Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:29:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu Chiến Hiện Đại - nhà xuất bản Arsenal - 2005  (Đọc 363278 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #560 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 07:03:06 pm »

Tàu đổ bộ lớp Mistral

(Tham khảo từ các báo mạng)

Các tàu thuộc lớp Mistral là loại tàu đổ bộ tấn công mới của hải quân Pháp, cũng còn gọi là tàu sân bay trực thăng. Đây là loại tàu đổ bộ tấn công, chỉ huy và cơ động lực lượng chớp nhoáng mới của Hải quân Pháp. Chúng sẽ được dùng làm tàu chỉ huy, đổ bộ tấn công, hỗ trợ hậu cần, di tản nhân đạo, bệnh viện dã chiến và thực hiện các sứ mệnh tác chiến hải quân khác.


Tàu đổ bộ lớp Mistral (L9013) là sản phẩm do hai tập đoàn sản xuất vũ khí Thales và Chantiers de l'Atlantique hợp tác thiết kế chế tạo theo đơn đặt hàng của Hải quân Pháp. Tàu được đóng tại hai nhà máy Arsenal de Brest và Chantiers de Saint-Nazaire. L9013 là chiếc đầu tiên thuộc lớp Mistral chuyên dành cho mục đích đổ bộ. Đây là một trong 4 tàu chiến đại nhất của hải quân Pháp. Với chiều dài 199m, chiều rộng 32m và lượng giãn nước là 21.600 tấn, Mistral là chiến hạm lớn hai của Hải quân Pháp chỉ đứng sau tàu sân bay Charles de Gaule và là tàu đổ bộ lớn nhất trong các tàu cùng loại tại châu Âu hiện nay.

Kết cấu các khoang của tàu

Sân bay trên tàu Mistral

Tàu lớp Mistral có kết cấu khoang đáy khá lớn, được chia làm nhiều khoang, mỗi khoang chứa đều được lắp đặt 1 hoặc 2 thang máy phục vụ việc vận chuyển xe cơ giới và trực thăng. Khoang đầu tiên là boong phóng máy bay. Khoang này có một sân bay rộng khoảng 6.400 m2, được bố trí 6 vị trí cho 6 máy bay trực thăng có thể cất cánh cùng một lúc. Khoang chứa máy bay có thể chứa 16 máy bay trực thăng hạng nặng hoặc 35 máy bay trực thăng hạng nhẹ với các biến thể khác nhau như NH90, Tigre, Puma, Écureuil, Panther….Ngoài ra, tàu còn có khu vực bảo dưỡng và cầu trục.

Máy bay trực thăng trên tàu Mistral

Nếu được trang bị thêm một mô đun dốc nhảy trượt, dài 15 – 20m, Mistral có thể đảm nhiệm vai trò của một chiếc tàu sân bay hạng nhẹ, khi đó tàu có thể đáp ứng được việc bố trí triển khai các máy bay cất hạ cánh thẳng đứng hoặc đường băng ngắn kiểu Harrier và F – 35, tuy nhiên trên tàu không có sự bảo trì dành cho chúng.

Trên tàu được lắp đặt một hệ thống radar DRBN-38A Decca Bridgemaster E250 và một hệ thống quang học hỗ trợ cất, hạ cánh.

Tàu đổ bộ lớp Mistral có khoang chứa chuyên dụng với diện tích 2.650 m2, là nơi chở trang thiết bị phục vụ cho các chiến dịch của hải quân. Nó có thể chở một tiểu đoàn 40 xe tăng hạng nặng Leclerc, hoặc một thiết đội 13 xe tăng hạng nặng Leclerc và 46 xe các loại khác. Các tàu Mistral có thể vận chuyển tới 450 quân, với các chiến dịch ngắn hạn có thể tăng gấp đôi lên 900 quân.

Ở đuôi tàu được thiết kế với một cửa lớn, bên trong khoang đó có thể làm ngập nước trợ giúp hoạt động của tàu đổ bộ đệm khí. Khoang chứa này rộng 885 m2 có thể triển khai được 4 tàu đổ bộ thông thường loại CMT. Các tàu có thể mang 2 đổ bộ đệm khí loại LCAC, tính năng này là để tương thích với Thủy quân lục chiến Mỹ và Hải quân Hoàng gia Anh.

Một tàu đổ bộ đệm khí đang đi vào cửa đuôi tàu Tonnerre

Tàu Mistral mang được 2 tàu đổ bộ đệm không khí LCAC...

...hoặc 4 tàu đổ bộ thông thường loại CMT

Khoang sinh hoạt gồm phòng ở, phòng hội họp dành cho sĩ quan chỉ huy cùng thủy thủ được bố trí ở phía trước tàu. Các khoang của thủy thủ đoàn có thể so sánh được với các khoang hành khách của các tàu du lịch về mức độ thoải mái.

Ngoài ra, trên tàu cũng được trang bị một cơ sở y tế tương đương với một bệnh viện dã chiến cấp sư đoàn hoặc quân đoàn, hoặc bệnh viện đa khoa của một thành phố 250.000 dân, đồng bộ cả nha khoa, chẩn đoán, chuyên gia phẫu thuật và các khả năng y tế, vệ sinh thực phẩm và các khả năng tâm lý học.

Tàu Mistral được trang bị một bệnh viện với 69 giường

Một hệ thống điều khiển y học từ xa dựa trên vệ tinh Syracuse cho phép thực hiện các phẫu thuật chuyên ngành phức tạp.

Bệnh viện có diện tích 900 m2 cung cấp 20 phòng và 69 giường bệnh, trong đó 7 phòng để chăm sóc đặc biệt. Có hai phòng mổ với đầy đủ phòng chụp X quang và siêu âm số, và nó có thể được gắn với một máy quét CT điều khiển từ xa.

Ngoài ra còn có 50 giường bệnh được đặt trong khoang chứa máy bay trực thăng để tăng cường năng lực của bệnh viện trong trường hợp khẩn cấp.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2012, 02:02:16 am gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #561 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 07:08:04 pm »

Sơ đồ thiết kế tàu đổ bộ lớp Mistral


1 – Bệ phóng kép tên lửa phòng không Mistral 2 của hệ thống phòng không tầm gần Simbad; 2 – Súng máy 12,7 mm; 3 – Các đài chỉ huy tàu và điều khiển các hệ thống vũ khí; 4 – Các anten của hệ thống thông tin liên lạc; 5 – Các radar cảnh giới; 6 – Anten của hệ thống điện thoại vệ tinh INMARSAT; 7 – Anten của hệ thống liên lạc vệ tinh Syracuse dựa trên các vệ tinh viễn thông thương mại do Alcatel Space sản xuất, của nhà mạng France Telecom; 8 – Đài chỉ huy lực lượng máy bay; 9 – Anten truyền hình vệ tinh; 10 – Cần cẩu; 11 – Các khu vực thang máy lên boong; 12 – Súng máy 12,7 mm; 13 – Bệ phóng kép tên lửa phòng không Mistral 2 của hệ thống phòng không tầm gần Simbad; 14 – Boong bay: 6 sân đỗ có thể triển khai đồng thời 16 trực thăng; 15 – Bệnh viện: 2 phòng mổ, 1 phòng X-quang, 69 giường; 16 – Trung tâm chỉ huy: 150 vị trí làm việc. Mỗi nhân viên đều có trhể kết nối bộ thiết bị chuyên dụng của mình vào mạng thông tin chỉ huy trên tàu; 17 – Cánh ổn định chống rung lắc; 18 – Hăng-ga trực thăng: chứa được 16 trực thăng; 19 – Hăng-ga binh khí kỹ thuật: bố trí thành 2 tầng, chứa được 70 xe, nhờ có các cầu nghiêng, các xe có thể tự di chuyển giữa các tầng; 20 – Buồng đốc đổ bộ dài 60 m: chứa được 6 xuồng vận tải đổ bộ cao tốc CMT (Chalands de Transport de Matériel) trọng tải 150 tấn hoặc tàu đổ bộ cao tốc 2 thân EDA-R hiện đại hơn. Để bảo đảm tính tương thích trong tác chiến với các hạm đội đồng minh, buồng đốc có thể chứa cả xuồng đệm khí cao tốc LCAC của Mỹ; 21 – Hệ thống động lực có điều khiển Azipod, gồm 1 động cơ điện đặt trong vỏ riêng. Hệ thống này gắn ngoài thân tàu bằng cơ cấu khớp bản lề, có thể quay 360 độ quanh trục đứng. Mistral là tàu chiến đầu tiên trên thế giới được trang bị hệ thống kiểu này. Nó cho phép duy trì vị trí chính xác của tàu khi các trực thăng hạ cánh.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Ba, 2012, 07:21:50 pm gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #562 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 07:42:46 pm »

Trang bị vũ khí

Tàu Mistral được trang bị 2 tổ hợp tên lửa phòng không Simbad

Hệ thống phòng vệ của Mistral gồm hai tổ hợp tên lửa phòng không tầm ngắn MBDA Simbad dùng cho tên lửa Mistral. Tổ hợp này được tích hợp hệ thống ra đa dẫn đường hồng ngoại với tầm hoạt động hơn 6 km cung cấp khả năng phòng thủ trước máy bay và tên lửa hành trình đối hạm, hai tổ hợp pháo phòng không hải quân  Breda-Mauser 30mm được sử dụng tiêu diệt tàu tuần tiễu cỡ nhỏ, phòng không tầm ngắn, máy bay, trợ giúp tấn công các xe thiết giáp hỗ trợ cho lính thủy đổ bộ lên bờ biển và bốn súng máy M2-HB Browning 12,7mm.



Khả năng tác chiến

Sức mạnh của Mistral trong tác chiến thuỷ lục phối hợp nằm ở khả năng đổ quân nhanh với số lượng lớn các xe chiến đấu hạng nặng trên các địa hình bờ biển phức tạp. Đồng thời, các máy bay trực thăng từ Mistral có thể đảm nhiệm những nhiệm vụ phức tạp ở khoảng cách xa hay những hoạt động quân sự nằm sâu trong đất liền. Khả năng tác chiến của Mistral được thể hiện ở hệ thống chỉ huy và thông tin liên lạc.

Hệ thống chỉ huy và thông tin liên lạc

Mistral có thể dùng làm tàu chỉ huy và điều khiển với một trung tâm chỉ huy rộng 850 m2, có thể tiếp nhận 150 nhân viên công tác. Thông tin từ các thiết bị thu nhận của tàu được tập trung vào hệ thống SENIT (Hệ thống thông tin chiến thuật dùng cho Hải quân), một nhánh của Hệ thống dữ liệu chiến thuật hải quân (NTDS) của hải quân Mỹ.

Hệ thống SENIT 9 dùng trên tàu Mistral dựa trên radar 3 chiều đa chức năng MRR3D-NG của hãng Thales, hoạt động trên băng tần C và tích hợp các khả năng IFF (nhận dạng ta, địch). SENIT 9 cũng được liên kết với các định dạng trao đổi dữ liệu của NATO thông qua các thiết bị kết nối.

Trong chế độ giám sát bề mặt, MRR-3D NG có thể phát hiện các mục tiêu tầm thấp và trung bình ở các khoảng cách tới 140km và các mục tiêu ở khoảng cách tới 180 km ở chế độ cảnh giới không gian 3 chiều tầm xa; trong chế độ tự vệ, nó có thể phát hiện và theo dõi mối đe dọa bất kỳ trong vòng bán kính 60km.

Về thông tin liên lạc, tàu Mistral dùng hệ thống vệ tinh Thales Syracuse III, dựa trên các vệ tinh Syracuse 3-A và Syracuse 3-B của Pháp, chúng đảm bảo cung cấp 45% lượng thông tin liên lạc tần số siêu cao của NATO.

Dẫn động

Sự ra đời của tàu đổ bộ lớp Mistral đã đánh dấu bước đột phá về mặt công nghệ trong chế tạo tàu chiến.  Mistral là là tàu hỗ trợ đổ bộ đầu tiên của hải quân Pháp mà toàn bộ hệ thống trên tàu hoạt động hoàn toàn bằng điện và được trang bị 2 bộ dẫn động phương vị điện hình hạt đậu, có khả năng thích ứng với bất kỳ góc độ nào. Công nghệ dẫn động này tạo cho các tàu có khả năng linh hoạt đáng kể, cũng như giải phóng không gian thông thường giành cho máy móc và các trục cánh quạt (chân vịt).

Việc sử dụng các POD là một đột phá mới (thường được dùng trong chế tạo tàu chở khách và tàu thương mại), nhờ nó mà tàu Mistral với vận tốc khá khiêm tốn là 19 hải lý/h vẫn có thể di chuyển dễ dàng trong điều kiện sóng to, gió lớn.

Hệ thống máy phát điện gồm 3 máy 16V32 và một máy 18V200 chạy diesel cung cấp công suất 20.8 MW.

Hai trong số các máy phát điện 16 V32

Thủy thủ đoàn

Thủy thủ đoàn của tàu được biên chế 160 người. Một hành trình trên biển thực hiện nhiệm vụ kèm theo vận chuyển quân và trang bị điển hình mất khoảng 2 đến 3 tuần lễ. Tàu Mistral và Tonnerre mang đủ hàng hóa cho thủy thủ đoàn và 450 quân trong 45 ngày giữa các đợt tiếp tế. Tốc độ tối đa là 19 hải lý/giờ và tầm hoạt động là 11.000 km ở tốc độ 14 hải lý / giờ.

Thông số kỹ thuật

- Chiều dài: 199m
- Chiều rộng: 32m
- Mớn nước: 6.2m
- Trọng tải tối đa: 21,300 tấn
- Tốc độ: 19 hải lý /giờ
- Máy phát điện: 3 máy phát chạy diesel 16 V32 (6,2 MW) + 1 máy phát phụ trợ chạy diesel 18V200 (3 MW)
- Động cơ đẩy: 2 động cơ điện (2 × 7 MW) dẫn động các chân vịt 2x5
- Phạm vi hoạt động: 10.800 km (5.800 hải lý) tại tốc độ 18 hải lý / giờ (33 km / h), 19.800 km (10.700 hải lý) tại 15 hải lý /giờ
- Chuyên chở phương tiện: 4 sà lan đổ quân CTM, 2 tàu đệm không khí (LCAC), 59 xe (bao gồm cả 13 xe tăng Leclerc) hoặc 1 tiểu đoàn 40 xe tăng Leclerc hạng nặng.
- Thủy thủ đoàn: 160
- Chở quân: 450 (có thể lên 900 trong thời gian ngắn)
- Hệ thống thu nhận và xử lý: Radar cảnh giới MRR3D-NG, radar dẫn đường DRBN-38A, 2 hệ thống điều khiển hỏa lực
- Hỏa lực: 2 tổ hợp tên lửa phòng không MBDASimbad, 2 tổ hợp pháo phòng không hải quân Breda-Mauser 30mm, 4 súng máy 12,7mm Browning M2-HB.
- Máy bay: 16 trực thăng hạng nặng hoặc 35 máy bay trực thăng hạng nhẹ; 6 điểm hạ cánh.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Ba, 2012, 11:16:06 pm gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #563 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 11:17:04 pm »

Hoạt động


Hải quân Pháp

- L9013 Mistral : Mistral là tàu đổ bộ đầu tiên thuộc lớp tàu cùng tên và là tàu chiến thứ tư mang tên Mistral trong hải quân Pháp. Mistral được đóng mới năm 2003 tại hai nhà máy Arsenal de Brest và Chantiers de Saint-Nazaire, tàu chạy thử vào năm 2004, năm 2005, chương trình đóng tàu Mistral chính thức hoàn thành và được bàn giao cho hải quân Pháp vào tháng 2 năm 2006. Tháng 3 năm 2006, tàu khởi hành từ Toulon bắt đầu cho chuyến hải trình tầm xa đầu tiên, tàu đi qua Địa Trung Hải, kênh đào Suez và Biển Đỏ đến Djibouti và Ấn Độ, rồi trở về Pháp. Tháng 7 năm 2006, tàu đổ bộ Mistral cùng với các tàu khu trục Jean Bart và Jean de Vienne được điều đến bờ biển Lebanon để hỗ trợ lực lượng quân đội Pháp thực hiện chiến dịch Operation Baliste của hải quân Pháp nhằm di tản các công dân Pháp trong cuộc xung đột giữa quân đội Lebanon và quân đội Israel. Ngày 16 tháng 5 năm 2008, đại sứ Miến Điện tại Liên Hợp Quốc đã cáo buộc Pháp triển khai tàu Mistral tại bờ biển Miến Điện cho các mục đích quân sự, đại sứ Pháp tại Liên Hợp Quốc đã phủ nhận điều này và nói rằng tàu Mistral được dùng để chuyên chở chở 1.500 tấn hàng cứu trợ. Tháng 11 năm 2009, tàu Mistral đã có chuyến thăm hữu nghị đến Xứ sở bạch dương, chuyến đi tới St Petersburg của quân đội Pháp nhằm “phô diễn” tàu đổ bộ hiện đại nhất của mình cho khách hàng tiềm năng – hải quân Nga. Các quan chức quân sự Nga cũng đã có chuyến thăm quan tàu Mistral, thả neo ở Neva, cách bảo tàng Hermitage 1km. Tháng 3 năm 2011, tàu Mistral đã được triển khai đến vùng biển Libya để hỗ trợ hàng chục ngàn người tị nạn Ai Cập chạy trốn bạo lực tại Libya. Cũng tại chiến trường Libya, từ tàu đổ bộ lớp Mistral, một phi đội bay hỗn hợp gồm 20 máy bay trực thăng của lực lượng không quân và không quân lục quân của quân đội Pháp đã tham gia thực hiện các nhiệm vụ tấn công và hỗ trợ lực lượng NTC. Mistral có cảng nhà tại Toulou

Tàu đổ bộ L9013 Mistral neo đậu trên sông Neva, trung tâm St Petersburg

- L9014 Tonnerre : Tonnerre là tàu đổ bộ thứ hai thuộc lớp Mistral của Hải quân Pháp. L9014 là tàu chiến thứ tám mang tên Tonnerre trong hải quân Pháp. Tonnerre được ra mắt vào ngày 26 tháng 7 2005 và được bàn giao cho hải quân Pháp trong tháng 12 năm 2006. Tonnerre của chuyến hải trình đầu tiên từ ngày 10 tháng 4 đến ngày 24 tháng Bảy năm 2007. Trong chuyến hải trình này, Tonnerre đã tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc tại Côte d'Ivoire trong cuộc khủng hoảng quân sự tại Bờ Biển Ngà. Ngày 9 tháng 7, các máy bay trực thăng Gazelle và Cougar của Không quân Pháp đã xuất phát từ tàu L9014 tiến hành các cuộc không kích trong đất liền. Vào đầu năm 2008, Tonnerre đã tham gia thực hiện sứ mệnh nhân đạo tại Vịnh Guinea. Trong quá trình triển khai này, Tonnerre chặn bắt được 5,7 tấn cocaine từ một tàu đánh cá ở Monrovia vào ngày 29 tháng 1 và 3,2 tấn cocaine từ một tàu chở hàng ngoài khơi Conakry. Tháng 5 năm 2011, L9014 đã tham gia chiến dịch Opération Harmattan cùng với tàu HMS Ocean của Anh. Tonnerre có cảng nhà tại Toulon.


- L9015 Dixmude : Dixmude là tàu đổ bộ thứ ba thuộc lớp Mistral và là con tàu thứ ba mang tên Dixmude trong hải quân Pháp. Hợp đồng đóng mới tàu Dixmude cho hải quân Pháp được ký kết vào tháng 4 năm 2009. Dixmude được chuyển giao cho cơ quan mua sắm quốc phòng Pháp ngày 03 tháng 1 năm 2012, sớm ba tháng so với kế hoạch đề ra. Hiện nay, Dixmude đang được neo đậu tại Toulou.

Tàu khu trục FREMM D650 Aquitaine và tàu đổ bộ L9015 Dixmude

- L9016 : Hiện các thông tin về L9016 vẫn chưa được công bố, hải quân Pháp chỉ cho biết L9016 có thể sẽ được đưa vào hoạt động năm 2020

Hải quân Nga

Ngày 17/6/2011, Hợp đồng đóng 2 tàu đổ bộ lớp Mistral trị giá 1,7 tỷ USD (khoảng 1,2 tỷ̉ Euro), bao gồm cả việc chuyển giao các công nghệ thiết bị nhạy cảm, đã được ký giữa Công ty Rosoboronexport của Nga và  công ty lắp đóng tàu chiến DCNS của Pháp bên lề Diễn đàn kinh tế Saint Petersbrug, diễn đàn kinh tế lớp nhất của Nga được tổ chức hàng năm. Lễ ký kết diễn ra dưới sự chứng kiến của Tổng thống Nga Dmitry Medvedev. Chiếc tàu đầu tiên sẽ được Pháp chuyển cho Nga trong năm 2014 và chiếc tiếp theo vào năm 2015. Theo hãng thông tấn RIA, 2 chiếc tàu đầu tiên sẽ được đóng ở cảng STX,  Saint-Nazaire (Pháp).  Thương vụ này là kết quả của 3 năm đàm phán song nó đã gây ra nhiều tranh cãi, cả trong và ngoài nước Nga. Ở trong nước, những lời chỉ trích tập trung vào mức chi phí cao đáng nghi ngờ. Một số nhà bình luận của cho rằng các dự án, vận động hành lang cá nhân của Tổng thống Nga Dmitry Medvedev chỉ vì mục tiêu chính trị chứ không thực sự nhằm xây dựng hệ thống quốc phòng quốc gia. Thương vụ trên đánh dấu lần đâu tiên một vụ mua bán vũ khí giữa một thành viên NATO và Nga. Thương vụ này cũng làm dấy lên lo ngại trong các đồng minh của Pháp ở vùng biển Baltic cũng như Mỹ và NATO.

Trong cuộc trả lời báo chí tại St.Petersburg, Tư lệnh Hải quân Nga Đô đốc Vladimir Vystosky khẳng định, Vladivostok và Sevastopol sẽ là hai tên cho hai tàu đổ bộ chở trực thăng Mistral của Hải quân Nga đang đóng tại Pháp. Đây là tên của 2 hải cảng quân sự quan trọng của Nga, một ở vùng Viễn Đông, một ở biển Đen. Đô đốc Hải quân Nga, ông Vladimir Vysotsky cho biết 2 tàu chiến sẽ được trang bị hệ thống vũ khí của Nga. Hai chiếc tàu Mistral đầu tiên sẽ được giao cho Hạm đội Thái Bình Dương – Hạm đội đang được phát triển thành lực lượng mạnh nhất của Hải quân Nga và cũng là bộ phận quan trọng của Bộ tư lệnh Chiến dịch Chiến lược Miền Đông thành lập năm 2010. Tàu Mistral sẽ hoạt động như một tàu dẫn dường cho các tàu thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, đồng thời kiểm soát hoạt động của các tàu nổi, tàu ngầm, phòng thủ ven biển từ Vladivostok đến Chukotka. Trong thời gian qua, các nhà lãnh đạo Nga đã đưa ra thông tin chi tiết về việc triển khai chiến thuật và nhiệm vụ cụ thể của các tàu Mistral. Không có gì bất ngờ khi những chiếc tàu này sẽ bảo vệ quần đảo Nam Kuril đang tranh chấp với Nhật Bản. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ tốt quần đảo Kuril, tàu Mistral còn bảo vệ các cơ sở hạ tầng dầu khí, tuần tra các tuyến đường thương mại, phòng chống các hoạt động cướp biển và khủng bố, tìm kiếm cứu nạn ở những khu vực biển tiềm ẩn nguy cơ núi lửa phun trào và sóng thần. Triển khai tàu Mistral ở Thái Bình Dương còn nhằm ngăn chặn Trung Quốc. Kể từ thời Gorbachev, Nga đã cẩn trọng tránh không nhắc tới Trung Quốc như một kẻ thù quân sự tiềm năng. Tuy nhiên, vẫn có một ngoại lệ hiếm hoi.

Dự kiến, tàu Mistral sẽ được lắp ráp tại Brest với khoảng 20 - 40% các bộ phận được sản xuất bởi các nhà thầu Nga. Theo Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga chịu trách nhiệm về vũ khí, trong những năm tới hệ thống thông tin chiến đấu SENIT-9 mới là nhu cầu cần thiết chứ không phải là khả năng chiến đấu. Trích dẫn từ nhật báo kinh tế Vedomosti, Pháp đã đồng ý chuyển cho Nga công nghệ liên quan đến hệ thống thông tin chiến thuật hải quân SENIT-9. Cũng nằm trong nội dung thỏa thuận mua bán giữa Nga và Pháp lần này Moscow đã có giấy phép xây dựng 2 tàu nội địa tương tự trong tương lai. Hiện nay, Nga cũng đang tiến hành những thử nghiệm đầu tiên của trực thăng Ka-52K. Bộ Quốc phòng Nga đã đưa ra yêu cầu về kỹ, chiến thuật và tuổi thọ của động cơ phải tăng lên đến 5000 giờ. Dự kiến, chiếc tàu Mistral đầu tiên đưa vào phục vụ trong Hải quân Nga vào năm 2014 sẽ được trang bị máy bay trực thăng Ka-52K. Theo Giám đốc điều hành chi nhánh tổng công ty Máy bay trực thăng của Nga, công ty cổ phần Progress, ông Yury Denisenko cho biết: "Trực thăng Ka-52K sẽ được sản xuất tại nhà máy Arsenyev ở Primorsky Krai, và công ty hiện đã đầu tư hơn 3 tỷ rúp để hiện đại hóa năng lực và hơn 6 tỷ rúp cho kế hoạch đầu tư trong tương lai gần". Ngoài ra, ông Yuri Denisenko cho biết thêm, phiên bản Ka-52K sẽ được làm theo kiểu cánh gấp và sử dụng vật liệu composite.

Trực thăng tiến công K-52 hiện đại nhất của Nga.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2012, 01:10:37 am gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #564 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2012, 04:41:25 am »

Tàu khu trục lớp Sejong

(Tham khảo từ naval-technology.com và các báo mạng)


Sejong Đại đế là lớp tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển đang được phát triển theo chương trình KDX (Korean Destroyer Experimental – Khu trục hạm hạng nặng thử nghiệm của Hàn Quốc) của Hải quân Hàn Quốc (ROKN). Sejong Đại đế là lớp tàu hiện đại bậc nhất trong lực lượng tàu mặt nước của Hải quân Hàn Quốc. Sự xuất hiện tàu khu trục lớp Sejong của Hàn Quốc báo hiệu hải quân Hàn Quốc bắt đầu tiến ra đại dương, có ý nghĩa sâu rộng đối với Hàn Quốc.

Quá trình nghiên cứu, chế tạo được thực hiện bởi Hyundai Heavy Industries và Daewoo Shipbuilding & Marine Engineering. Toàn bộ dự án đóng tàu này có chí phí lên đến 1 nghìn tỉ won (1,07 tỉ USD). Thân tàu được đóng tại nhà máy đóng tàu của Hyundai Heavy Industries ở thành phố cảng Ulsan, cách thủ đô Seoul 415 km (257 dặm) về phía đông nam. Lớp tàu khu trục này còn được gọi là KDX-III.

Tàu đầu tiên của lớp tàu này mang tên Sejong Đại đế (DDG 991) đã được ra mắt ra ngày 25 tháng 5 năm 2007, được đỡ đầu bởi cựu Đệ nhất phu nhân Hàn Quốc Kwon Yang-sook. Sự kiện này đánh dấu Hàn Quốc trở thành nước thứ 5 sở hữu tàu khu trục Aegis kế tiếp sau Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nga và Na Uy. Tàu được đưa vào hoạt động tháng 12 năm 2008. Tàu khu trục thứ hai, Yulgok Yi I (DDG 992), đã được ra mắt vào tháng 11 năm 2008 và được hạ thủy trong tháng 9 năm 2010.

Hai tàu này được ROKN đưa vào biên chế trong tháng 6 năm 2011. Tàu thứ ba của lớp tàu này, Seoae Ryu Seong-ryong (DDG 993), đã được ra mắt tháng 3 năm 2011. Dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động trong năm 2012.

Thiết kế

Tàu được chế tạo toàn bộ bằng thép với khả năng tàng hình nhẹ, ở lớp vỏ tàu có thêm lớp giáp kevlar nặng tới 70 tấn. Thân tàu được thiết kế đảm bảo khả năng giảm tín hiệu hồng ngoại đồng thời giảm diện tích phản xạ radar. Ngoài ra, tàu khu trục lớp Sejong còn được đánh giá là có khả năng sống sót cao, bảo vệ thủy thủ đoàn trước cuộc tấn công sinh – hóa học. Xét về mặt kết cấu, ngoài phần boong sau dài hơn, tàu khu trục lớp Sejong của Hải quân Hàn Quốc khá giống với lớp tàu Arleign Burke của Mỹ. Tàu khu trục KDX-III là lớp tàu khu trục lớn nhất được trang bị hệ thống vũ khí Aegis.

Tàu khu trục lớp Arleign Burke của Hải quân Mỹ

Tàu khu trục lớp Sejong lớn hơn đáng kể hơn so với các tàu thuộc chương trình KDX-II, tàu có chiều dài là 166m, chiều rộng là 21m và mớn nước cao 6m, tàu có lượng choán nước tiêu chuẩn là 7.600 tấn, khi được trang bị đềy đủ có thể lên đến 11.000 tấn. Nếu xét theo quy định của NATO thì tàu Sejong có thể được xếp vào loại tàu tuần dương mang tên lửa có điều khiển.
 
Thủy thủ đoàn của tàu có khoảng 300 quân nhân.

Nhiệm vụ

Tàu khu trục lớp Sejong của Hải quân Hàn Quốc được sử dụng để làm nhiệm vụ phòng không, săn ngầm và chống tàu chiến mặt nước của đối phương.  Nó cũng được thiết kế khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo chiến thuật, Hải quân Hàn Quốc cho biết họ xem người hàng xóm CHDCND Triều Tiên - nước đang sở hữu hàng trăm tên lửa đạn đạo, là mối đe doạ an ninh lớn đối với Hàn Quốc. Tàu khu trục lớp Sejong còn là tàu chiến đa năng, được thiết kế để thực hiện nhiều nhiệm vụ thông thường khác, như đảm bảo an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu hộ, hộ tống, đổ bộ và vận tải…

Hệ thống chiến đấu Aegis

Tàu khu trục KDX-III được trang bị với hệ thống chiến đấu Aegis do Lockheed Martin phát triển như trên một số tàu chiến của Mỹ. Điều  này mở ra khả năng tham gia hệ thống phòng thủ tên lửa chung với Mỹ tại châu Á.. Hàn Quốc đã ký kết một hợp đồng trị giá khoảng 40,6 triệu USD với Tập đoàn Lockheed Martin của Mỹ cho việc đặt mua hệ thống Aegis để trang bị trên tàu khu trục lớp Sejong. Theo hợp đồng đã ký, Lockheed Martin có trách nhiệm chế tạo phần cứng dựa trên cơ sở hệ thống Aegis phiên bản số 7 đang trang bị cho hải quân Mỹ, phần mềm hỗ trợ và lắp đặt, thử nghiệm hệ thống. Quá trình chế tạo hệ thống Aegis cho phía Hàn Quốc được tiến hành tại nhà máy của Hyundai Heavy Industries tại Ulsan (Hàn Quốc), chi nhánh của Lockheed Martin tại Murestaune, bang New Jersey và công ty Kengsberg (Na Uy). Việc Hải quân Hàn Quốc chọn mua hệ thống Aegis từ phía Mỹ là động thái củng cố quan hệ giữa các công ty hai nước trong việc đóng khu trục hạm lớp KDX-3 nói riêng và các dòng chiến hạm khác nói chung.

Sơ đồ cơ bản của hệ thống chiến đấu Aegis.

Aegis là viết tắt của cụm từ Airbonne Early-waring Ground Intergration Segment (Bộ phận hợp nhất thông tin cảnh báo sớm đường không trên mặt đất), được hiểu đơn giản hơn là “lá chắn”, nhằm đối phó với các tình huống chiến đấu khác nhau, trong đó đặc biệt ưu tiên cho tính năng phòng thủ tên lửa đạn đạo liên lục địa BMD.

Hệ thống chiến đấu Aegis là sự tích hợp của nhiều thành phần khác nhau, dựa trên một số hệ thống cảm biến riêng biệt để theo dõi các mối đe dọa khác nhau từ mìn, ngư lôi, tàu ngầm, đến các mục tiêu đường không, tên lửa chống hạm, tên lửa đạn đạo. Hệ thống Aegis bao gồm radar AN/SPY-1D, radar điều khiển hỏa lực AN/SPG-62A, hệ thống chỉ huy – ra quyết định (CDS), … Trong đó, hệ thống radar AN/SPY-1D được xem là trung tâm của hệ thống chiến đấu Aegis, có nhiệm vụ tìm kiếm mục tiêu và dẫn đường cho tên lửa chính của hệ thống Aegis. Đây là một hệ thống radar mạng pha đa chức năng, có khả năng giám sát 3 chiều, theo dõi hàng trăm mục tiêu cùng lúc, cung cấp kênh dẫn hướng pha giữa cho tên lửa đánh chặn SM.

Phòng điều khiển của hệ thống chiến đấu Aegis trên một tàu khu trục lớp Arleign Burke của Hải quân Mỹ

Hệ thống này tích hợp với hệ thống phóng thẳng đứng Mk-41. Radar AN/SPY-1 của hệ thống chiến đấu Aegis sẽ phát hiện các mục tiêu tên lửa đạn đạo, hệ thống chiến đấu Aegis sẽ dựa vào  các thông số cần thiết như, tốc độ của mục tiêu, quỹ đạo bay, nhằm tính toán một giải pháp đánh chặn.

Hệ thống sẽ kích hoạt tên lửa đánh chặn SM-2 để tiêu diệt mục tiêu, tên lửa SM-2 được dẫn đường qua 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu tên lửa sẽ được đưa ra khỏi ống phóng Mk-41 bằng tầng đẩy phụ Mk72. Tên lửa thiết lập các thông số liên lạc với tàu Aegis. Giai đoạn này tên lửa được dẫn hướng bằng quán tính. Giai đoạn thứ 2 tên lửa tách bỏ tầng đẩy phụ Mk72 và kích hoạt động cơ tên lửa nhiên liệu rắn lực đẩy kép Mk104. Giai đoạn này tên lửa được dẫn hướng thông qua radar AN/SPY-1 của tàu phóng. Giai đoạn thứ 3, tên lửa được dẫn bằng radar bán chủ động.

Ngoài ra, tàu khu trục lớp Sejong còn được trang bị radar dẫn đường, hệ thống định vị thủy âm, hệ thống định vị thủy âm mang an-ten kéo tải, hệ thống chống định vị thủy âm. Và hệ thống tác chiến điện tử SONATA SLQ-200K dùng để dò tìm tín hiệu vô tuyến phát từ radar tàu và tên lửa đối phương, đồng thời phát tín hiệu gây nhiễu gây khó khăn cho đối phương trong việc phát hiện và tấn công tàu.

Tháng bảy năm 2010, tàu Sejong Đại đế (DDG 991) đã hoàn thành quá trình thử nghiệm hệ thống chiến đấu ngoài khơi đảo Hawaii.

Radar điều khiển hỏa lực AN/SPG-62A

Hệ thống vũ khí

Tàu khu trục lớp Sejong có đến 128 tên lửa phóng thẳng đứng so với 96 của loại Arleigh Burke - Flight IIA của Hải quân Hoa Kỳ và loại Atago của Hải quân Nhật Bản. KDX-III được trang bị một hệ thống vũ khí hùng mạnh.

Tên lửa hành trình hải đối đất Hyunmoon IIIC


Tàu khu trục lớp Sejong được trang bị 16 tên lửa chống hạm SSM-700K HaeSung (tầm bắn 150 km) và tên lửa hành trình hải đối đất Hyunmoon IIIC (tầm bắn 1.500km) được chứa trong 32 ống phóng thẳng đứng K-VLS, Hyunmoon IIIC thiết kế tương tự tên lửa hành trình đối đất Tomahawk. Tên lửa Hyunmoo-IIIC lắp động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy, tốc độ hành trình cận âm, mang đầu đạn nặng 500kg với sức công phá lớn. Tên lửa được điều khiển bằng hệ thống định vị quán tính (INS) kết hợp định vị toàn cầu (GPS) đem lại độ chính xác cao.

Tàu có khả năng mang theo 80 tên lửa đối không tầm xa SM-2 Block IIIB với 32 ống phóng Mk41 phía trước mũi tàu và 48 ở phía sau đuôi tàu. Tên lửa có tầm bắn từ 74-140km, độ cao bay tiêu diệt mục tiêu 24,4km.

Thiết bị ống phóng thẳng đứng Mk41.

Tổ hợp pháo phòng không tầm cực gần (CIWS) Goolkeeper. Tổ hợp gồm: pháo tự động GAU-8/A 7 nòng cỡ 30mm, radar điều khiển hỏa lực. Goalkeeper có tầm bắn hiệu quả từ 350-2.000m, tốc độ bắn 4.200 viên/phút.

Tổ hợp tên lửa phòng không tầm ngắn RIM-116 “thân quay”. Đạn tên lửa được đặt trong hệ thống ống phóng Mk 144 hoặc Mk 49. RIM-116 có tầm bắn tối đa 9km, lắp đầu đạn nổ phân mảnh. Tùy từng biến thể thì tên lửa được điều khiển bằng: lệnh dẫn đường vô tuyến, đầu dò tầm nhiệt hoặc kết hợp cả hai.

Tổ hợp tên lửa phòng không tầm ngắn RIM-116 “thân quay”.


Pháo chính được trang bị phía trước mũi tàu là một pháo hạm Mk 45 Mod 4 127 mm. Đây là thứ vũ khí rất hữu dụng cho việc chống mục tiêu cỡ nhỏ trên biển, hỗ trợ hỏa lực chiến dịch đổ bộ và thậm chí là cả phòng không tầm thấp. Pháo có thể bắn với tốc độ 16 đến 20 viên một phút trong một phạm vi 24km.

Pháo hạm Mk 45 Mod 4 127 mm

Vũ khí săn ngầm trang bị tên lửa chống ngầm Hong Sahng-uh (Red Shark) chứa trong 16 ống phóng thẳng đứng K-VLS (do Hàn Quốc tự sản xuất) và ngư lôi K745 LW Cheong Sahng-uh (Blue Shark). Khi tới gần mục tiêu, ngư lôi tự tách ra khỏi động cơ phóng và tự tìm tới tiêu diệt mục tiêu.

Máy bay trực thăng

Tàu có sàn đáp và khoang chứa cho 2 trực thăng săn ngầm loại Westland Lynx Mk 99. Westland Lynx là loại trực thăng đa năng của quân đội Anh được thiết kế và sản xuất bởi hãng trực thăng Westland tại một nhà máy của họ ở Yeovil, Anh. Các máy bay trực thăng hiện nay cũng thường chỉ làm việc với tốc độ cao nhất khoảng 270 km / giờ. Mục đích ban đầu của Lynx là sử dụng cho cả dân sự và phục vụ các nhiệm vụ quân sự trong hải quân. Điều này đã dẫn đến những phiên bản khác nhau của Lynx để phù hợp với từng nhiệm vụ trên chiến trường cũng như các hoạt động của hải quân. Lynx lần đầu tiên được đưa vào sử dụng năm 1977, sau đó được sử dụng trong lực lượng không quân của hơn 10 quốc gia khác nhau. Nhiệm vụ chủ yếu của Lynx trên chiến trường là chống thiết giáp, tìm kiếm cứu thương và chống tàu ngầm trong các nhiệm vụ trên biển. Năm 1986, một máy bay Lynx đã lập kỉ lục về tốc độ bay của trực thăng mà đến bây giờ vẫn chưa máy bay nào phá nổi - 400.8 km/h. Tùy vào từng đơn vị phục vụ mà Lynx được trang bị hệ thống vũ khí khác nhau. Trong hải quân, Lynx sẽ có 2 ngư lôi, hoặc 4 tên lửa Sea skua, hoặc 2 bom chống tàu ngầm. Trong các chiến dịch tấn công trên cạn trang bị của Lynx bao gồm: 2 khẩu pháo cỡ đạn 20mm, 2 tên lửa 70mm CRV7 và 8 tên lửa dẫn đường chống tăng TOW. Thông thường thì Lynx sẽ được trang bị các súng máy có 7.62mm ở phiên bản AH.7 và AH.9, 12.7 mm ở các phiên bản HAS.3 và HMA.8.

Trực thăng săn ngầm Lynx Mk99 của Hải quân Hàn Quốc.

Động cơ

Tàu được trang bị thiết bị động năng chính hai van với 4 động cơ tuốc bin khí loại General Electric LM-2500 có tổng công suất 102.000 mã lực cho phép đạt tốc độ 30 hải lý/giờ, tầm hoạt động trên 10.000 km.

Tên của lớp tàu

Ngày 20 tháng 4 năm 2007, Hải quân Hàn Quốc đã thông báo rằng tàu khu trục lớp KDX-III sẽ mang tên là Sejong Đại đế. Sejong Đại đế (1418-1450) là vị vua thứ tư của triều đại Joseon, Hàn Quốc. Thời kỳ này, văn hóa và nghệ thuật phát triển chưa từng thấy trong lịch sử Hàn Quốc. Dưới sự bảo trợ của đức vua Sejong, các học giả của viện hàn lâm hoàng gia đã sáng tạo bảng chữ cái Hàn Quốc, được gọi là Hangeul. Sau đó bảng chữ cái này được gọi là Hunminjeongeum, nghĩa là "hệ thống ngữ âm đúng để dạy dân chúng".

Thông số kỹ thuật

- Tên: Tàu khu trục lớp Sejong
- Xưởng đóng tàu: Hyundai Heavy Industries - Daewoo Shipbuilding and Marine Engineering
- Bắt đầu hoạt động: 2009 (DDG 991) - 2010 (DDG 992)
- Ðang đóng: 2011 (DDG 993)
- Giá cả: 923 triệu USD
- Lượng choán nước chuẩn: 7.600 tấn.
- Lượng choán nước tối đa: 11.000 tấn.
- Chiều dài: 166 m
- Chiều rộng: 21.4 m
- Chiều sâu: 6.25 m
- Động cơ : bốn động cơ General Electric LM2500 100.000 mã lực
- Tốc độ tối đa: 30 hải lý/giờ.
- Tầm hoạt động: 5,500 hải lý
- Thủy thủ đoàn: 300 - 400
- Vũ khí:
       + Vũ khí chống hạm của tàu gồm một pháo hạm Mk 45 127 mm, 16 tên lửa chống hạm SSM-700K HaeSung (tầm bắn 150 km).
       + Vũ khí phòng không gồm tổ hợp tên lửa phòng không tầm ngắn RIM-116 “thân quay”, 80 ống phóng thẳng đứng chứa tên lửa đối không tầm xa SM-2 (tầm bắn 74 – 140km). Và tổ hợp pháo phòng không tầm cực gần (CIWS) Goolkeeper.
       + Vũ khí săn ngầm trang bị rocket chống ngầm Hong Sang Eo chứa trong 16 ống phóng thẳng đứng K-VLS (do Hàn Quốc tự sản xuất).
       + Vũ khí đối đất sử dụng loại tên lửa hành trình hải đối đất Hyunmoon IIIC (tầm bắn 1.500km) được chứa trong 32 ống phóng thẳng đứng K-VLS. Hyunmoon IIIC thiết kế tương tự tên lửa hành trình đối đất Tomahawk.
- Trực thăng: 2 trực thăng chống tàu ngầm loại Westland Lynx Mk 99 của Anh
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Ba, 2012, 09:34:39 pm gửi bởi BOM BI » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM