Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:07:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vũ khí, trang bị thế hệ mới của QDNDVN - Thông tin và hình ảnh  (Đọc 906132 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
su22 m4
Thành viên
*
Bài viết: 850



« Trả lời #500 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2011, 09:03:34 pm »

em thấy quả tên lửa SA-3 đang bay và mới dời bệ phóng được một tẹo thì đã nổ tung và đầu đạn vẫn tiếp tục bay, cái này là sự cố kĩ thuật hay là cải tiến tên lửa hả các bác???
-----------------------------------------------------
Nhắc lần cuối về viết đúng chính tả khi viết bài!

Bạn không chịu đọc kĩ các bài trước đã có trong chủ đề gì cả, vụ nổ đầu tiên lúc đạn mới rời bệ phóng được ít giây đó là khi quả đạn tách tầng sau khi tách tầng quả đạn mới dùng động cơ đẩy chính của mình bạn ạ. 
Logged

MRK
truongsa_vn
Thành viên
*
Bài viết: 79



« Trả lời #501 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2011, 09:22:03 am »

Trong clip thấy hệ thống S-300 tham gia diễn tập nhưng không thấy bắn, hay là S-300 chỉ làm nhiệm vụ nắm bắt mục tiêu tham chiếu thông số cho hệ thống Sam-2, Sam-3 bắn. Vấn đề này đã có bàn thảo 1 thời gia trước,kết quả là các bác kết luận không tham chiếu được. Vậy thì S-300 trong clip làm nhiệm vu gì ? Nếu mà các hệ thống trao đổi thông tin cho nhau được như vậy thì quá tốt...,"Sam-2,Sam-3 của ta sẽ trở thành những hệ tôống S-300 mini" không còn sợ J-20 nữa phải không các bác. Cheesy
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười Hai, 2011, 10:23:52 am gửi bởi truongsa_vn » Logged

Tôi yêu Việt Nam. Trường Sa, Hoàng Sa mãi trong tim tất cả những người con đất Việt ... !!!
Su30MK2V
Thành viên
*
Bài viết: 158

Tôn trọng và khiêm tốn


« Trả lời #502 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2011, 04:09:59 pm »

Tin nóng đây !

Việt Nam sắp có thêm 2 chiến hạm Gepard 3.9

Tờ Interfax dẫn lời ông Sergei Rudenko, Phó Giám đốc Nhà máy đóng tàu Zelenodolsk Gorky cho biết, Việt Nam sắp có thêm 2 chiến hạm Gepard 3.9.
Theo ông Rudenko, Tập đoàn xuất khẩu vũ khí Nga Rosoboronexport và nhà máy đóng tàu Zelenodolsk Gorky đã hoàn thành hợp đồng cung cấp cho Việt Nam 2 chiến hạm Gepard 3.9 trong năm 2011.

"Hợp đồng cung cấp 2 tàu Gepard 3.9 cho Hải quân Việt Nam được chúng tôi hoàn thành hồi giữa tháng 7/2011 vừa qua. Chúng tôi sẽ cung cấp thêm 2 chiến hạm Gepard 3.9 nữa cho Việt Nam", ông Rudenko nói với Interfax hôm 7/12.

Ông Rudenko cũng lưu ý, vũ khí ở hai chiếc Gepard 3.9 mới sẽ lắp đặt theo yêu cầu của phía Việt Nam.

Ông Rudenko đang có mặt ở triển lãm Không gian và Hàng hải quốc tế Lima 2011 tại Malaysia để có thể xúc tiến việc ký kết thêm các hợp đồng cung cấp tàu chiến cho các đối tác.

http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Viet-Nam-sap-co-them-2-chien-ham-Gepard-39/201112/181936.datviet
Logged
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #503 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2011, 10:36:43 am »

Báo Trung Quốc đưa ra điểm yếu của chiến hạm lớp Gepard 3.9

Bên cạnh việc phân tích các điểm mạnh chủ yếu của 2 chiếc chiến hạm Gepard 3.9  hiện đại nhất Việt nam thì tờ báo này cũng đã liệt kê 1 số điểm hạn chế của những chiếc chiến hạm này.


Chiến hạm lớp Gepard 3.9 của Việt Nam (ảnh: SGTT)

Theo đó Tờ Hoàn Cầu cho biết: Trong năm nay Việt Nam đã nhận được 2 chiếc Gepard 3.9 (về Việt Nam được đổi tên thành chiến hạm Đinh Tiên Hoàng với Lý Thái Tổ) và đã kí tiếp hợp đồng mua thêm 2 chiếc chiến hạm loại này nữa. Chiến hạm Gepard 3.9 có lượng giãn nước tối đa là 2.100 tấn, tốc độ tối đa đạt 28 hải lý/giờ (hơn 45 km/giờ), tốc độ tiết kiệm nhiên liệu là 18 hải lý/giờ (gần 29 km/giờ) và hành trình tác chiến tối đa lên tới 5.000 hải lý (hơn 8.000 km). Vì thế nhờ được trang bị Gepard 3.9, phạm vi tuần tra của hải quân Việt Nam có thể bao phủ toàn bộ Biển Đông.

Xem xét khía cạnh hỏa lực tiến công, những chiếc Gepard 3.9 mà Nga chế tạo cho Việt Nam là phiên bản thời bình chứ không phải thời chiến nên việc bố trí hỏa lực khá hạn chế. Gepard 3.9 phiên bản thời bình được bố trí 8 quả tên lửa hạm đối hạm Kh35, dẫn đường bằng quán tính và rađa chủ động, với tầm bắn tối đa 130 km và tốc độ bắn tối đa là 0,9 Mach. Theo kế hoạch sơ bộ, 2 chiếc Gepard 3.9 được đóng mới tiếp theo sẽ khắc phục điểm yếu này và sẽ  được trang bị nhiều tên lửa hạm đối hạm siêu âm, có tầm bắn trên 290 km. Điều này giúp lực lượng tên lửa hạm đối hạm của hải quân Việt Nam chiếm được ưu thế rất lớn về kĩ thuật trong khu vực.
 
Cùng với tàu ngầm Kilo 636, máy bay chiến đấu đa năng Su30MK2 và tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont có tầm bắn 300 km đặt trên bờ, Gepard 3.9 sẽ giúp lực lượng vũ trang Việt Nam chính thức có được năng lực tiến công đa năng 3 trong 1 (trên không, dưới nước và trên mặt nước) ở khu vực biển gần, đặc biệt là việc nâng cao đáng kể khả năng chống ngầm.


“Nhược điểm chủ yếu của Gepard 3.9 nằm ở năng lực phòng không. Do được trang bị hệ thống pháo Kashtan-M (tàu khu trục tên lửa 956EM của Trung Quốc chỉ được trang bị hệ thống pháo Kashtan thời kỳ đầu), 2 giàn pháo 6 nòng GSh-30k, mỗi phút có thể bắn 1.000 quả đạn và 32 quả tên lửa hạm đối không 9M311 (SA-N-14) có tầm bắn 8 km, nên Gepard 3.9 chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu phòng không mang tính cứ điểm.

Trong giai đoạn đầu, Gepard 3.9 chủ yếu được sử dụng trong khu vực tác chiến của Việt Nam để bảo vệ khu vực biển có chiều sâu phòng thủ khoảng 150 km, nơi có thể nhận được sự bảo vệ của cả những quả tên lửa đất đối không tầm xa thuộc hệ thống S-300PMU1 đặt căn cứ trên bờ.

Để tăng cường năng lực phòng không của Gepard 3.9, hiện nay phương án lợi dụng không gian còn lại ở boong trước để lắp đạt tên lửa hạm đối không phóng theo chiều thẳng đứng Klinok có tầm bắn 12 km đã hoàn thành.

Với việc trang bị thêm các dàn tên lửa Klinok chiến hạm lớp Gepard 3.9 của Việt Nam ít nhiều sẽ tăng cường khả năng phòng không, khả năng tiêu diệt nhiều cứ điểm cũng như mạnh dạn hơn để đi ra vùng biển xa hơn mà không phải dự vào sự hỗ trợ của tên lửa phòng thủ của Việt Nam nữa” Tờ Hoàn Cầu kết luận.

Nói tóm lại, cùng với tàu ngầm Kilo 636, máy bay chiến đấu đa năng Su30MK2 và tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont có tầm bắn 300 km đặt trên bờ, Gepard 3.9 sẽ giúp lực lượng vũ trang Việt Nam chính thức có được năng lực tiến công đa năng 3 trong 1 (trên không, dưới nước và trên mặt nước) ở khu vực biển gần, đặc biệt là việc nâng cao đáng kể khả năng chống ngầm. Đồng thời, với sự phối hợp đó, lực lượng vũ trang Việt Nam cũng cơ bản hình thành được năng lực phòng thủ biển gần tương đối hiệu quả.

Năng lực kiểm soát và tấn công của hải quân Việt Nam sẽ mở rộng từ phạm vi 100 km trước đây lên 150-300 km. Nhưng hải quân Việt Nam vẫn thiếu các hệ thống chống ngầm, chống hạm và tác chiến phòng không biển xa.

Nguồn http://phunutoday.vn/xahoiol/tieudiem/201112/Bao-Trung-Quoc-dua-ra-diem-yeu-cua-chien-ham-lop-Gepard-39-cua-Viet-Nam-2117872/
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #504 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2011, 11:27:57 am »

Tầu hộ tống tên lửa mẫu thiết kế 1241 lớp Molniya (Tia sét)
Phần 1

"Молния (Tarantul) Tầu hộ tống tên lửa hạng nhẹ mẫu thiết kế 1241, tên gọi (Molniya) theo phân loại của NATO tầu có tên là tầu hộ tống lớp Tarantul (Tarantul class corvettes) – thiết kế các lớp tầu hộ tống mang tên lửa – khinh hạm tên lửa, các tầu hộ tống hạng nhẹ này được đóng trong các xưởng đóng tầu của Liên bang Xô viết vào những năm 1979 – 1996 và được biên chế vào lực lượng hải quân Xô viết.
Và đến năm 2011 các tầu hộ tống tên lửa này vẫn tiếp tục phục vụ trong lực lượng hải quân của Liên bang Nga hiện nay. Lớp tầu Molniya có nhiều loại tầu, với những đặc điểm khác biệt là vũ khí trang bị trên boong tầu và loại động cơ trạm nguồn.  Tầu hộ tống tên lửa thiết kế 1241 được biên chế chính thức trong lực lượng hải quân và hạm đội Xô viết, đồng thời được xuất khẩu sang các nước khác và được biên chế trong các hạm đội nước ngoài. Trong lực lượng hải quân Xô viết, tầu hộ tống tên lửa 1241 được sử dụng trong tất cả các hạm đội ( Hạm đội Ban tích, Hạm đội Biển Đen, ngoại trừ hạm đội Biển Bắc trong những năm 1980 và phục vụ trong lực lượng phòng thủ bờ biền của Liên bang Xô viết.


Tầu Molnyia 1241RE

Từ những năm 1970-x trong biên chế trang bị các nước khối quân sự NATO được đưa vào sử dụng các chiến hạm mang tên lửa hạng nhẹ có trang bị 76mm và tên lửa chống tầu tầm gần, tầm trung («Exocet», «OTO Melara», sau đó là «Harpoon»), điều kiện tác chiến của các khinh hạm tên lửa type 205, vốn được trang bị pháo hạng nhẹ và tên lửa tầm gần trở nên rất xấu do không có khả năng tác chiến tương đương. Để tăng cường năng lực tác chiến của các đơn vị tầu tên lửa hạng nhẹ và yểm trợ hỏa lực cho các tầu hạng nhẹ lớp 205 và có thể tấn công tầu của đối phương ngoài tầm hoạt động của các hệ thống radar trinh sát, nhà nước Xô viết đã ra chỉ lệnh nghiên cứu phát triển các tầu hộ tống hạng nhẹ pháo binh mang tên lửa thế hệ mới.

Thiết kế tầu hộ tống tên lửa hạng nhẹ 1241P được bắt đầu vào năm 1969 tại trung tâm nghiên cứu thiết kế tầu biển Almaz dưới sự lãnh đạo của kỹ sư trưởng E.I.Yuknhin. Sau đó được thay thế bởi nhà thiết kế chính V.N. Ustrinov . Người kiểm soát - đại diện của Hải quân là đại úy thuyền trưởng cấp I YU.M.Osipov sau đó là đại úy hải quân cấp II V.I. Litovski..

Theo yêu cầu kỹ chiến thuật cho các tầu hộ tống mang tên lửa của dự án 1241 được sử dụng để tiêu diệt các chiến hạm, tầu vận tải và các loại tầu xuồng đổ bộ, tăng cường năng lực phòng không của các đơn vị binh chủng hợp thành, bảo vệ các cụm tầu chiến, tầu phóng lôi, tầu tên lửa chống lại các phương tiện tấn công đường không tầm thấp, chi viện hỏa lực bảo vệ các lực lượng chống lại các phương tiện tấn công đường biển hạng nhẹ của đối phương. Tầu hộ tống tên lửa chiến thuật lớp 1241 cần hiệp đồng tác chiến với các tầu tên lửa hạng nhẹ lớp 205 và bảo vệ cho các tầu tên lửa hạng nhẹ chống lại các khinh hạm của đối phương, có trang bị pháo 76 mm. Chính vì vậy tầu hộ tống lớp 1241 cần có tốc độ tương đương, không thua tầu tên lửa lớp 205.

Theo những yêu cầu chiến thuật đã nêu của Hải quân Liên xô. Trung tâm thiết kế tầu chiến đã đưa ra hai mẫu thiết kế đầu tiên với lượng giãn nước khoảng 500 tấn, với hệ thống tên lửa chống tầu bốn ống phóng Moskit. Điểm trọng tâm của hai phiên bản tầu 1241 được các nhà thiết kế quan tâm là hệ thống radar đa nhiệm có kích thước nhỏ gọn, có công suất lớn, đảm bảo hỗ trợ cho tất cả các loại vũ khí bố trí trên tầu. Phương án 1 là trang bị hệ thống radar "Gravel-M” đã vượt qua được những thử nghiệm đầu tiên, phương án 2 là hệ thống radar  "Monolith” đang trong quá trình thiết kế chế tạo, cuối cùng các nhà thiết kế đã lựa chọn Monolit vì hệ thống có đặc điểm khác hơn so với Gravel-M, có chế độ dẫn đường đạn tấn công tầm xa và các kênh nhận thông tin chỉ thị mục tiêu từ hệ thống «Uspec-U». Tầu hộ tống tên lửa sẽ được trang bị hệ thống tên lửa phòng không Osa – M, nhưng sau này, để đảm bảo độ ổn định, lượng giãn nước tiêu chuẩn và và tốc độ 40 hải lý/ giờ, hệ thống tên lửa phòng không không được lắp đặt. Nhiệm vụ yểm trợ trên không đối với các lực lượng phòng thủ bờ biển, chống lại các phương tiện bay tầm thấp được giao cho không quân Hải quân. Do không đặt nhiệm vụ phòng không cho tầu hộ tống, mẫu thiết kế tầu hộ tống tên lửa chuyển từ tầu mang tên lửa hạng nhẹ sang tầu hộ tống tấn công tên lửa hạng nhẹ.


Tầu hộ tống tên lửa Molniya 1241.1M

Vào năm 1973 theo nghị định của Chính phủ Liên bang Xô viết, đặt ra nhiệm vụ chế tạo tầu tên lửa với hệ thống tên lửa chống tầu tốt nhất thế giới " Moskit”, tăng cường năng lực tác chiến của tầu, khả năng phòng thủ và bảo vệ tốt, được trang bị các thiết bị đấu tranh điện tử hiện đại, đồng thời làm điều kiện hoạt động trên tầu tốt hơn và tăng cường khả năng hoạt động độc lập trên biển. Mẫu thiết kế 1241 đã đưa vào thực tế hệ thống các tầu hộ tống hạng nhẹ và nhờ có giải pháp thiết kế tổ hợp, tích hợp trên thân tầu các thiết kế của tầu phóng tên lửa, khinh hạm chống ngầm và tầu tuần tiễu vùng bờ biển dành cho lực lượng hải quân Xô viết và xuất khẩu cho các nước bạn bè và các nước thuộc khối XHCN. Tính toán đến môi trường tác chiến khác nhau, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng khác nhau, các tổ hợp thiết bị (tên lửa chống tầu, hệ thống thiết bị điện tử, hệ thống trạm nguồn, năng lượng) đã dẫn đến hàng loạt các mẫu tầu hộ tống khác nhau của thiết kế 1241 với thân tầu và cùng một nguồn động lực. Ý tưởng một tầu hộ tống với thân tầu và động lực trạm nguồn cố định, nhưng có nhiều kiểu loại thiết kế trang bị cho nhiều mục đích sử dụng chưa hề được đặt ra khi đặt mục tiêu thiết kế ban đầu.


Tầu hộ tống tên lửa Molniya 1241.8

""Dự án 12411 tầu hộ tống tên lửa và dự án 12412 tầu chống ngầm nhận được không chỉ là các loại vũ khí trang thiết bị khác nhau mà khi đưa vào thực hiện với điều kiện mua bản quyền sản xuất, cũng có nhiều khung sườn khác nhau và nguồn động lực khác nhau (có thể từ Nga, Belarusia, Ucraina..) Có nơi gọi là khinh hạm hạng nhẹ, có nơi gọi là chiến hạm…Nhưng theo thực tế sử dụng chủ yếu với mục đích bảo vệ biên giới và lãnh hải- tên được sử dụng nhiều nhất vẫn là khinh hạm hạng nhẹ chống tầu"".

Lịch sử đóng tầu

Những tầu hộ tống tên lửa 2 mẫu thiết kế chủ yếu được giao cho tổ hợp đóng tầu Almaz. Mẫu thiết kế 1241.1-T và 1241-M được đóng hàng loạt cùng một lúc trên 3 xưởng đóng tầu từ năm1979 của Liên bang Xô viết. Đến cuối năm 1991 đối với Hải quân Xô viết đã đóng được 41 tầu hộ tống mang tên lửa bao gồm: 12 tầu hộ tống lớp 12411-T ( 4 chiếc do các xưởng Primorye, Khabarovsk và Mid-Neva đóng) 31 tầu hộ tống mang tên lửa lớp 12411 trong đó Khabarovsk đóng 17, Mid-Neva đóng 13 chiếc và 1 chiếc 12417. Đến cuối năm 1991 trong quá trình đóng tầu hàng loạt đã có thêm 6 tầu hộ tống tên lửa với độ sẵn sàng từ 28% đến 93%, dự kiến sẽ xuất xưởng năm 1996. Một tầu hộ tống mẫu thiết kế 1241Т ngay trong quá trình đóng tầu đã theo mẫu 12417 ( pháo 30mm được thay thế bằng hệ thống tên lửa phòng không "Kortik" và radar phát hiện mục tiêu trên không "Positive" để phục vụ cho điều khiển hỏa lực phòng không thân tầu. Lực lượng biên phòng của Liên bang Xô viết cung nhận được 12 tầu tuần tiễu tên lửa mẫu 1241.2 có một số những thay đổi về thiết kễ kỹ thuật nếu so sánh với mẫu tiêu chuẩn 1241.

Trong các nhà máy tại Rybinsk và Yaroslavl  triển khai đóng các mẫu thiết kế tầu 1241 RE, đây là mẫu tầu phục vụ cho nhiệm vụ xuất khẩu cho các nước trong khối XHCN. Trong thời gian này, đã đóng được 22 tầu hộ tống tên lửa mẫu 1241RE ) 5 chiếc dành cho Cộng hòa dân chủ Đức và Ấn độ, 3 chiếc Rumania, 4 chiếc cho Balan, 2 chiếc cho Bungaria và Iemen, 1 chiếc cho Việt Nam, đồng thời có 3 chiếc mẫu thiết kế 1241 RE được sử dụng trong biên chế của Hải quân Xô viết với nhiệm vụ làm giáo cụ huấn luyện cho các học viên quân sự nước ngoài. Ngoài ra, Ấn độ đã được nhận bản quyền sản xuất tầu hộ tống tên lửa lớp Monliya cho hai nhà máy đóng tầu ở Bombay và Goa.

Thân tầu và các buồng công tác trên boong

Thân tầu hoàn toàn nhẵn bóng và trơn, được ghép bằng thép tấm đóng tầu biển, có những đường ghép nối nhỏ thắng. Tám vách ngăn không thấm nước chia thân tầu ra làm chín khoang. Các buồng khoang được làm bằng vật liệu kim loại nhẹ (hợp kim nhôm) ngoại trừ ống xả khí gas. Các hệ thống động lực quan trọng nằm trong 2 khoang liền kề phía đuôi tầu..

Các kích thước tiêu chuẩn của tầu; Chiều dài thân tầu: 56,1m, chiều rộng nhất của tầu là: 10,2m. Mức ngấn nước thân tầu là: 2,5m (2,3m đối với thiết kế 1241RE) Mực ngấn nước đối với chân vịt khi đủ tải trọng là 4,15m, Mức ngấn nước khi sử dụng là 2,65m ( đối với thiết kế 12411) Lượng dãn nước các mẫu thiết kế theo model có khác nhau, nhưng nằm trong giới hạn cho phép của 500 tấn. Chiều cao boong tầu ở khoảng chính giữa thân tầu là 5,31m.

Động cơ và trạm nguồn

Do chậm trễ trong quá trình chế tạo động cơ diesel gasturbin cho hệ thống động lực, các tầu hộ tống tên lửa đầu tiền sử dụng hệ thống động cơ gas-turbin M-15, đây là hệ thống động cơ bao gồm 2 động cơ tuốc bin tăng tốc M-70 công suất 12000 sức ngựa mỗi động cơ, và 2 động cơ tuốc bin hành trình công suất 5000 sức ngữa mỗi động cơ, với 4 bộ phận giảm tốc. hệ thống động cơ tuốc bin có những ưu điểm quan trọng, bao gồm cả yếu tố tiết kiệm nhưng với động cơ tuốc bin gặp khó khăn trong điều khiển tầu khi chạy tốc độ thấp với vòng quay nhỏ, đặc biệt khi cập cảng. Các động cơ chính được nối liền với chân vịt bằng trục quay 3 bậc tự do, tốc độ tối đa của tầu là: 42 hải lý, tốc độ tiết kiệm là 13 hải lý. Tầm hoạt động xa bờ liên tục với tốc độ cao là 760 dặm, tầm hoạt động tiết kiệm là 1400 dặm.

Đông cơ trạm nguồn các tầu hộ tống tên lửa thiết kế 1241M- là động cơ diesel – gas tuốc bin 2 trục khuỷu. Hệ thống động lực bao gồm 2 động cơ tuốc bin tăng áp M-70 có công suất 12000 mã lực và 2 động cơ diesel M-510 có công suất 4000 mã lực (mỗi tổ hợp động cơ diesel có động cơ M-504 với hộp giảm tốc 2 tốc độ và ly hợp thủy lực. Các động cơ chính hoạt động với một trục chân vịt và chân vịt. Tốc độ cực đại của tầu là 41 hải lý/giờ, tốc độ tiết kiệm là 14 hải lý/giờ. Tầm hoạt động với tốc độ hải trình là 36 hải lý/giờ sẽ là 400 dặm, tốc độ tiết kiệm là 1600 dặm, với tốc độ 12 hải lý/giờ tầm hoạt động là 2400 dặm (dặm; 1,61km)  .

Trên mỗi tầu chiến lắp đặt 2 động cơ trạm nguồn DG-200 công suất 200kWh và một động cơ trạm nguồn diesel DGR-75 công suất 100kWh

Nguồn http://quocphonganninh.edu.vn/Index.aspx?Menu=1372&chitiet=1791&Style=1
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #505 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2011, 11:30:06 am »

Tầu hộ tống tên lửa mẫu thiết kế 1241 lớp Molniya (Tia sét)
Tiếp theo và hết

Các bộ phận trang thiết bị chính của tầu.

Hệ thống truyển động và điều khiển lái:  Thầu hộ tống tên lửa 1241 được lắp 2 chân vịt trục cứng 3 bậc tự do.

Bộ phận neo buộc tầu, Neo tầu và kéo tầu: Trong thùng sắt phía trước tầu có lắp hệ thống điện- thủy lực để thả xích neo và thu neo, đồng thới có trống quấn dây cáp buộc tầu phía mũi, Trên boong tầu phía sau có động cơ điện và bộ phận cơ khí giảm tốc với bánh răng vô tận để quấn cáp buộc neo tầu ở phía sau, trên boong tầu có tất cả 4 trống quấn dây cáp buộc neo tầu.

Phương tiện cứu hộ: Phương tiện cứu hộ trên các tầu hộ tống tên lửa 1241 có 5 xuồng cứu hộ, 3 trong số đó được đặt trên tầng thứ nhất của boong chính ( phía đằng đuôi tầu, giữa bệ pháo AK-630) và hai chiếc được đặt ở phía mũi của buồng chuyển động.

Khả năng hải hành.

Tính năng kỹ thuật của tầu cho phép các tầu lớp Monliya có thể hoạt động trên biển với vận tốc thấp khi biển động đến cấp 7-8.

Điều kiện làm việc và thủy thủ đoàn.

Thủy thủ đoàn của tầu hộ tống 12411T biên chế là 41 người ( trên tầu 12411-M quân số giảm xuống còn 40 người. trong đó có 5 sĩ quan, bao gồm cả thuyền trưởng. Thuyền trưởng được sử dụng buồng riêng hai người, bố trí trên tầng thứ nhất của boong tầu, dười buồng cơ động phía bên trái mạng tầu. Các sĩ quan còn lại được bố trí trong các buồng 2 người dọc theo thành tầu. Thủy thủ nghỉ ngơi trong 3 buồng tập trung, bố trí ở khoang chính phần mũi tầu. Buồng phía mũi tầu (7 gường đôi) bố trí ở phần mũi tầu cạnh buồng  đạn của pháo AK-176, hai buồng ngủ còn lại nằm ở phía sau cạnh sườn của pháo AK-176. Phòng ăn rộng 5x4m được bố trí trong khoang chính của thân tầu.  Lương thực, thực phẩm, nước uống dự trữ cho 10 ngày. Để lưu trữ cơ sở vật chất trên tầu bố trí kho dự trữ thực phẩm khu vực mũi tầu, cạnh khoang ngủ của thủy thủ, dưới tầng khoang đạn của tháp pháo AK-176 là thùng đựng nước uống.

Vũ khí trang bị

       Vũ khí chống tầu

Vũ khí cơ bản được biên chế cho mẫu thiết kế đầu tiên: P-15, 3M-80 Moskit



Tên lửa chống tầu X-41 Moskit

Trong hệ thống vũ khí của tầu hộ tống tên lửa 12411 được biên chế 4 tên lửa chống tầu R-15 Termit, tầu hộ tống 12411 M được biên chế 4 tên lửa chống tầu loại 3M-80 Moskit (R-270), các tên lửa chống tầu được lắp trong 2 bộ ống phóng tên lửa KT-152. Tên lửa được bố trí trên hai bệ phóng cố định gắn gắn 2 bên sườn boong tầu. Bệ phóng tên lửa được gắn với một góc phòng cố định so với sàn tầu.

             Vũ khí phòng không.

Để phòng thủ trên khống, về lý thuyết kỹ chiến thuật nhiều hơn là thực tế tác chiến, chống lại các đòn tấn công từ trên không, trên các tầu hộ tống được trang bị các tên lửa phòng không tầm thấp (Strela-3) cơ số biên chế là 16 tên lửa, hoặc Igla  với cơ số biên chế tương đương. Tên lửa phòng không được bố trí bệ phóng trên boong phía đuôi tầu, giá đứng bắn có bệ tỳ hướng ra 4 hướng bắn.  

                    Pháo hạm


Pháo hạm cơ bản : АК-176, АК-630М

Pháo hạm của tầu hộ tống tên lửa 1241 là pháo hạm một nòng tự động  76/59 АU kiểu tháp pháo АК-176, tháp pháo được bố trí trên phần mũi tầu của boong tầu. Cơ số đạn pháo là 316 viên. Tháp pháo được chế tạo từ hợp kim nhôm và magnesium Amr-61 với độ dày 4mm. Kíp trắc thủ - 2 người ( nạp đạn bằng tay – kíp trắc thủ là 4 người). Khối lượng của pháo là: 10,45 tấn.

Trên boong tầu phía đuôi tầu của thiết kế 1241 để chống lại các tên lửa hành trình chống tầu, được lắp đặt hai súng máy 6 nòng 30/54 AK-630M, với hai dây băng đạn 2000 viên đạn – 1000 viên cho mỗi băng đạn. Khối lượng của toàn bộ ụ súng không có đạn và phụ tùng là 1,85 tấn. Toàn bộ ụ súng máy với hệ thống điều khiển là 9114kg. Tầm bắn của súng là 4000m. Chế độ bắn thông thường 4-5 loạt bắn với mỗi loạt từ 20 – 25 viên đạn từ tầm bắn max, trên tầm bắn hiệu quả, loạt bắn có thể kéo dài với số lượng lên đến 400 viên ngắt đoạn ngắn từ 3-5 giây.



Hệ thống radar và thiết bị tác chiến điện tử

         Radar truy tìm, phát hiện, bắt và bám mục tiêu.

Rà quét, kiểm soát và phát hiện mục tiêu chủ động hoặc thụ động, xử lý tín hiệu thông tin và chuyển thông số chỉ thị mục tiêu cho ban chỉ huy trưởng và các kíp trắc thủ trên tầu, giải quyết các bài toàn về dẫn đường, định vị tầu, điều hành các hoạt động tác chiến liên kết phỗi hợp với các hàm tầu khác trong phân đội tầu 1241 được thực hiện bởi hệ thống radar Monolit (hệ thống radar này là nâng cấp của hệ thống Titanit, hệ thống radar được bố trí trên nóc của boong chính của tầu dười chụp radar chủ động hình bán cầu. Những tầu hộ tống đầu tiên được sản xuất kể cả tầu chỉ huy P-5 và những tầu hộ tống tên lửa xuất khẩu không được lắp hệ thống Monolit mà lắp hệ thống radar bám, dẫn bắn Garpun. ( Hệ thống radar xuất khẩu: Garpun-E). Các tầu hộ tống tên lửa thiết kế 1241T được lắp radar Monolit với thiết bị điều khiển tên lửa Korral từ hệ thống phóng tên lửa Termit.  Hệ thống radar điều khiển hỏa lực pháo binh MP-123/176 Vimpel được bố trí trong khoang trên boong tầu, bên dưới cột ăn ten.

Hệ thống thiết bị trinh sát và tác chiến điện tử

Tầu hộ tống tên lửa thiết kế 1241 được trang bị hệ thống tác chiến điện tử Vimpel –P2 , đảm bảo cho các thiết bị điện tử trên ầu có khả năng ngăn chặn và chống gây nhiễu điện từ.

Đối với những mục tiêu cần gây nhiễu điện tử trên tầu được bố trí hai bệ phóng đạn gây nhiễu, mỗi bệ phóng gồm có ống phóng lựu 16 nòng có điều khiển từ xa PK-16 để gây nhiễu thụ động, ống phóng lựu phóng đạn phản xạ lưỡng cực hoặt mồi bẫy hồng ngoại. Cơ số đạn biên chế là 128 quả đạn 82mm. Bệ phóng được đặt ở phía đuôi tầu, trên mặt boong tầu. các tầu thế hệ sau có thể lắp tới 4 bệ phóng đạn mồi bẫy hoặc phản xạ đa cực PK-10 các bệ phóng này cũng được lắp ở trên các giá đỡ phía đuôi tầu, khu vực khoang quạt gió làm mát buồng máy giữa boong tầu và súng máy 6 nóng AK 630. và trên các giá đỡ nằm giữa buồng cơ động trên boong tầu và tháp pháo AK 176. Trên các tầng trên boong tầu từ quá trình sửa chữa vừa và các tầu mới đóng thế hệ mới được lắp các cảm biến chiếu xạ lases, nhằm phát hiện tầu bị chiếu xạ laser từ các thiết bị dẫn đường cho tên lửa chống tầu dẫn động bằng laser.


1 – Khoang phía trước mũi tầu; 2 – Buồng kho tàng đựng cơ sở vật chất khác nhau; 3 – Thùng chứa xích mỏ neo; 4 – Buồng ngủ của thủy thủ đoàn; 5 – Pháo hạm 76-mm АУ АК-176; 6 – Trống chuyển nạp đạn  76-mm AU; 7 –Vị trí chiến đấu đa chức năng; 8 – Thùng đựng nước ngọt ; 9 –Thùng đựng dầu diesel nhiên liệu; 10 – Hệ thống radar Monolit  «Монолит»; 11 – Khoang cơ động lên boong tầu; 12 –Phòng nghỉ sỹ quan chỉ huy; 13 –Hành lang р; 14 – Phòng nhỏ lắp các thiết bị điện - điện tử; 15 – Phòng trung tâm điều khiển các thiết bị động lực, trạm nguồn và bảng mạch phân phối cho các khoang phía mũi tầu.; 16 –Khoang máy tầu phía đằng mũi tầu МО; 17 – Ống xả khói tầu ; 18 – Ống thông khí và quạt thông gió khoang máy tầu; 19 – Khoang chứa thùng dầu; 20 – Động cơ đẩy của tầu ; 21 – Buồng điều khiển điện thân tầu và phòng buồng bảng điện đuôi tầu; 22 – Khoang máy phía đuôi tầu МО; 23 – Phòng ăn của tầu; 24 – Súng máy chống tên lửa  АК-630М; 25 – Khoang xả khí thải đuôi tầu; 26 – khoang máy cuối đuôi tầu; 27 –Khoang bánh lái đuôi tầu.

Mẫu thiết kế 12417
Lượng giãn nước tiêu chuẩn , Tấn: 436 (tiêu chuẩn), 493 (đầy đủ)
Tốc độ cực đại, hải lý/giờ.              41 (max), 12 (tiết kiệm)
Tầm xa hải hành max, dặm            1600 (Ve 12 hải lý)
Lượng dự trữ hành trình.               10 ngày
Vũ khí trang bị:
       Tên lửa chống tầu  2х2 Ống phóng tên lửa chống tầu "Моskit"; 1х4 ống phóng tên lửa vác vai Igla "Игла"; Pháo hạm 1х1 76-mm АК-176; Súng máy chống tên lửa  2х6 30-мм АК-630
radar điều khiển hỏa lực Vimpel , radar chỉ thị kiểm soát và dẫn bắn mục tiêu Monolit,  Radar hàng hải dẫn đường trên hải đồ và định vị vệ tinh. Hệ thống tác chiến điện tử và cảnh báo sớm.
Động lực của tầu là hệ thống tổ hợp động cơ diesel – tuốc bin khí ga 2х GTD М-70 và 2хМ510
Kích thước, m 56,1х10,2х2,5
Nguồn điện: Đông cơ phát điện 3 pha diesel theo thiết kế.
Công suất động cơ kW 4000 sức ngựa.х 2 М510; 12000 sức ngựa .х 2 GTD

Mẫu thiết kế Monliya 1241.8
Chiều dài thân tầu 56.1 m
Chiều rộng nhất thấn tầu 10.2 m
Chiều cao của sàn tầu (trung bình) 5.31 m
Mức ngấn nước đủ tải trọng 2.38 m
Lượng giãn nước 510 T
Thông số chiến thuật tầu hộ tống tên lửa
Tốc độ cực đại;  39-40 kn
Tốc độ tiết kiệm  12-13 kn với khoảng cách xa hoạt động xa nhất 2300 dặm
Lượng dự trữ lương thực thực phẩm hành trình10 ngày
Thủy thủ đoàn: 42

Động lực thân tầu:
Động cơ tổ hợp diesel-gas turbine M15:
Với nhiệt độ khoảng 15oC.  23530 kW
Với nhiệt độ lớn hơn 34o C 17430 kW
Nguồn điện thân tầu: kWh  máy phát điện diesel 2x200. và một máy phát điện diesel 1X100.

Vũ khí trang bị:
16 tên lửa chống tầu X-35 Uran 3M24
Tên lửa phòng không vác vai Igla:  12  
Hỏa lực pháo binh:
1xAK-176M 76.2 mm với cơ số 316 viên đạn pháo.
2xAK-630M1-2 30 mm với cơ số 4000 viên đạn

Hệ thống tác chiến điện tử
Hệ thống radar GARPUN-BAL Radar bao gồm:
Radar điều khiển hỏa lực MR-123-02.
Radar truy tìm, phát hiện mục tiêu trên không và trên biển POZITIV-E
MP-405 ESM Hệ thống radar cảnh báo sơm
Radar ID system: Hệ thống radar xác định chủ quyền
Radar hàng hải định vị và dẫn đường điều khiển tầu
Hệ thống súng phóng lựu gây nhiễu điện từ và quang hồng ngoại PK-10


Tên lửa Uran X-35 (Mô phỏng 3D)


Ống phóng tên lửa Uran (Mô phỏng 3D)


Tên lửa chống tầu X-35                                   Uran 3M24
Tốc độ bay, km/h                                            1100
Tầm bắn xa nhất, km                                      130
Tầm bắn gần nhất, km                                     5
Trần bay trên mực nước biển, m                      5-10
Trần bay tiếp cận mục tiêu (giai đoạn cuối), m   3-5
Chiều dài tên lửa, mm:                                    3750
Đường kính của tên lửa,mm:                           420
Sải cánh tên lửa: mm                                      930
Khối lượng đầu đạn, kg                                   145
Tải trọng phóng kg                                           630

Nguồn http://quocphonganninh.edu.vn/Index.aspx?Menu=1372&chitiet=1791&Style=1
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười Hai, 2011, 11:36:10 am gửi bởi nguyenhoangcema » Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #506 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2011, 11:58:50 am »

Tầu hộ tống hullmodule SIGMA

Với hơn 3.200km bờ biển, vùng lãnh hải và thềm lục địa rộng hơn 1 triệu km2, bảo vệ vùng biển là một nhiệm vụ chiến lược cực kỳ quan trọng của Hải quân Việt Nam, đó cũng là nhu cầu bức thiết phải phát triển công nghiệp đóng tầu quân sự. Mô hình tầu SIGMA của Hà Lan là một mô hình tầu chiến modules cần nghiên cứu trong công nghệ đóng tầu hiện đại.


Cơ sở căn bản của hệ thống các lớp tầu Sigma tuần tra và hộ tống là thân tầu được thiết kế thành các module với những thành phần kỹ thuật bên trong của nó, Sigma là phương pháp cấu trúc thân tầu bằng cách tích hợp các module hình học không gian 3D. Đây là phương pháp thiết kế tầu hoàn toàn mới, nó cho phép có thể tăng chiều dài cũng như khả năng của Sigma ship lên đến bất cứ giới hạn nào. Mã số của Sigma được tính là chiều dài thân tầu. Từ đó có thể tính được các tính năng kỹ chiến thuật của tầu. Sigma 9113 là tầu dài 91m rộng 13 m, SIGMA 10513 là tầu dài 105 m và rộng 13 m.  .


Thiết kế kiểu tầu này là phát triển từ việc thiết kế thân tầu có tốc độ cao, độ dãn nước thấp của công ty MARIN Teknikk AS từ những năm 1970x.

Thông số kỹ chiến thuật lớp tầu  hộ tống:
 Lượng giãn nướct: 1,692 tấn. dài : 90.71 m (297.62 feet) Rộng : 13.02 m (42.72 feet) Ngấn nước : 3.60 m (11.81 feet)

Động lực thân tầu:
- Hai động cơ 2 x SEMT Pielstick 20PA6B STC cho công suất 8910 kW với hệ thống truyền động lực điều khiển lái tầu hạng nhẹ cho mỗi động cơ Geislinger BE 72/20/125N + BF 110/50/2H (hệ thống truyền động lực kết hợp thép và composte)
- 4 x Máy phát điện nguồn thân xe Caterpillar 3406C TA công suất 350 kW một chiếc
- 1 x Máy phát điện khẩn cấp Caterpillar 3304B công suấ  105 kW
- 2 x trục chân vịt với chân vịt năm cánh CP của  Rolls Royce Kamewa 5 bladed CP


Hộp số RENK ASL 94
- 2 x Hộp số Renk ASL94 với một bước vào số và ống thủy lực vào số ổn định thụ động.

Tốc độ:
Cực đại : 28 hải lý  (52 km/h)
Hải trình : 18 hải lý knots (33 km/h)
Hành trình tiết kiệm nhiên liệu: 14 hải lý knots (26 km/h)

Tầm xa hoạt động:
Với tốc độ hải trình 18 hải lý  knots (33 km/h): 3,600 Nm (6,700 km)
Tốc độ hải trình tiết kiệm 14 knots (26 km/h): 4,800 Nm (8,900 km)
Thủy thủ đoàn: 20, có thể tăng cường đến 80 bao gồm cả lính thủy đánh bộ hoặc đặc nhiệm

Hệ thống chỉ huy tác chiến và các radar phục vụ hoạt động của tầu:

Hệ thống điều khiển hỏa lực: Thales Group TACTICOS với bốn  bảng điều khiển điện tử của các trắc thủ hỏa lực. Mk 3 2H.


Radar tìm kiếm, trinh sát mục tiêu

Radar trinh sát, tìm kiếm và bắt mục tiêu: Radar mạng pha  3D giám sát, theo dõi và bám mục tiêu MW08 3D
Thiết bị nhận dạng mục tiêu, phân biệt địch, ta: Thales TSB 2525 Mk XA (kết hợp với radar trinh sát MW08)


Radar quản lý hành trình
Radar quản lý hải trình: Sperry Marine BridgeMasterE ARPA


Ra đa điều khiển hỏa lực
Radar điều khiển hỏa lực: Ra dar theo dõi , quản lý và điều khiển hỏa lực LIROD Mk 2.
Liên kết truyền dữ liệu: Hệ thống liên kết truyền thông và chia sẻ dữ liệu tác chiến và quản lý điều hành LINK Y Mk 2 datalink.
Sonar: Sonar sử dụng sóng siêu âm trung tần thụ động và chủ động được gắn vào thân tầu Thales UMS 4132 Kingklip ASW
Thông tin nội bộ: hệ thống thông tin liên lạc nội bộ Thales Communication's Fibre Optical Communications Network (FOCON) hoặc EID's ICCS cho phép thông tin liên lạc nội bộ của tầu và kết nối với hệ thống thông tin bên ngoài thông qua bảng kiểm soát truyền thông của hệ thống
Hệ thống liên lạc vệ tinh: hệ thống Nera F series
Hệ thống định vị và tính quỹ đạo hải hành. : Hệ thống tích hợp la bàn và hải đồ điện tử Raytheon Anschutz.
Hệ thống ngụy trang tàng hình và tác chiến điện tử : Hệ thống Imtech UniMACs 3000 Integrated Bridge System Electronic tác chiến điện tử và điều khiển mồi bẫy ngư lôi, tên lửa:
ESM: Thales DR3000
ECM: Racal Scorpion 2L

Mồi bẫy: TERMA SKWS, sử dụng ống phóng DLT-12T 130mm đặt trên 2 bên boong tầu.

Vũ khí trang bị:


Tên lửa phòng không hạm đối không: 2 x Ống phóng 4 đạn  MBDA Mistral TETRAL, bố trí phía trước và phía sau tầu.


Tên lửa chống tầu : 4 x MBDA Exocet MM40 Block II


Pháo hạm : Oto Melara 76 mm Phía mũi tầu


2 Pháo phòng không x 20 mm Denel Vektor G12 (Lisence copy of GIAT M693/F2)

Ngư lôi: Sử dụng ngư lôi tiêu chuẩn châu Âu EuroTorp 3A 244S Mode II/MU 90 trong hai ống phóng đôi B515.

Không quân: Bãi đỗ cho trực thăng chiến đấu hoặc cứu hộ bay biển, có hầm cho trực thăng.

* Indonesia đã sở hữu 4 tầu hộ tống loại 9113 đang hoạt động từ năm 2009 và đến tháng 8 năm  2010 đã ký hợp đống đóng mới tầu tuần biển (frigate) PKR 105 trên cơ sở  SIGMA 10514 tại xưởng đóng tầu PT PAL Shipyard của Indonesia.
* Morocco hiện đang sở hữu 2 chiếc tầu Sigma 9813 hộ tống hạng năng với VLS và một khinh hạm loại SIGMA 10513.
Điểm ưu việt của hệ thống model tầu SIGMA trên thực tế và cấu trúc thiết kế tiên tiến. Khi đã có được công nghệ đóng tầu lớp modules, có thể tiếp tục đóng mới các loại tầu hạng nhẹ khác nhau dựa trên cơ sở các modules đã được thiết kế và tích hợp các loại vũ khí trang bị được sản xuất từ các nước khác nhau.


Phần đài điều khiển tầu


Phần mũi tầu.


Sơ đồ pháo hạm


Tên lửa chống tầu Exocet NM40


Phóng tên lửa chống tầu.

Nguồn http://quocphonganninh.edu.vn/index.aspx?Menu=1372&Style=1&ChiTiet=1739
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười Hai, 2011, 12:04:26 pm gửi bởi nguyenhoangcema » Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
duyvu1920
Thành viên
*
Bài viết: 174


« Trả lời #507 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2011, 11:25:50 am »

Em xin lỗi nhưng bác có nhầm không ạ,thủy thủ đoàn của Sigma sao chỉ có 20 người  Huh thủy thủ đoàn của Monliya 1241.8 đã là 42 người,hay là hệ thống tự động của Sigma hơn Monliya 1241.8
Logged
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #508 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 09:38:23 am »

Em xin lỗi nhưng bác có nhầm không ạ,thủy thủ đoàn của Sigma sao chỉ có 20 người  Huh thủy thủ đoàn của Monliya 1241.8 đã là 42 người,hay là hệ thống tự động của Sigma hơn Monliya 1241.8

Mình đã xem lại tài liệu đúng là thủy thủ đoàn là 20 người thôi. Chắc là hệ thống tự động của Sigma tốt hơn  Cheesy Cheesy Cheesy
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #509 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2011, 03:36:20 pm »

10 thành tựu quốc phòng nổi bật của Việt Nam năm 2011

Năm 2011 đã ghi dấu những thành công nổi bật đối với nền công nghiệp  - quốc phòng Việt Nam, với các thành tựu quốc phòng quan trọng. Nhằm mục tiêu đưa quân đội Việt Nam ngày càng chính qui, tinh nhuệ và tiến lên hiện đại. Nhà nước đã tích cực đầu tư cho các ngành công nghiệp quốc phòng để có thể từng bước tự thiết kế, chế tạo, xây dựng dây chuyền sản xuất…các loại vũ khí hiện đại, góp phần tăng cường sức mạnh quân sự cho quân đội trong thời kỳ mới.

Báo GDVN xin tổng hợp 10 thành tựu quốc phòng nổi bật của Việt Nam trong năm 2011 vừa qua.

1.Chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp.


Việc chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp có ý nghĩa rất quan trọng

Đánh dấu một trong những thành công vượt bậc của nền công nghiệp – quốc phòng nước nhà đó là việc nghiên cứu, chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp 9X195 trong điều kiện phòng thí nghiệm do Viện Thuốc phóng-Thuốc nổ (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng) nghiên cứu và chế tạo. Việc nghiên cứu, chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc từng bước tự làm chủ công nghệ hiện đại của đội ngũ các nhà khoa học-kỹ thuật nước ta, đồng thời mở ra khả năng tự sửa chữa một số loại tên lửa hiện có trong trang bị của quân đội. (xem chi tiết)

2. Chế tạo thành công sơn hấp thụ sóng radar.


Các máy bay Su-30MK2 của Việt Nam hoàn toàn có thể được ứng dụng phủ lớp sơn tàng hình trong tương lai

Viện Hóa học-Vật liệu (Viện Khoa học và Công nghệ quân sự) đã nghiên cứu, chế tạo thành công loại sơn hấp thụ sóng  radar PD/RAP-MEH có khả năng hấp thụ sóng radar trong khoảng 8 đến 12GHz (ứng với độ dày màng sơn 1mm) lớn hơn 94%. Thời gian sống của sơn sau khi pha trộn từ 2,5 đến 3 giờ...

Sơn hấp thụ sóng radar là một trong những biện pháp quan trọng để ngụy trang, tăng tính sống còn cho vũ khí trang bị kỹ thuật. Vì vậy, việc chế tạo thành công sơn hấp thụ sóng radar có ý nghĩa rất quan trọng trong điều kiện chiến tranh hiện đại ngày nay.

Sơn có thể ứng dụng để phủ lên các bề mặt vũ khí, trang bị kỹ thuật như máy bay, tàu chiến…giúp giảm được tiết diện phản xạ tín hiệu radar và tăng cường khả năng sống còn cho người cũng như VKTB trên chiến trường.

3. Hạ thủy tàu K122 cho Hải quân.


Tàu chở khách lớn nhất và hiện đại nhất K122 cho Hải quân Việt Nam

Thành công nổi bật đầu tiên trong năm 2011 đó là việc xuất xưởng chiếc tàu chở khách hiện đại nhất và lớn nhất K122 cho Quân chủng Hải quân do Nhà máy Z189 (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng) thực hiện thiết kế và đóng tàu.

Quá trình tổ chức thi công đóng tàu K122, nhà máy Z189 đã áp dụng nhiều giải pháp kỹ thuật cùng các tiêu chuẩn chất lượng và công nghệ hiện đại của các đối tác châu Âu để có thể tiếp thu công nghệ, cũng như nâng cao trình độ đóng tàu.

Việc đóng và hạ thủy thành công tàu chở khách K122 đảm bảo các tính năng kỹ thuật, đạt chất lượng tốt sẽ góp phần xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam ngày càng chính quy, tinh nhuệ và hiện đại.

4. Tiếp nhận các thiết bị từ nước ngoài để tự đóng 4 tàu tên lửa Molnya.

Năm 2011, Việt Nam tiếp tục nhận được các hệ thống điện tử, radar, vũ khí, động cơ…từ các công ty đóng tàu Nga và Ukraina để có thể sớm hoàn thành việc đóng 4 tàu tên lửa Molnya đầu tiên theo một hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được ký trước đó với phía Nga.

Theo hợp đồng, 4 tàu tên lửa lớp Molnya đang đóng ở Việt Nam dưới sự giám sát về chuyên môn, kỹ thuật của các kỹ sư từ Nga để có thể tiếp thu kinh nghiệm trong việc tự chủ đóng mới các chiến hạm hiện , giúp cho ngành công nghiệp đóng tàu quân sự nước ta tiếp thu được công nghệ đóng tàu của nước ngoài, tiến tới có thể tự thiết kế và đóng tàu chiến hiện đại trong tương lai gần.

5. Bàn giao tàu khảo sát, đo đạc biển.


Tiếp nối thành công của tàu chở khách K122 là việc Việt Nam đã tự đóng và bàn giao tàu khảo sát đo đạc biển HSV-6613 hiện đại mang tên Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa cho đoàn đo đạc, vẽ hải đồ và nghiên cứu biển (Quân chủng Hải quân).

Tàu HSV - 6613 do Tập đoàn Damen (Hà Lan) thiết kế và thi công tại Công ty Sông Thu góp phần khắc phục tình trạng thiếu trang bị phục vụ công tác nghiên cứu, khảo sát, đo đạc biển, thiết lập hải đồ toàn cảnh vùng biển Việt Nam, tạo điều kiện tốt cho công tác thăm dò, khai thác, quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên biển…Việc hoàn thành đóng tàu khảo sát, đo đạc biển với đối tác Hà Lan sẽ giúp tận dụng khai thác được các công nghệ đóng tàu cũng như các thiết bị điện tử tiên tiến từ phương Tây.

6. Nghiên cứu, chế tạo thành công giáp phản ứng nổ (ERA).


Nhằm phục vụ cho việc nâng cấp, cải tiến các xe tăng T-54/55 đang được sử dụng với số lượng lớn trong quân đội. Viện T thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam đã nghiên cứu và chế tạo thành công giáp phản ứng nổ ERA thế hệ thứ hai có khả năng chống lại đạn tên lửa chống tăng B-72 (tên lửa chống tăng có điều khiển AT-3), cũng như các loại đạn lõm chống tăng thông thường để có thể lắp ghép trên các loại tăng hiện có của lực lượng tăng - thiết giáp Việt Nam.

Việc thiết kế chế tạo giáp phản ứng nổ đều dùng nguyên liệu sẵn có trong nước, tiết kiệm đáng kể kinh phí. Trong khi, tính năng kỹ thuật giáp do Việt nam chế tạo được đánh giá tương đương các loại giáp trên thế giới trong chiến đấu.

7. Nâng cấp cải tiến xe tăng, tên lửa.

Cục kỹ thuật binh chủng công binh đã thực hiện tốt công tác đảm bảo khí tài tên lửa, xe tăng, thiết giáp sẵn sàng chiến đấu cao bảo vệ tổ quốc trước tình hình an ninh - quốc phòng luôn có biến động.

Bên cạnh đó, cục kỹ thuật còn thực hiện một số chương trình cải tiến tổ hợp tên lửa, xe tăng - thiết giáp. Đặc biệt, cục chủ trì dự án nâng cấp hiện đại hóa xe tăng chiến đấu chủ lực T-54B.

Theo đó, trong quá trình nâng cấp xe tăng T-54B đã được ứng ụng một số công nghệ mới, tháp pháo vát góc và đặc biệt là xe tăng có thể bắn khi hành tiến (trước kia không thể vừa chạy vừa bắn). Điều này sẽ nâng cao đáng kể sức chiến đấu của bộ đội tăng - thiết giáp Việt Nam.

8. Tự đóng được tàu pháo TT400TP.


Tàu pháo TT400TP

Dựa vào tài liệu sơ bộ của đối tác, Công ty Hồng Hà hoàn thiện thiết kế, chế tạo tàu pháo TT400TP, đánh dấu bước trưởng thành mới của ngành đóng tàu quân sự Việt Nam.

9. Hồi sinh xe thiết giáp V-100.

Cán bộ, công nhân viên thuộc Tổng cục Kỹ thuật đã khôi phục, nâng cấp V-100, mẫu xe thiết giáp lội nước bánh lốp mà Việt Nam thu được của Mỹ sau chiến tranh.

10. Thử nghiệm kính ngắm MS.

Việt Nam đã phát triển và sản xuất thành công mẫu kính ngắm quang học đa năng MS để lắp cho súng AK báng gập và cả súng AR-15 và nhiều loại súng bộ binh khác, nhằm nâng cao tốc độ, độ chính xác khi bắn, rất thích hợp khi được trang bị cho lực lượng đặc nhiệm, chống khủng bố…

Kính ngắm quang học đa năng MS là đề tài khoa học cấp bộ, do Bộ môn Khí tài quang học (Khoa Vũ khí, Học viện Kỹ thuật Quân sự) triển khai thực hiện từ năm 2007. Đề tài đang trong giai đoạn áp dụng thử nghiệm nhưng đã được các sỹ quan quân đội đánh giá cao.

Kính ngắm MS có kết cấu chắc chắn, tin cậy, sử dụng đơn giản, thao tác lắp kính nhanh (không quá 10 giây), có thể sử dụng cả ngày lẫn đêm, khi bắn găm, bắn gần và bắn các mục tiêu ở cự ly xa, nhờ sử dụng dấu ngắm màu đỏ kết hợp với chỉ thị mục tiêu bằng tia laze.

Nguồn http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/10-thanh-tuu-quoc-phong-noi-bat-cua-Viet-Nam-nam-2011/87462.gd
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM