34. “Oliver Hazard Perry”
Đây là lớp tàu chiến được thiết kế như những tàu hộ vệ tuyến hai, nhưng từ khi các tàu khu trục và tàu chiến cũ bị loại khỏi biên chế, các tàu chiến lớp “Perry” buộc phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau, vì thế, lượng choán nước của chúng lớn hơn 500 tấn so với dự định. Tổng cộng Hải quân Mỹ đã đóng 51 tàu chiến lớp này, ngoài ra, chúng còn được đóng một cách phổ biến ở các quốc gia khác. Trong đó, tại Siettle, 4 tàu chiến lớp “Perry” đã được đóng cho Hải quân Australia, và hai chiếc nữa được các hãng đóng tàu của Australia đặt hàng. Sáu tàu chiến cùng loại do Tây Ban Nha đóng, bảy tàu do Đài Loan sở hữu. Ngoài ra, một vài tàu chiến của Mỹ đã bán cho các nước khác, trong đó: 6 tàu cho Thổ Nhĩ Kỳ; 4 tàu cho Ai Cập; 1 chiếc cho Bahrain và Ba Lan.
Chương trình đóng tàu chiến lớp “Perry” đã kéo dài 14 năm. Sự khởi công tàu đầu tiên thực hiện vào tháng 12 năm 1975, còn tàu cuối cùng “Ingraham” được hoàn thành vào tháng 8 năm 1989. Hiện nay, trong Hải quân Mỹ còn khoảng 35 tàu chiến lớp “Perry”. Ban đầu, việc đóng tàu lớp “Perry” không được đầu tư một cách cẩn thận và điều đó làm ảnh hưởng tới sức sống của các con tàu. Ví dụ rõ ràng nhất – các cuộc đụng độ tại vịnh Péc – xích, liên quan tới các tàu “Strak” (FFG-31) và “Samuel B. Robert” (FFG-58). Tuy nhiên, trong thời gian chiến tranh tại vùng Vịnh, 14 tàu chiến lớp “Perry” đã tham gia, nhấn mạnh vai trò quan trọng của chúng trong các chiến dịch của Mỹ được thực hiện trên biển.
Các tàu chiến lớp “Perry” có hình dạng bên ngoài không bình thường: thượng tầng kích thước đồ sộ, và được kết thúc tại đuôi tàu bởi ống khói hình vuông, và pháo 76mm duy nhất được bố trí giữa tàu. Thiết bị phóng Mk.13 giống nhau bố trí trên mũi tàu và có thể phóng tên lửa chống tàu “Harpoon” hoặc tên lửa phòng không “Standart” SM-1MR. Thiết bị phóng kiểu tiếp đạn có thể bố trí 4 tên lửa chống tàu hoặc 36 tên lửa phòng không có điều khiển. Theo thiết kế ban đầu, dự kiến sẽ có hang ga cho 1 trực thăng, nhưng sau những sự hiện đại hóa, hang ga cơ sở trên tàu có thể bố trí được 2 trực thăng SH-60B “Sea Hawk” hoặc SH-2G “Sea Sprite”.
Các thông số cơ bản:Phân loại: tàu chiến mang tên lửa điều khiển
Lớp tàu: “Oliver Hazard Perry”
Lượng choán nước: 2750 tấn (tiêu chuẩn), đến 4100 tấn (đầy đủ)
Chiều dài: 135,6 m
Chiều rộng: 13,7m
Độ mớn nước: 4,5m
Thiết bị năng lượng: tuabin khí, 1 trục với bước chân vịt thay đổi; 2 thiết bị tuabin khí GE LM 2500 41 000 sức ngựa
Tốc độ và tầm hoạt động: 29 hải lý; 4500 dặm (20 hải lý)
Thủy thủ đoàn: 200 người
Trang bị: Thiết bị phóng Mk.13 Mod.4 cho tổ hợp tên lửa chống tàu Boeing “Harpoon” hoặc tổ hợp tên lửa phòng không “Standart” SM-1MR; 1 thiết bị pháo 76mm “Oto Melara” Mk.75; 1 thiết bị pháo 20mm 6 nòng “Vulcan/Falancs”; 2 thiết bị pháo 25mm và 4 súng máy 12,7mm; 2x3 thiết bị ngư lôi Mk.32; các ngư lôi Mk.46
Trang thiết bị điện tử: SPS-49(V)4 hoặc 5 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không; SPS-55 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; SPG-60/STIR – đài ra đa định vị điều khiển bắn; hàng hải; SQQ-89(V)2 – đài thủy âm tích cực, tìm kiếm và điều khiển vũ khí; SQR-19 – ăng ten lai của đài thủy âm
Thiết bị bay: 2 trực thăng.
