Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:40:11 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005  (Đọc 148304 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #10 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2010, 09:49:07 pm »

3. British Aerospace “Sea Harrier”

“Sea Harrier” FRS.Mk 1 là sự phát triển tiếp sau của phiên bản máy bay tấn công cất – hạ cánh đứng “Harrier” GR.Mk 3, có mặt trong lực lượng Không quân Anh. Sự khác biệt so với dòng máy bay trước ở chỗ FRS.Mk 1 có bộ phận mũi của thân máy bay thuôn hơn, trong đó bố trí đài ra đa định vị “Ferranty Blue Focs”, đèn của cabin với hình dáng hoàn thiện hơn và động cơ “Pegasus” Mk 104 sức kéo 9830 kg lực. Trong thành phần trang thiết bị điện tử trên máy bay có hệ thống lái tự động, hệ thống máy ngắm dẫn đường hiện đại và màn hình ảo trên kính chắn gió mới. Vào năm 1975, đơn đặt hàng đầu tiên gồm 24 máy bay FRS.Mk 1 và 1 máy bay huấn luyện T.Mk 4A. Phi đội đầu tiên (số 899), được trang bị những máy bay này, gia nhập lực lượng Không quân Anh tháng 4 năm 1980, còn sau đó không lâu, hai phi đội nữa được thành lập (số 800 và 801). Các phân đội này đã thể hiện rất tốt trong thời gian khủng hoảng tại quần đảo Frankland – các phi công của “Sea Harrier” đã ghi vào trong các thành tích của họ với 23 chiến thắng. Sau cuộc chiến với Argentina, giới chỉ huy quân sự Hải quân Anh quyết định tái trang bị lực lượng Không quân, 57 FRS.Mk 1 đã được đặt mua cùng 4 máy bay huấn luyện (trong đó có 3 T.Mk 4N). Sau đó, trên các máy bay được lắp thêm 4 mấu treo dưới cánh cho 4 tên lửa điều khiển AIM-9, các công-te-nơ lớn hơn với ngẫu cực và đài cảnh báo về sự khuyếch tán sóng ra đa. Năm 1978, Hải quân Ấn Độ trở thành nước thứ 2 sau Anh đặt mua các máy bay “Sea Harrier”. Tổng cộng, Ấn Độ đặt mua 24 FRS. Mk 51 và 4 máy bay huấn luyện T.Mk 60.

Phiên bản hiện đại hóa FRS. Mk 2

Năm 1985, sự hiện đại hóa cho các máy bay “Sea Harrier” được tiến hành nhằm nâng cao chất lượng của máy bay yểm trợ. Tập đoàn “British Aerospace” đã tái trang bị 2 máy bay FRS. Mk 1 trong các nguyên mẫu của máy bay FRS.Mk 2. Chiếc đầu tiên trong số chúng thực hiện chuyến bay vào tháng 9 năm 1988. Trên máy bay mới có lắp thêm khoang (buồng) bổ sung cho các trang thiết bị và thay đổi hình dạng bộ phận mũi của thân máy bay nhằm bố trí đài ra đa định vị  “Blue Vicsen”. Tuy nhiên, “Harrier” FRS.Mk 2 có thân ngắn hơn 0,61m so với phiên bản trước. Trong cabin của phi công có màn hình đa chức năng mới trên ống tia điện tử và hệ thống điều khiển HOTAS. Hợp đồng, được ký kết vào mùng 7 tháng 12 năm 1988, dự kiến trang bị lại 31 máy bay FRS.Mk 1 thành phiên bản FRS. Mk 2. Boong cất cánh thử nghiệm cho máy bay được tiến hành vào năm 1990. Câu hỏi với mục đích đảm bảo sự huấn luyện cho phi công đã được giải quyết với loại máy bay hai chỗ ngồi T.Mk 8N, thiết kế trên cơ sở T.Mk 4N.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: British Aerospace Sea Harrier FRS. Mk 2

Động cơ: động cơ tuabin phản lực hai kỳ đốt sau Roll – Roys “Pegasus” Mk 106 sức kéo 9770 kg lực

Sải cánh: 7,70m

Chiều dài: 14,50m

Chiều cao: 3,71m

Diện tích cánh: 18,68m2

Trọng lượng: tĩnh:6374kg; cất cánh tối đa: 11884

Tốc độ tối đa trên mặt đất: 1185km/h

Trần bay thực tế: 15 545km/h

Bán kính hoạt động: 750km

Trang bị: 2 pháo 30mm ADEN, tải trọng chung: 2270kg (phiên bản trên tàu sân bay), 3630kg (phiên bản trên mặt đất). Trang bị gồm có 4 tên lửa điều khiển AIM-120, các loại bom, rocket, tên lửa chống tàu “Sea Eagle”.

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #11 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2010, 09:49:58 pm »

Máy bay phản lực "Sea Harrier":



Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #12 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2010, 09:51:02 pm »

"Harrier" Mk 3:



"Harrier" Mk 51 (phiên bản của Ấn Độ):

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #13 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2010, 09:51:37 pm »

Bản vẽ thiết kế "Sea Harrier":

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #14 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2010, 08:24:06 pm »

4. British Aerospace VC10

Theo con đường hiện đại hóa máy bay dân dụng Vikkers/VAS VC10, Không quân Anh đã nhận được một loại máy bay vận tải quân sự hữu dụng. Sự quan tâm tới vấn đề này của giới chỉ huy Không quân Anh đã xuất hiện vào năm 1960. Phiên bản quân sự đầu tiên của VC10 không khác với phiên bản dân sự, nhưng được trang bị động cơ hiện đại “Conway”. “Super” VC10 được trang bị thêm các thùng nhiên liệu bổ sung, cửa bên hông của khoang vận tải, cần tiếp (nhiên) liệu và thiết bị năng lượng hỗ trợ ở bộ phận đuôi. Máy bay vận tải VC10C.Mk 1 có thể vận chuyển 150 hành khách hoặc 76 băng ca với 6 y tá. Chiếc đầu tiên trong số 14 máy bay VC10 hoàn thành chuyến bay vào tháng 11 năm 1965, còn tháng 7 năm 1966, những máy bay này được tiếp nhận vào phi đội số 10 thuộc Không quân Hoàng gia Anh, bắt đầu hoạt động từ tháng 4 năm 1967.

Phiên bản tiếp liệu

Vào năm 1971, một vài máy bay VC10 đã tiếp nhận quyết định tái trang bị thành máy bay tiếp liệu. Sự hiện đại hóa được thực hiện trên 9 máy bay của các dòng khác nhau, nhận tên gọi VC10.Mk 2/3. Trên các máy bay này lắp các thùng nhiên liệu bổ xung, theo theo 3 tổ hợp tiếp liệu (2 dưới cánh và 1 ở bộ phận đuôi của thân máy bay) và hệ thống vô tuyến để quan sát quá trình tiếp nhiên liệu. Những chiếc VC10K.Mk 2 gia nhập phi đội số 101 tháng 5 năm 1984, còn năm 1985, xuất hiện phiên bản K.Mk 3 Sau 4 năm tiếp nhận, 5 máy bay “Super” VC10 được trang bị lại thành máy báy tiếp liệu tầm gần VC10K.Mk 4, còn 8 chiếc C.Mk 1 được hiện đại hóa và nhận tên gọi VC10C.Mk 1 (K). Trên các máy bay này có khoang vận tải và 2 tổ hợp tiếp dầu dưới cánh. K.Mk 4 được trang bị các tổ hợp tiếp liệu Mk 17 và Mk 32, camera quan sát, hệ thống dẫn đường TACAN và động cơ được tiếp nhận trên máy bay K.Mk 3. Các thùng tiếp liệu bổ xung bên trong không có. Năm 1992, quyết định cải tạo 13 máy bay C.Mk 1 thành phiên bản C.Mk 1(K). Toàn bộ các máy bay tiếp liệu VC10 đều đều được trang bị đồng thời hệ thống phân phối thông tin chiến thuật. Trong thời gian chiến tranh với Iraq, các máy bay VC10 đã đảm bảo sự hoạt động cơ bản của lực lượng Không quân Hoàng gia.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: British Aerospace VC10C. Mk 1

Động cơ: động cơ tuabin phản lực 2 kỳ đốt sau Rolls – Roys “Conway” Rco.43 Mk 301, 4x9898 kg lực

Sải cánh: 44,55m

Chiều dài: 48,38m

Chiều cao:12,04m

Diện tích cánh: 272,38m2

Trọng lượng: tĩnh: 66 224kg; cất cánh tối đa: 146 510kg

Tải trọng: 26 037kg

Tốc độ tuần tiễu trên tầm cao 9450m: 935km/h

Tốc độ nâng dưới mặt đất: 930km/h

Chiều dài cất cánh cần thiết: 2530m (trọng lượng cất cánh tối đa)

Chiều dài hạ cánh cần thiết: 2134m (trọng lượng hạ cánh bình thường)

Tầm hoạt động: 6273km (với tải trọng tối đa).

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #15 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2010, 08:24:57 pm »

VC10 phiên bản dân sự:



phiên bản quân sự:

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #16 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2010, 08:26:10 pm »

VC10 phiên bản tiếp dầu:
với "Tornado":



với "Gripen":

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #17 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2010, 08:26:38 pm »

Bản vẽ thiết kế VC10:

Logged
Su_35
Thành viên
*
Bài viết: 29


« Trả lời #18 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2010, 09:38:13 pm »

"Harrier" Mk 3:



"Harrier" Mk 51 (phiên bản của Ấn Độ):


Con này còn có biệt danh là "Chó Săn " phải không Huh?
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #19 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 05:35:21 pm »

5. Panavia “Tornado” ADV

Máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa hạng nặng “Tornado” ADV được thiết kế trên cơ sở “Tornado” IDS một cách đặc biệt cho Không quân Anh và được sử dụng trong các hoạt động yểm trợ tầm xa. Nhiệm vụ chính của nó là bảo vệ các lối tiến vào biên giới từ phía bắc và phía tây các nước NATO và phòng thủ xa bờ cho Hải quân Anh. Khi thiết kế máy bay đánh chặn đã được tính toàn, rằng nó phải mang được 4 tên lửa điều khiển “Sky Flash” với đầu đạn tự dẫn đường bằng ra đa. Sự gia tăng kích thước máy bay nằm trong tính toán đó, và dẫn đến việc tăng thể tích bình nhiên liệu. Đài ra đa định vị AI.Mk 24 “Foxhunter” được lắp trên máy bay có khả năng phát hiện các mục tiêu từ khoảng cách 185km và theo dõi 20 mục tiêu trong số chúng một cách đồng thời. Tuy nhiên, trong quá trình thiết kế máy bay, xuất hiện hàng loạt vấn đề, vì thế sự hoàn thiện của nó trên thực tế bị ngưng trệ, và chỉ vào năm 1989, nó mới đạt đến mức độ như trong quá trình thiết kế. Ban đầu, 3 mẫu máy bay thử nghiệm đã được thiết kế (chuyến bay đầu tiên – 27 tháng 10 năm 1979), sau đó là 18 máy bay “chuyển tiếp” F.Mk 2 với động cơ RB.199 Mk 103. Những máy bay đầu tiên này đã bay với những vật phụ kiện bằng chì thay thế cho các đài ra đa định vị và phục vụ đến tháng 1 năm 1988 trong mục đích đào tạo phi công. Những kế hoạch tái trang bị chúng gần với phiên bản Mk 3 tiêu chuẩn dưới tên gọi F.Mk 2A đã không được thực hiện.

“Tornado” F.Mk 3

Lứa “Tornado” F.Mk 3 thứ nhất thực hiện các chuyến bay đầu tiên vào tháng 11 năm 1985. Tập đoàn “British Aerospace” đã cho xuất xưởng 144 loại máy bay này, gồm có 38 F.Mk 3 với sự điều khiển kép. Oman đã từ chối 8 máy bay, và chúng được chuyển giao cho RAF (Không quân Hoàng gia). F.Mk 3 được trang bị động cơ Mk 104, hệ thống dẫn đường quán tính thế hệ thứ 2 và các giá treo dành cho 4 tên lửa điều khiển AIM-9. Năm 1989, chương trình hiện đại hóa “Cấp độ 1” được tiếp nhận. Những sự thay đổi bao gồm hệ thống “tay quay tác chiến” mới với sự điều khiển thống nhất bởi các động cơ và máy bay (hệ thống HOTAS), nâng cấp đài ra đa định vị, đài cảnh bảo về sự khuyếch tán của sóng ra đa “Hermes”, cải tiến động cơ tuabin phản lực, tăng 5% công suất và thiết bị rải ngẫu cực bố trí ở đuôi của thân máy bay (từ năm 1991). Khả năng tiếp nhận sự tiếp liệu được thực hiện vào giữa những năm 90, trong chương trình hiện đại hóa “Cấp độ 2” mà trong đó, dự kiến cơ bản là nâng cấp đài ra đa định vị. Hiện nay, trong biên chế Không quân Hoàng gia Anh có 7 phi đội được trang bị “Tornado” F.Mk 3. Đơn đặt hàng duy nhất từ nước ngoài là của Arap Saudi ký từ năm 1989 với 24 máy bay. Trong thời gian chiến tranh với Iraq, giống như Anh, các phi công Arap không thu được bất kỳ thắng lợi nào.

Các thông số kỹ thuật cơ bản:

Tên gọi: Panavia Tornado F.Mk 3

Động cơ: động cơ tuabin phản lực hai kỳ đốt sau Turbo – Union RB.199-34R Mk 104, 2x4130/7495 kg lực

Sải cánh: 13,91/8,60m

Chiều dài: 18,68m

Chiều cao: 5,95m

Diện tích cánh: 26,60m2

Trọng lượng: tĩnh: 14 502kg; cất cánh tối đa: 27 968kg

Trần bay thực tế: 21 335m

Bán kính hoạt động: 556km (tốc độ siêu âm); 1852km (tốc độ trước âm)

Trang bị: pháo 27mm “Mouser”, 4 tên lửa điều khiển tầm trung “Sky Flash” và 4 tên lửa cận chiến tầm gần AIM-9L/M.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM