Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:10:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chuyện thời xửa xừa xưa - Thời bao cấp (Phần 2)  (Đọc 417097 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quanghung1951
Thành viên
*
Bài viết: 117



« Trả lời #430 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2011, 08:19:11 pm »

hehe mấy tờ giấy chứng nhận bác TTNL post lên đúng là hàng độc  Grin Có bằng chứng cụ thể như vậy kể chuyện ngày xưa con cháu mới tin  Grin
À không biết thời đó mấy ông trung úy có đài đeo bên hông có cần xin giấy chứng nhận không vậy bác TTNL ?

     Trong quân đội thời đó, mỗi đại đội có một máy thu thanh do chính trị viên giữ để nghe tin tức chiến thắng của ta ở chiến trường và nghe tin hậu phương "Mỗi người làm việc bằng hai", "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược",. . . để nghe "chương trình ca nhạc của Đài Tiếng Nói Việt Nam", "Khắp nơi ca hát", "Chương trình ca nhạc theo yêu cầu", Sân khấu truyền thanh", "kể chuyện cảnh giác", . . . Cấp đại đội chắc không dám nghe đài địch. Máy thu thanh cho đại đội thường là Orionton hoặc Lido của Hungari.

     Tuy nhiên, cấp cao hơn thì khác. Tôi đã từng ở cùng các "cấp côi" và được nghe BBC, Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ. Tôi cũng đã nghe Đài Gươm Thiêng Báo Quốc với một câu "rên": "Si...nh.... Bắ ....c .... Tử..... Na....m .... !"

    Tôi vừa sửa tên đài Gươm Thiêng Báo Quốc theo bạn Ledvu.  
Theo tôi biết ,trước năm 1975 Sài gòn có rất nhiều đài phát thanh  trong đó có đài "Gươm thiêng ái quốc " và đúng là nó cứ rền rĩ câu :sinh bắc tử nam ,hoặc có lúc nó nói tên tuổi quê quán chiến sĩ ta và nói :sinh tại miền Bắc ,chết tại miền Nam tự do .và chưa bao giờ nghe nói có đài :gươm thiêng báo quốc.
Logged
quannhu172
Thành viên
*
Bài viết: 188

Chết vì cuồng vọng một cách lố bịch!


« Trả lời #431 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2011, 09:13:40 pm »

Lạc đề 1 tý, tui có nghe kể là có gia đình biết được tin con mình hy sinh khi nghe tin của đài " Gươm Thiêng Báo Quốc " bác TTNL vừa nói, không biết có chính xác không? Chứ tin báo tử chính thước mà về đến gia đình thường thì rất chậm. Trước 1975, bản thân tui cũng có mở đài đó mà nghe,vì sống ở trong Nam nên nghe thoải mái. Nhưng hồi đó còn nhỏ nên không nhớ nhiều.

  Em vẫn thường nghe nhịp cầu thân yêu , và  những người con sinh Bắc tử Nam đều đều .
Quan trọng nhất là muốn nghe nhưng không có đài để nghe các bác ạ !
Logged
Lizzy
Thượng sĩ
*
Bài viết: 83


Phái viên của Tư lệnh


« Trả lời #432 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2011, 10:48:32 pm »

hehe mấy tờ giấy chứng nhận bác TTNL post lên đúng là hàng độc  Grin Có bằng chứng cụ thể như vậy kể chuyện ngày xưa con cháu mới tin  Grin
À không biết thời đó mấy ông trung úy có đài đeo bên hông có cần xin giấy chứng nhận không vậy bác TTNL ?
Nếu em k nhầm nhà bố mẹ em cũng có cái chứng nhận xe đạp, nhưng mà tên người khác Grin ngoài ra còn 1 tờ công trái nữa Grin hôm nào em về mò lại rồi chụp ảnh up cho các bác Grin
Logged

Who can say where the road goes
Where the day flows?
Only time...
thaiminhhung
Thành viên
*
Bài viết: 760


CHÀO NHÉ MÁI TRƯỜNG ƠI !


« Trả lời #433 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2011, 09:29:31 am »

Báo Hà Nội mố ra ngày 15 và 16 tháng 10 năm 2011 Có bài phóng sự dài : MỘT THỜI TEM PHIẾU của tác giả Nguyễn Ngọc Tiến. Chắc là tác giả đã từng công tác trong ngành thương nghiệp nên biết rất rõ thời bao cấp có những loại tem phiếu gì, và tiêu chuẩn thế nào tôi xin post bài báo lên để các bác cùng đọc:

MỘT THỜI TEM PHIẾU

(HNM) - Trong ký ức của nhiều người còn sâu đậm thời bao cấp với tem phiếu, sổ gạo, bìa mua hàng, sổ mua phụ tùng xe đạp... Và xung quanh nó biết bao nhiêu chuyện vui, buồn...

Vì thiếu gạo nên ngay từ năm 1955, Nhà nước đã tạm thời bán gạo theo định lượng cho các hộ gia đình ở thành phố và mỗi thành phố áp dụng một tiêu chuẩn khác nhau. Bắt đầu từ ngày 1-3-1957, Nhà nước thực hiện chế độ cung cấp gạo ăn hàng tháng cho bộ đội, cán bộ, công nhân viên, sinh viên các trường chuyên nghiệp, học sinh được hưởng học bổng toàn phần tại các trường phổ thông, bệnh nhân tại các trạm điều dưỡng... với giá thống nhất và ổn định là 4 hào/kg. Tiêu chuẩn được hưởng gạo cung cấp có nhiều loại. Học sinh phổ thông chưa đến 18 tuổi, người già, người đang trong độ tuổi lao động nhưng không có việc làm gọi chung là nhân dân được 13kg/tháng. Người làm trong khối hành chính sự nghiệp được 15kg, sinh viên đại học, công nhân trong các xí nghiệp được 17kg, công nhân ngành độc hại hưởng 21 kg/tháng. Với cán bộ cao cấp được hưởng tiêu chuẩn 21kg và mua tại cửa hàng riêng ở số 1 phố Ngô Quyền (quận Hoàn Kiếm). Cán bộ cao cấp không phải ăn độn và được cung cấp loại gạo ngon.

Nhà nước cũng phát hành tem lương thực có mệnh giá 100g, 225g và 250g. Cán bộ đi công tác có thể mang sổ đổi lấy tem. Loại 100g thêm 1 hào mua được 1 chiếc bánh mỳ ngọt, 225g thêm 2 hào mua được chiếc bánh mỳ có thể ăn no, còn 4 hào với con tem 250g được suất cơm mậu dịch gồm bát canh, bát cơm và vài miếng đậu phụ hay thịt lợn bạc nhạc kho.

Ngoài bìa cuốn sổ người ta in rõ: Sổ mua lương thực - người dân quen gọi là "sổ gạo" và ngành lương thực cũng không bảo đảm rằng lúc nào cũng là 100% gạo. Tùy từng thời kỳ tỷ lệ độn mỳ nhiều hay ít nhưng hiếm khi được mua 100% gạo. "Sổ gạo" với các gia đình cực kỳ quan trọng, nếu chẳng may mất sổ thì cả gia đình phải nhịn, thế nên có câu thành ngữ "buồn như mất sổ gạo" hay "mặt nghệt như mất sổ gạo". Việc xin cấp lại vài tháng là nhanh và trong thời gian chờ đợi, hằng tháng phải lên phòng lương thực xin lệnh mua. Gạo cung cấp chủ yếu là cũ, mốc, hạt vàng ố do để lâu trong kho và không được bảo quản đúng quy cách. Lại có khi đầy sạn và thóc đến mức nhặt sạn lâu hơn nấu bữa cơm nên các bà, các chị nội trợ phải cho gạo vào rá, đãi kỹ để loại hết sạn. Nấu cơm bằng "gạo tấm" là cả một kỹ thuật không phải bất kỳ chị nội trợ nào cũng thành thạo, vì đó là loại gạo nấu rất dễ bị nát hoặc bị sống. Chất lượng gạo là thế nhưng phần lớn gia đình không muốn mua gạo dính (hạt to, trong, ăn dẻo), gạo do nước ngoài viện trợ vì nấu không nở và dôi cơm như gạo cũ trong khi các gia đình cần no hơn là ngon.

Năm 1965, dân Hà Nội bắt đầu phải ăn độn. Ăn độn không xa lạ với người ở nông thôn, bà con thường độn khoai lang, sắn, ngô vào cơm, nhưng ăn độn lại xa lạ với người dân thành thị, nhất là độn bột mỳ. Trước đó, dân thành thị biết đến bột mỳ qua mỳ vằn thắn, quẩy, bánh bò, bánh gối... và chỉ để ăn chơi, nay phải ăn thường xuyên thì bột mỳ trở thành nỗi kinh hoàng. Đầu tiên là nhào bột mỳ cho dẻo, sau đó nắm thành từng nắm cho vào nồi luộc, để ăn sáng và trưa, đến bữa chiều mới có cơm. Cục bột mỳ luộc ăn nóng còn mềm, nhưng để nguội thì khô và cứng đến mức "ném chó, chó chết". Trẻ em ở nơi sơ tán, ăn mỳ luộc khó nuốt, nóng bụng, nhưng sáng ra vẫn phải ăn, rồi đội mũ, đeo nùn rơm đi học. Chán luộc thì chuyển qua rán, tuy nhiên vì hiếm mỡ nên gọi là rán cho oách chứ thực ra là áp chảo. Nhà không có mỡ nghĩ ra cách nhào bột, dàn mỏng, bọc lá chuối nướng trên bếp than. Rồi có nhà bắt chước Hoa kiều làm bánh bao, không có xô tả (bột nở), họ tạo ra bằng cách gây chua bột. Không có nhân nhưng dù sao cũng đỡ ngán hơn cục mỳ luộc. Một món kinh hoàng từ bột mỳ là mỳ cán nấu. Bột mỳ trộn với nước sao cho không nát, không khô sau đó lấy chai cán mỏng rồi dùng dao bài xắt thành từng sợi. Nước trong nồi sôi mới cho sợi mỳ vào. Vì "sợi" dày nên nấu khá lâu, thỉnh thoảng phải thử bằng cách cắn đôi, nếu giữa sợi mỳ còn màu trắng đục nghĩa là chưa chín. Khi chuẩn bị nhấc nồi ra mới cho rau vào. Tuy vẫn còn hình hài sợi mỳ nhưng nước sánh như cháo, ăn nóng dễ hơn nhưng bỏng mồm, còn nguội lại đặc như bánh đúc. Bột mỳ không phải lúc nào cũng trắng và thơm, nhiều khi phải mua cả bột đen và hôi, mọt bò lổm ngổm. Thế nên nhà nào cũng phải sắm cái rây, trước khi chế biến phải rây bột, nếu không muốn ăn độn cả mọt.

Năm 1966, Hoa kiều ở Hà Nội bắt đầu sản xuất mỳ sợi, người ta vừa bán, vừa đổi, 1kg bột thêm 3 hào được 1kg mỳ tươi. Mỳ sợi dễ chế biến và cũng dễ ăn hơn mỳ cán. Hai năm sau đó, năm 1968, các xí nghiệp sản xuất mỳ sợi Tương Mai, Thượng Đình, Hải Châu, Chùa Bộc ra đời cung cấp cho thành phố và để bảo quản được lâu, họ đã sấy khô. Và mỳ sợi khô được đóng vào các bao gai và buộc kín nên không ai biết nó trắng hay đen, chỉ đến khi mua rồi mở ra mới biết. Mỳ sợi khô dùng để độn cơm hay nấu, ngoài ra không còn cách ăn nào khác. Khi cơm gần cạn nước thì bóp mỳ vào rồi dùng đũa cả trộn đều mỳ sẽ không nát. Còn nấu thì cho tý mỳ chính và thêm chút hành mỡ, vì không có thịt nên được gọi là "mỳ không người lái". Nên mới có chuyện buổi sáng mấy chú bé trên đường đi học, rủ nhau vào cửa hàng ăn uống mậu dịch để ăn mỳ "không người lái"; có chú công an nghe được, bắt đứng ở vỉa hè đọc câu: "Mỳ không có thịt chứ không phải mỳ không người lái", đúng một trăm lần rồi mới cho đi. Lại có người còn sáng tạo cách nấu mỳ như nấu cơm nếp, tức là khi đun nước sôi thì đổ mỳ vào nồi, rồi chắt kiệt nước. Sau đó ủ trên than hoặc để lửa nhỏ. Bắc nồi mỳ ra, cho tý mỡ, tý hành đánh đều lên, ăn cũng khá ngon.


« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười, 2011, 09:59:30 am gửi bởi thaiminhhung » Logged

Bừng bừng cháy, lửa nhiệt tình đầy niềm tin mơ ước bao la
Ta về đây vui ca vang, bài ca đi dựng xây nước nhà....
thaiminhhung
Thành viên
*
Bài viết: 760


CHÀO NHÉ MÁI TRƯỜNG ƠI !


« Trả lời #434 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2011, 09:36:56 am »

Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam ký ngày 27-1-1973, dân Hà Nội từ nơi sơ tán ùn ùn kéo về. Tết Quý Sửu vui chưa từng thấy, mọi người nói với nhau "hòa bình ăn cháo cũng sướng". Nhưng tháng 4-1973, gạo hiếm nên ngành lương thực bắt ăn độn bánh mỳ. Mỗi gia đình được phát một cuốn sổ và tùy theo định lượng sẽ phải ăn bao nhiêu chiếc trong một tháng. Tầm 9 giờ sáng, nhân viên bán lương thực đẩy xe bánh mỳ về các tiểu khu (nay là phường). Chỉ cần mang sổ ra yêu cầu lấy bao nhiêu chiếc là họ ghi vào sổ và ký vào. Những ngày đầu thấy bình thường, nhưng càng lâu càng ngán, ăn với đường, rán, ăn vỏ bỏ ruột, rồi ăn ruột bỏ vỏ. Tình trạng ăn bánh mỳ kéo dài tới mấy tháng, sau đó trở lại ăn độn mỳ sợi.

Về cái mặc, Thông tư số 119-TTg ngày 21-12-1963 công bố định lượng phân phối một năm như sau: Cán bộ công nhân viên 5 mét/người, nhân dân thành phố và thị xã 4 mét/người/năm, dân nông thôn 3 mét/người/năm. Phiếu vải cũng chia ra hai loại, nam và nữ. Phiếu vải nữ có quyền mua 2 mét lụa đen hay các loại vải tương tự để may quần. Vải cung cấp cũng không có nhiều loại, trong nước có vải phin, popelin 8-3 (Nhà máy Dệt 8-3 sản xuất), vải thô, kaki Nam Định (Nhà máy Dệt Nam Định sản xuất) và chỉ có hai màu cơ bản là xanh công nhân và tím than. Vải bán tự do ở bách hóa cũng chỉ có vài loại nhưng giá rất cao nên không phải ai cũng có tiền mua. Vì thế người mặc quần vá, tích kê đầu gối nhan nhản ngoài phố, áo sơmi sờn cổ thì mang ra hiệu may lộn lại. Mùa đông cánh đàn ông chỉ có áo bông, áo sợi và áo đại cán, bà già áo bông trần quả trám. Phụ nữ trung niên và cánh con gái bên ngoài áo kaki một lớp bên trong nhồi đủ các loại. Thậm chí áo len còn trộn tới 4 màu, không phải tạo mốt mà mỗi loại len chỉ có một ít. Thanh niên và thiếu niên thường mặc áo bông, loại áo vỏ là kaki màu tím than bên trong là ruột bông

« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười, 2011, 09:48:46 am gửi bởi thaiminhhung » Logged

Bừng bừng cháy, lửa nhiệt tình đầy niềm tin mơ ước bao la
Ta về đây vui ca vang, bài ca đi dựng xây nước nhà....
thaiminhhung
Thành viên
*
Bài viết: 760


CHÀO NHÉ MÁI TRƯỜNG ƠI !


« Trả lời #435 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2011, 09:40:17 am »

MỘT THỜI TEM PHIẾU
Nguyễn Ngọc Tiến

tiếp theo...

 (HNM) - Theo Thông tư 345-NT ngày 25-5-1968, trẻ em sơ sinh thành thị dưới 1 năm tuổi nếu mẹ mất sữa toàn phần hoặc trẻ em mất mẹ dưới 3 tuổi hưởng loại phiếu A, mỗi tháng được 8 hộp sữa đặc. Trẻ sơ sinh nông thôn và trẻ sơ sinh thành thị mà mẹ mất sữa một phần hưởng loại phiếu B, mỗi tháng được 4 hộp sữa đặc. Sữa trong nước có Thảo Nguyên, sản phẩm của Nông trường Bò sữa Mộc Châu, ngoài ra còn có sữa hộp Trung Quốc, Liên Xô. Tuy nhiên chất lượng sữa Thảo Nguyên không cao, dễ bị vón cục, để lâu dưới đáy đọng tới nửa hộp là đường, nên nhiều người không dám cho trẻ ăn.

Trước năm 1975, cán bộ cấp đặc biệt hưởng từ 7,5kg thịt, 3,5kg đường/tháng trở lên; bộ trưởng hoặc tương đương có phiếu A, trước năm 1975 hưởng 6kg thịt, 3kg đường, sau năm 1975 hưởng 4,2kg thịt, 2kg đường/tháng. Cán bộ cấp nhỏ tiêu chuẩn phiếu D trước năm 1975 hưởng 1kg thịt, 0,5kg đường/ tháng; sau năm 1975 hưởng 0,8kg thịt, 0,7kg đường/tháng. Công nhân lao động nặng trước năm 1975 tiêu chuẩn phiếu I, hưởng 1,5kg thịt, 0,75kg đường/tháng, còn nhân dân trước năm 1975 và cả sau này là phiếu N với 0,3kg thịt và 0,1kg đường/tháng. Ngoài thịt, còn có ô đậu phụ, ô nước mắm. Cán bộ hưởng cấp đặc biệt và tiêu chuẩn phiếu A, B mua tại cửa hàng 17 phố Tông Đản. Tiêu chuẩn phiếu C mua ở phố Nhà Thờ, Đặng Dung và Vân Hồ.

Tiêu chuẩn là vậy, nhưng cũng còn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn hàng. Có thời kỳ chỉ có thịt lợn ướp Trung Quốc, mùi chất bảo quản rất khó chịu nhưng cũng phải mua vì không có loại thịt khác. Chân giò, sườn là hai thứ người dân thích nhất vì ngành thực phẩm quy định tăng gấp đôi, ví dụ giá trị phiếu là 0,5kg, nếu mua thịt được 0,5kg, nhưng mua chân giò lại được 1kg. Đa số thích mua mỡ lá hơn mỡ phần vì mỡ phần rán không ra nhiều như mỡ lá, nhưng mấy khi mua được, vì mậu dịch viên dành bán cho người quen. Đậu phụ hiếm khi có đậu ngon, thường là bở và bã, còn nước mắm có lúc bốc mùi thum thủm, mua về phải nấu lại mới chấm rau muống luộc được. Vào mùa hè, ngành thực phẩm thường bán thêm cho mỗi phiếu mua hàng một con vịt cỏ. Ai quen biết được loại nặng hơn cân, còn không quen biết lại xếp hàng thì chỉ có loại từ 8 đến 9 lạng, lông măng tua tủa. Lại có khi mỗi bìa gia đình được mua thêm cá biển, loại cá nhỏ như ngón chân cái, nát vụn.

Về chất đốt, tiêu chuẩn cho dân ngoại thành là củi, than, còn nội thành ban đầu là củi, sau là dầu hỏa, tiêu chuẩn của cán bộ và nhân dân bằng nhau, 4 lít/tháng. Các cửa hàng bán dầu bằng máy bơm tay. Về sổ cung cấp phụ tùng xe đạp, từ năm 1965, Nhà nước quy định mỗi cán bộ, công nhân được phân phối 1 chiếc xe đạp trong cả đời công tác. Ai đã có xe đạp thì đăng ký để xin sổ mua phụ tùng. Việc phân phối này khá phức tạp, phải bình xét hay gắp thăm. Xe phân phối chủ yếu là xe Thống Nhất của Việt Nam, xe Phượng Hoàng và Vĩnh Cửu của Trung Quốc. Phượng Hoàng và Vĩnh Cửu rất nặng nhưng chắc chắn và bền. Giá xe phân phối rẻ hơn nhiều lần so với bán tự do.
Logged

Bừng bừng cháy, lửa nhiệt tình đầy niềm tin mơ ước bao la
Ta về đây vui ca vang, bài ca đi dựng xây nước nhà....
thaiminhhung
Thành viên
*
Bài viết: 760


CHÀO NHÉ MÁI TRƯỜNG ƠI !


« Trả lời #436 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2011, 09:42:10 am »

MỘT THỜI TEM PHIẾU
Nguyễn Ngọc Tiến

tiếp theo và hết

 

Mỗi hộ gia đình ở cả thành thị và nông thôn đều được cấp bìa mua hàng để mua chiếu, kim chỉ, thuốc lá, bánh mứt kẹo vào dịp Tết Nguyên đán… Thế nên từ giữa tháng Chạp, mọi nhà đã tất bật đi mua “hàng Tết”. Chen chúc, xô đẩy để mua được túi hàng Tết, trong đó thường có hộp mứt Hữu Nghị, bao thuốc lá Điện Biên hoặc Tam Đảo bao bạc, gói trà Thanh Hương hoặc Hồng Đào, miếng bóng bì, bánh pháo, chai rượu Thanh Mai hoặc rượu mơ, rượu chanh... Mua về rồi, các thứ hàng hóa này được cất giữ cẩn thận, chỉ để dùng trong mấy ngày Tết. Ngoài các loại tem phiếu, các loại giấy tờ khác cũng có thể mua được hàng hóa như: giấy giới thiệu, chứng nhận kết hôn (có giấy kết hôn được mua 1 chiếc màn đôi, 2kg bánh kẹo, 1 tút thuốc lá để tổ chức đám cưới), giấy báo tử (có giấy này mới được mua quan tài giá cung cấp loại gỗ nhóm 4, kèm theo 10m vải xô hay vải trắng)... Tất cả các mặt hàng mua bằng tem phiếu chỉ có giá trị trong tháng, ai đi công tác không kịp mua chỉ còn cách bỏ đi.

Vì luôn luôn không có đủ hàng hóa nên mới sinh ra chuyện phải xếp hàng, từ xếp hàng thực phẩm, lương thực, đồ bách hóa đến chất đốt, thậm chí cả mua mớ rau muống của mậu dịch (rau muống mậu dịch thường bám đầy bèo tấm, dài cả mét, vì người bán rau cho mậu dịch thường cắt rất dài để tăng trọng lượng! Người mua về chỉ ngắt cái ngọn, còn phần cuống dài cả mét thì cho lợn. Đi mua hàng, chỉ có một người nhưng lại phải mua nhiều thứ, thế là sinh ra chuyện xếp hàng bằng gạch, nón, mê rổ... Một số người kiếm sống bằng cách bán chỗ, nghĩa là họ đến rất sớm, xếp vài chỗ liền nhau, nếu ai cần mua trước chỉ còn cách bỏ ra mấy hào mua lại “cục gạch” mà họ đã xếp. Cũng vì bao cấp nên giá hàng hóa rẻ như bèo, bán như cho đã sinh ra “phe phẩy”. Cửa hàng nào cũng có các bà “phe” và “phe phẩy” bị coi là kẻ gây ra nạn khan hiếm hàng hóa trong khi họ chỉ làm việc mua của người thừa bán cho người thiếu. Cánh “phe phẩy” lượn lờ quanh các cửa hàng thực phẩm, bách hóa gạ mua các loại tem phiếu. Có gia đình cần tiền phải bán cho các bà “phe” phiếu thực phẩm cả quý.

Năm 1982, Bộ trưởng Bộ Nội thương đã ký quyết định dẹp bỏ các cửa hàng cung cấp đặc biệt ở Tôn Đản, Nhà Thờ, Vân Hồ và Đặng Dung. Vì sao dẹp bỏ cửa hàng mà cần tới quyết định của Bộ trưởng? Trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam: Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989, cố Giáo sư Đặng Phong viết: “Vị Bộ trưởng Nội thương trực tiếp thực hiện quyết định này chính là Giáo sư Trần Phương”. Ông kể lại những bước chuẩn bị khá phức tạp để thực hiện quyết định này...

Trước hết, ông đi gặp một đồng chí lãnh đạo cấp cao để báo cáo. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí cán bộ cấp cao trầm ngâm một lúc rồi hỏi: “Thế anh định làm thế nào?”, Trần Phương trả lời: “Thưa anh, tôi có một cách giải quyết. Một mặt phải xóa các cửa hàng đó đi nhưng lợi ích của những người có tiêu chuẩn đó vẫn được bảo đảm bằng cách tính tất cả những mặt hàng cung cấp đó ra tiền. Bộ Tài chính sẽ phụ cấp số tiền đó vào lương. Như thế không để thiệt thòi cho người có tiêu chuẩn mà lại đỡ gây bất bình, bức xúc trong nhân dân... Bộ Nội thương chúng tôi đã tính toán và cân đối được rồi. Về mặt kinh tế không có vấn đề gì. Về mặt chính trị như thế sẽ tốt hơn”. Đồng chí lãnh đạo ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Được, anh làm đi”.

Tuy vậy, việc xóa hệ thống các cửa hàng cung cấp đã gây ra phản ứng dữ dội. Chuyện đến tai lãnh đạo cấp trên, ông Trần Phương bị chất vấn. Lần này Trần Phương trình lãnh đạo một xấp hóa đơn của phu nhân một vị cán bộ cấp cao, bà đã mua 180m vải tissu len trong một năm. Trần Phương nói: “Thưa anh! Đồng chí này cần may bao nhiêu bộ complet để tiếp khách mà phải mua tới 180m tissu và nếu đúng thế thì lương đồng chí đó là bao nhiêu để mua nổi bấy nhiêu mét tissu?”. Nghe xong, đồng chí lãnh đạo lắc đầu.

Cũng năm 1982, Bộ Nội thương đã trình Bộ Chính trị đề án cải tiến công tác nội thương, dẹp bỏ toàn bộ hệ thống các mặt hàng cung cấp bán sát theo giá thị trường và bù vào lương cho cán bộ, công nhân, viên chức. Tuy nhiên đề án này chỉ được chấp nhận một phần là xóa bỏ 33 trong 42 mặt hàng cung cấp, giữ lại mặt hàng thiết yếu cung cấp theo định lượng, trong đó có gạo, thịt, đường, vải, chất đốt... Phải đến ngày 1-4-1989 chế độ tem phiếu mới hoàn toàn được bãi bỏ.

Nguyễn Ngọc Tiến

« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười, 2011, 09:49:49 am gửi bởi thaiminhhung » Logged

Bừng bừng cháy, lửa nhiệt tình đầy niềm tin mơ ước bao la
Ta về đây vui ca vang, bài ca đi dựng xây nước nhà....
ledvu
Thành viên
*
Bài viết: 212



« Trả lời #437 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2011, 11:44:24 am »

Đúng là đài " Gươm Thiêng Ái Quốc ". Năm 1972 tui rất hay nghe đài này và các đài của miền Nam tường thuật tin chiến sự, giờ vẫn còn nhớ là về " muà hè đỏ lửa" ở Quảng Trị.
Logged
Duc18153
Thành viên
*
Bài viết: 139


« Trả lời #438 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2011, 10:38:28 pm »

Thời 7x.,có câu nói vui : đi xe " cố vấn - mặc áo : chuyên -da."Một hôm mấy đứa tụi tôi đi học về thì xe ( xe cố vấn ) bị nổ lốp ,đúng cửa nhà một bà già .Bà ta chửu té tát : tiên sư chúng mày ,sao không "nổ " ở đâu ,mà lại mang đến " nổ " ở cửa nhà bà ?? HIC...
Logged

Không lấy cái kim sợi chỉ của dân ...
hanoixanh
Thành viên
*
Bài viết: 56


« Trả lời #439 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2011, 02:36:46 am »

 Cái ông Nguyễn ngọc Tiến này mới hơn 2 chục năm mà quên hết là phiếu nhân dân chỉ có 1 lạng thịt và 10 Kg gạo trong tháng . Bố mẹ Hanoixanh là giáo viên cũng chỉ có 13 kg gạo và 0,6 kg thịt thôi ...làm gì có rau muống dài cả mét ! cái ông này nhầm cây rau muống với cây sậy rồi .Trình viết báo mạng càng ngày càng tồi .

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM