ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #80 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:05:49 pm » |
|
6. Phản ứng tự vệ
Việc ngừng ném bom ở Bắc Việt Nam đã cổ vũ nhân dân ở cả hai nước tin rằng cuộc chiến tranh lâu dài sắp kết thúc. Họ nhận ra rằng cuộc chiến tranh đã đơn thuần bước vào thời kỳ mới. Bị chịu đựng những thiệt hại nặng nề trong cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968, lực lượng cộng sản ở Nam Việt nam ít hung hăng hơn trong ba năm sau đó. Họ có thể chờ một cơ hội tốt và xây dựng lại sức mạnh của họ trong khi Hoa Kỳ rút dần lực lượng của mình. Đổi lấy việc rút quân, Hoa Kỳ không yêu cầu gì tại bàn thương lượng ở Paris và không nhận gì cả. Trong thời gian ấy, Hoa Kỳ cố sức xây dựng quân đội Nam Việt nam với sự giúp đỡ của không quân Mỹ, để họ có khả năng chặn đứng tổng tấn công của cộng sản. Mặc dù không quân Nam Việt nam có khả năng tăng lên để đảm bảo hỗ trợ cho lục quân của nó, nhưng sự trở lại ném bom ở mức toàn diện xuống Bắc Việt Nam chỉ có Mỹ đảm nhận được. Liệu rằng bom sẽ lại rơi xuống Bắc Việt nam hay không còn là một câu hỏi được cân nhắc không những ở Washington, mà tất nhiên còn ở Hà Nội. Khi ném bom đã ngừng bắc ở vĩ tuyến 19 tháng 4-1968, Bắc Việt nhanh chóng bắt đầu khôi phục lại hệ thống vận tải rệu rã. Trong ba tháng, cầu Long Biên qua sông Hồng đã cho xe lửa chạy qua một lần nữa. Hàng trăm chiếc cầu nhỏ được xây dựng lại, và những đầu máy xe lửa kéo những đoàn tàu hoả vào ban ngày về phía nam đến Thanh Hoá. Sau khi chấm dứt ném bom toàn bộ Bắc Việt Nam vào tháng 11, tuyến đường sắt giữa Thanh Hoá và Vinh được mở lại. Hàng nghìn tàu thuyền hoạt động dọc bờ biển và trên những con sông, và hàng nghìn xe tải chạy nhanh trên đường vào ban ngày không lo ngại bị oanh tạc. Một mạng lưới đường mọc lên đặc biệt ở phía nam vùng cán xoong, để xe tải có thể trì hoãn chạy sang Lào (nơi bom vẫn tiếp tục rơi) cho tới khi họ ở ngay bắc khu phi quân sự. Một đường ống dẫn dầu, bắt đầu xuất hiện vào tháng 7-1968 trong khi bom vẫn còn rơi, kéo dài một cách vững chắc xuống tây nam từ Vinh qua đèo Mụ Giạ vào Lào. Một đường ống dẫn dầu thứ hai khi đó được xây dựng từ Quảng Khê (một cảng cách Vinh khoảng 90 dặm về phía nam) chạy sang Lào ở ngay sát bắc khu phi quân sự. Nếu ném bom trở lại, những đường ống dẫn dầu này còn khó bị trúng bom thậm chí vào ban ngày hơn những xe tải về ban đêm, và những xe tải không chở dầu chuyển sang chở những hàng tiếp liệu khác. Việc đẩy nhanh khôi phục hệ thống vận tải tương phản với nhịp điệu ì ạch tái xây dựng ở chỗ khác. Hoặc là Bắc Việt và đồng minh của họ không cung cấp những mục tiêu mới máy bay ném bom Mỹ. Với Trung Quốc, việc không muốn làm này là do sự lạnh nhạt trong quan hệ của họ với Bắc Việt nam. Trung Quốc phản đối cuộc thương lượng Paris, và CIA nhận những báo cáo rằng đề nghị của Trung Quốc về đưa quân đội sang Việt nam đã bị Bắc Việt Nam từ chối. Thêm nữa, hơn một trăm nghìn lính Trung Quốc tại Bắc Việt Nam đã về nước. Khi Mỹ thôi ném bom, lính Trung Quốc không cần phải làm việc trên tuyến đường xe lửa Bắc Việt nam hoặc giữ vị trí pháo cao xạ của họ. Trung Quốc cũng bỏ lại đằng sau đống đổ nát một đồ án công nghiệp lớn Bắc Việt nam, khu gang thép Thái Nguyên. Bắc Việt Nam hoãn những kế hoạch mở lò luyện thép vô hạn và thậm chí không mặn mà việc tái sản xuất gang. Việc không thực hiện xây dựng lại Thái Nguyên không đơn thuần là kết quả mối quan hệ đang xấu đi với Trung Quốc, có thể còn lý do nữa là những dự án công nghiệp khác được Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu tài trợ. Trước chiến dịch Sấm Rền, Hà Nội và Hải Phòng có vài nhà máy nhiệt điện nối với nhau thành một lưới. Bom Mỹ đã phá huỷ trạm phân phối lưới điện này, khiến cho các nhà máy điện vận hành ít hơn 1/3 công suất so với khả năng trước đây. Bắc Việt đã đưa vào vận hành hàng trăm máy phát điện diesel nhỏ nhập khẩu trong thời gian bị ném bom, và (thậm chí cả khi ngừng ném bom) những nhà máy lớn hơn được hồi phục một cách chậm chạp và chỉ được một phần nào. Bắc Việt cố gắng che giấu việc hồi phục khả năng hữu ích bằng cách thay những ống khói bị ném bom bằng những hệ thống thoát khói ngầm dưới đất. Trong thời gian ấy, trạm phân phối điện Đông Anh không được sửa chữa, đề án thuỷ điện Lang Chi (Thác Bà) cách Hà nội 65 dặm về phía tây bắc, có tiến độ xây dựng chậm chạp. Khi hoàn thành, đề án này cung cấp nhiều điện hơn tất cả những nhà máy nhiệt điện cộng lại. Tình báo Mỹ ước lượng rằng Liên Xô và Bắc Việt nam có thể đưa Lang Chi vào sản xuất trong vòng chín tháng, nhưng họ phải mất ba năm. Nhân dân Bắc Việt Nam ít thận trọng hơn những người lãnh đạo của họ. Việc chính phủ muốn sơ tán dân chúng và công nghiệp không thể giữ nhân dân Hà Nội ra khỏi nhà của họ khi bom chưa ném xuống đồng bằng sông Hồng. Trong bất kỳ trường hợp nào, trong suốt chiến tranh rất ít bom rơi xuống Hà nội - một trong những chỗ an toàn nhất ở Việt nam. Mặc dù hơn nửa triệu người rời bỏ thành phố trong thời gian ném bom, trong vòng ba năm Hà Nội đã có dân số vượt hơn thời kỳ trước chiến tranh là khoảng một triệu. Ngay khi họ quay về thành phố, số lượng lớn dân chúng vượt quá năng lực của chính phủ để nuôi họ và chợ đen mọc lên để lấp đầy những nhu cầu thiết yếu. Ở Hà nội và những thành phố khác, thời gian chơi bời phởn phơ trôi qua mong đợi rằng việc ngừng ném bom sẽ sớm dẫn đến kết thúc cuộc chiến tranh. Hà Nội gặp khó khăn tăng thêm vào tháng 8 và tháng 9-1968 khi những cơn bão nhấn chìm vụ thu hoạch lúa và làm hư hỏng khá nặng thành phố. Không giống máy bay ném bom Mỹ, những cơn bão không cần tránh Hà Nội. Ngày 9-9, nhiều cây đổ làm đứt đường dây điện và phải cắt điện một vài ngày. Chính quyền thành phố phản ứng khá chậm chạp với tình hình khẩn cấp này. Nhiều cần cẩu, máy kéo, và xe tải đứng chơi trong khi chỉ vài công nhân làm việc chậm chạp. Một quan sát viên người Anh lưu ý rằng một nạn nhân bị cây ép suốt sáu giờ và ông băn khoăn thành phố sẽ xử lý như thế nào khi thành phố bị ném bom. Tại Washington, chính quyền Johnson hài lòng kết thúc sự điều hành chiến tranh khi bầu chính trị không cho phép ném bom. Mặc dù không tập trung vào những mục tiêu riêng biệt, tác hại do bão gây ra rất lớn ở Bắc Việt nam. Walt Rostow thông báo cho tổng thống rằng những cơn bão mới đây đã gây nhiều thiệt hại hơn sáu tháng ném bom. *** Một năm rưỡi sau khi lệnh ngừng ném bom tháng 11-1968, Hoa Kỳ hạn chế những cuộc không kích xuống Bắc Việt nam để trả đũa những trận địa phòng không bắn vào máy bay Mỹ. Tại đỉnh cao chiến dịch Sấm Rền năm 1967, Hoa Kỳ có hơn một trăm nghìn lượt xuất kích đánh phá Bắc Việt Nam (không tính những lượt xuất kích hộ tống, trinh sát, và tiếp dầu). Năm 1969, có khoảng 5 nghìn chuyến bay trinh sát ở đó, được hộ tống bởi 15 lượt xuất kích. Không quân Mỹ đóng khoảng 60% lượt xuất kích trinh sát và cung cấp máy bay hộ tống ít hơn chút ít so với hải quân. Những chuyến bay trinh sát đầu tiên trên bầu trời Bắc Việt Nam sau khi ngừng ném bom không cần máy bay hộ tống. Mười bốn lượt xuất kích trong bốn ngày vào vùng cán xoong trước khi Bắc Việt phản ứng. Đêm ngày 7-11-1968, một máy bay hải quân RA-3B bị bắn trong trong gói mục tiêu 3. Mặc dù tổng thống Johnson về sau cho phép máy bay hộ tống, Bắc Việt vẫn tiếp tục bắn. Chiều ngày 23-11, một máy bay RF-4C của không quân trúng đạn tại độ cao khoảng ba nghìn feet trong lúc tiến hành chụp ảnh một trận địa SAM nằm ở tây bắc Đồng Hới. Tổ lái chiếc máy bay hộ tống không nhìn thấy nhảy dù, nhưng đại uý Mark J. Ruhling, hoa tiêu máy bay bị rơi, ngay lập tức liến lạc và nói rằng ông đang bị địch bao vây. Ruhling ngồi tù đến hết chiến tranh, phi công đại uý Bradley G. Cuthbert, bị chết. Chỉ hai ngày sau, hai chiếc máy bay của không quân trúng đạn cao xạ gần Đồng Hới trong khi chụp ảnh một con đường ở độ cao hơn một nghìn feet. Lần này máy bay hộ tống bị băn rơi. Một lần nữa người ta liên lạc với tổ lái, thiếu tá Joseph C. Morrison và trung tá San D. Francisco, nhưng họ bị chết. Mặc dù mỗi máy bay trinh sát hải quân được hai máy bay hộ tống (hiếm khi một chiếc hộ tống như không quân sử dụng hồi đầu), hải quân bị rơi một RF-4C gần Vinh, cũng vào ngày 25-11. Bị mất thêm 3 chiếc nữa chỉ trong hai ngày. Để trả đũa, máy bay Mỹ ném bom các trận địa cao xạ. Bộ trưởng quốc phòng Clifford báo cáo sự kiện này tại cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia, phàn nàn rằng việc này là bi kịch nếu vấn đề trinh sát kéo theo làm hỏng thương lượng với Bắc Việt ở Paris. Nhưng Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, cho rằng trinh sát Bắc Việt Nam là cần thiết cho sự an toàn của lính Mỹ sát bờ nam khu phi quân sự. Tổng thống Johnson vẫn giữ nguyên chương trình trinh sát mà ông đã đề ra. Máy bay Mỹ có thể trả đũa khi bị bắn, nhưng ông không muốn lấy cớ việc Bắc Việt nam bắn vào máy bay trinh sát Mỹ để quay trở lại ném bom Bắc Việt nam. Những phái viên của ông phàn nàn với đại sứ Liên Xô tại Washington và với Bắc Việt nam ở Paris. Mặc dù Hoa Kỳ mất một máy bay RF-4 khác vào tháng 12 (tổ lái được cứu thoát), đó là chiếc cuối cùng bị mất trong hơn một năm. Bắc Việt hình như quyết định không ép vận may của họ, và từ dạo đấy súng của họ ít khi bắn vào máy bay trinh sát hoặc máy bay hộ tống nữa. Sự thận trọng của Hà nội có thể do họ lo ngại chính quyền mới của đảng Cộng Hoà lên nắm quyền ở Washington cuối tháng 1-1969. Người ta đồn rằng tổng thống Richard Nixon là một trong những người thù địch mạnh mẽ cộng sản. Ông lần đầu tiên tỏ ra xuất chúng năm 1948, là một Hạ nghị sĩ trẻ bang California, ông đóng vai trò chỉ đạo trong việc điều tra Alger Hiss, chủ tịch Carnegie Endowment về hoà bình quốc tế và là cựu quan chức ngoại giao. Việc Nixon hết sức nỗ lực để chứng minh Hiss là một điệp viên cộng sản đã bắt đầu làm ông xa rời những người tự do, bao gồm cả nhiều phóng viên. Sự căm thù Nixon tăng lên trong cuộc chạy đua thành công và tàn nhẫn của ông vào Thượng nghị viện đối với Helen Gahagan Douglas. Dù hùng biện chống cộng sản, Nixon tránh việc khá gần giống với những người cánh tả đảng Cộng Hoà. Trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng năm 1952, khi đảng Cộng Hoà phải chọn giữa thượng nghị sỹ Robert A. Taft (con trai cựu tổng thống William Howard Taft) và tướng Dwight D. Eisenhower, Nixon hợp nhiều với Eisenhower nổi tiếng và nhũn nhặn. Đây là quyết định sắc bén. Nixon tròn 40 khi ông trở thành phó tổng thống. Trong tám năm dưới thời Eisenhower, Nixon đi khắp thế giới. Một lần nữa những bài diễn văn chống cộng được thiên hạ biết đến tốt hơn quan điểm phức tạp những rắc rối quốc tế. Vào mùa thu 1953, ông có chuyến đi thăm châu Á hai tháng, nơi Hoa Kỳ và Trung Quốc vừa mới đồng ý ngừng bắn ở Triều Tiên và đang chuyển chú ý vào Đông Dương. Khi máy bay Nixon hạ cánh ở Hà nội, lực lượng cộng sản Hồ Chí Minh đã kiểm soát khu vực rừng núi vây quanh đồng bằng sông Hồng. Sau khi một đêm làm việc với Toàn quyền Pháp, Nixon đã bay trên máy bay vận tải của Pháp đến một làng nằm ở góc vùng châu thổ. Ở đó, ông quan sát hàng rào pháo binh và ăn trưa theo kiểu boeuf bourguignon và rượu vang. Ông bực mình về thái độ kiêu căng người Pháp đối với những người lính Việt nam, và ông yêu cầu đi thăm một bữa ăn của lính Việt nam và có vài lời động viên họ. Vài tháng sau khi Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ, Nixon phát biểu tại cuộc họp Hội ban biên tập các tờ báo Mỹ ở Washington rằng ông ủng hộ đưa lính Mỹ sang Đông Dương nếu đó là cách duy nhất cứu nó thoát khỏi sự chiến thắng của cộng sản. Ông thất bại để kế tục Eisenhower năm 1961, tuy thế, ông ủng hộ đảng Dân Chủ đưa lính Mỹ sang Việt nam. Khi Nixon trở thành tổng thống năm 1969, người Mỹ rõ ràng mong chờ ông đưa lính Mỹ về nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #81 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:08:30 pm » |
|
Nixon chủ động né tránh tránh nói ông sẽ kết thúc chiến tranh như thế nào. Kế hoạch bí mật của ông phảng phất lời hứa hẹn mập mờ của Eisenhower năm 1952 về kết thúc chiến tranh Triều Tiên. Năm đó Eisenhower chẳng giữ bí mật việc ông đe doạ Trung Quốc bằng vũ khí hạt nhân. Eisenhower nói báo chí đầu năm 1968 rằng vũ khí hạt nhân không nên sử dụng ở Việt nam, và ông thúc đẩy tổng thống Johnson tiến hành những cuộc ném bom thông thường Bắc Việt nam nhưng mãnh liệt hơn. Khi Nixon nhậm chức tháng 1-1969, Eisenhower đang lâm bệnh và hai tháng sau thì qua đời, trước khi ông có thể chứng kiến Nixon không giữ được mưu kế kết thúc chiến tranh ở Việt nam. Không đe doạ Trung Quốc bằng vũ khí hạt nhân, Nixon mường tượng đến việc bình thường hoá mối quan hệ với đất nước này. Trong một bài báo năm 1967 đăng trên Foreign Affairs, ông đề nghị rằng trong đường lối lâu dài Hoa Kỳ nên cố lôi kéo Trung Quốc “quay lưng lại thế giới cộng sản”. Ông cảnh báo rằng sẽ là sai lầm nếu Mỹ liên minh với Liên Xô chống lại Trung Quốc, điều đó sẽ chia cắt thế giới bằng chạy đua. Trong năm đầu tiên nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông có cơ hội nghe lời khuyên khi Liên Xô bí mật đề nghị rằng là hạt nhân Liên Xô và Mỹ liên hợp lại tấn công các nhà máy hạt nhân Trung Quốc. Nixon bắt đầu chơi trò sử dụng phía này chống lại phía kia và chủ động cải thiện mối quan hệ của Mỹ đối với cả hai nước Liên Xô và Trung Quốc. Rút cục, sự thay đổi này trong bầu chính trị quốc tế tạo điều kiện cho Mỹ ném bom Bắc Việt Nam mà không gặp phải phản ứng từ Trung Quốc hoặc Liên Xô. Trong thời gian ấy, Nixon muốn tìm cách nào đấy đe doạ Bắc Việt Nam mà không khuất động sự bất bình ở Hoa Kỳ. Sau cuộc bầu cử, thậm chí những sinh viên đại học tương đối im lặng về chiến tranh khi họ chờ đợi xem Nixon sẽ làm gì. Người ta cam đoan một lần nữa với những nhà báo tự rằng Nixon sẽ chọn Henry Kissinger làm Cố vấn an ninh quốc gia cho ông. David Kraslow và Stuart H. Loory của tờ Los Angeles Times mới đây đã xuất bản cuốn The Secret Search for Peace ở Vietnam, trong đó bao gồm một đoạn miêu tả vai trò của vị giáo sư Đại học Harvard trong các cuộc tương lượng với Bắc Việt Nam qua trung gia Pháp mùa hè năm 1967. Nixon gặp Kissinger tháng 12-1967 tại bữa tiệc Giáng sinh do Claire Boothe Luce tổ chức. Mặc dù Kissinger lúc đó là cố vấn đối ngoại cho thống đốc New York Nelson Rockefeller, một người cạnh tranh ứng cử viên đảng Cộng Hoà, Nixon nhớ lại rằng ông từng gửi một bức thư ca ngợi cuốn sách đầu tiên của Kissinger 10 năm trước đây. Thêm nữa, cuốn sách Vũ khí hạt nhân và chính sách đối ngoại hình như thuyết phục Nixon rằng ông và Kissinger cùng chung ý nghĩ. Điều này đã biến vị trợ giáo trẻ vô danh (từ chối giảng dậy tại đại học Harvard) thành một nhà chiến lược sáng chói mà sự uyên thâm đáng giá ở Washington cũng như Cambridge. Cuốn sách của Kissinger lo ngại chiến lược trả đũa ồ ạt, cái đó ngăn cản sự bành trướng của cộng sản bằng cách đe doạ tấn công Liên Xô bằng vũ khí hạt nhân. Kissinger đồng ý với những người nói rằng sự đe doạ như thế là không tin được, nhưng ông đưa ra sự lựa chọn đối với sự trả giá của việc Liên Xô chạy đua sức mạnh trong lực lượng thông thường. Kissinger tán thành tin tưởng vào vũ khí hạt nhân rằng chiến thuật mà ông nghĩ sẽ ngăn cản hoặc, nếu cần, sẽ chiến thắng những cuộc chiến tranh mà không cần phải leo thang đến vũ khí hạt nhân chiến lược. Theo quan điểm của Kissinger, một cuộc chiến tranh có giới hạn phải là một cuộc chiến tranh đánh nhau bằng vũ khí hạt nhân chiến thuật. Cuốn sách Vũ khí hạt nhân và chính sách đối ngoại được nhiều người bạn của ông trong số những nhà tư tưởng chính trị và dân sự ủng hộ hơn là những sĩ quan quân sự. Họ nghi ngờ công trình của một nhà chiến lược dân sự nói chung, và Kissinger gắn tưởng tượng chiến lược của mình với đề xuất tái tổ chức Bộ quốc phòng. Kissinger muốn thay thế các binh chủng bằng một lực lượng chiến lược (do sĩ quan không quân chỉ huy) và một lực lượng chiến thuật (do sĩ quan bộ binh chỉ huy). “Điều này có thể là - Kissinger viết - sự chia rẽ giữa lục quân và không quân Mỹ năm 1948 [sic] xảy ra hai thập kỷ sau và tại một thời điểm chính xác khi sự khác biệt giữa bộ binh và không quân chiến lược trở nên không còn nữa”. Tốt hơn sẽ phải là, ông nghĩ, “sát nhập hai tổ chức này một cách triệt để hơn”. Là một người Do thái tỵ nạn thoát khỏi nước Đức Hitler, Kissinger hiểu biết nhiều về chính trị và lịch sử châu Âu, nhưng lại biết ít hơn về về châu Á. Năm 1965 ông được đại sứ Mỹ, Henry Cabot Lodge mời thăm Nam Việt nam. Trong chuyến đi này và những chuyến đi tiếp theo sau, Kissinger tăng mối hoài nghi về những triển vọng của một chiến thắng quân sự của Mỹ. Một mặt, ông tin rằng Hoa Kỳ cam kết khá nhiều về tiềm lực và uy tín của mình để từ bỏ Nam Việt nam. Ông hy vọng rằng một cách có thể là thông qua thương lượng. Vai trò của Kissinger thương lượng bí mật với Bắc Việt trong mùa hè năm 1967 đã củng cố sự tiếp xúc với chính quyền Johnson. Khi cuộc thương lượng công khai bắt đầu ở Paris năm sau, Kissinger duy trì sự tiếp xúc của mình ở đó và ở Bộ ngoại giao. Đoàn thương lượng của chính quyền Johnson đã lúng túng khi biết rằng Kissinger đang chuyển những thông tin thu được theo cách này tới ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hoà. Trong khi không đưa cho Nixon những chi tiết thương lượng, Kissinger đã cảnh báo ông ta trong chiến dịch bầu cử rằng việc ngừng ném bom đang đến gần. Một thời gian ngắn sau khi tổng thống Johnson chấm dứt ném bom Bắc Việt nam, Kissinger viết bài báo nhan đề “Thương lượng Việt nam” đăng ở Foreign Affairs, tờ báo này xuất bản dẫn tới tuyên bố của Nixon rằng Kissinger sẽ là Cố vấn an ninh quốc gia của ông. Bởi vậy, đây là một bài báo phân tích kỹ lưỡng triệt để và toàn diện cho dòng suy nghĩ đối với chính sách của chính quyền mới. Trong khi không chỉ trích tổng thống Johnson việc ngừng ném bom, Kissinger phát biểu rằng Hà Nội có lẽ “nghi ngờ chút ít rằng việc ngừng ném bom không chạy đi đâu được nếu nó không đếm xỉa đến những điểm được bộ trưởng Bộ ngoại giao Rusk và tổng thống Johnson phát biểu công khai”, rằng nếu Bắc Việt Nam vi phạm khu phi quân sự hoặc tấn công những thành phố của Nam Việt nam. Kissinger chỉ trích chính quyền Johnson về việc năn nỉ chính quyền Sài Gòn tham gia cuộc thương lượng ở Paris. Đồng thời ông nghĩ chính phủ Nam Việt nam nên để vấn đề cho người Việt nam làm việc với chính họ, việc “rút quân có đi có lại” quân đội Mỹ và Bắc Việt nam có thể được hai nước này thảo luận một cách độc lập. Việc tăng sự thù địch trong quan hệ Xô-Trung có lẽ thúc ép Bắc Việt Nam phải tìm kiếm sự dàn xếp với Hoa Kỳ. Tuy thế, nếu Bắc Việt từ chối rút quân, khi đó “chúng ta sẽ tìm kiếm để có khả năng đơn phương nhiều khách quan” bằng cách tránh thương vong lính Mỹ, củng cố quân đội quân đội Nam Việt nam, và ít nhất rút một phần lực lượng của chúng ta. Điều này chứng tỏ sự yếu kém tai hại của chính sách chính quyền Nixon: Bắc Việt không khích lệ rút quân chừng nào họ nghĩ rằng Mỹ phải rút quân đơn phương. Trong khi tung ra những từ cam đoan một lần nữa trong một vài chỉ dẫn, bài báo của Kissinger không đưa ra được một kế hoạch hoà bình ở Việt nam, và “kế hoạch bí mật” của Nixon vẫn nằm trong vòng bí mật. Thêm nữa, thuộc tính chính của những kế hoạch và những quyết định về Việt nam là cực kỳ bí mật điều này sẽ cho phép chút ít dựa trên khả năng của Nixon và Kissinger. Nixon không tin quan chức chính phủ giữ bí mật và lòng trung thành của họ đối với ông. Thậm chí ngoại trưởng, bộ trưởng quốc phòng, và giám đốc CIA thường bị bỏ lại vào bóng tối. Giám đốc Helms là người còn sót lại từ chính quyền Johnson được giữ lại bởi sự khăng khăng của Kissinger. William P. Rogers, tân ngoại trưởng, từng là bộ trưởng tư pháp dưới thời Eisenhower và ít hiểu biết về ngoại giao. Nixon sự bổ nhiệm ông làm ngoại trưởng. Về Bộ trưởng quốc phòng, Nixon muốn thượng nghị sỹ Henry M. Jackson (đảng Cộng Hoà, Washington), người được xem là đã giúp chiếm nhiều cử tri của đảng Dân Chủ. Khi Jackson không được chọn, Nixon quay sang Hạ nghị sĩ Melvin R. Laird (đảng Cộng Hoà, Wisconsin), một thời gian dài là uỷ viên Uỷ ban phân bổ ngân sách của Nhà Trắng. Laird chứng tỏ là một thành viên dữ dội nhất của nội các mới. Nixon và Kissinger không thể hoàn toàn loại bỏ Laird từ sự thận trọng của họ, bởi vì Laird có nhiều đồng minh trong Quốc hội và đảng Cộng Hoà. Ông Bộ trưởng quốc phòng rất năng lực, nhưng được các tham mưu trưởng ưa thích hơn McNamara bởi vì ông chú ý nhiều hơn đến các lời khuyên của giới quân sự. Người cung cấp chủ yếu lời khuyên này cho Nixon cũng như cho Laird là vị Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, không phải do sức khoẻ đang đi xuống và xác định cho Laird rõ rằng bộ trưởng quốc phòng nên là người đưa những lời khuyên như thế tới tổng thống. Trong số các tham mưu trưởng, vai trò có ảnh hưởng tăng lên được thừa nhận bởi đô đốc Thomas H. Moorer, tham mưu trưởng những chiến dịch hải quân, người thay thế Wheeler làm Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân năm 1970. Khi tướng McConnell, tham mưu trưởng không quân Mỹ, về hưu mùa hè năm 1969, người thay ông là phó tham mưu trưởng, tướng Ryan, từng là tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương mùa hè năm trước. Mặc dù McConnell đã chuẩn bị cho Ryan nắm giữ công việc, hai người này rất khác nhau. Trong khi cấp dưới thường chạm trán với tính cục cằn của McConnell, thì ông có mối quan hệ nồng ấm với nhiều chính khách Washington, bao gồm tổng thống Johnson. Cả Nixon và Ryan không có sự chân thành như thế, và sự xa lánh của Ryan có thể làm mất đi ít nhiều ủng hộ từ đồi Capitol. Nhưng tân bộ trưởng không quân, Robert C. Seamans, Jr. (một kỹ sư hàng không tốt nghiệp Trường Đại học kỹ thuật Massachusetts), dứt khoát thích thay đổi. Sau khi vài tháng chịu đựng tính “chua chát” và không mềm dẻo của McConnell, Seamans phát hiện Ryan làm sống lại sự thay đổi bộ mặt: “Tôi cho rằng tôi chưa từng bao giờ làm việc với người nào mà tôi kính trọng nhiều đến thế, người khá cởi mở, khá thẳng thắn và khá thực dụng”. Seamans cũng thích một vị tướng, người đang chuẩn bị thay thế Ryan, đó là tướng George S. Brown. Là trợ lý của Wheeler từ lâu, Brown được cử đến Sài Gòn làm tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 mùa hè năm 1968. Thậm chí trước khi nhận chức Tham mưu trưởng, Ryan nói với Brown rằng Brown là người kế tục ông. Cả hai người tốt nghiệp học viện West Point mà toàn bộ sự nghiệp của họ đã sớm nổi tiếng trong thế chiến II. Brown đã cầm đầu nhóm máy bay ném bom tiến hành cuộc tập kích nổi tiếng vào những nhà máy lọc dầu ở Ploesti (Rumania) vào tháng 8-1943, và gần một năm sau đó ông trở thành đại tá lúc mới 26 tuổi. Ông vẫn chỉ là một đại tá trong 13 năm sau khi ông trở thành sĩ quan điều hành cho Tham mưu trưởng, tướng Thomas H. White. Tính tình Brown dịu dàng, tính hài hước khiến người ta giữ ông ở Lầu Năm Góc với chức danh trợ lý quân sự cho hai bộ trưởng Bộ quốc phòng, người đầu là Thomas S. Gates và sau đó là McNamara. Brown có khả năng ở lại trong một thời hạn tốt với cả McNamara và người thừa kế của White chức tham mưu trưởng, tướng LeMay, hình như tính phi thường và thực tế khiến họ chọn Brown làm trợ lý cho Wheeler và sau đó làm tư lệnh Tập đoàn không quân số 7.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #82 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:09:13 pm » |
|
Việc chuyển vị từ tướng Momyer sang tướng Brown làm tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 thậm chí gây ấn tượng về thay đổi nhiều hơn là thay đổi Tham mưu không quân từ McConnell sang Ryan. Momyer là tác giả của chiến tranh không quân chiến thuật, và ông liên tục nhúng tay vào những chi tiết chiến dịch. Trưởng phòng tình báo của ông, thiếu tướng George Keegan, sau này nhớ lại rằng “Momyer vận hành mọi cuộc hành quân hiếm khi sử dụng ban tham mưu của mình”. Brown, mặt khác, là tác giả ủy quyền. Ông là người khá cao để trở thành một phi công, và ông không có sự tinh thông đặc biệt trong những chiến dịch. Đẹp trai và thân hình thể thao, Brown dùng thời gian hàng ngày chơi quần vợt. Ông nói cấp dưới đừng bắt ông ta giải quyết những vấn đề trừ khi họ muốn ông phải quyết định việc mà họ không thể làm được. Một chỉ huy phi đoàn, người đã gọi điện cho Brown giữa đêm khuya để báo cáo việc tấn công của rocket địch, viên chỉ huy phi đoàn được ông nhẹ nhàng trả lời rằng hãy gọi lại nếu có một cái gì đó mà Brown có thể xử lý tình hình. Khi Momyer ở Sài Gòn ông đã tự thấy mình có nhiều bất đồng với tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng Ryan. Brown có nhiều may mắn hơn về mặt này, nhưng không quá nhiều bởi vì sự thành thạo giao tiếp của ông là ngoại lệ hoặc bởi vì Ryan đã bị tướng Joseph J. Nazzaro thay thế, nhưng phần nhiều bởi vì Sấm Rền đang đến hồi kết. Thiếu Sấm Rền, tư lệnh Thái Bình Dương, và cấp dưới trực tiếp của ông ở Hawaii (tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, và tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương) mất nhiều ảnh hưởng trong sự theo đuổi chiến tranh. Trong Sấm Rền, Tư lệnh Thái Bình Dương, đô đốc Sharp, đã không muốn tướng Westmoreland kiểm soát những chiến dịch không kích trong gói mục tiêu 1 ở Bắc Việt Nam cũng như tại Lào - với phạm vi này, đại sứ Mỹ tại Lào cho phép kiểm soát quân sự ở đó ở đó. Từ quan điểm của Brown, Sharp đã viết cho người kế nhiệm mình (đô đốc John S. McCain, Jr.) toàn bộ cuộc chiến tranh. Vì phi vụ máy bay trinh sát chiến thuật ở Bắc Việt Nam tiếp tục bay theo tuyến đường cũ (không quân trong gói mục tiêu 1 và hải quân trong gói mục tiêu 2 và 3), chỉ trong những gói mục tiêu của hải quân McCain mới có nhiều vai trò. Không giống Momyer, Brown chỉ phải lo ngại tướng Abrams, người kế nhiệm Westmoreland ở Sài Gòn. Qua sự thành đạt chính của mình, Brown - tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 thuyết phục Abrams rằng ít nhất một nửa nỗ lực không quân nên mở rộng sang Lào. Vào mùa hè năm 1968 lúc Brown tới, khoảng 60% lượt xuất kích của không quân nhằm tới Nam Việt nam. Brown nghĩ rằng nhiều xuất kích có thể sẽ tốt hơn nếu được sử dụng ở Bắc Việt Nam hoặc Lào. Sau khi ngừng ném bom Bắc Việt nam, Brown biết chắc chắn Lào phát hiện được lượt xuất kích vượt hơn mà không phải là Nam Việt nam. Khi Abrams cắt giảm đưa bộ binh Mỹ vào chiến đấu, ông sẵn lòng chuyển hướng lượt xuất kích chiến dịch ngăn chặn tại Lào. Lào trở thành mối bận tâm duy nhất của các phi công đóng tại Thái Lan, và tính mạng của họ trở nên an toàn nhiều hơn. Thiệt hại về máy bay giảm từ gần hai trăm chiếc một năm xuống còn dưới 50 chiếc (trong khoảng sáu trăm máy bay không quân Mỹ đóng tại Thái Lan). Tuy thế, phi công Mỹ ở Thái Lan vẫn còn chịu đựng nguy hiểm lớn hơn các đồng nghiệp của họ tại Nam Việt nam, và có sự oán giận đáng kể trong số những cựu phi công khi Sở thuế tước đi sự ưu đãi miễn thuế thu nhập của họ. Tại Nam Việt nam, thu nhập của tất cả lính Mỹ được miễn thuế theo hệ thống tính thuế là 5 nghìn dollars đầu tiên đối với mỗi sĩ quan. Tại Thái Lan, chỉ những tổ lái bay vào Bắc Việt Nam được hưởng miễn thuế thu nhập. Vì Hoa Kỳ tiếp tục che dấu rằng họ không có lực lượng chiến đấu tại Lào, nên việc kết thúc ném bom Bắc Việt Nam đe doạ sự miễn thuế đối với tổ lái tại Thái Lan. Tướng Brown trình vấn đề miễn thuế khi ông gặp tổng thống Nixon tại Nhà Trắng đầu tháng 2-1969. Nixon cũng lo ngại tinh thần của những phi công có thể bị tổn hại do ngừng ném bom. Brown cam đoan với Nixon rằng nếu có vấn đề về tinh thần, thì có thể sửa chữa được bằng cách giữ nguyên miễn thuế thu nhập. Nixon đáp rằng việc tước đi sự miễn thuế thu nhập của tổ lái ở Thái Lan “lố lăng” và nói Kissinger giải quyết vấn đề này. Brown ra về sau cuộc nói chuyện của ông với Nixon với ấn tượng không giống như những nhân viên dân sự khác mà Brown tiếp chuyện ở Washington, tân tổng thống chẳng nói gì đến việc rút quân khỏi Đông Nam Á. Trên thực tế, Brown có khuyên Nixon kiềm chế và Nixon hình như sẵn sàng làm nhiều hơn. Vì thời tiết cho phép ném bom chút ít Bắc Việt Nam trong ba tháng qua thậm chí không có ngừng ném bom, Brown có khả năng nói đúng sự thật rằng việc ngừng ném bom thực tế không làm tổn hại đến nỗ lực chiến tranh của Mỹ. Khi tổng thống băn khoăn liệu có thể làm một cái gì nhiều hơn tại Nam Việt nam, Brown cảnh báo cho Nixon những hậu quả chính trị nếu tỷ lệ thương vong của lính Mỹ tăng lên. Nixon hình như đặc biệt háo hức muốn bóp Campuchia, nơi ẩn náu của địch và thậm chí ông nói với Brown rằng nếu Abrams “chơi bẩn” ở Campuchia, tổng thống sẽ ủng hộ ông ta. Nixon có lẽ bị ngạc nhiên trước sự cảnh báo của Brown, vì tân tổng thống đã nghe giọng Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân ủng hộ ông ném bom Bắc Việt nam. Trong cuộc gặp lần đầu tiên với tân tổng thống ngày 30-1, Wheeler had đã tranh luận về việc ném bom và bộ trưởng Laird đã tranh luận chống lại. Các tham mưu trưởng liên quân còn lại lập tức tán thành với Wheeler rằng việc trở lại ném bom của Bắc Việt nam và thả mìn cảng Hải Phòng có thể đưa chiến tranh đến kết quả tốt hơn. Nhưng quan điểm của họ đưa ra cho tổng thống cùng với quan điểm bất đồng của Văn phòng bộ trưởng quốc phòng và CIA - cả hai nghĩ rằng Bắc Việt Nam sẽ không sợ đe doạ và có khả năng nhập khẩu bất cứ thứ gì họ cần qua biên giới Trung Quốc dưới bất cứ chiến dịch ném bom nào. Cuộc đáp trả luận cứ cũ này cùng với những luận cứ khác được Henry Kissinger tiến hành, ông thuyết phục Nixon gửi cho cơ quan chính quyền một danh sách dài các câu hỏi về cuộc chiến tranh. Nhiều câu hỏi này được Daniel Ellsberg của tổ hợp RAND chuẩn bị, Daniel Ellsberg lúc ấy đang làm việc về lịch sử chiến tranh tại Văn phòng bộ trưởng quốc phòng. Bản danh sách gồm 28 câu hỏi chính và 50 câu hỏi phụ đã sẵn sàng khi Nixon nhậm chức và trong ngày làm việc đầu tiên tại văn phòng ông đã ký và đặt tên Bản ghi nhớ nghiên cứu an ninh quốc gia số 1. Kissinger, theo cách này, đã làm công khai ngay từ đầu cái việc mà những đối thủ tiềm năng trong chính phủ không những vẫn không đồng tình về cuộc chiến tranh, nhưng không đồng tình theo một khuôn mẫu được xác lập dưới thời chính quyền Johnson. Cái nhìn tích cực nhất về năng lực quân sự của quân đội Mỹ thu được kết quả ủng hộ chiến tranh của giới quân sự và đại sứ Bunker. Ngược lại, Văn phòng bộ trưởng quốc phòng, CIA, và Bộ ngoại giao tỏ thái độ hoài nghi nhiều hơn. Tình hình tương tự ở các cơ quan chính phủ có thể phần nào liên quan đến sự thật là chính quyền mới vừa bổ nhiện nhiều người vào chức vụ mới. Nhưng những người có trách nhiệm lại có tính liên tục về lối nghĩ về chiến tranh bên trong những mảng của hai chính quyền. Tính liên tục này đánh nhiều vào Văn phòng bộ trưởng quốc phòng. Trong khi tham mưu trưởng liên quân nhận thấy tân bộ trưởng là một ông chủ tương đắc hơn McNamara hoặc Clifford, thì Laird được xác định phải đưa lính Mỹ ra khỏi Việt nam. Ông hy vọng làm việc này bằng cách tăng sức chiến đấu của quân đội Nam Việt nam . Trước khi Laird có thể thuyết phục tổng thống Nixon bắt đầu đơn phương rút quân, thì cộng sản mở một cuộc tổng tấn công nhỏ tại Nam Việt nam. Ngày 23-2-1969, ngay khi Nixon bắt đầu chuyến thăm châu Âu, họ bắt đầu nã rocket vào Sài Gòn và những thành phố khác. Nhưng những thành phố này còn ít bị cuộc tấn công trên bộ, trong lúc bộ binh cộng sản tấn công những mục tiêu chỉ ở những khu vực xa xôi. Mặc dù những cuộc tấn công bằng rocket lẻ tẻ tiếp tục qua tháng 3, cuộc tổng tấn công này chẳng đáng giá gọi tên. Nó là một sự biểu dương lực lượng, tuy thế, tổng thống Nixon không buộc phải hiểu rằng nó phụ thuộc vào lệnh ngừng ném bom tổng thống Johnson. Tổng thống Johnson công khai nói bóng gió rằng Hoa Kỳ nên trở lại ném bom Bắc Việt Nam nếu lực lượng cộng sản vi phạm khu phi quân sự hoặc tấn công các thành phố Nam Việt nam. Chính quyền Johnson và Nixon không chọn cách phản ứng chống lại việc Bắc Việt nam tiếp tục đưa quân đội và tiếp liệu qua khu phi quân sự. Những cuộc tấn công bằng rocket vào Sài Gòn không thể bỏ qua được, tuy thế, vì họ nhận được nhiều tin tức phong phú trên báo chí. Khi trả lời câu hỏi của một phóng viên ngày 4-3 rằng phải chăng cộng sản ở Việt nam đang nắn gân chính quyền mới, Nixon cho rằng những cuộc tấn công bằng rocket có lẽ là một sự vi phạm mang tính “kỹ thuật” của những sự hiểu biết tháng 10-1968. Nhưng ông vẫn còn xem xét sự vi phạm này có “đủ lớn” để phản ứng hay không. Một phóng viên khác sau đó hỏi sự trở lại ném bom có thể là một phản ứng thích đáng hay không. Nixon đáp lại rằng có “một vài kế hoạch phòng ngờ”, nhưng ông không đe doạ Bắc Việt Nam bằng lời. Tất nhiên ông không để lộ chút nào những kế hoạch này, cái đó bao gồm thả mìn Hải Phòng và ném bom những mục tiêu ở ngoại vi. Ông nói với báo chí rằng ông thích nói với bản thân họ: “Tôi sẽ chỉ ra rằng chúng tôi sẽ không tha thứ việc tiếp tục kiểu tấn công này mà không có sự đáp trả thích đáng”. Phản ứng công khai của tổng thống là cử Bộ trưởng quốc phòng Laird và tướng Wheeler đi Nam Việt nam. Mặc dù tướng Abrams thúc ép quay lại ném bom đến vĩ tuyến 19, bộ trưởng Laird cho rằng những cuộc tấn công bằng rocket chưa có dấu hiệu lớn để đảm bảo ném bom Bắc Việt nam. Tướng Wheeler đồng ý rằng cuộc tổng tấn công vừa rồi là yếu, nhưng nghĩ rằng phản ứng yếu kém của Mỹ đã xác nhận lời rêu rao của Bắc Việt nam rằng ngừng ném bom vô điều kiện. Tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 đưa ra một lý do không ném bom. Theo Brown, Bắc Việt có lẽ đang kích động Hoa Kỳ ném bom và do vậy làm hồi sinh phong trào chống chiến tranh. Brown gửi tướng Abrams một biên bản ghi nhớ gợi ý sự lựa chọn hành động ít gây kích động về mặt chính trị: “hay trung hoà” những căn cứ của địch gần biên giới Nam Việt nam với Campuchia và Lào; thả mìn cảng Hải Phòng; phong toả cảng Sihanoukville (Campuchia). Sự lựa chọn của Brown hình như có khả năng gây ra nhiều xôn xao trong nước hơn việc ông chỉ ra, nhưng (như Brown biết) Abrams và tổng thống Nixon đang rất chú ý loại bỏ những khu vực đất thánh nằm sát biên giới. Ngay sau khi Brown gặp Nixon đầu tháng 2, Abrams đã yêu cầu cho phép đưa B-52 ném bom vùng đất thánh ở Campuchia. Trong tất cả những ý tưởng đưa đến tân tổng thống trong những tuần lễ đầu tiên cầm quyền, Nixon thích ý tưởng này nhất. Vì từ đầu năm, ông đã bàn với Kissinger về sự tăng cường của địch ở Campuchia. Đề xuất dùng B-52 đưa ra cách ném bom trả đũa Bắc Việt nam mà không khuấy động sự chỉ trích ở Hoa Kỳ - nếu các cuộc không kích B-52 có thể được giữ bí mật. Bí mật hình như có thể, bởi vì Bắc Việt Nam chối bai bải rằng họ không có quân đội ở Campuchia và do đó họ chẳng có cớ gì phàn nàn việc họ bị ném bom; ở khía cạnh này tình hình ở Campuchia khá giống như ở Lào. Với sự tán thành của Nixon, những B-52 khổng lồ của Bộ tư lệnh không quân chiến lược khởi đầu một năm ném bom biên giới Campuchia. Sự kiện bẩn thỉu này có thể phá hỏng nhiệm kỳ tổng thống của Nixon và làm mất đi sự chính trực không quân. Việc ném bom Campuchia khá bí mật đến mức những báo cáo bí mật thông thường không dám nói thật để bảo vệ nó. Thay vào đó, những báo cáo này lấp đầy bằng những thông tin giả cho là B-52 ném bom tại Nam Việt nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #83 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:14:08 pm » |
|
Những sĩ quan không quân bắt đầu lừa tổng thống, và sự lừa dối không ngừng lại khi sau vài tuần ném bom, tờ New York Times phơi bày sự kiện này ra. Thêm nữa, sự phơi bày này buộc Nixon và Kissinger phải cho phép ghi âm cấp dưới của họ với hy vọng tìm ra ai là người tiết lộ cho báo chí. Mặc dù bộ trưởng quốc phòng ủng hộ ném bom ở Campuchia, nhưng ông không tin trợ lý Nhà Trắng, đại tá không quân Robert E. Pursley, từng phục vụ hai bộ trưởng McNamara và Clifford. Bởi vậy, Cục điều tra liên bang (FBI) ghi âm những cuộc trao đổi điện thoại, nhưng cuốn băng chẳng có gì để làm hại Pursley hoặc hai sếp của ông, những người tiếp tục cung cấp cho Nixon và Kissinger những lời khuyên đôi khi không được đón nhận trong ba năm sau này. Sự nghi ngờ của Nixon đối với Laird không hạn chế ông từ bỏ gây áp lực với những nỗ lực của bộ trưởng Laird để chính quyền có bộ mặt đẹp đẽ hơn trong hành động. Một số lời miêu tả của Laird được nuôi dưỡng bởi chính quyền và báo chí. Nixon nhìn thấy sự xuất sắc trong việc dùng chính sách “Việt nam hoá chiến tranh” của Laird thích hợp hơn “giảm Mỹ hoá” như là cách miêu tả và hợp lý hoá việc rút quân Mỹ ra khỏi Việt nam. Một câu khác của Laird, “phản ứng tự vệ”, được tạo ra trong chuyến đầu tiên ông thăm Việt nam. Tờ New York Times nói rằng một trăm thuỷ quân lục chiến Mỹ chiếm giữ một số ngọn núi ở Lào trong một tuần. Khi được hỏi có phải đây là leo thang chiến tranh của Mỹ hay không, Laird từ chối xác nhận câu chuyện, nhưng nói rằng các tư lệnh Mỹ có quyền sử dụng những hành động cần thiết để bảo vệ lính của họ. Trong nhiều tháng và năm sau này, câu nói của Laird “phản ứng tự vệ” đã tạo ra một cái nhãn vạn năng dán lên khoảng rộng của những hoạt động quân sự, bao gồm những cuộc không kích trả đũa những trận địa phòng không ở Bắc Việt nam. *** Trừ việc ném bom bí mật Campuchia, tổng thống Nixon có khó khăn tìm cách hăm doạ Bắc Việt Nam mà không khuấy động những chỉ trích của dân Mỹ cuộc chiến tranh. Trong năm đầu tiên ở Nhà Trắng, sự đe doạ của ông vẫn còn trống rỗng, và đa số những hành động của ông để lộ sự yếu ớt của mình. Sau khi quyết định không trở lại ném bom Bắc Việt nam, một cơ hội tiếp theo đầy hóc búa cho Nixon xảy ra tháng 4-1969 khi một máy bay hải quân EC-121 bị bắn rơi tại ven biển Bắc Triều Tiên và tổ lái 31 người bị mất tích. Sự kiện này là thử thách sự giải quyết của chính quyền Nixon không đơn thuần ở Bình Nhưỡng, mà còn ở Moscow, Bắc Kinh, và Hà Nội, Kissinger ủng hộ tấn công trả đũa sân bay Bắc Triều Tiên. Bộ trưởng quốc phòng Laird kiềm chế và bằng chính nỗ lực của mình, huỷ bỏ toàn bộ các chuyến bay trinh sát của Mỹ, không những gần Bắc Triều Tiên, mà còn gần Trung Quốc, Liên Xô, Địa Trung Hải, và Cuba. Mặc dù điên tiết với Laird, tổng thống Nixon quyết định không liều lĩnh gây chiến với Bắc Triều Tiên. Nixon sau này cho biết ông nói với Kissinger: “Họ thoát được lần này, nhưng họ không bao giờ có lần sau”. Biết rằng việc rút quân Mỹ sẽ làm giảm bớt ảnh hưởng nào đấy mà ông có thể có đối với Bắc Việt nam, Nixon có tuyên bố việc rút đợt đầu 25 nghìn lính cho mãi tới tháng 6-1969. Việc bắt đầu Việt nam hoá chiến tranh chờ đợi quá lâu đã giúp sự phản đối trầm lặng ở Hoa Kỳ đối với chiến thuật tìm-diệt của Mỹ, sự phản đối này xảy ra vào tháng 5 thành một trận xô xát đẫm máu trên đồi Hamburger (đồi Thịt băm). Tại Ấp Bia gần biên giới Lào, lính Bắc Việt đã không chạy vào rừng như thường lệ mà ở lại và chiến đấu. Trong những đợt tấn công nhiều lần vào đồi, hơn 50 lính Mỹ bị giết. Sau khi lấy được quả đồi này, lính Mỹ từ bỏ nó, vì mục tiêu của họ ở nơi này và nơi kia không phải là chiếm đất, mà là giết quân địch. Mặc dù phía địch thiệt hại nhiều hơn phía Mỹ và Nam Việt nam, công chúng Mỹ chống lại việc tiêu sinh mạng lính Mỹ theo cách này. Gần một tháng trước khi tuyên bố rút toán lính đầu tiên, Nixon phát biểu trên truyền hình đề xuất một cuộc ngừng bắn theo sau đó là rút quân phần lớn quân Mỹ và Bắc Việt nam. Vì Hoa Kỳ bắt đầu rút quân đơn phương, có chút ít khích lệ Bắc Việt Nam đồng ý như thế và rút quân của họ. Để cho Hà Nội sự khích lệ cần thiết, Nixon quyết định đầu tháng 7 ông sẽ bí mật gửi một tối hậu thư. Sứ giả đầu tiên của tổng thống Nixon là Jean Sainteny, một thương nhân Paris, người từng là tổng đại diện Pháp tại Hà Nội. Bức thư của Nixon gửi Hồ Chí Minh thúc đẩy hoà bình, nhưng Nixon chỉ thị cho Sainteny nói cho Bắc Việt rằng trừ khi có một sự đột phá trong thương lượng trước ngày 1-11-1969 (kỷ niệm một năm ngày ngừng ném bom) Nixon sẽ phải sử dụng đến “những biện pháp vũ lực gây hậu quả lớn”. Tối hậu thư của Nixon thực tế không đi cùng bức thư của ông gửi Hồ Chí Minh. Bắc Việt Nam từ chối cấp visa cho Sainteny, và ông phải chuyển thư của Nixon tới Mai Văn Bộ ở Paris. Kissinger, người từng là phiên dịch cho Nixon trong cuộc nói chuyện với Sainteny, viết trong hồi ký rằng ông chẳng biết gì về tối hậu thư của Nixon suốt hai tuần lễ. Có hay không có tối hậu thư, một vài ngày sau Bắc Việt đề nghị cuộc gặp bí mật ở Paris giữa Kissinger và Xuân Thuỷ, trưởng đoàn đại diện Bắc Việt nam tại hội đàm hoà bình. Kissinger bắt đầu cuộc thương lượng vụng trộm ở Paris báo cáo với chính phủ Pháp chuyến đi châu Á cuối tháng 7-1969 của Nixon. Hình ảnh yếu ớt được truyền đạt bởi chuyến đi của Nixon có thể mang đến sức nặng ở Hà nội nhiều hơn tối hậu thư bí mật chưa từng đến, nhưng tổng thống vẫn gắn chuyến đi của mình để quảng cáo sức mạnh của Mỹ. Ngày 23-7, ông đã bay đến tàu sân bay Hornet tại nam Thái Bình Dương, chúc mừng những phi hành gia trở về trái đất sau chuyến bay đến mặt trăng. Nixon hăm hở nói với họ rằng “đây là tuần lễ lớn nhất thế giới trong lịch sử thế giới kể từ đấng sáng tạo”, một sự nhấn mạnh mà sau này ông phải giải thích cho nhà truyền giáo Billy Graham. Theo quan điểm của Hà Nội, sự thú nhận của Nixon về sự suy yếu của Mỹ diễn ra trong cuộc họp báo ở Guam. Nixon tuyên bố ông đã xác định rõ tránh bị “lôi kéo” vào những cuộc xung đột khác giống như ở Việt nam. Trong tương lai, đồng minh sẽ phải tự chiến đấu bằng sức của chính mình không có chiến tranh hạt nhân - có lẽ bằng vũ khí của Mỹ chứ không phải bằng lính Mỹ. “Học thuyết Nixon” được đón nhận nồng nhiệt ở Hoa Kỳ, nhưng hoặc là nó không được chấp nhận hoặc là bản thân học thuyết chẳng làm được cái gì cả hơn là giảm sự đe doạ của Nixon về những hành động tàn nhẫn ném bom Bắc Việt nam. Khi thăm các nước châu Á, Nixon nói với mọi người việc ông xác định rõ sẽ ra tay hành động nếu cuộc thương lượng với Bắc Việt Nam không có đạt được tiến bộ trước 1-11-1969. Kissinger sau đó đưa tối hậu thư của Nixon tận tay đại diện Bắc Việt nam ở Paris trong tuần lễ đầu tháng 8-1969. Cuối tháng đó, Hồ Chí Minh gửi một bức thư bác bỏ những đề xuất của Nixon và phớt lờ tối hậu thư của ông. Ba ngày sau đó, chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, thọ 79 tuổi. Vì bị đau tim từ vài năm trước, thực tế ông ủy quyền cho một tập thể từng gắn bó với ông nhiều thập kỷ. Tuy thế, ở Washington và Sài Gòn, một số người nghĩ rằng có sự đấu đá trong số những người thừa kế Hồ Chí Minh. Có ít người tỏ ra lạc quan như tổng thống Thiệu, ông nói với báo chí rằng Tổng bí thư Lê Duẩn nổi bật lên, vì Lê Duẩn là người ôn hoà, quan điểm thân Liên Xô cho phép nhanh chóng thương lượng kết thúc chiến tranh. Đây là sự đánh giá khá kỳ lạ, vì Lê Duẩn lãnh đạo lực lượng cộng sản ở miền Nam đánh nhau với Pháp và được biết là người lãnh đạo tất cả chiến thắng ở đó. Mặc dù Lê Duẩn leo dần lên vị trí ảnh hưởng nhất trong chính phủ, nhưng có sự tranh cãi không rõ ràng ở Hà Nội, hoặc không có sự thay đổi nào về chính sách. Tổng thống Nixon muốn tìm cách để Bắc Việt tin vào tối hậu thư của ông và đáp lại. Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia Kissinger và Tham mưu trưởng liên quân nhanh chóng đưa ra những cách bổ xung cho tối hậu thư, bao gồm thả mìn những cảng và sự xâm lược Bắc Việt nam cũng như ném bom trở lại. Có một số chú ý tới khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân để làm bẩn đường giao thông bằng phóng xạ. Không giống sự điều hành của tổng thống Eisenhower trong chiến tranh Triều Tiên, Nixon không muốn kết thúc chiến tranh Việt nam bằng cách đe doạ dứt khoát sử dụng vũ khí hạt nhân. Ông quyết định cho Bắc Việt Nam biết rằng ông đang cân nhắc xâm lược và thả mìn Hải Phòng. Nixon tiết lộ những lựa chọn này cho báo chí bằng cách nói ngắn gọn cho vài thượng nghị sĩ. Nixon cũng cố sức gây sức ép Liên Xô để tác động với Bắc Việt Nam kết thúc cuộc chiến tranh. Khi đại sứ Liên Xô Anatoly Dobrynin yêu cầu gặp Kissinger cuối tháng 9, tổng thống và cố vấn an ninh quốc gia của ông dàn một màn kịch. Như họ đã có kế hoạch từ trước, Nixon gọi điện đến cắt ngang cuộc gặp, và sau khi đặt ống nghe xuống, Kissinger buồn rầu nói với Dobrynin rằng Nixon nói “tàu hoả đã rời ga và đang lao về phía trước”. Dobrynin đáp lại rằng ông hy vọng đó là một máy bay hơn là một đoàn tàu hoả, bởi vì máy bay có thể vẫn thay đổi được hành trình. Vào tháng 10, Nixon cố gắng nhấn mạnh đến sự nghiêm trọng của tối hậu thư gửi Moscow và Hà Nội mà không tính đến sự hồi phục phong trào chống chiến tranh ở Hoa Kỳ. Ngày 10-10, Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, ra lệnh cho Bộ tư lệnh không quân chiến lược và Sở chỉ huy liên hợp sự sẵn sàng một cuộc thử nghiệm tạo ra những hành động “nhận thấy được đối với Liên Xô, nhưng không đe doạ chính họ”. Tướng Bruce K. Holloway, tư lệnh SAC, đã tăng gần gấp đôi số lượng máy bay B-52 trong tình trạng báo động đến 144 chiếc. Hai phần ba số máy bay còn lại được nạp vũ khí hạt nhân ngày 25-10, và hai ngày sau những B-52 chở vũ khí hạt nhân trong đợt báo động trên không lần đầu tiên kể từ tháng 1-1968 (khi một B-52 rơi gần Thule, Greenland). Nhưng ngày 28-10, chính quyền kết thúc vụ thử thách này. Chiến dịch của Nixon mục đích thuyết phục Moscow và Hà Nội rằng ông là người nghiêm túc với tối hậu thư của mình đã đưa ra công khai ngày 13-10, ngày đầu tiên thử thách, khi thư ký báo chí của ông tuyên bố rằng tổng thống sẽ phát biểu cho nhân dân Mỹ trên truyền hình ngày 3-11. Việc chọn thời gian phát biểu có nghĩa là gợi ý khả năng mà Nixon có thể sử dụng cơ hội công bố những biện pháp thảm khốc ông đang đe doạ. Nhưng phe cộng sản gọi đó là trò bịp bợm của ông, và tuần lễ đầu tiên của tháng 11 trôi qua mà không có leo thang chiến tranh. Nixon đổ lỗi thất bại của tối hậu thư của ông cho phong trào chống chiến tranh, đang tăng lên đỉnh cao mới sau khi một năm im lặng. Từ khi ngừng ném bom, sự băn khoăn của sinh viên phần nhiều vào vấn đề chủng tộc. Sau khi những sinh viên da đen của trường Đại học tổng hợp Cornell vào mùa xuân 1969 mang súng đến trường, Nixon không đơn độc lo ngại cái gì mà sự hồi phục phong trào chống chiến tranh có thể mang đến. Nhưng mối đe doạ bạo lực tại trường Đại học Cornell, tiếp theo cuộc đụng độ giữa cảnh sát và những người biểu tình tại hội nghị đảng Dân Chủ ở Chicago trước tháng 8, đã tạo ra sự phát triển chiến thuật mới bên trong phong trào chống chiến tranh. Mùa hè năm 1969, những người tổ chức lên kế hoạch “ngừng hoạt động” toàn quốc bào ngày 15-10, kêu gọi dân chúng không làm những công việc thông thường hàng ngày để phản đối chiến tranh. Ý tưởng lôi kéo càng nhiều người trong tầng lớp trung lưu càng tốt - để rũ bỏ hình ảnh “hippie” gây tai tiếng ở những cuộc biểu tình trước đây ủng hộ đứng đắn tóc ngắn. Những người đồng tình với “sự kiện tạm ngừng hoạt động” được yêu cầu đeo băng tay đen. Cộng với tuần hành, còn có những hoạt động khác, bao gồm đọc diễn văn và thắp nến suốt đêm. Việc tăng cao sự ủng hộ cho “sự kiện tạm ngừng hoạt động” ở bờ đông và tây hình như chỉ ra rằng nhiều người Mỹ muốn rút ra khỏi chiến tranh ngay lập tức, không cần đếm xỉa đến hậu quả đối với Nam Việt nam. Thăm dò của viện Gallup cho thấy hơn một nửa người Mỹ được hỏi đã ủng hộ rút quân hoàn toàn trước cuối năm 1970. Tổng thống Nixon cố gắng phá phong trào chống chiến tranh bằng cách tuyên bố đợt rút quân thứ hai gồm 35 nghìn lính. Ông cũng đưa trung tướng Lewis B. Hershey (lục quân) làm giám đốc Hệ thống phục vụ chọn lọc. Chưa từng bao giờ kể từ thế chiến II Hoa Kỳ thực hiện bắt lính quân dịch đối với thanh niên, Hershey đã điều hành việc này, và trong cuộc chiến tranh Việt nam ông trở thành mục tiêu ưa thích của phong trào chống chiến tranh. Trong vòng một năm, tiếp tục rút quân từ Việt nam kết hợp với sổ xố quân dịch mới (miễn thuế cho đa số thanh niên bị theo chế độ quân dịch) đã tước đi nhiều động lực của phong trào chống chiến tranh, nhưng những việc làm của Nixon mùa thu 1969 đã kiềm chế nó ít hơn là cướp đoạt sức nặng nào đấy tối hậu thư của ông đối với Hà Nội.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #84 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:15:16 pm » |
|
Chiến dịch của Nixon mục đích thuyết phục Moscow và Hà Nội rằng ông là người nghiêm túc với tối hậu thư của mình đã đưa ra công khai ngày 13-10, ngày đầu tiên thử thách, khi thư ký báo chí của ông tuyên bố rằng tổng thống sẽ phát biểu cho nhân dân Mỹ trên truyền hình ngày 3-11. Việc chọn thời gian phát biểu có nghĩa là gợi ý khả năng mà Nixon có thể sử dụng cơ hội công bố những biện pháp thảm khốc ông đang đe doạ. Nhưng phe cộng sản gọi đó là trò bịp bợm của ông, và tuần lễ đầu tiên của tháng 11 trôi qua mà không có leo thang chiến tranh. Nixon đổ lỗi thất bại của tối hậu thư của ông cho phong trào chống chiến tranh, đang tăng lên đỉnh cao mới sau khi một năm im lặng. Từ khi ngừng ném bom, sự băn khoăn của sinh viên phần nhiều vào vấn đề chủng tộc. Sau khi những sinh viên da đen của trường Đại học tổng hợp Cornell vào mùa xuân 1969 mang súng đến trường, Nixon không đơn độc lo ngại cái gì mà sự hồi phục phong trào chống chiến tranh có thể mang đến. Nhưng mối đe doạ bạo lực tại trường Đại học Cornell, tiếp theo cuộc đụng độ giữa cảnh sát và những người biểu tình tại hội nghị đảng Dân Chủ ở Chicago trước tháng 8, đã tạo ra sự phát triển chiến thuật mới bên trong phong trào chống chiến tranh. Mùa hè năm 1969, những người tổ chức lên kế hoạch “ngừng hoạt động” toàn quốc bào ngày 15-10, kêu gọi dân chúng không làm những công việc thông thường hàng ngày để phản đối chiến tranh. Ý tưởng lôi kéo càng nhiều người trong tầng lớp trung lưu càng tốt - để rũ bỏ hình ảnh “hippie” gây tai tiếng ở những cuộc biểu tình trước đây ủng hộ đứng đắn tóc ngắn. Những người đồng tình với “sự kiện tạm ngừng hoạt động” được yêu cầu đeo băng tay đen. Cộng với tuần hành, còn có những hoạt động khác, bao gồm đọc diễn văn và thắp nến suốt đêm. Việc tăng cao sự ủng hộ cho “sự kiện tạm ngừng hoạt động” ở bờ đông và tây hình như chỉ ra rằng nhiều người Mỹ muốn rút ra khỏi chiến tranh ngay lập tức, không cần đếm xỉa đến hậu quả đối với Nam Việt nam. Thăm dò của viện Gallup cho thấy hơn một nửa người Mỹ được hỏi đã ủng hộ rút quân hoàn toàn trước cuối năm 1970. Tổng thống Nixon cố gắng phá phong trào chống chiến tranh bằng cách tuyên bố đợt rút quân thứ hai gồm 35 nghìn lính. Ông cũng đưa trung tướng Lewis B. Hershey (lục quân) làm giám đốc Hệ thống phục vụ chọn lọc. Chưa từng bao giờ kể từ thế chiến II Hoa Kỳ thực hiện bắt lính quân dịch đối với thanh niên, Hershey đã điều hành việc này, và trong cuộc chiến tranh Việt nam ông trở thành mục tiêu ưa thích của phong trào chống chiến tranh. Trong vòng một năm, tiếp tục rút quân từ Việt nam kết hợp với sổ xố quân dịch mới (miễn thuế cho đa số thanh niên bị theo chế độ quân dịch) đã tước đi nhiều động lực của phong trào chống chiến tranh, nhưng những việc làm của Nixon mùa thu 1969 đã kiềm chế nó ít hơn là cướp đoạt sức nặng nào đấy tối hậu thư của ông đối với Hà Nội. Giới lãnh đạo Bắc Việt nam tỏ ra hài lòng về những hoạt động của phong trào chống chiến tranh ở Mỹ. Một ngày trước khi “sự kiện tạm ngừng hoạt động”, đoàn đại biểu Bắc Việt nam ở Paris cung cấp cho báo chí một bức thư ngỏ của thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi “những người bạn Mỹ” chúc mừng họ “thành công lớn” trong “cuộc đấu tranh tháng 8”. Tổng thống Nixon sau này nhớ lại rằng khi ông biết về bức thư của Phạm Văn Đồng “Tôi biết chắc chắn rằng tối hậu thư của tôi đã thất bại”. Không những “sự kiện tạm ngừng hoạt động” ngày 15-10 lần đầu tiên phong trào chống chiến tranh đã thành công trong việc phối hợp những sự kiện chính trong một vài thành phố cùng một lúc, mà còn cả nhiều nhóm cũng tụ tập số lượng lớn người tham gia kéo đến Washington và San Francisco giữa tháng 11. Chỉ hai ngày sau khi “sự kiện tạm ngừng hoạt động”, Kissinger khuyên tổng thống Nixon tốt nhất hãy hoãn kế hoạch ném bom Bắc Việt nam mạnh hơn. Cùng ngày, Nixon nhận một lời khuyên tương tự từ Sir Robert Thompson người Anh, tác giả của chống nổi dậy, ông cho rằng Hoa Kỳ cần thuyết phục Hà Nội và Sài Gòn cùng tồn tại, đừng leo thang. Liên Xô đã đóng chiếc đinh cuối cùng vào chiếc quan tài tối hậu thư của Nixon. Ngày 20-10, đại sứ Dobrynin trình Nixon công hàm chính phủ Liên Xô đồng ý tham gia đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược. Đồng thời, Dobrynin bày tỏ sự không hài lòng của Liên Xô về những lời đề nghị của Nixon với Trung Quốc. Đây là thời gian xấu đối với Nixon vì vướng với báo chí Mỹ ông đồng ý đàm phán về vũ khí với Liên Xô mà lại liều lĩnh leo thang chiến tranh Việt nam. Nixon nhân dịp may này nói với Dobrynin là Liên Xô không đủ sức giúp kết thúc chiến tranh. “Nếu Liên Xô không giúp đỡ chúng tôi thu được hoà bình - Nixon đe doạ một lần nữa, - lúc đó chúng tôi sẽ phải tìm cách của chúng tôi để đưa chiến tranh đến chỗ kết thúc”. Ông thêm rằng Liên Xô đừng mong đợi nhiều tiến bộ ở những vấn đề khác nếu chiến tranh chưa kết thúc. Việc quyết định không tuyên bố những hành động mới về chiến tranh, Nixon đã bỏ lại những vấn đề phải nói với nhân dân Mỹ ngày 3-11. May mắn thay họ không biết về tối hậu thư của ông, và ông tận dung cơ hội này để chống đỡ việc ủng hộ đang co lại trong cuộc chiến tranh. Ông gợi lại khán giả truyền hình rằng khi cộng sản chiếm Huế trong cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968, họ đã hành quyết khoảng ba nghìn dân thường. Ông nhắc lại lời đề nghị rút quân lính Mỹ khỏi Nam Việt nam nếu Bắc Việt cũng làm như thế, và ông đọc bức thư của Hồ Chí Minh bác bỏ đề xuất này. Nhưng Nixon nói rằng ông có kế hoạch kết thúc vai trò của Mỹ trong chiến tranh không phụ thuộc vào việc thương lượng với Hà nội. Thông qua Việt nam hoá chiến tranh, ông sẽ dần dần thay thế lính Mỹ bằng lính Nam Việt nam. Nếu Bắc Việt Nam cố gắng lợi dụng cơ hội này đưa thêm quân chống lại những lính Mỹ còn lại, Nixon hứa rằng ông sẽ “không ngần ngại sử dụng sức mạnh và những biện pháp hiệu quả để đối phó với tình hình này”. Hà Nội bây giờ có nhiều lý do nghi ngờ thiện chí của Nixon khi ông tung ra những lời đe doạ, ông tỏ ra mạnh mẽ và hợp lý đối với nhân dân người nghe tối hôm ấy. Ông chỉ cho họ quá khứ khi những người biểu tình thúc giục ông như họ từng thúc giục tổng thống Johnson. Nixon biết rằng Việt nam hoá chiến tranh sẽ cần nhiều thời gian hơn là những người phản đối tuần hành trên phố hình như nghiêng về phía ông, và ông gọi họ “đa số thầm lặng” ủng hộ ông. Những thăm dò của Gallup sau bài phát biểu của Nixon cho thấy hơn ba phần tư người nghe đã ủng hộ ông. Đây là lần đầu tiên hơn hai phần ba dân Mỹ hình như chấp thuận sự lãnh đạo của Nixon ở Nhà Trắng. Người đi đầu chỉ trích ông tại Quốc hội, thượng nghị sỹ Fulbright, quyết định hoãn lại cuộc điều trần công khai về chiến tranh. James Wright (đảng Cộng Hoà, Texas) và khoảng ba trăm nhân viên Nhà Trắng ký ký bản kết luận ủng hộ “những nỗ lực thương lượng và giành hoà bình ở Việt nam” của tổng thống. Nixon cám ơn những người ủng hộ ông trong Quốc hội ngày 13-11 khi ông phát biểu trước Nhà Trắng và Thượng nghị viện, lần đầu tiên khi ông với tư cách tổng thống. Khi Nixon phát biểu trên đồi Capitol, những người phản đối chiến tranh tụ tập ở Washington cho cuộc biểu tình lớn nhất chưa từng có ở đây, vượt trội hơn thậm chí cuộc biểu tình Luật dân sự ở Washington hồi tháng 3-1963. Ít nhất một phần tư triệu người tham gia năm 1969 và có lẽ hai hoặc ba lần như thế này. Trong thời gian ấy, hơn một trăm nghìn biểu tình ở San Francisco, và hàng chục những cuộc biểu tình nhỏ hơn ở Hoa Kỳ và châu Âu. Ở Washington những “sự kiện 3 ngày” bắt đầu bằng “cuộc tuần hành chống lại chết chóc” từ nghĩa trang Arlington đến đồi Capitol, nơi 46 nghìn người tuần hành, mỗi người mang theo một tấm thẻ ghi tên một lính Mỹ bị chết hoặc một làng mạc bị phá huỷ ném vào một trong 40 chiếc quan tài đen. Số lượng thanh niên đông đảo tuân theo kỷ luật của những người tổ chức, nhưng một số người quá khích ném vỡ cửa sổ, phá xe cảnh sát, và treo một lá cờ Việt Cộng lên Trụ sở Toà án trước khi bị giải tán bởi hơi cay. Mặc dù tổng thống Nixon chứng minh sự tồn tại của đa số tương đối thầm lặng, một thiểu số rộng lớn và có ảnh hưởng đang có tiếng nó tăng lên rõ ràng. Chính phủ Bắc Việt nam có thể hài lòng việc này, cũng thất bại của Nixon trong tối hậu thư của ông. Trong bất kỳ trường hợp nào, Nixon hình như cam kết rút quân - chỉ có nhịp điệu rút quân vẫn còn là một câu hỏi. Một vài ngày trước khi một cuộc biểu tình lớn nổ ra ở Washington, có một “cuộc chạy đua đoàn kết” ở Hà nội nhân chuyến đi thăm của nhà hoạt động Mỹ chống chiến tranh Richard J. Barnet (đồng giám đốc Viện nghiên cứu chính sách ở Washington) và William Meyers (giám đốc Uỷ ban luật sư về chính sách Mỹ ở Việt nam ở New York). Khi thúc giục rút ngay lập tức tất cả lính Mỹ, Barnet nói rằng ông và Bắc Việt đang chiến đấu với cùng những kẻ xâm lược. *** Tháng 11-1969 là thời gian chưa đủ điều kiện để bắt đầu chiến dịch ném bom Bắc Việt nam trừ khi dùng B-52 ném bom những mục tiêu diện rộng. Cứ vào tháng 11, gió mùa đông bắc bắt đầu tràn về đồng bằng sông Hồng với những đám mây và mưa phùn. Trong thời gian ấy, bầu trời trong xanh vùng cán xoong ở Lào cũng như những con đường khô ráo ở đó, người ta phát hiện số lượng xe tải Bắc Việt nam chở hàng vào Nam tăng lên. Trước cuối năm, hơn sáu trăm lượt B-52 xuất kích một tháng (40% khả năng của toàn bộ B-52 ở Đông Nam Á) ném hơn mười nghìn tấn bom xuống đường mòn Hồ Chí Minh tại Lào. Tách khỏi những hậu quả chính trị, một luận cứ khác chống lại việc sử dụng B-52 ném bom đồng bằng sông Hồng là dễ bị SAM bắn rơi. Từ đầu cuộc chiến, SAM không đe doạ B-52 ở Lào, nhưng ngày 19-12-1969, trận địa ở đèo Ban Karai của phía Bắc Việt phóng hai tên lửa chống lại tốp ba chiếc B-52 tại Lào. Một trong những tên lửa bắn trượt chiếc B-52 thứ ba. Tư lệnh Tập đoàn không quân số 7, tướng Brown, yêu cầu cho phép ném bom trận địa SAM và những trận địa SAM không được ở Bắc Việt Nam đang đe doạ máy bay của ông tại Lào. Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, quyết định không chuyển yêu cầu này tới bộ trưởng Laird. Nhưng Wheeler đã xem xét đề nghị khác của Brown cho phép những máy bay F-105G “Con chồn hoang” hoạt động ở Bắc Việt nam. Từ khi ngừng ném bom đối với Bắc Việt nam, “Những con chồn hoang” hai ghế lái bị hạn chế bay dọc theo phía Lào ở biên giới Lào-Bắc Việt nam, hạn chế sử dụng tối đa thiết bị phát hiện radar, tên lửa không đối đất tìm kiếm radar, và những vũ khí khác bắn vào trận địa tên lửa ở Bắc Việt nam. Tổng thống Nixon không chấp thuận dùng “Những con chồn hoang” ở Bắc Việt Nam cho mãi tới cuối tháng 1-1970. Ngày 28-1-1970, hai chiếc F-105G “Con chồn hoang” hộ tống một máy bay trinh sát RF-4C vào Bắc Việt nam. Sau khi tránh được hai quả SAM phóng lên từ một trận địa gần đèo Mụ Giạ, “Những con chồn hoang” ném một tá bom 500 cân Anh vào trận địa SAM. Một trong những “Con chồn hoang” sau đó oanh tạc một trận địa thứ hai cách trận địa đầu tiên vài dặm về phía bắc và bị trúng đạn cao xạ khi rời khỏi mục tiêu. Đại uý phi công Richard J. Mallon, và sĩ quan chiến tranh điện tử, đại uý Robert J. Panek, cả hai thoát ra. Một nỗ lực cứu phi công không thành công dẫn đến một kết thúc buồn thảm gần ba giờ sau đó, khi chiếc trực thăng cứu phi công đang bay gần Lào bị tên lửa tầm nhiệt của MiG-21 bắn rơi. Trực thăng nổ ngay trên không và tất cả tổ lái sáu người được coi là chết ngay: thiếu tá Holly G. Bell, đại uý Leonard C. Leeser, thượng sĩ William D. Pruett, thượng sĩ William C. Sutton, thượng sĩ William C. Shinn, và trung sĩ Gregory L. Anderson. Hai đại uý Mallon và Panek không trở về nhà cuối chiến tranh. Bị mất tinh thần bởi sự mất mát này và thất vọng rằng không được phép đánh trả trận địa tên lửa gần biên giới Lào ở Bắc Việt nam, tướng Brown quyết định sử dụng tối đa quyền lực mà ông có. Từ mùa thu 1968, có chút ít thay đổi quy tắc cơ bản về chiến đấu trong những chiến dịch ở Bắc Việt nam. Brown có thể đưa máy bay trinh sát cũng máy bay hộ tống xa hơn về phía bắc vĩ tuyến 19. Nếu bị những máy bay MiG, SAM, hoặc pháo cao xạ bắn, những máy bay hộ tống có thể bắn trả - trừ những trận địa SAM hoặc pháo cao xạ nằm ở bắc vĩ tuyến 19.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #85 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:15:54 pm » |
|
Từ đầu mùa hè năm 1969, Brown đôi khi cho phép một phi đội gồm bốn máy bay chiến đấu phối hợp với phi vụ trinh sát khi bị tấn công, để họ có thể phản ứng với lực lượng mạnh hơn là chỉ có hai máy bay thông thường yểm trợ chỉ một máy bay trinh sát. Giờ đây, đầu năm 1970, Brown nghe lời khuyên của viên chỉ huy thứ hai của mình, thiếu tướng Robert J. Dixon, và ông mở rộng sức mạnh phản ứng ít nhất một tá máy bay. Sự tăng viện này có thể gợi lại đây là một trong những ít lần ông thấy Brown thể hiện nhiều cảm động: Brown đập bàn và tuyên bố ông muốn “mỗi máy bay bị nguyền rủa chúng ta có thể nhận một cuộc luyện tập trên không”. Ngày 2-2-1970, Tập đoàn không quân số 7 đưa hai máy bay trinh sát RF-4C (mỗi chiếc được hai F-4 hộ tống) bay đến một trận địa SAM gần biên giới Lào. Trên bầu trời Lào lúc đó còn có 15 chiếc F-4 khác. Mặc dù một trong những một trong những phi đội máy bay trinh sát bị pháo cao xạ gần đèo Mụ Giạ bắn lên, nhưng họ không chạm trán với SAM. Sau khi những máy bay hộ tống ném bom vào trận địa pháo cao xạ, Tập đoàn không quân số 7 đưa máy bay ném bom trận địa pháo cao xạ khác gần đèo Ban Karai (nằm giữa đèo Mụ Giạ và khu phi quân sự). Trận địa pháo cao xạ đã bắn vào máy bay Mỹ tại Lào một ngày trước đó, và sự phản ứng được phép trong vòng 24 giờ. Tướng Brown hy vọng rằng trận địa SAM nằm phía bắc đèo Ban Karai sẽ đáp trả. Sau khi phóng một quả SAM, trận địa bị tám máy bay F-4 do đại tá Donald N. Stanfield, tư lệnh phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 (Ubon (Thái Lan) chỉ huy ném bom. Đây là một cuộc không kích hiệu quả khác thường: ít nhất hai tên lửa bị phá huỷ trên mặt đất, đồng thời những bệ phóng và trận địa pháo cao xạ liên kết bị thiệt hại nặng nề. Tròn một tuần sau cuộc không kích đèo Ban Karai, tổng thống Nixon không những nới rộng thời gian phản ứng chống lại hoả lực Bắc Việt Nam tới ba ngày, mà còn cho phép những cuộc không kích ưu tiên vào những trận địa SAM và pháo cao xạ gần biên giới Lào. Khi thời tiết xấu ngăn cản những cuộc tấn công vào những trận địa đó, tuần đầu tiên sau khi ông cho phép, Nixon tỏ ra nóng vội - chỉ một ngày sau đó ông đã rút lại sự cho phép. Đầu tháng 3, ông phục hồi phản ứng được phép trong thời hạn 3 ngày và sau đó cho phép phản ứng xa hơn về phía bắc vĩ tuyến 20, nhưng ông không lại cho phép không kích ưu tiên. Thay vào đó, ông bắt đầu xem xét cho phép mở rộng vùng không kích. Cơ hội để Nixon tiếp tục quan tâm đến việc ném bom Bắc Việt Nam là cuộc đảo chính lật đổ chính phủ thái tử Sihanouk ở Campuchia được tiến hành bởi tướng Lon Nol - người muốn lính Mỹ tống cổ quân đội Bắc Việt nam ra khỏi nước ông. Gạt ra rìa thoả hiệp ngọt ngào của Sihanouk giữa quyền lợi của Mỹ và Bắc Việt nam, Lon Nol ngay lập tức đánh nhau với lực lượng lớn Bắc Việt nam trên đất Campuchia sát biên giới Nam Việt nam. Suốt một năm, B-52 đã ném bom bí mật lực lượng này, và tướng Abrams đã từ lâu muốn đưa lính Mỹ chống lại kẻ thù của ông tại vùng đất thánh cùng với cảng Sihanoukville (Campuchia). Lon Nol đổi tên cảng này thành Kompong Som và không cho phép nó sử dụng để phục vụ tiếp liệu cho cộng sản. Nếu Abrams có thể phá huỷ được hàng tiếp liệu chứa dọc theo biên giới trước khi Việt nam hoá chiến tranh vắt kiệt phần lớn lực lượng của ông, thì cơ hội để Nam Việt nam sống sót sẽ được cải thiện - khi quân đội Lon Nol và Mỹ còn lại ở Nam Việt nam. Khi tổng thống Nixon quyết định tấn công quân đội Bắc Việt nam ở Campuchia, ông biết rằng ông sẽ đối đầu với phản ứng trên đồi Capitol, với báo chí, và với các trường đại học. Ông gợi ý Kissinger rằng có lẽ họ phải ném bom trở lại Bắc Việt Nam và thả mìn các cảng. Kissinger không tin tổng thống nghiêm túc, và gạt ra lời gợi ý ra bên cạnh, bình luận họ đang có đống việc đau đầu. Nhưng sau chiến tranh, Kissinger ngờ rằng ông nhận được lời khuyên tốt dịp đó: “Sự suy sụp của hành động quân sự ở Việt nam là do sự ngần ngừ của họ; chúng ta đang sẵn sàng tính toán với độ chính xác cao sử dụng lực lượng cực ít hoặc thời gian cực ít, không bỏ lại sai lầm hoặc sự hỗn độn, không khuyến khích kẻ thù năm giữ chừng nào những nghi ngờ của chúng ta làm kiệt sức những nỗ lực của chúng ta”. Mặc dù Nixon không khôi phục chiến dịch ném bom toàn diện Bắc Việt nam, nhưng ông quyết định ném bom những kho tiếp liệu nằm sát bắc khu phi quân sự và gần những con đèo ở biên giới Lào. Trong bốn ngày đầu tiên tháng 5, khi lính Mỹ phối hợp với lính chiến đấu ở Campuchia, máy bay của không quân và hải quân đã bay hơn 7 trăm lượt xuất kích ném bom Bắc Việt nam. Không có cái gì giống điều này từng xảy ra từ khi ngừng ném bom tháng 11-1968. Quy mô của chiến dịch chôn vùi phòng không Bắc Việt nam, và không quân Mỹ và hải quân mỗi bên chỉ rơi một máy bay. May mắn, cả hai tổ lái F-4D được cứu thoát. Những sĩ quan tình báo Bộ chỉ huy Thái Bình Dương tin rằng những cuộc không kích tháng 5 gây nhiều thiệt hại cho đối phương, họ ưóc chừng đã phá huỷ từ mười nghìn và 50 nghìn tấn tiếp liệu. Dù sao đi nữa, như tổng thống Nixon đã đánh giá, cái giả phải trả cho mối quan hệ công chúng đối với chiến dịch không kích hình như giảm bớt đáng kể do sự kiện này xảy ra giữa những tiếng la ó về vấn đề Campuchia. Khi lính vệ sĩ quốc gia bắn chết bốn sinh viên Đại học Kent (bang Ohio), sinh viên hàng trăm Đại học xuống đường tấn công, và khoảng một trăm nghìn sinh viên đến Washington tham dự cuộc biểu tình lớn nhất cuối cùng trong thời gian chiến tranh. Trong bối cảnh này, những cuộc tập kích Bắc Việt nam tương đối ít được chú ý. Khi báo chí được thông tin về cuộc tập kích ngày 4-5-1970, báo cáo viên của Bộ quốc phòng không biết rằng hải quân cuộc tập kích đèo Mụ Giạ và do vậy chối bỏ - sai lầm này được phản ánh ngay ngày hôm sau. Nhưng báo chí được cung cấp nhiều thông tin với cuộc tập kích hơn là các sĩ quan ở Hawaii ghi trong bản báo cáo bí mật của họ. Mưu mô xảo quyệt này Bộ tư lệnh không quân chiến lược từng sử dụng làm giả báo cáo về những cuộc tập kích B-52 vào Campuchia, Bộ chỉ huy Thái Bình Dương và không quân Mỹ ở Thái Bình Dương phải xoá những cuộc tập kích ra khỏi những báo cáo tuyệt mật của họ. Bản tổng kết dài và chi tiết những chiến dịch ở Đông Nam Á của không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, thí dụ, viết rằng chỉ có ba lượt xuất kích ném bom Bắc Việt nam trong toàn bộ tháng 5. Mặc dù chính quyền Nixon khá thành thực hơn đối với báo chí, nhưng họ cũng thừa sức đánh lừa các phóng viên. Chính quyền bám vào câu nói “phản ứng tự vệ” của Bộ trưởng quốc phòng Laird để bênh vực những cuộc tập kích. Có một sự mỉa mai ở đây, vì Laird không ủng hộ Nhà Trắng, bằng cách chống lại sự xâm lược Campuchia. Tuy thế, ông đang bênh vực chính quyền một cách công khai và đề nghị rằng nếu Bắc Việt trả đũa sau chiến dịch ở Campuchia cuộc hành quân bằng cách tấn công qua khu phi quân sự, thì ông ủng hộ ném bom trở lại Bắc Việt nam. Một vài tháng trước đó, Laird đã áp dụng câu “phản ứng tự vệ” để trả đũa phòng không Bắc Việt nam. Đến lúc này, câu nói của ông ta (cũng áp dụng với những chiến dịch quân đội Nam Việt nam sang qua biên giới Lào) luôn gắn liền với việc kết thúc những chiến dịch tìm - diệt do lính Mỹ tại Nam Việt nam tiến hành - nơi mà “phản ứng tự vệ” nói bóng gió rằng lính Mỹ không tìm kiếm khó khăn, mà đơn thuần phản ứng khi bị tấn công. Trong năm đầu của chính quyền Nixon, phó tổng thống Spiro T. Agnew thường là cây gậy cảnh sát trong các trận đánh nhau với báo chí. Một lần nữa ông bênh vực những hành động của Nixon trên một chiến tranh phỏng vấn truyền hình. Khi được hỏi về những cuộc tập kích xuống Bắc Việt nam, ông nói rằng những cuộc tấn công của Mỹ ở đó “là những cuộc tấn công theo truyền thống mà chúng tôi gọi là phản ứng tự vệ. Tôi biết, những cuộc tấn công mà các bạn ám chỉ, chính là hạng này”. Ngoại trưởng Rogers cũng nhấn mạnh rằng những cuộc không kích chỉ nhằm vào phòng không Bắc Việt nam, và người phát ngôn Bộ quốc phòng khẳng định quan điểm này khi chỉ ra rằng quy mô những cuộc tập kích là mới bằng cách gọi chúng là “những cuộc không kích phản ứng tự vệ được tăng cường”. Không ai trong chính quyền công khai thú nhận việc này, mặc dù những mục tiêu phòng không mà họ tấn công bao gồm cả những kho tiếp liệu. Dù bị đập tơi bời, tổng thống Nixon vẫn thách thức sinh viên các trường đại học và giới báo chí trong chiến dịch ở Campuchia, ông tiếp tục nhận được sự ủng hộ của đa số dân chúng Mỹ. Thăm dò của viện Gallup cho thấy hơn 80% người lớn trên 21 tuổi phản đối sinh viên nổi loạn để phản đối “cách điều hagnh đất nước”. Tổng thống Nixon cuối cùng đã có một hành động công khai làm ngạc nhiên giới lãnh đạo Bắc Việt nam. Mặt khác, sự bất đồng mạnh ở Mỹ, một lần nữa ông cam đoan với họ rằng ông sẽ không hành động như thế nữa. Nếu Bắc Việt tin kết luận này, Nixon sẽ chứng minh họ sai lầm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #86 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:18:52 pm » |
|
7. Tù binh và những người khác còn sống sót
Ngày 1-5-1970, trong lúc lính Mỹ hùng hổ tiến vào Campuchia và những máy bay F-4 ném bom vùng cán xoong Bắc Việt nam, hơn một nghìn người vợ và cha mẹ lính Mỹ tụ tập ở Washington để xử lý tác động đặc biệt của chiến tranh đến gia đình họ. Mặc dù một số chồng, con của họ đang bị tù hoặc mất tích ở Đông Nam Á từ 1964, không có có cuộc tụ họp nào như thế từng xảy ra trước đó. Chính quyền Johnson đã làm mất can đảm những gia đình này khỏi sự tổ chức; người ta nói với họ rằng hoạt động ngoại giao thầm lặng là cách tốt nhất để bảo vệ chồng con họ an toàn trở về, mà sự sống sót của họ có thể bị đe doạ bởi sự công khai. Nhưng các gia đình tăng thêm nghi ngờ về hoạt động ngoại giao thầm lặng, đặc biệt sau khi một dòng thác tin tức về tàu Pueblo (tàu thám báo của hải quân, mà toàn bộ thuyền viên bị Bắc Triều Tiên bắt giam tháng 1-1968 và được cộng sản thả năm đó). Chính quyền Nixon quyết định công khai lên án sự tàn bạo của Bắc Việt nam đối với những tù binh Mỹ. Tháng 5-1969, Bộ trưởng quốc phòng Laird tuyên bố công khai quyết định của chính quyền đưa ra công khai hoàn cảnh những người Mỹ bị bắt. Ba tù binh sau đó được Bắc Việt Nam thả vào tháng 8-1969 đã kể cho báo chí về thực tại ác nghiệt của trại tù ở Bắc Việt nam - một chủ đề được thảo luận chỉ trong những cuộc thẩm vấn bí mật sáu những tù binh được thả năm 1968. Đại diện Mỹ tại Uỷ ban về quyền con người tại Liên hợp quốc phàn nàn về điều kiện ở những nhà tù Bắc Việt nam tới một uỷ ban của đại hội đồng Liên hợp quốc tháng 11-1969. Trong thời gian ấy, những người vợ của những người Mỹ mất tích ở Đông Nam Á đã thăm Đoàn đại biểu Bắc Việt nam tại đàm phán hoà bình ở Paris để hỏi xem chồng họ sống hay chết. Họ không nhận được câu trả lời, và khi Philip Habib thay thế Henry Cabot Lodge là trưởng đoàn tại cuộc thương lượng vào tháng 12, ông đưa ra toàn bộ lời tuyên bố công khai đối với vấn đề tù binh chiến tranh. Tháng 3-1970, thượng nghị sỹ Robert Dole (đảng Cộng Hoà, bang Kansas) đề nghị Liên đoàn những gia đình tù binh Mỹ và mất tích ở Đông Nam Á tới dự cuộc họp tại Toà nhà Hiến pháp ở Washington vào Ngày luật quốc tế, 1-5-1970. Nhiều người đã bay đến Washington bằng máy bay của Đội cảnh vệ quốc gia. Mặc dù bộ trưởng Laird và phó tổng thống Agnew phát biểu, nhưng nhiều ý kiến công khai bị nhận chìm trong sự tranh cãi về vấn đề Campuchia. Nhưng đây là lần đầu tiên có cuộc tập hợp nhiều người tham gia, và Liên đoàn thành lập một văn phòng ở Washington xúc tiến quyền lợi của họ. Nỗi lo âu của thượng nghị sỹ Dole phản ánh sợi dây ràng buộc giới quân nhân bang Kansas cộng với từng trải của bản thân ông từng là thương binh nặng trong thế chiến II. Fort Riley đã đưa một sư đoàn bộ binh đầu tiên của nó đến Việt nam, và nhiều sĩ quan quân đội đã nằm trong Bộ chỉ huy và Ban tham mưu trường Đại học Fort Leavenworth. Nhưng đây là căn cứ không quân McConnell gần Wichita đang đào tạo phi công F-105 tấn công những mục tiêu ở Bắc Việt nam. Trong khi người ta cho rằng rất ít người Mỹ mất tích ở Nam Việt nam hoặc Lào là vẫn còn sống, hình như việc có nhiều khả năng cầm tù đối với những tổ lái của hơn chín trăm máy bay bị bắn rơi đối với Bắc Việt nam. Mặc dù dưới một trăm những phi công bị bắn rơi được cứu thoát, bằng chứng việc bị giam cầm dự đoán là khoảng bốn trăm, và có hy vọng rằng một số người mất tích khác cũng bị giam cầm. Trung tâm đào tạo phi công F-105, McConnell không những đóng góp nhiều tù binh và mất tích, mà ban tham mưu bao gồm nhiều sĩ quan từng chiến đấu trên bầu trời Bắc Việt nam. Một năm sau khi tổng thống Johnson ra lệnh tháng 3-1968 ngừng ném bom khu vực Hà Nội-Hải Phòng, những cựu chiến binh Sấm Rền bay tới căn cứ McConnell tham dự lần đầu tiên “thống nhất thực hành”. Họ gọi nó là “thống nhất thực hành” bởi vì họ tuyên bố rằng “thống nhất thực” không thể xảy ra trừ khi những người bạn bị giam ở Bắc Việt Nam có thể trở về với họ. Khoảng một trăm phi công đỗ máy bay quân sự của họ trên đoạn dốc, trong lúc vài trăm phi công khác tới Wichita bằng máy bay thương mại hoặc ô tô. Họ ăn uống ba ngày, làm hiến chương, và bầu một Johnson khác, đại tá Howard C. “Gây gổ” Johnson làm tổng thống của họ. Đại tá Johnson đã đưa ra thống nhất thực hành đầu tiên tại Thái Lan. Khi ông trở thành một sĩ quan hành quân tại sân bay Korat năm 1966, sếp của ông nói về sự nổi tiếng rằng ông lập kỷ lục bay cao trên chiếc F-104. Nhưng ông cũng bay trong nhiều phi vụ trên chiếc F-51 trong chiến tranh Triều Tiên, và ông nghĩ rằng những phi công chiến đấu trên không tốt hơn nếu họ biết từng người mặt đất. Lực lượng tấn công Bắc Việt Nam rải rác trong số sân bay và những tàu sân bay, sự phối hợp trên không thường chẳng biết ai cho phép chia sẻ hoàn toàn ý tưởng và từng trải. Vì thế Johnson thuyết phục tư lệnh phi đoàn của ông, thiếu tướng William S. Chairsell, mời những phi đoàn khác tới dự hội nghị chiến thuật tại Korat. Hội nghị Korat ngày 22-5-1967, là dịp để bớt căng thẳng do cuộc chiến. Họ được cưỡi voi và diễu hành qua căn cứ với đội nhạc. Những cuộc tụ hợp tương tự được tổ chức tại Ubon, Takhli, và Udorn trước khi ngừng ném bom. Do vậy sinh ra Hội những phi công chiến đấu thung lũng sông Hồng. Họ tự gọi mình là “Những con chuột sông”, và họ kết nạp những người từng bay ở gói mục tiêu 6, cộng với những người từng bị tù ở Bắc Việt nam. Những phi công không quân, hải quân và thuỷ quân lục chiến phi công đã bay đến tụ họp, và những người tham gia cứu nạn trên không bằng trực thăng cũng được đón chào nồng nhiệt. Hai hoạt động ưa thích tại ngày hội “Những con chuột sông” là “con rệp chết” và “MiG xuất kích”. Tại Sở chỉ huy “con rệp chết” (dead bug), một người đàn ông nắm một vị trí có thể (lưng, chân tay ở trên không) mang đồ uống cho những người còn lại. Những người tham gia “MiG xuất kích” nối những cánh tay và cố gắng đấm ngã những người khác trong phòng. Khi phi công hải quân có mặt, “hạ cánh trên tàu sân bay” được thêm vào - một chiếc bàn ướt đóng vai trò tàu sân bay và một phi công đóng vai trò một máy bay. Trò đùa tinh nghịch và những bộ quàn áo dạ hội tại Wichita năm 1969 khi đại tá Johnson trở thành CINCRAT. Nhưng trước khi tổ chức tại Thái Lan, cũng có mục đích nghiêm túc hơn ủng hộ những người tham gia liên hoan. Sau khi ngừng ném bom và họ trở về Hoa Kỳ, “Những con chuột sông” tiến hành một công việc mới của họ trợ cấp cho những gia đình của những người bạn bị giết, mất tích, hoặc giữ làm tù binh ở Đông Nam Á. Các thành viên chung sức tìm kiếm tin tức của gia đình họ và làm cho họ tin rằng họ đang nhận nhiều sự giúp đỡ về tài chính và tinh thần. “Những con chuột sông” tăng tiền học bổng cho những đứa con của những đồng nghiệp không may mắn của họ; đây là sự cam kết mà “Những con chuột sông” sẽ phải chống đỡ hơn hai thập kỷ cho tới khi những đứa trẻ này học xong. Trước thời gian “Những con chuột sông” gặp nhau “thống nhất thực hành” lần thứ hai tại San Antonio vào tháng 5-1970, họ đã kiếm được được ở Thái Lan một chiếc “chuông tự do”, chuông này sẽ rung đến khi nào những tù binh được thả ra. Giống như nhiều người Mỹ khác, gia đình “những con chuột sông” bắt đầu đeo vòng tay khắc tên những tù binh và những người còn mất tích - hứa rằng sẽ đeo đến khi những tù binh trở về nhà. Theo cách này, những tù binh bắt đầu được coi như một nhóm lừng danh nhất trong số những anh hùng trong cuộc chiến mà một số người Mỹ nghĩ ngu đần trong chủ nghĩa anh hùng. Trong những năm chiến tranh, những phi công nhìn vào những phi công ưu tú như là những người nổ danh chủ yếu của họ, nhưng năm 1970 không có phi công nào bắn rơi nổi con số 5 máy bay cần thiết. Mặc dù thường có một nết nhơ gắn với việc bị máy bay khác bắn rơi, đa số phi công rơi ở Bắc Việt Nam là do súng cao xạ. Những phi công này nhận nguy hiểm khi lao xuống thấp hơn để có độ chính xác cao hơn đã làm chính họ bị nguy hiểm nhiều hơn. Và mỗi tù binh thiếu từng trải có thể đã đóng góp số phận của mình, có những người khác mà những tài năng của họ được nhiều kính trọng. Trong bất kỳ trường hợp nào, sự thử thách dài và gian khổ của những tù binh đã được cảm tình và kính trọng của các phi công đồng nghiệp cũng như dân chúng Mỹ nói chung. Yêu cầu đưa những tù binh về nước được phản ánh qua xã hội Mỹ. Vào tháng 6-1970 bằng chứng về những điều kiện sống của họ được đưa ra tại toà nhà Quốc hội Mỹ. Một mô hình kích thước thật phòng giam tình báo ở Bắc Việt nam cho thấy tù binh sống như chuột và gián. Cạnh đó là một mô hình một cái chuồng giam làm bằng tre của Việt Cộng bên trong là tù binh bị cùm chân. Mặc dù bằng chứng này không miêu tả sự tra tấn, khách tham quan bị mất tinh thần vì sự tàn khốc mà họ nhìn thấy. Người cung cấp bằng chứng cho Capitol là một doanh nhân bang Dallat trẻ và giàu có, H. Ross Perot - sau khi tốt nghiệp học viện hải quân năm 1953, đã có gặp may trong ngành công nghiệp máy tính còn mới mẻ. Sự quan tâm của ông về vấn đề tù binh và những người mất tích trong chiến đấu năm 1969 khi một số người vợ của họ đề nghị ông tài trợ cho chuyến đi thăm Đoàn đại biểu Bắc Việt nam ở Paris. Không những ông cung cấp tiền cho họ mà ông còn ngay lập tức bắt đầu ném hàng trăm nghìn dollars vào chiến dịch quảng cáo cho tình thế tù binh. Lễ Giáng sinh 1969 ông thu thập hàng tấn gói quà Giáng sinh (gồm thực phẩm, quần áo, và thuốc men) cho tù binh, nhưng nhà cầm quyền Bắc Việt không cho phép máy bay vận tải của ông hạ cánh. Bắc Việt cũng từ chối tiếp ông khi ông đã bay tới Lào hoặc Paris, và họ từ chối lời đề nghị của ông một trăm triệu dollarsđể đổi lấy những tù binh. Do đề nghị của Perot, cùng với sự công khai hoá do ông ta và những người khác tạo ra, mà Bắc Việt biết không cần câu hỏi rằng vài trăm tù binh Mỹ là một tài sản, mà giá trị của nó ngày một tăng lên. Ngược lại, Bắc Việt chẳng chỉ ra cái gì ngoài sự khinh bỉ về 36 nghìn tù binh cộng sản tại Nam Việt nam và không tỏ ra quan tâm nhận họ trở về. Bắc Việt Nam thậm chí không nhận rằng khoảng 7 nghìn trong số 36 nghìn tù binh nói trên là lính Bắc Việt nam, vì Bắc Việt nam tiếp tục nói rằng không có quân đội Bắc Việt nam tại Nam Việt nam. Nếu người Mỹ muốn được trả những tù binh Mỹ, thì người Mỹ phải trao đổi một cái gì quan trọng hơn nhiều những tù binh cộng sản tại Nam Việt nam. Khi chính quyền Nixon đề nghị cắt giảm B-52 ném bom ở Nam Việt nam để đổi lấy những tù binh, Bắc Việt nói họ chẳng cần cái gì hơn là rút hoàn toàn lính Mỹ ra khỏi Nam Việt nam - và thậm chí họ có thể chờ đợi nhận một cách nào đó như là kết quả của Việt nam hoá chiến tranh. Sau hết, chính quyền Nixon sẵn sàng cắt giảm B-52 xuất kích và rút quân mà không cần bất cứ sự nhượng bộ nào của Bắc Việt Nam. Không khó để nhậ thấy rằng, trừ khi có thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ, chính quyền Nixon muốn rút đa số lính Mỹ rút về trước cuộc bầu cử tổng thống sắp tới vào năm 1972. Nhưng Bắc Việt mới trao đổi tù binh mong muốn về nước sớm hơn, vì nó là chính sách cốt lõi của chính quyền Nixon kéo dài Việt nam hoá chiến tranh chừng nào có thể (đến cuộc bầu cử 1972) sao cho chính phủ Nam Việt nam có cơ hội tự đứng vững bằng sức của mình.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #87 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:19:44 pm » |
|
Chính quyền Nixon không thể dùng vấn đề tù binh để duy trì sự ủng hộ của Mỹ cho chiến tranh hoặc cải thiện tình hình tù binh mà không có tăng giá trị thương lượng những tù binh đối với Bắc Việt Nam. Nhưng vị thế thương lượng chính quyền Nixon đang khá yếu, nó không có ý nghĩa quan trọng. Chừng nào Việt nam hoá chiến tranh hứa hẹn rằng lính Mỹ sẽ rút đi thực tế trong bất kỳ trường hợp nào, Bắc Việt có chút khích lệ đồng ý rút quân đội của họ ra khỏi Nam Việt nam. Ngay khi lính Mỹ đã rút hết về nước, cái gì ngăn cản Bắc Việt giữ tù binh Mỹ vô hạn? Vào tháng 8-1970 tổng thống Nixon tìm kiếm mạnh mẽ để hiểu thêm sự ngược đãi của Bắc Việt nam đối với những tù binh Mỹ bằng việc cử đại tá Frank Borman, một cựu phi hành gia vừa mới về hưu, làm phái viên đặc biệt của ông đi thăm mười bốn nước (kể cả Liên Xô). Borman đã thu hút chú ý của Nixon ngày 24-12-1968 khi ông đọc những lời cuốn sách “Chúa sáng tạo ra thế giới” bay quanh mặt trăng. Về sau, Borman gây được ấn tượng tốt khi phát biểu tại một phiên họp Quốc hội và thăm một vài thủ đô nước ngoài. Giờ đây Nixon muốn ông ta trình diễn một cách tương tự nhân danh những tù binh. Chuyến đi của Borman theo sau những phát giác về những điều kiện tàn nhẫn tại nhà tù Côn Đảo (Nam Việt nam), 50 dặm ngoài khơi. Nhà tù này được người Pháp xây dựng (lúc ấy người ta gọi nó là đảo Poulo Condore) gần 40 năm giam cầm những người tù cứng cổ chống chế độ thực dân (bao gồm Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ). Don Luce thuộc Hội đồng nhà thờ thế giới đã thuyết phục hai trong số những hạ nghị sĩ đi thăm nhà tù. Augustus F. Hawkins (đảng Cộng Hoà, California) là một người chống đối từ đầu cuộc chiến tranh Việt nam. William R. Anderson (đảng Cộng Hoà, Tennessee) một đại uý đã về hưu, ông từng là thuyền trưởng tầu ngầm nguyên tử đầu tiên của hải quân, tàu Nautilus. Cả hai người bị sốc bởi những gì mà họ nhìn thấy. Tại một toà nhà, họ nhìn xuống dưới qua chấn song sắt vào những ngăn nhỏ bây giờ bê tông mà họ gọi là “những chuồng cọp”. Mỗi ngăn nhốt 5 tù binh (đàn ông hoặc đàn bà) có diện tích 6 nhân 10 (chừng 6 mét vuông). Một người đàn ông nói rằng người ta đã chặt đứt những ngòn tay của ông khi tra tấn. Những người khác phàn nàn rằng do bị cùm khá lâu nên họ bị liệt . Cuối tháng 7-1970, những bức ảnh “chuồng cọp” Côn Đảo nổi bật trên tạp chí Life, và Gloria Emerson của tờ New York Times dùng hết sức mình để đánh tan bài tường thuật của Don Luce. Luce, người từng đến Nam Việt nam vào những năm 1950 từ Đại học Cornell với tư cách một chuyên gia khoai tây ngọt, bây giờ trở thành người hùng của phong trào chống chiến tranh. Ông tìm được liều thuốc giải độc đối với sự độc ác nổi tiếng mà Bắc Việt đang ngược đãi những tù binh Mỹ. Khi Frank Borman đến Sài Gòn cuối tháng 8, ông cũng yêu cầu đi thăm nhà tù Côn Đảo. Trước lúc này, “những chuồng cọp” không còn được dùng nữa và một số chuồng cọp đã bị phá đi. Ông thuyết phục rằng những tù binh còn bị giam ở Côn Đảo chỉ là một số ít những tù hình sự tại các trại tù thông thường giống như nhà tù Phú Quốc, nơi ông đến thăm - những nhà tù này thường xuyên được Hội chữ thập đỏ quốc tế thanh tra. Trong bài phát biểu của ông tại phiên họp Quốc hội ngày 22-9-1970, Borman một lần nữa thúc ép rằng “chúng ta sẽ tiếp tục gây sức ép bằng cách sử dụng Hội chữ thập đỏ quốc tế thanh tra những trại tù ở Bắc Việt nam”. *** Năm 1949 Uỷ ban chữ thập đỏ quốc tế đã tổ chức một hội nghị tại trụ sở của nó ở Geneva, Thuỵ Sĩ, để dự thảo những công ước mới về bảo vệ nạn nhân chiến tranh. Một trong những công ước này là về sự đối xử tù binh chiến tranh. Trước 1958, những Công ước Geneva được cả Bắc và Nam Việt nam, cũng như Hoa Kỳ chấp nhận. Nhưng Bắc Việt Nam theo đuôi Liên Xô đồng ý với công ước về tù binh chiến tranh chỉ với một điểm riêng quan trọng nhất: Bắc Việt Nam không chấp nhận điều 85, viết rằng “những tù binh chiến tranh áp dụng theo luật quyền cầm tù về những hành động cam kết trước khi bị bắt sẽ bị giữ lại, thậm chí còn bị buộc tội, những lợi ích của Công ước”. Trong suốt cuộc chiến với Hoa Kỳ, Bắc Việt Nam tuyên bố rằng quân nhân Mỹ nào nhúng tay vào tội ác, không phải là tù binh chiến tranh. Vì Bắc Việt gọi việc ném bom đất nước họ là một tội ác hơn là một hành động chiến tranh, họ từ chối những điều chính đáng của Công ước Geneva - những thanh tra viên của Uỷ ban chữ thập đỏ quốc tế không được đến Bắc Việt nam. Người Mỹ phàn nàn rằng Bắc Việt đang phá vỡ những điều khoản công ước về những tù binh có thể bị gạt bỏ đơn thuần khi nhấn mạnh rằng Bắc Việt Nam bác bỏ áp dụng những điều khoản này. Thậm chí bên trong những giới hạn dành riêng cho nó, sự đối xử của Bắc Việt nam đối với tù binh Mỹ là không thể bào chữa được. Mặc dù Bắc Việt Nam đe doạ họ, những phiên tòa xử tội ác chưa bao giờ diễn ra ở Hà Nội. Nhà triết học người Anh Bertrand Russell đã đứng ta tổ chức những phiên toà nhạo báng xử án tội ác chiến tranh ở Thuỵ Điển và Đan Mạch, nhưng tất nhiên, mục đích của ông ta là kích động dư luận quốc tế chống lại chính quyền Johnson hơn là xử tội những phi công . Những sự biện hộ tốt nhất mà Bắc Việt Nam có thể tạo ra để không công nhận quyền của những người Mỹ theo công ước tù binh chiến tranh là những sự nhận tội moi được bằng cách tra tấn tù binh trong việc vi phạm công ước này. Không được những Công ước Geneva bảo vệ, người Mỹ bị bắt ở Bắc Việt Nam có lý do ngờ rằng họ sẽ thoát khỏi giam cầm. Cuốn sách “Con đường đau khổ”(Street Without Joy) của Bernard Fall mô tả cái chết của hàng trăm tù binh Pháp trong những trại tù cộng sản đầu những năm 1950; một số íy bị giết - đa số bị chết do nhiễm trùng, bệnh tật, và suy dinh dưỡng. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, lực lượng cộng sản thường tiến hành chiến tranh du kích, và những người du kích hiếm khi giữ tù binh hoặc đối xử tốt với họ. Trước khi đánh nhau với Hoa Kỳ, Bắc Việt đã thừa hưởng những nhà tù Pháp để lại và có thể đối xử nhân đạo dễ dàng hơn nếu họ muốn. Thay vì làm chuyện đó, Bắc Việt không những phớt lờ những Công ước Geneva, mà còn học tập kinh nghiệm của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên trong chiến tranh Triều Tiên về cách đối xử như thế nào với tù binh Mỹ. Công chúng Mỹ bị mất tinh thần trong cuộc chiến tranh này khi lính nhân Mỹ tại những trại tù ở Trung Quốc nhận tội tiến hành chiến tranh vi trùng. Mặc dù sự viện lẽ chiến tranh vi trùng chẳng ai tin cả, Bắc Việt hăm hở để ít nhất có được phi công nhận tội chủ ý ném bom bệnh viện, trường học, nhà cửa, và những mục tiêu dân sự khác. Bắc Việt trở nên giỏi giang trong việc sử dụng sự tra tấn để moi “sự nhận tội” như thế. Những người tra tấn thường dùng dây buộc tay tù binh ra đằng sau, ép khuỷu tay vào với nhau và tắng sức ép và hình phạt đau đớn - đôi khi đến lúc vai họ ra rời. Tù binh cũng buộc phải tự tra tấn mình: sự đau đớn có thể bị gây ra đơn giản là quỳ trên nền bê tông trong nhiều giờ. Tù binh bị thương khi họ nhảy dù cũng bị tra tấn và không được điều trịn thuốc men cho đến khi họ “nhận tội”. Những tù binh thoát khỏi nhà tù cho biết chỉ có 12 người chết ở Bắc Việt Nam sau khi bị bắt. Điều này ít nhất là tương phản với chiến tranh Triều Tiên, khi hơn một phần ba trong số 7 nghìn tù binh Mỹ bị bắt đã chết - đa số là chết rét khi thời tiết dưới không độ. Một tù binh mới có thể đối mặt khủng khiếp với nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng giam cầm đầu tiên do bị cùm và bị cách ly với những tù binh khác. Khi tù binh này bị tra tấn, anh ta không biết rằng đa số tù binh đồng nghiệp của anh ta cũng mủi lòng thông cảm nhưng biết tập hợp sức mạnh của họ để chống lại. Đôi lúc trước khi giám thị làm dịu bớt sự cách ly bằng cách cho anh ta gặp một bạn tù, những cựu tù binh này tiếp xúc với tù binh mới và dạy ánh ta truyền thông tin bằng cách gõ vào tường hoặc viết thư trên giấy vệ sinh bằng mực làm từ tàn thuốc lá. Đối với một số tù binh người nhiều năm trong tù, thì cách liên lạc bí mật này đặc biệt ưa thích. Bộ mật mã gõ được đưa đến nhà tù Hoả Lò (Hà nội) bởi đại uý Carlyle S. Harris biệt danh “áo lót phụ nữ”, phi công F-105 bị bắn rơi tháng 4-1965 trong khi ném bom cầu Hàm Rồng. Thoạt đầu Bắc Việt không tra tấn tù binh Mỹ, và số lượng tù binh tăng lên khiến Harris được đưa vào buồng giam với ba tù binh Mỹ khác. Ông dậy họ bộ mật mã gõ ông đã học tại trường học tự cứu mạng của căn cứ không quân Stead, bang Nevada. Bộ mật mã không phải là một phần bộ mã mà Harris được dậy, nhưng một thượng sĩ dậy khoá này kể về câu chuyện những tù binh liên lạc với nhau bằng cách gõ tẩu thuốc. Nghĩ rằng họ đã dùng mật mã Morse, Harris hỏi viên thượng sĩ xem có sự khác nhau như thế nào giữa những dấu chấm và gạch ngang. Viên thượng sĩ giải thích rằng mỗi nhát gõ chỉ ra một vị trí của chữ cái trong bảng ma trận 5 dòng ngang và 5 cột. Chữ cái “A” được quy ước là một nhát gõ cho dòng ngang và một nhát gõ cho cột dọc; chữ cái “Z” là 5 nhát gõ cho dòng ngang và 5 nhát gõ cho cột dọc; chữ cái “K” rơi khỏi ma trận để ủng hộ chữ cái “C”, chỉ bỏ lại 25 chữ cái cần thiết để điền ma trận. Việc tăng số lượng tù binh Mỹ sớm dẫn đến sự chuyển chỗ Harris và những bạn tù đầu tiên - thế là bộ mật mã gõ lan rộng đến những tù binh khác. Qua thời gian, bộ mã này đã được phát triển. Nếu truyền bằng tay và nhận bằng mắt là đủ gần nhau, tín hiệu yiếng nói có thể được sử dụng. Đại uý Kyle D. Berg, F-105 của anh ta bị rơi cùng với bốn phi công khác ngày 27-7-1965, có một chị gái cùng mẹ khác cha bị điếc và đã dậy những bạn tù của anh ta làm thế nào để ra hiệu. Cho tới tháng 9-1965, đa số tất cả tù binh Mỹ ở Bắc Việt Nam bị giam ở nhà tù Hoả Lò, nhà tù này được người Pháp xây dựng gần trung tâm Hà Nội gần 70 năm trước đó. Mặc dù “Hà Nội Hilton” (tù binh Mỹ gọi Hoả Lò) đủ sức giữ ít nhất bốn trăm tù binh, Bắc Việt quyết định không tập trung người Mỹ ở đó. Thay vào đó, phần lớn diện tích Hoả Lò tiếp tục để giam những tù hình sự Việt nam, đồng thời những nhà tù khác trong và ngoài Hà nội được hoán cải thành những trại giam tù binh Mỹ. Nhà tù lớn nhất trong số các nhà tù một xưởng phim cũ tại Cự Lộc phía nam Hà Nội; khoảng hai trăm những tù binh bị giam ở đây trong cái mà họ gọi là “Sở thú” (“Zoo”). Một nhà tù nhỏ hơn được xây dựng ở một nhà kho của một biệt thự từng là nhà của thị trưởng người Pháp. Tại “Đồn điền” (“Plantation” hoặc “Country Club”), những nhà báo nước ngoài và những nhà hoạt động chống chiến tranh người Mỹ gặp những tù binh ở “Nhà lớn” (hoặc “Nhà người Pháp”). Một số buồng giam được mở cho khách tham quan. Tù binh được xem xét được thả sớm được đưa đến “Đồn điền”, trong lúc một số tù binh có ít nhiều hợp tác được đưa đến “Cung điện” (Alcatraz), một nhà giam nhỏ đằng sau Bộ quốc phòng . Lo ngại Mỹ có thể ném bom Hà Nội, việc sơ tán tù binh để đảm bảo an toàn cho họ. Một mặt, một nhóm tù binh được chủ tâm đưa vào chỗ nguy hiểm trong mùa hè năm 1967, khi họ được đưa đến vùng đất của nhà máy nhiệt điện Yên Phụ (Hà nội). Nhà máy này là một trong số ít những mục tiêu từng bị ném bom. Bắc Việt may hy vọng rằng những thương vong của ững tù binh có thể làm cho Mỹ càng không muốn ném bom Hà Nội. Trong bất kỳ trường hợp nào, việc sơ tán những tù binh đã hạn chế những cố gắng của họ để tổ chức.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #88 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:21:13 pm » |
|
Trong mỗi nhà tù, những tù binh vẫn liên lạc và xác định nhân dạng sĩ quan theo cấp bậc. Trách nhiệm nguy hiểm này sớm rơi xuống đầu trung tá Robinson Risner, một phi công ưu tú trong chiến tranh Triều Tiên, bị bắn rơi vào tháng 9-1965. Sau khi hai tuần lễ tại nhà giam Hoả Lò, ông là một trong số những tù binh đầu tiên đưa tới “Zoo”. Mặc dù ông tiếp tục bị giam riêng, ông luôn học mật mã gõ và thậm chí có thể nói chuyện bằng cách huýt sáo với một tù binh buồng bên. Risner ở “Zoo” chỉ vài tuần. Nỗ lực của ông tổ chức tù binh và gửi yêu cầu của họ về điều kiện sống tử tế hơn đã buộc người ta mang ông quay về nhà giam Hoả Lò, nơi ông bị giam một tháng trong nhà kho và là một trong những tù binh đầu tiên bị tra tấn. Ban quản lý nhà tù canh chừng những dấu hiệu người cầm đầu nổi bật trong số tù binh và sẽ tra tấn và cách ly bất kỳ ai nắm vai trò lãnh đạo. James B. Stockdale và Jeremiah A. Denton, Jr., thường xuyên nhận thấy họ ở vị trí lãnh đạo nguy hiểm ở nhà giam Hoả Lò hoặc “Zoo” hoặc “Alcatraz”, như là thiếu tá Lawrence N. Guarino và James H. Kasler (là một phi công ưu tú trong chiến tranh chiến tranh Triều Tiên giống như Risner) ở “Zoo”. Những người như thế thay phiên lãnh đạo và chịu những hậu quả. Mạng lưới liên lạc mỏng manh của họ đôi khi bị phá vỡ, nhưng hiếm khi tù binh Mỹ thiếu sự lãnh đạo lâu. Một mặt, hơn hai năm Bắc Việt đã thành công trong việc cách ly những tù binh Mỹ bên trong nhà giam Hoả Lò ra khỏi bốn đại tá bị bắt năm 1967 và 1968. Những người lãnh đạo tù binh thường là 40 tuổi, trong lúc đa số tù binh những đại uý khoảng 30 tuổi. Một số ít những người già hơn là cựu chiến binh thế chiến II. Thiếu tá Guarino thậm chí từng oanh tạc đầu máy xe lửa Nhật bản trên đường sắt gần Hà Nội, và đại uý Richard P. “Pop” Keirn đã được bị phát xít Đức bắt; Keirn bị bắn rơi tại phi vu thứ 10 trên máy bay B-17 ở châu Âu và phi vụ thứ tư trên F-4 ở Đông Nam Á - 15 phi vụ của ông đưa tới hơn tám năm trong tù. Mặc dù những người trẻ hơn không nhập ngũ sau khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, họ cũng quan tâm đến những cuộc chiến tranh mới đây, thí dụ làm thế nào mà một tù binh chiến tranh có thể giữu được cốt cách. Thông qua phim ảnh, truyện, và học hành, những thí dụ này đóng góp vào hỗn độn của tù binh. Vài ngày sau khi về nhà giam Hoả Lò, đại tá Risner nghĩ rằng đây là một trung tâm xử lý và ông sớm được “chuyển đến một khu trại giam để bắt đầu cuộc sống của một tù binh chiến tranh bình thường”. “Zoo” là trại ông khó nghĩ đến. Đó là một doanh trại, ở đó những tù binh đánh bài bàn cách vượt ngục? Rõ ràng là sự từng trải tương đối ít của những tù binh Mỹ ở Đức trong thế chiến II không thích ứng trong những nhà tù ở Hà nội. Thậm chí sự tàn bạo khủng khiếp của những trại tù Nhật bản còn thua sức xô đẩy về tinh thần và tuyên truyền ở nhà tù Bắc Việt nam. Nguồn kinh nghiệm thích hợp nhất đối xử với tù binh Mỹ ở Hà nội là giống hệt Ban quản lý nhà tù áp dụng trong các trại giam mà Trung Quốc và Bắc Triều Tiên sử dụng trong chiến tranh Triều Tiên. Sự lo âu về tư cách tù binh Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên dẫn tổng thống Eisenhower năm 1955 thông qua Bộ luật Hướng dẫn quân nhân lực lượng vũ trang. Từ lúc ra đời, bộ luật là sự thoả hiệp giữa các binh chủng. Họ không đồng ý về ý nghĩa của nó năm 1955, và họ tiếp tục dậy những giải thích trái ngược của họ về bộ luật suốt cuộc chiến tranh Việt nam. Bởi vậy, phi công Mỹ bị bắn rơi ở Bắc Việt Nam cũng mang theo sự bất đồng này vào nhà tù. Điều V bộ luật nói rằng một tù binh chiến tranh was “bị giới hạn chỉ cung cấp tên, cấp bậc, số lính, và ngày sinh” - rằng anh ta nên “tránh trả lời những câu hỏi khác tới mức tối đa năng lực của tôi”. Chưa bao giờ kể từ Công ước Hague 1899, luật quốc tế đòi hỏi những tù binh chiến tranh cung cấp cho các giám thị của họ tên và cấp bậc; năm 1929 Công ước đầu tiên Geneva quan hệ đối xử với tù binh chiến tranh bao gồm số lính, và công ước Geneva năm 1949 thêm ngày sinh. “Bốn mục lớn” này về thông tin tạo điều kiện cho những quốc gia tham dự chiến tranh nhấn mạnh khác nhau về nhân dạng những người bị bắt đến mức gia đình mỗi tù binh có thể biết rằng anh ta còn sống. Luật quốc tế không đòi hỏi, tất nhiên, rằng tù binh từ chối trả lời những câu hỏi khác. Mọi quốc gia thẩm vấn tù binh chiến tranh của họ, và thông thường moi được những tin tình báo có lợi. Theo quan điểm của không quân, điều 5 Bộ luật Hướng dẫn chỉ đơn giản sự nhắc lại luật quốc tế với việc thêm liên từ “tránh” cung cấp thông tin làm thiệt hại đến Hoa Kỳ. Trong khi chữ “tránh” hình như gián tiếp nói rằng tù binh tự do được làm hơn là đơn giản từ chối nói chuyện, sự tham khảo vật cản điều 5 đối với “những câu hỏi khác” có lẽ nghĩa rằng tù binh nên tự giới hạn những câu trả lời của mình cho “bốn mục lớn” hoặc rằng anh ta không nên cung cấp những câu trả lời thật thà, thậm chí những câu hỏi tầm thường nhất không nằm trong phạm vi “bốn mục lớn”. Uỷ ban tư vấn Bộ quốc phòng về tù binh chiến tranh đã soạn thảo Bộ luật Hướng dẫn, và soạn thảo hướng dẫn đi kèm nó. Trong tài liệu này, những binh chủng khác cho phép không quân Mỹ có cách riêng cho nó. Việc huấn luyện được gợi ý bao gồm “dùng những mưu mẹo và những mưu kế lừa đảo để né tránh và tránh phơi bày những thông tin quan trọng”. Những cá nhân chiến đấu trong những chiến dịch đặc biệt cũng được dạy “dùng những chuyện che phủ”. Nhưng chỉ không quân Mỹ bổ xung những gợi ý huấn luyện này. Những binh chủng khác bảo lưu rằng đa số quân nhân của họ cần sự đơn giản của “bốn câu hỏi lớn và không hơn” - nếu họ bắt đầu nói chuyện họ sẽ không biết ngừng ở đâu. Trong khi những binh chủng khác phản ứng sự cộng tác bởi những tù binh trẻ trong chiến tranh Triều Tiên, thì không quân Mỹ đang bị dính vào một số sĩ quan không quân “nhận tội” không quân Mỹ dính líu với chiến tranh vi trùng. Trong cuộc chiến tranh này, Bộ tư lệnh không quân chiến lược đã huấn luyện tổ lái trả lời những câu hỏi của thẩm tra viên địch mà không tiết lộ thông tin quan trọng. Không có ai trong những người được huấn luyện và sau đó chịu đựng tù đầy nằm trong những người nhận tội chiến tranh vi trùng, nhưng không rõ ràng sự lảng tránh đã dừng Trung Quốc khỏi bị lừa như thế nào. Phần lớn tù binh Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên đã nhận sự phân loại hướng dẫn xung đột. Lúc bắt đầu cuộc chiến tranh Tham mưu trưởng liên quân cho phép tù binh tiết lộ mọi thông tin mà kẻ thù đã biết. Thậm chí khi được liên lạc chính xác với những người có thể cần nó, lời hướng dẫn này cũng khó áp dụng trong thực tế và ngay sau đó được thay thế bằng một huấn thị mơ hồ khi trả lời thấm vấn của địch. Theo sau “sự nhận tội” chiến tranh vi trùng, không lực Mỹ ở Viễn Đông khuyên quân nhân của họ cung cấp cho địch mọi thông tin trong giới hạn tên, cấp bậc, số lính và ngày sinh. Sau khi chiến tranh Triều Tiên, không quân Mỹ đã loại bỏ phản ứng “bốn câu hỏi lớn của không lực Mỹ ở Viễn Đông để ủng hộ chương trình huấn luyện của Bộ tư lệnh không quân chiến lược về những mưu mẹo và những mưu kế lừa đảo. Trường dạy cách tự cứu sống thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến lược tại căn cứ không quân Stead (Nevada) được mở rộng thành Trường dạy cách tự cứu sống thuộc Bộ chỉ huy đào tại không quân. Những sĩ quan hải quân dự học phàn nàn về sự xuất phát của nó từ sự tín nhiệm hoàn toàn về tên, cấp bậc, số lính, và ngày sinh. Không quân Mỹ đề nghị rằng một số ít người có thể giữa được đường lối này khi bị tra tấn và tiếp tục dạy kỹ thuật rút lui rút lui bao gồm cả việc nói chuyện mà không tiết lộ thông tin quan trọng. Nhưng vấn đề về những tù binh ở Bắc Việt Nam (và trước đó ở Bắc Triều Tiên) không có khá nhiều thông tin bí mật tránh được sự khai thác cho mục đích truyên truyền của địch. Bắc Việt có nhiều dịp may quan sát chiến thuật không quân của Mỹ và họ đã thu được nhiều xác máy bay và bom đạn chưa nổ. Đặc tính thông thường của những chiến dịch không kích Bắc Việt Nam có nghĩa là chiến tranh tiếp tục có ít phi công phi công Mỹ có thể nói với Bắc Việt họ biết gì. Những thẩm vấn viên Bắc Việt nam mất quan tâm tập hợp tin tức tình báo, nhưng họ tăng thêm quan tâm đến sự thú nhận của tội ác chiến tranh. Tuy thế ít nhiều một tù binh nói chuyện, người ta bắt anh ta viết một “sự nhận tội” hoặc ghi băng “sự nhận tội” hoặc thuật lại “sự nhận tội” cho các nhà báo đến thăm. Đa số tù binh có thể bị tra tấn buộc phải nhận tội, nhưng nhiều tù binh biết cách làm hỏng những nhận tội này. Trong khi những sĩ quan hải quân có thể được được chuẩn bị ít hơn những sĩ quan không quân tốt nghiệp trường Stead, đã không giữ được chí khí khai tên, cấp bậc, số lính và ngày sinh, một số tù binh của hải quân tỏ ra đặc biệt thành công trong việc phá hoại Truyên truyền của Bắc Việt nam. Khi viên chỉ huy Stockdale được chọn để quay phim phỏng vấn, ông đập mặt xanh và đen bằng ghế đẩu mầu nâu. Khi viên chỉ huy Denton được đưa ra để quay phim phỏng vấn, ông chớp mắt câu “sự tra tấn” bằng luật Morse. Khi Cmdr. Richard A. Stratton được đưa ra trước một nhóm nhà báo, bộ mặt ông đờ đẫn và ông phàn nàn về những yêu cầu của Bắc Việt bắt tù binh khom lưng nhiều lần và khắc nghiệt giống như một người máy; nhờ phóng viên ảnh của tạp chí Life, Bắc Việt ngay sau đó nhận được những lời phàn nàn xung quanh từ mà “tẩy não” đối với tù binh Mỹ. Khi trung tá hải quân Charles N. Tanner và Ross R. Terry nói chuyện với người phỏng vấn truyền hình Nhật Bản, họ nói với ông này rằng trung tá Ben Casey và trung tá Clark Kent từng ra trước toà - cao thượng từ chối những phi vụ bay. Người ta biết rằng “Ben Casey” là một nhà phẫu thuật tưởng tượng nổi tiếng trong phim truyền hình Mỹ, còn “Clark Kent” được biết rõ hơn là một siêu nhân, Bắc Việt ít nhiều làm công chúng Mỹ được mẻ cười. Nỗ lực của Bắc Việt nam dùng tù binh Mỹ cho mục đích tuyên truyền thường hình như mang kết quả ngược lại. Đôi khi là do mục tiêu của tuyên truyền không phải cho Hoa Kỳ hoặc châu Âu mà là cho chính Bắc Việt Nam. Những tù binh xuất hiện với cơ thể tiều tuỵ có thể khuấy động nhiệt tình anh dũng của dân chúng Bắc Việt. Khi những tù binh lần đầu tiên bị bắt, họ thông thường phải chịu hình phạt bị dân làng đấm đá, những người dân làng thích đánh phi công, người vừa ném bom xuống làng họ. Sau khi bắt đầu ném bom gần Hà Nội mùa hè năm 1966, 52 tù binh Mỹ bị giải trên đường phố ở khu đông dân cư Hà Nội và chịu đựng những hòn đá, chai lọ, và những nắm đấm. Cuốn phim về những sự kiện này đã kích động thậm chí cả những lãnh tụ chống chiến tranh ở Thượng nghị viện (bao gồm Fulbright, McGovern, McCarthy, Morse, và anh em nhà Kennedy) cảnh báo Hà Nội đừng đưa tù binh Mỹ ra phiên toà tội ác chiến tranh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #89 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 06:23:06 pm » |
|
Về sau, chính phủ Bắc Việt Nam tỏ ra kiềm chế hơn trong việc đưa tù binh Mỹ ra. Thông thường chính phủ Bắc Việt nam đơn thuần đưa quân phục của họ vào bảo tàng. Cuối năm 1969, thí dụ, Hà Nội tổ chức triển lãm lớn những bằng chứng để vinh danh lực lượng phòng không. Một mô hình máy bay treo trên những sợi dây đang chiến đấu trên bản đồ Hà nội thu nhỏ, từ đó những tiếng nổ bụp bụp của tên lửa và cao xạ phát ra từ băng ghi âm; một tá mô hìng máy bay mang phù hiệu Mỹ bị rơi trong khi người dẫn chuyện miêu tả những phi công Mỹ là “những tên giặc trời”. Quần áo bay của đại tá Norman C. Gaddis được trưng cùng với quần áo bay của hai phi công ưu tú Bắc Việt nam, đại uý Nguyễn Văn Cốc và đại uý Nguyễn Văn Bẩy(1). Đại tá Gaddis, trợ lý phó tư lệnh về hành quân của phi đoàn máy bay chiến thuật số 12 tại vịnh Cam Ranh, bị bắn rơi gần Hà Nội trên F-4 bởi MiG-17 ngày 12-5-1967; của phi đoàn máy bay chiến thuật số 12 không hành quân trong gói mục tiêu 6, nhưng Gaddis được Đà Nẵng mời bay theo. Mặc dù sự tuyên truyền về tù binh Mỹ có thể vụng về, Bắc Việt sử dụng Wilfred Burchett, một nhà báo cộng sản Úc, người đã reo rắc sự tuyên truyền của Trung Quốc về chiến tranh vi trùng trong chiến tranh Triều Tiên. Sau cuộc chiến tranh ấy, Burchett đã đến sống ở Hà nội hai năm trước khi sang cư trú ở Moscow. Trong cuộc chiến tranh Việt nam, ông trở lại sống ở Phnom Penh và sách những bài báo tấn công Hoa Kỳ và ca ngợi Bắc Việt Nam. Tháng 3-1966 ông tiến hành một cuộc phỏng vấn quay phim ở Hà nội với thiếu tá Guarino, người kiên cường bênh vực chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á. Khi cuộc phỏng vấn được phát trên truyền hình Mỹ, đa số người xem (kể cả gia đình Guarinoy) không thể đánh giá đúng một cách đày đủ sự can đảm của buổi trình diễn tù binh. Họ có thể chỉ tự hỏi rằng Bắc Việt cho phép một cuộc trình diễn tự do như thế. Trước mùa xuân 1967 Bắc Việt chuẩn bị bước quảng cáo lớn sự đối xử “khoan dung” của họ đối với tù binh Mỹ theo cách có thể thuyết phục công chúng Mỹ và chia rẽ những tù binh. Sự tuyên truyền phát đi hình ảnh những tù binh nói qua loa tuyên bố những tù binh tỏ ra ăn năn có thể được thả về nước sớm - trước khi kết thúc cuộc chiến tranh. Stockdale gọi màn diễn này là “chương trình thả những tên phá hoại” và những sĩ quan đầu ngành phản đối nó với chính sách là tất cả sẽ trở về nước cùng với nhau. Thiếu những người tình nguyện, những ứng cử viên đầu tiên cho đợt thả sớm là một tá tù binh tại trại “Zoo”, những người này dưới sự cai quản của một sĩ quan Cuba mà họ gọi là “Fidel”. Sự xuất hiện sĩ quan Cuba là sự tra tấn những tù binh đến khi họ bị khuất phục đến mức họ sẽ làm bất cứ cái gì - thậm chí bày tỏ lòng biết ơn đã thả sớm và không tiết lộ việc họ bị tra tấn. Bắc Việt chưa bao giờ đồng ý rằng đây là loại tù binh mà họ sáng suốt thả về nước sớm. Kinh nghiệm của Fidel cuối cùng đã kết thúc khi ông chạm trán với hai tù binh chống đối đặc biệt. Thiếu tá Kasler (vẫn còn bị nhiễm trùng nặng vết thương ở chân khi ông nhảy dù ra khỏi máy bay hai năm trước đó) và đại uý Earl G. Cobeil chịu đựng những trận đòn nhiều ngày. Cobeil mất trí nhớ, bỏ ăn và chết. Trong khi Ban quản trị nhà tù Hà nội phân loại tù binh Mỹ để tìm người thả ra, thì Việt Cộng thả ba lính Mỹ bị bắt tại Nam Việt nam. Họ được đưa đến Phnom Penh, nơi họ được trao cho nhà hoạt động chống chiến tranh, Thomas E. Hayden. Là một người sáng lập ra tổ chức lớn sinh viên cánh tả ở Hoa Kỳ, Những sinh viên vì một xã hội dân chủ, Hayden có chuyến thăm Hà nội lần thứ hai. Trong chuyến đi thăm đầu tiên năm 1965 ông đến với tư cách một người bạn trẻ của hai nhà sử học, Herbert Aptheker (một người cộng sản) và Staughton Lynd (giáo sư đạo Quaker tại Đại học Yale). Mùa thu 1967, Hayden dẫn đầu một nhóm những nhà hoạt động trẻ, bao gồm Rennard C. Davis (người tham gia cùng Hayden những năm sau này tổ chức những cuộc biểu tình tại Công ước dân tộc dân chủ ở Chicago). Đăng cai nhiều khách tham quan như thế, Bắc Việt đưa nhóm Hayden tới xem một trò hết sức hấp dẫn: những quả bom chưa nổ và tù binh Mỹ. Những nhà hoạt động tranh cãi với nhau rằng có tin được không khi một tù binh không những nói rằng anh ta được được đối xử tốt mà anh ta còn phản đối chiến tranh. Họ giục Bắc Việt nam thả một số tù binh những một bức tiến trong thương lượng, và Hayden đồng ý hộ tống tống từ Phnom Penh đến New York ba lính Mỹ bị bắt tại Nam Việt nam. Ba tháng sau cuộc tổng tiến công Tết 1968, Hà Nội thả ba phi công Mỹ bị bắn rơi ở Bắc Việt nam. Lần này Phong trào hoà bình Mỹ cử Cha Daniel Berrigan và giáo sư Howard Zinn (Đại học Boston) hộ tống ba người này. Berrigan và anh trai của ông là Philip đã thuyết phục nhiều thanh niên đốt thẻ quân dịch; hai linh mục này từng đến nhà tù để phá huỷ những điểm ghi danh quân dịch. Tại một cuộc họp báo ở Hà nội, Berrigan lên án Mỹ ném bom vào phụ nữ, trẻ con, trường học, bệnh viện và nhà thờ. Trong khi ba phi công tuyên bố một cách miễn cưỡng cám ơn Bắc Việt đối xử nhân đạo và thả ra, thì người ít tuổi nhất (Ens. David P. Matheny) được Bắc Việt chỉ định ra nói chuyện với báo chí. Chỉ có một cách duy nhất để người Mỹ có thể đến và đi khỏi Hà Nội một cách êm ả bằng chuyến bay hàng tuần của máy bay của Uỷ ban kiểm soát quốc tế từ Vientiane, Lào. Berrigan nhận nhiệm vụ tới Vientiane, nơi ông có kế hoạch chuyển họ sang một chuyến bay thương mại. Nhưng đại sứ William H. Sullivan gặp máy bay của Uỷ ban kiểm soát quốc tế khi nó hạ cánh và giải thích cho trung tá không quân Norris M. Overly (tù binh cao tuổi hơn vừa được thả) rằng Nhà Trắng muốn về nước bằng máy bay quân sự, họ đồng ý với ý kiến của đại sứ bất chấp sự phản đối kịch liệt từ Berrigan và Zinn. Thiện chí của Overly, Matheny, và đại uý Jon D. Black chấp nhận được thả sớm làm phẫn nộ những tù binh đồng nghiệp, nhưng Washington háo hức có được tin tức tình báo mà họ mang theo. Mặc dù Bắc Việt đã cẩn thận chọn lựa những phi công mới bị bắt và giam họ dưới điều kiện tương đối nhẹ nhàng tại trại Plantation, nhưng ba phi công này có khả năng truyền đạt thông tin hữu ích. Nhờ sự xuất sắc liên lạc thông tin trong tù, họ có thể biết tên nhiều tù binh họ chưa từng gặp và thuật lại những thí dụ về sự tra tấn họ chưa từng được thử nghiệm. Matheny đã nhớ hơn 70 tên và nói rằng bản thân ông từng chịu đựng sự tra tấn bằng dây thừng. Overly ở gần 5 tháng trong tù chăm sóc hai bạn tù bị thương nặng, thiếu tá John S. McCain III và thiếu tá George E. (“Bud”) Day. McCain là con trai đô đốc, người không lâu trở thành tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, và Bắc Việt muốn Overly truyền đạt bức thông điệp rằng McCain (bị gãy tay và vai khi nhảy dù khỏi A-4 của mình) đang được chăm sóc thuốc men tốt. Overly đã báo cáo rằng McCain tin những bác sỹ giải phẫu được những người Việt nam khác kính trọng. Một mặt, McCain bị đánh và không được chăm sóc thuốc men cho tới khi ông đồng ý khai báo và các giám thị của ông phát hiện được nhân dạng của cha ông. Khi McCain được đưa vào buồng giam Overly, Overly đang chú ý chăm sóc một bạn tù khác, thiếu tá Day, mặc dù bị gẫy một cánh tay và bị thương ở cổ đã vượt ngục, chạy thoát đến gần khu phi quân sự. Khi vượt qua rừng rậm suốt hai tuần lễ, Day bị thương bởi bom Mỹ hoặc rocket và đạn của Việt Cộng. Ông tới được Nam Việt nam trước khi bị bắt lại và bị tra tấn khủng khiếp làm gẫy cổ tay. Sau chiến tranh và hơn 5 năm ở tù, Day cũng trở về nước và Huân chương Danh dự. Vì lo ngại trì trệ thương lượng và hy vọng rằng nhiều tù binh hơn được thả, chính quyền Johnson chọn cách giữ im lặng không nói chứng cớ tra tấn. Chứng cớ đó không bị giới hạn với lời thề của những tù binh được thả. Nguồn tin tình báo khác soi sáng những thầm kín tàn nhẫn của tình trạng khó xử của tù binh. Thay vì công khai tố giác, tuy thế, chính quyền Johnson cố gắng bảo vệ nguồn tin tình báo. Việc Hà nội thả tù binh Mỹ theo định kỳ bị ngừng ba năm sau khi chính quyền Nixon cho phép tù binh trở về nước kể chuyện công khai về sự tra tấn. Trước đó chín tù binh (ba nhóm ba người) được Hà Nội thả. Nhóm thứ hai và thứ ba đi máy bay thương mại từ Lào về New York vì nỗi khiếp sợ làm tổn thương cơ hội thả sau này do làm bực tức Hà Nội và những nhà hoạt động chống chiến tranh. Nhóm thứ hai có thiếu tá James F. Low, một trong ba phi công ưu tú trong chiến tranh Triều Tiên bị tù ở Hà Nội. Hai phi công ưu tú, đại tá Risner và thiếu tá Kasler, lãnh đạo tù binh chống lại những giám thị. Mặc dù Low bị tra tấn trước tiên, ông cẩn thận tham khảo kinh nghiệm “hình phạt” và che giấu sự thật ông từng là một phi công ưu tú. Bắc Việt đã đọc về Risner và Kasler trên báo Mỹ, nhưng họ không biết về những chiến công của Low mãi tới lúc ông được thả vào tháng 8-1968. Nhóm thứ ba gồm ba tù binh không được Hà nội thả cho tới tháng 8-1969. Vì những chiến dịch không kích Bắc Việt Nam bị ngừng năm 1968, nhóm thứ ba này bị giam cầm lâu hơn do với những người trước đó. Họ biết nhiều về cuộc sống trong tù ở Hà nội, và một trong số họ, hoa tiêu tập sự của hải quân Douglas B. Hegdahl, trở về nước với sự đồng ý của ban lãnh đạo tù binh. Hegdahl là một trường hợp đặc biệt ở nhiều khía cạnh. Ông không phải là phi công - ông bị rơi khỏi tầu thuỷ vào mùa xuân 1967. Thoạt đầu, Bắc Việt nghiêng về nhìn anh ta là thằng nhóc đần độn hơn là phi công gây tội ác chiến tranh. Hegdahl đủ khôn ngoan đóng vai một kẻ đần độn. Hegdahl và hai sĩ quan trong nhóm thứ ba nhớ hơn ba trăm tên tù binh. Cộng với thông tin kiểu này, ba người này cũng mang về câu hỏi sự hướng dẫn chính thức trong việc đúng mức chấp nhận được thả sớm. Qua dấu hiệu được thu xếp trước, chính phủ Mỹ sẽ nói cho tù binh cái gì trong 4 chính sách mà họ sẽ làm theo: không thả sớm; hoặc chỉ thả sớm những tù binh ốm đau và bị thương; hoặc chỉ thả sớm những tù binh ốm đau, bị thương và bị giam lâu; hoặc bất cứ ai chấp nhận được thả sớm. Bộ máy quan chức giữ lấy vấn đề này suốt nhiều tháng. Mặc dù chống lại nỗ lực đưa cho tù binh sự hướng dẫn, không quân Mỹ đồng ý với hải quân rằng sự lựa chọn thứ tư là thích hợp hơn với những người khác. Sự thích hợp hơn của bộ binh đối với sự lựa chọn thứ ba bị gạt ra bên sự thoả hiệp san cùng: “Mỹ chấp thuận mọi sự thả tù binh xứng đáng và mong muốn những tù binh ốm đau, bị thương và bị giam lâu được thả trước tiên”. ______________________
(1) Theo thống kê, cuối chiến tranh Nguyễn Văn Cốc và là phi công ưu tú nhất Bắc Việt nam đã đầu với chín chiến công. Nguyễn Văn Bẩy 7 chiến công hoặc Nguyễn Hồng Nhị (tám), Mai Văn Cương (tám), Phạm Thanh Ngân (tám), và Đặng Ngọc Ngữ (bảy). Có 10 phi công ưu tú khác của Bắc Việt nam, tổng cộng cả thảy là 16 người. Chỉ hai phi công Mỹ và ba sĩ quan hệ thống vũ khí nhận được danh hiệu phi công ưu tú trong cuộc chiến tranh Việt nam, tất cả vào năm 1972; xem chương 9. Trong khi cả hai phi công F-4 (chính và phụ) mỗi người nhận tròn một điểm cho chiến công của họ, một số phi công MiG cũng được tính điểm theo cách tính này. Thêm nữa, khi một máy bay Mỹ bị bắn rơi, việc tính điểm đôi khi kéo theo cùng một lúc cho các máy bay MiG và cao xạ mặt đất. Phi công MiG cũng nhận điểm khi bắn rơi máy bay trinh sát không người lái. Xem Istvan Toperczer, Chiến tranh trên không trên bầu trời Bắc Việt nam: The Vietnamese People’s Không lực (Carrollton, Texas, 1998).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|