Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:47:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 421986 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trauxanh
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #40 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2010, 10:37:57 am »

Hội thảo quốc tế về biển Đông:

Biển Đông trở thành vấn đề quốc tế

TT - Đó là khẳng định của một số học giả tại hội thảo khoa học quốc tế về biển Đông ngày 11-11 tại TP.HCM.

Đại biểu tham dự hội thảo quốc tế về biển Đông lắng nghe ý kiến của các bên - Ảnh: T.T.D.

Biển Đông đã trở thành một vấn đề mang tầm quốc tế và đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ Mỹ - Trung.

Đó là khẳng định của một số học giả tại hội thảo khoa học quốc tế về biển Đông với chủ đề “Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực” ngày 11-11 tại TP.HCM.

Trong ngày thứ nhất của hội thảo, các học giả đã trình bày đánh giá của mình về những diễn biến xung quanh tình hình biển Đông gần đây.

Giáo sư Bronson Percival (Mỹ) cho rằng đường đứt khúc chín đoạn (tức đường lưỡi bò) và đòi hỏi đưa biển Đông vào lợi ích cốt lõi của Trung Quốc (TQ) đã làm tăng nghi ngại của các nước trong khu vực.

Ở Mỹ có quan điểm cho rằng TQ muốn thử phản ứng của Mỹ ở biển Đông trong bối cảnh Mỹ đang gặp nhiều khó khăn nội bộ, song ông cho rằng Mỹ sẽ không nhượng bộ TQ do biển Đông liên quan tới vấn đề có tính nguyên tắc cơ bản là tự do hàng hải, và biển Đông sẽ là một vấn đề thường xuyên trong quan hệ Mỹ - Trung.

Thiếu tướng về hưu Vinod Saighal của Ấn Độ đã nêu vấn đề: tại sao TQ lại tuyên bố biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của mình? Liệu có phải do TQ nay nghĩ rằng đã đến thời điểm tự cho phép khẳng định như vậy? Có phải TQ muốn thăm dò phản ứng của thế giới? Những tuyên bố đó liệu chỉ là vấn đề của khu vực hay là của cả thế giới?

Giáo sư Carl Thayer (trái) trao đổi với giáo sư Su Hao, Đại học Ngoại giao Trung Quốc - Ảnh: T.T.D.

Giáo sư Geoffrey Till (Anh) cho rằng TQ và Mỹ đang có quan niệm hoàn toàn khác biệt trong vấn đề tự do hàng hải. Cũng giống như Anh trước đây, Mỹ là một cường quốc toàn cầu, trong đó lợi ích cơ bản là tự do hàng hải, gắn liền với vị thế của nước Mỹ, với giá trị của nước Mỹ. Từ quan niệm đó, Mỹ cho rằng mình có quyền làm chủ biển cả và có quyền dùng vũ lực bảo đảm quyền đó. Vừa qua, Mỹ cảm thấy rằng TQ muốn thách thức quyền đó và đã phản ứng.

Tướng Pháp về hưu Daniel Schaeffer cũng cho rằng những động thái gần đây của TQ nhằm muốn chứng tỏ mình có thẩm quyền khi khẳng định các lợi ích của mình trên hầu như toàn bộ biển Đông. Thế nhưng, TQ cần làm rõ các yêu sách của mình hữu lý như thế nào, đồng thời đối thoại song phương và đa phương với các nước trong khu vực. Một khi không đối thoại được nữa thì đã có Tòa án quốc tế về luật biển Hamburg và Tòa án tư pháp quốc tế La Haye.

Học giả TQ, giáo sư Su Hao, thừa nhận chưa bao giờ TQ chính thức sử dụng cụm từ “lợi ích cốt lõi” khi đề cập các đảo tranh chấp. Và để tranh thủ dư luận, ông Su Hao nhất mực cho rằng TQ luôn hành xử có trách nhiệm ở biển Đông.

Thế nhưng, ông vẫn trung thành với suy nghĩ “đường chín khúc” khi nêu vấn đề: “TQ hằng năm ban hành lệnh cấm đánh cá trong mấy tháng để bảo vệ tài nguyên hải sản, liệu Việt Nam có hợp tác hay không?”, để rồi nhận được câu trả lời từ tiến sĩ Trần Trường Thụy thuộc Học viện Ngoại giao: “Vấn đề là lệnh cấm đánh cá đó trong khu vực nào, thuộc chủ quyền của nước nào? Chứ bảo vệ tài nguyên thì tốt thôi”.

Nhà nghiên cứu Leszek Buszynski của Đại học Quốc gia Úc cho rằng trong nội bộ TQ nay đang có nhiều luồng ý kiến khác nhau. Từ đó, ông nêu vấn đề: Liệu có phải cánh quân sự ở TQ nay đang có tiếng nói lớn hơn?

Một người Úc khác, giáo sư Carl Thayer, đã điểm lại các hoạt động quân sự của TQ trong năm nay và cuộc tập trận của TQ hôm 2-11 với cả trăm tàu chiến, tàu ngầm trên biển Đông cùng 1.800 lính thủy đánh bộ. Theo ông, chính cánh quân sự đã thúc đẩy cái gọi là “lợi ích cốt lõi” trong lập trường hiện nay của TQ. Tuy nhiên, vẫn còn có thể hi vọng vào một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông.

Tiến sĩ Mark Valencia của Trung tâm Woodrow Wilson (Mỹ) cho rằng TQ cũng cần thống nhất với các nước ASEAN về bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông.

Gây chú ý cực kỳ vào cuối ngày hội thảo thứ nhất là tham luận của TS Nguyễn Thị Lan Anh, không phải do là nữ báo cáo viên duy nhất trong ngày mà do những lập luận vững chãi chứng minh rằng “đường chín khúc” của TQ là không có cơ sở.

Bằng sự đanh thép của mình, bà trả lời câu hỏi lạc lõng của một đại biểu TQ rằng  “quốc tế đã công nhận chủ quyền của TQ trên Hoàng Sa và Trường Sa?”. TS Lan Anh đã nhắc lại rằng ở hội nghị San Francisco 1951, đại diện quốc gia Việt Nam lúc đó đã lên tiếng khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa, và chẳng có nước nào phản bác.

GS Stein Tennesson của Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế (Na Uy) cho rằng: biển Đông là một vấn đề luật pháp chứ không chỉ là một vấn đề chính trị, nên giải quyết chính đáng nhất là bằng luật pháp.

NHÓM PV QUỐC TẾ

Gặp gỡ bên lề

Hội nghị sẽ đem lại những kết quả thực tế gì?

* Giáo sư Carl Thayer (ĐH New South Wales thuộc Học viện Quốc phòng Úc):

Hội thảo giống như những làn sóng lan tỏa. Các học giả có thể nói ra những điều mà các chính trị gia không dám nói. Và chắc chắn các chính trị gia, các nhà lãnh đạo sẽ lắng nghe, xem xét quan điểm của giới học giả. Các hội nghị như vậy sẽ mở đường cho các cuộc đối thoại tập trung vào vấn đề chính sách và hợp tác.

Từ trái qua: giáo sư Mark J. Valencia, giáo sư Leszek Buszynski và giáo sư Geoffrey Till trao đổi bên lề hội thảo quốc tế về biển Đông - Ảnh: T.T.D.

Giải pháp cho vấn đề biển Đông?

* Giáo sư Geoffrey Till: (khoa nghiên cứu quốc phòng, ĐH King - London, Anh):

Ở thời điểm hiện tại vẫn chưa có một giải pháp cụ thể, hiệu quả cho các tranh chấp tại biển Đông. Điều quan trọng ở đây không phải giải quyết vấn đề biển Đông mà quản lý nó một cách hiệu quả, xây dựng một hệ thống đối thoại để ngăn chặn khả năng tình hình xấu đi.

* Giáo sư Carl Thayer:

Điều quan trọng nhất là các quốc gia đòi chủ quyền ở biển Đông phải chấm dứt các hành động khiến căng thẳng gia tăng. Các nước cần đối thoại để xây dựng lòng tin, tiến tới việc chính thức thông qua một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông mang tính ràng buộc pháp lý.

* Giáo sư Mark. J. Valencia (chương trình nghiên cứu châu Á, Trung tâm Woodrow Wilson, Hoa Kỳ):

Một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông mang tính ràng buộc pháp lý là cực kỳ cần thiết, cho dù nó sẽ không giúp giải quyết xung đột giữa các nước đòi chủ quyền tại biển Đông. Một vấn đề nữa là quốc gia hay thể chế nào sẽ giám sát việc thực hiện quy tắc ứng xử, trong trường hợp một nước khu vực vi phạm. Dù vậy, có một bộ quy tắc ứng xử yếu hay có thiếu sót vẫn hơn là không có.

* Giáo sư Leszek Buszynski (Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc phòng, ĐH Quốc gia Úc):

TQ cần một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông không kém gì các nước ASEAN. Bởi nếu có một bộ quy tắc, quan hệ TQ - ASEAN sẽ cải thiện hơn. Nếu quan hệ TQ - ASEAN xấu đi do vấn đề biển Đông, sự hiện diện của Mỹ tại khu vực sẽ càng lớn, quan hệ của Mỹ với các nước ASEAN sẽ càng chặt chẽ. Đây sẽ là một bất lợi đối với TQ.

Có thể tách vấn đề tự do hàng hải và tranh chấp chủ quyền?

* Giáo sư Leszek Buszynski:

Không thể có tự do hàng hải nếu vấn đề tranh chấp lãnh thổ không được giải quyết thỏa đáng. Không thể có tự do hàng hải trên biển Đông nếu một quốc gia coi nó là “ao nhà”. Ngoài vấn đề tự do hàng hải còn phải tính đến vấn đề tự do thương mại trên biển Đông, bởi đây là khu vực có nguồn cá dồi dào, có trữ lượng dầu khí lớn và là tuyến đường hàng hải thương mại quan trọng của thế giới. Do đó, vấn đề tự do hàng hải và tranh chấp lãnh thổ không thể tách rời.

Việc Mỹ tuyên bố có lợi ích quốc gia tại biển Đông là muốn đảm bảo quyền tự do hàng hải trong khu vực theo luật biển quốc tế. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã khẳng định Washington sẵn sàng hỗ trợ quá trình đàm phán đa phương để giải quyết vấn đề biển Đông. Đó là một quy trình tự nhiên. TQ chỉ có thể gọi tuyên bố của Mỹ là sự can thiệp nếu TQ coi biển Đông là “ao nhà”. Còn nếu coi biển Đông là một vùng biển mở thì sự hiện diện của Mỹ là sự hỗ trợ.

HIẾU TRUNG thực hiện
Nguồn:http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/410516/Bien-Dong-tro-thanh-van-de-quoc-te.html
Logged

Máu bất khuất nhuộm tươi màu cờ đỏ
Lòng trung kiên tô sáng sắc sao vàng
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #41 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2010, 10:17:42 am »

Trung Quốc đóng tàu tuần tra lớn nhất trong lịch sử

Trung Quốc cho biết sẽ chế tạo tàu tuần tra trên biển tổng hợp lớn nhất trong lịch sử.
Tân Hoa xã dẫn thông báo của Cục Hải sự Trung Quốc ngày 12/11 cho biết sẽ chế tạo tàu tuần tra trên biển tổng hợp lớn nhất trong lịch sử, mang tên Hải Tuần 01. Theo đó, tàu này là tàu có lượng giãn nước lớn nhất, tính năng mạnh nhất, công năng kiện toàn nhất và hàm lượng kĩ thuật cao nhất trong hệ thống hải sự của Trung Quốc.
Hải Tuần 01 dài 128,6 m, rộng 16 m, có tốc độ gần 38 km/giờ với lượng giãn nước là 5.418 tấn, có thể chở được 200 nhân viên cứu hộ và chịu được gió trên cấp 12. Hải Tuần 01 có thể hoạt động liên tục trong 10.000 hải lý (18.520 km) và lượng vật tư, thực phẩm, nước uống mang theo có thể giúp Hải Tuần 01 hoạt động liên tục trong 60 ngày trên biển.

Hải Tuần 01 có hầm chứa máy bay trực thăng cỡ trung bình và bãi đỗ dành cho trực thăng cỡ lớn. Do đó, chiếc tàu này có thể mang theo máy bay trực thăng để tiến hành hoạt động tuần tra, tìm kiếm, cứu hộ.

Giá thành chế tạo Hải Tuần 01 là 360 triệu nhân dân tệ, thời gian hoàn thành trong 20 tháng, do Công ty TNHH Công nghiệp nặng tàu thuyền Vũ Xương thực hiện sau khi trúng thầu công khai, và sẽ được bàn giao cho Cục Hải sự Trung Quốc vào tháng 7/2012.

Trà My (tổng hợp)
http://bee.net.vn/channel/2981/201011/Trung-Quoc-dong-tau-tuan-tra-lon-nhat-trong-lich-su-1778241/
Xem ra mộng bành trướng trên biển Đông của Trung Quốc vẫn không hề giảm! Cool
Logged
trauxanh
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #42 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2010, 11:47:45 pm »

Tránh dùng vũ lực để giải quyết vấn đề biển Đông

TT - Phát biểu kết thúc hai ngày hội thảo quốc tế về biển Đông (11 và 12-11) tại TP.HCM, giáo sư Leszek Buszynski - Trung tâm Chiến lược và quốc phòng, Đại học quốc gia Úc - cho rằng cần tiếp tục tổ chức các hội thảo kiểm soát xung đột và thúc đẩy hợp tác khu vực biển Đông, thậm chí cần tính đến việc trao giải Nobel hòa bình cho các hội thảo này vì đã có đóng góp thật sự hữu ích cho hòa bình trên thế giới.

>> Biển Đông trở thành vấn đề quốc tế

Kết thúc hội thảo, các nhà nghiên cứu chia tay và hẹn gặp lại - Ảnh: T.T.D.

Theo giáo sư Yann Huei Song (Đài Loan), khi chưa giải quyết được vấn đề tranh chấp về chủ quyền, hãy bắt đầu hợp tác trong khoa học để có thể khởi đầu đối thoại, làm giảm bớt những bất trắc.

Thúc đẩy hợp tác

Tham luận của luật sư Henry Bensurto (Philippines) về hợp tác giữa Philippines và Việt Nam cho thấy đây không chỉ hợp tác khoa học mà còn nhằm tăng cường niềm tin giữa hai nước. Từ kinh nghiệm hợp tác đó, Philippines và Việt Nam đã tăng cường hợp tác với nhau trong khuôn khổ Tuyên bố chung về ứng xử trên biển Đông (DOC), làm “đầu tàu” cho ASEAN với Trung Quốc.

Đại sứ Hasjim Djalal (Indonesia) cho rằng điều kiện để có thể thúc đẩy hợp tác là các bên không sử dụng vũ lực, phải có quyết tâm chính trị, không khuấy động dư luận trong nước, cần minh bạch chính sách và luật pháp.

Nguyên tắc thúc đẩy hợp tác là cần cởi mở; bắt đầu từ những việc dễ, ít nhạy cảm; cần lãnh đạo cấp cao nhưng với tư cách cá nhân, không chính thức, không thể chế hóa; nhấn mạnh điểm đồng, không xoáy vào những điểm bất đồng; làm từng bước, bắt đầu từ những vấn đề có tính kỹ thuật; không lùi bước nếu không có được kết quả ngay; và người đứng ra tổ chức các hoạt động hợp tác có vai trò và ảnh hưởng quan trọng.

Ông khuyến nghị các trung tâm nghiên cứu về biển Đông trong khu vực cần kết nối với nhau và cùng thúc đẩy các hoạt động hợp tác.

Giáo sư Ba Hamzah, Đại học Malaya (Malaysia), cho rằng tình hình biển Đông gần đây trở nên phức tạp hơn nhưng vẫn còn trong tầm kiểm soát. Ông cho rằng quan hệ Trung Quốc - ASEAN không chỉ có vấn đề biển Đông mà trải rộng trên nhiều vấn đề khác như kinh tế, thương mại, văn hóa...

Ông nhấn mạnh cần tránh khuyến khích các nước lớn sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề biển Đông, bởi không có lý do gì có thể biện minh cho việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề chủ quyền ở biển Đông của bất cứ nước nào trong và ngoài khu vực.

Theo nguyên tổng thư ký ASEAN Rodolfo Severino - giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ASEAN, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore), vấn đề chủ quyền biển Đông sẽ khó giải quyết trong một hai thế hệ tới do nhiều tranh chấp liên quan tới nhiều bên, và quan trọng hơn tất cả các bên đều coi biển Đông là lợi ích căn bản không thể thỏa hiệp.

Nhưng điều đó không có nghĩa là xung đột ở biển Đông không thể tránh khỏi. Theo ông, các bên có thể hợp tác để giảm rủi ro và bất đồng bằng cách tuân thủ tốt hơn công ước luật biển 1982; cụ thể hóa DOC như làm rõ thế nào là kiềm chế, bổ sung các điều khoản về đánh cá, bảo vệ môi trường...

Kiểm soát xung đột

Tiến sĩ Ian Storey, Viện Nghiện cứu Đông Nam Á (Singapore), nhận định DOC là công cụ quan trọng nhất để kiểm soát xung đột ở khu vực, song việc triển khai DOC chưa thật sự có kết quả. DOC yêu cầu các bên tự kiềm chế, nhưng điều khoản này quá chung chung và các bên đã không tuân thủ một cách chặt chẽ.

Theo ông, để các bên cần nghiêm túc thực hiện DOC, ASEAN cần có tiếng nói chung thúc đẩy thực hiện DOC, và Trung Quốc cần làm rõ bản chất đường đứt khúc chín đoạn (tức đường lưỡi bò), ASEAN và Trung Quốc cần thẳng thắn trao đổi về biển Đông trong khuôn khổ Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN và đối thoại ASEAN - Trung Quốc.

Về đường đứt khúc chín đoạn, ông Severino cho rằng không phải chỉ riêng Trung Quốc mà Đài Loan cũng nên có giải thích, vì Đài Loan đưa ra đường này lần đầu tiên năm 1947.

Theo tiến sĩ Vũ Hải Đăng thuộc Đại học Dalhousie (Canada), phải tính đến các nước không nằm trong khu vực ASEAN. Các nước này không có yêu sách về chủ quyền, về quyền tài phán như các nước trong cuộc, song lại quan tâm đến vấn đề tự do hàng hải, như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc... Các nước xuất khẩu dầu hỏa Trung Đông cũng rất quan tâm đến quyền tự do hàng hải, chứ không chỉ có Mỹ. Do đó, cũng phải tính toán xem ai, nước nào, có thể làm gì trong vùng đặc quyền kinh tế của mình mà không gây hại các nước khác.

Các học giả đều nhất trí các nước liên quan cần tăng cường kiềm chế, minh bạch yêu sách và chính sách của mình, nhất là chính sách quốc phòng, cần tăng cường sử dụng các cơ chế hợp tác khu vực, nhất là DOC, trước hết cần hướng tới các hoạt động hợp tác chung của khu vực trong các lĩnh vực ít nhạy cảm hơn như bảo tồn môi trường, bảo vệ nguồn cá, cứu hộ cứu nạn...

* Làm thế nào để giải quyết vấn đề đối lập các lợi ích giữa các nước trên biển Đông?

Ông Rodolfo Severino cho rằng việc ASEAN và Trung Quốc muốn nâng DOC thành Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) là một bước tiến về hình thái. Song theo ông, việc nâng cấp nội dung của những cam kết ứng xử đó còn quan trọng hơn là nâng cấp hình thái. Vấn đề là làm sao cho các bên tự kiềm chế.

Tỉ như những vấn đề rất cụ thể là những mỏm đá trên biển, mà nay các nước đang thi nhau xây dựng những công trình trên đó. Tỉ như bổ sung các biện pháp chống lại việc phá hoại sự đa dạng sinh học trong đánh cá bằng những biện pháp hủy hoại môi trường như thuốc nổ, thuốc độc cyanure, đánh bắt các loài sinh vật biển quý hiếm.

Hãy đào sâu và củng cố DOC trong khi chờ đợi có một COC do lẽ các vấn đề như chủ quyền, quyền tài phán... là những vấn đề còn kéo dài, chưa biết bao giờ mới giải quyết được.

Gặp gỡ bên lề

Làm gì để quản lý xung đột và hợp tác khai thác kinh tế?

TT - Tiến sĩ Ian Storey (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore):

Ở thời điểm hiện tại, các nước Đông Nam Á cần thảo luận để đi đến một quan điểm chung về biển Đông, nhưng tránh để Trung Quốc hiểu lầm ASEAN đoàn kết lại để chống Trung Quốc. Trong khi đó, Trung Quốc cần minh bạch hóa chính sách về biển Đông, trong đó có vấn đề đường đứt khúc chín đoạn.

Trong khu vực, Trung Quốc là nước lớn nhất, bất cứ hành động mập mờ nào cũng sẽ dẫn đến sự nghi kỵ, hiểu lầm. Điều quan trọng là các nước ASEAN và Trung Quốc cần thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin, trong đó có việc duy trì đối thoại thường niên về quốc phòng và chiến lược.

Các bên cần thông báo trước cho nhau về các kế hoạch tập trận và tuần tra trên biển. Các bên cũng có thể thiết lập đường dây nóng để trao đổi về các vấn đề an ninh, quân sự. Theo tôi, vấn đề biển Đông cần phải trở thành vấn đề chính thức trong nghị trình ASEAN - Trung Quốc.

Trên thực tế, các quốc gia tranh chấp chủ quyền trên biển Đông hoàn toàn có thể hợp tác trên các lĩnh vực như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an toàn hàng hải, cứu hộ cứu nạn, chống tội phạm xuyên quốc gia... Đã có nhiều hợp tác hiệu quả, như tuần tra chung của các nước Malaysia, Indonesia, Singapore, Thái Lan tại khu vực eo biển Malacca.

Kinh nghiệm từ những hợp tác quốc tế?

* Giáo sư HASJIM DJALAL (giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nam Bắc Á, Indonesia):

Indonesia từng thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu sinh thái biển trên vùng biển thuộc chủ quyền của Indonesia, không hề có sự tranh chấp. Trong các cuộc nghiên cứu đó, Indonesia đều chào đón sự tham gia của các quốc gia khác. Các cuộc nghiên cứu này đã giúp chúng tôi phát hiện nhiều loài sinh vật biển mới và hiểu sâu hơn về hệ sinh thái biển Đông. Chúng ta hoàn toàn có thể chia sẻ cho nhau những kiến thức và kinh nghiệm quý báu này.

Đó cũng là một trong những biện pháp xây dựng lòng tin giữa các nước tranh chấp chủ quyền ở biển Đông. Các quốc gia khác trong khu vực cũng từng khẳng định sẵn sàng tham gia quá trình hợp tác này, nhưng câu trả lời của Trung Quốc luôn là “chưa sẵn sàng”.

Tôi hi vọng trong một tương lai không xa, Trung Quốc sẽ “sẵn sàng”. Sự tham gia của các quốc gia khác không thuộc khu vực biển Đông hoàn toàn có thể được hoan nghênh.

Việt Nam và Trung Quốc hợp tác đánh cá tại Hoàng Sa?

* Chuyên gia LI JIANWEI (phó giám đốc Viện Nghiên cứu quốc gia về biển Nam Hải, Trung Quốc):

Trên thực tế, Trung Quốc và Việt Nam đã có thỏa thuận về khu vực đánh cá chung ở vịnh Bắc bộ. Hợp tác khai thác chung là biện pháp hiệu quả trong trường hợp các bên chưa thể giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Biển Đông có nhiều khu vực chồng lấn, là nơi để các quốc gia, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, hợp tác khai thác cá.

Tôi rất hi vọng trong tương lai, Trung Quốc và Việt Nam có thể thảo luận về việc hợp tác đánh bắt cá tại khu vực Hoàng Sa. Điều đó là hoàn toàn có thể.

H.TRUNG thực hiện

NHÓM PV TUỔI TRẺ
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/410724/Tranh-dung-vu-luc-de-giai-quyet-van-de-bien-Dong.html
Logged

Máu bất khuất nhuộm tươi màu cờ đỏ
Lòng trung kiên tô sáng sắc sao vàng
trangbaolinh
Thành viên
*
Bài viết: 11


« Trả lời #43 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 09:11:57 am »

Giữ vực an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội không thể thiếu khoa học - công nghệ11:49 PM, 13/11/2010Từ khóa:     PrintEmail

KH – CN phải đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng nâng cao sức mạnh chiến đầu của các các lực lược vũ trang nhân dân, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong mọi tình huống.
Bài 1: Hoạt động khoa học công nghệ 2006-2010: Nhiều nghiên cứu gắn với cuộc sống

Trong những năm qua, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp. Sự tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền khai thác tài nguyên trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định.

Đổi với Việt Nam, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổi với âm mưu và thủ đoạn ngày càng thâm hiểm. Tình hình đó đặt cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng những yêu cầu mới cao và khẩn trương, đòi hỏi KH – CN phải tập trung nghiên cứu, giải quyết nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng nâng cao sức mạnh chiến đầu của các các lực lược vũ trang nhân dân, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong mọi tình huống.


Mô hình xuồng cao tốc Trường Sa CQ-01 trưng bày tại Techmart Hà Nội 2010.
 
Khoa học công nghệ trong an ninh quốc phòng
Đã nghiên cứu dự báo âm mưu thủ đoạn của địch tiến hành chống phá cách mạng Việt Nam, dự báo các đối tượng tác chiến, diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, ly khai, dự báo các hình thái chiến tranh và đối sách của Việt Nam. Nghiên cứu phát triển và hoàn thiện lí luận nghệ thuật quân sự; tổ chức chỉ đạo, chỉ huy, lí luận về tác chiến chiến lược, chiến dịch, tác chiến bảo vệ biển đảo; phát triển cách đánh của các lực lượng; các vấn đề về khủng bố, chống bạo loạn, lật đổ, ly khai.
Đồng thời, nghiên cứu các vấn đề về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, đổi mới phương pháp huấn luyện chiến đấu; nghiên cứu các giải pháp bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia trên biên giới, đất liền và trên biển; đổi mới nội dung, chương trình giáo dục đào tạo trong các Học viện, Nhà trường quân đội trong giai đoạn mới.
Kết quả nghiên cứu khoa học từ các chương trình, đề tài, nhiệm vụ đã đóng góp vào phát triển lí luận chính tri, quân sự, cung cấp những luận cứ hình thành các quan điểm chính sách cụ thể, các chỉ thị nghị quyết nhằm xây dựng Quân đội, củng cố Quốc phòng. Bàn giao cho các cơ quan, đơn vị vận dụng trong thực tiễn, huấn luyện, diễn tập, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và được biên soạn thành các tài liệu huấn luyện, dạy học, bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng.


Xuồng CQ-01 hoạt động tại quần đảo Trường Sa. (Ảnh: Hoangsa.org)
Trong khoa học kỹ thuật công nghệ và y dược quân sự

Chương trình đã triển khai nghiên cứu cải tiến, chế tạo vũ khí trang bị đáp ứng các yêu cầu thực tiễn về phát triển nghệ thuật quân sự, cách đánh của lực lượng vũ trang ba thứ quân. Nghiên cứu thiết kế, chế tạo và hiện đại hóa được một số loại vũ khí trang bị chiến đấu, đáp ứng yêu cầu chiến đấu, phù hợp với hoạt động tác chiến của các sư đoàn bộ binh chiến đấu bằng vũ khí mang vác, các đơn vị quân binh chủng, lực lượng đặc nhiệm làm nhiệm vụ chống khủng bố và tác chiến trong chiến tranh địch sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Các nghiên cứu này đã giúp chế tạo, cải tiến vũ khí trang bị chiến đấu, từng bước đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, tăng cường năng lực quản lý vùng trời, khả năng cơ động, giảm thiểu bị bộc lộ trận địa, tăng khả năng đánh đêm và tăng năng lực quản lý bảo vệ vùng biển đảo như: nghiên cứu chế tạo Rada (tầm trung, tầm gần, thụ động…), từng bước chuẩn bị xây dựng dự án Tên lửa đất đối hải, nghiên cứu chế tạo tổ hợp cơ động Pháo phòng không- Tên lửa tầm thấp; Nghiên cứu hệ thống thu giải mã cho thiết bị nhận diện chủ quyền quốc gia, chế tạo một số hệ thống thiết bị phục vụ huấn luyện, nhất là về công nghệ mô phỏng.

Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các hoạt động khắc phục chất độc hóa học, bom, đạn, mìn còn tồn lưu sau chiến tranh, xử lý ô nhiễm môi trường ở các cơ sở công nghiệp quốc phòng, bệnh viện; bảo đảm nước sạch sinh hoạt cho bộ đội; xử lý rác thải sinh hoạt tại các vùng ven biên.

Đặc biệt, đã chế tạo thành công thiết bị giải tán đám đông phục vụ nhiệm vụ chống khủng bố; vũ khí phát hiện địch phục kích, gây ảo giác cho đối phương, thuốc và thiết bị gây bất lực để bắt sống đối tượng…

Nghiên cứu các công nghệ mũi nhọn như: phát triển công nghệ thông tin, tự động hóa, vật liệu và công nghệ sinh học trong đó có nhiều công nghệ mới lần đầu tiên ở Việt Nam đã được triển khai thực hiện thành công như: công nghệ tế bào, khai thác, bảo tồn và phát triển nguồn gene cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chúng (sâm Ngọc Linh), nấm Hầu thủ, Thông đỏ được Bộ Y tế, Bộ  KH – CN đánh giá cao.

Tóm lại, KH – CN trong lĩnh vực Quốc phòng có những phát triển và ngày càng vững chắc trong những năm qua, kịp thời giải quyết các vấn đề cấp thiết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần xây dựng Quân đội, nâng cao sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang. Hoạt động KH – CN bước đầu tham gia vào thị trường KH – CN, chú trọng xây dựng và phát triển tiềm lực KH – CN, kể cả chiều sâu và đào tạo nhân lực đáp ứng được yêu cầu phục vụ an ninh quốc phòng và kinh tế xã hội.

Nguồn: baodatviet.vn
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #44 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2010, 07:50:53 am »

Khảo sát địa chấn ngoài khơi Quảng Ngãi

Chương trình khảo sát địa chấn 2D ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam - Lô 119 trên vùng biển Quảng Ngãi được chính thức triển khai vào ngày 15/11 đến, theo nguồn tin từ Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ngãi cho biết chiều ngày 11/11.


Theo thông báo từ Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ngãi cho biết, bắt đầu từ ngày 15/11/2010 đến đầu tháng 12/2010, Công ty ExxonMobil Exploration and Production Vietnam Limited (EMEPVL) tiến hành hoạt động khảo sát địa chấn 2D ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam - Lô 119.


 
Khảo sát địa chấn 2D tại vùng biển Quảng Ngãi. Ảnh: Internet.

Khu vực khảo sát được thông báo rộng rãi có tọa độ: A: 108043’00’’-15030’00’’, B: 110000’00’’-15030’00’’, C: 110000’00’’-15000’00’’, D: 108058’00’’-15000’00’’. Tàu khảo sát địa chấn mang tên Fugro Gemini treo cờ Quốc tịch Panama, thân màu trắng-đỏ, kéo theo một cáp địa chấn dài 1.500 m và 03 tàu hộ tống bảo vệ.
Theo thông báo và yêu cầu của UBND tỉnh Quảng Ngãi: Các phương tiện hoạt động trên vùng biển nêu trên không chặn đầu tàu khảo sát địa chấn, cách 02 bên mạn tàu khảo sát địa chấn khoảng 6.000 m, cách đuôi tàu khảo sát địa ít nhất 10.000 m.

UBND tỉnh cũng đã giao Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh kiểm tra, giám sát, ngăn chặn kịp thời, đảm bảo không để tàu thuyền và các phương tiện vận tải biển đi vào khu vực khảo sát nói trên thuộc vùng biển tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian trên để đảm bảo an toàn cho công tác khảo sát.
•Vũ Trung

http://vietnamnet.vn/khoahoc/khcn/201011/Khao-sat-dia-chan-ngoai-khoi-Quang-Ngai-947367/
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #45 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2010, 10:11:00 am »

Biển Đông - chuyện lớn của thế kỷ XXI

Biển Đông có diện tích khoảng 3.500.000km². Đây là một hình thể biển lớn nhất sau 5 đại dương. Các đảo ở Biển Đông có số lượng nhiều, tập hợp thành một số quần đảo. Vùng biển này và phần lớn các đảo không có người ở là mục tiêu tranh chấp chủ quyền của nhiều nước có biên giới với vùng biển này (theo chiều kim đồng hồ từ phía Bắc) gồm: Trung Quốc Đại lục, Macao, Hồng Kông, Đài Loan (Trung Quốc), Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam.
Theo Wikipedia, South China Sea là thuật ngữ phổ biến nhất trong tiếng Anh để chỉ vùng biển được Tổ chức thủy văn học quốc tế xác định vùng nước trải dài theo hướng từ Tây Nam đến Đông Bắc, biên giới phía Nam là 3 độ vĩ độ Nam giữa Nam Sumatra và Kalimantan (eo biển Karimata), và biên giới phía Bắc của nó là eo biển Đài Loan từ mũi phía Bắc Đài Loan tới bờ biển Phúc Kiến thuộc đại lục Trung Quốc.

Vịnh Thái Lan chiếm phần phía Tây của biển Đông. Các nước xung quanh gọi biển này bằng nhiều tên khác nhau nhằm phản ánh chủ quyền lịch sử của họ đối với quyền bá chủ vùng biển. Việt Nam gọi là Biển Đông Việt Nam, bởi hầu hết lãnh thổ hướng chính ra biển là hướng Đông, Trung Quốc - Nam Hải, Philippines - Luzón theo tên hòn đảo lớn Luzón của Philippines. Trong các tài liệu cổ về hàng hải của Bồ Đào Nha vào thế kỷ 15-16 còn có tên là Biển Chăm Pa.
Hội thảo Biển Đông lần II, diễn ra tại TP HCM với chủ đề "Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực" là một minh chứng vì nó là thành công tiếp theo của Hội thảo Biển Đông lần I: "Với việc thành công trong việc tổ chức hội thảo đầu tiên, Việt Nam đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu quốc tế" (GS Ramses Amer đến từ Thụy Điển).  

Hội thảo lần này có sự tham gia của gần 70 học giả trong nước và quốc tế đến từ Trung Quốc, Đài Bắc - Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Anh, Đức, Canada, Australia, Nga, Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ, Bỉ, Thụy Điển. Quan trọng hơn cả là 10 nước ASEAN đều có đại diện tham dự.

Đây là một vùng biển có ý nghĩa địa chính trị vô cùng quan trọng. Nó là đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới, trong khi nếu tính theo tổng lượng hàng hoá thương mại chuyển qua hàng năm, hơn 50% đi qua Eo biển Malacca, Eo Sunda, và Eo Lombok. Hơn 1.6 triệu m³ (10 triệu barrel) dầu thô được chuyển qua eo biển Malacca hàng ngày, nơi thường xảy ra các vụ hải tặc. Vùng này đã được xác định có trữ lượng dầu mỏ khoảng 1.2km³ (7.7 tỷ barrel), với ước tính tổng khối lượng là 4.5km³ (28 tỷ barrel). Trữ lượng khí gas tự nhiên được ước tính khoảng 7.500km³ (266 nghìn tỷ feet khối).

Theo những nghiên cứu do Sở Môi trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippines, vùng biển này chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệ sinh thái.

Biên giới quốc gia và vùng đặc quyền kinh tế: Các hòn đảo đang trở thành đối tượng đặc biệt vì chiếm được và biến nó thành của mình thì sẽ giúp các nước mở rộng vùng lãnh thổ và vùng đặc quyền kinh tế. Dầu mỏ và Khí đốt: Do có tiềm năng về dầu mỏ và khí đốt nên nhiều nước hy vọng Biển Đông là chìa khóa năng lượng trong các khủng hoảng nhiên liệu trong tương lai.

Địa chính trị: Kiểm soát Biển Đông không chỉ là kiểm soát tuyến giao thương lớn số 2 của thế giới, mà còn biến Biển Đông thành "ao nhà" qua đó gây khó khăn cho những tàu vận tải đi qua khu vực, tạo ra vùng cấm bay và hải phận cấm hoạt động và biến các đảo lớn thành tổ hợp quân sự như Nhật Bản đã từng sử dụng đảo Ba Bình trong thế chiến thứ 2.

Các học giả nhất trí đánh giá tầm quan trọng của Biển Đông trong môi trường chiến lược đang điều chỉnh và nhìn lại những diễn biến mới gần đây ở Biển Đông - Cục Đo đạc bản đồ quốc gia Trung Quốc khai trương dịch vụ bản đồ trực tuyến Map World thể hiện đường yêu sách 9 đoạn - cùng những hệ lụy của nó với an ninh và phát triển khu vực để cuối cùng tìm kiếm các biện pháp thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông.

Một trong những vấn đề gây tranh cãi là về vai trò của Trung Quốc và Mỹ tại Biển Đông. GS Thayer, Học viện Quốc phòng Australia, cho biết, Quân đội nhân dân Trung Quốc (PLA) coi Biển Đông là lợi ích cốt lõi: "PLA đang tăng cường năng lực hải quân để khẳng định chủ quyền ở Biển Đông, hạn chế Mỹ tiếp cận vùng biển này".

Trong khi đó Học giả Geoffrey Till đến từ Anh cho rằng: Cũng giống như Anh trước đây, Mỹ là một cường quốc toàn cầu, trong đó lợi ích cơ bản là tự do hàng hải, gắn liền với vị thế của nước Mỹ và giá trị của nước Mỹ. Từ quan niệm đó, Mỹ cho rằng mình có quyền làm chủ biển cả và có quyền dùng vũ lực bảo đảm quyền đó.

Hai học giả đến từ Trung Quốc là Giáo sư Tô Hạo và Tiến sĩ Nhậm Nguyên Chiết với bài tham luận của mình đã lại khẳng định: Trung Quốc luôn hành xử có trách nhiệm ở Biển Đông do Trung Quốc cần môi trường hòa bình với các nước xung quanh để phát triển. Theo ông, nếu Trung Quốc không hòa bình thì không thể có không khí hợp tác trong khu vực như hiện nay.

Học giả Daniel Schaeffer đến từ Trung tâm Nghiên cứu châu Á 21 (Pháp) cho rằng, việc Trung Quốc chính thức đưa ra đường đứt khúc 9 đoạn là một điểm đáng chú ý nhất ở khu vực trong 2 năm qua. Ông còn cho rằng, nếu đối thoại giữa các bên để giải quyết xung đột không có tiến triển, cần tính đưa các tranh chấp khu vực ra Tòa án Luật biển hoặc Tòa án Công lý quốc tế.

Trong lời tổng kết phần đầu Hội thảo, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam, Dương Văn Quảng cho rằng: Hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và an ninh con người, trong đó có cả cứu hộ, cứu nạn ở Biển Đông đã trở thành trọng tâm trong chương trình nghị sự của các cuộc gặp chính thức giữa ASEAN và Trung Quốc. Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được ký kết năm 2002 trên tinh thần đó. Nhưng DOC chưa đủ, các nước kỳ vọng một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính ràng buộc hơn, chặt chẽ hơn và toàn diện hơn sẽ được đàm phán và ký kết trong tương lai.

Học giả Việt Nam - TS Trân Công Trục cho rằng, thành công của Việt Nam trong vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010 đã có đóng góp không nhỏ để vấn đề Biển Đông được giải quyết theo một cách nhân bản nhất: “Với những diễn đàn mà Việt Nam chủ trì thành công, như ARF, ADMM+8, ASEAN - Trung Quốc, hay EAS, khi vấn đề tranh chấp Biển Đông được nêu ra, dù có hay không trong nghị trình, những thỏa thuận hợp tác đạt được trong lĩnh vực quốc phòng, hay thúc đẩy DOC, đã đóng góp vào việc duy trì ổn định trên Biển Đông”.
 
Trần Việt Hà

http://www.cand.com.vn/vi-VN/quocte/2010/11/139933.cand
 
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười Một, 2010, 11:24:56 am gửi bởi daibangden » Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #46 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2010, 02:31:01 am »

Trung Quốc nợ thế giới lời giải thích về Biển Đông


Biển Đông và Địa Trung Hải là những vùng biển quốc tế, và không quốc gia nào có thể là người đưa ra luật chơi riêng ở đây. Mọi quốc gia phải tuân theo đúng luật chơi quốc tế. - Vị tướng về hưu người Pháp, Daniel Schaeffer nói.

Một trong những điểm thú vị nhất của hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ hai là các học giả đưa ra các luồng quan điểm trái ngược nhau về những vấn đề mới nảy sinh trong khu vực, từ các phương thức giải quyết tranh chấp đến khả năng hợp tác giữa các quốc gia có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông. Nhất là đối với phản ứng của Trung Quốc trước sự can dự trở lại của Mỹ vào khu vực Đông Nam Á và Biển Đông.

Tất nhiên, trừ "lợi ích cốt lõi" và "đường chữ U đứt khúc", khi nhiều học giả, trong các tham luận chính thức, câu hỏi thảo luận, hay trao đổi bên hành lang, đều nhất trí với nhau trong việc đòi hỏi phía Trung Quốc phải làm rõ hai khái niệm này.

Vị tướng về hưu người Pháp Daniel Schaeffer, nguyên tuỳ viên quân sự của Pháp tại cả Việt Nam, Thái Lan, lẫn Trung Quốc, quay trở lại hội thảo lần thứ hai này với tham luận: "Trung Quốc, Hoa Kỳ và Biển Đông: Một quan điểm từ bên ngoài".
Ông nói: "Bài tham luận của tôi chỉ ra những lý do tại sao lại có những bất đồng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ tại Biển Đông. Hoa Kỳ khẳng định rằng họ có lợi ích quốc gia ở khu vực này, còn Trung Quốc lại đưa ra đường chữ U đứt khúc, với yêu sách chủ quyền đối với 4/5 Biển Đông, nhằm phục vụ lợi lợi ích kinh tế trước mắt, kinh tế chiến lược, và chiến lược nói chung của họ."

Tuần Việt Nam giới thiệu quan điểm cá nhân của ông Shaeffer như một góc nhìn cần tham khảo.

Không ai có thể đưa luật chơi riêng ở Biển Đông

Ông nghĩ thế nào về sự bất đồng quan điểm trong giới học giả tham gia hội thảo này về sự can dự trở lại của Mỹ đối với khu vực này, thưa tướng quân?

Theo tôi, không có chuyện người Mỹ can dự trở lại. Họ chỉ khẳng định vẫn tiếp tục tăng cường sự can dự đã có từ trước, nhằm đảm bảo tự do và an ninh hàng hải trên Biển Đông. Quan điểm của họ vẫn trước sau như một là đứng ngoài các tranh chấp chủ quyền, nhưng họ muốn việc giải quyết tranh chấp phải thông qua các biện pháp hoà bình, không dùng vũ lực.

Tại sao tôi có quan điểm như vậy? Bởi vì tôi tin chắc rằng Biển Đông và Địa Trung Hải là những vùng biển quốc tế, và không quốc gia nào có thể là người đưa ra luật chơi riêng ở đây. Mọi quốc gia phải tuân theo đúng luật chơi quốc tế.

Thế còn luận điểm của Trung Quốc về "vùng nước lịch sử", để họ giải thích cho cái gọi là "đường chữ U đứt khúc" đó?

Theo Công ước Quốc tế về Luật Biển, làm gì có điều nào qui định về cái gọi là "vùng nước lịch sử", như cái mà họ vẽ ra. Tất nhiên, đường chữ U này không phải gần đây mới xuất hiện, mà thừa hưởng từ thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch.

Trung Quốc nợ lời giải thích

Ông có nghĩ rằng việc Trung Quốc đưa ra khái niệm "vùng nước lịch sử" là một động thái "câu giờ", như trong bóng đá, khi chưa nghĩ ra cách nào khả dĩ có thể thay thế điều kiện thực thi chủ quyền một cách liên tục. Hay, họ muốn đưa một luật lệ mới, độc lập với Công ước Luật biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), như có học giả nước ngoài đã đặt vấn đề?

Khả năng đầu tiên là hoàn toàn có thể xảy ra, nhưng tôi vẫn chưa biết họ câu giờ làm gì. Còn khả năng thứ hai tôi thấy nghi ngờ.

Tôi nghĩ họ có thể thách thức Việt Nam, hay ASEAN, hoặc thậm chí một cường quốc nào đó, nhưng họ không dám thách thức những nguyên tắc mà hầu như cả thế giới công nhận. Họ có thể vin vào cái gọi là "cách hiểu khác nhau" mà thôi.

Như trong hội thảo vừa rồi, các học giả trong và ngoài khu vực cho rằng Trung Quốc nợ thế giới một lời giải thích về tấm bản đồ có hình chữ U đứt khúc, cũng như cái gọi là "lợi ích cốt lõi".

Dường như phía Trung Quốc, không hiểu có phải là do thiếu hiểu biết thật hay không, hầu như không bao giờ nhắc tới Hiệp định Thiên Tân (1885), hay Hoà ước Pháp - Thanh năm 1887. Một vị học giả đáng kính từ Bắc Kinh, khi được hỏi về chuyện này, đã im lặng. Là người am hiểu Trung Quốc, cũng như tiếp xúc nhiều với giới học giả của họ, tướng quân có thể bình luận gì về điều này?

Tôi nghĩ nếu nghiên cứu nghiêm túc và liên tục về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, khó có thể bỏ qua hai thoả ước quan trọng này.

Trong thời kỳ của chế độ thuộc địa của Pháp ở Việt Nam, nước Pháp đại diện cho Hoàng đế An Nam trong việc thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Còn đối với quần đảo Trường Sa, Hải quân Pháp, thay mặt nước Pháp, đã chiếm hữu năm 1930, khi đó vô chủ, và thực hiện các thủ tục mà luật pháp quốc tế thời đó thừa nhận để tuyên bố chủ quyền với quần đảo này. Ba năm sau, họ lặp lại hành động đó. Kể từ đó cho đến khi chủ quyền được chuyển giao lại cho phía Việt Nam theo các thoả thuận quốc tế, chưa bao giờ nước Pháp từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo này.

Mọi chứng cứ pháp lý đều ủng hộ Việt Nam

Trung Quốc cứ khăng khăng với lập trường giải quyết song phương mọi tranh chấp ở Biển Đông. Thế nhưng, khi Hoàng Sa chính là trường hợp của tranh chấp song phương về chủ quyền, mà những dẫn chứng của ông đã nêu rõ, họ lại khước từ với lập luận rằng Hoàng Sa là của họ. Người thì kể ra rằng đô đốc Trịnh Hoà thời nhà Minh đã tuyên bố chủ quyền ở đây. Có người, như vị học giả mà tôi đã nhắc ở trên, có lẽ vì cảm thấy chưa yên tâm, nên đã lùi thêm về cả trước Công nguyên cho chắc ăn.

Vậy, theo tướng quân, Việt Nam nên tiếp tục vấn đề này như thế nào?

Tôi nghĩ nếu Trung Quốc cứ chơi theo kiểu "chẳng giống ai" như vậy, Việt Nam phải tính đến khả năng đưa vụ này ra Toà án Công lý Quốc tế (ICJ), hoặc Toà án Quốc tế về Biển (MIT). Tất nhiên là khi mọi chứng cứ về lịch sử và pháp lý đã chuẩn bị đầy đủ.

Hơn nữa, cần nhớ rằng, việc giành quyền kiểm soát Hoàng Sa của Trung Quốc được tiến hành theo hai bước khác nhau. Việc này rất quan trọng cho việc xác định ưu tiên.

Đầu tiên, họ đã giành một phần từ tay Quốc Dân Đảng - những người đã giành quyền kiểm soát nhóm đảo An Vĩnh, khi giải giáp quân Nhật ở đó. Nói là giải giáp chứ, thực ra, binh lính người Đài Loan phục vụ trong quân đội Nhật chỉ cần thay đổi quân phục là đủ. Bởi Trung Hoa Dân Quốc đã sáp nhập Đài Loan vào lãnh thổ của mình sau sự đầu hàng của Nhật đối với phe Đồng Minh năm 1945. Phần này khá phức tạp.

Đối với phần còn lại thuộc nhóm Trăng Khuyết, họ đã dùng vũ lực chiếm năm 1974, khi mà Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, những chủ nhân thực sự của phần lãnh thổ này của quần đảo Hoàng Sa theo Hiệp định Hoà bình Quốc tế Geneva, quá yếu không phòng thủ được.

Việt Nam nên tập trung vào việc đòi lại chủ quyền của phần thứ hai, bởi hành động dùng vũ lực đánh chiếm một phần đất thuộc chủ quyền Việt Nam, hay vi phạm luật pháp quốc tế, đã rõ rành rành. Tức là mọi chứng cứ pháp lý đều ủng hộ Việt Nam.

Về lâu dài, điểm quan trọng nhất là bên nào trong số hai nước có yêu sách chủ quyền, đưa ra được những chứng cứ pháp lý và lịch sử chính xác, theo luật pháp quốc tế, về sự thực thi chủ quyền một cách liên tục nhất.

Ngay cả khi Việt Nam đưa ra được những bằng chứng đó, mà Trung Quốc vẫn cứ nói "Không" thì sao?

Trước Đệ Nhị Thế chiến Chính phủ Pháp đã yêu cầu Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Quốc Dân Đảng cùng ra toà ICJ để phân định rõ Hoàng Sa, nhưng họ đã từ chối. Bởi vậy, có khả năng chính quyền hiện nay của Trung Quốc sẽ học tập tấm gương ứng xử của Tưởng Giới Thạch.

Thế nhưng, trừ phi Việt Nam muốn từ bỏ chủ quyền hoàn toàn đối với Hoàng Sa, theo tôi, việc chuẩn bị đầy đủ chứng cứ là rất cần thiết. Ngay cả trong trường hợp Trung Quốc thoái thác việc ra toà.

Bởi lúc đó, Việt Nam, sau khi đã thể hiện thiện chí kiên trì thuyết phục, hay đàm phán, qua các kênh khác nhau, hoàn toàn có thể công bố công khai trước quốc tế, tại các diễn đàn khác nhau, những chứng cứ này. Lúc đó, trước sức ép của dư luận quốc tế, Trung Quốc có thể phải chấp nhận giải pháp khai thác chung nào đó một cách chấp nhận được với cả hai bên, để cứu vãn cho hình ảnh ngày càng xấu đi của mình.

Chẳng hạn, cách đây cách đây 4 năm một Giáo sư ở Khoa Luật, Đại học Bắc Kinh, tên là Zhao Lihai, sau một thời gian dài biện hộ cho đường chữ U cũng ngộ ra rằng nếu không rút lại đường này, uy tín của Trung Quốc sẽ giảm đi nhiều trong cộng đồng khu vực và quốc tế.

Mặc dù vậy, tôi e rằng đây là điều không hề dễ dàng. Có điều, tôi không nghĩ ra giải pháp nào khác khả dĩ hơn.

Đơn phương cấm đánh cá, bắt ngư dân là vi phạm luật quốc tế

Đầu năm 2005, Trung Quốc đã công bố Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp, trong đó đưa ra nguyên tắc đường cơ sở thẳng, để làm biên giới cho lãnh hải của họ. Trước đó 9 năm họ đã ra một tuyên bố với nội dung tương tự trong đó có nói về cái gọi là "đường cơ sở". Đáng chú ý là ngay trước khi tham gia UNCLOS vào cùng năm 1996.

Và câu chuyện bắt ngư dân Việt Nam đã bắt đầu từ lập luận này. Họ cho rằng ngư dân Việt Nam đánh cá ở khu vực giữa đường cơ sở này và Hoàng Sa là vi phạm lãnh hải của họ.

Tôi và nhiều học giả quốc tế trong cả hai cuộc hội thảo về Biển Đông đều khẳng định rằng, Hoàng Sa, cho dù chủ quyền có thuộc về bất cứ quốc gia nào, cũng chỉ có vùng đặc quyền kinh tế dài 12 hải lý. Bởi theo UNCLOS chỉ các quốc đảo mới có qui chế đường cơ sở.

Như vậy, việc Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh cá và bắt ngư dân là vi phạm luật pháp quốc tế.
 
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-14-trung-quoc-no-the-gioi-loi-giai-thich-ve-bien-dong
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #47 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2010, 09:57:56 am »

Đường lưỡi bò: Trung Quốc "gậy ông đập lưng ông"

Trung Quốc hiện đang mang trên vai một gánh nặng là phải giải thích rõ với thế giới đường chữ U trên tấm bản đồ nghĩa là gì. Sớm hay muộn, họ cũng sẽ phải trả lời, bởi sức ép đối với họ sẽ ngày càng tăng thêm, nhất là sức ép chính trị - TS Robert Beckman, ĐHQG Singapore nói.

Trong pho truyện kiếm hiệp "Thiên Long Bát Bộ" của văn sĩ Kim Dung, với bối cảnh lịch sử thời Bắc Tống ở Trung Hoa (tương đương với thời Tiền Lê và thời Lý ở Việt Nam), có dòng họ Mộ Dung nổi tiếng với tuyệt nghệ "gậy ông đập lưng ông". Tức là hai cha con nhà Mộ Dung đã dùng các chiêu thức chân truyền của từng môn phái để giết người của họ, và chia rẽ võ lâm. Ngõ hầu phục hưng một triều đại đã không còn tồn tại trong ký ức của người đời là Đại Yên.

Kim Dung có dựa vào các nhân vật lịch sử để từ đó hư cấu hay không, và, nếu có, bao nhiêu phần trăm sự thật lịch sử trong đó? Thật khó có câu trả lời chính xác.

Có điều, một ngàn năm sau, tuyệt nghệ này, có thể do Kim Dung hư cấu, đã xuất hiện (lại?) trong thực tế của Trung Hoa hiện đại. Năm ngoái, Trung Quốc đã chính thức gửi lên Liên Hiệp Quốc tấm bản đồ với đường chữ U đứt khúc, với quan điểm vùng nước bên trong đường này là "vùng nước lịch sử" mà họ đã thực thi chủ quyền cách đây hơn 2000 năm - điều mà không hề ai biết, chứ đừng nói đến lãng quên, như trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung.

Ngõ hầu "đập lại" các đối thủ tranh chấp chủ quyền, nhất là Việt Nam - quốc gia đã chứng minh rằng họ có hàng trăm thực thi chủ quyền liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa, nằm bên trong cái đường chữ U đó.

Trong cuốn tiểu thuyết hư cấu của Kim Dung, người cuối cùng trong dòng họ Mộ Dung là Mộ Dung Phục cuối cùng đã trở thành "Hoàng đế tự phong của Đại Yên", trong trạng thái mất trí của mình.

Còn kết cục của câu chuyện thực tế, diễn ra sau đó khoảng một ngàn năm thì sao?

Xin mời độc giả tham khảo cuộc trao đổi giữa phóng viên Tuần Việt Nam và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Luật Quốc tế Robert Beckman, từ Đại học Quốc gia Singapore, để có những dự đoán cho riêng mình.
Phản đối Việt Nam và Malaysia, Trung Quốc tự làm khó mình

Theo tiêu đề bài tham luận của mình "Đăng kí thềm lục địa  mở rộng và yêu sách chủ quyền ở Biển Đông", ông nhìn nhận việc đăng ký thềm lục địa mở rộng năm ngoái đã làm phức tạp thêm những tranh chấp vốn đã phức tạp ở Biển Đông. Có đúng vậy không?

Một mặt đúng như vậy. Nhưng, mặt khác, điều này lại giúp làm rõ lập trường về yêu sách thềm lục địa của những nước như Philippines, Malaysia và Việt Nam.

Và cả Trung Quốc nữa?

Đối với Trung Quốc thì ở mức độ thấp hơn.

Tại sao, thưa ông?

Bởi để phản đối bản đăng ký chung về thềm lục địa của Việt Nam và Malaysia, Trung Quốc đã dùng những từ ngữ khá nặng nề, và kèm theo đó là một tấm bản đồ có vẽ đường chữ U đứt khúc. Trung Quốc đã gửi công hàm đến Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc cùng với tấm bản đồ, và yêu cầu ông phải công bố rộng rãi nội dung công hàm và tấm bản đồ tới từng quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc.

Một số quốc gia đã cho rằng đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra tấm bản đồ này một cách chính thức, và họ hiểu rằng yêu sách chủ quyền đó của Trung Quốc được căn cứ vào tấm bản đồ.

Chính tấm bản đồ mập mờ, khó hiểu đó đã khiến nhiều nước lên tiếng phản đối Trung Quốc, bởi họ không chấp nhận nó.

Đặc biệt có những nước đã phản ứng khá mạnh mẽ, chẳng hạn như Indonesia. Họ cũng đã gửi công hàm yêu cầu Trung Quốc phải giải thích rõ về tấm bản đồ.

Cụ thể, Trung Quốc đã nêu yêu sách chủ quyền, tuy gián tiếp, như thế nào?

Trung Quốc nói rằng bản đăng ký chung của Việt Nam và Malaysia đã vi phạm chủ quyền không thể tranh cãi của học đối với Paracels (Hoàng Sa) và Spratlys (Trường Sa), cũng như vùng nước tiếp giáp hai quần đảo này. Họ còn nói là họ có quyền chủ quyền đối với cả vùng nước liên quan, cùng với việc đưa kèm tấm bản đồ.

Thế nhưng chẳng ai hiểu cái gọi là "vùng nước liên quan" và "vùng nước tiếp giáp", theo quan điểm của Trung Quốc, là gì. Đơn giản bởi vì chúng không được diễn giải bằng ngôn ngữ của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Hay nói cách khác, cũng như tấm bản đồ, cách dùng những thuật ngữ này của Trung Quốc để yêu sách, thậm chí khẳng định chủ quyền, quá mơ hồ.

Xin ông nói rõ hơn về "sự mơ hồ" trong cách sử dụng những thuật ngữ nói trên của Trung Quốc?

Ngay cả trong trường hợp Trung Quốc có chủ quyền với những quần đảo này, thì vùng nước tiếp giáp cũng không kéo dài quá 12 hải lý. Tức là trong trường hợp đó, họ chỉ có thể đưa ra yêu sách chủ quyền với vùng nước rộng 12 hải lý, chứ không thể là cả vùng nước rộng lớn kéo dài đến đường chữ U đứt khúc trên tấm bản đồ đó.

Trung Quốc hoàn toàn không thể nói rằng họ đưa ra yêu sách chủ quyền như vậy là phù hợp với  Công ước Luật biển quốc tế của Liên Hợp Quốc UNCLOS. Và, giờ đây, họ phải làm rõ yêu sách này.

Theo quan điểm của tôi, Trung Quốc hiện đang mang trên vai một gánh nặng, hay chịu một sức ép lớn, là phải giải thích rõ với thế giới đường chữ U trên tấm bản đồ nghĩa là gì, nội dung công hàm nghĩa là gì.

Sớm hay muộn, họ cũng sẽ phải trả lời, bởi sức ép đối với họ sẽ ngày càng tăng thêm, nhất là sức ép chính trị, nhất là từ Mỹ, cường quốc đang thể hiện sự quan tâm ngày càng mạnh mẽ đến khu vực Biển Đông.

"Vùng nước lịch sử" là câu chuyện hoang đường

Cách đây ít tháng, tôi có trao đổi với một học giả từ Trung Quốc về vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa. Vị học giả này khẳng định cái gọi là "vùng nước lịch sử" của Trung Hoa đối với Biển Đông. Ông nghĩ thế nào về cái gọi là "vùng nước lịch sử" theo quan điểm của Trung Quốc?

Không hề có cái thuật ngữ này trong công ước, hay luật pháp quốc tế. Điều Trung Quốc làm hoàn toàn tương tự với yêu sách chủ quyền mà Philippines đưa ra vào năm 1898. Lúc đó, người dân Philippines tin vào yêu sách này, cũng như giờ đây, nhiều người Hoa, cả ở đại lục lẫn Đài Loan, cũng tin vào điều tương tự. Rất tiếc là không có ai chia sẻ niềm tin này với họ.

Tức là khái niệm về "vùng nước lịch sử" chỉ là một câu chuyện hoang đường?

Nói như như vậy cũng được, vì nó chẳng có cơ sở gì cả. Có điều, đối với hầu hết người dân Trung Quốc và Đài Loan, câu chuyện còn đi xa hơn. Họ tin rằng họ có quyền lực, có ảnh hưởng rất lớn tại vùng biển này. Nhưng, họ phải nhớ rằng Trung Quốc cũng là một bên tham gia công ước luật biển, và, vì vậy, họ phải tuân thủ công ước này.

Philippines cũng là nước đã từ bỏ yêu sách chủ quyền trên cơ sở tấm bản đồ năm 1898, được vẽ trên cơ sở Hoà ước Mỹ - Tây Ban Nha, khi tham gia công ước luật biển.

Tương tự như vậy, Trung Quốc cũng phải từ bỏ yêu sách về "vùng nước lịch sử" này, trừ phi làm rõ được một cách thuyết phục tấm bản đồ về đường chữ U đứt khúc.
Ông đã nói về mặt tích cực của việc đăng ký chủ quyền thềm lục địa mở rộng. Vậy xin ông nói rõ về mặt tiêu cực của nó, tức là khía cạnh làm phức tạp tình hình tranh chấp Biển Đông, đặc biệt giữa các thành viên ASEAN với nhau.

Rất tiếc là Philippines đã phản đối bản đăng ký chung của Việt Nam và Malaysia, và đã dùng những ngôn từ khá nặng, nhất là khi họ mở rộng vấn đề liên quan đến yêu sách "lịch sử" đối với phần phía Bắc của đảo Boneo - hiện là bang miền Đông có tên là Sabar của Malaysia. Và điều đó đã làm phức tạp thêm mối quan hệ giữa hai thành viên ASEAN này.

Nhưng riêng đối với Philippines và Việt Nam, tôi nghĩ hai bên sẽ dễ dàng hơn trong việc thảo luận để tìm ra những lợi ích trong chiến lược chung về lâu dài. Tôi vẫn tin tưởng rằng Việt Nam và Philippines ắt sẽ tìm được giải pháp giải quyết bất đồng. Ít ra cũng dễ dàng hơn nhiều so với việc giải quyết bất đồng giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Vì sao, thưa ông?

Bởi vì, thực ra, họ đã không có đủ thời gian để thảo luận về vấn đề này trước cái thời hạn cuối cùng cho việc đăng ký yêu sách chủ quyền đối với thềm lục địa mở rộng vào tháng 5.2009.

Nhất là với Tân Tổng thống Aquino Đệ Tam, người đã có những tuyên bố xây dựng đối với quan hệ giữa hai nước trong chuyến thăm Việt Nam cuối tháng trước?

Tôi cũng hy vọng như vậy. Nhất là trong cuộc gặp với các quan chức Philippines trước khi đến Việt Nam, một người trong số họ đã khẳng định với tôi rằng họ cần phải tìm ra cách giải quyết các bất đồng về lãnh hải với Việt Nam.

Tiền đồ của bản đăng ký chung giữa Malaysia và Việt Nam như thế nào, thưa ông?

Tôi e rằng, theo nguyên tắc của mình, Uỷ ban về ranh giới ngoài thềm lục địa sẽ không xem xét trường hợp của Việt Nam và Malaysia, bởi sự phản đối chính thức của Trung Quốc và Philippines. Thế nhưng, Việt Nam và Malaysia vẫn có cơ sở pháp lý để yêu cầu quyền được khai thác dầu khí trong khoảng 200 hải lý bên ngoài thềm lục địa.

Tức là sao, thưa ông?

Tức là chuyện này vẫn có triển vọng được xem xét. Tôi mất khá nhiều thời gian để hiểu được rằng việc uỷ ban không xem xét bản đăng ký chung của Việt Nam và Malaysia, sẽ không tước đi cái điều quan trọng này đối với hai nước ASEAN.

Giải pháp khả thi nhất là khai thác chung

Ngoài Hoàng Sa là chuyện tranh chấp chủ quyền song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, tranh chấp chủ quyền ở Trường Sa là câu chuyện đa phương. Nhưng liệu có cách nào giải quyết tranh chấp đối với Trường Sa không, khi Trung Quốc vẫn khăng khăng cho rằng đàm phán song phương gần như là cách duy nhất?

Nếu anh nhìn vào tấm bản đồ tôi dùng khi trình bày tham luận của mình, anh sẽ thấy có khu vực là tranh chấp tay đôi, có khu vực là tranh chấp tay ba, và có khu vực là tranh chấp giữa năm quốc gia. Riêng về điểm này, tôi cũng đồng ý với ý kiến của học giả Trung Quốc trong hội thảo là "gác lại tranh chấp, cùng khai thác", và coi đó là giải pháp khả thi duy nhất.

Tại sao, thưa ông?

Bởi chắc chắn Việt Nam sẽ chẳng bao giờ từ bỏ yêu sách chủ quyền. Trung Quốc, Malaysia, hay Philippines cũng vậy. Do đó, giải pháp lâu dài là "gác lại yêu sách chủ quyền, và cố gắng cùng khai thác".

Tức là thế giới của chúng ta đã tiến đến giai đoạn mà chúng ta phải thoả hiệp với nhau. Từng dân tộc phải nhận thức rằng chúng ta phải chia sẻ với nhau các nguồn tài nguyên theo cách cùng nhau khai thác.

Theo ông điều này có dễ không?

Tôi hiểu rằng để đi đến quyết định thoả hiệp về chính trị này là điều rất khó khăn. Nhưng trong suy nghĩ của tôi, không có giải pháp nào khác khả dĩ hơn. Bởi, đối với mọi bên liên quan, thoả hiệp về chủ quyền là một vấn đề dễ gây kích động chủ nghĩa dân tộc, và, vì vậy, khó hơn thoả hiệp về nguồn lợi tài nguyên nhiều.

Thế còn việc kiện nhau ra toà án quốc tế, hay sử dụng trung gian hoà giải thì sao?

Nhưng, trước hết, các bên tranh chấp phải nhất trí cùng nhau ra toà. Tôi không tin rằng các bên liên quan sẽ đạt được thoả thuận về việc này. Bởi một bên thắng, tức là 3-4 bên sẽ thua. Quá rủi ro.

Còn trung gian hoà giải, theo tôi, may ra có thể có ích trong quyết định khai thác chung, khi một quốc gia không liên quan đưa ra các gợi ý về phương thức đàm phán để các bên liên quan tiến hành. Vả lại, đó cũng là cách giải quyết tranh chấp của Phương Đông.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-16-duong-luoi-bo-gay-ong-dap-lung-ong-
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #48 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2010, 03:46:14 pm »

Trung Quốc phái tàu ngư chính tới biển Hoa Đông



Theo Tân Hoa xã, ngày 16/11, tàu "Ngư Chính 310" của Trung Quốc được trang bị trực thăng đã rời Quảng Châu đi Đông Hải làm nhiệm vụ tuần tra vùng biển này trong thời gian 20 ngày.

Đây là tàu ngư chính đầu tiên của Trung Quốc được trang bị trực thăng. Tàu có trọng tải 2.580 tấn và được trang bị hệ thống thông tin vệ tinh băng thông rộng cùng một hệ thống theo dõi quang điện. Tàu có bãi đỗ cho hai máy bay trực thăng và đạt tốc độ tối đa khoảng 40km/giờ.

Một quan chức Cơ quan Giám sát cảng và nghề cá thuộc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc nói rằng đây không phải là tàu ngư chính lớn nhất của Trung Quốc nhưng là tàu nhanh nhất và có kỹ thuật hiện đại nhất.

Theo một quan chức khác cũng thuộc Bộ Nông nghiệp, Bắc Kinh có kế hoạch đóng thêm nhiều tàu mới tương tự.

Trong khi đó, Bộ Quốc phòng Nhật Bản ngày 17/11 cho biết bộ này có kế hoạch triển khai thêm 10 máy bay trinh sát P1 thế hệ mới cho Lực lượng phòng vệ trên biển (MSDF) để "giám sát tàu ngầm và các loại tàu lạ" trên các vùng biển xung quanh Nhật Bản.

Theo phóng viên TTXVN tại Tokyo, đây là một phần của “Kế hoạch tăng cường năng lực phòng vệ trung hạn” của Bộ Quốc phòng, dự kiến sẽ được Tokyo công bố vào tháng 12 tới.

Một quan chức thuộc Lực lượng phòng vệ (SDF) cho biết máy bay P1 có thể hoạt động liên tục trong 10 giờ, được trang bị động cơ có tốc độ gấp 1,3 lần so với máy bay trinh sát P3C mà MSDF đang sử dụng và có khả năng trinh sát thực địa không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Dự kiến, tổng kinh phí cho việc triển khai này vào khoảng 2,5 tỷ USD.

Liên quan đến các vụ thiết bị nổ và tài liệu chống Trung Quốc được gửi tới các cơ quan đại diện ngoại giao của Trung Quốc tại Nhật Bản, cảnh sát Nhật Bản cho biết họ đang tiếp tục điều tra vụ một phong bì thư gửi tới Đại sứ quán Trung Quốc ở Tokyo hồi tuần trước, trong bì thư có viên đạn và tài liệu chỉ trích Trung Quốc.

Theo cảnh sát, phong bì đóng dấu ngày gửi là 11/11 vừa qua tại một bưu điện ở thủ đô Tokyo.

Đây là lần thứ ba, Đại sứ quán Trung Quốc tại Nhật Bản nhận được thư cùng tài liệu và thiết bị nổ tương tự. Cuối tháng 10 vừa qua, Đại sứ quán Trung Quốc tại Tokyo và năm cơ quan ngoại giao Trung Quốc tại Sapporo, Nagoya, Osaca, Fukuoka và Nagasaki liên tục nhận được những bưu kiện trong đó có các hộp nhựa chứa dung dịch màu đỏ.

Những vụ việc trên xảy ra trong bối cảnh căng thẳng quan hệ giữa hai nước leo thang sau vụ va chạm tàu gần vùng biển tranh chấp hồi đầu tháng Chín năm nay./.


(TTXVN/Vietnam+)
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #49 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2010, 09:15:12 am »

Giải mã "lợi ích cốt lõi" và "đường lưỡi bò" của Trung Quốc

Tuần Việt Nam thử tìm sự giải mã cho hai khái niệm này thông qua cuộc trao đổi khá kỹ với Giáo sư Stein Tonnesson từ Viện Nghiên cứu Hoà bình Oslo (Na Uy).

Bá quyền nước lớn hay san sẻ lãnh đạo?

Trong hơn một năm rưỡi trở lại đây, hai khái niệm được phía Trung Quốc đưa ra liên quan đến tranh chấp Biển Đông là "lợi ích cốt lõi" và "đường lưỡi bò" đã dấy lên nhiều tranh cãi, nhiều khi đến căng thẳng, trong các diễn đàn khu vực. Bất kể đó là diễn đàn của các nhà hoạch định chính sách đối ngoại, quốc phòng (ARF và ADMM+), hay giữa các học giả (hội thảo quốc tế Biển Đông).

Cũng có nhiều giả thiết, hay cách suy luận được đưa ra từ phía giới hoạch định chính sách, hay giới nghiên cứu nước ngoài. Cũng có nhiều cách giải thích ở các mức độ khác nhau từ giới hoạch định chính sách và giới học giả Trung Quốc.

Nhưng, tựu trung, dư luận vẫn tỏ ra khá mơ hồ về về hai khái niệm này. Thậm chí, có vị học giả như Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á của Indonesia Hasjim Djalal nhận xét với phóng viên Tuần Việt Nam rằng Trung Quốc có thói quen cứ đưa ra quan điểm mập mờ như vậy để thiên hạ thi nhau đoán già đoán non, và mỗi quốc gia sẽ chọn cách ứng xử theo suy đoán của mình. Và, theo nhà ngoại giao kỳ cựu này, Trung Quốc sẽ hưởng lợi từ những phương án có lợi nhất đối với họ.

Có những vị học giả khác, như Giáo sư Leszek Buszynski từ Úc, lại cho rằng thức chất Trung Quốc cũng chưa biết họ thực sự muốn gì, bởi ngay trong nội bộ họ cũng chưa thống nhất được quan điểm.

Tuần Việt Nam thử tìm sự giải mã cho hai khái niệm này thông qua cuộc trao đổi khá kỹ với Giáo sư Stein Tonnesson từ Viện Nghiên cứu Hoà bình Oslo (Na Uy) - người tham gia cả hai cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông, được tổ chức tại Việt Nam thời gian qua.

Sự mập mờ trong khái niệm "lợi ích cốt lõi"
Tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông vừa qua, có những học giả, trong đó có Giáo sư Leszek Buszynski, lập luận rằng Trung Quốc có nhiều trường phái với quan niệm và lợi ích khác nhau, không đồng nhất trong quan niệm về lợi ích cốt lõi, lợi ích chiến lược, hay lợi ích quốc gia. Chính vì vậy, vì vậy Trung Quốc đã sử dụng các thuật ngữ này một cách lỏng lẻo, chứ không có định nghĩa chính thức, rõ ràng.

Xin Giáo sư cho biết quan điểm của mình.

Điều này thực sự là một vấn đề được tranh luận khá căng thẳng tại hội thảo. Và rõ ràng rằng cho đến nay không hề có một phát ngôn chính thống nào của Trung Quốc về việc họ coi Biển Hoa Nam (Biển Đông) là "lợi ích cốt lõi", tương tự như Đài Loan và Tây Tạng, hay thậm chí Tân Cương.

Có một thực tế là tháng 3.2009, sau sự kiện một tàu khảo sát của Mỹ (Impeccable) tiến sâu vào lãnh hải của Trung Quốc (cách đảo Hải Nam 75 hải lý), đã có một cuộc gặp giữa nhà hoạch định chính sách đối ngoại số một Trung Quốc, Uỷ viên Quốc Vụ Đới Bỉnh Quốc, và đại diện phía Mỹ. Trong cuộc gặp này, ông Đới Bỉnh Quốc được dẫn là đã nói với phía Mỹ rằng "đây là nơi Trung Quốc cho rằng có lợi ích cốt lõi".

Và chính sự mơ hồ trong lời nói của Đới Bỉnh Quốc đã gây ra sự tranh cãi căng thẳng không chỉ trên truyền thông, hay trên các diễn đàn an ninh khu vực, mà cả giữa các học giả, như trong hai cuộc hội thảo về Biển Đông tại Việt Nam.

Xin Giáo sư giải thích rõ hơn?

Sự mập mờ nằm ở từ "đây". Liệu đó có phải là toàn bộ Biển Hoa Nam (Biển Đông) hay không? Hay "đây" chỉ là vùng nước phía nam đảo Hải Nam? Bởi rõ ràng vùng nước này cực kỳ quan trọng đối với hải quân Trung Quốc và họ đã xây dựng căn cứ hải quân Tam Á, hiện tại dành cho cả tàu ngầm, và tương lai có thể là căn cứ của hàng không mẫu hạm.



Khả năng thứ hai hoàn toàn dễ hiểu và dễ chấp nhận, bởi bất cứ quốc gia nào trong trường hợp tương tự đều coi vùng nước gần căn cứ hải quân của họ là khu vực có "lợi ích cốt lõi". Và việc Trung Quốc không chấp nhận tàu khảo sát của Mỹ tiến gần tới căn cứ hải quân của họ là hoàn toàn có thể giải thích được.
Hơn nữa, Mỹ chắc cũng chẳng vui vẻ gì khi tàu khảo sát của Trung Quốc tiếp cận bờ biển của họ. Và, tôi nghĩ, hầu hết các quốc gia duyên hải có thể hiểu được quan điểm của Trung Quốc trong trường hợp này, bởi phạm vi hoạt động của tàu khảo sát không nhất thiết được điều chỉnh bởi nguyên tắc tự do hàng hải.

Theo tôi, Việt Nam, Malaysia, Philippines, hay Indonesia cũng chưa hẳn đã chia sẻ quan điểm với phía Mỹ. Thế nhưng, đối với tranh chấp Biển Hoa Nam (Biển Đông) các quốc gia Đông Nam Á này coi việc Mỹ khẳng định lập trường của họ về tự do hàng hải như một sự đối trọng với Trung Quốc.

Nói chung chẳng ai hiểu thực chất cái gọi là "lợi ích cốt lõi" là gì, mà chỉ biết về nó qua những gì mà người Mỹ và người Nhật công bố bằng văn bản vào tháng 4, hoặc mùa hè năm ngoái, sau khi nhận xét của ông Đới Bỉnh Quốc được đưa ra. Và cũng chưa có bất cứ nguồn tin nào từ Trung Quốc khẳng định điều này một cách chính thức.

Về việc này, tôi nghĩ người Trung Quốc đã không ngờ rằng trong câu chuyện trao đổi kín với tinh thần thẳng thắn và cởi mở với phía Mỹ lại bị đưa ra công khai.

Trung Quốc không khôn ngoan như người ta tưởng

Một học giả đến từ Indonesia tên là Hasjim Djalal, đã nhận xét rằng ông có cảm giác người Trung Quốc luôn có cách hành xử một cách bí hiểm. Mọi quốc gia liên quan phải tự đoán xem Trung Quốc muốn gì và mỗi quốc gia sẽ phải quyết định một lối ứng xử trên trên cơ sở sự suy đoán của mình. Từ đó, Trung Quốc sẽ lựa chọn phương án có lợi nhất cho mình.

Người Việt Nam có câu "người khôn ăn nói nửa chừng..." Giáo sư có nghĩ như vậy không?

Tôi không nghĩ là người Trung Quốc lại đủ khôn như vậy đâu. Tôi thiên về quan điểm của Giáo sư Leszek Buszynski rằng Trung Quốc thực sự cũng chưa biết mình muốn gì. Bởi đơn giản, ở Trung Quốc có nhiều nhóm lợi ích. Mặc dù, cũng không nhất thiết là mỗi nhóm lợi ích này đều đã bộc lộ rõ quan điểm, sự hiểu biết và mong muốn của họ.

Ngay tại hội thảo về Biển Đông lần thứ nhất, một trong những mối quan tâm lớn nhất là ngay cả ở Trung Quốc cũng có những cách hiểu khác nhau về đường lưỡi bò. Tức là bản thân người Trung Quốc cũng không thể thống nhất với nhau. Trong khi đó, lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Vụ viện nước này cũng không tỏ ra nỗ lực làm sáng tỏ khái niệm này.

Vì vậy, một trong những cách diễn giải nó là viện dẫn tới khái niệm "vùng nước lịch sử". Nếu đọc Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS), rõ ràng anh sẽ thấy cách giải thích này không thể chấp nhận được. Cái gọi là "vùng nước lịch sử" bắt buộc phải nằm bên trong lãnh thổ một quốc gia, chứ không thể nằm giữa lãnh thổ hai, hoặc nhiều quốc gia, như trường hợp của Biển Hoa Nam (Biển Đông).

Nếu thực sự Trung Quốc tin rằng họ đúng, họ phải thuyết phục các quốc gia có liên quan ở khu vực này chấp nhận cách hiểu khác đi. Tất nhiên là theo tinh thần của một luật biển mới, do người Trung Quốc soạn thảo ra, chứ không phải là theo tinh thần của UNCLOS.

Giáo sư có nghĩ là người Trung Quốc có thể lạc quan với ý tưởng về một bộ luật biển hoàn toàn mới như vậy hay không?

Tôi đoan chắc rằng sẽ chẳng nước nào sẽ chịu chấp nhận. Thậm chí trong trường hợp Trung Quốc dùng vũ lực để ép buộc họ phải chấp nhận.

Thế còn những khả năng khác, thưa Giáo sư?

Đó là cách diễn giải rằng tất cả các đảo thuộc vùng nước này đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc, và là phần lãnh thổ kéo dài của nước này. Và vì vậy, chúng được hưởng  qui chế về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xung quanh. Về lý thuyết, người Trung Quốc được quyền đưa ra những lập luận thuyết phục về chuyện này, nhưng phải trong khuôn khổ UNCLOS.

Nhưng, trong thực tế, ngay cả trong trường hợp họ chứng minh được hai quần đảo này là phần lãnh thổ kéo dài của lục địa Trung Hoa, thì khoảng cách từ vùng bờ biển gần nhất của họ đến hai quần đảo này cũng xa hơn so với khoảng cách giữa chúng và bờ biển của Việt Nam, Brunei, hay Philippines - những quốc gia có yêu sách chủ quyền khác.

Tức là đường lưỡi bò khó có thể chấp nhận dưới cả góc độ này lẫn góc độ kia. Nhưng tại sao vẫn có những người ở đất nước này tin vào câu chuyện hoang đường đó, thưa Giáo sư?

Tuy nhiên, liên quan đến "đường lưỡi bò", theo tinh thần của luật biển quốc tế, vẫn có một khả năng được coi là dễ chấp nhận hơn cả. Đó là việc "đường lưỡi bò" thể hiện yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo bên trong đường này.

Trong trường hợp này, Trung Quốc phải chứng minh, theo tinh thần của UNCLOS, rằng họ có những chứng cứ lịch sử và pháp lý đối với Paracels (Hoàng Sa) và Spratlys (Trường Sa) mạnh hơn hẳn so với các chứng cứ của bất kỳ quốc gia có yêu sách chủ quyền nào khác. Đó là điều sớm muộn cũng phải được giải quyết một cách rõ ràng và dứt khoát.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-26-giai-ma-loi-ich-cot-loi-va-duong-luoi-bo-cua-trung-quoc
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM