9. F100 “Alvaro de Bazan”
Tàu đầu tiên trong số 4 tàu khu trục thuộc dòng F100 được khởi công tại Ferrol vào tháng 9 năm 1999, được hạ thủy đầu năm 2001, các công đoạn hoàn thiện nốt đã thực hiện trong năm 2002. Ba tàu khu trục còn lại sẽ gia nhập biên chế trong thời gian giữa những năm 2003 và 2006.
Chương trình đóng tàu này được thực hiện cùng thời điểm với chương trình đóng tàu khu trục lớp “De Zeven Provinsi” của Hà Lan và Mẫu 214 của Đức, vì thế giữa các quốc gia này có sự hợp tác mang tính quy mô. Tuy nhiên, độ tin cậy về những thiết kế chung cho các toàn bộ con tàu trở nên không thành sự thực, vì thế, mỗi nước đã phát triển công nghệ đóng tàu theo hướng riêng, mặc dù các yêu tố cấu thành của các tàu dựa trên những cơ sở chung. Sau đó, đánh dấu quyết định của người Tây Ban Nha lắp lên những tàu khu trục của họ hệ thống chiến đấu “Egida” và đài ra đa định vị đa chức năng AN/SPY-1D thay thế cho hệ thống APAR của Châu Âu là nguyên nhân chính dẫn đến sự đổ vỡ trong quá trình đóng tàu chung. Tây Ban Nha trở thành quốc gia thứ 2, sau Nhật Bản tiệp nhận hệ thống “Egida”. Để có thể bố trí được hệ thống này lên các tàu của Tây Ban Nha, thượng tần trên tàu được yêu cầu thiết kế lại, bởi vì các tàu khu trục trong dòng F100 rất nhỏ để trang bị các thiết bị tương ứng. Thiết bị phóng đứng Mk.41 VLS, được sử dụng cho tổ hợp tên lửa phòng không “Standart” SM-2MR và tên lửa điều khiển “Sea Sparoww”, được lắp trên các tàu khu trục của Tây Ban Nha, Hà Lan và Đức. Còn phiên bản hiện đại “Standart” Block III có tầm hoạt động 150km.
Tàu đầu tiên (F101) nhận tên gọi “Alvaro de Bazan”, tàu thứ 2 (F102) – “Roze De Loria”, các tàu còn lại – “Blas de Lezo” (F103) và “Mendez Nunes” (F104). Các tàu khu trục này được tiếp nhận vào Hải quân Tây Ban Nha và sẽ thay thế cho 5 tàu chiến lớp “Balear”, được đóng theo thiết kế của tàu chiến Mỹ lớp “Noks”.
Các thông số cơ bản:Phân loại: tàu khu trục mang tên lửa điều khiển
Lớp tàu: F100
Lượng choán nước: 5800 tấn (đầy đủ)
Chiều dài: 146,7m
Chiều rộng: 17,5m
Độ mớn nước: 4,9m
Thiết bị năng lượng: hỗn hợp diezen – tuabin khí, 2 trục với bước chân vịt thay đổi; 2 thiết bị tuabin khí LM 2500 47 328 sức ngựa; 2 thiết bị diezen – tuabin khí “Bazan”/”Caterpillar” 12 240 sức ngựa
Tốc độ và tầm hoạt động: 229 người
Trang bị: 2x4 thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu Boeing “Harpoon”; 1 thiết bị phóng đứng Mk.41 cho tổ hợp tên lửa phòng không “Standart” (48 quả) SM-2MR và tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww”; 1 thiết bị pháo 127mm Mk.45; 1 thiết bị pháo 20mm “Meroka”; 2 thiết bị pháo 20mm “Erlicon”; 2x2 thiết bị ngư lôi 324mm; ngư lôi tên lửa Mk.46, bẫy lai SLQ-25A
Trang thiết bị điện tử: SPY-1D/F – đài ra đa định vị đa chức năng với ăng ten mạng pha phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; SPS-67 (RAN12S) – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; Mk.99 – đài ra đa định vị điều khiển bắn; DE1160LF – đài thủy âm dò tìm và điều khiển vũ khí; ATAS – đài thủy âm lai chủ động (không trang bị trên toàn bộ các tàu)
Thiết bị bay: 1 trực thăng SH-70L “Sea Hawk”.
