Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:58:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 421932 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
p_ngocquynh
Thành viên
*
Bài viết: 107



« Trả lời #120 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:12:37 pm »

Chiến hạm Đinh Tiên Hoàng nhà mình nhìn gần quá ấn tượng, đặc biệt khi đậu sát chiếc Taratul 5, vậy là nhà mình tập trung hết các tàu chiến mới tại cảng Cam Ranh, ít nữa tàu Kilo nghe đâu cũng sẽ được bố trí ở đây. Ai có thông tin gì về việc tại sao chúng ta tập trung lực lượng hải quân mạnh tại đây xin cho mở tầm hiểu biết với...cám ơn trước nhiều nha  Grin Wink Grin Wink
Không phải ngẫu nhiên mà 2 cường quốc đều đặt căn cứ tại Cam Ranh, trước là Mỹ và sau là Liên Xô vì Cam Ranh là vịnh biển sâu mà kín tầu tải trọng lớn có thể vào vịnh, kèm thêm phía trước vịnh được che chắn bởi dãy núi tạo thành địa hình phòng thủ và tránh bão cực tốt. Hơn nữa vị trí địa lý của Cam Ranh nhìn ra biển ngay luồng tàu bè từ bắc xuống nam, từ Bắc Á đi xuống Nam Á hay qua biển Ấn Độ đều phải đi qua đây chính vì thế mà Cam Ranh trở thành địa điểm chiến lược của Hải Quân Việt Nam và thế giới.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Tư, 2011, 10:02:40 pm gửi bởi daibangden » Logged

Không có việc gì khó chỉ sợ tiền không nhiều
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #121 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2011, 04:22:08 pm »

Thân gửi các bác! do bàn luận trên chủ đề "tàu chiến hải quân Việt Nam" hơi bị xa đà sang hệ thống bastion -P nên các bác quản trị mời chúng ta sang chủ đề " phòng thủ biển đảo - phần 2" do các bác ấy đã lập cho chúng ta, vậy kính xin lĩnh hội ý kiến của các bác mặc dù tôi biết rằng phần I của chủ đề này chúng ta đã có rất nhiều vấn đề đã được bàn luận.  Roll Eyes Roll Eyes Roll Eyes Roll Eyes
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #122 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2011, 08:54:29 pm »

Trung Quốc điều chỉnh chính sách ở Biển Đông

Theo GS. Stein, năm 2010 là năm thất bại của chính sách Trung Quốc tại Biển Đông trên nhiều mặt trận, do đó nước này buộc phải điều chỉnh chính sách theo hướng thực tế hơn.Bài viết của GS. Stein Tonnesson*, Viện Nghiên cứu Hòa bình Oslo, đánh giá  kết quả tại hai hội thảo quốc tế về Biển Đông được tổ chức tại Hà Nội (25 – 27/11/2009) và thành phố Hồ Chí Minh (10 -12/11/2010). Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

Bản gốc tiếng Anh "Chinas Changing Role in the South China Sea: Reflections on a Scholars Workshop". Bài viết được in trong Seri đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề “The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia” tháng 12/2010

Phần 1

GIỚI THIỆU

Những sự kiện diễn ra trong suốt năm 2010 chính là minh chứng cho thất bại của chính sách Trung Quốc ở Biển Đông trong việc phục vụ lợi ích quốc gia của mình. Những hành động nhằm theo đuổi chính sách đó đã xói mòn những nỗ lực ngoại giao trong suốt một thập kỷ qua nhằm xây dựng lòng tin ở Đông Nam Á, và tạo điều kiện cho Mỹ quay trở lại khu vực này như một đối trọng với Trung Quốc. Việt Nam cũng đang lôi kéo Nga trở lại với vai trò là một đối tác hải quân và là quốc gia cung cấp vũ khí. Việt Nam đang nỗ lực quốc tế hóa những tranh luận xung quanh vấn đề an ninh khu vực và đã tận dụng vị trí chủ tịch ASEAN nhằm thực hiện những nỗ lực trên. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) tại Hà Nội tháng 10/2010 vừa qua, các ngoại trưởng Mỹ và Nga được tiếp đón như những vị khách đặc biệt. Từ bây giờ trở đi, Mỹ và Nga sẽ là thành viên của EAS. Chính sách ngoại giao cứng rắn mới của Việt Nam cũng được minh chứng trong hai hội thảo về Biển Đông được tổ chức tại Hà Nội (25 – 27/11/2009) và thành phố Hồ Chí Minh (10 – 12/11/2010). Bài viết này tổng hợp báo cáo tham luận từ hai hội thảo này, diễn đàn nơi các học giả Trung Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á gặp gỡ với các đồng nghiệp từ các nước khác và đã có những trao đổi rất thẳng thắn.

NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM CHUNG

Rất nhiều nhà phân tích, bao gồm cả các học giả tham gia hội thảo trên cho rằng Trung Quốc đang áp dụng một chiến lược hung hăng mới ở Biển Đông. Những học giả này lập luận rằng điều này phản ánh sức mạnh hải quân mới được tăng cường của Trung Quốc. Những bằng chứng được đưa ra bao gồm một loạt các sự kiện diễn ra gần đây. Vào tháng 3/2009, các tàu chiến của Trung Quốc đã đe dọa tàu Hải quân Mỹ Impeccable, một tàu khảo sát thủy văn biển được triển khai 75 dặm phía Nam đảo Hải Nam, nơi Trung Quốc đang xây dựng căn cứ hải quân hiện đại. Impeccable buộc phải rút lui nhưng đã trở lại ngay ngày hôm sau cùng với tàu quân sự hộ tống. Không lâu sau, vào tháng 5/2009, Trung Quốc đã đính kèm bản sao bản đồ gây tranh cãi có in hình đường chín đoạn vào công hàm ngoại giao chính thức lên Ủy ban Liên hợp quốc về Ranh giới Thềm lục địa (CLCS) nhằm phản đối một tính toán chung của Ma-lai-xia và Việt Nam về chiều rộng thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý của Trung Quốc ở Biển Đông.

Nguồn: Ủy ban Địa hình Quảng Đông, Các tài liệu được sưu tập về địa hình các đảo Biển Đông (Quảng Châu: Nhà xuất bản Bản đồ Quảng Đông, 1987) (bằng tiếng Trung), 45 – 46. In lại trong tập san mới nhất của tạp chí Ocean Development and International Law (ODIL) 2010, 41 (3): 208

Vào năm 1948, Cộng hòa Trung Quốc (ROC) đã xuất bản tấm bản đồ Biển Đông này với 11 nét đứt tạo thành đường chữ U. Ngay sau khi thành lập năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) bắt đầu sử dụng chính tấm bản đồ đó. Trong khi ROC (Đài Loan –ND) tiếp tục sử dụng bản đồ này, PRC đã bỏ đi 2 nét đứt đoạn ở Vịnh Bắc Bộ sau năm 1953, do đó, tạo thành bản đồ của PRC với đường chín đoạn. Ý nghĩa của tấm bản đồ này đến nay vẫn chưa được làm rõ nhưng có vẻ nhằm thể hiện ý định của Trung Quốc muốn yêu sách toàn bộ các đảo nằm trong đường đó, và các vùng biển có thể có được từ các đảo nêu trên dựa trên cơ sở phát hiện và kiểm soát hiệu quả theo Luật biển.

Tấm bản đồ này mang lại ấn tượng rằng Trung Quốc yêu sách hầu như toàn bộ Biển Đông là của mình.[1] Cùng lúc đó, Trung Quốc gây áp lực cho các công ty dầu khí quốc tế chấm dứt khai thác dầu và khí đốt trên thềm lục địa Việt Nam. Trong 2 năm 2009 và 2010, Trung Quốc đã tấn công một số lượng lớn tàu cá Việt Nam ở những khu vực đang tranh chấp, tịch thu hải sản đánh bắt được và bắt giam ngư dân. Trong buổi gặp với hai đại diện của Mỹ vào tháng 3/2010, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc[2] đã tuyên bố rằng Biển Đông là một trong những “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc (hexin liyi) – cùng với Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương. Từ tháng 4 – 10/2010, Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân  (PLAN) đã tiến hành 3 cuộc tập trận ở Biển Đông với sự tham gia của các tàu chiến từ các Hạm đội Đông Hải và Bắc Hải. Ấn tượng rằng Trung Quốc đang áp dụng một chiến lược hung hăng mới được khẳng định bởi các động thái ở những nơi khác, đáng lưu ý là sự leo thang nhanh chóng trong xung đột của Trung Quốc và Nhật Bản vào tháng 9/2010 xung quanh việc Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng tàu đánh cá của Trung Quốc gần khu vực đảo Điếu Ngư/Senkaku đang tranh chấp giữa hai nước ở phía Đông Đài Loan.

Một số học giả tham gia hội thảo tháng 11/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh mà diễn ra cùng lúc với Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Seoul, Hàn Quốc đã đưa ra các cách giải thích rõ nét hơn về các sự kiện nêu trên. Các học giả Trung Quốc xem các hành động của Trung Quốc như là phản ứng trước các hành động khiêu khích của các quốc gia khác và không cho rằng các phản ứng này được phối hợp trước. Thay vào đó, họ tin rằng các nhà hoạch định chính sách khác nhau đơn giản áp dụng các chính sách đã được định trước. Tàu hải quân Mỹ Impeccable thực hiện các hoạt động bên trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Trung Quốc mà từ lâu nay Trung Quốc cho rằng vi phạm các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Hoạt động khảo sát khoa học là vi phạm luật biển nếu các hoạt động này được thực hiện vì mục đích thương mại bên trong vùng EEZ của một quốc gia khác mà không được sự cho phép của quốc gia đó. Trung Quốc đã lập luận rằng nguyên tắc này được áp dụng cho cả các khảo sát thủy văn học hải quân và do thám hàng không. Đó là lý do vì sao mà Trung Quốc dùng các biện pháp cứng rắn vào đầu năm 2001 để ngăn chặn các hoạt động tình báo của Mỹ cả trên biển và trên không gần đảo Hải Nam.

Vì vậy, theo quan điểm của Trung Quốc, các hành động đối với tàu hải quân Mỹ Impeccable không phản ánh một sự thay đổi trong chính sách. Khi Trung Quốc đệ trình phản đối lên CLCS vào tháng 5/2009, Trung Quốc thực sự đã thực hiện hai bước đi theo hướng làm cho các yêu sách chủ quyền của mình phù hợp với luật quốc tế. Bằng việc đính kèm bản đồ đường chín đoạn, Trung Quốc đã biến tấm bản đồ này thành một tài liệu chính thức, do đó tạo điều kiện cho các chuyên gia luật pháp xem xét. Trong công hàm phản đối của mình, Trung Quốc cũng tuyên bố rằng Trung Quốc yêu sách các đảo trong đường chín đoạn, cùng với các vùng biển “kế cận” hay “liên quan” của các đảo đó. Mặc dù đây không phải là các thuật ngữ được sử dụng trong UNCLOS, ý nghĩa của các thuật ngữ này chỉ ra rằng Trung Quốc sẽ phải xác định các yêu sách của mình đối với các vùng biển dựa trên khoảng cách đến các đảo của Trung Quốc. Đây thực ra là một sự thay đổi tiến đến một chính sách ít bành trướng hơn. Phát biểu “lợi ích cốt lõi” được cho là thiếu sáng suốt được đưa ra trong một cuộc họp kín giữa các đại diện của Trung Quốc và Mỹ và sau đó bị tiết lộ cho báo chí Nhật Bản và Mỹ. Phát biểu này diễn ra trong bối cảnh trước đó có một tuyên bố chung vào tháng 11/2009 nhân chuyến thăm của Tổng thống Obama đến Bắc Kinh, trong đó hai bên nhất trí “tôn trọng lợi ích cốt lõi của nhau”.[3] Trung Quốc đã thực hiện sáng kiến xác định “lợi ích cốt lõi và các quan ngại chính” của mỗi bên trong các cuộc hội đàm song phương với một vài nước. Mỹ đã do dự khi xác định “lợi ích cốt lõi” của mình và có vẻ sẵn sàng hơn trong việc xác định lợi ích chung hay lợi ích sẻ chia. Mặc dù chúng ta phải cho rằng phát biểu về “lợi ích cốt lõi” ở Biển Đông vào tháng 3/2010 đã được làm rõ trước đó ở cấp cao nhất, không có vẻ như đây là một tuyên bố công khai. Ý nghĩa thực sự của tuyên bố này cũng không rõ ràng, bởi vì có rất nhiều khu vực của Biển Đông không hề nằm trong đường chín đoạn trên bản đồ được đính kèm vào công hàm phản đối gửi lên CLSC vào tháng 5/2009. Chưa hề có một tuyên bố chính thức nào từ phía Trung Quốc được ghi chép lại rằng Biển Đông đã được nâng lên thành “lợi ích cốt lõi’.[4]

Đối mặt với rất nhiều phản ứng tiêu cực từ tuyên bố trên, Trung Quốc đã rút lui.[5] Gần đây hơn, Trung Quốc đã mềm mỏng hơn trong cách tiếp cận với Việt Nam. Một nhà nghiên cứu từ Học viện Ngoại giao Việt Nam tại hội thảo tháng 11/2010 đã cho biết rằng trong những tháng gần đây, không hề có báo cáo nào về việc Trung Quốc cản trở ngư dân Việt Nam và không có dấu hiệu cho thấy áp lực đối với các công ty dầu khí. Điều còn lại trong chiến lược cứng rắn mới của Trung Quốc đó là các cuộc tập trận hải quân. Trung Quốc giải thích các hoạt động đó hoặc là “bình thường” hoặc là các phản ứng đối với các cuộc tập trận mà Mỹ và các đồng minh tiến hành. Tóm lại, dường như Trung Quốc không hề có một chiến lược mới, mà có vẻ như nhiều động thái thiếu sáng suốt, không nhịp nhàng và đôi khi là ngạo mạn đã hủy hoại vị trí của Trung Quốc ở khu vực.

Các nhà phân tích Trung Quốc có xu hướng nghĩ rằng Mỹ đang thay đổi chiến lược của mình. Cho đến gần đây, Washington vẫn luôn nhấn mạnh rằng các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông không phải là mối bận tâm của Mỹ, tuy nhiên tại hội nghị cấp cao Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tháng 7/2010 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đột nhiên đề nghị hỗ trợ tiến trình giải quyết xung đột. Bước đi này rõ ràng đã được phối hợp từ trước với một số chính phủ các nước Đông Nam Á, nhưng chắc chắn không phải với Trung Quốc. Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates cũng đã có một loạt các tuyên bố vào năm 2010 dường như thể hiện một chiến lược mới kiên quyết hơn ở Biển Đông. Điều này xảy ra cùng lúc với sự gia tăng hiện diện hải quân của Mỹ - những lần cập cảng và các cuộc tập trận hải quân được tiến hành, mặc dù hầu hết ở khu vực xa hơn về phía Đông. Trung Quốc cho rằng điều này có liên hệ với một tuyên bố của Mỹ rằng Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật do đó sẽ bao hàm cả những vùng lãnh thổ đang tranh chấp như quần đảo Điếu Ngư/Senkaku.

Một lần nữa, đây là một quan niệm sai lầm. Chiến lược của Mỹ ở khu vực là nhất quán. Nhắc đến các tuyên bố của Mỹ năm 1995, khi mà Phi-lip-pin phát hiện Trung Quốc đang chiếm đóng đảo Vành Khăn nằm trên thềm lục địa của Phi-lip-pin, những phát biểu được đưa ra năm 2010 cũng tương tự như thế.[6] Mỹ có lợi ích quốc gia vô cùng quan trọng mà Mỹ luôn coi trọng: tự do hàng hải không bị cản trở. Mỹ không chấp nhận bất kỳ sự phân biệt nào giữa hàng hải thương mại và quân sự, và không chấp nhận hay tôn trọng luật quốc gia nào mà yêu cầu các tàu hải quân phải xin phép trước nếu các tàu này muốn sử dụng quyền qua lại vô hại qua lãnh hải của một quốc gia (trong 12 hải lý). Hơn nữa, trong vùng biển chung ngoài vùng lãnh hải, Mỹ kiên quyết đòi quyền thực hiện các hoạt động hải quân, tập trận, khảo sát tình báo và các hoạt động khác.

Cần phải nhấn mạnh rằng khái niệm “vùng biển chung” theo cách nói của Mỹ bao gồm cả vùng EEZ của các quốc gia khác. Với bất kỳ mục đích nào ngoài mục đích khai thác kinh tế các nguồn tài nguyên, các quốc gia ven biển không có đặc quyền trong vùng EEZ của mình. Đó là lý do vì sao Mỹ kiên quyết thực hiện các quyền của mình trong các vụ việc liên quan đến sự cố máy bay do thám năm 2001 và các hoạt động khảo sát thủy văn biển của tàu khảo sát hải quân Mỹ Bowditch gần đảo Hải Nam cùng năm đó. Đối với Mỹ, những hoạt động khảo sát này đã trở nên quan trọng hơn bởi sự hiện đại hóa hải quân của Trung Quốc. Hải quân Mỹ muốn theo đuổi từng đường đi nước bước của các tàu ngầm Trung Quốc (một số là hạt nhân) – đang hoạt động từ căn cứ Yulin ở Hải Nam. Nhiệm vụ của Impeccable năm 2009 không khác gì nhiệm vụ của Bowditch năm 2001 và không phải là tín hiệu cho một chiến lược mới của Mỹ.

Mỹ cũng đã tuyên bố một cách nhất quán lợi ích của mình trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông. Trước đây, Mỹ cũng đã đề nghị được làm hòa giải nếu các bên yêu cầu. Tuy nhiên, có vẻ như có một nhân tố mới trong những tuyên bố gần đây của Mỹ. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tuyên bố vào tháng 7/2010:

“Theo luật tập quán quốc tế, các yêu sách hợp pháp đối với các khu vực biển ở Biển Đông chỉ nên xuất phát từ các yêu sách hợp pháp đối với các điểm đất liền.â€
Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #123 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2011, 08:56:35 pm »

Trong khi đây là một phát biểu đúng đắn, Trung Quốc không phải là quốc gia duy nhất cho rằng thật là nghịch lý rằng một quốc gia không phải là thành viên của Công ước Luật Biển lại đang thuyết giáo các quốc gia thành viên của Công ước đó về luật tập quán quốc tế trong lĩnh vực này. Trong số các quốc gia xung quanh Biển Đông, chỉ có Cam-pu-chia và Thái Lan chưa phê chuẩn Công ước. Việc ký kết văn kiện này năm 1982 không phải là một thắng lợi đối với các cường quốc hải quân. Mặc dù khẳng định nguyên tắc tự do hàng hải, văn kiện này trên hết phản ánh lợi ích của các quốc gia ven biển và quần đảo - những nước mà đã đạt được một sự gia tăng đáng kể quyền chủ quyền đối với các khu vực biển rộng lớn. Trung Quốc, Indonesia và Phi-lip-pin là những quốc gia ủng hộ rất nhiệt tình cho Công ước này. Mỹ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình đàm phán và tuyên bố rằng Mỹ hài lòng với kết quả đạt được (mặc dù Mỹ có phản đối chương về đáy biển quốc tế với mục đích thành lập một Cơ quan Quyền lực Đáy biển Quốc tế). Tuy nhiên, Mỹ vẫn chưa thông qua Công ước này.

Điều mà chúng ta chứng kiến trong thời gian gần đây không phải là việc thực thi các chiến lược mới của Trung Quốc và Mỹ mà là sự xung đột giữa các lập trường đã có từ lâu. Đáng lưu ý là các quốc gia Đông Nam Á, ngoại trừ Cam-pu-chia, Thái Lan, Lào và My-an-ma đã phá vỡ xu hướng xích lại sự hấp dẫn về kinh tế của Trung Quốc và đã bắt tay với Mỹ trên lĩnh vực an ninh.

Một số học giả tham gia hội thảo thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện quan ngại rằng các cường quốc địa chính trị có thể bỏ qua các nỗ lực quản lý xung đột cục bộ và các nỗ lực khu vực để chống lại các mối đe dọa quan trọng nhất ở Biển Đông, ví dụ như sự phá hủy môi trường biển và sự cạn kiệt của các nguồn hải sản. Hầu hết các học giả đều tỏ ra thất vọng rằng Tuyên bố về Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) từ năm 2002 không được coi trọng hơn nữa. Các học giả này cảm thấy cần thiết phải đàm phán một Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) mới ràng buộc về mặt pháp lý với các điều khoản cụ thể hơn, như là cấm tăng cường hơn nữa các công trình mà Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan , Ma-lai-xia và Phi-lip-pin đang tiếp tục xây dựng trên các đảo đá và đảo nhỏ mà các nước này chiếm đóng ở Trường Sa.[8] Cần nhấn mạnh rằng bi kịch thực sự của các công trình này không phải là công trình đó biểu trưng cho mối đe dọa về quân sự. Các đảo nhỏ ở Trường Sa không thể cầm cự được trước một kẻ tấn công đầy quyết tâm và luôn luôn có giá trị chiến lược không đáng kể. Bi kịch thực sự đó là các công trình xây dựng, đường sá và giao thông du lịch và quân sự ở khu vực đang phá hủy môi trường sống của các loài trên đá san hô. Trước đây, các đảo này là nơi sinh sản cho rùa biển; hiện tại, các đảo này vẫn hỗ trợ sinh sản cho vô số các loài chim và cá.

Mặc dù sẻ chia sự thất vọng đó, tôi thuộc về số ít học giả lạc quan khá thận trọng tại hội thảo. Thiểu số này cho rằng sự khủng hoảng hiện thời có thể sẽ khiến Trung Quốc nhận ra rằng chính sách được kế thừa của Trung Quốc đang đi ngược lại với lợi ích của chính họ. Nếu Trung Quốc thay đổi chính sách của mình để phù hợp hơn với luật quốc tế, Trung Quốc có thể nhận được sự ủng hộ của các quốc gia khác trong nỗ lực loại bỏ một số hoạt động không quân và hải quân của Mỹ. Ngày nay, các tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, đảo nhỏ và các khu vực biển đang được kết hợp với vấn đề tiếp cận của hải quân Mỹ đối với các khu vực ven biển của Trung Quốc. Trung Quốc muốn tách hai vấn đề này nhằm ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ đối với các tranh chấp chủ quyền. Tuy nhiên, để tách riêng hai vấn đề này, Bắc Kinh phải hiểu rằng sức mạnh hải quân ngày càng phát triển không tự động gia tăng vị thế chính trị trong khu vực. Điều đó có thể chỉ dẫn đến hành vi đối trọng. Nếu các quốc gia láng giềng chấp nhận sự lớn mạnh của khả năng hải quân của Trung Quốc mà không cần phải đối trọng, các quốc gia này cần phải được thuyết phục rằng Trung Quốc sẽ hoạt động phù hợp với luật quốc tế. Và nếu Bắc Kinh nhìn nhận Biển Đông thông qua lăng kính pháp lý, Trung Quốc sẽ nhận ra rằng không phải chỉ có một tranh chấp về Biển Đông, mà ít nhất có 3 tranh chấp khác nhau. Mỗi một tranh chấp có thể được tiếp cận riêng biệt.

 

TỰ DO HÀNG HẢI (VÀ VẤN ĐỀ DO THÁM)

Tranh chấp đầu tiên liên quan đến tự do hoạt động quân sự trên biển và trên không trong vùng lãnh hải (12 hải lý) và EEZ (200 hải lý) của các quốc gia ven biển. Khi các đại diện của Mỹ nói về điều này, họ thường hay nói là  “tự do hàng hải”, nhưng Mỹ đang nghĩ đến nhiều hơn chỉ đơn thuần là “hàng hải.” Mỹ sẵn sàng ngăn chặn bất kỳ phát triển pháp lý nào cản trở Mỹ tiến hành các hoạt động quân sự và thu thập tình báo ở các vùng kinh tế biển của các quốc gia khác.

Về vấn đề liệu Mỹ có hay không quyền tiến hành các hoạt động khảo sát thủy văn biển trong vùng EEZ của Trung Quốc mà chưa có sự cho phép của quốc gia này, cách giải thích luật biển của Mỹ còn thiếu chặt chẽ. Trung Quốc do đó đã có thể nhận được sự ủng hộ đáng kể trong khu vực đối với lập trường của mình. Nhưng sự ủng hộ đó đã không được đưa ra bởi vì các nước láng giềng của Trung Quốc lo sợ rằng Trung Quốc sẽ sử dụng hải quân của mình để tăng cường các yêu sách về lãnh thổ của mình.

Trung Quốc, Việt Nam và Phi-lip-pin đều yêu cầu phải xin phép trước đối với quyền qua lại của tàu chiến qua vùng lãnh hải của các quốc gia này.[9] Trong vùng EEZ (12 đến 200 hải lý), các tàu chiến được hưởng quyền tự do hàng hải đầy đủ bởi quyền tài phán của quốc gia ven biển chỉ liên quan đến các nguồn tài nguyên ở khu vực này. Tuy nhiên, vẫn có các quốc gia như Brazil và Ma-lai-xia có quy định rằng các hoạt động hay tập trận quân sự không được phép thực hiện trong vùng EEZ của các quốc gia này.[10] Trong phần của UNCLOS điều chỉnh các hoạt động thương mại được tiến hành trong vùng EEZ của một quốc gia khác, điều 246 (2) quy định:

 “Nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phải được tiến hành với sự đồng ý của quốc gia ven biển.”

Mặt khác, điều 204 (a) quy định:

“Nghiên cứu khoa học biển sẽ chỉ được tiến hành cho các mục đích hòa bình.”

Do đó, có một nghịch lý rằng các hoạt động khảo sát thủy văn biển được Bowditch tiến hành năm 2001 và Impeecable năm 2010 sẽ vi phạm UNCLOS nếu chúng được tiến hành vì mục đích khoa học hay thương mại, nhưng không vi phạm luật tập quán quốc tế (do thực tiễn các quốc gia xác định) khi được thực hiện chỉ cho mục đích quân sự thuần túy. Có một nguy cơ rõ ràng rằng Trung Quốc sẽ hủy bỏ cách giải thích luật quốc tế hiện thời và đi theo quan điểm của Mỹ rằng, khi một hải quân lớn mạnh về số lượng và đủ mạnh thì có thể di chuyển ra xa khỏi bờ biển của mình.
 

PHÂN ĐỊNH BIỂN

Tranh chấp thứ hai liên quan đến sự phân định ranh giới biển. Trung Quốc vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ của mình trong UNCLOS về việc công khai chính xác yêu sách về ranh giới ngoài của các vùng EEZ và thềm lục địa của Trung Quốc. Những yêu sách của Trung Quốc mơ hồ và đa dạng đến mức đã kích động sự phản đối từ các quốc gia yêu sách khác. Có lẽ, thông điệp rõ ràng nhất từ hầu như mọi học giả tham gia cả hai hội thảo ở Việt Nam (ngoại trừ Trung Quốc và Đài Loan) là mong muốn PRC và ROC làm rõ các yêu sách của mình.

Rất nhiều học giả Trung Quốc và Đài Loan tin rằng họ có thể yêu sách hầu như toàn bộ Biển Đông nằm trong đường “chín đoạn” hay “chữ U” như là “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc hoặc như vùng EEZ và thềm lục địa của Trường Sa và các nhóm đảo khác. Tuy nhiên, không có cách nào mà nguyên tắc “vùng nước lịch sử” hay phép tính vùng EEZ hay thềm lục địa từ các đảo này có thể đưa đến kết quả đó. Nếu Trung Quốc đạt được các quyền chủ quyền đối với toàn bộ khu vực được đường đứt đoạn bao quanh, Trung Quốc cần phải phá vỡ hay sửa lại hoàn toàn luật quốc tế, và điều này cần phải được sự chấp nhận của các quốc gia khác.

Từ tháng 5/2009, khi Trung Quốc đính kèm bản đồ có in hình đường đứt đoạn vào công hàm gửi CLCS phản đối Báo cáo chung giữa Việt Nam và Ma-lai-xia về ranh giới thềm lục địa, vai trò pháp lý của tấm bản đồ này đã được một học giả danh tiếng về luật biển người châu Âu – Erik Franckx, thuộc Đại học Vrije Brussel, Bỉ nghiên cứu kỹ lưỡng. Ông là thành viên của Tòa Trọng tài Thường trực và là Chủ tịch của Ban Luật Quốc tế và Châu Âu. Ông đã trình bày những nghiên cứu của mình tại hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh, cùng với trợ lý nghiên cứu của ông là Marco Benatar. Bài báo pháp lý được mong đợi, phát triển dựa trên bài trình bày của hai học giả này tại Hội thảo có khả năng sẽ kết luận rằng tầm bản đồ có in hình đứt đoạn thiếu cơ sở vững chắc. Do đó, tấm bản đồ này sẽ mang lại phiền toái nếu tiếp tục được duy trì là một phần trong chính sách chính thức của PRC và ROC.[11]

Bản đồ có in hình đường đứt đoạn được PRC thừa kế từ thời Trung Hoa Dân Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) của Tưởng Giới Thạch và xuất hiện trên một số bản đồ do Trung Quốc xuất bản. Bản đồ này là một phần của tinh thần dân tộc, do đó không thể dễ dàng bị xóa bỏ. Tuy nhiên, nó có thể được giải thích lại hoặc gác lại một cách lặng lẽ trong khi Trung Quốc công bố chính xác các yêu sách về EEZ và thềm lục địa. Điều này có thể xảy ra, dù hơi chậm, nếu các chính phủ ở Bắc Kinh và Đài Bắc có đủ ý chí để ban hành các chính sách cần thiết mới bất chấp những tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc.

Những tuyên bố gần đây từ Đài Bắc, chính phủ đang chiếm đóng đảo lớn nhất ở Trường Sa, Ba Bình đã không còn quá coi trọng lập luận “vùng nước lịch sử”. Lập luận này đã chi phối suy nghĩ của Đài Bắc trước đây. Thay vào đó, các chuyên gia pháp lý của Đài Loan bây giờ có xu hướng coi vùng biển trong nằm bên trong đường lưỡi bò là “vùng nước bao quanh” của một số điểm đất liền mà ROC có chủ quyền.

Như đã đề cập, phản đối của PRC lên CLCS cũng nhắc đến các đảo và “các vùng biển kế cận”. Cách thức đúng đắn để yêu sách chủ quyền đối với các điểm đất liền đó là đặt tên và định vị chính xác từng điểm cũng như giải thích các điểm này đã được phát hiện, quản lý và sử dụng như thế nào. Điều này không thể chỉ đơn giản được thực hiện bằng việc vẽ một đường bao quanh một khu vực trên một bản đồ. Đối với Trung Quốc, việc chuyển sang yêu sách sở hữu đối với các tài nguyên biển từ yêu sách chủ quyền đối với các vùng đất chắc chắn là một bước đi đúng hướng. Tuy nhiên, vấn đề đối với Trung Quốc không chỉ là các yêu sách chủ quyền đối với Trường Sa, Hoàng Sa và Bãi cạn Scarborough đang bị tranh chấp; một số đảo nhỏ có kích thước quá nhỏ để có thể có vùng EEZ hay thềm lục địa; một số đảo khác cũng có kích thước quá nhỏ để có thể có nhiều hiệu lực trong phân định vùng EEZ của quốc gia (ngoại trừ bên ngoài 200 hải lý từ bờ biển, còn được gọi là vùng “bánh donut”* ở giữa Biển Đông).

Không vùng EEZ nào có thể rộng hơn 200 hải lý tính từ bờ biển, nhưng thềm lục địa có thể mở rộng ra ngoài giới hạn đó. Báo cáo chung giữa Việt Nam và Ma-lai-xia tháng 5/2009 về ranh giới thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý thể hiện một bước đi quan trọng tiến tới việc áp dụng luật biển bởi báo cáo này đã hoàn toàn bỏ qua các đảo nhỏ ở Trường Sa, rất nhiều trong đó đang bị Ma-lai-xia và Việt Nam chiếm đóng. Báo cáo này chỉ tính khoảng cách thuần túy từ bờ biển và các đảo gần bờ của Ma-lai-xia, Việt Nam, Brunei và Phi-lip-pin.

Dù sao đi nữa, xét việc phân định ở các nơi khác – ví dụ như gần đây nhất ở Hắc Hải giữa Ru-ma-nia và Ucraina – rõ ràng phương pháp thích hợp để phân định như sau: trước tiên, mô tả các yêu sách về thềm lục địa và EEZ dựa trên khoảng cách từ bờ biển chính; thứ hai, xác định đường trung tuyến giữa hai bờ biển đối diện (hay đường cách đều giữa các bờ biển liền kề); và chỉ khi đó mới xem xét liệu các đảo nhỏ có thể có hiệu lực trong phân định hay không.

Các chuyên gia pháp lý Việt Nam đã hoàn toàn hiểu được vấn đề này. Điều này được minh chứng trong bài thuyết trình chi tiết tại hội thảo thành phố Hồ Chí Minh của bà Nguyễn Thị Lan Anh từ Học viện Ngoại giao Việt Nam. Bà đã chứng minh rằng việc phân định biển ở Biển Đông sẽ vô cùng khó khăn nếu bất kỳ điểm đảo nào ở Trường Sa được phép có hiệu lực trong việc phân định EEZ hay thềm lục địa.[12]
(còn tiếp)
Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #124 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2011, 08:59:47 pm »

Phần 2

Trong phần này, GS. Tonnesson phân tích những yếu tố cản trở vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông, đặc biệt là đường 9 đoạn của Trung Quốc. Theo GS. Stein, Trung Quốc nên gác lại tấm bản đồ này hoặc nếu không sẽ càng khiến cho Trung Quốc phải trả giá đắt hơn.

CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI CÁC ĐẢO NHỎ

Như phân tích ở trên, rõ ràng vấn đề chủ quyền đối với các đảo, đá san hô siêu nhỏ và các đảo nhỏ có lẽ nên được tách ra khỏi tranh chấp về phân định biển. Điều này có thể được giải quyết một cách đơn giản nếu các quốc gia nhất trí rằng các loại đảo đó chỉ có vùng lãnh hải 12 hải lý. Nếu vấn đề này được giải quyết, vấn đề giải quyết xung đột sẽ được đơn giản hóa đi đáng kể.

Tuy nhiên, chúng ta phải phân biệt giữa các nhóm đảo khác nhau. Đơn giản nhất là Bãi cạn Scarborough, một bãi đá nằm ở phía Tây Luzon, là tranh chấp giữa Phi-lip-pin, ROC và PRC. Bãi này rõ ràng nằm trên mực nước lúc thủy triều lên, do đó bãi này đáp ứng tiêu chuẩn trở thành đảo theo điều 121(1) của UNCLOS. Do vậy, bãi này có quyền có vùng lãnh hải 12 hải lý. Tuy nhiên, bãi này không thích hợp cho con người đến sinh sống hay có đời sống kinh tế riêng, do vậy, không đáp ứng điều kiện được nêu trong điều 121(3) UNCLOS để có thể có vùng EEZ hay thềm lục địa của riêng. Do đó, bãi này cũng sẽ không ảnh hưởng đến quá trình phân định biển ngoài việc tạo ra một vùng riêng của Trung Quốc trong vùng EEZ của Phi-lip-pin hay một đảo đá trong vùng EEZ của Phi-lip-pin.

Cũng có thể xem bãi cạn Scarborough như là một vùng riêng biệt trong tranh chấp chủ quyền. Nếu như vậy, bãi này sẽ không cản trở đàm phán phân định ranh giới biển giữa Phi-lip-pin và Trung Quốc/Đài Loan. Chúng ta có thể nói thêm là một giải pháp tương tự cũng đã được để xuất cho vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku ở Biển Hoa Đông.[1] Ở đây, Trung Quốc sẽ là người “có lợi”  từ giải pháp đó và Nhật Bản sẽ cần phải chấp nhận rằng Senkaku không tạo ra cơ sở để mở rộng thềm lục địa hay EEZ của Nhật Bản.

Hơn nữa, Trung Quốc đã phản đối nỗ lực của Nhật Bản trong việc sử dụng đảo nhỏ Okinotorishima làm cơ sở cho yêu sách vùng thềm lục địa và EEZ rộng lớn. Dường như một lập luận pháp lý khá thuyết phục đó là đảo này, đảo nổi lên hầu như chưa đến bề mặt biển, không thể có vùng biển rộng hơn vùng lãnh hải 12 hải lý. Trước thềm hội nghị tất cả thành viên UNCLOS năm 2009, Trung Quốc đã nỗ lực đưa vấn đề của điều 121(3) vào chương trình nghị sự. Thật không may là nỗ lực này không thành.[2] Lập trường của Trung Quốc đối với Nhật Bản sẽ chắc chắn được củng cố hơn nếu Trung Quốc áp dụng cách lập luận đối với Biển Hoa Đông cho Biển Đông.

Tuy nhiên, tranh chấp về chủ quyền đối với Hoàng Sa giữa Việt Nam – Trung Quốc có khả năng phải được giải quyết theo hướng có lợi Trung Quốc. Hơn nữa, Hoàng Sa có lẽ phải được trao ít nhất là hiệu lực một phần trong việc phân định thềm lục địa và EEZ của Trung Quốc ở giữa Biển Đông. Một số đảo ở Hoàng Sa có kích thước lớn hơn đáng kể so với các đảo ở Trường Sa, do đó, có thể lập luận rằng các đảo đó có hoặc thích hợp cho con người sinh sống, hoặc là có đời sống kinh tế riêng. Yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với phần phía Đông của Hoàng Sa (Nhóm An Vĩnh), bao gồm cả đảo Phú Lâm có thể dựa trên sự chiếm đóng hầu như là liên tục từ năm 1946 (ngoại trừ giai đoạn 1950-56), và dựa trên yêu sách đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa được triều đại Trung Hoa đưa ra năm 1909.[3]

Yêu sách của Trung Quốc đối với phía Tây của Hoàng Sa (Nhóm Lưỡi liềm) yếu hơn. Các đảo chính ở trong nhóm này (nổi bật là Pattle) do người Pháp chiếm đóng đầu tiên, sau đó là Nam Việt Nam từ 1947 – 1974, và sau đó bị quân đội Trung Quốc chiếm đoạt. Tuy nhiên, thực tế mà nói, Việt Nam có lẽ cũng sẽ phải cho phép đảo Phú Lâm (2,1 km2) được có hiệu lực trong việc tính chiều rộng của EEZ và thềm lục địa của Trung Quốc.[4]

Trường Sa, nơi Đài Loan chiếm đóng đảo lớn nhất, Ba Bình (0,43 km2) là trường hợp nan giải nhất. Các đảo khác ở Trường Sa do Việt Nam, Phi-lip-pin và Ma-lai-xia chiếm đóng; Trung Quốc đang chiếm một số lượng nhất định các đảo đá ngầm nằm dưới mực nước thủy triều. Tại hội thảo đầu tiên vào tháng 11/2009, học giả Đài Loan Song Yann-huei đã thảo luận khả năng 4 đảo cụ thể ở Trường Sa (và Phú Lâm ở Hoàng Sa) thích hợp cho con người sinh sống hoặc có đời sống kinh tế riêng. Các đảo đó là: Ba Bình do Đài Loan chiếm đóng, Trường Sa do Việt Nam chiếm đóng, Thị Tứ do Phillipnes chiếm đóng và Swallow Reef do Phi-lip-pin chiếm đóng. Ông kết luận rằng cả 4 đảo đó đều có thể có đời sống kinh tế riêng và do đó có thể có vùng EEZ và thềm lục địa xung quanh.[5]

Tuy nhiên, trước đây, Song không hề tranh luận rằng các đảo đó thích hợp cho con người sinh sống hay có một đời sống kinh tế riêng. Thay vào đó, ông lập luận dựa trên thực tiễn rằng trong những năm gần đây, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và Ma-lai-xia đã đầu tư lớn vào các hoạt động mang lại thu nhập như du lịch, và đã xây các đường sân bay cho máy bay. Đối với điểm này chúng ta có thể phản đối rằng nếu các quốc gia được phép chứng minh khả năng có đời sống kinh tế riêng bằng việc hỗ trợ cho việc xây dựng các cơ sở phục vụ du lịch, thì rất khó có thể tưởng tượng bất kỳ đá hay đảo nào lại không có khả năng có đời sống kinh tế riêng.

Nếu tất cả các bên yêu sách đều có thể nhất trí rằng không có đảo nào ở Trường Sa có thể có vùng biển rộng hơn vùng lãnh hải 12 hải lý, việc phân định biển sẽ được xúc tiến dễ dàng hơn nhiều. Các quốc gia có thể chỉ cần bỏ qua đảo đang tranh chấp đó mà không cần giải quyết ai là người có chủ quyền đối với đảo đó. Khi đệ trình báo cáo thềm lục địa lên CLCS, Việt Nam và Ma-lai-xia đã ngầm định nhất trí rằng Trường Sa sẽ không có vùng EEZ hay thềm lục địa xung quanh.

Ngoài các đảo và đá được đề cập ở trên, còn tồn tại vấn đề dải Macclesfield. Dải này nằm ở giữa Biển Đông, giữa Hoàng Sa và Luzon. Mặc dù bao trùm lên một khu vực tương đối rộng lớn, dải Macclesfield không ở trên mặt nước lúc thủy triều lên. Do đó, dải này không đáp ứng tiêu chuẩn đảo theo điều 121(1) UNCLOS, và do đó được cho là một phần của đáy biển. Nếu Hoàng Sa cuối cùng thuộc chủ quyền của Trung Quốc, nhưng không có quyền có vùng EEZ và thềm lục địa riêng, thì vùng biển ở trên và xung quanh dải Macclesfield sẽ thuộc khu vực “bánh donut” của biển cả. Nếu một hay nhiều đảo ở Hoàng Sa có quyền được sử dụng như là các điểm cơ sở để tính chiều rộng các vùng biển của Trung Quốc thì dải Macclesfield có thể trở thành một phần của vùng EEZ 200 hải lý và thềm lục địa của Trung Quốc.

Một số người có thể cho rằng suy nghĩ nêu trên là ngây ngô, do suy nghĩ đó tập trung vào luật quốc tế và tin tưởng rằng 3 loại tranh chấp có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau có thể được giải quyết riêng biệt. Trong thế giới thực của nền chính trị quốc tế, các xung đột có mối quan hệ với nhau thường gây phức tạp và tác động lẫn nhau. Hơn nữa, thông thường các cường quốc có thể tuỳ ý bẻ cong luật pháp. Trong khi việc Trung Quốc có thể tiếp tục không tuân thủ luật biển và duy trì yêu sách mập mờ của mình đối với toàn bộ Biển Đông mà đường đứt đoạn bao quanh là có thực, không có vẻ như là Trung Quốc có thể thuyết phục các quốc gia khác trong khu vực chấp nhận các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Được trang bị đầy đủ kiến thức về các quyền của mình, các quốc gia khác sẽ tiếp tục kiếm tìm sự ủng hộ từ bên ngoài để đảm bảo cho an ninh của họ nếu Trung Quốc không tuân thủ luật quốc tế. Việc không tuân theo luật pháp sẽ phải trả giá và đường đứt đoạn đang ngày càng khiến Trung Quốc phải trả giá đắt hơn.

Có một số lý do vì sao chính phủ Trung Quốc nên xem xét thay đổi chính sách của mình và làm rõ các yêu sách đối với các vùng biển. Một lý do đó là điều này sẽ tăng cường các lập trường của Trung Quốc trong các tranh chấp pháp lý với Nhật Bản. Lý do khác đó là điều này sẽ giảm thiểu nhu cầu của các nước Đông Nam Á đối với sự hiện diện của hải quân Mỹ; do đó, Trung Quốc có thể có thêm không gian để tiếp tục xây dựng hải quân của mình. Trung Quốc cũng có thể tiếp tục thu lợi về mặt ngoại giao đối với sức mạnh kinh tế ngày càng tăng của mình và phát triển ảnh hưởng hơn nữa trong khuôn khổ Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc – ASEAN vừa mới được thành lập gần đây.

Tại sao Trung Quốc lại không thấy rõ sự cần thiết phải có đường ranh giới biển rõ ràng như nhận thức của nước này đối với đất liền? Giáo sư M. Taylor Fravel từ Học viện Công nghệ Massachusetts đã phân tích cách thức mà Trung Quốc đã đàm phán không ít hơn 17 hiệp ước về biên giới từ khi thành lập năm 1949 đến nay. Trung Quốc đã phân định và cắm mốc đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng, ngoại trừ Ấn Độ và Butan. Trung Quốc đã có những nhượng bộ đáng kể trong đàm phán và theo như Fravel, được cho là hào phóng nhất khi đàm phán trên thế mạnh.[6] Tổ chức Hợp tác Thượng Hải được xây dựng dựa trên nguyên tắc cứng rắn là tôn trọng các đường biên giới hiện có. Sau khi Trung Quốc thỏa thuận với Việt Nam về đường biên giới đất liền năm 1999, hai nước cũng đàm phán về phân định thềm lục địa và EEZ ở Vịnh Bắc Bộ, trong một thỏa thuận được hai nước thông qua năm 2004.[7] Đây là thỏa thuận biên giới biển đầu tiên của Trung Quốc. Nhưng không có vẻ như đây là thỏa thuận cuối cùng. Theo học giả người Thụy Điển Ramses Amer, người đã tham gia cả hai hội thảo ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, hai thỏa thuận này là một phần của xu hướng dài hạn của khu vực nhằm tiến đến phân định biển dựa trên cơ sở pháp lý.[8]

Tuy nhiên có một lý do khác giải thích vì sao Trung Quốc có thể thực hiện các lợi ích của mình trong việc thực hiện phân định biển – đó là vấn đề an ninh năng lượng. Từ quan điểm của Trung Quốc, sẽ cực kỳ có lợi nếu càng nhiều dầu và khí đốt được khai thác ở các khu vực lân cận càng tốt. Tuy nhiên, khi các tranh chấp về phân định biển chưa được giải quyết, sẽ rất khó khăn để lôi kéo các công ty đầu tư vào việc thăm dò. Các công ty dầu khí lớn do dự khi hoạt động trong các vùng lãnh thổ có tranh chấp. Việc Trung Quốc gây áp lực lên các tập đoàn quốc tế để tránh không tiến hành các hoạt động trên thềm lục địa của Việt Nam và Phi-lip-pin đã càng làm tăng thêm sự do dự này và do đó phản tác dụng đối với an ninh năng lượng của Trung Quốc.

Điều quan trọng nhất đối với Trung Quốc không phải liệu dầu hay khí đốt được khai thác trên thềm lục địa của mình hay không, mà là liệu có được khai thác hay không. Trung Quốc không cần lợi nhuận mà cái họ cần chính là dầu và khí đốt đó. Hơn nữa, Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) sẽ là một nhà thầu rất được chào đón đối với gói thầu khai thác dầu trên thềm lục địa của Phi-lip-pin, Việt Nam và Ma-lai-xia một khi các đường biên giới biển đã được phân định.

KHAI THÁC CHUNG DẦU KHÍ: RƠI VÀO BẾ TẮC

Từ lâu nay, Trung Quốc đã đề xuất các nước láng giềng rằng tốt nhất nên “gác tranh chấp, cùng khai thác.” Các học giả Trung Quốc đã nhắc lại đề xuất này tại các hội thảo ở Việt Nam nhưng không nhận được nhiều hưởng ứng đối với các vấn đề liên quan đến dầu và khí đốt. Điều thực sự cần phải được gác lại chính là tấm bản đồ có đường chữ U của Tưởng Giới Thạch. Các tranh chấp đối với các đảo Trường Sa cũng có thể nên được gác lại một khi các bên nhất trí được rằng các đảo này chỉ có thể có vùng lãnh hải 12 hải lý. Cùng khai thác dầu và khí đốt không phải là một biện pháp thay thế tốt cho việc phân định ranh giới biển và có lẽ cũng không dễ để thực hiện.

Năm 2005, Trung Quốc đã nỗ lực đạt được thỏa thuận ba bên về thăm dò địa chấn biển chung với Phi-lip-pin và Việt Nam ở những khu vực mà có khả năng cuối cùng sẽ thuộc thềm lục địa của Phi-lip-pin. Tuy nhiên, Trung Quốc đã phải thất vọng khi mà thỏa thuận bị mất hiệu lực năm 2008 do vụ bê bối chính trị ở Ma-ni-la. Lý do rõ ràng nhất đó là không một quốc gia nào muốn khai thác dầu chung với các quốc gia khác trên vùng lãnh thổ mà quốc gia đó cho rằng (dựa trên luật quốc tế) thuộc về mình. Sự tồn tại của bản đồ có in hình đường đứt đoạn không thể làm cho Phi-lip-pin hay Việt Nam chấp nhận rằng các khu vực gần với bờ biển của mình đang bị tranh chấp pháp lý.

Khai thác chung có vẻ như đang rơi vào bế tắc ở Biển Đông một khi liên quan đến dầu và khí đốt. Trước hết, tồn tại rủi ro rằng dầu có thể thực sự được tìm thấy thông qua việc khoan dò theo thỏa thuận khai thác chung. Điều này sẽ ngay lập tức gia tăng rủi ro và có thể làm cho tranh chấp trở nên càng căng thẳng hơn, đặc biệt nếu các bên không thể nhất trí ngay từ đầu rằng khu vực đó đang bị tranh chấp “một cách chính đáng”. Nếu dầu được khai thác, một cơ chế pháp lý phức tạp với những quy tắc rõ ràng về phân chia chi phí, nghĩa vụ và doanh thu sẽ phải được thiết lập.

Cũng thật khó để thỏa thuận phân định ranh giới biển, đặc biệt khi có hơn 2 bên tham gia vào tranh chấp. Giáo sư Gao Jianjun của Đại học Khoa học Chính trị và Luật Trung Quốc ở Bắc Kinh đã nghiên cứu cách thức các quốc gia thành lập các khu vực khai thác chung. Cụ thể, ông đã nghiên cứu các nỗ lực bất thành trong việc thống nhất được một khu vực khai thác chung giữa Trung Quốc – Nhật Bản ở Biển Hoàng Hải. Ông nhận thấy rằng: “… khai thác chung không hề là một thử thách dễ dàng để giải quyết hơn phân định.â
Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #125 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2011, 09:03:21 pm »

Sự phức tạp còn lớn hơn nữa trong việc thiết lập cơ chế khai thác chung trong bối cảnh Biển Đông, với rất nhiều yêu sách chồng lấn, được trình bày rõ ràng trong bài viết do học giả Ji Guoxing ở Thượng Hải trình bày tại hội thảo đầu tiên ở Việt Nam. Ji cho rằng:

“Tôi đề nghị chúng ta nên thống nhất về một khung hoạt động chung cho khai thác chung trên toàn Biển Đông; thể hiện ý chí của các bên liên quan và các nguyên tắc cơ bản được tuân thủ … sau đó chúng ta sẽ có các hình thức khai thác chung khác nhau, bao gồm các cấp hai bên, ba bên, bốn bên hay năm bên phụ thuộc vào các khu vực chồng lấn khác nhau.13] Có lẽ chúng ta sẽ thấy được những dấu hiệu đầu tiên về những thay đổi chính thức sau Đại hội Đảng vào năm 2012. Tuy nhiên vai trò của Đài Loan là một chướng ngại lớn cần phải vượt qua trước khi tạo ra được những thay đổi hiệu quả. Cũng như trong các hội thảo không chính thức ở In-đô-nê-xia, các học giả đến từ Đài Loan và Trung Quốc đại lục cũng tham gia vào hai hội thảo ở Việt Nam. Điều này có ý nghĩa cực kỳ lớn. Các chính phủ tương ứng của ROC và PRC đã đưa ra các yêu sách giống nhau đối với Biển Đông với tư cách là đại diện của “Trung Quốc”. Đài Loan chiếm đóng đảo Đông Sa ở phía Tây Đài Loan và Ba Bình ở Trường Sa. Do đó, PRC và ROC cần phối hợp các chính sách của mình. Dĩ nhiên, điều này không hề dễ dàng.

Việc tin rằng ROC và PRC có thể đồng thời thay đổi các chính sách của mình và có cách thức tiếp cận mới dựa trên một cách hiểu chung về luật biển có vẻ như ngây ngô, nhưng cũng nên lưu ý rằng các mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan không hề chịu tác động của những xung đột địa chính trị gần đây. Những mối quan hệ này đã được cải thiện theo thời gian, với một số những thỏa thuận hợp tác mới.

Nên có nhiều cơ hội cho hợp tác nhiều hơn nữa ở Biển Đông, có lẽ thậm chí thương lượng với các bên yêu sách khác, dựa trên công thức 10 + 1 + 1: ASEAN + Trung Quốc + “Trung Quốc Đài Bắc”. Công thức này được triển khai trong các hội thảo không chính thức hàng năm mà In-đô-nê-xia tổ chức từ năm 1990, và mang lại giá trị tiềm năng to lớn. Trung Quốc không thể tiến đến giải quyết xung đột ở Biển Đông mà không có sự hợp tác của Đài Loan. Các điểm cơ sở dọc bờ biển của Đài Loan phải được sử dụng để tính chiều rộng của các yêu sách thềm lục địa và EEZ của (một nước) Trung Quốc thống nhất. Như đã nêu, Đài Loan chiếm đóng đảo Ba Bình, đảo lớn nhất ở Trường Sa. Nếu Bắc Kinh lặng lẽ gác lại bản đồ đường chín đoạn và theo hướng tiến đến một giải pháp lâu dài về mặt pháp lý mà không có sự ủng hộ của Đài Loan, thì các nhà hoạch định chính sách của PRC sẽ vấp phản sự đấu tranh từ các luồng ý kiến theo chủ nghĩa dân tộc ở Đài Loan, Hồng Kông và các trường đại học và các trang thông tin điện tử. Các chính phủ ở Đài Bắc và Bắc Kinh cần phải thúc đẩy lẫn nhau trong tiến trình giải quyết xung đột ở Biển Đông. Điều này là vì lợi ích quốc gia lâu dài của Trung Quốc.


NGUỒN: Stein Tonnesson

Bản đồ Biển Đông, với tên các địa danh chỉ bằng tiếng Anh để tránh không ủng hộ bên nào trong tranh chấp chủ quyền (hầu như mọi đá và đảo nhỏ ở Biển Đông đều được mỗi quốc gia yêu sách đặt tên gọi khác nhau).

Tấm bản đồ in hình đường chín đoạn này được đính kém vào công hàm ngày 7/5/2009 của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi Ủy ban Liên hợp quốc về Ranh giới ngoài Thềm lục địa, phản đối báo cáo riêng của Việt Nam và Báo cáo chung Việt nam – Ma-lai-xia về tính toán ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý tính từ đường bờ biển của họ. Bằng việc đính kèm bản đồ này vào công hàm, Trung Quốc đã biến tấm bản đồ này thành một tài liệu chính thức của Liên hợp quốc, do đó có thể để mở cho các chuyên gia về luật quốc tế nghiên cứu. 


GS. Stein Tonnesson, Viện Nghiên cứu Hòa bình, Oslo

http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/LA87323/default.html

Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #126 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 07:27:34 am »

Kính thưa các bác, thâm nhập vào diễn đàn sino-defence của TQ tôi càng thấy âm mưu thôn tính toàn bộ biển Đông của TQ là luôn hiện hữu vì đó là chiến lược sống còn giúp TQ có được nguồn dầu mỏ và khí đốt ở biển Đông qua đó phần nào đáp ứng nhu cầu nhiên liệu không ngừng gia tăng của nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng của TQ . Chiến lược thôn tính biển Đông là không thay đổi tuy nhiên chiến thuật có thể thay đổi tùy từng thời điểm và quan hệ giữa TQ và các nước có liên quan đặc biệt với khối ASEAN...nơi mà họ đang áp dụng chính sách tăng cường sự ảnh hưởng của mình thông qua các con bài kinh tế, chính trị, xã hội...Để hiểu rõ hơn âm mưu này, mời các bác cùng đọc bài viết:

Láng giềng lo ngại khi Trung Quốc khu vực ảnh hưởng
Được đăng trên trang http://nghiencuubiendong.vn/tin-quoc-te-tong-hop/1352-lang-gieng-lo-ngai-khi-trung-quoc-tim-kiem-khu-vuc-anh-huong

Sự phát triển về  kinh tế của Trung Quốc đem lại nhiều thuận lợi cho các nước ASEAN, nhưng về khía cạnh an ninh, quốc phòng thì lại là điều ngược lại. Đó là lý do họ tìm đến với Mỹ nhằm cân bằng và tạo thế đối trọng với một Trung Quốc đang ngày càng tham vọng, hung hăng trên rất nhiều vấn đề. Trang mạng World Affairs số ra tháng 3/2011 đăng bài viết “Nervous Neighbors: China Finds a Sphere of Influence” của Richard Weitz, Giám đốc Trung tâm Phân tích Quân sự-Chính trị của Viện Hudson (Mỹ) phân tích về ASEAN trong cuộc cạnh tranh ảnh hưởng Mỹ-Trung.


Theo tác giả, trên tất cả các lĩnh vực, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) có nhiều điểm yếu nên dễ bị tác động trước ảnh hưởng của Trung Quốc khi Bắc Kinh tăng cường thâm nhập khu vực. Do những mục tiêu tham vọng về tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và ổn định khu vực, ASEAN bộc lộ sự yếu kém đến mức tạo cơ hội chứ không gây ra mối đe dọa cho Trung Quốc. ASEAN thiếu điều khoản hợp tác an ninh, lực lượng quân sự chung và thậm chí cả điều khoản đoàn kết chính sách đối ngoại-kiểu cam kết đã từng ngăn cản Liên Xô không đạt được sức mạnh vượt trội so với châu Âu trong Chiến tranh Lạnh.

Việc ASEAN nhấn mạnh đến chủ quyền và không can thiệp công việc nội bộ của các nước thành viên khác đã xoa dịu sự bất bình của Trung Quốc. Trung Quốc khéo léo sử dụng con bài kinh tế để làm sâu sắc mối quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á và biến Trung Quốc thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN. Theo các điều khoản của Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc-ASEAN, 6 nước thành viên cũ cùng với Trung Quốc sẽ xóa bỏ 90% các loại thuế xuất nhập khẩu sản phẩm trong năm 2010, tiếp đó Campuchia, Lào, Mianma và Việt Nam sẽ thực hiện tương tự năm 2015. Bắc Kinh tiếp tục thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác chính trị, quân sự và kinh tế để dẫn đến các hình thức hoạt động chỉ bao gồm các nước châu Á như ASEAN cộng 3 (ASEAN+Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc). Nhưng những năm gần đây, do không thể tiếp tục sử dụng ảnh hưởng của sức mạnh quân sự để thể hiện trong khu vực nên Trung Quốc cũng từ bỏ ý tưởng của nền ngoại giao "hai bên đều thắng" của họ. Mặc dù đẩy mạnh các mối quan hệ kinh tế đôi bên cùng có lợi với nước láng giềng khổng lồ, các nhà lãnh đạo ASEAN cũng khuyến khích Mỹ duy trì sự hiện diện tích cực trong khu vực như một đối trọng với Trung Quốc. Một trong những nguồn gây căng thẳng giữa Bắc Kinh và một số nước láng giềng Thái Bình Dương là các tuyên bố chồng lấn về biển Đông của các nước. Các nước ven biển cạnh tranh với nhau một khu vực biển rộng 3,5 triệu km2 bao gồm các quần đảo, các loại khoáng sản, các nguồn dự trữ khí đốt tự nhiên, dầu lửa và các tuyến đường qua lại trên biển. Trung Quốc và Việt Nam khẳng định chủ quyền tất cả các hòn đảo nhỏ ở biển Đông-khu vực mà Brunây, Malaixia, Philíppin và Đài Loan chỉ tuyên bố chủ quyền một số đảo. Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là hai dãy đảo nổi nhất trong số các hòn đảo mà khu vực tin rằng chứa nhiều tài nguyên thiên nhiên quan trọng, đặc biệt là dầu lửa và khí đốt tự nhiên nằm dưới các vùng nước xung quanh hai quần đảo này. Các quần đảo này cũng được bao bọc bởi các khu vực biển nhiều cá và các tuyến đường vận chuyển biển mà từ đó các nguồn năng lượng quan trọng từ bên ngoài đổ vào các nước khu vực Đông Á.

Trong thập kỷ 1990, Bắc Kinh tuyên bố toàn bộ biển Đông là vùng biển chủ quyền của Trung Quốc và khẳng định sẵn sàng thực hiện các tuyên bố đó khi có khả năng. Nhưng đầu năm 2000, Bắc Kinh thay đổi giọng điệu và theo đuổi "nền ngoại giao mỉm cười" để xoa dịu các nước ASEAN không nên lo ngại trước sức mạnh quân sự ngày càng tăng của họ. Tháng 11/2002, Trung Quốc và ASEAN ký Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên ở biển Đông, cam kết giải quyết các bất đồng hòa bình thông qua đàm phán trực tiếp. Vì những lý do vẫn còn mập mờ, Bắc Kinh đã điều chỉnh cách tiếp cận ở mức thấp vào tháng 3/2010, khi đó các quan chức Trung Quốc tuyên bố biển Đông là "lợi ích cốt lõi" của nước này. Theo ngôn ngữ ngoại giao, từ này có nghĩa đây là một vấn đề mà một nước sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ. Cho đến thời điểm đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng từ ngữ đó để chỉ Tây Tạng và Đài Loan. Tháng 6/2010, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc, Đại tá Cảnh Nhân Sinh, thể hiện rõ nét hơn khi ông ta tuyên bố: "Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi ở biển Đông và Trung Quốc có bằng chứng pháp lý và lịch sử để khẳng định như vậy". Hải quân Trung quốc đã và đang phát triển sức mạnh để thực hiện tuyên bố của Trung Quốc. Hải quân đã xây dựng một căn cứ lớn ở đảo Hải Nam để bố trí các hạm đội sát các vùng biển có tranh chấp ở biển Đông. Quân đội Trung Quốc cũng triển khai loại tên lửa mới "Đông phong 21-D" nhằm tấn công tàu sân bay hoặc các mục tiêu khác ở cự ly 1.500 km, và sẽ sớm triển khai tàu sân bay đầu tiên mua của Nga gần đây. Rõ ràng là quân đội Trung Quốc tin tưởng khả năng như vậy sẽ khiến Hải quân Mỹ tránh xa biển Đông và các khu vực có tranh chấp xung quanh biển Đông. Tháng 7/2010, để khẳng định các tuyên bố trên biển của Trung Quốc, Hải quân Trung Quốc tiến hành diễn tập để thể hiện sức mạnh trên biển Đông với sự tham gia của hàng chục tàu chiến của tất cả 3 hạm đội của Hải quân. Năm 1974, Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa, trong khi Việt Nam đang chuẩn bị giai đoạn kết thúc cuộc chiến tranh, và nhanh chóng xây dựng nhiều doanh trại và một sân bay quân sự ở đó. Do các khu vực này gần đảo Hải Nam , chúng cho phép quân đội Trung Quốc phát huy sức mạnh từ những khu vực nằm ngoài bờ biển Trung Quốc. Gần đây hơn, các nhà chức trách Trung Quốc còn đơn phương tuyên bố cấm đánh bắt cá trên biển Đông và bắt giữ nhiều tàu cá của Việt Nam trong khu vực, sau đó giữ người, tàu thuyền, phương tiện và chỉ thả người sau khi nộp tiền phạt. Trung Quốc cũng cảnh báo các công ty năng lượng phương Tây không đàm phán các thỏa thuận thăm dò và khai thác khí đốt ở biển Đông với Chính phủ Việt Nam nếu họ không muốn các lợi ích kinh doanh của họ ở Trung Quốc gặp rắc rối. Nhưng không chỉ Việt Nam là nước duy nhất ở Đông Nam Á lo ngại trước sức mạnh quân sự và ngoại giao ngày càng tăng của Trung Quốc. Ngày 8/7/2010, trong bức thư gửi Liên hợp quốc, lần đầu tiên Chính phủ Inđônêxia chính thức thách thức các tuyên bố của Trung Quốc đối với biển Đông sau khi một tàu chiến Trung Quốc buộc một tàu tuần tiễu Inđônêxia trả tự do cho các ngư phủ Trung Quốc. Thuyền cá Trung Quốc bị bắt giữ trong khu vực mà Inđônêxia tuyên bố thuộc vùng đặc quyền kinh tế của nước này, nhưng Trung Quốc phủ nhận tuyên bố đó. Các quan chức Philíppin và Malaixia cũng liên lạc với Oasinhtơn để bày tỏ lo ngại về sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc ở biển Đông.
(còn tiếp)
 
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #127 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 07:32:47 am »

Láng giềng lo ngại khi Trung Quốc tìm kiếm khu vực ảnh hưởng (tiếp theo)

Nỗi lo ngại của các nước láng giềng Trung Quốc cũng được thể hiện rõ trước sự phát triển quân sự của Trung Quốc. Theo các số liệu chuyển giao vũ khí của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Xtốckhôm (SIPRI), Thụy Điển, giá trị của các hệ thống vũ khí thông thường được bán cho các nước Đông Nam Á tăng gần gấp đôi từ năm 2005-2009. Malaixia, nước phản đối các tuyên bố biển Đông của Trung Quốc, nhập khẩu các loại vũ khí trong giai đoạn này tăng 722% so với 5 năm trước. Xinhgapo tăng 146% và Inđônêxia tăng 84%. Khối lượng mua sắm các loại vũ khí lớn của Xinhgapo thực tế đã biến nước này trở thành nước Đông Nam Á đầu tiên đứng trong 10 nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới kể từ sau Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975. Tất nhiên, các nước ASEAN không thể hy vọng ngang bằng với quân đội Trung Quốc. Do hiện đại hóa quân đội, Trung Quốc vượt tất cả các nước ASEAN cộng lại về quân số, trang thiết bị và chi phí. Báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế về cán cân quân sự ở châu Á dự kiến quân số của quân đội Trung Quốc năm 2010 là 2.170.000 binh sĩ. Ngược lại, quân số của Campuchia, Inđônêxia, Lào, Mianma, Việt Nam, Thái Lan, Xinhgapo và Philíppin cộng lại cũng chỉ có 1.472.000 binh sĩ. Hơn nữa, quân đội các nước ASEAN ít quan tâm tới việc tăng các nguồn quốc phòng và phát triển một lực lượng quân sự hợp tác. Các nước ASEAN cũng mở rộng các mối quan hệ kinh tế với Bắc Kinh vì họ không muốn các mối quan hệ này bị phá hủy do đối đầu với Trung Quốc về tuyên bố chủ quyền trên biển. Họ muốn một số nước khác chẳng hạn Mỹ đóng vai trò đối trọng với Trung Quốc. Không giống Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc Ôxtrâylia, các nước Đông Nam Á không có hiệp ước quốc phòng song phương với Mỹ. Nhưng một số quan chức ASEAN đã và đang hối thúc Oasinhtơn can dự vấn đề biển Đông để ngăn chặn sự phiêu lưu quân sự của Trung Quốc. Không có gì ngạc nhiên, chính Việt Nam là nước tìm cách hợp tác với Mỹ để cân bằng người khổng lồ Trung Quốc. Do đó, tại cuộc họp của Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội, Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố Mỹ giúp thúc đẩy các cuộc đàm phán đa phương nhằm giải quyết các bất đồng lãnh thổ trên biển Đông trong khuôn khổ ASEAN. Bà cũng tái khẳng định Mỹ phản đối việc cưỡng bức hoặc đe dọa sử dụng sức mạnh để giải quyết các tuyên bố còn gây tranh cãi. Bà nói: "Cũng như các nước, Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc tự do đi lại trên các khu vực hàng hải chung và tôn trọng luật pháp quốc tế trên biển Đông". Trong cuộc Đối thoại Shangri-La tháng 5/2010, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates cũng khẳng định biển Đông "không chỉ quan trọng đối với các nước trực tiếp có biên giới với vùng biển mà còn quan trọng với tất cả các nước có lợi ích an ninh và kinh tế ở châu Á". Đề cập đến việc Trung Quốc đe dọa các công ty dầu lửa của Mỹ và quốc tế có ý định hợp tác với Việt Nam , Bộ trưởng Gates nói: "Chúng tôi phản đối bất cứ nỗ lực nào hòng nhằm đe dọa các công ty Mỹ hoặc của các nước tham gia hoạt động kinh tế hợp pháp". Trong chuyến thăm Philíppin tháng 8/2010, Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, Đô đốc Robert Willard, khẳng định cam kết của Mỹ nhằm bảo đảm tự do đi lại trên biển Đông. Rõ ràng những tuyên bố đó của các quan chức Mỹ là hành động dũng cảm nhằm chĩa vào Trung Quốc bằng cách khẳng định Mỹ không muốn cho phép khu vực trở thành nơi cạnh tranh ảnh hưởng. Từ trước đến nay, Mỹ thường tìm cách tránh công bố quan điểm công khai về những bất đồng chủ quyền của Đông Á, nhưng những hành động mạnh mẽ gần đây của Trung Quốc, cộng với sự ủng hộ ngấm ngầm của một số nhà lãnh đạo ASEAN, đã kích động Chính quyền Obama hành động.

Không có gì ngạc nhiên khi Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao Trung Quốc đã chỉ trích Ngoại trưởng Hillary Clinton can thiệp vào bất đồng trên biển Đông. Cuối tháng 8/2010, một tàu ngầm loại nhỏ đã cắm một lá cờ Trung Quốc dưới đáy biển Đông. Ngày 21/9, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc cảnh báo Bắc Kinh phản đối "bất cứ tuyên bố nào của Mỹ và ASEAN về biển Đông" trong thời gian diễn ra hội nghị thượng đỉnh ngày 24/9, lúc đó Tổng thống Obama sẽ gặp các nhà lãnh đạo ASEAN bên lề lễ khai mạc hàng năm của Đại hội đồng Liên hợp quốc ở Niu Yoóc. Các phương tiện truyền thông không chính thức của Trung Quốc mô tả các tuyên bố mới của Mỹ về biển Đông cũng như quyết định của Mỹ tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á như một nỗ lực, thông đồng với Việt Nam, để ngăn chặn Trung Quốc. Trung Quốc nhận thấy chính sách quyết đoán hơn của Oasinhtơn liên quan đến biển Đông thông qua các mối quan hệ chiến lược và kinh tế ngày càng thân thiện giữa Oasinhtơn và Hà Nội, bất chấp những căng thẳng hiện nay giữa Mỹ và Việt Nam về nhân quyền. Cùng với Trung Quốc và Nhật Bản, Mỹ là một trong những đối tác thương mại, thị trường xuất khẩu và nguồn đầu tư lớn nhất của Việt Nam . Trong thập kỷ qua, các quan chức cấp cao của Mỹ và Việt Nam thường xuyên thăm viếng lẫn nhau, các sĩ quan Mỹ và Việt Nam trao đổi một số chuyến thăm và các tàu chiến của Hải quân Mỹ đã ghé thăm bến cảng thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng. Năm 2009, Cục Hợp tác An ninh Quốc phòng Mỹ loan báo sẵn sàng cho phép xuất khẩu sang Việt Nam các trang thiết bị quân sự "không gây chết người" như các loại ra đa theo dõi hải quân. Đầu tháng 8/2010, Bộ Ngoại giao Việt Nam thông báo bắt đầu các cuộc đàm phán Mỹ-Việt về một thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự, từ đó có thể dẫn đến việc Mỹ giúp Việt Nam xây dựng một lò phản ứng hạt nhân. Cũng trong tháng 8/2010, Mỹ và Việt Nam tổ chức các cuộc đối thoại quốc phòng chính thức đầu tiên và hải quân hai nước tiến hành các cuộc diễn tập chung kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc cách đây 36 năm. Tàu khu trục John McCain của Mỹ cùng các tàu của Hải quân Việt Nam tổ chức diễn tập huấn luyện tìm kiếm và cứu nạn, xử lý thiệt hại, bảo dưỡng, sửa chữa khẩn cấp và kiểm soát hỏa hoạn. Đồng thời Hàng không mẫu hạm USS George Washington chạy bằng năng lượng hạt nhân, có mặt tại Việt Nam để đánh dấu 15 năm bình thường hóa quan hệ hai nước, cũng tổ chức một phái đoàn quân-dân sự Việt Nam đi thăm khu vực biển Đông ở ngoài khơi cảng Đà Nẵng. Mỹ cũng mời Việt Nam cử quan sát viên đến theo dõi các cuộc tập trận do Mỹ lãnh đạo trong khu vực, kể cả cuộc tập trận Hổ Mang Vàng ở Thái Lan. Mỹ đề nghị huấn luyện các quân nhân Việt Nam để tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Tháng 10/2010, Việt Nam mời hải quân các nước đến nghiên cứu việc sử dụng căn cứ hải quân ở vịnh Cam Ranh vì "mục đích hòa bình". Bến cảng nước sâu và cơ sở hạ tầng của cảng rất quan trọng cho các tàu chiến Mỹ hoạt động ở biển Đông và Ấn Độ Dương. Tháng 11/2010, Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, Tướng George William Casey đến thăm Bộ Quốc phòng tại Hà Nội-nơi ông và Trung tướng Nguyễn Quốc Khánh của Quân đội Việt Nam nhất trí tiếp tục hợp tác trong việc trao đổi nhân sự, y tế và rà phá mìn.
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #128 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 07:35:52 am »

Láng giềng lo ngại khi Trung Quốc tìm kiếm khu vực ảnh hưởng (tiếp theo và hết)

Ngay sau khi vào Nhà Trắng, Chính quyền Obama tuyên bố quyết tâm chống lại các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên các vùng biển quốc tế, khi đó các tàu chiến và máy bay Trung Quốc phát động chiến dịch đe dọa chống lại các tàu giám sát biển của Mỹ ở biển Đông. Sự kiện nổi bật nhất xảy ra tháng 3/2009, lúc đó các thủy thủ Trung Quốc cố gắng tịch thu một chiếc phao gắn thiết bị định vị của tàu hộ tống USNS Impeccable do Hải quân Mỹ sử dụng để giám sát căn cứ hải quân mới của Trung Quốc trên đảo Hải Nam và các tàu ngầm Trung Quốc trong khu vực. Ngoài các biện pháp quân sự đó, Chính quyền Obama còn tăng cường sự hiện diện quân sự, kinh tế và ngoại giao ở Đông Nam Á, chấm dứt những lời phàn nàn rằng Oasinhtơn đang phớt lờ khu vực do bị sa lầy trong các cuộc chiến tranh Irắc và Ápganixtan. Mỹ đã tham gia các định chế liên quan đến ASEAN. Hiện nay các quan chức Chính phủ Mỹ thường xuyên đến thăm Đông Nam Á. Bên cạnh đó, Mỹ còn cử đại sứ phụ trách các vấn đề ASEAN và đại diện thường trực tại Ban Thư ký ASEAN ở Giacácta. ASEAN đã mời Mỹ và Nga tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á năm 2011. Mỹ cũng đưa ra Sáng kiến Hạ lưu sông Mê Công nhằm giúp đỡ Lào, Thái Lan và Việt Nam giải quyết các vấn đề về cơ sở hạ tầng, xã hội và sinh thái. Chính phủ các nước này cho biết các con đập của Trung Quốc ở thượng nguồn Mê Công đang gây tình trạng hạn hán và phá hủy môi trường của họ. Về quan hệ song phương, Mỹ duy trì liên minh quân sự thường trực lâu dài với Philíppin, Xinhgapo, Thái Lan và cải thiện quan hệ an ninh với Malaixia, Inđônêxia và Việt Nam. Tháng 4/2010, Thủ tướng Malaixia Najib Tun Razak hội đàm với Tổng thống Obama tại Oasinhtơn về việc đóng góp của Malaixia vào các nỗ lực quân sự do Mỹ lãnh đạo ở Ápganixtan, bao gồm 40 chuyên gia y tế và nhân viên quân sự thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo. Đồng thời, Mỹ chính thức nâng cấp quan hệ đối tác với Malaixia thành "quan hệ đối tác chiến lược". Tháng 6/2010, Malaixia phát triển vị thế của nước này trong cuộc tập trận Hổ Mang Vàng đa phương hàng năm từ quan sát viên thành nước tham gia đầy đủ. Sau thời gian dài gián đoạn, Mỹ cũng khôi phục các mối quan hệ quân sự toàn diện với Inđônêxia, trong đó có thiết lập lại quan hệ với lực lượng đặc nhiệm Kopassus của Inđônêxia - lực lượng đóng vai trò chính trong các nỗ lực chống khủng bố của Inđônêxia. Hiệp định khung phòng thủ song phương mới của Mỹ và Inđônêxia tạo ra các cuộc đối thoại an ninh, hợp tác giáo dục, huấn luyện, mua bán trang thiết bị và hợp tác an ninh trên biển. Hai chính phủ cũng thiết lập "mối quan hệ đối tác toàn diện" bao gồm một ủy ban chung do bộ trưởng ngoại giao hai nước lãnh đạo. Các nhà ngoại giao Mỹ đang khuyến khích Ôxtrâylia, Nhật Bản và đặc biệt Ấn Độ tăng cường quan hệ với ASEAN để đối trọng hơn nữa với sức mạnh bá quyền của Trung Quốc. Bất chấp hợp tác kinh tế ngày càng tăng với Trung Quốc, hiện nay các nước ASEAN hiểu rằng các mối quan hệ an ninh được cải thiện với Mỹ sẽ là biện pháp an toàn hiệu quả nhất cho họ để chống lại sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc và gia tăng ảnh hưởng đối với chính sách của Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nước ASEAN cũng muốn cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc và làm bất cứ những gì có thể để tránh sự đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc. Mặc dù ASEAN đã đẩy hai cường quốc chống lại nhau để giành ưu thế và khả năng hành động, nhưng họ khẳng định cạnh tranh Mỹ-Trung vẫn là cuộc cạnh tranh dân sự nhằm giành vị thế, lợi ích và uy tín trong khu vực. Nhưng liệu ASEAN có thể tiếp tục duy trì sự cân bằng đó trước mối lo ngại ngày càng tăng của Mỹ về sức mạnh bá quyền và tham vọng mới của Trung Quốc hay không? Đây là vấn đề cần được xem xét./.

 
Theo World Affairs, TTXVN

Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #129 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 06:19:05 pm »

Thêm thông tin về Kilo 636 MV của Việt Nam so với Kilo 636 MK của Trung Quốc, hy vọng sự vượt trội của Kilo 636 MV sẽ đóng góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Mời các bác cùng xem:

Tạp chí Bình luận Quân sự Hán Hòa số tháng 4 dẫn nguồn tin là một chuyên gia công nghệ quân sự uy tín ở Mátxcơva (Nga) cho biết theo hiệp định song phương đã kí kết giữa Nga và Việt Nam, năm 2013, Việt Nam sẽ nhận được chiếc tàu ngầm Kilo đầu tiên, một năm sau là chiếc thứ hai và chiếc cuối cùng sẽ được bàn giao vào năm 2017. So với tàu ngầm Kilo 636 MK mà hải quân Trung Quốc sử dụng, tàu ngầm Kilo 636 MV mà Nga bán cho Việt Nam có nhiều điểm khác biệt, trong đó lớn nhất là về vũ khí trang bị.


Trước tiên, tàu ngầm Kilo của Việt Nam sẽ được lắp đặt tên lửa hành trình tấn công đối đất 3M-14E loại mới nhất, có tầm bắn 290 km. Loại tên lửa này không được Bộ Quốc phòng Nga phê chuẩn xuất khẩu cho Trung Quốc. Ngoài Việt Nam, hai nước khác được Nga xuất khẩu tên lửa 3M-14E là Ấn Độ và Angiêria.

Bên cạnh đó, tàu ngầm Kilo 636 MV còn được trang bị ra đa dẫn đường phức hợp đa tác dụng GE2-01 loại mới nhất. Loại ra đa này không được xuất khẩu cho Trung Quốc, có ưu điểm lớn nhất là giảm tối đa tạp âm trong môi trường nước và giúp đa dạng hóa biện pháp dẫn đường.

Về hệ thống sonar, tàu ngầm Kilo 636 MK của Trung Quốc chỉ được trang bị hệ thống sonar MGK 400E loại cơ bản. Trong khi đó, tàu ngầm Kilo 636 MV lại được lắp đặt hệ thống sonar MGK 400E loại cải tiến. Hai hệ thống sonar này có cùng cự ly thám trắc, nhưng hệ thống sonar MGK 400E loại cải tiến được trang bị bộ xử lý tín hiệu tốc độ cao nhiều công năng và có mức độ số hóa cao hơn.

Về kính tiềm vọng, tuy tàu ngầm Kilo 636 MK và tàu ngầm Kilo 636 MV đều được trang bị hệ thống thám trắc quang học, nhưng kính tiềm vọng sử dụng cho nhiệm vụ tấn công của tàu ngầm Kilo 636 MV được lắp đạt thêm thiết bị đo cự ly bằng tia la de và hệ thống quan trắc TV, IR. Trong khi đó, tàu ngầm Kilo 636 MK chủ yếu sử dụng quang học ngắm bắn và không có thiết bị đo cự ly bằng tia la de. Điều đó có nghĩa năng lực tác chiến ban đêm và độ chính xác của đòn đánh của tàu ngầm Kilo 636 MV sẽ cao hơn tàu ngầm Kilo 636 MK.

Điểm khác biệt cuối cùng là hệ thống điều hòa mà tàu ngầm Kilo 636 MV sử dụng thích hợp hơn với khí hậu, địa hình nhiệt đới.

Bên cạnh những điểm khác biệt, tàu ngầm Kilo mà Nga bán cho Trung Quốc và tàu ngầm Kilo mà Nga xuất khẩu cho Việt Nam có một số điểm giống nhau như cùng được trang bị tên lửa chống hạm 3M-54E, cùng sử dụng ắc quy 476 E loại cải tiến, tuổi thọ dài, đáp ứng được yêu cầu về nhiệt độ nước ở Thái Bình Dương.

Nguồn tin cho rằng thời gian sản xuất của hai loại tàu ngầm trên cách nhau hơn 5 năm, nên công nghệ trang bị cho tàu ngầm Kilo 636 MV tiên tiến hơn tàu ngầm Kilo 636 MK là điều đương nhiên. Xem xét những khác biệt nêu trên, theo tờ tạp chí, dù đều là tàu ngầm Kilo 636 M, nhưng khoảng cách về công nghệ giữa tàu ngầm Kilo 636 MV và tàu ngầm Kilo 636 MK chí ít là trên 10 năm.

Về 6 chiếc tàu ngầm Kilo mà Nga bán cho Việt Nam, từ lâu có thông tin cho rằng Việt Nam có thể sử dụng chúng để xây dựng hai hạm đội. Tuy nhiên, theo nguồn tin, 6 chiếc tàu ngầm Kilo 636 MV của Việt Nam sẽ được bố trí thống nhất, tạo thành một hạm đội và phía Nga sẽ phụ trách việc xây dựng tất cả các kho cất trữ tên lửa ở cảng biển và trạm cung cấp dưỡng khí như một phần trong nội dung hiệp định song phương đã kí kết với Việt Nam.

Liên quan đến giá mua tàu ngầm Kilo 636 MV, trước đây có thông tin cho rằng có thể hải quân Việt Nam đã phải mua tàu ngầm Kilo 636 MV với giá cao. Tuy nhiên theo nguồn tin, giá tàu ngầm Kilo 636 MV mà Nga bán cho Việt Nam hoàn toàn là giá thật và hiện nay phía Nga đã bắt tay vào chế tạo chiếc tàu ngầm Kilo 636 MV đầu tiên cho Việt Nam./.

 
Theo Tạp chí Bình luận Quân sự Hán Hòa
Link http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1353-cong-nghe-tau-ngam-kilo-636-cua-viet-nam-dinh-hon-kilo-636-cua-trung-quoc
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM