Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:46:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 422098 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #250 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 06:07:59 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
Tuy vậy bản chất của chúng mở ra một câu hỏi thứ hai:

b) Các lãnh thổ này có phải là các lãnh thổ đem lại sự quy thuộc các vùng biển rộng lớn cho quốc gia nắm giữ chủ quyền hay không?

Đặt ra câu hỏi này là để tự hỏi xem điều 121, khoản 2 của Công ước Luật biển có khả năng áp dụng cho các đảo, đảo nhỏ và đảo đá đó không, nghĩa là tự hỏi xem liệu việc chiếm hữu các quần đảo này có mở ra các đặc quyền đối với các tài nguyên sinh vật hoặc tài nguyên trong lòng đất đáy biển trong giới hạn 200 hải lý bao quanh các vùng đất này hay không? Lời văn của điều khoản này như sau: “Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa?”

Đây chính là tâm điểm của cuộc tranh chấp hiện tại trên các quần đảo, mặc dù các bên chủ xướng còn lưỡng lự xem nên chọn thái độ nào là tốt nhất cho lợi ích của họ.

Thật vậy, đằng sau chủ đề được xử lý ở đây mà người ta sẽ nắm chặt vấn đề danh nghĩa chủ quyền trên các lãnh thổ này, điều quyết định phải đạt được là sự kiểm soát các nguồn tài nguyên biển. Sự thèm muốn các lãnh thổ biển của các quốc gia lớn dần theo tỷ lệ của vai trò nghề cá trong nền kinh tế của các dân tộc và tầm quan trọng của nguồn dầu khí và các nguồn tài nguyên khoáng sản có thể bị cạn kiệt trong một số ngành công nghiệp chủ chốt. Để phân bổ các lợi ích này trên các vùng biển, luật quốc tế trù định việc phân định giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau.

Nhưng, như đã từng nhấn mạnh, vấn đề chủ quyền là một điều kiện tiên quyết. Trước tiên cần phải xác định chính xác ai có danh nghĩa, để tiếp đó chỉ rõ họ có quyền gì đối với các vùng nước kế cận và việc phân định sẽ tiến hành giữa các quốc gia nào.

Các chiến lược đang ngập ngừng. Mỗi quốc gia có ý định chiếm hữu các vùng đất và được sự công nhận quốc tế cái mà họ coi như một danh nghĩa lâu đời. Trong giả định thuận lợi này, mỗi bên đều cố gắng thuyết phục tất cả các bên khác rằng tất cả các đảo đều ở được, điều này làm tăng thêm các bề mặt biển có thể rơi vào sự kiểm soát quốc gia.

Nhưng một khi đây là các yêu sách của người khác, sự giải thích thành ngữ “những đảo đá không thích hợp cho con người đến ở” sẽ gây ra rất nhiều sự bắt bẻ nằm giảm bớt số lượng các đảo nhỏ có thể kéo theo các quyền rộng lớn trên các vùng nước kế cận.

Trong khi chờ đợi lối thoát cho cuộc tranh chấp, chắc còn lâu mới có được do các lập trường bám giữ, một số bên không ngần ngại thay đổi thực tế ban đầu. Nhất là trong trường hợp ở Hoàng Sa, nơi từ khi giành được sự kiểm soát quần đảo này bằng quân sự, người Trung Quốc đã tiến hành các quy hoạch quy mô trên các đảo nhỏ này. Ở nơi mà các nhà hàng hải và địa lý cho đến tận những năm tiếp sau đại chiến thế giới thứ hai, còn miêu tả như các vùng đất không ở được, chỉ có những ngư dân trú ngụ theo mùa, bị bão tố chà xát hay phải chịu đựng cái nóng như thiêu như đốt, nhưng với sự giúp đỡ lớn lao của hậu cần quân đội đã mọc lên các công trình, cảng, sân bay, đường xá và công sự. Chúng đã làm mất đi nghĩa đầu tiên của cụm từ “thích hợp cho con người đến ở”.
......
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #251 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 06:50:50 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
Các quốc gia chiếm cứ các đảo nhỏ ở quần đảo Trường Sa cũng đổ công sức rất nhiều theo hướng đó. Điều này còn được cổ vũ thêm bởi vì các khoản nói ở trên của Công ước về Luật biển, thành quả của một sự thỏa hiệp phức tạp, vẫn để nguyên vẹn nhiều khó khăn: làm thế nào để có thể phân biệt một đảo với một đá? Và những điều kiện nào cho phép kết luận rằng việc con người đến ở hoặc một đời sống kinh tế riêng là có thể có trên một đảo (13).

Đoạn cuối của điều 121 mở rộng đáng kể cho việc giải thích vì văn bản không nói đến “các đảo đá không người ở” mà là “các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở”. Nếu tiêu chuẩn con người ở được là tiêu chuẩn có nước ngọt chẳng hạn thì trong quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa, các đảo chính có khả năng có nước ngọt. Nếu tiêu chuẩn là có thực vật, thì con người cũng tìm thấy thực vật trên các quần đảo này.

Khi đã có điều kiện trên thì lại mở ra điều kiện về khả năng có một đời sống kinh tế riêng. Nhưng ở đây một lần nữa sự thiếu chính xác là rất lớn (14). Đánh cá hay khai thác phân chim có thể là các yếu tố đủ để thỏa mãn điều kiện này không?

Điều 121, khoản 3 của Công ước Montego Bay cần phải được giải thích như thế nào để có được câu trả lời cho câu hỏi này.

Việc soạn thảo văn bản chỉ ra rằng các kỹ xảo đã bị loại trừ. Các đảo đá cần thích hợp cho con người đến ở, điều này loại bỏ giả thiết trang bị cho chúng đạt đến mức chúng có thể phù hợp cho cuộc sống con người. Cũng như vậy, một đời sống kinh tế riêng được tính tới. Do đó, không thể tính đến các trường hợp các đảo được sử dụng như các điểm tựa cho các hoạt động triển khai trên các thực tế từ một lãnh thổ khác.

Tóm lại, các vùng đất nổi dù chúng có quá hẹp đi chăng nữa, phải có khả năng đảm bảo một cách tự nhiên cho một cộng đồng người tương đối ổn định (15).

Ngay từ đầu hai quần đảo đang tranh chấp này có bản chất đó không? Chúng ta cần phải loại bỏ việc tính đến sự hiện diện của các đồn binh chỉ ở được đó nhờ vào hỗ trợ quân sự hoặc tính đến cư dân được duy trì do có các quy hoạch xây dựng và cơ sở hạ tầng tranh chấp hiển nhiên là nhằm mục tiêu làm thay đổi đối tượng tranh chấp. Vậy cần phải quay về trạng thái của các quần đảo như đã được các nhà hàng hải hoặc những ai đã qua lại đây từng miêu tả trước khi sự nảy sinh tranh chấp đưa đến những thay đổi.

Không nghi ngờ gì, phần lớn những hạt đất nổi này đều rơi vào phạm vi áp dụng của khoản 3, điều 121. Vài đảo nhỏ lớn hơn một chút còn có thể có tranh luận, nhất là đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa. Nếu yếu tố thích hợp cho con người đến trù định trong văn bản này chỉ tính theo mùa thì một số các đảo nhỏ này đã từng được biết trong những thời gian xa xưa việc ngư dân của nhiều nước láng giềng thường xuyên lui tới trong nhiều tháng vào mùa khí hậu tốt. Họ đã từng “sống” ở đó, nhưng không phải đó là nơi cư trú bình thường. Chưa bao giờ có thể có một đời sống kinh tế riêng ở đất này, nghĩa là một đời sống ít nhiều độc lập.

Vì thế, chúng ta nhận thấy rằng phần lớn các tác giả nói về vấn đề này đều kết luận các đảo này có khả năng có một lãnh hải nhưng không có quyền có một vùng đặc quyền về kinh tế (16).

Để phát triển tiếp trên vấn đề chủ chốt, vấn đề hiệu lực của các danh nghĩa yêu sách, cần phải xác định bản chất chính xác của tranh chấp.
_________________________________________________________________________________
13.   Về vấn đề này, xem J. R. V. Prescott: The maritime politic boundaries of the world (Các đường biên giới chính trị thế giới), Menthuen, London, New York, 1985, trang 72.
14.   Xem chú giải ở trên.
15.   Xem Jon M. van Dyke và Dale L. Bennett: Island and the delimitation of ocean space in the South China Sea (Các đảo và việc hoạch định không gian biển trong biển Nam Trung Hoa, ngày 13-3-1989. In ronéo, trang 41.
16.   Xem Van Dyke et Bennett, Sdd Jeanette Greensfield cũng có ý kiến tương tự trong: Thực tiễn Luật biển Trung Quốc, Clarendon Press, Oxford, 1992, trang 164.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #252 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 09:54:39 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
2.1.2 Bản chất pháp lý của tranh chấp

Nhiều quốc gia có các lập trường không thể thỏa hiệp về các quần đảo này. Vậy thì nền tảng pháp lý các tham vọng của các chính phủ liên quan này là gì? Một trong số các quốc gia đó có được một danh nghĩa cao hơn so với nước khác hoặc các nước khác cần phải thừa nhận không?

Việt Nam khẳng định là có chủ quyền lãnh thổ về mặt nhà nước trên cả hai quần đảo do có danh nghĩa lâu đời và luôn luôn được duy trì. Xin nhắc lại rằng “chủ quyền, trong mối quan hệ giữa các quốc gia, tức là sự độc lập. Sự độc lập đối với một phần trái đất là quyền thực hiện các chức năng nhà nước tại phần trái đất đó, loại trừ mọi quốc gia khác” (17).

Về quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã đưa ra một yêu sách có lợi cho mình để chống lại đòi hỏi này của Việt Nam. Họ đã hỗ trợ yêu sách bằng việc chiếm cứ quân sự năm 1956 đối với một phần quần đảo và năm 1974 đối với phần còn lại, loại trừ sự có mặt của Việt Nam trước đây.

Luật quốc tế hiện đại (Hiến chương Liên hợp quốc, điều 2, khoản 4) cấm dùng vũ lực để chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Vì thế, một sự chiếm đóng quân sự khi bị tố cáo như vậy sẽ không bao giờ và bằng bất kỳ cách nào có thể chuyển thành một danh nghĩa có giá trị và được công nhận (18)!

Về quần đảo Trường Sa, vấn đề có khác. Nhưng yêu sách và những sự chiếm đóng của Philippin, của Đài Loan và gần đây của Malaixia và Trung Quốc (1988), kèm theo việc chiếm đóng quân sự một số đảo nhỏ sau những đụng độ dữ dội đã chống lại khẳng định chủ quyền của Chính phủ Việt nam (được thực hiện tiếp sau sự khẳng định chủ quyền của Pháp) và sự kiểm soát của họ đối với các đảo chính trong quần đảo.

Những dữ kiện này của tình hình dẫn tới việc xem xét bản chất của tranh chấp là gì (điều này càng cần thiết). Về điểm này có hai giả thuyết cần được lần lượt xem xét. Có phải chúng ta đang đứng trước một cuộc tranh chấp về thụ đắc chủ quyền trên một lãnh thổ vô chủ? Hay là một cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa hai quốc gia đều có tham vọng giành một danh nghĩa chủ quyền? Giả thuyết thứ nhất không thể được ghi nhận. Bởi vì tình hình được nghiên cứu ở đây cho thấy những đặc trưng phần nào tương tự như những đặc trưng của vụ Minquiers và Ecrehous. “Hai bên cho rằng mỗi bên đều có một danh nghĩa cũ hoặc danh nghĩa ban đầu đối với Minquiers và Ecrehous, danh nghĩa đó luôn luôn được bảo tồn mà không bao giờ mất đi. Do đó vấn đề hiện tại không có đặc trưng của một cuộc tranh chấp về thụ đắc chủ quyền đối với một lãnh thổ vô chủ (terra nullius)”(19). Trường hợp này có thể được áp dụng vào vụ các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa. Đây không còn và đã từ lâu không còn là vấn đề quy thuộc chủ quyền một vùng đất vô chủ cho một quốc gia mưu toan giành danh nghĩa ấy nữa. Việc giải quyết cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa nhiều quốc gia đang hoặc đã chiếm đóng cùng những quần thể các vùng đất vào những thời kỳ rất khác nhau và với những danh nghĩa cũng rất khác nhau.

Sau khi đã xác định được bản chất cuộc tranh chấp, đến vấn đề : Luật nào sẽ có thể được áp dụng?
________________________________________________________________________________________________
17.   Max Huber: Phán quyết đảo Palmas, ngày 4-4-1928. (Tạp chí Tổng quan về Công pháp quốc tế), 1935, trang 163.
18.   Xem Tulio Treves: “Tuyên bố của Liên hợp quốc về việc tăng cường hiệu lực của nguyên tắc không sử dụng vũ lực”, Niên giám Luật quốc tế của Pháp, 1987, trang 379.
19.   Vụ các đảo Minquiers và Ecrhous: Tòa án pháp lý quốc tế, Tuyển tập, 1953, trang 53.
....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #253 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 11:08:46 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
2.2 Các quy phạm của pháp luật quốc tế được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Chúng ta có thể nghiên cứu một xung đột như thế và có thể kết luận đòi hỏi của bên này chống đòi hỏi của bên kia là có căn cứ bằng bước đi pháp lý nào? Gạt bỏ một luận cứ vào chấp nhận một phương pháp có tính đến nhịp độ thời gian trong mối quan hệ với luật pháp là thích hợp.

2.2.1 Luận cứ và sự kế cận địa lý

Ở đây, luận cứ này phải loại trừ ngay. Trong lịch sử của các yêu sách về chủ quyền đối với các lãnh thổ đảo, luận cứ về sự kế cận địa lý đã được quốc gia này hay quốc gia khác sử dụng nhiều lần (yêu sách của Argentina về quần đảo Manvinat chẳng hạn). Tuy vậy, nó không bao giờ được công nhận như bộ phận cấu thành của một quy tắc luật quốc tế cho phép giải quyết xung đột có lợi cho một trong hai quốc gia mà lãnh thổ của quốc gia đó nằm gần những lãnh thổ đảo đang tranh chấp hơn (20).

Trong vụ đảo Palmas, trọng tài Max Huber đã xem xét rất kỹ luận cứ này. Lập luận của ông đáng được dẫn ra toàn văn: “Cuối cùng, cần xem xét danh nghĩa xuất phát từ sự kế cận. Mặc dù các quốc gia đã bảo vệ, trong một số hoàn cảnh rằng các đảo tương đối gần bờ của họ thuộc về họ căn cứ vào vị trí địa lý của chúng, không thể chứng minh được rằng có một quy tắc của luật quốc tế thực định quy định rằng các đảo nằm ngòai vùng lãnh hải thuộc về một quốc gia chỉ với một lý do là lãnh thổ của quốc gia đó tạo thành terra firma của các đảo đó (lục địa gần nhất hay đảo lớn nằm gần nhất)/ Không phải chỉ vì dường như không có những tiền lệ đủ nhiều và với giá trị đủ chính xác để xác lập một quy tắc như vậy của luật quốc tế, mà là do nguyên tắc được viện ra bản thân nó có bản chất không rõ ràng và gây ra nhiều tranh cãi đến nỗi các chính phủ của cùng một quốc gia trong những hoàn cảnh khác nhau đã đưa ra những ý kiến trái ngược nhau về cơ sở vững chắc của nó. Nguyên tắc kế cận, liên quan đến các đảo, có thể có giá trị khi thuộc các đảo vào quốc gia này mà không vào quốc gia khác, hoặc bằng một sự dàn xếp giữa các bên, hoặc bằng một quyết định không nhất thiết phải dựa trên luật, nhưng nếu coi nguyên tắc này như một quy tắc xác lập ipso jure (đương nhiên theo luật) một phỏng sử về chủ quyền cho một quốc gia nào đó thì nguyên tắc này mâu thuẫn với những gì đã trình bày liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và liên quan tới mối quan hệ cần thiết giữa quyền loại trừ các quốc gia khác khỏi một khu vực nào đó và nghĩa vụ thực hiện tại đó các hoạt động nhà nước. Nguyên tắc kế cận địa lý này cũng không thể được chấp nhận như một phương pháp pháp lý để giải quyết các vấn đề lãnh thổ; bởi vì nó thiếu hoàn toàn tính chính xác và sẽ đưa lại, trong sự áp dụng nó, những kết quả độc đoán  (21)”.

Đi ngược lại thời kỳ trước chiến tranh thế giới thứ hai, lời phát biểu này không hề mất đi tính thời sự của nó. Trong trường hợp này, nó cho phép loại trừ ra khỏi phạm vi lập luận một phương tiện không có tư cách pháp lý và chúng ta phải đồng ý với Louis Cavaré rằng: “Không thể chấp nhận rằng tình trạng lân cận có thể dẫn đến việc tạo ra một “quyền đích thực” (droit veritable) (22).

Chẳng hạn, đối với nhóm đảo tên là Hoàng Sa, điểm gần nhất của nó về phía Việt Nam nằm cách Đà Nẵng 170 hải lý và các bờ biển Hải Nam 156 hải lý, hay những số liệu về khoảng cách điểm gần nhất của Trường Sa đối với bờ biển Việt Nam (Cam Ranh) là 250 hải lý trong khi cũng quần đảo này cách Hải Nam 522 hải lý, tất cả sự việc này không ảnh hưởng tới bản chất của quyền (23).

Quyền đó phải được đánh giá căn cứ vào tiến trình của sự thụ đắc danh nghĩa và duy trì danh nghĩa, tiến trình đó được tạo thành bằng một cách khác chứ không đơn giản dựa trên những số liệu địa lý.

Vấn đế các quần đảo này có nằm trong vùng đặc quyền về kinh tế của quốc gia ven bờ này hay ven bờ khác của biển này là không xác đáng. Trong luật quốc tế, đây không phải là việc một đảo nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia dẫn đến việc quy thuộc đảo này cho quốc gia này hoặc quốc gia kia, chính là danh nghĩa chủ quyền trên một đảo một khi đã được xác định, sẽ kéo theo, trong một số điều kiện đã được xem xét ở trên, sự quy thuộc cho đảo này một vùng lãnh hải và có thể một vùng đặc quyền về kinh tế và như thế danh nghĩa được công nhận này sẽ có hiệu lực đối với ngay các dữ liệu của việc phân định.

Do hiệu lực của khối lục địa của họ, Trung Quốc cũng như Việt Nam đều có thể đòi hỏi, căn cứ vào các điều khoản của Công ước luật biển năm 1982, các quyền tới tận 200 hải lý và về phương diện đó Hoàng Sa nằm trong khu vực chồng lấn lên nhau, các quyền có thể có của hai quốc gia. Chính sự phân định giữa họ sẽ quyết định ranh giới biển của họ. Nhưng chủ yếu đối với các quần đảo không phải được chỉ đạo bởi sự phân định biển đặt quần đảo Hoàng Sa vào vùng kiểm soát của quốc gia này hoặc quốc gia khác trong số hai quốc gia. Trái lại, đây là một vấn đề tiên quyết và độc lập mà kết quả có những tác động đến việc phân định.

Ngược lại, xét từ quan điểm này, quần đảo Trường Sa ở vào một vị trí địa lý rất khác bởi vì nó nằm ngoài các vùng biển mà nước này và nước kia (Trung Quốc và Việt Nam) có thể yêu sách như thềm lục địa hoặc vùng đặc quyền về kinh tế. Trái lại, một số các đảo của quần đảo rộng lớn này còn nằm gần Malaysia hoặc Philipin hơn.
___________________________________________________________________________________________
20.   Vụ đảo Pulama trên bờ biển Tây Phi (trọng tài Ulysses Grant ngày 21-4-1870 không được dùng làm tiền lệ. Ngoài việc cho đó là một trường hợp đặc biệt, trọng tài nhận xét rằng “đảo này kề sát lục địa và gần đến mức các động vật có thể đi qua khi thủy triều xuống thấp”. Ở đây sự kế cận về địa lý thể hiện trong các điều kiện đặc biệt đến nỗi các điều kiện đó là duy nhất.
21.   Max Huber: Phán quyết đảo Palmas, ngày 4-4-1928, tr. 182
22.   Louis Carave: Công pháp quốc tế thực định, Pédone 1962, Tr. 597.
23.   Chúng ta thực sự ngạc nhiên về sự kiên trì của luận thuyết này ở một số hiếm hoi các tác giả như Charles Rousseau: Tạp chí Tổng quan về công pháp quốc tế, 1972, Tr.835.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #254 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 02:45:30 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
2.2.2 Các cơ chế của luật theo thời điểm (Droit intertemporel).

Trong luật quốc tế, các danh nghĩa thụ đắc một lãnh thổ không có người ở được hình thành bằng cách nào? Các danh nghĩa đó được duy trì ra sao? Câu trả lời được đưa ra liên quan tới lập luận pháp lý tế nhị - gọi là luật theo thời điểm.

Luật này có nghĩa là đối chiếu các dữ kiện của hệ thống luật vào các thời kỳ khác nhau trong quá trình phát triển của nó với những dữ kiện cụ thể của hoàn cảnh tạo nên cơ sở của việc tranh cãi.

Theo dòng lịch sử của hàng thế kỷ của các xã hội loài người và các lãnh thổ, hệ thống pháp luật đã phát triển. Các quy tắc làm căn cứ cho việc giành một danh nghĩa chủ quyền ở một thời kỳ nào đó đã bị biến đổi. Khi thừa nhận câu ngạn ngữ la tinh ubi societas, ibi jus (ở đâu có xã hội, ở đó có luật pháp), luật đã thích ứng với sự tiến triển của các xã hội và với các giá trị mà giá trị này phát triển.

Khi trở lại thời kỳ của các phát hiện lớn và chỉ đánh dấu những quãng ngắt lớn (chúng ta tưởng là có ngắt, nhưng thật ra chúng lộ ra dần dần), thì có thể nhận ra ba thời điểm.

Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ mà trên các vùng đất gọi là vô chủ, phát hiện mang lại sự thụ đắc một danh nghĩa, với điều kiện nó phải được kèm theo một sự khẳng định chủ quyền. Nhưng đặc điểm của thời kỳ này là chủ quyền quốc gia bao hàm cả quyền chinh phục. Thêm vào đó, học thuyết của các cường quốc đã coi là lãnh thổ vô chủ nhiều vùng đất có các dân tộc sinh sống nhưng họ không biết đến các dân tộc này và các dân tộc này có hệ thống tổ chức xã hội không phải kiểu phương Tây (24).

Bằng cách quanh co đó và không đếm xỉa gì đến các dân tộc, người ta có thể tiết kiệm không dùng từ xâm chiếm mà nói đơn giản là phát hiện.

Hệ thống pháp luật đầu tiên đó chỉ thay đổi dưới tác động của các tranh chấp giữa các cường quốc trong thế kỷ 19. Sự thay đổi của luật được kết tinh vào thời điểm hội nghị Berlin và trong các điều khoản chính xác của Định ước chung (1885). Hai quy tắc mới được các bên ký kết chấp nhận và có phạm vi áp dụng chủ yếu ở Châu Phi.

Đó là đòi hỏi phải có một sự chiếm hữu thật sự các vùng đất được coi là đã thụ đắc và phải có một thông báo về sự chiếm hữu thật sự cho các quốc gia khác.

Kể từ thời kỳ này, được tiếp sức bằng rất nhiều kết luận trọng tài hoặc phán quyết tòa án, luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ đã được củng cố và khái quát hóa, đặc biệt là qua kết luận bậc thầy của trọng tài Max Huber trong vụ đảo Palmas.

Một cuộc xung đột về chủ quyền giữa hai quốc gia được giải quyết bằng việc xác nhận rằng một trong hai quốc gia có liên quan có danh nghĩa cao hơn danh nghĩa của quốc gia kia. Các hành vi tương ứng phải được thực hiện với danh nghĩa chủ quyền, và vì thế chúng không thể là hành vi của các tư nhân hành động vì lợi ích của mình. Sự khác biệt được xác lập giữa việc tạo ra một danh nghĩa trên lãnh thổ và việc duy trì danh nghĩa đó liên tục. Các hiệu lực của một hành vi đã diễn ra như đưa đến một danh nghĩa (chuyển nhượng, chinh phục, phát hiện hoặc chiếm giữ) cần phải được đánh giá trong khuôn khổ pháp luật hiện hành vào thời điểm hành vi đó được thực hiện chứ không phải pháp luật hiện hành vào thời điểm xảy ra sự tranh cãi.
_________________________________________________________________________________________
24.   Về vấn đề này xem: “Terra Nullius”, “Quyền lịch sử và quyền tự quyết”. Mohammed Bedjaoni, La Haye, 1975. Các phát biểu trước Tòa án quốc tế trong vụ Tây Xahara, 14-5, các ngày 14, 15, 16 và ngày 29-7-1975.
....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #255 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 03:38:15 pm »

Tàu ngư chính Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam
 
Theo mạng tin tức Trạm Giang ngày 6/5, tàu ngư chính Lôi Châu 44261 của Trung Quốc đi tuần tra vùng biển quần đảo Hoàng Sa từ ngày 5 - 25/5
...
Theo TTXVN


Tăng cường khả năng tác chiến trên biển

QĐND - Tại trường bắn Hòn Tý, Đoàn Không quân B70 vừa tổ chức cho các đơn vị C35, C37, C17 huấn luyện bắn, ném bom. Đợt huấn luyện này nhằm đánh giá trình độ tổ chức chỉ huy; kiểm tra trình độ thực tế ứng dụng chiến đấu đánh mục tiêu mặt biển của lực lượng phi công, tổ bay các đơn vị và kiểm tra chất lượng của các loại vũ khí và hệ thống vũ khí khí tài trên máy bay. Trung tướng Trần Quang Khuê, Phó tổng tham mưu trưởng và Thiếu tướng Võ Văn Tuấn, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không-Không quân dự và chỉ đạo.


Trung tướng Trần Quang Khuê trực tiếp chỉ đạo bắn, ném bom trên biển

Trong 2 ngày, mặc dù có lúc thời tiết mây mù, mưa giông, nhưng các đơn vị đã thực hiện được 37 lần chuyến bay bắn, ném bom với kết quả 100% phi công đạt yêu cầu, trong đó 43,3% đạt xuất sắc ném trúng tâm mục tiêu; 32,4% đạt giỏi; 13,5% đạt khá.


Thực hành ném bom trúng mục tiêu.

Trung tướng Trần Quang Khuê biểu dương, đánh giá cao sự nỗ lực của các đơn vị tham gia huấn luyện, bắn, ném bom. Đồng chí Phó tổng tham mưu trưởng cũng nhắc nhở Đoàn Không quân B70 cần tổ chức thường xuyên huấn luyện bắn, ném bom trên biển để sẵn sàng làm nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra, bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc.

Tin, ảnh: Đoàn Hoài Trung

Nguồn: qdnd.vn


Minh họa thêm cho bài viết của bác Cuc







Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #256 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 08:49:56 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
Tuy nhiên, danh nghĩa ban đầu cần phải được tiếp sức bởi việc thực hiện hòa bình và liên tục quyền lực của quốc gia triển khai trên lãnh thổ đó. Và nếu danh nghĩa ban đầu đã có thể giành được mà không cần có sự triển khai quyền lực trên toàn bộ lãnh thổ, sự duy trì danh nghĩa chỉ có thể có được do việc phổ cập sự thực thi quyền lực này. Tuy nhiên, người ta công nhận rằng đối với các vùng đất không có người ở, hẻo lánh thì biểu hiện của việc thực hiện quyền lực này có thể đơn giản hơn là trên các vùng đất mà văn minh phát triển hơn.

Cuối cùng sự công nhận hoặc chấp nhận của các quốc gia thứ ba không thể dùng làm cơ sở cho chính danh nghĩa đó, nhưng chúng là yếu tố củng cố quốc gia đã có được quyền lực (25).

Đó là khung pháp lý hoặc trạng thái của luật pháp cuối thế kỷ XIX cho tới nửa đầu của thế kỷ XX. Một số yếu tố có tầm quan trọng cơ bản và đổi mới triệt để đã được đưa vào Hiến chương Liên hợp quốc, bản Hiến chương đã đặt cơ sở cho một trật tự pháp lý quốc tế phổ cập. Quan tâm tới thực hiện mục tiêu gìn giữ hòa bình, các quốc gia sáng lập đã đưa vào một yếu tố cơ bản. Nó là một sự thay đổi thật sự trong luật quốc tế, với việc cấm sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia (điều 2, khoản 4). Chiến tranh chinh phục, nguồn của một chủ quyền mới trên một lãnh thổ, từ nay trở đi bị cấm. Sự chinh phục bằng vũ lực kéo theo một tình trạng chiếm đóng quân sự luôn luôn là trái phép và sự chiếm đóng quân sự này, trừ phi có một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, không thể tự chuyển thành quyền, dù có thời gian dài.

Nhưng Hiến chương Liên hợp quốc cũng chứa đựng một nguyên tắc khác là nguồn gốc gây ra sự đảo lộn đáng kể trong luật quốc tế, đó là nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết (điều 1, khoản 2). Tuy vậy, sự ghi nhận nguyên tắc này trong những gì làm cơ sở cho các mục đích của Liên hợp quốc ngay từ đầu tự nó đã không đủ để đạt được tất cả kết quả mong đợi. Phải đợi đến năm 1960 và sự khởi đầu của thập kỷ lớn phi thực dân hóa thì luật trước mới bị xô đổ. Do đó, quyền của các dân tộc đạt được biểu hiện đầy đủ trong Tuyên bố về việc trao trả nền độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa (Nghị quyết 1514, ngày 14-12-1960, của Đại hội Đồng Liên hợp quốc).

Người ta sẽ chú ý đặc biệt hơn tới đoạn 4 của Tuyên bố trong mối liên hệ với các nguyên tắc pháp lý tập hợp ở đây, bởi vì những nguyên tắc đó có ích cho việc làm sang tỏ trường hợp này: “Tất cả các hành động vũ trang và tất cả các biện pháp trấn áp, bất kỳ là loại nào, nhằm chống lại các dân tộc bị lệ thuộc phải được chấm dứt để cho phép các dân tộc đó thực hiện quyền có độc lập hoàn toàn của họ một cách hòa bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ sẽ được tôn trọng”. Vế cuối cùng của câu có một tầm quan trọng quyết định. Nó lưu ý rằng bước chuyển tiếp khó khăn, thường được thực hiện trong những điều kiện chính trị rối loạn và hỗn độn, của một dân tộc thuộc địa sang thành một dân tộc độc lập, không bao giờ được dẫn tới bất kỳ một sự tổn thương nào về lãnh thổ của họ.
___________________________________________________________________________________
25.   Về các điểm này xem Kriangsak Kittichaisaree: “The law of theSea and Maritime boundary delimitation in Southest Asia (Luật biển và việc phân định biên giới biển tại Đông Nam Á)” Oxford University Press, 1988, tr. 140.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #257 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 07:40:34 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
Cuối cùng, Hiến chương đã được củng cố, cụ thể hóa và phát triển vào năm 1970 bằng một nghị quyết đặc biệt mà đôi khi người ta so sánh nó với một sự đào sâu Hiến chương có tính chất thể chế. Đó là nghị quyết 2625, ngày 24-10-1970 (26). Văn bản nhắc lại việc cấm sử dụng vũ lực như một phương tiện giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và mọi sự thụ đắc lãnh thổ có được bằng sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp. Tuyên bố Manila ngày 15-11-1982 về việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế đã hoàn thiện cơ cấu trên và xác định được các nguyên tắc phải được thay thế bạo lực trong tất cả các tình huống (27).

Đó là toàn bộ các quy tắc qua các thời kỳ nối tiếp đã trở thành cốt lõi của luật quốc tế thực định. Nhưng, những thay đổi không bao giờ xuất hiện đột ngột. Ngay điểm nổi bật nhất trong những thay đổi đó là việc cấm sử dụng vũ lực, đã được chuẩn bị từ các điều khoản, đúng là kém chính xác và kém triệt để hơn, của Hiến ước Hội quốc liên và của Hiệp ước Briand – Kellog.

Nhìn tổng thể, việc soạn thảo luật và sự tiến triển biến đổi của nó là những tiến trình chậm chạp, trong đó, bản thân phần tập quán cũng bị tiêm nhiễm từ bước tiến chậm chạp của tư duy, bao bọc lấy văn bản điều ước đã có (nếu có) và san bằng đi những góc cạnh nhất thời bằng cách lồng nó vào trong một khung cảnh ít xác định hơn.

Liên hệ với tiến triển lâu dài của các nguyên tắc pháp lý qua ba thời kỳ khác nhau khá rõ rệt để có thể xác định được, lịch sử hai quần đảo phải được xem xét trong mối quan hệ với lịch sử đầy sóng gió của Việt Nam và lịch sử có phần đơn điệu hơn nhưng cũng không kém phần phức tạp của Trung Quốc – những người cạnh tranh chủ yếu với Việt Nam về các mảnh đất này hiện nay.

Một trong những khó khăn chủ yếu của tài liệu này là ở sự cần thiết phải đặt hai nhịp điệu lịch sử hoàn toàn khác nhau trong mối tương quan với nhau.

Luật pháp đã biến đổi theo dòng lịch sử hàng thế kỷ, trong khi tiến triển xã hội dẫn dắt từng thời kỳ được coi như một thời kỳ mới sản sinh ra các quy phạm khác nhau mà sự thai nghén đã có thể nhận thấy ngay từ thời kỳ trước đó.

Ngay cả trong vài thời điểm xuất hiện, như những đột biến (1885 hoặc 1945), sự vận động của luật pháp được phát triển trong một sự liên tục nhất định. Phải đặt rõ các rạn nứt quan trọng của lịch sử Việt Nam trên cái nền này.

Chế độ bảo hộ đầu tiên của nước Pháp đặt lên quốc gia có chủ quyền này (mặc dù quốc gia này có mối quan hệ như chư hầu với Trung Quốc) là từ năm 1874, chế độ bảo hộ thật sự từ năm 1884. Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập từ ngày 2-9-1945. Quốc gia Việt Nam do Pháp thành lập trong khuôn khổ khối Liên hiệp Pháp chính thức dựa trên các thỏa thuận ngày 8-3-1949. Tháng 7 năm 1954 chấm dứt chiến sự với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nước Pháp đã ký các hiệp định mà kết quả thực tế là tạo ra hai nước Việt Nam. Sự tái thống nhất được diễn ra vào năm 1975 sau các cuộc chiến tranh khác.
___________________________________________________________________________________________
26.   Gọi là Tuyên bố về các nguyên tắc Luật pháp quốc tế liên quan tới các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các Quốc gia theo đúng Hiến chương Liên hợp quốc.
27.   Nghị quyết 3710 của Đại hội đồng Liên hợp quốc.
....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #258 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 10:15:23 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
Như vậy, mặc dù có tinh thần độc lập mãnh liệt và huyền thoại, cả dân tộc Việt Nam vẫn bị phụ thuộc trong những thập kỷ dài của lịch sử của họ. Và, người chủ đích thực về chủ quyền (dân tộc) nhiều lúc bị rơi vào thế kẹt do những người đại diện (porte-paroles) khác nhau, những người mà trong từng trường hợp bị chịu đựng, bị phỉ nhổ, bị đánh bại hay được chấp nhận. Đó là còn chưa tính đến thời kỳ chia cắt đất nước có đại diện hai miền đối kháng nhau.

Cũng phải tính đến một số thời kỳ lịch sử của Trung Quốc. Đầu thế kỷ này, Chính phủ Quảng Đông không được Bắc Kinh và các quốc gia thứ ba công nhận. Từ năm 1949 có hai nước Trung Quốc, và tình trạng đó còn tồn tại cho đến ngày nay. Về mặt hồ sơ pháp lý, hậu quả của tình trạng thực tế này là nặng nề. Vào đầu thế kỷ XIX, khi Hoàng Đế An Nam hành động với tư cách người có chủ quyền thì cái gọi là vị thế chư hầu của Việt Nam đối với Trung Quốc chi phối thế nào đối với các hành động đó? Trong khi mà nước Pháp, nước đã xâm lược Việt Nam bằng vũ lực nhưng không hiểu biết mấy lịch sử của dân tộc bị trị này, đã tỏ ra ngập ngừng và không chắc chắn, trong khi mà những người có trách nhiệm của chính quyền thuộc địa Pháp bị chia rẽ trên lập trường đối với các quần đảo, và trong khi mà nước Pháp chậm khẳng định sự kế thừa các quyền của Việt Nam chống lại sự thèm khát của Trung Quốc vốn được tăng cường thêm nhiều do mối đe dọa của Nhật Bản trong khu vực, thì các văn thư ngoại giao và chính trị của Pháp có tác động thế nào, và cần phải đánh giá các văn thư đó ra sao?

Khi hai miền Bắc và Nam của Việt Nam nằm trong cảnh bị xâu xé bởi một cuộc chiến tranh mà trong đó một siêu cường vào bậc nhất của thế giới đã sử dụng toàn bộ sức mạnh của mình và của một số nước khác, thì các hành động hoặc tuyên bố do bên này hoặc bên khác đưa ra và đôi khi trái ngược nhau sẽ có giá trị đến đâu?

Với một lịch sử từ lâu là hỗn độn, nhiều xung đột và thậm chí bị thảm vong trong cả một giai đoạn dài ở khu vực này, thật khó mà tập trung được các tư liệu không thể tranh cãi để làm chứng cứ và tài liệu, từ đó có thể xác định được quyền.

Đặc biệt khó khăn cho các bên yêu sách một danh nghĩa là phải chứng minh tính liên tục hoàn hảo của ý chí quốc gia trong việc thể hiện sự duy trì quyền. Điều đó là khó nhưng không có lẽ không phải là không thể làm được.

Đúng là một số tài liệu lưu trữ còn bị thiếu (28). Tuy nhiên đó không phải là các tư liệu quyết định của hồ sơ.

Một vài sự kiện hoặc tuyên bố đã được giải thích trong bối cảnh chính trị mà chúng xảy ra. Như vậy, ở đây có chỗ cho một mức độ chủ quan. Nhưng không thể gạt bỏ được tính chủ quan cho dù áp dụng bất kỳ hệ thống pháp luật nào. Và, tính nghiêm khắc của các luật gia dẫn họ đi đến xây dựng tính khách quan.

Như vậy, ở đâu cần phải phân tích một số hồ sơ mà người ta có thể nói về nó như sau: “chỉ có hồ sơ pháp lý về quần đảo Manvinat mới phức tạp hơn hồ sơ pháp lý về quần đảo Hoàng Sa” (29).

Người ta không thể bắt tay vào nghiên cứu mà không dựng, trước hết, một đại sự ký các sự kiện quan trọng.
____________________________________________________________________________________________
28.   Điều này cần được đặt trong vấn đề tế nhị về thừa kế các kho lưu trữ trong trường hợp của các quốc gia ra đời từ thời kỳ phi thực dân hóa.
29.   Hervé Couteau – Begarie: Địa chiến lược của Thái Bình Dương, Paris – Economica 1987 tr.229.
.....
Phần tiếp theo: Đại sử ký
(còn tiếp)
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Năm, 2011, 12:34:26 pm gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #259 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 12:32:26 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
3.   ĐẠI SỰ KÝ

Xác định chính xác tính liên tục của các sự kiện theo thời gian bao giờ cũng cần thiết khi các sự kiện này một số là cũ và nói chung là nhiều. Do vậy, mục đích đơn giản là trình bày và làm sáng tỏ hồ sơ.

Nhưng đối với một vấn đề pháp lý, đại sự ký phải tuân thủ một nhu cầu khác: đó là ghi ngày tháng của một số sự kiện theo cách đặt chúng trong quan hệ với nhau và xác định sự kiện nào có trước. Thực vậy, tính có trước của một sự kiện có thể có các hậu quả pháp lý quyết định.

Cuối cùng, đối với mỗi sự kiện hoặc một nhóm sự kiện, việc xác định ngày tháng chính xác cũng như một trật tự kế tiếp của các sự kiện theo thời gian là cần thiết để có thể chỉ ra được các quy tắc nào của luật quốc tế có thể áp dụng được cho việc đánh giá chúng.

Tuy nhiên còn nhiều khó khăn trong việc xây dựng một đại sự ký.

Để vượt qua những khó khăn đó, trước hết cần lưu tâm tới việc phân biệt rõ tác giả của các sự kiện được nêu. Một số sự kiện đó do các đại diện nhà nước tạo ra, nhưng trong những trường hợp phức tạp của việc chia cắt, chồng chéo lên nhau và có tranh chấp các thẩm quyền nhà nước thì cần phải có sự chính xác cao trong việc xác minh nhà nước liên quan. Các sự kiện khác là các sự kiện của xã hội phát sinh từ các tư nhân hoặc các nhóm dân cư. Chúng có thể có một giá trị nào đó trong việc minh chứng pháp lý, mặc dù chúng không bao giờ có cùng một quyền uy như các sự kiện của nhà nước.

Cuối cùng, một thái độ của các quốc gia thứ ba có thể và phải được xem xét đến và do đó cũng được đưa vào đại sự ký.

Đại sự ký này đã được xây dựng xung quanh hai biến cố chủ yếu không chỉ liên quan tới một trong số các bên đối kháng mà còn liên quan tới toàn bộ các quốc gia trong khu vực, đó là: sự xuất hiện chế độ thuộc địa và cuộc Chiến tranh thứ giới thứ hai.

3.1   Trước thời kỳ thuộc địa

Trong thời kỳ này, người ta phân biệt các sự kiện phát hiện không có sự chiếm hữu hoặc chiếm đóng đi theo và các sự kiện chiếm đóng.

Việc biết đến các quần đảo chắc chắn là đã có từ rất lâu. Nó đã được chứng minh bằng rất nhiều ghi chép trong các tác phẩm lịch sử. Nhưng, sự hiểu biết về các quần đảo này – xuất phát từ sự phát hiện của những người đi biển khác nhau – đã được nêu trong các câu chuyện kể lại về những chuyến đi hoặc xuất phát từ các bản đồ, cho tới tận thế kỷ XVIII, sự biết đến này vẫn không có hoạt động nào có hậu quả pháp lý tiếp theo (30).

Những người đánh cá từ các quốc gia láng giềng khác nhau thường xuyên lui tới các đảo này trong hàng thế kỷ. Những người đi biển có nguồn gốc xa hơn (người Ấn Độ, Ả Rập, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan) đã biết và nói về các đảo này từ lâu.

Trong số đó, có các nhà hàng hải Pháp xuống tàu từ cảng La Rochelle, ngày 7-3-1568, cùng với các nhà bác học dòng Tên, đi Viễn Đông. Họ đã đến Hoàng Sa (31).

Quần đảo trở nên nổi tiếng trong các biên niên sử hàng hải đối với vụ đắm tàu “Amphitrite” dưới thời vua Louis XIV trong khi đi từ nước Pháp sang Trung Quốc (1698) (32) các văn bản cổ Trung Quốc từ những giai đoạn trước thế kỷ XVIII có nhắc tới sự tồn tại của các đảo mà các thủy thủ Trung Quốc đã biết đến từ lâu.

Nhưng cho tới thế kỷ XVIII, dường như không có các sự kiện nổi bật có tác động đến quy chế của các đảo nhỏ này.

Dưới triều Nguyễn, các chúa An Nam vào đầu thế kỷ thứ XVIII đã lập ra một Đội đi khai thác và bảo vệ các đảo này.

-Năm 1816, Hoàng đế Gia Long long trọng khẳng định chủ quyền của các vua An Nam trên các quần đảo.

 Triều Minh Mạng nối ngôi Hoàng đế Gia Long tiếp tục theo đuổi sự nghiệp của ông.

- 1833-1834, Chiếu dụ xây dựng bia và lập bản đồ quần đảo.

- 1835-1836, Các công trình trên đảo được tiến hành dưới sự quản lý của nhà vua.

- 1848-1849, Quản lý hành chánh các đảo được duy trì, nó có mục đích địa lý nhằm có sự hiểu biết tốt nhất các hải trình. Nó cũng có mục đích tài chính để thu thuế ngư dân trong vùng.
__________________________________________________________________________________________
30.   Cuộc tranh luận pháp lý từng điểm một về các danh nghĩa của sự phát hiện do các bên đưa ra sẽ được trình bày ở chương sau.
31.   Lê Thành Khê: Vụ các đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước pháp luật quốc tế, Viện quốc tế nghiên cứu và sưu tầm ngoại giao, 1958.
32.    Claudius Madrolle: La question de Hainam et des Paracels (Vấn đề Hải Nam và các đảo Hoàng Sa) Revue Politique Entrangère, 1939.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM