Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:44:38 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sáng tác của Nam Cao trong kháng chiến chống Pháp  (Đọc 40073 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:48:03 am »

Nam Cao là một nhà văn nổi tiếng. Từ trước Cách mạng tháng Tám, ông đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng: Nghèo, Một bữa no, Tư cách mõ, Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Mua nhà, Cười, Trăng sáng, Nửa đêm, Sống mòn…

Trong kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục cầm bút. Ông là một nhà văn - chiến sĩ. Ông đi, ông thấy và ông viết để phục vụ kháng chiến. Nam Cao tiếp tục có những tác phẩm giá trị cho đến lúc ông hi sinh vào năm 1951. Những tác phẩm của ông cho ta hiểu được nhiều mặt của cuộc kháng chiến chống Pháp, từ đời sống nhân dân, hậu phương cũng như địch hậu, tinh thần tham gia kháng chiến của người nông dân cũng như người trí thức, những gương chiến sĩ anh hùng, cái khí thế dồn dập của chiến dịch Biên Giới…

Các tác phẩm được giới thiệu ở đây rút từ cuốn Nam Cao tuyển tập - Tập hai - Nhà xuất bản Văn học năm 2005
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Tám, 2010, 11:03:11 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:49:11 am »

NỖI TRUÂN CHUYÊN
CỦA KHÁCH MÁ HỒNG

Suốt đêm hôm ấy, ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh không sao ngủ đươc. Tôi hỏi ông rằng: sáng mai ông đi cưới vợ rồi thì đêm nay ông có ngủ được không? Ông có là thánh, tôi chắc ông cũng không ngủ được!

Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh không là thánh. Ngày mai là ngày ông được ra thề với các quan Tây. Đó là điều kể ra cũng không thú vị gì… - Thề thốt làm chi cho nó nặng lời! Nhưng thú vị ở chỗ thề xong, ông tức khắc thành thủ tướng kiêm nội vụ. Thủ tướng kiêm nội vụ, ngài nghe rõ chưa? Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh tưởng có thể điên người lên được.

- Thủ tướng kiêm nội vụ… Thủ tướng kiêm nội vụ…

Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Tinh cười lặng tiếng một cái cười rộng lớn, nhắc đi nhắc lại một cách say sưa như vậy. Hai bàn tay múp míp của ông, mở rộng ra, khoát một cái hình tròn trước mặt ông. Ông vuốt ve trong tưởng tượng cái Thủ tướng kiêm nội vụ hiện hình hiện khối.

- Thủ tướng kiêm nội vụ!... Thủ tướng kiêm nội vụ!…

Ông thầy thuốc Nguyễn Văn Thinh nhắm hẳn hai mắt lại, rên lên những tiếng sung sướng ấy, đúng như một anh chàng dâm dục rên lên ở trong ngực một ả giang hồ. “Thủ tướng kiêm nội vụ!... Thủ tướng kiêm nội vụ!...”.

Ông lịm đi một phút. Người không biết đã tưởng ông mệt quá, chợp mắt, làm một giấc. Nhưng bỗng ông lại bật người lên như một con lật đật. Cái lò xo giường tung ông xuống khỏi giường. Ông vội vã đi lại gần cái tủ áo có gương kê ở một góc tường nhà. Một hình người múp míp hiện lên trong gương, với một bộ mặt phởn phơ. Cái mặt mãn nguyện ấy mỉm cười, mấp máy môi. Ông Nguyễn Văn Thinh, nhắc lại câu điệp khúc yêu quý của ông: “Thủ tướng kiêm nội vụ!... Thủ tướng kiêm nội vụ!...”.

Ông mở tủ. từng chồng quần áo cao ngất hiện ra. Ông Nguyễn Văn Thinh gật gù nhìn từ trên xuống dưới lại từ dưới lên trên.

Ông lục chồng này lại chồng kia. Ông lần lượt lấy ra, ngắm nghía, rồi lại cất vào ba cái sơ-mi. Đến cái thứ tư thì ông tạm vừa lòng. Một tay ông giơ nó ra xa, Ông ngả đầu về đằng sau, ngắm nghía. Mồm ông cười một cái cười xếch lên đến mang tai. Đôi mắt híp lại, ông vừa gật đầu, vừa lẩm bẩm: “Cũng phải thế này mới coi được chứ! Cũng phải thế này mới coi được chứ! Thủ tướng kiêm…”.

Ông giật mình. Một hồi chuông gắt gỏng đã phạt đứt một mẩu câu nói của ông. Ông lắng tai nghe, mặt hơi tái đi một chút. Ai? Ai có thể đến vào lúc khuya khoắt thế? Máu ông như ngừng lại, lạnh giá trong huyết quản, tuy mồ hôi ông toát ra đẫm trán. Nghe tiếng người bồi dậy, ông vội vàng gọi hắn:

- Bồi!

- Me xừ!

- Viens ic! (vào đây!)

Anh bồi vào.

- Chi vầy?

Ông thở ra hai tiếng ấy thì đúng hơn là ông nói: hai tiếng nói bị hơi thở hổn hển đẩy ra. Mắt ông như mắt một người mất vía…

- Chi vậy mày? Ông nhắc lại.

-Bẩm có chuông kêu cứu.

- Ai kêu cứu?

- Dạ chưa biết… Để ra coi…

- Nè!

Ông nắm lấy tay áo anh bồi, giữ lại, thì thầm báo:

- Coi chừng, nghe không? Ngó cẩn thận rồi hãy mở. Tụi nó ghê lắm đó.

- Dạ!

Anh bồi cố giấu một nụ cười mai mỉa rồi lui ra. Ông Nguyễn Văn thinh ngồi phịch xuống một cái ghế bành, thở hắt ra một tiếng lớn, giơ một tay lên và lắc đầu chán nản. Tụi chúng nó thật là khó chịu! Sao không muốn làm Tây, lại cứ khăng khăng làm người Việt Nam!
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Tám, 2010, 02:48:42 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:49:52 am »

Anh bồi vào…

- Bẩm, một người cao lớn, mặc quần áo quan võ, đeo nhiều mề-đay lắm, tự xưng là đại tá…

Ông sửng sốt:

- Tự xưng là đại tá? Người Việt hay là người Pháp?

