Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:45:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 421975 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #190 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 07:55:43 am »

Quản lý Biển Đông: Từ tự do trên biển tới các phong trào khoanh vùng biển

.....
( Tiếp theo )

Các phong trào bảo tồn

Địa chất và khí hậu đã kết hợp để sản sinh ra một lượng đáng kể đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cho vùng Biển Đông. Biển Đông bao gồm các quần đảo lớn, hải đảo, và bán đảo, vô số các rạn san hô, gió mùa đổi hướng theo mùa, và các dòng hải lưu ngầm, tất cả kết hợp tạo nên những điều kiện thuận lợi đặc biệt cho một hệ sinh thái biển màu mỡ. Hơn 30% các rạn san hô trên thế giới tiếp giáp biển Đông, đặc biệt là xung quanh các quần đảo Indonesia và Philippine. San hô là cơ sở của chuỗi thức ăn thủy sản, chúng cung cấp môi trường sống cho sự đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới. Chúng cũng hỗ trợ vài nghìn loài sinh vật khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm ảnh hưởng của sóng lên các bãi biển, từ đó giảm sự xói mòn. Đáy biển nông và bằng phẳng của Biển Đông là một trong những ngư trường năng suất nhất trên thế giới.

Hình 1

Có nhiều phong trào bảo tồn quanh vùng Biển Đông, mỗi phong trào này đều có sự pha trộn đặc trưng nhấn mạnh vào các khía cạnh khoa học, kỹ thuật, giáo dục, đào tạo, xây dựng chính sách, và thực hiện. Những biện pháp đơn phương được thực hiện bởi các chính phủ đơn lẻ bao gồm việc khuyến khích nuôi trồng thủy sản và canh tác cá, thành lập các khu vực bảo tồn biển, và áp đặt các lệnh cấm đánh cá. Những biện pháp đa phương từ những nỗ lực lớn và đầy tham vọng của Chương trình môi trường LHQ/Chương trình môi trường toàn cầu (UNDP/GEF) trên biển Đông cho tới những thoải thuận chuyên sâu và mang tính phân định hơn như Hiệp định về Quản lý nguồn tài nguyên chung Trung-Việt ở Vịnh Bắc Bộ.

Có lẽ những nố lực đa phương tham vọng nhất có ảnh hưởng đến sự quản lý thủy sản khu vực chính là dự án UNEP/GEF về Đảo ngược sự suy thoái môi trường trên Biển Đông và Vịnh Thái Lan. Vào tháng 3 năm 2001, tất cả các quốc gia ven biển đã gác những tuyên bố lãnh thổ đầy cạnh tranh sang một bên và ký một thỏa thuận để bảo vệ môi trường biển chung của mình. Mục tiêu cuối cùng là để thành lập “khu tị nạn” – khu bảo tồn cá- bao gồm những sinh cảnh biển vô cùng quan trọng trên Biển Đông, được bảo vệ khỏi việc khai thác quá mức nhờ một hệ thống quản lý thủy sản đa phương bao gồm các chính phủ thành viên.

Một nỗ lực lớn về giáo dục đang được thực hiện để cho các bên có liên quan thấy được sự suy thoái hiện tại của Biển Đông và thuyết phục họ về tầm quan trọng của việc quản lý tài nguyên bền vững. Tuy nhiên, tiến bộ hữu hình trong việc thay đổi suy thoái môi trường đang diễn ra chậm chạp.

Thỏa thuận toàn cầu liên kết đầu tiên hướng tới việc đánh bắt cá triệt để là Hiệp định Dự trữ cá của LHQ năm 1995. Hiệp định này đã làm tăng lên một lượng lớn các tổ chức quản lý thủy sản khu vực (RFMOs) để đối phó với việc khai thác quá mức trữ lượng cá có giá trị cao và có tính di động lớn, hay di chuyển qua lại giữa các ranh giới của các Vùng đặc quyền kinh tế. Tổ chức quản lý thủy sản đầu tiên ở khu vực là Công ước về bảo tồn và quản lý Trữ lượng cá có tính di cư cao ở biển Tây và Trung Thái Bình Dương (WCPO). Các cuộc đàm phán bao gồm 28 quốc gia xung quanh Biển Đông và các quốc đảo Thái Bình Dương liền kề, tất cả đều tích cực tham gia vào việc quản lý bền vững đối với ngành thủy sản cá ngừ.

Thủy sản cá ngừ của biển Tây và Trung Thái Bình Dương là lớn nhất và có giá trị lớn nhất trên thế giới, bao gồm trữ lượng cá ngừ vằn, cá ngừ vân, cá ngừ vàng, và cá ngừ mắt to. Biển Tây và Trung Thái Bình Dương hàng năm cung cấp khoảng một nửa số lượng đánh bắt cá ngừ trên toàn thế giới, bao gồm cá ngừ đóng hộp cho thị trường thế giới và thị trường cá sống (sashimi) đầy hấp dẫn của Nhật Bản. Hầu hết cá ngừ di cư rộng rãi trên khắp khu vực này, tuy nhiên có khoảng 70% tổng sản lượng được đánh bắt trong các Vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển. Các quốc gia đánh bắt cá xa bờ như Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan và Hàn Quốc với đội tàu đánh bắt cá ngừ tiên tiến chiếm hầu hết sản lượng đánh bắt cá ngừ và trả lệ phí khai thác cao để được tiếp cận vùng biển trong Vùng đặc khu kinh tế của khu vực.

Tất cả những nỗ lực liên chính phủ đều mang tính tự nguyện cao nhằm khuyến khích sự tham gia rộng rãi. Những nỗ lực này đã tạo ra một lượng lớn thông tin, giáo dục, đào tạo, kế hoạch và giám sát thông qua hoạt động của mình. Tuy nhiên, với phạm vi rộng lớn của các chính phủ tham gia, năng lực và mối quan tâm khác nhau và quá ít sự thực hiện nghiêm ngặt hoặc tôn trọng các yêu cầu, các tổ chức đa phương cho đến nay chỉ đạt được hiệu quả hạn chế trong việc thực hiện quản lý thủy bền vững. Các yếu tố kinh tế và thương mại cho đến nay đã thay thế phong trào bảo tồn đối với ngành thủy sản bền vững.
....
( còn tiếp )
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #191 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 07:59:11 am »

Quản lý Biển Đông: Từ tự do trên biển tới các phong trào khoanh vùng biển

.....
( Tiếp theo )

Những phong trào về an ninh

Biển Đông là một trong những vùng biển nhộn nhịp nhất trên thế giới. Hơn một nửa số thương thuyển (tính theo trọng tải) đi qua Biển Đông hàng năm. Hơn một nửa lưu lượng tàu chở dầu trên thế giới di chuyển qua vùng biển của khu vực này. Hơn một nửa trong số mười cảng vận chuyển hàng đầu trên thế giới nằm trên hoặc xung quanh Biển Đông. Đối với những quốc gia định hướng xuất khẩu nhưng nhập khẩu năng lượng của Đông Á, Biển Đông là một mạch vận tải chính cho việc xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu năng lượng thiết yếu. Biển Đông đang trở thành trung tâm của cuộc cách mạng công nghiệp Châu Á (Xem hình 1)

Biển Đông cũng là một liên kết hàng hải chiến lược giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Đối với các cường quốc hàng hải, tự do hàng hải thông qua các tuyến đường biển của Biển Đông là hết sức quan trọng đối với đội tàu hải quân của họ. Các quốc gia có vận chuyển và lợi ích của hải quân lớn như Hoa Kỳ và Nhật Bản chủ yếu là muốn duy trì tự do hàng hải qua eo biển và tuyến đường biển của Biển Đông cho tàu chở dầu, tàu container, tàu hải quân của họ. Mỹ sẽ gửi tàu chiến của mình, bao gồm tàu sân bay của Hạm đội Thái Bình Dương, qua Biển Đông để hỗ trợ cho các sứ mệnh quân sự của họ ở biển Ả Rập và vùng Vịnh Ba Tư. Đây là đường giao thông huyết mạch trọng yếu kết nối Nhật Bản với các nhà cung cấp năng lượng Trung Đông (Xem Bản đồ 2)

Bản đồ 2

Khối lượng tàu bè qua lại lớn trong khu vực Biển Đông đã tạo ra cơ hội cho các cuộc tấn công vào các tàu thương mại. Hơn hai thập kỷ qua, hơn một nửa báo cáo trên thế giới về cướp biển diễn ra trên hoặc xung quanh Biển Đông. Do ảnh hưởng của cướp biển và hâụ khủng bố 9/11, đã có sự giám sát quốc tế tăng cường đối với các cảng và các container vận chuyển bằng đường biển. Các nước ven biển có nhiều mối quan tâm an ninh khác, bao gồm cả những xung đột thường xuyên liên quan đến đến các tàu đánh cá cạnh tranh các nguồn cá đang dần cạn kiệt, cũng như việc buôn bán ma túy, người tị nạn và lao động cưỡng bức.

Do ảnh hưởng của tất cả những mối lo ngại an ninh này, đã có sự giám sát quốc tế tăng cường đối với các tuyến đường biển, cảng, và các container vận chuyển đường biển. Các nước ven biển đang hiện đại hóa hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển và  các đội tuần tra để bảo đảm an toàn tuyến đường biển cũng như nguồn tài nguyên biển của mình. Do đó, các hoạt động thu thập tình báo và quân đội của một số quốc gia đang ngày càng sâu sắc, mang tính xâm nhập, gây tranh cãi, và nguy hiểm.
....
( còn tiếp )
link: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/1339-quan-ly-bien-dong-tu-tu-do-tren-bien-toi-cac-phong-trao-khoanh-vung-bien
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Năm, 2011, 08:15:47 am gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #192 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:07:56 am »

Quản lý Biển Đông: Từ tự do trên biển tới các phong trào khoanh vùng biển

.....
( Tiếp theo )
Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế là sợi dây liên kết  và phụ thuộc giữa các quốc gia. Tuy nhiên, điều đó cũng không hoàn toàn ngăn cản được những tranh chấp, xung đột tại Biển Đông  xảy ra.

Các xu hướng Thống nhất

Hội nhập kinh tế khu vực là một nhân tố chính cho sự thống nhất giữa ba phong trào kiểm soát tài nguyên, bảo tồn, và an ninh này. Bắt đầu với những xu hướng tự do hóa và toàn cầu hóa trong những năm 1980 và 1990, và tiếp tục với các cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 và 2008, đã có một sự phụ thuộc lẫn nhau về phát triển kinh tế giữa các quốc gia xung quanh Biển Đông. Điều này là hiển nhiên trong mô hình chuyển dịch thương mại của ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á – Brunei Darussalam, Campuchia,Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thá Lan và Việt Nam). Năm 1980, 54,3% tổng thương mại của ASEAN là với Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU. Đến năm 2009, thương mại của ASEAN với Nhật Bản, Hoa Kỳ, và Liên minh châu Âu đã giảm tới 31,4%. Ngược lại, thương mại nội khối ASEAN, cũng như thương mại của ASEAN với Trung Quốc và Hàn Quốc đã tăng đáng kể, từ 29,6% tổng thương mại ASEAN năm 1980 lên 41% tổng thương mại ASEAN trong năm 2009. Sự phát triển của CAFTA – Hiệp định Thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN  - là một động lực quan trọng khác cho sự thống nhất này. Khu vực này có tiềm năng tạo ra một thị trường thống nhất với 1,8 tỷ dân, 2 nghìn tỷ USD GDP, 17 nghìn tỷ USD  tổng khối lượng thương mại và hơn 600 tỷ USD dự trữ ngoại hối (Xem hình 2).

Hình 2

Những lợi ích chung từ hội nhập kinh tế khu vực mang lại một động lực mạnh mẽ để cân đối các phong trào kiểm soát tài nguyên, bảo tồn, và an ninh. Ví dụ như lưu lượng tàu chở dầu – vốn đã cao - sẽ tăng lên đáng kể với sự gia tăng có kế hoạch trong việc nhập khẩu dầu của Trung Quốc. Hầu như tất cả các nhu cầu tăng thêm này của Châu Á, cũng như nhu cầu dầu của Nhật Bản, sẽ được nhập khẩu từ Trung Đông và châu Phi. Hầu hết các tàu chở dầu phải đi qua eo biển chiến lược Malacca vào Biển Đông. Các tàu chở dầu siêu lớn đi tới Nhật Bản sẽ đi qua eo biển Lombok rộng hơn, ở phía đông của Bali. Rõ ràng, có một mối quan tâm thống nhất giữa những phong trào này để đảm bảo an toàn, an ninh cho các tàu thuyền đi qua các vùng biển tranh chấp và cho các nguồn tài nguyên mà nó có (xem hình 3).

Hình 3

.....
( còn tiếp )
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #193 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:10:54 am »

Quản lý Biển Đông: Từ tự do trên biển tới các phong trào khoanh vùng biển

.....
( Tiếp theo )

Khi hội nhập kinh tế khu vực tăng lên, số lượng và cường độ của các vấn đề an ninh biển mang tính chất khu vực ở Biển Đông cũng tăng lên. Đây là những vấn đề xuyên biên giới mà không một quốc gia nào có thể tự giải quyết được - ví dụ bao gồm giao thông hàng hải tắc nghẽn, ô nhiễm không khí, đánh bắt bất hợp pháp hoặc quá mức, buôn lậu, cướp biển, và khủng bố. Một khi những vấn đề chủ quyền chưa được giải quyết, môi trường biển vẫn còn bị tổn thương, sinh cảnh biển bị phá hủy, trữ lượng cá bị khai thác cạn kiệt, và thiếu an toàn biển. Chỉ có sự hợp tác đa phương giữa các bên liên quan mới có thể khắc phục tình trạng này. Do đó, đang có một nhu cầu ngày càng tăng về việc xây dựng các thiết chế khu vực giữa các quốc gia ven biển và các quốc gia sử dụng xung quanh vùng Biển Đông và vô vàn cơ hội tốt để thực hiện điều này.

Các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, vốn từng được xem là điểm nóng tiềm năng, đã được giảm nhẹ đáng kể nhờ Tuyên bố năm 2002 về Cách cư xử của các bên. Đó là thỏa thuận đa phương chính thức đầu tiên của Trung Quốc về Biển Đông, và toàn bộ ASEAN là một bên thỏa thuận. Trung Quốc có vai trò đáng kể trong việc làm cho thỏa thuận này có hiệu quả, vì điều này sẽ hạn chế việc quốc tế hóa các tranh chấp, nghĩa là, không có sự tham gia của các bên ngoài ASEAN như Hoa Kỳ hay Nhật Bản. Tuy nhiên đây vẫn chỉ là một tuyên bố chứ không phải là một Bộ Quy tắc do đó không có nhiều thẩm tra hay cam kết tuân thủ.

Hiệp định khung về  hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Trung Quốc năm 2002 dẫn đến việc thỏa thuận được ký kết vào năm 2004 nhằm thực hiện một khu vực Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc (FTA) vào năm 2010. Sau hội nghị thượng đỉnh lần thứ 10 của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), tại Viêng Chăn, Lào vào tháng 11 năm 2004, Bắc Kinh đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh của riêng mình với các nhà lãnh đạo ASEAN (ASEAN + 1 ) và sau đó tham gia cùng Nhật Bản và Hàn Quốc thảo luận với các nhà lãnh đạo ASEAN (ASEAN + 3, hoặc APT). Sách Trắng Quốc phòng của Trung Quốc năm 2005 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo đuổi các sáng kiến đối ngoại hòa bình thông qua phương pháp tiếp cận đa phương để thúc đẩy phát triển trong nước. Bắc Kinh trong tháng Mười trước đó đã chủ trì Hội nghị Chính sách An ninh đầu tiên của Diễn đàn khu vực ASEAN. Hội nghị đề cao phương pháp chống cướp biển và và hội thảo về chống khủng bố. Các khía cạnh kinh tế của lợi ích an ninh hàng hải của Trung Quốc bao gồm lợi ích trên Biển Đông, được nhấn mạnh bởi một thực tế là 90% ngoại thương của nước này là dựa vào đường biển.

Một số các thể chế khu vực bây giờ đang trong những giai đoạn xây dựng khác nhau, trong đó bao gồm ASEAN + 1 (Trung Quốc), ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), ARF (Diễn đàn khu vực ASEAN gồm 27 nước thành viên), Đối tác Đối thoại ASEAN (ASEAN + 10 nước), và EAS (Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á gồm 16 nước trong khu vực) và nhiều cơ chế khác. ASEAN đã đưa ra sáng kiến trong nhiều cơ chế này và đã bắt đầu nhấn mạnh  hợp tác chức năng về các vấn đề phi truyền thống có ảnh hưởng đến phúc lợi của mỗi công dân, trái với các vấn đề an ninh truyền thống liên quan đến việc bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Hai cuộc họp gần đây tại Hà Nội cho thấy phạm vi mở rộng của những nỗ lực này. Các Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN Mở rộng (ADMM +) đã được bắt đầu vào ngày 12 Tháng 10 năm 2010 với sự tham gia của Bộ trưởng quốc phòng các nước ASEAN, Australia,Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Nga, và Hoa Kỳ. Việc có nhiều quan chức quốc phòng cấp cao tham gia cuộc họp chính thức để thảo luận về an ninh khu vực là một sự kiện hiếm thấy trong lịch sử ASEAN. Chương trình nghị sự bao gồm các vấn đề xuyên biên giới như cứu trợ thiên tai, chống khủng bố, gìn giữ hòa bình và an ninh hàng hải. Tiếp theo, Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) đã được tổ chức tại Hà Nội ngày 30/10/2010. Hai vị khách mới được mời là Nga và Hoa Kỳ. Các chương trình nghị sự của EAS được mở rộng, bao gồm các cuộc thảo luận về hợp tác chức năng trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, năng lượng, môi trường và kiểm soát dịch bệnh. Họ dự định thành lập một Mạng lưới Tài chính Thương mại EAS và một kế hoạch kết nối chủ yếu của  ASEAN để tạo ra một cơ sở hạ tầng vật chất và tài chính cho khu vực.

Các xu hướng gây chia rẽ

Biển Đông là một khu vực tranh chấp ít nhất kể từ 1608 khi Hugo Grotius đề ra "Mare Liberum, Tự do biển, hay là các quyền thuộc về người Hà Lan khi tham gia vào thương mại Đông Ấn." Từ khi được ban hành vào năm 1994, Công ước của LHQ về Luật biển (UNCLOS) đã cung cấp khuôn khổ pháp lý quốc tế quan trọng để quản lý quyền qua lại quốc tế và quy định về những tuyên bố về lãnh thổ đang bị tranh chấp ở vùng Biển Đông. Tuy nhiên, có sự nhầm lẫn và tranh cãi đáng kể về quy phạm pháp luật về thực hiện quyền qua lại “vô hại” qua các vùng lãnh hải, đặc biệt là tàu chiến và quyền tiến hành các hoạt động do thám quân sự tại các Vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia ven biển.

Hai sự kiện gần đây đã chứng minh những vấn đề chưa được giải quyết này dễ tổn thương như thế nào. Một là cuộc đối đầu giữa tàu USNS Impeccable và các tàu Trung Quốc gần đảo Hải Nam vào tháng 3 năm 2009. Sự kiện khác là tuyên bố của Malaysia và Việt Nam yêu cầu được kiểm soát tài nguyên thiên nhiên trên một khu vực rộng lớn của Biển Đông. Tuyên bố này được bao gồm trong đệ trình chung của hai nước gửi tới Ủy Ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS), một cơ quan khoa học được thành lập bởi UNCLOS. Trung Quốc đã nhanh chóng đưa ra phản đối kịch liệt đối với những tuyên bố của các nước trên, nhưng rồi đến lượt lại bị Hoa Kỳ phản đối.

Sự kiện đầu tiên - cuộc đối đầu giữa tàu USNS Impeccable và các tàu cá của Trung Quốc vào tháng 3 năm 2009 - cũng tương tự như một cuộc đụng độ khác, sự va chạm giữa một máy bay do thám EP-3 của Mỹ và máy bay chiến đấu phản lực Trung Quốc vào ngày 1 tháng 4 năm 2001. Cả hai sự kiện đều xảy ra gần đảo Hải Nam, trong Vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Cả hai xảy ra vào thời điểm bắt đầu một chính quyền mới ở Mỹ. Cả hai đều cảnh báo một cuộc khủng hoảng chính trị. Cả hai sự kiên xảy ra đều cơ bản do sự mơ hồ trong luật biển quốc tế liên quan đến quyền tiến hành hoạt động do thám quân sự tại các vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia ven biển.

Trong cuộc đụng độ năm 2001, một phi công Trung Quốc đã chết sau khi máy bay chiến đấu của anh ta bị đâm. Máy bay của Hải quân Mỹ đã bị hư hỏng nặng đến nỗi nó phải hạ cánh khẩn cấp trên đảo Hải Nam của Trung Quốc. Phi hành đoàn Mỹ gồm 24 người đã bị bắt giữ bởi quân đội Trung Quốc trong 11 ngày, cho đến khi  Washington bày tỏ sự xin lỗi của mình. Trung Quốc từ chối không cho các quan chức Mỹ sửa chữa máy bay của Hải quân Mỹ và cho nó cất cánh bay ra khỏi đảo Hải Nam. Cuối cùng nó đã được tháo rời để vận chuyển về nước.

Vào ngày 08 tháng ba năm 2009, Lầu Năm Góc báo cáo rằng năm tàu Trung Quốc đã đụng độ với một tàu do thám biển không vũ trang của Mỹ, tàu USNS Impeccable, và đã tham gia vào "một nỗ lực liều lĩnh và nguy hiểm" ở khoảng 70 hải lý hay 120 km về phía nam đảo Hải Nam. Các tàu Trung Quốc được báo cáo là đã "theo dõi và ra oai một cách hung hãn ở khoảng cách gần một cách nguy hiểm" đối với tàu Impeccable trong nỗ lực  đuổi con tàu này ra khỏi khu vực. Đội thuỷ thủ tàu Hoa Kỳ phản ứng bằng cách sử dụng vòi rồng để phun vào các tàu Trung Quốc. Hai tàu Trung Quốc sau đó đã chặn đường và ném các mảnh vỡ vào trong nước, buộc tàu của Mỹ phải dừng lại để tránh va chạm. Các tàu Trung Quốc áp sát chiếc Impeccable bao gồm một tàu thu thập tình báo của Hải quân Trung Quốc, một tàu ngư chính của Cục Hàng hải, một tàu tuần tra của cơ quan Hải dương học Quốc gia, và hai tàu đánh cá nhỏ có treo cờ Trung Quốc (http://www.southchinasea.org/Impeccable.html ).

Tàu USNS Impeccable là một đơn vị do thám dân sự có người lái của Chương trình Sứ mệnh đặc biệt của Bộ tư lệnh Hải vận Quân sự (MSC) Hoa Kỳ. Nó thường kéo theo một mạng ăng-ten định vị bằng sóng siêu âm và thường hoạt động với tàu ngầm. Vào lúc đó, một chiếc tàu Trung Quốc đã cố gắng phá dây kéo của tàu Impeccable bằng một móc dài.

Theo Lầu Năm Góc, sự hiếu chiến của Trung Quốc bắt đầu vài ngày trước khi một tàu tuần tra đánh cá Trung Quốc chiếu một đốm sáng cường độ cao vào con tàu USNS Victorious, một tàu do thám hoạt động trên biển Hoàng Hải. Ngày hôm sau, một máy bay giám sát hàng hải Y-12 của Trung Quốc đã bay sát con tàu này 12 lần ở độ cao thấp. Ngày hôm sau, quân đội Mỹ tuyên bố rằng một tàu chiến của Trung Quốc tiến lại gần tàu Impeccable mà không có cảnh báo và vượt qua mũi tàu của nó. Hai giờ sau, máy bay Y-12 bay sát tàu ở độ cao thấp. Hai ngày sau, vào ngày 7 tháng 3, một tàu của Trung Quốc đã gửi tín hiệu vô tuyến tới chiếc Impeccable tuyên bố tàu này phải rời đi hoặc "phải gánh chịu hậu quả." Phạm vi và thời gian kéo dài của hoạt động của Trung Quốc cho thấy một mức độ phối hợp chính sách cao.

Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ nói rằng tàu Impeccable đang thực hiện tuần tra thường xuyên và “rõ ràng đang hoạt động hợp pháp trong hải phận quốc tế”. Hải quân Mỹ đã thừa nhận rằng con tàu đang tiến hành do thám tàu ngầm nhưng cũng đã khẳng định rằng điều này không cần phải có sự cho phép từ phía Trung Quốc.

Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết "những tuyên bố của Mỹ đang xuyên tạc sự thật và trắng đen lẫn lộn, và chúnghoàn toàn không thể chấp nhận đối với Trung Quốc." Phó tham mưu trưởng Hải quân Trung Quốc cho biết, chiếc tàu Impeccable đã làm nhiệm vụ gián điệp và nó đã gây ra mối nguy hiểm cho các tàu trong khu vực khi nó kéo theo những dây cáp dài dưới nước. Trung Quốc tuyên bố các con tàu đã vi phạm luật pháp Trung Quốc và luật pháp quốc tế bằng việc tiến hành các hoạt động do thám bất hợp pháp và do thám  quân sự quá gần bờ biển của nước này.

Khi căng thẳng tăng lên, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì đã gặp Ngoại trưởng Hillary Clinton và bà đã nói rằng "cả hai bên đã nhất trí rằng chúng tôi đều muốn đảm bảo các loại sự cố như thế sẽ không tái diễn nữa." Ông Dương sau đó đã gặp gỡ với Tổng thống Mỹ Barack Obama trong phòng làm việc Oval. Cả hai đều nhấn mạnh sự cần thiết phải có thông tin liên lạc thường xuyên và sâu sắc hơn để tránh những đối đầu quân sự.

Trong khi đó, công tác tuần tra của Mỹ vẫn tiếp diễn trong khu vực, mặc dù Trung Quốc đã yêu cầu Hoa Kỳ ngừng việc do thám tại những khu vực tranh chấp. Hải quân Mỹ đã chỉ định tàu Chung-Hoon, một trục hạm trang bị vũ khí nặng, để hộ tống tàu Impeccable khi nó tiếp tục hoạt động trong vùng Biển Đông. Đáp trả lại,Trung Quốc phái tàu ngư chính lớn nhất và nhanh nhất, tàu quản lý đánh bắt cá số 31, để tuần tra hải phận thuộc Vùng đặc quyền kinh tế của nước này trên Biển Đông.

Hải quân Trung Quốc đã xây dựng một căn cứ mới cho hạm đội tàu ngầm hạt nhân trên đảo Hải Nam, và Hải quân Hoa Kỳ đã thừa nhận rằng họ rất quan tâm theo dõi hoạt động này. Căn cứ mới này mang lại cho Hải quân Trung Quốc sự tiếp cận với các tuyến đường biển của Biển Đông vốn rất quan trọng đối với thương mại hàng hóa quốc tế và nhập khẩu năng lượng và nguyên liệu thô.

Sự việc tàu Impeccable chứng tỏ rằng căng thẳng Mỹ-Trung không bao giờ có thể trùng xuống được. Dường như, các tranh chấp nhỏ có thể leo thang nhanh chóng. Thời gian của cuộc gặp gỡ này có phần gây ngạc nhiên khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton vừa công bố tuần trước tại Bắc Kinh rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục trao đổi quân sự ở tầm trung với Trung Quốc. Những trao đổi này đã bị tạm dừng vào năm 2008 sau vụ bán vũ khí lớn cho Đài Loan dưới thời chính quyền Bush.
....
( còn tiếp )
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #194 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:13:10 am »

Quản lý Biển Đông: Từ tự do trên biển tới các phong trào khoanh vùng biển

.....
( Tiếp theo và hết )
Yêu sách lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và bản đồ yêu sách hình chữ U của Trung Quốc

Sự kiện thứ hai liên quan đến những yêu sách trình lên Ủy ban về Ranh giới thềm lục địa của Malaysia và Việt Nam và những phản ứng chính trị của chúng tại Trung Quốc và Hoa Kỳ. Theo UNCLOS, một quốc gia ven biển có quyền tuyên bố một thềm lục địa vượt quá 200 hải lý từ đất liền hoặc hải đảo của nó, nếu quốc gia này cung cấp được thông tin khoa học và kỹ thuật về tuyên bố thềm lục địa của mình cho Ủy ban về ranh giới  thềm lục địa (CLCS). Hạn chót cho việc đệ trình là ngày 13/5/2009. Malaysia và Việt Nam đệ trình tuyên bố của mình vào ngày 06/5/2009. Việt Nam gửi tuyên bố bổ sung vào ngày 7/5/2009. Philippines phản đối các tuyên bố này và làm một đệ trình cục bộ về  tuyên bố riêng của mình. Trung Quốc sau đó đã phán bác lại rằng những đệ trình này vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước này trên Biển Đông. Điều này khiến cho tất cả các tuyên bố trên chỉ là cuộc tranh luận, vì Ủy ban về ranh giới thềm lục địa sẽ không xem xét đệ trình ở bất kỳ khu vực đang bị tranh chấp chủ quyền. Trong công hàm phản đối của mình gửi tới CLCS, Trung Quốc khẳng định:

Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, và được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng nước liên quan cũng như đáy biển và tầng đất của nó (xem bản đồ kèm theo).[1]

Bản đồ kèm theo là nguyên nhân chính gây tranh cãi. Bản đồ, ban đầu được xuất bản bởi Chính phủ Cộng hòa Trung Hoa vào năm 1947, có chín dấu gạch tạo thành một hình chữ U xung quanh Biển Đông. Đường hình chữ U bao quanh hầu hết vùng Biển Đông, và tiến rất gần đến các vùng lãnh thổ đất liền của Philippine, Đông Malaysia và Việt Nam. Đây dường như là lần đầu tiên Trung Quốc đính kèm bản đồ này trong một giao tiếp chính thức với Liên Hợp Quốc. Điều này đã dẫn một số kết luận rằng Trung Quốc chính thức tuyên bố tất cả các vùng biển trong đường hình chữ U là vùng nước lịch sử hoặc lãnh hải của nước này, một lập trường trái với Công ước của LHQ về Luật biển.

Những hành động này của Trung Quốc đã bị giới truyền thông nước Mỹ xem như là một mối đe dọa đối với các quyền tự do biển cả của việc bay trên không phận và hàng hải trên vùng Biển Đông. Điều này có thể đã khiến Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố tại cuộc họp củad Diễn đàn khu vực ASEAN tại Hà Nội vào tháng 7 năm 2010 rằng Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông, từ đó đưa nước Mỹ tham gia vào vấn đề mà luôn luôn được coi là một vụ tranh chấp khu vực.

Tuy nhiên, công hàm củaTrung Quốc gửi tới CLCS không tuyên bố rằng tất cả các vùng nước bên trong đường đứt nét là lãnh hải hoặc vùng nước lịch sử của mình, hoặc rằng nước này có bất cứ quyền lịch sử nào trong vùng nước bên trong đường đứt nét đó. Tuyên bố của Trung Quốc không phải đối với toàn bộ biển Đông, mà chỉ đối với các đảo bên trong các đường đứt nét, đối với vùng biển "liền kề" các đảo đó, có lẽ là nói đến một lãnh hải 12 hải lý, và đối với bất kỳ vùng biển nào được tạo ra từ những hải đảo này, một lập trường phù hợp với Công ước LHQ về Luật biển.

Các đệ trình về thềm lục địa của Malaysia, Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, và Brunei rõ ràng đã phức tạp hóa các tranh chấp cơ bản về chủ quyền đối với các đảo. Hiện vẫn còn những tranh cãi đáng kể về việc liệu bất kỳ đảo nào trong số này được quyền có Vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa của riêng mình hay không. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý rằng tất cả các nước này đang tuân theo các quy định được đưa ra bởi UNCLOS. Điều này thiết lập một khuôn khổ chung để có thể dễ dàng hơn trong việc tìm ra các giải pháp khả thi.

Phân tích và dự đoán

Có sự nhất trí chung rằng tự do hàng hải trong và bên trên Vùng đặc quyền kinh tế không nên gây trở ngại đối với quyền của các quốc gia ven biển. Tuy nhiên, vẫn còn bất đồng đáng kể về quyền qua lại vô hại qua lãnh hải (đặc biệt là các tàu chiến) cũng như quyền tiến hành các hoạt động do thám trong vùng đặc quyền kinh tế của một nước ven biển. UNCLOS quy định rằng người sử dụng trên thế giới đều có thể vào Vùng đặc quyền kinh tế của nước khác "với sự tôn trọng đúng mức" tới các quyền lợi và nghĩa vụ của nước ven biển. Tuy nhiên UNCLOS không xác định rõ  thế nào là "tôn trọng đúng mức" hoặc hoạt động quân sự hay nghiên cứu khoa học biển được phép.

Trung Quốc, nước đã ký hiệp định UNCLOS cho rằng hoạt động quân sự, khảo sát thủy văn và thu thập tình báo của tàu nước ngoài hoặc máy bay có thể được thực hiện trong một Vùng đặc quyền kinh tế chỉ khi có sự cho phép của quốc gia ven biển. Mặc dù Hoa Kỳ đã không ký vào UNCLOS, nhưng nước này cho rằng thu thập dữ liệu biển cho mục đích riêng của quân đội là một phần của tự do hàng hải trong vùng biển quốc tế, kể cả trong các Vùng đặc quyền kinh tế của một nước khác mà không cần sự đồng ý của nước này.

Các bên liên quan là các nước ven biển và quốc tế chia sẻ nhiều lợi ích chồng chéo, ví dụ như trong việc thúc đẩy an toàn hàng hải trên biển. Tuy nhiên, về các vấn đề khác như hoạt động quân sự ở các vùng đặc quyền kinh tế, chống hoạt động cướp biển hoặc các biện pháp thực thi chống khủng bố và tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, họ đều có quan điểm trái ngược nhau. Hoa Kỳ dường như sẽ tiếp tục do thám hải quân ở Biển Đông và Trung Quốc sẽ tiếp tục phản đối các hoạt động trong các vùng biển tranh chấp. Do đó, những sự cố trong tương lai dường như là có khả năng xảy ra. Mối nguy hiểm là mỗi sự có thể dẫn đến gây hiểu sai và có nguy cơ tạo ra một cuộc xung đột ngày càng rộng hơn.

Trong tương lai gần, những sự việc này không có khả năng leo thang thành một cuộc xung đột lớn vì có nhiều ưu tiên cấp bách hơn cho việc hợp tác khu vực. Các nền kinh tế của hai nước đang gắn bó với nhau chặt chẽ. Các công ty của Mỹ dựa vào Trung Quốc như một nguồn cung cấp lao động giá rẻ và Trung Quốc phụ thuộc rất lớn vào Hoa Kỳ như là một thị trường hàng hóa lớn của mình. Cả Ngoại trưởng Clinton và Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Timothy Geithner đã công khai kêu gọi Trung Quốc tiếp tục mua trái phiếu kho bạc Mỹ. Cho đến nay, không có dấu hiệu cho thấy sự cố tàu Impeccable đã phá vỡ các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về việc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Đây sẽ vẫn là một xích mích nhỏ miễn là Hoa Kỳ, con nợ lớn nhất thế giới, thấy mình mắc nợ với Trung Quốc, chủ nợ lớn nhất thế giới, và miễn là Trung Quốc tiếp tục phụ thuộc vào việc tiếp cận công nghệ và các thị trường tiêu dùng của Mỹ để tiếp tục tăng trưởng kinh tế, và miễn là các nước ASEAN tiếp tục các sáng kiến an ninh khu vực của mình.

Có thể đánh giá những xu hướng thống nhất và gây chia rẽ giữa các phong trào kiểm soát tài nguyên, bảo tồn, và an ninh như thế nào? Ba tiêu chuẩn có thể hữu ích để đánh giá sự tiến bộ của các mối quan hệ hàng hải. Một là tính lịch sử: làm thế nào các mối quan hệ tiến triển theo thời gian? Thứ hai là tính xuyên quốc gia: so sánh mối quan hệ này với các phong trào hội nhập khu vực khác, chẳng hạn như Liên minh châu Âu như thế nào? Thứ ba là tính tối ưu: những mối quan hệ này hướng giải quyết các mục tiêu chung tốt đến mức nào?

Theo tiêu chuẩn lịch sử, một số xu hướng rõ ràng là: kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng về tổng sản lượng và thương mại khu vực cũng như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI). Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại hàng đầu của hầu hết mọi quốc gia ở châu Á, không chỉ trong khối ASEAN. Có lẽ sự phát triển quan trọng nhất gần đây là Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc đã bắt đầu các cuộc họp hội nghị thượng đỉnh hàng năm để đối phó với các vấn đề gai góc của mình về kinh tế và môi trường như ngành nông nghiệp được bảo hộ cao độ của các nước này. Hợp tác đa phương về hàng hải vẫn còn khó khăn do những tranh chấp lãnh thổ, tuy nhiên, nếu hòa giải tiếp tục giữa ba nền kinh tế lớn nhất khu vực Đông Á, sau đó những sáng kiến phong phú về hội nhập khu vực của ASEAN sẽ gieo mầm tốt cho an ninh hàng hải và hợp tác trên Biển Đông.

Tuy nhiên, theo tiêu chuẩn xuyên quốc gia, hội nhập khu vực vẫn còn một khoảng cách dài để bắt kịp với mức độ hội nhập khu vực đạt được của EU hoặc NAFTA. Ví dụ, tỷ lệ xuất khẩu trong nội khối của EU-15 là hơn 60% trong 10 năm qua; đối với NAFTA là trên 50%; đối với ASEAN, bây giờ đang gần đạt được 40% tổng xuất khẩu (Dữ liệu thương mại ASEAN, aseansec.org). Có tiềm năng đáng kể để mở rộng thương mại  và đầu tư trong khu vực như là chìa khóa cho hội nhập hàng hải khu vực.

Theo tiêu chuẩn tối ưu, các phong trào kiểm soát tài nguyên, bảo tồn, và an ninh phải giải quyết được nghịch lý sau: đó là gia tăng hội nhập khu vực đã thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc về nguồn tài nguyên. Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng của các quốc gia và thị trường thông qua thương mại, đầu tư, di cư, và văn hóa phổ biến cũng đã làm tăng những nỗ quốc gia-dân tộc trong việc mở rộng và củng cố tuyên bố chủ quyền của mình đối với các vùng biển chung của họ. Điều này xảy ra tại một thời điểm khi họ phải cùng đối phó với một Trung Quốc đang lớn mạnh khi nước này trở thành một siêu cường đòi hỏi quyền lợi riêng của mình, trong một khu vực Đông Á với - lần đầu tiên - cả một Trung Quốc và một Nhật Bản hùng mạnh, và với một Kỳ Hoa luôn hướng tới việc duy trì vị thế siêu cường của mình. Với sáng kiến an ninh khu vực ASEAN, việc tái định hướng chính sách ngoại giao hướng ngoại của Trung Quốc, và chủ nghĩa đa phương của Mỹ, có một cửa sổ cơ hội đặc biệt mở ra để tăng cường quan hệ an ninh hàng hải trên Biển Đông.

Giáo sư David Rosenberg, Đại học Middlebury
link: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/1341-quan-ly-bien-dong-tu-tu-do-tren-bien-toi-cac-phong-trao-khoanh-vung-bien-tiep-theo
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #195 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:01:20 pm »

Mời các bác cùng tham khảo quan điểm của Mỹ về tranh chấp biển Đông thông qua tài liệu điều trần Thượng viện Mỹ ngày 15.7.2009 và điều trần Ủy ban đánh giá Mỹ - Trung 4.2.2010.

Điều trần Thượng viện Mỹ


Phát biểu khai mạc của thượng nghị sị Webb


Xin chào quý vị, buổi điều trần sẽ được bắt đầu theo trình tự. Trong buổi điều trần giám sát đầu tiên này của Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Quốc hội khoá 111, chúng ta sẽ xem xét những tranh chấp lãnh thổ biển đảo ở châu Á và tác động của các vấn đề chủ quyền đối với khu vực và lợi ích của Mỹ.
Tại châu Á, không vấn đề nào lại đặt ra những thách thức to lớn và phức tạp cho nước Mỹ như các vấn đề này.

Trọng tâm của vấn đề chính là sức mạnh quân sự, ngoại giao và kinh tế đang gia tăng của Trung Quốc không chỉ ở khu vực mà còn cả thế giới. Sự phát triển của Trung Quốc đã làm thay đổi cán cân kinh tế khu vực và giúp Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng chính trị. Trên toàn lục địa Đông Á, từ My-an-ma đến Việt Nam, chúng ta đều thấy sự lo ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc.

Khi Mỹ tiếp tục cố gắng cô lập My-an-ma do chính sách nhân quyền của chính quyền quân sự nước này thì ảnh hưởng của Trung Quốc đã tăng lên với cấp số nhân, trong đó có thông báo mới đây về dự án xây dựng đường ống dẫn dầu trị giá nhiều tỉ đô la cho phép Trung Quốc chuyển thẳng dầu từ Vịnh Péc-xích về tỉnh Vân Nam mà không phải qua “nút cổ chai” là eo biển Ma-lắc-ca.

Tại Việt Nam, hồi tháng 1 vừa qua, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và là cựu Bộ trưởng Quốc phòng, đã gửi thư ngỏ tới chính phủ Việt Nam, trong đó ông kêu gọi dừng dự án khai thác bô-xít khổng lồ trị giá nhiều tỉ đô la của Trung Quốc tại khu vực Tây Nguyên, vì dự án sẽ làm huỷ hoại môi trường, gây tổn hại cho các dân tộc thiểu số trong khu vực và quan trọng nhất là đe doạ tới an ninh quốc gia của Việt Nam.

Một điểm quan trọng là Trung Quốc không chỉ tìm cách mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chính trị mà còn  cả lãnh thổ của nước này. Việc Trung Quốc hiện đại hoá quân đội là nhằm trực tiếp thực hiện nỗ lực này. Hải quân của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đang xây dựng năng lực “hải dương nước xanh”, giúp nước này phát huy ảnh hưởng cả trong và ngoài khu vực. Hải quân Trung Quốc ngày nay có 241 tàu chiến, trong đó có 60 tàu ngầm. Đầu năm nay, Bộ Quốc phòng cho biết “Hải quân Trung Quốc đang xem xét việc đóng nhiều tàu khu trục vào năm 2020”. Bên cạnh việc chế tạo tàu khu trục, Hải quân Trung Quốc cũng đang nhanh chóng hiện đại hoá hạm đội tàu ngầm và tàu chiến trên mặt nước để tăng cường khả năng chiến đấu xa bờ. Diễn biến này tạo ra mối đe doạ nghiêm trọng đối với cân bằng địa chiến lược hiện nay ở châu Á.

Đặc biệt quan trọng là những đòi hỏi về chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Hoa Nam. Đài Loan ở trên tuyến đầu trong những những tranh chấp này. Tuy nhiên, xung đột tiềm tàng này đã làm lu mờ những tranh chấp khác trong khu vực.

Trung Quốc cũng đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Senkaku, Hoàng Sa và Trường Sa. Bất chấp việc Nhật Bản kiểm soát đảo Senkaku kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II - và việc các nước khác trong đó có Mỹ công nhận chủ quyền của Nhật Bản đối với những đảo này - Trung Quốc vẫn công khai đòi hỏi chủ quyền đối với đảo Senkaku. Hơn thế nữa, Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bao giờ chính thức công nhận chủ quyền của Nhật Bản đối với đảo Ryukyu, gồm cả Okinawa.

Ở Biển Nam Trung Hoa, nhiều tranh chấp chưa được giải quyết liên quan tới một số nhóm đảo mà các bên Trung Quốc, Việt Nam, Phi-líp-pin, Đài Loan, Ma-lai-xi-a và Brunei đòi hỏi toàn bộ hoặc một phần. Các đòi hỏi chủ quyền chính tập trung vào quần đảo Trường Sa, gồm 21 đảo và đảo nhỏ, 50 đảo chìm và 28 bãi đá chìm. Diện tích đất của các đảo này rất nhỏ, nhưng chúng trải rộng trên hơn 340.000 dặm vuông. Trung Quốc và Việt Nam đều khẳng định chủ quyền đối với đảo Hoàng Sa - một nhóm đảo nhỏ hơn nằm ở phía nam đảo Hải Nam của Trung Quốc.

Những tranh chấp này ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nước thứ ba trong khu vực, và cũng phải nhấn mạnh rằng chỉ có Mỹ mới có cả vị thế và sức mạnh quốc gia để đối phó với sự bất cân bằng rõ ràng về quyền lực mà Trung Quốc tạo ra. Ở góc độ này, chúng ta có nghĩa vụ phải làm việc đó nếu muốn duy trì cân bằng địa chiến lược trong khu vực nhằm bảo đảm sự công bằng cho tất cả các quốc gia ở châu Á và bảo vệ tiếng nói của tất cả các nước muốn tìm kiếm giải pháp hoà bình cho các tranh chấp của họ. Sự tham gia của Mỹ trong những tranh chấp này cũng tác động tới nhận thức của các quốc gia về các mối đe doạ trong môi trường khu vực và những lựa chọn có thể có đối với họ khi muốn bảo vệ lợi ích của mình. Trung Quốc đã cho thấy nước này sẵn sàng phô diễn sức mạnh quân sự mới và đôi khi tỏ ra sẵn sàng dùng vũ lực để đòi hỏi chủ quyền trên biển. Để đối phó, các nước trong khu vực cũng đang hiện đại hoá khả năng hải quân của họ, chẳng hạn như Việt Nam quyết định mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga.

Bên cạnh đó, nhiều nhà quan sát thấy rằng kiểu đe dọa của Trung Quốc có thể cản trở sự phát triển kinh tế tự do và công bằng trong khu vực. Ví dụ, việc Trung Quốc mới đây giam giữ các ngư dân Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa và công khai đe doạ các công ty dầu khí Mỹ đang hoạt động tại Biển Nam Trung Hoa làm gia tăng bất trắc đối với hoạt động hàng hải và đánh bắt và hạn chế công việc thăm dò khai thác. Nếu không có phản ứng trước những hành động này sự thịnh vượng của khu vực sẽ bị đe doạ.

Những tranh chấp này cũng khiến Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì chúng đe dọa hoà bình và an ninh khu vực. Cuộc khủng hoảng tên lửa ở Eo biển Đài Loan năm 1995-96 cho thấy Mỹ là cường quốc thế giới duy nhất có khả năng phản ứng trước những hành động gây hấn và đe doạ của Trung Quốc. Xem xét những sự kiện gần đây, cách Mỹ phản ứng trước những va chạm trên biển có vẻ giống như là cách phản ứng trước các thách thức chiến thuật mang tính đơn lẻ, trong khi đó Trung Quốc có vẻ như đang hành động với một tầm nhìn chiến lược. Những sự kiện rắc rối này gồm cuộc khủng hoảng máy bay EP-3 năm 2001, vụ tàu ngầm Trung Quốc nổi lên trong phạm vi hoạt động của nhóm tàu khu trục USS Kitty Hawk năm 2006, vụ quấy rối tàu USNS Impeccable tháng ba năm nay và vụ tàu ngầm Trung Quốc va chạm thiết bị định vị của tàu hải quân Mỹ John McCain tháng trước. Tôi rất muốn được nghe suy nghĩ của các nhân chứng về cách Mỹ nên phản ứng trước những sự kiện này như thế nào.

Là một quốc gia biển, Mỹ phải duy trì chất lượng và sức mạnh hải quân của mình nếu không muốn nói là phải cải thiện nó hơn nữa. Quỹ đạo của sức mạnh ấy trong thời gian gần đây không thực sự đáng khích lệ. Khi tôi lần đầu tiên tham gia Binh chủng Hải quân Mỹ năm 1968, Hải quân Mỹ lúc đó có 931 tàu chiến. Khi tôi giữ chức Bộ trưởng Hải quân năm 1988, lực lượng này là 569 tàu. Hiện nay, Hải quân Mỹ có 284 tàu chiến có thể được triển khai, với 42% số đó đang được triển khai. Mặc dù chất lượng của 241 tàu chiến của Trung Quốc không thể đuổi kịp Mỹ nhưng khoảng cách chất lượng đang được thu hẹp dần.

Nếu Mỹ muốn tiếp tục là một quốc gia châu Á và là một quốc gia biển, các nhà lãnh đạo của chúng ta phải đưa ra sự lựa chọn. Ngành ngoại giao và quân đội chúng ta - và đặc biệt là Hải quân - phải có những nguồn lực cần thiết để bảo vệ các lợi ích của Mỹ và lợi ích của các đồng minh chúng ta. Sức mạnh thông minh phải được củng cố bằng sức mạnh quân sự.

Để thấy tính chất phức tạp của các tranh chấp biển đảo ở châu Á, buổi điều trần hôm nay sẽ có hai phiên. Tôi xin cảm ơn Chính phủ đã cử Phó trợ lý Ngoại trưởng Scot Marciel và Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher đến để trình bày quan điểm của Chính phủ về những vấn đề này. Bên cạnh đó, trong phiên hai, ba chuyên gia khác sẽ trình bày về những tác động chiến lược và ảnh hưởng về kinh tế của những tranh chấp này. Xin cảm ơn tất cả quý vị có mặt tại đây hôm nay và tôi trông đợi ý kiến của quý vị.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/sn_hearing_170809.html

(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Aithenay
Thành viên
*
Bài viết: 7


« Trả lời #196 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:07:54 pm »


Bản đồ 1

....
( còn tiếp )

[/quote]

Sao trong cái bản đồ này, phân định vùng cửa vịnh Bắc bộ của ta lại méo mó vậy nhỉ. Theo tôi biết thì đường phân định nằm giữa chứ như trong hình lại có vẻ như chia phần lớn hơn về phía Trung quốc. Không hiểu tác giả có ý đồ gì khi đưa ra cái hình này ko nhỉ?HuhHuh
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #197 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:09:09 pm »

( tiếp theo )
Điều trần của Phó trợ lý Ngoại trưởng Scot Marciel, vụ các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ

Các vấn đề biển đảo và tranh chấp chủ quyền ở Đông Á

Kính thưa Chủ toạ Webb và các thành viên Tiểu ban. Tôi vinh dự được điều trần trước quý vị ngày hôm nay về các vấn đề biển đảo và chủ quyền ở Đông Á. Những tuyến đường hàng hải qua khu vực Đông Á nằm trong số những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất trên thế giới và quan trọng nhất về mặt chiến lược. Đó là những tuyến thương mại huyết mạch tạo ra tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của khu vực và mang lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế Mỹ. Trao đổi thương mại trị giá nhiều tỉ đô la, phần lớn trong thương mại của châu Á với thế giới, kể cả Mỹ, được trung chuyển qua các vùng biển này mỗi năm Chỉ riêng ở Biển Nam Trung Hoa, mỗi năm có tới hơn một nửa số tàu buôn có trọng tải hàng tấn của thế giới đi qua.

Hoa Kỳ từ lâu có lợi ích sống còn trong việc duy trì ổn định, tự do hàng hải và quyền tiến hành các hoạt động thương mại hợp pháp trên các tuyến đường thuỷ tại Đông Á. Nhiều thập kỷ qua và cho đến tận hôm nay, sự can dự tích cực của Hoa Kỳ ở Đông Á, trong đó có sự hiện diện của các lực lượng quân sự Hoa Kỳ, vẫn là nhân tố chủ chốt duy trì hoà bình và bảo vệ những lợi ích này. Bằng các biện pháp ngoại giao, thương mại và sự hiện diện về quân sự trong khu vực, chúng ta đã bảo vệ được những lợi ích sống còn của nước Mỹ. Mối quan hệ của chúng ta với các đồng minh vẫn rất chặt chẽ, khu vực hiện nay đang có hoà bình và, như quý vị đều biết, Hải quân Mỹ tiếp tục thực hiện đầy đủ mọi sứ mệnh cần thiết để bảo vệ đất nước và duy trì lợi ích của chúng ta.

Sự hiện diện và chính sách của chúng ta còn nhằm hỗ trợ việc tuân thủ luật biển quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc. Mặc dù Hoa Kỳ chưa phê chuẩn Công ước này, như Ngài Chủ toạ cũng biết, chính quyền Mỹ hiện nay và các chính quyền tiền nhiệm đều ủng hộ việc tuân thủ công ước này, và trên thực tế tàu thuyền của chúng ta đều tuân thủ các quy định về việc sử dụng đại dương theo truyền thống.

Những vấn đề liên quan đến tranh chấp biển đảo và chủ quyền ở Đông Á đa diện và rất phức tạp. Được phép của Ngài Chủ toạ, tôi xin tập trung vào ba chủ đề sau:

    - Thứ nhất, các tranh chấp chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa;
    - Thứ hai, những vụ va chạm gần đây liên quan đến Trung Quốc và các hoạt động của tàu hải quân Mỹ trong vùng biển quốc tế thuộc Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc (EEZ);
    - Và cuối cùng là bối cảnh chiến lược của những vấn đề này và phản ứng nước Mỹ nên có.

Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Brunei mỗi bên đều khẳng định chủ quyền đối với các phần thuộc Biển Nam Trung Hoa, kể cả các phần đất phụ thuộc. Phạm vi và mức độ đòi hỏi chủ quyền của từng bên cũng khác nhau. Đòi hỏi về chủ quyền của các bên tập trung vào hơn 200 đảo nhỏ, bãi đá và các đảo chìm thuộc quầndãy đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngoại trừ tranh chấp chủ quyền, Biển Nam Trung Hoa nhìn chung là hoà bình. Căng thẳng giữa các bên lúc gia tăng, lúc lắng dịu. Cho đến nay, các tranh chấp chưa đến mức trở thành xung đột quân sự kéo dài. Năm 2002, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký “Tuyên bố về Ứng xử của Các bên ở Biển Nam Trung Hoa.” Mặc dù tuyên bố này không mang tính ràng buộc nhưng nó quy định những nguyên tắc hữu ích, chẳng hạn như tất cả các bên phải “giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình” và “tự kiềm chế”, đồng thời các bên “tái khẳng định tôn trọng và cam kết về quyền tự do hàng hải và tự do bay trên vùng trời Biển Nam Trung Hoa, như được quy định trong các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận toàn cầu, trong đó có Công ước Luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc.”

Quan trọng hơn, văn kiện ký kết năm 2002 này cho thấy các bên sẵn sàng tiếp cận đa phương về vấn đề này. Chúng ta hoan nghênh thoả thuận này, vì nó giúp làm giảm căng thẳng giữa các bên và củng cố ASEAN với tư cách một tổ chức. Mặc dù không loại trừ được căng thẳng và cũng không loại trừ được hành động đơn phương của các bên ở Biển Nam Trung Hoa, nhưng văn kiện này là bước khởi đầu, là một cơ sở tốt để giải quyết xung đột trong khu vực bằng biện pháp ngoại giao.

Mỹ sẽ tiếp tục chính sách không đứng về bên nào trong các tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa. Nói cách khác, chúng ta không đứng về bên nào trong những đòi hỏi chủ quyền đối với các đảo và các phần đất phụ thuộc ở Biển Nam Trung Hoa, hoặc các vùng biển (vùng lãnh hải) xuất phát từ các phần đất đó. Tuy nhiên chúng ta quan ngại về những lời tuyên bố về “hải phận” hoặc bất kỳ vùng biển nào không bắt nguồn từ lãnh thổ. Đòi hỏi chủ quyền đối với những vùng biển này không phù hợp với luật pháp quốc tế, như được ghi nhận trong Công ước Luật biển.
...
( còn tiếp )


« Sửa lần cuối: 10 Tháng Năm, 2011, 03:15:15 pm gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #198 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:12:49 pm »

Điều trần của Phó trợ lý Ngoại trưởng Scot Marciel, vụ các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ
....
( tiếp theo )

Chúng ta lo ngại về căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam, vì hai quốc gia này đều đang tìm kiếm trữ lượng dầu và hơi đốt dưới đáy Biển Nam Trung Hoa. Bắt đầu từ mùa hè năm 2007, Trung Quốc đã yêu cầu một số công ty dầu khí của Mỹ và nước ngoài phải dừng hoạt động thăm dò với các đối tác Việt Nam ở Biển Nam Trung Hoa nếu không sẽ phải chịu hậu quả không báo trước khi họ làm ăn với Trung Quốc.

Chúng ta phản đối bất cứ nỗ lực nào nhằm đe doạ các công ty Mỹ. Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 9/2008, cựu Thứ trưởng Ngoại giao John Negroponte đã khẳng định các công ty Mỹ có quyền hoạt động tại vùng Biển Nam Trung Hoa và khẳng định việc chúng ta tin rằng các tranh chấp phải được giải quyết một cách hoà bình, không sử dụng bất cứ biện pháp cưỡng ép nào. Chúng ta đã trực tiếp nêu với phía Trung Quốc những lo ngại này. Tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia không thể giải quyết bằng cách gây áp lực lên các công ty không liên quan gì đến các bên tranh chấp.

Chúng ta cũng kêu gọi tất cả các bên kiềm chế và tránh có các hành động gây hấn nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền và khẳng định rõ chúng ta phản đối việc đe doạ hoặc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp, cũng như bất kỳ hành động nào khác nhằm cản trở tự do hàng hải. Chúng ta muốn thấy một giải pháp phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc.

Có rất nhiều tranh chấp biển đảo khác ở Đông Á. Nhật Bản và Trung Quốc cũng có tranh chấp về giới hạn của Vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Hoa Đông, và chủ quyền đối với đảo Senkaku. Những tranh chấp này không được chú ý bằng tranh chấp ở Biển Hoa Nam. Chúng ta tiếp tục theo dõi diễn biến của tất cả các chấp này khi mà những tranh cãi về chủ quyền có thể leo thang rất nhanh ở một khu vực nơi mà tinh thần quốc gia dân tộc được thể hiện rất mạnh mẽ.

Bây giờ tôi xin trình bày về những diễn biến mới xảy ra liên quan đến Trung Quốc và tàu của Hoa Kỳ họat động tại hải phận quốc tế bên trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc. Tháng 3/2009, tàu khảo sát của Hải quân Mỹ USNS Impeccable tiến hành hoạt động thường lệ, phù hợp với luật quốc tế tại vùng biển quốc tế trên Biển Hoa Nam. Hành động quấy rối tàu Impeccable của các tàu đánh cá Trung Quốc khiến tàu của cả hai bên bị đặt vào tình thế nguy hiểm, gây cản trở cho tự do hàng hải, và không phù hợp với nghĩa vụ đối với các tàu trên biển đó là đảm bảo an toàn cho các tàu khác. Chúng ta ngay lập tức đã phản đối những hành động này với Chính phủ Trung Quốc, và đòi hỏi rằng những khúc mắc phải được giải quyết thông qua các cơ chế đối thoại đã được thiết lập, chứ không phải bằng sự đối đầu trực tiếp giữa các tàu, khiến các thuỷ thủ và tàu ở trong tình trạng nguy hiểm.

Mối lo ngại của chúng ta xung quanh vụ va chạm đó chủ yếu là lo ngại về nhận thức của Trung Quốc về thẩm quyền pháp lý của nước này đối với tàu thuyền các nước khác hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của họ, và cách Trung Quốc khẳng định cái mà họ coi là các quyền trên biển của mình.

Ở điểm này thì quan điểm của Trung Quốc về các quyền của họ không được luật quốc tế ủng hộ. Chúng ta đã nêu rất rõ vấn đề này trong các cuộc thảo luận với phía Trung Quốc và nhấn mạnh rằng các tàu của Mỹ sẽ tiếp tục hoạt động hợp pháp tại các vùng biển quốc tế như trước kia.

Tôi muốn lưu ý là kể từ giữa tháng 5 các tàu đánh cá Trung Quốc không tiến hành thêm vụ quấy rối nào nữa.

Để kết thúc, tôi xin đánh giá về cả hai mối lo ngại này, những lo ngại về Vùng đặc quyền Kinh tế với Trung Quốc và những đòi hỏi chủ quyền chồng chéo ở Biển Nam Trung Hoa trong bối cảnh chiến lược lớn hơn. Cụ thể là, những vấn đề này ảnh hưởng như thế nào tới luật pháp quốc tế và đối với những thay đổi quyền lực đang diễn ra ở Đông Á và Mỹ nên phản ứng như thế nào?

Vụ va chạm của tàu Impeccable và tranh chấp chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa là những vấn đề riêng rẽ đòi hỏi Mỹ phải có những chính sách phản ứng riêng. Trên tầm chiến lược, ở mức độ nào đó cả hai vấn đề này cho thấy rõ quyết tâm ngày càng tăng của Trung Quốc đối với những gì nước này coi là quyền của họ trên biển. Trong một số trường hợp chúng ta không đồng quan điểm hoặc thậm chí không hiểu cách Trung Quốc hiểu luật biển quốc tế.

Tuy nhiên, chúng ta tin rằng có những cách thức mang tính xây dựng để giải quyết những vấn đề khó khăn này. Về việc tôn trọng tự do hàng hải của các tàu hải quân Mỹ ở Vùng đặc quyền kinh tế, chúng ta đã yêu cầu Trung Quốc giải quyết bất đồng thông qua đối thoại. Tháng trước, tại chương trình Hội đàm Tham vấn Quốc phòng tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Quốc phòng phụ trách vấn đề Chính sách Michele Flournoy đã nêu vấn đề này, và phía Trung Quốc đã nhất trí tổ chức một kỳ họp đặc biệt theo Thoả thuận Tham vấn Quân sự Trên biển ký năm 1998 để xem xét vấn đề này và tìm cách giải quyết những bất đồng.

Về các đòi hỏi chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa, chúng ta khuyến khích tất cả các bên tìm kiếm giải pháp phù hợp với Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc và các thoả thuận khác đã đạt được giữa ASEAN và Trung Quốc.

Sự khẳng định chủ quyền của một số bên trong tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa làm nảy sinh những vấn đề quan trọng và đôi khi rất phức tạp đối với cộng đồng quốc tế liên quan đến việc tiếp cận các tuyến đường hàng hải và các nguồn lợi biển. Tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Hoa Nam rất mập mờ. Trung Quốc không cho thấy rõ đòi hỏi chính xác về biên giới của họ. Cũng không rõ là họ khẳng định chủ quyền lãnh hải đối với toàn bộ vùng biển hay chỉ đối với các phần đất phụ thuộc nằm trong vùng biển đó. Trước đây, sự mơ hồ này không ảnh hưởng nhiều lắm tới lợi ích của Mỹ. Tuy nhiên, giờ đây nó đã trở thành một mối lo ngại vì áp lực đối với các công ty năng lượng của chúng ta khi một số khu vực ngoài khơi cũng nằm trong đòi hỏi của Trung Quốc khi những khu vực này không nằm trong công bố chủ quyền của họ. Có thể sẽ tốt hơn cho tất cả các bên nếu Trung Quốc nêu rõ hơn thực chất những đòi hỏi của họ.

Chúng ta cần cảnh giác để đảm bảo rằng lợi ích của ta được bảo vệ và thúc đẩy. Khi chúng ta lo ngại, chúng ta sẽ nêu ra những lo ngại đó một cách thẳng thắn, như chúng ta đã làm khi các công ty của mình bị gây áp lực.

Chúng ta ghi nhận rằng Trung Quốc đã có cách tiếp cận hoà giải hơn trong việc giải quyết một số tranh chấp về biên giới trên bộ. Ví dụ, năm ngoái Trung Quốc và Việt Nam đã ký kết hiệp định phân định biên giới trên bộ. Cách tiếp cận ngoại giao của Trung Quốc đối với Đông Nam Á nhấn mạnh tinh thần hữu nghị và láng giềng tốt. Tương tự, việc Trung Quốc triển khai lực lượng tới Vịnh Aden để chống hải tặc là một đóng góp tích cực nhằm giải quyết mối lo ngại chung của cộng đồng quốc tế. Chúng ta phấn khởi trước những bước tiến này và hy vọng rằng Trung Quốc cũng sẽ áp dụng tiến trình mang tính xây dựng như vậy khi giải quyết vấn đề biên giới và các quyền trên biển của họ.

Thưa Ngài Chủ toạ, chúng ta có mối quan hệ rất rộng với Trung Quốc, mối quan hệ đó bao hàm nhiều vấn đề có tầm quan trọng chiến lược sống còn đối với cả hai nước. Chúng ta nhất trí cao về một số vấn đề; còn đối với những vấn đề khác phải thừa nhận là chúng ta có những khác biệt. Quan hệ song phương của hai bên có thể giúp dàn xếp và tôn trọng những khác biệt này và giải quyết chúng một cách có trách nhiệm thông qua con đường đối thoại.

Xin cảm ơn, và tôi xin vui lòng trả lời các câu hỏi của quý vị.

Nguồn: Điều trần của Phó trợ lý Ngoại trưởng Scot Marciel, Vụ các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương , Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

( còn tiếp )
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #199 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:21:45 pm »

( tiếp theo )
Điều trần của Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc Phòng Robert Scher, đặc trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương
Các vấn đề biển đảo và tranh chấp chủ quyền ở Đông Á

 
Thưa Chủ tọa, xin cảm ơn vì đã mời tôi đến Tiểu ban để điều trần về các tranh chấp lãnh hải và chủ quyền. Đây là những vấn đề trọng tâm trong cán cân an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương và cũng là những vấn đề mà chúng tôi ở Bộ Quốc phòng đang theo dõi chặt chẽ. Tôi đánh giá cao sự quan tâm liên tục của Tiểu ban đối với chủ đề quan trọng này và mong rằng chúng ta sẽ còn tiếp tục thảo luận về những diễn biến xung quanh chủ đề này.

Trong bài phát biểu ngày 30/5/2009 tại Hội nghị Quốc phòng thường niên tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Sing-ga-po, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gate đã khái quát những thay đổi đáng chú ý trong môi trường an ninh châu Á kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Cụ thể hơn, trong khi ca ngợi người dân châu Á giờ đây đã có mức sống cao hơn và giàu có hơn, Bộ trưởng Gates nhấn mạnh tương quan giữa sự ổn định và thịnh vượng về kinh tế - một trong những đặc điểm chủ chốt của môi trường an ninh châu Á trong giai đoạn này. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong hai thập kỷ qua nhìn chung là hoà bình và ổn định. Sự ổn định này góp phần mang lợi ích cho tất cả các bên.

Dù có sự ổn định, song một trong những nhân tố mà chúng ta thấy có khả năng thách thức môi trường an ninh khu vực, đồng thời là chủ đề của buổi điều trần ngày hôm nay, là một loạt tranh chấp lãnh thổ dai dẳng, đặc biệt là tranh chấp biển đảo ở Đông Nam Á và Biển Hoa Nam giữa một số quốc gia trong khu vực. Trong những năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến căng thẳng và mâu thuẫn gia tăng về những tranh chấp này. Điều đó đi ngược lại tinh thần chủ đạo là hòa bình và hợp tác nhằm tìm kiếm các giải pháp ngoại giao cho vấn đề này như được nêu trong Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa năm 2002.

Tranh chấp gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân: nhu cầu về dầu khí gia tăng khiến các bên tranh chấp quan tâm hơn nữa về đảm bảo quyền đối với các nguồn lợi; các quốc gia trong khu vực quan tâm hơn tới các đòi hỏi chủ quyền khi việc nộp đơn xin mở rộng thềm lục địa theo Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc chuẩn bị hết hạn vào tháng 5/2009; chủ nghĩa dân tộc gia tăng khiến chính phủ và nhân dân các nước càng nhạy cảm trước sự coi nhẹ và xâm phạm về lãnh thổ và chủ quyền. Bên cạnh đó, khả năng quân sự đang gia tăng của Trung Quốc đã trở thành yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần và nội dung cuộc đối thoại về các tranh chấp biển đảo trong khu vực.

Khi phân tích các hoạt động của Trung Quốc trên biển, tôi nghĩ cần có sự tách biệt giữa việc các tàu hải quân Mỹ bị cản trở ở gần Trung Quốc và cách tiếp cận của Trung Quốc đối với những đòi hỏi chủ quyền ở Biển Hoa Nam nói chung. Mặc dù phải có sự phân biệt rõ như vậy, song cơ sở để Mỹ đưa ra phản ứng đều giống nhau.

Việc các tàu cá của Trung Quốc quấy rối các tàu hải quân Mỹ khi đang tiến hành các hoạt động quân sự thường lệ và hợp pháp ở Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc xảy ra năm nay là một điểm tối trong quan hệ Trung - Mỹ. Tuy nhiên, tôi cũng xin nhấn mạnh là kể từ tháng Năm đến nay chưa có thêm vụ tàu cá mang cờ Trung Quốc nào quấy rối các tàu hải quân Mỹ.

Mặc dù bất cứ vụ va chạm trên biển nào cũng đều đáng lo ngại, song số vụ va chạm giảm dần sau một sự kiện cụ thể cho thấy cam kết của lãnh đạo hai nước là giải quyết những vấn đề này một cách hoà bình và thông qua con đường ngoại giao.

Bộ Quốc phòng coi hành vi của Trung Quốc trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của nước này và rộng hơn trong khu vực Biển Hoa Nam - mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với phần lớn khu vực này - là dựa trên hai cơ sở.

Thứ nhất, Trung Quốc có ý đồ chiến lược trong việc khẳng định chủ quyền đối với phần lớn vùng Biển Hoa Nam. Điều này chủ yếu thể hiện trên lĩnh vực chính trị và kinh tế, như đồng nghiệp của tôi ở Bộ Ngoại giao vừa trình bày chi tiết, nhưng đủ để nói rằng Trung Quốc chủ động phản đối bất cứ hoạt động nào của các bên khác nhằm khẳng định những đòi hỏi về chủ quyền của họ. Việt Nam, Đài Loan, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây đều đòi hỏi chủ quyền đối với các phần khác nhau ở Biển Hoa Nam; những đòi hỏi này xung đột với nhau, đặc biệt những khu vực xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ hai, để củng cố ảnh hưởng chính trị và chiến lược đang gia tăng ở khu vực này, Trung Quốc đã và sẽ tiếp tục tăng cường vị thế quân sự ở Biển Hoa Nam. Ví dụ, khi Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc nâng cấp các công trình ở đảo Hải Nam, chúng ta thấy có sự liên hệ trực tiếp với tư thế chủ động của Trung Quốc khi phản ứng trước các hoạt động của Mỹ trên biển và trên không phận.

Hiểu được ý đồ chiến lược của Trung Quốc không có nghĩa là Bộ Quốc phòng chấp nhận cách Trung Quốc khẳng định vị thế trong khu vực. Chúng ta phản đối mạnh mẽ hành vi khiến sự an toàn của các tàu của chúng ta bị đặt vào tình thế rủi ro và hành vi đó là sự vi phạm rõ ràng các chuẩn mực quốc tế về hành vi ứng xử ở vùng biển quốc tế bên ngoài vùng lãnh hải. Bộ Quốc phòng sẽ tiếp tục sử dụng tất cả các kênh để truyền đạt quan điểm này tới những người đồng nhiệm của chúng ta ở Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Cụ thể, tại cơ chế Tham vấn Quốc phòng gần đây tổ chức ngày 23-24/6 tại Bắc Kinh, chủ đề này đã được đưa vào chương trình nghị sự. Hai bên nhất trí tổ chức một hội nghị đặc biệt theo các điều khoản của Thoả thuận Tham khảo Quân sự trên biển Mỹ-Trung (MMCA, 1998) trong những tuần tới để xem xét cách thức thúc đẩy tiến trình này, tăng cường thông tin liên lạc, giảm khả năng xảy ra va chạm hoặc tai nạn giữa lực lượng hai nước khi hoạt đồng gần nhau.

Hơn thế nữa, chúng ta phản đối bất kỳ nỗ lực của quốc gia nào nhằm hạn chế các quyền tự do trên biển khơi trong phạm vi các khu vực đặc quyền kinh tế. Luật tập quán Quốc tế, như ghi nhận tại điều 58, 87 trong Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp Quốc, đảm bảo tất cả các quốc gia đều có quyền hoạt động trong khu vực đặc quyền kinh tế; tự do hàng hải và tự do hàng không trên các vùng biển khơi và các hình thức sử dụng đại dương truyền thống liên quan tới các quyền tự do này. Kể từ khi Công ước Luật biển 1982 ra đời, quan điểm của Mỹ là các quyền hàng hải và các quyền tự do hàng hải áp dụng trong vùng đặc quyền kinh tế, về định tính và định lượng, đều giống với các quyền tự do áp dụng ở vùng biển khơi. Chúng ta ghi nhận rằng gần 40% vùng biển thế giới thuộc phạm vi vùng đặc quyền kinh tế kéo dài 200 hải lý, do vậy, vì nền kinh tế toàn cầu và vì hoà bình và an ninh quốc tế, chúng ta cần phải khẳng định và duy trì mạnh mẽ các quyền tự do và quyền hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế.

Như đã đề cập ở trên, hoạt động quân sự của chúng ta trong khu vực là hoạt động thường xuyên và phù hợp với luật tập quán quốc tế như ghi nhận trong Công ước Luật biển 1982. Chúng ta đã kiên trì khẳng định chính sách cơ bản đối với các đòi hỏi mâu thuẫn nhau ở Biển Hoa Nam - mà mới đây nhất là ở Đối thoại Shang-ri La tháng 5/2009 khi Bộ trưởng Gates khẳng định rằng Mỹ không đứng về bên nào trong các tranh chấp chủ quyền và ủng hộ một giải pháp hoà bình bảo vệ quyền tự do hàng hải. Trong bài phát biểu tại cơ chế đối thoại này, Bộ trưởng Gates khẳng định “dù là trên biển, trên không trung, trên vũ trụ hay không gian mạng, những không gian chung của thế giới là những vùng mà ở đó chúng ta phải hợp tác, ở đó chúng ta phải tuân thủ pháp quyền và các cơ chế khác giúp duy trì hoà bình khu vực.”

Bộ trưởng Gates nói: “chúng tôi ủng hộ sự cởi mở, phản đối sự độc quyền, và ủng hộ việc cùng sử dụng các không gian chung một cách có trách nhiệm nhằm duy trì và thúc đẩy sự thịnh vượng chung.” Mỹ có lợi ích trong việc duy trì các tuyến hàng hải mở, tránh bị kéo vào các xung đột khu vực; ủng hộ tìm kiếm một giải pháp cho tranh chấp lãnh thổ thông qua cơ chế đa phương, tránh thói quen tạo tiền lệ; và bảo vệ uy tín của Mỹ ở Đông Nam Á.

Để hỗ trợ các mục tiêu chiến lược của chúng ta, Bộ Quốc phòng đã khởi động một chiến lược theo nhiều hướng: 1) thể hiện rõ bằng lời nói và hành động cho thấy các lực lượng Mỹ tiếp tục hiện diện và là lực lượng quân sự có ưu thế vượt trội trong khu vực; 2) cân nhắc và xác định các đòi hỏi về quyền tự do hàng hải của các tàu hải quân Mỹ; 3) xây dựng quan hệ an ninh chặt chẽ hơn với các đối tác trong khu vực, cả ở cấp độ chính sách và thông qua các cơ chế đối thoại chiến lược, lẫn cấp độ triển khai thông qua xây dựng năng lực cho đối tác, đặc biệt về lĩnh vực an ninh biển, và 4) củng cố các cơ chế quan hệ quân sự-ngoại giao đã có với Trung Quốc nhằm cải thiện thông tin liên lạc và giảm bớt rủi ro về tính toán sai.

Hiện diện về quân sự có lẽ là bộ phận quan trọng nhất trong thành tố đầu tiên của chính sách đề cập ở trên. Ở khía cạnh này, thì căn cứ quân sự ở Guam được coi là cái neo vĩnh viễn cho sự hiện diện của Mỹ trong khu vực và củng cố vị thế “cường quốc khu vực” của chúng ta. Chúng tôi tin rằng điều này sẽ có tác dụng ổn định các chính sách và chiến lược của các bên đòi hỏi chủ quyền ở Biển Hoa Nam. Nếu chúng ta thực hiện một chính sách khác tức là Mỹ rút khỏi khu vực và tạo khoảng trống quyền lực, điều đó sẽ khiến những quốc gia yếu kém nhất trong số các bên sẽ không còn chút không gian chiến lược nào để hoạt động.

Về thành tố thứ hai trong chiến lược của chúng ta, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ sẽ tiếp tục khẳng định các quyền tự do hàng hải trong khu vực. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động ở Biển Hoa Nam; tuân thủ nghiêm ngặt luật tập quán quốc tế ghi nhận trong Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc. Hoạt động của Mỹ sẽ được điều chỉnh bởi lợi ích của chúng ta trong khu vực và mong muốn duy trì an ninh và ổn định trên toàn bộ Tây Thái Bình Dương.

Thành tố thứ ba trong chiến lược của chúng ta tập trung vào việc mở rộng và củng cố các chương trình ngoại giao quốc phòng và xây dựng năng lực trong khu vực như những nỗ lực hỗ trợ quan trọng nhằm ngăn chặn không cho căng thẳng ở Biển Hoa Nam phát triển thành mối đe doạ đối với các lợi ích của Mỹ. Để đạt mục tiêu đó, gần đây chúng ta đã thiết lập cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng cấp cao với Việt Nam và Ma-lai-xi-a, bổ sung cho các cơ chế tham vấn vốn đã rất mạnh của chúng ta với Phi-líp-pin, Thái Lan, và In-đô-nê-xi-a. Thông qua hàng loạt hoạt động hợp tác an ninh từ hội thảo đến tập trận đa phương chúng ta đang giúp các quốc gia trong khu vực vượt qua các trở ngại lâu đời về lịch sử và văn hoá vốn cản trở nỗ lực hợp tác an ninh đa phương.

Cuối cùng, chúng ta cần củng cố các cơ chế đã có nhằm lôi kéo Trung Quốc thảo luận về vấn đề này và các vấn đề an ninh khác, trong đó có Cơ chế Tham vấn Quốc phòng Mỹ-Trung, Cơ chế Phối hợp Chính sách Quốc phòng Mỹ-Trung, Thỏa thuận Tham khảo các vấn đề quân sự trên biển Mỹ-Trung. Các cơ chế này là kênh thông tin liên lạc mở và liên tục để xây dựng lòng tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau hơn nữa, để thảo luận thẳng thắn về những bất đồng, tăng cường hiểu biết và áp dụng các tiêu chuẩn về an toàn và các nguyên tắc hoạt động cơ bản nhằm tăng cường an toàn cho các thuỷ thủ và phi công của tất cả các quốc gia trong khu vực.

Tất cả những nỗ lực này đều nhằm giảm thiểu biến động. Chúng tôi tin rằng các bên tranh chấp ở Biển Đông sẽ đánh giá Mỹ là nhân tố giúp ổn định trong khu vực. Mặc dù chúng ta không đề xuất làm trung gian hay hoà giải xung đột, nhưng sự hiện diện của chúng ta mang lại cảm giác ổn định và mở ra không gian cho các bên tranh chấp nhằm tìm kiếm các biện pháp chính trị giải quyết những vấn đề này.

Tôi rất sẵn lòng trả lời các câu hỏi của quý vị.

Nguồn: US Embassy in Hanoi: Điều trần của Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher đặc trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương
( còn tiếp )
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM