3. British Aerospace “Sea Harrier”
“Sea Harrier” FRS.Mk 1 là sự phát triển tiếp sau của phiên bản máy bay tấn công cất – hạ cánh đứng “Harrier” GR.Mk 3, có mặt trong lực lượng Không quân Anh. Sự khác biệt so với dòng máy bay trước ở chỗ FRS.Mk 1 có bộ phận mũi của thân máy bay thuôn hơn, trong đó bố trí đài ra đa định vị “Ferranty Blue Focs”, đèn của cabin với hình dáng hoàn thiện hơn và động cơ “Pegasus” Mk 104 sức kéo 9830 kg lực. Trong thành phần trang thiết bị điện tử trên máy bay có hệ thống lái tự động, hệ thống máy ngắm dẫn đường hiện đại và màn hình ảo trên kính chắn gió mới. Vào năm 1975, đơn đặt hàng đầu tiên gồm 24 máy bay FRS.Mk 1 và 1 máy bay huấn luyện T.Mk 4A. Phi đội đầu tiên (số 899), được trang bị những máy bay này, gia nhập lực lượng Không quân Anh tháng 4 năm 1980, còn sau đó không lâu, hai phi đội nữa được thành lập (số 800 và 801). Các phân đội này đã thể hiện rất tốt trong thời gian khủng hoảng tại quần đảo Frankland – các phi công của “Sea Harrier” đã ghi vào trong các thành tích của họ với 23 chiến thắng. Sau cuộc chiến với Argentina, giới chỉ huy quân sự Hải quân Anh quyết định tái trang bị lực lượng Không quân, 57 FRS.Mk 1 đã được đặt mua cùng 4 máy bay huấn luyện (trong đó có 3 T.Mk 4N). Sau đó, trên các máy bay được lắp thêm 4 mấu treo dưới cánh cho 4 tên lửa điều khiển AIM-9, các công-te-nơ lớn hơn với ngẫu cực và đài cảnh báo về sự khuyếch tán sóng ra đa. Năm 1978, Hải quân Ấn Độ trở thành nước thứ 2 sau Anh đặt mua các máy bay “Sea Harrier”. Tổng cộng, Ấn Độ đặt mua 24 FRS. Mk 51 và 4 máy bay huấn luyện T.Mk 60.
Phiên bản hiện đại hóa FRS. Mk 2
Năm 1985, sự hiện đại hóa cho các máy bay “Sea Harrier” được tiến hành nhằm nâng cao chất lượng của máy bay yểm trợ. Tập đoàn “British Aerospace” đã tái trang bị 2 máy bay FRS. Mk 1 trong các nguyên mẫu của máy bay FRS.Mk 2. Chiếc đầu tiên trong số chúng thực hiện chuyến bay vào tháng 9 năm 1988. Trên máy bay mới có lắp thêm khoang (buồng) bổ sung cho các trang thiết bị và thay đổi hình dạng bộ phận mũi của thân máy bay nhằm bố trí đài ra đa định vị “Blue Vicsen”. Tuy nhiên, “Harrier” FRS.Mk 2 có thân ngắn hơn 0,61m so với phiên bản trước. Trong cabin của phi công có màn hình đa chức năng mới trên ống tia điện tử và hệ thống điều khiển HOTAS. Hợp đồng, được ký kết vào mùng 7 tháng 12 năm 1988, dự kiến trang bị lại 31 máy bay FRS.Mk 1 thành phiên bản FRS. Mk 2. Boong cất cánh thử nghiệm cho máy bay được tiến hành vào năm 1990. Câu hỏi với mục đích đảm bảo sự huấn luyện cho phi công đã được giải quyết với loại máy bay hai chỗ ngồi T.Mk 8N, thiết kế trên cơ sở T.Mk 4N.
Các thông số kỹ thuật cơ bản:
Tên gọi: British Aerospace Sea Harrier FRS. Mk 2
Động cơ: động cơ tuabin phản lực hai kỳ đốt sau Roll – Roys “Pegasus” Mk 106 sức kéo 9770 kg lực
Sải cánh: 7,70m
Chiều dài: 14,50m
Chiều cao: 3,71m
Diện tích cánh: 18,68m2
Trọng lượng: tĩnh:6374kg; cất cánh tối đa: 11884
Tốc độ tối đa trên mặt đất: 1185km/h
Trần bay thực tế: 15 545km/h
Bán kính hoạt động: 750km
Trang bị: 2 pháo 30mm ADEN, tải trọng chung: 2270kg (phiên bản trên tàu sân bay), 3630kg (phiên bản trên mặt đất). Trang bị gồm có 4 tên lửa điều khiển AIM-120, các loại bom, rocket, tên lửa chống tàu “Sea Eagle”.
