22. Mig-23
Máy bay Mig-23 được thiết kế nhằm thay thế Mig-21 và phải đảm bảo có tầm bay xa, trang bị tốt hơn và có khả năng khai thác sử dụng với đường băng cất – hạ cánh được rút ngắn. Chuyến bay đầu tiên của nguyên mẫu “23-11” với cánh dạng hình học được thay đổi và động cơ R-27F-300 vào ngày 26 tháng 5 năm 1967. Sau đó, máy bay tiêm kích được đưa vào sản xuất hàng loặt dưới tên gọi Mig-23S. Mig-23M, gia nhập biên chế năm 1972, có đài ra đa định vị “Sapfir-23D” được hiện đại hóa, ra đa (máy dò) hồng ngoại và có thể mang tên lửa điều khiển tầm trung R-23P và R-23T. Hai phiên bản xuất khẩu của Mig-23: Mi-23MS với trang thiết bị điện tử trên máy bay và vũ khí được rút giảm cùng Mig-23MF với đài ra đa định vị mạnh hơn và tên lửa tầm gần R-60. Sự phát triển tiếp theo là Mig-23ML tiếp nhận đài ra đa định vị mới “Sapfir-23ML”, động cơ R-35-300 và thân được đơn giản hóa một số chi tiết khác. Loại máy bay này nằm trong biên chế Không quân Liên Xô từ năm 1976, và được đưa sang Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức (Đông Đức). Phiên bản đồng nhất trên thực tế là Mig-23P. Phiên bản cuối cùng của Mig-23 là Mig-23MLD, có bộ phận thu áp lực không khí và các vết giũa ở cuối cánh (sát thân máy bay) nhằm nâng cao tính năng khí động học. Mig-23ML đã thể hiện là một đối thủ xứng tầm với các máy bay Mỹ. Ví dụ, trong cuộc chiến tranh Siry – Israel tháng 12 năm 1982, các Mig-23ML của Siry đã bắn rơi 3 F-15 và 1 F-4 mà không mất chiếc nào.
Phiên bản cường kích
Năm 1969, Phòng thiết kế Micoyan đã bắt đầu công việc thiết kế các máy bay cường kích chiến thuật trên cơ sở Mig-23S. Việc tháo đài ra đa định vị (thay cho nó là máy đo xa laze) cho phép tăng cường hình dạng một cách đáng kể từ cabin trên phiên bản máy bay cường kích Mig-23B (chuyến bay đầu tiên vào năm 1970). Trong phần đuôi thân được rút ngắn bố trí động cơ Lylki AL-21F-300 sức kéo 11 200 kg lực. Mig-23B này được thay thế một cách rất nhanh chóng bằng phiên bản mới Mig-23BN với hệ thống dẫn đường hiện đại và động cơ R-29B-300. Phiên bản cường kích sau đó, Mig-23BK và Mig-23BM có sự khác biệt với các dòng trước ở trang bị và vũ khí. Máy bay huấn luyện chiến đấu Mig-23UB được sử dụng cho mục đích huấn luyện phi công cho Mig-23 và Mig-27.
Các thông số kỹ thuật cơ bản:
Tên gọi: Mikoyan Mig-23ML
Động cơ: động cơ tuabin phản lực đốt sau R-35-300 (Phòng thiết kế C.R.Khachaturov) sức kéo 8550/13 000kg lực
Sải cánh: 13,97/7,78m
Chiều dài: 16,70m
Chiều cao: 4,82m
Diện tích cánh: 37,35/34,16m2
Trọng lượng: tĩnh: 10 200kg; cất cánh: 14 700kg; cất cánh tối đa: 17 800kg
Tốc độ tối đa: 2500km/h (tầm cao 11 000m)
Tốc độ nâng trên mặt đất: 240m/s
Trần bay thực tế: 18 500m
Bán kính chiến đấu: 1150km
Trang bị: pháo 23mm 2 nòng GSh-23; tải trọng: 3000kg (2 tên lửa điều kiển R-23; 4 tên lửa điều khiển R-60).