- Bẩm không thể biết, bởi vì trông cũng giông giống như bác sĩ.

Ông Nguyễn Văn Thinh vụt nhớ ra:

- A! Vậy thì chắc là ông Cô-lô-nen Xuân. Đúng rồi. Ra mời ông vô.

Anh bồi ra rồi, mặt ông thầy thuốc có vẻ băn khoăn, lo lắng.

Ông Xuân đến làm gì khuya khoắt thế? Hay là có sự thay đổi ý kiến gì của ông quan thấy Pháp chăng?

Đại tá Nguyễn Văn Xuân. Ông đúng như anh bồi tả thật: to lớn, mặt đỏ gay, mũi chính thật không lõ như ông đã cố kéo ra cho lõ, ngực nhiều mề-đay ngang với ông Tạ Duy Hiển khi ông này cầm roi điện ra bắt hổ nhảy qua vòng lửa.

Chẳng kịp chào nhau, ông Nguyễn Văn Thinh vội hỏi:

- Thế nào? Lành hay dữ? Có việc chi mà đến chơi khuya thế?

- Có việc này, cần lắm…

Chợt trông thấy chiếc áo của ông Thinh còn mở và chiếc sơ-mi lúc nãy ông đã vất tạm lên chiếc ghế, ông Xuân hỏi:

- Định đi đâu hay sao mà thay áo thế?

Ông Thinh hơi bẽn lẽn:

- À!... không!... Tôi định lấy bộ lễ phuc mặc thử, rồi tập đọc những lời tuyên ngôn ngày mai xem nó ra thế nào. Phải tập cho quen, lúc đọc trông ra vẻ một chút. Xập xệ, người ta cười cho chết. Thủ tướng kiêm nội vụ kia mà! Quan trên trông xuống, người ta trông vào. Có phải không ông phó?

- Trời ơi! Giá ông biết việc gì vừa xảy ra!...

Ông Thinh hoảng hốt:

- Việc gì? Việc gì vậy?

- Người Pháp định không cho chúng mình thề vội.

- Không cho chúng mình thề vội? Sao lại có thể vô lí như thế được? Họ sợ chúng mình trung thành với họ quá chăng?

- Thì chính thế. Thí dụ như tôi chẳng hạn; ai còn không biết tôi trung thành với họ hơn chó “béc-giê”? Trong lúc tất cả người Việt Nam vùng dậy chống họ, thì một mình tôi lùi vào thành với họ, dạy họ tập giáo, tập gậy để đánh người Việt Nam.

Ngờ rằng ông Nguyễn Văn Xuân kể công như vậy là có ý tranh ngôi thủ tướng với mình, bác sĩ vội bảo:

- Tôi còn trung thành bằng mười ông ấy, ông bạn ạ. Trong thời kì người Nhật ở dây, các quý phu nhân còn cần phải giao thiệp với họ nhiều, tôi đã phải đem hết tâm lực ra mà phụng sự những người bỏ nước Pháp để phụng sự quân đội của Thiên hoàng ấy. Như thế nghĩa là tôi trung thành với họ cả trong sự không trung thành của họ.

- Ấy thế cho nên chúng mình mới hỏng. Chúng mình là những con đĩ lứa quá rồi. Họ muốn có những con đĩ kín đáo hơn một chút để có thể lòe thiên hạ là vợ chứ không phải là hạng đĩ.

- À! Ra vậy!
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Tám, 2010, 10:09:13 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:50:26 am »

Bây giờ ông bác sĩ mỡi vỡ lẽ như vậy. Ông thâm tím mặt. Ông thâm tím hai tai. Ông sắp thâm tím đế cả hai bàn tay thì may sao đại tá Xuân lại bảo:

- Nhưng mà phúc làm sao lại chỉ có bọn mình là trung thành với họ thôi. Họ không biết làm sao đành lại ưng để cho bọn mình thề vậy.

- Ừ, thế chứ!

Bác sĩ Thinh vỗ tay xuống đùi, đắc ý, cười lên ha hả. Ông bảo tiếp:

- Ta cứ thách già họ tìm được những người Việt Nam ghét làm người Việt Nam hơn chúng mình. Một đồng nghiệp của tôi đấy, ông Xuân ạ. Họ mua chuộc chán không được, xoay ra dọa dẫm, cố ép hắn đứng ra đòi Nam kì cho họ. Hắn trốn đi. Họ chỉ còn một cách là đốt nhà cho hả giận. Ông xem đấy: tìm được những người như chúng mình có phải là đễ đây?

- Đã đành!... Nhưng trách móc họ có ích gì? Chúng mình đã nhất định trung thành với họ thì chúng mình cứ trung thành…

Ông Nguyễn Văn Thinh lại vội vàng giơ cả hai bàn tay ra trước mặt như phân bua với bạn:

- Vâng, vâng… chính thế! Tôi thề với ông rằng tôi rất trung thành với họ. Tôi mà dám trách họ thì tôi không phải là tôi nữa. Có ông biết đấy!

Đại tá Xuân mỉm một nụ cười mệt mỏi:

- Vâng, tôi biết lắm. Nhưng tôi đến để hỏi xem ông đã sửa soạn gì chưa?

- Có rồi! Có rồi! Đủ cả… Ông Thinh bảo vậy.

- Quốc kì?

- Đã! Đã! Các quan tây đã đưa kiểu cho tôi chế tạo.

- Cái cờ vàng có ba gạch xanh giữa hai gạch trắng ấy à?

- Vâng, các quan đưa cho tôi hôm có cả ông ở đấy.

- Ông có hiểu ý nghĩa nó ra thế nào không?

- Hiểu lắm chứ! Thế ông không nghe các quan Tây bảo đấy à? Màu vàng là màu Việt Nam…

- Nhưng chúng mình có còn là Việt Nam đâu?

- Không biết, nhưng các quan Tây bảo thế tất nhiên là như thế. Ba gạch xanh là con sông Cửu Long Giang.

Đại tá Xuân lắc đầu:

- Tôi ngờ rằng họ xỏ chúng ta. Có lẽ chính ra thì màu vàng là màu hoàng kim, Tổ quốc của bọn mình. Còn màu xanh là màu mắt các bà đầm, vì là màu mắt nên mới có viền thêm tí trắng.

Ông thủ tướng kiêm nội vự tương lai trở nên nghĩ ngợi. Đại tá Xuân bảo tiếp:

- Cả Quốc ca cũng thế. Tôi ngờ rằng anh chàng nhạc sĩ cũng muốn xỏ chúng mình. Ông nghe nhé:
      Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
      Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
      Xanh kia thăm thẳm từng trên
      Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!...

Đúng là giọng một con nhà thổ ế vào hồi loạn lạc.

Ông thủ tướng vẫn cúi đầu nghĩ ngợi. Sau cùng ông tặc lưỡi:

- Chà! Thì đã sao? Tôi hỏi ông, ông ó muốn làm phó thủ tướng kiêm phó nội vụ không?

Đại tá Xuân toét miệng ra cười:

- Tôi đùa ông đấy. Thật ra thì tôi cũng nghĩ rằng cái gì các quan Tây bảo đều tốt cả. Chúng mình chỉ việc nghe là có phận nhờ đấy. Tôi đã mạn phép ông đi lùng được một bọn đào kép ở Phú Nhuận trước để ngày mai chúng nó cử Quốc ca.

- Ấy chết! Ấy chết!... thủ tướng Thinh trợn trừng hai mắt, xua tay lia lịa và kêu lên như thế.

- Sao vậy?

- Bọn cô đầu ở nước Bắc kì vào cả đấy.

Đại tá Xuân mìm môi, trợn mắt, đập mạnh nắm tay xuống bàn một cái:

- Chẳng hề chi cả! Tôi sẽ ra lệnh cho chĩa hết súng vào mặt chúng. Đứa nào láo lếu là… “Đoàng! Một phát cho về âm phủ mà đòi Việt Nam thống nhất. Ông hiểu chữa?

Ông sùi bọt mép, mắt quắc lên, nảy lửa. Bác sĩ Thinh tái mặt đi run cầm cập. Cười gượng để lấy lòng nhà võ:

- Vâng… vâng. Ông nói phải; ông không kém gì Hít-le.

Hai người bắt tay nhau, ông Thinh chỉ tay trái vào ngực mình, mỉm cười, dõng dạc:

- Thủ tướng kiêm nội vụ.

Ông Xuân cũng làm như vậy:

- Phó thủ tướng kiêm phó nội vụ.

Rồi hai người cũng ngả nghiêng cười ha hả:

- Hà hà!... Nam kì tự trị và tự do…
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Tám, 2010, 02:42:20 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:51:11 am »

*
*   *

Sáng hôm sau, lễ tuyên thệ cử hành rất long trọng trong thành phố Sài Gòn. Người đến dự khá đông. Người ta đếm được sáu ngàn một chục người trong đó có mười ông Chính phủ (ông Lưu Văn Lang không hiểu vì cớ gì vắng mặt) và sáu ngàn lính kín chuyên việc giữ tự do cho địa hạt Sài Gòn - Chợ Lớn, ấy là chưa kể một đoàn ca nhạc một một kép ba đào, một đội lính Pháp có xe tăng và liên thanh và mấy quý quan người Pháp.

Đúng giờ, ông Lơ-cờ-léc, nụ cười hóm hỉnh ở trên môi, một tay dắt bác sĩ Thinh, một tay dắt đại tá Xuân, bước lên đài. Công chúng - cái công chúng toàn lính kín - nhìn nhau: anh nào cũng nghĩ đến việc nhìn xem người bên cạnh mình có tỏ ý gì phản đối không. Thành thử không ai nhớ vỗ tay. Bọn lính Pháp chĩa súng vào đám đông, hô:

- Vỗ tay đi, không ta bắn!

Tức thì tiếng vỗ tay nổ lên như pháo nổ. Đại tá Xuân ưỡn cái ngực mề-đay ra. Bác sĩ Thinh cười chúm chím, đung đưa đôi mắt. Bọn lính Pháp lại hô:

- Im! Im không ta bắn!

Tức thì im. Súng chĩa vào bọn cô đầu. Đàn nổi điệu phưng phưng. Tiếng ca sĩ ai oán của “khách má hồng” cũng nổi lên theo, hòa với tiếng đàn. Lá cờ màu vàng điểm mắt xanh từ từ kéo lên như một tấm khăn người ta vừa rút ở trong một cái hộp quỷ thuật ra.

Giữa lúc ấy thì ông Nguyễn Văn Tâm, nguyên chủ huyện Cai Lậy tỉnh Mỹ Tho, hiện giờ giữ chức tổng trưởng phụ trách chính trị, lật đật ở dây hạy đến. Tay ông cầm một cái hộp có nắp kín, to bằng cái hộp bánh bích quy…

- Xin lỗi các ngài! Tôi đến hơi muộn quá. Nhưng tôi còn phải cố tìm cho được cái bảo vật này.

Ông vừa giơ cái hộp của ông ra, vừa bảo vậy. Mọi người ngơ ngác:

- Hộp gì? Ấn ngọc chăng? Hay bạc giấy? - Ông lắc đầu, cười:

- Sai! Sai! Thưa các ngài đoán sai tất cả. Bẩm, chính là tổ kiến. Vâng, tổ kiến !Tổ kiến để trị những đứa nào còn cứ khăng khăng muốn quay về Tổ quốc.

Công chúng, dù chỉ là cái công chúng toàn lính kín, bật cười. Ông quắc mắt lên:

- Chúng bay cười? Trói cổ những đứa nào cười lại cho ta! Bỏ tổ kiến vào ống quần chúng nó, thắt cho chặt lại.

Ý chừng ông chợt nhớ ra bọn người đứng đấy đêu là thủ hạ của ông, ông hơi bẽn lẽn nhưng vốn nhanh trí vội quát tiếp một câu, chữa thẹn:

- Quân này ngu quá! Chỉ biết cười! Ngoài kia, hỗ nào cũng nhanh nhản những đứa đòi thống nhất Việt Nam, không biết đi tóm cổ mấy mụ đàn bà về để ta cho kiến đốt chơi.

Bọn lính kín dạ ran. Chúng chạy đi. Một lái sau, một bọn lôi về một xâu đến chín, mười người đàn bà, quần áo khá sang. Nguyễn Văn Tâm hếc mũi lên, hít vào, như một con thú dữ đánh hơi thấy mồi ngọn. Đôi mắt vọ của y sáng lòe lên. Y cầm cái hộp, xăm xăm chạy ra, đón sẵn.

Nhưng khi y tiến đến chỗ chỉ còn cách những người đàn bà chừng mười bước, y bỗng đứng dừng lại, há hốc mồm. Ôi chao! Y lóa mắt chang? Này đây là bà Nguyễn Văn Thinh, bà Nguyễn Văn Xuân, bà Trần Văn Tánh… các bà Nguyễn Thành Lạp, Bảo Toàn, Nguyễn Thành Vinh… đủ mặt các bà chồng có chân trong Chính phủ Nam kì tự trị. Lại cả bà Nguyễn Băn Tâm nữa mới chết người ta chứ! Bọn lính kín này định xược ông tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm đây phỏng?

Mới đầu, ông Nguyễn Văn Tâm nội giận. Rồi bỗng ông sợ hãi. Ông lấm lét nhìn thật nhanh về phái các quan Tây, rồi cuống quýt nhìn đó, nhìn đây, như muốn tìm một cái lỗ nẻ để chui, sau cùng ông đành phải quát bọn lính kín quá ư sốt sắng kia:

- Chúng bay đáng chém đầu! Tao biểu chúng bay đi bắt những con mụ nào đòi Nam kì là đất Việt Nam kia mà!

Bọn lính kín nhao nhao thưa một lượt:

- Bẩm chính nhng mụ này đi biểu tình, đòn Nam kì phải là đất Việt Nam đấy.

- Bậy nào! Chúng mày không biết rằng toàn là những bà vợ các ông tổng trưởng đấy ư?

Bọn lính kín đứng sững người, chưa biết đáp ra sao thì chính bà Nguyễn Văn Tâm đã xấn xổ buốc lên, chỉ vào tận mặt chồng:

- Phải chúng tôi chính là vợ các ông đây. Nhưng vợ các ông cũng không muốn chịu lấy cái nhuc bán nước của các ông. Vợ các ông ăn cơm hẳn hoi chứ không ăn bẩn bao giờ, nên không lú lẫn cho Nam kì không phải là đất Việt Nam, người Nam kì không phải cùng nòi giống với tất cả những người Việt Nam ở Bắc, Trung, và giở trò đòi Nam bộ tự trị để bản đất nước, bán đồng bào cho người ngoài.

Ông tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm chết đứng như Từ Hải. Cái hộp tổ kiến từ cái bàn tay rã rời của ông buột rơi xuống đất. Người ta vội khiêng ông vào nhà thương Sài Gòn, tiêm

Nam bộ ngày 9-6-1946
Tiền phong 1946
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Tám, 2010, 10:04:24 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:51:57 am »

ĐƯỜNG VÔ NAM

Trong thực tế thì chưa có, nhưng đã có một thời, trong văn chương nước mình, phát ra một chứng bệnh người ta gọi là “bệnh giang hồ”. Cũng như phần nhiều những thói bệnh khác ở nước mình mấy năm trước, bệnh ấy cội rễ vốn ở ngoài. Chẳng biết nó phải bệnh truyền nhiễm nào - hình như là một quyển sách của một tên Pôn Mơrăng (Paul Morano) nào đó từ bên Pháp tải sang - một nhà văn ở dây mắc phải nó trước tiên. Mà bởi nhà văn ấy lại là một con người nổi tiếng tài hoa nên bệnh lan ra cũng khá nhanh. Chẳng bao lâu, trong giới trí thức lau nhau gồm những ông tập ngông nghênh và tập viết văn, chỗ nào người ta cũng nói đến giang hồ, và cũng thở dài, rên lên nỗi thèm đi, tuy rằng phần đông vẫn ở nhà vì không có thuốc gì cai được cái cơm ngày hai bữa cả mẹ hay của vợ và mặc dầu họ vẫn bô bô chủ trương rằng họ “đi chỉ để mà đi”, đi chẳng để đến đâu”, phần nhiều các cuộc “giang hồ vặt” của họ chỉ đến xóm cô đầu đã cùng đường để họ sa vào một chị Cúc, chị Liên nào đó, học lấy một thứ bệnh khác ít người muốn thổ lộ ra như thổ lộ cái bệnh giang hồ, nhưng cũng làm họ rên không kém và tai hại thì cũng rất mực là tai hại.

Nhắc lại chuyện cũ này, tôi chẳng có ý gì bới móc đâu. Mà còn bới móc ai? Trừ ra một số người thật cứng cỏi và sáng suốt được giống nòi kí thác cho cái phần tinh anh va bất diệt của dòng máu Việt Nam, còn thì trong cái thời đại mà ông Hoài Thanh gọi là “thời đại cái tôi”, hầu hết chúng ta, nếu không là một “tội nhân” thì cũng là một “nạn nhân” thường thường vừa là kẻ nọ, vừa là kẻ kia, lẫn lộn nhau. Nhưng là gì thì kết quả cũng chỉ có một mà thôi: chúng ta đã phá sức chúng ta vào những việc chẳng có nghĩa lí gì… Không! Tôi không dám nói rằng tất cả chúng ta đây đều đã mắc phải cái bệnh loăng quăng, cái bệnh “đi chỉ để mà đi, đi chẳng cần phải đến đâu”. Có những người có chỗ đến hẳn hoi, nhưng họ lại lạc đường. Thành thử họ đi có một cái địch rõ ràng, cái đích ấy hút họ đi rất chăm chỉ, rất say mê, họ mải miết, can đảm, hăng hái bước, bước không hề trầy chân trật gối ở dọc đường, buộc, bước chí chết đấy mà kết cục vẫn không đến được những nơi cần đến, những nơi họ vẫn định tâm rằng phải đến. Trái lại, lại càng xa ra nữa. Mà lại thiệt riêng cho chính họ là cái thú đi la cà, đi vớ vẩn. Cân nhắc điều dại khôn của hai hạng người nói trên chẳng ích gì. Vả lại tôi đã nói rồi: tôi nhắc những chuyện cũ lại đây, chẳng hề có ý gì chê hoặc trách ai. Chính tôi cũng chỉ là một người trong bọn đó thôi. Tôi nhắc lại đây để mà cười, như người ta cười khi nhắc đến những cái lầm lỗi, điên rồ của chính mình một thời đã qua rồi. Và tôi chắc các bạn đọc, đọc đến đây, nếu có bạn nào hấy mình cũng có chỗ giống tôi, cũng chỉ cười theo cái kiểu tôi cười đó. Chẳng ai lấy làm phật ý.

Bởi vì mấy năm chiến tranh và đói khổ vừa qua và hiện vẫn cò dư dang trên mảnh đất này, đã làm thức tỉnh hẳn chúng ta. Chúng ta đã biết nhìn hẳn vào sự thật rồi. Những kẻ đi lầm đường thấy ngay rằng mình phải trở về con đường đúng mà đi. Cả dân tộc đã dồn cả vào một con đường: ấy là con đường ra mặt trận, con đường cứu quốc, con đường vào Nam.

- Con đường vào Nam là con đường vui có phải không?

Lúc khởi hành, ông bộ trưởng Bộ Nội vụ, thấy cả chúng tôi hớn hở vì được ra đi, bảo đùa chúng tôi như vậy. Chỉ là một câu nói đùa thôi, nhưng mà đúng như thế thật. Những buổi mai sáng sủa, có những tù nhân tuyệt vọng ngồi trong phòng giam chật hẹp và kiên cố, thẫn thờ nhìn mẩu không gian bên ngoài cái cửa sổ có song sắt và to bằng một cái bàn tay mà để cho hồn mình đi lang thang trên các nẻo đường của những kẻ tự do. Đời có hàng ngàn lối đi thênh thang, nhưng chúng ta là những kẻ bị giam cầm. Cái “gió đã lên!...” của Nguyễn Tuân là một tiếng thở dài hơn là một tiếng reo. Nhưng bây giờ thì gió đã lên rồi. Gió mạnh mà chỉ có một chiều. “Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo”(1). Con đường vô Nam phơi phới bóng cờ đỏ sao vàng và vang Tiến quân ca. Dưới bóng quốc kì và cuốn theo nhạc quốc ca, từng đoàn thanh niên hùng dũng và vui vẻ tiến vào Nam, nơi đang bị xâm lăng. Nỗi vui, hăng của họ tất nhiên là không giống nhau tất cả đâu, vừa thoát ra khỉ ngục tù, vôi xông vào đâm chết những kẻ ức hiếp mình và đập tan những bức tường dày đã giam hãm mình trông bấy nhiêu lâu. Người thì nghĩ đến Tổ quốc, non sông. Người thì nghĩ đến cái bổn phận làm dân. Người thì muốn phá cái chế độ thực dân. Người thì chỉ thích làm một người lính mà thôi… Tất cả đều giống nhau ở chỗ này: họ đi đến chỗ nguy hiểm, nếu không vui vẻ thì ít nhất cũng bình tĩnh, vững dạ, hoặc nghĩ bụng: “Mình chẳng về nữa thì cũng chẳng làm sao cả!”. Họ đi, lòng nhẹ nhõm không bịn rịn, không lo lắng. Ai cũng bằng lòng vì được đi.


(1) Xuân Diệu: Ngọn quốc kì.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Tám, 2010, 10:57:52 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:52:57 am »

*
*   *

Tôi có một anh bạn người làng, nhà chẳng giàu gì nhưng cũng thừa ăn - trong cái xã hội nhà quê, như vậy đã có thể gọi là sướng lắm rồi. Anh có học hẳn hoi. Lanh lợi, thông minh, tính tình có thể gọi là ngay thẳng nữa, mà thật ra thì chưa vị tất đã lười; anh kể cũng có nhiều đức tính. Tất cả cái lỗi của anh, có lẽ chỉ là không cần phải làm cũng có ăn. Bởi vậy cho nên học xong ban thành chung đỗ được cái bằng rồi, anh nhất định chẳng làm gì. Anh lĩnh cái bằng đem về quê, lấy một người vợ vừa đẹp vừa ngoạn, vừa có tiền lại đảm đang. Chị vợ gánh vác gả gia đình, làm cho những của chìm, của nổi của hai vợ chồng đẻ ra hoa lợi để nuôi chồng ăn trắng mặc trơn còn anh chồng chỉ việc “trông coi cho chị làm ăn” nghĩa là không cần làm gì cả, mà cũng không cần trông coi gì cả, chỉ cốt làm sao có mình ở dó để người đàn bà không bị ai nhũng nhiễu - cái trò ở làng trước đây bao giờ mà chả thế - Nói vậy để hiểu rằng anh bạn tôi vốn nhàn hạ lắm. Tất cả công việc của anh có lẽ chỉ làm thế nào cho vợ anh đẻ đều đều vài năm một đứa con. Cái việc ấy, anh làm cũng đều đều. Chị vợ rất bằng lòng và anh lại càng bằng lòng anh lắm. Anh bằng lòng anh quá, đến nỗi có hồi tôi đến phải sốt ruột lên. Tôi cố kéo anh đi Hà Nội với tôi. Hai chúng tôi chung nhau mở một cái trường tư. Con người ta đã là người, cho dẫu là người không cần phải kiếm tiền, thì cũng phải làm việc đi một tí chứ cứ ngồi không mà hú hí với vợ con, ai mà chịu được? Tôi thật thà bảo anh như vậy. Anh cũng cho là có lí. Anh cộng tác với tôi chăm chỉ lắm. Rõ là một giáo viên tận tụy. chỉ khổ một cái là tối nào tôi cũng phải nghe anh nói đến vợ con anh. Anh rất hay về. Thế rồi đến hồi chiến tranh bắt đầu ành hướng đến nước ta, tàu xe đi lại khó khăn, anh ngại sự đi về và nhất định về ở nhà quê hẳn. Không dạy học ở Hà Nội nữa. Vợ anh mừng lắm. Riêng có tôi thì tôi đã thở dài. Tôi chua chát bảo tôi: “Vợ đẹp, con khôn, một gia đình quá êm đềm, nhiều khi chính là cái chăn nhung ấm áp nó làm người ta ngại dậy những buổi sáng myà đông giá rét. Sao lại có người hền đến thế!...”. Mãi đến hồi tháng chín, tháng mười vừa rồi, tôi mới lại được gặp anh. Chính anh đến tìm tôi. Tôi tưởng tôi mơ! Anh bạn tôi mặc y phục Vệ quốc đoàn. Anh hớn hở bao tôi biết rằng anh vừa học xong lớp quân chính và sắp đi Nam Bộ…

- Đi Nam Bộ?

Tôi tròn hai mắt, hỏi anh như vậy. Anh cười đắc chí:

- Anh đã thèm hay chưa? Thật cũng phúc đời nhà tôi đấy! Đáng nhẽ là không được đi đâu nhé!

Và anh kể:

- Tôi dại quá! Hôm hết khóa học, chúng tôi có phải trả lời bằng giấy câu hỏi này: “Nguyện vọng của anh thế nào”. Tôi ngờ nghệch, tưởng không được ra mặt trận ngay nên trả lời: muốn về làm việc ở địa phương nhà. Thành thử đến lúc chọn người vào Nam thì những anh kia được đi cả rồi, chỉ trừ tôi và mấy người học kém quá thôi. Những anh kia khôn, chỉ trả lời: “xin sẵn sàng đợi lệnh của Chính phủ để đi làm bất cứ đâu, miễn là được giúp ích cho nước”. Có anh lại trả lời thẳng: “xin ra trận”. Vì thế họ được đi mà tôi thì tưng hửng, tuy tôi vào hạng khá. Toi ức quá. Tôi cố kêu nài mãi. Anh hiệu trưởng sốt ruột phải cho tôi đi nốt, cho đỡ phải nghe tôi lài nhài mãi.

Anh lại cười ầm ĩ, như cho đó là một cái khéo của mình, tài lắm. Tôi nghĩ ngay đến cái mặt sa sầm của chị vợ khi nghe đến tin này, và cười ranh mãnh, hỏi anh:

- Anh không sợ chị nhà khóc hết nước mắt ư?

- Chẳng đến nỗi thế đâu! Tôi bỏ nhà tôi ở nhà ra đi còn chẳng sao thì nhà tôi ở nhà không có tôi cũng không sao. Anh không nên quá khinh đàn bà!

Anh lại cười…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:53:36 am »

*
*   *

Tôi có một thằng cháu, năm nay mới xấp xỉ hai mươi, cũng con nhà giàu ở nhà quê. Xưa kia, nó là một thằng mất dạy, nói thẳng ngay là như thế. Cho đi học thì lười biếng, lếu láo, tháng tháng tiêu bạc trăm mà chữ vào bùng thì cơ hồ chẳng được chữ nào. Đó chính là những lời của ông bố nó. Có một cái bằng tiểu học mà thi mãi không sao đỗ nổi, cậu cả đành bỏ học. Một cớ nữa: cũng tại bố mẹ nó sợ nó còn ở tỉnh mãi thì phá hết cơ nghiệp mất. Nhưng về quê, nỗ vẫn cứ phá như tường. Không tiêu phí quá quắt như trước nữa thì lại đánh bạc. Răn dạy mãi không được, đánh mắng không được, bố mẹ nó đã chán nản, coi như nó là một con người hỏng, chẳng còn trông mong gì nữa. Tôi cũng vẫn đinh ninh như vậy. Và tôi nghĩ bụng: nuông nó lắm, nó hư là phải lắm!”.

Trước hồi tổng khởi nghĩa vài ba tháng, tôi ở Hà Nội về quê. Một sự ngạc nhiên: ônng cháu bất trị của tôi đến thăm tôi, việc ấy không thường. mà việc này mới lại không thường nữa: ông ấy hỏi thăm tôi về tình hình Hà Nội, về Nhật, về Pháp, về các mặt trận, về sự hoạt động của Việt Minh trên các chiến khu và trong khắp nước. - Ông ấy thở ra mùi chính trị. Tôi hơi chột dạ: “Coi chừng nhé! Thằng nào chứ thằng này thì có đủ tư cách làm mật thám”. Tôi nghĩ vậy. Trong câu chuyện, tôi hết sức dè dặt và kín đáo.

Ngay từ hôm sau, tôi bắt đầu ngấm nầm điều tra về y ngay. Lại một sự ngạc nhiên: y đã chừa hẳn chơi bời cờ bạc. Bây giờ, động nói đến đánh bạc là y chửi. Bố mẹ y cũng không ngờ y lại có thể đột nhiên thay đổi thế, cho là sự gở và chỉ lo y chết. Tôi thì tôi hiểu. Tôi cứ thầm phục mãi ông cán bộ nào đã giác ngộ nổi con người như vậy.

Tổng khởi nghĩa xong y được bầu vào ủy ban làng. Y làm việc rất hăng, cấm cờ bạc, bài trừ trộm cướp, mở các lớp bình dân, thúc đẩy việc tăng gia sản xuất. Lòng đổi khác đi nhiều lắm. Tôi nghĩ bụng: “Thằng này thế mà có nhiều năng lực. Nó cứ chịu khó làm việc làng một vài năm chắc là láng khá lắm”. Nhiều người ở làng cũng nghĩ như tôi vậy. Ông bố bà mẹ thì hả lắm. thỉnh thoảng ông lại bảo: “Lạ thật! Tôi cứ nghĩ ngợi, cho rằng cũng tại cái vận nước mình đến hồi khá rồi, nếu không thế thì sao người ta lại đổi khác đi như thế được? Này, tôi xem cái thằng trước kia là ngu dộn lắm, ăn không nên đọi, nói không nên lời, thế mà bây giờ cũng hiểu biết hẳn hoi, đến như thằng cháu nhà tôi mới lạ lùng: có ai tưởng nó lại thành ra như bây giờ được? Tôi mừng quá. Thật không dám nói sai, nó ăn cơm nhà, làm việc làng, đi lại tiêu tốn của tôi, tôi vẫn thích: còn hơn để nó đánh bạc!...”. Khỏi phả nói rằng, ông quý nó và chiều nó lắm.

Tôi cũng sinh mến hắn. Mỗi lần về làng, tôi không bao giờ quên đến thăm hắn, khuyến khích hắn, khuyên hắn cố mà theo đuổi công việc làng, đừng đi đầu cả (bởi vì đã có lần hắn ngỏ ý muốn đi với tôi ra Hà Nội). Lần vừa rồi, tôi về, thì được tin hắn đi rồi…

- Đi đâu?

- Đi mặt trận.

Tôi hỏi người ta cho biết tin như vậy.

- Sao vậy?

- Còn ai biết vì sao? Hắn thích đi. Mà có riêng gì hắn! Làng này, nếu xin đi dễ thì còn bao nhiêu người cũng rối mãi lên. Anh nào cũng nóng lòng sốt ruột, đúng như những “Con cháu nhà Thánh” đến kì hội Vương, hội Mẫu chưa đi trẩy hội được thì khó ngồi đâu, đứng đâu cho yên; cho nên dù bận việc nhà việc cửa đến đâu cũng phải thu xếp đi cho bằng được.

A! Thì ra bây giờ như vậy đó. Ở Hà Nội, ngươi ta háo hức đi ra trận. Cái thú đi ra trận quyến rũ đến cả các ông già. Một ông bác tôi, đầu tóc bạc phơ, thấy tôi về tỏ vẻ ngạc nhiên:

- Thế ra anh vẫn ở Hà Nội đấy à?

Ông hỏi tôi như vậy. Và khi thấy tôi cười ngượng nghịu, thú nhận rằng tôi vẫn cầm cây bút hiền lành ngồi trong một cái tòa soạn báo ở chốn thủ đô yên ổn, ông không giấu nổi vẻ bực mình:

- Hiền nhỉ! Tôi mà còn trẻ như các anh thì không khi nào tôi chiu thế. Thế nào tôi cũng đi đánh giặc.

Rồi, không biết định khích tôi hay nói thật, ông lại hỏi:

- Không biết tôi xin đi đánh giặc Chính phủ có cho đi không anh nhỉ?

Chính phủ chưa đến lúc cần các ông già đi vác súng. Ngay đến tôi đây chưa chắc đã cần. Một anh bạn tôi bảo tôi rằng:

- Cái cổ tay như cẳng gà như thế thì cứ ao nước cầm súng làm gì cho khổ? Cầm bút trong lúc này chưa hẳn đã là cái nhục. Người ta có thể cầm cày hay cầm bút mà vẫn là chống giặc.

Thì đã hẳn. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn thấy tui tủi thế nào ấy. Cây bút của tôi bất lực. Nó không khác ra lửa và đạn như cây súng. Nó ì ạch chạy theo phong trào mãi mà không kịp. Các bạn tôi cũng đêu thấy na ná như tôi. Họ thấy rằng bàn tay họ, nếu chưa cầm súng một phen thì cầm bút cũng vụng về. Sống đã rồi hãy viết. Lắm lúc chúng tôi muốn vứt cả bút đi để cầm súng. Tất cả con dân nước Việt Nam lúc này chỉ muốn được cầm súng đi ra trận…

- Thời bệnh!... Có người sẽ mỉm cười bảo thế. Sao lại gọi la thời bệnh? Hiếu động, cương cường, quả cảm mà thói thường của những kẻ mới lớn mà sung sức. Những cái ấy báo hiệu một cái tuổi hai mươi thừa máu và khí lực. Sức sống của dân tộc chúng ta đang độ lớn lên, rất dồi dào. Nay mai, những xiềng xích tháo tung rồi, chúng ta sẽ lớn rất mau và rất mạnh.

20/1/1946
Tiền phong 1946
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:54:27 am »

ĐỢI CHỜ

Liễu cẩn thận đưa Huyền vào tận giường trong, giúp cho nó nằm xuống cạnh em bé và đặt cái quạt vào tận tay cho nó. Chị lại trở ra giường noài. Quân, đứa con trai lên năm tuổi, nằm dạng chân tay, ngủ mệt, đầu hơi ngoẹo đi một chút, mặt nghiêng ra phía cửa. Chị đi vòng về phía trong giường, ngồi ghé xuống cạnh đầu con, đặt bàn tay lên trán nó. Trán và tóc Quân ướt đẫm mồ hồi. Chị vừa lấm bẩm chửi yêu con, vừa lau mồ hôi và quạt cho con. Chị quạt cho con như vậy một lúc lâu, vừa quạt vừa nghĩ vẩn vơ. Những phút được ngồi bên cạnh đưa con này hay đứa con kia, bao giờ chị cũng muốn kéo dài ra không biết chán.

Nhưng chị ngáp. Gió kiu kiu lọt qua những kẽ mành, trải hơi mát lan nhè nhẹ trên da thịt. Tuy cả ngày hôm nay, chị mới chỉ cuốc được vẻn vẹn vài luống đất, nhưng lục đục chạy Tây ba bốn lần cũng đủ mệt nhoài rồi. Chị muốn ngả lương một tí, nhưng rồi chống lại ý muốn ấy, bời vì biết trước rằng bây giờ mà đặt mình xuống một lúc, thế nào cũng ngủ say như chết. chị chưa thể đi ngủ được. Tiện sáng trăng, chị muốn cuốc xong mảnh vườn trước cửa, vì ban ngày vừa làm vừa ngay ngáy lo Tây đến, không làm được mấy. Mà không cố làm thì lấy tiền đây mà thuê người? Lấy gì mà nuôi con?

Chị tần mần vuốt tóc Quân một lúc rồi quả quyết đứng lên, vươn vai ngáp và ra sân. Trăng lồng lộng. Trăng rất bao la trên những khu vườn bằng phẳng như liền cả với nhau. Bóng chuối ngỏn ngang. Những tàu chuối rười rượu ánh trăng khẽ du đưa uể oải, ánh sáng và không khí bên ngoài làm chị tỉnh táo và khỏe khoắn. Chị nhanh nhẹn đi lại chỗ cái cuốc dựa vào cây na cầm lại chỗ vườn đang cuốc dở, bắt đầu chăm chú cuốc. Những nhát cuốc đều dặn vang những tiếng “sụt” gọn và ngon xớt. Những tiếng cuốc khác đáp lại ở bên vườn hàng xóm, như những tiếng vang. Lắng nghe còn những tiếng khác xa hơn. Thi ra ở chung quanh người ta cũng đang cuốc vườn đem. Cả làng chẳng có ai chịu thua ai. Ai cũng cố lợi dụng tuần trăng để làm bù thì giờ phải chạy Tây, bù cả cho những người vì việc nước mà đi vắng. Chị mỉm cười, nghĩ đến một lúc này, ai cũng nói: “Tăng gia sản xuất”… Sản xuất! Sản xuất! Những tiếng cuốc xa tới tấp như vọng lại những tiếng trong lòng chị. Đêm tĩnh mịch. Những tiếng cuốc mỗi lúc một rõ thêm. Trăng từ trên cao.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2010, 10:55:02 am »

*
*   *

Trăng đã lên cao lắm. Đêm đã khuya càng vắng lặng. Người ta nghe rõ cả tiếng rì rầm của lá tre. Tiếng cuốc thưa dần. Nó tắt ở vườn này rồi lại tắt ở vươn kia. Giấc ngủ lan dần, trải rộng dần và đè nặng trĩu xóm làng, tĩnh mịch. Vài tiếng cuốc lẻ tẻ còn sót lại. Liễu đã ngáp mấy lần. Cái cuốc bắt đầu loạc choạc. Nhưng vẫn còn tiếng cuốc ở vườn bên cạnh. Liễu nhất định chưa chịu đi nghỉ. Người ta không có con thơ ban ngày có thể làm cho tận đến lúc chắc chắn là có Tây đến mới cần chạy trốn. Liễu những ba con, cùng bé cả. Chị phải chạy sớm hơn mọi người. Công việc ban gnày chẳng được bao nhiêu, chị phải cố kéo lại bằng cách làm khuya hơn người khác: “Rồi ban ngày ngủ”, chị tự nhủ như vậy.

Tiếng cuốc ở vườn bên tắt nốt. Tay Liễu rã rời thêm. Mỗi lần cất cái cuốc lên, chị phải vận động cả người. Người chị cũng cũng đã thành một cái gì nặng trĩu, chị phải lấy sức ra mà lay động. Giấc ngủ đè nặng trên mi mắt chị. Bóng tối lần vào trong đầu chị. Tiếng cuốc rời rạc của chị vnag lên khó nhọc và cô độc quá. Không còn gì vây bọc chị, nâng đỡ và kích thích. Một mình sao người ta yếu đuối và buồn nản thế.

Trắng đã đứng đỉnh đầu. Những bụi chuối, bụi tre như ngủ gục trên cái bóng của chúng đã thu gọn lại. Liễu thở hổn hển, xách cái cuốc về. Ngồi ghé xuống đầu hè nghỉ một lúc cho ráo mồ hôi, rồi chị lấy quần áo đi ra sân tắm. Nước lại cho chị nhẹ nhõm khoan khoái lạ.

Về đén sân, chị nghe tiếng người hát nho nhỏ từ ngoài ngõ đưa vào.

Chiều về trên cánh đồng xanh
Có nàng gánh lúa cho anh diệt thù.
Từ ngày chinh chiến mùa thu.


Chị nhận ra là Nhàn. Nhàn hay hát những cây ấy quá đến nỗi Liễu chi nghe mà cũng thuộc. tiếng hát êm đềm ngân trong đêm khuya và trong lòng Liễu. Nhàn thấy Liễu cởi trần đứng ở sân, ngạc nhiên hỏi:

- Chị chưa đi ngủ kia à?

- Chưa, vừa cuốc vườn xong.

- Hoan hô phụ nữ tăng gia sản xuất.

Cô con gái đang tuổi ngổ ngáo, reo lên to quá.

Liễu ra hiệu tay, ngăn lại:

- Khẽ mồm chứ. Cô ả! Để cho con người ta ngủ.

Nhàn chợt nhớ ra:

- Chết thất! Tôi vô ý quá. Cháu nó chịu ngủ với chị nó, hở chị?

- Cũng phải chịu chứ. Thời kháng chiến này mà không thế thì chết đói… Bây giờ mới tan học kia à?

- Tan lâu rồi. nhưn em còn đi khai hội nên đến giờ mới về.

- Bàn gì mà khuya thế?

- Định chương trình thi đua ái quốc.

Nhàn nhìn kĩ Liễu, nắm lấy cổ tay chị:

- Bà chị tôi lớp này đen mà gầy lắm. Trông già sọm hẳn đi khéo ông anh tôi về không nhận nữa thì nguy đấy.

Liễu cười:

- Tôi ba con rồi, chả sợ. Nhưng cố chưa có chồng mới lo.

Nhàn thẹn đu đưa tay Liễu:

- Em cũng chả lo!

Liễu nhìn Nhàn âu yếu. Nhàn là vợ chưa cưới của em trai Liễu. Chính Liễu mối manh. Sắp cưới nhau thì súng nổ. Đường vào du kích rồi vào vệ quốc, di ra mặt trận suốt từ hồi ấy…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM