Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:55:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Không quân hiện đại - Nhà xuất bản Arsenal - 2005  (Đọc 148635 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #220 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 11:21:09 am »


Lịch sử

Chế tạo bởi Phòng thiết kế thí nghiệm Sukhoi trên cơ sở Su-27.

Lần cất cánh đầu tiên: năm 1988.

Giữa những năm 1990, chương trình bị đóng băng (đã sản xuất tổng cộng 16 máy bay).

Khôi phục sản xuất (sau khi nâng nâng cấp triệt để): năm 2006.

Su-35 mới cất cánh lần đầu tiên: năm 2008.

Phiên bản cho Không quân Nga có số hiệu Su-35S.

Đến năm 2015, Không quân Nga sẽ nhận được 48 máy bay.

Các thông số kỹ thuật

Thế hệ: 4++

Tổ bay: 1 phi công

Khối lượng cất cánh tối đa (trên cao): 34,5 tấn

Tốc độ tối đa (trên cao): 2500km/h

Tầm bay xa (trên cao): 3600 kilomet

Trần bay thực tế: 18 kilomet

Vũ khí

Trong tải chiến đấu: 8 tấn

Bệ treo vũ khí: 12

Pháo đường không 30mm

Các loại vũ khí “không đối không” và “không đối đất” có độ chính xác cao.

Các đặc điểm chính

+ tính cơ động cao

+ tổ hợp điện tử hàng không trên cơ sở các hệ thống kiểm soát – thông tin số hóa

+ đài ra đa vô tuyến phát hiện tầm xa, tăng số lượng các mục tiêu bám bắt và tấn công.

+ các động cơ có sức kéo mạnh và véc tơ lực xoắn/vặn

+ khả năng bị ra đa địch phát hiện thấp (khả năng tàng hình cao, chỉ kém các máy bay thế hệ thứ 5)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #221 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 11:37:44 am »


Mig-35 – máy bay tiêm kích đa năng được chế tạo bởi Phòng thiết kế thí nghiệm Mykoyan trên cơ sở Mig-29, là sự phát triển sâu của các máy bay chiến đấu Mig-29K/KUB và Mig-29M/M2.

Tên gọi: Mig-35

Ký hiệu (cách đặt tên) theo NATO – Fulcrum-F

Phân lớp – tiêm kích tiền duyên hạng nhẹ

Vũ khí

1 pháo GSh-30-1 lắp chìm

Bệ treo vũ khí: 8

Trọng tải chiến đấu: 7 tấn

Có thể sử dụng toàn bộ các loại đạn điều khiển và không điều khiển lớp “không đối không” và “không đối đât” dùng cho các loại máy bay tiền duyên do Nga sản xuất.

Thông số kỹ thuật

Chiều cao, mét: 4,73

Khối lượng rỗng. kg: 11 000

Khối lượng khi mang vũ khí, kg: 17 500

Khối lượng cất cánh tối đa, kg: 29 700

Đông cơ: 2x động cơ tuabin phản lực luồng kép TRDDF kiểm soát véc tơ lực RD-33

Sức kéo tối đa: 2x9000kg lực

Trần bay, mét: 17 500

Tốc độ tối đa ở độ cao lớn, km/h: 2560

Tốc độ tối đa gần mặt đất,km/h: 1450

Khả năng chịu tải tối đa, G: 10

Tầm bay xa không tiếp liệu,km: 3100

Bán kính hoạt động (với trọng tải chiến đấu tiêu chuẩn), km: 1000

Tổ bay: 1 người (trên Mig-35D: 2 người).

Lịch sử

Được chế tạo bởi phòng thiết kế thí nghiệm Mykoyan đầu những năm 2000 trên cơ sở Mig-29 với việc sử dụng khí tài vô tuyến điện tử, động cơ và các hệ thống mới nhất.

Lần bay đầu tiên – năm 2007

Sản xuất hàng loạt – 2010 (theo dự kiến)

Số lượng máy bay đã đóng – từ 4 đến 10 (theo các thông tin khác nhau) và được lên kế hoạch sản xuất số lượng lớn

Các đặc điểm

+ động cơ với véc tơ lực vặn/xoắn

+ khả năng sử dụng vũ khí nhiều kênh

+ ra đa với lưới ăng ten mảng pha chủ động.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #222 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2013, 12:10:58 am »

Máy bay cường kích Su-25


Tên gọi

Cấp quân/binh chủng: Su-25

Ký hiệu của tập đoàn: T-8

Phân lớp: cường kích

Các thông số kỹ thuật

Chiều dài: 15,36 mét

Chiều cao: 4,8 mét

Sải cánh: 14,36 mét

Diện tích cánh: 33,7m2

Tổ bay: 1 người

Khối lượng rỗng: 9500kg

Khối lượng khi mang vũ khí: 14 600kg

Khối lượng cất cánh tối đa: 17 600kh

Động cơ: 2xđộng cơ tuabin phản lực R-195

Sức kéo tối đa: 2x4500 kg lực

Trần bay: 7000 – 10 000 mét

Tốc độ tối đa trên độ cao lớn: 975km/h

Quá tải tối đa: 6,5G

Tầm bay xa không tiếp liệu: 2500km

Bán kính hoạt động không tiếp liệu, phụ thuộc vào nhiệm vụ bay, tốc độ và tải trọng: từ 150 đến 800 km

Vũ khí

1 pháo 2 nòng 30mm GSh-30-2 lắp chìm

4,4 tấn vũ khí trên 11 bệ treo

Có thể sử dụng các loại đạn điều khiển và rốc két “không đối đất”. Để tự vệ, máy bay trang bị các tên lửa “không đối không” R-60M.

Đặc điểm

Buồng lái hàn từ giáp titan

Lịch sử

Chế tạo bởi Phòng thiết kế - thí nghiệm Sukhoi cuối những năm 60-70 để yểm trợ hỏa lực cho Lục quân trên chiến trường bằng việc sử dụng các loại đạn không điều khiển. Được sử dụng nhiều trong các cuộc xung đột quân sự từ những năm 80 tới nay: chiến tranh Iraq-Iran, chiến tranh Afganistan, chiến tranh Etiofia-Eritoria, chiến tranh Chesnhia (2 lần) và các cuộc xung đột khác trên lãnh thổ Liên Xô cũ.

Tới thời điểm này, Su-25 trong Không quân Nga đang được nâng cấp theo dự án Su-25SM mà theo đó, bảo đảm sự dụng các vũ khí chính xác cao trong mọi điều kiện khí tượng.

Cất cánh lần đầu tiên: 22 tháng 2 năm 1975

Sản xuất hàng loạt: năm 1980 (Su-25) và năm 1987 (Su-25UB).

Các nước sở hữu (có Su-25 trong biên chế)

Belarus (khoảng 70 máy bay); Ucraina (khoảng 50); Gruzia (hơn 10 trước năm 2008; sau 2008: 1-2); Armenia: (10-12); Nga (250); Kazastan (khoảng 20); CHDCND Triều Tiên (khoảng 30); Uzbekistan (khoảng 10); Azerbaijan (dưới 10); Iran (khoảng 10); Eritoria (5-6); Etiofia (4).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #223 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2013, 12:23:41 am »

Máy bay ném bom chiến lược TU-160



Máy bay mang tên lửa chiến lược siêu âm với hình dáng khí động học thay đổi

Lịch sử chế tạo

1975 – bắt đầu chế tạo ở Phòng thiết kế Tupolev

18 tháng 12 năm 1981 – bay lần đầu với tổ bay của phi công – thí nghiệm hàng đầu Boris Veremei

1987 – các máy bay bắt đầu gia nhập biên chế

Trong biên chế Không quân Nga – 15 máy bay

Theo kế hoạch – tăng lên 30.

Nhiệm vụ (mục đích sử dụng)

Tiêu diệt các mục tiêu quan trọng nhất trong các khu vực địa – quân sự tầm xa và sâu trong hậu phương quân địch bằng các loại vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường.

Các đặc điểm

Máy bay Tu-160 giữ lại các đặc điểm nổi bật của máy bay ném bom hạng nặng truyền thống – sơ đồ máy bay cánh đơn không chịu tải, cánh dài, bốn động cơ lắp trên cánh (trên phần cánh cố định).

Khung gầm ba trụ với trụ chống mũi.

Vũ khí tên lửa – bom bố trí trong thân ở hai khoang vũ khí giống nhau (riêng).

Tổ bay được bố trí trong cabin kín ở mũi máy bay.

Theo NATO, máy bay có tên gọi lúc đầu là “RAM-P”. Sau đó được mang tên gọi mã hóa mới “Blacjack”

Các thông số kỹ - chiến thuật bay

Sải cánh

+ kích thước cánh: 55,7/35.6 mét

+ chiều dài cánh: 54,1 mét

+ chiều cao: 13,1 mét

+ diện tích cánh: 360/400m2

+ tổ bay: 4 người

+ động cơ: 3 động cơ tuabin phản lực hai kỳ NK32, động cơ phụ

+ hệ thống tiếp liệu trong khi bay

Khối lượng và tải trọng, tấn

+ cất cánh tối đa: 275

+ cất cánh tiêu chuẩn: 267.6

+ rỗng: 110

+ nhiên liệu: 148

+ tải trọng chiến đấu tiêu chuẩn: 9

+ tải trọng chiến đấu tối đa: 40

Các thông số bay

+ tốc độ tối đa trên độ cao lớn: 2000km/h

+ tốc độ tối đa gần mặt đất: 1030km/h

+ trần bay thực tế: 16 000 mét

+ tầm bay thực tế với tải trọng tiêu chuẩn: 13 200 kilomet.

Vũ khí

+ tổng khối lượng: 40 000 kg

+ tên lửa có cánh

+ tên lửa siêu âm đạn đạo khí động

+ tên lửa Kh-15

+ vi tính hóa mức độ cao trang thiết bị mang theo

+ tay lái được thay bằng các tay điều khiển (như trên máy bay tiêm kích).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #224 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2013, 12:23:39 am »

Số phận máy bay tiêm kích đa năng Mig-35

Nguồn: lenta. Tác giả: Vasily Sychev.

Mig-35D

Số phận máy bay tiêm kích đa năng mới của Nga – Mig-35 – cuối cùng đã được xác định. Bộ quốc phòng Nga trong thời gian tới có thể ký hợp đồng mua 24 máy bay loại này. Các cuộc đàm phán mua Mig-35 cho Không quân đã được tiến hành từ năm 2009, tuy nhiên thời gian cụ thể và khối lượng mua không được nói đến. Năm 2011, việc mua Mig-35 đã nằm trong chương trình vũ khí cấp Nhà nước. Và mặc dù hiện nay đã được biết rằng Mig-35 sẽ được trang bị cho Không quân Nga. Như để bảo đảm, nó có số lượng lớn trong Không quân Nga hay không, hiện chưa có cơ sở.

Việc chế tạo Mig-35 ở Nga đã bắt đầu từ nửa đầu những năm 2000 và máy bay được lắp hoàn chỉnh năm 2007. Đến năm 2010, mới chỉ đóng được 3 nguyên mẫu để tham gia thí nghiệm và trong các triển lãm hàng không khác nhau. Thông tin về máy bay trong toàn bộ thời gian chế tạo rất ít, với những lần gián đoạn lớn, và số phận máy bay tiêm kích trong thời gian dài không được xác định. Đặc biệt, trong bố cảnh tập đoàn “Sukhoi” thành công hơn nhiều khi ký với Bộ quốc phòng Nga các hợp đồng bán các máy bay tiêm kích hiện đại Su-27, Su-30 và Su-35 đầy triển vọng (thế hệ mới).

Mig-35 được chế tạo trong hai phiên bản – một (Mig-35S) và hai (Mig-35D) chỗ ngồi. Máy bay có chiều dài 17,3 mét, cao 4,73 mét và sải cánh 11,99 mét với khối lượng cất cánh tối đa 23,5 tấn. Máy bay trang bị các động cơ hiện đại RD-33MK với véc tơ lực xoắn/vặn, có khả năng đạt sức kéo 5400 kilogam-lực và 9000kg-lực trong chế độ tăng tốc. Mức trang bị sức kéo của Mig-35 khi tốc độ cất cánh tiêu chuẩn là 1,03. Máy bay tiêm kích có khả năng đạt tốc độ 2400km/h, tầm bay xa với thùng dầu phụ là gần 3000 kilomet.

Mig-35 trang bị pháo 30mm GSh-30-1 và có 10 bệ treo cho tên lửa và bom, tổng khối lượng 6,5 tấn. Điểm đặc sắc của máy bay tiêm kích thế hệ mới là buồn lái phi công hoàn toàn “số hóa”, đài ra đa vô tuyến “Zhuk-A” với lưới ăng ten mảng pha (phát hiện mục tiêu từ tầm xa 250 kilomet, theo dõi 30 mục tiêu trên không và tấn công đồng thời 8 trong số chúng). Và hệ thống thông tin – thước ngắm thế hệ thứ năm. Mig-35 lúc đầu được thiết kế trong vai trò thay thế các máy bay tiêm kích Mig-29 cũ.

Năm 2009, khi “Sukhoi” đã nhận hợp đồng của quân đội mua 48 máy bay tiêm kích Su-35, đã có thông tin rằng Bộ quốc phòng Nga sẽ nhanh chóng ký hợp đồng với “Mig” để mua Mig-35. Khi đó, đã khẳng định rằng vào năm 2015, Không quân Nga sẽ có trong biên chế không dưới 2 phi đội được trang bị máy bay loại này. Alesei Fedorov, khi đó là chủ tịch tập đoàn chế tạo máy bay Liên hiệp (“Sukhoi” và “Mig” cùng nằm trong tổ chức) đã tuyên bố rằng sẽ tiến hành đàm phán bán cho quân đội 20-30 Mig-35.

Tuy nhiên, không phải năm 2009 mà đến những năm sau đó, hợp đồng bán máy bay mới cho Không quân không hề được ký. Một số chuyên gia cho rằng, sự mới mẻ của Mig-35, được cho là bản nâng cấp sâu của Mig-29M buộc quân đội phải chú ý đến nó. Khi đó, có thông tin rằng số phận sau cùng của máy bay sẽ được xác định sau khi Không quân Ấn Độ tiến hành kết quả đấu thầu MMRCA mua 126 máy bay tiêm kích đa năng. Trong cuộc thi mở ra năm 2007 này, Mig-35 đã cạnh tranh với các máy bay tiêm kích Typhoon, F-16IN Super Viper, F/A-18E/F Super Hornet và JAS 39 Gripen IN. Năm 2011, máy bay Nga đã bị loại khỏi cuộc đấu thầu – phía Ấn Độ không hài lòng với hoạt động của động cơ và ra đa. Hợp đồng lớn mua Mig-35 với Ấn Độ cho phép tăng số lượng máy bay sản xuất hàng loạt, có nghĩa làm giảm đáng kể giá thành sản phẩm đối với Quân đội Nga.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #225 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2013, 12:24:06 am »

Tháng 6 năm 2011, cách sân bay Akhtubinsk 43 kilomet, máy bay tiêm kích Mig-29KUB đã bị rơi, các phi công Alecsandr Kruzhilin và Oleg Cpichk hy sinh. Máy bay bị rơi đã tham gia trong các thí nghiệm phiên bản máy bay hai chỗ ngồi Mig-35 mới. Mùa hè năm 2009, nó được trang bị lại thành Mig-35D từ máy bay Mig-29KUB thí nghiệm, thực hiện một số chuyến bay trong vai trò này, năm 2010, máy bay một lần nữa đổi thành Mig-29KUB. Triển vọng của Mig-35 trở nên mờ mịt, mặc dù đã xuất hiện một số lạc quan trong tháng 5 năm 2010 bằng tuyên bố của tổng thống Kazastan Nursultan Nazarbaev về việc Astana quan tâm tới các máy bay Mig-35.

Năm 2011, chương trình vũ khí cấp Nhà nước của Nga kéo dài tới năm 2020 đã bắt đầu. Khối lượng tài chính chi cho chương trình này là 20 000 tỷ rúp (cộng 3 000 tỷ tiến hành các công việc thiết kế - thí nghiệm và nghiên cứu khoa học). Việc mua thiết kế mới của tập đoàn chế tạo máy bay “Mig” cũng nằm trong chương trình này. Mùa thu năm 2012, tổng giám đốc “Mig” – Sergei Korotkov đã tuyên bố rằng việc mua các máy bay mới Mig-35 cho Không quân Nga sẽ bắt đầu vào năm 2014. Tháng 4 năm 2013, trong thời gian “trực tuyến”, tổng thống Nga Vladimir Putin cũng hứa nhanh chóng đưa Mig-35 vào biên chế.

Số phận máy bay tiêm kích thế hệ mới được xác định rõ hơn vào tháng 6 năm nay, khi Korotkov tuyên bố chuẩn bị hợp đồng với Bộ quốc phòng Nga mua 24 Mig-35. Theo đánh giá của tổng giám đốc “Mig”, hợp đồng bàn giao cho Không quân Nga các máy bay chiến đấu có thể được ký vào tháng 6-7 năm 2013. Khi đó, người đứng đầu tập đoàn chế tạo máy bay đã nhấn mạnh rằng, tổng cộng, Không quân Nga yêu cầu 37 máy bay tiêm kích Mig-35. Con số này ít hơn gần gấp đôi số máy bay theo chương trình vũ khí cấp Nhà nước về mua Mig-35 – 72 máy bay. Như vậy, không rõ ràng về số lượng cụ thể Mig-35 sẽ gia nhập biên chế quân đội là bao nhiêu.

Sau khi Liên Xô tan rã, số lượng máy bay tiêm kích hạng nhẹ và hạng nặng trong biên chế Không quân Nga duy trì theo tỷ lệ 1:1. Theo các thông tin đầu năm 2013, trong biên chế Không quân Nga còn 250 máy bay tiêm kích Mig-29 và 260 máy bay chiến đấu Su-27 và Su-30 đang hoạt động. Số lượng lớn Mig-29 đang ở trong biên chế đã có mặt từ thời Liên Xô, đã quá tuổi thọ sử dụng và cần thay thế và có thể, bằng Mig-35. Tuy nhiên, theo thông tin trong chương trình vũ khí cấp Nhà nước về số lượng máy bay loại này đã dẫn đến dự đoán rằng, Bộ quốc phòng Nga đã quyết định nghiên cứu lại tỷ lệ máy bay tiêm kích hạng nhẹ và hạng nặng trong khi, nghiêng về loại sau.

Với tính toán đã được quyết định và các đơn đặt mua được lên kế hoạch đối với Su-35 (tổng cộng 96 máy bay tới năm 2020), cũng như mua các máy bay mới Su-27SM3 và Su-30SM, số lượng máy bay tiêm kích hạng nặng trong biên chế Không quân Nga sau năm 2020 sẽ lên tới 390-400 máy bay. Khi đó, phần máy bay chiến đấu chiến thuật hạng nhẹ sẽ giảm dần, nếu chính quyền quyết định không tăng lượng đặt mua Mig-35 trong khuôn khổ chương trình vũ khí cấp Nhà nước mới giai đoạn 2016-2025 – sẽ được trình tổng thống Nga năm 2015.

Trong khi đó, hợp đồng mua số lượng lớn từ Bộ quốc phòng Nga cũng như bắt đầu bán Mig-35 ra nước ngoài đã cho phép duy trì tập đoàn chế tạo máy bay “Mig” đang ở trong tình hình khó khăn về tài chính. Cặp chứa hợp đồng đặt mua cho phép xí nghiệp hoạt động tới năm 2016. Ở đây, là nói về việc bán Mig-29 cho Myanmar, Mig-29K/KUB cho Ấn Độ và nâng cấp các máy bay Mig-29 của Ấn Độ cũng như dừng hợp đồng với Siry về bán các Mig-29M/M2 sau cùng. Ngoài ra, hợp đồng với Bộ quốc phòng Nga về bàn giao cho Hải quân Nga các máy bay Mig-29K/KUB. Triển vọng sau đó của tập đoàn mà mờ mịt.

Theo tính toán mới được công khai của tập đoàn, năm 2011, khoản thu của “Mig” là 22,6 tỷ rúp, lợi nhuận – 1,4 tỷ. Trong khi đó, nợ tín dụng của tập đoạn tăng lên 45 tỷ rúp.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #226 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2013, 12:50:23 pm »


Su-35 dùng để chiếm ưu thế trên không bằng cách tiêu diệt các thiết bị bay có người lái và không người lái bằng các tên lửa điều khiển ở tầm xa, tầm trung và tầm gần trong các trận chiến tầm xa hoặc tầm gần, khi hoạt động độc lập hoặc theo cụm, tiêu diệt các mục tiêu nổi và trên bộ bằng toàn bộ các loại vũ khí, trong bất kỳ điều kiện khí tượng, cũng như các mục tiêu cơ sở hạ tầng trên bộ được bảo vệ bằng các khí tài phòng không và có khoảng cách xa đáng kể tính từ sân bay mà Su-35 cất cánh.

Máy bay tiêm kích có hình dáng hiện đại với thiết kế được tăng cường, cho phép tăng cường đáng kể tuổi thọ máy bay – lên 6000 giờ hoặc 30 năm khai thác sử dụng (tuổi thọ cho tới lầ sửa chữa  kiểm tra – phục hồi đầu tiên và giữa hai lần sửa chữa tăng lên 1500 giờ hoặc 10 năm khai thác sử dụng.

Theo sơ đồ khí động, Su-35 giống Su-37, khác với Su-30MKI ở chỗ nó không có cánh tà trước. Trong khi toàn bộ ba kênh được thực hiện bằng sự điều khiển điện – từ xa, không có sự lái cơ khí. Su-35 tiếp nhận hệ thống tổng hợp điều khiển KSU-35 mới, thực hiện đồng thời chức năng của một số hệ thống được sử dụng trước đó trên Su-27 (hệ thống điều khiển từ xa, hệ thống điều khiển tự động, các tín hiệu giới hạn, các tín hiệu trên không, điều khiển hãm các bánh gầm, điều khiển quay (trục) bánh trước), tăng cường khả năng lái và cơ động. KCU-35 đồng thời thực hiện chức năng của hệ thống bảo vệ chủ động.

Hệ thống tổng hợp kỹ thuật số điều khiển dự phòng thực hiện các chức năng sau

+ điều khiển bằng tay từ xa việc lái máy bay bằng các thiết bị dẫn động thủy lực theo tín hiệu chỉ huy của phi công và theo tín hiệu của máy cảm biến các tham số bay;

+ điều khiển bằng tay từ xa véc tơ vặn xoắn nhờ bộ phận quay của vòi phun động cơ và kiểm soát lực kéo các động cơ;

+ điều khiển máy bay tự động và bán tự động (директорное управление);

+ đảm bảo kiểm soát di chuyển của máy bay trên mặt đất bằng cách quay bánh (bộ phận hiệu chỉnh) trục bánh trước và hãm, chống trượt các bánh chính ở thân;

+ đo, tính toán và cung cấp cho phi công/khí tài điều khiển thông tin tham số bay theo tốc độ - độ cao;

+ xác định giới hạn các tham số bay cho phép tương ứng với thông tin về tải trọng và tiếp liệu, chế độ bay và tình trạng các hệ thống hoạt động tương tác lẫn nhau;

+ thành lập và cung cấp thông tin tới các hệ thống bên ngoài gần với các tham số bay tới giá trị giới hạn cho phép và ngăn chặn tự động việc các tham số này vượt khỏi giới hạn;

+ đảm bảo tự động tránh va chạm (với mặt đất, máy bay khác, vũ khí tấn công của địch, các mảnh vỡ từ vũ khí tấn công (tên lửa) bắn ra từ chính máy bay…) theo các tín hiệu từ hệ thống kiểm soát thông tin (IUS) của tổ hợp trang thiết bị mang theo (KBO);

+ sự ổn định và kiểm soát máy bay trong quá trình tiếp liệu trên không;

+ kiểm tra tự động tình trạng máy bay trước khi khởi động, kiểm tra liên tục trong khi bay việc ngừng/ngắt và cung cấp thông tin các kết quả kiểm tra.

Điểm đặc biệt trong thiết kế của Su-35, khác với truyền thống của dòng Su-27 mà không có tấm hãm (phanh) trên – chức năng của nó được chuyển bằng độ lệch tay lái dẫn hướng. Cùng với việc tăng khối lượng bay, gầm Su-35 được tăng cường mạnh. Trục trước có hai bánh. Khi chế tạo hình dáng máy bay, có áp dụng công nghệ giảm khả năng bị ra đa phát hiện, đảm bảo giảm khả năng phản xạ trong dải X của sóng ra đa trên phạm vi góc -60…60 độ.

Hình dáng bên ngoài của Su-35 (Su-27BM) giống Su-27 thường hơn so với Su-35 (Su-27M): nó không có cánh tà trước, khe đuôi rút gọn. Cánh máy bay tương đương với cánh tiêm kích trên hạm Su-33 với các cánh phụ lớn (флаперон) chiếm toàn bộ mép sau.

Thiết kế hình dáng tàu bay cũng được tăng cường, cho phép tăng khối lượng cất cánh tối đa lên 34 500kg. Tuy nhiên, do giảm khối lượng trang thiết bị điện tử mang theo, khối lượng rỗng của máy bay thực tế không đổi (16 500kg).

Ngoài ra, diện tích cánh đuôi giảm làm giảm khả năng bị ra đa phát hiện, giảm thể tích khoang ngoài buồng lái (nhờ khí tài điện tử hàng không hiện đại và gọn). Đèn buồng lái phi công chịu thay đổi không đáng kể.

Thiết kế hình dáng Su-35 đảm bảo tăng lượng nhiên liệu trong máy bay lên 20% - khi nạp đầy, khối lượng nhiên liệu là 11500kg so với 9400kg trên dòng Su-27. Ngoài ra, máy bay còn lắp được 2 thùng dầu phụ thể tích mỗi thùng 2000 lít trên các bệ treo dưới cánh. Với các thùng mang theo, tổng khối lượng nhiên liệu của Su-35 là 14 300kg. Máy bay cũng được trang bị hệ thống tiếp dầu trên không theo hệ thống “ống cao su mềm – vòi chụp hình nón” với cần kéo ra được ở thành trái, đầu thân máy bay. Tốc độ truyền nhiên liệu khi tiếp dầu là 1100 lít/phút.

Trong thiết kế máy bay, các động cơ là sự phát triển sâu của dòng AL-31F bằng việc sử dụng công nghệ thế hệ thứ năm. Trên các động cơ sử dụng quạt gió có đường kính tăng 3% (932mm so với 905mm), các tuabin cao áp và thấp áp mới, hệ thống điều khiển và quay vòi phun kỹ thuật số mới. Kết quả việc áp dụng các cải tiến là lực đẩy động cơ trong chế độ đặc biệt tăng lên 16% - 14 500kg, trong chế độ lực đẩy thô tối đa – 8800 kg.

Các tham số cao, trong khi vẫn duy trì các kích thước và khối lượng, đạt được nhờ việc tiếp nhận các máy nén khí thấp áp mới với sự tăng cường tiêu thụ không khí và hệ số hoạt động hiệu dụng, các tuabin mới hiệu quả cao, tăng cường độ tin cậy cùng hệ thống làm mát các cánh quạt và hệ thống kiểm soát động cơ với bộ điều tốc tổng hợp kỹ thuật số, tích hợp với hệ thống điều khiển máy bay.

Theo so sánh với AL-31F, chỉ số tuổi thọ tăng 2-2,7 lần: tuổi thọ giữa các lần sửa chữa tăng từ 500 tới 1000 giờ (tuổi thọ tới lần đại tu đầu tiên – 1500 giờ), tuổi thọ quy định (tiêu chuẩn): từ 1500 lên 4000 giờ.

Máy bay trang bị động cơ hỗ trợ để bảo đảm cung cấp nguồn điện và điều hòa không khí trang thiết bị cũng như buồng lái khi bảo dưỡng trên mặt đất, không cần chuẩn bị khí tài cơ sở vật chất cho sân bay.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #227 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2013, 12:51:56 pm »

Điểm đặc biệt nhất của Su-35 – sử dụng tổ hợp trang thiết bị mang theo mới về nguyên tắc với sự sử dụng rộng rãi các kênh thông tin liên lạc đa chức năng. Về cơ bản, đây là hệ thống kiểm soát – thông tin (IUS), dùng để đồng bộ hóa lập trình, thông tin, tính toán và thực hiện chức năng hệ thống trang thiết bị mang theo trong hệ thống được tích hợp thống nhất và đảm bảo tác động tương hỗ giữa tổ bay và trang thiết bị. Hệ thống kiểm soát thực hiện chức năng các hệ thống điều khiển từ xa và tự động, các hệ thống các tín hiệu hạn chế và tín hiệu đường không, cũng như điều khiển hãm (phanh) các bánh máy bay.  Trong thành phần hệ thống kiểm soát – thông tin có hai máy tính kỹ thuật số trung tâm, các bộ đảo mạch và trao đổi thông tin cùng hệ thống màn hình theo công nghệ “buồng lái kỹ thuật số”.

Cơ sở nền kiểm soát thông tin trong buồng lái Su-35 gồm có hai màn hình màu tinh thể lỏng đa chức năng kiểu MFI-35, bảng điều khiển đa kênh với bộ xử lý lắp chìm, màn hình chuẩn trực góc lớn trên nền kính chắn gió IKSh-1M và bảng điều khiển cùng các màn hình.

Các màn hình đa chức năng MFI-35 với bộ xử lý lắp chìm có kích thước 9x12 inch (đường chéo 15 inch) và độ phân giải 1400x1050 pisel (điểm ảnh). Nó dùng để thu, xử lý và hiển thị trong các chế độ thông tin dạng đồ họa, chữ số và ký hiệu, hiển thị thông tin vô tuyến từ các máy cảm biến vô tuyến mang theo với việc tạo trên đó thông tin tổng hợp dạng chữ số và ký hiệu, cũng như hình thành và cung cấp tín hiệu vô tuyến trong dạng số hóa tới hệ thống đầu thu (видеорегистрация). Bảng điều khiển đa chức năng với bộ xử lý lắp chìm dùng để hiển thị thông tin cần thiết và cung cấp các mệnh lệnh theo cách ấn các nút để đóng khung (lập trình) trong toàn bộ các giai đoạn bay. Màn hình hàng không chuẩn trực IKSh-1 với bộ xử lý lắp chìm dùng để đảm bảo quan sát bối cảnh không gian sau buồng lái theo thông tin chuẩn trực dạng hình ảnh, được hình thành tương ứng với sự kiểm soát các tín hiệu. Phạm vi quan sát – 20x30 độ.

Trang thiết bị kỹ thuật ánh sáng của buồng lái đảm bảo hoạt động của phi công với kính nhìn đêm.

Sự điều khiển trang thiết bị mang theo, các hệ thống và vũ khí trong buồng lái Su-35 được thực hiện bằng các nút và các bộ chuyển mạch trên tay lái máy bay và các tay gạt điều khiển động cơ, cũng như các nút bấm cho các màn hình đa chức năng. Theo đó, máy bay được thực hiện theo khái niệm HOTAS (Hands On Throttle And Stick).

Cơ sở hệ thống kiểm soát vũ khí của Su-35 là hệ thống ra đa điều khiển mới (RLSU) với lưới ăng ten mảng pha N035 “Irbis-E”, là sự phát triển tiếp của đài ra đa điều khiển “Bars” sử dụng trên các máy bay Su-30MKI và Su-30MKM. Nó được biết đến là đài ra đa vô tuyến đa chức năng dải X với lưới ăng ten mảng pha thụ động có đường kính 900mm, bố trí trong thiết bị dẫn động thủy điện hai tầng (cấp – theo góc phương vị và góc lắc), trang bị hệ thống tính toán thế hệ mới với máy tính điện tử kỹ thuật số (BTsVM) mang theo “Solo-35”. Khí tài ăng ten quét tia điện tử theo góc phương vị và góc tà trong phạm vi không dưới 60 độ. Ngoài ra, thiết bị dẫn động thủy điện hai tầng đảm bảo quay ăng ten theo góc phương vụ 60 độ và góc lắc 120 độ. Nhờ đó, góc lệch tối đa của chùm tia theo góc phương vị khi điều khiển điện và quay cơ khí của ăng ten tăng lên 120 độ.

Đài ra đa điều khiển “Irbis-E” cho phép phát hiện, bám sát tới 30 mục tiêu trên không khi quan sát không gian liên tục, thực hiện dẫn bắn đồng thời 8 mục tiêu trên không. Tổ hợp đảm bảo phát hiện, chọn lọc và bám sát 4 mục tiêu trên bộ trong một số chế độ đồ họa với mức độ bố trí khác nhau trên tầm xa 400 kilomet trong khi vẫn duy trì giám sát không gian.

Các mục tiêu trên không với diện tích phản xạ hiệu dụng 3m2, trong phạm vi hoạt động của đài ra đa “Irbis-E”, có thể phát hiện ở tầm xa 350-400 kilomet (trong giới hạn quan sát – 100 độ). Trong tầm quan sát rộng (300 độ), đảm bảo phát hiện các mục tiêu tương tự trong bán cầu trước (trong bối cảnh mặt đất – 170 kilomet) và 80 kilomet ở bán cầu sau (trong bối cảnh mặt đất  - 50 kilomet). Các mục tiêu có tiết diện phản xạ hiệu dụng, ra đa phát hiện ở tầm xa 90 kilomet.

Tầm phát hiện mục tiêu trên bộ (nổi): các mục tiêu kiểu “tàu sân bay” (diện tích phản xạ hiệu dụng 50 000m2) – 400 kilomet; “cầu đường sắt” (tàu hỏa – 1000m2) – 150-200 kilomet, “xuồng máy/tàu loại nhỏ” (200m2) – 100-120 kilomet; “khí tài tên lửa chiến dịch – chiến thuật” và “cụm xe tăng (30m2) – 60-70 kilomet.

Ra đa điều khiển “Irbis” được chế tạo ở Viện nghiên cứu khoa học sản xuất từ năm 2004. Các mẫu thí nghiệm hệ thống đã trải qua các cấp độ thí nghiệm cần thiết. Ra đa đầu tiên trong số này đã được lắp trên máy bay thí nghiệm Su-30MK2 số sườn 503.

Phân hệ thống mới khác của hệ thống kiểm soát vũ khí trên Su-35 là máy ngắm ra đa - quang học OLS-35, kết hợp trong đó máy tìm phương hồng ngoại, máy đo xa – chỉ thị mục tiêu bằng tia laze và kênh vô tuyến. Phạm vi quan sát, phát hiện và bám bắt mục tiêu tự động của máy ngắm quang học là -90…90 độ theo góc phương vị và 60…-15 độ theo góc tà. Tầm phát hiện mục tiêu trên không của máy tìm phương hồng ngoại trong bán cầu trước là không dưới 50 kilomet, bán cầu sau – không dưới 90 kilomet. Máy đo xa laze đo khoảng cách tới mục tiêu trên không trong phạm vi 20 kilomet, mục tiêu trên bộ - 30 kilomet. Sai số đo – 5 mét.

Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả chiến đấu trong chế độ “không đối đất”, máy bay có thể mắc các thùng quang điện – máy ngắm vô tuyến – laze trên bệ treo, đảm bảo phát hiện, bám sát, xác định tầm xa và chiếu xạ bằng tia laze vào các mục tiêu trên bộ. Nhờ sự hỗ trợ của nó, có thể sử dụng các loại bom điều khiển, dẫn đường bằng tia laze.

Trong số các hệ thống trang thiết bị mang theo mới khác của Su-35 – trang thiết bị thông tin liên lạc và đạo hàng hiện đại, các hệ thống đảm bảo hoạt động cho cụm/nhóm/tổ máy bay tiêm kích, cũng như tổ hợp áp chế vô tuyến điện hiệu quả cao gồm có các khí tài gây nhiễu khác nhau, xác định theo yêu cầu của khách hàng.

Vũ khí của máy bay gồm có pháo, tên lửa điều khiển “không đối không”, tên lửa điều khiển “không đối đất”, rốc két và bom.

Pháo tự động 30mm kiểu GSh-301, lắp chìm trên ụ đằng trước cánh bên phải. Cơ số đạn – 150 viên.


Su-35 có 10 bệ treo vũ khí ở ngoài. Thêm mút đầu cánh để treo các thùng tác chiến điện tử. Trong thành phần vũ khí Su-35, ngoài tên lửa “không đối không” tầm trung R-27ER1 (8 ), R-27ET1 và R-27EP1 (theo 4), các tên lửa điều khiển tầm trung RVV-AE (12, gồm 4 tên lửa trên bệ treo dưới thân) và tên lửa tầm gần R-73E (6), 5 tên lửa tầm xa loại mới.

Danh pháp vũ khí điều khiển “không đối đất” gồm có 6 tên lửa chiến thuật Kh-29TE và Kh-29L, 6 tên lửa chống tàu và chống ra đa Kh-31A và Kh-31P, 5 tên lửa chống tàu tầm xa Kh-59MK, cũng như 5 tên lửa chống ra đa tầm xa Kh-58UShE, 3 tên lửa tầm xa hệ thống Klub (Klub-A) và 1 tên lửa chống tàu tầm xa hạng nặng “Yakhont”.

Trong số các loại bom điều khiển – 8 bom KAB-500 dẫn đường vô tuyến, KAB-500C-E với hệ thống dẫn đường vệ tinh, cũng như 3 bom 1500kg – KAB-1500 hoặc KAB-1500LG dẫn đường vô tuyến hoặc bằng tia laze. Theo danh pháp bom không điều khiển và rốc két, Su-35, về tổng thể, không khác Su-30MK nhưng trong tương lai, nó có thể tiếp nhận các loại bom mới 500 và 250kg cũng như rốc két 80, 122, 226/240mm với sự dẫn đường (hiệu chỉnh) bằng tia laze. Trọng tải chiến đấu tối đa của Su-35 là 8000kg.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Bảy, 2013, 02:18:48 pm gửi bởi daibangden » Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #228 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2013, 12:53:17 pm »

Thông tin lịch sử


Tên gọi Su-35 từ lâu đã được biết đến trong hàng không quân sự thế giới. Dưới tên gọi này, từ năm 1992, trong các triển lãm hàng không, máy bay tiêm kích hiện đại Su-27M, được chế tạo trong thời gian này theo hợp đồng đặt mua của Không quân Nga, đã nhiều lần bay biểu diễn. Ở nước ngoài, trong thế kỷ 21, Su-35 đã tham gia các cuộc đấu thầu của Không quân Hàn Quốc và Brazil. Ngoài ra, còn trong vai trò các máy bay biểu diễn, chúng đã được sản xuất từ nửa đầu những năm 90. Trong thời gian này, đã thấy rõ rằng, để theo kịp thị trường thế giới và đảm bảo tính cạnh tranh với các máy bay tiêm kích thế hệ mới, hiện đại của nước ngoài, máy bay cần nâng cấp triệt để, không chỉ tổ hợp trang thiết bị mang theo và vũ khí mà còn cả hình dáng máy bay, cũng như động cơ. Thiết bị động lực cần đảm bảo tăng cường đáng kể tuổi thọ và thời gian phục vụ của máy bay tiêm kích. Kết quả là nửa đầu những năm 2000, đã hình thành khái niệm mới về nâng cấp sâu máy bay tiêm kích dòng Su-27, tên gọi Su-35 được giữ nguyên (cũng như tên gọi Su-27BM – nâng cấp lớn – Su-35BM).

Điểm khác biệt quan trọng của Su-35 so với các máy bay tiền nhiệm dòng Su-27 là sử dụng thiết bị động lực với động cơ mới tăng sức đẩy. Chúng được chế tạo ở Liên hiệp khoa học sản xuất “Saturn” và được biết dưới tên gọi “sản phẩm 117S”.

Theo chương trình thí nghiệm và hoàn thiện “sản phẩm 117S” đã chế tạo 5 động cơ thí nghiệm. Động cơ đầu tiên đã trải qua thí nghiệm trên bệ năm 2003, thêm 2 động cơ nữa đã trải qua xử lý bay trong thành phần động cơ máy bay thí nghiệm Su-27M số sườn 710. Các thí nghiệm bay đã bắt đầu từ tháng 3 năm 2014. Trong giai đoạn đầu tiên của các thí nghiệm bay, đã thực hiện khoảng 30 chuyến bay đối với máy bay này với các đọng cơ mới, trong đó, có 5 lần – với 2 động cơ. Sau đó, tiêu bản thứ 4 đã thay thế mẫu thí nghiệm đầu tiên trên bệ, còn động cơ thứ 5 được sử dụng trong vai trò dự trữ trong các thí nghiệm bay.

Các thí nghiệm trên bệ thí nghiệm đã chỉ ra rằng, các phương pháp đã được áp dụng cho phép tăng cường đáng kể các tham số của động cơ “117S” so với nguyên mẫu và tăng cường các tham số nhiệm vụ kỹ thuật về lực đẩy và tiêu thụ nhiên liệu riêng.

Hình dáng Su-35 được thực hiện theo thuật ngữ “chế độ nâng cấp mở”. Đây là mong muốn của các công trình sư tránh khói hoặc (nếu cần) phải tiến hành khối lượng tối thiểu các thí nghiệm thống kê tốn kém, cũng như tận dụng tối đa các trang thiết bị sản xuất hàng loạt đang có.

Năm 2006, đã bắt đầu sản xuất lô các máy bay đầu tiên. Các thí nghiệm bay của mẫu đầu tiên của lô mới, lúc đầu, dự kiến vào giữa năm 2007. Tuy nhiên, theo hàng loạt nguyên nhân, đã bị dời tới đầu năm 2008.

Mẫu bay thí nghiệm đầu tiên của Su-35 được lắp ráp hoàn toàn ở KnAAPO tháng 8 năm 2007. Trước MAKS (triển lãm hàng không vũ trụ) 2007, máy bay được đưa tới Moskva, tới sân bay thí nghiệm mang tên M.M.Grmovo ở Zhukovsky, nơi mà sau khi bay biểu diễn trong triển lãm, nó đã tiếp tục hoàn thành giai đoạn xử lý trên mặt đất trước khi bắt đầu các thí nghiệm bay.

Việc sản xuất hàng loạt Su-35 được tiến hành ở tập đoàn chế tạo máy bay mang tên Yu.A.Gagarin ở Komsomol-na-Amur.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #229 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2013, 12:54:41 pm »

Các thông số kỹ thuật


Chiều dài, mét: 21,9

Chiều cao, mét: 5,9

Sải cánh, mét: 15,3

Khối lượng, kg:

+ rỗng: 19 000

+ cất cánh tiêu chuẩn (2 tên lửa tầm xa + 2 R-73E): 25 300

+ cất cánh tối đa: 34 500

Dự trữ nhiên liệu các thùng bên trong, kg: 11 500

Trọng tải chiến đấu, kg: 8000

Kiểu động cơ: động cơ tuabin phản lực luồng kép

Các động cơ: 2x117S

Thời gian lấy đà lên độ cao 1000 mét với 50% lượng nhiên liệu tiêu chuẩn, giây:

+ từ 600 lên 1100km/h: 13,8

+ từ 1100 lên 1300km/h: 8

Tốc độ nâng tối đa (lên độ cao 1000 mét), m/s: hơn 280

Tốc độ tối đa

+ ở độ cao 200 mét, km/h: 1400

+ ở độ cao 11 000 mét, March: 2,25

Tầm bay xa với đầy đủ nhiên liệu, km

+ gần mặt đất với tốc độ M=0,7: 1580

+ trên độ cao lớn với tốc độ trung bình: 3600

Tầm bay không tải tối đa với 2 thùng dầu phụ PTB-2000, km: 4500

Quá tải tối đa, G: 9

Đoạn đường chạy đà trong khối lượng cất cánh tiêu chuẩn trong chế độ đốt tăng lực, mét: 400-450

Đoạn đường hạ cánh trên đường băng bê tông, sử dụng dù hãm và bánh hãm với khối lượng hạ cánh tiêu chuẩn, mét: 650

Tổ bay: 1 người.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM