Một số đề nghị đấu tranh ... ( tiếp theo )
2. Một số đề nghị đấu tranh cho Hoàng Sa
2.1 Lịch sử tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa
2.1.1 Thời tiền sử tới thế kỷ 18
Đặc điểm của giai đoạn này là cho tới thế kỷ 18, không có nước nào có hành động nào có chức năng pháp lý làm cho Hoàng Sa thuộc về mình. Hoàng Sa là đất vô chủ cho tới thế kỷ 18.
Các dân tộc Đông Nam Á (kể cả Việt Nam và Chiêm Thành) và Trung Hoa đã biết về Hoàng Sa, đi tới và sử dụng quần đảo này từ thời tiền sử. Có lẽ những dân tộc Đông Nam Á là những dân tộc đầu tiên khám phá và sử dụng Hoàng Sa. Sau đó, những dân tộc khác trên thế giới (Ấn Độ, Ba Tư, Á Rập và Âu Châu) cũng biết về và viết về Hoàng Sa.
Tuy nhiên,những điều này, khám phá, đi tới, sử dụng, và kể cả đề cập tới Hoàng Sa trong những cuộc hành trình (như của Trịnh Hoà, người Trung Quốc), đề cập tới trong sử sách hay vẽ quần đảo này trên bản đồ, không ban cho bất cứ nước nào đó chủ quyền. Để một vùng đất thuộc về một nước, phải có sự tuyên bố chủ quyền và thi hành chủ quyền ở cấp nhà nước mà không bị nước khác phản đối.
2.1.2 Thế kỷ 18 tới thời kỳ Pháp thuộc
Đặc điểm của giai đoạn này là Việt Nam là nước đầu tiên và duy nhất tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa. Trên cơ sở pháp lý quốc tế, điều này có nghĩa chủ quyền ở Hoàng Sa thuộc về Việt Nam từ thế kỷ 18.
Hình 4: Đền thờ Đội Hoàng Sa, cơ quan nhà nước Việt Nam thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa từ thế kỷ 18(1)
Vào thế kỷ 18, các chúa Nguyễn thành lập các đội Hoàng Sa để bảo vệ và khai thác Hoàng Sa. Đây là những hành động tuyên bố chủ quyền và cai trị từ nhà nước Việt Nam. Những hành động này không bị nước nào phản đối, kể cả Trung Quốc. Đây là những hành động đầu tiên trên thế giới có chức năng làm Hoàng Sa thuộc về một nước nào đó, và nước đó là Việt Nam.
Năm 1816, vua Gia Long tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.
Sau đó, vua Minh Mạng tiếp tục thi hành chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa với những công việc:
• 1833-1836 Xây cất công trình nhà nước ở Hoàng Sa, thi hành công việc và vẽ bản đồ dưới sự điều hành của vua.
• 1847-1848 Quản lý Hoàng Sa, thi hành công việc hải quan và thu thuế.
Như vậy, vào thế kỷ 19, Việt Nam khẳng định và thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa mà không bị nước nào phản đối. Vì vậy, chủ quyền Hoàng Sa đã hoàn toàn thuộc về Việt Nam và không nước nào tranh chấp điều đó.
Hình 5: Lễ truyền thống cho các Đội Hoàng Sa ở đảo Lý Sơn (cù lao Ré)(2)
Điều đáng chú ý là trong khi Việt Nam tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa thì Trung Quốc không phản đối. Lý do là vào thế kỷ 18, 19 không mấy nước quan tâm tới những đảo nhỏ không dân cư giữa biển, mà Hoàng Sa lại quá xa Bắc Kinh. Thêm vào đó, cho tới cuối thế kỷ 19, tư duy của Trung Quốc là tư duy lục địa chứ không phải tư duy hải dương.
2.1.3 Thời kỳ Pháp thuộc tới Thế Chiến 2
Đặc điểm của thời kỳ này là:
• Từ năm 1909, Trung Quốc bắt đầu yêu sách Hoàng Sa là lãnh thổ của họ. Điều này có nghĩa Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa sau khi Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam gần hai thế kỷ. Vì Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam chứ không còn là đất vô chủ khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, sự tuyên bố của Trung Quốc không có giá trị pháp lý.
• Ban đầu Pháp không hành động quyết liệt để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa. Sau đó, Pháp biết Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam từ thế kỷ 18 và tích cực bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.
• Năm 1925, Pháp lập lại lời tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, khẳng định và thi hành chủ quyền cho tới khi họ rời Việt Nam.
Từ giữa thế kỷ 19, Pháp bắt đầu xâm lăng Việt Nam, dẫn tới sự đô hộ bắt đầu vào cuối thế kỷ 19.
Trong thời kỳ này, Trung Quốc giữ được nền độc lập của họ nhưng họ bị xâu xé bởi các nước Âu Mỹ và Nhật. Sự xâu xé từ những thế lực đến từ hải dương và việc Nhật thôn tính Lưu Cầu (Ryuku – Okinawa), Đài Loan, và một số đảo khác của Trung Quốc gây ra hai thay đổi trong tư duy của họ:
• Gieo mầm tư duy hải dương cho Trung Quốc.
• Cho Trung Quốc ý thức chiến lược là cần dùng những đảo ngoài biển khơi như những vành đai để bảo vệ lục địa.
Năm 1898, hai tàu Anh, Bellona và Huneji Maru bị đắm ở Hoàng Sa. Sau đó ngư dân Trung Quốc tới Hoàng Sa hôi của từ hai tàu này. Khi chính phủ Anh phản đối việc hôi của này thì chính quyền Lưỡng Quảng trả lời là Hoàng Sa là đảo bỏ hoang, không thuộc về Trung Quốc hơn thuộc về Việt Nam, Hoàng Sa không thuộc về bất cứ huyện nào của Hải Nam, và không có cơ quan Trung Quốc nào có trách nhiệm cảnh sát đối với Hoàng Sa (3). Sự kiện này có ba ý nghĩa:
• Chính quyền Lưỡng Quảng công nhận là Trung Quốc không thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa và, thêm vào đó, khước từ thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa. Ngược lại, từ thế kỷ 18, Việt Nam đã thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa ở cấp nhà nước.
• Chính quyền Lưỡng Quảng biết về khía cạnh “thuộc về Việt Nam” của Hoàng Sa nhưng không phản đối khía cạnh đó.
• Vì đã biết về khía cạnh “thuộc về Việt Nam” của Hoàng Sa, chính quyền Lưỡng Quảng biết là Hoàng Sa không phải đất vô chủ. Điều này có nghĩa hành động của chính quyền Lưỡng Quảng vào năm 1909 và tuyên bố chủ quyền vào năm 1921 bất hợp pháp vì công pháp quốc tế chỉ công nhận tuyên bố chủ quyền cho đất vô chủ.
Năm 1909, với tư duy hải dương mới, chính quyền ly khai Lưỡng Quảng gửi hai tàu chiến dưới đô đốc Lý Chuẩn (Li Zhun) tới Hoàng Sa và thám sát Hoàng Sa trong vòng một ngày. Lãnh sự Pháp ở Quảng Đông, ông Beauvais, không biết là Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, cho là Pháp có quyền ở Hoàng Sa không kém gì Trung Quốc nhưng làm lơ để tránh tạo ra một làn sóng ái quốc có thể gây hại cho quyền lợi của Pháp (4). Dù vậy, việc làm của đô đốc Lý Chuẩn không đủ điều kiện cho một sự tuyên bố chủ quyền vì vào năm 1909 Hoàng Sa không còn là đất vô chủ.
Năm 1921, chính quyền ly khai Lưỡng Quảng tuyên bố là Hoàng Sa thuộc về Hải Nam. Lãnh sự Pháp ở Trung Quốc quan ngại về lời tuyên bố này nhưng không phản đối vì chính quyền ly khai Lưỡng Quảng không phải là một chính phủ được Trung Quốc hay bất cứ nước nào khác công nhận (5). Lời tuyên bố này không có giá trị pháp lý vì hai lý do:
• Việt Nam đã tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa trong suốt hai thế kỷ trước đó. Vì vậy, vào năm 1921, Hoàng Sa không còn là đất vô chủ để nước nào khác tuyên bố chủ quyền.
• Lý do Pháp không phản đối tuyên bố của chính quyền ly khai Lưỡng Quảng không phải là Pháp công nhận tuyên bố đó mà là chính quyền này không phải là một chính phủ được Trung Quốc hay bất cứ nước nào khác công nhận.
Trong khi đó, từ 1920 trở đi, Pháp thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa như làm công tác hải quan ở Hoàng Sa và xét và cấp giấy phép khai thác phốt phát cho những công ty ngoại quốc.
Hình 6: Lính Pháp và Việt Nam chào cờ tại Hoàng Sa (6)
Năm 1925, Pháp lập lại lời tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa. Pháp tiếp tục khẳng định và thi hành chủ quyền cho Việt Nam ở Hoàng Sa cho tới khi họ rời Việt Nam.
Hình 7: Bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa, dựng vào thập niên 1920 (7)
Có một sự kiện đáng chú ý là năm 1932 Pháp đề nghị đưa tranh chấp Hoàng Sa ra một phiên toà quốc tế nhưng Trung Quốc không chấp nhận.
2.1.4 Thế Chiến 2 tới hiệp định San Francisco 1951
Đặc điểm của giai đoạn này là:
• Trong Thế Chiến 2, dù chiếm đóng Hoàng Sa, Nhật không tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa, tức là chủ quyền Hoàng Sa luôn luôn hoàn toàn thuộc về Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp.
• Sau Thế Chiến 2, Trung Quốc lợi dụng sự sơ hở của Pháp để đổ bộ lính lên phía đông Hoàng Sa và chiếm đóng đảo Phú Lâm.
• Theo Hiệp Định San Francisco 1951, về việc đầu hàng của Nhật, Nhật phải trả lại đất đai đã chiếm từ các nước khác. Hoàng Sa, Trường Sa không nằm trong danh sách đất đai phải trả lại cho Trung Quốc, nhưng Hiệp Định San Francisco không nói trả lại cho nước nào. Ở hội nghị San Francisco, 48 trong 51 nước phản đối đề nghị chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc; không nước nào phản đối lời khẳng định chủ quyền của Việt Nam.
Trong Thế Chiến 2, dù chiếm đóng Hoàng Sa, Nhật không tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa, tức là chủ quyền Hoàng Sa luôn luôn hoàn toàn thuộc về Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp.
Nhật chiếm đóng Hoàng Sa cho tới khi Pháp gửi chiến hạm và lính tới thu hồi Hoàng Sa từ Nhật.
Năm 1943, tại Hội Nghị Cairo, Mỹ, Anh và Trung Quốc tuyên bố là sẽ tước những vùng lãnh thổ Nhật đã chiếm từ Trung Quốc và hoàn lại cho Trung quốc, những vùng lãnh thổ này bao gồm Mãn Châu, Đài Loan và Pescadores. Lưu ý là Mỹ, Anh và cả Trung Quốc không liệt kê Hoàng Sa và Trường Sa dưới danh sách các vùng lãnh thổ Nhật chiếm từ Trung Quốc và phải hoàn lại cho Trung Quốc.
Năm 1946 và 1947 lợi dụng Pháp rút quân khỏi Hoàng Sa vì chiến tranh giành độc lập của Việt Nam, Trung Quốc viện cớ tước khí giới Nhật (dù Pháp đã làm điều này) để đổ bộ lính lên một số đảo, trong đó có đảo Phú Lâm. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng được đảo trong quần đảo Hoàng Sa. Pháp phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp đó và đem lính tới canh gác đảo Hoàng Sa.
Năm 1947, Pháp lại đề nghị nghị đưa tranh chấp Hoàng Sa ra một phiên toà quốc tế. Một lần nữa, Trung Quốc không chấp nhận.
Cuối năm 1947, Trung Quốc đặt tên “Tây Sa” cho quần đảo Hoàng Sa.
Năm 1949, chính phủ Bảo Đại lập lại tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa.
Năm 1950, vì Trung Hoa Dân Quốc bị thua trong nội chiến và phải di tản sang Đài Loan, họ rút khỏi phía đông Hoàng Sa. Lính Pháp vẫn trấn giữ Hoàng Sa cho nên toàn bộ Hoàng Sa nằm dưới sự kiểm soát của Pháp-Việt Nam.
Năm 1950, Pháp trao việc kiểm soát Hoàng Sa cho chính phủ Bảo Đại.
Năm 1951, tại hiệp định San Francisco về việc đầu hàng của Nhật, Liên Xô đề nghị là chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Đề nghị này bị 48 nước trong 51 nước ở hội nghị phản đối. Sau đó trong hội nghị, chính phủ Bảo Đại khẳng định chủ quyền cuả Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. Không có nước nào phản đối. Bản tuyên bố của hiệp định San Francisco chỉ nói Nhật trả lại Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng không nói trả lại cho nước nào.
Tuy nhiên, có 2 lý do để nói là hiệp định San Francisco không trả Hoàng Sa và Trường Sa lại cho Trung Quốc:
• 48 trong 51 nước ở hội nghị phản đối đề nghị chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Trong khi đó, không nước nào phản đối lời khẳng định chủ quyền của Việt Nam.
• Lời tuyên bố San Francisco nói rõ những đảo Nhật phải trả cho Trung Quốc, e.g., Đài Loan, Bành Hồ. Trong khi đó Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong danh sách những đảo phải trả cho Trung Quốc.
2.1.5 Hiệp định San Francisco 1951 tới 1975
Đặc điểm của giai đoạn này là:
• Từ 1950 tới 1956, Việt Nam kiểm soát Hoàng Sa hoàn toàn.
• Theo hiệp định Geneve 1954, Hoàng Sa nằm dưới thẩm quyền VNCH.
• Năm 1956, Trung Quốc lén lút chiếm đóng đông Hoàng Sa. Từ đó, VNCH kiểm soát Tây Hoàng Sa, Trung Quốc kiểm soát Đông Hoàng Sa.
• Ngày 19, 20 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm tây Hoàng Sa từ VNCH.
• Dù ngày nay Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa bằng bạo lực, luật Liên Hiệp Quốc không ban chủ quyền dựa trên đánh chiếm và chiếm đóng bằng bạo lực.
Từ 1951, Trung Quốc và Đài Loan tiếp tục đòi chủ quyền từ Việt Nam ở Hoàng Sa. Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền. Trong thời gian này, tất cả quần đảo Hoàng Sa nằm dưới sự canh gác của lính Pháp và lính Việt Nam.
Năm 1954, hiệp định Geneve chia đôi Việt Nam ở vĩ độ 17 thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Việt Nam Cộng Hoà. Hoàng Sa nằm dưới vĩ độ 17 cho nên nằm dưới thẩm quyền VNCH.
Năm 1956, Pháp rút quân ra khỏi VNCH. Chính quyền VNCH gửi lính ra Hoàng Sa thay thế lính Pháp và đóng quân trên đảo Hoàng Sa.
Hình 8: Nhân viên khoa học VNCH trước nhà thờ ở Hoàng Sa (

Năm 1956, lợi dụng lính VNCH không đóng quân trên đảo Phú Lâm, Trung Quốc gửi lính tới lén lút chiếm đóng đảo Phú Lâm.
Từ năm 1956 trở đi, VNCH kiểm soát tây Hoàng Sa và Trung Quốc kiểm soát đông Hoàng Sa.
Năm 1958, 65 binh lính Trung Quốc giả dạng làm ngư dân đổ bộ lên tây Trường Sa nhưng bị lính VNCH bắt.
Năm 1958, Trung Quốc tuyên bố nguyên tắc dùng đường cơ sở thẳng và lãnh hải 12 hải lý chung quanh lãnh thổ của họ và tuyên bố là nguyên tắc này được áp dụng cho cả Hoàng Sa và Trường Sa. VNCH, là chính phủ có thẩm quyền về Hoàng Sa, tiếp tục khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. VNDCCH, là chính phủ không có thẩm quyền về Hoàng Sa, “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố… quyết định về hải phận của Trung Quốc” (9). Vì không có thẩm quyền về Hoàng Sa, sự tán thành của VNDCCH không có giá trị pháp lý về chủ quyền Hoàng Sa.
Hình 9: Trại lính VNCH trên đảo Hoàng Sa năm 1959 (10)
Ngày 19 và 20 tháng một năm 1974, hải quân Trung Quốc đánh chiếm tây Hoàng Sa từ VNCH.
Chính phủ VNCH phản đối sự xâm lăng của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc. Chính phủ lâm thời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tuyên bố là tranh chấp Hoàng Sa phải được giải quyết công bằng và bằng đàm phán. Chính phủ VNDCCH cảm ơn Trung Quốc “giải phóng Hoàng Sa giùm cho VNDCCH”. Ba hành động này có ý nghĩa:
• Chính phủ có thẩm quyền ở Hoàng Sa, tức là VNCH, khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa.
• Chính phủ mà VNDCCH cho là có thẩm quyền ở Hoàng Sa, tức là chính phủ lâm thời MTGPMN, cho là Việt Nam có chủ quyền ở Hoàng Sa và chủ quyền đó bị tranh chấp.
• Chính phủ VNDCCH, dù không có thẩm quyền ở Hoàng Sa, cho là Việt Nam có chủ quyền ở Hoàng Sa. Đây là lời tuyên bố sau cùng của VNDCCH về chủ quyền ở Hoàng Sa trước khi Việt Nam thống nhất.
Hình 10: Chiến hạm HQ-4 Trần Khánh Dư, một trong 4 chiến hạm VNCH chiến đấu trong trận bảo vệ Hoàng Sa (11)
Từ 1974 tới nay, Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa bằng bạo lực. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Việt Nam đã mất chủ quyền ở Hoàng Sa. Luật Liên Hiệp Quốc không chấp nhận chiếm đoạt lãnh thổ bằng bạo lực và công nhận chủ quyền dựa trên chiếm đoạt và chiếm đóng bằng bạo lực.
( còn tiếp )