãnh đơn vị mới mà còn tin tưởng rằng máy bay kẻ thù không thể đến gần Đà Nẵng. Thêm nữa, sau những trận ném bom phi trường và những chiến thắng không chiến ở Bắc Việt nam, không quân Bắc Việt ít xuất hiện suốt hai tháng sau đó.
Phản ứng chính trị của người Mỹ đối với việc ném bom sân bay có gam mầu tương tự.
Hạ nghị sĩ Rivers nói rằng đó là “một trong những sự phát triển hài lòng nhất của cuộc chiến tranh”. Cựu phó tổng thống Richard Nixon quả quyết với báo chí rằng chẳng có sự nguy hiểm nào chiến tranh với Trung Quốc, Trung Quốc “không muốn đối đầu với Hoa Kỳ”. Thượng nghị sỹ Fulbright cho rằng đó “rất có khả năng” chiến tranh mở rộng tới “Trung Quốc và có thể cả Liên Xô”. Thượng nghị sỹ George McGovern (đảng Cộng Hoà, Nam Dakota) đồng ý với Fulbright về sự liều lĩnh mà chính quyền đang làm: “Họ thật sự đang đi tìm sự đổ vỡ”. Thượng nghị sỹ Robert Kennedy (đảng Cộng Hoà, New York) ca ngợi sự can đảm lời phát biểu của McGovern kêu gọi ngừng ném bom hoàn toàn ở Việt nam.
Tham mưu trưởng liên quân sự lưu ý đô đốc Sharp rằng các cuộc tấn công sân bay là khá ác liệt. Một vài ngày sau, tuy thế, tổng thống Johnson biểu thị sẵn sàng tăng áp lực đối với Bắc Việt nam bằng việc đưa thêm sân bay Kiến An (gần Hải Phòng) vào danh sách các mục tiêu được chấp thuận, cũng như một vài mục tiêu gần Hà Nội. Trở lại danh sách đó là ga Yên Viên và xưởng sửa chữa ô tô Văn Điển - những mục tiêu đã khuấy động khá nhiều sự tranh cãi vào tháng 12.
Cuối cùng ngày 16-5-1967 sau nhiều tháng thảo luận trong nội bộ chính quyền, Johnson cho phép ném bom nhà máy điện Hà nội. Ông rất không muốn chấp thuận mục tiêu ở khu đông dân cư Hà Nội. Nhà máy điện cách Bộ quốc phòng Bắc Việt gần một dặm cũng gần Phủ chủ tịch. Nhưng người ta thuyết phục Johnson rằng Walleye - loại bom mới điều khiển bằng truyền hình khá chính xác và có chút ít khả năng làm thương vong dân thường trừ những công nhân đang làm việc tại nhà máy.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #56 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:05:53 pm »

Walleye là bom điều khiển đầu tiên tạo ra sự chính xác cần thiết để không kích những mục tiêu đô thị với thương vong dân thường tối thiểu. Đa số dòng bom này lẽ ra đã có trước khi Hoa Kỳ ngừng ném bom đồng bằng sông Hồng năm 1968. Một đề án của không quân phát triển bom dẫn bằng laser ra đời hơn một năm đã thôi sản xuất khi bom Walleye của hải quân đưa tới Vịnh Bắc Bộ đầu 1967. Trước tháng 5 hải quân đã ném vài quả Walleye với độ chính xác cao. Khả năng sống sót của máy bay cũng được nâng cao, bởi vì phi công có thể ném bom Walleye cách mục tiêu hơn hơn ba dặm và rời đi ngay tức thời - trước khi bom trúng mục tiêu. Có lần hệ thống điều khiển bom đã khoá được một bức ảnh có độ tương phản sắc nét (thí dụ phần đường viền của một toà nhà) bom dự kiến rơi thẳng và giữa bức ảnh. Đúng lúc ấy, phi công nhận ra rằng quả bom có thể bị lừa. Thí dụ, sự hội tụ của camera có thể bị nhiễu từ một thanh dầm cầu với thanh dầm bên cạnh (đường viền của chúng là giống hệt nhau) cho đến khi bom rơi vào bờ sông. Sự thất vọng hơn đó là sự bất lực của những quả bom 1.100 cân Anh ném xuống cầu Hàm Rồng (70 dặm về phía nam Hà Nội), nhưng chiếc cầu vẫn đứng vững chứng tỏ đây là mục tiêu vững nhất ở Bắc Việt nam. Nhà máy điện Hà nội tỏ ra là phòng thủ khá chỗ yếu.
Sau khi xem xét bản đồ chi tiết và những bức ảnh, tổng thống chấp thuận không kích nhà máy điện bằng hai máy bay, mỗi chiếc mang một bom Walleye. Nếu có thể, trận ném bom sẽ được hoàn thành trước ngày 22-5-1967, là ngày Phật Đản và bắt đầu của đi thăm Moscow của ngoại trưởng Anh Brown. Vì hệ thống điều khiển bom truyền hình đòi hỏi thời tiết sáng sủa, cần phải chờ đợi lâu trong thời kỳ gió mùa đông bắc. Nhưng gió mùa tây nam đem lại thời tiết tốt, cho phép hải quân không kích nhà máy điện ngày 19-5 - sinh nhật thứ 70 của Hồ Chí Minh. Mặc dù hai máy bay hộ tống bị bắn rơi, một bom Walleye trúng mục tiêu. Hải quân lại không kích hai ngày sau, rơi một máy bay hộ tống nhưng trúng mục tiêu. Nhà máy điện Hà nội bị hỏng nặng, còn lại một nhà máy điện nhỏ cách Hà nội 50 dặm về phía nam Hà Nội cung cấp điện cho mạng lưới.
Việc cuộc tập kích nhà máy điện những cuộc tập kích làm một mốc quan trọng là lần đầu tiên tấn công trung tâm Hà Nội.
Vì sự tồn tại của bom Walleye là bí mật, độ chính xác đặc biệt của vũ khí mới không thể được phơi bầy và chính quyền Johnson không thể chiếm được sự tin cậy của công chúng đối với kiềm chế cẩn thận của họ. Với một sự kiềm chế từng trải, tổng thống kêu gọi ngừng ném bom gần Hà Nội. Ngày 22-5, chỉ một tháng khi gió mùa tây nam tạo ra thời tiết tốt cho ném bom, Johnson đặt chân vào bàn đạp phanh. Việc ném bom bên trong 10 hải lý trung tâm Hà Nội lại đòi hỏi đòi hỏi sự đồng ý của tổng thống cho từng chuyến không kích. Johnson từ chối phê chuẩn trong một vài tuần lễ trong khi chính quyền đang bị chia rẽ của ông xem xét lại tương lai của Sấm Rền.

3. Chính sách leo thang trong thử thách
Sự tăng cường leo thang của Mỹ ném bom Bắc Việt nam song song tăng cường leo thang bộ binh Mỹ tại Nam Việt nam. Mặc dù hai dạng chính sách leo thang có quan hệ với nhau, nhưng chúng cũng có nhiều nét khác nhau. Việc tăng bộ binh ở Nam Việt nam nhằm chống lại sự yếu ớt của nền kinh tế địa phương, khả năng bộ máy hậu cần của Mỹ, và sự không bằng lòng chính quyền Johnson liều lĩnh làm xa lánh cử tri Mỹ bằng việc bắt lính. Tổng thống Johnson theo đuổi chiến tranh ở Đông Nam Á trong bối cảnh tài chính và chính trị không làm ảnh hưởng tới chương trình quốc nội. Ngay từ đầu, tuy thế, B-52 có thể tấn công những mục tiêu ở khắp Bắc Việt Nam trong mọi thời tiết tại bất cứ giờ nào. Thay vì việc đó, Johnson nhỏ giọt từng mục tiêu từng lần, từng lúc cho máy bay cường kích trang bị tồi đi ném bom trong thời tiết xấu hoặc về ban đêm. Nỗi lo ngại về một cuộc chiến tranh mở rộng đã kiềm chế chiến dịch ném bom, trong lúc những hy vọng về một cuộc chiến tranh ít tốn kém đã kiềm chế tăng cường bộ binh. Bất chấp chính sách leo thang của Johnson, hoặc bởi lý do đó, những giọng nói chỉ trích to lên và nhiều lên bên trong cũng như bên ngoài chính quyền.
Dần dần, số mục tiêu ở Bắc Việt Nam tăng lên, cũng giống như con số lính Mỹ tại Nam Việt nam - cho tới một quyết định về việc đưa thêm quân có thể đưa đến một hành động thảm hoạ, như là gọi thêm lính nhập ngũ hoặc thả mìn các hải cảng Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh này ném bom thêm một chút có thể được xem như là dạng an toàn nhất leo thang, một cơ hội cuối cùng cho chính sách leo thang. Tháng 3-1967, tướng Westmoreland yêu cầu phải tăng quân cho ông (đang ở con số trần 470.000) thêm ít nhất 80.000 và lên thêm 200.000, ông bắt đầu lý luận rằng trước hết nên bớt ném bom đi vào tháng 5 và sau đó tăng cường vào tháng 8.
Tướng McConnell, Tham mưu trưởng không quân Mỹ, bàn thêm về việc ném bom. Ông nghi ngờ việc gửi thêm quân đủ để thu được chiến thắng, nhưng đồng ý gửi thêm 100.000 nếu Tham mưu trưởng liên quân cũng đề nghị mở rộng chiến dịch ném bom Bắc Việt nam. Các vị tham mưu trưởng khác đồng ý và một lần nữa gắn việc tăng quân ở Nam Việt nam với ném bom ở Bắc Việt nam. Trong một biên bản ghi nhớ gửi Bộ trưởng quốc phòng McNamara, họ ủng hộ gửi thêm 100.000 tới Nam Việt nam, gọi nhập ngũ, và mở rộng chiến dịch ném bom Bắc Việt nam bao gồm thả mìn các hải cảng Bắc Việt.
Cuối tháng 4-1967, tổng thống Johnson mời Westmoreland về nước để phát biểu trước Quốc hội ở New York và các nơi khác. Westmoreland cùng với Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, trong cuộc gặp tại Nhà Trắng, đã tranh luận rằng việc tăng quân sẽ cho phép can thiệp vào Lào, Campuchia, và Bắc Việt Nam. Cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống, Walt Rostow, chỉ rõ lợi ích khi đưa bộ binh qua biên giới Nam Việt nam. Hành động này có thể khiến người ta nghĩ rằng việc ném bom bị chế ngự, và Wheeler muốn tăng khả năng thả mìn các hải cảng Bắc Việt nam. Trong khi đề xuất này không tiến bộ hơn kế hoạch can thiệp, ông nhận xét rằng chiến dịch ném bom đang làm cạn những mục tiêu để cho người đang tìm kiếm cắt giảm ném bom.
Bộ trưởng quốc phòng McNamara và cố vấn của ông về an ninh quốc tế, John McNaughton, sử dụng nhận xét của Wheeler trong bản nháp biên bản ghi nhớ gửi tổng thống tranh cãi về ném bom. Họ trích dẫn lời Wheeler nói rằng “chiến dịch ném bom đang đạt tới điểm chúng ta đã ném bom tất cả những mục tiêu cố định quan trọng trừ những hải cảng”. Biên bản ghi nhớ kết luận rằng tất cả các cuộc ném bom nên tập trung vào nam vĩ tuyến 20° - nghĩa là nam đồng bằng sông Hồng. McNamara trước tiên tăng khả năng này vào mùa thu 1966, khi nó trở nên thấy rõ Bắc Việt Nam đã sơ tán các kho nhiên liệu. McNamara hình như muốn ngừng ném bom không điều kiện như là cơ hội đưa đến hội đàm nhưng ông biết rằng thậm chí chỉ giảm ném bom tới vĩ tuyến 20° thôi cũng sẽ phải đối mặt với những người đối lập cứng rắn là những quân nhân và những người liên minh với họ tại Quốc hội.
Mùa đông năm 1967, McNamara đã thắng những người ủng hộ quan điểm của ông trong nội bộ chính quyền. Nỗ lực của ông có được thuận lợi bởi một nhóm nhỏ gặp nhau vào chiều thứ năm hàng tuần tại văn phòng thứ trưởng ngoại giao Nicholas Katzenbach. Những cuộc gặp này đã giành được sự phê chuẩn của tổng thống Johnson xem xét những vấn đề chính của chính phủ ở Việt nam. Tháng 1-1967, khi tổng thống yêu cầu Rostow nghiên cứu lập ra một uỷ ban để xem xét việc ném bom Bắc Việt nam, Rostow lái công việc sang uỷ ban Katzenbach. Rostow bàn bạc với Clark Clifford, một luật sư có ảnh hưởng ở Washington, người từng làm việc dưới thời chính quyền Truman và quen biết Johnson nhiều năm. Clifford thúc đẩy một nhóm nhỏ bí mật mà sự tồn tại của nó tổng thống có thể phủ nhận bằng cách nói rằng “không có uỷ ban” hoặc tổng thống nói “một người quan trọng một chủ đề lớn”.
Rostow gợi ý rằng trong khi tổng thống có thể muốn Clifford và những người khác nằm ngoài chính quyền đảm nhận nghiên cứu việc ném bom, thời gian cũng chẳng còn chín muồi nữa. Vì vậy Rostow, thứ trưởng quốc phòng Cyrus Vance, McNaughton, và William Bundy (trợ lý ngoại trưởng về Viễn Đông) đã tập trung vào vấn đề ấy trong các cuộc gặp uống cocktail hằng tuần của họ tại văn phòng Katzenbach. McNamara cũng như Richard Helms, giám đốc CIA thường tới dự; Rusk đôi khi cũng tham gia. Họ tự gọi là “không Uỷ ban” hoặc “không nhóm”. Mặc dù không được biết về những cuộc gặp của họ tại lúc đầu, tướng Wheeler trên thực tế được thông báo và có thể tham gia một cách ngẫu nhiên .
Trước tháng 5 “không Uỷ ban” nghiêng theo hướng cắt bớt ném bom. Walt Rostow nói với tổng thống nhóm này nhất trí bác bỏ thả mìn Hải Phòng và ném bom một cách hệ thống tuyến đường sắt tới Trung Quốc. Băn khoăn của Rusk về khả năng phản ứng của Trung Quốc và Liên Xô đã bênh vực những luận cứ của McNamara chống lại hiệu quả việc ném bom đồng bằng sông Hồng. Thậm chí Rostow nghi ngờ khả năng của không quân để đóng “cái phễu” bằng cách thả mìn Hải Phòng và ném bom đường sắt. Từng là người vạch kế hoạch mục tiêu ở Anh trong thế chiến II, Rostow tin là dầu và điện là những mục tiêu sống còn, nhưng ông luôn hoài nghi về ném bom đường sắt. Ông đặc biệt ấn tượng bởi có người đánh giá rằng khả năng nhập khẩu của Bắc Việt Nam là 17 nghìn tấn một ngày vượt quá nhập khẩu thực tế hơn mười một nghìn tấn. Rostow và “không Uỷ ban” sẵn sàng hạn chế ném bom bắc vĩ tuyến 20° ngay khi nhà máy điện Hà nội bị phá huỷ.
McNamara hy vọng rằng ném bom nhà máy điện Hà nội cũng làm cho các Tham mưu trưởng liên quân xuôi theo hạn chế ném bom. Nhưng hy vọng ấy chỉ minh hoạ cho việc ông và “không Uỷ ban” đã thay đổi quan điểm quân sự xa như thế nào. Walt Rostow tăng thêm lo ngại sự chia lìa của công chúng. “Vấn đề - ông nói với tổng thống Johnson - là kịch bản nào có thể giữ gia đình chúng ta cùng nhau trên con đường chăm sóc lợi ích quốc gia và làm quân sự”. Rostow cho rằng nên rút đi những danh sách đã thông qua ném bom những mục tiêu ở Hà nội và Hải Phòng cho tới sau khi McNamara và Wheeler thăm Nam Việt nam. Sau đó những người quyền lực và những người thiên về ném bom có thể nhìn lại vấn đề cùng nhau. Johnson nghe theo lời khuyên của Rostow, và khi hải quân lần thứ hai ném bom nhà máy điện Hà nội ngày 21-5-1967, tổng thống phục hồi lại quyết định không ném bom trung tâm thành phố Hà nội bên trong 10 hải lý.
Trong tháng tiếp theo, sức lực của chính quyền Mỹ dồn vào “chiến tranh sáu ngày” giữa Israel và khối Ả Rập. Theo sau sự thua trận của Ả Rập, Alexei Kosygin, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô, gặp tổng thống Johnson tại Glassboro, New Jersey. Kosygin mang một thông điệp từ Hà nội rằng Bắc Việt sẵn sàng bắt đầu nói chuyện một hoặc hoặc hai ngày sau khi chấm dứt ném bom. Johnson đồng ý dừng ném bom Bắc Việt Nam nếu Bắc Việt cam đoan các cuộc đàm phán bắt đầu ngay lập tức và 5 sư đoàn bộ binh trên đất Bắc Việt Nam gần khu phi quân sự không tấn công Nam Việt nam. Không có sự trả lời từ Hà nội.
Trong thời gian ấy, phe đối lập bắt đầu tập hợp chống lại việc chấm dứt ném bom đồng bằng sông Hồng. Giám đốc CIA Helms ủng hộ việc tập trung ném bom những gói mục tiêu phía nam, nhưng lại cảnh báo Johnson rằng việc chấm dứt hoàn toàn ném bom vùng Hà nội-Hải Phòng có thể được xem như một chiến thắng của Hà Nội. Bộ trưởng không quân Brown đã tranh luận về nguyên trạng; ông coi việc thả mìn Hải Phòng là khá mạo hiểm, nhưng không muốn giảm ném bom ở đồng bằng sông Hồng mà không nhận được gì về.
Từ khi trở thành Bộ trưởng không quân Mỹ năm 1965, Brown đã phải đương đầu với sự bất đồng ngày một tăng giữa Tham mưu trưởng McConnell và Bộ trưởng quốc phòng McNamara. Trước cuối năm 1966, vấn đề nan giải của Brown là kế hoạch McNamara xây dựng một hàng rào gần khu phi quân sự: bộ binh, bãi mìn, và rào phần bắc của Nam Việt nam, trong lúc không quân cố gắng ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh bên Lào bằng những cảm biến điện tử. Mùa hè năm 1966 McNamara mang theo một nhóm các nhà khoa học để nghiên cứu tính khả thi của hàng rào, và ngay khi họ khuyên ông đã ra lệnh một lực lượng liên hợp dưới quyền trung tướng Alfred D. Starbird xây dựng xong hàng rào trước ngày 15-9-1967.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #57 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:09:25 pm »

Đối với các tham mưu trưởng liên quân rõ ràng hàng rào có thể thay đổi sâu sắc tính chất của chiến tranh theo hướng mà họ tin là sẽ giảm bớt cơ hội cho một kết quả thoả đáng. Tướng Westmoreland sẽ phải chuyển bộ binh từ những cuộc hành quân “tìm và diệt” sang bảo vệ hàng rào McNamara; McNamara nói đến con số 20.000, nhưng những tham mưu trưởng lo ngại rằng số lượng đòi hỏi có thể nhiều lần cao hơn. Westmoreland thích phương pháp ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh bằng cách đưa bộ binh Mỹ vào Lào. Như vậy không quân và hải quân phải tập trung nỗ lực vào đó, trong khi McNamara có lẽ đã thuyết phục được tổng thống kết thúc ném bom Bắc Việt nam.
Bộ trưởng Brown dốc sức làm cho Tham mưu trưởng McConnell và không quân Mỹ tin rằng hàng rào điện tử là một ý tưởng tốt chỉ để bổ xung hơn là thay thế ném bom Bắc Việt nam. Thêm nữa, không quân Mỹ rút cục bỏ nhiều công sức vào hàng rào hơn là làm những việc khác. Nhiều phần ở dưới đất chưa hề được xây dựng, nhưng nỗ lực dùng cảm biến điện tử cho việc ngăn chặn tại Lào trở thành một bận rộn chính của không quân Mỹ suốt bốn năm sau. Trong thời gian ngắn, Brown cũng giúp để tiếp diễn chiến dịch ném bom Bắc Việt nam. Tuy thế, những thượng nghị sĩ trong uỷ ban quân lực và những người lãnh đạo không quân ở Đông Nam Á lại ủng hộ mạnh ném bom.
***
Vùng cán xoong nam vĩ tuyến 20° ở Bắc Việt Nam, nơi Bộ trưởng quốc phòng McNamara đề nghị tập trung ném bom, các tổ lái của không quân và hải quân sẵn sàng xuất kích tám nghìn lượt một tháng - tức hơn hai phần ba tổng số phái đi ném bom Bắc Việt nam. Đường sắt phía nam Vinh từ lâu ngừng chạy và ít xe tải chạy trên đường vào ban ngày. Thậm chí về ban đêm không quân Mỹ cũng có hơn 1.500 lượt xuất kích một tháng, với những F-4 mang theo pháo sáng và bom. Những thứ mang lại hiệu quả là tăng hết sức mạnh không quân vào vùng cán xoong hình như xem nhẹ nếu so sánh với cơ hội bằng cách ấy mất ở đồng bằng sông Hồng.
Sức mạnh quân sự và kinh tế của Bắc Việt nam tập trung ở vùng châu thổ. Họ nhận viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc. Qua cảng Hải Phòng có lẽ 4.300 tấn hàng nhập khẩu một ngày, và chừng 1.500 tấn bằng đường sắt từ Trung Quốc sang. Phần lớn vũ khí chở bằng đường sắt, trong lúc xe tải và dầu qua cảng Hải Phòng. Theo một ước lượng của Mỹ giá, lực lượng cộng sản ở Nam Việt nam chỉ cần 15 tấn tiếp liệu một ngày từ Bắc Việt Nam - hoặc dưới sáu nghìn tấn một năm. Để phòng thủ, tuy thế, lực lượng cộng sản cần nhiều hơn nữa; trong thời kỳ gió mùa đông bắc năm 1967-1968, theo tính toán của Hà nội, họ sử dụng khoảng 5 nghìn xe tải cố gắng chuyển 60 nghìn tấn tiếp liệu qua Lào. Thậm chí họ chứng tỏ khó bị ném bom khi ẩn vào ban đêm và những cánh rừng. Những xe tải bị phá huỷ ở vùng cán xoong Bắc Việt hoặc trên đường mòn Hồ Chí Minh tại Lào có thể có nhiều hiệu quả ngay lập tức đối với tình trạng tiếp liệu ở Nam Việt nam hơn là phá huỷ nhà ga và những kho hàng ở đồng bằng sông Hồng, nhưng tấn công vào những mục tiêu trọng yếu vùng châu thổ có thể có tác động mạnh hơn đối với sức mạnh quân sự và kinh tế của Bắc Việt nam.
Trong khi không quân Mỹ và hải quân tiếp tục tìm được quyền rộng tay để thả mìn những hải cảng và ném bom đường sắt ở đồng bằng sông Hồng, đề xuất của McNamara không ném bom ở đó đã đặt một phần thưởng chỉ ra có một sự tiến bộ nào đấy sẵn sàng được chấp nhận. Bởi vì không được thả mìn cảng Hải Phòng, nên hải quân phải ném bom đường vận tải tỏa ra từ cảng - đặc biệt là tuyến đường sắt từ Hải Phòng đến Hà nội, từ đó chỉ có một đường chạy xuống phía nam. Máy bay trinh sát bị hạn chế bên trong Hải Phòng và Hà Nội, nên hải quân đặc biệt chú ý đến Hải Dương, nơi đường sắt vượt qua một chiếc cầu ở giữa tuyến đường sắt Hà nội - Hải Phòng dài khoảng chừng 60 dặm. Cuối tháng 6, Walt Rostow thông báo cho tổng thống rằng hải quân đã phát hiện ra một “cổ chai”. Một tuần sau, Rostow có thể báo cáo rằng trận ném bom ngày 2-7-1967, ở Hải Dương đã làm hỏng nặng vận tải đường sắt dẫn đến Hà Nội.
Trong thời gian ấy, không quân Mỹ ném bom mạnh tuyến đường sắt đông bắc từ Hà Nội tới Trung Quốc. Hơn một phần ba đoạn đường 90 dặm nằm trong vùng tổng thống Johnson cấm máy bay Mỹ tấn công. Vùng đệm 25 hải lý dọc biên giới Trung Quốc là để đảm bảo rằng máy bay Mỹ không vượt qua vào Trung Quốc. Vũ khí của Liên Xô và Trung Quốc chở đến đây bằng các toa tầu khổ ray tiêu chuẩn được chứa hoặc bốc sang các toa tầu khổ ray nhỏ một mét vào ban đêm chạy về nơi ẩn náu ở Hà nội.
Những công nhân Trung Quốc đang làm thêm một thanh ray thứ ba trên tuyến đường sắt đông bắc, thành ra trước cuối năm 1967 họ không cần chuyển tải tiếp liệu của Trung Quốc từ những toa xe khổ ray tiêu chuẩn sang những toa xe khổ ray hẹp của Bắc Việt nam. Việc xây dựng đường sắt ở Trung Quốc, cũng như ở Việt nam, làm cho hệ thống đường sắt Bắc Việt có nhiều giá trị đối với Bắc Việt Nam và bị nguy hiểm ít hơn đối với bom Mỹ. Trước mùa hè năm 1966, Trung Quốc đã phụ thuộc tuyến đường sắt đông bắc và tây bắc Bắc Việt nam vì chỉ có một đường sắt nối duyên hải Trung Quốc với vùng đất giàu khoáng sản ở tây nam Trung Quốc. Việc hoàn thành con đường sắt nối trực tiếp đến Côn Minh đã làm cho Bắc Việt nam chở nhiều tiếp liệu hơn. Đồng thời, công nhân Trung Quốc tại Bắc Việt Nam hoàn thành tuyến đường sắt 3 ray từ Hà nội chạy lên phía bắc đến khu gang thép Thái Nguyên và sau đó chạy về phía đông nối với tuyến đường sắt đông bắc tại Kép. Những phi công Mỹ trở nên rất quen thuộc với tam giác đường sắt hình thành như vậy; họ gọi nó là Tam giác sắt.
Những mục tiêu có thể đóng góp dự phòng cho tuyến đông bắc (cùng với nhánh Thái Nguyên của nó) nằm ở vùng hạn chế bên trong 10 dặm mà tổng thống Johnson cho phép lại quanh Hà Nội ngày 21-5-1967. Trước đó, ông cho phép một số cuộc tấn công vào hệ thống đường sắt bên trong vùng này. Không may, thời gian và một chuỗi những cuộc tấn công đã hạn chế tác động của họ.
Ga Yên Viên, ga lớn nhất Bắc Việt nam 5 dặm về phía đông bắc Hà Nội, bị trúng bom tháng 12-1966. Do sự phản đối sau đó trên báo chí Mỹ, ga này không bị ném bom lại mãi tới tháng 5. Ga Gia Lâm, cách trung tân Hà nội 3 dặm là nhà máy chính sửa chữa toa xe, cũng từng bị ném vào tháng 12 - do nhầm. Johnson cho phép những cuộc không kích khác vào ga Gia Lâm vào tháng 4 và đồng thời cho phép tấn công đường sắt và cầu Đuống. Vì cầu Đuống nằm ở bắc Gia Lâm và nam Yên Viên, việc ném bom cầu này làm ngừng trệ vận tải đường sắt từ Trung Quốc đến Yên Viên (ga này vẫn chưa bị tấn công mãi tới tháng 5) hơn là Gia Lâm.
Trong khi Bắc Việt sửa chữa cầu Đuống và xây dựng đường tránh, giao thông đường sắt dựa vào tuyến đông bắc và nhánh Thái Nguyên đã khiến F-105 và F-4 ném bom nhiều toa chở hàng hơn thường lệ.
Tập đoàn không quân số 7 cố gắng kéo dài tình hình này bằng cách ném bom nhiều lần cầu và nhà ga nằm giữa vùng hạn chế ném bom ở Hà nội và vùng đệm Trung Quốc. Mặc dù nhiều cầu và ga bị ném bom trong năm trước, việc đánh phá mạnh dần lên vào mùa hè năm 1967.
Những cây cầu chủ chốt nằm trên tuyến đường chính chạy qua sông Cầu tại Đáp Cầu gần Bắc Ninh, cách Hà nội khoảng 15 dặm, và sông Thương tại Bắc Giang, cách Đáp Cầu 10 dặm về phía bắc. Thậm chí khi tuyến đường chính bị phá hỏng, còn tuyến đường phụ chạy từ Yên Viên qua Thái Nguyên và nối với tuyến đường chính tại Kép - nằm ở khoảng nửa đường tới Trung Quốc. Không có chiếc cầu nào trên con đường tránh dài như hai chiếc cầu tại Đáp Cầu hoặc Bắc Giang. Thậm chí với những chiếc cầu dài hơn, Bắc Việt và đồng minh Trung Quốc trở nên giỏi giang chữa cầu và làm thêm một chiếc cầu song song hoặc phà. Một chiếc cầu bị bắn gục có ngay một nhịp cầu chuẩn bị sẵn nằm chờ gần đó.
Hầu như tất cả các cuộc ném bom tuyến đường sắt đông bắc diễn ra vào ban ngày và phần lớn những đoàn tàu hoả chạy những nơi an toàn về ban đêm, đáng chú ý là chưa có chiếc toa chở hàng nào bị trúng bom. Các phi công kể rằng nhìn thấy hơn 2.500 toa tầu trên tuyến đường sắt đông bắc và nhánh Thái Nguyên từ giữa tháng 5 đến cuôi tháng 6. Trong số này họ nói đã phá huỷ hoặc làm hư hỏng khoảng một nghìn. Con số toa tầu bị phá huỷ nhỏ hơn nhiều và Trung Quốc hình như thay thế những toa hư hại. Dù sao đi nữa, ước lượng của tình báo Mỹ thay chỗ bản thống kê toa chở hàng của Bắc Việt vào khoảng hai nghìn cuối mùa hè - chỉ ít hơn sáu trăm so với lúc đầu năm.
Tuy thế, có thể lạc quan hơn về những tiến bộ được làm, đặc biệt ở Washington. Cuối tháng 6, Phó tham mưu trưởng không quân, tướng B. K. Holloway, viết cho tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng Ryan, rằng đây là lúc tập trung vào những toa chở hàng Bắc Việt nam. Holloway tin rằng số toa chở hàng Bắc Việt nam bị giảm từ 2.600 xuống sáu trăm, trong lúc đầu máy xe lửa đếm được chỉ giảm có 16 (từ 120 xuống 105). Tuy thế bức tranh quá mức mà Holloway đưa ra về tình hình toa chở hàng, chắc chắn rằng Bắc Việt hiếm khi để những toa chở hàng giữa ban ngày. Một chiến dịch ném bom đầu máy xe lửa sẽ phải thực hiện vào ban đêm, việc tướng Ryan cố gắng tăng số lượt xuất kích đêm đánh phá khu vực Hà Nội có được chút ít thành công.
“Đội đột kích của Ryan” tại Korat, với những chiếc F-105F hai ghế lái, đã ngừng những phi vụ bay đêm vào vùng châu thổ giữa tháng 5 gần một tháng kể từ khi họ bắt đầu.
Như trước đây, phi vụ cuối cùng của họ ở vùng châu thổ chỉ là xuất kích riêng lẻ tại tầm bay thấp, có lẽ một nghìn feet. Máy bay bị bắn rơi ngay tại mục tiêu - ga Kép. Những F-4C của phi đoàn không quân chiến thuật 497 tại Ubon sau đó thử những phi vụ bay ở tầm thấp vào vùng châu thổ. Các phi công phi đoàn không quân chiến thuật 497 nổi danh với biệt hiệu “Ó đêm”, do những chuyến bay đêm của họ đến Lào và vùng cán xoong Bắc Việt nam. Tại những vùng phòng không yếu, họ có thể dùng pháo sáng, nhưng họ không quan tâm nhiều để làm điều này thậm chí tại vùng cán xoong. Chắc chắn ở vùng châu thổ họ không sử dụng pháo sáng, và vận may của họ tỏ ra chỉ tốt hơn chút ít “đội đột kích của Ryan”.
Đêm 22-5-1967, “Ó đêm” phái bốn F-4C tấn công những ga gần Kép. Họ thâm nhập tại độ cao năm trăm feet hoặc thấp hơn, và hai trong số máy bay tấn công trúng đạn cao xạ gần đường sắt. Một chiếc rơi tại chỗ, hai phi công chết. Còn chiếc kia rơi gần bờ biển bắc Hải Phòng, tốp lái nhảy dù. Thiếu tá Richard D. Vogel, phi công chính, bị thương ở lưng trong khi bật khỏi máy bay và bị bắt. Phi công phụ, thiếu uý David L. Baldwin, được trực thăng hải quân cứu thoát.
Thế là kết thúc phi vụ cuối cùng của nỗ lực “Ó đêm” thâm nhập vùng châu thổ tại tầm thấp. Một vài ngày sau một chiếc F-4D từ Florida đến Ubon, và “Ó đêm” sử dụng radar được cải tiến để đột kích ban đêm ở độ cao hơn mười nghìn feet trên vùng châu thổ. Nhưng sự chính xác của phi vụ ban đêm vẫn còn là một câu hỏi, sự tăng độ cao không làm được gì cả để mở rộng nó. Dù vậy, những chuyến đột kích nghèo nàn về đêm cũng chẳng hơn sự quấy rối là mấy.
Nếu phần lớn cuộc không kích vào tuyến đường sắt đông bắc bị hạn chế về ban ngày, ít nhất thời tiết tháng 6-1967 cũng có những ngày trong trẻo khác thường. Trong số sáu nghìn lượt xuất kích vào Bắc Việt nam do Tập đoàn không quân số 7 tiến hành tháng đó, thì khoảng 1500 bay tới gói mục tiêu 6 với hơn ba nghìn tấn bom; cũng là bình thường so với lượng xuất kích của không quân ném bom gói mục tiêu 1 tại vùng cán xoong ngay bắc khu phi quân sự. Tuy thế, nỗ lực đánh phá vùng châu thổ là mạnh nhất trong chiến tranh và tập trung vào đường sắt. Chỉ hai máy bay trúng đạn phòng không địch. Ngày 2-6, một F-105 trúng đạn cao xạ tại mười sáu nghìn feet trước khi lao xuống một ga gần Kép. Cao xạ Bắc Việt hoặc Trung Quốc ghi một kỷ lục khác ngày 14-6 khi họ bắn rơi một F-4 khi đang cố thâm nhập vùng châu thổ ở tầm dưới tám nghìn feet. Thông thường máy bay cố gắng bay ở trên cao dường như có một lớp mây che tầm nhìn của SAM. Dùng máy gây nhiễu đánh lừa tên lửa, phi công có khả năng ở trên tầm chính xác của súng phòng không.
Về những máy bay MiG, họ hiếm xuất hiện vào tháng sáu. Chỉ có một vài trường hợp phi công máy bay cường kích phải vứt bỏ bom để tấn công MiG; vào tháng 9-1966 thì điều này xảy ra hơn 60 lần. Mùa xuân 1967 những trận không kích vào sân bay và những trận không đối không gần như loại bỏ vấn đề MiG. Ngày 11-6, tuy thế, hai F-4 va chạm với nhau trong lúc bảo vệ một F-105 đánh MiG. Gạt ra bên cạnh tai nạn này, các máy bay hộ tống có một tháng dễ chịu.
Những thành công của việc máy bay ném bom bây giờ đã xuyên thủng đồng bằng sông Hồng, cũng như phá huỷ nhiều toa xe hàng hơn thường lệ đã cổ vũ phi công tin rằng họ có khả năng không những chặn lại đề nghị của Bộ trưởng quốc phòng McNamara cắt giảm ném bom tới bắc vĩ tuyến 20°, mà còn thậm chí tăng thêm ném bom ở đó. Họ hy vọng loại bỏ (hoặc ít nhất giảm bớt) những đất thánh dọc biên giới Trung Quốc và xung quanh Hà Nội và Hải Phòng. Johnson cho phép hải quân được quay lại Hà Nội vào tháng sáu để đánh nhà máy điện trở lại và kho hàng Văn Điển, kho này chứa thiết bị cho SAM. Nhưng tất cả những mục tiêu khác bên trong đất thánh vẫn còn bị hạn chế, và quyền tấn công vào khu vực Hải Phòng bị cắt giảm thêm sau khi hai tàu thuỷ Liên Xô bị oanh tạc ở những cảng Bắc Việt nam.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #58 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:10:04 pm »

Tai nạn đầu tiên xảy ra với một tàu thuỷ Liên Xô ngày 2-6-1967, tại cảng Cẩm Phả, cách bờ biển Hải Phòng 40 dặm. Một tốp gồm bốn F-105 đang rời Bắc Việt Nam, thì phi công của chiếc máy bay thứ ba quyết định ném bom một trận địa cao xạ bên bờ biển; cả tốp bay theo. Khi viên phi công lao xuống trận địa, anh ta cho rằng mình nhìn thấy một tàu thuỷ đang đỗ ở vũng tàu bắn lại anh ta, và anh ta oanh tạc tàu. Khi tốp lái trở về sân bay Takhli chiều đó, viên phi công cố sức tìm lại cuốn phim ghi lại trận đánh, nhưng một nhân viên mặt đất trẻ tuổi khi lấy máy ảnh đã vi phạm quy tắc. Một thời gian dài người ta trút tội viên tư lệnh phi đoàn, đại tá Jacksel M. Broughton, người đã làm hỏng chứng cớ vì làm lộ sáng cuốn phim.
Không may cho đại tá Broughton, vụ việc này không khép dễ dàng như vậy. Liên Xô ngay lập tức tố cáo rằng tàu Turkestan của họ bị máy bay Mỹ tấn công, giết chết một thuỷ thủ. Tư lệnh lực lượng Thái Bình Dương, đô đốc Sharp, quả quyết với Washington rằng tai nạn xảy ra không lớn như lời tố cáo của Liên Xô; có khả năng tàu đã trúng phải mảnh đạn cao xạ. Walt Rostow nói với tổng thống Johnson rằng Bộ trưởng McNamara và tướng Wheeler tin rằng Hoa Kỳ không có trách nhiệm về việc này.
Bộ ngoại giao Mỹ thông báo cho Liên Xô rằng máy bay tấn công những mục tiêu trong khu vực được điều tra và không có máy bay nào tấn công tàu thuỷ Liên Xô.
Hai tuần sau đại sứ Liên Xô Dobrynin nói với ngoại trưởng Rusk rằng tàu Turkestan đã cập cảng Vladivostok có một vết thủng chưa nổ do F-105 bắn; ngoại trưởng Gromyko đang xem xét đưa việc này tra trước Liên hợp quốc khi ông và Kosygin tới đó trong một vài ngày. Quá đủ để mở lại một cuộc điều tra, và trong vòng một tuần Hoa Kỳ phải xin lỗi. Đại tá Broughton bị buộc tội phá huỷ bằng chứng, đã trở nên thất vọng và sau đó ông miêu tả trong cuốn sách của mình “Núi Tam Đảo và vào khu buôn bán" (1). Vụ việc này làm những người cầm quyền ở Washington thận trọng hơn, sự kiện tàu Turkestan là cho thấy đánh phá đất thánh của địch cần phải có sự nhấn mạnh từ tổng thống.
Washington vẫn còn nhạy cảm về sự kiện ngày 29-6, tàu thuỷ Liên Xô Mikhail Frunze hình như bị oanh tạc ở cảng Hải Phòng bởi hai máy bay hải quân. Điều này ngay lập tức đưa tới tuyên bố một vùng hạn chế với bán kính bốn hải lý từ trung tâm Hải Phòng. Giống như vùng hạn chế 10 dặm ở Hà nội từng được tuyên bố tháng 12-1966, không được không kích bên trong vùng mới này nếu không có lệnh từ tổng thống. Trong những vùng hạn chế, máy bay Mỹ thậm chí không được phản ứng với súng cao xạ. Phản ứng như thế được phép ở những vùng hạn chế, ngoài 30 hải lý từ trung tâm Hà Nội và 10 hải lý từ trung tâm Hải Phòng.
______________________

(1) Vụ việc của đại tá Broughton được Văn phòng Bộ trưởng không quân gạt đi. Thay vào đó, Broughton bị phạt sáu trăm dollars và về hưu.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Tư, 2010, 02:18:12 pm gửi bởi ngao5 » Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #59 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:11:39 pm »

Việc hình thành vùng hạn chế ở Hải Phòng hình như báo trước cho không quân ít hơn là thực tế, bởi vì chỉ một ngày trước đó, Tiểu ban điều tra Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện tuyên bố họ đang chuẩn bị nghe điều trần việc tiến hành không kích Bắc Việt nam. Vì đa số thành viên tiểu ban nổi tiếng ủng hộ việc sử dụng sức mạnh không quân, những người cầm đầu không quân ở Thái Bình Dương có lý do cảm thấy tin chắc hơn chuyến thăm lần thứ tư của Bộ trưởng quốc phòng McNamara tới Việt nam và những cơ hội làm thất bại đề xuất của ông ta cắt giảm ném bom xuống bắc vĩ tuyến 20.
McNamara đến Sài Gòn đầu tháng 7 khi việc đưa lượng lớn bộ binh Mỹ được giải quyết. Ông tuyên bố sẽ không có việc gọi lính nhập ngũ nữa, tăng thêm lính Mỹ lớn nhất theo yêu cầu của Westmoreland là 42.000, hoặc toàn bộ lính Mỹ là 525.000. Nhưng McNamara vẫn chưa nói rõ về tuyên bố hạn chế ném bom. Hai tuần trước khi McNamara đến, đô đốc Sharp đã gửi một văn bản chỉ dẫn do chính tay ông soạn tới tướng Westmoreland, tướng Momyer, và chuẩn đô đốc John J. Hyland, tư lệnh hạm đội 7; Sharp theo dõi Momyer và Hyland nhẩm lại những chỉ dẫn của họ. Nhưng chỉ dẫn của Sharp làm bộ trưởng quốc phòng tò mò. Sau khi nghe được tin Sharp yêu cầu thả mìn Hải Phòng và rút bỏ phần lớn những hạn chế ném bom, McNamara tỏ vẻ khó chịu bằng cách cám ơn Westmoreland về những chỉ dẫn trong khi phớt lờ tư lệnh chiến trường.
Sự hiện diện Momyer, tuy thế, là thuyết phục hơn. Ông nhấn mạnh mới đây thành công của Tập đoàn không quân số 7 đánh phá tuyến đường sắt đông bắc với thiệt hại máy bay tương đối ít. Mặc dù gợi ý rằng đây là lúc phải “nới rộng và tăng nỗ lực của chúng ta”, ông bỏ lại những gợi ý riêng cho Sharp. Phong cách trí tuệ và cách dẫn giải rất ấn tượng về số liệu của Momyer được người nghe ủng hộ.
Sau khi McNamara trở về Washington, báo chí suy đoán rằng ông sẽ chuyển sang ném bom ở vùng châu thổ. Nhưng, trên thực tế, McNamara nói với Johnson rằng những người lãnh đạo không quân khà nhiều lạc quan về những kết quả ném bom. Tướng Wheeler có khả năng làm giảm bớt ảnh hưởng của McNamara bằng cách đưa bản sao bản chỉ dẫn của Momyer cho tổng thống. Johnson cũng gửi bản sao này tới cựu tổng thống Eisenhower, người thích luận cứ của Momyer rằng sự giảm bớt lưới lửa phòng không bao gồm SAM, có lẽ là do đánh phá đường sắt.
Trong khi bản chỉ dẫn của Momyer có thể đã đóng góp vào ý định của Johnson tiếp tục ném bom ở đồng bằng sông Hồng, thì tổng thống chưa sẵn sàng cho phép mở rộng ném bom. Khi, ngày 20-7-1967, Johnson chấp thuận danh sách 15 mục tiêu mới, không có mục tiêu nào nằm bên trong vùng hạn chế 10 dặm ở Hà nội, vùng hạn chế bốn dặm ở Hải Phòng, hoặc vùng đệm Trung Quốc. Thêm nữa, Johnson đặc biệt không chấp thuận bất kỳ cuộc tấn công nào vào cầu Long Biên bắc qua sông Hồng. Ông cũng phủ quyết ba trong số những mục tiêu ở Hà nội đã từng bị ném bom ít nhất một lần trong năm: nhà máy điện, ga Yên Viên, và xưởng sửa chữa ô tô Văn Điển. Tổng thống không chấp thuận ném bom sân bay MiG tại Phúc Yên, khoảng 15 dặm về phía tây bắc Hà nội.
Việc tăng cường ném bom được tổng thống Johnson ban ra ngày 20-7 mở đường cho trinh sát vũ trang toàn bộ các tuyến đường vận tải (đường bộ, đường thuỷ và đường sắt) toả đi từ vùng hạn chế ném bom ở Hà nội. Nằm giữa chu vi vùng hạn chế (với bán kính 10 hải lý) và chu vi vùng hạn chế (với bán kính 30 hải lý) là một vùng mà hình dạng của nó được các phi công gọi nó là “bánh rán” Hà nội.
Toàn bộ vùng hạn chế Hà nội thường được gọi là miếng “bánh rán” trước khi tạo thành vùng hạn chế. Từ nay về sau, thuật ngữ “bánh rán” đôi khi bao gồm vùng hạn chế và đôi khi vượt quá nó như đơn thuần là lỗ “bánh rán”. Việc mở rộng ném bom cũng bao gồm cả những tuyến thông tin trong vòng “bánh rán”. Khi máy bay bắt đầu ném bom bắc vĩ tuyến 20 mùa hè năm 1965, Johnson đã xác lập vùng hạn chế để cách khỏi Hà Nội. Sau đó, ông cho phép trinh sát vũ trang trong những tuyến xác định bên trong vùng. Trong trường hợp tuyến đường sắt đông bắc, thí dụ, vòng tròn 30 dặm chạy qua phía bắc Bắc Giang, nhưng trinh sát vũ trang được phép từ đó tới Bắc Ninh, ít hơn 20 hải lý tính từ trung tâm Hà Nội. Quy tắc mới cho phép trinh sát vũ trang tất cả những con đường tới vòng tròn 10 dặm, không những ở tuyến đường sắt đông bắc, mà còn những con đường không được dẫn đến Hà Nội.
Từ tháng 30-6-1967, “bánh rán” Hải Phòng cũng có một lỗ thủng. Hôm đó, tổng thống Johnson đã tuyên bố một vùng hạn chế (với bán kính bốn hải lý) bên trong vùng hạn chế Hải Phòng được xác lập trước đây (với bán kính 10 hải lý). Vòng tròn “Bánh rán” Hải Phòng khác với Hà Nội ở chỗ không được trinh sát vũ trang. Kể từ đây, hải quân có lẽ chỉ được phép ném bom một chiếc cầu trong vòng tròn “bánh rán”, nhưng giao thông giữa cầu và cảng lại không thể bị ném bom. Mặc dù ném bom Hải Phòng là do hải quân đảm nhiệm chính, không quân Mỹ rất lo lắng về nó. Việc ngăn chặn tuyến đường sắt đông bắc không thể có tác động lớn chừng nào hàng nhập khẩu chảy vào một cách thoải mái qua Hải Phòng. Tướng McConnell đề nghị tập trung đánh mạnh vào vòng tròn “bánh rán” Hải Phòng cho phép trinh sát vũ trang tất cả những con đường chính chở hàng từ cảng vào nội địa. Thêm nữa, McConnell muốn co lại lỗ “bánh rán”, vùng hạn chế, từ bán kính bốn hải lý xuống bán kính 1,5 hải lý.
Vào mùa thu 1966, khi không quân Mỹ đề nghị thành lập vành đai ngăn chặn qua gói mục tiêu của hải quân tại vùng cán xoong Bắc Việt Nam, đô đốc Sharp đã bác bỏ đề xuất rằng không quân cố gắng kiểm soát một phần đất của hải quân. Thời gian này không quân Mỹ mắc sai lầm tung hết sức ra đánh “bánh rán” Hải Phòng. Do sự vận động về phía hải quân, không quân Mỹ làm Sharp khó chịu chút ít. Ông vạch ra hải quân hết sức cố gắng cô lập Hải Phòng một số thời gian, nhưng ông hoan nghênh bất cứ tăng họ làm việc này.
Kế hoạch “bánh rán” Hải Phòng của McConnell cũng nhận được sự ủng hộ của Walt Rostow, người nhìn thấy nó sẽ gặp những phản đối xung quanh tổng thống Johnson. Johnson cực kỳ phản đối thả mìn cảng hoặc ném bom bến tàu. Ông không ưa đề xuất mùa xuân 1967 của tướng Wheeler ngăn chặn việc chở hàng ra khỏi cảng bằng cách ném bom những mục tiêu gần với bến tàu. Kế hoạch của McConnell hứa hẹn cắt giảm dòng nhập khẩu qua Hải Phòng mà không vấp phải những tai nạn liên quan đến tàu thuỷ Liên Xô. Ngày 31-7, Rostow gửi bản kế hoạch tới Johnson với lời khuyên rằng đây là “một đề xuất khá nghiêm túc và đáng chú ý”.
Gần hơn một tuần sau, tổng thống Johnson cho phép trinh sát vũ trang vòng tròn “bánh rán” Hải Phòng. Đồng thời, ông chấp thuận một vài mục tiêu đường sắt bên trong vùng hạn chế ném bom ở Hà nội và bên trong vùng đệm Trung Quốc. Sự mở rộng quyền ném bom phản ánh sự lạc quan tăng lên của một số cố vấn của Johnson. Rostow nói với Johnson rằng “không Uỷ ban” bây giờ tin rằng họ đang trên “đường chiến thắng” và ủng hộ ném bom mạnh hơn những mục tiêu giao thông và nguồn điện ở vùng Hà Nội-Hải Phòng. Sự ủng hộ bên trong chính quyền với quyết định của Johnson, có lẽ ít hơn áp lực chính trị từ bên ngoài. Ngay buổi sáng sau khi Johnson mở rộng quyền ném bom cho không quân và hải quân, Tiểu ban điều tra sơ bộ của Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện đã mở một cuộc điều tra việc ném bom Bắc Việt nam.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Tư, 2010, 02:19:35 pm gửi bởi ngao5 » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM