Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:51:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí ẩn của sa mạc  (Đọc 91575 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #80 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2010, 10:24:02 pm »

Gideon Barzilai ít nhất cũng có thể rút được vài điều có ích từ báo cáo về Ngân hàng Winkler do viên sayan chuyển về ngân hàng của đại sứ quán cung cấp. Nó cho ông ta thấy được hướng cần theo.
Ưu tiên số một của ông là nhận diện đâu trong ba phó chủ tịch, Kessler, Gemuetlich, hay Blei, là người quản lý tài khoản thuộc về người Iraq bí mật Jericho.
Con đường nhanh nhất có thể là một cú điện thoại, nhưng xem theo báo cáo, Barzilai chắc chắn không ai trong số họ sẽ chấp nhận nó bất cứ điều gì qua một đường dây điện thoại bình thường.
 Ông chuyển lời yêu cầu của mình đã được mã hoá cao độ từ trạm Mossad đặt ngầm dưới đất dưới Đại sứ quán tại Vienna và nhận được trả lời từ Tel Aviv nhanh hết mức có thể lo được.
Đó là một bức thư, đươc làm giả từ một trong những ngân hàng Anh lâu đời và uy tín bậc nhất, Coutts of The Strand, London, ngân hàng riêng của Nữ hoàng tôn kính. Chữ ký là một bản làm giả hoàn hảo chữ viết tay của một nhân viên cao cấp của Coutts, tại một chi nhánh nước ngoài.
Không có tên người nhận, trên phong bì của thư chỉ bắt đầu đơn giản bằng lời chào "Ngài kính mến."
Văn bản của bức thư đơn giản và đi thẳng vào vấn đề. Một khách hàng quan trong của Coutts có thể sắp tới sẽ thực hiện một chuyển khoản lớn vào tài sản được đánh số của Ngân hàng Winkler - và nêu rõ số ra. Khách hàng của Coutts được báo là họ phải dính vào những lý do kỹ thuật và không thể tránh khỏi, đó có thể là bị hoãn nhiều ngày để chuyển số tiền. Liệu khách hàng của Winkler có thể yêu cầu không đến đúng lúc, Coutts có thể vô cùng biết ơn nếu ông Winkler có thể báo cho họ khách hàng của họ rằng cuộc chuyển khoản đang được thực hiện và có thể đến do một sự chậm trễ mà họ không muốn. Cuối cùng: Coutts rất coi trọng một sự hiểu biết của sự đến an toàn của chuyến hàng của mình.
Barzilai tính rằng vì các ngân hàng thích viễn cảnh tiền sắp được chuyển đến, chí ít là Winkler, nên cái ngân hàng cũ kỹ bảo thủ ở Ballgasse sẽ cho các chủ nhà băng của Hoàng gia Windsor sự dễ mến của một lời phúc đáp - bằng thư. Ông đã nghĩ đúng.
Phong bì của Coutts từ Tel Aviv đến được trạm và được đóng dấu bằng tem Anh, có vẻ như được gửi di từ bưu điện Quảng trường Trafalgar hai hôm trước. Nó được ghi địa chỉ đơn giản đến "Giám đốc, các tài khoản khách hàng nước ngoài, Ngân hàng Winkler" . Dĩ nhiên không có chức vụ đó ở Winkler kể từ khi công việc được chia cho ba người phó.
Phong bì được gửi đi, vào lúc đêm sắp hết, bằng cách tuồn vào hòm thư của ngân hàng ở Vienna. Đội giám sát yarid đã theo dõi ngân hàng một tuần nay, nhận ra và chụp ảnh lại những thói quen hàng ngày, những giờ mở và đóng, sự đến của thư từ, sự đi của các thông tin tại đó. Sự định vị của người nhận sau bàn của cô ta ở hành lang tầng dưới, và vị trí của gác cửa ở cái bàn nhỏ đối diện với cô ta.
Ngân hàng Winkler không ở một toà nhà mới. Ballgasse – và cả khu Franziskanerplatz - nằm ở khu quận cũ ngay ở Singerstrasse. Toà nhà của ngân hàng chắc từng là nơi cư trú cửa một gia đình thương gia giàu có của Vienna, chắc chắn và thịnh vượng, được đóng sau một cánh cửa gỗ nặng nề có những ô canh.
Để đánh giá từ cách bài trí của một ngôi nhà tương tự trên quảng trường mà đội yarid đã giả làm khách hàng của viên kế toán trong đó để do thám; toà nhà chỉ có năm tầng, mỗi tầng sáu phòng. Theo như quan sát của họ, đội yarid nhận ra rằng mỗi tối có một chuyến đưa thư từ ra, ngay trước giờ đóng cửa, đến một hòm thư ở quảng trường. Đó là một thói quen do một nhân viên hay một viên gác cửa thực hiện, rồi sau đó quay về toà nhà để giữ cánh cửa mở trong khi nhân viên đi ra. Cuối cùng anh ta để lại cho người gác đêm trước khi về nhà. Người gác đêm đóng cửa vào, đóng kín cánh cửa gỗ.
Trước khi cái bì thư từ Coutts London được đưa vào cho cánh cửa ngân hàng, chỉ huy đội neviot về kỹ thuật đã kiểm tra hòm thư trên Franziskanerplatz và khịt mũi vì kinh tởm. Hiếm khi có một sự đối đầu như thế. Một người trong đội của anh là một chuyên gia phá khoá đã mở và đóng lại hòm thư trong vòng ba phút. Anh ta đã làm được một chìa khoá chuẩn. Sau khi chỉnh lại một chút, nó đã hoạt động tốt như chìa khoá của người đưa thư.
Theo dõi thêm cho thấy rằng người gác ngân hàng thường xuyên ra lấy thư của ngân hàng khoảng 12, 13 phút sau chuyến đưa thư 6 giờ sáng thường lệ từ hòm thư bởi một xe chở thư của bưu điện.
Ngày mà thư của Coutts đến vào trong hòm thư, đội yarid và người thợ khoá neviot làm việc cùng nhau. Khi người gác ngân hàng quay trở lại ngân hàng theo lối đi sau khi đã nhét thư vào hòm, người phá khoá mở hòm thư ra, 24 lá thư đi ra từ Ngân hàng Winkler nằm ở trên cùng. Mất 30 giây để nhận ra có một cái chuyển đến ông Coutts ở London, để lại những cái còn lại, và khoá hòm thư lại.
Cả năm người của nhóm yarid đã đứng trong quảng trường đề phòng ai đó định can thiệp  "người đưa thư" , có mặc đồng phục, được mua vội tại một cửa hàng đồ cũ, mang một cái mác giả của những bộ đồng phục thật của những người đưa thư của Vienna.
Nhưng những công dân tốt của Vienna không quen với những điệp viên của Trung Đông đến phá vỡ một cái hòm thư. Chỉ có hai người trên quảng trường vào lúc đó, và chẳng ai buồn để ý đến người xuất hiện như là một nhân viên bưu điện đang đi làm công việc hợp pháp của mình. 20 phút sau, người lấy thư thật đến làm việc của mình, nhưng khi đó những người kia dã đi và thay vào đó là những người mới.
Barzilai mở bức trả lời của Winkler cho Coutts và nhận ra rằng đó là một thư ngắn nhưng lịch sự biết ơn, được viết bằng thứ tiếng Anh dễ hiểu, và ký tên Wolfgang Gemuetlich. Vị chỉ huy của đội Mossad giờ đây đã biết chính xác người nào quản lý tài khoản của Jericho. Việc còn lại là bắt chợt hoặc xâm nhập ông ta.
Barzilai không hề biết là những vấn đề của ông mới chỉ bắt đầu.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #81 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2010, 10:26:19 pm »

Đã khá lâu sau khi bóng tối buông xuống khi Mike Martin rời khỏi toà nhà ở Mansour. Anh thấy không lý do gì để làm phiền những người Nga bởi chuyện đi ra bằng cổng chính; có một cái cổng hậu nhỏ hơn nhiều ở tường sau, với một cái khoá hỏng mà anh có chìa khoá. Anh đi xe đạp ra đến ngõ, khoá cổng lại, và bắt đầu đạp xe đi.
Anh biết có thể đây sẽ là một đêm dài. Nhà ngoại giao người Chile tên Moncada đã miêu tả rất chính xác cho các nhân viên Mossad chỉ huy anh khi anh đặt ba cái hòm thư chết dành cho những tin tức từ anh đến Jericho và nơi viết những phấn đánh dấu để báo hiệu cho tay Jericho vô hình rằng một thông điệp đang đợi ông ta. Martin cảm thấy mình không có lựa chọn nào khác ngoài việc sử dụng cả ba cái đó cùng một lúc, với cùng một thông điệp để lại ở mỗi chỗ.
Anh đã viết những thông điệp đó bằng tiếng Arập trên một tờ giấy viết thư mỏng và gập mỗi cái lại thành một gói nhỏ vuông. Ba cái túi được nhét sâu trong túi anh. Những cục phấn viết nằm ở trong túi.
Hộp thư thứ nhất nằm ở nghĩa trang Alwazia, qua sông ở chỗ Risafa. Anh đã biết chỗ này, nhớ đến đã lâu lắm từng nghiên cứu những bức ảnh phóng to ở Riyadh. Tìm thấy viên gạch hổng trong bóng tối thì lại là chuyện khác. Mất mười phút, dò dẫm với đầu ngón tay trong bóng tối của khu nghĩa địa có tường bao bọc, trước khi anh tìm thấy chỗ.
Nhưng đó đúng là nơi Moncada đã nói. Anh hạ viên gạch xuống, tuồn một cái gói nhỏ vào trong đó, và đặt viên gạch trở lại chỗ cũ.
Hòm thư thứ hai là một bức tường cũ và tồi tàn khác, lần này gần thành đổ nát ở Asdhamiya, nơi một cái hố sâu là tất cả những gì còn lại của ngày xưa. Không xa toà thành là khu tôn giáo Aladham, và giữa chúng là một bức tường, cũng cũ và tồi tệ như chính ngôi thành. Martin tìm thấy bức tường và cái cây duy nhất mọc dựa vào đó. Anh với tay ra sau cái cây và đếm mười lần gạch từ trên nóc xuống. Viên gạch thứ mười lung lay như răng bà lão. Chiếc phong bì thứ hai được nhét vào trong đó, và viên gạch cũng về chỗ cũ. Martin kiểm tra để chắc chắn không ai nhìn thấy, nhưng anh thực sự hoàn toàn đơn độc; không ai đến cái nơi hoang vắng này sau khi trời đã tối cả.
Cái thứ ba và cũng là hòm thư cuối cùng nằm ở một nghĩa địa khác, nhưng lần này là nghĩa trang của người Anh, bị bỏ hoang ở Waziraya. gần Đại sứ quán Thổ Nhĩ Kỳ. Cũng như ở Kuwait, đó là một ngôi mộ, nhưng không có một cái gì ở bên trong tấm bia đá; mà bên trong một cái bình đá trét xi măng, ở cuối của một cái lỗ bị bỏ từ lâu ngày.
- Đừng để ý nhé. Martin lẩm bẩm với ngươi chiến binh chết từ lâu lắm của vương quốc bên dưới. Chỉ một chút thôi, anh sẽ ổn thôi mà.
Vì Moncada ở toà nhà Liên Hợp Quốc, xa hơn nhiều dặm về đường sân bay Matar Sadam, anh ta đã khôn ngoan để những dấu phấn gần với những con đường không gian rộng rãi ở Mansour, nơi chúng có thể dễ dàng nhìn thấy từ trên xe ôtô.
Quy tắc là bất kỳ ai - Moncada hay Jericho - nhìn thấy một dấu phấn, thì anh ta có thể nhận ra nó muốn nói đến hòm thư nào. rồi đến đó với một bộ quần áo sẩm màu. Người đánh dấu, qua một ngày hoặc hơn, có thể nhìn thấy nó biến đi và biết được rằng thông tin của mình đã được nhận và (có thể đoán) rằng hòm thư đó và cái bưu kiện đã được an toàn.
Theo cách đó cả hai điệp viên đã liên lạc với nhau trong suốt hai năm mà không hề gặp nhau.
Martin, không giống với Moncada, không có ôtô, nên anh phải đạp xe suốt chặng hành trình. Dấu hiệu đầu tiên của anh, một chữ thập theo hình chữ X, được viết với phấn xanh lên một tảng đá ở tường của một toà nhà bỏ hoang.
Dấu thứ hai được viết bằng phấn trắng, trên một cánh cửa nẹp sắt màu đỏ sẫm của một gara ôtô ở cuối một ngôi nhà ở Yarmuk. Nó mang hình một dấu thập Lorraine. Cái thứ ba bằng phấn đỏ - một hình lưỡi liềm Hồi giáo với một thành ngang qua giữa - được viết lên trên tường của một khu nhà của Liên đoàn Nhà báo Arập, ở lề của quận Mutanabi. Các nhà báo Iraq không được khuyến khích để trở thành những người thực sự tìm kiếm tin tức, và một dấu phấn trên tường của họ có thể hiếm khi tạo ra chú ý.
Martin không thể biết liệu Jericho, mặc dù đã có lời báo trước của Moncada là anh ta có thể trở lại, vân tiếp tục đi kiểm tra trong thành phố, từ cửa xe của mình nhìn ra bên ngoài để xem có các dấu hiệu được viết trên các bức tường không. Tất cả những gì Martin biết được bây giờ là ngày nào cũng đi kiểm tra và chờ đợi.
Vào ngày thứ bảy của tháng Mười một anh nhận thấy dấu phấn màu trắng đã không còn. Liệu có phải người chủ của gara đã xoá dấu phấn trên cửa để làm sạch tấm kim loại đó? Martin đi vòng vòng. Phấn xanh trên cổng toà nhà vẫn còn; phấn đỏ trên tường của các nhà báo cũng vậy.
Đêm đó, anh đi kiểm tra ba hòm thư chết được dành cho các thông tin từ Jericho đến người điều hành ông ta.
Một cái ở đằng sau một viên gạch rỗng ở sau một bức tường đóng vào khu chợ rau quả Kasra cuối phố Saadun. Một mảnh giấy vỏ hành. Hòm thư thứ hai, dưới một hòn đá rỗng của một ngôi nhà đổ nát ở một cái ngõ trong đó nhiều con phố ngoằn nghoèo tạo thành một soukh trên bờ bắc con sông gần cầu Shuhada, cũng cho cùng kết quả. Cái thứ ba và cũng là cuối cùng, dưới một cán cờ rỗng của một cái sân bị bỏ quên cuối phố Abu Nawas, có chứa một phần tư một tờ giấy mỏng. Martin giấu nó dưới áo và đạp về nhà ở Mansour.
Nhờ ánh sáng của cây nến mờ tỏ, anh đọc được chúng. Thông tin giống nhau: Jericho vẫn còn sống và vẫn ổn. Ông ta sẳn sàng tiếp tục làm việc cho phương Tây, và ông ta hiểu rằng người Anh và người Mỹ bây giờ là những người cần thông tin của ông. Nhưng những đe doạ đã tăng lên không thể tưởng tượng, và do đó ông ta muốn được trả cao. Ông ta chờ sự đồng ý về điều đó và một chỉ dẫn xem họ đang cần gì.
Martin đốt cả ba bức thông tin và vứt giấy vào trong lò. Anh đã biết câu trả lời cho cả hai câu hỏi. Langley đã chuẩn bị tỏ ra rộng rãi, thực sự rộng rãi, nếu sản phẩm tốt. Cũng như thông tin cần thiết, Martin đã ghi nhớ danh sách những câu hỏi liên quan đến trạng thái tinh thần Saddam, khái niệm về chiến dịch của ông ta. và những địa điểm trung tâm chỉ huy chính và những điểm sản xuất vũ khí.
Ngay trước bình minh, anh cho Riyadh biết rằng Jericho đã quay trở lại cuộc chơi.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #82 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2010, 10:30:25 pm »

Người mà họ gọi là "kẻ chỉ điểm" bay tới Vienna từ Tel Aviv qua London và Frankfurt, không có ai đón, và đi một chiếc ta xi từ sân bay Schwechat đến khách sạn Hilton, nơi anh ta đã đặt chỗ trước.
Kẻ chỉ điểm rất ngộ nghĩnh và vui vẻ, trên giấy tờ là một luật gia Mỹ đến từ New York. Tiếng Anh giọng Mỹ của anh ta thật trơn tru - không nghi ngờ gì nữa. quả là anh ta đã sống nhiều năm ở Mỹ - và tiếng Đức cũng khá.
Vài giờ sau khi tới Vienna, anh ta đã sử dụng các dịch vụ thư ký của khách sạn Hilton để thảo một bức thư lịch thiệp trên giấy viết thư in sẵn của hãng luật của mình đến một ông Wolfgang Gemuetlich, phó chủ tịch Ngân hàng Winkler.
Trạm cẩn thận kiểm tra bằng điện thoại, thì rõ ràng anh ta là một đối tác uy tín của hầu hết cả hãng luật uy tín của New York. mặc dù anh ta đang đi vắng (điều Mossad đã kiểm tra ở New York) và chắc hẳn không cùng là người khách đến Vienna. Bức thư vừa tán dương vừa tự miêu tả, như cần phải thế. Người viết đại diện một khách hàng rất giàu có và vững vàng đang muốn có những chỗ cất giấu tốt cho tài sản của ông ở châu Âu.
Người khách hàng tự nhấn mạnh, rõ ràng sau khi nghe lời khuyên từ một người bạn, rằng Ngân hàng Winkler đáng đồng tiền bát gạo, và nhất là ngài Gemutlich kính mến. Người viết nhẽ ra đã hẹn gặp từ trước,  nhưng cả khách hàng của anh ta cũng như hãng luật đã đặt lên rất cao tầm quan trọng phải tuyệt đối kín đáo, tránh các đường điện thoại mở và fax để tránh giao thiệp về công việc của khách hàng, cho nên người viết đã chọn cách sang thăm châu Âu và tự mình đến Vienna.
Chương trình của anh ta chỉ cho phép anh ta ở lại Vienna có ba ngày, nhưng nếu ngài Gemuetlich có thể tốt bụng cho anh một cuộc gặp, thì anh ta - người Mỹ, có thể rất vui mừng được đến ngân hàng.
Bức thư được chuyển đi bởi chính tay người Mỹ qua hòm thư của ngân hàng trong đêm, và trưa hôm sau thì người đưa tin của ngân hàng đã đưa câu trả lời tại Sheraton, rằng ngài Gemuetlich rất vui sướng được gặp luật gia người Mỹ vào mười giờ buổi sáng ngày hôm sau đó.
Từ lúc đó trở đi kẻ chỉ điểm bắt đầu hoạt động, mắt anh ta không bỏ sót bất kỳ thứ gì. Anh ta không ghi chép, nhưng không chi tiết nào thoát được khỏi và không gì bị quên hết cả. Người tiếp tân kiểm tra giấy tờ của anh ta, gọi điện lên trên tầng để đảm bảo anh ta được hẹn, và người lục sự đưa anh ta lên - trên suốt con đường dẫn đến cánh cửa gỗ khắc kỷ, và anh ta gõ cửa. Không gì thoát khỏi con mắt nhìn của anh ta.
Theo lời gọi "Vào đi", người lục sự mở cửa và đẩy người Mỹ vào, kéo ra và đóng cửa lại sau anh ta trước khi quay trở lại bàn làm việc của mình đặt ở hành lang.
ông Wolfgang Gemuetlich nhổm lên khỏi bàn, bắt tay, mời khách đến ngồi ở một cái ghế bành đối diện với ông ta, và trở lại chỗ của mình.
Từ "gemuetlich" trong tiếng Đức có nghĩa là "dễ chịu", với một hàm ý tốt tính. Thật không có ai trên đời có cái tên ngược đời thế Cái ông Gemuetlich này gầy tong teo, ở vào độ tuổi 60, trang phục màu ghi. cà vạt màu ghi, với mái tóc mảnh và khuôn mặt cũng mảnh rất ăn nhập. ông dùng rất nhiều gam màu xám. Chẳng có chút gì hài hước trong đôi mắt xám của ông, và nụ cười đón chào của cặp môi mỏng không có ý nghĩa đón chào nào hết cả.
Văn phòng cũng khắc kỷ như người chủ của nó; những bức tường bê tông màu tối, được treo đầy những thứ của ngân hàng chứ không phải tranh, và một cái bàn rộng có khảm trai, mà mặt bàn chẳng bóng tẹo nào cả.
Wolfgang Gemuetlich không phải một chủ nhà băng để đùa được, rõ ràng là. mọi hình thức vui đùa đều là cái gì đô không được con người này ưa chuộng. Ngân hàng là nghề nghiêm túc - hơn thế nữa, đó chính là cuộc sống. Nếu có một điều gì đó mà ngài Gemuetlich chán ngán một cách nghiêm túc. thì đó là tiêu tiền. Tiền là để tiết kiệm, mà tốt nhất là dưới hàng rào sắt của Ngân hàng Winkler. Một vụ rút tiền có thể làm cho ông ta thực sự cảm thấy rất đau đớn, và một vụ chuyển tiền lớn từ tài khoản ở Ngân hàng Winkler đến nơi khác có thể làm ông ta suy sụp suốt cả tuần.
Kẻ chỉ điểm biết anh ta ở đó để ghi chép và báo cáo lại. Nhiệm vụ đầu tiên của anh, giờ đây đã hoàn thành, là nhận diện Gemuetlich cho đội yarid đang ở ngoài phố. Anh cũng tìm kiếm mọi thứ an toàn mà các chi tiết hoạt động của tài khoản Jericho có thể chứa đựng, cũng như các khoá an toàn, chốt cửa, hệ thống báo động - tóm lại, anh ta có mặt ở đó để lo cho một vụ đột nhập thật sự.
Tránh các chi tiết về số lượng khách hàng của mình muốn chuyển đến châu Âu nhưng mập mờ về số lượng lớn kinh khủng của nó, người đến tiếp tục cuộc trò chuyện bằng cách yêu cầu hỏi về mức độ an toàn và kín đáo mà Ngân hàng Winkler có thể bảo đảm. Ngài Gemuetlich rất sung sướng được giải thích rằng các tài khoản có đánh số với Winkler là không thể xâm nhập và kín đáo thì quên đi.
Chỉ một lần trong cuộc nói chuyện họ bị ngắt đứt. Một cửa bên mở ra để nhận vào một người phụ nữ bé nhỏ, mang ba bức thư lên để ký. Gemutlich nhăn trán.
- Ông đã nói là chúng rất quan trọng. thưa ngài Gemutlich. Thế mà... người phụ nữ nói. Liếc nhìn lần thứ hai. cô ta không già như vẻ ngoài - có thể là bốn mươi. Một mái tóc chải hất ra đằng sau, bộ quần áo tối màu, giày đen, và mỏng không gợi lên điều gì.
- Ja, ia, ja... Gemutlich nói, và đưa tay ra nhận thư.
Entschuldigung..., ông ta nói với người khách. Ông ta và người khách đang dùng tiếng Đức, sau khi nhận ra rằng Gemuetlich chỉ có thể nói được một thứ tiếng Anh ngập ngừng. Người khách, tuy nhiên, đứng bật dậy và nhăn nhó với người mới vào.
- Gruss Gott Fraulein..., anh ta nói. Cô ta có vẻ sửng sốt.
Khách của Gemuetlich thường không đứng lên với một thư ký. Tuy nhiên, cử chỉ buộc Gemuetlich phải vuốt họng thì thầm:
- À phải, đây là cô Hardenberg, thư ký riêng của tôi.
Kẻ chỉ điểm ghi nhớ điều đó, khi anh ta ngồi xuống.
Rồi anh ta rút lui, được đảm bảo rằng khách hàng ở New York của anh ta sẽ có được tài khoản tốt nhất của Ngân hàng Winkler, mức phí như nhau cho mỗi lần chuyển tiền vào. Người lục sự được gọi lên từ sảnh chính và xuất hiện ở cửa. Người khách từ biệt và đi theo người đó đi ra.
Cùng với anh ta, anh đến thang máy nhỏ, gắn sắt để đi xuống. Kẻ chỉ điểm hỏi liệu anh ta có thể vào toilet trước khi đi không. Người nhân viên nhăn trán như thể những vận hành cơ thể như thế không được dự tính trước trong Ngân hàng Winkler, nhưng anh ta cũng dừng thang máy lại ở tầng đệm.
Gần các cánh cửa thang máy, anh ghi nhận một cánh cửa gỗ hông ghi biển hiệu, và đi vào đó. Rõ ràng nó được dành cho các nhân viên nam của ngân hàng, một căn phòng ống nhỏ, một bồn rửa tay và ống, và một bồn vệ sinh. Người khách vặn vòi nước để tạo tiếng động và đi kiểm tra nhanh căn phòng. Một cửa sổ có chấn song được đóng kín: chạy ngang qua những chấn song, một hệ thống báo động - có thể vô hiệu hoá, nhưng không dễ. Thông gió bằng quạt tự động Bồn vệ sinh chứa bàn chải, thuốc đánh răng, thuốc bôi, và một máy sấy. Thế thì phải có một đội ngũ nhân viên vệ sinh. Nhưng họ làm việc ở đâu? Đêm hay cuối tuần? Theo kinh nghiệm của mình anh ta đoán ngay cả người dọn dẹp cũng chỉ làm việc trong các văn phòng tư dưới sự giám sát. Rõ là, người lục sự hay người gác đêm có thể dễ dàng loại bỏ, nhưng đó không phải là điểm quan trọng. Lệnh của Kobi Dror rất chính xác: không được bỏ qua bất kỳ đầu mối nào hết.
Khi anh ra khỏi phòng, người nhân viên vẫn ở bên ngoài. Nhìn thấy những bậc thang đá dẫn đến một hành lang khác, kẻ chỉ điểm mỉm cười, vờ dợm bước về phía đó, và đi dọc theo hành lang hơn là đi thang máy một chặng đường gần như thế.
Người nhân viên đi sau anh, đi kèm anh ta đến cầu thang. và đẩy anh ra khỏi cửa. Kẻ chỉ điểm nghe thấy tiếng cửa đóng lại rất to của hệ thống tự đóng sau lưng mình. Nếu người lục sự ở tầng trên, anh ta nghĩ. thì làm thế nào người nữ tiếp tân có thể tiếp nhận một khách hàng hay một người đưa tin?
Anh ta đã mất hai giờ báo cáo lại cho Gidi Barzilai về những hoạt động bên trong ngân hàng, cho đến giờ anh ta đã có thể quan sát họ, và báo cáo thật u ám. Đội trưởng đội neviot ngồi xuống, ôm lấy đầu .
Họ có thể đột nhập, ông nói. Không khó gì. tìm hệ thống báo động và vô hiệu hoá nó. Nhưng để rời đi mà không để lại dấu vết gì - điều đó khó lắm. Có một người gác đêm có khả năng đi lại bên trong đó. Và rồi, thì họ tìm gì đây? Một két an toàn? ở đâu? Và thế nào? Chìa khoá hay vòng quay hay cả hai? Nó có thể đòi hỏi hàng giờ. Và họ liệu có thể làm im mồm người gác đêm không. Điều này sẽ để lại dấu vết. Nhưng Dror đã cấm tiệt điều đó.
Kẻ chỉ điểm bay khỏi Vienna và trở về Tel Aviv ngày hôm sau. Chiều đó, từ một loạt những bức ảnh, anh ta nhận ra Wolfgang Gemuetlich và, với kích thước tốt. cô Hardenberg. Khi anh ta đi, Barzilai và chỉ huy đội neviot lại họp nhau lần nữa.
- Nói thẳng ra, tôi cần nhiều thông tin về bên trong hơn. Gidi ạ. Còn quá nhiều thứ mà tôi còn chưa biết. Những giấy tờ mà ông cần - ông ta phải giữ ở trong một két an toàn. Ớ đâu mới được chứ? Một két trên sàn nhà? Hay trong văn phòng người thư ký? Trong một ngăn đặc biệt ở hầm? Chúng ta cần có thông tin bên trong về điều này.
Barzilai nhăn nhó. Trước đây, khi được huấn luyện, một trong số các thầy dạy của ông đã nói với các ông: không có điều gì mà người ta không thể tìm ra điểm yếu. Tìm ra điểm đó, khủng bố tinh thần, và anh ta sẽ hợp tác. Sáng hôm sau cả đội yarid và neviot bắt đầu giám sát chặt chẽ Wolfgang Gemutlich. Nhưng người Vienna cứng rắn này sẽ cho thấy là ông thầy đã sai.

Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #83 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2010, 10:34:26 pm »

Steve Laing và Chíp Barber có một vấn đề chính. Khoảng giữa tháng Mười một, Jericho đã đến cùng với câu trả lời đầu tiên cho những câu hỏi được đưa đến cho ông ta qua hòm thư chết ớ Baghdad. Giá của ông ta thật cao, nhưng Chính phủ Mỹ đã chuyển tiền đến tài khoản Vienna mà không ậm ừ gì hết. Nếu thông tin của Jericho là chính xác - và không lý do gì để nghi ngờ ngược lại - thì sẽ vô cùng hữu ích. Ông ta đã không trả lời tất cả các câu hỏi, nhưng đã trả lời một số và trả lời một phần những câu khác.
Về nguyên tắc, ông ta đã định danh khá rõ ràng mười bảy địa điểm có dính đến việc sản xuất các vũ khí. Tám trong số đó Liên quân đã ngờ đến: trong số đó, ông ta đã sửa lại hai cái. Chín cái còn lại là thông tin mới, chủ chốt trong số đó là điểm chính xác của phòng thí nghiệm được chôn sâu trong đó có tầng máy ly tâm sản xuất khí cho việc chuẩn bị quả bom nguyên tử uranium-235.
Vấn đề là: làm thế nào để nói cho bên quân sự, mà không để lộ rằng Langley và Nhà Thế kỷ có vật chìm nằm trong Baghdad?
Không phải các ông trùm không tin bên quân sự. Ngược lại là khác, họ là những sĩ quan cao cấp chỉ vì lý do đó. Nhưng trong thế giới bảo mật thì có một nguyên tắc lâu đời đã được kiểm chứng nhiều lần gọi là "cần biết". Một người không biết điều gì đó sẽ không để lộ nó, dù là chỉ vô tình. Nếu những người vận đồ dân sự chỉ đơn giản tạo ra một danh sách những mục tiêu nóng hổi đâu đó, thì bao nhiêu tướng tá vứt đi dâu?
Trong tuần thứ ha của tháng, Barber và Laing có một cuộc gặp riêng ở căn cứ của Bộ Quốc phòng Xêut, với tướng Buster Glosson, đại diện cho tướng Chuck Horner, người chỉ huy không quân trên mặt trận vùng Vịnh.
Dù ông ta nhất định phải có một tên riêng, nhưng không bao giờ có ai nói đến tướng Glosson ngoài cái tên "Buster" , và chính ông là người đã lên kế hoạch và vẫn tiếp tục lên kế hoạch cho cuộc tấn công không quân toàn diện tối hậu vào Iraq mà ai cũng biết là để chuẩn bị trước cho sự đổ bộ.
London và Washington từ lâu đã cạnh tranh trên quan điểm rằng, không kể Kuwait, cỗ máy chiến tranh của Saddam Hussein chỉ đơn giản cần bị phá huỷ, và rằng rất nhiều bao gồm các khả năng sản xuất khí, vi trùng, và bom hạt nhân. Trước khi Lá chắn Sa mạc cuối cùng phá huỷ được mọi cơ may của cuộc tấn công vào Arập Xêut, các kế hoạch cho cuộc chiến tranh trên không cuối cùng đã được lên, dưới mật hiệu tên là Sấm chớp Bất chợt. Kiến trúc sư thật sự của cuộc chiến tranh trên không là Buster Glosson.
Ngày 16 tháng Mười một, Liên Hợp Quốc và nhiều Bộ trưởng ngoại giao trên toàn thế giới đã ngồi với nhau để bàn việc lập ra một "kế hoạch hoà bình" để chấm dứt cuộc  khủng hoảng mà không phải bắn giết, thả bom, hay phóng rocket. Ba người đàn ông trong căn phòng dưới hàm ngầm ngày hôm đó hiểu rằng một cái kế hoạch như thế không bao giờ có thể có được
Barber rất ngắn gọn đi vào vấn đề: "Như ông cũng biết đấy, Buster, chúng ta và người Anh đã cố định vị các phương tiện WMD của Saddam hàng tháng nay rồi." Vị tướng Không quân gật đầu đồng ý. Ông có một bản đồ dọc theo hành lang với nhiều cây thông hơn một cây, và mỗi cái là một mục tiêu đánh bom. Thế thì bây giờ phải làm gì?
Thế là chúng ta đã bắt đầu với các giấy phép nhập khẩu và theo dấu các nước xuất khẩu, rồi các công ty tại các nước đó đã thực hiện các hợp đồng. Rồi các nhà khoa học đã nghiên cứu bên trong những dụng cụ đó, nhưng nhiều trong số đó đã chẳng nói lên điều gì, và thật sự không biết được ở đâu cả.
- Cuối cùng, Buster, chúng tôi đã kiểm tra những người xây dựng, những người đã thực sự xây lên phần lớn các điểm sản xuất khí của Saddam. Và một số trong đó đã lộ ra. Thật là bẩn thỉu kinh khủng.
 Barber đưa danh sách các mục tiêu cho vị tướng. Glossonchăm chú nghiên cứu. Chúng không được định vị trên bản đồ chiến thuật. như các điểm đánh bom cần thế, nhưng các miêu tả là đã đủ để nhận ra chúng từ các bức ảnh chụp từ trên không đã có trong tay.
Glosson nhăn mặt. ông biết một số trong danh sách đã là những mục tiêu được nhắm tới; những cái khác, với những dấu hỏi, giờ cần dược khẳng định lại: những cái khác thì là mới, ông hướng mắt lên.
- Đúng thế này à?
- Đúng. người Anh nói. chúng tôi đã tin rằng những người xây dựng là một nguồn tốt, có thể là tốt nhất: bởi vì họ đã biết được nơi họ làm việc khi họ xây dựng các địa điểm đó, và họ nói riêng biệt, do đó nhiều hơn các viên chức.
Glosson nhổm lên.
- OK. Các ông còn có gì khác cho tôi nữa không?
- Chúng tôi sẽ tìm kiếm tiếp ở châu Âu. Buster, Barber nói. Chúng tôi không có mục tiêu đúng nào mới, chúng tôi sẽ chuyển ngay cho bên ông. Họ đã chôn rất nhiều thứ, ông cũng biết đấy. Sâu dưới sa mạc. Chúng ta đang nói về các dự án xây dựng chính đấy.
- Các ông nói với tôi nơi họ đặt chúng, và chúng tôi sẽ thổi bay chúng đi, vị tướng nói.
Sau đó, Glosson cầm bản danh sách đến Chuck Horner. Vị giám đốc USAF còn lùn hơn Glosson, vẻ ngoài u tối, một người đàn ông nghiêm khắc với một khuôn mặt đỏ sậm và những khéo léo ngoại giao của một con tê giác với sừng. Nhưng ông ta yêu các phi công và nhân viên mặt đất, và họ thành kính đáp lại tình yêu đó.
Ông có thể chiến đấu với danh nghĩa của họ với các nhà thầu, các viên chức, và các chính trị gia ngay cả ở Nhà Trắng nếu ông nghĩ cần phải thế, và không bao giờ hạ thấp giọng điệu của mình. Tất cả những gì bạn thấy và có được.
Đi thăm các quốc gia vùng Vịnh Bahrain, Abu Dhabi, và Dubai, nơi một số phi công của ông đóng, ông tránh các Sheraton và Hilton nơi có tiện nghi xa hoa để cùng cộng khổ với các phi công chiến đấu ở căn cứ và ngủ trong một lán nhỏ. Những người phục vụ và phụ nữ không hay che giấu tình cảm của mình; họ nhanh chóng biết họ thích gì và ghét gì. Các phi công USAF có thể lao vào chống lraq vì Chuck Horner.
Horner nghiên cứu danh sách từ những người tình báo giấu mặt và nhăn mặt. Hai trong số địa điểm trên bản đồ là sa mạc trống trơn.
- Họ lấy những thứ này ở đâu? ông hỏi Glosson.
- Thẩm vấn các đội xây dựng đã xây chúng, đấy là họ nói thế, Glosson nói.
- Mẹ kiếp, tướng Horner nói. Những cái của nợ này lại có ai đó ở Baghdad rồi đây. Buster, chúng ta không nói điều này với bất kỳ ai đâu nhé - không ai cả. Chỉ cần ra lệnh đánh vào đó thôi. Ông ngừng lại một chút để suy nghĩ, rồi nói thêm: Hãy nghĩ xem thằng cha đó có thể là ai.

Steve Laing về nhà mình ở London vào ngày 18, một London trong làn sương khói phủ trên cuộc khủng hoảng mà chính phủ bảo thủ như một Nghị sĩ đối lập tìm ra những quy tắc của đảng để hất Margaret Thatcher khỏi chức vụ của bà.
Mặc dù mệt mỏi. Laing vẫn cầm thông tin trên bàn của mình từ Terry Martin và gọi anh ở trường. Do Martin rất nhiệt tình, Laing đồng ý gặp anh để uống một cái gì đó sau giờ làm việc hoãn sự trở về nhà mình ở ngoại ô lại một quãng thời gian ngắn nữa.
Khi họ ngồi ở cái bàn ở góc trong một quán bar yên tĩnh ở West End, Martin lấy từ cặp tài liệu của mình một máy quay cassette và một cái băng. Đưa cho Laing xem, anh giải thích yêu cầu của mình nhiều tuần trước với Sean Plummer, và cuộc gặp của họ cuối tuần trước.
- Tôi cho nó chạy anh nghe nhé? Anh hỏi.
- Được thôi, nếu không bị ai nghe thấy. tôi biết, mẹ kiếp. là không thể, Laing nói. Xem nào, Sean Plummer có những người Arập như là Al-Khouri trong số nhân viên. Nếu họ không thể tìm ra...
Lặng yên. ông lịch sự lắng nghe.
- Nghe thấy nó? Martin sôi nổi hỏi? Chữ "k" nghe sau chữ have? Người đó không muốn nói đến sự giúp đỡ của mình với Iraq. ông ta sử dụng một danh xưng. Đó là cái khiến người kia tức giận đến thế. Rõ ràng là. không một ai được sử dụng danh xưng này một cách công khai như thế. Nó chỉ gói gọn trong một số rất ít người mà thôi.
- Nhưng ông ta đã thực sự nói gì? Laing nói đã chán quá
Martin nhìn thẳng vào ông ta. Liệu Laing có hiểu được điều gì đó không ?
- Ông ta nói rằng quân Mỹ đông chẳng thành vấn đề gì cả, bởi vì chúng ta sắp có được Qubth-ut-Allah.
Laing càng tỏ ra bối rối hơn.
- Một vũ khí, Martin thúc đẩy. Nó phải là như thế. Một cái gì đó sẽ sớm có xử lý được người Mỹ.
Hãy tha lỗi cho tiếng Arập tồi tệ của tôi, nhưng Qubth- ut Allah là gì thế vậy?
- Ồ, Martin nói. Nó có nghĩa là Cú đấm của Thượng đế.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #84 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:28:58 pm »

CHƯƠNG 12

Sau mười một năm nắm quyền và đã thắng trong ba cuộc bầu cử phổ thông, thủ tướng Anh đã thực sự đổ vào ngày 20 tháng Mười một, dù hai ngày sau bà mới thông báo quyết định từ chức của mình.
Sự đổ khỏi quyền lực của bà được thúc đẩy bởi một quy tắc mờ ám trong nguyên tắc Đảng Bảo thủ đòi sự tái đắc cử danh nghĩa của bà với chức danh Chủ tịch Đảng vào những thời điểm định kỳ. Một định kỳ như thế xảy ra vào tháng Mười một. Sự tái bầu cử của bà có thể chỉ là một thủ tục, cho đến khi một cựu bộ trưởng chọn cách ứng cử chống lại bà. Không lường được mối nguy hiểm, bà đã không coi cuộc cạnh tranh là nghiêm túc, đã dẫn đến lơ là chiến dịch chạy đua và cuối cùng đã đi dự một cuộc họp ở Paris đúng ngày diễn ra cuộc bỏ phiếu.
Sau lưng bà là cả một loạt những đòn đánh, những chống đối, và những sợ hãi khủng hoảng đã khiến bà thậm chí không thể dự cuộc bầu cử sắp đến, một liên minh thù địch đã ngăn cản bà không với được chức lãnh đạo Đảng ngay từ lần bỏ phiếu đầu tiên. Liệu bà có lùi bước quá không, có thể không có lần bỏ phiếu thứ hai, và người đối địch có thể đã biến mất vào trong sự tối tăm. Trong cuộc bỏ phiếu ngày 20 tháng Mười một bà cần có hai phần ba đa số, bà đã chỉ thiếu có bốn phiếu, buộc phải kéo đến cuộc bỏ phiếu thứ hai.
Trong vài giờ, cái đã bắt đầu như một vài viên gạch khó chịu nhỏ bé đã rơi xuống đồi thành một cuộc lở tuyết. Sau khi đã tham khảo Nội các của mình, người ta nói bà giờ đây có thể mất chức, bà bèn từ chức. Người chỉ huy phe đối lập, bộ trưởng Tài chính John Major, xuất hiện và chiến thắng.
Tin tức làm hoảng sợ những người lính ở vùng Vịnh. Mỹ cũng như Anh. Ở Oman, các phi công máy bay chiến đấu người Mỹ giờ đây ngày ngày làm việc với SAS từ căn cứ kề bên hỏi người Anh điều gì đang diễn ra và nhận được những cái nhún vai chẳng nói lên điều gì hết cả.
Mike Martin nghe tin khi người lái xe Iraq đi qua và nói cho anh. Martin nghe tin, tỏ vẻ chẳng biết gì, hỏi:
- Bà ấy là ai?
- Điên à, tay lái xe tức mình. Lãnh đạo của Beni Naji đấy.
Giờ thì chúng ta sẽ thắng.
Hắn quay về xe để nghe tin tức từ đài phát thanh Baghdad. Một lúc sau bí thư thứ nhất Kulikov đứng từ nhà hét gọi hắn và được chở đi thẳng về sứ quán của mình.
Đêm đó, Martin gửi một tin dài về Riyadh. chứa cả đống những câu trả lời mới nhất của Jericho và một câu hỏi thêm vào của chính anh để nhận được chỉ thị nhiều hơn. Dựa vào cánh cửa của túp lều anh có thể phát hiện những kẻ đột nhập, vì cái đĩa vệ tinh được đặt ở lối ra hướng về phía nam. Martin đợi trả lời. Một ánh sáng chậm, run run ở màn hình của máy nhận nhỏ nói với anh vào lúc một giờ rưỡi rằng vào buổi sáng anh sẽ có câu trả lời. Anh tháo đĩa, cất nó vào dưới sàn nhà với những cái pin và máy nhận, làm chậm thông điệp, và nghe nó quay lại.
Đó là một danh sách những yêu cầu mới về thông tin từ Jericho và một đồng ý cho đòi hỏi mới nhất của điệp viên về- tiền, đã được chuyển vào tài khoản của ông ta. Trong vòng một tháng thành viên Hội đồng Chỉ huy Cách mạng đã kiếm được hơn một triệu đôla.
Thêm vào danh sách là hai chỉ dẫn cho Martin. Đầu tiên là gửi cho Jericho một thông điệp, không phải ở dạng một câu hỏi, mà là hy vọng ông ta có thể bằng cách nào đó xâm nhập vào suy nghĩ của những người lập kế hoạch ở Baghdad. Đó là tìm hiểu hiệu ứng tin từ London lên Rais.
Liệu thông tin lệch lạch này có đến được các hội đồng cao nhất của Baghdad không, nhưng trong một tuần Saddam Hussein dã tuyên bố rằng sự sụp đổ của Thatcher là do sự phản đối của người Anh.
Chỉ dẫn thứ hai trong cuộn băng của Mike Martin đêm đó là hỏi Jerieho xem liệu ông ta đã từng bao giờ nghe về một vũ khí hay hệ thống vũ khí có liên quan đến Cú đấm của Thượng đế chưa.
Bằng ánh sáng của một ngọn nến, Martin dành gần như cả đêm đó để viết các câu hỏi bằng tiếng Arập vào hai tờ giấy viết thư. Trong hai mươi giờ, các giấy đã được bí mật giấu sau viên gạch rỗng trong tường gần với nhà thờ Imam Aladham ở Aadhamiya.
Mất một tuần để các câu trả lời quay trở lại. Martin đọc bản viết bằng tiếng Arập loằng ngoằng của chữ viết tay của Jericho và dịch mọi thứ sang tiếng Anh. Từ quan điểm một người lính, nó rất hấp dẫn. Ba sư đoàn Vệ binh Cộng hoà dàn trước người Anh và người Mỹ dọc theo biên giới, Tawakkulna và Medina, giờ đây có thêm Hammurabi, được trang bị hỗn hợp T-54/55, T-62 và T-72 những loại xe tăng chiến đấu chính, cả ba đều do Nga sản xuất.
Nhưng trong một lần sau, Jericho tiếp tục, tướng Abdullah Kadiri của Đội lính đã kinh hoàng phát hiện phần lớn các đội bay đã đổi pháo và sử dụng chúng làm quạt, bếp, đài phát thanh và máy quay cassette. Thật đáng nghi ngờ rằng những đội quân đó có thể chiến đấu được. Đã có nhiều cuộc hành quyết tại chỗ, và hai chỉ huy cao cấp đã bị cách chức và đuổi về nhà.
Người em trai cùng cha khác mẹ của Saddam, Al Hassan Majid, giờ là tổng quản Kuwait, đã báo cáo rằng sự chiếm đóng đã bắt đầu trở thành một cơn ác mộng, với những cuộc tấn công vào lính Iraq vẫn không thể dò ra và những mất mát tăng lên. Quân kháng chiến không xuất đầu lộ diện, mặc dù những cuộc tra khảo thảm khốc và nhiều cuộc hành hình bởi đại tá Sabaawi của AMAM và hai lần đến thăm của đích thân ông chủ của nó, Omar Khatib.
Tệ hơn nữa, quân kháng chiến giờ đây đã không biết bằng cách nào có được chất nổ dẻo tên là Semtex, cái mạnh hơn nhiều so với thuốc nổ công nghiệp.
Jericho đã chỉ ra hai địa điểm chỉ huy quân sự quan trọng nữa, cả hai đều được xây dưng trong các hầm ngầm và từ trên không trung không thể nào nhìn thấy được.
Rồi đến tin rằng những người thân cận với Saddam Hussein thực sự nghĩ rằng sự sụp đổ của Margaret Thatcher có phần ảnh hưởng của ông ta. Ông ta đã hai lần đưa ra lời từ chối thẳng thừng của mình để xem xét việc rút khỏi Kuwait.
Cuối cùng, Jericho chưa từng bao giờ nhìn thấy bất cứ gì có mật danh Cú đấm của Thượng đế nhưng có thể đã từng nghe đến câu đó. Cá nhân, ông ta nghi ngờ có tồn tại một thứ vũ khí hay một hệ thống vũ khí mà Liên quân còn chưa biết.
Martin đọc cả bức thông điệp vào băng, quay nhanh nó lên. và chuyển nó đi. Ớ Riyadh nó được tiếp nhận nhanh chóng Và các kỹ thuật viên phát thanh ghi giờ đến của nó: 23.55 giờ, ngày 30 tháng Mười một 1990.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #85 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:33:03 pm »

Leila Al-Hilla từ từ ra khỏi phòng tắm, dừng lại ở cửa với cái đèn sau cô để giơ tay lên khung cửa ở cả hai bên và nghỉ một lúc. Ánh đèn của phòng tắm, chiếu sáng qua tấm kính mờ, cho thấy nếp nhăn và cái dáng đứng gợi tình của cô ta một cách rõ ràng nhất. Cần phải thế, trời tối, rất tối, và đã đáng giá một gia tài nhỏ, một đồ nhập từ Paris mua được từ một cửa hiệu ở Beirut.
Người đàn ông to béo trên giường hau háu nhìn, thè cả lưỡi ra khỏi một làn môi dưới dày, và cười nhăn nhở. Leila thích đằm mình trong phòng tắm trước khi làm tình. Có những chỗ cần được rửa sạch và tẩm thơm, mắt cần được bôi mascara, môi cần được tô đỏ, và nước hoa được sử dụng, những hương vị khác nhau cho những phần khác nhau của cơ thể cô.
Đó là một cơ thể đẹp chừng ba mươi xuân xanh, những khách hàng tàu nhanh thích: không béo, nhưng đầy đặn nơi cần thiết, đẫy đà và ngực to, với gân săn chắc. Cô hạ thấp cánh tay và tiến về cái giường tối om, cởi áo, đôi giày cao gót tăng thêm bốn inch cho chiều cao của cô ta.
Nhưng người đàn ông trên giường, ở trên tấm lưng trần của ông ta, phủ như một con gấu từ cằm đến mắt cá, đã nhắm mắt lại.
Đừng có đến ngủ với tao lúc này, đồ ngốc, cô nghĩ, không phải đêm nay khi tôi cần anh. Leila ngồi lên mép giường và luồn những ngón tay nhuộm đỏ lên đến tóc của ông béo cho đến ngực, cựa vào, rồi cho tay xuống nữa, đến bụng và bụng dưới. Cô nhổm lên và hôn người đàn ông vào môi, lưỡi cô hé mở. Nhưng môi người đàn ông chỉ ngập ngừng đáp lại cô, và cô nhận thấy mùi arak rất nặng.
Lại nốc đầy rượu rồi. Cô nghĩ - tại sau lão ngố này không thể bỏ được nhỉ. Dù sao nó cũng có những lợi thế, một chai arak mỗi tối. Ồ tốt thôi, làm việc nào.
Leila Al-Hilla là một kỹ nữ giỏi, và cô ta biết điều đó. Trình độ cao nhất ở Trung Đông, ai đó đã nói, và nhất định là một trong những cô nàng đắt đỏ nhất.
Cô ta đã được đào tạo nhiều năm trước, khi còn là một đứa bé gái, trong một học viện tư ở Li băng nơi những trò làm tình và những thủ thuật của ouled-nails của Maroc, của những cô gái Ấn nautch. và những kỹ nghệ gia tinh tế của Fukutomi-cho đã được thực hành bởi những cô gái khác trong khi những đứa trẻ nhìn và học theo.
Tài năng của cô ta là phỉnh nịnh, tâng bốc, tán dương, và dỗ dành, nhưng giỏi nhất là kích thích được nhưng gã mít ướt nhất và khiến đối tượng của mình lúc nào cũng cảm thấy thèm muốn.
Cô đã đưa tay xuống bụng dưới và cảm thấy của quý của gã đàn ông. Không thấy gì. Ngắn một mẩu. Tướng Abdullah Kadiri, chỉ huy đội lính của Quân đội Cộng hoà Iraq, đêm nay cần một chút kích thích.
Cô lấy từ gầm giường lên một cái túi mềm và đổ chất lỏng bên trong ra một mẩu giấy bên cạnh. Bôi một thứ chất lỏng nhờn vào tay, một thứ chất như kem, cô luồn một cái dương vật giả cỡ trung bình rung rung vào giữa háng ông tướng.
Tướng Kadiri nhăn mặt, mở mắt, liếc nhìn xuống ả đàn bà đang nằm bên cạnh của mình, và lại cười nhăn nhở, hàm răng loé lên giữa chòm ria đen dầy.
Leila bóp chặt máy: và bắt đầu làm đầy phần dưới của vị tướng. Cô đã nhận ra trong tay mình cơ quan đó đã bắt đầu nổi lên. Cô ngậm một thứ chất dầu không mùi không vị vào miệng rồi chồm lên ấn của quý của người đàn ông vào mồm mình. Chất dầu mềm mại và cử động nhanh của cái lưỡi thành thục của cô đã bắt đầu có hiệu quả. Mười phút sau, cho đến khi đau nhức cả hàm, cô ta vuốt ve và mút đến lúc sự cương cứng của vị tướng đã tốt như chưa bao giờ được như thế.
Trước khi ông ta mất đi trạng thái đó, cô luồn đầu xuống, phủ lên người ông ta, đưa ông ta vào mình, và bắt đầu. Cô đã từng có trong người những cái to hơn và tốt hơn, nhưng cái này cũng đang làm việc đấy chứ. Leila chồm lên và cọ ngực mình vào mặt ông ta.
- A, con gấu đen khỏe mạnh to béo của em, cô ta rủ rỉ, anh thật là tuyệt, như mọi khi vậy.
Ông ta cười nhìn cô. Cô bắt đầu nhún, không nhanh quá, cho đến khi đã vào đến nơi, chầm chậm cho đến khi được cả. Khi cô chuyển động, cô sử dụng những cơ vận động để nhún lên nhún xuống, nghỉ và lại tiếp.
Cô biết hiệu ứng của sự gợi hứng nhân đôi. Tướng Kadiri bắt đầu rên ư ử và sau đó thì thét lên, những tiếng kêu ngắn ngủn buột ra khỏi mình bởi cảm giác cực khoái nơi vùng người đàn bà nhổm lên nhổm xuống vững vàng với nhịp điệu tăng dần.
- Phải, phải, ôi phải, sướng quá, làm nữa đi, em yêu, cô cọ vào mặt ông ta cho đến khi ông ta ra được. Trong khi ông ta giật lên, Leila bò xuống, quấn quanh người ông ta, liếm láp đống tinh dịch với sự thích thú, rồi cũng oải ra.
Khi ông ta đã ra xong, ông ta đột ngột nảy lên và trong vài giây cô tháo chiếc dương vật giả, lay lay để ông ta khỏi ngủ mất quá nhanh. Cô cũng muốn ngủ lắm rồi sau một công việc nặng nhọc đến vậy. Nhưng vẫn còn có việc cần phải làm.
- Con gấu tội nghiệp của em, cô ta lẩm bẩm, anh có mệt lắm không? Anh đã làm việc nặng nhọc như thế, người tình tuyệt diệu của em. Họ làm cho anh mệt quá nhỉ. Hôm nay ra sao hả? Nhiều vấn đề ở Hội đồng lắm hả, và luôn luôn là anh phải giải quyết chúng à? Mm? Nói cho Leila đi, anh biết anh có thể nói cho Leila bé nhỏ mà.
Thế là trước khi ông ta ngủ, ông ta đã nói.
Sau đó, khi tướng Kadiri đang ngáy do hiệu ứng của arak và tình dục, thì Leila rút ra phòng tắm nơi, với cánh cửa khoá và ngồi xuống bồn cầu với một cái khay trên lòng, cô ta ghi lại một bản tiếng Arập ngắn gọn, nghuệch ngoạc.
Sau đó, vào buổi sáng, những tờ giấy mỏng tang của cô được giấu kín để tránh bị kiểm tra, cô có thể đưa nó cho người đàn ông trả tiền cho cô.
Thật là nguy hiểm, cô biết, nhưng ra tiền lắm chứ, gấp đôi thu nhập cho cùng một công việc, và một ngày nào đó cô có thể trở nên giàu có - đủ giàu để rời khỏi Iraq mãi mãi và tự lập cho mình một lầu xanh, có thể ở Tangier, với một đoàn các thiếu nữ trẻ đẹp để ngủ với những ông lớn Marốc khi cô cảm thấy nhu cầu.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #86 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:36:14 pm »

Nếu Gidi Barzilai đã bị bất ngờ bởi các hệ thống an toàn của Ngân hàng Winkler, hai tuần theo dấu Wolfgang Gemuetlich khiến ông thất vọng. Người đàn ông đó không thể tiếp cận được.
Theo sự nhận diện của kẻ chỉ điểm, Gemuetlich đã nhanh chóng bị theo đến nhà của ông ta ở ngoài công viên Prater. Ngày hôm sau, trong khi ông đang làm việc, đội yarid đã theo dõi ngôi nhà cho đến khi bà Gemuetlich đi chợ. Thành viên nữ của đội đi theo bà, có liên lạc với các đồng nghiệp của mình bằng máy điện đàm cá nhân để báo động họ khi bà ta về. Trên thực tế vợ của nhân viên ngân hàng đã đi vắng đến hai tiếng đồng hồ - nhiều thời gian hơn cần thiết.
Cuộc đột nhập bởi các chuyên gia neviot không vấp phải vấn đề gì, và những máy theo dõi đã nhanh chóng được đặt tại phòng khách, phòng ngủ, và máy điện thoại. Sự nghiên cứu - nhanh: có nghề, và không để lại dấu vết - không mang lại được gì cả. Có những giấy tờ thông thường: giấy nhà, hộ chiếu. giấy khai sinh, giấy hôn thú, thậm chí cả một loạt giấy tờ ngân hàng.
Mọi thứ đều được chụp ảnh, nhưng một sự liếc qua ở tài khoản ngân hàng không đưa lại bằng chứng nào về sự gian trá của Ngân hàng Winkler - thậm chí còn có nguy cơ đưa người đàn ông trở thành người hoàn toàn lương thiện.
Tủ quần áo và những đồ phòng ngủ không có gì đáng ngạc nhiên, những quần áo cá nhân - quần áo tầng lớp trung lưu đáng kính - và chỉ huy đội neviot, người đã trông thấy bà Gemuetlich ra khỏi nhà, không bị bất ngờ vì điều này.
Nếu thư ký riêng của người đàn ông là một cô gái nhỏ xíu, thì vợ ông như là một con cua giấy. Người Israel nghĩ ông hiếm khi cảm thấy chán nản như thế này.
Khi cô gái của dội yarid nói vào máy điện đàm báo động vợ người nhân viên ngân hàng đang về, các chuyên gia đột nhập neviot đã kết thúc và đi ra. Cửa trước được khoá lại bởi người trong đồng phục bưu điện sau khi phần còn lại đã ra bằng cửa sau và qua vườn.
Từ đó trở đi, đội neviot có người đàn ông trong các máy thu trong cái xe to đỗ ngoài phố để nghe những gì diễn ra trong ngôi nhà.
Hai tuần sau một chỉ huy thất vọng nói với Barzilai rằng các băng của họ đã chạy hết cả rồi. Tối đầu tiên họ thu được 18 từ Bà ta nói: "Bữa tối của ông đây, Wolfgang" - không có lời đáp lại Bà ta đòi thay rèm cửa mới - từ chối. ông ta nói "Sáng sớm mai tôi sẽ dậy sớm".
- Đêm quái nào lão ta cũng nói thế cả, cứ như vẫn nói thế từ ba mươi năm nay vậy , người của đội neviot phàn nàn.
- Không có chuyện tình ái gì à?
- Anh đùa đấy à, Gidi. Họ thậm chí còn chẳng nói năng, chỉ có thế thôi.
Mọi điều có thể khắc hoạ tính cách Gemuetlich đều là con số không. Không đánh bạc, không chơi bời, không giao tiếp, không hộp đêm, không tình nhân, không vượt đèn đỏ ngoài phố. Một lần ông ta rời nhà, các thành viên của đội theo dõi lập tức bám theo. Gemuthch trong đồ đen và đội mũ, sau khi trời tối và món súp tối, đi qua ngoại ô mờ tối cho đến khi tới một ngôi nhà cách đó năm khu. ông ta gõ cửa và đợi. Cửa mở ra, ông ta đi vào, và cửa đóng lại. Một ngọn đèn tầng dưới bật lên, sau những tấm rèm dày. Trước khi cửa đóng lại, một trong số những người theo dõi Israel bắt được một cái liếc của một người phụ nữ trông mờ tối mặc bộ áo dài bằng vải nỉ.
Đi tắm chăng? Tắm hơi, xông hơi với hai người chăng?
Một sự kiểm tra vào sáng hôm sau cho thấy người phu nữ vận bộ đồ dài là một điều trị viên nhiều tuổi làm việc ngay tại nhà. Wolfgang Gemuetlich bị bệnh gì đó.
Vào ngày đầu tiên tháng Mười hai, Gidi Barzilai nhận được một thư hoả tốc từ Kobi Dror ở Tel Aviv. Đó không phải là một chiến dịch với thời gian vô tận, ông ta cảnh báo. Liên Hợp Quốc đã cho Iraq thời hạn đến 16 tháng Giêng để rút khỏi Kuwait. Sau đó, có thể là chiến tranh. Mọi thứ đều có thể xảy ra. Khẩn trương lên đi.
- Gidi, chúng ta có thể theo thằng cha này mãi cũng thế thôi, hai chỉ huy đội nói với người tổng chỉ huy. Chẳng có vết tỳ nào trong cuộc đời của hắn cả. Tôi không thể hiểu được thằng cha. Không gì hết - hắn chẳng làm gì để ta có thể sử dụng được cả.
Barzilai đang đứng trước chọn lựa. Họ có thể bắt cóc vợ và doạ người chồng tốt hơn hết là cộng tác với họ nếu không... Vấn đề rắc rối là, có thể sẽ chẳng đi đến dâu. Tệ hơn nữa, ông ta có thể gọi cớm.
Họ cũng có thể tóm Gemutlich và buộc ông ta. Ờ đây vấn đề lại là người đàn ông có thể quay về ngân hàng để thực hiện chuyển khoản đóng tài khoản của Jericho lại. Một khi đã vào trong ngân hàng, thì lão sẽ làm gì có trời biết. Kobi Dror dã nói, không để lỡ và không dấu vết.
- Thế thì chuyển sang cô thư ký nhé, Barzilai nói. Những thư ký tin cậy thường biết đủ moi thứ về ông chủ mình.
Thế là hai đội chuyển sự chú ý sang cô Edith Hardenberg cũng có vẻ ngoài tối tăm như thế.
Thậm chí họ chỉ mất ít thời gian hơn, chỉ có mười ngày. Họ theo đuôi cô về nhà, một căn hộ nhỏ trong một ngôi nhà cũ ngay ngoài Trautenauplatz xa về quận 19, ngoại ô tây bắc của Grinzing.
Cô sống một mình. Không tình nhân, không bạn trai, thậm chí không cả một con chó con mèo gì. Một nghiên cứu giấy tờ riêng của cô ta cho thấy một tài khoản ngân hàng khiêm tốn, một bà mẹ đang nghỉ hưu ở Salzburg. Căn hộ đã từng được bà mẹ thuê, như trong sổ thuê nhà cho biết, nhưng người con gái bảy năm trước mới chuyển đến khi bà mẹ lui về sống ở thành phố quê hương Salzburg của mình.
Edith lái một chiếc Seat nhỏ, mà cô ta đỗ ở ngoài phố ngoài ngôi nhà, nhưng chủ yếu cô ta đi làm bằng phương tiện giao thông công cộng, không nghi ngờ gì là do đậu xe khó khăn ở trung tâm thành phố.
Cô ta được trả lương thấp đến thảm hại - "dã man", một người của đội neviot kêu lên khi nhìn thấy con số - và giấy chứng sinh của cô ta cho thấy cô ta mới 39 tuổi - "và trông như đã 50 rồi ấy, người kia nhận xét.
Không có ảnh người đàn ông nào trong căn hộ, chỉ có ảnh mẹ cô ta, một trong cuộc đi nghỉ ở cái hồ nào đó. và một cái có vẻ như là người bố đã quá cố của cô ta trong bộ đồng phục nhân viên hải quan.
Nếu có người đàn ông nào đó trong cuộc đời cô ta. thì đó chỉ có thể là Mozart.
- Cô ta mê nhạc opera lắm, và đó là tất cả. Chỉ huy đội neviot báo cáo với Barzilai, sau khi căn hộ đã được để lại nguyên trạng như họ đã trông thấy. Có một sưu tập lớn đĩa hát - cô ta chưa có đĩa CD - và toàn là đĩa opera thôi. Có thể là phải tiêu phần lớn tiền dành dụm của cô ta vào đó. Sách về opera, về các tác giả ca sĩ, và chỉ huy dàn nhạc. Tranh ảnh của lịch diễn mùa đông Nhà hát Vienna, dù cô ta chẳng bao giờ đủ tiền mua một cái vé hết cả.
- Không người đàn ông nào trong cuộc đời cô ta cả ư?
Barzilai mơ màng.
- Có lẽ cô ta mê Pavarotti, nếu ông có thể tóm được ông ta. Ngoài đó ra, thì quên tất cả đi.
Nhưng Barzilai không quên nó. Ông nhớ lại một trường hợp ở London, lâu rồi. Một viên chức ở Bộ Quốc phòng, thực sự là khó nhằn; rồi người Liên Xô đã đưa vào cô gái Nam Tư trẻ xinh đẹp đó... ngay cả thẩm phán cũng phải mê đắm.
Tối đó Barzilai gửi một bức điện đã mã hoá dài cho Tel Aviv.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #87 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:38:10 pm »

Vào giữa tháng Mười hai, lực lượng Liên quân ở miền Nam biên giới Kuwait đã trở nên rất lớn, hàng làn sóng người và sắt thép.
Ba trăm nghìn đàn ông và phụ nữ từ ba mươi nước ở dọc theo sa mạc Xêut từ bờ biển đi về phía Tây một trăm dặm. Tại các cảng của Jubail, Dammam, Bahrain, Doha, Abu Dhabi, và Dubai các chuyến tàu chở hàng từ biển đến không ngớt đổ xuống súng ống và xe tăng, dầu và hàng hoá, thực phẩm và đồ ăn, nhu yếu phẩm và đồ đạc. Từ những chuyến hàng đi về phía tây theo Tapline Road để thiết lập những cơ sở hậu cần rộng lớn mà một ngày nào đó sẽ cung cấp cho quân đội tiến công.
Một phi công Tornado từ Tabuq, bay về phía nam một cuộc tấn công nhỏ vào biên giới Iraq, nói với những đồng nghiệp của mình anh ta đã bay ngay trước mũi một đoàn xe tải và sau đó bay ngược đến hết đoàn. Với vận tốc 500 dặm một giờ, mất sáu phút anh ta mới đi hết đươc đoàn xe 50 dặm.
Ở Căn cứ Hậu cần Alpha một khu nhà đã có những cái thùng dầu chồng lên nhau, trên những khay 6 fít vuông, với những đường xe tải ở giữa. Khu này rộng 40 km vuông. Và đó mới chỉ là dầu. Những khu khác ở Log Alpha chứa đạn dược, tên lửa, súng, những cỗ pháo chống tãng, và lựu đạn. Nhưng nơi khác có thực phẩm và nước, máy móc, nòng pháo tàng và những đội người di động.
Vào thời gian đó các lưc lượng Liên quân được chỉ huy bởi tướng Schwarzkopf đến phần sa mạc nam Kuwait. Điều mà Baghdad không biết là trước khi tấn công, vị tướng Mỹ đã chủ đích gửi nhiều đội dọc theo Wadi và Batin và một trăm dặm nữa xa hơn về hướng tây đến sa mạc, để xâm nhập vào Iraq, đẩy về phía bắc và sau đó sang đông dể đánh thọc sườn Đội Vệ binh Cộng hoà và tiêu diệt.
Ngày 13 tháng Chạp những đội phóng tên lửa, Đội 336 của Chỉ huy chiến thuật không quân USAF, rời khỏi căn cứ của mình ở Thumrait ở Oman và chuyển đến Al Kharz ở Arập Xêut. Đó là một quyết định đã được thưc hiện vào ngày đầu tiên của tháng Chạp.
Al Kharz là một sân bay lộ liễu, được xây dựng với những đường băng và lối đi cho taxi nhưng ngoài ra không có gì nữa cả Không có tháp chỉ huy, không có hăng ga, không kho tàng, không có gì thích hợp với bất kỳ ai - chỉ là một mảnh trơn trong sa mạc với những chuyến bay cụ thể.
Nhưng đó là một sân bay. Với vẻ ngoài thật kỳ lạ, chính phủ Xêut đã ra lệnh xây dựng đủ số căn cứ không quân để có được một lực lượng không quân đạt mức tổng cộng nhiều hơn năm lần -Không lực Hoàng gia Xêut.
Sau ngày Một tháng Chạp các đội xây dựng người Mỹ chuyển vào đó. Chỉ trong 30 ngày một thành phố lớn khả năng đón được 5000 người và 500 đội bay chiến đấu đã được xây dựng xong.
Chủ chốt trong số những người xây dựng là những kỹ sư giỏi những đội Ngựa Đỏ, được hậu thuẫn bởi 40 máy phát điện khổng lồ từ Không quân. Một số thiết bị được chuyển đến bằng đường bộ bằng xe tải, nhưng phần lớn bằng đường không. Họ dựng lên những hăng-ga kín, những công trường, kho chứa dầu, các phòng chiến dịch, các tháp chỉ huy, lều chứa, và gara ôtô.
Cho đội bay và đội dưới đất họ dựng lên những phố lều với đường lớn giữa đó, với phòng tắm, hấp, sảnh lớn, và một tháp nước được làm đầy bởi những đoàn xe tải từ nguồn nước gần nhất. Al Kharz nằm 50 dặm về đông nam Riyadh, nơi giờ đây đã
chỉ còn cách tầm bắn tối đa 3 dặm của những tên lửa Scud của Iraq. Nó sẽ là nơi ở trong ba tháng cho năm đội bay: hai trong số những Con đại bàng F-15E - đội ném tên lửa 336 và những chỉ huy, đội 335 ngoài Seymour Johnson, cũng đến nhập vào đây; và hai đội máy bay chiến đấu Falcon F-16.
Có một phố đặc biệt dành cho đội ngũ 250 phụ nữ trong đội; nơi này có luật sư, các chỉ huy đội dưới đất, lái xe tải, nhân viên, y tá, và hai sĩ quan tình báo đội. Đội bay cũng bay đến từ Thumrait; đội mặt đất và các nhân viên khác tới trên máy bay chở hàng. Việc vận chuyển mất hai ngày, và khi họ đến, các kỹ sư vẫn còn làm việc và có thể còn phải tiếp tục cho đến Giáng Sinh.
Don Walker đầu tiên tới Thumrait. Các điều kiện sống thật hiện đại và thật tuyệt, và trong không khí thư giãn của Oman, những đồ uống có cồn được cho phép trong căn cứ. Lần đầu tiên, anh gặp những người của SAS. Những người có một căn cứ huấn luyện thường xuyên ở đây, và các "sĩ quan hợp đồng"  khác phục vụ các lực lượng Oman của Sultan Qaboos.
Lái những chiếc Đại bàng trong những phi vụ nhỏ ở biên giới Iraq thật là tuyệt.
Về những người SAS, sau một chuyến đi đến sa mạc với họ trong những chiếc xe nhẹ, Walker nhận xét với chỉ huy đội vừa được bổ nhiệm, trung tá Steve Turner:
- Những thằng cha đó đúng là mất trí.
Al Kharz hoàn toàn khác so với Thumrait. Là nơi có cả hai vùng đất thánh, Mecca và Medina, Arập Xêut buộc phải thắt chặt, cũng như bắt phụ nữ ăn mặc kín đáo, chỉ để lộ bàn tay và chân. Trong công lệnh Số một, tướng Schwarzkopf đã cấm mọi thứ rượu cồn đối với toàn thể Liên quân dưới quyền chỉ huy của ông. Tất cả các đơn vị Mỹ đều bị đặt dưới lệnh đó, và nó được thực hiện nghiêm ngặt ở Al Kharz.
Tuy nhiên tại cảng Dammam, những người Mỹ đổ bộ sửng sốt trước hàng đống nước gội dầu dành cho Không lực Hoàng gia Anh quốc. Từng thùng từng thùng được dỡ xuống, được chất lên những chiếc xe tải hay những máy bay chở hàng Hercule C-130, và được mang đến cho các đội RAF. Họ rất bối rối rằng ở trong không gian rộng lớn không có nước, đội bay Anh lại có thể mất nhiều thời gian thế để gội đầu. Đó là một bí ẩn sẽ tiếp tục làm họ bối rối cho đến cuối cuộc chiến tranh.
Ở bên kia bán đảo, trên căn cứ sa mạc Tabuq, mà các Tornado của Anh chia sẻ với những chiếc Falcon của Mỹ, các phi công USAF còn rối trí hơn nhiều khi thấy người Anh lúc chiều xuống, ngồi gần họ, mở một gói nước gội dầu nhỏ trong một cái cốc và uống nó với nước.
Ờ Al Kharz vấn đề không nảy sinh - vì không có thứ nước đó Hơn nữa các điều kiện ở đây hà khắc hơn ở Thumrait. Ngoài vị chỉ huy bay, người có riêng một túp lều. những người khác từ đại tá trở xuống đều cùng nhau ở hai, bốn.,sáu, tám hay mười hai người một cái lều, tuỳ theo cấp bậc.
Tệ hơn nữa, các nhân viên nữ bị đặt ở ngoài, một vấn đề còn khó chịu hơn nhiều do ở chổ những phụ nữ Mỹ, đúng theo văn hoá của mình, khác hẳn với Mutawa của Xêut - cảnh sát tôn giáo - choàng khăn tắm trên những chiếc bikini sau những hàng rào thấp dựng ngay xung quanh lều của họ.
Ngoài những bó buộc về quân sự như thế, hầu như tất cả còn phải nằm trên những chiếc giường cũi kêu cót két.
Cũng có một tâm trạng mới do một lý do khác. Liên Hợp Quốc đã ban hành hạn cuối vào 15 tháng Giêng cho Saddam Hussein. Baghdad vẫn tiếp tục không nghe lời. Lần đầu tiên rõ ràng rằng họ sẽ đi vào cuộc chiến tranh. Các phi vụ tập dượt được thực hiện với một sự khẩn cấp mới.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #88 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:43:04 pm »

Vì một nguyên nhân nào đó, ngày 15 tháng Chạp ở Vienna khá là nóng. Mặt trời chiếu sáng, và nhiệt độ tăng. Vào giờ ăn trưa cô Hardenberg rời khỏi ngân hàng như thường lệ để đi ăn bữa trưa đạm bạc của mình và quyết định bỏ một đồng mua bánh xăng uých và ăn chúng ở Stadtpark cách Ballgasse vài khối nhà.
Đó là thói quen của cô trong mùa hè và thậm chí còn vào cả trong mùa thu, và vì vậy cô thường xuyên mang theo bánh xăng uých. Ngày 15 tháng Chạp đó không phải là mùa hè cũng không phải mùa thu.
Tuy nhiên, nhìn bầu trời xanh trong trên Franziskanerplatz và được bảo vệ bởi chiếc áo khoác của mình, cô quyết định rằng nếu trời hào phóng tặng, dù chỉ trong một ngày, một chút của Altweibersommer - mùa hè của các bà già, theo cách nói của người Vienna - thì cô có thể ra ngồi ăn ở công viên.
Có một lý do đặc biệt khiến cô yêu cái công viên nhỏ dọc theo sông Rhine này. Một đầu là Hubner Kursalon, một nhà hàng tường bằng kính giống như một giàn nhạc lớn. Tại đó vào bữa trưa một giàn nhạc nhỏ đến chơi những giai điệu của Strauss: người mang đậm chất Vienna nhất trong số các nhạc sĩ.
Không đủ tiền để ăn ở đó, những người khác có thể ngồi bên ngoài gần đó và thưởng thức âm nhạc không mất tiền. Hơn thế nữa. Ở trung tâm công viên, được bảo vệ bởi vòm đá của mình, là bức tượng của chính Johann vĩ dại.
Edith Hardenberg mua bánh xăng uých ở cửa hàng bán đồ ăn gần đó, tìm thấy một ghế đá công viên trong ánh mặt trời, và lơ đãng lắng nghe những giai diệu valtz.
- Entschuldigung.
Cô nhảy dựng lên, cảm thấy chấn động bởi cái giọng trầm nói "Xin lỗi".
Cô Hardenberg không hề trông đợi được một người nước ngoài hướng tới. Cô liếc nhìn về phía đó.
Anh ta còn trẻ, tóc đen, với đôi mắt nâu dịu dàng, và giọng nói của anh có âm sắc của người nước ngoài. Cô đang nhìn thẳng ra trước sau khi nhận ra người đàn ông trẻ đang có một quyển sách nhỏ minh hoạ hình vẽ trong tay và chỉ một từ trong đó Mặt dù cô đã cụp mắt xuống. Quyển sách là chương trình có minh hoạ của "Cây sáo thần".
- Xin cho hỏi, từ này - không phải là tiếng Đức có phải không?
Ngón tay trỏ của anh ta chỉ vào từ partitura.
Cô có thể bỏ nơi đó, và sau đó, tất nhiên. chỉ việc bỏ đi. Cô bắt đầu gói bánh của mình lại.
- Không, cô nói ngắn.gọn, đó là tiếng Italia.
- A. người đàn ông nói giọng hối lỗi. Tôi đang học tiếng Anh nhưng tôi cũng không hiểu tiếng Italia. Nó có nghĩa là câu chuyện có phải không?
- Không, cô nói. nó có nghĩa là bản nhạc.
- Cám ơn cô. anh ta nói với sự biết ơn trìu mến. Thật là khó để hiểu được những bản opera thành Vienna của các cô, nhưng tôi thật sự rất thích chúng đấy.
Những ngón tay của cô chậm lại trong khi gói lại những cái bánh xăng uých và đi.
- Nó được phổ nhạc ở Ai Cập, cô biết đấy, người đàn ông trẻ tuổi giải thích. Ôi thật là ngớ ngẩn, cô thì biết hết về Cây sáo thần còn gì.
Thật sự là thế, cô nói. Thế là đã đi xa quá rồi, cô tự nhủ. Dù anh ta là ai đi nữa, anh ta cũng là một chàng trai dễ mến. Tại sao. họ lại trò chuyện mới được chứ. Ý tưởng mới kỳ quặc sao.
- Aida cũng thế đấy, anh nhận xét. quay trở lại nghiên cứu tờ chương trình của mình. Tôi yêu nhạc Verdi, nhưng tôi nghĩ tôi thích Mozart hơn.
Những chiếc bánh của cô đã được gói lại; cô đã sẵn sàng để đi Cô chỉ cần đứng lên và đi. Cô quay sang nhìn anh ta, và anh ta chọn đúng lúc đó để nhìn lên và mỉm cười.
Đó là một nụ cười rất rụt rè. gần như cầu khẩn; đôi mắt nâu sẫm có làn mi mà cô người mẫu nào cũng sẵn sàng giết người để có được.
- Không có so sánh, cô nói. Mozart là bậc thầy của tất cả.
Nụ cười của anh mở rộng ra. cho thấy hàm răng trắng.
- Ông đã từng sống ở đây. Có thể ông đã từng ngồi ở đây, ngay trên cái ghế này, và soạn nhạc của mình.
- Tôi chắc rằng ông ta không làm thế đâu, cô nói. Hồi đó chưa có cái ghế này đâu.
Cô đứng lên và quay đi. Người đàn ông trẻ tuổi cũng đứng lên và cúi chào nhanh kiểu Vienna.
- Tôi xin lỗi đã làm phiền cô, thưa cô. Nhưng cám ơn cô vì đã giúp đỡ
Cô đang đi ra khỏi công viên: quay trở về bàn của mình để ăn xong bữa trưa. tức giận với chính mình. Trò chuyện với những người đàn ông trẻ tuổi ở công viên - còn gì sẽ xảy ra nữa đây? Dù sao, anh ta chỉ là một sinh viên nước ngoài đang cố học về opera thành Vienna. Không có nguy hại gì cả, rõ là thế.
Nhưng đủ là đủ. Cô đi qua một tấm tranh quảng cáo, dĩ nhiên, dàn nhạc Opera Vienna đang diễn vở Cây sáo thần trong ba ngày. Có thể đó là một phần trong kỳ học của chàng trai.
Mặc dù sự say mê của mình. Edith Hardenberg chưa từng hao giờ được vào nghe nhạc ở Staatsoper. Dĩ nhiên, cô đã đi vào trong đó khi nó mở cửa ban ngày, nhưng một vé xem hoà nhạc nằm ngoài tầm với của cô. Chúng đắt quá mức. Những vé opera trong mùa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Muốn đặt dài hạn trong mùa phải thực sự giàu có. Những cái vé khác chỉ có thể mua được nếu có thế lực, mà cô thì chẳng hề có. Ngay cả những cái vé thường cũng nằm ngoài khả năng của cô. Cô thở dài và quay trở lại công việc của mình.

Đã kết thúc đợt ấm. Những đám mây màu ghi lạnh lẽo quay trở lại. Theo thói quen của bữa trưa cô đến quán café quen thuộc và ở cái bàn quen thuộc. Cô là một người rất nguyên tắc, có những thói quen bất di bất dịch.
Vào ngày thứ ba sau chuyện ở công viên cô đến bàn của mình vào giờ thường lệ, đúng đến từng phút. và chợt nhận ra cái bên cạnh đã có người. Có hai quyển sách sinh viên – cô không buồn ngó qua tên - và một chai nước uống dở.
Cô vừa gọi xong món thì người ngồi bàn quay ra từ nhà vệ sinh nam. Chỉ đến khi ngồi xuống rồi anh ta mới nhận ra cô và tỏ ra rất ngạc nhiên.
- Ôi Gruss Gott - lại gặp cô nữa rồi. anh nói.
Môi cô mím lại tức tối. Người phục vụ đi tới và đặt trước cô đĩa thức ăn. Cô không thể đi được. Nhưng chàng trai không chịu lùi bước.
- Tôi đã xem xong tờ chương trình rồi. Tôi nghĩ giờ đây tôi đã hiểu được toàn bộ rồi.
Cô gật đầu và bắt đầu một cách tinh tế để ăn. "Tốt lắm. Cậu học ở đây à?"
Chẳng rõ tại sao cô lại hỏi thế? Cái thứ điên rồ nào đã chạy vào trong người cô vậy? Nhưng những cuộc trò chuyện trong hàng ăn thì luôn có. Thế thì phải lo gì, hả Edith? Rõ ràng đó là một cuộc trò chuyện có văn hoá, ngay cả với một sinh viên nước ngoài, có hại gì đâu nào? Cô tự hỏi ông Gemuetlich có thể nghĩ gì, ông sẽ tức lắm, tất nhiên rồi.
Đôi mắt sẫm màu của chàng trai ánh lên hạnh phúc.
- Phải. Tôi học kỹ sư. Ở Đại học kỹ thuật. Khi tôi có bằng, tôi sẽ về nhà và giúp xây dựng đất nước tôi. Xin lỗi, tên tôi là Karim.
- Cô Hardenberg, cô nói chậm rãi. Thế anh từ đâu đến thế, thưa anh Karim?
- Tôi từ Jordan đến.
Ôi chúa nhân từ ơi, một người Arập. Thì cô cũng cho rằng có nhiều người bọn họ ở đại học Kỹ thuật, cách Karntner hai dãy nhà. Phần lớn trong số đó cô nhìn thấy trên phố, những người kinh tởm bán thảm và báo tại những quán cà phê vỉa hè và không chịu bỏ đi. Chàng trai gần cô thì lại trông thật đáng kính. Có lẽ anh ta đến từ một nhà khá giả. Nhưng dù sao đi nữa... một người Arập. Cô kết thúc bữa ăn và gọi tính tiền. Thời gian đã đến để thoát khỏi chàng trai, dù cô nghĩ rằng thật lịch sự đáng ngạc nhiên. Đối với một người Arập.
- Thế, anh nói vẻ tiếc nuối, tôi không nghĩ tôi có thể đi.
Giấy tính tiền của cô đã tới. Cô đếm mấy đồng tiền.
- Đi đâu?
- Đến rạp opera. Để xem Cây sáo thần. Không phải một mình - tôi chẳng điên đến thế. Nhiều người lắm. Không biết đi đâu cả không biết vỗ tay thế nào.
Cô mỉm cười vẻ khoan dung.
- Ôi tôi không nghĩ anh sẽ đến đấy đâu, chàng trai trẻ ạ, bởi vì anh không có vé.
Anh có vẻ bối rối.
- Ôi không, không phải thế đâu.
Anh với tay vào túi áo và đặt hai vé lên mặt bàn. Bàn của cô. Ngay cạnh giấy tính tiền. Hàng thứ hai từ dàn nhạc. Cách các ca sĩ có mấy fít. Ngồi giữa.
- Tôi có một người bạn ở Liên Hợp Quốc. Họ có vé mà, cô biết đấy. Nhưng anh ta không muốn xem, thế là cho tôi.
Cho. Không bán, mà là cho. Ngoại hạng, và người ta cho đi
- Liệu cô, chàng trai hỏi giọng cầu khẩn, có thể đi cùng cô không? Xin cô mà.
Anh ta nói thật dịu dàng, như thể cô có thể mang anh ta đi vậy.
Cô nghĩ đến chuyện được ngồi trong cái thiên đường lớn lao, có vòm. lung linh, diệu kỳ đó, tâm trí cô nhảy dựng lên với âm sắc của những giọng trầm, giọng trung, giọng cao, và giọng buồn trong trần nhà phía trên.
- Chắc là không được rồi, cô nói.
- Ôi tôi xin lỗi, thưa cô. Tôi đã xúc phạm đến cô.
Anh ta chìa tay ra và cầm lấy hai cái vé, mỗi tay cầm một nửa và chuẩn bị xé chúng.
- Đừng. Tay anh hạ xuống ngay trước khi xé những tấm vé vô giá thành đôi. Anh không được làm thế.
Cô đỏ hồng cả má lên.
- Nhưng chúng chẳng có ích gì với tôi cả.
- Thế thì. tôi đề nghị...
Khuôn mặt anh căng lên.
- Thế cô sẽ chỉ cho tôi Nhà hát Opera chứ?
Chỉ cho anh ta rạp Opera. Chắc chắn việc đó thì lại là khác. Không phải là một cuộc hẹn hò. Không phải cái loại hẹn hò mà người ta... chấp nhận các cuộc hẹn. Giống một tua du lịch hơn, rõ là thế. Một sự lịch thiệp thành Vienna, chỉ cho một sinh viên từ nước ngoài đến với những băn khoăn về thủ đô nước Áo.
Không có gì nguy hại trong đó hết cả...
Họ gặp nhau trên bậc tam cấp lúc bảy giờ năm mươi. Cô đã lái xe đến từ Grinzing và đỗ xe không gặp trở ngại nào. Họ hài lòng gặp nhau.
Nếu Edith Hardenberg đã xoay xoả với hai mươi mùa hè không tình yêu, đã rơi vào một thiên đường, thì đó là cái đêm vào năm 1990 đó khi cô ngồi cách sân khấu có vài fít và tự cho phép mình đắm vào âm nhạc. Nếu cô chưa từng bao giờ có cảm giác say rượu, thì tối đó cô đã tự cho phép mình có một chút ít trong cơn thác những giọng ca trầm bổng.
Vào nửa đầu cuộc diễn, khi Papageno hát và biểu diễn trước cô, cô cảm thấy một bàn tay mạnh mẽ đặt lên trên tay cô. Bản năng khiến cô rút phắt tay mình lại. Vào nửa cuối. khi chuyện đó lại diễn ra lần nữa, cô không làm gì hết cả và cảm thấy, với âm nhạc, sự ấm nóng tăng lên trong cô một bầu máu khác.
Khi buổi diễn kết thúc, cô vẫn còn ngất ngây. Mặc dù vậy nhẽ ra cô không nên cho phép anh đưa cô đi bộ qua quảng trường đến ngôi nhà cũ của Freud, quán cà phê Landlmann, giờ đây được dựng lại cho vinh quang năm 1890 của ông. Chính người hầu bàn siêu hạng Robert chỉ bàn cho họ, và họ ăn một bữa tối muộn.
Sau đó, cô đi về xe của mình. Cô đã bình tâm lại. Đã nguôi đi
- Tôi sẽ rất thích nếu cô có thể chỉ cho tôi thành Vienna thật sự, Karim trầm giọng nói. Thành Vienna của cô, thành Vienna của những bảo tàng và những buổi hoà nhạc. Tôi sẽ không bao giờ hiểu được văn hoá nước áo, nếu cô không chỉ cho tôi.
- Anh nói gì thế, Karim?
Họ đứng cạnh chiếc xe. Không, cô sẽ nhất định không để anh dẫn mình đến nhà anh ta, dù ở đâu đi chăng nữa, và sẽ nhất quyết không mời anh ta về nhà cô.
- Tôi rất thích được gặp cô nữa.
- Tại sao?
Nếu anh ta nói mình đẹp, mình sẽ đánh anh ta, cô nghĩ.
- Vì cô dễ mến quá, anh nói.
Cô đỏ hồng má trong bóng tối. Anh không nói một lời nào nữa mà chỉ cúi về phía trước và hôn vào má cô. Rồi anh đi. chạy qua quảng trường. Cô lái xe về nhà một mình.
Tối đó. những giấc mơ của Edith Hardenberg thật lộn xộn.
Cô mơ về trước đó lâu. Cô mơ thấy Horst, người đã yêu cô qua mùa hè năm 1970 khi cô mười chín tuổi và còn trinh trắng. Horst, người đã khêu gợi và làm cô yêu anh. Horst, người đã đi vào mùa đông không một lời để lại hay giải thích hay chỉ là một lời từ biệt.
Đầu tiên cô nghĩ anh ta gặp tai nạn. và cô gọi đến các bệnh viện. Rồi nghĩ rằng công việc bán hàng lưu động của anh ta đã gọi anh ta ra đi và anh ta sẽ gọi lại cho cô.
Sau đó, cô được biết anh ta đã cưới cô gái ở Graz, người anh ta đã yêu khi đi đến đó.
Cô đã kêu khóc cho đến mùa xuân. Rồi cô mang mọi thứ kỷ niệm về anh ta, mọi dấu hiệu về sự hiện hữu của anh ta ở đó. và đốt đi. Cô đốt các món quà và ảnh họ đã chụp khi họ đi trên mặt đất và khi lái tàu đi trên những cái hồ Schlosspark ở Laxemburg, và phần lớn trong đó cô đốt bức ảnh cái cây dưới đó anh yêu cô lần đầu tiên, thật sự yêu cô và làm cho cô thuộc về anh ta.
Cô không có người đàn ông nào nữa cả. Họ chỉ bội bạc con và bỏ rơi con, mẹ cô nói thế, và mẹ cô đã đúng: Không thể bao giờ có người đàn ông nào nữa hết, không bao giờ, cô đã thề.
Đêm đó, một tuần trước lễ Giáng Sinh, những giấc mơ tan biến trước bình minh, và cô ngủ với tờ chương trình Cây sáo thần bên cạnh. Trong khi cô ngủ, một vài nét dễ dàng từ khoé miệng cô và khoé mồm cô lộ ra. Và khi ngủ, cô mỉm cười. Chắc chắn chẳng có gì hại ở đó hết cả.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #89 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:48:07 pm »

CHƯƠNG 13

Chiếc Mercedes to lớn màu ghi đang gặp tắc đường. Bấm còi như điên, người lái xe đẩy dạt vào hai bên một dòng thác ôtô, xe tải, hàng chợ, và những xe đẩy tạo nên một dòng cuộc sống giữa các phố tên là Khulafa và Rashid.
Đó là Baghdad cổ, nơi những người buôn bán và bán hàng, những người bán quần áo, vàng, hương liệu. những người mua hầu hết các hàng hoá, phải khó khăn đi lại trong suốt mười thế kỷ qua.
Chiếc xe rẽ xuống phố Bank, nơi hai đường đầy xe ôtô đang đỗ, và cuối cùng lao sang phố Shurja. Trước đó, chợ trên phố của những người bán hương liệu là không thể vào được.
Người lái xe quay đầu lại.
- Tôi chỉ có thể đi vào được đến thế này thôi.
Leila Al-Hilla gật đầu và đợi cánh cửa mở ra cho mình. Bên cạnh người lái xe là Kemal, vệ sĩ thân tín của tướng Kadiri. một trung uý sắt thép của các Lực lượng Vũ trang đã trở thành nhân viên của Kadiri trong nhiều năm. Cô ghét anh ta.
Sau một lát dừng lại, viên trung sĩ mở cửa, nhấc thân hình cao lớn của mình lên vỉa hè, và mở cửa sau. Anh ta biết một lần nữa cô lại nhục mạ anh, và nó được thể hiện trong mắt anh ta. Cô nhẹ nhàng bước ra khỏi xe và chẳng buồn liếc nhìn hay một lời cám ơn.
Một lý do khiến cô ghét người vệ sĩ là vì anh ta đi theo cô mọi nơi. Đó là công việc của anh ta, dĩ nhiên do Kadiri giao, nhưng điều đó không làm cô bớt ấn tượng xấu về anh ta. Khi nghiêm túc, Kadiri là một người lính chuyên nghiệp rất nghiêm khắc; trong vấn đề dục tình thì ông ta cũng ghen tuông ở mức độ không thua kém. Từ đó quy tắc của ông ta là cô không bao giờ được một mình trong thành phố hết cả.
Lý do khác khiến cô không ưa người vệ sĩ là rõ ràng anh ta đang ve vãn cô. Một người đàn bà với ham muốn cao độ như cô có thể hiểu rõ mọi người đàn ông đều ham muốn cơ thể cô, và nếu giá chấp nhận được cô sẽ chấp nhận ngay, không quan tâm đến cái trò kỳ quặc đến thế nào. Nhưng Kemal đã phạm vào cái lỗi xấu xa nhất: Là một trung sĩ. anh ta nghèo, làm thế nào mà anh ta lại cả gan có những ý nghĩ đó kia chứ Anh ta rõ ràng là đã dám - một sự pha trộn của chiêm ngưỡng cô và ham muốn nhục dục. Điều đó lộ ra khi anh ta biết tướng Kadiri không có đó.
Về phần mình anh ta biết sự mãnh liệt của cô, và điều đó làm anh ta thích ve  vãn cô bằng những cái liếc nhìn trong khi ngôn ngữ vẫn lộ rõ sự chỉn chu.
Cô đã phàn nàn với Kadiri về sự sỗ sàng láo toét của anh ta, nhưng ông chỉ phá lên cười. Ông có thể nghi ngờ bất kỳ người đàn ông nào ham muốn cô, nhưng Kemal được phép có nhiều tự do bởi vì Kemal đã cứu sống ông trong trận Al Fao chống người Iran, và Kemal có thể vì ông mà hy sinh.
Người vệ sĩ sập cửa lại và đứng cạnh cô khi họ tiếp tục đi xuống phố Shurja.
Vùng này là Agid al Nasara, vùng của người Công giáo- Ngoài nhà thờ thánh George bên kia sông, được xây dựng bởi người Anh cho chính mình và niềm tin Tin lành của mình, có ba giáo phái Công giáo ở Iraq, chiếm khoảng 7% dân số nước này. Giáo phái lớn nhất là Assyry hoặc Syriac, mà nhà thờ nằm giữa vùng Công giáo, bên ngoài phố Shurja. Một dặm cách đó là nhà thờ Armenie, gần một cái khác rất gần những phố nhỏ và đường đi mà lịch sử được lùi lại nhiều thế kỷ tên là Campel Arman, khu phố cổ Armeny.
Kề với nhà thờ lớn Syriac là nhà thờ thánh Joseph, của người Công giáo Chaldea, giáo phái nhỏ nhất. Nếu lễ nghi Syriac giống nhà thờ Chính giáo Hy Lạp, thì của Chaldea lại hao hao nhà thờ Thiên chúa giáo. Người Iraq đáng kính nhất trong số các tín đồ công giáo Chaldea khi đó là bộ trưởng ngoại giao Tang Aziz, mặc dù sự trung thành như chó săn của ông ta với Saddam Hussein và những chính sách diệt chủng của mình, ông ta, Aziz, vẫn luôn mồm rao giảng về hoà bình. Leila Al-Hilla cũng đã sinh ra là một tín đồ Chaldea, và giờ đây điều này tỏ ra rất hữu dụng.
Cặp trai gái không ưa gì nhau đi đến cái cổng nẹp thép dẫn vào cái sân to trước mặt một cánh cửa vòng cung của nhà thờ Chaldea. Kemal dừng lại. Là một tín đồ Hồi giáo, anh ta không thể đi thêm một bước nào nữa. Cô gật đầu với anh ta và đi vào trong cổng. Kemal nhìn cô khi cô mua một cây nến nhỏ ở một cửa hàng ngoài cửa. lật chiếc mũ ra đằng sau, và đi vào bên trong tối om.
Người vệ sĩ nhún vai và đi lùi lại vài yard để mua một lon Coke và tìm một chỗ để ngồi và nhìn đường ra. Anh ta tự hói tại sao ông chủ của mình lại cho phép cái trò vô tích sự này. Người đàn bà là một thứ dở hơi; vị tướng có thể một ngày nào đó sẽ bỏ cô ta và anh ta, Kemal, đã được hứa. có thể rất sung sướng trước khi cô ta bị loại đi. Anh ta mỉm cười về triển vọng, và làm tràn nước ngọt ra cằm.
Trong nhà thờ Leila dừng lại để thắp ngọn nến từ một trong những hàng trăm ngọn lửa gần cửa, rồi. cúi lom khom, đi vào những ô xưng tội ở bên kia. Một nhà tu mặc áo chùng đen đi qua nhưng không đoái hoài gì đến cô cả.
Luôn cùng trong một ô xưng tội. Cô đi vào vào giờ chính xác, nối đuôi một người đàn bà vận đồ đen cũng đang tìm một nhà tu để nghe những tôi lỗi cho mình, có khả năng còn tầm thường hơn người đàn bà trẻ đang tiếp đuôi bà ta và ngồi vào chỗ của mình.
Leila đóng cửa sau lưng mình, quay lại, và ngồi vào chỗ của người xưng tội. Bên phải cô là một cái mắc lưới chắc chắn.
Cô nghe thấy có tiếng động nhỏ đằng sau. Anh ta có thể đã ở đó rồi; anh ta luôn ở đó vào giờ đã hẹn.
Anh ta có thể là ai? Cô tự hỏi. Tại sao anh ta lại trả nhiều tiền đến thế cho thông tin mà cô mang đến cho anh ta? Anh ta không phải là người ngoại quốc - tiếng Arập của anh ta quá tốt, tiếng Arập của một người sinh ra và lớn lên ở Baghdad này. Và tiền của anh ta thì tốt, thật là tốt.
- Leila phải không? Giọng nói là một tiếng thì thầm, nhỏ và đều đều. Cô luôn phải đến sau anh ta và rời đi trước anh ta. Anh ta đã báo trước là không được rình mò bên ngoài để nhìn anh ta, nhưng bằng cách nào cô có thể làm vậy, với Kemal luôn kè kè bên cạnh cơ chứ? Thằng cha có thể thấy cái gì đó và báo lại cho ông chủ của hắn. Cuộc đời cô đáng giá hơn thế chứ.
- Hây nói con là ai đi.
- Thưa cha, con đã phạm tội trong những vấn đề xác thịt và không đáng được cha tha thứ.
Chính anh ta là người đã sáng tác ra câu nói đó. bởi vì không ai khác có thể nói như thế.
- Thế cô có gì cho tôi?
Cô luồn tay vào giữa hai chân, kéo ra, và xé một gói băng vệ sinh anh ta đã đưa cô nhiều tuần trước. Một đầu rơi ra. Cô kéo ra một cuốn giấy dày hình ống không lớn hơn một cái bút chì. Cô chuyển nó qua tấm mành của cái ô.
- Đợi nhé.
Cô nghe thấy tiếng sột soạt của giấy nến khi người đàn ông đưa con mắt chuyên nghiệp kiểm tra những ghi chép của cô - Một báo cáo về những suy tính và kết luận của hội đồng kế hoạch ngày hôm trước do đích thân Saddam Hussein chủ trì, tại đó tướng Abdullah Kadiri cũng có mặt.
- Tốt, Leila. Tốt lắm.
Hôm nay tiền bằng đồng frăng Thụy Sĩ , những đồng tiền có mệnh giá rất cao, được tuồn qua song từ anh ta đến cô. Cô giấu kín tất cả chúng vào chỗ cô đã để thông tin của mình, một chỗ cô biết hầu hết những tín đồ Hồi giáo nam đều coi là bẩn thỉu trong một khoảng thời gian nào đó. Chỉ bác sĩ hay lũ AMAM chết dẫm mới có thể tìm thấy ở đó.
- Phải tiếp tục bao lâu nữa đây? Cô hỏi chấn song.
- Không lâu nữa đâu. Chiến tranh sẽ sớm xảy ra thôi. Khi nó kết thúc, Rais sẽ sụp đổ. Những người khác sẽ lên nắm quyền. Tôi sẽ có thể là một trong số đó. Khi đó cô sẽ thực sự được thưởng, Leila ạ. Hãy bình tĩnh làm công việc của mình, và kiên nhẫn.
Cô mỉm cười. Thực sự được trả công. Tiền, rất nhiều tiền, đủ để đi xa và sống những ngày cuối đời trong giàu có.
- Giờ thì đi đi.
Cô đứng lên và rời khỏi cái ô. Người đàn bà nhiều tuổi mặc đồ đen đã tìm thấy ai đó khác để xưng tội. Leila lại đi qua khung nhà và đi ra ánh mặt trời. Thằng khốn Kemal đang đứng ở cánh cổng nẹp thép, vung vẩy một lon nước ngọt trên một ngón tay to đùng, phơi mình ra trước cái nóng. Tốt, cứ để hắn ta đổ mồ hôi. Hắn sẽ còn đổ nhiều mồ hôi hơn nữa nếu hắn biết...
Không thèm liếc qua anh ta, cô quay lại phố Shurja, đi qua cái chợ đông nghịt đi đến cái xe đang đợi sẵn. Kemal  điên tiết nhưng không biết làm thế nào, lủi thủi đi theo cô ta. Cô không thèm để ý dù chỉ một chút một cái fellagha tồi tệ đây một cái xe đạp với một cái giỏ trần đằng trước, và người này cũng không mảy may quan tâm đến cô. Người đàn ông là người duy nhất trong chợ đi mua đồ ăn, đi mua các thứ quả.
Một mình trong ngăn xưng tội, người đàn ông trong chiếc cassock đen của một thầy tu Chaldea ngồi đợi một lúc lâu để chắc chắn rằng nhân viên của mình đã rời khỏi phố. Cô ta chẳng thể nào nhận ra ông ta, nhưng trong trò chơi này ngay cả những điều vớ vẩn cũng có thể dẫn đến thảm hoạ. Ông ta nghĩ về những điều đã nói với cô. Chiến tranh đang đến gần. Người Mỹ đã mắc vào và không thể rút được nữa. Trừ khi người trong cung điện bên dòng sông ở cầu Tamuz không chịu rút lui đơn phương khỏi Kuwait. May mắn sao, ông ta có vẻ như là đã dính chặt vào chuyện phá huỷ của mình. Người Mỹ có thể chiến thắng trong cuộc chiến, và rồi sau đó họ có thể quay trở lại Baghdad để hoàn thành công việc của mình.
Chắc chắn là họ không thể chỉ chiến thắng ở Kuwait và nghĩ là đó là kết thúc của chuyện đó? Không ai có thể mạnh hơn và ngu ngốc hơn thế.
Khi họ tới, họ có thể phải cần đến một chính quyền khác.
Là người Mỹ, họ có thể ngả mạnh về ai đó có thể nói tiếng Anh lưu loát, người nào đó hiểu các phương cách của họ, các suy nghĩ của họ, và tiếng nói của họ, và người có thể biết phải nói gì để làm vui lòng họ và trở thành lựa chọn của họ.
Với giáo dục tốt, sự tinh thông tài năng giờ đây là những thứ phản lại anh, lại có thể là cái sẽ đem lại mọi thứ. Lúc này, anh ta bị gạt ra khỏi các hội đồng cao nhất và những quyết định tốt mật của Rais - bởi vì anh ta không phải thuộc bộ lạc Al- Tikriki khốn khiếp, hay là một người đệ tử trung thành cả đời của đảng Ba'ath, hay một ông tướng, hay một anh em cùng cha khác mẹ của Saddam.
Nhưng Kadiri thuộc bộ lạc đó - và được tin tưởng. Chỉ một ông tướng xe tăng tầm thường và với những sở thích của một con lạc đà ngớ ngẩn, từng chơi trong cát bụi của những con đường Tikrit với Saddam và tộc người của ông ta, và thế là đã đủ. Kadiri có mặt ở mọi cuộc họp đưa đến quyết định và biết mọi bí mật. Người trong đó cần biết những cái đó dễ mà tự có những chuẩn bị của mình.
Khi nghĩ rằng đã đợi đủ rồi, người đàn ông đứng dậy và đi ra. Thay vì đi ngang qua cửa chính, anh ta lướt qua một cửa bên đi ra hông, gật đầu với một thầy tu chính hiệu đang mặc quần áo cho một nghi lễ, và rời khỏi nhà thờ bằng cửa sau.
Người đàn ông đi xe đạp chỉ cách đó có 20 fít. Rất tình cờ anh ta liếc nhìn lên khi người thầy tu trong bộ cassock màu đen của mình hiện lên trong ánh mặt trời và tiến tới đúng lúc đó.
Người đàn ông mặc cassock cũng liếc nhìn người kia, chỉ trông thấy cái fellagha quấn trên chiếc xe đạp thay cho xích, và đi nhanh xuống cái ngõ đi về hướng một cái xe nhỏ rất bình thường.
Người đi chợ mua thức ăn thấy mồ hôi ròng ròng trên mặt và tim nảy lên. Gần quá, mẹ kiếp, gần quá. Anh đã cố gắng tìm cách tránh mọi chỗ gần đại bản doanh của Mukhabarat ở Mansour tránh trường hợp bị nhìn thấy mặt. Thế quái nào ông ta lại là một thầy tu trong khu phố Công giáo cơ chứ?
Chúa ơi, đã nhiều năm trôi qua - nhiều năm kể từ khi họ cùng chơi với nhau trên sân của ngôi trường Tasisiya của ông Hartley, từ khi anh đấm vào hàm thằng nhóc vì đã nhạo báng đứa em trai yêu quý của anh: kể từ khi họ ngâm thơ trong lớp: luôn bị Abdelkarim Badri vượt mặt. Đã là một khoảng thời gian dài kể từ khi anh nhìn thấy người bạn cũ Hassan Rahmani, giờ đây là chỉ huy Phản gián của Cộng hoà lraq.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM