Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:37:41 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bay đến Hà Nội và thoát về  (Đọc 93184 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #70 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:34:38 pm »

Dù căn cứ Korat đầy ắp những đám đông đón vua hề Bob Hope một vài ngày sau đó, tổng thống Johnson hình như rất hài lòng về chuyến thăm Korat. Quay về Nhà Trắng, Walt Rostow nói với những sĩ quan liên lạc của Liên quân Mỹ rằng “Momyer làm nhiều ấn tượng tốt tại Korat”. Sự ca ngợi được chuyển tới Tham mưu trưởng không quân Mỹ, tướng McConnell, người từng cho rằng không quân Mỹ lẽ ra nên có “lợi lộc cực đại” vì bài phát biểu của tổng thống ở đó. McConnell phát biểu khá nhiều hơn một năm sau (sau khi Johnson và ông cả hai về hưu), ông cũng tăng vấn đề này lên với người phỏng vấn như đánh giá đúng lời tuyên bố “đã suy nghĩ rất kỹ” của Johnson đối với không quân, người đang chiến đấu dưới những hạn chế được tổng thống bãi bỏ một cách cần thiết .
Thêm nữa, bài phát biểu tại Korat đánh dấu đỉnh điểm sự thông cảm tốt giữa tổng thống Johnson và giới quân sự. Từ phiên điều trần của Uỷ ban Stennis vào tháng 8, ông đã chấp thuận một số mục tiêu từng tìm kiếm từ lâu và đóng sập cánh cửa trước Bộ trưởng quốc phòng McNamara. Từ trước khi McNamara tìm kiếm cắt giảm ném bom Bắc Việt nam, nhiều sĩ quan cao cấp đã khó chịu về chứng bại não của ông và ông chỉ chăm chăm vào những con số tiến bộ. Một số ít tướng hoặc đô đốc bực mình về tuyên bố của Johnson cuối tháng 11 rằng McNamara sẽ dời Bộ quốc phòng trước khi trở thành chủ tịch World Bank.
Những nỗ lực của Johnson để xoa dịu những ai muốn theo đuổi chiến tranh mãnh liệt hơn chỉ có thể làm tức giận những người đang phản đối Mỹ bị lôi cuốn vào chiến tranh. Bất cứ điều gì dành cho quân đội là về chính sách của ông, Johnson luôn bảo đảm các cuộc gặp thân mật khi ông thăm một thanh niên Mỹ, người đang liều mạng tiến hành những chính sách này. Nhưng nơi khác, thanh niên Mỹ la ó những lời phát biểu của ông và hàng ngày biểu tình bên ngoài Nhà Trắng. Ngày 23-10, hơn 20 nghìn người chống đối tuần hành từ Mall về Lầu Năm Góc để thức suốt đêm.
Những người chống đối là một mối nguy hại, nhưng họ có thể làm thuận lợi cho chính quyền; những khẩu hiệu tục tĩu, những lá cờ cộng sản, và những người đàn ông tóc dài chọc tức tính đa cảm của số đông dân Mỹ. Họ không thích biểu tình, tuy thế, họ cũng không thể tiếp tục ủng hộ một cuộc chiến tranh dai dẳng và xa xôi. Cuộc bầu cử tổng thống chỉ còn một năm nữa, mùa thu 1967 Johnson biết rằng theo thăm dò của viện Gallup, chỉ 38% dân Mỹ chấp thuận cách ông điều hành công việc của mình.
Thăm dò của Gallup hâm nóng nhiệm kỳ tổng thống kéo thêm một vài đối thủ chính trị của Johnson: chính trong đảng của ông, thượng nghị sỹ Robert Kennedy bang New York; trong đảng Cộng Hoà, thống đốc Nelson Rockefeller bang New York, cựu phó tổng thống Richard Nixon, và thống đốc George Romney bang Michigan. Sự im lặng của Rockefeller về Việt nam có lẽ làm ông được biết nhiều nhất. Sau chuyến thăm Việt nam mùa xuân 1967, Nixon đã thúc đẩy một chiến dịch ném bom tàn nhẫn hơn đối với Bắc Việt nam bao gồm thả mìn cảng Hải Phòng. Sau đó, Romney đã từ bỏ sự ủng hộ chiến tranh lúc đầu của ông, phàn nàn rằng tướng lĩnh và những nhà ngoại giao đã “tẩy não” ông - bây giờ ông muốn giảm bớt ném bom.
Trước mùa hè năm 1967, hầu như tất cả những đảng viên Đảng Cộng Hoà đã ủng hộ nỗ lực chiến tranh; những chỉ trích của họ bị giới hạn kêu gọi dứt khoát hơn tìm kiếm chiến tranh. Lãnh tụ phe thiểu số Thượng nghị viện, Everett Dirksen (Illinois), là một trong những bạn thân của Johnson và là một trong những người ủng hộ mạnh nhất Johnson trong những tranh luận về chiến tranh. Nhưng Romney không chỉ là người đảng Cộng Hoà ly khai. Cộng với thượng nghị sỹ George Aiken (bang Vermont) (người phê phán từ đầu cuộc chiến tranh), thượng nghị sỹ Mark Hatfield (bang Oregon) và Charles Percy, thượng nghị sỹ bang Illinois, bắt đầu công kích việc Mỹ bị lôi cuốn vào chiến tranh - cũng như hạ nghị sĩ Paul Findley, (bang Illinois), và F. Bradford Morse (bang Massachusetts). Họ dùng những luận cứ để làm họ tương tự một số người đối lập trong đảng Dân Chủ (bao gồm thượng nghị sỹ Kennedy), những người này được vị Chủ tịch uỷ ban đối ngoại Thượng nghị viện nổi tiếng trực tính cầm đầu, William Fulbright (bang Arkansas). Người có ảnh hưởng nhất trong số những người “bồ câu” trong đảng Cộng Hoà là thượng nghị sỹ Thruston Morton (bang Kentucky), cựu chủ tịch đảng Cộng Hoà.
Giống như nhiều người đối lập nổi tiếng khác, thượng nghị sỹ Morton muốn bắt đầu cắt giảm vai trò của Mỹ bằng việc chấm dứt ném bom Bắc Việt nam. Mặc dù trên thực tế Johnson cố gắng nhượng bộ những lời chỉ trích bằng cách chấp thuận mong muốn đầu tiên của họ, vào mùa thu 1967 ông có đủ lý do nghĩ rằng ném bom là một trong những chương trình nổi tiếng của ông. Những cuộc thăm dò công chúng ghi nhận sự bất bình tăng lên đối với nhiệm kỳ tổng thống của ông và việc tiếp tục ủng hộ ném bom Bắc Việt nam. Trong khi dân Mỹ chán ngán chiến tranh, họ thiếu kiên nhẫn về một chiến thắng ít nhất. Vào tháng 10, thăm dò của viện Gallup cho thấy 65% dân chúng phản đối việc ngừng ném bom Bắc Việt Nam mà không đổi lấy một cái gì đó; 55% ủng hộ tiếp tục ném bom ở mức hiện tại; và thậm chí 42% hài lòng nếu dùng bom nguyên tử. Thăm dò này, tuy thế, cũng cho thấy 60% ủng hộ việc kéo dài quyết định Liên hợp quốc về tương lai Nam Việt nam, và 71% muốn đưa quân đội Nam Việt nam quay lại chiến đấu.
Tổng thống Johnson trở nên lo âu về sự ủng hộ của dân chúng đối với chiến tranh vào tháng 8-1967, khi Gallup đưa ra tỷ số rơi dần 47% cử tri Mỹ xuống còn 40%. Điều trần của Uỷ ban Stennis tháng đó dấy lên một vài sự khác biệt giữa Bộ trưởng quốc phòng McNamara với Tham mưu trưởng liên quân về việc ném bom Bắc Việt nam. Tuy thế, làm hư hại nhiều hơn đến lòng mến mộ tổng thống là việc ông gửi cho Quốc hội ngày 3-8 bản kiến nghị tăng thêm 10% thuế thu nhập. Tốn kém của cuộc chiến tranh, cộng thêm tốn kém của chương trình xã hội của Johnson, làm tăng món nợ Liên bang và tỷ lệ lạm phát tăng hơn hai lần (tỷ lệ này trong những năm đầu thập niên 1960 luôn giữ ở khoảng 1% một năm). Để ngăn chặn lạm phát theo chiều xấu hơn, Johnson tin rằng ông phải yêu cầu tăng thuế cao hơn. Đây là điều phiền nhiễu không được nhiều người ưa chuộng và làm tăng áp lực đối với ông trong sự tiến bộ đo được, đến mức ông có thể phán xét chi phí chiến tranh bằng dollars cũng như bằng sinh mạng.
Chưa từng bao giờ kể từ khi lần đầu tiên đưa máy bay ném bom Bắc Việt nam, tổng thống Johnson phải tránh khuấy động quá khứ dân Mỹ. Ông sợ rằng họ có thể đẩy ông vào một cuộc chiến tranh lớn. Nhưng khi sự chống đối chính sách của ông tăng lên vào mùa hè năm 1967, ông bắt đầu nói về việc thay đổi đặc tính nỗ lực chiến tranh ở trước nhà. Tại một cuộc họp với các cố vấn thân cận ngày 18-8 ông phàn nàn rằng Hoa Kỳ không thể chiến thắng mà không có tuần hành, những bài hát, và những chạy đua về trái phiếu. Ông đề nghị một tướng có tài tương tự Douglas MacArthur sang nói chuyện với báo chí ở Sài Gòn. Hình như không thể tìm được ai tài hơn tướng Westmoreland.
Tháng 10-1967, khi Johnson yêu cầu một tướng không quân Mỹ có thể bênh vực việc ném bom Bắc Việt nam, ông nhận được một danh sách đứng đầu là trung tướng George Brown, trợ lý Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân. Trong khi danh tiếng Brown về năng lực và chân thành đưa ông lên đỉnh cao nghề nghiệp của mình, thì tài năng chói sáng của ông rất hiếm, nếu không phải chưa từng bao giờ gắn với tên ông. Danh sách cũng đưa ra nhiều sĩ quan mà tổng thống Johnson từng sa thải, thí dụ viên tướng LeMay. Trong trường hợp tổng thống Truman và tướng MacArthur, không có nghi ngờ gì. Các tướng xuất sắc nghiêng về với bất đồng với tổng thống của họ - xu hướng đóng góp là hiếm hoi đối với họ. Bản thân Johnson là người nổi tiếng về mặt cá nhân, nhưng điều này hiếm thấy qua những bài phát biểu trước công chúng của ông. Khi nghĩ rằng nhân dân Mỹ cần một lời động viên, ông quay sang giúp đỡ những người mà ông đã giữ lại hoặc thay thế trong chức vụ dân sự và quân sự.
Ngày 5-10, Johnson đọc diễn văn tại nội các về trách nhiệm của họ phát biểu về chiến tranh. Ông gợi lại sinh lực mà Franklin Roosevelt được bảo vệ bởi bộ trưởng nội vụ Harold L. Ickes và bộ trưởng dự trữ quốc gia Henry Morgenthau, Jr. “Anh phải ra khỏi hang động của anh và đừng là người hiện đại nhất”, Johnson thêm vào. “Dirksen chỉ là một người đứng lên thay thế chúng ta bây giờ”. Sau khi phó tổng thống Humphrey nhấn mạnh rằng một “nỗ lực quần chúng” cần biến thành “trào lưu chán nản”, tổng thống cho rằng có lẽ “chúng ta nên sa thải các viên chức cơ quan quan hệ công chúng và nhận tất cả những người mới”.
Những nỗ lực của tổng thống Johnson xây dựng hình ảnh được công chúng ủng hộ nhiều hơn hình như chỉ chạy được chốc lát. Thăm dò của viện Gallup đưa ra tỷ lệ tăng kinh khủng mức thấp 38% đầu tháng 11 lên đến 48% trước cuối tháng 1. Thời tiết xấu trên đồng bằng sông Hồng đã giúp những nỗ lực quan hệ công chúng của ông vì trên trang đầu báo Mỹ không thấy đăng tin máy bay Mỹ cuộc tập kích.
Johnson có một số thuận lợi trong việc ngừng ném bom mà không phải gánh chịu cơn giận dữ “phái diều hâu”. Trong thời gian ấy, ông khẳng định với công chúng Mỹ rằng cuộc chiến ở Nam Việt nam đang giành thắng lợi. Để thuyết phục họ, ông gọi tướng Westmoreland và đại sứ Bunker trở về Hoa Kỳ trong một tuần để làm những bài phát biểu lạc quan. Bất chấp những thuận lợi trước mắt được đem ra sử dụng, cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 gây sốc hơn.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #71 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:35:24 pm »

5. Sấm Rền thất bại

Tết 1968 bắt đầu ngày 30-1. Như thường lệ, dân chúng Nam Việt nam chuẩn bị vui Tết một vài ngày trước khi và sau khi Tết, nhưng chính phủ Nam Việt nam chịu thua áp lực Mỹ và tuyên bố ngừng bắn kéo dài chỉ 36 giờ. Mặc dù Mặt trận dân tộc giải phóng thông báo lệnh ngừng bắn kéo dài trọn bộ một tuần, người ta thuyết phục tướng Westmoreland rằng lúc này họ có thể sẽ phá hoại ngừng bắn thậm chí từ bỏ lệnh ngừng bắn còn lớn hơn trong quá khứ. Suốt nhiều tháng, tin tức tình báo đã cảnh báo về cuộc Tổng tấn công. Westmoreland chỉ lo lắng riêng về Vùng chiến thuật I, một phần tư phía bắc Nam Việt nam, nơi có hai sư đoàn Bắc Việt nam đang vây hãm những tiền đồn của thuỷ quân lục chiến tại khu đồi núi Khe Sanh; ông đã huỷ bỏ lệnh ngừng bắn đối với lính Mỹ Vùng chiến thuật I.
Trước lúc mặt trời mọc sáng mồng một Tết, lực lượng cộng sản tấn công những công sở chính phủ ở 7 thành phố, hai thành phố trong số này thuộc Vùng chiến thuật I. Sự mở đầu non nớt của cuộc tổng tấn công diện rộng giúp Mỹ và chính phủ Nam Việt nam có thời gian huỷ bỏ lệnh ngừng bắn trên toàn bộ đất nước và nhắc nhở binh lính trước một cuộc tấn công mạnh mẽ đêm hôm sau. Khi đó cộng sản sử dụng có lẽ tám mươi nghìn người tấn công kẻ thù của họ ở Sài Gòn và hơn một trăm thành phố và thị trấn. Dù những con số kinh ngạc và cường độ của những cuộc tấn công quy mô lớn vào các thành phố trong thời gian đầu tiên, lực lượng Mỹ và Nam Việt nam mất gần một tuần để ngăn bớt tổng tấn công. Tại thành cổ Huế thuộc Vùng chiến thuật I, cộng sản tấn công chiếm giữ những đối tượng quan trọng cho mãi tận cuôi tháng 2. Đây là lần đầu tiên cộng sản phơi bày lực lượng lớn của họ dưới những điều kiện không cho phép họ lùi về rừng rậm. Tướng Westmoreland nghĩ rằng binh lính của ông đang giành được thắng lợi lớn nhất của cuộc chiến tranh. Chỉ số ít phóng viên Mỹ nhìn thấy một chiến thắng của Mỹ trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Nhiều người trong số họ từ lâu đã nhạo báng những lời tuyên bố Westmoreland về những tiến bộ. Giờ đây chiến tranh kéo đến Sài gòn làm họ bị sốc và khẳng định sự nhạo báng của họ. Vì đa số phóng viên được cử đến Việt nam sống ở Sài Gòn, nhiều tin tức đưa ra của họ được xoay quanh thành phố này và câu chuyện về 19 đặc công cộng sản xuyên qua bức tường đại sứ quán Mỹ và chiếm giữ nó trong một vài giờ trước khi bị giết hoặc bị bắt. Bản chất của những cuộc tấn công tự sát như thế khiến cộng sản chiếm được nhiều ngưỡng mộ và thông cảm, đặc biệt khi dân Mỹ thấy trên TV trên trang nhất bức ảnh viên giám đốc cảnh sát Sài gòn, thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, bắn một người bị bắt. Chú thích nhỏ là trên thực tế lực lượng cộng sản vừa giết một trong những thuộc hạ của ông Loan cũng như vợ con họ.
Những tuần lễ sau cuộc tổng tấn công, các sĩ quan về quan hệ công chúng đã dẫn những phóng viên Sài gòn đi thị sát tại những thành phố nơi những cuộc tấn công bị đẩy lùi. Đọc hoặc nhìn quan sát những bài tường thuật có thể đưa đến ấn tượng sai lầm rằng cuộc tổng tấn công tiếp tục diễn ra ác liệt khắp Nam Việt nam. Thậm chí khi quân đội Mỹ và Nam Việt nam đủ sức nhanh chóng chặn đứng cuộc tấn công của cộng sản, báo chí vẫn nặng lời chỉ trích gay gắt. Sau một trong những chuyến đi thị sát chiến trường trước đó tới tỉnh Bến Tre ở đồng bằng Cửu Long, Peter Arnett của hãng tin AP trích dẫn lời một thiếu tá giấu tên giải thích rằng “việc phá huỷ làng mạc để cứu nó là cần thiết”.
Có lẽ thậm chí làm nguy hại hơn cho chính quyền Johnson là lời phán quyết của một phóng viên gạo cội của hãng CBS, Walter Cronkite, sau chuyến thăm ngắn ngủi Nam Việt nam nói với khán giả TV rằng cuộc chiến tranh Việt nam “bế tắc” không thấy ánh sáng cuối đường hầm.
Tin tức từ Việt nam làm đảo ngược sự cải thiện mới đây tỷ lệ ủng hộ tổng thống Johnson do Gallup tiến hành, rơi từ từ 48% xuống 36% dân chúng Mỹ được thăm dò (hơi thấp hơn tỷ lệ đầu tháng 11 trước khi có lời động viên của Westmoreland ở Washington). Vì năm 1968 là năm bầu cử tổng thống, Johnson có nhiều sự khích lệ để thay đổi chính sách về Việt nam của ông. Nhưng nó cũng phải hoàn toàn rành mạch thay đổi nào sẽ cải thiện tình trạng chính trị trong nước của Johnson, để đơn độc cải thiện những vấn đề tại Nam Việt nam. Như vẫn từng xảy ra trong quá khứ, sự tranh cãi trong chính quyền về chính sách Việt nam xoay quanh việc việc ném bom và triển khai quân đội. Trong nhiều khía cạnh, cuộc tranh luận này là sự hâm lại cuộc tranh luận xảy ra hồi tháng 5-1967, trừ việc hậu quả thay đổi đối với ném bom.
Lần này, đề xuất cũ của Bộ trưởng quốc phòng McNamara hạn chế ném bom Bắc Việt Nam đến nam vĩ tuyến 20 được hồi sinh khi ngoại trưởng Rusk đưa ra. Cuối cùng nó đưa đến sự tán thành của tổng thống - ngay sau khi Johnson thay McNamara bằng Clark Clifford, một luật sư ở Washington và cố vấn tổng thống từ thời Truman.
Đề xuất của McNamara có lẽ được tổng thống chấp thuận hồi mùa xuân 1967 nếu như nó không vướng Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện. Khi thượng nghị sỹ Symington kêu gọi điều trần dưới sự che chở thượng nghị sỹ tiểu ban điều tra Stennis, tổng thống gạt bỏ việc hạn chế ném bom và chấp thuận những mục tiêu mới, bao gồm cầu Long Biên. Nhưng uỷ ban không nhắc lại động thái này sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân.
Thành viên đầu tiên của Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện phản ứng công khai về cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân là nghị sỹ đảng Cộng Hoà, Strom Thurmond (bang Nam Carolina), người từng phát biểu chống lại dự thảo bộ luật dân sự khi ông nhận được tin tức. Ông gạt ra rìa những nhận xét được chuẩn bị từ trước và bắt đầu nói chuyện một cách buồn rầu về sự liên quan giữa những sự kiện ở Nam Việt nam và vụ Bắc Triều Tiên bắt giữ tàu do thám Pueblo xảy ra chỉ một tuần trước đó. Theo quan điểm của ông, gốc rễ những vấn đề của Mỹ tại Việt nam sự chấp nhận bế tắc trong chiến tranh Triều Tiên; đây là thời gian Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng sức mạnh của mình. “Hãy dùng sức mạnh của chúng ta để đóng cửa cảng Hải Phòng”, ông thúc giục. “Hãy dùng sức mạnh của chúng ta ném bom họ để họ không thể chịu đựng được - Nếu cần, hãy sử dụng tất cả các cách ném bom mà chúng ta sử dụng trong thế chiến II”.
Sau đó, Thurmond và những thành viên của uỷ ban nói thêm chút ít công khai về việc mở rộng chiến dịch ném bom. Họ đã bàn cãi bài xã luận đăng trên tờ New York Times hôm chủ nhật, bài này viết rằng nếu cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân “thành công rực rỡ” chứng tỏ một cái gì đó, thì nó chứng tỏ rằng ném bom Bắc Việt Nam để làm giảm ý chí hoặc khả năng chiến đấu của kẻ thù đã bị thất bại. Tất nhiên, sự chỉ trích từ lâu của uỷ ban này về sự kém cỏi ném bom ai cũng biết, nhưng không ai trong số những thượng nghị sĩ này từng nói rằng mức độ ném bom hiện nay chẳng có một sự đóng góp chút nào.
Ba ngày kể từ khi cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện bắt đầu phiên điều trần kín được lên lịch từ trước về dự thảo chi tiêu cho quốc phòng trong năm tài chính tới. Nhân chứng mở đầu là Bộ trưởng quốc phòng McNamara, người vẫn còn còn một tháng làm việc ở Lầu Năm Góc, và tướng Wheeler, Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân. Vì thượng nghị sỹ Russell ốm, thượng nghị sỹ Stennis ngồi chế chủ tịch. Stennis thậm chí nhã nhặn hơn thường lệ, nói rằng McNamara là “một Bộ trưởng quốc phòng hiệu quả nhất tôi chưa từng thấy hoặc biết”. Cũng vẫn những thượng nghị sĩ từng cật vấn McNamara hồi tháng 8, bây giờ không đề cập vấn đề một cách hăng hái nữa. Từ tướng Wheeler, họ biết chắc chắn rằng các tham mưu trưởng liên quân vẫn còn ủng hộ thả mìn cảng Hải Phòng.
Ba tuần lễ sau đó, khi cơn sốc ban đầu cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã hết, Bộ trưởng và Tham mưu trưởng không quân Mỹ xuất hiện trước khi uỷ ban. Trong phiên điều trần buổi sáng, thượng nghị sỹ Stennis cảnh báo tướng McConnell rằng sau bữa ăn trưa ông sẽ thảo luận việc hạn chế ném bom. Sau này khi thuật lại quy tắc chiến đấu, McConnell nói rằng ông không muốn bày tỏ bất đồng với “những chính sách hoặc những hạn chế mà tổng thống áp đặt”. Lời tuyên bố này làm vài thành viên của uỷ ban bực mình. Khi quở trách McConnell và bộ trưởng Brown về tầm quan trọng những phát ngôn, những thượng nghị sĩ này cho rằng sự im lặng công khai của giới lãnh đạo không quân Mỹ đã góp phần vào tình trạng bất tín nhiệm không lực Mỹ ở Đông Nam Á.
Sự chỉ trích này làm McConnell lúng túng khá mạnh đến mức ông từ bỏ đương đầu. Ông phản đối, nói rằng ông làm tròn bổn phận của mình và rằng ông đã trả lời các vấn đề của uỷ ban một cách thành thực. “Khi tôi làm việc đó - ông kết luận - tôi đã làm mọi thứ mà tôi nên làm, và tôi không thuyết phục được nhân dân Mỹ theo quan điểm của tôi về việc giảm bớt Sấm Rền”. Nhưng một vị tướng sẽ làm gì ở Bắc Việt Nam nếu ông ta được tự do hành động?
Câu trả lời của McConnell biểu thị mức độ ông muốn nói có lẽ là suy nghĩ của ông đối với thực tại chính trị ở Washington: “Nếu tôi được rộng tay làm bất cứ cái gì mà tôi muốn ở Bắc Việt nam, tôi không chẳng phải bận tâm những gì tôi làm, bởi vì đó là trách nhiệm mà tôi chưa từng coi nó đè nặng lên tôi”.
Tất cả những thành viên Uỷ ban thất vọng về quan điểm của tham mưu trưởng không quân Mỹ đồng tình với chính sách ném bom, những thượng nghị sĩ trong uỷ ban quân lực không muốn khuấy động công chúng nhân danh ném bom mạnh hơn.
Trong khi Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện họp kín, uỷ ban đối ngoại Thượng nghị viện họp trước ống kính truyền hình để thẩm vấn ngoại trưởng Rusk trong hai ngày. Từ 1966 Rusk không đồng ý xuất hiện trước phiên họp công khai của uỷ ban, và lần này Uỷ ban đối ngoại từ chối phiên họp kín với Rusk. Giờ đây thượng nghị sỹ Fulbright - chủ tịch Uỷ ban đối ngoại - có nhiều cơ hội tấn công chính quyền trước khán giả toàn quốc. Mặc dù Fulbright đeo hình ảnh “bồ câu và cành oliu”, nhưng không biểu thị thái độ theo hướng ngoại trưởng.
Uỷ ban đối ngoại và uỷ ban quân lực chỉ có một thành viên gắn chặt nhất không quân Mỹ bởi vì ông từng là bộ trưởng không quân đầu tiên năm 1947. Vỡ mộng về chiến tranh, thượng nghị sỹ Symington thay đổi quan điểm sau mỗi chuyến đi tới Đông Nam Á ít nghiêng về theo hướng ủng hộ chính quyền. Trước mùa hè năm 1967 ông ủng hộ đánh mạnh Bắc Việt Nam hoặc rút khỏi cuộc chiến. Sau khi cuộc tấn công Tết Mậu Thân, ông nhấn mạnh đến đề xuất rút quân. Nhân cơ hội buổi điều trần công khai ông giải thích sự thay đổi trong suy nghĩ của mình. Chiến tranh đã trở nên quá tốn kém với nền kinh tế Mỹ, ông nghĩ, và chính sách leo thang của Mỹ đã thất bại một phần bởi vì người Mỹ đã đánh giá thấp “sự bền bỉ và tinh thần yêu nước của Việt Cộng và nhân dân Bắc Việt nam ”. Tuy thế, ông tin rằng Hoa Kỳ có thể đánh tan “khả năng xâm lược của địch” nếu không quân và hải quân được sử dụng “kiểu cách thông thường” từ năm 1965. Nhưng ông chỉ ra rằng điều này không hẳn đúng, bởi vì “lực lượng phòng không Bắc Việt Nam đã lớn mạnh đến từng vị trí bây giờ sự phòng thủ khá thành công trong lịch sử thế giới”.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #72 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:36:14 pm »

Vấn đề tán thành ném bom mạnh hơn là ở chỗ không phải là liều lĩnh đưa máy bay có khả năng ném nhiều bom trong thời tiết xấu Bắc Việt Nam - đó là B-52. Thậm chí tướng McConnell tỏ ra miễn cưỡng trong phiên điều trần của Uỷ ban Stennis vào tháng 8, và báo cáo của tiểu ban Stennis không gợi ý dùng B-52. Không dùng B-52, điều này ít có khả năng đem ra sử dụng ném bom Bắc Việt Nam để trả đũa cuộc tấn công Tết Mậu Thân, vì thời tiết xấu làm giảm chiến dịch ném bom ít nhất đến giữa tháng 4.
Trong nội bộ chính quyền, việc sử dụng B-52 là một vấn đề mà họ lo ngại sẽ dẫn tới một cuộc chiến tranh lớn. Cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống, Walt Rostow, gợi ý thả mìn cảng Hải Phòng như một cái gì đó có thể làm trong thời tiết xấu. Nguồn thông tin chính của Rostow về thả mìn là từ một sĩ quan không quân, thiếu tướng Robert N. Ginsburgh, sĩ quan liên lạc tham mưu trưởng liên quân của Nhà Trắng. Ginsburgh nói với Rostow rằng thả mìn những cảng Bắc Việt nam có thể cải thiện được chiến thuật thương lượng, vì chúng có khả năng bắt Bắc Việt phải thương lượng đơn thuần bằng việc đề nghị không tiếp tục thả mìn. Thả mìn cũng là ít mạo hiểm hơn những lựa chọn khác như ném bom đê điều, hoặc ném bom những thành phố Bắc Việt Nam sau khi cảnh báo dân chúng đi sơ tán. Nhưng tất nhiên, thả mìn Hải Phòng là một bước mà tổng thống thường bác bỏ từ trước, và tác động của nó tới Bắc Việt có lẽ bị giảm nhiều nếu tuyến đường sắt từ Trung Quốc đến Hà Nội không bị ngăn chặn đồng thời. Ít nhất cho tới khi gió mùa đông bắc giảm bớt, chúng không cho phép máy bay cường kích ném bom hiệu quả hơn.
Bất cứ sự quan tâm nào mà tổng thống Johnson lẽ ra phải đưa ra những hành động cực đoan bị nản lòng bởi báo chí suy đoán rằng ông đang suy tính sử dụng vũ khí hạt nhân tại Khe Sanh. Johnson rất bối rối khi biết rằng cấp dưới của ông, trên thực tế, đang tìm cách sử dụng khả năng này. Việc kêu gọi dùng vũ khí hạt nhân đã từng được thảo luận như cách để phá vỡ vòng vây của Việt Minh tại Điện Biên Phủ năm 1954, Walt Rostow đưa vấn đề lên tướng Ginsburgh, rồi ông này đến lượt lại trình lên tướng Wheeler, Wheeler đã gửi thông báo cho đô đốc Sharp và tướng Westmoreland. Hai vị tư lệnh ở Hawaii và Việt nam đã nghiên cứu sự lựa chọn này, nhưng họ đáp lại rằng họ nghĩ chẳng cần thiết phải sử dụng vũ khí hạt nhân.
Trong thời gian ấy, tướng Eisenhower, người đang thúc giục Johnson tăng thêm ném bom Bắc Việt Nam hơn nữa kể từ khi vụ bắt giữ tàu Pueblo, bây giờ nói với báo chí rằng vũ khí hạt nhân không nên sử dụng tại Khe Sanh (thậm chí khi còn là tổng thống ông đã không sử dụng chúng tại Điện Biên Phủ). Tổng thống Johnson phải cam đoan tại cuộc họp báo rằng ông không có ý sử dụng vũ khí hạt nhân, và Bộ trưởng McNamara phải gọi điện cho một số công dân Mỹ đang lo ngại để thuyết phục họ rằng không có những gợi ý như thế.
Tin đồn sử dụng vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á củng cố sự xác định của tổng thống Johnson không làm tăng thêm thảm kịch dùng không lực Mỹ. Mặc dù các tham mưu trưởng liên quân hy vọng rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân dẫn tới mở rộng quyền ném bom của họ, họ thừa nhận rằng Johnson sẽ phủ quyết thả mìn cảng Hải Phòng và không yêu cầu làm việc đó. Họ tin rằng việc thả mìn Hải Phòng sẽ dẫn đến đối đầu với Liên Xô, nhưng những tham mưu trưởng hy vọng thuyết phục Johnson là thương vong dân thường sẽ ít hơn khi ném bom Bắc Việt nam. Sau rốt, nhiều dân thường Nam Việt nam đang chết dưới bàn tay cộng sản. Những tham mưu trưởng yêu cầu Johnson không những bãi bỏ hạn chế ném bom những mục tiêu cố định ở Hà nội và Hải Phòng, mà còn cho phép trinh sát vũ trang các tuyến giao thông bằng tàu thuỷ, xe vận tải và tầu hoả nằm sát trung tâm những thành phố đó.
Từ mùa hè năm 1967, tổng thống Johnson cho phép trinh sát vũ trang trên những tuyến đường chính toả đi từ “vùng bánh rán” Hà Nội và Hải Phòng, phần vùng cấm ném bom nằm ngoài mỗi vùng ném bom hạn chế. Vùng cấm ném bom Hà Nội (trong đó những mục tiêu cố định cần phải được tổng thống Johnson phê chuẩn có bán kính 30 hải lý, trong lúc vùng hạn chế ném bom ở Hà nội có bán kính 10 hải lý. Tháng 1-1968, tổng thống đã xác lập một vùng hạn chế mới với bán kính 5 hải lý, nhưng trinh sát vũ trang vẫn giữ giới hạn 10 hải lý. Đối với Hải Phòng, tuy thế, vùng hạn chế đưa ra hồi tháng 1-1968 có bán kính 5 hải lý được mở rộng hơn so với vùng cũ chỉ bốn hải lý, đặt vùng phụ cận của vòng “bánh rán” rộng ra (trong khi vùng cấm ở Hải Phòng có bán kính 10 hải lý). Việc tranh luận vấn đề này có vẻ một cái gì đó lộn xộn và các tham mưu trưởng liên quân hy vọng để đơn giản hoá nó bằng cách cho họ tự do hơn. Họ muốn thay thế tất cả những vùng cũ bằng một vùng mới cho từng thành phố, Ở Hà nội có bán kính ba hải lý và Hải Phòng có bán kính 1,5 hải lý.
Tướng Wheeler đề nghị tổng thống Johnson cho những vùng hạn chế nhỏ hơn tại bữa ăn trưa hôm thứ ba đầu tiên kể từ cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Ngoại trưởng Rusk phản đối, nói rằng điều này dẫn đến thương vong dân thường nhiều hơn. Bộ trưởng quốc phòng McNamara nói thêm rằng sẽ tăng thêm máy bay bị rơi và hiệu quả về mặt quân sự bị xem nhẹ. Wheeler phản đối rằng Bắc Việt có hệ thống báo động để dân chúng chui vào hầm trú ẩn. Bất cứ sự gia tăng thương vong ở Bắc Việt nam cũng không thể so sánh với “lò mổ” của Nam Việt nam. Clark Clifford, bộ trưởng quốc phòng đứng về phía Wheeler với luận cứ rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân rõ ràng bác bỏ đề nghị thương lượng của tổng thống Johnson. Rusk đưa ra một sự dung hoà là tổng thống bãi bỏ hạn chế ném bom những mục tiêu cố định bên trong 5 hải lý từ trung tâm mỗi thành phố, và cho phép ném trở lại những mục tiêu cố định mà ông từng cho phép trước đây. Johnson nghe lời khuyên này, cho phép không quân Mỹ ném bom những mục tiêu cũ ở Hà nội (bao gồm cầu Đuống và cầu Long Biên) và cho phép hải quân ném bom những mục tiêu ở Hải Phòng.
Vì thời tiết tốt phải chờ đến cuối tháng 4, các tham mưu trưởng liên quân cho rằng quyền ném bom những mục tiêu mới để chặn lại cuộc tấn công Tết Mậu Thân phải hiệu lực ít nhất ba tháng. Trong thời gian ấy, những sân bay Bắc Việt nam là những mục tiêu họ cảm thấy cấp bách. Máy bay ném bom Il-28 trở lại sân bay Phúc Yên, nơi họ không nhìn thấy nó từ mùa xuân 1967. Không giống những chiếc MiG-21 nhỏ bé và mới hơn tại Phúc Yên, Il-28 có vừa đủ tầm xa vươn tới Đà Nẵng mà không cần hạ cánh xuống một sân bay ở vùng cán xoong Bắc Việt. Khi tướng Wheeler trình vấn đề này lên tổng thống ngày 7-2, Johnson ngay lập tức quan tâm đến việc tấn công sân bay Phúc Yên và Wheeler cam đoan với Johnson rằng sân bay này sẽ bị ném bom ngay khi thời tiết cho phép.
Tập đoàn không quân số 7 không đợi thời tiết tốt. Tướng Momyer sẵn sàng ra lệnh phá huỷ những máy bay Il-28, và chỉ vài ngày sau, phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 tại sân bay Ubon (Thái Lan), tiến hành một cuộc tập kích táo bạo tầm thấp. Một phi đội gồm bốn F-4 tiến vào Bắc Việt Nam dường như là một phi vụ trinh sát. Trong khi một nửa phi đội báo rằng họ đã ở tầm cao bằng cách bật máy hỏi đáp nhận dạng bạn thù (Bắc Việt có khả năng thẩm vấn), tổ lái tình nguyện trong khoang hai chiếc F-4 khác bay là là trên Phúc Yên tại độ cao 250 feet. Các phi công Mỹ nghĩ rằng bom bi của họ phải làm hư hỏng ít nhất một chiếc Il-28. Bắc Việt không bất ngờ chút nào, súng phòng không của họ bắn trúng một động cơ chiếc F-4 đi đầu, khiến nó phải cố gắng chạy sang Lào, đại uý Tracy K. Dorsett và đại uý John A. Corder nhảy dù, được trực thăng cứu thoát. Quay về Ubon họ xum họp với những phi công tình nguyện thiếu tá Larry D. Armstrong và thiếu uý James H. Hall. Cả bốn người được thưởng huân chương chữ thập của không quân Mỹ.
Hai ngày sau, phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 làm đợt cuộc tập kích thứ hai nhằm loại bỏ Il-28 tại Phúc Yên. Đội hình lớn gồm mười sáu F-4 mang bom bi (được tám F-4 và tám F-105 hộ tống) đã không kích Phúc Yên trong thời tiết xấu mà không bị rơi chiếc nào. Chiến công này là do F-4 vọt cao tới 5 dặm từ mục tiêu và thả bom.
Ngày 14-2-1968, Ubon lại tổ chức một cuộc tập kích vào sân bay Phúc Yên. Lần này một phi đội F-4 có ý dùng radar để thả bom, nhưng thời tiết tốt nhất trong một tháng cho phép họ bổ nhào ném bom. Không có chiếc Il-28 hoặc MiG-21 trúng đạn. Bắc Việt nam cũng chẳng đưa máy bay tấn công những mục tiêu tại Nam Việt nam. Từ đó về sau, Bắc Việt chỉ để hai máy bay Il-28 tại Phúc Yên, và chúng chỉ bay ở miền bắc và theo đường bay áp sát máy bay Mỹ. Năm chiếc Il-28 khác đậu tại những sân bay bắc biên giới Trung Quốc cùng với lực lượng MiG. Do những đợt cuộc tập kích vào sân bay những năm trước đây, Bắc Việt Nam gửi hơn một trăm máy bay MiG ở Trung Quốc, chỉ để dưới 20 ở lại những sân bay Phúc Yên, Gia Lâm, và Kép (cũng có người nghĩ là họ giấu máy bay ở nông thôm và cẩu chúng tới sân bay bằng trực thăng khi cần).
Mặc dù cuộc tập kích ngày Valentine (ngày tình yêu) vào Phúc Yên không gây thiệt hại cho MiG đậu trên mặt đất, nhưng có vài chạm trán trên không. Như thường lệ một cặp MiG-21 âm mưu bắn và chạy ở độ cao hơn 30 nghìn feet (lần này họ không thành công vì bị phát hiện ra từ sớm) trong khi ít nhất 5 MiG-17 chờ sẵn ở độ cao dưới 15 nghìn feet. MiG-17 âm mưu kéo từng chiếc của những phi đội F-4 hộ tống vào những cuộc đụng độ nhỏ riêng rẽ, nhưng MiG không giành nổi thắng lợi và bị bắn rơi hai chiếc (một chiếc bị trúng đạn và chiếc kia trúng tên lửa dẫn bằng radar Sparrow). Thiếu tá Rex D. Howerton và đại tá David O. Williams, Jr., chia điểm chiến thắng không chiến Sấm Rền với phi công phụ của họ, thiếu uý Ted L. Voight II và thiếu uý James P. Feighny, Jr.
Cộng với cuộc tập kích vào Phúc Yên, Tập đoàn không quân số 7 tận dụng những ngày thời tiết tốt hiếm hoi để tấn công cầu Đuống, một trong những mục tiêu mà tổng thống Johnson cho phép chỉ một tuần trước đó. Từ sau cuộc tập kích hồi tháng 12, cầu Đuống đã trở lại hoạt động, trong khi cầu Long Biên vẫn còn gẫy gục. Vào buổi chiều muộn, lực lượng không kích từ Takhli và Korat cùng kéo về đánh cầu từ hai hướng ngược nhau.
Những F-105 mang trong khoang mười sáu bom từ phi đoàn không quân chiến thuật 355 tại Takhli xuống thấp dãy núi Tam Đảo từ phía tây, cùng với tám F-105 hộ tống để áp đảo các trận địa SAM và tám F-4 để chống lại các máy bay MiG. Một lực lượng tương tự hộ tống một số lượng giống như thế những F-105 của phi đoàn không quân chiến thuật 388 tại Korat khi họ thâm nhập Bắc Việt Nam từ Vịnh Bắc Bộ. Mặc dù hai phi đoàn đã ném 48 quả bom 2.000 cân Anh và 3.000 cân Anh, chỉ có một quả trúng cầu, và ba ngày sau những đoàn tàu hoả lại băng qua cầu. Một F-105 đi hộ tống của phi đoàn Korat bị SAM bắn rơi và đại uý phi công Robert M. Elliot tử trận.
Còn những âm mưu khác lợi dụng thời tiết tốt ngày 14-2, một phi đội gồm bốn F-4 từ Ubon ném bom Walleye vào nhà máy nhiệt điện thuộc khu gang thép Thái Nguyên, chừng 50 dặm về phía bắc Hà Nội. Ít nhất một quả bom Walleye trúng nhà máy. Hai quả bom Walleye khác bị khói bụi làm mờ và làm nhiễu hệ thống dẫn đường của nó. Mặc dù Walleye có thể rất chính xác, nhưng đầu nổ tương đối nhỏ đôi khi không đủ mạnh để gây hư hại thậm chí cả khi trúng mục tiêu. Dù sao đi nữa, nhà máy điện vẫn hoạt động và nằm trong bản danh sách mục tiêu.
Trong những tuần lễ thời tiết xấu tíep theo, có ít những trận ném bom mà Tập đoàn không quân số 7 hoặc hạm đội 7 có thể làm đối với vùng Hà Nội-Hải Phòng.
Trong thời gian ấy, rốt cuộc Thái Lan cũng phải cho phép máy bay Mỹ đậu tại Thái Lan được ném bom tại Nam Việt nam, gần một năm sau khi B-52 đậu tại Thái Lan được phép sử dụng tại Nam Việt nam. Do vậy, trách nhiệm chính của máy bay đậu tại Thái Lan đối với cuộc tấn công Tết Mậu Thân là tấn công các ngọn đồi quanh Khe Sanh, nơi họ phối hợp với B-52 và những máy bay khác thả một lượng bom chưa từng thấy vào một khu vực khá nhỏ - một trăm nghìn tấn trong vài tuần, bằng số bom ném xuống vùng Hà nội-Hải Phòng trong ba năm.
Vì B-52 không được sử dụng gần Hà Nội và Hải Phòng, những mục tiêu quan trọng nhất ở Bắc Việt Nam được gió mùa đông bắc che chở khỏi không lực Mỹ. Những phi vụ riêng lẻ của máy bay A-6 thuộc hải quân và thuỷ quân lục chiến và những phi đội kém chính xác hơn gồm bốn máy bay F-4 hoặc bốn máy bay F-105 (được trạm radar Phou Pha Thi tại Lào dẫn đường) có thể làm được, không hơn quấy rối địch. Một số thiết bị của cảng sông Hồng ở bờ nam Hà Nội (Phà Đen - ND) bị tấn công lần đầu tiên mà không bị thiệt hại. Không may những mục tiêu cần ném bom lại gặp thời tiết xấu nên đòi hỏi độ chính xác lớn hơn họ có thể huy động được. Họ được lệnh bịt miệng giọng nói của phát thanh viên “Hannah Hà nội” bằng cách ném bom đài phát thanh Hà nội. Không có gì ngạc nhiên về thất bại của họ, trong lúc Nhà Trắng hết sức thận trọng. Sau khi một máy bay A-6 tấn công đài phát thanh, Walt Rostow được thông báo rằng đài phát thanh vẫn giữ lịch phát sóng như thường lệ “cái đó chỉ ra rằng máy bay của chúng ta ném bom trượt”.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #73 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:36:54 pm »

Từ khi bắt đầu Sấm Rền năm 1965, chính quyền Johnson đã gắn việc ném bom ở Bắc Việt Nam với bộ binh Mỹ tại Nam Việt nam. Thuỷ quân lục chiến được đưa đến với mục đích tức thời bảo vệ sân bay Đà Nẵng, nơi xuất phát một số cuộc tập kích Bắc Việt nam (trong khi một số cuộc tập kích khác xuất phát từ Thái Lan phải giả vờ rằng họ xuất phát từ Đà Nẵng). Khi thuỷ quân lục chiến và bộ binh Mỹ bắt đầu tổng tấn công, cơ sở hợp lý của chính quyền xoay tròn lại đến nỗi việc ném bom Bắc Việt Nam khi đó được được xem như để giảm bớt thương vong lính Mỹ tại Nam Việt nam.
Thậm chí những chỉ trích việc tổng thống Johnson tiến hành chiến tranh thường củng cố mối nối kết giữa bom và lính. Ngay từ đầu tháng 4-1965, giám đốc CIA John McCone đã cảnh báo rằng việc đưa quân Mỹ tới Nam Việt nam sẽ không bao giờ giành được chiến thắng trừ khi Bắc Việt Nam bị ném bom tàn khốc. Mặc dù CIA ngừng kêu gào ném bom mạnh hơn sau khi Helms thay McCone, những phân tích của CIA tiếp tục báo cáo rằng leo thang ném bom có ít hiệu quả. Hoặc là họ không lạc quan về giá trị của việc đưa thêm nhiều lính Mỹ tới Nam Việt nam.
Việc song song tăng cường đưa quân và ném bom đã kết thúc vào mùa hè năm 1967, khi chính quyền từ chối yêu cầu của Westmoreland thêm hai trăm nghìn quân và hứa hẹn với ông ta chỉ 42 nghìn mà thôi. Bất chấp đề xuất McNamara kết thúc ném bom đồng bằng sông Hồng, tổng thống Johnson đi theo một số yêu cầu của Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện đòi tăng thêm nhiều mục tiêu hơn ở đó. Nhưng qua những kênh ngoại giao và qua bài phát biểu của ông tại San Antonio, Johnson đưa ra đề nghị thôi ném bom Bắc Việt Nam chỉ cần Bắc Việt đồng ý thương lượng một cách nghiêm chỉnh đồng thời không tăng tỷ lệ lính thâm nhập và tiếp liệu vào Nam Việt nam.
Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, có cái nhìn thanh thản về khả năng của việc ngừng ném bom nhiều hơn là đồng nghiệp của ông trong không quân và hải quân. Sau bài phát biểu tại San Antonio ông thành lập một nhóm nghiên cứu thuộc Tham mưu trưởng liên quân để kiểm tra câu hỏi việc ngừng ném bom với câu hỏi cụ thể là hành động Bắc Việt nam sẽ ra sao khi quay lại ném bom. Nhóm gồm mười một người, 7 người thuộc quân đội và chỉ có một người thuộc không quân. Họ dự đoán rằng sự thâm nhập của Bắc Việt nam sẽ tăng trong thời gian ngừng ném bom, nhưng sự tăng này rất kho đo được và do vậy không đáng phải ném bom trở lại.
Trong khi đó là tiên đoán giới quân sự có thể đồng ý, thì nhiều người trong lực lượng không quân và hải quân được báo động rằng vị chủ tịch và nhóm nghiên cứu của ông thậm chí đang xem xét khả năng của ngừng ném bom. Tướng Ginsburgh, một sĩ quan không quân Mỹ, là sĩ quan liên lạc của Wheeler trong văn phòng Hội đồng an ninh quốc gia, nói với vị chủ tịch rằng báo cáo của nhóm nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết thả mìn những hải cảng và ném bom đê điều. Các tham mưu trưởng liên quân cuối cùng ký vào một biên bản ghi nhớ, kêu gọi ném bom trở lại sau 30 ngày nếu Bắc Việt đến thời điểm đó không đồng ý rút tất cả quân đội của họ ra khỏi Nam Việt nam.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân để lộ sự ủng hộ mỏng manh bên trong Nhà Trắng, Quốc hội, và thậm chí của các tham mưu trưởng liên quân về thả mìn Hải Phòng hoặc dùng B-52 ném bom đồng bằng sông Hồng - chỉ có hai hành động không kích gây ấn tượng được tiến hành trong điều kiện thời tiết mây mù của tháng 2 và tháng 3-1968. Tuy thế, việc tăng quân là một vấn đề khác. Tướng Wheeler nghĩ rằng cuộc khủng hoảng dịp Tết Mậu Thân có thể tạo ra thiện chí mở rộng quân sự mà cuộc tổng tấn công của Trung Quốc đã tạo ra trong chiến tranh Triều Tiên.
Phản ứng ban đầu của tổng thống Johnson đối với cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân đã làm vững tin Wheeler, và ngày 3-2, Wheeler gửi điện cho Westmoreland nói rằng tổng thống đã hỏi vị tư lệnh chiến trường của mình có cần tăng viện hay không. Tại điểm này trở ngại chính của Wheeler hình như là Westmoreland, người chậm hiểu vấn đề. Westmoreland nghĩ rằng các sếp của ông đang tặng những người cộng sản một trận đòn đau, và trong khi lực lượng tiếp viện luôn luôn nhỏ giọt, ông cảm thấy cũng chẳng cần nữa tại thời điểm này.
Trong thời gian ấy, tổng thống hăm hở gửi quân tăng viện ngay lập tức, nhưng vẫn không muốn gọi quân dự bị. Chỉ một vài ngày trước đó, ông đã gọi hơn mười nghìn lính trù bị không quân và hải quân để đáp lại vụ tàu do thám Pueblo bị bắt giữ. Những lời phàn nàn luôn đến từ những người họ hàng và những người đang có công ăn việc làm rằng những người bị bắt lính không làm những việc hữu ích. Bỏ qua những phản đối của Tham mưu trưởng liên quân, Johnson yêu cầu gửi cho Westmoreland một lữ đoàn dù và một trung đoàn thuỷ quân lục chiến gồm mười một nghìn người - mà không cần gọi lính trù bị. Theo quan điểm của Wheeler quân đội Mỹ hiện tại đang bị kéo quá mỏng, chỉ một sư đoàn triển khai, sư đoàn đổ bộ đường không số 82 tại Fort Bragg, bang Bắc Carolina. Việc triển khai mới của tổng thống lấy đi một phần ba sư đoàn này.
Cuối tháng 2, Wheeler đến Sài Gòn. Ông và Westmoreland đã thảo luận việc tăng quân mà tổng thống Johnson không thể tránh được gọi một lượng lớn lính trù bị. Wheeler muốn sử dụng cuộc khủng hoảng Tết Mậu Thân để xây dựng lại quân đội Mỹ, nhưng ông đau đầu nhiều hơn Westmoreland về tình hình ở Việt nam. Mệt mỏi và buồn rầu ngay từ đầu chuyến viếng thăm, Wheeler trở nên lo lắng hơn khi rocket của địch nổ gần nơi ông ở và ông yêu cầu chuyển về Trung tâm hành quân cùng với Westmoreland. Trong bất kỳ trường hợp nào, Westmoreland vui vẻ tuân theo mong muốn của Wheeler về đòi hỏi tăng quân. Westmoreland quay lại đòi hỏi tăng quân như năm 1967, khi đó Westmoreland theo đuôi chính quyền Johnsons theo hướng đưa dần chiến tranh qua Nam Việt nam. Nhưng sự thiệt hại khổng lồ của cộng sản những tháng gần đây cùng với triển vọng rút bớt lính Mỹ khiến ông một lần nữa nghĩ tới thắng lợi của cuộc chiến tranh.
Đề nghị của ông năm 1967 đang vọng lại, Westmoreland trình Wheeler yêu cầu tăng thêm khoảng 200.000 lính - lần này thì chính xác là 206.000. Một nửa số này sẽ sang Việt nam sau vài tháng. Số còn lại có thể đến trước cuối năm nếu cần, nhưng Westmoreland không nghĩ họ sẽ cần thiết và do vậy có thể được giữ lại ở Hoa Kỳ. Thậm chí tất cả 206.000 lính được triển khai (bao gồm 15 phi đội máy bay) đưa số lượng lính Mỹ ở Việt nam lên trên 700.000 người, lực lượng này sẽ kéo theo tăng thêm cung cấp hậu cần cần thiết. Thực tế, để có được yêu cầu tăng quân 206.000 người sẽ phải mở rộng lực lượng quân đội thêm khoảng 500.000 người (hoặc gần 15%), một phần bằng cách kéo dài thời hạn phục vụ, một phần bằng cách tăng thêm quân dịch, và một phần bằng cách gọi nhập ngũ hơn 250.000 quân trù bị.
Khi đề xuất của Wheeler đưa về Washington ngày 27-2, tổng thống lúc đó đang nghỉ ở trang trại của mình ở bang Texas. Ông quay về ngay hôm sau để dự lễ về hưu của hai quan chức của McNamara. Khi Johnson vắng mặt, McNamara và người thay thế ông - Clark Clifford - gặp nhau để thảo luận đòi hỏi tăng quân với một nhóm nhỏ các cố vấn thân cận nhất của tổng thống, kể cả ngoại trưởng Rusk. Báo cáo của Wheeler về cuộc tấn công Tết Mậu Thân gây xúc động như là “chết đến nơi”, một tuyên bố cầu nguyện trong nỗi khiếp sợ của họ rằng cộng sản có thể sớm tung ra thậm chí một cuộc tổng tấn công mạnh hơn. Sau hết, đa số lực lượng Bắc Việt ở Nam Việt nam bị cầm chân ở một chừng mực - không tính đến tất cả lực lượng địch tại Lào và Bắc Việt Nam.
McNamara nhìn thấy việc này, tổng thống phải lựa chọn giữa một mặt là cuộc bắt lính trù bị rộng lớn và tăng thuế và mặt khác chấm dứt chiến lược tìm diệt của Westmoreland. Westmoreland lẽ ra phải rút lực lượng của mình từ vùng rừng núi và dùng lực lượng này chỉ để bảo vệ vùng duyên hải đông dân. Trong trường hợp này một cuộc bắt lính trù bị lớn là không cần thiết. Nếu gọi lính trù bị, họ phải kết hợp nó với một chiến dịch tìm kiếm hoà bình mới. Rusk cho rằng họ phải đưa ra đề nghị cắt giảm ném bom Bắc Việt Nam hoặc chấm dứt ném bom đổi lấy quân đội Bắc Việt nam rút khỏi tỉnh Quảng Trị, tỉnh cực bắc của Nam Việt nam. Clifford nói rằng họ nên xem xét việc gửi Westmoreland hơn 206.000 lính, có lẽ là nhiều đến một triệu, mặc dù ông cũng nói rằng ông không đặt ý tưởng đó; ấn tượng phổ biến rằng Hoa Kỳ đang thua trong cuộc chiến tranh, làm thế nào họ có thể họ tránh tạo ra ấn tượng rằng họ đang “nhốt lính Mỹ xuống tầng hầm”?. Clifford nghĩ rằng họ cần đánh giá toàn bộ tình thế của họ ở Nam Việt nam trước khi quyết định.
Walt Rostow truyền đạt những cảm nghĩ này tới Johnson và gợi ý Johnson cho Clifford chủ trì một lực lượng đặc nhiệm để đánh giá tình hình và gợi ý tiến trình hành động. Johnson từ lâu đã đánh giá cao những lời khuyên của Clifford và rất hài lòng đưa ông ta thay chỗ McNamara. Mặc dù Clifford đã từng cùng George Ball mùa hè năm 1965 phản đối việc đưa quân vào Nam Việt nam, rồi thì ông ủng hộ Johnson trong chính sách chiến tranh. Những lời khuyên của Clifford về sự thận trọng được Johnson khuyến khích. Mới đây, vào tháng 12, ông cùng với McNamara và Rusk đã tranh luận chống lại đề xuất của các tham mưu trưởng đưa B-52 ném bom những mục tiêu ở Campuchia; khác với những lo ngại của Rusk về phản ứng của Trung Quốc (luôn thuyết phục Johnson), Clifford đơn giản quan tâm tới ích lợi nếu B-52 ném bom vào những khu rừng.
Johnson quen biết Clifford từ những năm 1940, khi Clifford được cất nhắc từ sĩ quan phụ tá hải quân cho tổng thống Truman trở thành một trong những cố vấn dân sự có ảnh hưởng nhất của Truman. Giống như người bạn thân nhất của Clifford là Stuart Symington, Clifford là người tâm phúc của gia đình Truman; và giống như thượng nghị sỹ Symington, Clifford ngay từ đầu tin rằng Hoa Kỳ đang sai lầm ở Đông Nam Á.
Sau một tháng rất khó khăn, tổng thống vui vẻ nghe theo gợi ý của Wheeler trao quyền cho Clifford và lại rời thành phố, lần này là kỳ nghỉ cuối tuần tại căn cứ không quân Ramey (Puerto Rico). Johnson mang theo Patrick J. Nugent, con rể, một lính của không quân, người vừa bị gọi vào lính theo lệnh Johnson đối với vụ khủng hoảng tàu do thám Pueblo. Theo gương một người con rể khác của Johnson, đại uý thuỷ quân lục chiến Charles S. Robb, Nugent chờ đợi sang Việt nam trong vài tuần tới. Johnson tự hào rằng gia đình ông đang đóng góp vào những nỗ lực chiến tranh, trong lúc đa số những con trai của giới chóp bu chính phủ và doanh nhân tìm cách né tránh quân dịch.
Cùng đi trong chuyến này còn có tướng McConnell, tham mưu trưởng không quân. Họ kiểm tra lướt qua căn cứ Ramey, nhưng chủ yếu là chơi golf. Trong khi họ chơi golf, bộ máy chính quyền Washington đang làm hết sức mình để chuẩn bị bài diễn văn cho tổng thống.
Vì Clifford được trao quyền “đánh giá lại từ A đến Z”, những người khác thuộc bộ máy chính quyền (Tham mưu trưởng liên quân, CIA, Ngoại giao, Ngân khố) được phép vào văn phòng bộ trưởng quốc phòng, nơi có một toán các sĩ quan hành động dưới quyền trợ lý thư ký về an ninh quốc tế, Paul Warnke, người đang soạn thảo bài diễn văn cho tổng thống. Một vài thành viên của toán này kể cả những người lãnh đạo nó, Leslie Gelb, được tham gia vào một đề án do McNamara đặt ra để biên soạn một cuốn sử liệu về sự dính líu của Mỹ ở Việt nam - một trong những tác giả của một cuốn sử liệu này (Daniel Ellsberg) ba năm sau tiết lộ cho NewYork Times công bố dưới tên Những tư liệu của Lầu Năm Góc. Từ lâu, trước khi nổ ra cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Warnke, Gelb, và nhiều nhân viên dân sự khác dưới quyền bộ trưởng quốc phòng đã quay ra chống lại chiến tranh. McNamara đã thông cảm với họ và cố gắng để giảm bớt ném bom Bắc Việt nam. Họ lo lắng việc McNamara bị thay thế bởi Clifford, một người bênh vực chính sách tổng thống về Việt nam. “Đánh giá lại từ A đến Z” hình như là một dịp để thay đổi suy nghĩ của Clifford và có lẽ thậm chí của cả tổng thống.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #74 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:37:44 pm »

“A đến Z” có nghĩa là một lần nữa vấn đề ném bom Bắc Việt Nam được kết hợp với vấn đề quân đội được mang ra xem xét. Ném bom, tuy thế, không phải hàng đầu trong suy nghĩ của những người soạn thảo diễn văn. Họ tự thoả mãn đơn thuần chống lại bất cứ sự tăng thêm nào, đặc biệt thả mìn cảng Hải Phòng hoặc giảm bớt những hạn chế trong vùng cấm quanh Hải Phòng và Hà Nội. Tướng Wheeler có ý đưa ra thảo luận việc ném bom được chuyển vào một bản phụ lục gồm cả quan điểm chống đối hoàn toàn của các tham mưu trưởng liên quân.
Khi tướng McConnell vắng mặt, tướng Bruce K. Holloway, phó tham mưu trưởng, được chỉ định thay mặt tham mưu trưởng không quân trả lời câu hỏi của Clifford về lựa chọn chiến lược. Tham mưu không quân nghiêng về ném bom tàn bạo hơn nữa, và thậm chí ở chừng mực nào còn đề nghị dùng B-52 ném bom đồng bằng sông Hồng, cũng như đê điều và thả mìn cảng Hải Phòng. Bộ trưởng không quân Mỹ Brown phản đối biện pháp này. Ông muốn giảm ném bom ở vùng Hà nội-Hải Phòng và tăng thêm ném bom ở vùng cán xoong Bắc Việt (suốt thời kỳ Sấm Rền vùng này chịu đựng một số lượng lớn bom ném xuống).
Thứ trưởng không quân, Townsend Hoopes, đề nghị Tham mưu không quân cũng nghiên cứu khả năng thay thế không quân chiến thuật cho những chiến dịch tìm-diệt của Westmoreland tại Nam Việt nam. Mãi tới tháng 10-1967, Hoopes làm việc dưới quyền Warnke ở Văn phòng bộ trưởng quốc phòng và hoàn toàn ủng hộ đề nghị McNamara giảm chiến tranh trên bộ ở Nam Việt nam và chiến tranh trên không ở Bắc Việt nam. Hoopes viết một bức thư riêng cho Clifford chủ trương chấm dứt ném bom Bắc Việt nam. Thứ trưởng không quân Mỹ khuyên Clifford lưu ý tới bản nghiên cứu việc ném bom đã thực hiện trong năm 1967 của nhóm JASON thuộc Viện phân tích quốc phòng do những nhà khoa học của trường đại học - đa số những người này nằm trong nhóm “Jasons”, từ mùa hè năm 1966 đã phát triển trên cơ sở hợp lý đề xuất McNamaras xây dựng hàng rào điện tử chống lại sự thâm nhập vào Nam Việt nam (và không cần ném bom Bắc Việt Nam nữa)
Một lần nữa, nhóm Jasons phát biểu trong lời lẽ mạnh nhất rằng việc ném bom đã thất bại hoàn toàn bởi vì tốc độ sự thâm nhập được tăng cường.
Khi Clifford nghe được rằng giới lãnh đạo dân sự và quân sự của không quân Mỹ đang bị chia rẽ về chính sách ném bom, thì nỗi lo âu tức thời của ông là yêu cầu tăng quân của Wheeler. Nhóm soạn thảo diễn văn phản ánh sự lo âu này. Mục đích chính bản thảo của Gelb chế độ quân dịch là bổ xung ý kiến của McNamara là chiến lược tìm-diệt của Westmoreland lẽ ra phải bị loại bỏ để dành sức bảo vệ vùng duyên hải đông dân cư của Nam Việt Nam. Wheeler phát hiện được sự thay đổi này, cảnh báo rằng chắc chắn sẽ tiếp tục chiến đấu tại những vùng đông dân. Ông cũng phát biểu một số lời về sự thay đổi trong chiến lược chiến tranh trên bộ bị tác động mạnh từ bản thảo. Mặc dù Wheeler không thể buộc Clifford phải tán thành tăng quân cho Westmoreland, nhưng tân bộ trưởng quốc phòng đồng ý rằng nên gọi nhập ngũ 262.000 quân trù bị để củng cố quân đội sẵn sàng triển khai bất cứ lúc nào cần.
Khi tổng thống trở lại Washington, ông mời các cố vấn chủ chốt của mình đến Nhà Trắng nghe Clifford báo cáo. Clifford giải thích rằng nhóm của ông chưa thể đồng ý chính sách ném bom hoặc nói một cách khác là chưa đánh giá đày đủ tình thế của Mỹ ở Việt nam, và điều này nên được làm trước khi gửi tăng viện cho Westmoreland. Trong lúc chờ đợi, Clifford gợi ý chỉ đưa 22.000 quân, đồng thời gọi nhập ngũ 262.000 quân trù bị để củng cố quân đội. Johnson không quyết định ngay, chấp thuận để Clifford đánh giá lại. Lúc ấy, Rusk đệ trình khả năng ngừng ném bom một phần trong lúc gió mùa đông bắc đang mạnh, và tổng thống bám vào gợi ý của Rusk như một đốm sáng của buổi họp: “Hãy cưỡi con ngựa của bạn trong tình thế này”.
Phải mất một tháng việc ngừng ném bom một phần mới thành hiện thực. Điều này chứng tỏ tháng 3 là tháng tổng thống Johnson gặp nhiều khó khăn hơn tháng 2, dù cuộc chiến tranh trên bộ ở Nam Việt nam theo cách nhìn của chính phủ và lính Mỹ tiếp tục cải tiến. Huế bị tái chiếm đầu tháng 3. Mặc dù lính Bắc Việt nam vẫn còn vây hãm thuỷ quân lục chiến tại Khe Sanh, nhưng thuỷ quân lục chiến vẫn được yểm trợ đày đủ bằng máy bay trong khi lực lượng Bắc Việt nam chịu đựng những đợt dội bom mạnh nhất suốt ngày đêm. Một tháng sau đó Westmoreland đưa nhiều quân đến sau khi những lính Bắc Việt nam còn sống sót phải tháo lui vào rừng. Nhưng trong thời gian ấy, tháng 3 mang đến một loạt sóng gió cho nhiệm kỳ tổng thống Johnson, tất cả đều là những dư chấn của cuộc tấn công Tết Mậu Thân.
Ngày 10-3, tờ New York Times in trên trang đầu tường thuật việc Westmoreland yêu cầu 206.000 quân và về những tranh luận kế tiếp ở Washington. Bài tường thuật này hình như xác nhận tất cả những suy đoán từ Tết rằng lính Mỹ ở Nam Việt nam đang ngập sâu vào khó khăn. Tổng thống Johnson điên tiết, nhưng ông không làm cách nào phát hiện ra người tiết lộ, mặc dù ông nghi ngờ rằng người này phải là nhân viên dân sự của Bộ quốc phòng. Năm sau, một phóng viên để lộ rằng người tiết lộ là Townsend Hoopes, thứ trưởng bộ không quân.
Ngày 12-3, cử tri đảng Cộng Hoà bang New Hampshire thất bại để giúp tổng thống Johnson át lại những sự ủng hộ mong đợi. Thượng nghị sỹ Eugene McCarthy bang Minnesota, người đang chống lại chiến tranh ở Việt nam và sự điều hành của Johnson, đã thu được nhiều phiếu bầu ngang bằng tổng thống. Thật ra, tên của McCarthy được bỏ phiếu kín và tên của Johnson thì không thế, nhưng sự hơn phiếu khi bỏ phiếu kín cho tổng thống được mong chờ. Lúc đó, những người bầu cho McCarthy ở bang New Hampshire muốn ủng hộ việc rút quân khỏi Việt nam. Tuy vậy, những phân tích về sau này cho thấy rằng đa số những người ủng hộ McCarthy ở bang New Hampshire phẫn nộ Johnson không đẩy cuộc chiến mãnh liệt hơn.
Ngày 16-3, thượng nghị sỹ Robert Kennedy tuyên bố tranh cử tổng thống. Mới trước đó, ngày 28-1, ông vừa nói rằng ông không có ý định ra tranh cử. Nhưng ngay sau khi McCarthy mạnh lên ở bang New Hampshire, Kennedy gửi một tối hậu thư tới Clifford - nói rằng hoặc Johnson cử ra một Uỷ ban gồm những nhân vật nổi tiếng, bao gồm Kennedy, đánh giá lại chính sách Việt nam, hoặc Kennedy sẽ ra tranh cử. Tổng thống từ chối.
“Đệ nhất phu nhân” Johnson đã ghi nhận hồi đầu tháng 3 sự trầm cảm của chồng mình. Tâm trạng ông không thăng bằng do những chấn động chính trị tháng đó. Vào buổi sáng hôm Kennedy tuyên bố, tổng thống nói trước cuộc gặp Liên minh quốc gia các doanh nhân rằng Hoa Kỳ sẽ thắng ở Việt nam: “Để đảm bảo những nhu cầu cần thiết cho những người lính đang chiến đấu, chúng ta sẽ làm bất cứ thứ gì mà họ yêu cầu”. Hai ngày sau ông yêu cầu Hiệp hội nông dân quốc gia tham gia vào “nỗ lực quốc gia để giành chiến thắng trong cuộc chiến”. Ông cảnh báo họ rằng điều này sẽ đòi hỏi thắt lưng buộc bụng, nghĩa là phải ban hành một đạo luật tăng thêm 10% thuế thu nhập mà ông đã đề nghị một năm trước đây.
Tính hiếu chiến bất thường của tổng thống Johnson nhanh chóng trôi qua. Thực tại chính trị ở Washington không cho phép nỗ lực chiến tranh ở quy mô quốc gia. Những cuộc thảo luận của Clifford với thượng nghị sĩ Russell, Stennis, và Symington (và những người khác) chỉ ra rằng chính quyền khó lòng gọi nhập ngũ được thậm chí 100.000 người, thua xa con số 262.000 người mà Clifford suy tính ban đầu.
Trước cuối tháng 3, tổng thống quyết định chỉ gọi 62.000 lính trù bị và chẳng gửi gì cả sang Việt nam ngoại trừ lực lượng này sẵn sàng có kế hoạch triển khai; số lính Mỹ có mặt ở Việt nam lên đến 549.000 người. Johnson cũng tuyên bố rằng ông sẽ gọi Westmoreland về nước vào mùa hè năm ấy để làm Tham mưu trưởng lục quân. Thay chỗ Westmoreland ở Sài Gòn sẽ là phó tư lệnh của ông, tướng Creighton W. Abrams, Jr., người đang chú tâm nhiều đến việc xây dựng quân đội Nam Việt nam.
Chưa bao giờ kể từ cuộc tấn công Tết Mậu Thân, tổng thống Johnson nghĩ tới việc phát biểu trên truyền hình về vấn đề Việt nam. Khi tiếp những cố vấn của mình ngày 19-3 để lên kế hoạch bài diễn văn, Johnson ít quan tâm đến những sáng kiến hoà bình mới hơn là hồi đầu tháng. Chánh án toà án tối cao Abe Fortas, một người bạn thân của Johnson, tham dự cuộc gặp này và cổ vũ Johnson rằng đừng lẫn lộn trộn sáng kiến hoà bình vào bài diễn văn.
Tuy vậy, trong vòng ba ngày, Johnson lại thay đổi ý nghĩ. Ông nói với các cố vấn của mình ngày 22-3 rằng ông muốn tận dụng ưu thế vài tuần lễ còn lại khi thời tiết xấu ở Bắc Việt Nam để đưa ra lời phát biểu làm nổi bật việc hạn chế ném bom - có lẽ chỉ là hạn chế ném bom gần Hà Nội và Hải Phòng.
Suốt một tháng, ngoại trưởng Rusk đã tranh luận ủng hộ giới hạn ném bom đến vùng cán xoong Bắc Việt nam, và không những không ném bom Hà Nội và Hải Phòng nà còn cả phần lớn vùng nông thôn. Khi ông lần đầu tiên đưa đề xuất này cuối tháng 2, ông đã nói chuyện về sự đổi chác hạn chế ném bom lấy việc rút quân Bắc Việt nam khỏi tỉnh Quảng Trị. Nhưng ông sớm gạt bỏ ý tưởng đổi chác và giống như McNamara một năm trước gợi ý rằng vì Bắc Việt luôn kêu gọi ngừng ném bom vô điều kiện, chính quyền Mỹ sáng suốt giảm ném bom trong khi không đưa ra điều kiện và xem Bắc Việt sẽ làm gì. Tuy vậy, bất cứ khi nào Rusk đưa luận cứ này, Bộ trưởng quốc phòng Clifford would phản đối giảm ném bom mà không có một lời hứa nào đáp lại. Clifford đề nghị đổi việc giảm ném bom lấy việc Bắc Việt nam không nã pháo từ khu phi quân sự.
Trong thời gian ấy, một số nhân viên dân sự của Clifford có ấn tượng rằng vị sếp mới của họ đang đấu tranh để thuyết phục tổng thống và tất cả các cố vấn cao cấp của ông giảm ném bom Bắc Việt nam. Trong phiên điều trần của Clifford hồi tháng 1, khi ông nói về khả năng ngừng ném bom lần đầu tiên tạo cho những “con bồ câu” Lầu Năm Góc hy vọng rằng ông không phải là “một con diều hâu không cải tạo được”. Clifford bị hỏi về bài phát biểu của tổng thống Johnson tại San Antonio, bày tỏ thiện chí ngừng ném bom Bắc Việt Nam khi việc ngừng ném bom này sẽ phải dẫn đến mau lẹ một cuộc thảo luận có hiệu quả và nếu Bắc Việt không “tận dụng cơ hội” ngừng bắn. Clifford giải thích rằng Bắc Việt có thể tiếp tục đưa quân và tiếp liệu vào Nam Việt nam nhưng không vượt quá. Phái bồ câu tin rằng việc giải thích rõ ràng này sẽ hạn chế Johnson không sử dụng đường lối cứng rắn.
Việc tỏ ra thông cảm với những điều Clifford đã nghe quan điểm của phái bồ câu Lầu Năm Góc, cùng với sự nghi ngờ từ lâu của ngoại trưởng Rusk, dẫn họ có một số giả định không chắc chắn về những thảo luận mà Clifford đang bàn với Johnson và các cố vấn chủ chốt của mình. Ngay sau khi ra khỏi chính quyền, Townsend Hoopes đã xuất bản cuốn hồi ký “Giới hạn của sự can thiệp”, chứng thực rằng Clifford đã quay lưng lại với những người xung quanh tổng thống. Ý kiến của bản thân Clifford trong tạp chí Foreign Affairs cũng thất bại đề cập tới những phản đối của ông đối với đề xuất hạn chế ném bom đề xuất của Rusk và thậm chí sự thật là Rusk đưa ra đề xuất được Johnson thông qua.
Cả hai người: tổng thống và tân Bộ trưởng quốc phòng đang điều chỉnh suy nghĩ của họ trong tháng 3 đầy khó khăn này, nhưng họ vẫn theo các hướng khác nhau. Clifford tin rằng đây là lúc bắt đầu giải thoát Hoa Kỳ ra khỏi Việt nam. Johnson, mặt khác, đang tìm cách cứu vãn nỗ lực chiến tranh giữa bầu không khí chính trị hết sức khó khăn. Ông cần tránh những tranh cãi thêm nữa chắc chắn nổ ra do cuộc bắt lính trù bị lớn, hoặc Clifford đề xuất thành một cuộc bắt lính nhỏ hơn. Trong thời gian ấy, ngoại trưởng Rusk bỏ qua một sáng kiến hoà bình mới, cái đó có thể làm dịu bớt áp lực chính trị đang đè nặng lên tổng thống Johnson.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #75 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:38:24 pm »

Huyền thoại về việc Clifford làm chuyển biến của tổng thống, một điểm xuất hiện quan trọng là cuộc gặp ngày 26-3 giữa Johnson và một vài cựu quan chức chính phủ. Từ những ngày đầu cầm quyền, Johnson nghe theo lời khuyên hoặc ít nhất sự ủng hộ của những người từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính phủ hoặc những vị trí kiếm được tiền trong các ngành tư nhân, đặc biệt trong các hãng luật thanh thế và những cơ quan tài chính. Ông rất không yên tâm với “Sự hình thành phương Đông”, nhưng ông cố gắng kéo sự ủng hộ chính trị ra khỏi nó nhiều chừng nào ông còn có thể. Bắt đầu từ Cố vấn an ninh quốc gia, McGeorge Bundy, người đã từng mời “những người sáng suốt” (như Bundy gán cho họ) gặp Johnson thông thường là một lần tại một thời gian nào đấy. Sau khi Bundy ra khỏi chính quyền, Johnson dựa nhiều vào Clifford (“một người sáng suốt” mà Johnson yên nhất) để nói với ông ta những gì mà người khác có thể vẫn còn tin.
Trước cuộc họp ngày 26-3, Johnson từng gặp nhóm “những người sáng suốt” lần cuối cùng ngày 2-11. Để chuẩn bị cho cuộc gặp trước đó, Clifford đã chỉ ra rằng cựu ngoại trưởng Dean Acheson hình như căm ghét Johnson và, trong bất kỳ trường hợp nào, không thể tin là ông ta giữ được bí mật. Điều đó làm cho Acheson tạm thời bị hạ xuống danh sách những người dự khuyết, nhưng không phải bất cứ ai có tên trong danh sách được mời họp tháng 11, cũng nhận lời. Trong quá khứ, Robert A. Lovett (Trợ lý bộ trưởng chiến tranh về không quân trong thế chiến II và Bộ trưởng quốc phòng trong chiến tranh Triều Tiên) đã lấy cớ ốm. Ở những khía cạnh khác, tổng thống có chính xác những gì mà ông muốn tại cuộc gặp tháng 11. Acheson và chín đồng nghiệp của ông đã ủng hộ chính sách tổng thống về Việt nam; những người ủng hộ này có hai cựu Chủ tịch các tham mưu trưởng liên quân, các tướng Omar Bradley và Maxwell Taylor. Chỉ cựu thứ trưởng ngoại giao George Ball là bất đồng, ông đã bất đồng ngay từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh.
Thậm chí tại cuộc gặp hồi tháng 11, “những người sáng suốt” bày tỏ một số bất bình việc ném bom vùng Hà nội-Hải Phòng. Tổng thống đích thân chỉ ra rằng ông phải bắt đầu cắt giảm ném bom ở đó, và bài phát biểu của ông tại San Antonio tỏ rõ thiện chí của ông là đổi ném bom lấy những cuộc đàm phán hữu ích. Dean Acheson gợi ý đổi việc ngừng ném bom lấy việc cộng sản chấm dứt tấn công qua khu phi quân sự. Tướng Taylor nghĩ rằng tốt nhất là đổi việc ném bom lấy việc cộng sản hoạt động ở mức độ thấp ở khắp Nam Việt nam. McGeorge Bundy cảnh báo rằng thời tiết gây khó khăn để gắn việc ngừng ném boms với “những hành động quân sự đặc biệt” do cộng sản tiến hành.
Bundy tìm kiếm việc bắn phá thông thường để tránh phá hoại các thành phố và gây thương vong cho dân thường. Trong một bức thư gửi Johnson sau cuộc gặp, Bundy gợi lại lời khuyên của Henry L. Stimson, bộ trưởng chiến tranh trong thế chiến II, nói rằng những quân nhân không bao giờ để tâm nhiều đến vấn đề thương vong dân thường; ông vạch ra một thí dụ về Henry H. “Hap” Arnold, Tư lệnh không quân Mỹ trong thế chiến II. “Lần đầu tiên tôi học bài học này từ đại tá Stimson”, Bundy viết cho Johnson, “khi ông ta nói với tôi rằng ông bị Hap Arnold lừa đảo như thế nào trong điểm này”.
Trước cuộc gặp của “những người sáng suốt” trong tháng 3, cốt lõi sự bất bình về ném bom Bắc Việt Nam đã biến thành đồng tình với George Ball rằng Mỹ có lẽ bắt đầu rút ra khỏi Nam Việt nam. Chỉ tướng Bradley, tướng Taylor, và cựu đại sứ Robert Murphy rất không đồng tình. Clifford biết rằng đa số “những người sáng suốt” đã thay đổi suy nghĩ, và ông gợi ý để Johnson tổ chức cuộc gặp tháng 3. Tổng thống Johnson cũng biết rằng “những người sáng suốt” sẽ bày tỏ quan điểm của bản thân họ khác nhiều so với hồi tháng 11. Không những Johnson quen với sự thay đổi trong suy nghĩ của Clifford, mà ông còn nói với McGeorge Bundy và Dean Acheson.
Mặc dù Johnson có thể không ngạc nhiên bởi tinh thần chung của lời khuyên mà ông nhận ngày 26-3, ông tỏ ra khó chịu việc “những người sáng suốt” nhận những chỉ dẫn từ chiều hôm trước từ Philip C. Habib (Bộ ngoại giao), thiếu tướng William E. DePuy (quân sự) từ Tham mưu trưởng liên quân), và George Carver từ CIA. Johnson nghĩ rằng những chỉ dẫn này đã vẽ ra một bức tranh ảm đạm về lợi lộc cộng sản thu được ở vùng thôn quê Nam Việt nam sau khi quân đội chính phủ rút về bảo vệ các thành phố. Như một đối trọng, Johnson bắt đầu cuộc gặp với “những người sáng suốt” bằng cách giới thiệu tướng Wheeler và tướng Abrams (người lần đầu gặp tổng thống sau khi thay chỗ Westmoreland). Cả Wheeler và Abrams vừa gặp Westmoreland tại căn cứ không quân Clark (Philippines). Wheeler cho rằng mọi thứ đã thay đổi 180° theo chiều hướng tốt lên kể từ cuộc đi thăm hồi tháng 2-1968. Abrams nhấn mạnh rằng quân đội chính phủ Nam Việt nam đã hoạt động rất tốt và đây là lúc họ có khả năng tiến hành phần lớn các trận đánh.
Trong khi Johnson có cái nhìn tích cực về sự phát triển ở Việt nam nhiều hơn đa số “những người sáng suốt”, thì ông lại bị nản lòng khi họ nói về sự phát triển chính trị ở Hoa Kỳ. Ông sẵn sàng bày tỏ sự quan tâm của mình trong việc ngừng ném bom một phần như là cách xoa dịu những chỉ trích ông, và ông tin rằng vấn đề ngừng ném bom sẽ thu được nhiều sự chú ý khi ông mời Arthur Goldberg, đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc, tới gặp “những người sáng suốt”. Goldberg thúc giục ngừng ném bom hoàn toàn Bắc Việt nam.
George Ball tất nhiên, đồng ý với Goldberg, và đưa thêm một người mới vào danh sách “những người sáng suốt”, Cyrus Vance, cựu thứ trưởng bộ quốc phòng. Ball, tuy thế, nghĩ rằng tổng thống lẽ ra đừng công khai đưa vấn đề ngừng ném bom cho đến khi Giáo Hoàng hoặc Tổng thư ký Liên hợp quốc gợi ý. Tướng Bradley đồng ý rằng ngừng ném bom ý tưởng tốt nếu Giáo Hoàng đề xuất. Những người còn lại của nhóm cảnh giác việc dừng ném bom trong khi lính Mỹ gần khu phi quân sự bị lực lượng cộng sản đe doạ từ hai phía biên giới.
Việc ngừng ném bom một phần cho phép Johns ném bom quân đội cộng sản và những đường tiếp vận bắc biên giới - và tránh được sự phản đối rằng ném bom thêm gần Hà Nội và Hải Phòng. Ba ngày trước cuộc gặp của ông với “những người sáng suốt”, Johnson đã phát biểu với nhà văn Harry C. McPherson, Jr., và ngoại trưởng Rusk về việc chấm dứt ném bom bắc vĩ tuyến 20 (toàn bộ Bắc Việt Nam trừ vùng cán xoong sẽ không bị Mỹ ném bom). Cuộc gặp “những người sáng suốt” ít nhất không làm chuyển hướng Johnson ra khỏi suy nghĩ quan trọng này trong bài phát biểu trước truyền hình ngày 31-3. Về sau Johnson nói với những lãnh tụ Nhà Trắng và Thượng viện rằng cuộc gặp của ông với “những người sáng suốt” trực tiếp đưa đến bài phát biểu trên. Trong hồi ký của mình, tuy thế, ông hết sức cố gắng chỉ ra rằng những điểm chính trong bài phát biểu của ông đã được hình thành trước cuộc gặp “những người sáng suốt” (và như thế, vai trò của bộ trưởng Clifford trong bài phát biểu là ít hơn những gì người ta quảng cáo). Những hồi ức của Johnson hình như gần sự thật hơn nỗ lực của ông lúc đó để liên kết “những người sáng suốt” với quyết định của ông. Ông thường xuyên mời “các cố vấn” có ảnh hưởng chia sẻ bổn phận cho một quyết định mà trên thực tế ông đã làm.
Tuyên bố của tổng thống Johnson về hạn chế ném bom giành được tác động to lớn (ít nhất đối với công chúng Mỹ) đi kèm trong bài diễn văn ngày 31-3 với lời tuyên bố rằng ông không ra tái tranh cử. Ông đã đưa ra khả năng này cho các cố vấn chủ chốt của mình ngay từ đầu tháng 10-1967, thậm chí ông làm cho họ ngạc nhiên. Gần ba ngày sau, bài phát biểu gây ngaic nhiên của ông được sự đồng tình cũng đáng ngạc nhiên của phía Bắc Việt nam đồng ý gặp đại diện của chính phủ Mỹ. Trong mùa hè năm 1967, Johnson đã đưa ra đề nghị ngừng ném bom hoàn toàn Bắc Việt Nam đổi lấy thương lượng hoà bình. Giờ đây họ chấp nhận một cuộc ngừng ném bom một phần để thương lượng không chính thức. Chỉ hai tháng sau khi cuộc tấn công Tết Mậu Thân hình như đã đóng cánh cửa những sáng kiến hoà bình, Bắc Việt were cuối cùng sẵn sàng nói chuyện với những quan chức chính phủ Mỹ.
Chứng cớ mạnh nhất mà Bắc Việt phải thay đổi suy nghĩ của họ xảy ra vào cuối tháng 2-1968, thông qua đại sứ Ấn Độ ở Washington. Trong báo cáo ngày 1-3, CIA cũng nói rằng Bắc Việt sẵn sàng nói chuyện trong khi tiếp tục chiến đấu vì họ tin rằng việc ngừng ném bom không những giúp họ khôi phục kinh tế và lực lượng của họ tại Nam Việt nam, mà còn đánh bại ý chí và như thế làm mất ổn định chính phủ Nam Việt nam(1).
______________________

(1) Mùa hè năm 1967, kế hoạch tổng tấn công đông-xuân của Bắc Việt nam hình như bám chặt khả năng rằng tổng tấn công thành công sẽ dẫn đến thương lượng trong khi giao tranh vẫn tiếp tục. Xem Ronnie E. Ford, Tết 1968: Hiểu biết Ngạc nhiên (London, 1995), đặc biệt trang 67-86.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #76 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:38:57 pm »

Những hy vọng về đàm phán hoà bình thường bị xô đẩy trước đó. Johnson từng khước từ, việc ném bom trở lại sẽ được khôi phục lại khi thời tiết tốt vào tháng 5 - và ít nhất đây được hiểu rằng phe đối lập với chính sách của Johnson khi đó khá xúc động khi rút quân nhanh khỏi Việt nam. Nhưng Bắc Việt chọn chiến lược thương lượng và chiến đấu cho phép người thừa kế Johnson rút ra một cách từ từ đến mức nó hình như có thể giúp Nam Việt nam chạy thoát khỏi bị cộng sản xâm chiếm.
Bắc Việt thất bại với sự đáp lại hạn chế ném bom của Johnson, những người đối lập với Johnson ở đồi Capitol đang nằm biểu tình trước cửa dinh tổng thống. Trong một khoảng thời gian ngắn ngủi giữa bài diễn văn 31-3 của Johnson và câu trả lời tích cực của Bắc Việt nam, thượng nghị sỹ Fulbright khiển trách Johnson vì sai lầm trong việc lãnh đạo đất nước khi hứa ngừng ném bom Bắc Việt Nam “trừ vùng bắc khu phi quân sự”. Lời hứa của tổng thống hoà hợp như thế nào với cuộc không kích của hải quân xảy ra ngày hôm sau vào bãi xe vận tải gần Thanh Hoá, cách khu phi quân sự hơn hai trăm dặm về phía bắc và cách Hà nội gần một trăm dặm về phía nam?
Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, Richard Russell, và John Stennis bảo vệ quan điểm của tổng thống trong điểm này. Họ đã bàn bạc với Johnson về bài phát biểu của ông trước khi ông đọc nó, và ông đã nói với họ rằng sẽ không ném bom bắc vĩ tuyến 20. Thanh Hoá nằm đúng phía nam vĩ tuyến 20.
Thượng nghị sỹ Mansfield (bang Montana), lãnh tụ phe đa số, vạch ra rằng tổng thống là đúng khi tuyên bố rằng 90% dân chúng Bắc Việt vùng không bị ném bom. Trong khi Thanh Hoá cách Nam Việt nam hơn hai trăm dặm, vùng cán xoong đang bị ném bom là khá hẹp đến mức chỉ là nhỏ hơn một phần ba Bắc Việt nam.
Thượng nghị sỹ Russell, Chủ tịch Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện, nói thẳng rằng ông không đồng ý hạn chế ném bom và ông từng khuyên tổng thống đừng làm việc đó “trừ khi có một vài dấu hiệu nhân nhưượng từ phía Bắc Việt nam”. Nhưng tổng thống “như thường làm trong quá khứ” không có nghe lời khuyên người bạn cũ của ông - thượng nghị sỹ Russell, người đã từng bị chống đối tiến hành chiến tranh và vị chống đối cách mà họ tiến hành chiến đấu. Suốt hai năm liền ông đã thúc đẩy phong toả bờ biển Bắc Việt nam. Chúng ta có khoảng hai năm đằng sau những gì mà chúng ta đang để chiến đấu kể từ khi bắt đầu chiến tranh”. Russell đã “không có giải pháp của chính tôi để đưa chiến tranh đến kết cục thành công mà không có leo thang cần thiết”. Ông dự đoán rằng bài phát biểu của tổng thống sẽ không dẫn đến một “hội nghị có kết quả” với Bắc Việt nam - thượng nghị sỹ Thurmond cảnh báo rằng những kiểu đàm phán hoà bình sẽ rơi vào bế tắc. Trong các cuộc hội đàm về chiến tranh Triều Tiên, Thurmond gợi lại, Hoa Kỳ mất rất nhiều lính trong chiến đấu trước khi những cuộc hội đàm bắt đầu.
Sự ủng hộ tổng thống Johnson tại Thượng nghị viện không làm ông đủ can đảm đứng trên đất của mình tại vĩ tuyến 20. Ông có lẽ hối tiếc lời khuyên của thứ trưởng ngoại giao Katzenbach xoá bỏ sự tính đến vĩ tuyến 20 trong bài phát biểu ngày 31-3, nhưng bị Fulbright thách thức, tổng thống Johnson ngay lập tức rút xuống vĩ tuyến 19. Thanh Hoá và một phần ba vùng cán xoong trở thành nơi an toàn bảo vệ toàn bộ Bắc Việt Nam trừ dải đất hẹp có chiều rrộng nhỏ hơn 50 dặm bắt đầu từ Vinh chạy về phía nam 150 dặm đến khu phi quân sự.
Ưu điểm khi rút về vĩ tuyến 19 là đã loại loại bỏ được gốc rễ sự va chạm giữa không quân Mỹ và hải quân về trách nhiệm ném bom. Vĩ tuyến 18 cắt ngang khu vực mục tiêu mới và nằm gần ranh giới giữa những gói mục tiêu được xác định từ trước đây. Gói mục tiêu 1 của không quân nằm giữa vĩ tuyến 18 và khu phi quân sự (tại vĩ tuyến 17), trong lúc tại phía bắc, gói mục tiêu Hai của và một phần gói mục tiêu Ba hải quân nằm giữa vĩ tuyến 18 và 19.
Không quân và hải quân trút toàn bộ hoả lực mà họ trước đây đã trút xuống khắp Bắc Việt Nam nay trút vào một khu vực tương đối nhỏ hẹp. Một số người đề xuất hạn chế ném bom ưa thích kiểu dồn nén này vì nó rất gây được ấn tượng về hiệu quả ngăn chặn(1). Bộ trưởng quốc phòng Clifford trở thành một người ủng hộ mạnh mẽ hạn chế ném bom, đặc biệt khi Bắc Việt đồng ý thương lượng. Các sĩ quan cấp dưới của ông lâm vào tình trạng khó xử: họ đã từng tranh luận chống lại việc hạn chế ném bom, lẽ nào bây giờ cùng với sếp của mình tìm kiếm phía sáng chói của nó. Nhiều người trong giới lãnh đạo quân đội xác định rằng chính sách ném bom mới có nhiều chất lượng, đặc biệt khi so sánh với việc không ném bom chút nào.
______________________

(1) Hình như thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai khiển trách Bắc Việt Nam chấp nhận đàm phán hoà bình đổi lấy hạn chế ném bom. Ngày 29-6-1968 tại Bắc Kinh, Chu Ân Lai nói với Phạm Hùng: “Trong thực tế, các cuộc ném bom mới đây trở nên dữ dội hơn, được tập trung bào một khu vực nhỏ, như vậy gây cho các bạn nhiều trở ngại hơn trong việc giúp đỡ miền Nam. Việc các bạn chấp nhận ném bom hạn chế, và đồng ý nói chuyện với Mỹ đã làm cho tình thế của họ tốt hơn so sánh với tình thế của họ năm 1966 hoặc 1967. Mặc dù các bạn vẫn còn kiên trì những nguyên tắc của các bạn trong hội đàm, nhưng các bạn đã làm giảm một lượng khó khăn của Mỹ trong năm bầu cử này. Đây là lỗi của Liên Xô”. Xem Odd Arne Westad, Chen Jian, Stein Tonnesson, Nguyen Vu Tung, và James G. Hershberg, ed., “77 Cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và những lãnh tụ nước ngoài trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, 1964-1977”, Woodrow Wilson International Center for Scholars, Cold War International History Đề án, Working Paper No. 22, tháng 5-1998, p 138.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #77 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:39:31 pm »

Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, nói với tổng thống Johnson ngày 9-4 rằng Hoa Kỳ chẳng mất thứ gì bởi việc ngừng ném bom ở vùng Hà nội-Hải Phòng, nhưng ông cho rằng cần phải ném bom Thanh Hoá - nghĩa là trở về đến vĩ tuyến 20. Trời nhiều mây không bị tan ra trên đồng bằng sông Hồng, việc ném bom tương đối nhỏ có thể tiến hành ở đó trong vài tuần, mặc dù thời tiết ở Thanh Hoá chẳng tốt hơn là bao. Chắc chắn rồi Thanh Hoá đang tăng lên hàng ngày về mức độ quan trọng là các kho hàng và trung tâm vận tải. Sau hết, nó là một thành phố nằm ở phía cực nam của Bắc Bộ từ lâu không bị ném bom, và Bắc Việt nhanh chóng tận dụng thuận lợi này. Wheeler đã dự đoán (chúng tôi chính xác) rằng tổng thống có nhiều khả năng quay về vĩ tuyến 20 hơn là ném bom đồng bằng sông Hồng. Trong thủ thuật chính sách leo thang, đối tượng bị ném bom luôn là một mẩu tiếp theo bé hơn.
Bộ trưởng quốc phòng Clifford cố gắng ngăn chặn những nỗ lực quay trở về vĩ tuyến 20 trước tiên vì đường giao thông của địch chạy qua Bắc Việt nam và vùng cán xoong ở Lào. Khi tờ New York Times trích dẫn lời ông nói rằng ông “không nhận thấy có sự tăng thâm nhập”, Clifford bắt buộc phải thảo một lá thư giải thích cho tổng thống rằng thông tin “đáng bị khiển trách” này là một sự hiểu nhầm cố ý đối với cách mà bộ trưởng quốc phòng và bộ trưởng ngoại giao đã quyết định xử lý câu hỏi này. Clifford và Rusk chỉ đơn thuần nói rằng đã có một bắt đầu gia tăng thâm nhập trước khi Johnson đọc diễn văn ngày 31-3 và nói rằng việc tăng cường thâm nhập đang tiếp tục. “Chúng tôi không nói về tình hình có sự gia tăng đặc biệt từ 31-3 bởi vì việc này làm tăng gánh nặng đè lên tổng thống cấm ném bom tại ngày đó”.
Luận cứ của Wheeler ủng hộ ném bom Thanh Hoá được củng cố vào tháng 5 khi cộng sản tung ra đợt tổng tấn công thứ hai tại Nam Việt nam. Mặc dù cuộc tổng tấn công lần này nhỏ hơn nhiều so với cuộc tấn công Tết Mậu Thân và tập trung chủ yếu vào Sài Gòn, chính quyền Johnson lo ngại rằng về một cuộc tấn công lớn hơn từ quân đội Bắc Việt tại Vùng chiến thuật I phía bắc Nam Việt nam. Lúc khởi đầu cuộc tổng tấn công lần thứ hai ngày 4-5, ngoại trưởng Rusk nói rằng ông hài lòng ném bom Thanh Hoá. Clifford đã tranh luận rằng họ phải để dành Thanh Hoá đổi lấy cuộc tổng tấn công lớn có thể đến chậm hơn trong quá trình đàm phán. Tổng thống Johnson không sẵn sàng quay trở về vĩ tuyến 20, nhưng ảnh hưởng của Clifford đối với ông đang bị đổ vỡ. Khi Clifford quả quyết rằng cuộc tổng tấn công hồi tháng 5 chỉ đơn thuần là một phản ứng đối với chiến thắng của chính quyền để buộc Bắc Việt phải chấp nhận Paris là nơi thương lượng hơn là Warsaw, tổng thống nhận xét cộc lốc rằng Bắc Việt thực tế thích Paris hơn.
Những cuộc tấn công vào Sài Gòn khiến cho đại sứ Bunker đề xuất rằng một trong những điều kiện ngừng ném bom Bắc Việt Nam phải là cộng sản chấm dứt tấn công vào những thành phố Nam Việt nam. Theo quan điểm Bunker, sự kiềm chế như thế cũng nằm trong ý nghĩa của công thức mà tổng thống Johnson đưa ra tại San Antonio - những người cộng sản không “tận dụng thuận lợi” của việc ngừng ném bom. Khi phân tích quan điểm của Bunker về Johnson, Rusk cho rằng đã đến lúc phải dời bỏ cách hiểu nông cạn của Clifford về công thức San Antonio, cái đó cho phép Bắc Việt làm mọi thứ trừ việc tỷ lệ gia tăng thâm nhập của họ (tỷ lệ này đã tăng gấp ba lần kể từ khi tổng thống phát biểu tại San Antonio vào tháng 9).
Đến cuối tháng 5-1968 tổng thống hình như sẵn sàng ném bom bắc vĩ tuyến 19. Ông bị ảnh hưởng khá mạnh bởi luận cứ của Wheeler rằng sân bay MIG ở Bái Thượng (cách Thanh Hoá khoảng 20 dặm về phía tây) ở vị trí gây nguy hiểm không những cho phi công hải quân hoạt động gần Vinh, mà còn cả với lính Mỹ tại Nam Việt nam. Wheeler nhấn mạnh rằng Bắc Việt đang sử dụng nơi ẩn náu của họ, rằng các máy bay MiG và Il-28s đang gấp rút luyện tập - có khả năng tấn công vào sân bay Đà Nẵng. Đề xuất của Wheeler ném bom Thanh Hoá và Bái Thượng giành được sự thu hút, tương phản với đề xuất khác cuối tháng 5 đưa B-52 ném bom lực lượng cộng sản và tiếp liệu ở Campuchia.
Nghe theo sáng kiến Campuchia của Wheeler, tổng thống Johnson tuyên bố ông sẵn sàng đưa máy bay trở lại vĩ tuyến 20 và chỉ thị cho Rusk và Clifford tính toán làm việc này một cách lặng lẽ. Việc leo thang ném bom lặng lẽ hình như vượt quá tầm của hai bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao, thêm nữa họ bực mình vì phải tìm kiếm nó. Chẳng bao giờ tổng thống Johnson ra lệnh đưa máy bay đến bắc vĩ tuyến 19.
***
Còn lại một lĩnh vực nhỏ hơn để hành động, Tập đoàn không quân số 7 cố gắng làm hết sức mình. Săn đuổi những xe tải trong gói mục tiêu 1 ít ra ít nguy hiểm hơn ném bom những mục tiêu ở đồng bằng sông Hồng, và Bắc Việt mong đợi thay đổi ít hơn tình hình mùa hè năm 1968. Họ tăng gần gấp đôi súng phòng không tại vùng cán xoong có lẽ 2.600 khẩu, nhưng đa số những khẩu đội SAM vẫn nằm lại gần Hà Nội và Hải Phòng - chỉ bốn hoặc năm trận địa gần vĩ tuyến 19.
Không có nỗ lực nào năm 1968 (cũng như từng có trong năm 1967) để đưa tên lửa SAM gần khu phi quân sự. Kể từ đây hải quân phải buồn phiền về gánh nặng mối đe doạ của SAM cũng như MiG.
Không quân Mỹ chỉ có một mối lo ngại về pháo cao xạ, mà nó ít nguy hiểm khi tách khỏi SAM và MiG. Tuy thế, gói mục tiêu 1 tỏ ra nhiều súng hơn gói mục tiêu 2 và 3, và không quân Mỹ bị rơi 52 máy bay ở đó trong sáu tháng Sấm Rền còn lại; 56 phi công không được cứu thoát và chỉ 11 người trong số này trở về nhà khi kết thúc chiến tranh. Những thiệt hại này xem ra còn nhẹ hơn thiệt hại của hải quân trong gói mục tiêu 2 và 3, nhưng ít thiệt hại gay gắt hơn khi cả không quân và hải quân đánh phá trong gói mục tiêu 6 (vùng Hà nội-Hải Phòng). Sau một vài tháng, sự thiệt hại ở gói mục tiêu 6 đã vượt quá 20 máy bay trên một nghìn lượt xuất kích, trong lúc tỷ lệ này vẫn còn nằm lại dưới hai phần nghìn nghìn trong gói mục tiêu 1.
Vùng cán xoong Bắc Việt, tuy thế, có nhiều chỗ nguy hiểm hơn ở vùng cán xoong bên Lào. Tại Lào không quân Mỹ bắt đầu thu được một số thành công trong việc phát hiện và oanh tạc những xe tải bằng súng gắn trên Lockheed C-130 Hercules (máy bay vận tải cánh quạt, tốc độ thấp), nhưng những khẩu súng gắn ở cánh như thế không thể sống sót ở vùng cán xoong Bắc Việt.
Những người kiểm soát trên không (FAC) có thể không dùng máy bay cánh quạt tìm kiếm mục tiêu và gọi máy bay ném bom. Thay vì việc đó, những người kiểm soát trên không (FAC) đã bay trên F-100F hai ghế lái. Thêm nữa họ may mắn nhìn thấy một xe tải vào ban ngày từ 4.500 trăm feet tại tốc độ 700 km/h, và phần lớn những xe tải Bắc Việt nam không chạy trên đường mà chờ tới khi trời tối.
Một FAC có thể quan sát tốt hơn từ phi công phụ ngồi ghế sau của F-100F hơn là từ ghế sau F-4, và F-100F có thể bay lảng vảng trên vùng cán xoong lâu hơn. Nhưng những chiếc F-100F cũ kỹ đang hụt dần vì chúng sắp về hưu. Mùa hè năm 1968, không quân Mỹ bắt đầu thay những F-100F bằng những F-4 tại sân bay Đà Nẵng để FAC làm việc trong gói mục tiêu 1. Những F-4 của sân bay Đà Nẵng làm việc khá tốt đến mức sau đó những F-4 tại những sân bay ở Thái Lan cũng hợp sức với họ để áp dụng FAC cho Lào, nơi phòng không cộng sản đang được tăng cường.
Trong thời gian ấy, nhiều tổ lái F-4 được đưa vào đánh phá ban đêm, nhưng chỉ những F-4 của phi đoàn không quân chiến thuật 497 tại sân bay Ubon (Thái Lan), từng trải bắn phá ban đêm ở vùng cán xoong Bắc Việt. Mùa xuân 1968, phi đội “Ó đêm” bắt đầu dậy kinh nghiệm bay đêm cho những phi đội khác của phi đoàn máy bay chiến thuật số 8. Tuyến giao thông bộ trong gói mục tiêu 1 khá nhiều đến mức các phi công nói là nhìn thấy khoảng ba nghìn xe tải một tháng vào tháng 5, tháng 6, và tháng 7; họ nói là đã phá huỷ hoặc làm hư hỏng khoảng 20%. Tất nhiên, những xe tải đó vẫn đi lại. Không người Mỹ nào biết được bao nhiêu ô tô được sử dụng trên đường, và bao nhiêu bị phá huỷ.
Mùa hè năm 1968, nhiều xe tải đi về hướng nam qua gói mục tiêu 1 chở đạn dược và tiếp liệu cho quân đội Bắc Việt nam đóng tại bắc khu phi quân sự. Bắc Việt chưa hề gặp nhiều khó khăn trong việc đưa quân đội qua khu phi quân sự, và có lẽ 30 nghìn lính Bắc Việt nam có mặt tại Vùng chiến thuật I (Nam Việt nam). Việc tiếp liệu cho những người trong vùng này tỏ ra là khó hơn là đưa họ đến. Phần lớn xe tải chở tiếp liệu cho lực lượng cộng sản ở Nam Việt nam chạy xung quanh khu phi quân sự sang phía tây qua các con đèo vào Lào.
Do những trận mưa lớn vào tháng 5 khiến việc vận tải trên những con đường lầy lội và sỏi đá tại Lào gặp khó khăn, Bắc Việt phải đẩy mạnh vận chuyển trong thời gian gió mùa đông bắc khô ráo từ tháng 11 đến tháng 4. Gió mùa tây nam cũng đem mưa đến vùng cán xoong Bắc Việt nam, nhưng lượng mưa ít hơn ở phí những rặng núi che chắn và những con đường đôi chút tốt hơn. Theo quan điểm Bắc Việt, khó khăn chủ yếu theo tính chất vận chuyển theo mùa là thời tiết trong mùa giúp không quân tấn công tại Lào. Khi những con đường tại Lào là khô ráo, vẫn có những đám mây bay trên đầu bảo vệ xe tải không bị Mỹ ném bom. Máy bay ném bom, tuy thế, hiếm gặp thời tiết tốt như thế ở Bắc Việt nam, bởi vì gió mùa đông bắc tương đối khô tạo ra mây mù phủ dọc bờ biển và đồng bằng sông Hồng. Cơ hội tốt nhất để ném bom Hà Nội và Hải Phòng là những ngày nằm giữa những đợt mưa rào của gió mùa tây nam khi trời trong trẻo. Kể từ lúc đó, máy bay Mỹ tập trung vào vùng cán xoong ở Lào trong gió mùa đông bắc, nhưng trong những đợt gió mùa tây nam trước đây, nỗ lực của máy bay Mỹ bị phân chia một cách cần thiết giữa vùng cán xoong Bắc Việt nam và đồng bằng sông Hồng.
Thậm chí mùa hè năm 1967, tại đỉnh cao ném bom ở đồng bằng sông Hồng, hơn một nửa máy bay không quân đã ném bom vùng cán xoong Bắc Việt. Lúc nào những đám mây che phủ vùng châu thổ không cho phép tấn công, thì máy bay cường kích không quân Mỹ chuyển hướng sang ném bom gói mục tiêu 1. Tập đoàn không quân số 7 thường xuyên tranh luận rằng thực tế này tạo ra trong gói mục tiêu 1 một sự dư thừa sức mạnh không quân cái đó lẽ ra sẽ được làm tốt hơn ở các gói mục tiêu do hải quân đảm trách ở phía bắc. Sau lệnh hạn chế ném bom năm 1968, Tập đoàn không quân số 7 có lực lượng dự trữ để tăng gấp đôi số lượt xuất kích đánh phá gói mục tiêu 1 tới hơn hơn sáu nghìn một tháng. Trong khi không quân từ xa xưa ném bom những gói mục tiêu phía bắc, gói mục tiêu 1 mà không cần phải tăng tỷ lệ máy bay để trấn áp phòng không địch. Có lần Tập đoàn không quân số 7 cho một đội hình lớn máy bay được hộ tống bay tới gói mục tiêu 1, nhưng chỉ là thao diễn kỹ thuật phòng trường hợp tổng thống một lần nữa cho phép họ ném bom những mục tiêu gần Hà Nội.
Mặc dù Tập đoàn không quân số 7 cho là trước tiên là ngăn chặn giao thông gói mục tiêu 1, thuỷ quân lục chiến đang trấn giũ những tiền đồn nằm sát nam khu phi quân sự muốn được không quân hỗ trợ thêm. Pháo binh Bắc Việt nam nằm ngay bắc vùng này đã đấu pháo với các đơn vị pháo binh của thuỷ quân lục chiến và Nam Việt nam tại những ngọn đồi phía nam vùng này. Cũng tương tự những năm trước, không quân Mỹ nghĩ là có thể hạn chế việc pháo kích của Bắc Việt nam bằng cách ngăn chặn tiếp tế đạn dược hơn là tấn công thẳng vào pháo của họ, nơi mà pháo của họ được bảo vệ trong những công sự đắp đất. Những trận dội bom mạnh mẽ của B-52 không làm câm họng những khẩu pháo của Bắc Việt nam, và không quân Mỹ đã bỏ những khu vực mục tiêu cho những máy bay ném bom to hơn về cực bắc để không làm chính quyền Johnson lo ngại đe doạ cuộc thương lượng ở Paris vì bất cứ thay đổi nào cũng có thể được coi là leo thang chiến tranh. Chắc chắn Tập đoàn không quân số 7 không muốn mở rộng nhiều máy bay ném bom của họ vào những khẩu súng ở vùng ranh giới.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #78 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:40:05 pm »

Khắp Vùng chiến thuật I phía bắc có sự giằng co giữa lực lượng không quân và thuỷ quân lục chiến đối với việc kiểm soát sức mạnh không quân. Tập đoàn không quân số 7 từ lâu đã điều khiển máy bay của phi đoàn không quân thuỷ quân lục chiến trong gói mục tiêu 1, nơi họ đóng góp khoảng 1/5 số lượt xuất kích đánh chặn. Đầu năm 1968 khi sử dụng toàn bộ sức mạnh không quân để phá vỡ vòng vây tại Khe Sanh (Vùng chiến thuật I), tư lệnh Tập đoàn không quân số 7, tướng Momyer, trở thành “người điều hành duy nhất” những chiến dịch không kích bên trong lãnh thổ Nam Việt nam, giúp thuỷ quân lục chiến kiểm soát những chiến dịch không kích. Phần nhiều, các sĩ quan của không quân và thuỷ quân lục chiến phối hợp với nhau một cách tốt đẹp dù dưới sự kình địch của hai binh chủng. Tập đoàn không quân số 7 cố gắng phối trí những chiến dịch không kích trong Vùng chiến thuật I, trong lúc cản trở chút ít khả năng tương hỗ lẫn nhau trong những năm cùng thực hành giữa không quân của thuỷ quân lục chiến và bộ binh.
Lần đầu tiên, vào tháng 7-1968, Tập đoàn không quân số 7 tham gia lớn lực lượng để phá huỷ pháo cao xạ Bắc Việt nam ở gần khu phi quân sự, dành một nửa nỗ lực trong gói mục tiêu 1 để ném bom khu vực mũi Lay, cực đông của khu phi quân sự. Vây quanh khu phi quân sự rộng sáu dặm và giáp chiều rộng chừng sáu dặm, vùng này chạy dài từ bờ biển vào đất liền tới 20 dặm. Dưới nó là những thôm xóm ở ngoại vi Vĩnh Linh, những hầm đào dưới đất cất giấu hàng hoá quân sự quan trọng, trong lúc (trên mặt đất) pháo binh di động nã đạn vào Nam Việt nam từ hơn bốn trăm trận địa chuẩn bị từ trước; những khẩu pháo này được bảo vệ tránh bị máy bay Mỹ ném bom bởi chính sự di động linh hoạt của họ, bởi súng phòng không di động trong nhiều trận địa, và bởi SAM. Trong vòng một tuần, hoả lực của tất cả bốn binh chủng Mỹ đã phối hợp tấn công Vĩnh Linh. Thuỷ quân lục chiến và tàu sân bay phối hợp với Tập đoàn không quân số 7 và B-52 thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến lược ném một lượng bom lớn hơn lượng bom của ba binh chủng cộng lại. Cộng thêm vào tám nghìn tấn bom, thuỷ quân lục chiến và pháo binh và pháo của tàu chiến Mỹ nã hơn 40 nghìn quả đạn (khoảng hai nghìn tấn). Khi một số cuộc hành quân nhỏ hơn càn quét vùng ranh giới dọc theo khu phi quân sự kéo dài sáu tuần lễ mùa thu 1967, nỗ lực năm 1968 là khá mạnh.
Cuộc oanh tạc tiếp tục những giờ không nghỉ suốt tuần lễ với tỷ lệ một tấn thuốc nổ mỗi phút. Máy bay chỉ điểm cho pháo binh và những kiểm soát viên trên không thậm chí phải bay trên những máy bay nhẹ vào khu vực này (không lo lắm về hoả lực địch, nhưng lo ngại nhiều hoả lực ta bắn nhậm). Trong khi sở chỉ huy chiến dịch tuyên bố đã phá huỷ gần hai trăm pháo chiến trường và gần tám trăm pháo cao xạ, không quân Mỹ đánh giá con số bị phá huỷ khá khiêm tốn: khoảng một trăm pháo chiến trường và ba trăm pháo cao xạ. Tập đoàn không quân số 7 nghi ngờ rằng phần lớn những trận địa này có pháo bị tấn công. Những bức ảnh xác nhận phá huỷ chỉ hai trận địa pháo chiến trường và mười một trận địa pháo cao xạ. Tốt nhất là có thể nói chắc chắn rằng trong một vài tuần lễ sau khi đánh phá, pháo binh Bắc Việt nam nã đạn từ vùng này giảm nhiều.
Mặc dù B-52 tiếp tục ném bom địch ở khu phi quân sự, máy bay ném bom của không quân tập trung đánh phá đường giao thông. Tân tư lệnh Mỹ ở Việt nam, tướng Abrams, ủng hộ đánh phá đường giao thông vì ông lo ngại rằng cộng sản đang chuẩn bị của tổng tấn công lần thứ ba có lẽ lớn hơn đợt tổng tấn công tháng 5 và có lẽ trội hơn đợt tổng tấn công Tết. Vì hai đợt tổng tấn công đã tiêu hết dự trữ đạn dược của họ tại Nam Việt nam, Bắc Việt tăng vòng quay vận tải nếu họ đang chuẩn bị tung ra cuộc tổng tấn công lần thứ ba tại Nam Việt nam năm 1968.
Trong đợt gió mùa tây nam, Bắc Việt tập trung đưa tiếp liệu cho các đơn vị đóng sát bắc khu phi quân sự. Nhưng dường như họ chọn sự thâm nhập qua khu phi quân sự và từ bỏ khoe khoang rằng không có lính Bắc Việt nam tại Nam Việt nam, cộng sản cần chuẩn bị lực lượng của hoặc tại Nam Việt nam để chiến đấu. Điều này có nghĩa là đưa thêm xe tải qua Lào trong mùa mưa, và việc giao thông ngay từ đầu tháng 7 đã phát triển trên những tuyến đường dẫn tới đèo Mụ Giạ và đèo Ban Karai dọc theo biên giới Lào.
Tập đoàn không quân số 7 cố gắng phong toả những con đèo này bằng cách đóng những con đường dẫn tới chúng. Những con đèo, cũng như những con đường tại Lào, bị máy bay ném bom và B-52 oanh tạc dữ dội, nhưng hiếm khi bị ngưng trệ hơn vài giờ. Ngay từ hồi đầu chiến tranh, ném bom đôi khi khoá được một con đường bằng những tảng đá, nhưng đợt ném bom tiếp theo cũng tại điểm này đã biến tảng đá thành cát sỏi nên lực lượng sửa chữa đường của Bắc Việt nam lại có thêm thuận lợi. Dù từng trải tại Lào, Tập đoàn không quân số 7 vẫn nghĩ rằng còn có những con đèo ở phía Bắc Việt việc ném bom có thể làm ngưng trệ nó ít nhất vài tuần.
Những người ủng hộ hăng hái nhất việc phá đường (nhưng phản đối đánh phá xe tải) chính là các sĩ quan tình báo. Khả năng phân tích không ảnh của họ tỏ ra rất hữu ích trong chiến dịch đánh phá xe vận tải, vì những xe tải chuyển động nhanh hơn phim chụp được. Những chuyên gia không ảnh đôi khi phát hiện ra một khu vực nhỏ trong rừng rậm là nơi đỗ xe tải, nhưng những phi công nghi ngờ việc họ thực tế ném bom mục tiêu có giá trị của địch trừ khi những tiếng nổ của bom được có thêm những tiếng nổ thứ hai trong trường hợp đánh vào điểm nghẽn, mục tiêu ít nhất phải nằm lại đó và (một lần những phân tích tình báo chọn ra) phi công dễ dàng nhìn thấy - đặc biệt sau khi họ quay trở lại nó hàng ngày mang theo nhiều bom hơn hơn.
Khi xe tải từ Vinh chạy vào Nam, họ có thể dùng Đường số 1 qua dải đất hẹp ven biển hoặc Đường số 15 đi vào những rặng núi cao theo hướng đèo Mụ Giạ và Lào, dài khoảng 75 dặm. Xe tải nhằm đèo Ban Karai bỏ lại Đường số 15 chừng 20 dặm về phía bắc đèo Mụ Giạ và chạy theo Đường số 101, 40 dặm phía nam Đường số 137, băng qua những rặng núi vào Lào 40 dặm từ khu phi quân sự. Dưới sự chỉ huy của thiếu tướng George J. Keegan, Jr., Phó tham mưu trưởng tình báo thuộc Tập đoàn không quân số 7, những nhân viên phân tích chọn một điểm nghẽn trên một trong ba con đường của Bắc Việt nam nối Vinh đến những con đèo nói trên.
Ngay phía bắc chỗ giao nhau giữa Đường số 101 và Đường số 15 là một con đường hẹp một làn xe lượn quanh co qua những vách đá dốc đứng. Từ giữa tháng 7 điểm nghẽn Xóm Ve (Khe Ve) bị đánh phá nhiều lần là một điểm ít triển vọng trên Đường số 101. Những nỗ lực này rất ít thành công, mặc dù điểm nghẽn Xóm Ve (Khe Ve) được coi là bị tắc nghẽn hơn một phần ba thời gian. Điểm nghẽn thoả đáng hơn nằm trên Đường số 137 được gợi ý bởi đại tá Frederick I. Brown, Jr., trưởng phòng tình báo của phi đoàn trinh sát chiến thuật 432 tại sân bay Udorn, Thái Lan. Đường số 137 lượn quanh một vách đá nơi có một con sông chảy băng qua đường và chảy vào một hang đá vôi. Brown đã thấy đắp đập trên sông và làm ngập nước con đường đó vĩnh cứu. điều này không xảy ra, nhưng bất cứ lúc nào trời mưa, con đường bị ngập nước như một vũng nước và các phi công gọi nó là “hồ Brown”. Những cơn mưa to vào cuối tháng 7 khiến Đường số 137 bị nghẽn hai phần ba thời gian.
Vào tháng 8, Tập đoàn không quân số 7 đưa thêm ba điểm nghẽn và danh sách mục tiêu. Sáu mục tiêu bị ném bom khá thường xuyên đến mức nó giống như những điểm nghẽn cũ tại Lào. Nhưng việc đánh phá giao thông ném bom tại Lào được tiến hành trong thời gian khô ráo gió mùa đông bắc. Những cơn mưa trong thời gian gió mùa tây nam chứng tỏ lợi ích của phương pháp đánh điểm nghẽn, vì mưa biến những điểm nghẽn thành bùn. Cơn bão Rose giữa tháng 8 tiếp theo cơn bão Bess và Wendy đầu tháng 9. Tướng Keegan hài lòng vấn đề những gì mà ông cho là thành công: “Giảm bớt 90% lượng hàng hoá vận chuyển thông qua Lào là hoàn thành nhiệm vụ”. Những năm sau này, Hà nội xuất bản cuốn sách Lịch sử Quân đội nhân dân Việt nam cho biết Tập đoàn không quân số 7 đã thành công trong việc tạo ra mưa nhân tạo để cắt đứt những con đường tại vùng cán xoong Bắc Việt Nam trong mùa hè năm 1968.
Tướng Keegan tin tưởng ông có thể biết đếm được số lượng xe tải từ Bắc Việt Nam đến vùng cán xoong ở Lào bằng cách tăng cường sử dụng bộ cảm biến điện tử để phát hiện chuyển động và tiếng động. Những bộ cảm biến là đề án của cựu bộ trưởng quốc phòng McNamara xây dựng hàng rào chống lại sự thâm nhập vào Nam Việt nam. Mặc dù “Hàng rào McNamara” chưa được xây dựng xong, một phần của đề án tiếp tục triển khai. Tại nam khu phi quân sự, thuỷ quân lục chiến củng cố vị trí đóng quân của họ trừ Khe Sanh, từ đó họ đã rút đi sau khi phá tan vòng vây của cộng sản. Khi họ lần đầu tiên đến Khe Sanh, thuỷ quân lục chiến ở phần bắc Vùng chiến thuật I sử dụng những bộ cảm biến điện tử cảnh báo chuyển động của địch. Không phải người Mỹ và người Nam Việt nam đến mọi nơi xây dựng một đường ngăn chặn gồm 40 vị trí từ bờ biển đến tận rừng núi.
Phần núi phía tây hàng rào McNamara chưa bao giờ có nhiều những sợi dây treo nững bộ cảm biến được theo dõi bởi không quân, họ sẽ đưa máy bay đến tấn công khi những xe tải và binh lính địch bị bộ cảm biến phát hiện. Tại Nam Việt nam và Lào, những bộ cảm biến có thể được thả bởi những toán thám báo hoặc thả từ máy bay. Trước mùa hè năm 1968, Tập đoàn không quân số 7 cũng thả những bộ cảm biến vào gói mục tiêu 1. Máy bay giám sát radar EC-121 từ sân bay Korat, Thái Lan, phát hiện được những tín hiệu cảm biến và truyền những tín hiệu đó về trung tâm kiểm soát tại sân bay Nakhon Phanom nằm gần biên giới phía tây của Thái Lan, sát ngay phía bắc cạnh sông Mekong của Lào.
Cảm biến điện tử khẳng định sự quan sát của các phi công rằng có ít xe tải chạy ở các đường rừng núi giữa Bắc Việt Nam và Lào. Kết quả này đưa đến việc tướng Keegan viết rằng những nỗ lực của Tập đoàn không quân số 7 đánh phá những con đường này trong gió mùa tây nam năm 1968 là “một trong chiến dịch ngăn chặn thành công nhất trong lịch sử hiện đại”. Không phải ai cũng đồng ý. Những người ủng hộ đánh phá xe tải ngượng nghịu phát hiện rằng hải quân cũng tuyên bố đã phá huỷ hoặc làm hỏng gần bốn nghìn xe tải từ tháng 7 đến tháng 10-1968, trong lúc không quân Mỹ có thể tuyên bố ít hơn họ 1.200. Kết quả này, tuy thế, không chảy một cách đơn giản từ sự cống hiến của Tập đoàn không quân số 7 1/5 số lượt xuất kích của nó để ném bom những điểm nghẽn. Một số ít xe tải vẫn được nhìn thấy trên những con đường thậm chí ở các gói mục tiêu do hải quân đảm trách, và vẫn còn một số ít xuất hiện ở gói mục tiêu 1.
Tướng Abrams hình như ít có ấn tượng hơn với việc đánh phá đường giao thông trên vùng rừng núi và đánh phá xe tải so với sự giảm giao thông ở vùng cán xoong. Nhưng ông có thể đưa cho không quân sự nhiều điểm hơn đối với sự thay đổi này hơn là họ ứng đáng nhận được. Sáng sớm ngày 23-8, Abrams thông báo cho Walt Rostow việc đánh chặn là “tác nhân đầu tiên” cắt giảm xe tải được phát hiện ở vùng cán xoong Bắc Việt từ hơn 1.000 chiếc một ngày xuống còn giữa 150 và 200 một ngày. Đây là sự u mê. Giữa tháng 7 những phát hiện xe tải tăng lên tới mức chưa từng thấy, nhưng trong tháng 5, tháng 6, và tháng 7 (những tháng vận tải nhiều) chỉ khoảng 200 xe một ngày. Về sau, những phát hiện giảm xuống dưới 150 xe một ngày của ba tháng tiếp theo, có một sự xuống dốc nào đó hơn là từng trải trong mùa mưa bão năm trước.
Tổng thống Johnson vui mừng nhận bằng chứng về sự suy giảm giao thông chỉ còn 80%, theo số lượng xe tải bị phát hiện ở Bắc Việt Nam (rơi từ 1.000 xuống còn 200). Ông đưa số liệu của tướng Abrams cho các nhà báo và cũng sử dụng nó trong thư gửi McGeorge Bundy, người tiền nhiệm của Walt Rostow, là Cố vấn an ninh quốc gia và sau đó người trẻ nhất trong số “những người sáng suốt”. Bundy, giống như khá nhiều người khác, bây giờ đang kêu gọi một cuộc ngừng ném bom không điều kiện (nghĩa là chấm dứt ném bom mà không cần có cái gì đó đáp lại từ phía Bắc Việt nam).
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #79 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:41:22 pm »

Johnson đã đối mặt tại của đấu tranh của đảng tại Hội nghị toàn thể đảng dân chủ, tổ chức tại Chicago vào thứ hai tới, 26-8-1967. Mặc dù những sinh viên phản đối chiến tranh đang xô xát với cảnh sát ngoài toà nhà, một hội nghị chia rẽ tồi tệ nhất đã cử phó tổng thống Humphrey ra ứng cử tổng thống.
Vào tháng 8 việc chính quyền không muốn ngừng ném bom dựa vào ít nhất là một phần khi chờ đợi cộng sản sẽ tung ra tổng tấn công đợt ba.
Trong thời gian ấy, sự tạm lắng giao tranh khắp Nam Việt nam khích lệ tờ New York Times, trong số những tờ báo khác, hỏi tại sao tổng thống không đáp lại bằng việc ngừng ném bom. Ngày 19-8, tân tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, đô đốc John S. McCain, Jr., cảnh báo Washington rằng trong khi Bắc Việt đang sẵn sàng tung đợt tổng tấn công thứ ba, họ có thể làm hy vọng cổ vũ người Mỹ đang chủ trương ngừng ném bom. Khi mức bạo lực tăng lên vào hai tuần cuối tháng 8, bao gồm cuộc nã rocket vào Sài Gòn, chính quyền không dám chắc đợt tổng tấn công thứ ba đã đến chưa. Nếu nó đến, thì nó cũng không mạnh.
***
Sấm Rền là một chiến dịch ném bom có một thời hạn. Nó bắt đầu sau khi tổng thống Johnson được tái cử năm 1964. Một vài ngày trước cuộc bầu cử 1968, Sấm Rền đã đến hồi kết thúc, sự dừng lại đúng lúc của nó chưa hoàn toàn đủ để đưa những người đảng Dân chủ đến Nhà Trắng. Nhưng triển vọng cho một nền hoà bình và cho Hubert Humphrey cũng còn mờ mịt đáng kể ít ngày đầu ngừng ném bom, ngày 1-11, khi tổng thống Thiệu nói trước Quốc hội rằng ông còn chưa muốn tham gia cuộc thương lượng ở Paris.
Thiệu có ấn tượng rằng ứng cử viên đảng Cộng Hoà, Richard Nixon, ít có khả năng hơn Humphrey đưa Nam Việt nam rơi vào sự thống trị của cộng sản. Trong chiến dịch bầu cử, Humphrey đặt khoảng cách vừa đủ giữa ông ta và Johnson để tuyên bố rằng chính quyền Humphrey sẽ kết thúc ném bom Bắc Việt nam. Tình thế của Nixon rất khó đoán. Nixon cho phép đảng của ông đưa vào cương lĩnh hoà bình trong tuyên ngôn của họ, và ông tuyên bố rằng ông có một kế hoạch bí mật để chấm dứt chiến tranh. Nhưng tổng thống Nam Việt nam không đơn độc dựa vào lời tuyên bố mơ hồ khi nghiên cứu kế hoạch Nixon.
Suốt từ nhiều tháng, tổng thống Thiệu đã nghe những quan điểm của Nixon từ bà nữ Chủ tịch phụ nữ đảng Cộng Hoà, Anna Chennault, người vợ goá gốc Trung Quốc của thiếu tướng Claire L. Chennault. Chồng bà đã phục vụ ở Trung Quốc trong thế chiến II, là tư lệnh đầu tiên Nhóm tình nguyện Mỹ (phi đoàn “Cọp bay”) và sau đó là tư lệnh Tập đoàn không quân số 14. Vợ chồng Chennaults đã dời đến Đài Loan theo chính phủ Tưởng Giới Thạch năm 1949, khi Trung Quốc rơi vào tay cộng sản. Sau khi tướng Chennault qua đời năm 1958, Anna Chennault tiếp tục xây dựng mối quan hệ với những lãnh tụ chống cộng không những ở Đài Bắc và Washington, mà còn ở Sài Gòn.
Bất cứ điều gì Anna Chennault nói với Thiệu hoặc với Bùi Diễm - đại sứ của Thiệu ở Washington, Nixon sớm thất vọng tất cả bọn họ. Gần một tuần sau khi đắc cử, những sứ giả của Nixon, bao gồm lãnh tụ phe thiểu số ở Thượng nghị viện Everett Dirksen, bắt đầu gợi lại cho Bùi Diễm bức thông điệp mà Nixon muốn chính phủ Thiệu tham gia đàm phán hoà bình Paris. Anna Chennault từ chối mang thông điệp này. Mãi đến cuối tháng 11 Thiệu mới chấp nhận trước áp lực của cả hai đảng chính trị ở Mỹ. Những năm nói chuyện ở Paris lúc đó cũng là những năm ném bom ở Bắc Việt nam, trong lúc cuộc chiến vẫn tiếp tục ở Nam Việt nam lính Mỹ ngày một ít hơn.
Tổng thống Johnson và các cố vấn thân cận nhất của ông có thể can dự vào chuyện cuộc thương lượng ở Paris kéo dài suốt nhiều tháng, nhiều năm mà không trở lại ném bom Bắc Việt nam. Họ nghĩ rằng tình thế đàm phán của họ dựa trên bài diễn văn của tổng thống tại San Antonio một năm trước, khi ông đưa ra đề nghị ngừng ném bom để đổi lấy những cuộc đàm phán hữu ích. Dù sao thì họ cũng chấp nhận, đơn thuần Bắc Việt Nam nhượng bộ rằng chính phủ Nam Việt nam được phép tham gia những cuộc đàm phán - bất kể có hữu ích hay không.
Khi lời nhượng bộ của Bắc Việt nam tới Washington giữa tháng 10, Johnson và những cố vấn của mình lấy làm ngạc nhiên, hài lòng, và nghi ngờ.
Họ biết rằng Hà Nội đang ủng hộ bầu cho Humphrey, và họ nghi ngờ rằng cuộc đàm phán là hữu ích. Ngoại trưởng Rusk gợi ý rằng họ ngừng ném bom và cùng với cuộc đàm phán chính thức và rộng rãi ở Paris mãi tới 1-12-1968. Nếu một hiệp định hoà bình là không đạt được lúc đó, họ sẽ quay lại ném bom. Nhưng bản thân Johnson không cam kết giới hạn thời gian nào cả. Sau hết, thời tiết vẫn xấu trên bầu trời Bắc Việt Nam và cũng chẳng tốt hơn trong sáu tháng.
Tổng thống cố gắng sử dụng cả lời hứa quay lại ném bom và cả sự tấn công của gió mùa đông bắc để thuyết phục những người cầm đầu quân sự ủng hộ việc ngừng ném bom. Ông mời toàn bộ các tham mưu trưởng liên quan đến Nhà Trắng chiều 14-10. Khi ông yêu cầu họ bộc lộ quan điểm về việc ngừng ném bom, Tham mưu trưởng không quân Mỹ, tướng McConnell, ngay lập tức đưa ra câu hỏi về khả năng ném bom trở lại. Johnson cam đoan với McConnell rằng nếu việc ném bom mạnh hơn chứng tỏ là cần, họ sẽ không chỉ đơn thuần khôi phục lại - họ sẽ dời sang ném bom hạn chế.
Tổng thống và Walt Rostow giải thích cho các tham mưu trưởng liên quân rằng những cuộc đàm phán vô bổ không phải là lý do để quay lại ném bom Bắc Việt nam. Nhóm đám phán Paris do Averell Harriman và Cyrus Vance cầm đầu đã nói với Bắc Việt nhiều lần rằng bất cứ việc ngừng ném bom nào cũng dựa vào hai “sự thật của cuộc sống”: không được tấn công hoặc thâm nhập qua khu phi quân sự và không tấn công vào các thành phố của Nam Việt nam. Các tham mưu trưởng liên quân bày tỏ hoài nghi chính quyền sẽ quay lại ném bom dưới một hoàn cảnh nào đấy, nói thí dụ nếu Bắc Việt đơn thuần làm ngừng trệ hoà đàm Paris. Quan điểm là của thượng nghị sỹ Russell, Chủ tịch Uỷ ban quân lực Thượng nghị viện, tham gia cuộc gặp Johnson ngày 14-10 cùng với các tham mưu trưởng liên quân. Tuy thế, Russell nói rằng đa số uỷ ban của ông cũng nghiêng theo cùng với việc ngừng ném bom.
Khi Harriman và Vance trở lại Paris, họ yêu cầu Bắc Việt đồng ý gặp đại diện chính phủ Nam Việt nam một ngày sau khi tuyên bố ngừng ném bom. Bắc Việt phản đối bởi vì họ muốn tránh những hiểu biết công khai rằng ngừng ném bom là cái gì đó khác hơn không điều kiện; cuối tháng 10, họ cuối cùng cắt giảm từ một vài tuần lễ xuống một tuần lễ đề nghị có một khoảng trống thời gian giữa tuyên bố ngừng ném bom và một cuộc gặp với Nam Việt nam. Toàn bộ cũng trao đổi là vô ích vì Nam Việt nam không muốn gặp Bắc Việt chút nào. Trong thời gian ấy, tổng thống Johnson có hai tuần lễ để hãm lại những lời chỉ trích từ những người đảng Cộng Hoà và những người Mỹ đòi ngừng ném bom Bắc Việt Nam trước ngày bầu cử.
Trước khi tuyên bố quyết định ngừng ném bom của mình, tổng thống Johnson bàn bạc với hai tướng. Tướng Abrams được mời từ Sài Gòn để nói với Johnson rằng ngừng ném bom là việc đáng làm. Vì tướng Momyer đã thôi chức tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 mùa hè ấy để giữ chức vụ Bộ chỉ huy không quân chiến thuật (có trụ sở tại căn cứ không quân Langley, Virginia), ông không phải đến gặp tổng thống. Giống như McConnell, Momyer muốn làm một điều chắc chắn rằng máy bay trinh sát sẽ tiếp tục bay trên bầu trời Bắc Việt nam. Johnson hứa hẹn tiếp tục những chuyến bay trinh sát và nói rằng Bắc Việt hiểu đây là một trường hợp. Ông chỉ thị cho Harriman và Vance cam kết Hoa Kỳ chỉ ngừng “hành động vũ lực” ném bom Bắc Việt nam hơn là “hành động chiến tranh”. Theo quan điểm của Bộ ngoại giao, trinh sát là một hành động chiến tranh chứ không phải là một hành động vũ lực.
Tổng thống giữ lời hứa của mình với Momyer về các chuyến bay trinh sát, nhưng Johnson cũng khẳng định sự lo xa của những người nghi ngờ rằng ông sẽ quay lại ném bom Bắc Việt nam. Thậm chí sau khi chính phủ Nam Việt nam đồng ý cuối tháng 11 tham gia thương lượng, mất gần hai tháng tranh cãi về hình dạng của chiếc bàn thương lượng. Phía cộng sản muốn một chiếc bàn bốn phía để tuyên bố rằng Bắc Việt Nam và mặt trận giải phóng miền nam Việt nam là những bên riêng rẽ tham gia thương lượng. Chính phủ Nam Việt nam được thích chiếc bàn hai phía, những người cộng sản cùng nhau ngồi một bên. Bốn ngày trước khi Richard Nixon nhậm chức, các nhà thương lượng đồng ý một cái bàn tròn. Vấn đề quay trở lại ném bom Bắc Việt Nam hay không là câu hỏi được chuyển sang người đàn ông từng nói ông có một kế hoạch bí mật cho hoà bình ở Việt nam.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Tư, 2010, 06:07:31 pm gửi bởi ngao5 » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM