Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:48:21 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 422333 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 01:23:42 am »

Phần một đã đủ 60 trang theo quy định,tôi xin phép mở đầu phần hai,mời các đồng chí và các bạn quan tâm đến chủ đề này vào đóng góp tin và ảnh liên quan đến chủ đề bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển.
Link phần một:
http://www.quansuvn.net/index.php/topic,3644.0.html

Xin được bắt đầu bằng loạt tin về an ninh Đông Nam Á nói chung và trên biển đông nói riêng qua bài dịch của Quốc Thái biên dịch từ Australian Strategic Policy Institute đăng trên TuanVietNamnet và VietNamdefence.com

An ninh Đông Nam Á đang thay đổi phức tạp

Yếu tố biển sẽ tiếp tục trở nên quan trọng hơn trong các thập kỷ tới, khi Đông Nam Á và Đông Á tiếp tục phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và tăng trưởng kinh tế. Điều này sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng địa chiến lược của yếu tố biển, từ Vịnh Arập và Ấn Độ Dương qua ĐNA và biển Đông tới Tây Thái Bình Dương.


Có vẻ như Đông Nam Á vẫn tiếp tục là tâm điểm nóng trong thời gian tới. Vừa rồi, chuyên gia quân sự cao cấp, giám đốc Diễn đàn nghiên cứu quốc phòng, ĐH New South Wales, Úc, GS Carl Thayer vừa công bố báo cáo hơn 70 trang về an ninh Đông Nam Á.  Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin trích dịch, mời độc giả cùng suy ngẫm và tranh luận thêm.

Ít nhất có 8 xu hướng đang định hình môi trường an ninh ở Đông Nam Á (ĐNA) trong vòng 5 năm tới.


Khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn là "bánh lái" quan trọng nhất đối với sự năng động trong từng nước ở khu vực ĐNA. Nó khiến cho tất cả các nước nhận ra rằng phục hồi kinh tế toàn cầu là điều kiện tiên quyết để tiếp tục đạt tăng trưởng kinh tế quốc gia. Sự phục hồi sau khủng hoảng chỉ có thể diễn ra thông qua hợp tác đa phương cấp cao và phối kết hợp ở cấp độ khu vực và toàn cầu, đi đôi với những gói kích thích kinh tế trong nước.

Kết quả thực sự của khủng hoảng tài chính toàn cầu là thúc đẩy sự dịch chuyển quyền lực từ Bắc Mỹ và châu Âu sang Đông Á. Biểu hiện mạnh mẽ nhất của sự dịch chuyển này là củng cố sự nổi lên của Trung Quốc thành một sức mạnh chính trong mọi chiều kích của quyền lực quốc gia. Trung Quốc hiện đang đóng một vai trò lãnh đạo khu vực và toàn cầu thông qua nhóm G-20 và ASEAN +3. Trung Quốc đã sử dụng vị trí mới của mình để thúc đẩy các thỏa thuận điều chỉnh và giám sát mạnh mẽ hơn đối với các thể chế tài chính quốc tế và một tầm ảnh hưởng lớn hơn cho các nền kinh tế mới nổi tại Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Vai trò lãnh đạo của Trung Quốc trong các vấn đề này đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong khu vực.

Sự nổi lên của Trung Quốc thành một cường quốc có thể tạo thành một đối thủ cạnh tranh chiến lược tiềm ẩn đối với Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương cũng như ở ĐNA. Sự năng động trong quan hệ Trung - Mỹ sẽ có tác động lớn đến môi trường an ninh tại ĐNA.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến ĐNA trở nên phụ thuộc lẫn nhau và dễ bị tổn thương hơn trước các lực lượng toàn cầu. Nó cũng gây ra một sự chuyển dịch sức mạnh khu vực, góp phần tạo ra sự nổi lên của Indonesia và Việt Nam thành các tác nhân chính trong khu vực. Cả hai nước này đã nổi lên từ cuộc khủng hoảng toàn cầu với một vị thế mạnh hơn nhờ các chương trình phục hồi trong nước và khả năng duy trì sự ổn định nội bộ. Indonesia và Việt Nam được cho là sẽ đóng một vai trò ngày càng lớn hơn trong việc định hình môi trường an ninh ĐNA.

Hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc

Có một mối liên hệ trực tiếp giữa tăng trưởng kinh tế mang tính hiện tượng của Trung Quốc với sự gia tăng ngân sách quốc phòng để hỗ trợ việc hiện đại hóa và biến đổi các lực lượng quân sự của nước này. Việc này có ý nghĩa cả về mặt khu vực và chiến lược.

Lực lượng Hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLAN) đang gia tăng các vai trò và nhiệm vụ cho phép lực lượng này tác nghiệp bên ngoài phạm vi lợi ích lãnh thổ của họ ở Tây Thái Bình Dương và Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là Nam Hải). Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng quân đội Mỹ, cho rằng ý định chiến lược đằng sau sự phát triển các khả năng mới của quân đội Trung Quốc dường như "tập trung nhiều vào Hải quân Mỹ và các căn cứ quân sự của Mỹ trong khu vực này". Đặc biệt, việc xây dựng căn cứ quân sự Ngọc Lâm (Yulin) gần Tam Á (trên đảo Hải Nam) đã cho phép Trung Quốc có sự hiện diện quân sự trước để thực hiện ý đồ đòi chủ quyền trên Biển Đông và bảo vệ các tuyến đường giao thông trên biển qua eo biển Malacca và Singapore.

Nói tóm lại, sự hiện đại hóa và chuyển hóa quân sự của Trung Quốc, chủ yếu là hiện đại hóa Hải quân, đã tạo ra một thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh đối với các nước trong khu vực. Các nỗ lực của Trung Quốc nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, bằng cách phát triển cái mà họ gọi là một cấu trúc lực lượng hợp lý để răn đe Mỹ, đã gây ra tình trạng bất an ở nhiều quốc gia láng giềng vì sự thiếu minh bạch của Trung Quốc.

Cam kết tăng cường của Mỹ

Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc khủng hoảng toàn cầu đã làm hoen ố uy tín lãnh đạo thế giới của Mỹ và hủy hoại sức hấp dẫn của mô hình phát triển kinh tế kiểu tư bản dựa trên thị trường tự do. Về mặt chiến lược, cuộc khủng hoảng này đã dẫn tới sự giảm sút chi tiêu quốc phòng của Mỹ trong những lĩnh vực sống còn nếu Mỹ muốn duy trì vai trò độc tôn về công nghệ. Tóm lại, Mỹ sẽ có ít nguồn lực hơn để định hình các phát triển chiến lược ở châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có ĐNA. Trong thập kỷ tới, Mỹ thậm chí sẽ phải dựa nhiều hơn vào các đồng minh và đối tác chiến lược của mình để hợp tác đảm bảo an ninh khu vực.

Sự thay đổi trong tương quan lực lượng giữa Trung Quốc và Mỹ đã khiến một số chuyên gia phân tích chiến lược nói về nguy cơ xói mòn quyền lực Mỹ và đánh mất ưu thế chiến lược của Mỹ. Nước Mỹ đã đáp lại bằng cách tăng cường biểu dương sức mạnh quân sự và tiếp tục các cam kết chính trị với khu vực. Trong vài thập kỷ tới, Mỹ sẽ giữ được vai trò lãnh đạo thế giới, đồng thời duy trì vai trò là một sức mạnh hải quân hàng đầu ở châu Á - Thái Bình Dương và ĐNA.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã xảy ra đúng vào giai đoạn chuyển giao trong nền chính trị Mỹ. Chính quyền Obama đã đem đến xung năng mới đến cam kết của Mỹ với ĐNA. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton trong một bài phát biểu hồi tháng 1/2010 tại Trung tâm Đông - Tây đã khẳng định: "Mỹ đang trở lại châu Á".

Bà Clinton đã chọn Indonesia là điểm đến trong chuyến công du châu Á - Thái Bình Dương đầu tiên của mình. Bà đã tham dự các cuộc hội nghị liên tiếp của ARF kể từ khi đảm nhiệm chức Ngoại trưởng và tại cuộc họp đầu tiên của mình, bà đã phát động Sáng kiến Hạ lưu sông Mekong. Mỹ đã thúc đẩy Hiệp định Thân thiện và Hợp tác, chỉ định một đại sứ thường trực tại ASEAN. Chính quyền của Tổng thống Obama cũng đã thúc đẩy các thỏa thuận thương mại tự do với một số nước trong khu vực như Việt Nam, dưới dạng chương trình Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Ý nghĩa hơn, Tổng thống Obama đã tham dự cuộc họp thượng đỉnh ASEAN - Mỹ đầu tiên và sẽ chủ trì cuộc họp thứ hai; ông cũng đã lên kết hoạch tiến hành một chuyến thăm Indonesia.

Rõ ràng, chính quyền Obama không chỉ cam kết với ĐNA, mà còn muốn làm nhiều hơn chính phủ tiền nhiệm trong việc tham gia thông qua các kênh đa phương. ASEAN đã đáp lại bằng việc mời Mỹ tham gia Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Tóm lại, cam kết tăng cường của Mỹ sẽ đóng vai trò lớn trong việc gây ảnh hưởng tới môi trường an ninh ĐNA.

Gia tăng mua sắm vũ khí

Như đã nói ở trên, việc hiện đại hóa và chuyển hóa quân sự của Trung Quốc đã gây ra tình trạng tiến thoái lưỡng nan đối với các nước trong khu vực. Các nước ASEAN tỏ ra thận trọng trong các tuyên bố chung, song có thể thấy rõ mối lo ngại của họ trong sự gia tăng đáng kể của ngân sách dành cho quốc phòng và các hệ thống vũ khí mà họ trang bị mới.

Theo Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm, các đơn hàng vũ khí tới ĐNA đã tăng gần gấp đôi trong các năm 2005-2009 so với 2000-2004. Riêng Malaysia tăng 722%, Singapore tăng 146% và Indonesia tăng 84%. "Bữa tiệc" chi tiêu quốc phòng ĐNA, dù chủ yếu nhằm mục đích quốc phòng, nhưng cũng có thể gây bất ổn đối với an ninh khu vực.

Tầm quan trọng ngày càng lớn của yếu tố biển

Yếu tố biển sẽ tiếp tục trở nên quan trọng hơn trong các thập kỷ tới, khi ĐNA và Đông Á tiếp tục phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và tăng trưởng kinh tế. Điều này sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng địa chiến lược của yếu tố biển, từ Vịnh Arập và Ấn Độ Dương qua ĐNA và Biển Đông tới Tây Thái Bình Dương.

Xu hướng này có cả những mặt tích cực và tiêu cực. Một mặt, tất cả các nước châu Á - Thái Bình Dương sẽ có một lợi ích chung lớn trong việc duy trì an ninh cho các tuyến đường thương mại mà sự thịnh vượng kinh tế cũng như an ninh quốc gia của họ phụ thuộc vào. Đây cũng sẽ là trường hợp đặc biệt đối với các nền kinh tế Đông Á, vốn phụ thuộc vào các đường giao thông trên biển đi qua ĐNA để giao thương và nhập khẩu các nguồn năng lượng sống còn. Tầm quan trọng ngày càng lớn của yếu tố biển làm nổi lên khả năng tăng cường hợp tác đa phương để đảm bảo an ninh biển.

Mặt khác, các tuyến đường giao thông trên biển đi qua Biển Đông, nơi đang diễn ra tranh chấp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei. Rõ ràng các chương trình hiện đại hóa và chuyển hóa quân sự hiện nay có những đặc điểm của một cuộc chạy đua vũ trang hải quân mang tính cạnh tranh hơn là các chiến lược hợp tác trên biển.  

 (còn tiếp)


« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười, 2010, 09:55:29 am gửi bởi Triumf » Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #1 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 01:33:50 am »

(Tiếp theo)

Ngày càng có nhiều vấn đề xuyên quốc gia

Tất cả các nước ASEAN đều nhấn mạnh đến sự nổi lên của các vấn đề an ninh phi truyền thống như một nhân tố chính sẽ ảnh hưởng tới môi trường an ninh khu vực. Vì các vấn đề này có bản chất xuyên quốc gia và vượt ra ngoài khả năng giải quyết của bất kỳ nước nào, nên chúng mở ra các khả năng hợp tác an ninh đa phương. Vì vậy các nước ĐNA đã ưu tiên cho hợp tác an ninh để đối phó với các mối đe dọa phi truyền thống.

Tuy nhiên, hiện chưa có sự thống nhất về vấn đề phi truyền thống nào sẽ phải được coi là một mối đe dọa đến an ninh quốc gia. Theo Toàn cảnh An ninh Thường niên 2009 của AFF, có 12 mối đe dọa an ninh phi truyền thống: chủ nghĩa khủng bố, hải tặc, tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, buôn ma túy, buôn người, nhập cư trái phép, chặt phá rừng trái phép, đánh bắt hải sản trái phép, cúm gia cầm, cúm A/H1N1 và biến đổi khí hậu.

Sự dai dẳng của các "thách thức an ninh thường nhật trong nước"

Ít nhất 7 trong số 11 nước ĐNA đang bị ảnh hưởng bởi các thách thức an ninh trong nước ở mọi cấp độ, trong đó bạo lực đã được sử dụng để phục vụ cho các lợi ích của một nhóm đặc biệt hoặc một tác nhân phi nhà nước. Trong năm qua, Malaysia, Indonesia, Lào đã chứng kiến các cuộc nổi dậy lác đác của các phe phái hoặc bạo lực sắc tộc. Trong khi đó, Thái Lan, Myanmar và Philippines tiếp tục phải chịu tình trạng bất ổn chính trị và sự nổi dậy của những người theo chủ nghĩa dân tộc và sắc tộc, xung đột sắc tộc, và chủ nghĩa ly khai... Campuchia và Thái Lan bị kéo vào một cuộc tranh chấp lãnh thổ liên quan đến vùng đất xung quanh một ngôi đền cổ ở khu vực biên giới hai nước.

Các "thách thức an ninh thường nhật trong nước" sẽ còn dai dẳng trong thập kỷ tới. Các cuộc xung đột ở miền Nam Thái Lan và Nam Philippines, và tình hình chính trị bất ổn ở Myanmar, nếu không được giải quyết sẽ lan rộng và ảnh hưởng tới an ninh của các quốc gia láng giềng.

Biến đổi cấu trúc an ninh khu vực

Từ khi khởi động ARF, ASEAN đã nhấn mạnh đến mục tiêu ngồi vào "chiếc ghế lái tàu". Nhưng dù đạt được một số thành tựu, nhưng ARF vẫn là một diễn đàn đối thoại an ninh thúc đẩy các biện pháp xây dựng lòng tin (CBMs) trên cơ sở đồng thuận và theo một lộ trình phù hợp với tất cả các thành viên.

ĐNA vẫn thiếu một cơ quan quản lý an ninh chung để đối phó hiệu quả với các thách thức an ninh cố hữu và mới xuất hiện ngày nay. Tình trạng này dẫn tới các nỗ lực đặc biệt, như Sáng kiến phòng chống phố biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (PSI) để chống nguy cơ buôn bán liên quan đến phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt, và Đối thoại Shangri-La để thảo luận các thách thức an ninh đặc biệt.

Hiện tại, có một loạt các đề xuất cải tiến cấu trúc an ninh hiện nay. Trung Quốc đang thúc đẩy Liên minh viễn thông châu Á - Thái Bình Dương (APT) để đóng một vai trò lớn hơn trong việc đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Nhiều Thủ tướng Nhật Bản đã đề xuất một cộng đồng Đông Á, trong khi cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd ủng hộ một cộng đồng bao gồm cả châu Á - Thái Bình Dương. Tất cả các đề xuất này đang thách thức ASEAN.

Một trong những xu hướng an ninh lớn hiện nay liên quan đến ĐNA là vai trò đầu tàu của ASEAN trong việc tạo ra một cộng đồng an ninh - chính trị nhằm củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực.

Tóm lại, môi trường an ninh tại ĐNA đang bị quyết định bởi các xu hướng trong từng nước, rộng hơn là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và toàn cầu. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đẩy nhanh sự nổi lên của Trung Quốc cũng như quá trình hiện đại hóa quân sự và tầm ảnh hưởng của nước này trong các vấn đề khu vực.

Bên cạnh đó có một diễn biến khác là sự bá quyền của Mỹ đang suy yếu. Mỹ đã đáp lại bằng việc tăng cường hiện diện quân sự và tái cam kết với ĐNA. Hai xu hướng này đã dẫn tới những vụ va chạm trên biển và cuộc cạnh tranh chiến lược nhằm giành ảnh hưởng tại ĐNA.

Các nước quan trọng ở ĐNA đã phản ứng bằng việc áp dụng các biện pháp "tự cứu mình" là tăng cường các khả năng quốc phòng và theo đuổi các chiến lược bao vây như một lời đáp trước những chuyển biến về địa chính trị đang diễn ra trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Giữa các nước ĐNA, một sự chuyển đổi trọng tâm quyền lực cũng đang diễn ra với sự nổi lên của Indonesia và Việt Nam như những nhân vật chính.

Các mô hình hợp tác an ninh tại ĐNA

Có bốn mô hình hợp tác an ninh chính tại ĐNA. Đầu tiên là hợp tác quốc phòng đa phương giữa các nước lớn bên ngoài với từng nước ĐNA nhằm đối phó với các mối lo ngại an ninh đặc biệt. Thỏa thuận Quốc phòng Năm nước (FPDA) và các nỗ lực chống hải tặc theo sáng kiến của Nhật Bản là những ví dụ điển hình cho mô hình này.

Mô hình thứ hai liên quan đến hợp tác an ninh và quốc phòng do Mỹ đứng đầu với các liên minh thỏa thuận, các đối tác chiến lược và các nước khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Mô hình thứ ba tập trung vào các nỗ lực đa phương mà Trung Quốc dẫn đầu nhằm trói ASEAN vào một cấu trúc hợp tác an ninh khu vực Đông Á với trọng tâm chính là các vấn đề an ninh phi truyền thống.

Mô hình thứ tư liên quan đến các nỗ lực đa phương do ASEAN làm trọng tâm nhằm thúc đẩy hợp tác an ninh kể cả giữa các thành viên Khối này với các đối tác đối thoại, và giữa các thành viên trong ARF.

Hợp tác đa phương không có ASEAN

Thỏa thuận FPDA có hiệu lực từ năm 1971 giữa các nước Anh, Australia, New Zealand, Malaysia và Singapore. Đây không phải là một liên minh. FPDA hiện là thỏa thuận đa phương lâu đời nhất - nếu không muốn nói là duy nhất - có quy mô hoạt động ở ĐNA.

Cơ quan chính sách cấp cao nhất là Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng FPDA, họp ba năm một lần nhằm lập ra định hướng chiến lược. Năm 2000, các Bộ trưởng Quốc phòng đã đặt nền móng cho sự chuyển đổi lớn nhất trong lịch sử của FPDA. Hệ thống phòng thủ chồng lấn nhằm hỗ trợ nhau (IADS) được cấu trúc lại thành lực lượng Phòng thủ vùng trời chồng lấn, và sau đó là lực lượng Phòng thủ khu vực chồng lấn. Quyết định này đã mở ra một thời kỳ phát triển và biến đổi.

Năm 2003, các Bộ trưởng nhất trí rằng FPDA phải trở nên thích ứng hơn bằng việc tìm cách đối phó với các đe dọa mới. Năm 2004, các Bộ trưởng định hướng rằng FPDA phải kết hợp các kịch bản đe dọa phi thông thường trong các cuộc tập trận của mình, với trọng tâm đặc biệt là môi trường biển. Và trận sóng thần bất ngờ ở Ấn Độ Dương năm 2004 đã khiến FPDA đóng vai trò hỗ trợ nhân đạo và cứu hộ thiên tai. Tháng 6/2006, FPDA ủng hộ đề xuất của Malaysia về việc thành lập một trung tâm cứu hộ thiên tai khu vực. Và dần dần, các cuộc tập trận của FPDA đã có sự tham gia của các cơ quan phi quân sự.

Tuy nhiên, FPDA không lơ là vai trò của mình trong việc đối phó với các mối đe dọa thông thường. Trong 39 năm qua, FPDA đã phát triển và thích ứng với sự thay đổi môi trường chiến lược. FPDA đã dần dần mở rộng các trọng tâm của mình từ phòng thủ thông thường ở vùng trời trên bán đảo Malaysia và Singapore ra tận biển Đông, thông qua một loạt các cuộc tập trận phòng không thường niên tới các cuộc tập trận quân sự chung và kết hợp quy mô lớn nhằm đối phó với các mối đe dọa an ninh thông thường và phi thông thường mới xuất hiện.

Bên cạnh FPDA, hợp tác chống hải tặc do Nhật Bản đứng đầu là một ví dụ điển hình khác cho mô hình hợp tác đa phương ngoài ASEAN. Lực lượng phòng vệ Nhật Bản (SDF) bị hạn chế bởi hiến pháp về các dạng hợp tác phòng thủ và an ninh với các nước khác. Tuy nhiên, sau các vụ khủng bố ngày 11/9/2001, Nhật Bản đã thông qua một điều luật cho phép SDF tham gia các nhiệm vụ lớn hơn ở biển xa. Chính điều này dẫn tới sự can dự nhiều hơn của Nhật Bản vào các vấn đề an ninh trong khu vực.

Đóng góp quan trọng nhất của Nhật Bản vào hợp tác an ninh ở ĐNA là việc thúc đẩy các biện pháp chống hải tặc. Nhật Bản liên tiếp đưa ra sáng kiến Thỏa thuận Hợp tác Khu vực về chống hải tặc và các vụ cướp vũ khí trên tàu thuyền ở châu Á (ReCAAP). Đây là thỏa thuận liên chính phủ đầu tiên nhằm đảm bảo an ninh biển trong khu vực. Tuy nhiên, đến năm 2004, tất cả các nước ASEAN đã trở thành thành viên của ReCAAP, cùng với Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Bangladesh và Sri Lanka.

(còn nữa)
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười, 2010, 09:55:59 am gửi bởi Triumf » Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #2 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 01:37:31 am »

(tiếp theo và hết)

Sân khấu hợp tác an ninh của Mỹ

Hợp tác an ninh và phòng thủ của Mỹ với ĐNA - mô hình thứ hai - là tiền thân của FPDA và tập trung vào các đồng minh thỏa thuận (Philippines và Thái Lan), cũng như các đối tác chiến lược mới như Singapore. Trong quá khứ, cam kết an ninh của Mỹ trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương theo mô hình "nan hoa xe đạp" với Mỹ là trung tâm. Ngày nay, với sự ra đời của ASEAN và ARF, Mỹ tiếp tục đặt ưu tiên phát triển các quan hệ an ninh song phương và đa phương dưới vai trò lãnh đạo của Mỹ.

ĐNA được xếp vào Khu vực trách nhiệm của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (PACOM) của Mỹ, kéo dài từ châu Á - Thái Bình Dương qua Hawaii, tới bờ biển phía Tây châu Phi. Đánh giá quốc phòng 2010 của Mỹ xác định ba nhóm đối tác an ninh: đồng minh chính thức (Philippines và Thái Lan), đối tác chiến lược (Singapore) và các đối tác chiến lược triển vọng (Indonesia, Malaysia và Việt Nam).

Với Philippines, các vụ tấn công ngày 11/9 đã tạo một bối cảnh chiến lược mới cho các quan hệ quốc phòng hai nước. Các cuộc tập trận song phương thường niên đã bao gồm cả huấn luyện quân sự phối hợp dân - quân, các dự án nhân đạo và xây dựng khả năng cứu hộ thiên tai. Quan hệ quốc phòng và an ninh đã mở rộng dần dần và hiện Mỹ đã hỗ trợ cho cải cách phòng ở Philippines, chuyển vai trò của lực lượng vũ trang Philippines (AFP) từ các chiến dịch an ninh trong nước sang bảo vệ lãnh thổ, bao gồm cả phát triển một khả năng phòng thủ biển vào năm 2016. Philippines hiện được nhận phần lớn thứ ba trong Quỹ giáo dục và quân sự quốc tế (IMET) của Mỹ cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Với Thái Lan, quan hệ Mỹ - Thái dựa trên Hiệp ước an ninh tập thể ĐNA (thỏa thuận Manila). Hỗ trợ an ninh của Mỹ nhằm tăng cường các khả năng tác chiến chung, bao gồm cứu hộ cứu nạn thiên tai. Cuộc tập trận do Mỹ và Thái Lan chủ trì mang tên Rắn hổ mang Vàng (Cobra Gold) là sự kiện hàng đầu của PACOM và cũng là cuộc tập trận đa phương lớn nhất trong khu vực. Năm 2010, cuộc tập trận lần thứ 30 có sự tham gia của Thái Lan, Mỹ, Singapore, Nhật Bản, Indonesia và Hàn Quốc, cùng các nước quan sát viên từ hơn 40 quốc gia trên thế giới. Malaysia sẽ đăng cai tập trận này vào năm 2011. Cũng như các cuộc tập trận của FPDA nói ở trên, cuộc tập trận Rắn hổ mang Vàng trong những năm gần đây đã chuyển trọng tâm từ các kịch bản truyền thống sang các vấn đề an ninh phi truyền thống như gìn giữ hòa bình và cứu hộ cứu nạn.

Với Singapore, năm 1990 nước này đã ký với Mỹ một thỏa thuận quân sự cho phép các máy bay chiến đấu của Mỹ tiến hành tập trận định kỳ và cho phép tàu chiến Mỹ được cập cảng. Năm 1992, đơn vị hậu cần của Hải quân Mỹ đã chuyển từ vịnh Subic sang Singapore. Năm 1998, Singapore đã bắt đầu xây dựng các công trình cầu cảng để phục vụ các chuyến thăm của hàng không mẫu hạm Mỹ tại căn cứ hải quân Changi. Bước chuyển biến lớn nhất trong quan hệ quốc phòng song phương diễn ra tháng 7/2005, khi Singapore và Mỹ ký Thỏa thuận hợp tác quốc phòng và khung chiến lược, công nhận Singapore là một đối tác hợp tác an ninh chính. Hai nước này đã có nhiều trao đổi về công nghệ và khoa học quân sự và tiến hành nhiều cuộc tập huấn quân sự nhằm đối phó với các mối đe dọa chung như chủ nghĩa khủng bố và phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Hai đối tác này cũng chia sẻ những lợi ích chung về an ninh biển. Singapore đã đăng cai cuộc tập trận PSI chung đầu tiên ở châu Á hồi tháng 8/2005. Năm 2007, nước này đã tham gia cuộc tập trận hải quân Malabar cùng với lực lượng hải quân Mỹ và Ấn Độ gần bờ Đông eo biển Malacca.

Với Indonesia, quan hệ quốc phòng và an ninh Mỹ - Indonesia cũng được làm mới và nâng cấp sau các vụ khủng bố 11/9. Các lực lượng vũ trang Indonesia hiện đóng một vai trò lớn hơn trong các sự kiện và các cuộc tập trận đa phương do Mỹ tài trợ, tập trung vào cứu hộ cứu nạn và gìn giữ hòa bình, như cuộc tập trận Garuda Shield. Với Malaysia, khi Mỹ mất các căn cứ ở Philippines, Malaysia đã nhanh chóng mời các tàu chiến Mỹ thăm cảng nước mình. Hai bên đã tiến hành tập trận Cope Taufan. Hiện Mỹ đang tìm cách tăng cường hợp tác quân sự với Malaysia. Còn với Việt Nam, quan hệ Việt - Mỹ đã được nâng cấp với sáng kiến tổ chức Đối thoại quốc phòng, An ninh và Chính trị lần đầu tiên. Năm 2009, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã thăm Washington và nhất trí mở các cuộc đối thoại quân sự trực tiếp với Mỹ.

Ngoài ra, Mỹ cũng tài trợ cho một loạt chương trình an ninh đa phương liên quan đến các nước ĐNA thông qua nhiều cơ quan chính phủ. Có thể kể đến Lực lượng Hỗ trợ đa quốc gia có kế hoạch (MPAT); chương trình Diễn tập Hợp tác sẵn sàng chiến đấu và Huấn luyện trên biển (CARAT), chương trình Hợp tác ĐNA chống khủng bố, Sáng kiến Chiến dịch Hòa bình toàn cầu (GPOI). Nhiều trong số các chương trình hợp tác này là nhằm đối phó với các thách thức an ninh xuyên quốc gia như chống khủng bố, kiểm soát xuất khẩu, giải giáp và không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống sản xuất và buôn ma túy, và tội phạm xuyên quốc gia.

Trung Quốc và hợp tác an ninh đa phương

Quan hệ Trung Quốc với ĐNA đã chứng kiến một thay đổi lớn trên biển vào những năm 1990. Trung Quốc và Indonesia đã thiết lập lại quan hệ và mở ra cánh cửa cho Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Singapore và Brunei. Năm 1994, Trung Quốc trở thành một thành viên sáng lập ARF. Năm tiếp theo, Trung Quốc chính thức được chấp nhận quy chế đối tác đối thoại của ASEAN. Từ năm 1997, khi Trung Quốc đưa ra cái gọi là "khái niệm an ninh mới", họ đã trở thành một người đề xướng năng động cho hợp tác an ninh đa phương ở ĐNA. Trung Quốc đã đưa ra khái niệm này tại hội nghị ARF về CBMs ở Bắc Kinh tháng 3/1997. Bốn tháng sau đó, Ngoại trưởng Trung Quốc chính thức trình khái niệm này lên hội nghị ARF lần thứ 4 ở Malaysia.

Rõ ràng Trung Quốc muốn nhắm tới hai mục tiêu. Đầu tiên là phát triển một quan hệ mật thiết hơn với ASEAN thông qua việc "nói về đối thoại" nhằm thuyết phục các thành viên ASEAN rằng sự nổi lên của Trung Quốc hoàn toàn mang tính hòa bình. Mục tiêu thứ hai là phá hoại cấu trúc liên minh hiện có của Mỹ. Điều này đã được khẳng định trong bài phát biểu của ông Hồ Cẩm Đào năm 2000, khi đó là Phó Chủ tịch Trung Quốc. Ông cho rằng: "Một trật tự an ninh mới nên được thiết lập để đảm bảo thực sự quan hệ hợp tác tôn trọng lẫn nhau, đồng thuận thông qua tham vấn và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, thay vì đối đầu, dọa nạt và áp đặt."

Tháng 11/2002, quan hệ Trung Quốc - ASEAN đã được nâng cấp với việc ký kết hai văn bản quan trọng, một tuyên bố chung về hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống, và Tuyên bố về Ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC). Năm 2003, Trung Quốc tham gia Hiệp ước Hợp tác và Bằng hữu ASEAN và trở thành một đối tác chiến lược của ASEAN. Năm 2004, ASEAN và Trung Quốc đã nâng quan hệ lên "chiến lược nâng cao". Cuối năm 2006, Trung Quốc và ASEAN đã ký 28 "cơ chế khung hợp tác", trong đó có các cuộc tham vấn định kỳ giữa các quan chức cấp cao về chiến lược và hợp tác an ninh chính trị, một hội nghị thường niên các Bộ trưởng Ngoại giao, và một hội nghị cấp cao thường niên ASEAN - Trung Quốc.

Tuy nhiên, hợp tác quốc phòng giữa Trung Quốc và ASEAN phát triển chậm chạp. Hoạt động đầu tiên liên quan đến quốc phòng theo Kế hoạch Hành động năm 2004 là cuộc hội thảo về an ninh khu vực giữa các quan chức quốc phòng hai bên tại Bắc Kinh tháng 7/2006. Tháng 11/2007, Trung Quốc đã đề xuất một loạt sáng kiến về hợp tác an ninh phi truyền thống tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN + 3. Trung Quốc cũng nhấn mạnh đến sự hợp tác quốc phòng được thể chế hóa và các trao đổi quân sự với các nước thành viên. Đầu năm 2008, Trung Quốc tổ chức cuộc đối thoại Trung Quốc - ASEAN đầu tiên.

Khi Trung Quốc tham gia ARF, họ còn nghi ngờ về các hoạt động đa phương có thể làm tổn hại đến chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, dần dần Trung Quốc đã gắn bó với hợp tác an ninh đa phương trong khuôn khổ ARF và đóng một vai trò đặc biệt tích cực.

Hợp tác an ninh với ASEAN là trung tâm

Mô hình cuối cùng về hợp tác an ninh trong khu vực ĐNA tập trung vào chính ASEAN. Từ khi thành lập năm 1967, ASEAN đã thiết lập một mạng lưới dày đặc các cấu trúc cấp bộ trưởng trở xuống nhằm xử lý các vấn đề xuyên quốc gia. Bốn cơ quan đóng vai trò chính là Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC), Cơ quan cảnh sát trưởng quốc gia ASEAN (ASEANAPOL), Hội nghị các quan chức cấp cao ASEAN về ma túy, và Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN.

Cơ quan lâu đời nhất trong ASEAN đối phó với các hoạt động tội phạm xuyên quốc gia là ASEANAPOL, thành lập năm 1981, với nhiệm vụ ban đầu là chống buôn lậu ma túy. Trong hai thập kỷ rưỡi qua, ASEANAPOL đã quan tâm xử lý một loạt vấn đề rộng hơn, bao gồm buôn lậu, rửa tiền, nhập cư trái phép, hải tặc và khủng bố.

Tuy nhiên phải đến năm 2006, các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mới cùng nhau tìm cách đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Các sự kiện ngày 9/11, các vụ đánh bom năm 2002 và 2005 vào Bali, vụ đánh bom đại sứ quán Austalia tại Indonesia năm 2004 và các vụ đánh bom các khách sạn ở Jakarta năm 2009 đã đưa nhiệm vụ chống khủng bố vào chương trình an ninh của ASEAN. ASEAN đã tiến một bước lớn vào năm 2006 khi thông qua Công ước của ASEAN về chống khủng bố, tại hội nghị thượng đỉnh thứ 12. Đây là thỏa thuận pháp lý đầu tiên chống khủng bố của ASEAN. Hiện, các nước thành viên đang phê chuẩn.

Năm 2004 và 2005, ĐNA phải hứng chịu hai thảm họa thiên nhiên lớn, trận sóng thần ở Ấn Độ Dương và bão Nargis. Các sự kiện này cũng đã làm nổi lên tầm quan trọng của công tác cứu hộ cứu nạn như một thách thức an ninh phi truyền thống phải được ưu tiên đối với ASEAN.

ARF là một diễn đàn đối thoại an ninh khu vực ASEAN gồm 27 nước thành viên. Năm 2002, trong một động thái nhằm đem đến một hơi thở mới cho ARF, Hội nghị Chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia (ISM CT/TC) đã được thành lập và phát triển kế hoạch làm việc đa năng, đề ra nhiều sáng kiến hợp tác và đề xuất biện pháp chống khủng bố. Từ năm 2002-2008, mối đe dọa khủng bố ở ĐNA đã giảm. Đáp ứng với thay đổi này, năm 2009, ARF đã thông qua một kế hoạch hành động mới với trọng tâm đặc biệt là chống buôn lậu ma túy, chủ nghĩa khủng bố sinh học và an ninh mạng. Năm 2005, sau các trận sóng thần và bão Nargis, ARF khôi phục cơ chế ISM cứu hộ thiên tai (ISM DR) và từ đó đến nay đã trải qua 10 cuộc họp. Một mốc lịch sử quan trọng nữa, ARF đã thông qua Thông cáo của ARF về Đối phó với thiên tai và Xử lý tình trạng khẩn cấp, và Hướng dẫn chung của ARF về Hợp tác cứu hộ thiên tai.

ARF hiện đã sẵn sàng chuyển từ pha một với việc nhấn mạnh đến các biện pháp CBMS, sang pha thứ hai là ngoại giao phòng ngừa. Hiện các quan chức cấp cao ARF đang nghiên cứu một kế hoạch hành động ngoại giao phòng ngừa nhằm phát triển các biện pháp để đối phó với các lĩnh vực ưu tiên như các thách thức an ninh phi truyền thống và các biện pháp ngoại giao phòng ngừa kiên quyết nhằm thúc đẩy hợp tác hòa bình và tránh để các tranh chấp và xung đột leo thang thành các cuộc xung đột vũ trang.
http://tuanvietnam.net/2010-10-03-cac-xu-huong-an-ninh-va-mo-hinh-hop-tac-an-ninh-chinh-o-dna
http://vietnamdefence.com/Home/phantich/An-ninh-Dong-Nam-A-dang-thay-doi-phuc-tap/201010/49702.aspx
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười, 2010, 09:56:21 am gửi bởi Triumf » Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #3 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 09:08:46 am »

Trung Quốc “chấn chỉnh” quan điểm nội bộ về Biển Đông


Những quan điểm diều hâu trong dư luận Trung Quốc về tình hình các biển Đông Bắc Á và Đông Nam Á bị phê phán nội bộ khá nghiêm khắc, khẳng định lại các lập trường nguyên tắc vì "đại cục".

Lập trường mới của Mỹ xem vấn đề Biển Đông là “lợi ích quốc gia”, chống sử dụng vũ lực và ủng hộ giải quyết tranh chấp bằng đàm phán đa phương, kết hợp với những cuộc tập trận ở Đông Bắc Á, hiện diện hải quân tại Đông Nam Á đang thúc đẩy cuộc tranh luận gay gắt và gây phân hoá trong nội bộ Trung Quốc về các vấn đề liên quan. Đã xuất hiện những ý kiến phê phán các quan điểm hiếu chiến và dường như đã có sự “chấn chỉnh”  các quan điểm không có lợi cho quan hệ đối ngoại và “đại cục” của Trung Quốc.

Tờ Liên hợp Buổi sáng  của Singapore ngày 23/8 đăng bài “Tại sao Biển Đông trở thành lợi ích cốt lõi của Trung Quốc?" Giáo sư Chu Phong, thuộc Học viện Quan hệ Quốc tế của trường Đại học Bắc Kinh, cho rằng đây chưa chắc là chính sách của tầng lớp lãnh đạo cao nhất Trung Quốc và nhiều khả năng đây là sự hiểu lầm vì các nhà lãnh đạo Trung Quốc chưa từng nói tới vấn đề này. Ông này cho biết đã tìm thấy tài liệu về nguồn gốc của vấn đề “lợi ích cốt lõi”: Hạ tuần tháng 5/2010, trong khuôn khổ cuộc "Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Trung-Mỹ", đại diện phía Trung Quốc đã nói với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton về việc này tại một cuộc họp kín.

Nhưng sau đó giới truyền thông Trung Quốc không đưa tin. Theo Chu Phong, đây là một minh chứng cho thấy việc nâng Biển Đông thành “lợi ích cốt lõi” không đại diện cho lập trường chính thức của Trung Quốc.

Tờ báo cho rằng dù thuyết “lợi ích cốt lõi” thường xuyên được nhắc đến trong các chủ đề liên quan tới Biển Đông, song giới học thuật và cả các nhân vật trong chính quyền Trung Quốc vẫn tranh cãi về vấn đề này. Qua tiếp xúc với các nhà chiến lược và quan chức ngoại giao Trung Quốc, phóng viên tờ báo thấy có nhiều người không đồng ý với ý tưởng này. Những người hoài nghi cho rằng Trung Quốc không muốn mở một mặt trận mới ở Biển Đông và cũng không có ý định thay đổi sự tự do hàng hải quốc tế ở khu vực này, vậy tại sao lại phải nâng cấp Biển Đông thành “lợi ích cốt lõi”? Hơn nữa, việc nâng cấp Biển Đông thành “lợi ích cốt lõi” không phù hợp với thông lệ quốc tế . Việc Mỹ tiết lộ thông tin này đã biến Biển Đông thành đấu trường giữa các nước châu Á và Trung Quốc.


Theo Giáo sư Chu Phong, người kiên quyết phản đối việc coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, những kiểu đề cập như vậy là không sáng suốt. Phân tích từ góc độ của Mỹ, nước này sẽ hiểu đây là tín hiệu về phạm vi phân định quyền lực của Trung Quốc ở Đông Á, có nghĩa là việc giải quyết tương lai Biển Đông phải hoàn toàn xử lý theo phương thức của Trung Quốc, các nước khác không có quyền can thiệp. Quan trọng hơn, cách làm này sẽ gây lo lắng cho các nước Đông Nam Á và kinh động Australia. Nhìn một cách tổng thể, những thay đổi môi trường xung quanh Trung Quốc mấy tháng gần đây và hoạt động của quân Mỹ ở Đông Bắc Á lẫn Đông Nam Á chính là những khó khăn ngoại giao mới mà Trung Quốc trỗi dậy đang phải đối mặt, mà tương ứng với nó là sự tăng lên không ngừng tiếng nói của giới truyền thông, Internet cũng như các tướng lĩnh về hưu của quân đội Trung Quốc.

Theo Giáo sư Chu Phong, khi quan hệ với Trung Quốc, các nước Đông Nam Á đều nói tốt, nhưng lại quay sang Mỹ “tố” Trung Quốc. Một phần nguyên nhân là trong khi thắt chặt quan hệ kinh tế với các nước Đông Nam Á, Trung Quốc đã đầu tư không đủ cho việc thúc đẩy nâng cấp quan hệ chính trị song phương và Trung Quốc lại cảm thấy lợi ích của mình ở Biển Đông bị suy yếu, thách thức. Điều đó đòi hỏi Trung Quốc phải kiểm tra lại chính sách Đông Nam Á và quan hệ Trung-Mỹ, Trung-Hàn cũng cần ổn định trở lại.

Giáo sư Chu Phong cho rằng vấn đề Biển Đông, sự kiện tàu Cheonan và diễn tập quân sự Mỹ-Hàn khiến Trung Quốc chỉ trong một đêm đã trở về với tình trạng giữa những năm 1990. Vì thế, năm 2010 là một năm vô cùng quan trọng đối với nền ngoại giao Trung Quốc.

Tân Hoa Xã ngày 23/8 đăng bài: “Trung - Mỹ có giao chiến ở Nam Hải (Biển Đông) không?”

Bài báo viết: Việc tàu sân bay “G.Washington” tiến hành diễn tập quân sự ở vùng biển Hàn Quốc và xuất hiện ở vùng biển Nam Hải đã tạo ra một làn sóng dư luận theo chiều hướng “chính không áp đảo nổi tà” trong thời gian vừa qua. Những ngôn từ thường được nghe thấy nhất là: “Trung - Mỹ nhất định sẽ giao chiến ở Biển Đông”, “đánh sớm sẽ tốt hơn đánh muộn”, có nhà phân tích quân sự còn đưa ra dự đoán và được đăng tải trên mạng rằng: “Trong tương lai, khả năng xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ không phải là chuyện khó tin”. Thực ra, đây là những luận điệu cũ của mấy năm trước được nhắc lại như “eo biển ĐL sẽ xảy ra chiến tranh”, “Đông Hải sẽ xảy ra chiến tranh”…, những luận điệu này không hề có “bản quyền” và hàm lượng kiến thức. Tàu sân bay Mỹ thường xuyên qua lại giữa Tây Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và tuyến đường tiện lợi nhất là đi qua vùng Biển Đông, eo biển Malacca. Hành trình đó luôn được duy trì trong suốt hơn 60 năm qua. Tuy nhiên, khác với những lần trước, lần này tàu sân bay Mỹ Mỹ làm như vậy là có ý đồ riêng, như một số báo chí từng vạch rõ “nhằm chia rẽ quan hệ đối tác chiến lược láng giềng hữu nghị giữa Trung Quốc với các nước xung quanh, đặc biệt là với ASEAN”.
“Kiềm chế và đối thoại” là sách lược xưa nay của Mỹ, chỉ có điều ở từng thời điểm, môi trường, đối tượng khác nhau, họ sẽ sử dụng các biện pháp khác nhau. Xét về toàn cục và thực lực, Trung Quốc hay Mỹ đều không thể đánh và cũng không đánh nổi. Chính sách “Kiềm chế và đối thoại” của Mỹ đối với Trung Quốc sẽ không thay đổi. Rất nhiều nhà phân tích chiến lược quốc tế ở trong và ngoài nước cho rằng cục diện quan hệ Trung - Mỹ vẫn “vừa là đối tác vừa là đối thủ, vừa hợp tác vừa đấu tranh”. Trong thời gian tương đối dài nữa, cục diện này sẽ không thay đổi. Những luận điệu như “Trung - Mỹ sắp khai chiến”, “quan hệ Trung-Mỹ đầy sóng gió”, “kiềm chế Hàn Quốc, tấn công Việt Nam là thượng thượng sách” đều nhằm công khai cổ vũ “đánh”, “đánh lớn”, gây ra nguy cơ, phủ nhận phương châm và nhận định cơ bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong hơn 30 năm qua đối với tình hình quốc tế, đi ngược lại tiền đề và quốc sách “lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm”. Hậu quả của nó sẽ là làm rối lòng người, hủy hoại đại cục của đất nước.

THX nhấn mạnh duy trì môi trường xung quanh và môi trường quốc tế hòa bình ổn định, thực hiện phát triển hòa bình, cùng thắng, cùng có lợi là ý chí và hành động không thể lay chuyển của 1,3 tỷ nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc./.

http://vntime.vn/DoiSong-XaHoi/ChinhTri-XaHoi/2010/10/4/Trung-Quoc-chan-chinh-quan-diem-noi-bo-ve-Bien-Dong-1710887b.html
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười, 2010, 09:56:37 am gửi bởi Triumf » Logged
nong_dan_wto
Thành viên
*
Bài viết: 42


« Trả lời #4 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 09:52:50 am »

Trung Nam Hải tự nhiên lại "biết điều" thế ư? Nghe lạ quá, đừng nói bây giờ còn tồn tại tinh thần Quốc tế ... sản như cái hồi xửa hồi xưa nhé. Luận điệu "mới" của mấy tay Trung Nam Hải chỉ là bịp mà thôi, cái tư tưởng đại hán có bao giờ nhụt trong tim óc của người Trung Hoa đâu. Chúng nó thấy khó nhằn thì lại xuống giọng chút thôi. Chẳng qua lại muốn đi đêm mặc cả với Hoa Kỳ. Mà Hoa Kỳ thì vốn có truyền thống Vị Lợi, có lợi cho Hoa Kỳ thì đồng minh thân cận cũng bán. Nữa là một cựu thù ...
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười, 2010, 09:56:49 am gửi bởi Triumf » Logged

Nông dân góp chân Hội nhập
TimeBreak
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 844



« Trả lời #5 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 10:10:10 am »

Bài vở cả thôi, xua chó ra cắn trước, thấy khó nhằn thì đuổi chó vào cũi, chủ ra nhăn nhở nói nói cười cười, tìm cách thương lượng!
Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #6 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 01:25:06 pm »

Trung Quốc lại "nói một đường, làm một nẻo"

Tác giả: Greg Torode


Trong khi Trung Quốc tăng cường áp lực ngoại giao và bày tỏ sự phẫn nộ đối với việc Nhật Bản giam giữ thuyền trưởng đánh cá nước này thì họ lại bắt giữ và đòi tiền chuộc đối với hàng trăm ngư dân Việt đánh cá ở khu vực tranh chấp quần đảo Hoàng Sa.

Hãy tưởng tượng rằng thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc hiện đang bị giam giữ ở Nhật Bản không phải là một cá nhân đơn lẻ mà là một trong vài trăm người bị bắt và giam giữ trong 18 tháng qua. Hãy tưởng tượng rằng một số tàu thuyền của họ bị đâm và đánh chìm; trong khi họ bị bắt giữ.

Giả sử họ bị giam giữ có khi đã nhiều tháng và Nhật Bản chỉ thả người sau khi mỗi người phải trả hàng nghìn đôla. Chính phủ của họ từ chối việc chi trả để chuộc người nhưng một số gia đình vì quá mong mỏi gặp cha, con trai và chồng nên đã lặng lẽ thanh toán hết. Nhiều tin đồn lan truyền đi rằng một số người đã bị bắn.

Tôi đã đặt kịch bản này với một người bạn là sinh viên đại lục. Anh ta bị sốc. "Tôi thậm chí không thể tưởng tượng được kết quả", anh nói. "Sẽ nảy sinh sự phẫn nộ nhằm vào chính phủ Nhật Bản và tôi tin rằng một người Nhật bình thường không thể an toàn khi ở Trung Quốc".

Chắc chắn Trung Quốc không chịu nổi khi nghĩ về kịch bản này. Hiện giờ đã có "cơn sốt" áp lực ngoại giao và xã hội ở Tokyo do việc giam giữ thuyền trưởng còn tiếp tục.

Tuy nhiên, kịch bản này đã xảy ra, nhưng không liên quan đến việc lực lượng bảo vệ biển Nhật Bản chống lại các tàu đánh cá Trung Quốc gần khu vực các đảo đang tranh chấp ở biển Hoa Đông. Thay vào đó, nó đại diện cho hành động của các tàu Trung Quốc đối với các ngư dân Việt Nam trong khu vực tranh chấp biển Đông. Thay vì quần đảo Điếu Ngư, hầu hết các vụ bắt giữ xảy ra ở vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa - nơi hai nước cùng tuyên bố chủ quyền và Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng từ năm 1974.

 
Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã đệ đơn kháng cáo chính thức trong khi báo chí khơi ra những câu chuyện về nỗi đau của thân nhân khi chờ đợi tin tức. Dưới áp lực của các nhà ngoại giao Trung Quốc, các quan chức chính phủ Việt Nam đã cố gắng giữ để những căng thẳng quốc gia không lan ra thành các cuộc biểu tình trên đường phố.
Tình huống này có thể làm mất uy tín Trung Quốc, bất kể là đúng hay sai trong vấn đề Điếu Ngư hoặc việc bồi thường cho ngư dân Việt Nam - những người cũng đã bị giam giữ ở Indonesia và Malaysia trong những năm gần đây.

Đối với các quan chức trong khu vực, các hành động cưỡng chế theo kiểu "nói một đường làm một nẻo" của Trung Quốc xuất hiện như là dự cảm về kỉ nguyên thống trị của Bắc Kinh.

Những vụ bắt giữ người Việt Nam chắc chắn gây tiếng vang  trong các kênh ngoại giao khắp khu vực nhạy cảm này và tạo cho Mỹ một cơ hội nhảy vào.

Như mục này đã đề cập từ trước, không ai trong khu vực muốn kiềm chế Trung Quốc, nhưng họ chắc chắn không muốn bị ức hiếp hoặc thấy bản thân mình rút cục phụ thuộc vào một siêu cường duy nhất. Do đó, cân bằng trở thành mục tiêu.

Tâm trạng này đã gây tiếng vang đến Washington, quân đội Mỹ rất sợ hãi sẽ rơi vào cảnh ngộ như ngư dân Việt Nam, các quan chức Mỹ tìm cách quay lại khu vực Đông Á tưởng như đã bị lãng quên.

Kết quả là gì? Mỹ chính thức được mời đóng một vai trò quan trọng trong một tổ chức ở Đông Á là ASEAN. Đồng thời, Mỹ đã củng cố thêm ảnh hưởng của ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông với Trung Quốc khi nói rằng tìm kiếm một giải pháp hòa bình và đa phương là ưu tiên ngoại giao của Mỹ - một động thái làm Bắc Kinh tức giận.

Các vấn đề này được thiết lập để tạo đà cho tháng 10 tới khi Việt Nam sẽ chủ trì cuộc họp lần đầu tiên trong lịch sử của 10 Bộ trưởng quốc phòng ASEAN với các đồng nhiệm đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng như Mỹ và Nga tại Hà Nội.

Những thay đổi mang tính bước ngoặt này đối với sân khấu ngoại giao và chiến lược khu vực đã đến khi Việt Nam là chủ tịch luân phiên của ASEAN. Vai trò này sẽ được chuyển giao cho Indonesia -  nước ngày càng quả quyết trong vấn đề riêng với Trung Quốc ở biển Đông - nằm trong tầm ảnh hưởng của tuyên bố chủ quyền mang tính lịch sử của Bắc Kinh.

Việc Trung Quốc tăng cường thái độ ngoại giao xung quanh việc bắt giữ thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc ở Nhật Bản đang khuấy động tinh thần dân tộc trên khắp Trung Quốc và khuấy động nỗi sợ hãi ở các khu vực đang nỗ lực dũng cảm đương đầu với Bắc Kinh.

( South China Morning Post )

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-09-22-trung-quoc-lai-noi-mot-duong-lam-mot-neo-
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #7 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 02:04:03 pm »

Kiến nghị ngăn tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển VN

Hội Nghề cá tỉnh Quảng Ngãi vừa báo cáo và đề nghị Hội Nghề cá VN kiến nghị Chính phủ cùng các bộ, ngành liên quan có biện pháp ngăn chặn tàu thuyền đánh cá của Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam để khai thác hải sản trái phép.
Theo ông Phan Huy Hoàng, Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Quảng Ngãi, thời gian gần đây, tàu thuyền đánh cá của TQ thường xuyên xâm phạm vùng biển Việt Nam. Tàu thuyền đánh cá Trung Quốc có khi còn xâm phạm đến vùng biển Việt Nam cách Cù lao Chàm và Cù lao Ré (đảo Lý Sơn - Quảng Ngãi) chỉ vài chục hải lý về phía Đông Bắc.
Báo Người Lao Động ngày 8/10 cho hay, lợi dụng lúc thời tiết xấu (gió cấp 5-6), không có lực lượng tuần tra của Việt Nam, tàu thuyền Trung Quốc kéo đến từng đoàn, từ vài chục chiếc trở lên, ngang nhiên xâm phạm vùng biển Việt Nam. Tàu thuyền Trung Quốc lớn lại nhiều nên ngư dân Việt Nam thường tránh né, không thể khai thác được hải sản.

Việc tàu cá nước ngoài vào lãnh hải VN đánh bắt trộm đã diễn ra từ nhiều năm nay. Trước đó, ngày 11-12/5, thuyền trưởng Trần Văn Thọ cho biết đang hành nghề ở vùng biển gần đảo Lý Sơn thì phát hiện có hơn 5 tàu cá mang cờ hiệu Trung Quốc đang thả ca nô để đánh bắt hải sản.

Ngày 2/2, BĐBP Đà Nẵng phát hiện 30 tàu cá Trung Quốc đang xâm nhập sâu vào vùng biển miền Trung, chỉ còn cách bờ biển Đà Nẵng - Thừa Thiên Huế khoảng 45 hải lý.

Hôm 29/1, có đến 100 tàu cá Trung Quốc bị phát hiện đang đánh bắt hải sản trái phép sát bờ biển Quảng Trị - Thừa Thiên Huế.

Ông Chu Tiến Vĩnh, Phó tổng cục trưởng Tổng cục thủy sản cho biết, các lực lượng chức năng Việt Nam chưa lập biên bản xử lý hoặc tịch thu tang vật đối với một trường hợp nào mà chỉ hướng dẫn họ không được phép tái phạm và xua đuổi ra khỏi vùng biển Việt Nam.

H.H (Tổng hợp)

http://bee.net.vn/channel/1987/201010/Kien-nghi-ngan-tau-ca-Trung-Quoc-xam-pham-vung-bien-VN-1771724/
Logged
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #8 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 04:40:44 pm »

Hạ thủy tàu Khảo sát đo đạc biển đầu tiên của VN
VTC News) - Sáng ngày 8/10, sau hơn 2 năm lắp đóng, Công ty Sông Thu chính thức hạ thủy tàu Khảo sát đo đạc biển đầu tiên của Việt Nam mang tên Giáo sư, Viện sĩ (GS.VS) Trần Đại Nghĩa.

Tàu Khảo sát đo đạc biển GS.VS Trần Đại Nghĩa có ký hiệu HSV 6613 do Công ty Sông Thu đóng với thiết kế của Tập đoàn Damen theo đơn đặt hàng của Đoàn đo đạc vẽ hải đồ và nghiên cứu biển, Quân chủng Hải quân. Đây là loại tàu chuyên dụng, vỏ thép, cấp hoạt động không hạn chế, phù hợp với tính năng khảo sát thủy văn và đo đạc biển, đáp ứng các yêu cầu của Tiêu chuẩn Quy phạm Việt Nam và Đăng kiểm Lloyd quốc tế về tiêu chuẩn chất lượng.

Tàu Khảo sát và đo đạc biển đầu tiên của Việt Nam mang tên
Giáo sư-Viện sĩ Trần Đại Nghĩa có số hiệu HSV 6613 

àu HSV 6613 được thiết kế vận hành bằng 2 chân vịt cố định bước xoay 360 độ, dài 66,3m, rộng 13,2m, chiều cao mạn 6,5m, lượng giãn nước 1.550 tấn…giúp tàu HSV 6613 có tốc độ di chuyển trung bình 10 hải lý/h, phạm vi hoạt động 2.500 hải lý và có thể hoạt động liên tục trên biển trong 60 ngày, cùng với trang thiết bị nghi khí hàng hải cần thiết.
Đặc biệt, với thiết kế chuyên dụng, tàu mang tên GS.VS Trần Đại Nghĩa là chiếc tàu đo đạc, khảo sát biển đầu tiên được đóng tại Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác khảo sát, đo đạc biển của Quân chủng Hải quân Việt Nam.

Được biết, tàu HSV 6613 là công trình chào mừng kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội của các  quân nhân, chiến sĩ Công ty Sông Thu, Tổng Cục công nghiệp, Bộ Quốc phòng.

http://www.vtc.vn/2-264457/xa-hoi/ha-thuy-tau-khao-sat-do-dac-bien-dau-tien-cua-vn.htm
Logged
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #9 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2010, 08:48:28 pm »

Hình ảnh con tàu mang tên Trần Đại Nghĩa





Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM