thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #200 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:26:15 pm » |
|
( tiếp theo) Điều trần của Dan Blumenthal, Ủy viên thường trú, AEI
Thưa Thượng Nghị sĩ Webb và các thành viên khác trong uỷ ban, tôi rất vinh dự có mặt tại đây ngày hôm nay. Tôi đánh giá cao việc các vị tổ chức phiên điều trần quan trọng này và chú ý đến thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong việc khẳng định lãnh hải của mình. Đã một thập kỷ trôi qua kể từ khi ngài, thưa Thượng Nghị sĩ Webb, bắt đầu viết về chủ đề này, và lực lượng hải quân Trung Quốc cũng đã được hiện đại hóa nhanh hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Trong thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã triển khai 38 tàu ngầm mới chạy bằng diesel và năng lượng hạt nhân, tức là triển khai 2,9 tàu mỗi năm. Bên cạnh việc mua lại bốn tàu khu trục lớp Sovremenny của Nga, Trung Quốc cũng đã triển khai 9 tàu khu trục và tàu chiến mới do chính Trung Quốc sản xuất và được trang bị tên lửa tầm thấp chống tàu chiến có sức phá hủy ghê gớm. Ngoài ra, bên cạnh việc mở rộng triển khai hơn một nghìn tên lửa đạn đạo, Giải phóng quân Trung Quốc (PLA) còn xây dựng một cơ sở tên lửa đạn đạo chống hạm đặt trên mặt đất được trang bị các thiết bị có tính cơ động cao với mục đích chống các tàu nổi cơ động của chúng ta, bao gồm cả thành phần cốt tử trong năng lực biểu dương sức mạnh của chúng ta là tập hợp tàu sân bay tác chiến. Chúng ta chưa từng chứng kiến điều gì tương tự trong hoạt động xây dựng và củng cố lực lượng hải quân kể từ đầu thời kỳ Chiến tranh lạnh. Và hải quân Hoa Kỳ cũng chưa từng đối mặt với mối đe doạ về tên lửa đạn đạo có khả năng tấn công các mục tiêu di động trên biển. Và ngài cũng đã đúng khi viết rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc đang có ý đồ và toan tính mở rộng không gian chiến lược của Trung Quốc trong khu vực. Động cơ đằng sau những động thái củng cố sức mạnh quân sự này là gì? Chắc chắn không phải là những mối đe doạ đối với Trung Quốc - khách quan mà nói thì Trung Quốc không đứng trước bất kỳ mối đe doạ nào về quân sự. Với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, Trung Quốc không còn cần phải bận tâm tới việc bảo vệ đường biên giới lãnh thổ khỏi sự xâm lấn từ bên ngoài. Từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khu vực này nhìn chung đã có hoà bình. Thay vào đó, tôi cho rằng động thái củng cố quân đội của Trung Quốc bắt nguồn từ các nhân tố bên trong, từ mong muốn phô trương thanh thế quốc gia, và cảm giác bất an của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trung Quốc đang thể hiện hành vi của một cường quốc đang lớn mạnh. Điều ngạc nhiên duy nhất là chúng ta đã dự báo rằng họ sẽ ứng xử theo cách khác. Chính phủ Hoa Kỳ qua nhiều đời tổng thống và nhiều chuyên gia đã nhắc đi nhắc lại với người dân Mỹ rằng sự nổi lên của Trung Quốc có thể sẽ khác với sự lớn mạnh của tất cả các cường quốc khác trong lịch sử. Song đơn giản là điều đó không xảy ra. Khi Trung Quốc đã trở nên lớn mạnh hơn và dành nhiều nguồn lực hơn bao giờ hết cho các lực lượng quân đội, chính quyền Bắc Kinh muốn giải quyết các tranh chấp lãnh thổ theo hướng có lợi cho mình, mở rộng lãnh hải và thiết lập các con đường mới nhằm tiến ra đại dương rộng lớn. Thực vậy, một trong những động thái thú vị nhất trong các hướng đi chiến lược của Trung Quốc là cuộc tranh cãi đang diễn ra về tầm quan trọng của Alfred Thayer Mahan, nhà lý luận về sự lớn mạnh của chính Hoa Kỳ ở vị thế đứng đầu thế giới hiện nay. Về chủ đề này, các đồng nghiệp của ngài Dutton tại trường đại học Hải quân đã nhắc đến rất nhiều trong các bài viết của họ. Các quan chức trong lực lượng hải quân Trung Quốc đang bắt đầu cố gắng tìm hiểu xem những khái niệm như quyền lãnh hải và mối liên hệ giữa sức mạnh hải quân và các lợi ích thương mại quốc tế sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Nhưng chúng ta không thể không quan ngại, dù cho cách ứng xử của Trung quốc cũng không khác gì so với các cường quốc mới nổi khác. Lý do để quan ngại là: Kể từ khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, Châu Á bắt đầu được hưởng nền an ninh tương đối ổn định, chủ yếu là nhờ sức mạnh của quân đội Hoa Kỳ và hàng loạt các cam kết an ninh khác. Chính trong cái ô an ninh này mà hầu hết các nước Châu Á đều được hưởng hoà bình, thịnh vượng và dân chủ ngày càng tăng. Châu Á ngày nay – xét trên tất cả các phương diện - kinh tế, chính trị, nhân khẩu học hay quân đội - đang nhanh chóng trở thành trung tâm chú ý của đời sống chính trị quốc tế. Thế nhưng sự nổi lên của Trung Quốc đã bắt đầu làm thay đổi trạng thái ổn định và an ninh, vốn là nền tảng cho tăng cường hoà bình, thịnh vượng và dân chủ. Với tư cách là một cường quốc tại khu vực Thái Bình Dương, chúng ta muốn thấy một Châu Á tiếp tục tăng trưởng và thịnh vượng trong hoà bình. Một Châu Á mà trong đó Hoa Kỳ không còn được xem như một cường quốc dẫn đầu về quân sự chắc chắn sẽ không còn là một Châu Á ổn định như trước đây. Một khu vực không an toàn sẽ quan tâm nhiều hơn đến cạnh tranh an ninh chứ không phải là cạnh tranh về thương mại, cải cách nội bộ và hợp tác vùng. Chính trong bối cảnh này, tôi muốn nói về các tranh chấp lãnh hải tại Biển Nam Trung Hoa và Biển Đông Trung Hoa. Tôi xin phép được bắt đầu với Nhật Bản và tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, vì Nhật Bản từ lâu đã và hiện vẫn đang là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ tại khu vực này. Trong tất cả các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực này, tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc tại Biển Đông Trung Hoa là gây nhiều tranh cãi nhất và cũng có thể coi là chứa đựng nhiều nguy hiểm nhất. Tranh cãi này có nguyên nhân từ chạy đua sức mạnh quân sự, thù oán trong lịch sử, mong muốn khai thác nguồn năng lượng tiềm tàng dưới đáy biển và cuối cùng là mối lo ngại về Đài Loan. Tất cả những điều này phối hợp với nhau khiến cho vấn đề trở nên đặc biệt nhạy cảm. Cả hai quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và cả hai đều đưa quần đảo này vào khu vực đặc quyền kinh tế/thềm lục địa của mình. Đối với Trung Quốc, quần đảo này có vai trò quan trọng vì lý do an ninh năng lượng và tham vọng mở rộng lãnh hải của họ. Tôi xin được bắt đầu bằng vấn đề an ninh năng lượng. Cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền đối với mỏ khí đốt Chunxiao, mà theo Trung Quốc thì mỏ này nằm ngoài đường ranh giới Nhật Bản 5km trên vùng biển Đông Trung Hoa. Hiện nay, công ty năng lượng Trung Quốc CNOOC là nhà khai thác mỏ khí đốt này và các chuyên gia năng lượng ước tính rằng Chunxiao có trữ lượng tới 250 tỷ tỷ feet khối khí tự nhiên và khoảng từ 70 tới 160 tỷ thùng dầu. Bởi vì cả Trung Quốc và Nhật Bản đều muốn đa dạng hoá các nguồn cung cấp năng lượng của mình, nên trữ lượng khí đốt tự nhiên và dầu mỏ ở khu vực biển Đông Trung Hoa quả thực vô cùng quan trọng đối với cả hai quốc gia. Một mối quan ngại nữa đối với Trung Quốc là khoảng cách trên biển giữa các cảng của Trung Quốc với các nhà cung cấp dầu mỏ chính ở khu vực Vịnh Péc-xích. Chính quyền Bắc Kinh ngày càng cảm thấy không thoải mái vì việc phải nhờ cậy vào thiện chí của Hoa Kỳ để tuần tiễu vùng biển này. Cả lòng tự kiêu dân tộc lẫn sự ngờ vực đối với Hoa Kỳ khiến Trung Quốc phải tìm kiếm các nguồn cung ứng và các con đường cung ứng năng lượng khác, càng gần với đại lục càng tốt - nơi Trung quốc có thể triển khai sức mạnh quân sự của họ. Khu mỏ Chunxiao chính là một phần quan trọng trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Hoa. Một mối quan ngại khác của các nhà chiến lược Trung Quốc là quần đảo Senkaku/Điếu Ngư nằm trong cái mà Trung Quốc gọi là chuỗi đảo đầu tiên - dựa trên sự phân định ranh giới bắt đầu từ hòn đảo phía Nam Nhật Bản Kyushu xuyên qua biển Đông Trung Hoa và biển Nam Trung Hoa. Khu vực này bao gồm Đài Loan, đảo Ryukus của Nhật Bản và hầu như toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa. Trung Quốc, với hành động ngày một cứng rắn của mình, đã thể hiện mong muốn thống lĩnh chuỗi đảo này. Đối với các nhà chiến lược Trung Quốc, có cả các mục tiêu phòng thủ lẫn các mục tiêu tấn công đằng sau những tuyên bố chủ quyền này. Phía Trung Quốc cho rằng họ bị bó hẹp bởi liên minh Mỹ - Nhật đang hoạt động quá gần đường bờ biển của họ. Các nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng liên minh này - trước kia từng được xây dựng để bao vây các hạm đội của Liên bang Xô viết trên Thái Bình Dương - nay trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách ngăn chặn nhằm vào Trung Quốc. Điều này phần nào lý giải thái độ khiêu khích của Trung Quốc mới đây đối với tàu USNS Impeccable, cũng như vụ buộc hạ cánh máy bay tuần tiễu của Hoa Kỳ tại đảo Hải Nam năm 2001. Trong khi Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn đang tranh cãi về những điều khoản trong Luật Biển và về cái gọi là những hoạt động hợp pháp trong khu đặc quyền kinh tế Trung Quốc, song tôi không nghĩ rằng những vấn đề này có thể được giải quyết trong tương lai gần đây. Chiến lược địa chính trị và chiến lược trên biển của Trung Quốc có vai trò quan trọng đối với chính quyền Trung Hoa hơn là đạo luật này. Đơn giản là Trung Quốc muốn đẩy Mỹ ra càng xa càng tốt đường bờ biển và những vùng đã tuyên bố thuộc ảnh hưởng của họ. Nhiều nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng nước này không thể trở thành một cường quốc chừng nào nó vẫn còn bị bó buộc bởi liên minh trên biển giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ. Liên minh này cũng có vai trò bảo vệ Đài Loan và ngăn chặn người Trung Quốc bành trướng lực lượng của họ sang phía Tây Thái Bình Dương. Từ chiến lược phòng thủ, các nhà chiến lược Trung Quốc muốn cản trở Hoa Kỳ xâm nhập khu vực này - chuỗi các hòn đảo đầu tiên, nếu như xung đột về vấn đề Đài Loan nổ ra. Theo quan điểm của Nhật Bản, Senkakus là một phần lãnh thổ Nhật Bản trong suốt lịch sử hiện đại - nước Nhật chưa bao giờ từ bỏ phần lãnh thổ này ngay cả khi thua trận trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi Nhật Bản phải từ bỏ nhiều phần lãnh thổ theo Hiệp ước San Francisco. Lâu nay, nước Nhật đã cai quản Senkakus mặc dù cả Trung Quốc và Đài Loan đều tuyên bố hòn đảo này thuộc về họ. Nước Nhật đã cho các chủ sở hữu tư nhân thuê một phần diện tích quần đảo nhằm kiểm soát bất kỳ hành vi mua bán quyền lãnh thổ nào. Cả Đài Loan và Trung Quốc đều phản đối hành động này. Cũng trong khoảng thời gian năm 2003, CNOOC đã tham gia vào đối tác sản xuất khí đốt tự nhiên ở Chunxiao. Nhật Bản đã phản đối và yêu cầu Trung Quốc chuyển giao các dữ liệu địa chấn. Trong khi chính quyền Bắc Kinh tỏ ra không khoan nhượng thì Nhật Bản vẫn tiếp tục trao quyền cho các công ty quốc gia bắt đầu khoan thăm dò ở vùng biển Đông Trung Hoa. Trung Quốc đáp trả bằng việc gửi một đội tàu hải quân quy mô nhỏ, trong đó có cả tàu lớp Soveremmeny tới khu vực này và phát đi những lời cảnh báo nghiêm khắc yêu cầu nước Nhật ngừng mọi hoạt động khai thác năng lượng trong vùng lãnh thổ Trung Quốc. Phía Nhật đã ngừng mọi hoạt động khai thác. Hạm đội mà Trung Quốc đưa tới khu vực biển Đông Trung Hoa năm 2005 không phải là lần đầu tiên Trung Quốc chứng tỏ sức mạnh trên biển của nước này. Các hồ sơ ghi chép từ phía Nhật Bản đã chỉ ra rằng quân đội, các tàu nghiên cứu dân sự và tàu ngầm của Trung Quốc đã xâm nhập vào vùng đặc khu kinh tế của Nhật Bản hơn chục lần trong các năm 2004 và 2005. Mục tiêu của các cuộc xâm lấn trên biển này bao gồm cả việc lập bản đồ khai thác khí đốt và dầu mỏ tại những khu vực tranh chấp, và việc tiến hành nghiên cứu đường đi cho tàu ngầm để vào và ra khỏi Thái Bình Dương. Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng đã rất quan ngại khi tàu ngầm động cơ diesel lớp Tống của Trung Quốc tiến quá gần tới tàu USS Kitty Hawk trong lần tập trận của Hoa Kỳ ở gần Nhật Bản vào năm 2007. Dường như chiếc tàu ngầm này đã rình mò ở Nhóm Tàu sân bay Tấn công mà không bị phát hiện. Như vậy, theo quan điểm của Nhật Bản, tranh chấp Senkaku/Biển Đông Trung Hoa không chỉ là tranh cãi về lợi ích năng lượng và luật pháp quốc tế. Tranh cãi này là biểu hiện của sức mạnh và thái độ khẳng định chủ quyền ngày càng cứng rắn của Trung Quốc. Nhật Bản đã từng trải qua một quá trình lịch sử lâu dài phải đối phó với nỗi sợ hãi bị cô lập và trừng phạt về kinh tế. Sức mạnh trên biển và các cuộc phô diễn lực lượng ngày càng leo thang của Trung Quốc chỉ làm tăng thêm những nỗi lo sợ trên mà thôi. Cuối cùng, tranh cãi về tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế và quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đã làm sáng tỏ những mối quan ngại của Nhật Bản đối với Đài Loan. Đối với các nhà chiến lược Nhật Bản, sự kiểm soát của Trung Quốc đối với Đài Loan có thể đẩy các căn cứ hải quân Trung Quốc tiến gần tới chuỗi đảo Okinawa và Ryuku, và mở rộng vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc tiến xa hơn về phía Thái Bình Dương. Cảm giác bất an của chính quyền Nhật Bản - vốn đã căng thẳng do những bất ổn trên bán đảo Triều Tiên - nay lại càng trở nên lớn hơn. Mặc dù hai bên đã đi tới được một số thoả thuận năm 2008 nhằm hợp tác khai thác các nguồn năng lượng và bỏ lại sau những tranh chấp lãnh hải trong thời gian này song với những gì mà tôi vừa trình bày trên đây, cả Trung Quốc và Nhật Bản đều đang thủ thế để toan tính cho những mưu đồ riêng của họ. ( còn tiếp )
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #201 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:29:19 pm » |
|
Điều trần của Dan Blumenthal, Ủy viên thường trú, AEI
.... ( tiếp theo ) Biển Nam Trung Hoa
Tranh chấp tại vùng biển Nam Trung Hoa, bao gồm tranh chấp tại các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cũng cần phải được phân tích trong bối cảnh địa chính trị tương tự. Tranh chấp này đụng chạm đến lợi ích an ninh của cả 3 cường quốc tại Châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, đồng thời cũng ảnh hưởng không nhỏ tới các liên minh và các đối tác yếu hơn của chúng ta tại khu vực như Việt Nam và Philippine. Về bản chất, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền của mình trên toàn bộ khu vực biển Nam Trung Hoa. Việt nam, Philippine, Brunei và Đài Loan tranh cãi về tuyên bố này, đặc biệt là tuyên bố về chủ quyền và quyền khai thác các đảo nhỏ quanh quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Vì tại khu vực biển Nam Trung Hoa, tất cả các bên tuyên bố lãnh hải trong vùng biển này đều cho rằng khu vực này có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt rất lớn. Trung Quốc đã có tranh chấp với Việt Nam và Philippine ở quần đảo Trường Sa và với Việt nam ở quần đảo Hoàng Sa. Mặc dù Trung Quốc đã ký Tuyên bố ứng xử của các bên tại khu vực biển Nam Trung Hoa năm 2002 song các bên liên quan không tin rằng Trung Quốc sẽ thực hiện đúng những cam kết này. Có thể cho rằng sức mạnh quân sự ngày càng lớn và thái độ kiên quyết của Trung Quốc tại khu vực này là động cơ để Việt Nam muốn xây dựng mối quan hệ an ninh gần gũi hơn với Hoa Kỳ, và việc Philippine muốn ký kết Thoả ước Lực lượng Thăm viếng với Hoa Kỳ năm 1999. Vùng biển Nam Trung Hoa cũng là con đường dẫn tới eo biển Malacca - khu vực được coi là một trong những địa điểm hàng hải và đường giao thương trên biển quan trọng nhất thế gới. Có khoảng 50.000 tàu biển chuyên chở một phần tư tổng lượng hàng hoá thương mại trên thế giới và một nửa tổng lượng dầu mỏ của thế giới đi qua eo biển Malacca mỗi năm. Vì 90% lượng dầu mỏ của Trung Quốc và hầu hết lượng dầu mỏ của Nhật Bản đến từ đường biển nên cũng là lẽ tự nhiên khi cả hai quốc gia này đều rất quan tâm đến việc thiết lập an ninh riêng tại eo biển này cũng như tại khu vực biển Nam Trung Hoa. Năm ngoái, mối lo ngại đã gia tăng ở khu vực Đông Nam Á, Nhật bản và Ấn Độ khi các tin tức báo chí cho biết một căn cứ hải quân mới của Trung Quốc đã được xây dựng tại đảo Hải Nam - căn cứ này có thể phục vụ các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo và tên lửa tấn công cũng như các loại tàu chiến trên biển khác. Lực lượng Hải quân Trung Quốc (PLAN) có thể sử dụng căn cứ này để lén lút đưa quân vào khu vực biển Nam Trung Hoa và xâm nhập các tuyến đường biển thuộc lãnh hải quốc tế. Các quốc gia Đông Nam Á lo ngại Trung Quốc có thể gây áp lực quân sự đối với họ để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Nhật Bản lo ngại Trung Quốc có thể thống trị đường biển, cưỡng bức và cô lập nước Nhật. Chính quyền Ấn Độ lo lắng vì hai lý do. Thứ nhất là việc phát hiện ra căn cứ trên đảo Hải Nam đã củng cố thêm mối nghi ngờ đang ngày càng tăng của Ấn Độ về việc Trung Quốc đang tìm đường tiến tới Ấn Độ Dương và xây dựng một mạng lưới các căn cứ hải quân dọc Ấn Độ Dương - ở Miến Điện, Srilanka và Pakistan - vốn là khu vực mà Ấn Độ vẫn coi là vùng ảnh hưởng của họ. Thứ hai, Ấn Độ hiện đang đóng vai trò kinh tế ngày càng lớn, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á, và muốn có khả năng tiếp cận vào khu vực này mà không bị cản trở . Ấn Độ lo ngại rằng điều mà chúng ta đang chứng kiến tại khu vực này chính là sự thể hiện Học thuyết Monroe theo kiểu Trung Quốc. Phản ứng trong khu vực
Hiện nay, tất cả các bên liên quan đều tìm cách tạo đối trọng với sức mạnh đang gia tăng của Trung Quốc. Cả chính quyền Hà Nội và Manila đều bày tỏ mong muốn xây dựng quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Chính quyền Nhật Bản với cương vị là một cường quốc nhưng bị ràng buộc về các vấn đề quân sự do hiến pháp hoà bình cũng đang nỗ lực củng cố và tăng cường hơn nữa liên minh song phương. Sự liên kết với Ấn Độ cũng là một phần không nhỏ trong kế hoạch chia sẻ các quan điểm chung giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ về môi trường an ninh trên biển. Nói tóm lại, chúng ta chia sẻ với các đối tác của chúng ta trong khu vực về mong muốn không để Trung Quốc trở thành một cường quốc nắm vai trò bá chủ. Câu hỏi mà nhiều quốc gia trong khu vực bắt đầu đặt ra hiện nay là liệu chúng ta có đủ ý chí và sức mạnh lâu dài để đối chọi được với sự lớn mạnh của Trung Quốc hay không. Và điều này dẫn đến những kết luận sau đây của tôi. Kết luận và khuyến nghị
Chúng ta đã không có chính sách rõ ràng về những tuyên bố gây tranh cãi ở khu vực biển Nam Trung Hoa, cũng đã không thể hiện quan điểm rõ ràng về hiện trạng của các quần đảo đang tranh chấp. Điều mà chúng ta đã tuyên bố là chúng ta sẽ bảo vệ tự do hàng hải và các đặc quyền tại các khu đặc quyền kinh tế phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc chung về giải quyết một cách hoà bình các tranh chấp lãnh thổ và tự do hàng hải có thể là quá thận trọng, trước sự nhạy cảm mang tính lịch sử của những tranh chấp này và do chúng ta muốn có mối quan hệ hợp tác với Trung Quốc. Nhưng đồng thời, chúng ta phải nhận thức rõ rằng Trung Quốc muốn khẳng định vị trí thống lĩnh tại vùng biển Nam và Đông Trung Hoa, mở rộng lãnh hải, tự do hành động và cản trở chúng ta tiếp cận các vùng biển này. Chúng ta cũng cần phải đảm bảo để bạn bè và đồng minh của chúng ta có đủ sức mạnh và sự ủng hộ để đứng lên chống lại nguy cơ bị chèn ép và đảm bảo rằng chúng ta có thể thực hiện tốt các cam kết ngoại giao của mình. Chúng ta vừa không muốn thấy những cuộc chạy đua quân sự tốn kém diễn ra ở Châu Á, vừa không muốn thấy Trung Quốc thống trị Châu Á mà không có sự hiện diện của Hoa Kỳ. Để đạt được những mục tiêu này, chúng ta cần tăng cường hơn nữa ngoại giao đồng minh để trấn an họ rằng họ sẽ không bị chèn ép bắt nạt. Chúng ta phải phân định rõ ranh giới đối với Trung Quốc trong các nguyên tắc chủ chốt về ứng xử trên biển. Tuy nhiên chúng ta không có ý định phải viện đến lực lượng quân sự của chúng ta. Trung Quốc càng phát triển lực lượng hải quân của họ bao nhiêu thì Hoa Kỳ lại càng thu hẹp bấy nhiêu. Trung Quốc đã triển khai hàng chục tàu ngầm mới trong khi chúng ta lại để cho năng lực chống tàu ngầm của chúng ta bị teo đi. Trong khi Trung Quốc triển khai hàng chục tàu ngầm mới thì chúng ta lại giảm số lượng tàu ngầm đi khoảng 25 chiếc. Chính quyền Trung Hoa không chỉ nhận ra sự mất cân đối này mà còn đang tính toán tới sự cắt giảm sắp tới trong lực lượng hải quân Hoa Kỳ. Đô đốc hải quân Trung Hoa Yang Yi đang sung sướng hả hê khi thấy rằng Trung Quốc đã vượt gấp năm lần Hoa Kỳ trong sản xuất tàu ngầm ... con số 18 chiếc (là số lượng tàu ngầm của Hoa Kỳ thường xuyên có mặt ở Thái Bình Dương) so với 75 chiếc (hoặc nhiều hơn thế) tàu ngầm của Trung Quốc rõ ràng là không hề lạc quan chút nào [nhìn từ góc độ của nước Mỹ]. Người đứng đầu lực lượng hải quân Trung Hoa đã đúng khi đánh giá rằng các tàu ngầm của Mỹ có tính năng vượt trội hơn mặc dù khoảng cách về chất lượng hiện đang được rút ngắn. Và khoảng cách về số lượng khiến cho việc theo dõi hành tung các hạm đội của Trung Hoa trở nên khó khăn hơn. Tôi đã được yêu cầu phát biểu về vai trò của lực lượng hải quân Mỹ trong việc duy trì đối trọng trên biển. Tôi đã làm điều đó với tinh thần khiêm tốn, vì tôi đang phát biểu trước ngài cựu Bộ trưởng Hải quân và cũng vì tôi nhận thức rõ ràng rằng việc đem ra bàn cãi về lực lượng quân sự của chúng ta là một vấn đề nhạy cảm. Viện nghiên cứu của tôi đã triệu tập một nhóm các chuyên gia an ninh và chuyên gia quân sự để có cái nhìn sâu sắc hơn về yêu cầu đối với lực lượng quân đội của chúng ta trên toàn thế giới trước khi chính phủ tiến hành chương trình Xét duyệt Quốc phòng bốn năm một lần (QDR). Chúng tôi đã xem xét yêu cầu quân sự tại khu vực Thái Bình Dương và tôi xin phép được chia sẻ với các vị một số kết luận như sau: Trước hêt, tôi xin nhấn mạnh rằng chiến lược phòng thủ của chúng ta ở Thái Bình Dương cần không chỉ tập trung vào việc đối phó với các tình huống chiến đấu khi chiến tranh thực sự nổ ra. Vì Trung quốc đã thay đổi cán cân quân sự trong vùng nên lực lượng quân sự của chúng ta cũng phải thay đổi theo để lập lại đối trọng quân sự. Một cách để chúng ta đáp ứng đòi hỏi quân sự của chúng ta ở Thái Bình Dương là suy nghĩ về một sự hiện diện và điều động quân đội mạnh mẽ hơn tại khu vực này đồng thời cũng phải nghĩ tới lực lượng tăng cường khẩn cấp trong trường hợp có xung đột. Tôi sẽ chủ yếu đề cập đến vế đầu tiên của nhận định này: Chưa bao giờ các hạm đội của chúng ta lại có quy mô nhỏ như hiện nay kể từ đầu thế kỷ 20. Mặc dù chúng ta có quân trang quân giới tốt hơn nhưng nếu so với khu vực Thái Bình Dương rộng lớn thì quy mô của các hạm đội là một vấn đề cần cân nhắc. Lực lượng của chúng ta ở Thái Bình Dương có rất nhiều nhiệm vụ bên cạnh việc duy trì đối trọng quân sự - họ còn phải xây dựng năng lực quan hệ đối tác, ứng phó với thiên tai và thực hiện nhiệm vụ chống lại nạn cướp biển. Tôi xin tập trung vào nhiệm vụ về Trung Quốc. Sơ qua, có thể thấy về yêu cầu đối với lực lượng hải quân ở Thái Bình Dương, cần gia tăng số lượng tàu ngầm tấn công chớp nhoáng hiện diện gần như liên tục ở vùng biển Đông và Nam Trung Hoa cũng như ở khu vực biển Nhật Bản. Chúng ta cần có nhiều tàu ngầm hơn để bảo vệ các Nhóm Tàu sân bay Tấn công, để theo dõi tàu ngầm tuần tiễu của Trung Quốc và để tiến hành các hoạt động tình báo, do thám, trinh sát (ISR). Cũng cần trang bị thêm các máy bay do thám P8 và các bộ phận cảm biến dưới mặt biển. Lực lượng tên lửa và các hạm đội phòng thủ của chúng ta chưa tương xứng với sự lớn mạnh ngày càng nhanh chóng của Trung Quốc trong sản xuất tên lửa đạn đạo và tên lửa tìm diệt trên biển. Đáng tiếc là đã đến lúc nếu chúng ta muốn giữ các căn cứ và các tàu chiến đã được triển khai thì chúng ta cần tập trung nhiều hơn nữa trong việc bảo vệ chúng. Các thiết bị hữu dụng để bảo về tài sản trên biển bao gồm hệ thống phát hiện mục tiêu qua vệ tinh được kết nối trực tiếp với hệ thống ra đa dò tìm mục tiêu, sự có mặt thường trực của các tàu chiến được triển khai ở tiền phương có khả năng chống lại tên lửa đạn đạo và hệ thống tin tức tình báo cung cấp thời điểm chính xác tàu chiến có thể bị đe doạ và cảnh báo về các đợt phóng tên lửa chống tàu. Mặc dù chúng ta cần triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa song năng lượng trực tiếp chính là công cụ đầy hứa hẹn để chống lại những mối đe doạ này, đặc biệt là tên lửa đạn đạo chống hạm (ASBM). Việc triển khai nhiều hơn nữa các tàu chiến duyên hải có thể đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng tác chiến chống hạm (ASW) mạnh mẽ. Tẩt cả các biện pháp quân sự này sẽ giúp chúng ta phản ứng nhanh khi cần thiết. Nếu quân đội của chúng ta cần gửi thêm nhiều tàu chiến nữa tới khu vực này thì các biện pháp để tăng cường khả năng sống sót của chúng sẽ khiến chúng trở nên mạnh mẽ hơn và có hiệu quả hơn. Một hệ thống ASW mạnh hơn sẽ làm tăng khả năng tự do hành động của chúng ta trong các cuộc chiến đấu. Tôi muốn nói rằng chúng ta cũng cần phải chú trọng tới sự tồn vong của các căn cứ quân sự trên mặt đất. Chúng ta cần có nhiều cơ sở hậu cần hơn tại các nước thân thiện để lực lượng không quân của ta có thể thâm nhập vào trong vùng. Chúng ta cũng cần đảm bảo rằng chúng ta có các máy bay tuần tiễu và tàu chở dầu đủ để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp hơn và khó khăn hơn bất kỳ nhiệm vụ nào mà chúng ta đã thực hiện trước đây. Ngài đã tỏ ra có lý, thưa Thượng nghị sĩ Webb, khi nhận định rằng chúng ta đang ở trong thế tiến thoái lưỡng nan: ngân sách quốc phòng của chúng ta đã được công bố trước khi Chính quyền Obama thông qua QDR. Tôi muốn thúc giục Quốc hội hãy đảm bảo sao cho việc rà soát quân sự của chính phủ không chỉ đơn giản là quyết định cắt giảm ngân sách quốc phòng. Cuối cùng, tôi tin tưởng rằng con đường ngoại giao có thể sẽ thành công và Châu Á có thể hưởng nền hoà bình và thịnh vượng lâu dài hơn khi mà mọi người đều biết rằng Hoa Kỳ có khả năng thực hiện những cam kết của mình. Điều cần thiết giờ đây chính là tài năng và nghệ thuật điều hành đất nước vốn có từ lâu đời của người Mỹ - nghệ thuật sử dụng đường lối ngoại giao mềm mỏng nhưng có tính răn đe và mang lại hiệu quả cao. Nguồn: Điều trần của Dan Blumenthal, uỷ viên thường trú, AEI ( còn tiếp )
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #202 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:35:37 pm » |
|
( tiếp theo ) Điều trần của Richard P. Cronin, Giám đốc chương trình Đông Nam Á, Trung tâm Stimson, Washington, DC.
Tranh chấp lãnh hải và các vấn đề về chủ quyền ở Châu Á
Thưa Thượng nghị sĩ Webb và các thành viên khác của Tiểu ban phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, xin trân trọng cám ơn các vị vì đã dành cho tôi cơ hội trình bày trước Tiểu ban một số vấn đề tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, những vấn đề có tính chất quyết định đối với hoà bình, ổn định và phát triển bền vững tại một khu vực trên thế giới vốn được coi là có vai trò vô cùng quan trọng đối với Hoa Kỳ. Với những lý do mà các vị đã đề cập đến trong giấy triệu tập tôi tới phiên điều trần này, việc Trung Quốc đơn phương khẳng định quyền về lãnh hải trái với các nguyên tắc trong Luật Biển, đồng thời, việc quốc gia này sẵn sàng dùng vũ lực và những lời đe doạ để đạt được mục tiêu của mình hiện đang gây ra những mối quan ngại vô cùng nghiêm trọng tại khu vực Châu Á và Thái Bình Dương. Thái độ của chính quyền Trung Quốc đã trực tiếp đe doạ các quyền lợi hợp pháp của Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á, bao gồm quyền tự do hàng hải, quyền khai thác các mỏ dầu và khí đốt trữ lượng cao, cũng như sự phát triển bền vững và hợp tác về các nguồn lực biển khác, các khu vực đánh bắt, và cửa sông. Hậu quả mà thái độ của chính quyền Trung Quốc đã gây ra tại vùng Biển Nam Trung Hoa nói riêng là mối đe dọa đối với nền hoà bình và ổn định trong khu vực, tới phát triển kinh tế, tới các hình thức sinh kế truyền thống và tới an ninh lương thực. Hành vi của chính quyền Trung Quốc tại khu vực Biển Nam Trung Hoa đi theo khuôn mẫucủa những vấn đề tranh cãi với Nhật Bản và tranh chấp hiện sắp kết thúc của Trung Quốc với Bắc và Nam Triều Tiên, đồng thời gây ra mối bất đồng lớn về việc khai thác nguồn năng lượng thuỷ điện tiềm tàng tại khu vực sông Mêkông mà không thèm đếm xỉa tới quyền lợi của hơn 60 triệu người tại 5 quốc gia ở hạ lưu của con sông này - những người mà đối với họ, dòng sông Mêkông chính là nguồn sinh kế và cung cấp lương thực. Tôi rất muốn trình bày những vấn đề này nếu các vị có yêu cầu nhưng trước hết tôi muốn tập trung nói về vấn đề Biển Nam Trung Hoa. Tôi muốn nhấn mạnh ngay từ đầu rằng nước Mỹ không đứng về bên nào trong mọi tranh chấp lãnh thổ ở Châu Á, nhưng có một số quốc gia đồng minh và các quốc gia thân Mỹ khác thì có, và chúng ta có quyền lợi quan trọng trong những vấn đề này. Những quyền lợi này bao gồm cả các lợi ích căn bản nhất như hoà bình và ổn định trong khu vực, quyền qua lại vô hại của tàu chiến Mỹ và những lợi ích thương mại lớn trong hoạt động đầu tư và ngoại thương tại khu vực này. Việc Trung Quốc không tuân thủ các nguyên tắc quốc tế đã được công nhận còn được thể hiện đối với vấn đề không phận, và đã góp phần tạo ra vụ va chạm trên không năm 2001 giữa máy bay trinh sát Hoa Kỳ với máy bay chiến đấu Trung Quốc, và vụ hạ cánh khẩn cấp của máy bay Hoa Kỳ tại đảo Hải nam. Ở cấp độ toàn cầu, chúng ta rất quan tâm đến khu vực Biển Nam Trung Hoa về các vấn đề như việc biến đổi khí hậu và việc nóng lên của trái đất, về hoạt động hợp tác khai thác bền vững về môi trường đối với trữ lượng cá di trú và việc bảo vệ những dải san hô ngầm. Đối với các tranh chấp lãnh hải, trước tiên tôi sẽ trình bày cái gọi là “những lợi ích an ninh phi truyền thống” (NTS), ví dụ như ảnh hưởng của các tranh chấp này tới phát triển kinh tế, an ninh lương thực, sinh kế và lợi ích kinh doanh của người Mỹ tại Biển Nam Trung Hoa và tại hải phận gần kề khu vực Đông Nam Á. Ảnh hưởng của Luật Công ước Biển năm 1994
Tầm quan trọng và tính chất khốc liệt của các tuyên bố trái ngược nhau đối với những vùng lãnh thổ đang tranh chấp ngày càng trở nên lớn hơn kể từ khi Liên hiệp quốc thông qua Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1994 (UNCLOS), bộ Luật Biển đã quy định mỗi nước có 200 dặm hải lý tính từ bờ biển của nước mình trở ra cho các khu đặc quyền kinh tế (EEZ). Công ước này cũng trao cho các quốc gia quyền tự do sử dụng các nguồn lực biển tại thềm lục địa của mỗi quốc gia - được quy định là 350 dặm hải lý kể từ đường “cơ sở” (được hiểu chung là mực nước thấp trung bình tại thềm lục địa) và 2.500 mét sâu. Hoa Kỳ đóng vai trò đầu tàu trong việc soạn thảo Hiệp ước Luật Biển và đã ký kết tất cả các điều khoản trong Hiệp ước này, ngoại trừ phần 11 liên quan đến các nguồn lực ở khu vực nước sâu và một số vấn đề bất đồng khác. Nhìn chung, Hoa Kỳ chấp nhận những điều khoản quan trọng nhất của Công ước nhưng chưa phê chuẩn Công ước này do có quan điểm khác với những điều khoản được quy định trong Phần 11. Căng thẳng gia tăng về các xung đột lãnh thổ có nguyên nhân sâu xa từ các nguồn lực dưới đáy biển như dầu mỏ, khí đốt và vùng đánh bắt cá. Các nguồn năng lượng ngày càng trở nên quý báu và dễ khai thác nhờ vào các tiến bộ công nghệ trong hoạt động khoan thăm dò và các hoạt động có liên quan khác. Việc trữ lượng cá suy giảm nhanh chóng kéo theo hiện tượng giá cả gia tăng đang đe doạ an ninh lương thực ở một vài quốc gia và khiến cho việc xác định vùng đánh bắt cá trở thành nguyên nhân gây ra những xung đột hiện nay. Hầu hết các tranh chấp lãnh thổ trở nên căng thẳng hơn vào thời điểm này do UNCLOS yêu cầu các quốc gia đệ trình các tuyên bố chính thức về chủ quyền lãnh hải muộn nhất là vào ngày 13 tháng Năm năm 2009. Nhiều quốc gia đã chính thức phản đối tuyên bố lãnh hải của các quốc gia khác, nhất là tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc. ( còn tiếp )
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #203 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:38:48 pm » |
|
Điều trần của Richard P. Cronin, Giám đốc chương trình Đông Nam Á, Trung tâm Stimson, Washington, DC.
.... ( tiếp theo ) Trung Quốc hiện hữu trong mọi tranh chấp tại Biển Nam Trung hoa và Sông Mêkông
Chính quyền Bắc Kinh đang liên tục khẳng định chủ quyền của mình tại hầu hết vùng biển Nam Trung Hoa và đã có nhiều hành vi sử dụng vũ lực để củng cố cho tuyên bố của mình. Năm 1974, Trung Quốc đã lợi dụng thất bại của chính quyền miền Nam Việt Nam để tấn công các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa vốn là nơi đóng quân của quân đội miền Nam Việt Nam. Chính phủ Việt Nam thống nhất tiếp tục bảo lưu các tuyên bố về lãnh hải của chính quyền Sài gòn cũ. Năm 1998, hơn 70 thuỷ thủ Việt Nam đã hy sinh trong vụ đụng độ giữa tàu Trung Quốc và tàu Việt Nam gần dải đá ngầm Johnson thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988. Vụ đụng độ năm 1995 tại quần đảo Trường Sa bắt nguồn từ việc Trung Quốc chiếm đóng các dải đá ngầm nhỏ trong 130 dặm hải lý tính từ địa phận Philippine - trong khi Philippine được quốc tế công nhận là một khu đặc quyền kinh tế - và 620 dặm tính từ lãnh thổ Trung Quốc. Vụ đụng độ năm 1995 tại dải đá ngầm Mischief đã gây ra hàng loạt các động thái phản ứng của các nước ASEAN và có lẽ đã gây nhiều ngạc nhiên cho chính quyền Trung Quốc. Trung Quốc buộc phải đưa ra đề xuất hợp tác phát triển các nguồn lực dưới biển cho đến khi vấn đề được giải quyết. Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Quốc vẫn kiên quyết từ chối ngồi vào bàn đám phán đa phương trọng yếu và đã sử dụng sức mạnh với địa vị của một nước lớn để đơn phương thực hiện các tuyên bố lãnh hải của mình. Các động thái quyết liệt nhất được chính quyền Trung Quốc triển khai ở Vịnh Bắc Bộ và tại các khu vực quanh vùng biển Nam Trung Hoa, những nơi Trung Quốc đang liên tục có các hoạt động thăm dò dầu mỏ và khí đốt tại các khu vực theo lịch sử và theo các quy định của UNCLOS thuộc chủ quyền lãnh hải của Việt Nam. Tàu Trung Quốc cũng ngăn chặn bằng vũ lực không cho tàu đánh cá của Việt Nam và của các quốc gia láng giềng khác hoạt động trong các vùng biển mà Trung Quốc đã đơn phương tuyên bố chủ quyền. Hiện nay, Trung Quốc đang trực tiếp thách thức lực lượng Hải quân của Hoa Kỳ. Vào tháng Ba năm 2009, năm tàu nhỏ của Trung Quốc đã cản trở hoạt động của tàu tuần tiễu Impeccable thuộc lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại khu vực chừng 75 dặm từ bờ biển đảo Hải Nam Trung Quốc. Trung Quốc đã buộc tội tàu Impeccable xâm phạm khu đặc quyền kinh tế của họ thông qua hoạt động tuần tiễu trên biển. Ngay cả khi tàu tuần tiễu Hoa Kỳ hướng vòi rồng về phía các tàu Trung Quốc thì những tàu này vẫn tiếp tục di chuyển lên phía trước. Trung Quốc cũng đe doạ gửi các tàu tuần tra có vũ trang để bảo vệ các tàu nhỏ quấy nhiễu tàuMỹ và củng cố thêm cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tranh cãi khác tại khu vực biển Nam Trung Hoa
Một số tranh cãi khác vẫn chưa được giải quyết bao gồm tranh cãi giữa các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Nhiều tranh cãi trong số này liên quan tới cả các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ lẫn lãnh hải. Một vài tranh chấp trong số đó tỏ ra căng thẳng hơn cả, bao gồm: • Tranh chấp giữa Thái Lan và Cămpuchia nổ ra mới đây về chủ quyền đối với ngôi đền Preah Vihear tại ngọn núi nằm trên đường biên giới chung và tranh chấp về đường biên giới lãnh hải. Tranh chấp đền Preah Vihear nóng lên tại cả hai quốc gia do Cămpuchia đơn phương bày tỏ ý định đưa di tích này vào danh sách các di sản thế giới. Quân đội của hai quốc gia đều đã tham gia vào các cuộc đụng độ có vũ trang. Tranh chấp trên biển giữa hai quốc gia này có nguyên nhân từ việc cả hai nước đều cùng tuyên bố chủ quyền đối với các nguồn lực dầu mỏ và khí đốt mà tập đoàn Chevron và ConocoPhillips, bên cạnh các tập đoàn khác, đang tìm cách khai thác. Cách thức giải quyết vấn đề này của chính quyền Thái Lan trước đây đã góp phần gây ra rối ren về chính trị tại Thái Lan hiện nay. • Thái Lan và Việt Nam cũng có những tuyên bố trái ngược nhau tại một số khu vực thuộc Vịnh Thái Lan, nơi có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt rất dồi dào. Vịnh Thái Lan là khu vực đặc biệt khó phác hoạ biên giới lãnh hải do thuộc chủ quyền lãnh hải của bốn quốc gia là Campuchia, Thái Lan, Malaixia và Việt Nam. Không thể vẽ đường lãnh hải sao cho mỗi quốc gia được hưởng 200 dặm khu đặc quyền kinh tế. Chính quyền Cămpuchia bày tỏ thái độ phản đối thoả thuận dàn xếp giữa Thái Lan và Việt Nam. • Malaixia (ở Borneo) cũng tuyên bố chủ quyền một phần biển Nam Trung Hoa mà Việt Nam, Thái Lan, Philippine và Trung Quốc đều đã có tuyên bố chủ quyền. Một bản đệ trình chung giữa Thái Lan và Malaixia được trình lên UNCLOS vào đầu năm nay đã châm ngòi cho phản ứng tức giận của Trung Quốc, và một tuyên bố ngược lại của chính quyền Trung hoa, tuy nhiên tuyên bố này không có căn cứ khi tham chiếu tới các quy định trong Luật Biển. Ảnh hưởng của thái độ của Trung Quốc tới khả năng cho các công ty Hoa Kỳ có thể hoạt động tại các khu vực tranh chấp
Cho đến nay, thái độ của Trung Quốc chủ yếu tác động trực tiếp và gián tiếp tới cơ hội của các công ty đa quốc gia của Mỹ đang hoạt động trong lĩnh vực khai thác và thăm dò dầu mỏ và khí đốt tại các mỏ dầu và khí đốt mà Việt Nam và các quốc gia khác đã cho phép họ khai thác. Các hoạt động này còn bao gồm hoạt động trực tiếp của các công ty đa quốc gia Mỹ và các liên doanh với các công ty quốc gia và đa quốc gia khác trong lĩnh vực dầu mỏ và khí đốt tại Đông Nam Á. Nhiều báo cáo phàn nàn rằng Trung Quốc đã tuyên bố với các công ty đa quốc gia của Mỹ và của các quốc gia khác rằng nếu họ muốn làm ăn với Trung Quốc thì họ không được khoan thăm dò và khai thác tại khu vực Vịnh Bắc Bộ mà Việt Nam đã tuyên bố có chủ quyền. Sản lượng khai thác dầu mỏ và khí đốt của Việt Nam thời gian qua đã chững lại và sẽ không tăng lên nếu không có sự tham gia của các công ty đa quốc gia. Nếu Việt Nam và Trung Quốc không đi tới được một thoả thuận nào đó, thì Việt Nam ít có cơ hội khai thác được nguồn dầu mỏ và khí đốt tiềm tàng đầy hứa hẹn tại khu vực ngoài khơi thềm lục địa của mình.Chính quyền Bắc Kinh đã tỏ ra cao tay hơn và có thể gây áp lực đối với các công ty dầu mỏ đa quốc gia đang hoạt động ở Trung Quốc để những công ty này ngừng các hoạt động tìm kiếm và thăm dò theo các hợp đồng có giá trị mà Việt Nam đưa ra. Vì những lý do có thể hiểu được, các công ty năng lượng đa quốc gia của Hoa Kỳ không muốn công khai những vấn đề mà thái độ của chính quyền Trung Quốc gây ra đối với các tuyên bố chủ quyền còn đang tranh cãi, nhưng những báo cáo về thái độ hăm doạ từ phía Trung Quốc mà các công ty năng lượng đa quốc gia đưa ra ngày càng tăng. Trong năm 2007 và năm 2008, Trung Quốc đã buộc ExxonMobil và BP tạm ngừng hoạt động khoan thăm dò tại vùng biển của Việt Nam. Các quốc gia quá yếu, không đủ sức cử đội tàu tuần tiễu các vùng đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế của họ cũng đang lâm vào tình thế bất lợi trong các tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc và trở thành nạn nhân của hoạt động khai thác được tiến hành bởi các “cỗ máy” đánh bắt từ nước ngoài. Giống như trường hợp của Xômali, hiện tượng phá huỷ do các hoạt động đánh bắt ven bờ bởi các đội tàu đánh bắt thương mại quy mô lớn có lẽ là nguyên nhân gây nên nạn cướp biển tại khu vực Biển Nam Trung Hoa và eo biển Malacca. Trong những năm gần đây, nhiều tàu chở hàng đã mất tích rồi lại tái xuất hiện dưới những cái tên khác và những lá cờ khác, bọn cướp biển tràn lên các tàu lớn tại khu vực eo biển Malacca và bắt cóc con tin để đòi tiền chuộc. Bắt đầu với thoả ước năm 2004 giữa Inđônêxia, Malaixia và Singapo, và được giúp đỡ bởi việc giám sát đường biển của Hải quân Hoa Kỳ, các vụ việc này đang có xu hướng giảm đi trong vài năm gần đây. Tuy nhiên, vẫn còn những câu chuyện dài về nạn cướp biển giữa các hòn đảo của Inđônêxia và Philippine, và một phần khu vực bờ biển Malaixia ở Borneo. Vì tiềm năng cho hoạt động đánh bắt hợp pháp suy giảm và vì hiện tượng phá huỷ rừng nhiệt đới đang leo thang làm giảm lượng gỗ tròn có giá trị được vận chuyển trên biển nên các nhóm đã từng tham gia vào đội quân cướp biển có thể đã quay lại với những nghề nghiệp trước đó của họ. ... ( còn tiếp )
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #204 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:41:19 pm » |
|
Điều trần của Richard P. Cronin, Giám đốc chương trình Đông Nam Á, Trung tâm Stimson, Washington, DC.
.... ( tiếp theo ) Ảnh hưởng tới môi trường, kinh tế xã hội và an ninh đối với con người
Những tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết này đang gây ra nhiều hậu quả tiêu cực, đặc biệt là gây ra những trở ngại lớn đối với hoạt động quản lý hợp tác và bền vững các nguồn lực của vùng Biển Nam Trung Hoa. Nhiều nỗ lực hợp tác được đề xuất để quản lý hoạt động đánh bắt, bảo vệ các dải san hô ngầm và kiểm soát các ảnh hưởng tiêu cực của nạn phá rừng, hoạt động khai mỏ và quá trình đô thị hoá, nhưng đều vô hiệu. Việc khai thác và đánh bắt quá mức đang leo thang tại vùng biển Nam Trung Hoa và các vùng biển liền kề thuộc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đang đe doạ sự sống của nhiều loài sinh vật là nguồn thực phẩm quan trọng. Các quốc gia ven biển không thể kiểm soát được những hoạt động đang diễn ra trên những vùng biển ở phía bắc, nhưng nếu những tranh chấp này được giải quyết thì ít nhất các quốc gia này cũng sẽ có quyền, nếu không nói đến quyền lực, để quản lý vùng đặc quyền kinh tế của họ. Nhiều tranh chấp trên biển trực tiếp phương hại đến sự phát triển kinh tế và ít nhất là cũng làm suy giảm khả năng thích ứng của môi trường và gây hiệu ứng tiêu cực cho phát triển bền vững. Tranh chấp giữa Thái Lan và Cămpuchia, giữa Trung Quốc và Việt Nam làm tổn hại các lợi ích phát triển của bên yếu hơn. Ngoài ra, nếu Cămpuchia có thể phát triển khu vực khai thác dầu và khí đốt gần và xa bờ, chính quyền nước này có thể sẽ cảm thấy không bị sức ép phải viện đến các dự án đập thuỷ điện làm phá vỡ khu rừng phòng hộ tại dãy núi Cardamom và dòng chảy của sông Mêkông. Hiện nay, giá điện quá cao ở Cămpuchia là một trong những trở ngại lớn đối với phát triển. Vai trò tiềm tàng của Hoa kỳ trong việc duy trì hoà bình và ổn định trong khu vực
Mặc dù không phải là một bên trực tiếp tham gia vào các tranh chấp lãnh hải nói trên, song Hoa Kỳ, trên phương diện nào đó, có thể tham gia giải quyết tranh chấp vì lợi ích của chính mình và của các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là thông qua con đường ngoại giao, các hỗ trợ về khoa học công nghệ và xây dựng năng lực đối phó với các hiện tượng phá huỷ đang ngày một gia tăng do các cơn bão và thích nghi với sự thay đổi của khí hậu. Các phương tiện để thực hiện những mục tiêu trên gồm: Tham gia nhiều hơn vào các vấn đề khu vực, đặc biệt ủng hộ cho các nước ASEAN. Tôi chia sẻ nỗi thất vọng của nhiều người khi chứng kiến từ nhiều thập kỷ nay việc Hoa Kỳ rõ ràng đã đứng ngoài nhiều vấn đề quan trọng diễn ra tại Đông Nam Á. Nhờ một số nỗ lực đặc biệt của các quan chức đại sứ quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ tại khu vực này nhằm thu hút mối quan tâm từ Washington, điều này đã dần thay đổi kể từ những năm cuối cùng trong nhiệm kỳ của chính quyền Bush. Việc bổ nhiệm mới đây ngài Scot Marciel - Phó Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao phụ trách Văn phòng Đông Á và Thái Bình Dương - vào cương vị Đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2007 là một ví dụ điển hình cho xu hướng tích cực trong mối quan tâm của Hoa Kỳ tới khu vực này. Hiện nay, chính quyền Obama và đặc biệt là Bộ Ngoại giao Hoa kỳ đang tỏ ra tích cực tăng cường sự tham gia với tinh thần xây dựng của Hoa kỳ vào các vấn đề của khu vực. Các nước Đông Nam Á đều sẽ rất quan tâm đến quan điểm của Bộ trưởng Ngoại giao Hoa kỳ Clinton khi bà tham gia Hội nghị sau Bộ trưởng các nước ASEAN (PMC) giữa ASEAN với các “đối tác đối thoại” và Diễn đàn khu vực ASEAN, sẽ diễn ra trong vòng vài ngày tới. Hy vọng là bà sẽ mang tới một sáng kiến mới của Hoa Kỳ, có thể về vấn đề hỗ trợ nhằm thích nghi với sự biến đổi khí hậu và các vấn đề có liên quan tới an ninh lương thực và an ninh con người. Nước Mỹ cũng có thể giúp đỡ khu vực này và chính bản thân nước Mỹ thông qua việc yêu cầu trợ giúp Sáng kiến tam giác san hô của ASEAN. “Tam giác San hô” bao gồm một khu vực biển rộng lớn giữa Indonesia, Malaysia, Philippines, Papua New Guinea, Timor Leste, và quần đảo Solomon. Với hàng nghìn loài cá trị giá nhiều tỷ đôla mỗi năm, Tam giác San hô hiện đang chịu sự tấn công bởi các phương thức khai thác huỷ diệt do các đội tàu đánh bắt thương mại quy mô lớn thực hiện, bao gồm các đội tàu của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và các quốc gia khác - bên cạnh đó là nạn phá rừng và nạn ô nhiễm từ đất liền. Với nhiều dự án của ASEAN, khu vực này được quản lý bởi các cam kết hơn là bằng hành động nhưng không một quốc gia nào có đủ nguồn lực cần thiết để thực hiện những cam kết này. Việc hợp tác với Australia có thể là thích hợp do quốc gia này có mối quan tâm lớn tới vấn đề này và có mối quan hệ đặc biệt với Papua New Guinea (PNG), Timor Leste và quần đảo Solomons. Hoa Kỳ có thể giúp giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các quốc gia có thiện chí thông qua hỗ trợ nghiên cứu cấu trúc và nguồn lực dưới biển và thu thập dữ liệu. Các sáng kiến như vậy có thể giúp các quốc gia hợp tác đối phó tốt hơn với Trung Quốc và thậm chí có thể giúp nước đó nhượng bộ mà không bị mất mặt. Trực tiếp xác nhận quyền và lợi ích của Hoa kỳ. Trên hết, chính quyền Obama cần từ bỏ thái độ thụ động của các chính quyền tiền nhiệm kể từ năm 1995 trước thái độ của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa và tại những nơi không tuân thủ đúng các quy tắc của Luật biển. Chính quyền Obama ít nhất cũng phải bày tỏ sự ủng hộ về tinh thần và đạo đức đối với các nước Đông Nam Á là nạn nhân của những lời đe doạ từ phía Trung Quốc và cần kiên quyết khẳng định quyền của Hoa Kỳ được tự do qua lại trên biển trước sự khiêu khích từ phía Trung Quốc. Hoa Kỳ có thể thực hiện điều này trong khuôn khổ Đối thoại kinh tế và chiến lược Trung – Mỹ. Cuộc gặp sắp tới tại Washington ngày 27-28 tháng Bảy tiến hành ngay sau Hội nghị Bộ trưởng các nước ASEAN, Hội nghị PMC và ARF tại Phuket, Thái Lan từ 17 đến 23 tháng Bảy, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Clinton sẽ quay về từ cuộc gặp này sau khi hiểu được ngọn nguồn những mối quan ngại của các quốc gia láng giềng với Trung Quốc. Đáng tiếc là đối với những tranh chấp trên biển ở khu vực biển Nam Trung Hoa, chính quyền Bắc kinh đã tỏ ra đi ngược lại với các thông lệ và các quy định trong luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, để ngoại giao Mỹ và ngoại giao của các quốc gia khác có cái nhìn tích cực nào đó thì điều quan trọng là nên nhớ rằng Trung Quốc cũng đã mất mát nhiều phần lãnh thổ trong quá khứ và hiện nước này vẫn đang cố gắng đòi lại. Điều này bắt nguồn từ thời Trung Quốc bị chiếm đóng, và việc Trung Quốc bị ép buộc phải từ bỏ quyền lợi hợp pháp trên lãnh thổ và trên biển vào tay các cường quốc Châu Âu và đế quốc Nhật Bản, thậm chí còn có thể kể đến hành động xâm lấn của các quốc gia láng giềng ở vùng biển Nam Trung Hoa trong lúc xã hội Trung Quốc còn đang hỗn loạn trong cuộc Cách mạng Văn hoá của Mao Trạch Đông, khi Trung Quốc còn đang bận tâm với các vấn đề đối nội. Quốc hội Hoa Kỳ có thể đóng vai trò quan trọng và mang tính xây dựng thông qua việc tổ chức các buổi điều trần giống như buổi điều trần của tôi hôm nay nhằm nắm bắt được những vấn đề này, thông qua việc uỷ quyền và cấp vốn sau khi đã cân nhắc kỹ cho các sáng kiến mới của Hoa Kỳ đối với các nước ASEAN và khu vực Đông Nam Á nói chung. Mối quan tâm của Hoa kỳ không nên và không cần phải mang tính phân cực, hay nhằm vào việc bêu xấu Trung Quốc. Điều này đơn giản là sẽ không có tác dụng. Thay vào đó, chúng ta phải tiến hành mọi nỗ lực để tôn trọng tham vọng dẫn đầu và vị thế cường quốc của Trung Quốc, nhưng phải nằm trong khuôn khổ các quy định và thông lệ đã được quốc tế công nhận, đồng thời ủng hộ các đồng minh và các nước bạn của ta ở Đông Nam Á. Trân trọng cám ơn các vị vì đã cho tôi cơ hội được báo cáo tại phiên điều trần này. Tôi rất vui lòng trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà các vị đặt ra hoặc sẽ gửi tới các vị câu trả lời bằng văn bản sau buổi điều trần này. Nguồn: Điều trần của Richard P. Cronin, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á, Trung tâm Stimson, Washington, DC (còn tiếp)
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #205 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:45:27 pm » |
|
( tiếp theo ) Điều trần của Peter Dutton, Phó giáo sư, Viện nghiên cứu hàng hải Trung Hoa, Trường Đại học Hải quân Hoa Kỳ
Tôi xin cảm ơn Ngài Chủ tịch và Uỷ ban vì đã cho tôi cơ hội hiện diện trước quý vị ngày hôm nay. Với bản điều trần này, tôi hy vọng làm sáng tỏ những điều sau đây: 1. Đòi hỏi pháp lý về biển Nam Trung Hoa của Trung Quốc và những hoạt động mà nước này đã tiến hành nhằm tăng cường khả năng thách thức đối với lợi ích hàng hải toàn cầu và Khu vực của Hoa Kỳ. 2. Trung Quốc coi đòi hỏi pháp lý mà họ đang củng cố về chủ quyền biển Nam Trung Hoa là căn bản, không thể thương lượng. 3. Trung Quốc là một cường quốc hải quân đang trên đà phát triển, tuy nhiên có thể nói là việc phát triển hàng hải này chủ yếu để tăng cường cho chiến lược đại lục của họ hơn là để trở thành một cường quốc hải quân viễn chinh. 4. Hoa Kỳ cần tiếp tục thể hiện khả năng vượt trội về hàng hải để bảo đảm tiếp cận toàn cầu và khu vực cần thiết cho nền quốc phòng và cho an ninh của hệ thống hàng hải nói chung. Đầu tiên là những đòi hỏi thực tế của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa, trái với những gì mà một số nhà bình luận đã nêu ra, chính quyền Trung Quốc không giành chủ quyền đối với diện tích mặt biển của biển Nam Trung Hoa. Tuyên bố của Trung Quốc về sự kiểm soát pháp lý đối diện tích biển Nam Trung Hoa phần nào dựa trên lời khẳng định của nước này về toàn vẹn lãnh thổ đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa được nhấn mạnh trong Đạo luật về Lãnh hải và vùng kế cận-theo đó Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Điếu Ngư (tức Senkaku) trong vùng biển Hoa Đông, và ở biển Nam Trung Hoa Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Đông Sa (Pratas) và quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa (Bãi Macclesfield) và Nam Sa (Trường Sa)1. Ngoài những tuyên bố về chủ quyền đối với các quần đảo, luật về vùng Đặc quyền Kinh Tế 1998 của Trung Quốc khẳng định lời tuyên bố đối với “vùng đặc quyền kinh tế … trải rộng trên 200 dặm biển tính từ đường cơ sở”2 . Vì các đảo trong biển Nam Trung Hoa được tự cho là lãnh thổ Trung Quốc và bao gồm cả khu vực đường cơ sở theo Luật Lãnh Hải 1992, hiệu lực của đạo luật 1998 là để khẳng định đặc quyền kinh tế quanh mỗi đảo. Vì vậy, kết hợp cả hai luật, Trung Quốc đều yêu sách vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc là bao quát gần như toàn bộ biển Nam Trung Hoa . Như vậy chính phủ Trung Quốc không đòi hỏi rằng những vùng biển này là lãnh hải, vùng nội thuỷ hoặc vùng quần đảo hoặc bất cứ một loại vùng biển quốc gia nào để thảo luận quyền chủ quyền trên những dải rộng trong vùng biển của khu vực. Điều đó nói lên rằng việc kết hợp giữa yêu sách lãnh thổ đối với các quần đảo của biển Nam Trung Hoa và “cách diễn giải độc đáo” về luật quốc tế về biển có liên quan đến các quốc gia biển nhằm hạn chế hoặc cấm các hoạt động quân sự nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế 3 như là một phần mục tiêu của Trung Quốc nhằm đạt được tại biển Nam Trung Hoa đặc quyền kiểm soát quân sự trên vùng biển hình chữ U có tới 9 vạch ranh giới. Sự kiểm soát như vậy chẳng khác gì quyền kiểm soát các cuộc diễn tập trên những vùng chủ quyền biển của những nước này. Nêu lên sự khác biệt này xem ra như là việc chẻ tư sợi tóc, tuy nhiên điều quan trọng là phải thấy được ngụ ý trong chính sách của Trung Quốc đối với luật quốc tế nói chung. Trung Quốc không yêu sách chủ quyền đối với vùng biển Nam Trung Hoa cũng như quyền lợi đi kèm để tiến hành kiểm soát các hoạt động quân sự như là một quyền của nước có chủ quyền - Trung Quốc tuyên bố quyền hạn chế, thậm chí cấm các hoạt động quân sự nước ngoài trong các vùng biển này thuộc quyền quốc gia biển và đưa ra luật quản lý vùng đặc quyền kinh tế, mà nó lại là vùng không có chủ quyền của pháp lý đối với nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường của mình. Nếu Trung Quốc đòi hỏi quyền kiểm soát đối với các cuộc diễn tập quân sự vì họ đòi hỏi chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa, thì Hoa Kỳ chắc chắn sẽ phản đối yêu sách này trước hết trên cơ sở thực tiễn; tuy nhiên chúng ta cũng phải thoả thuận với nhau về tiền đề pháp lý rằng chỉ khi có chủ quyền hoàn toàn về hải phận thì mới có vấn đề quyền kiểm soát các hoạt động quân sự. Hiểu như vậy tác động pháp lý của các vụ tranh chấp sẽ chỉ hạn chế trong hải phận của biển Nam Trung Hoa, như trường hợp của Li Bi tuyên bố chủ quyền đối với việc kiểm soát hoạt động quân sự nước ngoài, trong vịnh Sidra trên yêu cầu thái quá về chủ quyền đối với hải phận đó. Điều gì đã khiến cho trường hợp Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng đối với lợi ích của Hoa Kỳ - đó là tác động của các cuộc tranh chấp giữa chúng ta với Trung Quốc về cách thức mô tả các vùng đặc quyền kinh tế của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tất cả các vùng đặc quyền kinh tế khác trên thế giới. Bằng cách gắn triển vọng pháp lý với mô tả đặc trưng pháp lý của các vùng đặc quyền kinh tế nói chung, nếu triển vọng của Trung Quốc được chấp nhận, nó sẽ ảnh hưởng đến cách thức mà luật pháp quốc tế nhìn nhận các vùng đặc quyền kinh tế tại khắp mọi nơi. Như vậy chừng nào mà các vùng đặc quyền kinh tế trải rộng hơn 1/3 đại dương của toàn thế giới và tất nhiên, một phần trăm của các vùng biển, hải đảo và các điểm chiến lược của thế giới và các tuyến giao thông hàng hải, triển vọng pháp lý của Trung Quốc sẽ xói mòn những lợi ích của các cường quốc hải quân nói chung và Hoa Kỳ với tư cách là người bảo vệ hàng đầu về an ninh hàng hải nói riêng. .... ( còn tiếp )
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #206 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:47:22 pm » |
|
Điều trần của Peter Dutton, Phó giáo sư, Viện nghiên cứu hàng hải Trung Hoa, Trường Đại học Hải quân Hoa Kỳ
.... ( tiếp theo ) Tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc và yêu sách quyền sở hữu các vùng đặc quyền kinh tế trên hầu hết toàn bộ biển Nam Trung Hoa thôi cũng đã gây ra những cuộc tranh cãi, vì có ít nhất 4 nước cộng với Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền của họ ít nhất trên một số đảo, thậm chí nhiều hơn nữa, bởi vì nhiều đảo ở biển Nam Trung Hoa quá bé nhỏ để có thể được tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế về mặt pháp lý theo các quy định và điều khoản như đã được đề cập trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tuy thế, ngoài những quy chế đối nội, cách diễn giải về luật pháp quốc tế về biển, Trung Quốc đòi hỏi quyền pháp lý vùng giới hạn bao quát hoặc điều chỉnh các hoạt động quân sự nước ngoài trong và trên các vùng đặc quyền kinh tế 4 . Điều đó, đối với Hoa Kỳ, là khía cạnh thách thức và đáng bàn cãi nhất trong yêu sách pháp lý của Trung Quốc, bởi vì Trung Quốc đang xây dựng một cơ cấu hải quân mà cơ cấu này sẽ ngăn cản một cách hữu hiệu các nước láng giềng - mà nhiều nước trong số đó là bè bạn hoặc đồng minh của Hoa Kỳ - đang bảo vệ các đòi hỏi về hải đảo của mình, do Trung Quốc đã gia tăng sử dụng sức mạnh hải quân nói riêng và quân sự nói chung nhằm làm rối loạn các cuộc diễn tập của hải quân Hoa Kỳ trong và trên biển Nam Trung Hoa. Theo quan điểm của tôi, Trung Quốc coi mình như đang ở trong giai đoạn có thể nắm được quyền thống trị biển Nam Trung Hoa. Có lẽ một trong những lý do để Trung Quốc gia tăng các hoạt động chống lại các chiến hạm của hải quân Hoa Kỳ ở biển Nam Trung Hoa là vì họ có tính đến một số yếu tố gây trở ngại trên con đường củng cố các đòi hỏi về hải đảo của mình đó là hải quân Hoa Kỳ và các ý đồ chính trị Mỹ nhằm ủng hộ nhu cầu tự do thông thương biển của các nước bạn bè và đồng minh trong vùng. Tôi hoài nghi rằng Trung Quốc đã nhận thấy điều nói sau là dễ bị tổn thương và dễ gây hại đối với ảnh hưởng của mình, nhất là trong giai đoạn kinh tế đầy thách thức và lực lượng quân sự quốc gia đang tập trung vào cuộc chiến tranh trên bộ tại Iraq và Afghanistan. Điều này, theo ý kiến tôi, là một trong những lý do mà Trung Quốc đã tiến hành các chiến dịch mới đây nhằm quấy rối các hoạt động của hải quân Hoa Kỳ ở trong vùng. Nếu họ có thể làm xói mòn ý đồ chính trị đối với các hoạt động của hải quân Hoa Kỳ trong biển Nam Trung Hoa, thì họ chẳng cần phải đương đầu với sức mạnh của hải quân Hoa Kỳ để đạt được mục tiêu của mình. Họ có thể làm xói mòn sức mạnh của hải quân Hoa Kỳ một cách gián tiếp mà vẫn đạt được kết quả như mong muốn. Thực vậy, một số nhà phân tích và học giả am hiểu đã gợi ý rằng những toan tính của Trung Quốc về sức mạnh Hoa Kỳ cho thấy họ đã hung hăng đến mức độ nào khi theo đuổi yêu sách về biển Nam Trung Hoa. Theo đường lối tư duy này, trong suốt vài thập kỷ qua Trung Quốc đã lợi dụng tình thế chuyển biến ít nhiều có lợi cho mình bằng sức mạnh cục bộ trong biển Nam Trung Hoa 5 . Một số hoạt động của Trung Quốc có thể mang tính chất cơ hội như là trận chiến năm 1974 với lực lượng hải quân bị phong toả của Việt Nam Cộng hoà để giành quyền kiểm soát một số đảo trong quần đảo Hoàng Sa trong khi Hoa Kỳ đang hoàn tất việc rút khỏi Nam Việt Nam, rồi lại xâm lấn giành quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa năm 1976 khi Việt Nam mới tái thống nhất. Sau đó đến mùa xuân năm 1988, trong khi các tàu chiến Mỹ đang tập trung vào hộ tống an toàn cho các tàu chở dầu qua eo biển Hormous thì Trung Quốc đã cho Hải Quân giao chiến với Việt Nam nhằm kiểm soát nhiều đảo nữa trong quần đảo Trường Sa. Cuối cùng vào năm 1994 và đầu năm 1995, khoảng chừng 2 năm sau khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi căn cứ hải quân vịnh Subic, Trung Quốc lặng lẽ chiếm Rặng Mischief, một rặng san hô nhỏ bé trong biển Nam Trung Hoa gần quần đảo Palawan của Philippines mà trước đó do chính quyền Philippines quản lý. Chiến hạm Trung Quốc vẫn bao quanh Rặng Mischief để Trung Quốc củng cố thành quả của mình bằng cách xây dựng lực lượng quân sự trên hòn đảo nhỏ bé này. Những động thái quân sự mới đây ở biển Nam Trung Hoa cho thấy không chỉ dừng lại ở mức cơ hội nữa. Thay vào đó, nó là sản phẩm của những năm nghiên cứu, phát triển và đầu tư của Trung Quốc trong ngành công nghệ quân sự nhằm tạo ra những thách thức đối với việc hải quân Hoa Kỳ tiến vào vùng biển Đông Á. Những công trình của Lyle Goldstein và William Murray chứng minh sức mạnh tầu ngầm ngày càng gia tăng của Trung Quốc cùng với sức mạnh thuỷ lôi của nước này; và công trình nghiên cứu Andrew Erickson và David Young 6 đã làm sáng tỏ chương trình tên lửa đạn đạo chống chiến hạm của Trung Quốc. 7 Ngoài những thay đổi trạng thái cân bằng tiềm lực quân sự, chiến dịch lâu dài của Trung Quốc nhằm làm xói mòn tính hợp pháp của các cuộc diễn tập của hải quân Hoa Kỳ trong biển Nam Trung Hoa như là một mưu đồ nhằm thay đổi ưu thế chính trị trong vùng. Việc quan sát này được tiến hành qua học thuyết “Ba cuộc chiến mới” của Trung Quốc. Ba cuộc chiến mới gắn liền với nhau theo học thuyết quân sự này là: cuộc chiến pháp lý, cuộc chiến dư luận công chúng và cuộc chiến tâm lý. Tiêu điểm của mỗi chiến dịch này cơ bản nhằm tạo nên và phát huy tính hợp thức trong nước đối với quan điểm của nhà cầm quyền Trung Quốc về chủ quyền của mình đối với các quần đảo của biển Nam Trung Hoa cũng như quyền kiểm soát các hoạt động quân sự trên toàn bộ biển Nam Trung Hoa. Cách đây vài năm một bài báo in trên tờ Hải quân Nhân dân đã lên tiếng rằng mục tiêu của chiến tranh pháp lý là “Hãy nhìn xa trông rộng để phân biệt các vấn đề trước khi chúng xảy ra “trên thực tế” nhằm “cung cấp một bằng chứng pháp lý cho hành động quân sự và “tham gia cuộc chiến pháp lý để giành giật lấy tính chủ động pháp lý” để “bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ” 8 . Như vậy, những phương thức”mới” về chiến tranh này được tiến hành nhằm đạt các mục tiêu chiến lược mà thực tế không phải dùng đến sức mạnh quân sự bằng cách gây ảnh hưởng dư luận trong quần chúng đi đôi với việc ngầm đe doạ bằng sức mạnh quân sự đang ngày càng phát triển của mình. Trung Quốc dường như nhận thức được cơ hội thuận tiện để củng cố đòi hỏi về biển Nam Trung Hoa. Tôi nhận thấy rằng, cuộc thương lượng tay đôi hiện đang diễn ra về tranh chấp biển Nam Trung Hoa dườngnhư đang giậm chân tại chỗ. Uỷ ban Chỉ đạo Hợp tác Việt-Trung đã ra một bản thông cáo sau cuộc họp lần thứ hai vào năm 2008 nói rằng cả hai bên đã “đồng ý giải quyết tranh chấp qua thương lượng nhằm duy trì nền hoà bình và ổn định ở biển Nam Trung Hoa”. Tuy nhiên tuyên bố này vẫn mâu thuẫn với việc Trung Quốc khăng khăng rằng họ có “chủ quyền không thể tranh cãi được” về các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa, kể cả động thái mới đây vào tháng 5 năm 2009 khi Trung Quốc nộp bản tuyên bố cho Liên Hợp Quốc để trả lời các đòi hỏi khu vực của Việt Nam và Philippines 9 . Nếu Trung Quốc vẫn không muốn nhượng bất cứ đảo nào cho bên yêu sách thì khó mà có thể mường tượng được còn có gì để thương lượng. Trong tranh chấp biển đảo với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc dường như sẵn lòng sống miễn cưỡng dưới sự kiểm soát của Nhật Bản trên Quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) ngay cả khi đôi lúc Trung Quốc có những hành động khiêu khích nhằm kiên trì đòi hỏi về chủ quyền của mình, và chờ đợi hoàn cảnh nào đó trong tương lai khi Trung Quốc ở một vị thế mạnh hơn trong quan hệ đối với Nhật Bản để thúc bách những đòi hỏi ấy 10. Theo quan điểm của tôi, Trung Quốc như có cùng một cách tiếp cận đối với những đòi hỏi của họ ở biển Nam Trung Hoa. Nếu ngày nay Trung Quốc chưa có một vị thế đủ mạnh để giành được sự chấp thuận về những đòi hỏi chủ quyền đối với các quần đảo này thì hãy đừng thương thuyết để kiếm từng kết quả đơn lẻ mà đợi cho tới một thời gian tương lai thích hợp khi mà vị thế của mình được củng cố để hoàn tất mọi yêu sách của mình. .... ( còn tiếp )
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #207 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:48:56 pm » |
|
Điều trần của Peter Dutton, Phó giáo sư, Viện nghiên cứu hàng hải Trung Hoa, Trường Đại học Hải quân Hoa Kỳ
.... ( tiếp theo ) Tuy nhiên, với sự tham gia tích cực của Mỹ thì ít ra cũng có thể đưa tất cả các bên ngồi lại với nhau và bắt đầu các cuộc thảo luận đa phương để tránh va chạm và ngăn ngừa việc tranh giành các đòi hỏi về chủ quyền, các đòi hỏi về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, các đòi hỏi về an ninh, và các quyền tiếp cận lãnh hải. Trong bối cảnh các cuộc thảo luận như vậy sẽ giúp Mỹ tỏ rõ quan điểm rằng Mỹ ủng hộ cho việc giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ bằng biện pháp hoà bình như đã quy định trong Luật Ứng xử ở biển Nam Trung Hoa, tôn trọng những cam kết của chúng ta đối với các bạn bè và đồng minh trong khu vực bằng việc ủng hộ họ trong trường hợp có đụng độ, và rằng gần đây Trung Quốc gia tăng các cuộc tuần tra quân sự và vũ trang trên biển là không giúp ích gì. Cũng vậy, người ta trông chờ ở các bên sự kiềm chế. Kết quả cuối cùng có thể là một cơ hội lịch sử để Trung Quốc chứng tỏ rằng việc tăng cường quân sự của mình quả thật là một phần của chính sách Phát triển Hoà bình rộng mở hơn của mình và các ý đồ đối với những nước láng giềng quả thực là có thiện chí. Về điểm sau, đã gây ra một vài sự hoài nghi trong khu vực, đặc biệt là ở Nhật Bản. Quả vậy, ngay tại Trung Quốc cũng có một cuộc tranh luận trong các giới học thuật và phân tích về mức độ phát triển của hải quân Trung Quốc phải gắng sức phát triển, các khả năng “blue water” (giữ được biển xanh). Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, không có dấu hiệu gì chứng tỏ rằng các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã bị thuyết phục để xây dựng một lực lượng hải quân có thể thách thức hải quân Mỹ nhằm kiểm soát vùng biển trong thời gian gần và trung bình. Kết quả tất yếu của việc Quân đội Trung Quốc phát triển mạnh mẽ trong hai thập niên qua, và đặc biệt là sau khi một hạm đội của Trung Quốc được triển khai ở Vịnh Ađen nhằm hỗ trợ những hoạt động chống cướp biển tại khu vực, là mối lo ngại rằng có lẽ việc tăng cường hải quân của Trung Quốc báo hiệu ý đồ của Bắc Kinh rằng một ngày nào đó Bắc Kinh sẽ vượt qua tầm khu vực ở Đông Á nhằm thách thức với sự chỉ huy toàn cầu của Mỹ. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, việc này khó có thể xảy ra vì ba lý do sau: Thứ nhất, Trung Quốc không chắc sẽ xây dựng được một hải quân viễn chinh lớn mạnh bởi vì một cường quốc chủ yếu là đại lục không có lợi ích chiến lược gì khi chú ý quá nhiều và dành các tài nguyên vào việc kiểm soát biển toàn cầu, đặc biệt là khi đã có một siêu cường về biển tồn tại và cung ứng dịch vụ không mất tiền 11 . Thứ hai, những người khác đã đưa ra giả thuyết là Trung Quốc có quá nhiều thách thức ở trong nước về kinh tế, chính trị và dân số mà những thách thức này sẽ luôn cạnh tranh nhằm gây được sự chú ý về chính trị và nguồn tài nguyên trong suốt phần còn lại của thế kỷ để Trung Quốc có thể thực hiện được công cuộc này 12. Thêm vào những quan sát này, tôi còn có một lý do thứ ba là tại sao tôi không dự đoán Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc viễn chinh trên biển: Nếu Trung Quốc có ý đồ phát triển mạnh mẽ hải quân của mình thách thức sức mạnh trên biển của Mỹ bên ngoài Biển Đông và Nam Trung Hoa, thì dấu hiệu chính của ý đồ này sẽ là một sự thay đổi về lâu dài đối với luật biển quốc tế, từ việc chống đi vào đến việc đi vào các vùng biển này, bởi vì khả năng sử dụng sức mạnh hải quân mà không có luật pháp quốc tế hỗ trợ thì sẽ là một sự đầu tư tốn kém mà lại ít tính hữu dụng thực tế. Như vậy, thực là một nghịch lý, điều này có thể có lợi nhất cho Mỹ để chấp nhận sự bất đồng để chúng ta chú tâm tới các triển vọng khác nhau về luật biển quốc tế như là một trong những chi phí có thể khống chế được để phân biệt những lợi ích cơ bản của một cường quốc đại lục hùng mạnh với những lợi ích cơ bản của một cường quốc biển lớn mạnh. Điều đó không nói rằng nước Mỹ phải bằng bất cứ cách nào thoả hiệp với những giá trị hoặc những triển vọng có liên quan tới quyền của luật pháp quốc tế cho hải quân đi vào những đại dương của thế giới vì những nhiệm vụ liên quan tới hoà bình và an ninh quốc tế, hoặc những nhiệm vụ có liên quan tới an ninh của biển từ những mối đe doạ phi truyền thống. Mặc dù những triển vọng của Mỹ về luật biển được gần 140/157 nước thành viên hiện nay của Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc chia sẻ, những nước còn lại đồng ý với Trung Quốc tới một mức độ này hay một mức độ khác chính là các quốc gia ven biển, họ có quyền đặt ra những sự hạn chế về luật pháp đối với những hoạt động quân sự của nước ngoài trong các Vùng Kinh tế đặc quyền của họ, chúng ta không thể cho đó là chuyện đương nhiên. Quả thực, triển vọng của Trung Quốc có một vài điều hấp dẫn ngay cả trong các nước láng giềng của Trung Quốc. Mặc dù trên thực tế là các quốc gia này vẫn được ghi nhận là chấp nhận sự tự do quân sự truyền thống trong Vùng Kinh tế đặc quyền, đại diện của các nước Philippines, Indonesia và các quốc gia trong khu vực khác đôi khi cũng lặng lẽ bày tỏ sự ủng hộ chung đối với triển vọng của Trung Quốc, nếu không phải là vì lý do gì khác hơn là triển vọng này có thể giúp họ ngăn chặn được sức mạnh hải quân đang lớn mạnh của Trung Quốc. Sự phát triển không ổn định này gợi ý rằng các đối tác khu vực của chúng ta ở Châu Á cũng cảm thấy có sự thay đổi về động thái ở biển Nam Trung Hoa, và có thể cần nhiều điều bảo đảm hơn là chúng ta đang bảo đảm rằng nước Mỹ vẫn còn cam kết đầy đủ đối với những cam kết an ninh khu vực của chúng ta và duy trì một sự hiện diện hải quân vượt trội trong khu vực. Bảo vệ tự do hàng hải truyền thống vì những mục đích quân sự bằng việc duy trì một sự cam kết cường quốc biển vượt trội toàn cầu sẽ có những hậu quả nghiêm trọng đối với khu vực Đông Á và xa hơn nữa. Một vòng cung chống đi vào đang phát triển khắp lục địa Nam Á từ biển Ả-rập cho tới Biển Nhật Bản. Một số quốc gia còn lại vẫn chính thức duy trì các triển vọng hợp pháp để thách thức tự do quân sự truyền thống về hàng hải trong và ngoài khu vực Kinh tế đặc quyền. Các quốc gia này nằm dọc bờ biển phía Nam của Châu Á trên một số tuyến giao thông đường biển rất quan trọng trên thế giới. Trong khu vực này, Iran, Pakistan, Ấn Độ , Bangladesh, Myanmar, Malaysia, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên có các luật khẳng định một số quyền kiểm soát đối với các hoạt động quân sự của nước ngoài trong khu vực Kinh tế đặc quyền. Việt Nam cũng nằm ở danh sách này, mặc dù Việt Nam đã lựa chọn vẽ các đường cơ sở vượt quá ngoài tầm hơn là khẳng định việc kiểm soát khu vực Kinh tế đặc quyền như là phương pháp lựa chọn hợp pháp chống đi vào khu vực. Đôi khi các học giả và các quan chức ở một số ít các quốc gia trong khu vực còn lại chưa liệt kê ở đây cũng đưa ra quan điểm của mình. Một số nước này đã và đang xây dựng hải quân khu vực hùng mạnh, trong khi các nước khác đang tích cực tìm kiếm khả năng hạt nhân hoặc các công nghệ chống đi vào khu vực thông thường giống như của Trung Quốc để tăng thêm sức mạnh cho các triển vọng hợp pháp của họ. Để đối phó với những quan ngại chống đi vào khu vực của các quốc gia có bờ biền này, Mỹ sẽ cần phải ưu tiên thúc đẩy và chứng tỏ những lợi ích an ninh biển có thể có được bởi ưu thế cường quốc biển hùng mạnh kết hợp với quyền đi vào các đại dương. Đặc biệt là Mỹ sẽ cần phải tìm kiếm những cơ hội để cam kết với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực hành động hợp tác quốc tế để bảo đảm an ninh biển đối với những nhân tố gây bất ổn truyền thống và phi truyền thống. Thêm vào đó, vì Trung Quốc rõ ràng là muốn đóng một vai trò quan trọng hơn trong việc lãnh đạo toàn cầu, cụ thể như là cam kết ngày càng tăng của Trung Quốc đối với các nỗ lực gìn giữ hoà bình quốc tế, thì việc cùng làm việc với Trung Quốc trên một cơ sở bình đẳng ở nơi nào đó có thể sẽ giúp vào mối quan hệ chung 13. Việc mời các tàu hải quân Trung Quốc tham gia vào những chiến dịch an ninh hàng hải trong khi tương lai-thậm chí chúng ta còn có bất đồng về quyền lực hợp pháp có thể áp dụng-nên trở thành thường xuyên hơn. Đạt được một mục tiêu hàng hải chung bằng việc hoặc là hoạt động trong các khu vực riêng rẽ hoặc là hoạt động trong cùng một khu vực trong khi thực hiện những nhiệm vụ khác nhau là các phương pháp đã được chứng tỏ trong các hoạt động gần đây ở Vịnh Ađen. Điều này đang được nghiên cứu kỹ như là kiểu mẫu và hợp tác trên biển trong tương lai nơi mà các bên không nhất thiết phải đồng ý về các quyền lực thích hợp. .... ( còn tiếp )
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #208 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 03:50:53 pm » |
|
Điều trần của Peter Dutton, Phó giáo sư, Viện nghiên cứu hàng hải Trung Hoa, Trường Đại học Hải quân Hoa Kỳ
.... ( tiếp theo và hết ) Quả vậy, quyết định của Trung Quốc tham gia vào những hoạt động chống cướp biển ở Vịnh A Đen là một cơ hội đáng khích lệ để chứng tỏ sức mạnh về cộng tác hàng hải toàn cầu nhằm mang lại trật tự và ổn định cần thiết cho kinh tế và sức mạnh hệ thống chính trị toàn cầu mà các nước lớn phải dựa vào. Thêm vào đó, những hoạt động như vậy làm cho Trung Quốc có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào việc cung ứng hàng hoá toàn cầu xuất phát từ những hoạt động hàng hải nhân đạo và cảnh vệ vũ trang được chứng minh bởi những giải thích hợp lý để đi vào khu vực biển theo luật quốc tế. Một điểm cuối cùng về sự hợp tác trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc. Vì các biển Đông và Nam Trung Hoa là những khu vực quan trọng về chiến lược đối với cả Trung Quốc và Mỹ và những bất đồng trong khu vực có thể vẫn tiếp tục, sự hợp tác có thể sẽ diễn ra nhiều hơn giữa các lực lượng hải quân Trung Quốc và Mỹ khi mà hai lực lượng này hoạt động từ các khu vực bờ biển Đông Á. Thách thức đối với Mỹ trong hành động phối hợp với Trung Quốc sẽ là chế ngự các sự căng thẳng ở Đông Á trước khi khuyến khích sự hợp tác toàn cầu lớn hơn. Các khát vọng của Trung Quốc muốn đóng vai trò toàn cầu như là một cường quốc có trách nhiệm và việc sẵn sàng đảm nhận những hoạt động an ninh song song với nhau, nếu không phải là hợp tác trực tiếp với Mỹ và các quốc gia ở gần biển trong Vịnh Ađen thì những gợi ý cho chúng ta thấy rằng những cơ hội như vậy trong tương lai sẽ tự xuất hiện và nên được hoan nghênh. Hơn nữa, nếu Trung Quốc càng làm việc nhiều hơn với Mỹ và những quốc gia có cùng suy nghĩ như vậy cách xa những bờ biển của Đông Á thì càng có cơ may lớn hơn về độ tin cậy để điều chỉnh những quan hệ Mỹ-Trung ở Đông Á. Nếu những cơ hội về hợp tác ở Đông Á xuất hiện, như là việc hỗ trợ nhân đạo hoặc cứu trợ thảm hoạ thì nên hoan nghênh Trung Quốc như là một cộng sự. Con tàu bệnh viện mới của Trung Quốc có thể tạo các cơ hội về mặt này và việc triển khai cùng khu vực những tàu bệnh viện của Mỹ và Trung Quốc nên được xem là mang lại các lợi ích của y học hiện đại cho các vùng chưa có dịch vụ này ở Đông Nam Á. Cuối cùng thì những hoạt động như vậy có thể mở đầu cho việc xây dựng yếu tố chủ yếu của sự tin cậy, dựa trên các tiếp xúc quân sự đang tăng lên mà các giao lưu này sẽ giúp vào việc phát triển sự ổn định chiển lược mà mọi bên đều mong muốn. Tóm lại, có lẽ hai hành động chỉ đạo quan trọng nhất mà nước Mỹ có thể đảm nhận để duy trì tự do hàng hải đó là tầm quan trọng về chiến lược đối với an ninh quốc gia của Mỹ, trước hết là khẳng định vị thể của chúng ta như là người đưa ra các quan điểm định hướng tới việc đi vào khu vực theo luật biển quốc tế. Đã quá lâu rồi chúng ta không quan tâm tới trụ cột cơ bản của an ninh của Mỹ. Chúng ta đã hoặc mặc nhiên coi những lợi ích của triển vọng của chúng ta là điều hiển nhiên và trông đợi ở những nhân vật của các quốc gia biết điều khác cuối cùng sẽ được thuyết phục theo triển vọng của chúng ta, hoặc chúng ta chỉ dựa trên sức mạnh của một cường quốc để thực hiện những gì về lợi ích biển thì có thể làm mà không quá quan tâm đến những điều khác liên quan. Tuy nhiên, hiện nay chưa có thống nhất hoàn toàn về triển vọng biển trong các cơ quan liên bang khác nhau để đóng góp vào chính sách đại dương. Chính phủ liên bang sẽ được hưởng lợi từ chính sách đại dương quốc gia toàn diện và chính sách đó sẽ mang lạimột kế hoạch thông tin chiến lược toàn diện nhằm làm sáng tỏ những lợi ích và sức mạnh về viễn cảnh của Hoa Kỳ trên các đại dương. Thứ hai, từ tháng 10 năm 2007 Hải quân Hoa Kỳ đã hoạt động theo chiến lược hàng hải với sự hợp tác quốc tế như là một trong những nền tảng quan trọng nhất về nền an ninh hàng hải toàn cầu để đáp lại những mối đe doạ truyền thống và phi truyền thống. Như Đô đốc Hải quan Willard mới đây đã xác nhận: “Tình trạng phi bè phái hiện tại của chúng ta đã hạn chế “, chúng ta đang tìm kiếm đối tác liên kết nhằm đạt được an ninh quốc tế và quốc gia, đô đốc Hải quân Willard cũng nhận xét rằng UNCLOS có tầm quan trọng bởi vì nó đem lại cho chúng ta một “cơ chế pháp lý hùng mạnh cho các cuộc hoạt động toàn cầu của chúng ta” nhằm đương đầu với mối đe doạ cả truyền thống và phi truyền thống. Với các lý do này tôi muốn nói thêm rằng sự xúc tiến tích cực của Trung Quốc về các triển vọng chống đi vào khu vực của họ-và việc nghe-tiếp nhận thông điệp đang đạt tới phần quan trọng của thế giới -điều này nhắc nhở chúng ta thấy rằng mức độ tự do hàng hải hiện tại cho các mục đích quân sự mà chúng ta đang có lợi thế không phải được coi như là đương nhiên. Hơn nữa, Trung Quốc thực hiện quyền lãnh đạo về những vấn đề này ở vị trí đã có trong Công ước. Trong khi đó Hoa Kỳ lại không có. Một vị quan toà người Trung Quốc ngồi xử tại toà án Quốc tế về luật biển, trong khi không có một vị chánh án Hoa Kỳ nào. Khi các cuộc thương lượng được tiến hành nhằm xem xét các thay đổi Công ước, Trung Quốc sẽ có một ghế tại bàn thương thảo và một lá phiếu còn Hoa Kỳ lại không có. Để khuyến khích vị trí lãnh đạo toàn cầu của chúng ta đối với các vấn đề về Luật biển nhằm bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia của chúng ta trên đại dương khỏi bị vi phạm theo quan điểm của tôi là Hoa Kỳ nên tham gia liên minh với 157 quốc gia khác hiện đang là thành viên và tán thành Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển một khi có cơ hội thuận lợi nhất. Để kết luận vấn đề này, Luật biển quốc tế là quan trọng và Hoa Kỳ cần thận trọng để thấy rằng lợi ích của chúng ta trong các cách tiếp cận có định hướng với Luật biển phải được bảo toàn. Tuy nhiên, sức mạnh có sức thuyết phục hơn lời nói. Theo ý kiến của tôi, điều cơ bản đối với nền an ninh quốc gia của chúng ta cũng như của nhiều quốc gia khác là sức mạnh hải quân của chúng ta cần được bảo vệ để tránh bị tổn hại. Sức mạnh này hiện đang chuyển dịch ở Đông Á, tuy không tương đương nhưng cũng là đã thay đổi. Cơ hội tốt nhất của Hoa Kỳ là gìn giữ hoà bình trong vùng nhằm tỏ rõ sự tôn trọng của chúng ta đối với vị trí vùng mới được thiết lập của Trung Quốc bằng cách mở rộng hợp tác hàng hải. Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích căn bản của chúng ta và lợi ích của bè bạn và liên minh của chúng ta, chúng ta phải duy trì sức mạnh hàng hải vượt trội của mình. 1 Luật của CHND Trung Hoa về Lãnh hải và Vùng kế cận, 25.02.1992 2 Luật của CHND Trung Hoa về Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa, 26.06.1998 3 Peter Dutton, “Những bằng chứng trình bày trước Uỷ ban Xem xét về An ninh và Kinh tế Mỹ-Trung”, 11.06.2009, www.uscc_gov/hearings/2009/written_testimonies/90_06_11_wrts/09_06_11_dutton statement.pdf. 4 Xem, ví dụ như Khảo cứu và khái quát Luật của nước CHND Trung Hoa, 29.08.2002; và các quy định của nước CHND Trung Hoa về Quản lý Công tác Nghiên cứu Hải dương học có liên quan đến vấn đề Đối ngoại, 01.10.1996. Đối với những mối quan hệ có thẩm quyền của cac triển vọng pháp lý đối với các quốc gia biển nhằm hạn chế những hoạt động quân sự nước ngoài trong các đặc quyền kinh tế, xin xem Ren Xiaofeng & Cheng Xizhong, “Viễn cảnh Trung Hoa”, chính sách Hàng hải 29 (2005) trang 139. 5 Xem, ví dụ như Bonnie S. Glaser & Lyle Morris, “Đánh giá về sự suy thoái của cường quốc Hoa Kỳ, tạp chí Quỹ tài trợ Jamestown, 09.07.2009 (trực tuyến) ; và Richars Fisher, “Cuộc cạnh tranh trên biển Nam, Trung Hoa: Trung Quốc thèm khát rặng Mischief, Trung tâm chiến lược và đánh giá tình hình quốc tế, 28.06.2009 (trực tuyến) 6 Lyle Goldstein và William Murray, Rống biển, Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc, An ninh quốc tế, tập 28, số 4, Mùa xuân 2004, trang 161-196 7 Andrew S. Erickson và David D.Yang, Trên giới tuyến của cuộc chơi thay đổi , biên bản lưu của Viện hải quân Hoa Kỳ, mùng 1 tháng 5 năm 2009. 8 Jin Honbing, Cuộc chiến chính nghĩa: Một công cụ sắc bén để nắm lấy cơ hội giành quyền chủ động, báo cáo hải quân Trung Quốc, ngày 29 tháng 5 năm 2006. 9 . Brian McCarten, Giỡn sóng trong quần đảo Spratlys, người lính canh của Châu Á, mùng 4 tháng 2 năm 2008; và Trung Quốc cần phải báo những láng giềng tránh xa những quần đảo tranh chấp, Reuters, ngày 12 tháng 5 năm 2009. 10 Xiong Qu, Trung Quốc bắt đầu xem xét vấn đề An toàn Hàng hải ở biển Nam Trung Hoa, đài truyền hình Trung Quốc, CCTV, ngày 3 tháng 7. 11 Xem, ví dụ: Robert S.Ross, Điạ lý Hoà Bình: Đông Á trong thế kỷ 21. An ninh Quốc tế, tập 23, số 4, xuân 1999, các trang 81-118. 12 Xem, ví dụ: Susan Shirk, siêu cường không vững chắc: Làm sao chính trị Đối nội của Trung Quốc có thể đi chệch khỏi sự thăng tiến hoà bình của mình, Nhà xuất bản Trường Đại học Oxford (2007). 13 Peter Dutton, vạch ra Một đường lối hành động: Hợp tác Trung-Mỹ về Biển cả, tập san An ninh Trung Quốc, số tháng 3/2009. Nguồn: Điều trần của Peter Dutton, Phó Giáo sư, Viện Nghiên cứu Hàng Hải Trung Hoa, Trường Đại học Hải Quân Hoa Kỳ link: http://nghiencuubiendong.vn/chuyen-de/ieu-tran-thng-vien-my
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
babyphu
Thành viên

Bài viết: 50
|
 |
« Trả lời #209 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 11:12:24 pm » |
|
Phóng sự của Tuổi trẻ Online và Đài TH Hải phòng thực hiện Tuổi trẻ và người lính biển
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|